Thị trường tiền tệ và các công cụ thị trường tiền tệ

I/Thị trường tiền tệ: Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi diễn ra các hoạt động của cung và cầu về vốn ngắn hạn. Vốn ngắn hạn bao gồm cả trái phiếu ngắn hạn, có kỳ hạn tức là mua bán những món nợ ngắn hạn rủi ro thấp, tính thanh khoản cao. Thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng, vì các ngân hàng là chủ thể quan trọng nhất trong việc cung cấp và sử dụng vốn ngắn hạn. Thị trường tiền tệ là thị trường phi tập trung tại các phòng kinh doanh của các ngân hàng và các công cụ kinh doanh đầu tư chuyên nghiệp thông qua mạng lưới điện thoại, internet rộng lớn. Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ là nghiệp vụ chuyển giao vốn có khả năng thanh toán cao, ít xảy ra rủi ro đối với người đầu tư. Thị trường tiền tệ được phân loại căn cứ vào cách thức tổ chức hay loại công cụ. Phân loại theo cách thức tổ chức thì thị trường tiền tệ được chia thành 2 cấp: là thị trường tiền tệ sơ cấp và thị trường tiền tệ thứ cấp. Thị trường tiền tệ sơ cấp là nơi chuyên phát hành các loại trái phiếu mới của ngân hàng, công ty tài chính, kho bạc... Thị trường tiền tệ sơ cấp thật sự là nơi tìm vốn của người phát hành trái phiếu và cung ứng vốn của người mua trái phiếu. Thị trường tiền tệ thứ cấp là nơi chuyên tổ chức mua bán các loại trái phiếu đã phát hành ở thị trường sơ cấp, mang tính chất chuyển hóa hình thái vốn. Nếu căn cứ vào các loại công cụ tham gia trên thị trường thì thị trường tiền tệ bao gồm thị trường vay nợ ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng dưới sự điều hành của ngân hàng trung ương và thị trường trái phiếu ngắn hạn và các loại chứng từ có giá khác như: kỳ phiếu thương mại, khế ước giao hàng, tín phiếu của các công ty tài chính, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu ngân hàng. II/Công cụ của thị trường tiền tệ: 1.Tín phiếu kho bạc: Tín phiếu Kho bạc là giấy vay nợ ngắn hạn do Kho bạc Nhà nước phát hành để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách và là công cụ quan trọng để NHTW điều hành chính sách tiền tệ. Chúng có tính thanh khoản cao, được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ. Đây là công cụ chiết khấu điển hình , không có phiếu lãi suất. Tín phiếu Kho bạc có mức rủi ro thấp nhất trong các công cụ trên thị trường tiền tệ. Thu nhập từ tín phiếu kho bạc (chênh lệch giữa giá mua và giá hoàn trả) không bị đánh thuế về chúng không được coi là tài sản vốn. Thời hạn của Tín phiếu Kho bạc thường là 3 tháng, 6 tháng, 1 năm. Đây là công cụ ít rủi ro nhất trên thị trường tiền tệ vì nó được Nhà nước bảo đảm thanh

Các đại lý này phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. phát hành qua đại lý. tạo điều kiện thị trường mở. . telex.toán và thời hạn nắn nên tác động của sự biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ không đáng kể. địa điểm. người mua phải mở tài khoản chứng khoán và tiền mặt chỉ định để phát ảnh các khoản thanh toán tiền và chứng khoán phát sinh từ việc mua bán tín phiếu. Trên thị trường thứ cấp Tín phiếu Kho bạc được mua bán vào bất cứ lúc nào (thị trường OTC). Các đại lý được hưởng một khoản phí do bộ Tài chính qui định. Sự kết hợp giữa bộ Tài chính và NHTW được thường xuyên. giảm được các chi phí in ấn và bán lẻ. tạo lập thị trường tiền tệ. Các nhà kinh doanh Tín phiếu Kho bạc chính là các nhà tạo thị trường và các nhà môi giới đóng vai trò trung gian cho khách hàng của mình. * Phát hành Tín phiếu Kho bạc trực tiếp thông qua Kho bạc nhà nước. thời hạn. Các giao dịch này được tiến hành bằng điện thoại. đồng bộ và kịp thời. qua các trạm máy giao dịch. phát hành trực tiếp qua hệ thống Kho bạc. Tín phiếu Kho bạc được phát hành bằng nhiều hình thức: đấu thầu. phương thức thanh toán… Vì phần lớn Tín phiếu Kho bạc phát hành dưới hình thức ghi sổ. NHTW có thể thực hiện phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất tùy theo điều kiện thị trường. khối lượng Tín phiếu Kho bạc dự kiến huy động. Các 2 . * Đấu thầu (qua NHNN): Trên cơ sở đơn dự thầu của các thành viên. thời gian. gốc được thanh toán trực tiếp vào tài khoản tiền chỉ định của người mua.NHTW thống nhất chỉ đạo chính sách lãi suất. các tổ chức tín dụng… Trước mỗi đợt phát hành. * Phát hành thông qua đại lý: Kho bạc Nhà nước có thể phát hành Tín phiếu Kho bạc thông qua đại lý và các tổ chức tín dụng. mệnh giá. NHNN sẽ xác định giá và khối lượng trúng thầu căn cứ vào khối lượng và lãi suất đặt thầu của các thành viên. tận dụng được mạng lưới khách hàng sẵn có.Nhà nước tiết kiệm được nhiều chi phí vay nợ do xác định lãi suất một cách khách quan. bộ Tài chính thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về kế hoạc phát hành như doanh số. thành phố được trực tiếp tổ chức bán lẻ Tín phiếu Kho bạc cho các đối tượng như cá nhân. Các đơn vị kho bạc ở các tỉnh. Phương thức phát hành Tín phiếu Kho bạc qua đấu thầu tại NHTW có nhiều ưu điểm: . Mọi khoản lãi. kho bạc nhà nước chủ động kiểm soát được khối lượng phát ra và thu về cho ngân sách. Trên thị trường sơ cấp. lãi suất. doanh nghiệp.

và là hàng hóa chủ yếu của thị trường mở. Khối lượng phát hành mỗi lần rất lớn. 2. được sử dụng làm công cụ cho nghiệp vụ thị trường mở. chính vì vậy Tín phiếu Kho bạc chủ yếu do các ngân hàng thương mại nắm giữ. Đây là loại chứng khoán ngắn hạn do NHNN phát hành để tạo ra công cụ trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. cầm cố giữa các TCTD. Tín phiếu Kho bạc là công cụ có tính thanh khoản cao nhất. Tín phiếu Kho bạc không những quan trọng do ý nghĩa về số lượng mà còn vì nó được NHTW cũng như nhiều tổ chức tài chính và phi tài chính sử dụng để thực hiện chính sách tiền tệ. Công ty được phép phát hành một số lượng CP nhỏ hơn tái sản ròng của họ (thường nhỏ hơn hoặc bằng 75%) để khi đáo hạn mà công ty không trả được tiền cho người mua CP. CP được chủ thể phát hành bán thẳng cho người đầu tư không qua môi 3 . công ty bảo hiểm… Tín phiếu NHNN được tự do mua bán. Tín phiếu NHNN là công cụ chiết khấu được NHTW bán với giá thấp hơn mệnh giá và thanh toán theo mệnh giá của tín phiếu khi đến hạn. Thương phiếu được bán với giá chiết khấu. NHTM sẽ căn cứ theo luật trả tiền cho dân bằng cách mua lại CP đồng thời phát mại tài sản để thu nợ. Mệnh giá tín phiếu này thường là lớn. để giải quyết những lúc kẹt tiền mặt đột xuất trong thương mại vì hàng hóa của doanh nghiệp chưa bán kịp. Trường hợp phát hành trực tiếp. Tín phiếu Kho bạc còn có tầm quan trọng khác. chuyển nhượng. Tín phiếu Kho bạc là công cụ truyền thống để điều chỉnh thanh khoản của các ngân hàng thương mại. được cầm cố để vay vốn hay chiết khấu tại NHTW.Tín phiếu Kho bạc thường được trao đổi khối lượng lớn giữa các nhà đầu tư chuyên nghiệp. Các chứng khoán chính phủ Mĩ hấp dẫn đối với công dân Hoa Kì vì tiền lãi từ các chứng khoán này là đối tượng không phải chịu thuế tiểu bang mà chi phải chịu thuế liên bang. trong khi điều hành chính sách tiền tệ. vì nhu cầu nhập hàng mới. các công ty có thể ký quĩ và xin phép ngân hàng bảo trợ để phát hành CP vay tiền. Phần chênh lệch giữa mệnh giá và giá bán là tiền lãi của tín phiếu. Tham gia vào thị trường Tín phiếu NHNN là các TCTD như NHTM. Thông thường.Thương phiếu: Thương phiếu là giấy nhận nợ ngắn hạn do các doanh nghiệp lớn. 3. NHTW có thể phát hành ra tín phiếu của mình gọi là Tín phiếu NHNN. ví dụ ở VN là 100 triệu hoặc bội số của 100 triệu.Tín phiếu NHNN:Ở một số nước. Ngoài ra. có uy tín phát hành để tài trợ nhu cầu vốn tạm thời. số lần phát hành nhiều và với mạng lưới các nhà giao dịch linh hoạt trên thị trường thứ cấp của các chứng khoán chính phủ đã mang lại khả năng thanh toán rất cao cho thị trường này. Nó có thể được đảm bảo hoặc không đảm bảo. CP có thể được phát hành trực tiếp hoặc gián tiếp.

5. mức lãi suất chung của thị trường tiền tệ. tức ngân hàng được người phát hành chỉ định làm cơ quan thanh toán. Sự cách biệt chủ yếu giữa chứng chỉ tiền gửi và các khoản tiền gửi có kỳ hạn là chúng có thể chuyển nhượng và mệnh giá được thống nhẩt theo 1 mức giá trị chuẩn. Việc chấp nhận của ngân hàng làm tăng thêm độ tin cậy và tính thanh khoản cho hối phiếu.Điều này thể hiện rõ sự phát triển của 1 công cụ đã được chuyên môn hóa nhằm mở rộng nguồn vốn mới. tuy vậy điều này đặt ngân hàng trước rủi ro tiềm năng trong trường hợp chủ thể phát hành không đảm bảo khả năng thanh toán. có thời hạn ngắn và được NHTM chấp nhận thanh toán bằng cách đánh dấu chấp nhận lên hối phiếu.Theo đó người sở hữu CD đựoc hưởng các khoản lãi suất định kỳ tính toán trên cơ sở 3360 ngày và được hoàn trả mệnh giá khi đến hạn.Chấp phiếu Ngân hàng: BA thực ra là các hối phiếu do công ty phát hành. Tuy nhiên.Chứng chỉ tiền gửi(CDs): Đây là công cụ ngắn hạn do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường với bản chất tương tự như 1 khoản tiền gửi có kỳ hạn. Điều này nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng với tư cách chấp nhận thanh toán hối phiếu. vào số vốn cần vay.Lãi suất của CD được tổ chức phát hành ấn định dựa trên lãi suất canh tranh của thị trường tiền tệ.Khả năng chuyển nhượng tạo nên nhiều sự hấp dẫn cho chứng chỉ tiền gửi so với các 4 . sự xếp hạng tín nhiệm của người phát hành. Cũng giống như Tín phiếu Kho bạc. Để đảm bảo sự an toàn trong quá trình sử dụng và thanh toán thương phiếu. CP được mua bán dễ dàng trên thị trường trước khi đáo hạn. Các nhà kinh doanh duy trì thị trường CP bằng cách sẵn sàng mua lại CP khi nhà đầu tư muốn bán CP trước hạn. Các hối phiếu đã được chấp nhận này thường được bán lại ở thị trường thứ cấp với giá nhỏ hơn mệnh giá. Vì vậy. Việc xuất hiện chứng chỉ tiền gửi cho phép các ngân hàng có thể huy động vốn 1 cách chủ động mà không phải phụ thuộc vào tiền gửi của khách hàng. CP bị thu hồi bơi ngân hàng thanh toán. Thương phiếu có thể phát hành qua người kinh doanh. Lãi suất Thương phiếu phụ thuộc vào thời hạn thanh toán. nhưng nói chung là ngắn hạn mặc dù ko có quy định nào giới hạn về thời hạn CD do ngân hang phát hành. tình trạng tài chính của người phát hành và thời hạn của CD.giới và người kinh doanh. 4. hoặc 6 tháng và có thể là 5-7 năm. Thời hạn của CD thường là từ 1-3 tháng. các hoạt động về thương phiếu phải được điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản pháp lý phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia và thông lệ quốc tế. Đến kì thanh toán. cty phát hành hối phiếu phải ký gửi một món tiền bắt buộc vào tài khoản của họ tại ngân hàng để đảm bảo khả năng chi trả hối phiếu.

Hongkong. từ qua đêm đến vài tháng. 7.Lãi suất Đôla Châu Âu dựa trên lãi suất Libor tại London.Khi đó ngân hàng này có thể vay những món tiền gửi ở đây của những ngân hàng khác.hình thức tiền gửi có kỳ hạn khác.Tiền Ngân hàng Trung Ương: Đây là những món vay nợ ngắn hạn điển hình giữa các ngân hàng bằng những khoản tiền gửi của họ tại NHTW. Thời hạn của Repo rất đa dạng. tạo ra thịư trường Đôla Châu Âu với trung tâm la London. từ qua đêm tới 5 năm.Lãi suất quỹ liên bang đựoc 5 . lãi suất quỹ liên bang và lãi suất công cụ nợ ngắn hạn.Với tư cách là 1 công cụ của thị trường tiền tệ. Tokyo… Tiền gửi Đôla Châu Âu có thời hạn rất đa dạng. Lãi suất của Repo được tính toán theo cơ sở lãi suất thị trường hiện hành.Đôla châu Âu: Đôla Châu Âu là khoản tiền gửi bằng ÚD tại ngân hàng ở ngòai nước Mỹ.Một hợp đồng mua lại gồm 2 giao dịch sau: -Bán chứng khoán kèm theo cam kết mua lại chứng khoán theo cùng mức giá tại thời điểm xác định trong tươnglai. nó được tính trên cơ sở 360 ngày một năm. 6. nhưng hầu hết tiền gửi Đôla Châu Âu có thời hạn 6 tháng hoắc ít hơn. -Mua chứng khoán kèm theo cam kết bán lại chứng khoán theo cùng 1 mức giá tại 1 thời điểm xác định trong tương lai.Nhín chung lãi suất Repo thấp hơn lãi suất hơn lãi suất liên bang và là 1 trong những mức lãi suất thấp nhất ở thị trường tiền tệ.Người mua chứng khoán sẻ được nhận 1 mức lãi suất nhất định(Hợp đông mua lại nghịch chiều).Việc giao dịch Đôla Châu Âu được thực hiện thông qua hệ thống ghi sổ.Nó không phải là món cho vay của chính phủ hay NHTW mà là do NHTM này cho NHTM khác vay khi ngân hàng này không đạt tới tổng số tiền gửi theo quy địng phải có ở NHTW.Hợp đồng mua lại: Hợp đồng mua lại là 1 món vay ngắn hạn trong đó chứng khoán được dung làm bảo đảm.Các ngân hàng thương mại sử dụng Đôla Châu Âu để điều chỉnh trạng thái vốn khả dụng của mình.Các ngân hàng cho vay sẽ chuyển khoản thông qua hệ thống chuyển khoản điện tử của NHTW tới ngân hàng đi vay. Singapore. 8. Giao dịch trên thị trường quỹ liên bang chinhs là khoản vay qua đêm và có kỳ hạn trong đó vay qua đêm chiếm tỷ trọng lớn nhất.Đôla Châu Âu được kinh doanh khắp thế giới.Sự phát triển của chứng chỉ tiền gửi và các hình thức huy động vốn khác tạo điều kiện cho ngân hàng co thể thích ứng môi trường cạnh tranh mới.Người bán chứng khoán cam kết trả cho người mua 1 lãi suất cố định.

Lãi suất quỹ liên bang do các bên tham gia giao dịch thiết lập hay theo nguyên tắc thỏa thuận. Điều này có lẽ không gây ngạc nhiên trong giới quan sát. sau đây là nguyên nhân tiền tệ gây ra lạm phát và 1 số biện pháp chống lạm phát của NHNN: I/ Nguyên nhân tiền tệ của lạm phát Qua theo dõi diễn biến kinh tế và một số động thái chính sách của Việt Nam trong những năm gần đây. đã có nhiều cuộc thảo luận sôi nổi xung quanh vấn đề lạm phát. Từ những tháng giữa năm nay. Nội dung chủ yếu trong lập luận của chúng tôi là tình hình lạm phát hiện nay là hậu quả tổng hợp của một số hiện tượng kinh tế đặc thù đi liền với sự kết hợp thiếu đồng bộ giữa một số chính sách vĩ mô trong thời gian qua. có đối chiếu trên những khía cạnh tương tự với một số nước trong khu vực. 6 . kết hợp với sự tăng trưởng của dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam. tác động của lạm phát và chính sách chống lạm phát.xác định trên cơ sở 360 ngày 1 năm và có vai trò như 1 phong vũ biểu chính xác để đo lường mức căng thẳng của thị trường tín dụng trong hệ thống ngân hàng. Vào cuối tháng 8/2007. Một sự kết hợp nữa là trong năm 2006. Thị trường tiền tệ ở Việt Nam hiện nay Trong những năm gần đây tình hình lam. một chuyên gia cao cấp có uy tín của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thừa nhận nguyên nhân chủ yếu của lạm phát là do tăng cung tiền(1). chẳng hạn như nguyên nhân chủ yếu của lạm phát. Theo ước lượng không chính thức. Trong bài viết này. quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước và sự phát triển của thị trường chứng khoán đã đạt những bước phát triển lớn. nhưng dường như nó giúp những cuộc thảo luận bớt lan man hơn.Các quỹ này chính là công cụ thị trường tiền tệ và được giao dịch trên thị trường tiền tệ. và khoảng 1 đến 2 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp đã được chuyển vào trong nước trong năm 2006 và những tháng đầu năm 2007. khiến Việt Nam trở thành một địa điểm hấp dẫn và dòng vốn đầu tư gián tiếp chảy mạnh vào nước ta. chúng tôi đi đến nhận định rằng tình trạng lạm phát hiện nay ở Việt Nam là hậu quả tổng hợp của một số hiện tượng kinh tế đặc thù đi liền với sự kết hợp thiếu đồng bộ giữa một số chính sách vĩ mô trong thời gian qua. khi mức tăng giá chung trở thành một mối quan tâm rộng rãi của xã hội. có khoảng hơn 5 tỷ USD kiều hối đã được gửi về. Hiện tượng kinh tế đặc thù được lưu ý ở đây là sự tăng trưởng mạnh mẽ của kiều hối (bao gồm một phần rất lớn và ngày càng tăng tiền gửi của người đi xuất khẩu lao động). Phát của Việt Nam tăng cao. chúng tôi mong muốn thảo luận thêm đôi chút về nguyên nhân tiền tệ của tình trạng lạm phát hiện nay.

Tuy nhiên. Xét trên phương diện quy mô to lớn tương đối của dòng kiều hối. cụ thể là Trung Quốc. cán cân vãng lai chỉ thặng dư khoảng từ 2% đến dưới 3% GDP. ở Việt Nam. vẫn chưa trầm trọng như ở nước này. Philippines hàng năm nhận một lượng kiều hối nhiều hơn Việt Nam rất nhiều kể cả tương đối (so với GDP) lẫn tuyệt đối (vì GDP của Philippines lớn hơn của Việt Nam khoảng 1. thì Việt Nam chỉ đứng sau Philippines là nước trong khu vực đã có truyền thống xuất khẩu lao động từ lâu. cộng với các khoản trả lãi vay nước ngoài tương đối lớn. cơ quan tiền tệ cũng phải đối mặt với lượng thặng dự ngoại tệ hằng năm rất lớn (chủ yếu từ thặng dư thương mại). Như vậy. cơ quan tiền tệ Việt Nam (theo các tuyên bố trên báo chí) đã mua vào trong sáu tháng đầu năm 2007 khoảng hơn 7 tỷ USD (14% GDP). thâm hụt thương mại của Philippines khá trầm trọng. Kết quả là. Điều này đuợc coi là nguyên nhân hàng đầu gây nên tình trạng lạm phát hiện nay. ở một số nền kinh tế khác. một câu hỏi lập tức được đặt ra là: Vì sao. Kết quả là dự trữ ngoại tệ mỗi năm đã tăng lên rất mạnh. có thể nói một đặc điểm quan trọng của Việt Nam gần đây là sự tăng trưởng nhanh chóng của cả hai dòng tiền từ bên ngoài là kiều hối và đầu tư nước ngoài. nên có thể nói dòng kiều hối chủ yếu được dùng để tài trợ cho khoản thâm hụt này trong tài khoản vãng lai. một đặc điểm của Việt Nam mà Philippines không có là cán cân tư bản gần đây luôn thặng dư rất đáng kể. để giữ cho đồng Việt Nam không lên giá quá nhanh. (2) chính sách neo tỷ giá ổn định theo đồng USD thông qua can thiệp của NHNN trên thị trường ngoại hối. và kể từ năm 2005 có khuynh hướng thặng dư (nhưng còn ở mức thấp hơn nhiều so với Philippines). đã dẫn tới khả năng dư thừa ngoại hối thậm chí lớn hơn ở Philippines. tuy tỷ trọng kiều hối không lớn như ở Philippines. còn năm 2006 gần 5% GDP. mặc dù đang trở nên rất đáng lưu ý. trong đó một phần rất lớn từ người đi lao động (tạm gọi tất cả các khoản tiền gửi kiểu này là kiều hối). chẳng hạn như năm 2005 tăng thêm 4% GDP. nhưng thâm hụt thương mại.5 lần). Tuy nhiên. Chính sách này đã làm tăng mạnh lượng tiền Việt được đưa vào lưu thông. bao gồm hai chính sách lớn sau: (1) chính sách tăng trưởng cung tiền và tín dụng theo đà của các năm trước. xét trên mối tương quan với GDP. và có những đặc điểm kinh tế khá tương đồng. cơ quan tiền tệ Việt Nam đã liên tục mua lượng ngoại hối thặng dư trên thị trường. Tầm quan trọng của chính sách tiền tệ đồng bộ Tuy nhiên. Ảnh hưởng của sự gia tăng ồ ạt dòng ngoại hối dưới chế độ tỷ giá (tương đối) cố định Một đặc điểm vĩ mô quan trọng bậc nhất của Việt Nam gần đây có lẽ là sự gia tăng nhanh chóng của dòng tiền gửi về từ nước ngoài. nên cán cân vãng lai được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Trong khi đó.Các chính sách kết hợp không đồng bộ. theo chúng tôi. Để giữ tỷ giá neo tương đối ổn định vào đồng USD. Kết quả là bất chấp lượng kiều hối khổng lồ chuyển về mỗi năm. trong khi vẫn giữ vững 7 .

” chỉ từ 0. thặng dư thương mại lớn (dự trữ ngoại hối đã tăng ngoạn mục từ mức 16. Trước đó. Trường hợp Trung Quốc cho thấy bài học đáng giá rằng kiểm soát tăng trưởng tiền tệ và tín dụng vẫn là phương tiện căn bản. thì nó cũng đồng thời phải dự trù một kế hoạch thắt chặt cung tiền một cách hài hoà từ trước đó. cho thấy vì sao lạm phát (dai dẳng) luôn là một hiện tượng tiền tệ.5% năm 2001 lên 36. là sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách vĩ mô có ý nghĩa quan trọng. tăng trưởng ở Trung Quốc vẫn được giữ ở mức cao (hơn Việt Nam). Thêm vào đó. rồi liên tục được gia tốc. có cơ sở để nhận định rằng Việt Nam đã thực hiện chính sách can thiệp tăng dự trữ ngoại tệ nhưng không đồng thời thắt chặt tiền tệ. nên đã dẫn tới lạm phát cao. Điều có ý nghĩa quan trọng bậc nhất có lẽ nằm trong tốc độ tăng trưởng tiền tệ và tín dụng. Như vậy. kể từ 2004.5% trong giai đoạn 2001-2005). Trong khi đó. tín dụng còn được mở rộng nhanh và vững chắc hơn rất nhiều: tăng trưởng hơn 20% vào năm 2001. thậm chí có thể lớn hơn. quan trọng và hữu hiệu hàng đầu giúp kiểm soát lạm phát. nước này cũng phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến “chi phí đẩy. so với Việt Nam. trong khi Việt Nam luôn phải gánh chịu lạm phát cao (trên 8%) liên tiếp kể từ năm 2004. nhưng Trung Quốc vẫn duy trì một mức lạm phát nhẹ. mặc dù cả hai nước đều có tăng trưởng rất mạnh trong dự trữ ngoại hối. Cụ thể trong trường hợp này. đạt mức 30% trong hai năm 2004 và 2005. Thực tiễn cho thấy một kết quả thú vị là. Thêm vào đó. Một số gợi ý chính sách 8 .5% . và giá trị đồng nội tệ ổn định (tỷ giá danh nghĩa chỉ giảm khoảng 2. lên đến đỉnh cao năm 2004 ở mức 40%.9% (2004) và năm 2006 chỉ là 1. chúng ta phải xem xét chính sách tiền tệ gần đây của Trung Quốc và đối chiếu nó với tình hình Việt Nam. và đã thành công trong việc kiềm chế lạm phát. Trong khi đó. Một bài học nữa có thể được rút ra. Trung Quốc đã rất thận trọng trong tăng trưởng tín dụng và tiền tệ. lại không xuất hiện tình trạng lạm phát cao như ở Việt Nam? Để trả lời câu hỏi này. lại có xu hướng tăng ngày càng tăng nhanh hơn.trong khi tăng trưởng kinh tế vẫn hầu như ở mức hai con số. chỉ vào khoảng 15% mỗi năm.quyết tâm can thiệp để neo đồng nội tệ ổn định vào USD. Cần lưu ý ngay rằng. Trung Quốc đã thực hiện thắt chặt tiền tệ rất có chủ ý để kết hợp hài hoà với chính sách giữ ổn định đồng Nhân dân tệ. và năm 2005 vẫn ở mức 30%. Mức tăng CPI ở Trung Quốc trong những năm vừa qua ở mức rất “lý tưởng.6% GDP vào năm 2005). khi cơ quan tiền tệ đã xác định có kế hoạch mua vào một lượng ngoại tệ lớn.” như là giá cả các mặt hàng thiết yếu và năng lượng trên thế giới tăng không khác gì.7% (2001) đến 3. sự tăng trưởng này cũng chỉ ở dưới mức 20%. Việc đối chiếu chính sách tiền tệ gần đây cùng xem xét những hậu quả tương ứng của nó ở Trung Quốc và Việt Nam sẽ đem lại một minh hoạ thú vị. tăng trưởng tiền tệ của Việt Nam vốn đã ở mức cao (trên 20%) từ năm 2001. Theo các báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

kêu gọi sự hỗ trợ của người dân). tạm thời và có khuynh hướng che đậy bản chất thực sự của lạm phát. 3. Các biện pháp như tăng dự trữ bắt buộc hay phát hành trái phiếu chỉ nên coi là tức thời và cục bộ mà thôi. áp dụng cho toàn bộ các thành phần kinh tế. trên 8%) kể từ năm 2004. Do đó. Lạm phát hiện nay ở nước ta nên được xem xét nghiêm túc và thẳng thắn là có căn nguyên từ chính sách tiền tệ. Ngược lại. . Đi kèm với nó là chi phí cao.Kết quả là lạm phát đã trở thành một hiện tượng kinh niên (ở mức cao. Trên cơ sở đó. sẽ san sẻ chi phí chống lạm phát một cách bình đẳng hơn. 2. còn có tiền gửi về của người Việt lao động ở nước ngoài và vốn đầu tư gián tiếp). Nhưng trong thời gian vừa qua. (Một chính sách chỉ có hiệu lực khi người ta tin là nó có hiệu lực). Không nên duy trì quan điểm cho rằng lạm phát thấp hơn mức tăng trưởng GDP là tốt. các chính sách chống lạm phát nên mang tính tiền tệ. nó đã không được thực hiện.Một chính sách nên được tiến hành đồng bộ với chính sách trên là thắt chặt hợp lý tăng trưởng tiền tệ và tín dụng.Các biện pháp tiền tệ mang tính gốc rễ là giảm tốc độ tăng tiền và tín dụng. Ví dụ. . . Điều này sẽ giúp người dân hình thành kỳ vọng về mức lạm phát thấp trong tương lai (nếu họ biết và tin các chính sách là đúng đắn và cứng rắn). cần công khai các biện pháp cụ thể để thể hiện cam kết là đáng tin cậy. Hiện nay chưa tìm thấy căn cứ khoa học cho luận điểm nêu 9 . dẫn đến khả năng thành công dễ dàng hơn của chính sách chống lạm phát. hay chính sách hành chính (đốc thúc doanh nghiệp. hiệu quả thấp.Tóm lại. chính sách tăng dự trữ bắt buộc khiến khối ngân hàng gánh nhiều chi phí hơn các khu vực khác trong công cuộc chống lạm phát. đồng thời ràng buộc chính phủ vào cam kết đó.Một hiện tượng kinh tế đặc thù trong những năm gần đây của Việt Nam là sự tăng trưởng mạnh của các dòng tiền từ nước ngoài (bên cạnh những dòng tiền truyền thống như dòng vốn đầu tư trực tiếp và tiền của Việt kiều. có thể hình dung "con đường lạm phát" những năm qua như sau: . việc cắt giảm tín dụng và cung tiền trên toàn nền kinh tế. hằng năm một lượng lớn tiền đã được đẩy vào lưu thông. chúng tôi khuyến nghị những giải pháp như sau: 1. cơ quan tiền tệ Việt Nam đã phải mua vào ngoại tệ với lượng ngày càng lớn. Lượng tiền này có thể lên tới 15% GDP hoặc hơn. 4. Chúng tôi cho rằng các biện pháp tài khoá và hành chính đều mang tính thoả hiệp.Bên cạnh cam kết chống lạm phát đã được thể hiện rõ ràng của chính phủ. Điều ấy đồng nghĩa với việc nên hạn chế sử dụng chính sách tài khóa (như giảm thuế một số mặt hàng được quan sát thấy là tăng nhanh nhất). mà có lẽ chỉ nên coi đây như một kinh nghiệm để phấn đấu khi lạm phát đã thành một sự đã rồi. Trên cơ sở những luận điểm như vậy.Để giữ đồng tiền Việt ổn định (nhằm giữ lợi thế cho xuất khẩu).

tỷ lệ cho vay theo mục đích này không vượt quá 20% vốn tự có. Theo đó. Trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 75/TTg-KTTH ngày 15/1/2008.75% và Quyết định số 306/QĐ-NHNN về điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu. NHNN đã triển khai thực hiện một loạt biện pháp. chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán thuộc nhóm tài sản có có hệ số rủi ro là 250%. kết hợp với điều hành linh hoạt tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàngvà sử dụng tiền rút về từ lưu thông để mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước. Theo tinh thần Quyết định này. 10 . trong đó: Ngày 30/1/2008.000 tỷ đồng để hỗ trợ các TCTD giải quyết tình trạng mất cân đối vốn khả dụng tạm thời. song những ngân hàng nhỏ vẫn không thể tiếp cận được với thị trường này vì không đủ điều kiện (không có nguồn vốn để dự trữ giấy tờ có giá).0%/năm.trên. Nhiều NHTM (nhất là NHTM cổ phần) bắt đầu gặp khó khăn về khả năng thanh khoản.. NHNN vẫn duy trì thị trường mở. quy định đầy đủ. Đây có lẽ là tác động mạnh nhất đến các NHTM. theo đó lãi suất tái cấp vốn là 7. do đó. kinh doanh chứng khoán và một số văn bản liên quan khác là sự thay thế một mệnh lệnh hành chính bằng một quy định pháp luật với những ràng buộc về điều kiện cần và đủ trong việc cho vay kinh doanh đầu tư chứng khoán. với việc cung ứng 20. và quy định về hệ số rủi ro cho vay. chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán. để rồi lại bị cuốn vào nỗi lo con.. Ngày 1/2/2008. đồng thời một số NHTM lớn (chủ yếu là NHTM NN) tăng lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng. ban hành Quyết định số 305/QĐ-NHNN về điều chỉnh lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 8. rõ ràng và chặt chẽ các điều kiện các TCTD được cho vay chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán. tăng cường huy động vốn.75% lên 1%.5% và lãi suất chiết khấu là 6. Quyết định số 03 nêu trên thay thế cho Chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN ngày 28/5/2007 của NHNN về kiểm soát quy mô chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư. những ngân hàng cho vay vượt mức 20% thì phải thực hiện các biện pháp giảm hoặc tăng vốn điều lệ và những NHTM không đủ điều kiện thì không được cho vay. NHNN ban hành Quyết định số 03/QĐ-NHNN về việc cho vay. Đồng thời NHNN mở rộng biên độ mua bán ngoại tệ của các TCTD so với tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng từ 0. Những NHTM nào đáp ứng được những quy định của NHNN thì tiếp tục cho vay. chúng ta không nên tự ràng buộc mục tiêu lạm phát vào một giới hạn khá dễ dãi (khoảng 8%). dự trữ bắt buộc của các TCTD tăng thêm 1% so với trước. và cuộc đua lãi suất bắt đầu từ đó. II/Ứng phó của NHNN Động tác đầu tiên là việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng(TCTD) của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) theo Quyết định số 187/2008/QĐNHNN ngày 16/1/2008.

7 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài. nhưng NHNN chưa kịp thời thực hiện các biện pháp tháo gỡ. lãi suất 7. Công điện số 02 nêu trên là cần thiết và đó là việc sử dụng bàn tay Nhà nước trong những điều kiện cụ thể để giữ cho thị trường ổn định. đồng thời Hiệp hội Ngân hàng đã tổ chức thoả thuận giữa các hội viên thực hiện mức lãi suất không quá 11%/năm. tháng 2/2008. những ngân hàng này vẫn không đủ điều kiện tiếp cận thị trường mở. Lãi suất huy động của các NHTM thực hiện theo Công điện số 02 của NHNN chính là trần lãi suất do NHNN chỉ đạo. tranh thủ huy động vốn để. chủ yếu là NHTMCP có quy mô nhỏ vẫn còn trong tình trạng thiếu khả năng thanh khoản. nhiều ngân hàng vẫn không đủ nguồn vốn để cho vay. thời gian đầu. làm cho thị trường tiền tệ đã nóng lại thêm nóng thêm. yêu cầu các TCTD không được huy động lãi suất tiết kiệm với lãi suất vượt quá 12%/năm. Tín phiếu NHNN được phân bổ cho 41 NHTM theo quy mô tỷ trọng vốn huy động bằng đồng Việt Nam (4 NHTM Nhà nước. Tiếp theo. Trong khuôn khổ trần lãi suất đó. những biện pháp điều hành chính sách tiền tệ. một số ngân hàng. Một lần nữa. trong khi trước đó đã mạnh tay đầu tư vào thị trường chứng khoán và bất động sản. phải chạy đôn chạy đáo để vay. Cuộc đua lãi suất trở nên quyết liệt hơn. tỉ giá như: xây 11 . thậm chí có nơi lên đến 13-14%/ năm. thậm chí bị rối thì đó là việc cần thiết.8%/ năm. ngày 13/2/2008. NHNN ban hành Quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bắt buộc với tổng giá trị tín phiếu phát hành là 20. Tuy vậy. Và đó là những giải pháp kịp thời. tuy có làm cho thị trường chứng khoán chững lại. 2 Ngân hàng liên doanh và công ty tài chính Dầu khí). NHNN đã có văn bản triển khai kế hoạch số 2597/KH-NHNN về thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản 75/TTg-KTTH ngày 15 tháng 1 năm 2008 và số 319/TTg-KTTH ngày 3 tháng 3 năm 2008 về tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm pháp năm 2008 với những nội dung cụ thể. các NHTM có thuận lợi trong việc xử lý các mức lãi suất cụ thể cùng với cácchiêu khuyến mãi nên mức lãi suất huy động thường trên 12%. 28 NHTM cổ phần.Việc NHNN ban hành Chỉ thị 03 và Quyết định 03 nêu trên. song đó là biện pháp giảm tăng trưởng nóng và giảm cả tăng trưởng bong bóng trong điều kiện thị trường chứng khoán Việt Nam còn đang mới. đầu tư chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng sẽ gặp khó khăn. NHNN phải ra Công điện số 02. trong khi đó.300 tỷ đồng. NHNN lại phải sử dụng văn bản mang tính hành chính trong bối cảnh chạy đua lãi suất. Đó là những ngân hàng vẫn còn khá dồi dào nguồn vốn. tín dụng. tăng cường công tác thanh tra giám sát (cụ thể là Chỉ thị số 03/2008/CT-NHNN ngày 22/4/2008 về việc tăng cường công tác thanh tra giám sát của NHNN). một số nhà kinh doanh. Chính vì vậy. Ngày 9 tháng 3 năm 2008. Nhưng sau khi chấp hành quy định tăng dự trữ bắt buộc và mua tín phiếu bắt buộc theo quy định này làm cho một số NHTM đã khó khăn nay lại khó khăn hơn. bao gồm từ việc hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động ngân hàng. kỳ hạn 364 ngày (một năm). ngày phát hành 17/3/2008.

ngành trong việc triển khai các biện pháp kiềm chế lạm phát theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. cầu ngoại tệ tăng và NHNN lại phải can thiệp).2% (tuy nhiên. giá USD tăng. Kết quả rõ nhất trong quý I/2008 là tổng phương tiện thanh toán chỉ tăng bằng khoảng 1/2 tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước. Mặt bằng lãi suất được kiểm soát ở mức hợp lý (lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng phổ biến ở mức 8%-10%/năm.5 tỷ USD góp phần giảm bớt sức ép từ nguồn cung ngoại tệ dư thừa cho các NHTM (Tuy nhiên. lãi suất huy động VND của TCTD phổ biến ở mức 1%/tháng. xi măng.. hoạt động tín dụng của các NHTM được kiểm soát chặt chẽ hơn dẫn đến tỉ lệ lạm phát của tháng 4/2008 ở mức 2..11%.dựng phương án điều hành tỉ giá năm 2008. tháng 5/2008 lại tăng ở mức 3. Với những biện pháp chỉ đạo đồng bộ và khá quyết liệt phù hợp với sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ cùng với diễn biến của thị trường trong và ngoài nước. Quyết định số 1099/QĐ-NHNN về lãi suất cơ bản 12 . lãi suất cho vay ngắn hạn khoảng 11%13%/năm. Để tiếp tục cuộc chiến chống lạm phát. Việc NHNN áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt tiền tệ là thực hiện theo sự chỉ đạo của Chính phủ.. xây dựng cơ chế kiểm soát luồng vốn nước ngoài. tăng dư nợ tháng 5/2008 lên 18%)... NHNN ban hành Quyết định số 16/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. việc quản lý thị trường giá cả còn bất cập để xảy ra tình trạng đầu cơ làm cho một số mặt hàng sốt ảo.. trong đó các biện pháp thắt chặt tiền tệ được sử dụng trong 4 tháng đầu năm có lẽ vẫn chưa phát huy hiệu quả như mong muốn dư nợ tín dụng vẫn tăng mạnh. cho vay trung và dài hạnở mức 14% -16%/năm. tỷ giá ngoại tệ lại vào tình trạng đảo chiều. Việc tỷ lệ lạm phát trong tháng 5 tăng 3. Đó vẫn là nguyên nhân từ việc tổ chức thực hiện và sự phối kết hợp giữa các Bộ. tăng giá mạnh như: lương thực.1. ngay trong quý I /2008. Hiện tại. vì vậy. được các chuyên gia nước ngoài (cả IMF và ADB) cho là đúng. Xin trích ý kiến của ông Hisatsugu Furukwa. lãi suất. xây dựng phương án điều hành chính sách tiền tệ và tín dụng để cả năm đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán không vượt quá 30%. tiếp tục bổ sung hoàn thiện cơ chế điều hành dự trữ bắt buộc.000 tỷ đồng để mua 1. nhất quán đối với việc kiểm soát chặt chẽ tiền tệ. ngày 16/5/2008.91%. góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. việc quản lý luồng vốn nước ngoài vẫn còn lúng túng.. việc áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ là hợp lý. chuyên gia về chính sách tiền tệ Văn phòng hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA đăng trên Thời báo kinh tế Việt Nam số 120 ngày 29/5/2008: Định hướng của chính sách là đúng và NHNN áp dụng tất cả những biện pháp có thể trong khuôn khổ chính sách tiền tệ mặc dù có một số ý kiến chưa đồng ý về thời điểm và mức độ áp dụng. sau một thời gian.29%/năm). NHNN đã phát tín hiệu một cách rõ ràng. Và đặc biệt là nhập siêu tăng mạnh. đã có những kết quả nhất định như: rút về khoảng 40. lãi suất USD được điều chỉnh tăng từ 0.. nghiệp vụ thị trường mở.91% có nhiều nguyên nhân. tái cấp vốn.

Đến nay.. vẫn đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ. . ngoài sự quyết tâm của ngành Ngân hàng. Chủ tịch Phòng thương mại Châu Âu tại Việt Nam với hãng thông tin Bloomberg xung quanh chính sách kiềm chế lạm phát ở Việt Nam chúng ta cần chờ 2 hoặc 3 tháng nữa trước khi có thể thấy tác động đầu tiên của các biện pháp được Chính phủ triển khai. một số ngân hàng vẫn còn khó khăn về khả năng thanh khoản. Nhưng theo cách điều hành lãi suất như hiện nay là phù hợp và chủ động.Thứ nhất. để đưa lạm phát xuống phải có thời gian. Như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời chất vấn ngày 31/5/2008 tại kỳ họp tháng 5/2008 vừa qua. chính thức dỡ bỏ trần lãi suất 12%/năm để thực hiện cơ chế lãi suất theo các quy định của pháp luật và đó là thực hiện theo cơ chế thị trường.. đăng trên báo Tiền phong số 144 thứ tư ngày 28/5/2008. Quyết định số 1098/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu. 13 . (3) Xem xét việc điều chỉnh lãi suất cơ bản một cách hợp lý để cả ngân hàng thương mại và doanh nghiệp đều chịu được.. Có điều.. đó là: (1) Nắm chắc diễn biến về khả năng thanh khoản của NHTM để có biện pháp ứng phó kịp thời. vốn huy động của các TCTD vẫn tăng chậm. Sau hơn nửa tháng với thời gian chưa đủ dài để kiểm nghiệm. nhưng các TCTD trong nước đã tỏ thái độ ủng hộ cơ chế điều hành lãi suất hiện nay của NHNN. Quyết định số 16 nêu trên là một sự đổi mới cơ bản trong việc điều hành lãi suất của NHNN. xin đề cập mấy vấn đề sau đây: . có hiệu quả của các cấp các ngành thì mới phát huy hiệu quả như mong muốn. tác động từ bên ngoài là rất lớn và việc thực hiện các biện pháp cần có độ trễ nhất định. phải kết hợp áp dụng cả công cụ thị trường và biện pháp hành chính (nếu cần) để dư nợ tín dụng của NHTM không vượt quá 30%. trong đó có trả lời của ông Alanin Cany.Thứ hai. Không thể giảm nhanh lạm phát chỉ với những nỗ lực chủ quan. việc kiểm soát lạm phát ở Việt Nam hiện nay khác xa so với việc kiểm soát lạm phát cuối những năm 80 và đầu những năm 90 của thế kỷ trước. hiệu quả. kiểm soát chặt chẽ hơn việc vay nợ nước ngoài (bao gồm cả cho vay mở L/C) để góp phần kiềm chế nhập siêu. vì nước ta đang trong quá trình hội nhập và mở cửa. Để kết luận cho bài viết này.. không để tăng trưởng giảm dưới 7% theo mục tiêu mà Quốc hội thông qua tại kỳ họp tháng 5/2008 vừa qua.bằng đồng Việt Nam. Mặt khác. NHNN vẫn phải tiếp tục nắm diễn biến của thị trường và có giải pháp điều hành phù hợp.. không để bất kỳ ngân hàng nào mất khả năng chi trả. (2) Tiếp tục kiểm soát tăng dư nợ tín dụng một cách chặt chẽ. xin trích dẫn bài Chính sách kiềm chế lạm phát của Việt Nam sẽ ngấm trong vài tháng tới.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful