Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS

Sơn Thuỷ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VỀ ỨNG DỤNG CNTT VÀO DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 9 Ở TRƯỜNG THCS SƠN THUỶ I. ĐẶT VẤN ĐỀ. 1.Cơ sở lý luận : Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông ở nước ta đã được xã hội quan tâm ngay từ những năm 1970. Đến đầu thập kỉ 90 vấn đề phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học được đặt ra và phát động nhiều lần trong ngành Giáo dục, nhưng trên thực tiễn giáo dục ở nhà trường vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Đến những năm 1995-1996, 2000-2001 Bộ giáo dục và đào tạo đã phát động phong trào đổi mới phương pháp dạy học được thể hiện trong chỉ thị nhiệm vụ năm học hàng năm: Chỉ thị số 29/2001/ CT/ BGD-ĐT ngày 30/07/2001 của bộ trưởng BGD-ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) Công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2001-2005 đã chỉ rõ: ...Các bộ môn không chuyên về CNTT cần đổi mới nội dung chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học theo hướng tăng cường áp dụng CNTT. Các ngành khoa học, các ngành công nghệ, cần tăng cường dạy lập trình để có thể tạo ra các phần mềm chuyên ngành. - Đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học tin học theo hướng đảm bảo các kiến thức cơ bản, tính cập nhật của chương trình nhằm hỗ trợ cho dạy và học các môn học khác trong nhà trường. - Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong Giáo dục - Đào tạo (GD-ĐT) ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dung CNTT như một phương tiện hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học, học tập ở tất cả các môn học.... Thực hiện chỉ thị trên, hầu hết các bộ môn trong nhà trường ở các cấp học, bậc học, ngành học, đều chú trọng ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học. Phải nói rằng, hiện nay với sự phát triển như vũ bảo về lĩnh vực CNTT, nước ta đã từng bước tiếp cận và ứng dụng những thành tựu trong lĩnh vực còn khá mới mẽ này. Tuy vậy, việc ứng dụng CNTT vào việc dạy học ở nước ta vẫn còn hạn chế so với các
- Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga

Trang1

Năm học 2008-2009 là năm thứ 6 thực hiện chương trình thay sách giáo khoa mới và đổi mới phương pháp dạy học do Bộ GD-ĐT ban hành. trăn trở để tìm ra những phương pháp dạy học nhằm gây hứng thú cho học sinh khi học bộ môn của mình để đạt kết quả cao. các em không hiểu những tri thức khoa học của bộ môn GDCD. bản thân tôi luôn suy nghĩ. Vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học là việc làm cần thiết và quan trọng của ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Với đặc trưng môn học GDCD là một môn học xã hội mang tính chất khô khan. tất cả các trường phổ thông đều kết nối Internet.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ quốc gia trên thế giới. sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để nhằm phát huy tính tích cực. trong đó nỗi bật tri thức khoa học về thế giới quan. cứng nhắc. 2. Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy bộ môn GDCD. nên thực tế đã cho thấy rằng đại đa số học sinh có những khuynh hướng sai lầm là: Coi môn học GDCD là môn học đạo đức chính trị thuần tuý trong nhà trường. cách kiểm tra và gắn dạy học với thực tiễn. ứng dụng các bài giảng điện tử. nhân sinh quan. Năm học 2008 . tiếp tục đổi mới phương pháp dạy . Đó cũng là vấn đề được giáo dục quan tâm đặc biệt hiện nay. Phấn đấu đến cuối năm. Đặc biệt sẽ tập trung đổi mới phương pháp giảng dạy các môn xã hội . Năm thực hiện nhiệm vụ của ngành giáo dục.những môn mà chúng ta thấy bấy lâu nay xã hội chưa yên tâm.Cơ sở thực tiễn. vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học của thầy và trò đó là vấn đề hết sức quan trọng. Vì thế nhiệm vụ đặt ra cho mỗi giáo viên là phải đổi mới phương pháp dạy học. hình thành kho dữ liệu các môn học. Trường nào cũng có giáo viên sử dụng được bài giảng điện tử. sẽ tổ chức những hội thảo từ cơ sở đến cấp quốc gia về đổi mới ở cả 03 khâu: Cách dạy. Làm thế nào để ở tất cả các trường đều có giáo viên nồng cốt có thể sử dụng thiết bị.học. phương pháp nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn là những nhân tố cơ bản mà mỗi con người cần phải tự trang bị cho bản thân để hoàn thiện nhân cách .Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang2 .2009 sẽ đột phá tăng cường ứng dụng CNTT. tự giác chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập nhằm chiếm lĩnh kiến thức một cách độc lập với từng môn học. Với đặc trưng của môn học là một môn khoa học.

. sự chuẩn bị nguồn lực cho đất nước bước vào thời kì đổi mới là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của toàn xã hội và ngành giáo dục đào tạo nói riêng. projector. Mặt khác nếu ứng dụng thành công CNTT vào dạy học bộ môn GDCD. Vì thế đã làm cho giáo viên không có cơ hội để bồi dưỡng. tranh ảnh vào trong giảng dạy bộ môn GDCD là con đường hữu hiệu có tác dụng tăng hiệu quả tiết học lên gấp bội. . trong quá trình giảng dạy giáo viên còn sử dụng phương pháp truyền thống như thuyết trình. Từng bước áp dụng các phương tiện hiện đại như: máy chiếu đa năng. hội thảo chuyên đề bộ môn còn ít. băng hình. đưa ra các kinh nghiệm khả thi thì chắc chắn rằng chất lượng học tập bộ môn sẽ được nâng cao và chắc chắn rằng học sinh sẽ rất hứng thú học môn học này cũng như bao môn học khác trong chương trình phổ thông. đọc chép. 1.Thế kỷ XXI . Học sinh chỉ tập trung trả lời các câu hỏi có sẵn trong sách giáo khoa nên đã tạo cho tiết học trở nên khô khan. NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. số liệu thông tin. II.Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời gian đầu tư vào mỗi bài dạy.thế kỷ của khoa học và công nghệ. hình ảnh chưa cập nhật kịp thời và thiếu sự đa dạng.Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang3 . Trong các nhà trường vẫn còn tồn tại ý thức coi môn GDCD là môn học bổ trợ. đơn điệu. Các em cho rằng môn học GDCD là môn học phụ. uể oải… Cơ sở vật chất. Học sinh luôn thụ động nên đã tạo cho học sinh sự nặng nề.v.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ chính mình. bồi dưỡng. học hỏi bạn bè đồng nghiệp nhằm nâng cao chuyên môn nghiệp vụ bộ môn.v. nghèo nàn về phương pháp. Muốn theo kịp các nước tiên tiến và đón đầu sự phát triển đòi hỏi phải đổi mới giáo dục một cách đồng bộ là tất yếu. tài liệu. Nhiệm vụ của đề tài: . trái ngạch và đã dẫn đến tình trạng giáo viên không đầu tư nhiều cho tiết dạy. Việc tập huấn. . chúng ta đang từng bước tiếp cận với những thành tựu mới của khoa học – kỉ thuật. nên các em chưa thực sự chú ý đến việc học tập của bộ môn này. phương tiện dạy học còn thiếu. máy chiếu đa vật thể. Chính vì quan niệm đó nên một số trường vẫn còn bố trí cho giáo viên dạy kiêm nhiệm. Vì thế.

Do đó chất lượng bộ môn chưa được cao. minh hoạ có sử dụng phương pháp trực quan và dùng hình ảnh thực tiễn còn có nhiều hạn chế.Phương pháp thống kê. học sinh ít hoạt động nếu có thì chỉ tập trung trả lời một số câu hỏi do giáo viên đưa ra. giáo viên còn gặp khó khăn trong việc gây hứng thú học tập cho học sinh.Tình trạng phổ biến trong các tiết học môn GDCD chưa thực sự sinh động vì thiếu hụt về phương tiện cũng như về thông tin. 3. thực tiễn về việc ứng dụng CNTT vào môn GDCD ở Trường THCS Sơn Thuỷ để giảng dạy một số bài trong chương trình giáo dục công dân. 1.Phương pháp quan sát. III. 2. Trong giờ học.Phương pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp. việc giải thích. vì thế. . lập trường của mình. . . Chính vì vậy học sinh chưa thực sự tự lực phát hiện và giải quyết vấn đề.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận.Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp cụ thể là: . ít có cơ hội để thể hiện thái độ. Thực trạng: . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. Thời gian thực hiện : Từ năm học 2007-2008 đến năm học 2008-2009. 4. Ít có những giờ học được tiến hành bằng các phương tiện hiện đại. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu trên đối tượng là học sinh lớp 9 ở Trường THCS Sơn Thuỷ. . học sinh chưa thực sự hứng thú học tập. nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang4 .Phương pháp điều tra.

6 59. Từ vận dụng các phương pháp dạy học mới như đàm thoại. phong phú về nội dung. cùng với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên toàn quốc. nội dung kiến thức mang tính trừu tượng cao.6 SL 27 29 30 27 TL% 64.3 69. 2008 .1 71.0 11.9 14. phương pháp làm việc theo .3 16.1 7.4 GDCD Không hứng thú học bộ môn GDCD *Bảng kết quả chất lượng học kì I năm học 2007-2008 khi giáo viên chưa ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy bộ môn GDCD 9.2008 khi chưa ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy như sau: * Bảng điều tra mức độ hứng thú học tập bộ môn GDCD của học sinh học kì I năm học 2007-2008. Khi giáo viên chưa ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy bộ môn GDCD 9.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ Qua điều tra về mức độ hứng thú học tập của học sinh và thống kê kết quả của học kì I năm 2007.7 47.5 SL 10 19 13 9 Khá % 23. thiên về lí luận. nêu vấn đề.1 SL 8 5 6 7 Yếu % 19. Trường THCS Sơn Thuỷ đã không ngừng đổi mới phương pháp dạy học và đã đạt được những kết quả nhất định.5 7.7 30.5 SL 20 15 20 26 TB % 47. Hứng thú học bộ môn Lớp Số học sinh 9A 9B 9C 9D 42 42 42 44 SL 15 13 12 17 TL% 35.6 Đến những năm 2007 .8 45.6 35.2 30.2008.Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang5 . Song cán bộ giáo viên chúng tôi đã không ngừng cố gắng đổi mới phương pháp dạy học.6 38. nêu gương.9 20.1 4.4 61.2009. bộ môn GDCD mặc dù là một bộ môn khoa học xã hội với đặc trưng đa dạng. Cùng với phong trào đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường. Lớp 9A 9B 9C 9D Số học sinh 42 42 42 44 SL 4 3 3 2 Giỏi % 9.9 28.

thích thú và làm việc có hiệu quả.Được sự ủng hộ tích cực của học sinh.Việc sử dụng bài giảng điện tử sẽ chuyển tải được lượng thông tin lớn đến với học sinh.. tin học nâng cao. Những thuận lợi trong việc ứng dụng CNTT vào việc dạy học môn GDCD Lớp 9 ở Trường THCS Sơn Thuỷ. thuận lợi cho việc trao đổi kinh nghiệm ứng dụng CNTT vào dạy học. Những hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy và học môn GDCD : * Về phía giáo viên: Hiện nay việc ứng dụng CNTT trong dạy và học môn GDCD vẫn còn hạn chế. .Trường có một số giáo viên đã sử dụng thành thạo các phần mềm vi tính. + Tổ chức phong trào thao giảng đổi mới phương pháp dạy học và được đông đảo cán bộ giáo viên nhiệt tình tham gia. a..đào tạo tỉnh nhà. thư viện. . đa số học sinh rất mong muốn được học những giờ học ứng dụng công nghệ thông tin. + Nhà trường đã trang bị khá đầy đủ cơ sở vật chất. có hiệu quả cao thu hút được sự tham gia tích cực của học sinh. Hiện nay toàn trường đã có 23/ 31 giáo viên soạn bài bằng máy vi tính ( đạt tỷ lệ trên 70% ) . đa số giáo viên giảng dạy môn GDCD trong các trường đều chưa có tiết dạy ứng dụng công nghệ thông tin. đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học.Ban giám hiệu nhà trường có quyết tâm cao và tập trung chỉ đạo.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ nhóm. + Tổ chức các lớp học vi tính cho giáo viên: Tin học căn bản. . cả trong khả năng và sự nhiệt tình của giáo viên: .Được sự quan tâm của ngành Giáo dục .Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang6 . b. Những hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân. có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. trang thiết bị. máy móc phục vụ cho đổi mới phương pháp dạy học: các phòng học bộ môn. cả trong nhận thức lẫn hành động. Một số giáo viên cũng đã ứng dụng CNTT vào dạy học làm cho tiết dạy sinh động. việc trao đổi tin nhanh hơn và hiệu quả hơn. Học sinh thức sự say mê. . phòng máy.

Căn cứ vào những thực trạng trên bản thân tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm ứng dụng CNTT vào dạy học bộ môn GDCD như sau:. đối với môn GDCD kho tư liệu là điều kiện cần thiết và đặc biệt quan trọng vì đặc trưng của bộ môn GDCD là bộ môn trang bị . Một là: Xây dựng thư viện tư liệu.Một số giáo viên đã cố gắng ứng dụng CNTT vào dạy học. . . 2. Nhiều giáo viên còn ôm đồm kiến thức làm mất thời gian mà hiệu quả giờ dạy chưa cao. *Về phía học sinh: Trên thực tế. ảnh và sôi nổi bình luận hoặc say sưa nghe thầy(cô) giáo giảng quên cả việc ghi bài. thích thú được học những giờ có ứng dụng CNTT. tự nâng cao khả năng ứng dụng CNTT.Một số học sinh gặp khó khăn trong việc ghi chép: không biết lựa chọn thông tin. ghi chậm hoặc không đầy đủ. xem phim. .Trong tiến trình lên lớp với bài giảng điện tử. lĩnh hội kiến thức và mức độ hiểu bài của học sinh chưa được cao. . . . một số giáo viên thao tác hơi nhanh nên dẫn đến việc tiếp thu.Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang7 . Giải pháp. chưa dám nghĩ dám làm. Nhưng vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau: .Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ . chỉ thụ động ngồi nghe.Một số học sinh chưa thật thích nghi với phương pháp học hiện đại này. Do vậy nhiều giáo viên rất ngại làm chủ kĩ thuật phức tạp của máy tính. còn mang nặng tính chất trình diễn. công sức.Hầu hết giáo viên chưa sử dụng thành thạo một số phần mềm vi tính.Một số giáo viên khác chưa thực sự cố gắng tự học. Để phục vụ cho công tác giảng dạy.Nhiều giáo viên không muốn trang bị máy tính phục vụ dạy học khi đời sống gia đình còn nhiều khó khăn. nội dung chính để ghi vào bài học. tuy nhiên trong quá trình giảng dạy vẫn còn nặng về hình thức.Nhiều giáo viên ngại sử dụng CNTT do tốn thời gian. .Một số giáo viên vẫn còn quen với cách dạy cũ . hầu hết học sinh đều say mê.

. Nguyễn Viết Xuân. khoa học hơn và không mất nhiều thời gian như trước.Trước đây giáo viên xây dựng kho tư liệu bằng cách đọc. Những bài dạy về đạo đức. có thể dùng máy scan quét ảnh và lưu vào USB. biễn báo nguy hiểm.. hoặc hình ảnh về các vụ tai nạn do công dân khi tham gia giao thông thiếu ý thức thiếu hiểu biết.vn. pháp luật. chúng ta có thể lấy các thông tin hình ảnh như: biển báo về ATGT trong đó có tất cả các loại biển báo mà chúng ta cần tìm như “ biễn báo hiệu lệnh.Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang8 . gây hứng thú học tập cho học sinh. để học sinh quan sát bằng trực quan. đạo đức. phong phú: Triết học. số liệu mới phục vụ cho quá trình giảng dạy có hiệu quả.. cuối cùng cập nhật vào kho tư liệu của mình để phục vụ cho quá trình giảng dạy. chính trị. Ví dụ: Khi dạy bài “ Ngoại khoá về TTATGT”. chính trị. tạp chí…Trong quá trình tham khảo sách. + Khai thác tranh ảnh từ sách. Chúng ta có thể vào địa chỉ www. biễn báo cấm. gặp những tranh ảnh đặc biệt cần thiết. Lý Tự Trọng.com. pháp luật đòi hỏi có tính thực tiễn cao. tài liệu.. thông qua chức năng cung cấp thông tin của máy tính. cũng như nâng cao ý thức chấp hành luật lệ ATGT cho học sinhh. phong phú.. việc khai thác tư liệu có thể lấy từ các nguồn: + Khai thác thông tin tranh ảnh từ mạng Internet. tài liệu. Hiện nay việc ứng dụng CNTT giúp giáo viên xây dựng thư viện tư liệu thuận lợi. hoặc bài giảng ngoại khoá về “ Trật tự ATGT” cần thực hiện thao tác: mở các băng hình. La Văn Cầu. hình vẽ. lựa chọn các . các phần mềm tranh ảnh. video.Google. bản đồ. Ví dụ: Khai thác đoạn phim hoặc các nhân vật có liên quan đến bài giảng như hình ảnh một số anh hùng tuổi trẻ trong thời kháng chiến chống Pháp. biển báo chỉ dẫn và một số biển báo phụ khác. Nguyễn Thị Minh Khai. báo. các đĩa CD.. chống Mỹ như: Võ Thị Sáu. phim.Rom. tham khảo tài liệu.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ cho học sinh hệ thống những tri thức đa dạng. trong “Bài 10: Lí tưởng sống của thanh niên”. Do vậy giáo viên dạy GDCD phải chú trọng cập nhật những sự kiện thông tin... Những tư liệu đó có ở trên mạng Internet.. + Khai thác từ băng hình. sách báo và chép lại những thông tin cần thiết vào sổ tư liệu.” mà trong quá trình giảng dạy chúng ta có thể khai thác hình ảnh các biển báo từ mạng Internet để cung cấp cho học sinh. báo. báo chí.

Hiện nay đối với bản thân tôi đã lưu trữ được một số file dữ liệu để phục vụ cho quá trình giảng dạy bộ môn GDCD như: các dữ liệu về hình ảnh Bác Hồ. sử dụng phần mềm như: HeroSuperPlayer 3000 hoặc Herosoft 2001 hay Camtasia studio…. phần mềm… Bộ môn GDCD chưa có bài giảng điện tử sẵn có trên các đĩa CD-ROM bán trên thị trường.. vào ổ đĩa CD-ROM lựa chọn tranh. về các tệ nạn xã hội. Từ các nguồn khai thác trên giáo viên sẽ lưu trữ cho mình một thư viện tư liệu phong phú. về vấn đề ATGT. hình vẽ cần tìm rồi đưa vào bài giảng. vì hiện nay vẫn chưa có phần mềm nào dành cho môn GDCD. giáo viên có thể mua về để tự học. VCD. Địa lý…. đây là phần mềm thiết kế bài giảng điện tử tương đối đơn giản. về môi trường. Chương trình này dễ sử dụng. cắt các đoạn phim rồi lưu vào máy tính thành các file dữ liệu trong thư viện tư liệu để phục vụ giảng dạy.ROM. phù hợp với giáo viên giảng dạy các bộ môn không chuyên như môn GDCD.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ đoạn phim có thể làm tư liệu giảng dạy. về các thắng cảnh của quê hương đất nước. Chỉ cần kích chuột vào Insert/Picture/promfile. + Khai thác các hình ảnh tĩnh. hình ảnh một số anh hùng tuổi trẻ tiêu biễu trong thời kháng chiến. bằng cách đọc sách hướng dẫn hoặc học hỏi bạn bè. động. video. Trên thị trường hiện nay có bán phần mềm hướng dẫn học MicrosortPowerPoint. kiến thức trừu tượng. . Tuy nhiên cần lưu trữ thành trong file dữ liệu để dễ dàng tìm kiếm khi sử dụng..Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang9 . về các hoạt động đền ơn đáp nghĩa.khi gặp những nội dung cần thiết. đồng nghiệp thì có thể soạn được bài giảng. và một số di tích lịch sử của địa phương và của đất nước… Hai là: Xây dựng bài giảng điện tử: Chúng ta có thể sử dụng giáo án điện tử để dạy các bài có tính chất thuyết trình.. Với bộ môn GDCD tôi chỉ khai thác những nội dung cần thiết ở các đĩa VCD hoặc khai thác vận dụng các đĩa CD-ROM của các phân môn khác như CD-ROM vật lý. đa dạng để phục vụ cho công tác giảng dạy. đặc biệt là những bài học mà có thể khai thác các tư liệu. các phần mềm trên các đĩa CD.. ảnh. Do vậy giáo viên phải tự soạn bài giảng điện tử dựa vào các phần mềm ứng dụng sẵn có như PowerPoint. hình ảnh.

Chạy thử. . sửa chữa và hoàn thiện bài giảng.để xây dựng tiến trình dạy học thông qua hoạt động cụ thể. phù hợp với thực tiễn. + Ý nghĩa tác dụng và phương hướng rèn luyện.Lựa chọn các phần mềm.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ * Quy trình thiết kế một bài giảng điện tử: .Xác định kiến thức cơ bản. ảnh. Đây là bài học nhằm cung cấp cho . thông tin cần thiết phục vụ bài dạy. . cụ thể: Công dân được làm gì? không được làm gì?. Cụ thể như: . khoa học. lĩnh hội được điểm mấu chốt của bài. cách ứng xử theo yêu cầu của chuẩn mực đạo đức. Trong quá trình dạy học giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung của từng bài giảng. phim.Để dạy tốt một bài pháp luật thì cần bảo đảm những yêu cầu sau: + Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực mà bài học đề cập tới.Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang10 .. Để làm tốt điều này đòi hỏi giáo viên phải có sự sáng tạo để sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học phù hợp với nội dung. . Ví dụ: Khi thiết kế bài giảng “Trách nhiệm của thanh niên trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước”. + Trách nhiệm của công dân và bản thân của học sinh trong việc thực hiện qui định của pháp luật. Giáo viên phải nắm vững nội dung cơ bản của bài học với nội dung có liên quan để có thể chủ động trong quá trình hướng dẫn cho học sinh khai thác. Phải đảm bảo đựợc tính kế thừa và phát triển kết quả và dạy học của bài trước với bài sau.Lựa chọn tư liệu tranh. điều kiện dạy học và đặc điểm từng học sinh cụ thể của mình. nội dung trọng tâm. . trình diễn. Nội dung giáo dục phải đảm bảo tính chính xác.Xác định rõ mục tiêu bài dạy. hiệu ứng….Để dạy tốt một bài đạo đức thì cần phải đảm bảo những nội sau: + Nội dung của chuẩn mực đạo đức trong bài là gì? biểu hiện như thế nào? cho học sinh xem những tấm gương đạo đức chính diện và phản diện. .

phương pháp đàm thoại. tự nghiên cứu…Tuỳ theo đặc điểm của từng bài. gia đình và xã hội. phải chuyển tải được nội dung bài giảng thì bài dạy mới có hiệu quả cao. nhưng những thông tin.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ học sinh những hiểu biết về trách nhiệm của mình trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Những năm gần đây. tối ưu góp phần tích cực cho đổi mới phương pháp dạy học. ảnh hay đoạn phim có tính thực tiễn cao. từ những hình ảnh trực quan đó học sinh quan sát. làm việc theo nhóm. thông tin. cho học sinh xem một số hình ảnh về những thành tựu mà nền CNH . tranh. tranh. giáo viên cần đưa những tư liệu..HĐH đất nước đã đem lại. tự nghiên cứu. phương pháp làm việc theo nhóm. việc ứng dụng CNTT rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực đã tác động rất lớn đến khả năng ứng dụng CNTT của . đua xe máy. thuyết trình. Vì vậy chúng ta phải lựa chọn những tư liệu. phương pháp giải quyết vấn đề. Bốn là: Hướng dẫn học sinh ứng dụng CNTT phục vụ cho việc học tập bộ môn GDCD. thiếu trách nhiệm. ảnh về sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. hướng dẫn học sinh tự học. thiếu ý thức đối với bản thân.Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang11 . Lưu ý: Trong bài giảng điện tử đối với môn GDCD. như hình ảnh của một số thanh niên tiêm chích ma tuý. nhận xét và có phản ứng trước những hành động trên giúp các em khắc sâu được kiến thức một cách nhanh chống.. Ba là : Đa dạng hoá các phương pháp dạy học: Bên cạnh ứng dụng CNTT được coi là phương pháp hiện đại. giáo viên cần chú ý đa dạng hoá các hình thức dạy học. tuỳ theo đối tượng học sinh để sử dụng các phương pháp giảng dạy thích hợp mới có thể đạt được hiệu quả cao trong dạy và học.. phải biết kết hợp các phương pháp dạy học khác như: nêu vấn đề. được xem là những phương pháp học mới so với phương pháp học thuộc lòng truyền thống trước đây. số liệu đó phải mang tính thời sự.. mặt khác đưa ra một số hình ảnh phản diện của một số thanh niên sống buông thả. Tìm những tấm gương thanh niên đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp CNH-HĐH.. sa vào các tệ nạn xã hội. Phương pháp tự học.

với nhóm và với tập thể. + Giáo viên có thể ứng dụng phương pháp dạy học theo dự án của IntelTeach to the Future (Chương trình dạy học cho tương lai của Intel). thành công và có hiệu quả. ứng dụng CNTT vào bài giảng thì học sinh cảm thấy thích thú học tập. Kết quả đạt được : Qua thực tế giảng dạy cho thấy. các em có điều kiện học hỏi lẫn nhau.Google. Do vậy việc hướng dẫn học sinh ứng dụng CNTT phục vụ cho phương pháp học tập là điều nên làm và cũng là xu hướng chung trong giáo dục thời đại hiện nay. một khi giáo viên và học sinh xác định đúng nội dung công việc của mình thì tiết học sẽ diễn ra một cách thoải mái. phương pháp này đòi hỏi học sinh vừa làm việc theo nhóm vừa ứng dụng CNTT trong quá trình học tập để thiết kế ba bài tập: bài trình diễn PowerPoint. Tuy nhiên. Bởi thế. + Học sinh tự làm chủ kiến thức bài học một cách độc lập. trang web và ấn phẩm ( tờ rơi ) để thực hiện ý tưởng dự án của mình.Kết quả thu được thông qua các tiết dạy: + Công việc của người giáo viên nhẹ nhàng hơn rất nhiều. mỗi khi giáo viên sử dụng.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ học sinh. Nhiều em học sinh tiếp cận rất nhanh. biễu lộ rõ trình độ hiểu biết của mình về vấn đề mà nội dung bài học đặt ra. sử dụng thành thạo nhiều phần mềm vi tính. . + Qua mỗi tiết học. Đặc điểm nổi bật ở các em học sinh hiện nay là tính năng động sáng tạo và yêu thích cái mới. . mỗi cá nhân học sinh đều biết làm việc và hiểu bài ngay tại lớp. + Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh địa chỉ một số trang web và yêu cầu các em tìm kiếm thông tin ở mạng Internet để phục vụ công việc học tập theo những chủ đề nhất định hoặc tìm nhanh ở địa chỉ: www.Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang12 .com ở trên mạng Internet về các vấn đề các em muốn tìm hiểu nhanh. để thực hiện phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải được tập huấn các nội dung của chương trình dạy học cho tương lai của Intel và hướng dẫn cho học sinh ứng dụng CNTT để thực hiện các yêu cầu của chương trình phục vụ cho quá trình học tập… 3. các em cảm thấy mình có ích và có trách nhiệm hơn với bản thân.

8 13. Từ khi áp dụng phương pháp dạy học ứng dụng CNTT trên bản thân tôi đã thu được những kết quả như sau: * Bảng điều tra về mức độ hứng thú học tập bộ môn GDCD học kì I năm học 2008-2009 khi giáo viên ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy bộ môn GDCD lớp 9. xây dựng bài của mỗi học sinh được phát huy hết khả năng dẫn đến chất lượng giáo dục có hiệu quả cao hơn.7 39.6 22.6 17.0 SL 0 0 Yếu % o 0 Trang13 .Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga .5 SL 15 14 10 16 TB % 38. Học sinh hứng thú với bài giảng có ứng dụng CNTT.8 25.3 42.4 18.0 SL 15 20 Khá % 38.8 25.0 SL 12 10 TB % 30.4 5.1 SL 1 2 2 2 Yếu % 2.5 22.4 77. ý thức học tập.5 75.5 50.5 77.7 9A 9B 9C 9D Cộng 39 40 37 38 154 *Kết quả chất lượng học kì I năm học 2008-2009 khi giáo viên ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy bộ môn GDCD lớp 9 Lớp Số học 9A 9B 9C 9D sinh 39 40 37 38 SL 10 7 4 5 Giỏi % 25.3 môn GDCD SL 10 9 9 7 35 TL% 25.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ + 100% giờ dạy đảm bảo thời gian.5 35 27 42.5 10.2 SL 13 17 21 15 Khá % 33.5 56. Hứng thú học bộ Không hứng thú học bộ Lớp Số học sinh môn GDCD SL 29 31 28 31 119 TL% 74.6 81.5 5 5.3 *Kết quả chất lượng học kì II năm học 2008-2009 khi giáo viên ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy bộ môn GDCD lớp 9 Lớp Số học 9A 9B sinh 39 40 SL 12 10 Giỏi % 30.5 24.

với các tiết dạy ứng dụng CNTT. *Thứ ba: Trong quá trình giảng dạy. được sự quan tâm của ban lãnh đạo nhà trường và đặc biệt là sự ủng hộ nhịêt tình của học sinh trong quá trình học tập. phải phù hợp không lạm dụng. để qua từng slile chi tiết. cỡ chữ không quá to. giáo viên cần lưu ý đến khả năng tiếp thu.4 5. đoạn phim phục vụ bài dạy. không lạm dụng các màu sắc.1 47.6 18. khả năng ghi chép bài học của học sinh để có hướng điều chỉnh kịp thời. Bài học kinh nghiệm. *Thứ sáu: Một điều đáng lưu ý là cần hiểu đúng CNTT chỉ là một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho đổi mới phương pháp dạy học.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ 9C 9D 37 38 8 7 21. cung cấp thông tin. hình ảnh. áp dụng các biện pháp đã thực hiện như được trình bày ở trên tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm như sau: *Thứ nhất: Điều cần lưu ý trong quá trình giảng dạy là: Giáo viên là người hướng dẫn học sinh học tập chứ không dơn giản chỉ là người phát động. phong chữ. bởi vì quá trình giáo dục con người .4 20 18 54.6 28. giáo viên phải biết đánh giá lựa chọn thông tin. Do vậy. cỡ chữ và màu phong nền là điều cần lưu ý. Màu chữ. giáo viên cần lưu ý khi dùng hiệu ứng. lĩnh hội kiến thức. 4. *Thứ hai: Soạn giáo án điện tử. không quá nhỏ (Cỡ chữ 28-30 là vừa). sẽ không đảm bảo được tính thẫm mỹ và khó có thể chuyển tải được nội dung bài học. nội dung nào là phần diễn giải của giáo viên… *Thứ năm: Trong giáo án điện tử việc dùng màu chữ. học sinh phải nhận biết được nội dung nào là nội dung cần ghi chép.Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang14 .3 Có được kết quả trên chính là nhờ sự nổ lực và quyết tâm cao của bản thân tích cực ứng dụng CNTT vào trong quá trình dạy học và sự tích lũy chuyên môn. không chuẩn. âm thanh. học hỏi đồng nghiệp về vấn đề ứng dụng CNTT. phong nền phải phù hợp. tiếng động. *Thứ tư: Giáo án điện tử cần phải được thiết kế một cách khoa học.9 2 2 5.4 8 11 21. Qua quá trình giảng dạy ở trường. Nếu dùng không đúng.

xem CNTT là độc tôn. Sự chuẩn bị nguồn nhân lực cho thời kỳ mới của đất nước là một trong những nhiệm vụ trọng đại của toàn xã hội và ngành giáo dục nói riêng. Chúng ta đang sống trong những năm đầu của thế kỷ XXI . trong bước hình thành ở học sinh thói quen và kỹ năng vận dụng những tri thức đã học vào cuộc sống. đang được đặt ra hiện nay và xu thế là sử dụng CNTT như là một công cụ dạy học có hiệu quả cao. pháp luật.Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang15 . tích cực đấu tranh chống những cái sai.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ không thể “Công nghệ hoá” hoàn toàn được. về phương pháp dạy và học nói riêng. giúp học sinh định hướng đúng đắn về các giá trị đạo đức. những giáo viên có kinh nghiệm. cái tiêu cực và lạc hậu. ngoài việc học thêm ở các lớp tin học. *Thứ bảy: Để ứng dụng CNTT góp phần đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả cao. Hình thành niềm tin có cơ sở khoa học về lý tưởng cao đẹp mà con người luôn luôn vươn tới sự tất thắng của Chân . Biết kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. giáo dục thẫm mỹ…Xác định điều này. giáo viên phải thường xuyên không ngừng tự học tự nâng cao trình độ chuyên môn mà còn phải nâng cao khả năng sử dụng CNTT. Muốn theo . cái cũ.thế kỷ của khoa học và công nghệ. *Thứ tám: Để nâng cao khả năng sử dụng CNTT. cái lỗi thời.Mỹ. trong cuộc sống hiện tại và sau này. các tư tưởng chính trị trong hoạt động xã hội. giáo viên có thể tự học (Ví dụ: Giáo viên có thể tự học cách soạn giáo án điện tử thông qua phần mềm hướng dẫn tự học Microsoft Powerpoint hoặc có thể tự học ở bạn bè. Điều quan trọng là giáo viên phải đóng vai trò là người học thường xuyên để có thể thực hiện được cuộc cách mạng giáo dục nói chung. IV. trong quá trình giảng dạy giáo viên tránh lạm dụng CNTT. có nhiều mặt giáo dục không thể quy trình hoá được như giáo dục nhân văn. giáo dục đạo đức. đồng nghiệp. lao động và sinh hoạt. có chuyên môn liên quan đến ứng dụng CNTT…). Bước đầu bồi dưỡng cho học sinh những phương pháp tư duy biện chứng. là môn học trực tiếp hình thành các phẩm chất và các kỹ năng theo các chuẩn mực đạo đức. là duy nhất.Thiện . pháp luật. KẾT LUẬN CHUNG Môn học GDCD ở trường THCS là một môn học có chức năng cực kỳ quan trọng. học tập.

sách giáo khoa. kiểm tra đánh giá và đặc biệt cơ sở vật chất. thử nghiệm với những bước đi vững chắc mới có thể đạt được hiệu quả cao và CNTT là một thách thức đòi hỏi cả giáo viên lẫn học sinh cần phải biết học hỏi. nhà trường và xã hội để giáo dục đạo đức cho con em của mình thông qua học tập bộ môn GDCD ở trường. 1. nắm bắt kịp thời với sự phát triển của CNTT trong thời đại mới. ĐỀ XUẤT.Đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng CNTT vào dạy học của giáo viên và học tập của học sinh một cách đồng bộ và thường xuyên. Sự ra đời của phương pháp mới bao giờ cũng gặp những khó khăn. . khai thác.Tổ chức thảo luận các chuyên đề ứng dụng CNTT cho tất cả các giáo viên thường xuyên trong từng đợt. từng năm để ngày một nâng cao chất lượng dạy học.Mua sắm thêm tài liệu tham khảo. Đối với nhà trường: .Quản lý chặt chẽ các điểm kinh doanh Internet và các điểm dịch vụ không lành mạnh làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh cũng như đạo đức của học sinh trong thời đại thông tin phát triển mà một số đối tượng học sinh không biết chọn lọc và tiếp thu những mặt tích cực mà CNTT đem lại cho các em. Đối với địa phương: .Cần quan tâm đến việc học hành của con em mình.Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ kịp các nước tiên tiến.Đầu tư cơ sở vật chất trường lớp kịp thời trong việc dạy và học. phương tiện dạy học hiện đại. . thiết bị. ứng dụng để biến nó trở thành công cụ đắc lực góp phần đổi mới phương pháp dạy – học có hiệu quả. V. đầu tư nhiều về cơ sở vật chất. 3. . nhất là các trang thiết bị tin học tạo điều kiện cho con em học tập tốt. Đối với phụ huynh: . .Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình. 2. đầu tư cơ sở vật chất và đồ dùng dạy học nhất là các tài liệu và các thiết bị tin học phục vụ cho việc ứng dụng CNTT trong thời đại mới.Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang16 . đón đầu sự pháp triển đòi hỏi phải đổi mới giáo dục một cách đồng bộ: Chương trình. NHỮNG KIẾN NGHỊ. . đòi hỏi phải có ý thức và quyết tâm tìm tòi.

ngày 20 tháng 5 năm 2009 Người viết Hồ Thị Phương Nga .Người thực hiện: Hồ Thị Phương Nga Trang17 .Sáng kiến kinh nghiệm về ứng dụng CNTT vào dạy học môn GDCD lớp 9 ở trường THCS Sơn Thuỷ ********************  *********************  Ý KIẾN CỦA HĐKH TRƯỜNG Sơn thuỷ.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful