Nhu cầu ôxy hóa sinh học hay nhu cầu ôxy sinh học (ký hiệu: BOD, từ viết

tắt trong tiếng Anh của Biochemical (hay Biological) Oxygen Demand), là một chỉ số và đồng thời là một thủ tục được sử dụng để xác định xem các sinh vật sử dụng hết ôxy trong nước nhanh hay chậm như thế nào. Nó được sử dụng trong quản lý và khảo sát chất lượng nước cũng như trong sinh thái học hay khoa học môi trường. BOD không là một thử nghiệm chính xác về mặt định lượng, mặc dù nó có thể coi như là một chỉ thị về chất lượng của nguồn nước.

Các giá trị BOD điển hình
Phần lớn các con sông còn nguyên sơ sẽ có BOD 5 ngày là nhỏ hơn 1 mg/L. Các con sông bị ô nhiễm ở mức độ nhẹ sẽ có giá trị BOD trong khoảng 2-8 mg/L. Nước thải đô thị được xử lý có hiệu quả bằng công nghệ ba giai đoạn có thể có giá trị của BOD vào khoảng 20 mg/L. Nước thải chưa xử lý thì có giá trị BOD không cố định, nhưng trung bình vào khoảng 600 mg/L tại châu Âu và khoảng 200 mg/L tại Hoa Kỳ hay tại các khu vực mà nó bị thấm lọc qua nước ngầm hay nước bề mặt. Các giá trị nói chung của Hoa Kỳ thấp chủ yếu là do tại đây lượng nước tiêu thụ trên đầu người là cao hơn rất nhiều so với các khu vực khác của thế giới. Bùn sệt từ các trang trại chăn nuôi bò sữa có giá trị BOD vào khoảng 8.000 mg/L còn thức ăn ủ thành xi lô có giá trị BOD vào khoảng 60.000 mg/L. Mức BOD (bằng ppm) 1-2 3-5 6-9 10+ Chất lượng nước Rất tốt-không có nhiều chất thải hữu cơ Tương đối sạch Hơi ô nhiễm Rất ô nhiễm

Thử nghiệm BOD
Việc thử nghiệm chỉ số BOD là phép đo tốc độ hấp thụ hết ôxy của vi sinh vật có trong mẫu nước thử ở nhiệt độ cố định (20 °C) và trong một khoảng thời gian chọn trước (thường là 5 ngày) trong bóng tối. Để đảm bảo mọi điều kiện là tương đương, một lượng rất nhỏ vi sinh vật mầm mống được thêm vào trong mỗi mẫu cần thử nghiệm cũng như trong một mẫu đối chứng chỉ chứa nước cất. Mầm mống này thông thường được sinh ra từ việc hòa loãng nước cống rãnh hoạt hóa bằng nước đã khử ion. Thử nghiệm nói chung được thực hiện trong thời gian 5 ngày, nhưng các thử nghiệm BOD khác cũng hay được sử dụng.

Phương pháp
Thử nghiệm BOD được thực hiện bằng cách hòa loãng mẫu nước thử với nước đã khử ion và bão hòa về ôxy, thêm một lượng cố định vi sinh vật mầm giống, đo lượng ôxy hòa

BOD về chức năng là tương tự như nhu cầu ôxy hóa học (COD) ở chỗ cả hai đều đo lượng các chất hữu cơ có trong nước. . Tuy nhiên. do nó được coi là thời gian dài nhất mà nước sông có thể chảy từ thượng nguồn tới cửa sông tại Vương quốc Anh.tan và đậy chặt nắp mẫu thử để ngăn ngừa ôxy không cho hòa tan thêm (từ ngoài không khí). COD là ít cụ thể hơn do nó đo mọi thứ mà về mặt hóa học có thể bị ôxi hóa hơn là chỉ đo mức của các chất hữu cơ hoạt hóa về mặt sinh học. Giá trị BOD của mẫu đối chứng được trừ đi từ giá trị BOD của mẫu thử để chỉnh sai số nhằm đưa ra giá trị BOD chính xác của mẫu thử. Nó được đặt trong tiêu chuẩn nổi tiếng 20:30 (BOD:Các chất rắn huyền phù) + nitrat hóa đầy đủ.BOD mầm giống) x Hệ số pha loãng Lịch sử sử dụng BOD Royal Commission on River Pollution (Ủy ban Hoàng gia về Ô nhiễm Sông) được thành lập năm 1865 và sau đó là sự hình thành của Royal Commission on Sewage Disposal (Ủy ban Hoàng gia về Loại bỏ Nước thải) vào năm 1898 đã dẫn tới sự lựa chọn BOD5 vào năm 1908 như là thử nghiệm cuối cùng đối với ô nhiễm hữu cơ của các con sông. Năm 1912. trong đó DO được đo lặp lại bằng đồng hồ đo DO trong cùng các chai lọ chuyên biệt hóa này cho đến khi nó đạt được cân bằng.DO cuối cùng). được sử dụng như là tiêu chuẩn so sánh tại Vương quốc Anh cho tới tận thập niên 1970 đối với chất lượng nước tuôn ra từ các công trình xử lý nước thải. Khác biệt giữa lượng DO (ôxy hòa tan) cuối và lượng DO ban đầu chính là giá trị của BOD. Ủy ban này cũng thiết lập tiêu chuẩn 20 ppm BOD5 như là nồng độ tối đa cho phép của nước thải đã qua xử lý để đổ vào các con sông với điều kiện là ít nhất phải có tỷ lệ hòa loãng 8:1 cho dòng chảy vào thời gian có thời tiết khô ráo. BOD được sử dụng như là tiêu chuẩn đánh giá tính hiệu quả của các nhà máy hay phương pháp xử lý nước thải. Ít được sử dụng hơn là thử nghiệm Ultimate BOD (UBOD: BOD tối thượng). Mẫu thử được giữ ở nhiệt độ 20 °C trong bóng tối để ngăn chặn quang hợp (nguồn bổ sung thêm ôxy ngoài dự kiến) trong vòng 5 ngày và sau đó đo lại lượng ôxy hòa tan. Các kết quả từ các thử nghiệm này được gọi là BOT5(ATU) và được gọi là Carbonaceous BOD (CBOD: BOD cacbon) tại Hoa Kỳ. Năm ngày đã được chọn như là khoảng thời gian thích hợp cho thử nghiệm. Giá trị mất đi của ôxy hòa tan trong mẫu thử. được gọi là BOD5. sau khi đã hiệu chỉnh. allylthiourea cũng được thêm vào ngay trước khi thử nghiệm để ngăn ngừa sự ôxi hóa amoniac. Có nhiều chủng loại thiết bị được dùng để xác định nó. là chỉ số của mức độ ô nhiễm. BOD có thể được tính toán bằng: • • Không pha loãng: DO ban đầu – DO cuối cùng = BOD Pha loãng: ((DO ban đầu . Tại Vương quốc Anh.

CH4. về mùa đông quá trình tự làm sạch của nước nguồn xảy ra một cách chậm chạp. độ thiếu hụt oxy tăng nhanh hơn so với mùa đông. quá trình oxy hóa sinh hóa các chất hữu cơ xảy ra với cường độ mạnh hơn. Nguồn như vậy không thể sử dụng vào mục đích cấp nước. Về mùa đông nhiệt độ nước nguồn thấp nên độ hòa tan tăng. Về mùa hè khi nhiệt độ của nước nguồn tăng. nhiệt độ và khả năng phân hủy các chất hữu cơ của hệ vi sinh vật trong nước thải. Các chất khí khi nổi lên mặt nước lôi kéo theo các hạt cặn đã phân hủy. Cần chú ý rằng quá trình yếm khí xảy ra chậm hơn nhiều so với quá trình hiếu khí. Nếu lượng cặn lắng lớn và lượng oxy trong nước nguồn không đủ cho quá trình phân hủy hiếu khí thì oxy hoà tan của nước nguồn cạn kiệt (DO = 0). Vì vậy trước khi xả vào sông hồ. tuy nhiên với nhiệt độ thấp các vi khuẩn hiếu khí tham gia vào quá trình oxy hóa sinh hóa các chất hữu cơ sẽ hoạt động yếu. Thời gian cần thiết để các vi sinh vật oxy hóa hoàn toàn các chất hữu cơ có thể kéo dài đến vài chục ngày tùy thuộc vào tính chất của nước thải. Để chuẩn hóa các số liệu người ta . Nói một cách khác. Bởi vậy khi đưa cặn mới vào nguồn thì quá trình phân giải yếm khí có thể xảy ra liên tục trong một thời gian dài và quá trình tự làm sạch nguồn nước có thể coi như chấm dứt. NHU CẦU OXY SINH HOÁ(BOD) VÀ NHU CẦU OXY HOÁ HỌC (COD) CỦA NƯỚC THẢI Nhu cầu oxy sinh hóa là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hóa các chất hữu cơ trong một khoảng thời gian xác định và được ký hiệu bằng BOD được tính bằng mg/L.Ảnh hưởng của nhiệt độ Nhiệt độ của nước nguồn cũng có ảnh hưởng đáng kể đến chế độ oxy của nguồn nước. các chất lơ lửng sẽ lắng xuống đáy nguồn và khi tốc độ dòng chảy trong nguồn không lớn lắm thì các chất đó sẽ lắng ở ngay cạnh cống xả. Lúc đó quá trình phân giải yếm khí sẽ xảy ra và sản phẩm của nó là chất khí H2S. Chỉ tiêu BOD phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ của nước thải. cá sẽ không thể sống và có thể có nhiều thiệt hại khác nữa. BOD càng lớn thì nước thải (hoặc nước nguồn) bị ô nhiễm càng cao và ngược lại. Vì vậy về mùa hè. Trong khi đó độ hòa tan của oxy vào nước lại giảm xuống. Các chất hữu cơ của cặn lắng bị phân hủy bởi vi khuẩn. Chúng làm ô nhiễm cả nước và không khí xung quanh. Do đó quá trình khoáng hóa các chất hữu cơ xảy ra chậm chạp. Ảnh hưởng của cặn lắng Khi xả nước thải chưa xử lý vào nguồn nước. CO2. cần phải loại bỏ bớt chất rắn lơ lửng có trong nước thải. đồng thời các bọt khí vỡ tung và bay vào khí quyển.

) Lo: BOD cuối cùng k: tốc độ phản ứng (d-1) tính theo hệ số e K: tốc độ phản ứng (d-1) tính theo hệ số 10.05 ¸ 0.23 Để tính giá trị k ở nhiệt độ T ta có công thức . BOD20 = BOD5 : 0. Khi biết BOD5 có thể tính gần đúng BOD20 bằng cách chia cho hệ số biến đổi 0. k = 2.68 Hoặc tính BOD cuối cùng khi biết BOD ở một thời điểm nào đó người ta có thể dùng công thức: BODt = Lo (1 .05 ¸ 0.70 0.30 0. 5 ngày.23 0.12 ¸ 0.303(K) Giá trị K và k tiêu biểu cho một số loại nước thải Loại nước thải Nước thải thô Nước thải đã được xử lý tốt Nước sông bị ô nhiễm K (20oC) (day-1) 0..10 k (20oC) (day-1) 0.thường báo cáo kết quả dưới dạng BOD5 (BOD trong 5 ngày ở 20oC).68. Thời gian đầu. quá trình oxy hóa xảy ra với cường độ mạnh hơn và sau đó giảm dần. qua 5 ngày đêm chiếm 87% và qua 20 ngày đêm chiếm 99%.10-Kt) trong đó BODt: BOD tại thời điểm t (3 ngày..15 ¸ 0.e-kt) hay BODt = Lo (1 . Để kiểm tra khả năng làm việc của các công trình xử lý nước thải người ta thường dùng chỉ tiêu BOD5.12 ¸ 0.35 ¸ 0.10 0. Ví dụ: đối với nước thải sinh hoạt và nước thải của một số ngành công nghiệp có thành phần gần giống với nước thải sinh hoạt thì lượng oxy tiêu hao để oxy hóa các chất hữu cơ trong vài ngày đầu chiếm 21%. Mức độ oxy hóa các chất hữu cơ không đều theo thời gian.

Sự hòa tan oxy vào nước nguồn .e-kt) BODt = 60 mg/L SỰ TIÊU THỤ OXY VÀ SỰ HOÀ TAN OXY TRONG NƯỚC NGUỒN Sự tiêu thụ oxy Để quá trình tự làm sạch diễn ra một cách bình thường ở nguồn nước thì cần phải có một lượng dự trữ oxy hòa tan (DO).1) Giai đoạn thứ hai: oxy hóa các chất chứa nitơ thành nitrit và sau đó thành nitrat (phương trình 1.7 đến phương trình 1.e-kt) 200 mg/L = Lo (1 .10).e-0.23 Lo = 293 mg/L • × 5 ) Xác định BOD ngày thứ nhất BODt = Lo (1 . Việc tiêu thụ lượng oxy hòa tan do quá trình oxy hóa các chất hữu cơ bởi các vi khuẩn (quá trình oxy hóa sinh hóa) thực hiện qua 2 giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất: oxy hóa các chất hữu cơ cao phân tử tạo cacbonic và nước (phương trình 1.Giải: • Xác định BOD cuối cùng BODt = Lo (1 .

73 7.59 7.67 7.86 9.26 9. Lượng oxy hòa tan của không khí vào nước theo nhiệt độ và độ mặn ở 1atm ToC DO mg/L 0 ppm salinity 5 ppm salinity 10. Ngoài ra còn có một lượng oxy bổ sung vào nước nguồn còn do quá trình quang hợp của thực vật sống trong nước.07 9. áp suất.92 10.81 ToC DO mg/L 0 ppm salinity 5 ppm salinity 8.56 9.32 8.48 8.21 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 11.43 10.95 7.41 .6).17 8. Chúng hòa tan vào nguồn nước qua mặt thoáng của nguồn nước.98 9.40 8.73 8. độ hòa tan đó phụ thuộc vào mức độ xáo trộn gây ra bởi dòng chảy cũng như các tác nhân như gió trên mặt thoáng của dòng chảy.67 10. độ hòa tan của oxy phụ thuộc vào nhiệt độ. Vì vậy trong điều kiện như nhau.90 8. để oxy hóa các chất hữu cơ trong nguồn nước luôn xảy ra quá trình bổ sung lượng oxy mới.53 10.99 8.46 7.24 8. Nguồn bổ sung oxy là không khí. Như các chất khí khác. độ mặn của nước.77 9.33 7.Song song với quá trình tiêu thụ oxy.36 9.77 10.02 10.65 9.29 10.20 9.56 8.09 7.45 9.28 11.87 7.64 8.81 7.54 7. Các thực vật này đồng hóa cacbon từ axít cacbonic tan trong nước và giải phóng oxy tự do (pt 1.08 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 8.01 7.16 8. Độ hòa tan của oxy vào nước phụ thuộc vào diện tích tiếp xúc giữa hai pha oxy và nước.

2. Yếu tố cản trở Kiềm hoặc axit ảnh hưởng đến kết quả xác định. Phương pháp lấy mẫu 1. 10 ml axit axetic 5%. 2.3. Burét. Dụng cụ Chai Winkler có thể tích biết sẵn hay chai 250 ml nút mài.2. do đó phải thực hiện trong môi trường trung tính.3.3.1. Chai chứa mẫu để xác định nhu cầu sinh hóa oxy phải sấy để tiệt trùng ở 150oC. Có thể dùng axit sunfuric H2SO4 0.0125 M cho tới khi mất màu. rỏ natri thiosunfat Na 2S2O3 0. Để xác định lượng oxy đó cần phải cung cấp cho nước thải một lượng oxy thừa đủ cho quá trình phân huỷ các chất hữu cơ do các vi sinh vật (quá trình đó có thể là: 5. 20 ngày tùy theo yêu cầu nghiên cứu).1.1 M để xác định điều chỉnh. trong điều kiện nhiệt độ là 20oC và không có ánh sáng.2.2. bình nón. Nước chưa phân tích ngay phải bảo quản ở điều kiện nhỏ hơn 4oC. pipét. Lấy mẫu theo TCVN 4556-88 1. 10. 1. nhỏ vài giọt hồ tinh bột nếu xuất hiện màu tím xanh.1. Nước đục.05M hay natri hidroxit NaOH 0. 2. Nguyên tắc Nhu cầu sinh hóa oxy là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật phân huỷ các chất hữu cơ trong một đơn vị thể tích nước nhất định (1000 ml) trong một đơn vị thời gian nhất định. 1. Phương pháp xác định 2. Mẫu lấy để xác định nhu cầu sinh hóa oxy lấy như mẫu xác định oxy hoà tan.785 g . Lượng oxy trong nước giảm đi so với ngày đầu cho biết số mg oxy mà các vi sinh vật đã tiêu thụ.3.Tiêu chuẩn Việt Nam Nước thải Phương pháp xác định nhu cầu sinh hóa oxy Waste water Method for the derter mination of biochemiccal oxygen demand (COD) Nhóm I TCVN 4566 – 88 Có hiệu lực từ 01/7/1989 Tiêu chuẩn này quy định phương pháp Winkler xác định nhu cầu sinh hóa oxy (được viết tắc là BOD) (biochemical oxygen demad). 2. Nước chứa clo hoạt động cản trở phải loại trừ clo như sau: Trong 100 ml nước nghiên cứu cho vào 10 ml kali iodua KI 10%. có nhiều cặn phải để lắng rồi lấy phần nước trong để xác định. tủ điều nhiệt. Dụng cụ và thuốc thử 2. 15. Thuốc thử Dung dịch dinh dưỡng dùng để bão hoà oxy gồm: Kali dihidrophotphat KH2PO4 2.

2. 2. Các thuốc thử khác theo TCVN 4564-88 về xác định oxy hoà tan. Chai thứ nhất đem định lượng oxy (xem phần oxy hoà tan) kết quả định lượng chai thứ nhất tính ra mg/l sẽ là 0d1. 2. Định lượng oxy của nước dùng để pha loãng.7H2O 4. nếu lượng oxy trong nước có từ 8 – 10 mg trong một lít là được. Dựa vào kết quả đã xác định nhu cầu oxy hóa học oxy. Khuấy đều. Lấy 1 – 2 ml dung dịch dinh dưỡng pha trong 1000 ml nước cất. Rút gọn tính ra được là 25 ml nước thải trong 1000 ml nước bão hoà oxy. Lấy nước đã bào hoà oxy và hai chai nút nhám 250 ml (dùng ống xi phông đưa nước vào đáy chai. Xử lý mẫu theo 2. lấy 80 x 5 = 400 (hoặc 7 lần cho kết quả đảm bảo).000 ml. không được để bọt khí). Ví dụ: Kết quả xác định nhu cầu hóa học oxy của mẫu A là 80 mg/l oxy. ml Hóa theo KMnO4.2. Pha loãng nước thải bằng hai cách 2.4.2.4. Cách tiến hành 2.493g Magiê sunfat MgSO4.4.5.1.4.1.2H2O 8. Theo bảng Căn cứ vào độ oxy hóa theo kali pemanganat KmNO 4 của nước thải rồi đối chiếu với bảng để pha loãng.5g Canxi clorua khan CaCl2 khan 5. Kết quả xác định độ oxy Số nước thải pha cho đủ 1000 ml. Cần làm nhu cầu sinh hóa oxy sau 5 ngày. Khi dùng lấy mỗi thứ 1ml rồi pha chung vào 1000 ml hoặc pha tất cả các thứ trên vào trong một bình thêm nước cất đến đủ 1000 ml.4g Có thể pha riêng từng thứ mỗi thứ đủ 1. Đem định lượng.000 ml.4. 2. Vậy đậm độ pha loãng là 25%. Nếu nước dùng để pha loãng nước thả đã làm bão hoà oxy có hàm lượng 10 mg/l thì lượng nước để pha loãng là 40 lít hay 40. từng giọt một.Dinatri hidrophotphat Na2HPO4. Như vậy lượng oxy cần cho 1000 ml nước thải tối thiểu là 400 mg. .5 mg Amoniclrua NH4Cl 0. Dùng dung dịch dinh dưỡng (phần thuốc thử) pha vào nước cất. mg/lit 15 250 – 150 15 – 40 100 – 75 40 – 60 50 – 40 60 – 120 30 – 20 120 – 240 15 – 10 240 – 360 10 2. Cho nước cất chảy từ bình nọ sang bình kia. Làm nhiều lần đến khi nào định lượng nước đó có hàm lượng từ 8 – 10 mg oxy trong một lít dùng để pha vứi nước thải.2.2.

được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu chất lượng nước và hoạt động thường xuyên của các cơ sở cải tạo nước.5 mg/l. 2. DBO15. abbreviated DO.5. 2. kết tủa này sau đó bị ôxi hóa bởi ôxy hòa tan trong mẫu nước thành một màu nâu mangan kết tủa. Chai thứ nhất định lượng ngay. Lấy nước thải đã được pha loãng bằng nước bão hoà oxy vào hai chai nút nhám dung tích 250ml. không có các vi sinh vật để oxy hóa các chất hữu cơ trong nước thải. một acid mạnh (hoặc là acid hydrochloric hoặc acid . Hiệu số giữa OD1 và OD5 cho biết lượng oxy đã tiêu thụ sau 5 ngày đối với nước thải pha loãng. Trong bước tiếp theo. Các thử nghiệm Winkler được sử dụng để xác định nồng độ hòa tan oxy trong mẫu nước. Chai thứ nhất để sau 5. This precipitate is then oxidized by the dissolved oxygen in the water sample into a brown manganese precipitate.5. DBO20. An excess of manganese(II) salt. Nếu hàm lượng NO2 lớn hơn 0. 10.1 mg thì quá trình BOD toàn phần được coi là kết thúc. 2) Lượng oxy hoà tan còn lại ở ngày cuối cùng phải còn lại từ 1 – 2 mg/l. An vượt mangan (II) muối.2.1. 3) Khi xác định BOP toàn phần cần tiến hành song song xác định hàm lượng NO2. is widely used in water quality studies and routine operation of water reclamation facilities. Oxy hòa tan. 15. khi pha loãng nên thêm vào mỗi lít nước thải 1 – 2 ml nước thải sinh hoạt. Cũng tính như vậy với DBO10. Đem định lượng oxy. không lẫn nước thải sinh hoạt.) ions are added to a water sample causing a white precipitate of Mn(OH) 2 to form. Sau 5 ngày (10.Chai thứ hai giữ lại ở điều kiện nhiệt độ 20oC ÷ 1oC và tránh ánh sáng. Dissolved Oxygen. 20 ngày (cùng điều kiện nhiệt độ và ánh sáng như trên). Hiệu số giữa 0d1 và 0d5 cho biết lượng oxy tiêu thụ sau năm ngày của nước dùng để pha loãng. Chú thích: 1) Khi đem nước phân tích hoàn toàn là nước thải công nghiệp. 15. iodide (I-) and hydroxide (HO . Kết quả tính ra mgO2/l ghi là OD1. a strong acid (either hydrochloric acid or sulfuric acid ) is added to acidify the solution. viết tắt DO. Lượng oxy này không vượt quá 0. iodide (I-) và hydroxit (HO -) các ion được thêm vào một mẫu nước gây ra một kết tủa trắng của Mn (OH) 2 để tạo thành. Định lượng oxy của nước thải đã pha loãng. Kết quả tính ra mg O2/l ghi là OD5. In the next step. Tính kết quả Lượng oxy tiêu thụ sau 5 ngày hay nhu cầu sinh hóa oxy tính ra mg/l sẽ là: BOD5 = [(OD1 – OD5) – (Od1 – Od5)] x đậm độ pha loãng. 20 ngày tuỳ yêu cầu nghiên cứu) đem định lượng oxy của chai thứ hai cho kết quả 0d5.

2 Mn(OH) 2 (s) + O 2 (aq) → 2 MnO(OH) 2 (s) 2 Mn (OH) 2 (s) + O 2 (aq) → 2 MnO (OH) 2 (s) . Trong dung dịch kiềm. The brown precipitate then converts the ́ iodide ion (I-) to iodine . The difference between the physical concentration of oxygen in the water (or the theoretical concentration if there were no living organisms) and the actual concentration of oxygen is called the biochemical demand in oxygen. The amount of dissolved oxygen is a measure of the biological activity of the water masses. Sự khác nhau giữa sự tập trung vật chất của ôxy trong nước (hay nồng độ các lý thuyết nếu không có sinh vật sống) và nồng độ thực tế của ôxy được gọi là ứng nhu cầu sinh hóa trong oxy. oxy hoà tan sẽ ôxi hóa mangan (II) ion cho tetravalent nhà nước. algae. this was a way for him to obtain his doctorate. dissolved oxygen will oxidize manganese(II) ions to the tetravalent state. mangan (II) sulfat (ở 48% tổng khối lượng) được thêm vào một mẫu nước môi trường. thực vật phù du và hiện tại macroalgae trong khối lượng nước sản xuất khí oxy bằng cách quang hợp . Kết quả của hai cơ chế này xác định nồng độ oxy hòa tan. kali iodide (15% trong kali hydroxit 70%) được thêm vào để tạo ra một kết tủa màu nâu hồng nhạt. mà lần lượt cho biết việc sản xuất sinh khối. Tiếp theo. Next. potassium iodide (15% in potassium hydroxide 70%) is added to create a pinkish-brown precipitate. The result of these two mechanisms determines the concentration of dissolved oxygen. Lịch sử The test was first developed by Lagos Winkler while working on his doctoral dissertation in 1888. Trong bước đầu tiên. Vi khuẩn và sinh vật nhân điển hình (động vật phù du. Bacteria and eukaryotic organisms (zooplankton. Các kết tủa màu nâu sau đó chuyển đổi các ion iodide (I-) để iốt . In the alkaline solution.sulfuric ) sẽ được thêm vào tinh chua giải pháp. fish) consume this oxygen through cellular respiration . Lượng oxy hòa tan là một thước đo của hoạt động sinh học của khối nước. Phytoplankton and macroalgae present in the water mass produce oxygen by way of photosynthesis . which in turn indicates the production of biomass. Thử nghiệm lần đầu tiên được phát triển bởi Lagos Winkler trong khi làm việc trên luận án tiến sĩ của ông năm 1888. The amount of dissolved oxygen is directly proportional to the titration of iodine with a thiosulfate solution [ 1 ] . The winkler test is often contraversial as it is not 100 percent accurate as the oxygen levels may fluctuate Các thử nghiệm Winkler thường contraversial như nó không phải là 100 phần trăm chính xác hàm lượng ôxy có thể dao động [ edit ] Sample method [ sửa ] phương pháp mẫu In the first step. cá) tiêu thụ oxygen này thông qua hô hấp tế bào . manganese(II) sulfate (at 48% of the total volume) is added to an environmental water sample. đây là một cách cho anh ta để lấy tiến sĩ của ông. Lượng ôxy hòa tan là tỷ lệ thuận với chuẩn độ của iốt với một thiosulfate giải pháp [1] . tảo.

There is some confusion about whether the oxidised manganese is tetravalent or trivalent . Các Mn (SO 4) 2 hình thành bởi các acid chuyển đổi các ion iodide thành i-ốt . with a starch indicator. . chúng tôi có thể làm việc ra số mol của các phân tử oxy có trong mẫu nước ban đầu.MnO(OH) 2 appears as a brown precipitate . 2 S 2 O 3 2. 4 Mn(OH) 2 (s) + O 2 (aq) + 2 H 2 O → 4 Mn(OH) 3 (s) 4 Mn (OH) 2 (s) + O 2 (aq) + 2 H 2 O → 4 Mn (OH) 3 (s) The second part of the Winkler test reduces acidifies the solution. The acid facilitates the conversion by the brown.1 mol của O 2 → 2 mol MnO (OH) 2 → 2 nốt ruồi của tôi 2 → 4 mol của S 2 O 3 2 Therefore.(aq) 2 S 2 O 3 2 . Mangan có chứa các ion iodua vào nguyên tố Iodine. Phần thứ hai của bài thi Winkler giảm acidifies giải pháp. after determining the number of moles of iodine produced. to titrate the iodine. Nội dung ôxy thường được trình bày như mg dm -3. Vì vậy. Thiosulfate giải pháp được sử dụng. acid tạo điều kiện chuyển đổi do kết tủa màu nâu. Mn(SO 4 ) 2 + 2 I . sau khi xác định số mol của iốt sản xuất. The Mn(SO 4 ) 2 formed by the acid converts the iodide ions into iodine .(aq) + I 2 → S 4 O 6 2. với một chỉ số tinh bột. The precipitate will dissolve back into solution. nhưng ngậm nước MnO 2 cũng có thể cung cấp cho các màu nâu. Có một số nhầm lẫn về việc liệu các mangan ôxi hóa là tetravalent hoặc trivalent . chính nó đang được giảm trở lại mangan (II) ion trong môi trường axit. we can work out the number of moles of oxygen molecules present in the original water sample. Manganese-containing precipitate of the Iodide ion into elemental Iodine.(AQ) Thiosulfate solution is used.(AQ) [ edit ] Analysis [ sửa ] Phân tích From the above stoichiometric equations. we can find that: Từ trên cân bằng hóa học phương trình.(aq) + 2 I .(aq) + I 2 → S 4 O 6 2 (aq) + 2 I . but hydrated MnO 2 may also give the brown colour. The oxygen content is usually presented as mg dm -3 . Các kết tủa sẽ hòa tan trở lại vào giải pháp. MnO (OH) 2 xuất hiện như một màu nâu kết tủa .(aq) Mn (SO 4) 2 + 2 I (aq) → Mn 2 + (aq) + I 2 (aq) + 2 SO 4 2 . Một số nguồn cho rằng Mn (OH) 3 là kết tủa màu nâu.(aq) → Mn 2+ (aq) + I 2 (aq) + 2 SO 4 2. itself being reduced back to manganese(II) ions in an acidic medium. chúng ta có thể thấy rằng: 1 mole of O 2 → 2 moles of MnO(OH) 2 → 2 mole of I 2 → 4 mole of S 2 O 3 2. để chuẩn độ của dung dịch các iốt. Some sources claim that Mn(OH) 3 is the brown precipitate.

Furthermore. Ruth . phương pháp cụ để đo oxy hòa tan có rộng rãi thay thế việc sử dụng thường xuyên của các thử nghiệm Winkler. Sự thành công của phương pháp này là nghiêm trọng phụ thuộc vào cách thức mà mẫu được chế tác. The resulting number (usually reported in parts per million or milligrams per liter) is useful in determining the relative organic strength of sewage or other polluted waters. các bước phải được thực hiện để đảm bảo rằng oxy không phải là giới thiệu và cũng không bị mất từ mẫu. several dilutions of a sample are analyzed for dissolved oxygen before and after a five-day incubation period at 20 degrees Celsius (68 degrees Fahrenheit) in the dark. Các thử nghiệm BOD 5 là một ví dụ về phân tích để xác định các lớp vật liệu trong một mẫu. The BOD 5 test is an example of analysis that determines classes of materials in a sample. bacteria are used to provide a source of oxygen to the sample. [ edit ] BOD 5 [ sửa ] BOD 5 To determine five-day Biochemical oxygen demand (BOD 5 ). the water sample must be free of any solutes that will oxidize or reduce iodine. Để xác định năm ngày nhu cầu oxy sinh hóa (BOD 5). Số lượng kết quả (thường được báo cáo trong phần triệu hoặc mg / lít) là hữu ích trong việc xác định sức mạnh tương đối của nước thải hữu cơ hoặc các vùng nước bị ô nhiễm khác. steps must be taken to ensure that oxygen is neither introduced to nor lost from the sample. mặc dù kiểm tra vẫn được sử dụng để kiểm tra hiệu chuẩn cụ. vi khuẩn được sử dụng để cung cấp một nguồn ôxy cho mẫu. The difference in DO and the dilution factor are used to calculated BOD 5 . các vi khuẩn này được gọi là "hạt giống". Instrumental methods for measurement of dissolved oxygen have widely supplanted the routine use of the Winkler test.[ edit ] Limitations [ sửa ] Hạn chế The success of this method is critically dependent upon the manner in which the sample is manipulated. • Chủ đề: Khoa học Thủy sản và Thủy sản (SFRC) | Quản lý Pond | Francis-Floyd. Sự khác biệt trong DO và pha loãng các yếu tố được sử dụng để tính BOD 5. these bacteria are known as "seed". một số dung dịch pha loãng một mẫu được phân tích cho oxy trước và sau một ngày thời kỳ ủ bệnh-năm ở 20 độ C (68 độ F) trong bóng tối. In some cases. các mẫu nước phải được miễn phí của bất kỳ chất tan mà sẽ ôxi hóa hoặc giảm iốt. although the test is still used to check instrument calibration. Tại tất cả các khâu. Hơn nữa. Trong một số trường hợp. At all stages.

whereas land animals use lungs to absorb oxygen from the atmosphere. Hình 1. . bao gồm cả cá. What are the Sources of Oxygen in an Aquatic Environment? các nguồn oxy trong một môi trường thủy sản là gì? There are three main sources of oxygen in the aquatic environment: 1) direct diffusion from the atmosphere. including fish. Ôxy hòa tan (DO) là khí oxy hòa tan trong nước. Oxygen. 2) wind and wave action. và 3) photosynthesis. Of these. These predictable changes in DO that occur every 24 hours are called the diurnal oxygen cycle ( Figure 1 ). 3) quang hợp. photosynthesis by aquatic plants and phytoplankton is the most important. trong khi các loài động vật sử dụng đất phổi hấp thụ ôxy từ khí quyển. Biến động này được gọi là một chu trình oxy ban ngày. Cá "hít thở" ôxy giống như các động vật đất làm. Cấp oxy thả vào ban đêm vì sự hô hấp của thực vật và động vật.Dissolved Oxygen for Fish Production 1 Oxy hòa tan để sản xuất cá 1 Ruth Francis-Floyd 2 Ruth Francis-Floyd 2 What Is Dissolved Oxygen? Oxy hòa tan là gì? Dissolved oxygen (DO) refers to oxygen gas that is dissolved in water. Trong số này. được sản xuất trong ngày khi ánh sáng mặt trời tỏa sáng trên cây trong nước. This fluctuation is called a diurnal oxygen cycle. Nồng độ oxy hòa tan trong ao biến động trên cơ sở 24 giờ. However. Oxygen levels drop at night because of respiration by plants and animals. Oxygen. derived from photosynthesis. Dissolved oxygen increases during daylight hours when photosynthesis is occurring and decreases at night when respiration continues but photosynthesis does not. xuất phát từ quang hợp. Dissolved oxygen concentration in ponds fluctuates on a 24-hour basis. quang hợp của cây trồng thuỷ sản và thực vật phù du là quan trọng nhất. fish are able to absorb oxygen directly from the water into their bloodstream using gills. Oxy hòa tan trong giờ làm tăng ánh sáng ban ngày khi quang hợp đang xảy ra và giảm vào ban đêm khi hô hấp vẫn tiếp tục nhưng không quang hợp. is produced during the day when sunlight shines on the plants in the water. Figure 1. 2) và hành động sóng gió. Fish "breathe" oxygen just as land animals do. Tuy nhiên. Những dự đoán được những thay đổi trong DO xảy ra mỗi 24 giờ được gọi là chu trình oxy ban ngày ( hình 1 ). cá có khả năng hấp thụ oxy trực tiếp từ nước vào máu của họ bằng cách sử dụng mang. and Có ba nguồn chính của oxy trong môi trường nước: 1) khuếch tán trực tiếp từ khí quyển.

however. và dư thừa thức ăn cá). bể chứa khử trùng nước thải. septic tank waste water. increased organic waste entering the water (ie. Mortality usually occurs at concentrations less than 2 mg/L.What is Oxygen Depletion? Oxygen suy thoái là gì? Oxygen depletion refers to low levels of DO and may result in fish mortality. "doanh thu" của một cơ thể của nước (xem phân tầng / Doanh thu phần Pond). trên thực vật thủy sản hoặc các loại tảo trong hệ sinh thái. Sensitivity to low levels of dissolved oxygen is species specific. Usually larger fish are affected by low DO before smaller fish are. The number of fish that die during an oxygen depletion event is determined by how low the DO gets and how long it stays down. Gia tăng tiêu thụ ôxy có thể được gây ra bởi một phong phú. Một nồng độ 5 mg / L DO được khuyến khích cho sức khỏe cá tối ưu. Một trong sản xuất oxy giảm là do sự cố như thời tiết nhiều mây và cây trồng hoặc tảo chết- . "turnover" of a body of water (see Stratification/Pond Turnover section). Sự suy giảm oxy dùng để chỉ các mức thấp của DO và có thể dẫn đến tử vong cá. and excess fish feed). tăng chất thải hữu cơ vào nước (tức là phân từ trại chăn nuôi . most species of fish are distressed when DO falls to 2-4 mg/L. hoặc bằng hóa chất nhất định (tức là formalin) mà loại bỏ oxy trực tiếp từ các cột nước. or by certain chemicals (ie. manure from feedlots. plant or algae die-offs). tuy nhiên. Sự suy giảm oxy xảy ra khi oxy tiêu thụ vượt quá sản xuất oxy. tuy nhiên. Increases in oxygen consumption can be caused by an over-abundance of aquatic plants or algae in the ecosystem. A concentration of 5 mg/L DO is recommended for optimum fish health. Trong ao ngoài trời. formalin) that remove oxygen directly from the water column. Tỷ lệ tử vong thường xảy ra ở nồng độ thấp hơn 2 mg / L. A decrease in oxygen production is caused by incidents such as cloudy weather and plant or algae die-offs that shut down photosynthesis. phần lớn các loài cá đang đau khổ khi DO rơi xuống 2-4 mg / L. họ có nhiều khả năng nguyên nhân cá chết trong thời tiết mùa hè nóng. sự suy giảm oxy sự kiện có thể xảy ra bất cứ lúc nào. however. What Causes Oxygen Depletion? Nguyên nhân sự suy giảm oxy gì? Oxygen depletion occurs when oxygen consumption exceeds oxygen production. Độ nhạy với các mức thấp của ôxy hòa tan là loài cụ thể. death and decay of organic matter (ie. cây trồng hoặc tảo chết-offs). cái chết và phân rã của các chất hữu cơ (ví dụ. Why Are Oxygen Depletion Events Most Troublesome in the Summer? Tại sao sự suy giảm oxy Sự kiện Troublesome nhất vào mùa hè này? In outdoor ponds. Thông thường cá lớn bị ảnh hưởng bởi DO thấp trước khi nhỏ hơn cá. oxygen depletion events can occur at anytime. they are most likely to cause fish kills during hot summer weather. Số lượng cá chết trong một sự kiện sự suy giảm oxy được xác định bởi làm thế nào các DO thấp được và bao lâu nó sẽ nằm xuống.

The net result over a period of several days is oxygen depletion and. water that is 90° F can only hold 7. Oi bức. This loss of oxygen from decreased production is confounded by still. Tuy nhiên. Nặng quần thể cây trồng hoặc tảo là những nhà sản xuất quan trọng nhất của oxy trong hệ thống. a thermocline develops. Heavy populations of plants or algae are the most important producers of oxygen in the system. Có nhiều lý do tại sao sự suy giảm oxy sự kiện được phổ biến hơn trong mùa hè và chúng sẽ được thảo luận dưới đây. whereas water that is 45° F can hold 11. Trong thời tiết nóng. Việc mất ôxy từ giảm sản xuất là confounded bởi vẫn còn. For example. Oxygen transfer (from the atmosphere into the water) is minimal because there is little or no wind/wave action. remains unchanged. Cloudy. However. the intensity of light reaching surface waters is greatly diminished. they are also the most important users of oxygen. hence their physiologic demand for oxygen increases. Oxygen chuyển giao (từ không khí vào trong nước) là tối thiểu bởi vì có ít hoặc không có gió / sóng hành động. surface waters warm up more rapidly than deeper waters. thermocline một phát triển. High Water Temperature Nhiệt độ nước cao Warm water is much less capable of holding oxygen gas in solution than cool water. Hiện tượng vật lý này sẽ đặt cá vào nguy hiểm tăng gấp đôi bởi vì ở nhiệt độ nước cao. often. Oxygen consumption.4 mg / L DO lúc bão hòa. thường. resulting in a marked decrease in oxygen production from photosynthesis. This results in a net loss of oxygen over each 24-hour period. họ cũng là những người sử dụng quan trọng nhất của oxy.9 mg/L DO at saturation. This physical phenomenon puts the fish in double jeopardy because at high water temperatures their metabolic rates increase. tỷ giá trao đổi chất của họ tăng lên.offs đó tắt quang hợp. overcast summer days often precipitate oxygen depletions. Stratification/Pond Turnover Phân tầng / Pond Doanh thu During hot weather. dẫn đến giảm đáng kể sản xuất oxy từ quang hợp. Vẫn Thời tiết Muggy. thời tiết ẩm ướt phổ biến vào những ngày mùa hè u ám. fish kills.9 mg / L DO lúc bão hòa. There are several reasons why oxygen depletion events are more common in the summer and they are discussed below. Ấm nước là ít có khả năng giữ khí oxy trong giải pháp hơn so với nước mát. muggy. trong khi nước đó là 45 ° F có thể chứa 11. Là sự khác biệt trong tăng nhiệt độ giữa mặt nước nóng và nước lạnh dưới cùng. Kết quả là mất mát ròng của oxy trên từng thời kỳ 24-giờ. u ám ngày hè thường kết tủa depletions oxy.4 mg/L DO at saturation. cường độ của các vùng nước bề mặt đạt được rất nhiều ánh sáng giảm đi. humid weather common on overcast summer days. do đó nhu cầu sinh lý của họ để làm tăng oxy. Oxy tiêu thụ. oi bức. nước đó là 90 ° F chỉ có thể chứa 7. tuy nhiên. vẫn không thay đổi. Kết quả có được trong khoảng thời gian vài ngày là oxy suy giảm và. cá chết. Ví dụ. As the difference in temperature increases between warm surface water and cool bottom water. nước bề mặt ấm lên nhanh hơn so với các vùng nước sâu hơn. A thermocline is an area of rapid temperature . Still Weather Có mây. Trong thời tiết nhiều mây. however. During cloudy weather.

cá suy tàn có thể xem ở bề mặt "ngáp" để oxy (điều này được gọi là "đường ống"). An oxygen depletion event severe enough to result in significant fish mortality is often observed in water with heavy populations of algae or aquatic plants. thermocline A là một khu vực của sự thay đổi nhiệt độ nhanh chóng hoạt động như một rào cản vật chất giữa nước ấm ở bề mặt (epilimnion) và nước lạnh ở phía dưới (hypolimnion). thermocline có thể được phá vỡ bởi gió mạnh và mưa lạnh. The weather immediately prior to the fish kill may have been hot. all DO present will rapidly be removed from the water column. Some species may die with their back arched. đôi khi. Large fish may be affected more than small fish. If the oxygen demand is sufficient. gills flared and mouth open. Bởi vì quang hợp và sản xuất oxy chỉ xảy ra gần bề mặt. Moribund fish may be seen at the surface "gasping" for oxygen (this is called "piping"). Một cơn bão nặng có thể đã xảy ra ngay lập tức trước khi giết chết cá. How to Determine If Low DO Is the Cause of a Fish Kill Làm thế nào để Xác định Nếu DO thấp là nguyên nhân của một cá Kill • • • • • • All fish die at approximately the same time (often during the night or in the predawn hours). mang bùng lên và miệng mở. A severe thunderstorm may have occurred immediately prior to the fish kill. cá thể bị ảnh hưởng lớn hơn các loài cá nhỏ. Because photosynthesis and oxygen production only occur near the surface. occasionally. Khi thermocline một là hiện tại không có pha trộn của bề mặt và các lớp sâu của nước. trong cá da trơn. Điều này là phổ biến nhất là nhìn thấy trong striped bass lai và. When a thermocline is present there is no mixing of surface and deep layers of water. still and overcast. Một số loài có thể chết với lại cong của họ. vẫn còn và Overcast. Một sự kiện suy giảm oxy nghiêm trọng. common during summer thunderstorms. đủ để cho kết quả đáng kể tỷ lệ tử vong cá thường được quan sát trong nước với quần nặng của tảo hoặc cây trồng thuỷ sản. nước ở các lớp sâu trở thành devoid của oxy và phát triển một nhu cầu ôxy. water in the deep layer becomes devoid of oxygen and develops an oxygen demand. Nếu nhu cầu ôxy là đủ. tất cả các mặt DO sẽ nhanh chóng được gỡ bỏ từ cột nước. dẫn đến sự suy giảm oxy trầm trọng và một con cá chết.change that acts as a physical barrier between warm water at the surface (epilimnion) and cold water at the bottom (hypolimnion). resulting in severe oxygen depletion and a fish kill. the oxygen-rich surface waters mix with oxygen-deficient bottom waters. các vùng nước bề mặt giàu ôxy kết hợp với các vùng nước thiếu ôxy dưới cùng. in catfish. This is most commonly seen in hybrid striped bass and. Tất cả các cá chết ở cùng một khoảng thời gian (thường là vào ban đêm hoặc trong những giờ trước bình minh). When the thermocline breaks down. phổ biến trong cơn dông mùa hè. Thời tiết ngay lập tức trước khi giết cá có thể đã được nóng. . Khi thermocline bị hỏng. The thermocline can be broken by heavy wind and cold rain.

Để xác nhận các vấn đề. If emergency aeration is not available. Đây là những nhiều phiền hà để chạy. therefore. Monitoring oxygen throughout the night is impractical for recreational pond owners and part-time fish farmers. Commercial catfish farms often hire night oxygen crews to monitor the DO concentration in each pond at two-hour intervals through the night. Hóa chất bộ kiểm tra cũng có sẵn. Preventing Oxygen Depletion Ngăn chặn sự suy giảm oxy An oxygen depletion event can be predicted and. Một số đại lý mở rộng quận được trang bị thiết bị kiểm tra nước. Giám sát oxy suốt đêm là không thực tế cho Chủ sở hữu giải trí ao cá và nông dân bán thời gian. biologists with the Florida Game and Freshwater Fish Commission or an IFAS Aquaculture Extension Specialist may be available to assist. Ngoài ra. The most efficient tool for measuring DO is an electronic oxygen meter. hệ thống sục khí có thể được bật lên nếu thả oxy cấp dưới đây một nồng độ nhất định (thường là 2-4 mg / L) tuỳ thuộc vào loài cá. Chemical test kits are also available. Một sự kiện oxy suy giảm có thể được dự đoán. This is the surest way of avoiding a fish kill caused by low DO. little can be done to help the fish. In addition.What To Do if Low DO is Suspected as the Cause of a Fish Kill Để làm gì nếu thấp DO là nghi là nguyên nhân của các cá một Kill The most important thing to do if fish are dying from low DO is to turn on an aerator. Đây là cách chắc chắn nhất để tránh một con cá chết gây ra bởi thấp DO. Những dụng cụ có sẵn thông qua các công ty cung cấp hầu hết nuôi trồng thủy sản tại nhiều loại giá cả. ngăn ngừa bằng cách giám sát mức độ oxy hòa tan trong ao. Các công cụ hiệu quả nhất để đo DO là một đồng hồ điện tử oxy. và do đó. Trang trại nuôi cá da trơn thương mại thường thuê thuyền viên oxy vào ban đêm để theo dõi nồng độ DO trong ao mỗi khoảng hai giờ qua đêm. but are accurate and do not require as great an investment by pond owners. Điều quan trọng nhất để làm gì nếu cá chết từ thấp DO là để chuyển trên một thiết bị thông gió. nhưng là chính xác và không yêu cầu như là một khoản đầu tư của chủ sở hữu ao lớn. Nếu trường hợp khẩn cấp sục khí là không có. To confirm the problem. prevented by monitoring dissolved oxygen levels in a pond. Aeration systems can be turned on if oxygen levels drop below a certain concentration (usually 2-4 mg/L) depending on the fish species. oxygen levels should be tested while the fish kill is in progress. các nhà sinh học với các Game Florida và Ủy ban cá nước ngọt hoặc một IFAS mở rộng nuôi trồng thuỷ sản chuyên có thể có sẵn để trợ giúp. nhỏ có thể được thực hiện để giúp các cá. For these people it is easier to "predict" an oxygen depletion by measuring DO levels in the late afternoon (5-6 pm) and late evening (8-10 . These are more troublesome to run. Some county extension agents are equipped with water testing equipment. These instruments are available through most aquaculture supply companies at a variety of prices. hàm lượng ôxy cần được kiểm tra trong khi giết cá được tiến hành.

Estimation of potential for dissolved oxygen depletion. There has been an extended period of hot cloudy weather. signifying loss of an algal bloom. Dự toán tiềm năng cho sự suy giảm oxy hòa tan. của một hoa tảo. Cá bơi tại hoặc gần bề mặt Nuốt chút không khí (đường ống). Proper use of the timer should have the aerator turn on during the late evening (10 pm to midnight) and turn off after daylight (7-8 am). There is a heavy summer wind and a rainstorm. The decline in DO during the night can be predicted by graphing DO concentration against time on standard graph paper ( Figure 2 ). Many recreational pond owners purchase aerators and place them on electric timers. Khẩn cấp sục khí nên được áp dụng bất cứ khi nào cá có dấu hiệu suy giảm oxy hoặc khi giải thể oxy giảm xuống dưới 4 mg / L. Emergency aeration should be applied whenever fish show signs of oxygen depletion or when dissolved oxygen drops below 4 mg/L. Có một thay đổi nhanh chóng trong nước màu sắc để mất nâu đen hoặc màu xám. Hình 2. Sự suy giảm trong DO vào ban đêm có thể được dự đoán bởi đồ DO tập trung chống lại thời gian trên giấy tiêu chuẩn đồ thị ( Hình 2 ).pm). If equipment to test DO concentration (meter or test kit) is not available. Một mùi hư phát sinh từ các nước. Hiện đã có một thời gian dài của thời tiết nhiều mây nóng. A putrid odor arises from the water. biểu hiện. There is a rapid change in water color to brown. black or gray. Có một mùa hè gió nặng và một cơn mưa. Cá đột nhiên dừng lại ăn. the following observations and conditions can be used to anticipate oxygen depletion: Nếu thiết bị để kiểm tra nồng độ DO (mét hoặc thử nghiệm kit) không có sẵn. Nếu nồng độ DO dự kiến là dưới 4 mg / L trước khi 7:00 sục khí khẩn cấp được khuyến khích. Nhiều chủ sở hữu giải trí ao mua aerators và đặt chúng vào giờ điện. Figure 2. Fish suddenly stop feeding. các quan sát và điều kiện sau có thể được sử dụng để dự đoán sự suy giảm oxy: • • • • • • Fish swim at or near the surface gulping air (piping). Đối với những người này là dễ dàng hơn để "dự đoán" một sự suy giảm oxy bằng cách đo DO cấp vào cuối buổi chiều (5-6 pm) và vào cuối buổi tối (80-10 giờ chiều). If the projected concentration of DO is below 4 mg/L before 7 am emergency aeration is recommended. Thích hợp sử dụng bộ đếm thời gian nên có các thiết bị .

For this reason DO increases during daylight hours. và là thấp nhất ngay trước khi tảng sáng. nhiều mây. Dissolved oxygen can be monitored using an electronic oxygen meter or chemical test kit. tảo chết-offs. hoặc dông nặng. . Tuy nhiên. or heavy thunderstorms. Using an aerator is not a complete substitute for monitoring DO concentrations and an oxygen depletion event resulting in a fish kill may still occur. Ôxy hòa tan (DO) là khí oxy (O 2) được hòa tan trong nước. việc sử dụng thiết bị thông gió một được khuyến khích và sẽ ngăn chặn nhiều vấn đề. sục khí khẩn cấp phải được cung cấp bất cứ khi nào DO giảm xuống dưới 4 mg / L hoặc điều kiện môi trường có lợi cho một sự kiện sự suy giảm oxy. and is lowest just before daybreak. giảm vào ban đêm. Hầu hết DO trong ao được sản xuất trong quá trình quang hợp của cây trồng thuỷ sản và tảo.thông gió bật trong buổi tối muộn (10 giờ chiều đến nửa đêm) và tắt sau khi ánh sáng ban ngày (7-8 giờ sáng). hóa học oxy thử nghiệm kit. However. Vì lý do này DO tăng trong giờ làm ánh sáng ban ngày. Nồng độ oxy hòa tan dưới 5 mg / L có thể gây hại cho cá và các đường ống (Nuốt chút không khí ở bề mặt) có thể được quan sát thấy khi DO giảm xuống dưới 2 mg / L. cloudy weather. Emergency aeration should be supplied whenever DO falls below 4 mg/L or environmental conditions favor an oxygen depletion event. Dissolved oxygen concentrations below 5 mg/L may be harmful to fish and piping (gulping air at the surface) may be observed when DO falls below 2 mg/L. Low levels of DO are most frequently associated with hot. declines during the night. algae die-offs. Mức độ DO thấp nhất thường xuyên kết hợp với thời tiết nóng.. Sử dụng thiết bị thông gió là không thể thay thế hoàn toàn để theo dõi nồng độ DO và sự suy giảm oxy một sự kiện kết quả là giết chết cá vẫn có thể xảy ra. use of an aerator is recommended and will prevent many problems. Most DO in ponds is produced during photosynthesis by aquatic plants and algae. Summary Tóm tắt Dissolved oxygen (DO) is oxygen gas (O 2 ) that is dissolved in water. Oxy hòa tan có thể được theo dõi bằng cách sử dụng một đồng hồ điện tử.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful