1.

Ngân hàng trung ương - người cho vay cuối cùng

Ngân hàng trung ương (NHTW) là ngân hàng của các ngân hàng, thực hiện nhiệm vụ người cho vay cuối cùng thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu... Tuy nhiên, NHTW không sẵn lòng và thường xuyên thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng. Lý do? Một vài lý do: - Do NHTW không trực tiếp tham gia các hoạt động kinh doanh tài chính mà là thực hiện vai trò điều tiết KT vĩ mô của một quốc gia, vì vậy, chỉ khi sự bất ổn tài chính của các tổ chức tín dụng (TCTD) làm ảnh hưởng tới tài chính cũng như kinh tế quốc gia thì NHTW mới can thiệp. Điều này giải thích: TCTD gặp vấn đề và sụp đổ tạo nên hiện tượng DOMINO giống như các NHTM Châu Âu sau thế chiến thứ nhất hoặc rủi ro thanh toán tạm thời của NHTMCP ACB gặp phải năm 2003... - Khi NHTW thực hiện vai trò cho vay đối với các TCTD sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng vào nền kinh tế, có thể gây ra các hiện tượng kinh tế tiêu cực như: lạm phát, bất ổn lãi suất... cho nên NHTW không thường xuyên cho vay đối với các TCTD. - Đôi khi sự mất khả năng thanh toán tạm thời (ảo) do điểm giao dịch chưa thể huy động vốn từ các chi nhánh khác trong thời gian ngắn mà khách hàng lại đồng loạt đi rút tiền nên NHTW không thực sự sẵn lòng thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng. - NHTW thường xuyên thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng có thể làm rối các chính sách điều tiết vĩ mô của mình. (Giả dụ trong thời điểm hiện tại nền kinh tế đang ở thời kỳ bất ổn lạm phát có chiều hướng tăng cao, NHTW phải sử dụng các công cụ tài chính về lãi suất để kìm phát, tuy nhiên NHTW lại thường xuyên thực hiện vai trò người cho vay cuối cùng và gián tiếp cung ứng tiền vào lưu thông làm tăng phát và không những vô hiệu hóa các công cụ tài chính mà còn đẩy mức lạm phát lên cao). - Việc NHTW dễ dãi cho vay sẽ gây nên sức ỳ cho các TCTD, từ đó các tổ chức này không cố gắng tự mình vượt qua khó khăn tài chính. - Quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng thương mại chính là góp phần đóng góp vào quá trình tạo tiền cho nền kinh tế, quan hệ này càng phát triển thì dòng vốn lưu thông càng nhanh càng tạo hiệu quả sử dụng vốn cao làm cho hệ thống tài chính trở nên năng động, và vững chắc. NHTW tham gia sẽ làm giảm đi hiệu quả này, và làm ảnh hưởng tới quan hệ liên ngân hàng. - Các NHTM vay vốn lẫn nhau làm phát triển hệ thống công nghệ liên ngân hàng đặc biệt hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng.

- Nền kinh tế hiện nay là nền kinh tế thị trường. NHTW can thiệp quá sâu làm ảnh hưởng sự phát triển tự nhiên của nó.
2. Vai trò và chức năng của ngân hàng trung ương (Bài 2) Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Loạt bài viết về ngân hàng của saganor Đặng Lê Quốc Hoàng ( Bình chọn: 9 -- Thảo luận: 26 -- Số lần đọc: 64701)
1. Ngân hàng trung ương là ngân hàng độc quyền phát hành tiền Với vai trò phát hành độc quyền tiền trên toàn quốc như phương tiện trao đổi, ngân hàng trung ương trực tiếp quản lý cung ứng tiền mặt. Việc quản lý mức độ cung ứng tiền mặt là công cụ thứ nhất giúp ngân hàng trung ương điều tiết mức cung ứng tiền tổng hợp. Với việc độc quyền phát hành tiền thì chính phủ có thể điều chỉnh được lượng tiền lưu thông để có thể kiểm soát lạm phát và từ đó có thể tăng giảm lãi suất để tăng lượng cầu hay giảm lượng cầu ứng với mỗi thời điểm của nền kinh tế. 2. Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng của hệ thống các ngân hàng trung gian a. Ngân hàng trung ương là trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù trừ của các ngân hàng trung gian. Vì các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính trong nước đều phải mở tài khoản và kí quỹ tại ngân hàng trung ương nên hoàn toàn thực hiện được vai trò điều tiết thanh toán giữa các ngân hàng giống như những thân chủ mua bán lẫn nhau cùng có một tài khoản ở một ngân hàng. Vai trò này giúp ngân hàng trung ương kiểm soát, theo dõi, quản lý hoạt động của toàn bộ hệ thống tài chính trong nước. Mặt khác có thể quản lý được lượng tín dụng ra vào trong hệ thống tài chính vào những thời điểm nhất định. b. Ngân hàng trung ương là ngân hàng quản lý dự trữ bắt buộc của hệ thống ngân hàng trung gian. Dự trữ bắt buộc là tiền mặt, và tỉ lệ dự trữ bắt buộc tối thiểu là tỉ lệ % tiền mặt trên tổng số tiền mặt do nhân dân gửi vào mà các ngân hàng thành viên phải lưu lại trong kho tiền mặt của ngân hàng hay kí gửi tại ngân hàng trung ương, không được cho vay hết. Khi tỉ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên, cung ứng tiền ngân hàng của hệ thống ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính cũng giảm ngay tức khắc và ngược lại. Bằng cách việc quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc ngân hàng trung ương quản lý một cách chặt chẽ tốc độ và cung ứng tiền ngân hàng của hệ thống ngân hàng trung gian. c. Ngân hàng trung ương là cứu cánh cho vay cuối cùng của hệ thống ngân hàng trung gian. Không có ngân hàng trung gian nào hoặc tổ chức tín dụng nào dám khẳng định rằng trong lịch sử hoạt động của mình chưa hề có lúc kẹt tiền mặt. Những đợt rút tiền ồ ạt của nhân dân ( vì lãi suất thấp, vì lạm phát cao cho nên lãi suất trở thành âm, vì có thể những loại đầu tư khác có lợi cao hơn hoặc vì không đủ tin tưởng vào ngân hàng…) sẽ rất dễ làm cho ngân hàng trung gian vỡ nợ vì không đủ tiền mặt chi trả cho nhân dân. Trong trường hợp như thế khi ngân hàng trung gian không còn chỗ vay mượn nào khác, không thu hồi về kịp những khoản vay về kịp thì nó phải đến ngân hàng trung ương vay tiền như cứu cánh cuối cùng. Ngân hàng trung ương cho ngân hàng trung gian vay với phương thức gọi là cho vay chiết khấu. Đó là hình thức cho vay qua cửa sổ chiết khấu. Lãi suất của sự cho vay này là lãi suất chiết khấu. Ngân hàng trung ương là ngân hàng duy nhất không thể vỡ nợ hay kẹt tiền mặt, đơn giản vì nó rất mất ít thời gian đẩ in tiền mới. Cho nên nó có thể cho ngân hàng trung gian vay khi có yêu cầu. Ngân hàng trung gian có thể cho vay hết dự trữ bắt buộc vì khi cần thiết nó có thể vay ngân hàng trung ương với lãi suất cũng giống như vay của nhân dân để thanh toán cho nhân dân. Nhưng giả sử ngân hàng trung ương quy định, tuy lãi suất cho vay của ngân hàng trung gian là 10%, nhưng nếu ngân hàng trung gian cho vay dưới tỉ lệ dự trữ bắt buộc và phải vay đến ngân hàng trung ương, ngân hàng trung ương sẽ cho vay với lãi suất 12%. Lúc đó ngân hàng trung gian sẽ cân nhắc, nếu nó cho vay dưới tỉ lệ dự trữ bắt buộc với lãi suất chỉ 10% , thì khi kẹt thanh toán nó phải vay lại của ngân hàng trung ương với lãi suất cao hơn. Việc lỗ trông thấy khi vay tiền của ngân hàng trung ương sẽ buộc các ngân hàng trung gian giảm lượng cho vay xuống, hay nói cách khác là giảm lượng cung ứng tiền ngân hàng và tăng dự trữ để giải quyết vấn đề khi dân rút tiền. Như vậy khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu thì sẽ làm giảm lượng cung tiền của hệ thống ngân hàng trung gian, tức là giảm lượng cung tiền trong toàn bộ nền kinh tế và ngược lại. Trong vai trò cứu cánh cuối cùng với lãi suất cho mình quy định, ngân hàng trung ương dùng lãi suất chiết khấu để điều tiết lượng tiền cung ứng của hệ thống ngân hàng trung gian và của nền kinh tế. Qua đây ta thấy được đây là một công cụ giúp chính phủ quản lý nền kinh tế một cách vĩ mô. 3. Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng, đại lý và cố vấn cho chính phủ a. Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng của chính phủ Tùy theo đặc điểm tổ chức của từng nước, chính phủ có thể ủy quyền cho bộ tài chính hay kho bạc đứng tên và làm chủ tài khoản ở ngân hàng trung ương. Hàng quý, hàng năm, tiền thuế thu được và những khoản thu khác của ngân sách được gửi vào ngân hàng trung ương để ngân hàng trung ương sử dụng và trả lãi. Khi chính phủ cần, bộ tài chính hay kho bạc cũng phải làm thủ tục để rút tiền gửi từ ngân hàng trung ương như một khách hàng bình thường. Khi chính phủ thâm hụt ngân sách, chính phủ có nhiều cách bù vào như: vay của dân bằng cách phát hành công trái, vay của nước ngoài, vay ứng trước thuế, …, và vay của ngân hàng trung ương. Nếu vay của ngân hàng trung ương thì về nguyên tắc có thể thế chấp bằng các loại tài sản mà chính phủ có như: chứng thư chủ quyền tài sản, chứng khoán, vàng… Trong trường hợp chính phủ vay mà không thế chấp thì ngân hàng có quyền từ chối. Nếu ngân hàng trung ương không từ chối được thì nó đành phát hành tiền mặt ngoài dự kiến cho chính phủ làm cho tổng cung về tiền tăng lên và nền kinh tế cũng sẽ biến động theo. Thông qua vai trò là chủ ngân hàng của chính phủ với nghiệp vụ là cho vay, ngân hàng trung ương làm thay đổi lượng tiền tệ trong nền kinh tế, nghĩa là can thiệp vào những biến động của kinh tế vĩ mô. b. Ngân hàng trung ương là đại lý của chính phủ Với tư cách là đại lý cho chính phủ, ngân hàng trung ương thay mặt chính phủ tổ chức thu thuế qua hệ thống ngân hàng của nó. Đồng thời nó thay mặt chính phủ trong các thỏa thuận tài chính, viện trợ, vay mượn, chuyển nhượng và thanh toán với nước ngoài. Ngoài ra với tư cách này nó có thể phát hành trái phiếu, cổ phiếu…cho chính phủ kể cả trong và ngoài nước. Bằng việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu…ngân hàng trung ương đã làm trực tiếp tăng (giảm) lượng cung ứng tiền cho nền kinh tế. Và thông qua đó đã làm tác động đến kinh tế vĩ mô.

c. Ngân hàng trung ương là cố vấn tài chính cho chính phủ Ngân sách có tác động khá quan trọng đến nền kinh tế vĩ mô vì nếu hoạt động của ngân sách không hài hòa với chính sách tiền tệ nó sẽ làm cản trở hiệu quả của chính sách tiền tệ trong điều tiết vĩ mô. Với lý do trên ngân hàng trung ương phải tham gia cố vấn cho chính phủ trong chính sách tài chính và kinh tế. Với vai trò này ngân hàng trung ương gián tiếp ảnh hưởng đến việc cung ứng trái phiếu của chính phủ và các hoạt động chi tiêu khác cho hợp lý với ngân sách. Đây là một cách để điều tiết kinh tế vĩ mô. 4. Ngân hàng trung ương là ngân hàng trực tiếp quản lý dự trữ quốc gia Dự trữ quốc gia bao gồm những dự trữ chiến lược cho những trường hợp khẩn cấp như can thiệp vào điều tiết kinh tế, nhập khẩu hàng khẩn cấp để chống khan hiếm và chống lạm phát, khi có thiên tai, chiến tranh… Dự trữ bao gồm: vàng, tiền tệ, …. Với tư cách là ngân hàng của chính phủ, ngân hàng trung ương được giao phó nhiệm vụ quản lý dự trữ quốc gia. Khi nắm trong tay công cụ này ngân hàng trung ương(NHTU) có thể can thiệt bất kì lúc nào vào thị trường ngoại tệ để giữ giá đồng tiền trong nước, hay tăng hoặc giảm giá. NHTU với nghiệp vụ mua bán trên thị trường vàng và ngoại tệ, nó tạo ra hai tác động quan trọng là thay đổi cung ứng tiền và thay đổi tỉ giá hối đoái của đồng tiền trong nước. Hai điều này tác động đến tổng cầu, sản xuất, thu nhập và giá cả và đương nhiên điều này có tác động đến kinh tế vĩ mô. 5. Vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của ngân hàng trung ương Mọi họat động của ngân hàng trung ương đều ảnh hưởng mật thiết đến cung ứng tiền trong nền kinh tế. Cung ứng tiền thay đổi làm biến động giá cả, sản lượng quốc gia, do đó một cách gián tiếp mọi họat động ngân hàng ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế. a. Ảnh hưởng của cung ứng tiền đến nền kinh tế Sự khác biệt trong chính sách cung ứng tiền là khoảng cách giữa chính sách cung ứng nới lỏng và chính sách cung ứng thắt chặt. Giả sử vào thời điểm ta nghiên cứu, đường cung ứng tiền tương ứng của ngân hàng là LS0 ứng với nhu cầu tiền trong nền kinh tế là LD. Nền kinh tế đạt bình quân tạm thời trên thị trường tiền tệ tại điểm bình quân E0 cho biết: với mức bình quân ấy lượng cung ứng tiền là L0 và lãi suất là R0. Bây giờ, cho rằng ngân hàng trung ương quyết định thắt chặt cung ứng tiền để hạn chế lạm phát (LS0 tới LS1) trong khi LD vẫn không thay đổi. Chính điều này đã làm cho lãi suất tăng vọt từ R0 đến R1. E0 di chuyển đến E1. Lúc này tiền sẽ khan hiếm hơn (do lượng cung giảm). Tiền khan hiếm thì giá trị của đồng tiền sẽ tăng theo do đó lạm phát sẽ giảm. Ngược lại, giả sử sau một khỏang thời gian chống lạm phát với cái giá là sự suy thoái (tiền khan hiếm, lãi suất cao bên cạnh đó sự thắt chặt tiền tệ của ngân hàng khiến doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay), ngân hàng trung ương bắt đầu chuyển sang cung ứng tiền nới lỏng. Tổng cung tiền tệ tăng từ LS1 lên LS2, cắt LD tại E2, lúc này lượng tiền tệ tăng lên L2 và lãi suất giảm xuống còn R2. Lúc này thì nền kinh tế phải đối mặt với thách thức mới là lạm phát có thể gia tăng (do có quá nhiều tiền trong lưu thông). Vì thế cho nên mỗi lần áp dụng mức lãi suất hay lượng cung ứng tiền ngân hàng trung ương phải đắn đo suy nghĩ những tác hại thiệt hơn cho mỗi chính sách tiền tệ.

Chính sách cung ứng tiền nới lỏng làm cho tiền tệ trở nên dồi dào hơn. Điều này kích thích tiêu dùng cho cuộc sống và cho đầu tư nhiều hơn. Sự gia tăng tiêu dùng và đầu tư làm sản xuất liên tục được mở rộng, tuyển mộ thêm công nhân, giảm thất nghiệp và gia tăng thu nhập quốc dân. Nền kinh tế tăng trưởng với giá cả tăng cao hơn trước. Chính sách cung ứng tiền thắt chặt làm cho chi phí để có tiền cao hơn và tiền trở nên khan hiếm. Sản xuất thiếu vốn, người mua thiếu tiền buộc phải cắt giảm chi tiêu và đầu tư, điều này dẫn đến tổng cầu giảm và giá cả hạ. Cái giá phải trả là sản xuất bị thu hẹp, thất nghiệp tăng, thu nhập quốc dân giảm và nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái. Do đó cung ứng tiền là sức mạnh đầy quyền lực của ngân hành trung ương. Khi ngân hàng trung ương điều tiết cung ứng tiền tức là nó bắt đầu tiến hành điều tiết nền kinh tế. b. Mục tiêu và phương thức điều tiết kinh tế vĩ mô bằng cung ứng tiền của ngân hàng trung ương. Mục tiêu: - Chính sách tiền tệ phải phục vụ cho mục đích đảm bảo cho nền kinh tế có tăng trưởng, tức là giảm thất nghiệp, gia tăng thu nhập quốc dân và mở rộng tiềm năng sản xuất, chống suy thoái… - Chính sách tiền tệ phải hướng về ổn định giá cả: Giá cả có lạm phát thấp là mục tiêu của mọi nền kinh tế vì mức tăng thu nhập thực tế của nhân dân sẽ dương, do đó đời sống của người lao động sẽ tốt hơn và người dân sẽ tin chính phủ hơn. Sản xuất sẽ có vốn với chi phí hạ và nền kinh tế sẽ có sức bật về đầu tư lâu dài, giá trị đồng tiền nội địa sẽ ổn định.

Ngược lại khi lãi suất hạ xuống R2. sản lượng tụt xuống Y1 và nền kinh tế đi vào tình trạng suy thoái. thì những mục tiêu này thực chất chỉ là phương tiện giúp cho ngân hàng trung ương đạt được mục tiêu là điều tiết nền kinh tế. • Dự trữ . Xét về ngắn hạn lãi suất. Đường cầu AD0 dịch chuyển đến AD1. Làm hài hòa các lợi ích của các tổ chức tài chính để nó phục vụ tốt nhất cho lợi ích chung của cả nền kinh tế. ngân hàng trung ương phải ổn định họat động tài chính của hệ thồng tài chính trong nước một cách gián tiếp… hướng quản lý các họat động của nó phù hợp với các mục tiêu kinh tế.Góp phần mở rộng sản lượng tiềm năng của nền kinh tế: Các tiềm năng như đất đai. Mục tiêu trung gian trong điều tiết kinh tế thông qua điều tiết cung ứng tiền Khi xem xét mục tiêu trung gian (lãi suất. Giả sử lúc đầu lãi suất của thị trường tiền tệ là R0.dự trữ. Do lãi suất cao nên người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn và nhu cầu tiêu dùng giảm xuống. Tiêu dùng và đầu tư giảm làm giá cả giảm từ P0 xuống P1.. Các phương thức điều tiết kinh tế vĩ mô bằng điều tiết cung ứng tiền của ngân hàng trung ương. 1 tháng. tỷ giá thay đổi ảnh hưởng một cách nhanh chóng đến tiêu dùng và đầu tư và đến nền kinh tế. lãi suất thấp người tiêu dùng sẽ tiết kiệm ít hơn và đầu tư và chi tiêu nhiều hơn do đó cầu sẽ tăng lên. ở mức lãi suất này nhu cầu tiêu dùng của nhân dân là AD0 và sản lượng quốc gia là Y0. . dự trữ. sản xuất sẽ tiêu dùng nhiều vốn hơn. Giá cả cũng sẽ tăng và sản lượng quốc gia do đó cũng tăng lên. Lãi suất cao hơn làm cho việc vay tiền trở nên khó khăn hơn do thế sản xuất không dám tiêu dùng nhiều vốn và sản xuất có xu hướng giảm sút. nguồn lực con người… mục tiêu cuối cùng của chính sách là khai thác và phát triển các ngưồn lực một cách có hiệu quả nhất. a. • Lãi suất Lãi suất là tỉ lệ phần trăm giữa khỏan tiền ngưởi vay trả cho người cho vay trên tiền vốn trong một khoảng thời gian nhất định như 1 năm. Từ đó về mặt ngắn hạn các nhà kinh tế học xem ba tác nhân trên là những mục tiêu trung gian. sản xuất được đẩy mạnh.Phải tạo cho nền kinh tế có một nền tảng tài chính ổn định: Nền tảng tài chính ổn định được hiểu là bằng chính sách tiền tệ. Bây giờ cho rằng ngân hàng trung ương và chính phủ quyết định nâng lãi suất để giảm lạm phát. tài nguyên thiên nhiên.tỷ giá) trong họat động điều tiết kinh tế vĩ mô của ngân hàng trung ương.

Các công cụ điều tiết • Nghiệp vụ thị trường mở Nghiệp vụ thị trường mở có 2 lọai: được phép mua bán chứng khóan vào những thời điểm nhất định sau khi nghiệp vụ được tiến hành và lọai không được phép mua bán lại. Trong trường hợp ngược lại. • Chính sách tiền mặt Ngòai việc có thể thay đổi cơ số tiền thông qua nghiệp vụ thị trường mở và cho vay chiết khấu ngân hàng trung ương có thể có những cách khác như: Khi ngân hàng tung tiền mặt ra mua ngọai tệ trên thị trưởng ngọai tệ. hay nói cách khác chỉ cần ít tiền nước ngoài hơn để đổi lấy một đơn vị đồng nội tệ. giảm cung ứng tiền xuống còn LS1. tức khắc nó làm tăng giá trị của đồng ngọai tệ (ngọai tệ trong lưu thông ít đi. tăng lãi suất. lượng tiền nội tệ thì tăng thêm ). b. • Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái được xem là giá của một đồng tiền trên sự so sánh với một đồng tiền nước khác ( kí hiệu là E ). từ đó mà lãi suất tăng lên và làm giảm việc cho vay. 3. giảm tỉ giá và giá cả hạ xuống và ngược lại khi thực hiện nghiệp vụ mua. Bằng việc thay đổi cung ứng tiền. Ưu nhược điểm của chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương? Bạn thử tham khảo tài liệu này nhé . Tác động trực tiếp là nó làm tăng hay giảm dự trữ của ngân hàng trung gian và do đó tác động đến lượng cho vay tiêu dùng và đầu tư trong kinh tế. có quá nhiều đơn vị tiền nội địa trong sự so sánh với nước ngoài. đồng tiền trong nước trở nên khan hiếm hơn và từ đó giá trị đồng tiền trong nước tăng lên đến RV1. Giảm lượng cung tiền mắt trong lưu thông từ đó giảm khả năng cho vay của các ngân hàng trung gian. do đó tỉ giá và giá cả hàng hóa giảm xuống. Lãi suất cho vay chiết khấu có cả hai tác dụng: trực tiếp và gián tiếp. Khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu thì đó là biến cố quan trọng. lượng tiền mặt nó cho vay làm tăng lượgn tiền trong lưu thông và tăng cung ứng tiền trong nền kinh tế thông qua việc chi tiêu của chính phủ. Và ngược lại khi giảm lãi suất chiết khấu. Lãi suất tiếp tục thắt chặt lượng cung tiền và tác động đến nền kinh tế. Và bán đồng nội tệ để mua ngoại tệ (tăng cung ứng tiền) nhằm giảm giá đồng nội tệ. Lãi suất chứng khoán tăng lên buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất để tránh tình trạng người dân rút tiền ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào chứng khoán. Và ngược lại khi ngân hàng trung ương ra thị trường mở để mua chứng khoán. Khi ngân sách chính phủ thâm hụt nó sẽ cho chính phủ vay. Như vậy khi ngân hàng trung ương thực hiện nghiệp vụ bán. nâng tỉ giá lên cao. nó thắt chặt cung ứng tiền. 2. 2.Khi ngân hàng trung ương sử dụng tỷ lệ dữ trự bắt buộc như một công cụ. Hay cũng có cách khác. nó có thể tác động đến dự trữ bắt buộc bằng cung ứng tiền.Khi ngân hàng trung gian mua chứng khóan của ngân hàng trung ương thì dự trữ tiền của nó sẽ giảm xuống và khả năng cung ứng tiền của nó bị thắt chặt. Do đó nó phải giảm lượng cho vay và hậu quả là tổng cầu và sản lượng giảm theo. do đó ngân hàng trung gian sẽ từ từ nâng lãi suất của mình để khỏi thiệt hại nặng khi phải vay của ngân hàng trung ương. Khi ngân hàng trung ương đem chứng khóan ra thị trường mở để bán nó thu tiền hay séc về. Lãi suất ngân hàng tăng làm lượng tiền cung ứng giảm và do đó tiền trở nên khan hiếm. Lượng chứng khoán tăng lên. giảm lãi suất cho vay của ngân hàng trung gian và do đó tác động đến cung ứng tiền và tín dụng. Lúc đó dự trữ bắt buộc là công cụ mà cung ứng tiền là mục tiêu. Khi đồng tiền trong nước bị mất giá (tức là với một đơn vị ngọai tệ có thể đổi nhiều đồng nội tệ hơn) lúc đó sẽ làm gia tăng xuất khẩu (bán hàng ra nước ngòai và thu tiền về bằng ngọai tệ. khi đổi ra nội tệ sẽ có lợi hơn do đồng nội tệ đã mất giá hơn trước ). • Lãi suất cho vay chiết khấu Được ngân hàng trung ương quyết định trong cả hai trường hợp: 1. do vậy giá trị đồng tiền trong nước giảm từ RV0 xuống RV2 ( tỉ giá trao đổi từ E0 lên E2 ). • Dự trữ bắt buộc Sự thay đổi trong tỉ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng đến lượng cung của tiền và ảnh huởng sâu sắc đến nền kinh tế. Khi ngân hàng trung ương không sử dụng cách điều tiết trực tiếp bằng việc áp đặt tỷ lệ dựtrữ bắt buộc. Hoa Kì bán ngọai tệ để rút tiền nội địa về (thu hẹp cung ứng tiền) nhằm tăng giá đồng tiền nội địa. khi ngân hàng trung ương thắt chặt tiền tệ. tiền từ đó khan hiếm dần). tăng khả năng cho vay. Cho vay dưới hình thức cứu cánh cuối cùng. Cung ứng tiền nội tệ tổng thể lập tức bành trướng sau đó và ngược lại khi bán ngọai tệ. cho nên: 1. Cho vay bình thường với kí quỹ khi ngân hàng trung gian kẹt thanh tóan. lãi suất của nó sẽ tăng lên. ngân hàng trung ương có thể làm tăng hay giảm giá đồng tiền nội địa so với nước ngòai. nó tác động trực tiếp đến cung ứng tiền. Tác động gián tiếp là nó làm tăng. Do những lý do trên tỉ giá hối đoái có tác động đến kinh tế vĩ mô và nắm được tỉ giá hối đoái này chính phủ cần ngân hàng trung ương điều tiết lượng cung ứng tiền. là cách như Hoa Kì làm trong năm 1995. Trong trường hợp này cung ứng tiền là công cụ mà dự trữ là mục tiêu. Đó là cách điều tiết gián tiếp. Và khi đồng tiền nội tệ tăng giá sẽ làm tăng nhập khẩu. Tỉ giá trao đổi giảm xuống E1. Bằng việc bán chứng khoán ra để thu tiền về (giảm lượng tiền trong lưu thông. Lãi suất tăng khiến ngân hàng trung gian không thể vay mượn của ngân hàng trung ương nhiều và dễ dàng như trước. tiền dễ dàng để có hơn) do đó làm giảm lãi suất. Điều này cũng làm cho ngân hàng trung gian ý thức rằng khi cần vay thì ngân hàng trung gian phải trã lãi suất cao. Khi ngân hàng trung ương tăng cung ứng tiền từ LS0 lên LS2. do đó sẽ làm tăng GDP. chứng khoán trở nên thừa và giá của nó sẽ giảm xuống. Khi ngân hàng trung ương xuất tiền ra để mua chứng khóan (tăng cung ứng tiền cho nền kinh tế.

51%) b. thẩm định khoản vay và kiểm soát chất lượng tín dụng còn hạn chế. + Việc quản lý không tốt năng lực trả nợ của người vay có thể dẫn tới tình trạng nợ xấu. vừa đóng vai trò người cho vay ( cấp tín dụng cho các chủ thể khác trong nền kinh tế bằng việc thiếp lập các hợp đồng tín dụng. .Công cụ : cũng rất linh hoạt.13%. + Trong nền kinh tế thị trường. Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để dự trữ vật tư hàng hoá.Đối tượng : chủ yếu là tiền tệ. do đó nó có thể thoả mãn các nhu cầu vốn đa dạng về khối lượng cũng như thời hạn và mục đích sử dụng. Tuy nhiên. rộng lớn bao gồm: doanh nghiệp. nợ khó đòi. + Còn được sử dụng như là một công cụ quan trọng để phát triển các ngành kinh tế chiến lược theo yêu cầu của chính phủ. khế ước nhận nợ…). cá nhân.…Trong quan hệ tín dụng. trái phiếu để huy động vốn trong xã hội. các hợp đồng tín dụng… . có 3 hình thức tín dụng chủ yếu là: . . + Góp phần đẩy nhanh nhịp độ tích tụ.Tín dụng Ngân hàng .Ưu điểm: + Về chủ thể: Rất linh hoạt. tháng 5 năm 2006: 6. o Ưu. . Tín dụng thương mại . mà còn tham gia cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản và đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu tín dụng tiêu dùng cá nhân. Tín dụng ngân hàng là loại hình tín dụng chủ yếu và phổ biến nhất trong nền kinh tế thị trường.Tính chất : là hình thức tín dụng mang tính chất gián tiếp. ngân hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp. trang trải các chi phí sản xuất và thanh toán các khoản nợ. có thể là kỳ phiếu. trung hạn và dài hạn. cá nhân… .Mục đích : nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng qua đó thu được lợi nhuận. . nó cung cấp tín dụng cho các nhà doanh nghiệp.Tín dụng là phương thức huy động vốn quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường. cho nên chưa đáp ứng được tốt nhu cầu thông tin của các bên để đánh giá. khối lượng thông tin chưa được đầy đủ. các tổ chức xã hội. tập trung vốn và tăng cường khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Tín dụng Ngân hàng o Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng và các chủ thể khác trong nền kinh tế. kiềm chế lạm phát thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng sẽ tác động trực tiếp đến tình hình nền kinh tế.Tín dụng Thương mại .Nhược điểm: + Thủ tục cấp vốn cho vay còn chậm. tiền tệ đóng vai trò vô cùng quan trọng. hộ gia đình. Tình hình nợ xấu của các doanh nghiệp cổ phần có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây (tỷ lệ nợ xấu năm 2003: 1. Vì vậy sử dụng có hiệu quả phương thức này sẽ góp phần giải quyết nhu cầu vốn đang là vấn đề cấp thiết cho sản xuất và đầu tư phát triển. Trong đó ngân hàng vừa đóng vai trò người đi vay ( nhận tiền gửi của các chủ thể khác trong nền kinh tế hoặc phát hành các chứng chỉ tiền gửi : kỳ phiếu. năm 2005: 7.77%. rườm rà. cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi. trái phiếu ngân hàng để huy động vốn).Chủ thế tham gia : một bên là ngân hàng.Thời hạn : rất linh hoạt bao gồm ngắn hạn. việc thắt chặt hay nới lỏng cung tiền tệ. Với tư cách là người cho vay. trái phiếu ngân hàng. năm 2004: 2. của ngân hàng không được thông suốt và cập nhật. Từ các đặc điểm của tín dụng ngân hàng có thể thấy được tầm quan trọng của nó trong nền kinh tế quốc dân.72%. nhược điểm của hình thức này: . tại Việt Nam xuất hiện nhiều hình thức tín dụng khác nhau. hộ gia đình. + Có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vì những doanh nghiệp này chưa có đủ điều kiện để tham gia vào thị trường vốn trực tiếp. có khi là tài sản. Với tư cách là người đi vay. Hiện nay. trong đó ngân hàng là trung gian tín dụng giữa những người tiết kiệm và những người cần vốn để sản xuất kinh danh hoặc tiêu dùng. một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế như các doanh nghiệp. mất nhiều thời gian và công sức của người đi vay.Thuê tài chính a. o Các đặc điểm của tín dụng ngân hàng gồm: . + Thông tin về tài chính của cá nhân. doanh nghiệp. ngân hàng vừa là người cho vay đồng thời là người đi vay. cá nhân. + Do là nguồn vốn huy động của xã hội với khối lượng và thời hạn khác nhau.

Hối phiếu là một thương phiếu do chủ nợ lập ra để ra lệnh cho người thiếu nợ trả một số tiền nhất định cho người hưởng thụ khi món nợ đáo hạn. + Phạm vi hẹp. Cụ thể: . GIẤY NỢ trong quan hệ tín dụng thương mại được gọi là kỳ phiếu thương mại (thương phiếu). uy tín nên có lợi thế là thủ tục nhanh. Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị. phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng giữa bên thuê và bên cho thuê. thiết bị. + Tín dụng thương mại do các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất kinh doanh cung cấp. phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê.Đến thời hạn được thoả thuận.Thương phiếu vô danh. Người hưởng thụ có thể là người phát hành. + Tạo điều kiện mở rộng hoạt động của tín dụng ngân hàng thông qua nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu. vì: .Ưu điểm : + Trong nền kinh tế thị trường. Cơ sở pháp lý xác định quan hệ nợ nần của tín dụng thương mại là GIẤY NỢ . về pháp lý. (Điều 1. + Điều kiện kinh doanh và chu kỳ sản xuất của các doanh nghiệp có thể không phù hợp nhau. . Khi kết thúc thời hạn thuê bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê.Nhược điểm : + Tín dụng thương mại được cấp bằng hàng hoá nên doanh nghiệp cho vay chỉ có thể cung cấp được cho một số doanh nghiệp nhất ¬¬¬định . Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã thoả thuận.Người bán chuyển giao cho người mua để sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định.Nghị định 16) Trong một giao dịch thuê. có ghi tên như thương phiếu ký danh nhưng không chuyển nhượng cho người khác. + Là loại tín dụng không có đảm bảo nên rủi ro dễ phát sinh. Để thanh toán hoặc đòi tiền lẫn nhau.. .một dạng đặc biệt của khế ước dân sự xác định trái quyền cho người bán và nghĩa vụ phải thanh toán nợ của người mua. Có nhiều lý do khiến việc lựa chọn hình thức thuê tài sản ngày càng trở nên phổ biến. gọn. + Sự tồn tại của hình thức tín dụng này sẽ giúp cho các nhà doanh nghiệp chủ động khai thác được nguồn vốn nhằm đáp ứng kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh. vì vậy qui mô tín dụng chỉ được giới hạn trong khả năng vốn hàng hoá mà họ có. vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một mặt đáp ứng nhu cầu vốn của những nhà doanh nghiệp tạm thời thiếu vốn.Thương phiếu ký danh. không ghi tên người thụ hưởng ..o Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp với nhau. tín nhiệm lẫn nhau. thương phiếu được chia ra ba loại: . nếu còn giá trị. hiện tượng thừa thiếu vốn của các nhà doanh nghiệp thường xuyên xảy ra. có ghi tên người thụ hưởng . do vậy khi thời gian mà doanh nghiệp cho vay muốn cung cấp không phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp cần đi vay thì tín dụng thương mại không thể xảy ra. trong đó lý do chủ yếu là lợi ích có thể mang lại từ việc thuê tài sản. đều có thể chuyển nhượng lại. Những loại giấy tờ này. biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá. + Tín dụng thương mại được cấp giữa các doanh nghiệp quen biết. đồng thời giúp cho các doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá của mình. người mua hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi suất. o Ưu nhược điểm của tín dụng thương mại: . đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn và góp phần đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp.Thương phiếu định danh. bên cho thuê có quyền sở hữu tài sản. cũng có thể là thứ ba.những doanh nghiệp cần đúng thứ hàng hoá đó để phục vụ sản xuất hoặc bán ra. Thuê tài chính o Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc. với 2 loại: hối phiếu và lệnh phiếu. hối phiếu nhận nợ hay séc. Lệnh phiếu là một thương phiếu do người thiếu nợ lập ra để cam kết trả một số tiền nợ nhất định khi đến hạn cho chủ nợ. c. hơn nữa là chỉ thực hiện được giữa các doanh nghiệp quen biết. Về hình thức. bên thuê không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền sử dụng tài sản trong thời gian thuê. Mua bán chịu hàng hoá là hình thức tín dụng. các doanh nghiệp thường sử dụng các công cụ như hối phiếu đòi nợ. chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp vay vốn có nhu cầu cao hơn thì doanh nghiệp cho vay không thể đáp ứng được.

Nhược điểm : Mặc dù cho thuê tài chính là loại hình cấp tín dụng trung và dài hạn khá phổ biến trên thế giới và có nhiều lợi thế cạnh tranh. người sử dụng phải đối đầu với rủi ro do sự lạc hậu của tài sản. + Đối với bên cho thuê: trong suốt thời hạn cho thuê. tiếp cận và sử dụng những máy móc. Và hiện có nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả. nhằm mang lại lợi ích nhiều hơn thay vì phải đầu tư vốn để mua tài sản cố định. Vốn điều lệ trung bình của một doanh nghiệp cho thuê tài chính là 150 tỉ đồng . Nếu bỏ qua các yếu tố an toàn. thiết bị hiện đại nhất. bên thuê có thể thay đổi tài sản một cách dễ dàng hơn so với việc sở hữu tài sản. Ngoài ra. Trong khi đó. + Giá cho thuê (gồm tiền trích khấu hao tài sản thuê.. Theo một cuộc khảo sát ngẫu nhiên mới đây đối với 1. sử dụng dịch vụ cho thuê tài chính. o Ưu nhược điểm của hình thức tín dụng này: . vận hành. nếu đi vay để mua hoặc mua trả chậm. trong trường hợp bên thuê lâm vào tình trạng phá sản thì tài sản thuê vẫn không bị phát mãi mà vẫn bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp của bên cho thuê đối với tài sản này. dễ dàng đổi mới công nghệ. khi thuê tài sản. bên thuê sẽ phải thanh toán tổng số tiền đối với tài sản thuê cao hơn so với đi vay từ các nguồn khác như ngân hàng.rất nhỏ so với vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại (thường là trên 1.. . thuế chỉ được tính giảm trên chi phí lãi. lợi ích từ dịch vụ cho thuê tài chính mang lại. sau 11 năm có mặt. Thực tiễn cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam không mấy quan tâm đến loại hình dịch vụ này. thậm chí có doanh nghiệp hiểu cho thuê tài chính như hoạt động mua trả góp.. nhiều quy định cần phải được luật hóa. chưa thấy rõ được hiệu quả. nếu tính ra lãi suất thì lãi suất thuê tài chính cao hơn lãi suất vay ngân hàng. Với các hợp đồng thuê tài sản huỷ ngang. từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tận dụng được cơ hội kinh doanh. Thuê là một cách để giảm hoặc tránh rủi ro này. + Phí thuê tài chính được hạch toán vào giá thành sản phẩm giúp doanh nghiệp giảm nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước. + Cho thuê tài chính có phương thức thanh toán tiền thuê linh hoạt phù hợp với chu chuyển vốn của doanh nghiệp. thì cho đến hết thời hạn thanh lý hợp đồng cho thuê tài chính..+ Đối với bên thuê: khi mua một tài sản. + Sử dụng tài sản thuê không nhất thiết phải có tài sản thế chấp. tuy nhiên.Ưu điểm : + Cho thuê tài chính cho phép bạn sử dụng linh hoạt đồng vốn của mình vào mục đích khác.000 doanh nghiệp thuộc các thành phần khác nhau thì hơn 70% số doanh nghiệp được hỏi trả lời rằng họ biết rất ít và chưa bao giờ tìm hiểu. hoạt động quảng bá. + Cho thuê tài chính giúp bạn có nhiều cơ hội chủ động trong lựa chọn thiết bị. bởi vì lãi suất thuê tài chính còn phải cộng thêm các chi phí về lắp đặt. bên cho thuê (chủ sở hữu tài sản) sẽ phải gánh chịu rủi ro về sự lạc hậu của tài sản. bảo hiểm. không có tiền để mua tài sản hoặc không có vốn đối ứng cho các hợp đồng vay để mua tài sản.. Các . nhiều doanh nghiệp chưa hiểu rõ bản chất cấp tín dụng của dịch vụ cho thuê tài chính. gần 20% hoàn toàn không biết về dịch vụ này. Bên thuê cũng được hưởng một khoản lợi từ thuế so với việc vay để mua hoặc mua trả chậm.. thị trường cho thuê tài chính Việt Nam chỉ có 12 công ty được thành lập dưới các hình thức sở hữu khác nhau. bên thuê sẽ có được tài sản sử dụng trong điều kiện hạn hẹp về ngân quỹ. + Hành lang pháp lý về cho thuê tài chính chưa hoàn thiện đồng bộ.) hiện nay còn cao.. nguyên nhân có thể là vì: + Doanh nghiệp hiểu biết về kênh cấp vốn qua dịch vụ cho thuê tài chính còn hạn chế. giới thiệu dịch vụ này đến doanh nghiệp còn yếu. phần nợ gốc không được khấu trừ thuế. + Sử dụng cho thuê tài chính sẽ không làm ảnh hưởng tới hạn mức tín dụng của doanh nghiệp khi doanh nghiệp đi vay vốn ngân hàng. bên cho thuê vẫn có quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản.. Hoặc khi công ty có tài sản cố định nhưng thiếu tiền để mua nguyên vật liệu. vì chi phí thuê (gồm khấu hao và lãi) được tính toàn bộ vào chi phí trước khi xác định lợi nhuận chịu thuế.. chi phí bỏ ra ban đầu thấp. bảo hiểm. thanh toán lương. vì vậy chi phí thực tế mà bên thuê chịu là chi phí thuê sau khi khấu trừ phần giảm thuế. … thì cũng có thể thực hiện giao dịch “Bán rồi thuê lại”. do đó bên cho thuê có quyền lấy lại tài sản nếu xét thấy bên thuê có biểu hiện vi phạm hợp đồng. Mặt khác.. phí. của bên cho thuê phải bỏ ra. Như vậy.000 tỉ đồng). giúp bạn tận dụng được cơ hội kinh doanh.

Mô hình và hệ thống tổ chức của ngân hàng trung ương . chính trị. nhiệm vụ và quyền hạn của Ngân hàng nhà nước Việt nam B. mục tiêu. cho vay.3 chức năng của ngân hàng trung ương ( Ngân hàng phát hành. về tổ chức. . NỘI DUNG BÀI GIẢNG (6 tiết) I. giá trị cho thuê tối đa. xã hội. công cụ) . vốn điều lệ.Sự ra đời của Ngân hàng trung ương . gây cản trở đối với hoạt động cho thuê tài chính NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Đăng ngày: 10:34 18-11-2008 Thư mục: Chung Chương 8 NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ A.Sự ra đời và phát triển. chiếm hữu. do ở mỗi nước có những điều kiện đặc thù về lịch sử. thực hiện các dịch vụ tiền tệ khác. Nhìn chung sự ra đời của Ngân hàng trung ương được phát triển theo một trật tự nhất định. tổ chức bộ máy. nội dung. các ngân hàng kinh doanh tiền tệ lần lượt ra đời... hoạt động. Sự ra đời của Ngân hàng trung ương Quá trình hình thành ngân hàng trung ương ở các nước khác nhau là một quá trình lâu dài và thường là đa dạng. kinh tế. phát hành kỳ phiếu của ngân hàng mình vào lưu thông.quy định về sở hữu. bao gồm nhận tiền gửi...Chính sách tiền tệ (khái niệm. ngân hàng của các ngân hàng. chức năng. Ví dụ như quy định về vốn điều lệ là 50 tỉ đồng đối với công ty trong nước và 5 triệu USD đối với công ty nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là không phù hợp. định đoạt đối với tài sản thuê trong các giai đoạn của quá trình cho thuê tài chính. MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG Sinh viên nắm được các nội dung cơ bản sau: . Thời kỳ đầu ( từ khoảng thế kỷ 12 đến thế kỷ 18 ) ở hầu hết các nước Châu Âu. sử dụng. Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản dưới luật khi quy định về cho thuê tài chính đã không phân định triệt để các khái niệm liên quan đến sở hữu.Vai trò của ngân hàng trung ương . nói chung thực hiện những chức năng tương tự nhau. trong các văn bản còn nhiều vấn đề phải bàn. ngân hàng của nhà nước) .

Đặc biệt từ sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 và sau thế chiến lần thứ hai phần lớn các nước đều tiến hành quốc hữu hóa ngân hàng phát hành chuyển thành sở hữu của nhà nước. Chẳng hạn: Ngân hàng trung ương Nhật Bản là ngân hàng cổ phần ( nhà nước chiếm 55%) nhưng cơ quan quản trị ngân hàng có 7 thành viên do chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm. an toàn và có hiệu quả để phát triển kinh tế.… II. Toàn bộ hội viên của hội đồng quản trị và bộ máy lãnh đạo điều hành. mà xuất phát từ yêu cầu của quản lý và điều tiết lưu thông tiền tệ. Sự ra đời của ngân hàng trung ương xuất phát từ đòi hỏi của sản xuất và lưu thông hàng hóa.Những ngân hàng được phép phát hành tiền được gọi là ngân hàng phát hành. Dù tên gọi không giống nhau như Quỹ dự trữ liên bang. không có điều kiện can thiệp vào hoạt động của hệ thống tài chính để điều khiển kinh tế thông qua tác động của tiền tệ ). Nó ra đời không vì mục đích tìm kiếm doanh lợi. phục vụ cho quản lý và phát triển kinh tế. cùng với yêu cầu của Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. thanh tra. thực hiện kinh doanh tiền tệ thuần túy. cho nền kinh tế khi mà quyền lợi cá nhân của họ bị đe dọa hoặc là mâu thuẫn với lợi ích quốc gia. Từ đó hệ thống ngân hàng được phân định thành 2 loại: . lần lượt các nước đã tiến hành thành lập ngân hàng phát hành do Nhà nước quản lý. kiểm soát đều do nhà nước bổ nhiệm trên cơ sở cơ cấu cũ trước khi quốc hữu hóa.Về sau ( từ khoảng thế kỷ 18 và thế kỷ 19 ) do quy mô và phạm vi lưu thông hàng hóa được mở rộng. Ngân hàng trung gian giao dịch với công chúng. và ngân hàng phát hành thành ngân hàng trung ương gắn liền với sự can thiệp của Nhà nước trên lĩnh vực này. Hiện nay. được gọi là Ngân hàng trung ương. Viện phát hành. từ khoảng đầu thế kỷ 19 trở đi. Vì vậy. … chúng đều có chung một tính chất: ngân hàng trung ương. Mô hình và hệ thống tổ chức của Ngân hàng trung ương . tài chính vững mạnh. Như vậy sự ra đời của ngân hàng trung ương là hệ quả của quá trình chuyển hóa ngân hàng thương mại thành ngân hàng phát hành. Việc quốc hữu hóa ngân hàng phát hành được thực hiện bằng cách Nhà nước bỏ tiền ra mua lại toàn bộ cổ phiếu của ngân hàng phát hành.Những ngân hàng không được phép phát hành tiền được gọi chung là ngân hàng trung gian. Nhà nước có thể chủ động việc kiểm soát phát hành tiền và điều tiết khối lượng tiền cung ứng. có uy tín. Do đó. Tức là. ở một số nước ngân hàng trung ương không hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của nhà nước nhưng hoạt động vẫn mang tính chất như một ngân hàng của nhà nước và cơ quan quản lý cao nhất của nó là do nhà nước bổ nhiệm và miễn nhiệm. trong lưu thông có quá nhiều loại kỳ phiếu ngân hàng tư nhân đã gây cản trở cho giao lưu và phát triển kinh tế. thực hiện nhiệm vụ ổn định tiền tệ. Ngân hàng phát hành giảm dần và đi đến không giao dịch với công chúng mà chỉ giao dịch với các ngân hàng trung gian. Đây chính là quá trình hình thành ngân hàng phát hành và xác lập cho ngân hàng này chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ. Ngân hàng nhà nước. . nhà nước của các nước đã bắt đầu can thiệp vào hoạt động của hệ thống ngân hàng bằng cách hạn chế số lượng các ngân hàng được phép phát hành kỳ phiếu ngân hàng. Tuy nhiên số ngân hàng được phép phát hành tiền ở từng nước cũng còn tới hàng chục ngân hàng. Đây là những ngân hàng lớn. Hệ thống dự trữ liên bang Mỹ là ngân hàng cổ phần với hội đồng thống đốc có 7 thành viên do Tổng thống đề cử và Quốc hội bổ nhiệm. việc ngân hàng phát hành vẫn thuộc sở hữu tư nhân sẽ không cho phép Nhà nước có thể can thiệp một cách thường xuyên và kịp thời vào hoạt động kinh tế thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ ( Nhà nước không thể chủ động kiểm soát được khối lượng tiền phát hành. Sẽ không có gì đảm bảo rằng những tư nhân này sẽ không đưa ra những chính sách có hại cho quốc gia. đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định. đều thuộc sở hữu tư nhân. Nhà nước ban hành luật lệ chỉ cho phép một hoặc một số ngân hàng có năng lực tài chính lớn và có tín nhiệm hơn cả được thực hiện chức năng phát hành kỳ phiếu ngân hàng. thực hiện cơ chế một ngân hàng độc quyền phát hành tiền để thông qua ngân hàng này. tín dụng và ngân hàng.

ngân hàng với nhiệm vụ cơ bản là ổn định giá trị tiền tệ. Chính phủ khó có thể chi phối hoạt động của ngân hàng trung ương. tín dụng.…Hai mặt quản lý và kinh doanh gắn chặt với nhau trong tất cả các hoạt động của ngân hàng trung ương. Mô hình này được xây dựng dựa trên quan điểm cho rằng: Chính phủ là người thực thi chính sách tài chính quốc gia. đặc biệt là trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ.2. Thành viên của Hội đồng thống đốc không được tái nhiệm. Chính phủ không có quyền can thiệp vào hoạt động của Ngân hàng trung ương. quản lý. 1. Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đối với ngân hàng trung ương thông qua việc bổ nhiệm các thành viên của bộ máy quản trị và điều hành ngân hàng trung ương. Mô hình tổ chức Sự ra đời của ngân hàng trung ương là do yêu cầu khách quan của việc quản lý phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ … Ngân hàng trung ương là cơ quan độc quyền phát hành tiền và thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ. kinh doanh trên thị trường ngoại hối. Hệ thống tổ chức . Tiêu biểu cho mô hình này là Quỹ dự trữ liên bang Mỹ và Ngân hàng dự trữ liên bang Đức. điều hành ngân sách nhà nước. Tuy nhiên. ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ. Nhưng nó khác với tính chất quản lý của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Hầu hết các khỏan thu nhập của Ngân hàng trung ương. thực hiện vai trò quản lý kinh tế vĩ mô. Mô hình này được xây dựng trên quan điểm cho rằng: Chính phủ là người thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Cho đến nay trên thế giới có 2 mô hình tổ chức ngân hàng trung ương: 1. Do đó ngân hàng trung ương có vị trí đặc biệt trong bộ máy quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô. Việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là một trong những công cụ chủ yếu trong tổng thể các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô. Ngân hàng dự trữ liên bang Đức không trực thuộc Chính phủ khi thực hiện các nghiệp vụ của mình. Ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ Theo mô hình này. Quỹ dự trữ liên bang Mỹ: cơ quan quản lý cao nhất là hội đồng thống đốc có 7 thành viên. Ngân hàng trung ương có các khoản thu nhập từ các tài sản có của mình như chứng khoán chính phủ. do đó chính phủ phải nắm và sử dụng các công cụ kinh tế vĩ mô. ngân hàng trung ương phải chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ. sau khi trừ các chi phí hoạt động. hoạt động kinh doanh chỉ là phương tiện để quản lý. thậm chí Chính phủ còn can thiệp trực tiếp vào việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ. Để ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ sẽ bị Chính phủ lạm dụng công cụ phát hành tiền để trang trải sự thiếu hụt của ngân sách nhà nước. 2. tín dụng. đều phải nộp vào ngân sách nhà nước. ngân hàng. các biện pháp hành chính mà còn thông qua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh sinh lời. Như vậy. Để thực hiện chức năng nhiệm vụ đó. Mặt khác ngân hàng trung ương mất hẳn tính độc lập và chủ động trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ. Ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ (Ngân hàng trung ương trực thuộc Quốc hội) Theo mô hình này. đồng thời có trách nhiệm ủng hộ chính sách kinh tế chung của Chính phủ. Chính phủ phải nắm lấy ngân hàng trung ương để sử dụng ngân hàng này trong việc thực hiện các chức năng của Chính phủ. không phải là mục đích của ngân hàng trung ương. từ đó dễ gây ra lạm phát. cho vay chiết khấu. Ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lý không chỉ đơn thuần bằng các luật lệ.1.1.

… Chức năng chủ yếu của Hội đồng là quyết định những chủ trương. Đó là: . chính sách về tiền tệ. thốnh đốc sử dụng một bộ máy tổ chức gồm các vụ. cùng với nhiệm vụ xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ. Thống đốc là người chịu trách nhiệm trước Quốc hội hoặc Chính phủ và trước hội đồng quản trị về thực hiện chức năng nhiệm vụ của ngân hàng trung ương. * Về cơ chế quản trị. tỏa dọc xuống là các chi nhánh trực thuộc đặt trên các địa bàn các tỉnh. làm chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán. . Hội đồng này được nhà nước bổ nhiệm gồm những người có chuyên môn cao.Hệ thống tổ chức của ngân hàng trung ương được bố trí theo tuyến dọc: bên trên là ngân hàng trung ương. tư vấn cho Chính phủ các vấn đề về kinh tế-tiền tệ. Thống đốc ngân hàng liên bang đồng thời là chủ tịch hội đồng. III. cục.Về cơ chế quản trị Hiện nay. Chẳng hạn: Ngân hàng dự trữ liên bang Đức: cơ quan quản trị là hội đồng ngân hàng trung ương. có trình độ quản lý. ngân hàng trung ương có vị trí đặc biệt. Chức năng của ngân hàng trung ương 1. Các thành viên hội đồng gồm có: Thống đốc ngân hàng liên bang. giám sát các hoạt động của ngân hàng trung ương. ngân hàng.Về cơ chế điều hành Thống đốc ngân hàng trung ương là người trực tiếp điều hành. Do đó việc phát hành tiền của ngân hàng trung ương có tác động trực tiếp đến tình hình lưu thông tiền tệ của đất nước. Ngân hàng trung ương trở thành trung tâm phát hành tiền của đất nước. chỉ đạo. chi nhánh trực thuộc. Ngân hàng trung ương là ngân hàng phát hành và điều tiết lưu thông tiền tệ Khi ngân hàng trung ương ra đời và hoạt động thì toàn bộ việc phát hành giấy bạc ngân hàng được tập trung vào ngân hàng trung ương theo chế độ nhà nước độc quyền phát hành tiền. đòi hỏi việc phát hành tiền phải tuân theo những nguyên tắc nghiêm ngặt. ổn định giá trị đồng tiền. Để thực hiện chức trách của mình. Để cho giá trị đồng tiền được ổn định. giúp việc cho thống đốc có một số phó thống đốc. thành phố. điều hành Trong bộ máy quản lý. Đứng đầu hội đồng này là chủ tịch hội đồng thống đốc do Thượng viện bổ nhiệm. Giấy bạc ngân hàng do Ngân hàng trung ương phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp. Các thành viên thường là các nhà kinh tế chuyên nghiệp hoặc những nhà ngân hàng chuyên nghiệp. nhạy bén theo nguyên tắc tập trung thống nhất. Hệ thống tổ chức này đảm bảo cho ngân hàng trung ương vận hành các hoạt động của mình một cách thông suốt. Quỹ dự trữ liên bang Mỹ: cơ quan quản trị là hội đồng thống đốc gồm 7 thành viên được Tổng thống đề cử và Thượng viện phê chuẩn để phục vụ trong nhiệm kỳ 4 năm. điều hành vĩ mô của Nhà nước. . cho nên việc quản trị và điều hành hoạt động của ngân hàng trung ương được thực hiện theo một cơ chế đặc biệt so với các Bộ chức năng của nhà nước. Thống đốc các ngân hàng trung ương bang. Đứng đầu hội đồng là chủ tịch hội đồng – thường là Thống đốc ngân hàng trung ương. hầu hết các nước đều thực hiện theo cơ chế lãnh đạo dưới hình thức một hội đồng. tín dụng.

… Tóm lại. ngân hàng trung ương thực hiện việc cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế thông qua việc cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian và kiểm soát quá trình tạo tiền của các ngân hàng trung gian – khách hàng của ngân hàng trung ương.. . Nhìn chung có 3 hình thức duy trì đảm bảo sau đây: + Nhà nước quy định một hạn mức phát hành.Phát hành tiền có đảm bảo bằng giá trị hàng hóa thông qua cơ chế tín dụng Việc phát hành giấy bạc được thực hiện qua cơ chế tín dụng ngắn hạn trên cơ sở đảm bảo bằng giá trị hàng hóa thể hiện trên kỳ phiếu thương mại và các chứng từ nợ khác. Ngân hàng trung ương thực hiện việc kiểm soát khối lượng tiền cung ứng được tạo ra từ các ngân hàng thương mại bằng quy chế dự trữ bắt buộc. Dự trữ gồm tiền mặt tại quỹ và tiền gửi tại ngân hàng trung ương và các ngân hàng khác. + Nhà nước quy định mức dự trữ vàng tối thiểu cho khối lượng giấy bạc phát hành.1. các ngân hàng trung gian không sử dụng hết nguồn vốn của mình để cho vay mà duy trì một mức dự trữ nhất định để đảm bảo khả năng thanh toán. đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền nước mình. Bất cứ một ngân hàng trung gian nào cũng đều phải mở tài khoản và gửi tiền vào ngân hàng trung ương. Việc phát hành tiền thông qua cơ chế tín dụng có ý nghĩa quan trọng. Giấy bạc ngân hàng được đảm bảo bằng khối lượng hàng hóa và dịch vụ.Phát hành tiền dựa vào dự trữ vàng Giấy bạc ngân hàng phát hành vào lưu thông phải có vàng nằm trong kho của ngân hàng làm đảm bảo. Bên cạnh đó. tạo khả năng để ngân hàng trung ương thực hiện kiểm soát khối lượng tiền tệ cung ứng theo nhu cầu của mục tiêu ổn định tiền tệ. đảm bảo cho tổng lượng tiền tệ phù hợp với tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ trên thị trường. khối lượng tiền phát hành vào lưu thông xuất phát từ nhu cầu tiền tệ phát sinh do tăng trưởng kinh tế đòi hỏi. Điều này làm cho việc phát hành giấy bạc gắn với nhu cầu thực tế của lưu thông hàng hóa. Thứ nhất. Ngân hàng trung ương mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian Thông thường. với việc độc quyền phát hành tiền. lãi suất tái chiết khấu. Thứ hai. khối lượng phát hành phải nằm trong hạn mức pháp định. thực hiện chính sách tiền tệ. Hiện nay. Mức đảm bảo ở mỗi nước có sự co giãn khác nhau. Tiền gửi đó gồm 2 loại: . Việc phát hành này của ngân hàng trung ương được thực hiện bằng phương pháp tái chiết khấu các chứng từ có giá của các tổ chức tín dụng. trong điều kiện lưu thông giấy bạc ngân hàng không được tự do chuyển đổi ra vàng theo luật định.Tiền gửi dự trữ bắt buộc . 2. 2. Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng Trên cơ sở độc quyền phát hành tiền. các nước trên thế giới đều chuyển sang chế độ phát hành giấy bạc thông qua cơ chế tái cấp vốn cho các ngân hàng và hoạt động trên thị trường mở của Ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương không chỉ độc quyền phát hành tiền tệ mà còn quản lý và điều tiết lượng tiền cung ứng. + Nhà nước quy định tối đa lượng giấy bạc trong lưu thông và không quy định mức dự trữ vàng làm đảm bảo cho lượng giấy bạc đó.

ngân hàng trung gian này sẽ chấp nhận nhiều rủi ro hơn trong kinh doanh vì cho rằng ngân hàng trung ương sẽ cho vay trong trường hợp xấu nhất. ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền và nền kinh tế. Bên cạnh đó. Trong trường hợp này ngân hàng trung ương đóng vai trò là người cho vay cuối cùng đối với các ngân hàng trung gian. Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian Ngân hàng trung ương thực hiện cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian nhằm đảm bảo cho nền kinh tế đủ phương tiện thanh toán cần thiết trong từng thời kỳ nhất định. Mục đích của việc bắt buộc dự trữ này là để giới hạn mức tín dụng tối đa mà ngân hàng trung gian có thể cung cấp. tìm đến ngân hàng trung ương vay tiền như là một phương cách cuối cùng. Hoạt động cho vay từ ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng trung gian là một nghiệp vụ phát hành.2. Những đợt rút tiền ồ ạt của dân chúng vì nhiều lý do ( chẳng hạn: lãi suất trở nên thấp so với lạm phát. Trong trường hợp này. việc tập trung dự trữ của ngân hàng trung gian tại ngân hàng trung ương còn là một phương tiện để ngân hàng trung ương có thêm quyền lực điều khiển hệ thống ngân hàng. Mặt khác. Hiện nay. không phải lúc nào ngân hàng trung ương cũng có thể chủ động được. Vì vậy. cùng với sự phát triển của thị trường tiền tệ.…) dễ làm cho ngân hàng trung gian mất khả năng thanh toán. . ngân hàng trung ương có vai trò chủ động trong quá trình cho vay. ngân hàng mất lòng tin của dân chúng. Chẳng hạn. Tuy nhiên cần phải để ý: nếu ngân hàng trung ương dễ dãi trong việc cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian thì sẽ tạo cho ngân hàng trung gian tâm lý ỷ lại.Tiền gửi dự trữ bắt buộc áp dụng bắt buộc đối với các ngân hàng trung gian có huy động vốn tiền gửi của công chúng. các hình thức bảo hiểm tiền gửi ra đời đã giảm bớt khả năng xảy ra nhu cầu rút tiền bất thường. ngân hàng trung gian không thể thu hồi tiền cho vay về kịp để chi trả. Do vậy ngân hàng trung ương cần rất thận trọng. tỷ lệ dự trữ bắt buộc thường được đề cập đến với tư cách là công cụ của chính sách tiền tệ. không sử dụng thường xuyên vai trò người cho vay cuối cùng của mình. . Khi xuất hiện nhu cầu vay tiền ngân hàng trung ương làm phương tiện thanh toán. Xét ở góc độ đó. mà có những trường hợp ngân hàng trung ương thụ động trong việc cho vay. Đặc biệt là những ngân hàng lớn (đây là những ngân hàng mà sự phá sản của nó có thể gây nên một sự khủng hoảng tài chính-tiền tệ. các ngân hàng này được ngân hàng trung ương cấp tín dụng theo những điều kiện nhất định.Tiền gửi thanh toán Ngoài tiền gửi dự trữ bắt buộc. Mức dự trữ cao hay thấp tùy theo quy định của ngân hàng trung ương trong từng thời kỳ cho phù hợp với chính sách tiền tệ. Bên cạnh đó. thông qua đó để điều tiết lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế theo yêu cầu của chính sách tiền tệ. không còn chỗ vay mượn nào khác. tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngày càng giảm ở hầu hết các quốc gia. Trong quá trình hoạt động. tránh trường hợp các ngân hàng trung gian huy động được bao nhiêu cho vay bấy nhiêu dẫn đến mất khả năng thanh toán. huy động được để cho vay đối với nền kinh tế. Hiện nay. các ngân hàng trung gian mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng trung ương còn giúp ngân hàng trung ương có thể tận dụng nguồn vốn tạm thời dư thừa của các ngân hàng trung gian để thực hiện các chức năng của mình. nếu một ngân hàng trung gian biết được ngân hàng trung ương sẽ cấp tín dụng cho nó khi gặp khó khăn. thực thi chính sách tiền tệ. Đây là một điều nguy hiểm cho nền kinh tế. làm cho độ rủi ro trong hoạt động ngân hàng tăng cao. đó là khi cần phải cứu các ngân hàng trung gian thoát khỏi bở vực phá sản do mất khả năng thanh toán. Do hoạt động chính của ngân hàng trung gian là đi vay để cho vay và hoạt động này không phải bao giờ cũng thuận lợi. các ngân hàng trung gian sử dụng vốn tập trung. 2. Tuy nhiên. Mục đích nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên giữa các ngân hàng với nhau và để điều chỉnh mức dự trữ bắt buộc khi cần. phù hợp yêu cầu chính sách tiền tệ. các ngân hàng trung gian còn gửi thêm khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng trung ương.

3. có thể tác động đến việc mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tín dụng trong nền kinh tế.Cho vay bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho các ngân hàng trung gian. hiện đại hóa công nghệ thanh toán có ý nghĩa quyết định cho việc tập trung các luồng chu chuyển tiền tệ vận động qua ngân hàng. Trong nghiệp vụ tái chiết khấu. Mỗi khi có nhu cầu thanh toán. nghiệp vụ gửi tiền và cho vay đối với các ngân hàng trung gian. Việc thanh toán được dựa trên cơ sở trao đổi các chứng từ thanh toán nợ kèm theo bảng kê khai thanh toán bù trừ của các ngân hàng hoặc thực hiện bù trừ thông qua hệ thống vi tính.Cho vay bù đắp vốn trong thanh toán liên ngân hàng. nhưng thực ra thông qua nghiệp vụ này mà ngân hàng trung ương có thể giúp cho các ngân hàng thỏa mãn được nhu cầu thanh toán. kể cả kho bạc nhà nước. Nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng trung ương được tiến hành bằng các phương thức: . cùng với việc cải tiến. lãi suất tái chiết khấu là công cụ quan trọng hàng đầu. tạo lập mạng lưới thanh toán liên hoàn trong phạm vi cả nước. giúp cho các ngân hàng trung gian thực hiện thông suốt trong quan hệ thanh toán với nhau xuất phát từ sự phát triển dịch vụ thanh toán phục vụ khách hàng của họ Hoạt động của Tung tâm thanh toán gắn liền với sự phát triển dịch vụ thanh toán của các ngân hàng trung gian.Ngân hàng trung ương thẩm định và cấp giấy chứng nhận hoạt động cho ngân hàng trung gian . Ngân hàng trung ương là trung tâm thanh toán của các ngân hàng Gắn với nghiệp vụ phát hành tiền. đồng thời ngân hàng trung ương thực hiện việc cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế theo yêu cầu của chính sách tiền tệ. Việc thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng được tiến hành định kỳ hoặc cuối mỗi ngày làm việc.Ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian bằng nhiều phương pháp khác nhau: . .Thanh toán bù trừ Ngân hàng trung ương là trung tâm tổ chức thanh tóan bù trừ giữa các ngân hàng. 2.Tái chiết khấu Ngân hàng trung ương mua lại những phiếu nợ chưa đến hạn mà ngân hàng trung gian đã chiết khấu cho khách hàng trước đây để hưởng lợi tức tái chiết khấu. 2. số dư cuối cùng được thanh toán bằng cách trích tài khoản của người phải trả nợ tại ngân hàng trung ương.4. . ngân hàng trung ương là đầu mối thanh toán tiền ngân hàng. cụ thể: . các ngân hàng trung gian gửi các chứng từ thanh toán đến ngân hàng trung ương yêu cầu trích tiền từ tài khoản của mình để trả cho ngân hàng thụ hưởng. .Thanh toán từng lần Ngân hàng trung ương thực hiện thanh toán theo yêu cầu của các ngân hàng trung gian căn cứ trên chứng từ và lệnh chi của họ. Ngân hàng trung ương thực hiện việc quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng Ngân hàng trung ương là cơ quan quản lý và điều tiết hoạt động của hệ thống ngân hàng.

. phạm vi hoạt động kinh doanh và các quy chế nghiệp vụ đòi hỏi các ngân hàng trung gian phải tuân thủ.Ngân hàng trung ương điều tiết các hoạt động kinh doanh của ngân hàng trung gian bằng những biện pháp kinh tế và hành chính.Làm đại lý cho Kho bạc nhà nước trong một số nghiệp vụ . .tiền tệ quốc tế.Ngân hàng trung ương thanh tra và kiểm soát thường xuyên và toàn diện các hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. hạn mức tín dụng. lãi suất tái chiết khấu.… . kiểm tra thực hiện các văn bản pháp luật có liên quan. tín dụng. các hệ số an toàn trong quá trình hoạt động của ngân hàng trung gian. . đối ngoại của đất nước.tín dụng và thanh toán đối nội.Cung cấp tín dụng và tạm ứng cho Ngân sách nhà nước trong những trường hợp cần thiết.Bảo quản dự trữ quốc gia về ngoại hối. ngoại hối và ngân hàng. nhận và trả tiền gửi của Kho bạc nhà nước .Ngân hàng trung ương quy định nội dung. Ngân hàng trung ương là ngân hàng của nhà nước Chức năng này của ngân hàng trung ương thể hiện ở một số điểm: . IV. tỷ lệ hoa hồng.Ngân hàng trung ương thay mặt chính phủ ký kết các hiệp định tiền tệ. nghiệp vụ thị trường mở. . thanh toán. áp dụng các chế tài trong các trường hợp vi phạm pháp luật nhằm đảm bảo cho cả hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định.Thay mặt nhà nước quản lý các hoạt động tiền tệ . … .Ngân hàng trung ương thuộc sở hữu nhà nước . Do vậy điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông phù hợp với yêu cầu ổn định và phát triển kinh tế giữ vị trí quan trọng bậc nhất trong các nhiệm vụ của ngân hàng trung ương. tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Vai trò điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông Mức cung tiền có tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế thông qua sự thúc đẩy mức tăng. giảm tổng sản phẩm quốc nội. lệ phí áp dụng trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trung gian.. ban hành chính sách lãi suất.Mở tài khỏan.Tổ chức thanh toán cho Kho bạc nhà nước trong quan hệ thanh toán với các ngân hàng . . Vai trò của ngân hàng trung ương 1. các chứng từ có giá .Ban hành các văn bản pháp quy theo thẩm quyền của mình về tiền tệ. 3. hạn mức tín dụng. Chẳng hạn như ngân hàng trung ương quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc.Ngân hàng trung ương quyết định đình chỉ hoạt động hoặc giải thể đối với các ngân hàng trung gian trong các trường hợp vi phạm nghiêm trọng pháp luật hoặc mất khả năng thanh toán. an toàn và có hiệu quả. tín dụng và thanh toán với nước ngoài và tham gia với cương vị là thành viên của một số tổ chức tài chính . Ngân hàng trung ương thực hiện vai trò này thông qua các công cụ điều tiết trực tiếp và gián tiếp: lãi suất.

Chính sách tiền tệ 1. góp ổn ổn định sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia.xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định. trong đó chính sách tiền tệ luôn được coi là một chính sách quan trọng. Ngân hàng trung ương điều hành chính sách tiền tệ phải kiểm soát được tiền tệ làm sao cho phù hợp giữa khối lượng tiền và tổng sản phẩm quốc dân. Có thể nói Chính sách tiền tệ là hệ thống các quan điểm. ngân hàng trung ương chỉ huy toàn bộ hệ thống ngân hàng. các chủ trương và biện pháp của Nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh các hoạt động về tiền tệ . đội ngũ cán bộ điều hành. mỗi chính sách đều có vị trí và vai trò riêng của nó. không gây thừa hoặc thiếu tiền so với nhu cầu lưu thông. sự phân tích sắc bén các diễn biến trong các lĩnh vực tín dụng. Vai trò thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế Ngân hàng trung ương tham gia vào việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế . có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều chính sách vĩ mô khác. thanh toán. Khái niệm Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương soạn thảo và tổ chức thực hiện nhằm đạt các mục tiêu kinh tế . chính sách tiền tệ nhằm vào chống suy thoái. Việc chỉ huy hệ thống ngân hàng phải được thực hiện bằng những định hướng có căn cứ khoa học. giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ. ngân hàng trung ương tác động mạnh đến cân đối cung cầu ngoại tệ để giữ vững tỷ giá hối đoái.xã hội nhằm thiết lập một cơ cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả cao. tạo ra sự ổn định của lưu thông tiền tệ để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển. thị trường tiền tệ. Bên cạnh đó.tín dụng. Từ đó vừa đẩy mạnh xuất khẩu.…và đưa ra các giải pháp điều chỉnh hữu hiệu. 4. mở rộng sản xuất. Ổn định tiền tệ và nâng cao sức mua đồng tiền trong nước luôn được coi là mục tiêu có tính chất dài hạn. . giữa tiền và hàng. ngân hàng trung ương góp phần cân đối tổng cầu và tổng cung của toàn xã hội thông qua việc ổn định sức mua đối nội của đồng tiền quốc gia. có nhiều chính sách vĩ mô. Trong nền kinh tế.2. hiện đại hóa đất nước. trong sạch về phẩm chất. ngân hàng và ngoại hối. vừa tăng cường nhập khẩu phục vụ cho công nghiệp hóa. chính sách tiền tệ có thể xác định theo một trong hai hướng sau: . Vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng Với chức năng ngân hàng của các ngân hàng. V. Trong trường hợp này. cán bộ nghiệp vụ thành thạo về chuyên môn. sự nắm bắt các tín hiệu thị trường nhanh nhạy. Vai trò ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia Để ổn định sức mua đồng tiền quốc gia. tạo công ăn việc làm. Việc chỉ huy của ngân hàng trung ương đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng phải dựa vào hành lang pháp lý nghiêm ngặt. Xét cho cùng. 3.Chính sách tiền tệ mở rộng là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế nhằm khuyến khích đầu tư. phù hợp với thực tiễn nền kinh tế đất nước và hội nhập với sự phát triển kinh tế trong khu vực và trên thế giới. thị trường vốn.

1. hạn chế lượng cung tiền trong nền kinh tế. Ngược lại. Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản. kích thích gia tăng sản xuất. Ngược lại. tổng sản phẩm quốc nội giảm. góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.xã hội. dịch vụ là tiền đề cho việc phát triển kinh tế lâu dài. tăng tổng sản phẩm quốc nội. Ngược lại. mặt khác đảm bảo sự ổn định giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiền. Bởi vì. ngân hàng trung ương có thể góp phần quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát. chủ yếu nhất của Ngân hàng trung ương. Kiểm soát lạm phát nhằm ổn định giá cả hàng hóa. ổn định giá cả. giá trị đồng bản tệ giảm xuống so với ngoại tệ sẽ khuyến khích xuất khẩu. Các hoạt động khác của ngân hàng trung ương đều nhằm thực thi chính sách tiền tệ đạt được các mục tiêu của nó. đầu tư giảm.Chính sách tiền tệ thắt chặt là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế nhằm hạn chế đầu tư. lượng cung tiền trong nền kinh tế sẽ tăng. kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế. chính sách tiền tệ nhằm vào việc kiềm chế lạm phát. 2. với chính sách tiền tệ thắt chặt. một sự tăng lên trong giá trị đồng bản tệ so với ngoại tệ sẽ hạn chế xuất khẩu. Trong trường hợp này. giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ giảm xuống. đảm bảo các chính sách xã hội được thỏa mãn. Kiểm soát lạm phát được biểu hiện trước hết ở chỗ ổn định giá trị đối nội của đồng tiền ( sức mua của nó đối với hàng hóa và dịch vụ trên thị trường trong nước) và giá trị đối ngoại của đồng tiền (được đo bằng tỷ giá hối đoái thả nổi). Điều này có nghĩa là chính sách tiền tệ theo đuổi các mục tiêu sau: 2. kích thích đầu tư. nhà nước phải có biện pháp ổn định giá cả hàng hóa và dịch vụ trong nước cũng như ổn định tỷ giá hối đoái.2 Tăng trưởng kinh tế Một nền kinh tế phát triển bền vững với tốc độ tăng trưởng ổn định là mục tiêu của bất kỳ chính sách kinh tế vĩ mô nào. ổn định sức mua của đồng tiền Trong điều kiện lưu thông tiền vàng hay tiền giấy tự do chuyển đổi ra vàng thì giá trị tiền tệ luôn luôn được ổn định do cơ chế tự phát của tiền vàng. đảm bảo ổn định đời sống người lao động. Kiểm soát lạm phát. Muốn ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế . lãi suất tín dụng thường giảm xuống. tỷ giá đồng tiền được các quốc gia đặc biệt quan tâm. Mặt khác. Thông qua chính sách tiền tệ. sẽ nâng thu nhập của người lao động. Giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiền có quan hệ mật thiết với nhau. Khi nền kinh tế có mức tăng trưởng cao. khi tăng khối lượng tiền làm tăng tổng cầu. . Thực hiện mục tiêu này. giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên dẫn đến tình trạng lạm phát. tỷ lệ lạm phát sẽ giảm. trên cơ sở đó ổn định về chính trị và xã hội. Mục tiêu Trong nền kinh tế thị trường. khối lượng tiền giảm. Trong điều kiện lưu thông tiền giấy không được tự do chuyển đổi ra vàng. 2. ổn định giá trị đồng tiền là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ. Khi khối tiền tăng lên. ngân hàng trung ương coi việc kiểm soát lạm phát. lạm phát luôn là khả năng tiềm tàng. Trong nền kinh tế mở. nhiệm vụ chung của chính sách tiền tệ là một mặt cung ứng đủ tiền cho nền kinh tế. ngân hàng trung ương thường cung thêm một khối lượng tiền vào lưu thông.. hạn chế nhập khẩu. Với chính sách tiền tệ mở rộng. Có thể coi chính sách tiền tệ là linh hồn xuyên suốt trong mọi hoạt động của Ngân hàng trung ương.

đóng vai trò chủ nợ đối với các tổ chức tín dụng. khó có thể toàn dụng nhân công. Khi các ngân hàng trung gian thiếu phương tiện thanh toán. Chính sách tín dụng Thực chất của chính sách tín dụng là cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh tế quốc dân thông qua các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng. các doanh nghiệp và nhà nước cần ít lao động hơn. Ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng.Xây dựng và thống nhất quản lý dự trữ ngoại hối của đất nước .Quan hệ với ngân hàng trung ương khác. các tổ chức tài chính . các doanh nghiệp và nền kinh tế cần nhiều lao động hơn. Chống thất nghiệp. 3. ổn định giá cả trong nước . Tạo công ăn việc làm Cùng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế. đạt được mức tăng trưởng ổn định. công ăn việc làm cao. chính sách ngoại hối. thông qua các tác động để mở rộng đầu tư. Muốn đạt được mục tiêu về công ăn việc làm thì phải chống suy thoái.3. và chính sách đối với ngân sách nhà nước. Ngược lại. chính sách tiền tệ cũng hướng vào mục tiêu tạo công ăn việc làm cho mỗi người.Thực hiện các nghiệp vụ hối đoái .Quản lý ngoại hối . ngân hàng trung ương thực hiện các nhiệm vụ giao dịch về tài chính và tiền tệ đối ngoại trên các phương diện sau: . Chính sách ngoại hối Để ổn định giá trị ngoại tệ của đồng tiền quốc gia. công ăn việc làm giảm. Chính sách tiền tệ chỉ có thể hướng vào việc tạo ra công ăn việc làm nhiều hơn. dựa trên các quỹ cho vay được tạo lập từ các nguồn tiền của xã hội với một hệ thống lãi suất mềm dẻo phù hợp với sự vận động của nền kinh tế thị trường.1.2.2.Phấn đấu ổn định tỷ giá hối đoái để kiềm chế lạm phát. Nội dung Chính sách tiền tệ bao gồm 3 chính sách cơ bản: chính sách tín dụng. tạo công ăn việc làm chỉ có thể đạt tới mức nhân dụng cao nhất. tỷ lệ thất nghiệp thấp. nhất là đối với các quốc gia chưa phát triển. khuyến khích đầu tư nước ngoài và thu hút kiều hối .Lập và theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế . Nếu chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương nhằm mở rộng cung ứng tiền tệ thì sẽ tạo điều kiện mở rộng đầu tư sản xuất. tỷ lệ thất nghiệp tăng. cung ứng tiền tệ giảm xuống sẽ thu hẹp các hoạt động sản xuất kinh doanh. 3.Tổ chức quản lý nợ nước ngoài Chính sách ngoại hối được thể hiện trên các phương diện sau: . mở rộng hoạt động kinh tế. 3.tiền tệ quốc tế nhằm tìm kiếm nguồn tài trợ nước ngoài có điều kiện ưu đãi. họ đến ngân hàng trung ương xin tái cấp vốn.

Trong đó vay của ngân hàng trung ương sẽ làm tăng mạnh khối lượng tiền tệ . Nó được xác định bằng tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi trên một khoảng thời gian nhất định. 4. vay ngân hàng trung ương. Dự trữ ngoại hối Mỗi nước đều có dự trữ ngoại hối tùy thuộc vào khả năng của nền kinh tế đó. vay các ngân hàng trung gian. chủ động tác động vào tỷ giá hối đoái theo ý muốn nhất định. có nhiều quy định về việc xác định tỷ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau. vay nước ngoài. Nếu tỷ giá hối đoái quá thấp sẽ sẽ bất lợi cho xuất khẩu. thu hút các nguồn ngoại tệ vào ngân hàng trung ương.3 Chính sách đối với ngân sách Tùy theo tình trạng ngân sách có cân bằng hay không mà ảnh hưởng tich cực hay tiêu cực với những mức độ khác nhau đối với lưu thông tiền tệ Trường hợp ngân sách thiếu hụt sẽ có các cách tài trợ thiếu hụt: vay dân. cá nhân.1. trong từng thời kỳ. Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng trực tiếp tới xuất nhập khẩu. khuyến khích xuất khẩu. quản lý việc mua bán ngoại tệ. khuyến khích nhập khẩu. gây áp lực lạm phát về sau.Chính sách hối đoái Chính sách hối đoái thường hướng vào việc ngăn chặn tích trữ ngoại hối trong các tổ chức. lãi suất. Khi ngân hàng trung ương mua ngoại tệ sẽ làm gia tăng dự trữ ngoại tệ. nghiệp vụ thị trường mở. Công cụ Để thực thi chính sách tiền tệ. thực hiện chức năng và vai trò của mình. hiệu quả.… Mỗi loại công cụ có cơ chế vận hàng riêng và ưu nhược điểm khác nhau. ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường. Dự trữ bắt buộc được xác định bằng cách Tiền dự trữ bắt buộc = Tổng tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc * Tỷ lệ dự trữ bắt buộc Tùy theo điều kiện của từng nước. Qua việc mua bán ngoại hối. 4. Nếu tỷ giá hối đoái quá cao sẽ bất lợi cho nhập khẩu. 3. Dự trữ bắt buộc Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàng trung gian phải duy trì theo quy định của ngân hàng trung ương. . Tùy thuộc vào tình hình thực tế của nền kinh tế để sử dụng các công cụ này một cách phù hợp. Dự trữ ngoại hối phục vụ cho nhu cầu thanh toán quốc tế và điều chỉnh khối lượng tiền trong nước. Tỷ giá hối đoái Phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. gia tăng khối lượng tiền tệ và ngược lại. ngân hàng trung ương đã sử dụng hàng loạt các công cụ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc giảm  khả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng trung gian được mở rộng  tăng lượng tiền trong lưu thông Việc tăng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc có nghĩa là ngân hàng trung ương đang thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt (nới lỏng). các yếu tố khác không đổi khả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng trung ương giảm  lượng tiền trong lưu thông giảm. vì vậy phải đòi hỏi tiến hành một cách thận trọng dựa trên hai tiêu chuẩn: định lượng và định tính. 4. việc hoàn trả nợ tương đối chắc chắn.Việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của các ngân hàng trung gian và quan trọng hơn là để ngân hàng trung ương kiểm soát quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng. cho vay thời vụ để đáp ứng nhu cầu thời vụ của một số ngân hàng. đồng thời khống chế về số lượng và chất lượng tín dụng của các ngân hàng trung gian. .Về mặt định lượng Cần xem lại hạn mức tín dụng mà ngân hàng trung ương dành cho ngân hàng trung gian có và còn hay không . Tái cấp vốn được thực hiện trên nền các giấy tờ có giá nên thời hạn vay mượn là rõ ràng. Nếu căn cứ vào mục đích. Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng. tức là thắt chặt (nới lỏng) khả năng tạo tiền của ngân hàng trung gian. ngân hàng trung ương tác động đến chi phí vay mượn của các ngân hàng trung gian tại ngân hàng trung ương: Nếu lãi suất tái cấp vốn tăng lên  chi phí khoản tiền vay từ ngân hàng trung ương tăng lên  ngân hàng trung gian bất lợi trong vay vốn  ngân hàng trung gian không có khả năng bành trướng tín dụng Nếu lãi suất tái cấp vốn giảm xuống  ngân hàng trung gian có khả năng bành trướng tín dụng Tái cấp vốn là nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng trung ương tất yếu sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng. Tái cấp vốn Tái cấp vốn là cách để ngân hàng trung gian đưa tiền ra lưu thông. Việc tăng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng có nghĩa là làm tăng (giảm) chi phí tín dụng của các ngân hàng trung gian. Qua công cụ tái cấp vốn. các khoản tái cấp vốn của ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng trung gian bao gồm: cho vay thanh toán đối với các ngân hàng thiếu hụt tạm thời. Thông qua việc ấn định lãi suất tái cấp vốn. cho vay bổ sung nguồn vốn tín dụng ngắn hạn. .2. ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng. tiền vay vận động phù hợp với sự vận động của quy luật cung cầu thị trường.Về mặt định tính Cần xem xét các hồ sơ tín dụng và các chứng từ xin tái chiết khấu có lành mạnh hay không và có xứng đáng được tiếp vốn hay không Ở các nước công cụ tái cấp vốn được sử dụng một cách phổ biến.

3. ngân hàng trung gian mua các giấy từ có giá trên thị trường tiền tệ. trong khỏang thời gian từ năm 1945 đến tháng 5 năm 1951 trên phần lãnh thổ dưới chế độ dân chủ mới. Lần đầu tiên trong lịch sử dưới chính thể dân chủ mới. ngân hàng trung ương làm tăng hoặc giảm dự trữ của ngân hàng trung gian. Nghiệp vụ thị trường mở Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua bán các chứng khoán ngắn hạn của Ngân hàng trung ương trên thị trường tiền tệ Ở các nước phát triển. từ đó làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ. Ngân hàng nhà nước Việt nam 1. tự chủ của đất nước. nước ta không có một loại hình ngân hàng nào. điều hòa lưu thông tiền tệ . Ngày 06/05/1951 ngân hàng quốc gia Việt nam được thành lập với tư cách là ngân hàng trung ương. tác động đến khả năng tín dụng của ngân hàng này. ngân hàng trung ương tiến hành phân chia hạn mức tín dụng cho từng ngân hàng * Phát hành tín phiếu ngân hàng trung ương … VI. mọi hoạt động thuộc lĩnh vực tiền tệ. Tháng 01/1960 ngân hàng quốc gia Việt nam đổi tên thành Ngân hàng nhà nước Việt nam . mở rộng tín dụng. muốn giảm khối lượng tiền trong lưu thông. Nếu muốn tăng khối lượng tiền trong lưu thông. chẳng hạn: * Ấn định hạn mức tín dụng đối với các ngân hàng trung gian: ngân hàng trung ương khống chế mức cho vay tối đa đối với các ngân hàng trung gian. thu hẹp tín dụng. Ngược lại. Trên cơ sở quy mô. Ngoài ra còn có một số công cụ khác. nước ta đã thành lập được một ngân hàng mang đầy đủ tính chất độc lập. điều hòa và mở rộng tín dụng để phát triển sản xuất .tín dụng ở nước ta. Ngân hàng quốc gia Việt nam có nhiệm vụ: .Phát hành giấy bạc.Quản lý ngân quỹ quốc gia . đồng thời kiêm nhiệm chức năng của ngân hàng thương mại. Qua nghiệp vụ này. tín dụng đều do Bộ tài chính phụ trách. tình hình hoạt động cũng như khả năng huy động vốn của từng ngân hàng trung gian. Sự ra đời và phát triển của ngân hàng nhà nước Việt nam Sau khi nước Việt nam dân chủ cộng hòa được thành lập. nghiệp vụ thị trường mở là công cụ quan trọng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. ngân hàng trung ương bán các giấy tờ có giá đang nắm giữ.4.Huy động vốn của nhân dân.Quản lý ngoại tệ và thanh toán các khoản giao dịch với nước ngoài Sự ra đời của ngân hàng quốc gia Việt nam là một bước ngoặt lịch sử trong lĩnh vực tiền tệ .

Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác tồn tại hoạt động với tư cách là những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ . tổ chức thanh toán trong nêề kinh tế.Ngân hàng cấp II – Ngân hàng chuyên doanh tổ chức kinh doanh tiền tệ trực tiếp đối với nền kinh tế Mô hình ngân hàng 2 cấp ở Việt nam có đặc điểm nổi bật: Mô hình ngân hàng 2 cấp là mô hình cho phép phân định rành mạch. . Ngày 26/03/1988. ổn định giá cả thị trường. phù hợp với luật pháp để thực hiện nhiệm vụ của mình.Hệ thống ngân hàng nhà nước thực hiện đồng thời hai chức năng quản lý nhà nước và hạch toán kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. ngoại hối để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. hệ thống tổ chức được phát triển cả về số lượng và chất lượng. tín dụng. các chi nhánh ở các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương. có tổ chức trên khắp các địa bàn hành chính tới cấp huyện. nhiệm vụ và quyền hạn của Ngân hàng nhà nước Việt nam 3.Một ngân hàng nhà nước duy nhất. 3. trước Quốc hội về lĩnh vực mình phụ trách. Chức năng . rõ ràng giữa các chức năng quản lý nhà nước của Ngân hàng trung ương. chịu trách nhiệm trước Thủ tướng chính phủ.Ngân hàng cấp I – Ngân hàng trung ương thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tiền tệ .tín dụng và ngân hàng đối với nền kinh tế quốc dân. thành và huyện lỵ nhằm bao quát toàn bộ các hoạt động kinh tế và đóng vai trò trung tâm tiền mặt. Chính phủ ra Nghị định 053HĐBT về tổ chức bộ máy ngân hàng nhà nước Việt nam. 2. hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất trong cả nước. Đặc điểm cơ bản của mô hình tổ chức và hoạt động của ngân hàng một cấp thời kỳ này là: . thực hiện độc quyền phát hành tiền. ở ngoài nước và các đơn vị trực thuộc. Chức năng. với chức năng tác nghiệp kinh doanh của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng.  Hoạt động của ngân hàng trung ương là những mặt hoạt động quản lý ở tầm vĩ mô không nhằm mục đích kiếm lợi nhuận mà nhằm mục đích ổn định tiền tệ. Ngân hàng nhà nước hoạt động dưới sự điều hành của Thống đốc ngân hàng nhà nước là thành viên của Chính phủ. Tổ chức bộ máy Ngân hàng nhà nước Việt nam Ngân hàng nhà nước Việt nam được tổ chức thành hệ thống tập trung thống nhất gồm bộ máy điều hành và hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính. hình thành một hệ thống từ trung ương đến các tỉnh. các văn phòng đại diện ở trong nước. trung tâm tín dụng và trung tâm thanh toán của nền kinh tế quốc dân.Thực hiện nghị định 171CP ngày 26/10/1961 của Chính phủ. . ngân hàng. nội dung chủ yếu là tổ chức thành hệ thống ngân hàng thống nhất trong cả nước gồm hai cấp: . chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng nhà nước được mở rộng.tín dụng và dịch vụ ngân hàng nhằm tìm kiếm lợi nhuận một cách chính đáng góp phần thúc đẩy các ngành sản xuất kinh doanh cùng phát triển.1. vì vậy nó được phép sử dụng những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng. thực hiện một số hoạt động kinh doanh tổng hợp trong hệ thống ngân hàng.

Cấp và thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng.Tổ chức hệ thống thanh toán qua ngân hàng cho các ngân hàng. bảo quản. thay thế.Ký kết.Quản lý hoạt động ngoại hối và quản lý hoạt động kinh doanh vàng .Kiểm tra.2. là ngân hàng phát hành tiền. Ngân hàng trung ương ra đời xuất phát từ đòi hỏi của sản xuất và lưu thông hàng hóa.Ngân hàng nhà nước Việt nam là cơ quan của chính phủ và là ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam. tham gia điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng . ngân hàng của các tổ chức tín dụng. kiểm soát tín dụng. thúc đẩy phát triển kinh tế . Sự ra đời của ngân hàng trung ương là hệ quả của quá trình chuyển hóa ngân hàng thương mại thành ngân hàng phát hành.Tổ chức in. hợp nhất. thanh tra hoạt động ngân hàng. sáp nhập các tổ chức tín dụng .Thực hiện tái cấp vốn nhằm cung ứng tín dụng ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho nền kinh tế .xã hội. cấp và thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác.Chủ trì lập và theo dõi kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế . thực hiện nghiệp vụ phát hành. cùng với yêu cầu của Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. chấp nhận chia. xây dựng chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng Việt nam .Tổ chức đào tạo. pháp lệnh và các dự án khác về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.Đại diện cho nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam tại các tổ chức tiền tệ và ngân hàng quốc tế trong trường hợp được Chủ tịch nước hay Chính phủ ủy quyền . ban hành các văn bản pháp luật về tiền tệ và hoạt động . quyết định giải thể. thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ ngân hàng .Xây dựng các dự án luật. Nhiệm vụ và quyền hạn . bồi dưỡng nghiệp vụ ngân hàng. đổi. đúc.… C. vận chuyển tiền.Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế . tách. nhằm ổn định giá trị đồng tiền góp phần đảm bảo an toàn hoạt động hệ thống ngân hàng. thu hồi. tiêu hủy tiền . xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng . 3. ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. kho bạc nhà nước.Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để Chính phủ xem xét trình Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chính sách này. Ngân hàng trung .xã hội của Nhà nước . TÓM TẮT CHƯƠNG 1.Quản lý vay và trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ . và ngân hàng phát hành thành ngân hàng trung ương gắn liền với sự can thiệp của Nhà nước trên lĩnh vực này.

thành phố. . Chính sách tiền tệ là hệ thống các quan điểm. Trong quá trình hoạt động. Ngân hàng trung ương là ngân hàng của nhà nước. Có 2 mô hình tổ chức ngân hàng trung ương: Ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ (Ngân hàng trung ương trực thuộc Quốc hội) và Ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ. 3.… Mỗi loại công cụ có cơ chế vận hàng riêng và ưu nhược điểm khác nhau 6. nội dung chủ yếu là tổ chức thành hệ thống ngân hàng thống nhất trong cả nước gồm hai cấp cho đến hiện nay. 2. Chính sách tiền tệ bao gồm 3 chính sách cơ bản: chính sách tín dụng. Để thực thi chính sách tiền tệ. ổn định giá cả.tín dụng ở nước ta.tín dụng. 5. vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng. Tại sao nói ngân hàng trung ương là ngân hàng phát hành và điều tiết lưu thông tiền tệ? 4.ương ra đời không vì mục đích tìm kiếm doanh lợi. Chính phủ ra Nghị định 053HĐBT về tổ chức bộ máy ngân hàng nhà nước Việt nam. 2. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. mà xuất phát từ yêu cầu của quản lý và điều tiết lưu thông tiền tệ. vai trò ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia. Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng. tạo ra sự ổn định của lưu thông tiền tệ để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển. Ngày 26/03/1988. D. và chính sách đối với ngân sách nhà nước. Trình bày mối quan hệ giữa chức năng phát hành tiền của ngân hàng trung ương với mục tiêu kiểm soát lạm phát. ngân hàng trung ương đã sử dụng hàng loạt các công cụ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc. chính sách ngoại hối. ngân hàng và ngoại hối. Ngân hàng trung ương có các chức năng sau: Ngân hàng trung ương là ngân hàng phát hành và điều tiết lưu thông tiền tệ. Hãy phân tích vai trò người cho vay cuối cùng của ngân hàng trung ương đối với các ngân hàng trung gian. đồng thời kiêm nhiệm chức năng của ngân hàng thương mại. thực hiện nhiệm vụ ổn định tiền tệ. Chính sách tiền tệ có thể xác định theo một trong hai hướng sau: chính sách tiền tệ thắt chặt hoặc chính sách tiền tệ mở rộng. an toàn và có hiệu quả để phát triển kinh tế. đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định. Tháng 01/1960 ngân hàng quốc gia Việt nam đổi tên thành Ngân hàng nhà nước Việt nam. các chủ trương và biện pháp của Nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh các hoạt động về tiền tệ . 5. nghiệp vụ thị trường mở. lãi suất. và tạo công ăn việc làm. Hệ thống tổ chức của ngân hàng trung ương được bố trí theo tuyến dọc: bên trên là ngân hàng trung ương. ổn định sức mua của đồng tiền. Trình bày mô hình và hệ thống tổ chức ngân hàng trung ương. Trình bày quá trình ra đời của ngân hàng trung ương. tỏa dọc xuống là các chi nhánh trực thuộc đặt trên các địa bàn các tỉnh. ngân hàng trung ương thể hiện vai trò rất quan trọng: vai trò điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông. tăng trưởng kinh tế. thực hiện chức năng và vai trò của mình. 3. 4. Chính sách tiền tệ theo đuổi các mục tiêu sau: kiểm soát lạm phát. Sự ra đời của ngân hàng quốc gia Việt nam là một bước ngoặt lịch sử trong lĩnh vực tiền tệ . vai trò thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế. Ngày 06/05/1951 ngân hàng quốc gia Việt nam được thành lập với tư cách là ngân hàng trung ương.

9. Doanh nghiệp giảm vay mới và do đó giảm đầu tư mới. đồng thời lạm phát ngày càng gia tăng. và mức cung tiền. Chính sách thắt chặt tiền tệ đồng nghĩa với chính sách tiền tệ chống lạm phát. liên hệ với hoạt động của ngân hàng nhà nước với tư cách? Ngân hàng Trung ương ( NHTW) với chức năng vừa phát hành tiền vừa quản lý về lưu thông tiền tệ. tạo công ăn việc làm cho người lao động. Bạn tự nghiên cứu nhé! Ngoài ra bạn có thể tìm hiểu thêm về : Để thực hiện các chính sách trên NHTW sử dụng các công cụ sau: Các công cụ trực tiếp .6. Hãy phân tích các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Trong tình hình này. ong khi đó AS ( tổng cung) chưa kịp thay đổi --> AD< AS --> giá cả giảm Khi giá cả giảm. Loại chính sách này được áp dụng khi nền kinh tế có sự phát triển thái quá. Tại sao nói ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng? 7. Chính sách mở rộng tiền tệ đồng nghĩa với chính sách tiền tệ chống suy thoái. 10. mở rộng sản xuất. nên tác động tiêu cực tới tổng cầu (AD giảm). NHTW giữ vai trò quyết định khối lượng tiền trong lưu thông qua các công cụ của nó như các chính sách về lãi suất. Hãy phân tích các vai trò của ngân hàng trung ương. với mục đích hạn chế khối lượng tiền tệ đưa vào lưu thông này. DN thường có xu hướng giảm quy mô sản xuất ( vì lợi nhuận thu về ít hơn ) --> tổng cung cũng sẽ giảm theo. Chính sách này được áp dụng trong điều kiện nền kinh tế bị suy thoái. (Với 2 công cụ chính là : lãi suất tín dụng.) Trường hợp 1 : Chính sách tiền tệ thắt chặt: Tức là giảm mức cung tiền ( MS) và tăng lãi suất ( tăng i) .Ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay . về dự trữ pháp định nhằm đảm bảo khối lượng tiền trong lưu thông đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển kinh tế thông qua chính sách tiền tệ thắt chặt hay mở rộng. nạn thất nghiệp gia tăng. Việc giảm mức cung tiền hằm hạn chế khối lượng tiền tệ đưa vào lưu thông. chính sách nới lỏng tiền tệ làm tăng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế. dịch vụ mà ). ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ chủ yếu nào? 11. Chính sách tiền tệ có những nội dung nào Phân tích các chức năng của ngân hàng trung ương.Còn được gọi là chính sách đóng băng tiền tệ.có vai trò điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông cho phù hợp với yêu cầu ổn định và phát triển kinh tế Khối lượng tiền trong lưu thông trong mối quan hệ với khối lượng hàng hóa có tác động rất lớn đến ổn định và phát triển kinh tế với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng. Mục đích của chính sách thắt chặt tiền tệ : Kiềm chế lạm phát ( vì lạm phát là sự tăng lên của giá cả các loại hàng hóa . Tại sao nói ngân hàng trung ương là ngân hàng của nhà nước? 8.Tuy nhiên phải chấp nhận tỉ lệ thất nghiệp gia tăng ( vì quy mô hoạt động của các DN bị thu hẹp lại) Trường hợp 2: Chính sách tiền tệ mở rộng : Tăng mức cung tiền ( MS) và giảm lãi suất ( tăng i). Để điều hành chính sách tiền tệ. mở rộng đầu tư. NHTW đã tăng mức lãi suất tín dụng --> cá nhân giảm đi vay và tăng tiền gửi tiết kiệm ( I giảm) --> tiêu dùng giảm ( AD giảm).

Biện pháp này dễ đưa đến lạm phát. -Ấn định hạn mức tín dụng Là việc NHTW ấn định 1 khối lượng sẽ cung cấp cho nền kinh tế trong 1 thời gian nhất định.Phát hành trái phiếu Nhà nước Nhằm làm giảm khối lượng tiền trong lưu thông qua việc NHTW thỏa thuận với Bộ Tài chính về việc phát hành 1 khối lượng trái phiếu nhất định. biện pháp này có ưu điểm là tác động trực tiếp đến dự trữ của các NHTM buộc các NHTM phải gia tăng hay giảm khối lượng ín dụng. Việc cho vay gắng liền với yếu cầu phát triển kinh tế. tái chiết khấu cao hay thấp có tác động đến khả năng cho vay của các NHTM và do đó làm cho khối cung tiền tệ tăng lên hay giảm đi. lãi suất chiết khấu. Ngược lại. Nó có ưu điểm là làm giảm bớt khối lượng tiền trong lưu thông nhưng có nhược điểm là phục vụ cho mục tiêu chi tiêu của ngân sách Phát hành tiền cho ngân sách và cho đầu tư Khi ngân sách bị thiếu hụt.Biện pháp chiết khấu.NHTW có thể ấn định lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay và bắt buộc các NHTM áp dụng khi muốn tăng mức cho vay NHTW hạ lãi suất tiền gửi và tiền cho vay. biện pháp này được thực hiện rất lâu ở các nước XHCN theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung.BIện pháp thị trường mở Nội dung của biện pháp này là NHTW tiến hành mua và bán các giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệ theo mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. . tài chiết khấu và cho vay của NHTW Là hình thức cung cấp tín dụng của NHTW cho các NHTM trong điều kiện có thế chấp. việc các NHTM bán chứng khoán cho NHTW sẽ làm tăng dự trữ cho các NHTM nhờ vào lượng tiền nhận được từ NHTW. Việc ấn định lãi suất cho vay. Bên cạnh đó việc quy định lãi suất tiền gửi của các NHTM áp dụng có tác động trực tiếp đến thị trường tiền tệ nhưng lại làm cho hoạt động của tổ chức tín dụng kém linh hoạt. NHTW có thể phát hành tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của ngân sách. Nhưng có nhược điểm chỉ thực hiện được trong điều kiện các khoản tiền trong lưu thông đều nằm tại các NHTM . NHTW thường sử dụng các công cụ gián tiếp để điều hành chính sách tiền tệ Các công cụ gián tiếp -Quy định tỷ lệ dự trữ pháp định Là phương thức quản lý khối lượng tiền trong lưu thông bằng các quy định tỷ lệ mà các NHTM được phép cho vay khi nhận được 1 khối lượng tiền gửi. Với biện pháp này NHTW nắm được khối lượng tín dụng mà các NHTM và các tổ chức tín dụng khác cung cấp và có khả năng cung cấp cho nền kinh tế. thông thường biện pháp này được áp dụng để phát hành tiền cho đầu tư phát triển xem như là ứng trước cho sản xuất Tóm lại. tỷ lệ dự trữ pháp định là tỷ lệ % trên số tiền gửi mà 1 NHTM nhận được phải gửi vào Tài khoản tại NHTW hoặc giữ tại ngân hàng theo quy định.Giới hạn khối lượng tín dụng trên số tiền gửi nhận được NHTW quy định giới hạn tỷ lệ tín dụng mà các NHTM có thể cung cấp khi nhận được 1 lượng tiền gửi. . Biện pháp này có ưu điểm các khoản cho vay của NHTW đảm bảo thu được về. sau đó tìm các kênh để đưa vào. tái chiết khấu các giấy tờ có giá của các NHTM. biện pháp . Công cụ này có ưu và nhược điểm: Ưu điểm: NHTW có thể tác động trực tiếp đến các dự án đầu tư bằng các điều kiện tín dụng Nhược điểm: Lãi suất được ấn định có thể không phù hợp với nền kinh tế gây khó khăn cho việc thực hiện các dự án đồng thời tính linh hoạt của thị trường tiền tệ sẽ bị suy giảm. chiết khấu. trong nền kinh tế thị trường các công cụ trực tiếp thường được áp dụng trong những trường hợp nhất định. biện pháp này chỉ thực hiện khi không còn biện pháp nào khác. do sự tác động của quy luật cung cầu nhưng có nhược điểm việc vay hay không vay phụ thuộc vào các NHTM. Trong trường hợp NHTW muốn tăng khối lượng tiền trong lưu thông NHTW sẽ mua vào 1 lượng chứng khoán nhất định. nếu NHTW muốn thu hẹp khối lượng tiền tệ NHTW sẽ bán ra 1 lượng chứng khoán nhất định. Do đó NHTW có thể tác động trực tiếp đến khối lượng tín dụng bằng cách tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ pháp định . Biện pháp này có ưu và nhược điểm Ưu điểm: Có thể kế hoạch 1 cách chắc chắn khối lượng tiền trong lưu thông Nhược điểm: Thiếu linh hoạt khi tình hình biến động và chỉ thực hiện được trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung.

khicác NHTM cần vốn thông qua đó NHTW có thể sử dụng công cụ thị trường mở để điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông . Nhưng để vượt qua khuôn khổ của công tác phân tích và thực hiện những hành động chỉnh sửa. việc công bố những lời cảnh báo không phải là việc làm khó khăn chút nào. NHTW còn kích thích các NHTM mua thêm công trái khi số tiền cho vay không hết.cho phép lưu thông các công cụ thay tiền mặt Thông thường khi các công cụ thay tiền mặt được sử dụng thì lưu thông tiền tệ sẽ nhanh hơn. Đánh giá rủi ro của toàn bộ hệ thống Trước hết. thông thường NHTW thường quy định tỷ lệ dư nợ tín dụng của các NHTM không được vượt qua bao nhiêu nhiêu lần so với vốn tự có. các NHTW đã đưa ra lời cảnh báo về tình trạng tích tụ rủi ro thông qua các báo cáo hệ thống tài chính. tiết kiệm được chi phí lưu thông và đặc biệt làm tăng khả năng tín dụng của các NHTM bởi vì khi mọi khoản tiền đều được thanh toán qua ngân hàng bằng các công cụ thay tiền mặt như sec. Đương nhiên. Rõ ràng NHTW có được vị thế đương nhiên để đóng vai trò thực hiện việc đánh giá đó. thì cần phải thực hiện những hành động chỉnh sửa. nếu không thực hiện việc đánh giá toàn bộ một hệ thống.. thì không thể thực hiện được các hành động. đây chính là câu chuyện mà nhiều người cho rằng nói thì dễ nhưng làm thì khó.Dự đính công trái tự nguyện Ngoài việc buộc các NHTM mua công trái bắt buộc. Tuy nhiên..này thường được đi kèm bằng biện pháp quy định tỷ lệ dự trữ ổn định. Trong bất cứ trường hợp nào. sẽ làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gần như không bao giờ mất khả năng cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Biện pháp này có ưu điểm quy định được 1 khối lượng tín dụng vừa phải theo yêu cầu phát triển kinh tế có tính đến mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư. Nguon: http://az24. .Dự đính công trái bắt buộc Là việc NHTW quy định 1 tỷ lệ trên số tiền gửi mà 1 NHTM nhận được phải dùng vào việc mua công trái bắt buộc nhằm hạn chế khối lượng tín dụng của các NHTM và làm công cụ của NHTW thông qua việc chiết khấu các công trái này. thì cần phải thực hiện việc đánh giá một cách kỹ lưỡng. NHTW cần phải đánh giá rủi ro trên toàn bộ hệ thống của một quốc gia có cân nhắc đến mối quan hệ giữa nền kinh tế sản xuất và thị trường tài chính và giữa các định chế tài chính với nhau. cần một ý chí chính trị mạnh mẽ cùng với một khuôn khổ pháp lý đủ mạnh để cho phép thực hiện những hành động có hiệu quả cao.Phát hành giấy bạc. Với chức năng là cơ quan chịu trách nhiệm về chính sách . the tín dụng.html#ixzz1PCzsdwmJ VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TRONG MÔI TRƯỜNG TÀI CHÍNH MỚI 1.vn/hoidap/Phan-tich-cac-chuc-nang-cua-ngan-hang-trung-uong-lien-he-voi-hoat-dong-cuangan-hang-nha-nuoc-voi-tu-cach-d997872. Các nhà lãnh đạo ngân hàng và bản thân các đối tượng tham gia thị trường ở chừng mực nào đó đã nhận biết được những rủi ro đó. Nếu người ta nghiêm chỉnh hành động để cắt giảm các rủi ro đó. lệnh chuyển khoản. Việc đánh giá này sẽ làm cơ sở cho các hành động chính sách liên quan đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng. Một số công cụ khác .

thì tình trạng bong bóng lại càng trở nên nghiêm trọng hơn. hoạt động tín dụng đang tăng lên và tình trạng cho vay vượt quá mức cho phép đang diễn ra và nền kinh tế đang tăng trưởng. Đánh giá lại việc thực thi chính sách tiền tệ Thứ hai. trong khi chỉ có mặt bằng giá cả là ổn định?”. thì sẽ gây ra hậu quả cấp tín dụng tràn lan và cho vay quá mức cho phép. Một khuôn khổ hướng dẫn các ngân hàng thiết lập quỹ dự phòng trong điều kiện kinh tế phát triển để các ngân hàng có thể sử dụng các quỹ dự phòng đó nhằm duy trì chức năng trung gian tài chính của mình trong tình hình kinh tế vĩ mô gặp khó khăn là điều vô cùng quan trọng. Ví dụ điển hình nhất là công cuộc tìm kiếm lãi suất được người ta chứng kiến trong cái gọi là Thời kỳ Tiết chế vĩ đại. Tuy nhiên. Cách đặt vấn đề thực tế hơn đối với các NHTW là: “chính sách tiền tệ có thể hoặc cần được thực thi như thế nào trong một môi trường mà ở đó giá cả tài sản có đang tăng lên. 4. Tuy nhiên. Đồng thời. NHTW tập trung vào các điều kiện kinh tế vĩ mô. Lấy một ví dụ cụ thể như các quy định an toàn về yêu cầu vốn pháp định và các thông lệ ngân hàng như nhu cầu trích lập dự phòng cần phải được đánh giá lại với mục đích giảm bớt xu hướng thiên về chu kỳ. nếu NHTW duy trì chính sách tiền tệ rất nới lỏng. có mối quan hệ chặt chẽ với các đối tác thị trường tài chính và có nền văn hóa thể chế sẽ quan tâm thích đáng đến công tác nghiên cứu. Chỉnh sửa lại các quy chế an toàn Thứ ba là các NHTW cần phải góp phần vào cuộc tranh luận đang diễn ra trong việc chỉnh sửa lại các quy chế an toàn. và cuối cùng sẽ nổ tung làm cho nền kinh tế suy giảm trầm trọng. cần phải đánh giá lại việc thực thi chính sách tiền tệ. nếu chính sách tiền tệ không phù hợp. cho dù quy định của hệ thống pháp luật như thế nào đi chăng nữa. Khi người ta thảo luận về mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và tình trạng bong bóng. Tăng cường việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng . Việc tích tụ các khoản nợ quá mức không thể hạn chế bằng một mình chính sách tiền tệ. NHTW có thể hoặc không phải đóng vai trò là cơ quan quản lý điều tiết tùy thuộc vào quy định trong hệ thống pháp luật của từng nước. Cách hành xử của các định chế tài chính chịu tác động mạnh mẽ bởi cả môi trường kinh tế vĩ mô lẫn các quy định an toàn.tiền tệ. Trong một bầu không khí ảm đạm như vậy. Mặt khác. việc nâng lãi suất cơ bản ở chừng mực nào đó có tác động ngắn hạn trong việc làm giảm bớt các hoạt động kinh tế giống như tình trạng bong bóng. Không có NHTW nào tin rằng tình trạng bong bóng có thể hoặc cần phải ngăn chặn chỉ thông qua chính sách tiền tệ mà thôi. người ta tin rằng cách đặt vấn đề như vậy gây ra tình trạng rối rắm trong các cuộc thảo luận về chính sách tiền tệ. 2. Vấn đề động cơ này chuyển biến thành mối thách thức đầy khó khăn cho chính sách tiền tệ khi mà tình trạng bong bóng tài sản có xuất hiện. mà cần phải phối hợp hàng loạt các biện pháp chính sách. thì các NHTW là những cơ quan chịu trách nhiệm về sự ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng sẽ có thể và cần phải đóng vai trò xây dựng trong việc thiết kế các quy định an toàn. chẳng có ai tỏ ra quá lạc quan hoặc quá bi quan. Vấn đề này thường được tranh luận một cách đơn giản là phải chăng chính sách tiền tệ nên chống lại làn gió vừa xuất hiện hoặc tình trạng giá cả tài sản có leo thang. thì động cơ của họ chịu sự tác động của điều kiện kinh tế vĩ mô và tài chính. Khi nhìn vào các đối tượng tham gia thị trường và toàn bộ ban lãnh đạo cấp cao của ngân hàng. điều đó đánh đi một tín hiệu mạnh mẽ cần phải xiết chặt chính sách. 3.

Kết quả là trong quá trình thực hiện các giao dịch tài chính. một NHTW có thể đóng vai trò là một nhà môi giới trung thực hay là một chất xúc tác trong việc xây dựng một giải pháp theo hướng thị trường cho một vấn đề mới phát sinh. các NHTW đã mở rộng quy mô thế chấp và mạng lưới các đối tác. trong các thị trường tài chính thường xuyên biến động vẫn còn nhiều thách thức. các NHTW đã thực hiện nhiều biện pháp để tăng cường tính ổn định và hiệu quả của hệ thống thanh toán. Theo thuật ngữ kinh tế học thì không bao giờ tồn tại “các hợp đồng hoàn chỉnh”. chẳng hạn như các biện pháp giảm thiểu rủi ro thanh toán phát sinh từ sự khác biệt trong múi giờ trong các giao dịch ngoại hối và đẩy mạnh việc kiểm soát hệ thống thanh toán. Trong ngày. Ngoài ra. điều tối quan trọng là các NHTW rất . Trong những năm gần đây. cho dù các rủi ro đó đã giảm đi thông qua việc áp dụng nghiệp vụ thanh toán kết nối liên tục (CLS). Thứ hai. những lệnh thanh toán từ trong ra và từ ngoài vào hoàn toàn không đồng bộ. cả hai không thể đạt được mục tiêu một cách bền vững. do các định chế tài chính yêu cầu bổ sung thế chấp trong khuôn khổ các thỏa thuận ký quỹ. Tăng cường văn hóa tổ chức và nguồn nhân sự Công tác tổ chức tại các NHTW không thể phát triển mạnh mẽ nếu như không có một nền văn hóa phong phú nhấn mạnh đến các mục tiêu căn bản và nếu như không có lực lượng nhân sự hùng mạnh để thể hiện nền văn hóa đó. đó là sự ổn định tài chính và kinh tế vĩ mô dài hạn cho các NHTW và khả năng sinh lời lâu dài cho khu vực tư nhân. người ta phải chuẩn bị sẵn sàng để khắc phục những khiếm khuyết của các hợp đồng chưa hoàn chỉnh và các thị trường. Trong quá trình khủng hoảng. Nhưng thực tế thị trường này còn lâu mới trở nên thông suốt. và các NHTW lớn đã hợp tác với nhau để cung cấp thanh khoản đô la Mỹ. và do đó lại xuất hiện yêu cầu tín dụng thêm một ngày nữa. trong lĩnh vực hoạt động của thị trường tiền tệ. Thứ nhất. Ví dụ. Để sẵn sàng khắc phục các khiếm khuyết đó. Điều này là đặc trưng trong các giao dịch ngoại hối. cả các NHTW lẫn các định chế tài chính cần phải xây dựng một nền văn hóa nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc duy trì một viễn cảnh dài hạn. tình trạng biến động thị trường có thể bất ngờ tăng nhu cầu tài trợ ngắn hạn. Người ta thường nói rằng các thị trường tài chính đang dần dần trở nên thông suốt theo nghĩa bóng. Các biện pháp này đã giúp đỡ cho việc phục hồi sự ổn định của các thị trường tài chính. tình trạng rò rỉ thanh khoản hoặc ứ đọng thanh khoản tạm thời là không thể tránh khỏi và do vậy nảy sinh tình trạng ách tắc. Tuy nhiên. và chỉ cần nhìn vào bằng chứng được thể hiện trong các giao dịch tài chính và các giao dịch thanh toán không thôi là sẽ rõ. Các NHTW cần phải liên tục đánh giá để làm sao các dịch vụ ngân hàng có thể khắc phục được những khiếm khuyết đó. tình trạng thiếu thanh khoản do sự ách tắc như vậy có thể làm cho tình hình trở nên trầm trọng. Các giao dịch tài chính được hoàn tất bằng việc sử dụng một loạt các hợp đồng và người ta không thể soạn thảo một hợp đồng thể hiện mọi thực trạng trong tương lai. Nếu không.Thứ tư là cần phải tăng cường việc cung cấp các dịch vụ của NHTW. 5. Trong thời kỳ khủng hoảng. trong trường hợp của các NHTW.

thuế khóa tăng lên nhanh chóng. tính độc lập của NHTW được xem như là nền tảng của những cải cách về mặt thể chế để giảm sự can thiệp bất hợp lý của chính trị đến quá trình xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) nhằm đạt được mục tiêu ổn định giá cả. trong phạm vi bài báo này. Một trong những vai trò quan trọng của NHTW là phải phát triển nền văn hóa tổ chức đó. Tuy nhiên.nhạy bén với những thay đổi trên các thị trường tài chính và trong hệ thống tài chính. tác giả dựa vào những số liệu và kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính độc lập của NHTW với mức độ lạm phát được đăng trên Tạp chí Khoa học Kinh tế Economic Commentary (thuộc Ngân hàng Dự trữ New Zealand . Không thể duy trì sự ổn định trong hệ thống tài chính nếu không có sự hợp tác giữa các NHTW và khu vực tư nhân. Nếu giá cả không ổn định sẽ khiến cho xã hội phải gánh chịu một số phí tổn kinh tế mà chi phí cơ hội là một ví dụ rõ ràng nhất. Tính độc lập của ngân hàng trung ương 1. từng định chế tài chính và các đối tượng khác tham gia thị trường lại không nhất thiết phải đồng hóa những tác động có thể xảy ra về hành vi của mình lên toàn bộ hệ thống tài chính. ổn định giá cả sẽ thúc đẩy hệ thống kinh tế hoạt động hiệu quả hơn và do đó làm tăng được mức sống của xã hội. sự đánh đổi giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp diễn ra không lâu dài. Không một nền kinh tế nào có thể tăng trưởng bền vững nếu phải đối mặt với mức lạm phát quá cao. lòng tin của công chúng đối với hệ thống tài chính tiền tệ sụt giảm.2. đặt biệt là nguy cơ bùng nổ lạm phát và theo đó hạn chế tăng trưởng kinh tế và làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.Thứ hai. bởi vì năng lực của nền kinh tế có giới hạn. Ngoài ra. 1. Điều này sẽ làm gia tăng tính tạm thời và không bền vững của kinh tế vĩ mô. Kinh nghiệm của Ngân hàng Dự trữ New Zealand 2. vì các NHTW không phải là các tổ chức thiên về lợi nhuận. Đường cong Phillips mô tả mối quan hệ thực nghiệm về tỷ lệ thất nghiệp thấp hay tỷ lệ tăng trưởng cao có thể đạt được trong ngắn hạn thông qua chính sách mở rộng và tỷ lệ lạm phát cao. các áp lực về tiền lương. vấn đề ổn định giá trị của đồng tiền là một điều kiện cần nếu muốn có sự tăng trưởng bền vững. Tính độc lập của NHTW được thể hiện thông qua việc xác định rõ cơ chế hoạch định CSTT là như thế nào. . Giới thiệu 1. cho nên có nguy cơ là các NHTW không thể nhanh chóng nhận biết được những thay đổi đó.. nắm vững các thông lệ kinh doanh một cách chi tiết và mài sắc quan điểm vĩ mô của mình. Công trình nghiên cứu của Economic Commentary có thể được tóm tắt như sau: ..Thứ nhất. tác giả chỉ nghiên cứu để tiếp cận vấn đề này ở mức độ sơ lược và cơ bản nhất với mục đích là phát hiện ra những vấn đề chính trong tính độc lập của NHTW để từ đó chứng minh được vai trò của nó đối với sự ổn định giá của một quốc gia.NHTW của New Zealand) để chứng minh cho vấn đề cần thảo luận. tỷ lệ lạm phát có thể tiếp tục tăng. Xem xét tính độc lập của NHTW là một vấn đề lớn. Tuy nhiên. Tuy nhiên. . tình trạng giá cả bất ổn còn có thể khiến các quyết định đầu tư sản xuất trở nên khó khăn hơn. đòi hỏi phải được nghiên cứu thật chuyên sâu. Lý do dẫn đến cuộc cải tổ này đó là việc xây dựng và điều hành CSTT mà có sự can thiệp chính trị thường chỉ đạt được những mục tiêu ngắn hạn.1. rạch ròi.Thứ ba.. trong khi đó. Các NHTW phải xây dựng cho mình một nền văn hóa thừa nhận tầm quan trọng của các nỗ lực hợp tác và kịp thời công bố cho dân chúng biết những vấn đề mới nảy sinh trong nền kinh tế của các thị trường tài chính có thể tác động tiêu cực đến sự ổn định của thị trường tài chính. sự tăng trưởng kinh tế và giảm thất nghiệp không được duy trì. Giới thiệu khái quát Trong bài báo này. trong dài hạn. 2. NHTW có được toàn quyền quyết định việc sử dụng các công cụ để thực thi CSTT hay không cũng như nêu rõ trách nhiệm của NHTW nói chung và Thống đốc nói riêng trong trường hợp mục tiêu không đạt được như đã đặt ra. Mặt khác.1. Tính độc lập của NHTW (Central Bank Independence) Trong suốt những năm 90 của thế kỷ XX. Các NHTW cần có những cán bộ có kỹ năng xuất sắc để thúc đẩy mối quan hệ xây dựng với các định chế tài chính và các đối tượng tham gia thị trường. Ổn định giá cả và vì sao mục tiêu ổn định giá cả lại đặt lên hàng đầu? .

ngân hàng này được toàn quyền quyết định các điều kiện tiền tệ (như các khối tiền M1. ngoại trừ trường hợp là việc thực hiện CSTT phải cân nhắc đến tính hiệu quả và sự ổn định của hệ thống tài chính. . Không phải ngẫu nhiên mà người ta lấy New Zealand làm trung tâm nghiên cứu. Sự phát triển kinh tế đã tăng số lượng các quốc gia Công nghiệp. M3. để ổn định giá cả. Ngân hàng Dự trữ đã rút ra một số kết luận sau đây: + “Việc làm giảm lạm phát và duy trì mức lạm phát mong muốn thấp là tương đối dễ dàng so với việc kiểm soát chặt chẽ mức lạm phát trong phạm vi khung lạm phát” [A. xây dựng và hoàn thiện các đạo luật mới trong đó khẳng định tiên quyết rằng “Chức năng chủ yếu của Ngân hàng Dự trữ New Zealand là trực tiếp xây dựng và hoàn thiện Chính sách tiền tệ hướng vào việc đạt được các mục tiêu kinh tế và duy trì sự ổn định giá cả...7% trong giai đoạn 1988-2000 (xem biểu đồ 1). so sánh và đánh giá. M2.Đối tượng nghiên cứu là hầu hết các quốc gia thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD.. . Lịch sử cho thấy. Biểu đồ 2 minh họa điều này.nz/about/central_bankingnz.Trong quá trình quản lý ổn định giá. 2. Ngân hàng Dự trữ New Zealand lúc bấy giờ đứng vào tốp đầu tiên. vì vậy độ rộng của mẫu nghiên cứu ở giai đoạn sau là lớn hơn nhiều.. Hầu hết những quốc gia Công nghiệp đều đã đạt được một sự giảm lạm phát rõ rệt: tỷ lệ giảm hàng năm trung bình từ 5. lãi suất.NHTW New Zealand được phép xem xét tác động và đề xuất những kiến nghị để giải quyết những tình huống có thể ảnh hưởng đến sự ổn định giá. Các chuyên gia của Tạp chí Economic commentary đã cho rằng chính sự độc lập cao hơn của Ngân hàng Dự trữ New Zealand là chìa khóa cho thành công trong quản lý lạm phát ở New Zealand. Lịch sử cho thấy New Zealand là một trong số các quốc gia đầu tiên và thành công nhất của OECD trong việc bình ổn giá cả.NHTW New Zealand được thực sự độc lập trong việc theo đuổi mục tiêu CSTT mà không bị hạn chế về mặt kỹ thuật.. Đáp lại điều đó. Việc lượng hóa mục tiêu lạm phát là kết quả của sự trao đổi “công bằng. Đặc biệt. Thứ hai. Quốc hội New Zealand đã đưa Chính sách lạm phát mục tiêu vào trong hiến pháp.” [http://www. nghiêm túc” giữa Chính phủ và NHTW. Nhiều học giả đã quy sự cải tiến này cho chính sách lạm phát mục tiêu mà New Zealand đã thực hiện vào năm 1989. Suốt thập niên 70. “việc NHTW tập trung giải quyết quá nhiều trách nhiệm đối với Chính phủ sẽ làm giảm sút tính linh hoạt của nó” . có thể kể ra một số những thay đổi căn bản trong hoạt động điều hành CSTT của Ngân hàng Dự trữ New Zealand: .6% trong giai đoạn 1955-1988 xuống còn 2.pdf] Bên cạnh đó. NHTW này chỉ hoạt động với tư cách là cố vấn cho Chính phủ New Zealand. hoạt động của Ngân hàng Dự trữ New Zealand đã có bước đột phá với 2 cải cách lớn: thứ nhất. với 7. Ngân hàng Dự trữ được độc lập nhiều hơn với Chính phủ.) trên cơ sở một thỏa ước với Bộ Tài chính và sự cân nhắc các ý kiến đóng góp của các cơ quan chức năng khác.Công trình nghiên cứu lấy New Zealand (cụ thể là Ngân hàng Dự trữ New Zealand) làm trung tâm để xem xét. tỷ giá.rbnz. nhưng điều này sẽ là phiến diện nếu chỉ tin vào một mình sự ảnh hưởng của chính sách lạm phát mục tiêu.7% trong giai đoạn sau.govt. thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu và là quốc gia có những bước cải cách căn bản đầu tiên trong hoạt động của NHTW.2. hay nói cách khác. đã thiết lập được một chính sách lạm phát mục tiêu rõ ràng mà sau này nhiều quốc gia đã lần lượt áp dụng. mức độ lạm phát của New Zealand luôn ở ngưỡng 2 con số.6% trong khoảng thời gian đầu xuống còn 2.Để ổn định giá cả. như sự biến động của kim ngạch xuất nhập khẩu. . giai đoạn thứ nhất 1955-1988 và giai đoạn thứ hai 1988-2000. đôi lúc lên đến 18%. Quay trở lại thời điểm năm 1989. Xét về sự độc lập tối thiểu của một NHTW.Hoạt động nghiên cứu khảo sát ở 2 giai đoạn. Điều này thể hiện qua việc Quốc hội New Zealand đã nhanh chóng sửa đổi các đạo luật có liên quan. Thành công của Ngân hàng Dự trữ New Zealand Trước năm 1989. . .. p102]. Một trong những câu chuyện thành công khác thường nhất là New Zealand. Ngân hàng Dự trữ New Zealand đã có một sự chuyển mình mạnh mẽ trong điều hành. các loại thuế. 2.... vì vậy CSTT của nó như là một công cụ hoạt động theo ý muốn của Bộ Tài chính. New Zealand đã được xếp vào loại những quốc gia có Điểm số độc lập của NHTW thấp nhất và tỷ lệ lạm phát của nó đứng vào loại cao nhất trong thế giới các nước Công nghiệp. từ những năm 1989. + Việc theo đuổi quá nhiều mục tiêu sẽ hạn chế năng lực và tính chủ động của một NHTW. Ngân hàng Dự trữ New Zealand là một “đại lý” của Chính phủ và được trao rất ít sự độc lập.

[1, 1]. Những chủ trương mới này đã cho phép NHTW đề ra được chính sách lạm phát mục tiêu tương ứng với từng thời kỳ và có được những địa vị pháp lý cũng như tính chủ động cao hơn trong giải quyết các mục tiêu ở trên. Ngoài ra, nó cũng giới hạn đầy nghiêm khắc những tình huống, những hoàn cảnh mà một Thống đốc có thể bị xa thải, hay nói cách khác, việc thay đổi nhiệm kỳ của Nội Các Chính phủ không ảnh hưởng đến hoạt động của Ban lãnh đạo NHTW. Biểu đồ 2 chỉ ra rằng Điểm số độc lập của Ngân hàng Dự trữ New Zealand đã có sự tăng tốc mạnh mẽ, từ 25 điểm giai đoạn 1955-1988 lên đến 89 ở giai đoạn 1989-2000 và được xem như là một bước ngoặt lớn. Có thể thấy rõ, trong thời kỳ thứ nhất Ngân hàng Dự trữ New Zealand có số điểm thấp nhất trong số các quốc gia Công nghiệp được nghiên cứu, tuy nhiên ở giai đoạn sau, nó bức phá lên tốp những NHTW có sự độc lập cao nhất. Biểu đồ 2 cũng cho thấy, hầu hết những quốc gia Công nghiệp đang nghiên cứu đều nằm ở nửa trên của tuyến 45 độ, ngụ ý rằng tính độc lập được xem như là một xu hướng chung trong những khoảng thời gian càng tiến gần đến hiện tại. Chúng ta cũng nhận thấy rằng tỷ lệ lạm phát của New Zealand đã giảm từ 7,6% (cao hơn mức trung bình của các quốc gia Công nghiệp) trong giai đoạn thứ nhất xuống còn 2,7% (dưới mức trung bình) trong thời kỳ sau. Vậy thì một câu hỏi được đặt ra là bao nhiêu sự thành công trong kết quả này có sự đóng góp của sự tăng lên trong mức độ độc lập của NHTW New Zealand? Biểu đồ 3 cho thấy trong thời kỳ thứ nhất đã có một mối quan hệ khắng khít giữa tính độc lập của NHTW và mức lạm phát (trong nhóm các quốc gia nghiên cứu), hay nói cách khác, khi NHTW của những nước này có quá ít tính độc lập thì mức lạm phát chung thường rất cao và ngược lại. Giai đoạn thứ hai cho thấy mối quan hệ này đã trở nên kém rõ ràng hơn, tuy nhiên biểu đồ 3 vẫn cho thấy có một mối quan hệ rất mật thiết giữa tính độc lập và tỷ lệ lạm phát bình quân. Hơn nữa, sự tác động của tính độc lập của NHTW vào mức lạm phát là xuyên suốt mọi thời gian, và kết quả này không chỉ đúng với New Zealand mà còn phù hợp với các quốc gia còn lại. Từ những kết quả ở biểu đồ 3, chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng sự giảm xuống trong tỷ lệ lạm phát ở New Zealand (trung bình 4,2%) nhờ chủ yếu vào sự tăng lên mạnh mẽ tính độc lập của Ngân hàng Dự trữ New Zealand. Và người ta tính toán rằng nếu như New Zealand trong giai đoạn thứ nhất có Điểm số độc lập của NHTW cao như ngày nay thì mức lạm phát sẽ chỉ là 3,4% thay vì 7,6% như đã tồn tại. Biểu đồ 3 cũng khiến các nhà kinh tế đi đến một sự tổng kết rằng nếu có sự tăng lên trong tính độc lập của NHTW thì mức lạm phát chung trên toàn thế giới sẽ giảm từ 5,6% xuống còn 3,8%. Thực tế, tỷ lệ lạm phát bình quân trên toàn thế giới là 5,6% (giai đoạn 1955-1988) và 2,7% (giai đoạn 1988-2000). Như vậy, với những bằng chứng đưa ra cho thấy rằng đã có một mối quan hệ về mặt nguyên tắc hết sức rõ ràng giữa tính độc lập của một NHTW và mức độ lạm phát trong dài hạn. Một NHTW độc lập là cách thức hữu hiệu nhất để đảm bảo duy trì một mức lạm phát thấp và hợp lý. 3. Tính độc lập của NHNN Việt Nam hiện nay và một số đề xuất 3.1. Tính độc lập của NHNN Việt Nam hiện nay Điều 3 Luật NHNN khẳng định: “Quốc hội quyết định và giám sát việc thực hiện CSTT quốc gia, mức lạm phát dự kiến hằng năm trong mối tương quan với cân đối ngân sách nhà nước và mức tăng trưởng kinh tế.... Chính phủ xây dựng CSTT quốc gia, mức lạm phát dự kiến hằng năm trình Quốc hội quyết định; tổ chức thực hiện CSTT quốc gia; quyết định lượng tiền cung ứng bổ sung cho lưu thông hằng năm, mục đích sử dụng số tiền này và định kỳ báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; quyết định các chính sách cụ thể khác và các giải pháp thực hiện..... ” [5, 9] Điều 4 Luật NHNN quy định: “Chính phủ thành lập Hội đồng tư vấn CSTT quốc gia để tư vấn cho Chính phủ trong việc quyết định những vấn đề thuộc về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ về CSTT. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng tư vấn CSTT quốc gia do Chính phủ quy định.” [5, 10] Như vậy, hiện tại mặc dù được quy định là NHTW của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhưng thẩm quyền của NHNN trong xây dựng và điều hành CSTT còn hạn chế, NHNN có mức độ độc lập thấp và chịu sự can thiệp hành chính toàn diện của Chính phủ. NHNN chỉ là cơ quan xây dựng dự án CSTT Quốc gia để Chính phủ trình Quốc hội quyết định, trên cơ sở đó, NHNN tổ chức thực hiện; việc quyết định lượng tiền bổ sung vào lưu thông hằng năm cũng do Chính phủ quyết định, NHNN có trách nhiệm điều hành trong phạm vị đã được duyệt,… Trong khi chức năng NHTW chưa được khẳng định rõ nét, NHNN lại có trách nhiệm thực hiện nhiều nhiệm vụ

thuộc về chức năng quản lý nhà nước. Ngoài ra, vì là cơ quan của Chính phủ nên có khi NHNN phải thực hiện những nhiệm vụ không phù hợp với mục tiêu của CSTT, chẳng hạn như tái cấp vốn để khoanh, xoá nợ các khoản vay của NHTM Nhà nước... Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của NHNN, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền. 3.2. Một số đề xuất - NHNN phải được quyền quyết định các định hướng, giải pháp trong xây dựng và điều hành CSTT quốc gia cũng như trong việc thực hiện các chức năng khác của NHTW. Tất nhiên, song song với các thẩm quyền được trao, NHNN phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội về kết quả điều hành CSTT và thực hiện các chức năng của NHTW. - Cần tránh khuynh hướng cho rằng, nâng cao vai trò độc lập của NHTW nghĩa là NHTW thoát ly hoàn toàn khỏi Chính phủ. Mục tiêu cuối cùng của CSTT và cũng là mục tiêu hoạt động của NHTW là ổn định giá cả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, cần thiết lập các quy định pháp lý về mối quan hệ giữa NHTW với Chính phủ nhằm bảo đảm hoạt động của NHTW hỗ trợ tốt cho các chương trình kinh tế của Chính phủ: + NHTW tham gia vào việc soạn thảo các chương trình, chính sách kinh tế của Chính phủ và đề đạt ý kiến của mình về các quyết định của Chính phủ; tư vấn cho Chính phủ về những vấn đề quan trọng liên quan đến nhiệm vụ và thẩm quyền của NHTW. + NHTW và các Bộ, Ngành thuộc Chính phủ duy trì cơ chế trao đổi, cung cấp thông tin để theo dõi, nắm bắt kịp thời các diễn biến vĩ mô của nền kinh tế. -Tiến tới thực hiện Chính sách lạm phát mục tiêu. Lạm phát mục tiêu là một trong những khuôn khổ CSTT mà theo đó, NHTW hoặc Chính phủ thông báo một số mục tiêu trung dài hạn về lạm phát và NHTW cam kết đạt được những mục tiêu này. Để làm được điều này, NHNN phải có quyền đặc biệt để theo đuổi mục tiêu lạm phát và tự mình đặt ra các công cụ của CSTT. Bên cạnh đó, dân chúng cũng phải được thông báo về khuôn khổ CSTT và việc thực hiện CSTT. - Tăng cường tính độc lập về mặt tổ chức nhân sự của NHNN. Theo đó, nhiệm kỳ của Ban lãnh đạo NHTW có thể dài hơn nhiệm kỳ của Chính phủ và Quốc hội, hoặc xen kẽ giữa các nhiệm kỳ của Chính phủ. Như vậy, quá trình ra quyết định của NHTW sẽ không bị ảnh hưởng bởi chu kỳ thành lập Chính phủ, chu kỳ lập kế hoạch kinh tế. Thống đốc sẽ bị ảnh hưởng một khi Chính phủ thay đổi nhân sự do hết nhiệm kỳ. - Để đảm bảo tính độc lập về hoạt động, cần có qui định cụ thể về chức năng “Là ngân hàng của Chính phủ” theo hướng NHNN sẽ không cho ngân sách vay trực tiếp. NHNN chỉ cấp tín dụng gián tiếp cho Chính phủ thông qua việc cho ngân sách vay trên thị trường thứ cấp có hạn mức, và lấy trái phiếu Chính phủ làm tài sản đảm bảo khi cho các ngân hàng thương mại vay. Ngân hàng trung ương Hoa Kỳ. Cục dự trữ liên bang (tiếng Anh: Federal Reserve System – Fed) là ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ. Bắt đầu hoạt động năm 1915 theo "Đạo luật Dự trữ Liên bang" của Quốc hội Hoa Kỳ thông qua cuối năm 1913. Cục dự trữ liên bang (viết tắt là Fed) bề ngoài là ngân hàng của chính phủ, bao gồm Hội đồng thống đốc đóng tại thủ đô Washington được chỉ định bởi Tổng thống Hoa Kỳ, Ủy ban thị trường, 12 Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và các ngân hàng thành viên có sở hữu một phần ở các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực. Chủ tịch Hội đồng thống đốc của Fed hiện nay là Ben Bernanke. Các bộ phận của Cục dự trữ liên bang (Fed) có tư cách pháp lý khác nhau. Hội đồng Thống đốc của Fed là cơ quan độc lập của chính phủ liên bang. Hội đồng không nhận tài trợ của Quốc hội và bảy thành viên của Hội đồng theo cơ chế dân chủ. Thành viên của Hội đồng là độc lập và không phải chấp hành yêu cầu của hệ thống lập pháp cũng như hành pháp. Tuy nhiên, Hội đồng phải gửi báo cáo tới Quốc hội theo định kỳ. Theo luật, thành viên của Hội đồng này chỉ rời chức vụ khi mãn hạn. Hội đồng Thống đốc chịu trách nhiệm việc hình thành và cụ thể hóa chính sách tiền tệ. Nó cũng giám sát và quy định hoạt động của 12 Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ nói chung. Các Ngân hàng dự trữ liên bang (Federal Reserve Banks) về danh nghĩa sở hữu bởi các ngân hàng thành viên (mỗi ngân hàng thành viên giữ cổ phần không có khả năng chuyển nhượng). Theo Tòa án tối cao Mỹ, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực không phải là công cụ của chính quyền liên bang, chúng là các ngân hàng độc lập, sở hữu tư nhân và hoạt động theo luật pháp ở địa phương. Phán quyết trên cũng cho rằng, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực có thể được coi là công cụ của chính quyền liên bang theo một số mục đích nhất định. Trong

một phán quyết khác ở tòa án cấp bang, sự khác biệt giữa Hội đồng thống đốc và các Ngân hàng được quy định rõ ràng. Các ngân hàng sở hữu Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực là của tư nhân và rất nhiều trong số đó có cổ phiếu phát hành trên thị trường. Giấy bạc do Fed phát hành là nguồn cung tiền tệ và chúng được đưa vào lưu thông qua các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực. Theo Hội đồng thống đốc, Fed có các nhiệm vụ sau: Thực thi chính sách tiền tệ quốc gia bằng cách tác động các điều kiện tiền tệ và tín dụng với mục đích tối đa việc làm, ổn định giá cả và điều hòa lãi suất dài hạn Giám sát và quy định các tổ chức ngân hàng đảm bảo hệ thống tài chính và ngân hàng quốc gia an toàn, vững vàng và bảo đảm quyền tín dụng của người tiêu dùng Duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống có thể phát sinh trên thị trường tài chính Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức quản lý tài sản có giá trị, các tổ chức chính thức nước ngoài, và chính phủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt trong vận hành hệ thống chi trả quốc gia.

Mô hình nào cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam?
(TuanVietNam) - Trong bối cảnh nước ta hiện nay, vấn đề đặt ra không phải là thay đổi mô hình mà là lựa chọn cấp độ độc lập tự chủ nào cho phù hợp với NHNN? LTS: Thời gian qua, nhiều nhà kinh tế cả trong và ngoài nước đã đưa ra khuyến nghị về cải cách Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về vấn đề này, Tuần Việt Nam xin giới thiệu góc nhìn của CTV Doãn Thái Hưng. Will Rogers - một nhà văn hài hước người Mỹ từng nói: “There have been three great inventions since the beginning of time: fire, the wheel, and central banking” (tạm dịch là: “Có 3 phát minh vĩ đại từ khi bắt đầu sự sống của loài người: lửa, bánh xe và Ngân hàng Trung ương”). Hàm ý sâu xa của câu nói này cho thấy Ngân hàng Trung ương (NHTW) có tầm quan trọng như thế nào trong lịch sử phát triển của loài người. Nếu hệ thống ngân hàng được ví là huyết mạch thì Ngân hàng Trung ương chính là trái tim của nền kinh tế. Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển lành mạnh khi có một NHTW thực hiện tốt chức năng điều tiết hệ thống tiền tệ. Ngược lại, những trục trặc trong hoạt động của NHTW cũng có thể gây ra những cú “đột quỵ” đối với cả nền kinh tế. Vì vậy, ở bất kỳ quốc gia nào, NHTW cũng đều đóng vai trò đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội. Ảnh: Corbis Ở Việt Nam, trước khi hai Pháp lệnh ngân hàng ra đời (5/1990), hệ thống Ngân hàng hoạt động theo mô hình một cấp, tức là NHNN vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước vừa thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng. Sau khi hai Pháp lệnh ngân hàng ra đời, hệ thống Ngân hàng chính thức chuyển sang hoạt động theo mô hình hai cấp; theo đó, lần đầu tiên đối tượng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được luật pháp phân biệt rạch ròi:

điều kiện kinh tế . trên thế giới đã biết đến 3 mô hình NHTW: (1) NHTW độc lập với Chính phủ. NHNN là cơ quan trực thuộc Chính phủ và Thống đốc là thành viên Chính phủ. tuy nhiên.vn Trước tình hình đó. Theo đó. Sự lựa chọn này không hoàn toàn nằm trong ý muốn chủ quan mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử. Tháng 12/1997. Liên quan đến việc lựa chọn mô hình NHTW. Tuy nhiên.Các hoạt động kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ. những mặt hạn chế của ngành ngân hàng nói chung và của NHNN nói riêng là điều khó tránh khỏi.. ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. tác giả không có tham vọng đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi trên mà chỉ xin đề cập đến một khía cạnh liên quan. thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng Trung ương . nhiều chuyên gia kinh tế nhất trí rằng không có mô hình NHTW nào là lý tưởng cho mọi quốc gia. Tuy nhiên. Từ đó đến nay. việc nâng cao tính độc lập của NHNN là hết sức cần thiết. lấy nhiệm vụ giữ ổn định giá trị đồng tiền làm mục tiêu chủ yếu và chi phối căn bản các chính sách điều hành cụ thể đối với hệ thống các ngân hàng cấp 2.xã hội và hệ thống luật pháp của nước ta. Thời gian qua. tác giả cho rằng trong thời điểm hiện nay cũng như trong nhiều năm tới. ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện. điều này là đúng. và (3) NHTW thuộc Bộ Tài chính. Ảnh:hanoi. đặc thù kinh tế . tín dụng. thanh toán.vnn. Ở nước ta. Về mặt lý thuyết. Nhận thức được tầm quan trọng của việc cải cách NHNN. một số ý kiến cho rằng chúng ta nên lựa chọn mô hình NHTW độc lập với lý do cơ bản được đưa ra là NHTW càng độc lập thì mục tiêu duy trì tỷ lệ lạm phát thấp càng dễ thực hiện. là ngân hàng phát hành tiền. thanh toán. Ảnh: taichinh24h . Điều đó có nghĩa rằng mỗi một quốc gia có thể vận dụng một mô hình NHTW khác nhau phù hợp với điều kiện thực tiễn của mình. tín dụng. NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. để tăng cường hiệu quả hoạt động của NHNN với tư cách là một NHTW trong nền kinh tế thị trường. đó là: Mô hình nào cho NHNN Việt Nam? Đến nay.là ngân hàng duy nhất được phát hành tiền và là ngân hàng của các ngân hàng.NHNN thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ.xã hội và thể chế chính trị của từng nước. Đảng và Chính phủ đã xác định rõ: “Tổ chức lại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với cơ cấu và tính chất hoạt động như một Ngân hàng Trung ương hiện đại. Không chỉ ở Việt Nam. . hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng XHCN” Ngân hàng nhà nước Việt Nam. mô hình NHNN là một cơ quan thuộc Chính phủ như hiện nay vẫn phù hợp nhất với thể chế chính trị. ngành Ngân hàng nói chung và NHNN Việt Nam nói riêng đã có những bước tiến khá dài trên con đường phát triển. ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do các định chế tài chính. NHNN là cơ quan của Chính phủ và là NHTW của nước CHXHCN Việt Nam. ngoại hối và ngân hàng. Trong khuôn khổ của bài viết này. ngay cả ở các nước trên thế giới cũng chưa có một định nghĩa chính thống nào về NHTW hiện đại. NHNN là cơ quan tổ chức việc điều hành chính sách tiền tệ. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra đời và có hiệu lực thi hành từ 1/10/1998. (2) NHTW là một cơ quan thuộc Chính phủ. một vấn đề lớn được đặt ra: Thế nào là một NHTW hiện đại? Câu hỏi tưởng chừng như rất đơn giản này cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. khi bàn đến vấn đề cải cách NHNN. trong bối cảnh kinh tế thế giới cũng như trong nước có nhiều biến động khó lường.

năng lực thống kê. độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động: Với mô hình này. vấn đề đặt ra không phải là thay đổi mô hình mà là lựa chọn cấp độ độc lập tự chủ nào cho phù hợp với NHNN? Theo một nghiên cứu được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố vào tháng 12/2004.Thứ ba. trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống tài chính nói riêng đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ. mức độ tự chủ này là không phù hợp với NHNN ít nhất là trong thời gian trung hạn. và (iv) Độc lập tự chủ hạn chế.Nâng cao tính độc lập không có nghĩa là phải tách NHNN ra khỏi bộ máy Chính phủ. độc lập tự chủ trong thiết lập chỉ tiêu hoạt động: Ở cấp độ này này.…). Vì vậy. .Thứ hai.tài chính đã trở nên ổn định hơn. NHTW có trách . nhất là trong giai đoạn thực thi CSTT thắt chặt. NHTW cũng được trao trách nhiệm quyết định CSTT và chế độ tỷ giá nhưng khác với cấp độ độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động ở chỗ một mục tiêu hoạt động chủ yếu của NHTW được quy định cụ thể trong Luật. NHTW có trách nhiệm quyết định chính sách tiền tệ (CSTT).vn Ảnh: Corbis Vả lại.tài chính là rất khó khăn. Với cấp độ độc lập tự chủ này. Ảnh: saga. vì nó đòi hỏi NHTW phải có uy tín cao và năng lực thực thi rất tốt thì mới có thể biến mục tiêu hành hiện thực. (iii) Độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành. ví dụ như mục tiêu hoạt động hàng đầu của NHTW Châu Âu (ECB) là “duy trì sự ổn định giá cả”. Vấn đề là cần phải trao thêm quyền cho Thống đốc. chế độ tỷ giá (nếu không theo chế độ thả nổi tỷ giá) và có quyền quyết định mục tiêu hoạt động chủ yếu trong số các mục tiêu đã được pháp luật quy định. độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành: Với mô hình này. . cấp độ độc lập này có thể được cân nhắc. cấp độ độc lập tự chủ này cũng đòi hỏi NHTW có khả năng dự báo chuẩn xác trên cơ sở các thống kê kinh tế. Tuy nhiên. vì chỉ có như vậy thì NHTW mới có thể thực hiện được mục tiêu đề ra. Đây là cấp độ độc lập tự chủ cao nhất mà một NHTW có thể đạt được mà ví dụ điển hình là Hệ thống Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). về cơ bản. cụ thể là: . Khi quyết định được thông qua. Như vậy. năng lực thống kê và dự báo của chúng ta hiện vẫn còn rất hạn chế.tài chính. đây cũng chính là cấp độ độc lập tự chủ khó vận dụng nhất. Để góp phần làm sáng tỏ phần nào vấn đề đặt ra. xem xét khi điều kiện cho phép (các biến số kinh tế. Ngoài các lý do về trình độ phát kinh tế. dự báo được cải thiện. Chính phủ hoặc Quốc hội quyết định chỉ tiêu CSTT sau khi thảo luận. việc dự báo dựa trên các biến số kinh tế. thỏa thuận với NHTW. trong tương lai. việc thay đổi mục tiêu duy nhất đòi hỏi phải sửa đổi Luật NHTW. Tuy nhiên.Thứ nhất. tương tự như lý do vừa nêu ở trên. (ii) Độc lập tự chủ trong thiết lập chỉ tiêu hoạt động. tính đặc thù về thể chế chính trị và hệ thống pháp luật. trong bối cảnh nước ta hiện nay. các NHTW trên thế giới được phân thành 4 cấp độ độc lập tự chủ gồm: (i) Độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động. người đứng đầu NHNN trong việc chủ động điều hành các công cụ chính sách tiền tệ. chúng ta hãy cùng phân tích từng cấp độ độc lập tự chủ nói trên và đối chiếu với điều kiện thực tế ở Việt Nam để có thể rút ra kết luận hợp lý. Bên cạnh đó. Hơn nữa. cấp độ độc lập tự chủ này cũng tỏ ra không phù hợp với NHNN trong giai đoạn trước mắt.

Nói cách khác. NHNN Việt Nam cần được trao quyền độc lập. cũng cần trao cho NHNN quyền chủ động quyết định về tài chính. Một số công trình nghiên cứu khác nhau cũng đã đi đến kết luận rằng những nước mà NHTW có mức độ độc lập tự chủ cao thường có tỷ lệ phạm phát thấp (Eijffinger & De Haan. bất cập. đặc biệt là trong bối cảnh việc điều hành CSTT ở nước ta đã từng bước được đổi mới theo nguyên tắc thị trường. . Tiêu biểu cho cấp độ độc lập tự chủ này là Ngân hàng Dự trữ New Zealand (The Reserve Bank of New Zealand) và Ngân hàng Canada (The Bank of Canada). 1996). Hơn nữa. hạn chế việc tài trợ trực tiếp cho thâm hụt ngân sách của Chính phủ. các nghiên cứu về NHTW thường nghiêng về ý kiến cho rằng nên giao việc xây dựng. Doãn Thái Hưng WB: Không thể quay lại chế độ tiền tệ bản vị vàng Thu. nhiệm vụ một cách có hiệu quả nhất. tự chủ hơn trong việc đưa ra các quyết định chính sách mà không có sự can thiệp từ phía các cơ quan nhà nước hay các áp lực chính trị. 27/01/2011 . Như vậy. Bên cạnh đó. mức độ độc lập tự chủ này cho phép dung hòa giữa mục tiêu của CSTT với các mục tiêu của chính sách kinh tế trong một giai đoạn nhất định. Tất nhiên. Thay vào đó. Nói chung. Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của NHTW. . Đây chính là trường hợp của NHNN Việt Nam hiện nay và trên thực tế thì mức độ độc lập tự chủ này đã bắt đầu bộc lộ những mặt hạn chế. thế giới không thể quay lại chế độ tiền tệ bản vị vàng. dần loại bỏ các công cụ trực tiếp và sử dụng các cụng cụ gián tiếp. NHTW được trao đủ thẩm quyền để lựa chọn các công cụ điều hành một cách linh hoạt và phù hợp nhất nhằm đạt được các chỉ tiêu đã được thỏa thuận giữa Chính phủ/Quốc hội với NHTW. Có như vậy thì NHNN mới có đủ nguồn lực để thực thi chức năng.nhiệm hoàn thành chỉ tiêu trên cơ sở được trao đủ thẩm quyền cần thiết để có thể toàn quyền lựa chọn những công cụ điều hành CSTT phù hợp nhất. tác giả cho rằng trong thời gian trước mắt. những lập luận nói trên.Thứ tư. Việc thiếu tôn trọng pháp luật ở một số nước là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng NHTW độc lập về mặt hình thức không có khả năng kiểm soát lạm phát và thực thi các chức năng một cách có hiệu quả. quyết định và thực thi CSTT cho một NHTW chuyên sâu. theo quan điểm của tác giả. chúng ta không nên đặt vấn đề lựa mô hình NHTW độc lập với Chính phủ. Điều đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của các tác động về mặt chính sách cũng như uy tín của các nhà hoạch định chính sách. độc lập và kiên định với mục tiêu hàng đầu là duy trì sự ổn định giá cả. độc lập tự chủ hạn chế: Là cấp độ độc lập tự chủ thấp nhất. nhiệm vụ và mục tiêu đề ra. nhất là về vấn đề chống lạm phát.07:38 Bất chấp những bất ổn tài chính tiền tệ hiện nay do hậu quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. tức là tự chủ về ngân sách. theo đó Chính phủ là nơi quyết định chính sách (cả về mục tiêu lẫn chỉ tiêu hoạt động) cũng như can thiệp vào quá trình triển khai thực thi CSTT. đồng thời được quyền kiểm soát tất cả các công cụ có ảnh hưởng tới các mục tiêu của CSTT. nhất là trong việc thực hiện mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền. cấp độ “Độc lập tự chủ trong lựa chọn công cụ điều hành” tỏ ra phù hợp nhất với NHNN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cũng như trong nhiều năm tới. tính độc lập của NHTW cần được xây dựng trên cơ sở các quy định pháp lý liên quan. để đảm bảo thực hiện tốt các chức năng.

buôn bán tự do và đồng tiền mạnh. v. trong đó Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đóng vai trò trọng tài. giữa các nước khác nhau về giai đoạn phát triển và phục hồi kinh tế. tỷ giá quy đổi. có thể tạo ra cơ hội cùng thắng trong khi làm dịu các căng thẳng tiền tệ quốc tế hiện nay. Dưới chế độ bản vị vàng. Zoellick đã khẳng định như vậy. Tuy nhiên.) ./ Bản vị vàng Bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà phương tiện tính toán kinh tế tiêu chuẩn được ấn định bằng hàm lượng vàng. Robert B. trong đó tái cân bằng nhu cầu giữa các nguồn trong nước và buôn bán. Vàng luôn được coi là tài sản tiền tệ thay thế vì người giữ các đồng tiền bản tệ ở tất cả các nước thường lo ngại triển vọng không ổn định của các đồng tiền này.v. trong đó mặc dù đồng USD vẫn giữ vai trò chi phối nhưng không còn vị trí độc tôn. Các chính phủ sử dụng thước đo giá trị cố định này nếu chấp nhận thanh toán cả tiền mặt của chính phủ nước khác bằng vàng sẽ có liên hệ tiền tệ ấn định (lượng tiền mặt lưu hành.. áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định được xây dựng quanh đồng USD gắn với vàng). tổ chức phát hành tiền mặt (ở dạng giấy bạc hay tiền xu) cam kết sẵn sàng nhận lại tiền mặt và trả vàng nếu được yêu cầu. thế giới có thể "có căng thẳng" vì các quan hệ tiền tệ là nguồn trung gian chủ yếu giữa những biến đổi xây dựng tiến tới một nền kinh tế toàn cầu đa cực mới. Hệ thống tiền tệ mới này cần các tiêu chuẩn tiền tệ và vai trò kinh tế rộng lớn hơn. Giải pháp cho lo ngại này đối với các nền kinh tế lớn là thúc đẩy các chính sách tăng trưởng kinh tế bền vững dựa trên cải tổ cơ cấu. thậm chí khi phải đối phó với những biến đổi tiền tệ lớn. Tuy nhiên. định hướng này không đồng nghĩa với chế độ bản vị vàng hoặc quay trở lại chế độ này hay hệ thống Bretton Woods (tồn tại từ năm 1944 đến 1971. trong đó. Chủ tịch WB lưu ý rằng tăng trưởng bền vững.Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Thế giới (WB). còn vàng có thể trở thành công cụ truyền tin chứ không phải công cụ hành động để đánh giá lòng tin của các thị trường về các chính sách căn bản về tiền tệ và tăng trưởng. Ông Zoellick nhấn mạnh. Nền kinh tế quốc tế đa cực có thể thúc đẩy nhiều đồng tiền dự trữ quốc tế. Đối với các nền kinh tế lớn trong nền kinh tế quốc tế đa cực. cần tiến tới chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt và các chính sách tiền tệ tự chủ. các vấn đề tiền tệ không được làm chệch hướng khỏi những thách thức căn bản là tái cân bằng các nhu cầu toàn cầu và tạo ra những cơ hội mới để phát triển.

đảm bảo sự tín nhiệm của tổ chức phát hành tiền tệ và khuyến khích hoạt động cho vay.2. nhận trợ cấp. bên cạnh đó. Những thuộc tính cần phải có để một dạng vật chất trở thành dạng cơ bản của tiền là • • • • Dễ phân biệt Bền vững Ổn định vể lượng sẵn có Giá trị nội tại không bị biến động. bao gồm cả những thứ tưởng như không thể như vỏ ốc. thẩm định nhờ màu đặc trưng. Ngày nay. thanh toán của Chính phủ bằng đồng tiền đó. Ngoài vàng ra. Không như chế độ tiền luật định (không có vàng bảo đảm). Lượng vàng mà con người có được không thay đổi đột biến trong nhiều thế kỷ. yêu cầu nộp thuế. độ dẻo. không một quốc gia nào trên thế giới còn áp dụng bản vị vàng. đồng tiền được bảo đảm bằng vàng sẽ không cho phép chính phủ tùy tiện in tiền giấy. Nhu cầu vàng cho mục đích khác chỉ là trang sức. tiền luật định được áp dụng. Ví dụ là sự hoang mang ở Hoa Kỳ năm 1819 sau khi Ngân hàng quốc gia thứ hai ra đời năm 1816. Hai ứng dụng còn lại chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với lượng vàng được tàng trữ dưới dạng thỏi. Vàng đáp ứng tất cả các yêu cầu trên và có thể nói rằng nó là dạng vật chất duy nhất trên thế giới đáp ứng được.nó đã được chọn từ xa xưa là một dạng tiền và vật cất trữ của cải. không bị biến đổi theo thời gian. Ở một số định chế tài chính tư nhân. bản vị vàng vẫn được áp dụng. răng giả và đồ điện tử mà thôi. âm thanh khi va chạm. nén. nhu cầu vàng trong lĩnh vực nha khoa đang giảm xuống nhờ việc sử dụng các vật liệu trông giống răng thật. Việc sử dụng vàng làm đồ trang sức và các vật trang trí khác có thể coi là cùng chức năng lưu trữ giá trị bởi thuộc tính thẩm mĩ của nó. trải qua các cuộc khủng hoảng tín dụng và trì trệ kinh tế. lá cây thuốc lá. dễ dàng phân biệt. vàng là một vật phẩm mà các nhà buôn lựa chọn làm thước đo giá trị .2.1 Sự ổn định nhờ bản vị vàng  3.2 Mô hình Mundell-Fleming 4 Vàng với vai trò dự trữ ngày nay 5 Ghi chú [sửa] Tại sao lại là vàng? Vàng được lựa chọn bởi sự tinh khiết. Mục lục [ẩn] • • • • • 1 Tại sao lại là vàng? 2 Tiền xu cổ đại 3 Lý luận o 3. Đã có rất nhiều vật phẩm được sử dụng làm tiền.Những người ủng hộ chế độ bản vị vàng cho rằng hệ thống này đề kháng được sự bành trướng tín dụng và nợ nần. Phần lớn vàng được tàng cất trong kho. có nghĩa là Nhà nước áp đặt sử dụng đồng tiền do họ phát hành. lượng vàng bổ sung nhờ khai mỏ là nhỏ và dự tính được. . Thay vào đó. khối lượng riêng lớn. két ở dạng “chức năng” của nó là vật lưu trữ giá trị. Cản trở này ngăn hiện tượng lạm phát do đánh tụt giá tiền tệ. bất kỳ vật phẩm nào khác đều có thể biến đổi giá trị khi cung và cầu thay đổi. quỹ.2 Tác động của tiền tệ được đảm bảo bằng vàng  3.1 Các định nghĩa khác nhau về bản vị vàng o 3. Ở những nước không áp dụng bản vị vàng một cách triệt để như tuyên bố bảo đảm hàm lượng vàng nhưng phát hành tiền giấy nhiều hơn. Nó được tin rằng giúp loại bỏ được sự bất ổn hệ thống tiền tệ.

Vàng được sử dụng là vật mang giá trị cao nhất.35 g/cm³) là nặng hơn vàng.45 g/cm³). Ở thành Babylon cổ đại. như đồng 20 pê-xô của Mexico phát hành năm 2006. [sửa] Tiền xu cổ đại Kim loại đầu tiên được sử dụng làm tiền là bạc hơn 4. vật chất khác. và đáng kể nhất là trong thế kỷ 19. khi những miếng bạc được sử dụng trong buôn bán. khác nhau theo thời gian và địa điểm. giạ lúa mì (36 lít) đã được sử dụng làm đơn vị tính toán với khối lượng vàng tương ứng được sử dụng làm vật mang giá trị. đặc biệt là những rủi ro trên những hành trình dài. giá trị cao của vàng nhờ đẹp. Tiền tệ được đảm bảo bằng kim loại quý đôi khi được gọi là tiền biểu hiện. Tổng lượng vàng mà con người đã khai thác cho đến nay thật ít một cách kinh ngạc – khoảng 125 ngàn tấn. Con số này còn ít hơn lượng tiền mặt lưu thông tại Mỹ. Khối lượng riêng lớn của vàng (19. Thế nhưng chúng đều đắt hơn vàng còn volfram thì giá gần bằng vàng. giá trị toàn bộ dự trữ vàng của thế giới là chừng 2. Nếu toàn bộ số vàng đó được xếp ở một chỗ thì chỉ một nhà thi đấu bóng rổ đủ chứa toàn bộ (cao 9 m. một cách gọi để phân biệt nó với các dạng khác của tiền giấy. Trên thực tế. nó vẫn được lưu thông ở dạng tiền xu có hai kim loại. Trong số các kim loại tương đối phổ biến thì chỉ có osmium (22. tinh khiết. và là phương tiện thanh toán chỉ khi cần phải gọn nhẹ như việc thanh toán cho quân đội. trước thời điểm đó khá lâu.4 g/cm³). Những hệ thống tiền tệ cổ xưa dựa trên lương thực sử dụng vàng để biểu hiện giá trị. Trong một số thời điểm. Khi được sử dụng thay mặt vàng trong hệ thống tiền tệ. dài 36 m). bạch kim (21. trong phần lớn lịch sử xã hội loài người. trong các xã hội. luôn ổn định. Ngày nay. bên cạnh đó còn bởi các nước muốn sự giao thương phải đặt dưới sự kiểm soát của họ. đó là thời kỳ hoàng kim của đạo Hồi (năm 662 đến 1258). là phương tiện duy trì khả năng thanh khoản và thực hiện chức năng bảo toàn giá trị. Có một số kim loại nặng hơn vàng.000 năm trước. Giá vàng hiện nay khoảng US$640 một ounce tức là khoảng 20. . chức năng của tiền giấy là nhằm giảm nguy hiểm có thể xảy ra khi vận chuyển vàng. rộng 18 m.6 g/cm³). không bị ăn mòn. Sự xuất hiện tiền giấy ban đầu chỉ thuần túy bởi sự thiếu tin cậy khi vận chuyển vàng. Vàng duy trì vai trò là kim loại của kế toán lưu trữ tiền tệ cho đến khi hệ thống tiền tệ Bretton Woods sụp đổ năm 1971. volfram (19. Tuy vậy các nhà sử học tin rằng. vàng cũng như bạc đã được sử dụng làm vật lưu trữ của cải và cơ sở cho các giao kèo buôn bán ở Akkadia (một thành phố Tiểu Á) và sau đó là Ai Cập Cổ đại. vàng thay thế bạc trong vai trò đơn vị cơ sở cho thương mại quốc tế. giảm khả năng làm xấu những đồng xu vàng và tránh việc rút dần phương tiện thanh toán ra khỏi lưu thông như đầu cơ hay hao mòn. thời kỳ đỉnh cao của các thành quốc buôn bán Italia trong thời Phục hưng. nếu người ta muốn quay lại bản vị vàng thì hoặc là vàng phải lên giá rất nhiều (vài chục đến vài trăm lần) hoặc chỉ đảm bảo một phần nhỏ giá trị tổng số tiền mặt lưu hành. Hợp kim của vàng và volfram thì khó chế tạo và không hiệu quả. Tuy vậy.000 đôla Mỹ một kg. Những đồng xu bằng vàng đầu tiên được dùng bắt đầu từ 600 năm trước Công nguyên (TCN). Và giấy bạc được phát hành theo cách này gọi là chứng chỉ tiền tệ.Quá trình đi đến chọn vàng làm tiền. iridium (22. Cho đến nay.5 nghìn tỷ đôla Mỹ. Do đó.3 g/cm³) có nghĩa là những thủ đoạn pha vàng với các kim loại khác để có thêm khối lượng đều bị dễ dàng phát hiện (câu chuyện “Eureka” nổi tiếng của nhà bác học Ác-si-mét). và dễ nhận ra đã đưa nó trở thành vật bảo toàn giá trị và thước đo giá trị của các dạng hàng hóa. bạc mới là phương tiện lưu thông chủ yếu và là kim loại quan trọng đóng vai trò tiền tệ. Nghiệp vụ ngân hàng (banking) bắt đầu xuất hiện khi vàng ký gửi tại ngân hàng có thể được chuyển từ một tài khoản sang tài khoản khác trực tiếp hoặc cho vay lấy lãi suất. nó vẫn là đối tượng dự trữ quan trọng ở các ngân hàng trung ương và chính phủ. Bạc vẫn là kim loại tiền phổ biến nhất trong các giao dịch thông thường cho đến thế kỷ 20.

Sau đó.4 gram trong đó có 4. Đồng dinar bằng vàng và đồng dirham bằng bạc đều có nguồn gốc từ người Ba Tư (Persian). khu vực Caribe lựa chọn vàng là tiền tệ lưu hành nhờ lượng vàng dồi dào của nó. hàm lượng. Các đối tác thương mại sẽ mang lại lợi ích to lớn . Đồng dinar được phát hành bởi Để chế Ả rập. vào khoảng năm 1030 giảm dần hàm lượng vàng trong tiền xu của nó cho đến khi tiền xu trong lưu thông chỉ còn 15% vàng. Đồng doblion ban đầu được ấn định nặng 27.một thành quốc Italia tồn tại từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 18) phát hành đồng tiền vàng đầu tiên của nó. những vị vua đạo Hồi cũng chọn đồng tiền này làm tiền của vương quốc. Thế lực và thương mại lớn mạnh của đạo Hồi đưa đồng dinar trở thành đồng tiền thống trị từ bờ biển phía tây Châu Phi cho đến bắc Ấn Độ tới tận những năm 1200. đã là đồng tiền tiêu chuẩn để các đồng tiền khác quy đổi. Sau sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã và các mỏ vàng ở Châu Âu đã cạn kiệt. Các đồng xu các là đồng florin. Đồng tiền xu mới này có khối lượng và độ tinh khiết như đồng xu cũ và vẫn được coi là đồng solidi. Tây Ban Nha vốn chỉ có nhiều bạc. khối lượng và dù dưới nhiều tên khác như dinar. nặng 7 gram hợp kim vàng-bạc. Năm 1704. việc này càng củng cố sự quan trọng của vàng. đồng đôla dựa trên nguồn bạc của Tây Ban Nha và thị trường tiền tệ Philadelphia bắt đầu giao dịch bằng đồng tiền thuộc địa Tây Ban Nha. Đế chế La Mã đúc hai loại tiền xu quan trọng. grosh. Từ cuối thế kỷ thứ 7. và đồng “doblión” (tương đương 8 escudo). vàng đã trở nên đồng nghĩa với việc chi dùng cho các chiến dịch quân sự. và đồng solidus. zloty và guinea cũng được phát hành thời gian này ở các quốc gia Châu Âu khác nhằm tạo điều kiện mở rộng thương mại. theo hình mẫu của đồng tiền solidus La Mã. đồng ducat. sự không thống nhất giữa các loại tiền cũng như những giới hạn có thể trong tương lai. nhờ vai trò ưu việt hơn hẳn trong giao thương với thế giới đạo Hồi và khả năng xây dựng quỹ dự trữ vàng mới. Đế quốc Đông La Mã (còn gọi là Đế quốc Byzantine) đúc đồng tiền nimisma hay bezant để kế thừa đồng solidus. hàm lượng vàng. Đồng ducat. sau đó. quy định chuẩn mực của đồng tiền phải nói về Thượng Đế (Allah) và ấn định tỷ lệ vàng-bạc.68 gram vàng 22 carat (92%) và có giá trị gấp 16 lần lượng bạc tương đương. từ khi bắt đầu chinh phục đế chế Aztec và Inca của người da đỏ.Đế chế Ba Tư thu thuế bằng vàng. có cùng kích thước. Đơn vị tiền bằng vàng cơ bản của Tây Ban Nha là đồng escudo. Đế quốc Byzantine. Việc lưu hành tiền xu của Tây Ban Nha tạo ra đơn vị đo giá trị của Hoa Kỳ. khối lượng. đồng solidus bắt đầu suy yếu. Các xưởng đúc tiền La Mã tích cực một cách xuất sắc người La Mã đúc và lưu hành hàng triệu đồng xu tiền trong thời gian nền Cộng hòa và thời gian Đế chế. Ông bỏ những hình vẽ trên đồng xu. Vậy là đồng solidus. và khi đế chế này bị Alexander Đại Đế chinh phục. Năm 1284. đã trở thành đơn vị tính toán giá trị trong hơn 1. Đồng tiền trở thành chuẩn mực của tiền xu Châu Âu cho 600 năm tiếp theo. Vàng được dùng để trả lương cho quân đội và thưởng cho lính đánh thuê. đồng dinar dần trở thành đồng tiền của thương mại quốc tế. Dinar và solidus của Đế quốc Đông La Mã cùng tồn tại trong lưu thông trong 350 năm. noble. bezant. nặng 4. số vàng được đúc thành tiền của đế quốc do ông đứng đầu.300 năm qua ba đế chế hùng mạnh. Cộng hòa Venice (còn có tên Serenissima . [sửa] Lý luận Những điểm cơ bản của lý luận bản vị vàng nằm ở lý luận theo David Hume rằng lạm phát là do lượng tiền mặt tăng lên và sự bất trắc của sức mua tiền tệ trong tương lai o bế lòng tự tin của doanh nghiệp và dẫn đến thương mại và đầu tư giảm sút. Thật đáng tiếc. thậm chí Abd al-Malik (trị vì 685-705) cải cách đồng tiền đến mức mà người ta nghĩ rằng đồng dinar và dirham có xuất xứ từ đây. Điều này thể hiện sự mất mát giá trị khủng khiếp của đồng tiền này so với những đồng tiền xu thời La Mã vốn có hàm lượng vàng từ 95% đến 98%. và nó vẫn là đồng tiền chủ chốt trong hàng mấy trăm năm sau đó. đã tiếp cận được nguồn vàng mới để đúc tiền. Luận điểm trung tâm của bản vị vàng là nó xóa đi sự bất trắc. Như được nói đến trong tác phẩm “Hoàng tử” (The Prince) của Niccolo Machiavelli hai ngàn năm sau đó thì.2 gram vàng. đó là đồng aureus. Ở Châu Mỹ. với những đặc điểm của như kích thước.

nó can thiệp vào thị trường vốn vận hành hoàn hảo và hạn chế tự do cá nhân. khi lượng vàng đổi được của tờ tiền giấy đó biến động có nghĩa là tờ tiền giấy trở thành tiền luật định và sẽ thường xuyên giảm nội dung vàng. Ví dụ của nó là những đồng đôla do chính phủ Liên bang phát hành trong Nội chiến Hoa Kỳ và tiền giấy của Áo trong thời kỳ Chiến tranh Napoleon. sẽ có một lượng tiền mặt không được đảm bảo bằng vàng. Dưới chế độ bản vị vàng Bretton Woods. tiền lại được bảo đảm bằng vàng – tức là trở lại hệ thống tiền tệ kim bản vị. Những người cổ súy cho bản vị vàng tin rằng chính phủ là có hại cho nền kinh tế. tiền giấy giống như một tờ séc cho phép người cầm giữ nó quyền sở hữu một lượng vàng nhất định đang được quản lý bởi người phát hành tờ tiền đó. khi tỷ giá tiền tệ dâng lên hay tụt xuống quanh ngưỡng đúc tiền (fixed mint rate) và chênh lệch tỷ giá này lớn hơn chi phí vận chuyển vàng giữa các nơi chênh lệch thì một lượng vàng lớn sẽ được luân chuyển cho đến khi tỷ giá trở về với ngưỡng chính thức là ngưỡng đúc tiền Các chế độ bản vị vàng quốc tế đều giới hạn số tiền mà các thực thể trong đó có quyền quy đổi lấy vàng. Hệ thống bản vị vàng quốc tế có thể tồn tại mà không có chế độ bản vị vàng ở bất kỳ quốc gia nào. nó biến động liên tục cùng với mức độ hoạt động thương mại. lượng tiền vừa đủ (có nghĩa là không gây lạm phát và cũng không giảm phát) không phải là cố định. tiền xu vàng lưu thông như tiền và tiền giấy được đổi ra vàng trực tiếp theo giá thị trường (chính phủ không thể bắt buộc). Trong lý luận bản vị vàng. Đây là trường hợp chính phủ phát hành tiền không có vàng đảm bảo trong chiến tranh. Sau thời gian chiến tranh. Thứ hai. đó là chế độ bản vị vàng đầy đủ. [sửa] Các định nghĩa khác nhau về bản vị vàng Nếu cơ quan quản lý tiền tệ giữ đủ vàng tương ứng với toàn bộ lượng tiền lưu thông. sự hạn chế tài chính và tiền tệ mà chính phủ phải tuân thủ là trung tâm của những lợi ích giành được. Những người ủng hộ chế độ bản vị vàng chỉ ra rằng chế độ tiền luật định trước sau gì đều dẫn đến lạm phát do sự điều hành kém cỏi hoặc bởi chính phủ cứ in tiền ra để bù đắp thâm hụt ngân sách. ví dụ những người ủng hộ kinh tế học trọng cung lại lý luận rằng cứ khi nào mà vàng còn được sử dụng làm phương tiện đo giá trị kinh tế thì khi đó là chế độ bản vị vàng. Tín dụng bởi các tổ chức ngân hàng dưới chế độ bản vị vàng đe dọa khả năng chuyển đổi của giấy bạc do họ phát hành và . Chế độ bản vị vàng đầy đủ không thể vận hành được bởi hai lý do: • • Thứ nhất. Những người khác. số tiền này gọi là “quyền rút vốn đặc biệt” (Special Drawing Rights – SDRs). Một số người tin rằng không có một chế độ bản vị vàng nào khác ngoài chế độ bản vị đầy đủ. [sửa] Tác động của tiền tệ được đảm bảo bằng vàng Sự cam kết duy trì khả năng chuyển đổi tiền ra vàng một cách chặt chẽ hạn chế quá trình tạo ra tín dụng. Tuy nhiên. Trong một quốc gia theo chế độ bản vị vàng. Bởi vì trong một chế độ bản vị vàng một phần (tức là không giữ đủ 100% vàng). lượng vàng trên thế giới là quá nhỏ so với lượng tiền cần thiết để duy trì hoạt động kinh tế toàn cầu. khi đó vàng hoặc tiền tệ (đổi ra vàng ở tỷ giá cố định) được sử dụng là phương tiện thanh toán quốc tế. Ở chế độ này. bằng sự đáng tin cậy của tín dụng cung cấp cho nhau và bằng sự vững vàng của thị trường hàng hóa.cho một nền kinh tế bằng cách mở rộng thị trường của hàng hóa đó. nó có thể do cơ quan quản lý tiền tệ muốn thu hồi chi phí phát hành tiền (thuế đúc tiền) và vì thế gây ra lạm phát (bản vị vàng đầy đủ không có lạm phát).

Việc xem xét tình huống lý thuyết vàng trở lại là cơ sở giá trị dẫn đến một câu hỏi là sự tín nhiệm của ngân hàng trung ương ra sao trong một cơ chế không dựa trên kim loại quý. Bản vị vàng tạo ra sự vững chắc của thương mại quốc tế do nó cung cấp một cơ cấu cố định tỷ giá tiền tệ. Một lý do khiến đa số các nhà kinh tế học vĩ mô hiện nay không ủng hộ sự trở lại của bản vị vàng là mối quan ngại hai yếu tố trên không đủ để đối phó với suy thoái hoặc giảm phát lớn. Dẫu cho những phần thưởng lớn sẵn sàng trao cho ai giải được những câu hỏi trên. bản vị vàng giới hạn quyền năng của chính phủ trong việc tạo ra lạm phát bằng cách bơm thêm tiền giấy vào lưu thông. vàng sẽ chảy về các nước có nền kinh tế hiệu quả nhất. Sau các chế độ bản vị bạc mất giá liên tục của mười năm đầu thế kỷ 18. mô hình Mundell-Fleming diễn tả động thái của các đồng tiền trong chế độ bản vị vàng. chứ không phải giá của tư bản. thì kỷ nguyên bản vị vàng của thế kỷ 19 và thế kỷ 20 vẫn là một giai đoạn mà cơ sở khác hẳn với cái cách hệ thống tiền tệ thả nổi ngày nay được đo đếm. giảm giá đầu vào hoặc do cạnh tranh. khi giá một loại hàng hóa giảm xuống nhờ cung tăng vọt. mặc dầu vậy. điều này sẽ cho phép ngân hàng trung ương một phạm vi tự do đủ để giảm thiểu tác động tiêu cực của chu kỳ kinh tế. người ta tin rằng các thị trường luôn luôn vận hành rạch ròi (xem nguyên lý Say). xác định giá trị. người tiêu dùng ở các nước khác sẽ mua hàng hóa được định giá thấp nhất và vì thế. tăng hiệu quả vốn. điều này lại không diễn ra mà tiền lương (giá của lao động). Tuy nhiên. quốc gia mới nhận luồng vàng đến phải tăng cung tiền tệ và chịu áp lực lạm phát vừa phải để bù lại việc giảm giá trước đó. Lúc đó. chừng nào còn duy trì bản vị vàng thì chừng đó hạn chế được lạm phát cao hoặc giảm phát ngoài tầm kiểm soát. Tuy nhiên. có bằng chứng cho thấy trước Thế chiến thứ nhất. Kết quả của việc đánh mất sự tự tin làm cho [sửa] Sự ổn định nhờ bản vị vàng Theo lý thuyết. Bởi sự ổn định tỷ giá tiền-vàng.dẫn đến hậu quả là vàng bị rút ra khỏi các quỹ dự trữ của ngân hàng đó ngoài ý muốn. Các ngân hàng trung ương. Milton Friedman không thống nhất ở điểm này. những yếu tố tự do còn lại để điều tiết thị trường vốntiền tệ là (1) tự do di chuyển luồng vốn và (2) chính sách tài chính. Nó sẽ giảm tỷ lệ lãi suất ở pha suy thoái và tăng trở lại để kiềm chế tăng trưởng nóng. Đồng thời. có nghĩa là giá của vốn giảm và cho phép tăng trưởng nhanh hơn đồng thời giá cả về mặt dài hạn vẫn ổn định. mục đích cho thương mại. Do giá trị tiền tệ được gắn liền với hàm lượng vàng. Cơ cấu này như sau: • • • Đầu tiên. tiền tệ. một lượng lớn tư bản không linh động. đến cuối thế kỷ 19. vì vậy giá cả ở các nước này giảm xuống cho đến khi sự cân bằng được khôi phục. [sửa] Mô hình Mundell-Fleming Theo kinh tế học tân cổ điển. in trên thực tế. những biến động về giá ở một quốc gia sẽ được điều chỉnh một phần hoặc toàn bộ bởi cơ chế tự cân bằng thanh toán gọi là cơ chế dòng chảy giá cả-bản kim (bản kim ở đây là tiền xu vàng). Về mặt lý thuyết. với mục đích ngăn cản luồng vàng chảy đi. các nhà quản lý tiền tệ đã không mở rộng hay thu hẹp cung tiền ngay cả khi nước đó bị thất thoát vàng. vàng được coi là sự thay thế tốt hơn và trở thành nguyên nhân. những lập luận chống lại bản vị vàng tạo ra xu hướng chính trị ở đa số các quốc gia công nghiệp nghiêng về những dạng tiền tệ dựa trên bạc. Có một thời gian. Sự giảm phát sẽ làm thay đổi giá của vốn trước tiên. hoặc thậm chí là tiền giấy không thôi. Mundell lập luận rằng vì trong một nền kinh tế công nghiệp. lượng tiền lưu hành ở các nền kinh tế kém hiệu quả bị giảm đi. . sẽ chống đỡ bằng cách tăng tỷ lệ lãi suất làm sao để đưa giá cả trở lại mức cân bằng quốc tế nhanh hơn. sẽ bị hạ xuống trước tiên. Dưới chế độ bản vị vàng cổ điển quốc tế. người mua sẽ nghiêng về hàng hóa đó nhiều hơn những hàng hóa khác. chế độ bản vị vàng quốc tế hoặc thậm chí là chỉ ở một quốc gia có thể được tái lập. Vẫn theo ông.

Trong số này có Alan Greenspan . Những người ủng hộ trường phái của ông cho rằng bản vị vàng gây ra giảm phát. cai trị gần một phần tư dân số thế giới và xây dựng đế quốc thương mại mà ngày nay là Khối thịnh vượng chung Anh.ông nêu ra các tác động bởi tiền tệ về mặt lượng sẽ gây ra giảm phát trong hệ thống đó và các quốc gia thành công sẽ nhận ra lợi ích thu được ít hơn là Mundell kỳ vọng. John Maynard Keynes nhấn mạnh vào điểm bản vị vàng dựa vào kim loại cứng nhắc. Cuộc tranh luận này tương tự cuộc tranh luận của Adam Smith và David Hume trong thế kỷ 18 về việc tăng lượng tiền tệ có phải là một mục tiêu đáng thực hiện hay không. Trái lại. bởi luồng vàng di chuyển đến một quốc gia sẽ gây lạm phát ở nước đó. Thêm vào đó. Vì vàng có thể đổi ra bất kỳ đồng tiền nào. Tôi là một trong số ít người vẫn còn cái nhìn lưu luyến về chế độ bản vị vàng ngày xưa. Một quốc gia đơn lẻ không thể cách li nền kinh tế của nó với những biến động suy thoái và lạm phát của thế giới. vì chế độ này thường cho thấy là không tạo đủ sự linh hoạt cho nguồn cung tiền tệ và chính sách tài khóa. Greenspan đã phát biểu: “nếu anh sống trong chế độ bản vị vàng hoặc một cơ chế khác mà các ngân hàng trung ương không có quyền thao túng. Trong số những người phản đối mạnh mẽ. vàng cũng chỉ là một trong những giải pháp đó. Với lập luận này. họ xem vàng là vật bảo đảm trước sự phiêu lưu của các ngân hàng trung ương trong chính sách tiền tệ và vàng là phương tiện chống rủi ro biến động tiền tệ. đồng tiền mà các giao dịch lớn được đo lường. Ngày nay. giỏ hàng hóa hoặc giỏ tiền tệ. không nhiều nhà kinh tế học ủng hộ việc trở lại bản vị vàng trừ trường phái kinh tế học Áo và trường phát trọng cung. Nói chung thì ngày nay đại đa số các chính phủ và các nhà kinh tế không ủng hộ bản vị vàng. bao gồm cả tiền tệ dựa trên năng lượng. Những kẻ ky cóp vàng (goldbug) lấy nó là vật bảo vệ trước sự lạm phát giá cả hàng hóa và là biểu hiện cội nguồn của tài nguyên. được chấp nhận ở mọi quốc gia trên thế giới. Nhiều quốc gia chống lưng cho nền kinh tế bằng cách tích trữ vàng. đồng thời lập luận chống lại tiền luật định. Cũng theo họ. Những bất ổn tiền tệ. vì vậy mà xương sống của hoạt động kinh tế càng bị sức ép.người từng đứng đầu Cục Dự trữ Liên bang trong 19 năm. anh biết điều này rồi. họ cho rằng cuối cùng thì chế độ vàng sẽ trở lại vì nó là vật mang giá trị ổn định duy nhất. không thể quy đổi và hạn chế tiếp cận tín dụng là số ít trong những lý do vì sao mà hệ thống tiền tệ ngày nay bị chỉ trích. Những người cố súy cho vàng cho rằng không cần biện pháp này vì tiền tệ tự nó đã mang giá trị nội tại Bản vị vàng khi đó được khuyến khích bởi những người tin rằng một vật cất trữ giá trị ổn định là thành tố quan trọng nhất đối với sự an tâm trong kinh doanh.”[1]. Lý do mà có rất ít sự ủng hộ bản vị vàng đó là những hệ quả của sự tự điều chỉnh đó không được coi là thích đáng ở thế kỷ 20 và 21. nhưng tôi vẫn phải nói với anh. . Số dự trữ này không phải để bảo đảm giấy bạc được phát hành mà nó là tài sản bảo vệ tiền tệ khỏi tỷ lệ lạm phát cao. Năm 2000. thì hệ thống đó vận hành một cách tự động. Một loạt các giải pháp thay thê đã được đề xuất. Hệ thống tiền tệ ngày nay dựa vào đồng đôla Mỹ như một đồng tiền để neo vào. Và lý do của việc này là ở chỗ nguồn cung cấp vàng mới (tức là nguồn cung cấp thêm tiền tệ dưới chế độ bản vị vàng) thì giới hạn và phải được sử dụng một cách căn cơ. chế độ bản vị tước đi khả năng chống lại khủng hoảng kinh tế đó là khả năng tăng cung tiền tệ để thúc đấy kinh tế khôi phục. quá trình điều chỉnh thâm hụt chi tiêu ở một quốc gia có thể lâu dài và đau đớn khi mà tỷ lệ thất nghiệp gia tăng hoặc thụt lùi tốc độ phát triển kinh tế. Tuy vậy nhiều nhà kinh tế lớn đồng tình với việc lấy kim loại là cơ sở của tiền tệ. tôi ở trong đám thiểu số giữa các đồng nghiệp vẫn tranh luận về vấn đề này. những tín đồ của bản vị vàng chỉ ra rằng kỷ nguyên công nghiệp hóa và toàn cầu hóa của thế kỷ 19 là bằng chứng của sự tính thực tiễn và ưu việt của chế độ bản vị vàng và nêu ra rằng nước Anh đã đi lên vị trí đế vương. và nhà kinh tế học vĩ mô Robert Barro. điều khiến suy thoái càng trầm trọng bởi người ta không muốn đầu tư khi giá cả giảm xuống.

Chỉ còn đồng Franc của Thụy Sĩ là đồng tiền chuyển đổi ra vàng. thì chúng vẫn phải được bảo đảm bằng dự trữ vàng của họ. dự trữ vàng với lượng đáng kể tại nhiều nước là một công cụ bảo vệ đồng tiền của họ và tránh ràng buộc vào đồng đôla Mỹ. Thực tế này dẫn đến hậu quả là các tổ chức quản lý tiền tệ . Đồng đôla yếu có xu hướng được bù lại bởi giá vàng mạnh lên. tuyên bổ rằng họ không cho phép vay nợ vàng để đầu cơ và họ cũng không tham gia vào thị trường vàng với vai trò là người bán. Năm 2001 Thủ tướng Malaysia Mahathir bin Mohamad đề xuất một đồng tiền mới mà dự kiến sẽ được áp dụng đầu tiên với trao đổi thương mại giữa các nước đạo hồi. Tiền xu vàng và vàng thỏi được mua bán rộng rãi tại các thị trường có tính thanh khoản cao. Tuy nhiên. [sửa] Vàng với vai trò dự trữ ngày nay Trong thập niện 1990. 25% toàn bộ lượng vàng có trên mặt đất được cất giữ tại quỹ của các ngân hàng trung ương. đồng tiền dinar vàng này vẫn chưa trở thành hiện thực. trong khi đó. trừ khi các giao dịch đó đã ký kết trước thời điểm ký thỏa thuận trên. Vàng vẫn là tài sản tài chính cơ bản của gần như tất cả các ngân hàng trung ương bên cạnh ngoại tệ và trái phiếu chính phủ. Điều này vẫn xảy ra mặc dù vàng tăng giá trong các tình huống như vậy vì mọi người thường sử dụng vàng để tích trữ vì lo sợ rằng tiền luật định thường cho phép lạm chi và do đó thường dẫn tới lạm phát hoặc sử dụng tem phiếu. Ước tính. một số quốc gia khác tích trữ vàng để chuẩn bị cho Liên minh tiền tệ và Kinh tế Châu Âu. cá nhân phát hành tiền ví dụ tiền kỹ thuật số quy ra vàng. Thực chất. Tuy vậy. Mahathir Mohamad đưa ra khái niệm này trên cơ sở lợi ích về kinh tế của đồng tiền là có cơ sở ổn định và là một biểu tượng chính trị để nâng cao đoàn kết giữa các nước hồi giáo. và do đó vẫn là hình thức cất giữ tài sản cá nhân. bản vị vàng không có nghĩa là các quốc gia không thể chuyển sang tiền luật định khi có chiến sự hoặc trong các tình trạng khẩn cấp khác. Nó cũng được tích trữ tại các ngân hàng trung ương như là một biện pháp đề phòng . thực tế này hình thành lượng dự trữ khổng lồ tiền thanh khoản cao. nước Nga bán hết phần lớn lượng dự trữ vàng từ thời Liên Xô.. bản vị vàng có xu hướng bị bãi bỏ khi các chính phủ nhận thấy việc bỏ qua nó có lợi ích hơn.. Năm 1996.25 gram vàng 24 cara (100%). Vì vậy. và để thiết lập một đồng tiền không dựa trên nợ tuân theo luật Hồi giáo cấm tính lãi suất. lại có dự trữ vàng ít hơn rất nhiều so với cần thiết để hỗ trợ nền kinh tế này. Cho dù một số tổ chức. hệ thống tiền vàng điện tử (e-gold) được phát hành riêng với nỗ lực lập lại bản vị vàng và tạo ra một hệ thống tiền tệ toàn cầu mới. Những năm cuối của Thời kỳ khủng hoảng giá hàng hóa (1980-2000) cũng đã ảnh hưởng đến vàng. Khó khăn về thực tiễn là vàng hiện tại không được phân phối theo sức mạnh kinh tế cũng là một yếu tố: Nhật Bản là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới.Lý do các lựa chọn này không được thực hiện trên thực tế cũng là lý do mà hệ thống bản vị vàng sụp đổ: tỉ lệ chuyển đổi cố định do chính phủ định ra không có mối liên hệ hữu cơ nào giữa cung và cầu về vàng và cung và cầu về hàng hóa. để bảo vệ vai trò cất trữ giá trị của vàng. Ngân hàng trung ương Châu Âu đã ký “thỏa thuận Washington”. Đồng tiền được đề xuất có tên là dinar vàng hồi giáo và được xác định là 4. [1] [2]. Một mục tiêu có thể suy diễn của hành động này là giảm phụ thuộc vào đồng Đô la Mỹ để dự trữ tiền tệ. giá vàng đã tăng vượt mức giá được giao dịch trong vòng 20 năm. Các hệ thống tiền vàng điện tử khác cũng lần lượt ra đời như e-Bullion và GoldMoney. Năm 1999..

không có nghĩa là quay trở lại bản vị vàng. nhu cầu ngoại tệ của các tổ chức tín dụng và chính sách quản lý ngoại hối để xác định lượng tiền cơ bản thông qua kênh này. dẫu vậy. Ngân hàng Trung ương cũng tác động trực tiếp đến cơ số tiền và tác động gián tiếp đến lượng tiền cung ứng. Ngân hàng Trung ương tác động trực tiếp đến dữ trữ của hệ thống các tổ chức tín dụng đến lượng tiền cơ bản và tác động gián tiếp đến lượng tiền cung ứng. đến hoạt đông xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế. vàng càng đắt đỏ thì bản vị vàng càng khó thực hiện. vừa tăng khả năng tạo tiền của hệ thống các Ngân hàng thương mại do đó để ổn định tiền tệ hàng năm căn cứ vào tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và cân đối mà Ngân hàng Trung ương phải phân vốn dành cho các Ngân hàng thương mại và chỉ thực hiện cho vay đối với các Ngân hàng thương mại trong phạm vi. Với chứ năng là Ngân hàng của các Ngân hàng thì Ngân hàng Trung ương đóng vai trò là người cho vay cuối cùng đối với Ngân hàng thương mại. Việc cho vay của Ngân hàng Trung ương sẽ là tăng khối lượng tiền tệ đồng thời là cơ sở cho các Ngân hàng thương mại tạo ra tiền. mặt khác việc can thiệp của Ngân hàng Trung ương vào thị trường vàng và ngoại tệ sẽ có tác động đến tỷ giá. Hiện nay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành tiền vào lưu thông thông qua 4 kênh: Ø Ø Ø Ø Phát hành qua nghiệp vụ tín dụng Phát hành qua thị trường vàng và ngoại tệ Phát hành qua nghiệp vụ thị trường mở Phát hành qua kênh ngân sách 1. Phát hành qua thị trường vàng và ngoại tệ. Thông qua hoạt động mua bán trên thị trường vàng và ngoại tệ. 2. Việc phát hành tiền qua kênh tín dụng vừa làm tăng lượng tiền cơ bản. Thị trường mở là một kênh phát hành tiền hiệu quả và linh hoạt của Ngân hàng Trung ương. Nghiệp vụ thì trường mở là nghiệp vụ mua bán ngắn hạn các giấy tờ có giá do Ngân hàng Trung ương thực hiện trên thị trường tiền tệ thông qua hoạt động mua bán các giấy tờ có giá. Hoạt động phát hành tiền và lưu thông qua thị trường vàng và ngoại tệ bị giới hạn bởi lượng dự trữ của Nhà nước. hạn mức được xác định. Thông qua nghiệp vụ thị trường mở Ngân hàng Trung ương có thể điều tiết linh hoạt vốn khả dụng của các tổ chức tín . Do đó. 3. Phát hành qua nghiệp vụ tín dụng. Trên thực tế ngày nay thì ngược lại. Phát hành tiền qua nghiệp vụ thì trưởng mở.lại sử dụng vàng để giữ vững giá trị đồng tiền của họ. hàng năm Ngân hàng Trung ương phải căn cứ vào tình trạng của cán cân thanh toán ngoại tệ.

chứng từ có giá ngắn hạn khác. thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Nghiệp vụ thì trường mở là công cụ chủ yếu của các Ngân hàng Trung ương ở các nước trên thế giới sử dụng trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia. Khi NHTW thực hiện nghiệp vụ mua là NHTW đã đưa một lượng tiền vào lưu thông. làm “rẻ” tín dụng để kích thích đầu tư. 2.Nếu không có sự tham gia mua bán của NHTW trên thị trường tiền tệ mà chỉ có việc mua bán tín phiếu giữa các NH trung gian với nhau. suất tái chiết khấu. tương ứng với nó là sự tăng lên một lượng tiền dự trữ của các NHTM hoặc lượng tiền mặt. bởi lẽ tiền tăng thêm trong lưu thông đã được cân đối bởi một lượng chứng khoán. Ngân hàng Trung ương vay ngắn hạn để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ Ngân sách Nhà nước. tức là thông qua thị trường tiền tệ do NHTW tổ chức và chi phối. thì khối tiền tệ nói chung sẽ không thay đổi. 2. mở rộng tín dụng. hoặc rút bớt khối tiền tệ lưu thông trong đó bằng cách mua hay bán các lọai giấy tờ có giá ngắn hạn thông qua các nghiệp vụ của thị trường mở.4. các chứng từ có giá được NHTW nắm giữ trở thành tài sản Có của NHTW. thì trong tòan cục chỉ là sự chuyển dịch trái phiếu và sự di chuyển ngược lại của một phần dự trữ đang thừa từ NHTM này qua NHTM khác đang thiếu mà thôi.4 Kênh thị trường ngoại hối .3 Kênh thị trường mở Thị trường mở là một trong các cửa ngõ để NHTW phát hành tiền vào guồng máy kinh tế. NHTW sẽ nâng lãi suất tái chiết khấu lên. Thực hiện nghiệp vụ thị trường mở NHTW mua các chứng từ có giá trên thị trường tiền tệ như: tín phiếu kho bạc. giảm khối lượng tiền tệ theo ý muốn để ngăn chặn lạm phát. 4.dụng. Ngược lại khi cần thắt chặt tín dụng. Phát hành qua kênh ngân sách. Ngược lại. bằng cách bán các loại tín phiếu có giá ngắn hạn NHTW có thể thu hẹp tín dụng. làm tăng khối tiền tệ. cho vay đối với nền kinh tế. Bởi vì một NH thương mại này bán tín phiếu cho các NH thương mại khác.4. Để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước. Phát hành tiền bằng việc mua các chứng khóan có giá ngắn hạn trên thị trường mở cũng được xem là một nghiệp vụ phát hành có đảm bảo. Tóm lại khi NHTW cho các tổ chức tín dụng vay sẽ đẫn đến tăng tiền nghĩa là một khối lượng tiền được đưa vào lưu thông và khoảng tín dụng mà các NHTM nhận được đã trở thành nguồn vốn nhằm mở rộng cho hoạt động đầu tư. Kênh phát hành thông qua nghiệp vụ thị trường mở hiện nay đang được sử dụng phổ biến ở các nước có thị trường tiền tệ phát triển vì có hiệu quả hơn rất nhiều so với các kênh khác. làm “đắt” tín dụng để hạn chế đầu tư. Chính phủ có thể thực hiện biện pháp vay nợ hoặc phát hành thêm tiền để chi tiêu.

đầu tư và sản xuất. Kết . Như vậy để xử lý bội chi NN có thể vay từ NHNN. bản chất của việc phát hành tiền là đưa vào lưu thông giấy bạc ngân hàng mang nội dung tiền tín dụng. Như vậy tùy theo từng điều kiện nhất định mà NHTW sử dụng các kênh phát hành tiền cho phù hợp. NHNN Việt Nam đã không phát hành tiền để bù dắp thâm hụt ngân sách. tính chất tín dụng của giấy bạc Ngân hàng thể hiện tập trung ở nghiệp vụ tái cấp vốn dưới hình thức chủ yếu là tái chiết khấu thương phiếu hoặc các khỏan tín dụng ngắn hạn của các NH thương mại cho các khách hàng của mình. góp phần giải quyết tình hình bội chi của Chính phủ. Từ 1992. Lượng tiền mà NHTW phát hành ra lưu thông tùy vào số lượng ít hay nhiều mà có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối với nền kinh tế. Mặc dù tiền được phát hành theo kênh nào thì cũng nhằm thưc hiện các mục tiêu chính sách tiền tệ. việc phát hành tiền trong lưu thông được thực hiện thông qua nghiệp vụ cung ứng tiền trung ương cho nền kinh tế.Về nguyên tắc. NHTW với tư cách là định chế tài chính quản lý kinh tế vĩ mô của NN phải can thiệp vào thị trường này khi cần thiết. Bên cạnh dư trữ chính thức là dự trữ không chính thức. đó là một công cụ để NHTW can thiệp vào thị trường vàng và ngoại tê. mà chúng nhằm thực hiện công dụng chính. và đây chính là phương thức phát hành tiền qua kênh thị trường ngọai hối Phát hành tiền thông qua kênh thị trường ngoại hối không chỉ không chỉ có ý nghĩa tăng tiền mà còn giúp NHTW thực hiện chính sách tỷ giá và sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối có hiệu quả hơn. Dự trữ này không phải để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi của công chúng cũng không phải để bảo đảm giá trị tiền tệ phát hành. một lượng tìền mới phát hành sẽ được đưa vào lưu thông qua con đường chi tiêu của Chính phù. mặt khác làm gia tăng lưu lượng tiền mặt trong nền kinh tế. tuy nhiên nếu lạm dụng cách phát hành này và nếu ngân sách Nhà nước cứ tiếp tục bội chi và NHTW cứ tiếp tục phát hành tiền cho Chính phủ vay sẽ dẫn đến nguy cơ lạm phát tiềm tàng về sau. Khi NHTW xác định đúng lượng tiền cần thiết phát hành vào trong lưu thông sẽ làm kích thích tiêu dùng. tuy nhiên theo luật NHNN thì NHNN sẽ tạm ứng cho ngân sách để xử lý thiếu hụt tạm thời của ngân sách (hay nói cách khác là cho NN vay tiền). giá cả trên thị trường này hết sức nhạy bén và có ảnh hưởng sâu sắc đến giá cả thị trường hàng hóacũng như họat động chung của tòan bộ nền kinh tế. Thông qua kênh ngân sách Nhà nước. III/ Tác động của việc phát hành tiền đối với nền kinh tế: Một trong những chức năng cơ bản của NHTW là phát hành tiền. Chính vì thế. Dự trữ chính thức nằm trong kho bạc của Chính phủ dưới dạng dự trữ quốc gia. hoạt động này một mặt làm tăng dự trữ quốc gia. dự trữ không chính thức hình thành một thị trường mua bán diễn biến rất sôi động. thực hiên các nghiệp vụ mua hoặc bán trên thị trường này bằng việc tung ra một lượng tiền mặt nhất định vào thị trường để mua ngọai tệ và vàng.Mỗi quốc gia trên thế giới đều có dự trữ vàng và ngoại tệ nhất định.

tuy nhiên lẽ ra trước khi làm cuộc cách mạng về tiền thì Chính phủ phải làm cuộc cách mạng về giá và lương. Việc đưa tiền ra lưu thông thông qua kênh thị trường ngọai hối. NHTW có thể tăng lãi suất tái chiết khấu và giảm hạn mức tín dụng từ đó làm giảm lượng tiền cho vay của các NHTG dẫn đến giảm lượng tiền trong lưu thông. một trong các nghiệp vụ phát hành tiền. và Trung Quốc chỉ chịu lạm phát ở mức một con số. bơm tiền ra lưu thông theo mức độ đã được khống chế để kiềm chế lạm phát hoặc kích thích tăng trưởng kinh tế.38 lần khối lượng tiền mới đã phát hành trong đợt đổi tiền trước đó để phục vụ công cuộc cải cách lương và giá.Lương . nhưng ta đã làm theo quy trình ngược: Tiền . Điển hình như lần đổi tiền thứ tư của Nhà nước vào 14/9/1985 theo tỉ lệ 10đ tiền NHNN cũ ăn 1đ tiền NHNN mới.Giá. Tiếp đó lại là một quá trình diễn biến phức tạp về quan hệ tiền.5 tháng sau ngày đổi tiền. nó có thể gây ra lạm phát nếu Nhà nước vay quá nhiều tiền để chi tiêu. NHTW là người cho vay sau cùng. cung tiền ở VN tăng mạnh trong năm 2007 là do vốn nước ngòai chảy vào tăng đột biến. nếu không có sự điều tiết thích hợp cũng dễ dàng dẫn đến nguy cơ lạm phát.quả của việc NHTW cho nhà nước vay tiền để bù dắp bội chi sẽ làm cho lượng tiền cơ bản đi vào lưu thông tăng lên đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của Chính phủ vào đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Ngược lại khi nền kinh tế lạm phát. việc phát hành tiền ra lưu thông qua con đường cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian góp phần đáp ứng phương tiện thanh tóan cho nền kinh tế phù hợp với việc mở rộng hay thu hẹp thị trường hàng hóa.hàng và kết quả là lạm phát đã không ngừng gia . thúc dẩy đầu tư phát triển sản xuất. do giá lương thực thực phẩm và giá dầu lửa thế giới biến động dẫn đến tình trạng lạm phát ở Việt Nam. như ta đã biết tình hình lạm phát hai con số của Việt Nam năm 2007. từ đó làm tăng dự trữ quốc gia . Thông qua kênh ngân hàng trung gian. mặt khác làm gia tăng lưu lượng tiền mặt trong nền kinh tế. thực hiện an sinh xã hội hay các nhu cầu chi tiêu cần thiết khi mà thu từ ngân sách không đủ bù đấp kịp thời. bằng cách thực hiện các nghiệp vụ mua bán trên thị trường nay. hậu quả là cuộc đổi tiền 1985 đã bị coi là không thành công nhất trong lịch sử lưu thông tiền tệ Việt Nam. đặc biệt khi nguyên nhân gây thiếu hụt là do thiếu các nguồn vốn đối ứng để đầu tư phát triển gây tăng trưởng nóng và không cân đối với khả năng tài chính quốc gia. Tuy nhiên giải pháp này cũng có hai mặt. Qua kênh ngân hàng trung gian.chỉ 3. đồng thời giúp cho hoạt động của ngân hàng thương mại diễn ra một cách trôi chảy thuận lợi. từ đó buộc NHNN đóng vai trò là người mua ngọai tệ cuối cùng và đưa thêm tiền đồng vào lưu thông. Nhà nước đã cho phát hành thêm vào lưu thông một khối lượng lớn tiền tương đương 1. dịch vụ. Khi nền kinh tế suy thoái thì NHTW có thể tăng lượng tiền cung ứng bằng cách giảm lãi suất tái chiết khấu và tăng hạn mức tín dụng từ đó sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng. ngay sau khi đổi tiền tình hình lạm phát tiếp tục gia tăng hơn bao giờ hết. đó là do khác biệt rõ rệt nhất giữa Việt Nam và các quốc gia đó là tốc độ tăng cung tiền. nếu thực hiện không đúng thời điểm và dựa vào tình hình phát triển kinh tế và nhu cầu về tiền tệ để xác định đúng khối lượng tiền cần phát hành cũng sẽ dẫn đến hậu quả tiêu cực cho sự phát triển kinh tế. thì việc đổi tiền. phát triển các ngành kinh tế trọng điểm. Bên cạnh sự ảnh hưởng từ các kênh dẫn tiền vào lưu thông. nhưng tại sao cũng cùng chịu sư ảnh hưởng của biến động giá đó mà 2 nước trong khu vực như Thái Lan. bằng việc tung ra một lượng tiền mặt nhất định vào thị trường để mua ngoại tệ và vàng. tuy nhiên thông qua kênh này NHNN có thể góp phần điều chỉnh bình ổn lại thị trường ngọai tê.

như năm 1986 lạm phát lên đến 774% ngay đối với đồng tiền mệnh giá mới đã gấp 10 lần đồng tiền mệnh giá cũ. tái chiết khấu giấy tờ có giá của các ngân hàng là nghiệp vụ Ngân hàng Nhà nước mua ngắn hạn các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán. 3. Khi tỷ giá hối đoái giảm thì xảy ra trường hợp ngược lại gây ảnh hưởng đến cán cân thanh toán. Thông qua thị trường mở.xã hội của Chính phủ và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia trong từng thời kỳ. người ký không đúng thẩm quyền.Thông qua nghiệp vụ thị trường mở NHTW có thể điều tiết linh hoạt vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng theo cả hai chiều bơm – hút từ đó điều tiết được lượng tiền trong lưu thông phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế Tóm lại tùy vào sự phát triển của nền kinh tế. . mà các giấy tờ có giá này đã được các ngân hàng giao dịch trên trên thị trường sơ cấp hoặc mua lại trên thị trường thứ cấp. mà NHTW cần thận trọng khi ra quyết định sự dụng kênh nào đề phát hành tiền và xác định lưu lượng tiền bổ sung vào lưu thông. gồm: . Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định lĩnh vực Ngân hàng Nhà nước ưu tiên chiết khấu. nhằm tạo ra hiệu quả tích cực cho nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ chiết khấu. tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước với các ngân hàng.Ngân hàng đã sử dụng hết hạn mức chiết khấu. hạn chế được tình trạng lạm phá NGHIỆP VỤ CHIẾT KHẤU. Lãi suất chiết khấu: Là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước áp dụng để tính số tiền thanh toán khi thực hiện chiết khấu giấy tờ có giá. tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế . Lãi suất chiết khấu do Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố. phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. 2. là một kênh phát hành tiền hiệu quả và linh hoạt của NHTW . Chiết khấu. Các trường hợp không được Ngân hàng Nhà nước chấp nhận chiết khấu. Đối tượng áp dụng của quy chế: Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ chiết khấu. TÁI CHIẾT KHẤU CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG 1. tái chiết khấu với các ngân hàng được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng. kích thích đầu tư sản xuất phát triển.xã hội và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. .tăng. tái chiết khấu cho các ngân hàng. . Căn cứ định hướng phát triển kinh tế . Cụ thể khi tỷ giá hối đoái tăng sẽ làm cho đồng nội tệ giảm giá tương đối so với ngoại tệ từ đó hoạt động xuất khẩu sẽ hưởng lợi. Mặt khác sự can thiệp của NHTW vào thị trường vàng và ngoại tệ sẽ ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái do đó sẽ có tác động đến các hoạt động xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế.Các giấy tờ có giá không đủ điều kiện theo qui định của Quy chế chiết khấu.Giấy đề nghị chiết khấu gửi Ngân hàng Nhà nước có nội dung không phù hợp với qui định.

tái chiết khấu giấy tờ có giá với các ngân hàng theo phương thức trực tiếp và gián tiếp. 5. Ngân hàng Nhà nước mua hẳn giấy tờ có giá của các ngân hàng theo giá chiết khấu . . trái phiếu kho bạc. Căn cứ tổng hạn mức mức chiết khấu và mục tiêu ưu tiên đầu tư tín dụng trong từng thời kỳ. tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước: Các loại giấy tờ có giá được Ngân hàng Nhà nước chiết khấu khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: . 8. Chậm nhất vào ngày 15 tháng đầu tiên của quý tiếp theo.4. . Ngân hàng Nhà nước chỉ phân bổ và thông báo hạn mức chiết khấu cho các ngân hàng có đề nghị thông báo hạn mức chiết khấu gửi tới Ngân hàng Nhà nước đúng thời gian qui định (theo dấu bưu điện hoặc fax). Theo phương thức trực tiếp. là số dư tối đa mà Ngân hàng Nhà nước thực hiện chiết khấu đối với các giấy tờ có giá cho một ngân hàng tại mọi thời điểm trong quý. Ngân hàng Nhà nước phân bổ hạn mức chiết khấu đối với từng ngân hàng. tái chiết khấu giấy tờ có giá do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước qui định. Hạn mức chiết khấu: Hạn mức chiết khấu được xác định theo quý. Hình thức chiết khấu: . Kỳ hạn chiết khấu tối đa là 91 ngày. đồng thời yêu cầu ngân hàng cam kết mua lại toàn bộ giấy tờ có giá đã chiết khấu sau một thời gian nhất định. Các loại giấy tờ có giá được chiết khấu: Các giấy tờ có giá được Ngân hàng Nhà nước chiết khấu gồm tín phiếu kho bạc. Trường hợp cần thiết.Chiết khấu có kỳ hạn: Ngân hàng Nhà nước chiết khấu các giấy tờ có giá. Điều kiện để các giấy tờ có giá được sử dụng trong giao dịch chiết khấu. . Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm thông báo cho các ngân hàng có hội sở chính trên các địa bàn về việc uỷ quyền này. Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước có thể trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước uỷ quyền cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh. 7.Thuộc danh mục các loại giấy tờ có giá được sử dụng trong nghiệp vụ Chiết khấu.Trường hợp chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá: Thời hạn còn lại tối đa của giấy tờ có giá phải là 91 ngày.Được phát hành bằng đồng Việt Nam (VNĐ) và có thể chuyển nhượng được. Phương thức giao dịch nghiệp vụ: Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ chiết khấu. tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các loại giấy tờ có giá khác được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước qui định trong từng thời kỳ 6. thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện nghiệp vụ này với các ngân hàng có trụ sở chính trên địa bàn. các ngân hàng gửi hồ sơ đề nghị thông báo hạn mức chiết khấu giấy tờ có giá tới Ngân hàng Nhà nước (Vụ Tín dụng) để Ngân hàng Nhà nước có cơ sở xác định và thông báo hạn mức chiết khấu cho từng ngân hàng.Trường hợp chiết khấu có kỳ hạn: Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá phải dài hơn thời hạn Ngân hàng Nhà nước chiết khấu.Chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá: Theo hình thức này. các ngân hàng giao dịch trực tiếp với Ngân hàng Nhà nước thông qua Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước. .

Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh. mã chữ ký điện tử và phân quyền trong giao dịch chiết khấu.Hàng quý. Trình tự thực hiện nghiệp vụchiết khấu giấy tờ có giá 11.Chậm nhất sau 1 ngày làm việc.Phương thức gián tiếp là phương thức các ngân hàng giao dịch thông qua hệ thống nối mạng vi tính với Ngân hàng Nhà nước hoặc qua fax. kiểm soát và duyệt Giấy cam kết mua lại giấy tờ có giá đối với chiết khấu có kỳ hạn. thành phố được uỷ quyền lập và gửi các ngân hàng Thông báo chấp nhận chiết khấu hoặc không chấp nhận chiết khấu. .2 Thủ tục chiết khấu giấy tờ có giá . thành phố được uỷ quyền thực hiện việc xác thực. Đề nghị và thông báo hạn mức chiết khấu: . . Trường hợp Ngân hàng Nhà nước đã gửi thông báo chấp nhận chiết khấu nhưng đến 15h00 cùng ngày. . Ngân hàng Nhà nước chuyển tiền cho các ngân hàng và hạch toán giấy tờ có giá theo quy định. các ngân hàng căn cứ hạn mức chiết khấu được thông báo và số dư chiết khấu còn lại đến thời điểm xin chiết khấu lập và gửi Giấy đề nghị chiết khấu theo Mẫu quy định về Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh. Ngân hàng Nhà nước phân bổ hạn mức và thông báo cho các ngân hàng có nhu cầu chiết khấu và Sở Giao dịch (đơn vị thực hiện nghiệp vụ chiết khấu). . Ngày giao dịch: Ngày giao dịch trong nghiệp vụ chiết khấu là ngày làm việc. Căn cứ Thông báo chấp nhận chiết khấu.Chậm nhất là vào ngày 25 của thàng cuối quý. thành phố được uỷ quyền. các ngân hàng thực hiện xác thực Thông báo chấp nhận chiết khấu. . chậm nhất 15h00 cùng ngày các ngân hàng phải lập và gửi Giấy cam kết mua lại giấy tờ có giá về Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh.1. 9. nghỉ lễ và nghỉ tết. trên cơ sở hạn mức chiết khấu chung trong quý.Các ngân hàng thực hiện giao dịch trực tiếp với Ngân hàng Nhà nước hoặc thông qua hệ thống mạng vi tính với Ngân hàng Nhà nước. thành phố được uỷ quyền. Thủ tục tham gia nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá . kể từ khi nhận được Giấy đề nghị chiết khấu của các ngân hàng. thành phố được uỷ quyền. . Trong trường hợp chiết khấu giấy tờ có giá có kỳ hạn.Ngân hàng lập và gửi Giấy đăng ký tham gia nghiệp vụ chiết khấu về Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước và Cục Công nghệ tin học ngân hàng để làm căn cứ cấp mã khoá truy cập. hoặc qua FAX. 10. 11. ngân hàng được chấp nhận chiết khấu không gửi Giấy cam kết mua lại giấy tờ có giá (đối với chiết khấu có kỳ hạn) thì Thông báo chấp nhận chiết khấu đó không còn giá trị. các ngân hàng gửi Ngân hàng Nhà nước (Vụ Tín dụng) giấy đề nghị thông báo hạn mức chiết khấu kèm theo bảng cân đối tài khoản kế toán của tháng gần nhất và bảng kê giấy tờ có giá đủ điều kiện chiết khấu mà ngân hàng nắm giữ. . Giấy cam kết mua lại giấy tờ có giá của các ngân hàng. lưu giữ Giấy đăng ký tham gia nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá và thực hiện việc cấp quyền giao dịch đối với các chức danh tham gia nghiệp vụ chiết khấu theo đăng ký của các ngân hàng. Sở Giao dịch. không tính ngày nghỉ cuối tuần. Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh. 11.Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước tiếp nhận.Sau khi nhận được Thông báo chấp nhận chiết khấu của Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh.Khi có nhu cầu chiết khấu giấy tờ có giá.

12. phân bổ hạn mức chiết khấu của các ngân hàng chậm nhất vào ngày 05 của tháng đầu quý. điều chỉnh danh mục các giấy tờ có giá được Ngân hàng Nhà nước chiết khấu khi cần thiết. giao nhận. . thành phố trực thuộc trung ương được uỷ quyền.Sau khi nhận được thông báo về việc chấp nhận chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước. Trường hợp chiết khấu có kỳ hạn. bố sung. trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. thành phố trực thuộc trung ương được uỷ quyền có trách nhiệm thực hiện nghiệp vụ chiết khấu với các ngân hàng theo phạm vi được uỷ quyền. . . tham mưu cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố lãi suất chiết khấu.Vụ Tín dụng căn cứ vào tổng hạn mức chiết khấu đã được phê duyệt.Vụ Kế toán – tài chính hướng dẫn thực hiện hạch toán nghiệp vụ chiết khấu tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước các chi nhánh tỉnh. Trường hợp tài khoản của ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nước không đủ tiền thì Ngân hàng Nhà nước sẽ chuyển số tiền còn thiếu sang nợ quá hạn và ngân hàng đó phải chịu lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất chiết khấu. thông báo hạn mức chiết khấu của các ngân hàng có nắm giữ giấy tờ có giá đủ điều kiện chiết khấu cho Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng. ngân hàng đề nghị chiết khấu thực hiện thủ tục giao nộp giấy tờ có giá và nhận tiền thanh toán của Ngân hàng Nhà nước tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh.3 Giao nhận giấy tờ có giá và thanh toán khi chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước: . Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét bán các giấy tờ có giá mà Ngân hàng Nhà nước đang nắm giữ trên thị trường tiền tệ để thu hồi số tiền còn thiếu. định kỳ hàng quý báo cáo Ngân hàng Nhà nước về kết quả thực hiện nghiệp vụ trên địa bàn được giao. . thành phố được uỷ quyền trong vòng 1 ngày kể từ ngày được thông báo. Nếu sau 01 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn chiết khấu mà ngân hàng không thanh toán cho Ngân hàng Nhà nước để nhận lại giấy tờ có giá thì Ngân hàng Nhà nước sẽ trích tiền gửi của ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nước để thanh toán. Tổ chức hạch toán. thực hiện nghiệp vụ chiết khấu đối với các ngân hàng theo hạn mức chiết khấu đã được thông báo. sẽ bị coi như đã huỷ bỏ đề nghị chiết khấu. thông báo hạn mức bổ sung cho các ngân hàng. tham mưu cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước việc uỷ quyền các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh. .Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh.Trường hợp ngân hàng đề nghị chiết khấu không giao nộp giấy tờ có giá đúng danh mục và đúng thời hạn theo thông báo chấp nhận chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng từ chối cho vay theo yêu cầu của Chính phủ . định kỳ hàng quý tổng hợp kết quả thực hiện nghiệp vụ chiết khấu của toàn hệ thống để báo cáo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Một ngân hàng bỏ đề nghị chiết khấu 2 lần sẽ không được tiếp tục tham gia nghiệp vụ chiết khấu với Ngân hàng Nhà nước trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày vi phạm lần thứ 2.Khi hết thời hạn chiết khấu (đối với trường hợp chiết khấu có kỳ hạn). các ngân hàng thanh toán cho Ngân hàng Nhà nước tiền mua lại giấy tờ có giá và nhận lại giấy tờ có giá theo cam kết. lưu giữ và bảo quản giấy tờ có giá theo qui định. thành phố trực thuộc trung ương thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghiệp vụ chiết khấu với các ngân hàng. ngân hàng đề nghị chiết khấu cần phải thực hiện việc cam kết mua lại giấy tờ có giá với Ngân hàng Nhà nước trước khi giao nộp giấy tờ có giá và nhận tiền thanh toán.11. Trách nhiệm của các đơn vị liên quan thuộc Ngân hàng Nhà nước .Sở Giao dịch có trách nhiệm hướng dẫn qui trình thực hiện nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá tại Sở Giao dịch và tại các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước được uỷ quyền..Vụ Chính sách tiền tệ phối hợp với các đơn vị liên quan của Ngân hàng Nhà nước xác định tổng hạn mức chiết khấu trong từng quý. .

dài hạn đã vượt quá mức an toàn cho phép. 500 KV Pleiku . Ngoài ra. tính đến hết tháng 10 vừa qua.. các ngân hàng thương mại nhà nước có động thái như vậy bởi vì họ phải “lo cho mình trước”. yêu cầu của Chính phủ rất khó từ chối. dài hạn. Thủ tướng Chính phủ đã có công văn cho phép ngân hàng được quyền từ chối nếu thấy dự án không hiệu quả. xi măng Bình Phước. đối với. Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chính vì vậy. dư nợ tín dụng của nền kinh tế đã tăng tới 21% so với thời điểm 31/12/2002. nhà máy bột giấy Thanh Hoá… Ngoài ra còn một loạt dự án khác do Tổng công ty Dầu khí làm chủ đầu tư. kể cả nhưng dự án thuộc cụm công nghiệp khí . vốn cho vay. Bà cho biết thêm.Dốc Sỏi . đạt 98% kế hoạch tín dụng của năm nay”. theo yêu cầu. thậm chí các ngân hàng còn cho vay vượt quá 15% vốn tự có đối với một dự án. việc các ngân hàng thương mại đưa ra lý do thiếu vốn trung dài hạn để cho vay là một thực tế và Ngân hàng Nhà nước phải tôn trọng quyết định của họ. Giải pháp về vốn cho dự án này. ngân hàng nhà nước. Nếu tính cả các khoản vay trung. đường dây 500 KV Hà Tĩnh . xi măng. Đây là lần đầu tiên. Trước đây.đạm Cà Mau cũng được các ngân hàng cho vay hợp vốn. Tuy nhiên. các dự án về khí và điện khả thi hơn. lý do từ chối cũng xuất phát từ việc phải phân tán rủi ro. hiện đã trên 40%. trung Ngân hàng Nhà nước vừa chủ trì cuộc họp cùng 4 ngân hàng quốc doanh để bàn về việc hợp vốn cho vay đối với dự án nhà máy đạm Cà Mau theo yêu cầu của Chính phủ. hoặc vào thời điểm đó không đủ khả năng đáp ứng. hàng từ. dự án thủy điện A Vương.Tags: Cà Mau. “Hơn nữa. Cụ thể là dự án đường dây 50 KV và trạm biến áp Hà Tĩnh .điện . Chính sách tỷ giá hối đoái và vấn đề tự do tỷ giá ở VN Thứ tư. tỷ lệ dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng đang ở mức quá cao. từ chối.Đà Nẵng. ngân hàng quốc doanh. Trên thực tế. vốn huy động. dự án. Tính khả thi của dự án đạm Cà Mau cũng là một lý do khiến các ngân hàng từ chối cho vay vốn. 02/03/2011 14:56 NỘI DUNG Đặt vấn đề . Ngân hàng Nhà nước đang kiến nghị để Tổng công ty Dầu khí Việt Nam nghiên cứu phương án vay vốn nước ngoài hoặc giao Bộ Tài chính phát hành trái phiếu Chính phủ. Phó thống đốc Nguyễn Thị Kim Phụng cũng đề cập tới thực trạng này. theo các ngân hàng. dầu khí. dài hạn đã cam kết nhưng chưa giải ngân thì tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung. Nhưng sau đó. việc sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung dài hạn đã ở mức cao.Thường Tín. dự án xi măng Thăng Long. các ngân hàng thương mại đã từng hợp vốn cho vay đối với một loạt các dự án trọng điểm như điện. trong điều kiện hiện tại. chỉ chiếm khoảng 20% tổng lượng huy động Trong Công văn số 1329/NHNN-TD gửi Thủ tướng Chính phủ. Theo bà Phụng. Theo ông Lê Văn Sở. lý do.Đà Nẵng. các đơn vị đã từ chối với lý do nguồn vốn huy động trung. dài hạn hiện rất thấp. của chính phủ. bà giải thích thêm trong công văn gửi Thủ tướng.. còn dự án đạm đang tồn tại nhiều vấn đề. ngân hàng thương mại.

Khái niệm 2. Chính sách tỷ giá hối đoái III. Quan điểm về vấn đề tự do hoá tỷ giá 1. Đánh giá Chương III : Giải pháp đổi mới chính sách tỷ giá ở Việt Nam I. Khái niệm về tỷ giá hối đoái 1. II. Vai trò của tỷ giá trong nền kinh tế II.Ưu nhược điểm của tỷ giá tự do Chương II : Quá trình điều hành chính sách tỷ giá ở Việt Nam I. Thực trạng III.Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá 3. Những bất lợi của Việt Nam nếu thực hiện tự do hoá trong điều kiệ hiện nay. Giải pháp cho vấn đề tự do hoá tỷ giá Kết luận .Khái niệm về tự do hoá tỷ giá 2. Hoàn cảnh chung II.Chương I : Cơ sở lý luận về tỷ giá và tự do hoá tỷ giá I .

phức tạp và cũng vô cùng quan trọng này thông qua đề tài :“Chính sách tỷ giá hối đoái và những điều kiện tự do hoá tỷ giá ở Việt nam ” . phân tích . Một sự tự do hoá vội vã sẽ dẫn đến những tổn thương mà nền tảng kinh tế vĩ mô chưa đủ vững chắc để có thể chống đỡ và kết quả là sự chạy trốn của các luồng vốn . Góp phần vào những nghiên cứu. Nó ra đời từ hoạt động ngoại thương và quay trở lại tác động lên hoạt động xuất nhập khẩu và cán cân thương mại cán cân thanh toán của mỗi quốc gia. những yếu tố ảnh hưởng và vai trò của tỷ giá đối với nền kinh tế . Bài tiểu luận bắt đầu từ việc phân tích cơ sở lí luận của tỷ giá . Từ đó làm sáng tỏ lên tầm quan trọng của chính sách tỷ giá trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô .Trình bày bài học kinh nghiệm của các nước là một vấn đề cần thiết cho quá trình hoạch định chính sách .cơ chế xác định. trong bài tiểu luận này em cũng xin được trình bày những suy nghĩ của mình về một vấn đề đa dạng. . Xu thế toàn cầu là từng bước thả nổi tỷ giá để cho nó được tự do xác định trên thị trường theo quy luật cung cầu ngoại hối. Tự do hoá mang lại nhiều lợi thế và muốn phát triển nền kinh tế thì các quốc gia không thể bỏ qua . Tuy nhiên bất cứ một vấn đề nào cũng có mặt trái của nó.Danh mục tài liệu tham khảo ĐẶT VẤN ĐỀ Tỷ giá là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng có tác động tới nhiều mặt hoạt động của nền kinh tế . Nghiên cứu vấn đề này là một đề tài mang tính cấp thiết trong thời gian gần đây. Một vấn đề cũng được coi trọng trình bày là những lí luận về tự do hoá hay thả nổi tỷ giá . Không thể không tính đến những điều kiện tiên quyết cho viêc tự do hoá tỷ giá thành công. Đối với các nước có nền kinh tế mới chuyển đổi có khuyến nghị là vẫn nên duy trì ở một mức độ tương đối cao những công cụ quản lý mang tính hành chính. Xây dựng thành công một chính sách điều hành tỷ giá thích hợp là một vấn đề vô cùng khó khăn phức tạp.

cơ sở số liệu thống kê không đầy đủ và tính phức tạp của đề tài nên trong bài viết không tránh khỏi khiếm khuyết rất mong được sự góp ý của các thầy giáo cô giáo và các bạn. Khái quát cả mười năm đổi mới hệ thống tài chính trên lĩnh vực tỷ giá nhằm làm sáng tỏ những ưu nhược điểm để từ đó có những điều chỉnh thích hợp.Thực trạng điều hành tỷ giá ở Việt Nam thời gian qua là một nội dung quan trọng . . Giải pháp cho vấn đề được đề cập ở chương cuối nêu lên một vài gợi mở cho vấn đề. Với kiến thức còn nhiều thiếu sót .

Ví dụ : giá của đôla Mỹ(USD) tính theo đồng Việt Nam(VND) là14058VND/USD. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa : là giá cả của một đồng tiền nước này tính theo đơn vị tiền tệ nước khác. Nó là mức giá giữa hai nước mà tại đó họ trao đổi với nhau.CHƯƠNG I TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI I Khái niệm về tỷ giá hối đoái 1.trong quá trình đó . mỗi quốc gia đều cố gắng đưa đồng nội tệ có thể chuyển đổi và tìm kiếm một chính sách tỷ giá thích hợp.Nó chính là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo số đơn vị nội tệ. a. Ví dụ: Tại thị trường hối đoái London yết giá 1bảng Anh=1.Điều này nói lên rằng 1USD có giá trị bằng 14058 VND .Khái niệm : Khối lượng thương mại quốc tế đã tăng lên trong suốt bốn mươi năm qua làm cho các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc lẫn nhau. *Phương pháp gián tiếp : ký hiệu e . Vậy tỷ giá bắt đầu xuất hiện khi có thương mại quốc tế . là phương pháp tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ .trong xu hướng toàn cầu hoá dần xoá nhoà các đường biên giới quốc gia và làm cho các dòng tư bản lưu chuyển linh hoạt hơn.6191 đôla Mỹ *Phương pháp trực tiếp : ký hiệu E . là phương pháp biểu hiện một đơn vị nội tệ bằng các đơn vị ngoại tệ . Hiện nay trên thế giới có hai phương pháp niêm yết tỷ giá là phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp .

Ví dụ : giả sử có một chiếc áo sơ mi ở Việt Nam với giá P=70000VND/chiếc cũng chiếc áo đó sản suất tại Mỹ P’=20USD .Tỷ giá hối đoái thực tế: là giá tương đối của hàng hoá ở hai nước Công thức tính tỷ giá hối đoái thực tế e’=e*P/P’ e’: e: P: P’: Tỷ giá hối đoái thực tế Tỷ giá hối đoái danh nghĩa Mức giá trong nước Mức giá nước ngoài Nếu xét cho một hàng hoá cụ thể thì P chính là giá hàng nội tính bằng nội tệ (giá nội địa ) còn P’ chính là giá mặt hàng cùng loại ở nước ngoài tính theo giá ngoại tệ . đồng USD ) được phép niêm yết giá trực tiếp . Do chất lượng mẫu mã như nhau nên hàng Việt Nam rẻ hơn 1/4 hàng Mỹ . Cơ chế xác định tỷ giá : tuỳ thuộc vào chính sách tỷ giá mỗi quốc gia . Do đó hàng Việt Nam có sức cạnh tranh hơn hàng Mỹ . đồng Euro.Tất cả các loại tiền khác ngoài ba đồng tiền nêu trên thì phải niêm yết giá gián tiếp . Có nghĩa là trên đất nước sở tại không được phép công bố tỷ giá e mà phải niêm yết giá thông qua một đồng tiền mạnh .giả sử e=1/14000 Khi đó tỷ giá hối đoái thực tế bằng e’=e*P/P’=1/14000*(70000/20)=1/4 Điều này nói lên rằng một chiếc áo sơ mi Việt Nam có thể bằng 1/4 chiếc áo sơ mi bên Mỹ . hàng ngoại tương đối rẻ và hàng nội tương đối đắt và ngược lại c. b. Nếu tỷ giá hối đoái thực tế cao .Theo thông lệ quốc tế chỉ có ba loại đồng tiền mạnh trên thế giới (đồng bảng Anh . Có nghĩa là trên các nước sở tại được phép công bố tỷ giá e. hàng Việt Nam có thể xuất khẩu sang Mỹ .

Xuất hiện về cầu tiền nước A trên Tỷ e thị trường ngoại hối khi người nước giá S (VND) B mua hàng xuất khẩu từ nước A hoặc khi người nước người dân nước B đầu tư sang nước A. . Đường cầu về có độ dốc âm trong không gian hai chiều tỷ giá và lượng tiền .c1. Cơ chế thị trường : tỷ giá cũng là một loại giá cả. Đường cung về tiền có độ dốc dương trong không gian hai chiều tỷ giá và lượng cung tiền . nó được xác định dựa trên các lực lượng cung cầu nội ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Thị trường ngoại hối là nơi mua bán trao đổi đồng nội và ngoại tệ. e* D (VND) .Xuất hiện việc cung tiền của nước A trên thị trường ngoại hối so với đồng tiền nước B khi ngươì dân nước A mua hàng nhập khẩu từ B hoặc khi người dân nước A đầu tư sang nước B .

nên đồng tiền của nước đó tăng giá. Thuế quan và cô-ta về lâu dài làm cho đồng tiền của một nước lên giá.Sự cân bằng cung cầu tiền đạt được khi hai đường này giao nhau và tỷ giá cân bằng được xác định. Nó được ấn định lại khi các nhà quản lý cần thấy phải thay đổi nó để phục vụ cho một mục đích nào đó. C2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá a. Về lâu dài . Cầu hàng xuất nước đó cao lên kéo theo sự tăng giá của đồng tiền nước đó. *Yếu tố tâm lý cũng ảnh hưởng đến tỷ giá : Phần lớn các nước đang phát triển đều phải đối mặt với tình trạng “Đôla hoá” trong nền kinh tế. 2. Q* Q(VND) .Đó là sự mất niềm tin vào đồng bản tệ . Tuy vậy một quốc gia thực hiện chính sách “bế quan toả cảng” thì vấn đề tỷ giá đối với họ không có nhiều ý nghĩa lắm. người dân và các tổ chức kinh tế găm giữ đôla và chỉ tín nhiệm đòng tiền này trong thanh toán trao đổi . Do vậy cầu USD rất lớn và giá các đồng bản tệ xuống thấp các nước luôn trong tình trạng căng thẳng về dự trữ ngoại hối đảm bảo khả năng thanh toán nợ đến hạn . * Năng suất lao động : Năng suất lao động cao làm giá hàng của một nước rẻ tương đối so với các nước khác . do năng suát lao động của một nước cao hơn tương đối so với nước khác . Điều này làm tăng cầu hàng nội và dẫn đến việc tăng giá của đồng nội tệ. * Ưa thích hàng nội so với hàng ngoại : Một sự ưa thích hàng ngoại làm tăng cầu về ngoại tệ khiến cho cung nội tệ tăng dịch chuyển và giá đồng nội tệ giảm xuống . Cơ chế hành chính : ở những nước theo đuổi chính sách kiềm chế tài chính và kiểm soát chặt chẽ nguồn vốn thường đưa ra một mức tỷ giá neo cố định .Tỷ giá này có thể được thay đổi điều chỉnh song không phải do các lực lượng thị trường quyết định.Về lâu dài cầu về hàng xuất khẩu của một nước làm cho đồng tiền của nước đó tăng giá trong khi câù về hàng nhập tăng lên làm cho đồng tiền nước đó tăng giá. *Thuế và Cô-ta: Đây là hàng rào đối với hàng nhập khẩu và bảo hộ hnàg sản xuất trong nước .Các nhân tố thuộc về dài hạn : *Mức giá cả tương đối : Về lâu dài một sự tăng lên mức giá của một nước (tương đối so với mức giá nước khác )làm cho đồng tiền nước đó giảm giá và một sự giảm giá xuống của mức giá tương đối làm cho đồng tiền nước đó tăng giá .

Khi tỷ giá giảm . Bội thu cán cân thanh toán sẽ làm cho tỷ giá giảm và bội chi cán cânthanh toán sẽ làm cho tỷ giá tăng 3. nếu tỷ giá giảm trong trường . giá cả hàng hoá trong nước . Việc di chuyển tư bản trên thế giới nhằm mục đích kiếm lời nhuận và tránh rủi ro. * Cán cân thương mại: Nó liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu .Xuất khẩu lớn tỷ giá lên giá b.Vai trò của tỷ giá trong nền kinh tế Tỷ giá hối đoái là một công cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu để điều tiết cán cân thương mại quốc tế theo mục tiêu đã định trước của nhà nước . Do vậy cầu tiền nước này tăng lên và tỷ giá tăng theo . sức cạnh tranh của hàng hoá đó trên thị trường thế giới sẽ tăng lên có tác dụng đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá . Ngược lại khi tỷ giá tăng.Nó ra đời từ hoạt động thương mại quốc tế và quay trở lại tác động thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển.*Tỷ lệ lạm phát: Nếu tỷ lệ lạm phát nước A cao hơn tỷ lệ lạm phát nước B. do đó nó có tác động không nhỏ đến nền kinh tế quốc dân của một nước. tức giá trị đồng nội tệ giảm nên giá cả hàng hoá xuất khẩu tính bằng tiền nước ngoài giảm . Do đó. * Cán cân thanh toán: Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh mức cung. Trong một nước nếu lãi suất nội tệ tăng trong khi lãi suất thế giới ổn định sẽ làm cho các luồng vốn quốc tế đổ vào nhiều vì mức lãi suất quá hấp dẫn .do đó nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái . Giá đồng tiền nước A giảm xuống .cầu về ngoại tệ trên thị trường . Bởi vì tỷ giá hối đoái có tác động rất lớn đến xuất nhập khẩu hàng hoá và tư bản (vốn).Các nhân tố thuộc về ngắn hạn * Lãi suất : Lãi suất là một biến số kinh tế tổng hợp tác động đến nhiều chỉ tiêu khác nhau trong đó tỷ giá và lãi suất có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau. Đồng thời với việc tỷ giá giảm làm cho giá hàng hoá nhập khẩu tăng lên dẫn đến hạn chế nhập khẩu. nghĩa là giá trị đồng nội tệ tăng thì có tác động giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu hàng hoá.nước A cần nhiều tiền hơn để đổi lấy một lượng tiền nhất định của nước B. Tỷ giá thay đổi cũng có tác động điều tiết việc di chuyển tư bản (vốn) từ quốc gia này sang quốc gia khác.

cung tiền tuột khỏi tay sự kiểm soát của ngân hàng trung ương . Đồng thời do tác động giảm nhập khẩu nên cầu về các hàng hoá nhập khẩu cũng sẽ gia tăng. Chính sách tỷ giá hối đoái Tỷ giá như phân tích trên có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế . Ngược lại . II. Tỷ giá được hình thành trên cơ sở thị trường theoquy luật cung cầu . trong đó có chính sách tỷ giá. Một quốc gia tuỳtheo điều kiện hoàn cảnh và thời điểm sẽ xác định cho mình một chính sách tỷ giá thích hợp.Quan điểm của các nhà kinh tế trường phái chính hiện đại coi trọng cả vai trò kinh tế của Chính phủ và quy luật “bàn tay vô hình”. giữ vững sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô là yêu cầu cấp thiết để tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu và tập trung của các chính sách kinh tế của Chính phủ. Hệ thống tỷ giá thả nổi có kiểm soát : Nằm giữa hai thái cực trên.hợp người ta dự đoán tỷ giá không tiếp tục giảm nữa thì tư bản nhập khẩu sẽ gia tăng và tư bản xuất khẩu sẽ giảm . Tỷ giá có cố định thể cao hơn hay thấp hơn tỷ giá cân bằng trên thị trường ngoại hối Để giữ được tỷ giá ở mức cố định ngân hàng trung ương phải mua bán ngoai tệ trênthị trường ngoại hối . khi tỷ giá tăng sẽ có tác động làm cho mức giá chung giảm. Hệ thống tỷ giá cố định: đó là tỷ giá do ngân hàng trung ương ấn định ở một mức nào đấy . chính sách hối đoái của bất kỳ một quốc gia nào cũng đều được coi như một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia .Ngân hàng trung ương chỉ có thể đạt được một trong hai mục tiêu :hoặc giữ cho tỷ giá cố định hoặc là kiểm soát được mức cung tiền chứ không thể đồng thời thực hiện được hai mục tiêu đó .Không có sự can thiệp của chính phủ .Và như vậy . Ngoài các nhân tố khác .tất điều đó làm cho giá cả chung trong nền kinh tế cũng gia tăng. Hệ thống tỷ giá thả nổi hoàn toàn : Do cung cầu trên thị trường ngoại hối quyết định tỷ giá .Duy trì . cơ quan điều hành chính sách tiền tệ chỉ tác động lên tỷ giá bằng các công cụ mang tính thị trường tác động lên thị trường ngoại hối . Khi tỷ giá giảm .vật giá trong một quốc gia còn chịu sự tác động của tỷ giá hối đoái . Trên thế giới hiện nay các nước theo đuổi các cách điều hành tỷ giá khác nhau song rút lại đều đi theo các xu hướng hoặc là chế độ tỷ giá cố định hoặc là chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn hoặc thả nổi có kiểm soát.giá tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng nhập khẩu tăng lên kéo theo giá cả các mặt hàng trong nước có liên quan cũng tăng theo. Do vậy.

Nhưng vấn đề dặt ra là cần phải xác định chế độ tỷ giá hối đoái nào: cố định, thả nổi hoàn toàn hay thả nổi có kiểm soát. Một cuộc tranh luận về những chế độ tỷ giá hối đoái đã nổ ra .Thế giới đã chuyển từ chế độ tỷ giá cố định , đươc thực hiện từ sau Chiến tranh thế giới II đến đầu năm 1973 , sang chế độ tỷ giá thả nổi , linh hoạt thay đổi hàng ngày .Nhưng vào cuối những năm 80 chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn bộc lộ tác động tiêu cực đến các nền kinh tế và người ta bắt đầu nghĩ đến một chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết ,nhằm hạn chế những tác động của chế độ tỷ giá linh hoạt .Hiện nay,các chính phủ đều muốn can thiệp để hạn chế những biến động mạnh mẽ lên xuống của tỷ giá ,một mặt là cần thiết để cân bằng cung cầu trong thời gian ngắn, nhưng mặt khác lại gây ra những biến động không mong muốncho giá cả và đầu ra ở trong nước.

III.Quan điểm vấn đề về tự do hoá tỷ giá
1. Khái niệm tự do hoá tỷ giá
Tự do hoá tài chính là một vấn đề mang tính toàn cầu. Trong thế giới hiện đại không nước nào có thể đứng bên lề của trào lưu quốc tế hoá . Nếu muốn mưu cầu một sự phát triển các nước phải chuẩn bị thật vững chắc những tiền đề cho việc hội nhập. Tự do hoá thương mại và tự do hoá tài chính yêu cầu các quốc gia dần phải từ bỏ cách kiểm soát quá chặt chẽ tỷ giá và tài khoản vốn , nhanh chóng đưa đồng bản tệ có khả năng chuyển đổi. Khi một quốc gia để cho tỷ giá được tự do xác định trên thị trường và chính phủ từ bỏ viẹc can thiệp của mình ta nói nước đó đang theo đuổi chính sách tỷ giá tự do. Và vì vậy tự do hoá tỷ giá là một quá trình tiến tới cho phép tỷ giá được tự 2. Ưu nhược điểm của tự do hoá tỷ giá Từ khái niệm trên về tỷ giá tự do hoá ta thấy đây là chế độ dần dần thả nổi tỷ giá để mặc các lực lượng cung cầu thị trường quyết định các chính sách can thiệp hành chính của nhà nước được từng bước triệt thoái. Trong quá trình thực hiện tiến trình tự do hoá mỗi quốc gia có lộ trình riêng cho mình phù hợp với hoàn cảnh riêng và xu hướng thế giới và chính sách của các cường quốc tài chính . Song tiến trình này vẫn có những đặcđiểm chung và mục tiêu đồng nhất. Ban đầu các ngân hàng trung ương thực hiện sự linh hoạt tỷ giá bằng cách nới rộng các biên độ dao độngcủa tỷ giá. Ngân hàng Trung ương cố gắng hạn chế sự can thiệp của mình chỉ hành động khi có những xu hướng bất lợi hoặc vượt quá một giỡi hạn cho phép đối với nền kinh tế.Tiếp dần đó các ngân hàng sẽ sử dụng các công cụ gián tiếp mang tính thị trường để hướng dẫn tỷ giá thị trường. Tỷ giá tự do mang lại nhiều lợi thế. Nó cho phép các quốc gia không còn phả khư khư ngồi giữ cho mức tỷ giá ổn định mà họ dồn sức cho các mục tiêu khác cần kíp hơn, lúc này tỷ giá đóng vai trò là một công cụ để thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô chứ không còn phải là mục tiêu nữa. xác định trên thị trường

Chính sách tỷ giá tự do tránh cho các quốc gia những tổn thương dễ gặp phải khi cố định tỷ giá , đó là những đe doạ trước những biến động tỷ giá giữa các đồng tiền mạnh. Chính sách tỷ giá tự do cải thiện cán cân thanh toán của mỗi quốc gia. Tuy nhiên tỷ giá tự do cũng tiềm ẩn trong nó những bất ổn nhất là đối với những nền kinh tế đang phát triển 3 . Kinh nghiệm thế giới trong việc tự do hoá tỷ giá Dù tỷ giá tự do còn nhiều tác động mặt trái đối với các nền kinh tế song nó vẫn là mục tiêu theo đuổi của các quốc gia. Trên thế giới có nhiều quốc gia tiến hành thành công tỷ giá tự do song nhiều nước lại phải quay trở lại với con đường kiểm soát tỷ giá . Học tập các nước đi trước là điều cần chú trọng khi một đất nước muốn tiến hành thành công tiến trình tự do hoá tỷ giá . Đúc kết từ các bài học của các nước đi trước, kinh nghiệm và lý thuyết chỉ ra rằng muốn tự do tỷ giá thành công thì phải có những tiến trình hoạch định sau: - Quá trình tự do tỷ giá cần tiến hành tuần tự theo hai giai đoạn Bước 1: Dần nới lỏng các biện pháp quản lý hành chính thiết kế và dần chuyển sang sử dụng các công cụ gián tiếp mang tính thị trường Bước 2: Để tỷ giá tự do xác định trên thị trường ngoại hối - Trong giai đoạn đầu dự trữ ngoại hối còn thấp các nước cần quản lý chặt ngoại hối, xây dựng quỹ ngoại tệ để đảm bảo can thiệp khi cần thiết ,cần tích luỹ một lượng dự trữ ngoại tệ đủ lớn để ổn định giá trị nội tệ . - Nền kinh tế vĩ mô ổn định và tăng trưởng là điều kiện tiên quyết.Cần có một thị trường ngoại hối và thị trường nội tệ tương đối phát triển, với các công cụ tương đối phong phú và đa dạng .

.

Trong thời kỳ này quan hệ ngoại thương của nước ta chỉ bó hẹp trong khối các nước XHCN .CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ I Hoàn cảnh chung Qua hơn mười năm thực hiện đổi mới trong lĩnh vực tỷ giá chúng ta đã thu được những thành tựu bước đầu quan trọng. nền kinh tế nước ta ở trong tình trạng kế hoạch hoá tập trung cao độ mọi vấn đề về sản xuất cái gì . Trước kia chỉ có một cấp Ngân hàng nhà nước vừa làm nhiệm vụ của cơ quan nhà nước quản lí tiền tệ vừa là . Cơ chế kinh tế quan liêu bao cấp bị xoá bỏ.xã hội. dự trữ ngoại hối của chúng ta rất ít các đồng tiền tự do chuyển đổi khác. Nền kinh tế lâm vào khủng hoảng trì trệ đòi hỏi một sự đổi mới kịp thời và toàn diện. hoàn toàn tự chủ về tài chính và sản xuất bung ra làm ăn tạo nên một sinh khí mới cho nền kinh tế quốcgia. sản xuất như thế nào . Đây là một khó khăn rất lớn cho chúng ta trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. bắt đầu công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế. Ngoài đồng Rúp chuyển nhượng là chính . Trước năm1986. và sản xuất cho ai hoàn toàn là do ý muốn chủ quan của các nhà hoạch định chính sách. Toàn bộ các tổ chức kinh tế được “cởi trói”. Yêu cầu của nền kinh tế lúc này là cần nhanh chóng có một đường lối đổi mới đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng và suy thoái kéo dài. Thời kỳ này. bắt đầu định hướng một nền kinh tế thị trường. Đây là kết quả của quá trình cải cách sâu rộng mọi mặt đời sống kinh tế. đất nước bị đặt trong tình trạng rất nhiều thách thức lạm phát phi mã. cán cân thanh toán mất cân đối nghiêm trọng . Hệ thống ngân hàng tài chính cũng bắt đầu được cải cách . Với việc tách hệ thống ngân hàng từ một cấp thành hai cấp đã phản ánh được tư duy thị trường trong hoạt động ngân hàng . Năm 1986.

1985 191. Thời kỳ này tốc độ lạm phát diễn ra với tỷ lệ cao chóng mặt . Giai đoạn 1988 đến 1991 Từ năm 1987 đến năm 1991 là giai đoạn đầu tiên thực hiện cải cách cơ chế nước ngoài ).2 1987 416.nhanh chóng khắc phục thiếu sót và với sự trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế đã giúp ta nhanh chóng làm chủ công cụ tỷ giá. nghiệp vụ II. Quá trình thực hiện 1. điều chỉnh tỷ giá đồng Việt Nam (VND) với Đôla Mỹ ( đôla Mỹ là đồng tiền đóng vai trò quan trọng trong quan hệ thanh toán của Việt Nam với Bảng1 Năm Tỷ lệ lp(%) Ngày 20/10/1988 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là thủ tướng Chính phủ ) ra quyết định số 271/CT cho phép Ngân hàng Nhà nước được phép điều chỉnh tỷ giá phù hợp với sự bién động giá cả trong nước theo nguyên tắc thời giá trừ lùi10% đến 30% cá biệt đến 50%. Nay tách ra làm hai: * Ngân hàng nhà nuớc: Cơ quan thay mặt nhà nước thiết kế và thi hành người cho vay cuối cùng * Hệ thống ngân hàng Thương mại: nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ thu lợi nhuận . Việc “vừa đá bóng vừa thổi còi” đã gây nên sự mất hiệu quả trên cả hai mặt hoạt động.9 1989 176. chính sách tiền tệ.5 . Song với cách điều hành chính sách tỷ giá đúng đắn là thả nổi có kiểm soát .6 1986 587.nhờ nó mà vốn được phân phối một cách có hiệu quả trong nền kinh tếPháp lệnh về các ngân hàng và các tổ cức tín dụng và sau này đuợc sửa đổi bổ sung thành luật đã pháp luật hoá và baỏ hộ quyền lợi của các tổ chức kinh tế này .người cho vay trong nền kinh tế .7 1988 410.0 1990 167.1 1991 167. Trong những năm đầu tiên sau đổi mới chúng ta gặp rất nhiều khó khăn về dự trữ ngoại hối và thanh toán quốc tế .Quan hệ kinh tế đối ngoại dần trở nên sôi động đòi hỏi phải cóchính sách tỷ giá phù hợp.

kích thích đầu tư trong nước và ngoài nước mà không tạo những cú sốc đến hoạt động của nền kinh tế trong bối cảnh của Việt Nam lúc đó hết đang sức khó khăn về cán cân thương mại và thanh toán quốc tế thâm hụt trầm trọng . trước hết Ngân hàng Nhà nước đã từng bước đưa dần tỷ giá lên(tức phá giá đồng Việt Nam ) . Tuy nhiên . Để giải quyết vấn đề trên . tính toán trước những tác động của tỷ giá và cơ chế điều hành linh hoạt của Ngân hàng trung ương thì khó có thể chuyển đổi thành công cơ chế tỷ giá cố định sang cơ chết thả nổi có kiểm soát . nhưng tỷ lệ điều chỉnh tỷ giá chỉ khoảng từ 10-30% so với mức thay đổi giá thực tế. đồng thời khuyến khích tối đa nguồn vốn trong nước và quốc tế . Xuất phát từ thực tế trong cách điều chỉnh tỷ giá đồng Việt Nam với ngoại tệ (chủ yếu là USD) là mức giá cả dù biến động lớn như trong bảng 1.từ khi xoá bỏ chế độ bao cấp qua hệ thống giá cả cho đến nay . mặc dù giá cả biến động lớn nhưng Ngân hàng Trung ương đã xem xét mức độ ảnh hưởng của tỷ giá khi đưa lên quá cao sẽ lại trực tiếp ảnh hưởng đến giá đầu vào của sản phẩm và đẩy giá đầu ra lên cao.gây bất ổn định cho cho mức giá cả trong nước . Đang từ chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá chuyển sang cơ chế tỷ giá thị trường biến động theo cung cầu và thống nhất môt tỷ giá là cả một vấn đề không đơn giản . làm sao vừa từng bước chuyển đổi cơ chế điều hành tỷ giá theo hướng thị trường nhưng vẫn phải đảm bảo khuyến khích xuất khâủ .1989 xuất khẩu chỉ bằng 1/3 nhập khẩu . Khi bước sang cơ chế thị trường mọi chế độ . trong sự biến động chung của giá trong nước và quốc tế . Tỷ giá là một yếu tố hết sức nhạy cảm đối với hoạt động của nền kinh tế thị trường. với chức năng chính của Ngân hàng trung ương là đảm bảo sự ổn định giá cả trong nước thúc đẩy xuất khẩu . Nếu không có những bước đi thận trọng . khi nâng tỷ giá cao đột ngột sẽ gây tác động mạnh đến mức giá trong nước .hầu hết giá cả được hình thành trên thị trường và nó được biến động theoquy luât cung cầu . Thực tế của Việt Nam trong những năm 1988. Vì vậy. chính sách cũng như cơ chế điều hành trong thời kỳ tập trung bao cấp đều phải chuyển đổi phù hợp với cơ chế kinh tế mới để đáp ứng nhu cầu phát triẻn của nền kinh tế thị trường .thì tỷ giá Việt Nam cũng phải được điều chỉnh một cách linh hoạt hơn phù hợp với sự biến động giá cả trong và ngoài nước . Nếu tính đơn thuần về mặt số học và các công thức lý thuyết về sức mua ngang giá của đồng Việt Nam với ngoại tệ thì tỷ giá đồng Việt Nam phải phá giá rất lớn . nếu một chính sách tỷ giá mà không đảm bảo tính ổn định tương đối thì không thể khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước bỏ vốn ra đầu tư vì rủi ro tỷ giá quá lớn.Ở Việt Nam . Với trách nhiệm hết sức nặng nề . Từ năm 1987 đến năm 1991. tỷ giá cũng được bước đầu điều chỉnh mặc dù chỉ số giá cả hằng năm biến động rất lớn. . Những năm đầu khi khoảng cách tỷ giá danh nghiã với tỷ giá thực tế còn cách xa thì các bước điều chỉnh trên dưới 10%mỗi lần và cụ thể riêng trong năm 1989 đã điều chỉnh giá đồng Việt Nam 43%trong khi tỷ lệ lạm phát là 176% là tương đối phù hợp .

. Giai đoạn 1991_1994 Thời kỳ 1991-1994 là giai đoạn tiếp theo của quá trình chuyển đổi cơ theo hướng thị trường .2. Các chính sách lớn của chính phủ Nghị quyết Đại hội thanh toán quốc tế lần thứ 6 đề ra 3 chưong trình kinh tế lớn mà Đảng .Nhà nước . đứng về phương diện thanh toán quốc tế. Cán cân thanh toán quốc tế và cán cân thương mại của Việt Nam thiếu hụt lớn.Chương trình khuyến khích sản xuất hàng tiêu dùng . Với ba chương trình kinh tế lớn đó đã hỗ trợ đắc lực cho cung ngoại tệcủa nền kinh tế và giảm nhu cầu chi ngoại tệ tạo nên thế cân bằng cho cán cân thanh toán của Việt Nam. Đứng trước tình thế hết sức khó khăn về cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế và nhu cầu bức bách về ngoại tệ cho thanh toán quốc tế để phát triển kinh tế . năm 1988 với sự tham . phục vụ đắc lực cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước và xây dựng điều hành chính sách tỷ giá. chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. làm thế nào để giải quyết được vấn đề trên mà không tác động mạnh đến tình hình giá cả trong nước.Chương trình lương thực thực phẩm. sự thiếu hụt trong cán cân thưong mại được bù đắp bằng các khoản viện trợ . a. Tất cả các nước XHCN cũ có quan hệ thanh toán với Việt Nam đều đồng loạt chuyển sang thanh toán với Việt Nam bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi trong cả quan hệ mậu dịch và phi mậu dịch . ổn định sản xuất và phát triển kinh tế. ổn định giá trị đồng tiền. b. Chính phủ phải tập trung chỉ đạo: . Việt Nam lại chịu thêm một sức ép vô cùng khó khăn. Trong giai đoạn này . Xử lý vấn đề này không phải chỉ có ngành ngân hàng mà phải phối hợp đồng bộ giữa các chính sách lớn của chính phủ và của các ngành . .Chương trình sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Việc chuyển đổi có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thanh toán của Việt Nam bằng dự trữ ngoại tệ tự do chuyển đổi Vì từ trước những năm 1991 hầu hết nguồn thu ngoại tệ của Việt Nam đều bằng đồng Rúp chuyển nhượng. nhập khẩu gấp ba lần xuất khẩu. Về phía Ngân hàng Nhà nước Là cơ quan được Nhà nước giao cho trọng trách quản lý nguồn ngoai tệ vào ra của nền kinh tế. cho vay của các nước XHCN và chủ yếu của Liênxô cũ.

mặt khác thông qua việc mua bán ngoại tệ qua quỹ điều hoà không những quỹ không giảm mà còn tăng lên mức đáng kể trong khi tỷ giá được ổn định một cách tương đối. Thông qua việc mua bán ngoại tệ tại hai Trung tâm giao dịch ngoại tệ Ngân hàng Trung ương đã hướng nhu cầu ngoại tệ vào các mục tiêu thiết yếu của mình.của Ngân hàng Nhà nước. một mặt tạo cho ngân hàng Trung ương một lực thực sự để can thiệp có hiệu quả nhằm ổn định chính sách tỷ giá . Việc thành lập quỹ điều hoà ngoại tệ tạo điều kiện để có thể điều hành một cách linh hoạt theo cơ chế thị trườngđầy biến động. Cách thức giao dịch mua bán ngoại tệ theo phương thức đấu giá . tỷ giá biến . nếu để tỷ giá hình thành theo quan hệ thị trường cung cầu. đáp ứng nhu cầu bức thiết của nền kinh tế về ngoại tệ để thanh toán quốc tế . Nó là tiền than của thị trường hối đoái sau này . Chính phủ đã ban hành văn bản quản lý ngoại hối mới trong đó có một số điểm thay đổi cơ bản nhằm khuyến khíchmọi nguồn ngoại tệ chuyển vào Việt Nam và tập trung thu hút nguồn ngoại tệ trong nước cho mục tiêu phát triển kinh tế đất nước .Việc thành lập hai trung tâm giao dịch là bước ngoặt đầu tiên của hệ thống ngân hàng trong quá trình đổi mới thực sự cơ chế theo hướng thị trường . điều này tác động không tốt tới mức giá trong nước . Việc các ngân hàng thương mại và các tổ chức kinh tế tham gia vào giao dịch tại hai trung tâm là bước tập dượt đầu tiên trong giao dịch ngoại tệ theo cơ chế thị trường . cung ngoại tệ còn thấp hơn cầu ngoại tệ rất nhiều. kịp thời can thiệp khi có biến động lớn về tỷ giá trên thị trường. Trong thời gian qua với việc điều hành quỹ điều hoà một cách rất linh hoạt và hiệu quả . Tỷ giá ngoại tệ và đồng Việt Nam được hình thành tương đối khách quan theo quan hệ cung cầu trên thị trường . đó là việc NHNN đã hình thành hai trung tâm giao dịch tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 8 vag tháng 11 năm 1991.Ngân hàng Trung ương kịp thời nắm bắt được cung cầu ngoại tệ trên thị trường để điều hành chính sách tiền tệ cũng như tỷ giá theo tín hiệu thị trường . Thành lập quỹ điều hoà ngoại tệ: Ngân hàng Nhà nước đã tham mưu cho Chính phủ thành lập quỹđiều hoà ngoại tệ tại Ngân hàng Nhà nước để tập trung đáp những nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế trong giai đoạn đầu còn khó khăn và can thiệp thị trường để ổn định tỷ giá . Thành lập hai trung tâm giao dịch ngoại tệ : Năm 1991 là năm đánh dấu mốc lịch sử về việc hình thành nền móng thị trường hối đoái tại Việt Nam . Thông qua mua bán trên trung tâm giao dịch ngoại tệ mà Ngân hàng Trung ương là người tổ chức và điều hành . tỷ giá sẽ biến động rất lớn. Trong thời kỳ đầu hoạt động của trung tâm giao dịch ngoại tệ. Vì vậy thông qua hình thức can thiệp của Ngân hàng Trung ương.

tạo ra phương thức kinh doanh giao dịch mang tíhn thị trường góp phần ổn định tỷ giá . Sau một khoảng thời gian dài khoảng hơn 3 năm hoạt động của hai trung tâm giao dịch ngoại tệ đã phát huy tích cực vai trò trong việc điều hoà cung cầu ngoại tệ. đầu tư nước ngoài. Cả hai yếu tố trên đã đồng thời ảnh hưởng tích cực đến sự ổn định giá trị đồng Việt Nam và tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia. nhưng có lúc phải mua vào rất nhiều như cuối năm 1992 và năm 1995 cũng như 6 tháng đầu năm 1996 nhằm hạn chế việc lên giá của đồng Việt Nam . giá cả. Tuy nhiên. Thực tế đòi hỏi phải có mô hình mới linh hoạt hơn và mang tính thị trường trong cả nước hơn chứ không phải chỉ có Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Từ khi Trung tâm giao dịch ra đời thì tỷ giá chính thức của đồng Việt Nam được xác định có căn cứ vào tỷ giá đóng cửa tại các phiên giaodịch ngoại tệ tại hai trung tâm. Tỷ giá chính thức đồng Việt Nam trước kia được Ngân hàng Trung ương tính toán trên cơ sở kinh tế mang tính chát chưa phản ánh quan hệ cung cầu và các yếu tố thị trường khác. Việc ổn định tỷ giá có ảnh hưởng tốt tới mặt bằng giá trong nước dẫn đến chỉ số lạm phát được duy trì ở mức chấp nhận được và có chiều hướng đi xuống . Giai đoạn đầu khi mới bắt đầu điều hành tỷ giá theo vơ chế thị trường . một mặt vẫn phản ánh quan hệ cung cầu mặt khác không gây tác động tới giá cả và tạo một tâm lý ổn định cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng như dân chúng yên tâm đầu tư và gửi tiền để phát triển kinh tế. Sau một thời gian dài từ năn 1992 đến năm 1993. quan hệ cung cầu không còn khoảng cách quá lớn thì Ngân hàng Trung ương đã từng bước giảm sự can thiệpvà để cho tỷ giá hình thành một cách khách quan hơn trên thị trường theo quy luật cung cầu. tuy nhiên thời gian tiếp theo khi nguồn vốn ngoại tệ vào Việt Nam tăng lê.với nhu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu giao dịch ngoại tệ của cả nước. Sự ổn định giá trị đồng Việt Nam không phải chỉ về danh nghĩa mà cả về giá trị thực . 3 Giai đoạn từ tháng 10/1994 đến 1997 . mặt khác việc duy trì lãi suất thực dương đồng Việt Nam cao đã khuyến khích các tổ chức cá nhân bán ngoại tệ đẻ gửi đồng Việt Nam.động với một mức độ hợp lý . trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam qua các năm không ngừng tăng làm cho quan hệ tiền hàng được đảm bảo và giá trị của đồng Việt Nam được ổn định tạo ra môi trường ổn định vững chắc vĩ mô cho phát triển kinh tế ở Việt Nam. Ngân hàng Trung ương kiềnt quan điểm ổn định tỷ giá và toạ lòng tin cho dân chúng vào sự ổn định của đồng Việt Nam cũng như tâm lý ổn định của thị trường đã thu hút được nguồn ngoại tệ lớn lao từ kiều hối. việc can thiệp của Ngân hàng Trung ương rất chặt chẽ trên thị trường. Việc điều hành can thiệp của Ngân hàng Trung ương rất linh hoạt có lúc phải bán ngoạitệ ra đẻ giảm bớt việc xuống giá của đồng Việt Nam quá mạnh những năm 1991. vay nợ vào Việt Nam. cũng như tính nhanh nhạy kịp thời trong giao dịch và thanh toán của cơ chế thị trường ngày càng sôi động.

tỷ giá đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở giao dịch trên thị trường và phản ánh tương đối khách quan sức mua của đồng Việt Nam so với ngoại tệ. Từ 1997 đến nay: Giai đoạn điều hành tỷ giá linh hoạt có sự điêu tiết của nhà nước . . đặt Việt Nam trước sức ép phá giá nội tệ. Với cơ chế điều hành mới. cao hơn của hoạt động ngoại tệ ở Việt Nam .sâu rộng và khách quan. Thời gian giao dịch hầu hết các ngày làm việc trong tuần . từ quản lý có tính chất hành chính sang điều hành theo hướng thị trường có sự quản lý của nhà nước . tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động hơn trong kinh doanh đồng thời vẫn đảm bảo được vai trò kiểm soát của Nhà nước. Từ ngày 26/12/1999 thay bằng việc công bố tỷ giá chính thức . Năm 1999 .Ngân hàng Trung ương công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. cung cầu ngoại tệ trên thị trương này lớn phản ánh hầu như toàn bộ cung cầu ngoại tệ trong nền kinh tế. Từ đó tỷ giá đồng Việt Nam với ngoại tệ cũng được hình thành một cách khách quan hơn và phản ánh tương đối thực tế sức mua của đồng Việt Nam. hạn chế nhập khẩu và tăng dự trữ ngoại tệ. linh hoạt . Ngân hàng Trung ương thực hiện một bước đổi mới về cơ bản về điều hành tỷ giá . Tỷ giá hình thành trên thị trường ngoại tệ Liên ngân hàng mang tính thị trường cao . Nguồn ngoại tệ của nền kinh tế dồi dào. hình thức giao dịch gián tiếp thông qua hệ thống máy vi tính. các điều kiện về mặt kỹ thật trang thiết bị cho phép . Đó là bước phảttiển mớivà ở mức độ sâu hơn .Tháng 10/1994 để đáp ứng nhu cầu bức thiết trong nhu cầu giao dịch. với các điều kiện khách quan và chủ quan thuận lợi.thanh toán ngoại tệ của nền kinh tế. thị trường ngoại tệ Liên ngân hàng ra đời đã chính thức ra đời với số thành viên tham gia đầu tiênlà 24 ngân hàng thương mại và đến nay là đã có hơn 40 thành viên. Trong năm 1997 . trình độ giao dịch của các ngân hàng đã nâng cao.cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực nổ ra và gây hậu quả nghiêm trọng cho các nền kinh tế trong khu vực. Chủ trương điều hành tỷ giá một cách linh hoạt theo tình hình trong nước và quốc tế nhằm khuyến khích xuất khẩu . hệ thống ngân hàng thương mại đã phát triển cao về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng. Thành viên tham gia thị trường Liên ngân hàng ngoài các ngân hàng thương mại còn có cả những nhà xuất khẩu lớn và các tổ chức có thu ngoại tệ lớn. Việt Nam đã thận trọng và nhiều lần điều chỉnh tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam bằng nhiều hình thức. 4.

200 10. cơ ché điều hành tỷ giá và diễn biến tỷ giá của đồng Việt Nam so với ngoại tệ là đúng đắn.956 .535 136.tăng lên hơn hai tháng nhập khẩu 1990 1991 1992 1993 1994 1995 38.4 2338.1 2580.571 170. xuất nhập khẩu.8 3924 5826 8381 6.707 110. tỷ giá thị trường tự do.1 167. Nă GDP m (tỷ đồng) Lạm phát % XK (tr$) NK (tr $) Tỷ giá chính thức Tỷ giá TT Dự trữ tự do đ/USD 5601 9.167 76. Một mặt giữ vững giá trị đồng Việt Nam không những giá trị danh nghĩa mà cả giá trị thực của nó.Đánh giá Tóm lại. dự trữ ngoại tệ quốc gia.978 11042 ngoại tệ từ mứcdự trữ không đáng kể.230 10.tốc độ phát triển kinh tế .III.2 4054 5198 2752. mặt khác vẫn khuyến khích xuất khẩu tăng lên hàng năm.5 117. kể từ khi bước sang giai đoạn phát triển kinh tế mới theo hướng kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước.2 114.642 10.5 105.500 12. Sự thành công khong phải chỉ trên lý thuyết mà nó được thể hiện trong mối tương quan với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác có liên quan như: chỉ số lạm phát .920 11. cán cân thanh toán quốc tế được thể hiện dưới đây. Các bước đi trong chính sach tỷ giá.7 2404 2087.4 112.000 167.1 2540. về chính sách tỷ giá cơ chế điều hành và diễn biến tỷ giá của đồng Việt Nam với ngoại tệ đã chuyển hướng phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam góp phần không nhỏ vào sự thành công của đất nước sau 10 năm đổi mới và phát triển kinh tế.636 10.240 11.7 2985. diễn biến tỷ giá trong hệ thống ngan hàng. góp phần ổn định mặt bằng giá trong nước và kìm chế lạm phát. thu hút nguồn ngoại tệ lớn và Việt Nam đáp ứng nhu cầu nhập khẩu của nền kinh tế ngày một tăng mà còn tăng đáng kể dự trữ ngoại tệ quốc gia .

11.021 CHƯƠNG III GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỰ DO TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM .

do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất chưa cao.Tiến hành tự do hoá lĩnh vực tài chính .Hoàn thiện các văn bản pháp quy về quản lý ngoại hối .cách thức điều hành tỷ giá .Tập trung tích luỹ ngoại tệ do Ngân hàng Trung ương quản lý 3. cũng không thể kỳ vọng vào việc thả nổi tỷ giá để tự điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế được . độ co giãn của cung hàng hoá xuất khẩu củaViệt Nam chưa nhiều. Đặc biệt là do thị trường tài chính tiền tệ chưa phát triển. thả nổi hoàn toàn.Cần tiếp tục duy trì cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay trong thời gian ngắn tới theo hướng nới rộng kiểm soát cho phép tỷ giá được hình thành khách quan hơn theo các quy luật của thị trường . 4. chưa có thị trường chứng khoán. II. Giải pháp cho vấn đề tự do hoá tỷ giá 1.Tiếp tục hoàn thiện thị trường ngoại hối và thị trường nội tệ 2.do nền kinh tế thị trường chưa phát triển . Ngược lại. nên nếu thả nổi tỷ giá thì xuất khẩu cũng không tăng lên mạnh mẽ và nhập khẩu cũng không thểgiảm nhiều được. chưa có điều kiện thả nổi tỷ giá hoàn toàn. Tất cả điều đó làm cho việc thả nổi tỷ giá sẽ không mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam . Những bất lợi của Việt Nam nếu thực hiện tự do hoá trong điều kiện hiện nay. giảm lạm phát thực hiệ các chương trình sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu nhằm cân đối cán cân thanh toán 6. . nên chưa tạo điều kiện thật tốt cho xuất khẩu-nhập khẩu hàng hoá tư bản. bởi vì: Thứ nhất. việc thả nổi tỷ giá hoàn toàn lại có khả năng làm cho thương mại không ổn định và dẫn đến nạn đầu cơ tỷ giá mang lại hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế. Đối với Việt Nam trong thời gian trước mắt chưa thể thực hiện được mậu tự do hoàn toàn nênkhông thể áp dụng chế độ linh hoạt. 5. tự do hoá tài khoản vốn và đưa đồng Việt Nam trở thành có khả năng chuyển đổi. Thứ hai .ổn định kinh tế vĩ mô.I.

. Cơ chế này là bước trung gian trong quá trình tự do hoá . Tỷ giá được tính toán trên cơ sở sao cho không ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu và còn thu hút được nguồn vốn ngoại tệ của các nhà đâu trong và ngoài nước. chúng ta đang tích cực chuyển sang cơ chế tỷ giá thả nổi có kiểm soát của nhà nước. Hơn mười năm đổi mới cách điều hành tỷ giá nước ta. Với chính sách tỷ giá đúng đắn Việt Nam đã vượt qua đã vượt qua được những cam go thử thách đảm bảo nguồn dự trữ ngoại tệ đủ mạnh cho khả năng thanh toán và chống đỡ được với những cú sốc từ bên ngoài.KẾT LUẬN Xác định cơ chế điều hành tỷ giá và sử dụng tốt công cụ này đòi hỏi một sự phối hợp đồng bộ và nhịp nhàng giữa chính phủ và toàn bộ các chủ thể trong nền kinh tế . Một chế độ tỷ giá đưa ra được coi là hợp lý khi mà nó làm tăng những yếu tố tích cực của các biến số kinh tế vĩ mô.

Danh mục tài liệu tham khảo 1. Mishkin Nxb Khoa học kỹthuật 1999 3.S. Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính Frederic.Mankiw Nxb Thống kê 1999 2. Kinh tế vĩ mô N.Gregory. Các tạp chí chuyên ngành .

2 tháng trước 86 lượt xem Trong bối cảnh thị trường ngoại hối trên thế giới đang có những biến chuyển mạnh và ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường ngoại hối tại Việt Nam.850 tỉ USD) Những tài sản của dự trữ ngoại hối thường bao gồm nhiều loại tài sản bằng nhiều ngoại tệ khác nhau chủ yếu là tiền gửi tại các ngân hàng. thanh toán và hoán đổi đồng tiền giữa các chính phủ.850 tỉ USD). .528 tỉ USD (hiện nay lên đến 2. các tổ chức tài chính và phi tài chính và các thành phần kinh tế khác trên toàn thế giới. Số lượng giao dịch này ngày càng tăng do sự phát triển mậu dịch và tiến trình toàn cầu hóa. nhiều NHTƯ đã bắt đầu đầu tư vào những loại trái phiếu doanh nghiệp (hạng investment grade). tuy nhiên. Ngoài ra. Dự trữ ngoại hối của các NHTƯ: Theo những khảo sát mới đây của BIS (Bank for International Settlements) dự trữ ngoại hối của các NHTƯ trên thế giới càng ngày càng tăng cao. Công khố phiếu dài hạn là những loại tài sản dự trữ càng ngày càng được ưu tiên. việc khảo sát thị trường ngoại hối trên thế giới. luân chuyển nguồn vốn qua các biên giới. phần trình bày của tác giả giới hạn vào hai khía cạnh quan trọng trong thị trường ngoại hối: quản lý dự trữ ngoại hối của các ngân hàng trung ương (NHTƯ).Quản lý ngoại hối của ngân hàng trung ương trên thế giới Xem tin gốc Vietstock . Cùng với số lượng tăng cao là những biến động trên thị trường ngoại hối và các biện pháp của các chính phủ hay các khu vực kinh tế (như EU) càng ngày càng trở nên quyết liệt hơn để bảo vệ cho đồng tiền và nền kinh tế của mình. công khố phiếu của chính phủ và các chứng từ có giá khác.** Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc cuối năm 2010 lên đến 2. và quản lý rủi ro trong giao dịch ngoại hối của các ngân hàng thương mại (NHTM) và các doanh nghiệp (DN). futures và interest swaps cũng được sử dụng ngày càng nhiều hơn cho mục đích quản lý linh hoạt nguồn dự trữ ngoại hối. Vì sự bao quát và phức tạp của thị trường ngoại hối trên thế giới. Một cuộc khảo sát vào năm 2007 cho thấy Trung Quốc là nước tích lũy dự trữ ngoại hối cao nhất với tổng dư số dự trữ vào tháng 12/2007 là 1. Ngày hôm nay có nhiều người đang nói đến một cuộc chiến tranh tiền tệ có khả năng xảy ra bất cứ lúc nào giữa những cường quốc và các khu vực kinh tế của thế giới. và thậm chí cổ phiếu vì lý do lợi nhuận như sẽ bàn đến trong phần sau. công cụ phái sinh như forwards và currency swaps. Với tổng số lượng giao dịch trên toàn thế giới lên đến trên 4 ngàn tỉ đô la Mỹ mỗi ngày thị trường ngoại hối được sử dụng để thanh toán những hoạt động mậu dịch giữa các quốc gia. theo sau là Nhật Bản với dư số là 948 tỉ USD và Nga 464 tỉ USD (*Bảng xếp hạng này bao gồm chủ yếu các NHTƯ trong nhóm G20 và những NHTƯ có dự trữ ngoại hối trên USD80 tỉ. đặc biệt là cách quản lý ngoại hối trên thế giới là điều cần thiết để có thể rút ra những kinh nghiệm và bài học cho việc quản lý ngoại hối ở Việt Nam Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này Thị trường ngoại hối là một thị trường lớn nhất trong nền kinh tế toàn cầu.

nhiều NHTƯ đã đưa vấn đề quản lý rủi ro trở thành trọng tâm trong việc quản lý dự trữ ngoại hối. phổ biến tại nhiều quốc gia có chế độ điều hành và kiểm soát tỉ giá. các NHTƯ đầu tư nhiều vào hệ thống hạch toán và báo cáo tự động để định lượng và định tính những rủi ro trong quản lý ngoại hối. Đài Loan. đồng thời đầu tư nhiều vào các cơ sở hỗ trợ trong trường hợp có thiên tai hay sự cố. Về rủi ro tín dụng đây là một lĩnh vực khá nhạy cảm với NHTƯ vì ngoài rủi ro thiệt hại tài chính. thiệt hại về uy tín là điều các NHTƯ đều muốn tránh nếu xảy ra những món nợ xấu. Tuy nhiên. Mục tiêu và phuơng pháp quản lý dự trữ ngoại hối của nhiều NHTƯ: Ngoài mục đích dùng dự trữ ngoại hối để can thiệp vào thị trường ngoại hối. cơ cấu lại hệ thống báo cáo để tránh xung đột quyền lợi và nghĩa vụ. cho vay và trả nợ nước ngoài. Các NHTƯ thường dùng đánh giá và xếp hạng tín dụng của các tổ chức xếp hạng tín dụng uy tín trên thế giới và thường chỉ đầu tư vào giấy tở có giá của các tổ chức kinh tế có điểm tín dụng đầu tư (investment grade). và Hàn Quốc có lượng dự trữ cao nhất so với giá trị nhập khẩu bình quân mỗi tháng. với lượng dự trữ ngoại hối ngày càng lớn và cấu trúc dự trữ được đa dạng hóa với những loại tài sản khác nhau. Một điều đáng quan tâm khác là càng ngày càng nhiều NHTƯ thiết lập những “quỹ” riêng để quản lý một phần dự trữ ngoại hối của họ. NHTƯ của Trung Quốc. Đồng thời các NHTƯ cũng sử dụng ngày càng nhiều các công cụ phái sinh như currency và interest forwards và swaps để quản lý và điều hành chính sách ngoại hối linh hoạt hơn. Trong cơn khủng hoảng tài chính nhiều NHTƯ đã chịu những thiệt hại đáng kể khi mà nhiều chứng khoán loại này đã trở thành vô giá trị. Nga. các NHTƯ sử dụng dự trữ chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của quốc gia liên quan đến những hoạt động mậu dịch. Tài sản của những quỹ . So sánh với giá trị nhập khẩu bình quân mỗi tháng và nợ nước ngoài ngắn hạn. Rủi ro nghiệp vụ: Các NHTƯ có khuynh hướng tăng cường việc quản lý nội bộ trong những năm gần đây qua việc thiết lập những đơn vị phụ trách những khu vực kinh doanh riêng biệt. Nhật Bản. NHTƯ chia rủi ro làm hai loại: rủi ro tài chính (financial risk) và rủi ro nghiệp vụ (operational risk): Rủi ro tài chính: bao gồm rủi ro thanh khoản. rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng. Cũng trong chiều hướng thuyên giảm là dự trữ vàng. Với mục tiêu sinh lời từ việc quản lỳ dự trữ ngoại hối và do đó tăng tính rủi ro của các danh mục dự trữ. cũng như có lượng dự trữ cao nhất so với nợ nước ngoài ngắn hạn. Tuy nhiên các qui định pháp lý về NHTƯ thường không đề cập đến khía cạnh rủi ro thị trường của dự trữ ngoại hối.backed securities trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là một trong những thành phần dự trữ ngoại hối quan trọng tại nhiều NHTƯ. và nhất là khi NHTƯ phải giữ những tình trạng ngoại hối dương hay âm (long or short position) cho tài sản dự trữ được định giá bằng ngoại tệ nào đó. một loại rủi ro không thể tránh khỏi khi mà các danh mục dự trữ trở nên đa dạng.Một điều đáng lưu ý mortgage. mục tiêu sinh lời càng ngày càng được nhiều NHTƯ quan tâm và theo đuổi hơn. Theo truyền thống hoạt động của NHTƯ các đầu tư dự trữ phải có tính thanh khoản rất cao và các qui định pháp lý của các quốc gia đều nhấn mạnh chỉ tiêu này. được gọi một cách mập mờ là “Sovereign Wealth Funds (SWF)”. chuyển ngân hai chiều.. Sau khủng hoảng loại tài sản này đã bị giảm thiểu rất nhiều trong thành phần dự trữ ngoại hối. Vì tính phức tạp và đa dạng của các danh mục đầu tư ngày càng cao. và các hoạt động tài chính và phi tài chính khác. Bắt đầu từ thập niên 80 các NHTƯ đã giảm dần dự trữ bằng vàng vì tính sinh lời thấp của vàng và những biến động giá vàng trên thị trường thế giới. lượng dự trữ ngoại hối của các NHTƯ được xác định như sau qua một cuộc nghiên cứu của BIS năm 2008 Theo bảng so sánh này.

Liên quan đến mức độ công khai hóa thông tin về quản lý ngoại hối một trong những yếu tố quyết định việc này là liệu việc công khai hóa ảnh hưởng thế nào đối với sự hữu hiệu trong việc quản lý ngoại hối của NHTƯ?. nhưng ngay cả các nước có lượng dự trữ lớn như Trung Quốc. dự trữ ngoại hối đưa ra nhiều rủi ro và thiệt hại khi thị trường ngoại tệ biến động. Việc quản lý những SWF thường ít bảo thủ hơn do với việc quản lý tài sản dự trữ trực tiếp bởi NHTƯ. Cùng với xu hướng nâng cao tính độc lập của NHTƯ cũng là sự yêu cầu tính minh bạch và tinh thần trách nhiệm của NHTƯ. và do đó NHTƯ thường không công khai hóa những hoạt động của quản lý ngoại hối. độ trễ và mức thường xuyên của các báo cáo. tại các nước có chế độ tự do hối đoái thì việc đưa thông tin liên quan đến quản lý ngoại hối của NHTƯ như Federal Reserve Bank chỉ có tính cách thông tin và định hướng. Trong những trường hợp này NHTƯ . Trong nhiều trường hợp NHTƯ xác định tỉ giá chính thức và dùng các biện pháp hành chính để bảo đảm tỉ giá cố định. Đây là môt trong những động lực chính thúc đẩy NHTƯ công khai hóa việc quản lý ngoại hối. Tại các quốc gia có chế độ kiểm soát hối đoái thì nhu cầu có một khoảng không gian lớn để xoay sở có tính cách chiến thuật rất lớn. các mức chuẩn trong việc thực thi các chính sách ngoại hối.này tách khỏi bảng cân đối kết toán của NHTƯ. Một phần đáng kể trong tài sản này được thường xuyên dùng để can thiệp trong thị trường ngoại hối của các quốc gia. Trong những trường hợp khác NHTƯ giao dịch tích cực trên thị trường ngoại hối và trở thành “market makers” để đưa tỉ giá về mức mong muốn. Tuy nhiên sự khác biệt ở loại thông tin. Tổng tài sản dự trữ ngoại hối của các NHTƯ được BIS dự đoán khoảng 6. Ngược lại.200 tỉ. Điều này đúng với nhiều nước nói tiếng Anh và các nước Bắc Âu. tạo thanh khoản cho thị trường. Tại các nước đang phát triển hay mới nổi. Các NHTƯ trên thế giới càng ngày càng tăng cường việc công khai hóa những thông tin về quản lý ngoại hối cho công chúng. Tại Á Châu. Vấn đề được đặt ra thường xuyên cho các nhà làm và quản lý chính sách tiền tệ là mức độ hợp lý của dự trữ ngoại hối. và nhiều NHTƯ cung cấp thông tin về các loại tài sản dự trữ với những chuẩn mực rõ ràng. Phần lớn các NHTƯ cung cấp thông tin về cơ cấu tổ chức trong việc quản lý ngoại hối. Các NHTƯ can thiệp vào thị trường ngoại hối để đạt các mục đích vĩ mô như kiềm chế lạm phát và ổn định thị trường đồng thời theo đuổi các mục đích trực tiếp như tác động tỉ giá. các hạn mức rủi ro chấp nhận được (risk tolerance). một phần khác để giữ thanh khoản trên thị trường.300 tỉ USD vào cuối năm 2007. Đối với các nước có lượng dự trữ ngoại hối thấp thì hiển nhiên khả năng can thiệp vào thị trường ngoại hối của các nước này bị hạn chế. một khối lượng tài sản lớn nằm trong tay các NHTƯ. và tác động dự trữ ngoại hối. vì sợ các thành phần tham gia thị trường có thể đón đầu và vô hiệu hóa những biện pháp của NHTƯ. còn tại các quốc gia có chế độ quản lý ngoại hối thì việc đưa thông tin có tính cách chỉ đạo. Tại các NHTƯ mà lượng dự trữ rất lớn và NHTƯ đóng vai trò tích cực trong thị trường tài chính để đầu tư và can thiệp thì các NHTƯ này rất do dự trong việc công khai hóa thông tin về các loại ngoại tệ dự trữ và sự phân bổ những loại ngoại tệ đó. Một vài NHTƯ cho biết những loại ngoại tệ nào nằm trong reserve mix và phân nửa số các NHTƯ thông báo về kết quả kinh doanh trong việc quản lý ngoại hối Việc tăng cường công khai hóa những thông tin về quản lý ngoại hối của các NHTƯ có nhiều nguyên nhân. tại các quốc gia có chế độ hối đoái thả nổi và ít can thiệp vào thị trường thì việc công khai hóa thường xuyên hơn và rộng rãi hơn. đáng kể là State Foreign Exchange Investment Corporation của Trung Quốc và Korea Investment Corporation của Hàn Quốc. và một phần khác để đầu tư sinh lời. Hơn nữa. NHTƯ can thiệp thị trường ngoại hối để hỗ trợ giá đồng nội tệ gắn liền với một hay nhiều ngoại tệ khác. BIS ước đoán tổng tài sản của các SWF lên tới USD3. giảm thiểu biến động tỉ giá. khi các thành phần kinh tế đặt tin tưởng ở NHTƯ là cơ quan chủ đạo quản lý chính sách tiền tệ thì việc thỏa mãn nhu cầu về thông tin liên quan đến quản lý ngoại hối của quần chúng là điều tất yếu và NHTƯ dùng những thông tin đó để hướng dẫn và điều tiết thị trường. Nói chung.

Cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế.bán ra hay mua vào những lượng ngoại hối rất lớn với mục đích điều chỉnh tỉ giá thị trường theo hướng của NHTƯ. góp phần gia tăng lạm phát. Trường hợp của Trung Quốc là trượng hợp đáng nghiên cứu. Về quyền quyết định can thiệp thị trường ngoại hối thì một nghiên cứu của BIS cho thấy phần lớn các NHTƯ dành quyền quyết định những điều chỉnh lớn cho Thống đốc và một số nhỏ NHTƯ ủy quyền cho các hội đồng như hội đồng điều hành (executive board) hay hội đồng chính sách tiền tệ (monetary policy board). Trung Quốc đã thực hiện cải cách kinh tê từ năm 1979. Năm 1994 Bank of China phá giá 50% đồng NDT điều chỉnh mạnh từ 5.6% vào cuối năm 2010 trong khi dự trữ ngoại hối tăng từ 51. tăng tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.7 NDT/USD đồng thời cũng thực hiện chính sách kết hối. Chính sách này đã đưa đến việc tich lũy khối lượng dự trữ rất cao. Việc điều chỉnh tỉ giá mạnh tay vào năm 1994 đã góp phần vào vào sự tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát tại quốc gia này.850 tỉ USD trong cùng thời kỳ.6 tỉ USD lên đến 2. Một giải pháp khác là cách tính sức mua tương đương (purchasing power parity). Nhưng mô hình này đưa ra những khó khăn trong việc định nghĩa về sự quân bình của cán cân ngoại thương. Với quan điểm này NHTƯ phá giá đồng nội tệ để hổ trợ xuất khẩu. BoC mới nới lỏng chính sách kết hối ngoại tệ. Tại các quốc gia có chế độ quản lý hối đoái. Tại một số quốc gia khác với tình trạng nhập siêu cao thì chính sách này có tác dụng là làm tăng giá trị hàng nhập khẩu. một trong những vấn đề các NHTƯ phải giải quyết là câu hỏi tỉ giá nào là thích hợp. khi dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng lên 139. Tuy nhiên. Sau 13 năm Trung Quốc đã xóa bỏ chinh sách kết hối. Chỉ đến cuối năm 1997.89 tỉ USD. Trung Quốc cũng tiến hành cải cách chính sách tỉ giá. và do đó trong nhiều trượ̀ng hợp bất lợi cho phát triển kinh tế. Sau khi nhận ra sự yếu kém của cơ chế quản lý kinh tế theo kế hoạch. Một giải pháp nữa là quan điểm tỉ giá phải hổ trợ phát triến kinh tế. cách tính này cũng không bảo đảm tính thực tế trong việc so sánh cùng một loại hàng hóa tại nhiều quốc gia khác nhau. Trung Quốc đang thực hiện thí điểm cho phép một số doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu được gửi ngoại tệ ở nước ngoài. Một trong những giải đáp cho câu hỏi này quan điểm làm sao tỉ giá tạo đươc sự quân bình trong cán cân ngoại thương. bắt buộc các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội bán nguồn thu ngoại tệ cho các ngân hàng được ủy quyền và không cho phép các tổ chức kinh tế và cá nhân mở tài khoản để lưu giữ ngoại tệ. điển hình là Trung Quốc. Ngày nay. Quản lý tỷ giá hối đoái tại Việt Nam TCKT cập nhật: 12/06/2006 . Tỉ lệ lạm phát giảm từ 24% năm 1994 xuống mức 4. NHTƯ đóng vai trò dẫn dắt thị trường và đi trước thị trường.8 NDT/USD xuống 8.

tích trữ và kiềm chế tác động xấu của thị trường ngoại tệ chợ đen. tạo điều kiện cho hội chứng “ngoại tệ hóa”.Phối hợp chặt chẽ.Đưa dần các công cụ quản lý tiền tệ trên thế giới vào áp dụng thực tiễn. . tăng nguy cơ lạm phát. điều chỉnh như thế nào để tỷ giá theo sát được những cân đối lớn của Chính phủ và phản ánh xác thực hơn cung cầu thị trường hiện vẫn là một mục tiêu nan giải. cán cân ngân sách. mà do sự phối hợp hợp lý giữa các chính sách kinh tế vĩ mô. Thứ tư: Không ngừng nâng cao uy tín của đồng Việt Nam trên cơ sở duy trì sự tương quan hợp lý giữa giá trị đối nội và đối ngoại của nội tệ. có nghĩa tại một thời điểm phải xác định rõ yếu tố nào cần ưu tiên và yếu tố nào có thể hy sinh để đạt lợi ích tổng thể tối đa.Hoàn chỉnh cơ chế quản lý giao dịch ngoại hối và cơ sở pháp lý cho việc điều hành thị trường ngoại tệ. Thứ ba: Xây dựng chính sách tỷ giá trên cơ sở hội nhập thị trường tiền tệ trong nước với quốc tế nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính hạn chế và tránh nguy cơ tụt hậu. vấn đề này có thể xem xét dưới các góc độ sau: 1. lạm phát và ngoại thương chỉ là yếu tố ngoại sinh dù có tác động qua lại lẫn nhau. thu nhập người lao động. nhưng đi kèm là một chính sách thắt chặt lượng . 2. cung ứng vốn) nhằm tác động có hiệu quả vào nội tệ từ nhiều góc độ. Cụ thể: . Theo quan điểm cá nhân. đồng bộ với các chính sách và giải pháp bộ phận trong lĩnh vực tiền tệ (như lãi suất. Thứ năm: Đấu tranh có hiệu quả với hiện tượng đầu cơ. . đầu tư nội địa. Điều quan trọng để đạt các mục tiêu trên không chỉ quyết định bởi chế độ tỷ giá hối đoái. hướng dần tới mục tiêu đồng Việt Nam có khả năng chuyển đổi. Quan điểm chung Thứ nhất: Chính sách tỷ giá phải được phối hợp đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác. mở rộng phạm vi điều chỉnh vĩ mô của Nhà nước. Lựa chọn chế độ tỷ giá Xét về mối quan hệ giữa mục tiêu kinh tế dài hạn và chế độ tỷ giá. Sử dụng tỷ giá bình quân liên ngân hàng làm thước đo đã phần nào tạo ra một số kết quả tích cực. việc điều hành chính sách tiền tệ theo những mục tiêu kinh tế lớn thường gặp nhiều trở ngại. ổn định giá cả. ta thấy bất kỳ nền kinh tế nào cũng tập trung vào bốn mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản là sản lượng.Phối hợp hiệu quả với các chính sách vĩ mô khác như ngoại thương. Tuy nhiên. Tuy nhiên. thuế. Thứ hai: Điều hành tỷ giá xuất phát từ lợi ích chung của nền kinh tế. quyết định tăng giá nội tệ để giảm nhẹ sức ép trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp (Chính phủ) và chấp nhận sự suy giảm tạm thời đối với xuất khẩu nếu điều này ít tạo khó khăn hơn cho nền kinh tế. việc hiện đại hóa hệ thống các tổ chức tài chính cần xúc tiến với mục tiêu phát triển thị trường tài chính nói chung để nâng cao năng lực. Ví dụ. .Thị trường hối đoái Việt Nam mang đặc trưng là thiếu các công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá. Một đồng tiền mất uy tín tất yếu làm thương tổn đến tích lũy. các doanh nghiệp dễ chịu tổn thất khi tỷ giá biến động và vì vậy. tín dụng. Điều này thể hiện rõ trong đường lối kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1989-1993 khi nội tệ gần như được “thả nổi”. việc làm và cân bằng ngoại thương (thuộc hai nhóm mục tiêu cân bằng nội và cân bằng ngoại). Bên cạnh đó.

tiềm lực Việt Nam chưa đủ để thực hiện mục tiêu này và khả năng thích ứng với các biến động lớn là chưa cao. thực trạng tài chính nước nhà vừa đòi hỏi một chế độ tỷ giá thả nổi. Bên cạnh đó. Đánh giá tình hình kinh tế trước và sau khi điều chỉnh tỷ giá Việc xác định thời điểm can thiệp vào tỷ giá. cũng như khiến tăng trưởng xuất khẩu thêm bấp bênh. phục vụ cho các mục tiêu kinh tế lớn ở từng thời kỳ. nông phẩm phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên sản lượng kế hoạch và thực tế thường chênh lệch lớn. Ví dụ. áp lực cạnh tranh luôn giữ sự chênh lệch này ở vào một mức độ hợp lý.dự báo lạc hậu.tiền cung ứng. Từ đó cho thấy nếu dựa trên các mục tiêu kinh tế cơ bản thì sự linh hoạt có kiểm soát của tỷ giá sẽ là bước lựa chọn thích hợp kế tiếp của chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn.hiện đại hóa vào lĩnh vực nông nghiệp là một chủ trương đúng đắn xét trên quan điểm phát huy lợi thế cạnh tranh. Tuy vậy. chưa phát huy đúng mức khả năng hạn chế rủi ro hối đoái. Trong trạng thái cân bằng của thị trường. Một câu hỏi đặt ra là liệu vấn đề trên có được giải quyết khi cố định nội tệ với một ngoại tệ mạnh như đồng đô la Mỹ (USD) hay không? Quan điểm này được củng cố khi việc triển khai các giải pháp điều tiết kinh tế thiếu tính đồng bộ. Khoảng cách giữa tỷ giá mua và bán của một ngoại tệ. tùy thuộc vào phạm vi giao dịch. Tóm lại. 3. Theo ý kiến riêng. chế độ tỷ giá cố định không hỗ trợ cho một nền kinh tế lệ thuộc nhiều vào xuất khẩu như Việt Nam. Một chế độ tỷ giá bán thả nổi sẽ là sự lựa chọn hợp lý. không những đã chặn đà lạm phát mà còn thúc đẩy xuất khẩu. bao cấp như trước 1989. yếu tố tâm lý luôn có ảnh hưởng lớn đến tỷ giá. cũng sẽ rất hữu ích nếu tồn tại song song các công cụ hành chính với mục đích can thiệp kịp thời đến biên độ dao động của tỷ giá. trên lý thuyết cũng như thực tiễn. can thiệp như thế nào. thiếu khoa học đã hạn chế phạm vi tác động của chính sách kinh tế vĩ mô đến tỷ giá. Ngoài ra. Điều này nhắc nhở nền kinh tế phải chú trọng đương đầu với những cơn sốc có nguồn gốc từ thị trường hàng hóa và ủng hộ cho một chế độ tỷ giá thả nổi. thu hút đầu tư nước ngoài. nó còn thể hiện sự phục hồi những sai lầm từ giai đoạn quản lý kinh tế theo mô hình tập trung. chỉ có thị trường mới quyết định được mức cân bằng hợp lý này. Hệ thống ngân hàng nhìn chung là yếu kém và nguồn dự trữ ngoại hối – một công cụ can thiệp vào tỷ giá – còn thấp. Những yếu điểm trong tài chính dự báo trước sự xuất hiện những cơn sốc có nguồn gốc từ thị trường tiền tệ và yêu cầu duy trì một chế độ tỷ giá cố định nhằm đối phó lại. Chế độ tỷ giá thả nổi không những giúp nền kinh tế loại trừ tác động của những cơn sốc từ thị trường hàng hóa mà còn giúp đạt mục tiêu cân bằng ngoại một cách dễ dàng do tỷ giá tự biến động để duy trì trạng thái cân bằng cung cầu ngoại tệ.một nghiệp vụ cơ bản về rào chắn rủi ro hối đoái – áp dụng rất hạn chế ở Việt Nam. đây là sự lựa chọn trái quy luật. Khi cán cân thương mại vẫn ở tình trạng nhập siêu thì mức dự trữ ngoại tệ khó có thể cải thiện rõ rệt vào những năm tới. nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (Swap) . các công cụ điều tiết thị trường hối đoái hiện vẫn còn sơ sài. Việc phá giá nội tệ một cách thận trọng sẽ đưa giá trị đồng Việt Nam trở về mức hợp lý hơn so với các đồng tiền khác trong khu vực. Những biến động gần đây trên thế giới đã cho thấy rằng việc lấy những ngành công nghiệp cao làm mũi nhọn chiến lược cho phát triển kinh tế là không khả thi. và rõ ràng. vừa ủng hộ chế độ tỷ giá cố định. Bởi lẽ. Xác định mức tỷ giá hợp lý là một vấn đề tùy thuộc vào nhận định của Chính phủ trong một thời kỳ rằng biến số kinh tế nào là quan trọng. từ đó tăng sức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu. tình trạng thâm hụt ngân sách hãy còn nghiêm trọng và khó suy giảm trong tương lai gần do nhu cầu chi ngân sách ngày một tăng. giải pháp liên quan đến khía cạnh này có một số điểm nên lưu ý như sau: (1) Theo sát những tín hiệu trên thị trường ngoại tệ chính thức. cộng với hệ thống thông tin . Theo nhiều nhà kinh tế. Xét dưới góc độ khác. Sự linh hoạt hoàn toàn trong điều kiện như vậy rất dễ gây biến động mạnh về tỷ giá. Không những vậy. Tuy nhiên. bổ sung những biện pháp hỗ trợ sau khi can thiệp … sẽ quyết định mức độ thành công hay thất bại của công tác điều hành tỷ giá. Việc nới lỏng biên độ dao động tỷ giá là một nhu cầu thiết thực để đưa công tác điều chỉnh tỷ giá tiến gần tới các quy luật thị trường hơn. mức độ rủi ro và tính thanh khoản của ngoại tệ đó trên thị trường. Tuy nhiên. Việc hướng quá trình công nghiệp hóa . hay cũng .

hàm lượng kỹ thuật cao trong sản phẩm. khuyến khích các hoạt động phi pháp. . Trong lúc đó. Một khi đầu ra chưa đảm bảo thì việc phá giá sẽ làm trầm trọng hơn sự thâm hụt cán cân mậu dịch. tỷ giá thực của đồng Việt Nam so với USD được đánh giá cao hơn tỷ giá thực tương ứng của các nước có quan hệ mậu dịch với Việt Nam như Trung Quốc. (3) Nâng cao năng lực các công cụ can thiệp tỷ giá . Sự tồn tại của thị trường ngoại tệ chợ đen là một tất yếu xuất phát từ thực trạng kinh tế và cơ chế quản lý ngoại hối của VN.đồng nghĩa với việc tự do hóa dần các giao dịch ngoại tệ. Xu hướng phá giá nội tệ là một định hướng đúng nhưng cần tiến hành thận trọng nhằm tránh gây sốc cho nền kinh tế. Cụ thể: Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước ở các tỉnh. và tính bất hợp pháp của nó luôn chứa đựng một khoản rủi ro nhất định. Việc nới rộng biên độ dao động tỷ giá từ 0. Độ chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá chợ đen tạo nên khái niệm độ mở “cánh kéo”. Mặt khác. Tính hợp lý bộc lộ khi hai tỷ giá này xích gần lại nhau.25% kể từ tháng 7. (2) Theo dõi những xu hướng vận động trên thị trường chợ đen. nơi mà các lực thị trường về cơ bản là không bị điều phối bởi các quy định hành chính. Theo nghiên cứu của IMF. Tập trung quản lý ngoại tệ vào một đầu mối duy nhất là Ngân hàng Nhà nước. cán cân mậu dịch hiện đang ở tình trạng nhập siêu. miễn sao nó không đủ lớn để làm rò rỉ ngoại tệ từ thị trường chính thức ra chốn chợ đen. thương hiệu …). khi cần tung dự trữ ngoại tệ vào thị trường. Khi thị trường hối đoái thế giới có biến động mạnh. Sau đây là một số đề xuất: + Xây dựng khung pháp lý thích hợp cho nghiệp vụ thị trường mở. việc phá giá đột ngột đồng VN có thể gây xáo trộn lớn trong nền kinh tế. + Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn ngoại tệ dự trữ. Thái Lan và thậm chí cả Mỹ. Thế nên.2002 được xem như bước khởi đầu cho tiến trình này. có thể giúp ích công tác điều hành tỷ giá.1% lên 0.Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: Do lượng ngoại tệ dự trữ của VN còn quá thấp nên công cụ này chưa đủ sức để giữ vai trò chủ đạo trong điều chỉnh tỷ giá. Malaysia. thành phố nên hình thành chân rết tại những đầu mối giao dịch trên trường chợ đen nhằm nắm bắt kịp thời xu hướng vận động của thị trường này. Tỷ giá danh nghĩa tăng là một lợi thế cho hàng xuất khẩu nhưng chưa thể bảo đảm khả năng cạnh tranh vì chúng ta còn vấp phải hàng rào phi thuế quan (tiêu chuẩn về kiểm dịch. Tuy nhiên. các quy định hành chính về biên độ có thể làm đóng băng thị trường ngoại tệ trong nước. chất lượng sản phẩm. đồng thời duy trì mức dự trữ ngoại tệ tương xứng với nhịp độ kim ngạch nhập khẩu. Không nhất thiết làm chúng trùng nhau vì thị trường chợ đen cũng chỉ một mảng nhỏ trong tổng thể thị trường. các công cụ điều tiết thị trường tiền tệ như nghiệp vụ thị trường mở. xu hướng hội nhập gắn liền với chiến lược cạnh tranh bằng hàng xuất khẩu cũng tạo áp lực thay đổi cách quản lý tỷ giá danh nghĩa hiện nay. trong đó ý kiến nổi bật là phải phá giá đồng VN. Mặt khác. tâm lý tiêu dùng. Nắm bắt những tín hiệu trên thị trường này. Điều đó có nghĩa hàng Việt Nam được bán trên thị trường thế giới với giá cao hơn hàng cùng loại của những quốc gia trên. Cụ thể. việc phá giá mạnh đồng VN rất có thể dẫn đến những cú sốc kinh tế nằm ngoài tầm kiểm soát của Chính phủ. ngay cả ngoại tệ của Kho bạc Nhà nước có được cũng phải bán ngay cho Ngân hàng Nhà nước và khi có nhu cầu thì mua lại như những đơn vị khác. Tốt hơn là nên chấp nhận sự chênh lệch này. + Tranh thủ tối đa khả năng tích lũy ngoại tệ. Philippines. được xem là hàn thử biểu để đánh giá mức độ hợp lý trong điều hành tỷ giá. lãi suất tái chiết khấu chưa phát huy tính ưu việt. Ngân hàng Nhà nước có thể đứng ra bảo lãnh cho các tổng công ty nhập khẩu các mặt hàng chiến lược (như xăng dầu).

5% thì trong 4 tháng trở lại đây. Vì vậy. Kể từ khi EUR ra đời đến nay. tính ổn định của đồng tiền cần được kiểm nghiệm thêm trước khi có quyết định điều chỉnh lớn trong cơ cấu dự trữ ngoại tệ. khi mọi chuyện chưa ngã ngũ thì họ không muốn thấy sự xuất hiện của một đồng tiền đối trọng thứ ba. bằng 5. Thực trạng u ám hiện nay của nền kinh tế Mỹ đã góp phần đẩy EUR tăng giá. Trung Quốc.30 USD. tháng 10 là 15. giá USD chỉ tăng 0. Giữa các thành viên EU luôn có bất đồng trên nhiều mặt. Đồng Yên Nhật: Đồng tiền này cho đến nay vẫn chưa thực sự là đồng tiền quốc tế và nước Nhật vẫn đang trong nỗ lực quốc tế hóa đồng tiền của mình. Vào ngày 19 tháng 11. Thổ Nhĩ Kỳ. JPY. IMF đã nhóm họp tại Berlin (Đức) để tìm giải pháp ổn định tỷ giá hối đoái giữa đồng USD và nhiều ngoại tệ mạnh khác. Bộ trưởng tài chính và Thống đốc Ngân hàng trung ương G20 (gồm G7. + Lựa chọn cơ cấu dự trữ ngoại tệ khả thi. Đồng Euro: Đồng tiền này mang tính quốc tế hóa thứ hai sau đô la Mỹ. Bản thân tỷ giá hạch toán mà Bộ tài chính công bố cũng giảm trong 3 tháng trở lại đây. An Độ. mức thâm hụt mậu dịch cũng lên tới 590 tỷ USD. tỷ giá VND/USD tính cả năm sẽ không tăng nếu Mỹ tiếp tục theo đuổi chính sách “một đồng USD yếu”. Chính sách này đang đe dọa sự tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu của EU. Do vậy. người Mỹ đang phải đối đầu với sự xâm lấn ngôi vị của EUR. Theo giới phân tích. mặc dù mức giảm rất nhỏ: tháng 9 là 15. Argentina. Theo các nhà kinh tế phương Tây thì người Nhật khó làm được điều này vì hai lý do: Thứ nhất. Nam Phi. Mỹ vẫn giữ vai trò là một nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới và là một đối tác quan trọng của các doanh nghiệp VN.721 VND/USD. Với thực trạng kinh tế hiện nay chưa thoát khỏi suy thoái và một chính sách phục hồi kinh tế dựa phần lớn vào xuất khẩu đang gặp trở ngại bởi đồng USD giảm giá cùng giá dầu lửa tăng vọt. Xu hướng vận động của các đồng tiền này tạm được ghi nhận như sau: Đô la Mỹ: đây là ngoại tệ thông dụng nhất tại VN (hơn 90% các giao dịch đối ngoại qua Vietcombank được thực hiện bởi đồng tiền này).6 tỷ USD). Theo xu hướng trên. việc chiếm tỷ trọng ưu thế của USD trong tổng dự trữ ngoại tệ quốc gia khó có thể thay đổi trong tương lai gần. Indonesia. Nhiều người tin rằng Mỹ đang thực thi chính sách “một đồng USD yếu” nhằm đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu. Thứ hai.720 và tháng 11 là 15. họ đã từ chối mong muốn của các nước tư bản khác về việc quốc tế hóa đồng yên vì không muốn những thế lực bên ngoài can thiệp sâu vào nền kinh tế của mình. sự tăng giá EUR so với USD chỉ tác động xấu thêm sự phục hồi kinh tế và làm sâu sắc hơn những bất ổn vốn có của khu vực sử dụng EUR. Sau cuộc chiến Iraq. Tuy nhiên.3% so với VND (mức tăng thấp nhất trong vòng 8 năm trở lại đây).Điều này giúp đảm bảo ngoại tệ dự trữ được sử dụng đúng cho hoạt động ngoại thương. đáng quan tâm chỉ có ba loại: USD. Brazil.Úc. vào những năm 1970-1980 khi nước Nhật đang phát triển với một tốc độ thần kỳ. Tuy gặp nhiều khó khăn về tài chính lẫn chính trị. tương đương 3. Mexico.719. nhưng nếu chỉ so với 6 tháng đầu năm với mức tăng 0. người Nhật xem như đã đánh mất thời cơ quốc tế hóa đồng tiền của mình. Trong số các đồng tiền mạnh hiện nay. giá 1 EUR xấp xỉ đổi được 1. . một số nguyên nhân sâu xa của sự suy yếu bất thường trên là bội chi ngân sách Mỹ trong năm tài chính vừa qua (kết thúc ngày 30 tháng 9 năm 2004) lên tới 413 tỷ USD. Saudi Arabia) cùng World Bank. EU. Nga. EUR và JPY. đồng USD đã giảm giá so với VND.7% GDP (riêng trong tháng 9 vừa qua là 51.7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Tính từ đầu năm đến nay. Sự trượt giá quá mạnh của USD đã ít nhiều ảnh hưởng đến việc điều hành tỷ giá ở VN. USD liên tục trượt giá so với nhiều ngoại tệ mạnh khác trên thế giới (như EUR. Hàn Quốc. sự liên kết giữa các quốc gia này ẩn chứa nguy cơ mất kiểm soát đối với những nguồn lực đã phình rộng khi thiếu hụt thông tin hay thiếu đồng bộ trong điều hành kinh tế.Công cụ lãi suất tái chiết khấu: Bản thân lãi suất chỉ có tác động gián tiếp đến tỷ giá vì đóng vai trò là biến . CHF …). làm cho nền kinh tế Mỹ mất cân đối và suy giảm lòng lòng tin của giới đầu tư vào đồng USD.

một phần do điều kiện tài chính VN chưa chín muồi và đồng VN chưa được tự do chuyển đổi. ° Duy trì công tác thanh tra. Vậy. việc sử dụng công cụ này cần nhiều sự cân nhắc. Tuy nhiên trong việc điều hành tỷ giá.Công cụ hành chính: Những biện pháp hành chính trong thời gian qua đã đem lại hiệu quả khá tốt. ổn định tiền tệ. cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại tệ. xuất nhập khẩu tư bản và đến giá cả hàng hóa trong nước. Hơn nữa.Chính sách tỷ giá phải giữ vững thế cân bằng nội và cân bằng ngoại.Ổn định tỷ giá trong mối tương quan cung cầu trên thị trường xuất khẩu. hạn chế nhập khẩu .Trong thời gian qua chính sách tỷ giá hối đoái (TGHĐ) ở nước ta đã đóng góp những thành tựu đáng kể trong chính sách tài chính – tiền tệ như: hạn chế lạm phát. kiểm tra việc thực thi quy định về chế độ quản lý ngoại hối hiện hành. tuy nhiên nó lại tác động trực tiếp đến đầu tư và sản xuất kinh doanh vì gắn liền với chi phí sử dụng vốn. . Tình trạng này hãy còn tiếp diễn trong nhiều năm. Đầu tư gián tiếp và dòng vốn ngắn hạn gần như không có do thị trường chứng khoán và tiền tệ chưa phát triển. Mục tiêu và định hướng Chúng tôi cho rằng mục tiêu của chính sách tỷ giá nước ta trong thời gian tới là: . Do vậy. Đây cũng chính là con đường từng bước đưa đồng VN trở thành một đồng tiền chuyển đổi. Luồng vốn ra vào nền kinh tế VN chủ yếu là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).. từ nội tệ chuyển sang ngoại tệ và ngược lại. Tuy đây chỉ là giải pháp tình thế nhưng việc dỡ bỏ tức thời các biện pháp hành chính cũng không phải khả thi. Để hoàn thiện công cụ này có thể tập trung vào một số điểm sau: ° Tăng cường giám sát các giao dịch ngoại hối thông qua việc kiểm soát chặt hợp đồng thanh toán ngoại tệ. Tác động của nó chỉ giới hạn ở chỗ làm thay đổi những dòng tiền tệ lưu thông trong thị trường nội địa. . tạo điều kiện ổn định ngân sách. cải thiện cán cân thanh toán. thực hiện mục tiêu hỗ trợ xuất khẩu. giải pháp để từng bước nâng cao sức mạnh của công cụ này sẽ đồng nhất với việc tự do hóa tài khoản vốn quốc gia (mà trước hết là các giao dịch vốn ngắn hạn và đầu tư gián tiếp). giao dịch vốn chưa được mở cửa một phần bởi các quy định của Chính phủ. Nhà nước vẫn còn thiếu những giải pháp hữu hiệu trong từng giai đoạn để sử dụng công cụ tỷ giá một cách phù hợp.ngoại sinh. ° Rà soát thường xuyên các văn bản pháp quy để cải tiến kịp thời Một số giải pháp hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam TCKT cập nhật: 14/06/2006 Việc xác định một chính sách tỷ giá phù hợp đối với từng giai đoạn phát triển của một quốc gia có tác động rất lớn đến xuất nhập khẩu hàng hóa. Chúng chỉ nên được nới lỏng tương xứng với mức can thiệp của các công cụ kinh tế. . Tất cả cho thấy lãi suất chưa thể có ảnh hưởng mạnh đến tỷ giá.. cương quyết trừng phạt nặng không phân biệt thành phần kinh tế nếu xuất hiện hành vi vi phạm. Như vậy phải có mục tiêu và định hướng rõ ràng để có giải pháp thích hợp. đề ra mức phạt nặng đối với trường hợp kê khống giá của hợp đồng xuất nhập khẩu và đối với các hành vi gian lận khác. kích thích xuất khẩu. nhờ chúng mà VN đã thành công trong việc điều hành chính sách tỷ giá hối đoái và hạn chế tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á.

tạo điều kiện cho VND có thể trở thành đồng tiền chuyển đổi. Trong xu thế toàn cầu hóa Việt Nam cần lựa chọn một chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý để thích ứng và tạo ra động lực phát triển nền kinh tế nước ta trong tiến trình hội nhập vì chế độ tỷ giá thả nổi có ưu điểm là tỷ giá luôn gắn liền với quan hệ cung cầu và tỷ giá này thích ứng với điều kiện toàn cầu hóa của thị trường tài chính quốc tế.. nhưng mặt khác cũng cần gia tăng nhập khẩu các sản phẩm không có lợi thế so sánh để thỏa mãn tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng về sản xuất và tiêu dùng nội địa. xóa bỏ các qui định mang tính hành chính trong kiểm soát ngoại hối.Quản lý tốt dự trữ ngoại hối. Để góp phần khai thác tối đa những lợi ích và giảm thiểu những tổn thất từ hội nhập kinh tế quốc tế. . tăng tích lũy ngoại tệ: xây dựng chính sách phát triển xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Lựa chọn phương án phù hợp cho việc dự trữ cơ cấu ngoại tệ. Để đạt được mục tiêu trên chúng tôi đưa ra một số định hướng hoàn thiện chính sách TGHĐ như sau: Quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chính sách TGHĐ phải liên tục được hoàn thiện và điều chỉnh thích ứng với môi trường trong nước và quốc tế thường xuyên thay đổi. . Ngoại tệ dự trữ khi đưa vào can thiệp trên thị trường phải có hiệu qủa. chỉ nhập những hàng hóa cần thiết cho nhu cầu sản xuất và những mặt hàng thiết yếu trong nước chưa sản xuất được. Giải pháp Trên cơ sở khoa học trên chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chính sách TGHĐ ở Việt Nam Một là: Thường xuyên phân tích tình hình kinh tế thế giới. Hai là: Hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối ở Việt Nam. các định chế tài chính phi ngân hàng tham gia .Nới lỏng tiến tới tự do hóa trong quản lý ngoại hối. khu vực và trong nước để đề ra được chính sách TGHĐ phù hợp cho từng giai đoạn. Thứ ba: Kết hợp hài hòa lợi ích giữa hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu theo hướng đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu các sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh.Từng bước nâng cao uy tín VND. chính sách TGHĐ ở Việt Nam trong thời gian tới cần hoàn thiện theo những định hướng cơ bản sau: Thứ nhất: Tiếp tục duy trì cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý của Nhà nước. hoạt động này bao gồm việc giảm dần . nâng cao tính chủ động trong kinh doanh tiền tệ của các ngân hàng thương mại … Ba là: Hoàn thiện thị trường ngoại hối Việt Nam để tạo điều kiện cho việc thực hiện chính sách ngoại hối có hiệu qủa bằng cách mở rộng thị trường ngoại hối để các doanh nghiệp. Trong thời gian trước mắt vẫn xem đồng USD có vị trí quan trọng trong dự trữ ngoại tệ của mình nhưng cũng cần đa dạng hóa ngoại tệ dự trữ để phòng tránh rủi ro khi USD bị mất giá.Phối hợp với chính sách ngoại hối để chống hiện tượng đô la hoá. Thứ hai: Chính sách TGHĐ phải đóng vai trò tích cực trong việc bảo hộ một cách hợp lý các doanh nghiệp trong nước. . thiết lập tính chuyển đổi cho đồng tiền Việt Nam. Tiết kiệm chi ngoại tệ. sử dụng linh hoạt và hiệu quả các công cụ quản lý tỷ giá. Bên cạnh đó Nhà nước vẫn có thể quản lý được mức độ biến động của tỷ giá. tiến đến loại bỏ sự can thiệp trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước trong việc xác định tỷ giá.

giúp cho tốc độ chu chuyển vốn được đẩy mạnh. Ngân hàng Nhà nước chỉ điều chỉnh tỷ giá trên các phiên giao dịch ngoại tệ liên ngân hàng và theo hướng có tăng có giảm để kích thích thị trường luôn sôi động và tránh hiện tượng găm giữ đô la. Nhật là những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Việc huy động các nguồn lực trong nền kinh tế trở nên thuận lợi hơn. Tuy nhiên. mặc dù USD có vị thế mạnh hơn hẳn các ngoại tệ khác. Khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam phải được nhanh chóng cải thiện. Để đảm bảo cho tỷ giá phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường nên từng bước loại bỏ dần việc qui định khung tỷ giá với biên độ quá chặt của Ngân hàng nhà nước đối với các giao dịch của các NHTM và các giao dịch quốc tế (Hiện nay biên độ này là +/. Đồng tiền tự do chuyển đổi làm giảm sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ vào chính sách quản lý ngoại hối và cơ chế điều hành tỷ giá. hoạt động xuất nhập khẩu của quốc gia đó năng động hơn. Chế độ tỷ giá gắn với một rổ ngoại tệ như vậy sẽ làm tăng tính ổn định của TGHĐ danh nghĩa. yên Nhật vì hiện nay EU.0. điều hòa giữa hai khu vực thị trường ngoại tệ và thị trường nội tệ một cách thông thoáng. hạn chế tình trạng lưu thông nhiều đồng tiền trong một quốc gia. Nâng cao sức mạnh cho đồng tiền Việt Nam bằng các giải pháp kích thích nền kinh tế như: hiện đại hoá nền sản xuất trong nước. Hiện nay trên thị trường ngoại tệ. . song nếu trong quan hệ tỷ giá chỉ áp dụng một loại ngoại tệ trong nước sẽ làm cho tỷ giá ràng buộc vào ngoại tệ đó. Chúng ta nên lựa chọn những ngoại tệ mạnh để thanh toán và dự trữ. tạo điều kiện cho NHNN phối hợp. nhất là thị trường kỳ hạn và thị trường hoán chuyển để các đối tượng kinh doanh có liên quan đến ngoại tệ tự bảo vệ mình.25%). đồng thời qua đó thực hiện biện pháp can thiệp của nhà nước khi cần thiết. thương mại và có quan hệ đối ngoại chặt chẽ nhất để làm cơ sở cho việc điều chỉnh tỷ giá của VND ví dụ như đồng EURO. Hiện tượng đô la hóa nền kinh tế được hạn chế. góp phần đẩy nhanh tiến độ hội nhập kinh tế thế giới. Sáu là: Thực hiện chính sách đa ngoại tệ. Bốn là: Hoàn chỉnh thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. muốn tạo khả năng chuyển đổi cho VND phải có đủ lượng ngoại tệ dự trữ và nền kinh tế vững mạnh. lập tức sẽ ảnh hưởng đến quan hệ tỷ giá của USD đến VND mà thông thường là những ảnh hưởng rất bất lợi. đẩy mạnh tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ. tăng cường thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. tạo thị trường hoàn hảo hơn. song song đó phải củng cố và phát triển thị trường nội tệ liên ngân hàng với đầy đủ các nghiệp vụ hoạt động của nó.thị trường ngày một nhiều. cụ thể là USD. Năm là: Hoàn thiện cơ chế điều chỉnh TGHĐ Việt Nam. khuyến khích xuất khẩu. điều kiện cần thiết để qua đó nhà nước có thể nắm được mối quan hệ cung cầu về ngoại tệ. bài trừ tham nhũng … Tạo khả năng chuyển đổi từng phần cho đồng tiền Việt Nam: đồng tiền chuyển đổi được sẽ tác động tích cực đến hoạt động thu hút vốn đầu tư . bao gồm một số đồng tiền của những nước mà chúng ta có quan hệ thanh toán. Bảy là: Nâng cao vị thế đồng tiền Việt Nam. Khi có sự biến động về giá cả USD trên thế giới. xây dựng chính sách thích hợp để phát triển nông nghiệp. Trước mắt cần có những biện pháp thúc đẩy các ngân hàng có kinh doanh ngoại tệ tham gia vào thị trường ngoại tệ liên ngân hàng .

hợp đồng tương lai. tăng cường sử dụng nguồn vốn trong nước để bù đắp thiếu hụt ngân sách. Chúng tôi cho rằng chính sách TGHĐ Việt Nam trong thời gian tới phải được phối hợp đồng bộ với các chính sách quản lý vĩ mô khác mới đem lại hiệu quả cao cho nền kinh tế. Chẳng hạn khi phá giá sẽ tăng cung nội tệ. chính phủ phải tiến hành từng bước tự do hóa lãi suất. Chính phủ đã cho phép các NHTM thực hiện các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá như hợp đồng kỳ hạn. Mười là: Xem phá giá nhỏ như là một biện pháp kích thích xuất khẩu. làm cho lãi suất thực sự là một loại giá cả được quyết định bởi chính sự cân bằng giữa cung và cầu của chính đồng tiền đó trong thị trường chứ không phải bởi những quyết định can thiệp hành chính của Chính phủ. giảm thâm hụt cán cân thương mại. Vấn đề là các NHTM và doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và những doanh nghiệp có thu. phân tích diễn biến thị trường tài chính quốc tế một cách có hệ thống để có những cơ sở vững chắc cho đánh giá. dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở nội tệ. chi bằng ngoại tệ phải nhanh chóng sử dụng các công cụ này để phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Để giảm lạm phát người ta tiến hành bán hàng hóa giao dịch trong thị trường mở nội tệ. làm tăng việc làm. dự báo sự vận động của các đồng tiền chủ chốt. Chú trọng hoàn thiện công cụ nghiệp vụ thị trường mở nội tệ. Chúng ta cho rằng Bộ thương mại Mỹ đã cố tình áp đặt tính không chuyển đổi của VND trên tài khoản vãng lai để kết luận rằng Việt Nam không có nền kinh tế thị trường. Ngoài ra. dẫn đến nguy cơ tạo ra lạm phát. NHTW có thể sử dụng các nhân tố cơ bản như thuyết PPP. Trong điều kiện tỷ giá hiện nay tiềm tàng nhiều nhân tố bất ổn chúng ta cần phải gấp rút triển khai các công cụ phòng ngừa rủi ro. quyền chọn tiền tệ. Chúng tôi hy vọng rằng trong thời gian tới việc quản lý ngoại hối ở Việt Nam sẽ có những bước cải tiến đáng kể đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới. hạn chế tối đa việc vay nợ nước ngoài. Chính sách tiền tệ được thực hiện qua 3 công cụ: lãi suất tái chiết khấu. hạn chế nhập khẩu. Đối với chính sách tài chính tiền tệ. NHTW cần theo dõi. Hoạt động dự báo có một tầm quan trọng rất lớn trong việc phòng ngừa rủi ro hoặc đầu cơ. Bạn đang xem trang 1) Bài học kinh nghiệm từ vụ kiện cá ba sa vẫn đáng để cho chúng ta suy nghĩ. Trong điều kiện hiện nay. sử dụng đầy đủ hơn các nguồn lực hiện có. bên cạnh đó nó còn tham gia tích cực vào việc hỗ trợ chính sách tỷ giá khi cần thiết. từ đó làm giảm cung nội tệ và lạm phát do đó cũng giảm theo. sản lượng và thu nhập của nền kinh tế.Tám là: Sử dụng có hiệu quả công cụ lãi suất để tác động đến tỷ giá. một chính sách giảm giá nhẹ đồng Việt Nam sẽ có thể tác động tích cực trong việc cải thiện đồng thời cả cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài: khuyến khích xuất khẩu. Mười hai: Nhanh chóng thực hiện các công cụ phòng ngừa rủi ro. Chín là: Phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô để hoạt động can thiệp vào tỷ giá đạt hiệu quả cao. phương án tốt nhất để thực hiện bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước là bằng vốn vay trong nước. Để đạt được mục tiêu của chính sách đó Đảng. vì vậy nó quyết định đến sự thành bại của chính sách tiền tệ quốc gia. hiệu ứng Fisher quốc tế để dự báo. . NVTTM nội tệ là công cụ quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp đến lượng tiền cung ứng. Chính phủ Việt Nam cần phải có những bước đi phù hợp. Tuy nhiên. (Theo TCKTPT) Chính sách tỷ giá thích hợp cho Việt Nam trong thời kỳ hội nhập TCKT cập nhật: 06/07/2006 (Bài viết có 2 trang. trong khi vẫn kềm chế được lạm phát ở mức thấp. Mười một: Vận dụng dự báo tỷ giá để phòng ngừa và hạn chế rủi ro.

có các dấu hiệu cho thấy rằng có thể quản lý thành công các tỷ giá được ấn định chính thức trong một khuôn khổ chính sách kinh tế vĩ mô nhất quán. nhờ đó tránh được các cuộc tấn công có tính đầu cơ hay không. . Tuy nhiên. Chúng tôi đề nghị đối với quản lý tỷ giá ở Việt Nam. Argentina và Estonia (trong thập niên 1990) chẳng hạn . Sau cuộc khủng hoảng Mexico. một cách để tiếp cận là xem chế độ tỷ giá như gồm có một dải băng xoay quanh một ngang giá trung tâm. Trong những năm gần đây. Mỗi hệ thống đều có ảnh hưởng đối với tính hiệu quả của chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá. hay một chuẩn tiền tệ (currency board) giống như Argentina. Như vậy. Mong muốn của Chính phủ về một triển vọng trong tương lai đồng Việt Nam chuyển đổi được không thể tách rời khỏi phương thức điều hành chính sách tỷ giá hiện tại. Mặc dù vậy.tất cả đều áp dụng các chuẩn tiền tệ do nhu cầu tái lập niềm tin của thị trường. chính sách tài khóa có hiệu quả ít hơn và chính sách tiền tệ có hiệu quả cao hơn. ° Liệu các chính phủ có thể tạo được đủ uy tín để làm cho các dự kiến của các nhà đầu tư trên thị trường xoay quanh một tỷ giá cân bằng “tốt” trong một tình huống mà các trạng thái cân bằng của tỷ giá liên tục thay đổi. Phương thức điều hành tỷ giá hiện nay dù đã có nhiều tiến bộ nhưng theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu thì vẫn còn quá bảo thủ. Một vài ngoại lệ là các nền kinh tế mà uy tín của chính phủ cực kỳ thấp . Các kinh nghiệm của Chilê. Chúng tôi cho rằng đây là những kinh nghiệm mà chính phủ Việt Nam cần thiết phải học hỏi nghiên cứu và mạnh dạn thay đổi phương thức điều hành tỷ giá linh hoạt hơn nữa. khó khăn chủ yếu mà các nước này phải đối phó là duy trì một chính sách tài khoá đủ linh hoạt và xây dựng các khoản đệm. và một số quốc gia ở châu Á như Trung Quốc không chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Mexico và cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 cho thấy rằng cả hai mục tiêu này đều nằm trong tầm tay của các nhà hoạch định chính sách ở các nước đang phát triển.cụ thể là chế độ tỷ giá thả nổi thuần túy. Tuy nhiên. Colombia.như Hồng Kông (trong thập niên 1980). Các hệ thống tỷ giá Các hệ thống tỷ giá khác nhau đã và đang được các nước sử dụng trong khi đang hội nhập với phần còn lại của thế giới . các quyết định cần làm sẽ là điều chỉnh ngang giá.Cho dù chúng ta có tự do hoá thế nào đi chăng nữa trên tài khoản vãng lai nhưng chế độ tỷ giá vẫn không phản ánh các quan hệ cung cầu thị trường như hiện nay thì khó có thể bàn đến tính chuyển đổi đồng Việt Nam trong tương lai. vì các hệ thống này cho họ sự lựa chọn sử dụng chính sách tiền tệ một cách hiệu quả. Cụ thể. thành công của các hệ thống quản lý linh hoạt tùy thuộc vào hai vấn đề sau đây: ° Liệu các nhà hoạch định chính sách có thể thành công thực sự trong việc xác định tỷ giá thực tế cân bằng để có thể tránh các cuộc tấn công có tính đầu cơ do các yếu tố cơ bản của thị trường thúc đẩy hay không. Vì vậy. hầu hết các nước đều có thể đi qua cuộc khủng hoảng mà không phải thay đổi hệ thống tỷ giá của mình. Các thị trường vốn quốc tế đã có xu hướng chọn lọc kể từ biến cố Mexico và cấu trúc nền kinh tế mới là yếu tố quan trọng để dẫn đến sự ổn định. Như vậy. với cái giá phải trả là uy tín của họ đối với các mục tiêu chống lạm phát bị xói mòn. các lợi điểm hay bất lợi của từng hệ thống rất khác biệt giữa các nước tùy theo tính chất danh nghĩa hay thực tế của các cú sốc tác động đến từng nước và khả năng của chính phủ trong việc điều hành một chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt. độ rộng và cách can thiệp trong phạm vi khung này và những công cụ phòng ngừa rủi ro. chẳng hạn như dự trữ một lượng lớn ngoại hối để cải thiện tính đàn hồi của nền kinh tế trước các cú sốc. tỷ giá cố định. thả nổi có quản lý. đã có nhiều quốc gia áp dụng các hệ thống tỷ giá “có quản lý một cách linh hoạt”. Theo các chuyên gia kinh tế thì trong một hệ thống tỷ giá thả nổi thuần túy. Đây là hai nguồn gốc quan trọng nhất của tính dễ biến động gắn với một thể chế tỷ giá có quản lý. Còn trong một hệ thống tỷ giá cố định các kết quả ngược lại. nhiều người nghĩ rằng thời của các hệ thống tỷ giá có quản lý đã qua rồi.

đều theo dấu khá sát các giá trị cân bằng dài hạn của mình trong suốt các thời kỳ các dòng vốn vào đi cùng với quá trình hội nhập. Như vậy. Đến lượt mình. Bởi sự lệch pha này sẽ dẫn đến những sức ép của tỷ giá trút lên gánh nặng của dự trữ quốc gia vốn rất thấp của chúng ta hiện nay. trong khi đó chính sách tỷ giá cố định thích hợp hơn trong việc ngăn ngừa những nguy cơ của những cú sốc danh nghĩa. Thị trường hàng hoá diễn ra mạnh mẽ trên các giao dịch của tài khoản vãng lai không thể quá mất cân xứng với hệ thống tỷ giá. theo chúng tôi ý niệm hướng về tỷ giá thực tế cân bằng dài hạn phải được triển khai theo tiến trình thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. với một chính sách tài khóa linh hoạt. Phân tích truyền thống về vấn đề này tập trung vào các ý nghĩa bao hàm của các cú sốc trong các thị trường tiền tệ (cú sốc danh nghĩa) và cú sốc thị trường hàng hóa (cú sốc thực) trong nước. trong khi các nước nào gặp phải các cú sốc danh nghĩa nên giữ tỷ giá gần với ngang giá trung tâm. Tuy nhiên. Trong điều kiện chính sách tài khóa ở nước ta bị giới hạn khá nghiêm ngặt và thường xuyên gặp phải các cú sốc thực do mức cầu về hàng hóa Việt Nam khá cứng so với các nước trong khu vực thì chính sách tiền tệ phải thật . Điều chỉnh ngang giá không chỉ theo chênh lệch giữa lạm phát trong nước và nước ngoài mà còn phải phù hợp theo các thay đổi trong các tỷ giá thực tế cân bằng cơ bản. Colombia và các nước châu Á như Trung Quốc cho thấy việc ấn định ngang giá trung tâm là nhằm mục tiêu duy trì tính cạnh tranh. Philippines. sự hữu ích của một chính sách tiền tệ độc lập trong việc giảm thiểu tính dễ biến động tùy thuộc vào các công cụ ổn định khác chẳng hạn như một chính sách tài khoá linh hoạt. Điều này cho thấy rằng nếu Chính phủ không thể sử dụng chính sách tài khoá như một công cụ ổn định hóa hoặc có nhưng sử dụng sẽ tạo rất nhiều phí tổn. qua đó làm giảm giá trị của chính sách tiền tệ độc lập như một công cụ ổn định hóa. mặt khác nó cho phép NHTW thoải mái hơn trong việc sử dụng chính sách tiền tệ để kích cầu nền kinh tế bằng chính sách lãi suất thấp mà không phải sống trong nỗi lo sợ tỷ giá vượt khỏi mức ± 2% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng như hiện nay và do đó làm cho đồng Việt Nam mất giá.tức là khung càng rộng thì phạm vi của một chính sách tiền tệ trong nước độc lập càng lớn. thường là do các thay đổi thường xuyên trong các yếu tố cơ bản của nền kinh tế thay đổi.Indonesia. Trong một thế giới hội nhập như thế. theo nguyên tắc sau: nếu chính sách tài khoá không đổi thì chính sách tỷ giá linh hoạt thích hợp với việc ngăn chận những nguy cơ của cú sốc thực. sự thành công của phần lớn các nước đang phát triển trong phương thức điều hành tỷ giá là hướng về cân bằng dài hạn hơn là chỉ lo đối phó bằng cách khống chế biên độ dao động tỷ giá như hiện nay. khởi đầu của việc cam kết thực hiện lộ trình thỏa thuận AFTA. Những nghiên cứu của IMF mới đây cho thấy là cả 5 nền kinh tế Đông Á . thì nước nào có các cú sốc thực nên áp dụng các khung tỷ giá tương đối rộng. có thể đối phó với các cú sốc thực thông qua các điều chỉnh chính sách tài chính. Chúng tôi đề nghị Chính phủ mạnh dạn điều hành chính sách tỷ giá theo hướng như trên. Xác định bề rộng của khung tỷ giá Với giả định là điều chỉnh ngang giá trung tâm xác định hướng về tỷ giá thực tế cân bằng dài hạn.Xác định ngang giá trung tâm hướng vào tỷ giá thực tế cân bằng dài hạn Các kinh nghiệm của Chilê. Phạm vi tỷ giá lệch khỏi ngang giá trung tâm của nó càng lớn . Hệ thống tỷ giá này. Chiều rộng dự kiến của khung tùy thuộc vào mức độ độc lập của một chính sách tiền tệ. và phụ thuộc vào nguồn gốc của các cú sốc đối với nền kinh tế. Điều này có nghĩa là ngang giá trung tâm nên xác định theo tỷ giá thực cân bằng dài hạn để ngăn chặn các dự kiến về các tái sắp xếp riêng rẽ của thị trường. Singapore và Thái Lan . Malaysia. việc áp dụng một khung tỷ giá tương đối hẹp thường phù hợp hơn với mục tiêu ổn định hóa nếu có thể sử dụng được chính sách tài khóa như một công cụ ổn định hóa. một mặt tuân theo những xu thế chung trên thế giới. Một hệ thống tỷ giá bảo thủ như thế không cân xứng với lộ trình hội nhập mạnh mẽ kinh tế quốc tế mà năm 2003. Nhưng quan trọng hơn hết là hệ thống tỷ giá này sẽ cho phép chúng ta đoạn tuyệt với kiểu quản lý tỷ giá bình quân liên ngân hàng “ít giống ai”. các vấn đề kế tiếp của chính phủ Việt Nam là xác định độ rộng của khung tỷ giá và mức độ can thiệp trong phạm vi khung này. Trong trường hợp Việt Nam.

nếu nước ta phải đối phó với các cú sốc thực thì Chính phủ nên kết hợp giữa việc điều chỉnh tỷ giá và điều chỉnh chính sách tài khóa. Về chính sách tài khoá. Thí dụ. chúng tôi hoàn toàn đồng tình với những cải cách ngân sách mà Quốc hội đã thông qua vào tháng 12. nếu lãi suất quốc tế sụt giảm. Các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động thuần túy nội địa cũng phải chịu tác động gián tiếp đối với hệ thống tỷ giá mới theo cách gọi là “độ nhạy cảm”. Nếu VND định giá cao do dải băng mở rộng. Trong điều kiện hiện tại ở nước ta. dưới hình thức các dao động trong lãi suất quốc tế chẳng hạn. Chính phủ nên khẩn trương chỉ đạo NHTW sớm nghiên cứu ban hành các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Theo chúng tôi. Như vậy chỉ còn lại một công cụ trên thị trường mở và thị trường ngoại hối thông qua các can thiệp vô hiệu hoá bằng những tác động bù trừ giữa cung tiền ngoại tệ tăng lên (hoặc giảm đi) và cung tiền nội tệ giảm đi (hoặc tăng lên) để giữ cho tỷ giá ổn định. Các công cụ phòng ngừa rủi ro Khi biên độ tỷ giá được nới lỏng. Vấn đề đặt ra là. con số này dựa trên mức độ phá giá của các đồng tiền trong khu vực và tham khảo ở các nước đang phát triển. nghĩa là rủi ro kinh doanh trong quá trình hội nhập cũng sẽ lớn hơn đi kèm với cải cách trong điều hành chính sách tỷ giá. tùy thuộc vào hình thức mà các cú sốc này được truyền vào nền kinh tế nước ta mà Chính phủ cần có những chính sách can thiệp thích hợp. thì can thiệp vô hiệu hóa nên đi theo các cú sốc danh nghĩa. các cú sốc tài chính bên ngoài “thuần túy”. Theo đó. do có phải gặp những rủi ro tỷ giá hoặc độ nhạy cảm đối với rủi ro tỷ giá mà chúng ta không thể áp dụng chế độ tỷ giá dải băng theo ngang giá trung tâm? Đương nhiên là không. Nếu quá trình thực thi cải cách ngân sách thành công sẽ giảm đi áp lực đáng kể về một nỗi lo lạm phát và do đó làm cho tỷ giá trượt xa khỏi mức cân bằng trung tâm. chúng tôi cũng đã hàm ý rằng thị trường tài chính Việt Nam cần phải gấp rút triển khai các công cụ phòng ngừa rủi ro. chính sách can thiệp thích hợp trong phạm vi khung tỷ giá trong trường hợp này tùy thuộc vào hướng điều chỉnh chính sách tài khoá có khả năng thực hiện được hay không. Đây chính là một trong những nhược điểm của hệ thống tỷ giá tuân theo dải băng.2002. Các hoạt động trên thị trường mở và thị trường ngoại hối rất ít khi được NHTW sử dụng trong thời gian gần đây. chúng tôi đề xuất rằng để tránh cả việc tăng trưởng quá nóng lẫn tăng tỷ giá thực đòi hỏi Chính phủ phải thực hiện đồng bộ các giải pháp giữa siết chặt chính sách tài khóa và can thiệp để giữ cho tỷ giá danh nghĩa gần với ngang giá trung tâm của nó. thì chiều rộng của khung phải đủ lớn. Ngược lại. Trong khi đó. Hệ thống tỷ giá này có thể làm cho các doanh nghiệp Việt Nam lo lắng trong khi hoạch định các chiến lược xuất khẩu vì nỗi e ngại VND sẽ mất giá dẫn đến làm giảm lợi nhuận. mỗi khi tỷ giá VND biến động đều tác động đến sức cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và có thể làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa. Cải cách ngân sách lần này tạo ra một triển vọng cho việc thắt chặt tài khoá bằng cách tăng thu giảm chi. và can thiệp không vô hiệu hoá để giữ cho tỷ giá cố định ở mức ngang giá trung tâm của nó bằng cách mua dự trữ quốc tế. Để thực hiện được chính sách này. có khả năng làm cho hàng hóa nhập khẩu tính bằng VND trở nên rẻ hơn và làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường nội địa.linh hoạt. Trong trường hợp này. có khả năng dẫn đến rủi ro tỷ giá cho các doanh nghiệp Việt Nam có các hoạt động kinh doanh quốc tế. NHTW nên mạnh dạn phát triển và đẩy mạnh các hoạt động trên thị trường mở. Chúng tôi cho rằng trước mắt trong năm 2003. đồng nội tệ sẽ tăng giá theo thực tế và lãi suất thực tế trong nước sẽ tăng. ta hãy xem xét một nguồn gốc khác của các cú sốc. chúng tôi cho rằng với một chiều rộng khung cho sẵn là 10%. chống chi tiêu lãng phí. chiều rộng của khung này có thể ở mức 10% so với ngang giá cân bằng dài hạn. . Tuy nhiên. nếu ngân hàng trung ương không can thiệp. Can thiệp vào phạm vi khung tỷ giá Đối với vấn đề can thiệp trong phạm vi khung tỷ giá. Khi đề xuất cho việc điều hành chính sách tỷ giá bằng cách mở rộng biên độ tỷ giá. dẫn đến mở rộng cung tiền trong nước và lãi suất trong nước thấp hơn. tạo một bước đột phá trước để mở rộng các hoạt động mua bán ngoại hối trên thị trường ngoại hối sau này. Vấn đề là làm thế nào để giảm thiểu rủi ro tỷ giá cho các doanh nghiệp Việt Nam mà thôi. Xét thuần túy từ góc cạnh ổn định hóa mức tổng cầu nội địa.

Chưa có những chứng cứ nào cho thấy việc đầu cơ vào các quyền chọn tiền tệ dẫn đến một sự sụp đổ hoặc khủng hoảng tỷ giá ở các nước trên thế giới. Để cho thị trường quyết định việc hình thành tỷ giá kỳ hạn theo chênh lệch lãi suất quốc tế là việc mà hệ thống ngân hàng của nước ta phải thực hiện trước mắt. Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế đánh giá rất cao về chỉ số ổn định kinh tế vĩ mô. đặc biệt là các quyền chọn tiền tệ (currency option) cũng nên được triển khai sớm. không phản ánh đúng quan hệ cung cầu và chênh lệch lãi suất quốc tế trong tỷ giá kỳ hạn cho nên hầu như rất ít các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm đến. Chúng ta cho rằng Bộ thương mại Mỹ đã cố tình áp đặt tính không chuyển đổi của VND trên tài khoản vãng lai để kết luận rằng Việt Nam không có nền kinh tế thị trường. cởi mở hơn và quan trọng hơn là hòa mình vào xu hướng điều hành tỷ giá linh hoạt chung của thế giới là một xu thế nghiêm túc và đúng đắn mà chính phủ cần phải nghiên cứu và gấp rút triển khai. Trong những năm vừa qua. Chế độ tỷ giá chỉ phụ thuộc chủ yếu vào ổn định kinh tế vĩ mô của các quốc gia. thâm hụt tài khoản vãng lai của VN trong thời gian tới dao động trong khoản 1% đến 3% . theo chúng tôi bước đầu chúng ta có thể triển khai các quyền chọn có điều kiện phù hợp với điều kiện của Việt Nam như các nước đang phát triển đã từng áp dụng thành công. Việc đầu cơ giá trên các hợp đồng quyền chọn tiền tệ có thể làm cho tỷ giá biến động vượt khỏi biên độ dự kiến và do đó làm mất niềm tin của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư vào hệ thống tỷ giá mà chúng ta đã hoạch định. Mặc dù vậy. Để kết thúc bài viết này. nó cho phép các doanh nghiệp Việt Nam kết hợp vừa phòng thủ (tỷ giá) vừa tiến công khi có cơ hội (đặc biệt là đối với các định chế tài chính muốn tìm kiếm lợi nhuận). là năm mà các chỉ số kinh tế vĩ mô của Việt Nam luôn luôn ổn định thì việc điều hành chính sách tỷ giá theo hướng linh hoạt hơn. Những rào cản này sẽ làm nản lòng các nhà đầu cơ và do đó giảm đi đáng kể tính bất ổn do NHTW mở rộng biên độ dao động tỷ giá Chế độ tỷ giá trong thời kỳ hội nhập và tính chuyển đổi của đồng Việt Nam. Cho dù chúng ta có tự do hoá thế nào đi chăng nữa trên tài khoản vãng lai nhưng chế độ tỷ giá vẫn không phản ánh các quan hệ cung cầu thị trường như hiện nay thì khó có thể bàn đến tính chuyển đổi đồng Việt Nam trong tương lai. Tất nhiên là không có một chính sách tỷ giá tối ưu cho bất kỳ quốc gia nào nhưng một chính sách điều hành tỷ giá theo kiểu an toàn là trên hết một cách không cần thiết như hiện nay là khó có thể chấp nhận được. Bài học kinh nghiệm từ vụ kiện cá Ba Sa vẫn đáng để cho chúng ta suy nghĩ. Quyền chọn có điều kiện là một dạng quyền chọn lai tạp giữa các quyền chọn phức tạp ở các nước phát triển nhưng nó làm giảm nhẹ đi tính đầu cơ để tránh thua lỗ tối đa cho các nhà đầu tư và thậm chí các nhà đầu cơ có ham muốn sử dụng quyền chọn tiền tệ để kiếm lời. cho đến thời điểm năm 2003 là năm bản lề thực hiện AFTA và hội nhập kinh tế quốc tế. Dĩ nhiên là cũng có mặt trái của phòng ngừa rủi ro bằng các quyền chọn do khả năng đầu cơ rất cao. Nếu tỷ giá vượt quá các mức này thì quyền chọn sẽ không còn giá trị. Theo TCKTPT Dự trữ ngoại hối quốc gia và cung cầu ngoại tệ của Việt Nam TCKT cập nhật: 04/09/2006 Theo dự báo. Sự kết hợp các chiến lược phòng ngừa rủi ro trong các quyền chọn tiền tệ rất phong phú. Mong muốn của chính phủ về một triển vọng trong tương lai đồng Việt Nam chuyển đổi được không thể tách rời khỏi phương thức điều hành chính sách tỷ giá hiện tại. Các quyền chọn tiền tệ có điều kiện đưa ra những quy định về các mức tỷ giá trần (tối đa) và sàn (tối thiểu). NHTW có thể có một lựa chọn khác với những đề xuất của chúng tôi trong bài viết này bởi đây cũng là lẽ đương nhiên. do đó nỗi lo về tính bất ổn của tỷ giá khi mở rộng biên độ sẽ giảm đi đáng kể. chúng tôi cho rằng. Các nhà đầu cơ có thể đầu cơ giá lên hoặc đầu cơ giá xuống bằng các quyền chọn mua và quyền chọn bán. (2) Các công cụ phòng ngừa rủi ro khác. phù hợp với các chỉ số kinh tế vĩ mô và lộ trình thực hiện các cam kết với các tổ chức quốc tế. Nhưng có một điều chắc chắn rằng việc điều hành chính sách tỷ giá quá mang nặng tính hành chính như hiện nay là khó có cơ sở để biện minh bởi lẽ hội nhập kinh tế phải gắn liền với hội nhập tỷ giá.(1) Trước mắt là các hợp đồng kỳ hạn. loại công cụ này hiện có mặt trên thị trường tiền tệ Việt Nam nhưng mang nặng tính áp đặt.

dư cầu ảo và dư cầu cấu trúc. hoặc là chúng ta phải tính đến các giải pháp để tăng thêm dự trữ ngoại hối – trong đó có giải pháp mở rộng biên độ tỷ giá để tăng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu – hoặc là tiến hành kiểm soát vốn chặt chẽ các giao dịch ngoại hối ngắn hạn. tỷ giá VND/USD sẽ có xu hướng giảm xuống. Những nghiên cứu trên cho thấy chế độ tỷ giá cố định cần một dự trữ ngoại hối cao hơn so với chế độ tỷ giá thả nổi hoặc thả nổi có quản lý. Điều này có nghĩa là cán cân thanh toán càng biến động. Trong bối cảnh đó. đó là chưa tính đến những cú sốc do những biến động kinh tế quốc tế và trong nước làm cho thâm hụt mậu dịch có khả năng trở nên nặng nề hơn. Chúng ta hãy tiếp tục xem xét tại sao lại có ba tình trạng dư cầu như thế ở VN. thâm hụt tài khoản vãng lai của VN trong thời gian tới dao động trong khoản 1% đến 3% GDP. liên tục trong nhiều thời điểm. theo kinh nghiệm ở các nước đang phát triển. Trong những năm gần đây. nhưng nguyên nhân sâu xa và quan trọng nhất là do chính sách tỷ giá và trong một chừng mực nào đó là lãi suất của VND và USD trong nhiều năm qua chưa phản ảnh đúng những diễn biến của thị trường. Giải pháp hai ngã có thể là hữu ích cho chúng ta trong giai đoạn hội nhập.85. Dư cầu ảo là do tình trạng cung ứng ngoại tệ bị bóp méo. Theo dự báo. Mặc dù vậy.GDP. thâm hụt cán cân vãng lai đã được thu hẹp đáng kể bởi có sự gia tăng trong hạng mục chuyển giao đơn phương mà chủ yếu là lượng kiều hối chuyển về nước ngày càng tăng. Chúng tôi gọi các tình trạng dư cầu này là: dư cầu thực. Không chỉ là các biện pháp kiểm soát vốn trên các giao dịch ngắn hạn mà chúng ta còn phải tính đến mở rộng biên độ tỷ giá. Sự tồn tại của thị trường chợ đen đã có những tác động tiêu cực tới cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế. Bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu ở 20 quốc gia cho thấy hệ số tương quan giữa hai đại lượng này là 0. Cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế Thị trường ngoại tệ VN trong thời gian qua luôn tồn tại song song hai thị trường: thị trường chính thức. đó là chưa tính đến những cú sốc do những biến động kinh tế quốc tế và trong nước làm cho thâm hụt mậu dịch có khả năng trở nên nặng nề hơn. Tuy nhiên trên thực tế. tất cả nguồn thu chi ngoại tệ của các khu vực nền kinh tế đều phải bắt buộc luân chuyển . VND phải chịu áp lực giảm giá. Dư cầu cấu trúc là do những thâm hụt trên cán cân tài khoản vãng lai đã tạo sức ép lên các nhu cầu tài trợ cho các hoạt động nhập khẩu. Trong nhiều năm qua. nếu áp dụng đồng bộ các biện pháp về kiểm soát vốn nước ngoài ngắn hạn và điều hành tỷ giá linh hoạt thì những thách thức từ chế độ tỷ giá linh hoạt là không đáng ngại. Những nghiên cứu của IMF cho thấy rằng có một mối tương quan rất cao giữa cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối trên nợ ngắn hạn. Đáng lý ra khi cung lớn hơn cầu ngoại tệ. dự trữ ngoại hối nói chung và dự trữ ngoại hối trên nợ ngắn hạn phải càng cao. nghĩa là VND tăng giá. Trong ba xu hướng trên thì xu hướng thứ ba tức dư cầu ảo là đáng ngại hơn cả. hoặc là tiến hành đồng thời cả hai giải pháp trên. bao gồm hoạt động giao dịch của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và hoạt động mua bán giữa hệ thống ngân hàng với các khách hàng và thị trường chợ đen. Quản lý và phân bổ ngoại tệ giữa các khu vực của nền kinh tế Về phương diện pháp lý. Đây chính là một thách thức cho chúng ta trong việc chuyển sang cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn để giảm bớt sức ép lên dự trữ ngoại hối. diễn biến trên đây phần nào cho thấy có khả năng lượng cung lớn hơn cầu ngoại tệ. Tình trạng dư cầu thực thể hiện VND được định giá cao hơn giá trị thật của chúng do tỷ giá USD/VND chưa phản ảnh đúng các quan hệ mua bán ngoại tệ diễn ra trên cơ sở cạnh tranh bình thường. Nghịch lý này phản ảnh một tình trạng “dư cầu” trong nền kinh tế. nói cách khác tình trạng dư cầu ảo xảy ra là do cơ chế quản lý ngoại tệ của VN hiện nay là có vấn đề. Mặt khác dòng vốn đầu tư chảy vào VN ngày càng tăng từ nhiều kênh khác nhau đã phần nào tài trợ cho thâm hụt cán cân thương mại và do vậy dự trữ ngoại hối tăng lên.

Số liệu thực tế trong những năm qua luôn cho thấy tài sản có nước ngoài (chủ yếu là tiền gởi ngoại tệ ở nước ngoài) của hệ thống ngân hàng đã tăng mạnh. quỹ ngoại tệ tập trung và quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài lên đến 1. Việc người dân gởi tiền vào ngân hàng dưới dạng tiết kiệm bằng ngoại tệ đã hạn chế khả năng của các NHTM trong việc bán chúng ra trên thị trường ngoại hối hoặc bán cho NHNN. Như vậy chính sách quản lý ngoại hối của NHNN trong giai đoạn hội nhập cần phải được xem xét theo hướng làm thế nào để cho người dân gởi toàn bộ số ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng và khuyến khích người dân bán ngoại tệ hẳn cho hệ thống ngân hàng để đáp ứng cho nhu cầu ngoại tệ của các khu vực khác trong nền kinh tế.thông qua hệ thống ngân hàng. Hiện nay người dân vẫn lưu hành ngoại tệ tiền mặt trong lưu thông và sử dụng cho các giao dịch trong nước. Điều này cho thấy cơ chế quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia hiện nay nói riêng và điều hành kinh tế vĩ mô vẫn còn khá nhiều bất cập. Trong một số thời điểm. Và hết sức nghịch lý khi hệ thống ngân hàng VN nắm giữ một lượng lớn ngoại tệ. Những diễn biến trên cho thấy. Trên thực tế. Ngoài ra. Cung cầu ngoại tệ từ các NHTM Hệ thống NHTM hiện vẫn đang nắm giữ một lượng lớn ngoại tệ thặng dư của nền kinh tế. hệ thống các NHTM đã gửi một lượng lớn ngoại tệ ra nước ngoài mà không bán ngoại tệ cho NHNN để tăng dự trữ ngoại hối quốc gia. Việc các hệ thống NHTM nắm giữ một lượng lớn ngoại tệ ở nước ngoài mà không bán cho NHNN suy cho cùng là do chính sách tiền tệ vẫn chưa hoạt động hữu hiệu. . khoảng 9 tỷ USD ở nước ngoài. mặc dù chính phủ có giải thích rằng việc phát hành trái phiếu quốc tế lần này chỉ là bước thăm dò sự hội nhập của VN vào thị trường vốn quốc tế. Cung cầu ngoại tệ từ khu vực dân cư Nguồn cung ngoại tệ của khu vực này chủ yếu là chuyển tiền kiều hối. thì sự kiện Chính phủ lại phát hành 750 triệu USD trái phiếu quốc tế với lãi suất khá cao lại đặt nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời. trong khi hệ thống ngân hàng của chúng ta hiện đang nắm giữ một số lượng khoảng 9 tỷ USD ngoại tệ. Chỉ khi người dân không thể sử dụng ngoại tệ để thanh toán cho các giao dịch thường ngày thì họ có thể gửi toàn bộ số ngoại tệ của họ vào hệ thống ngân hàng. khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ của các khu vực trong nền kinh tế thì lượng ngoại tệ của ngân hàng sẽ tăng lên.5 tuần nhập khẩu. Nguyên nhân là do trong số ngoại tệ NHNN gởi ở nước ngoài có một phần không nhỏ là lượng ngoại tệ của Chính phủ và của các NHTM gởi tại NHNN. Số ngoại tệ thặng dư này được người dân nắm giữ dưới hai hình thức (gởi tại hệ thống ngân hàng và nắm giữ bằng tiền mặt). trong nhiều thời điểm số dư tiền gởi ngoại tệ của NSNN gởi tại NHNN rất lớn. Số dư của hai quỹ. thì nền kinh tế VN lại thu hút một lượng vốn lớn nước ngoài khiến gánh nặng nợ nước ngoài của VN ngày càng tăng lên. chính sách tiền tệ và tỷ giá phải thực hiện theo hướng ngang bằng lãi suất giữa việc nắm giữ USD và VND thì mới có thể khuyến khích người dân bán thẳng ngoại tệ cho hệ thống ngân hàng. Nguồn ngoại tệ mà Bộ tài chính có được phần lớn có được là từ các khoản thu xuất khẩu dầu thô. Cung cầu ngoại tệ bị bóp méo do có sự tham gia từ Chính phủ Những diễn biến trong thời gian qua cho thấy mặc dù lượng tiền gởi ngoại tệ của NHNN tại nước ngoài tăng nhưng mức dự trữ quốc tế không tăng mạnh bằng mức tăng tiền gởi. lượng ngoại tệ thặng dư của các cá nhân hàng năm còn lớn hơn cả lượng vốn ròng vào VN. trong khi dự trữ ngoại hối chỉ tương đương với khoảng 10 tuần nhập khẩu. nguồn thu này đáng lý ra Bộ tài chính phải bán hết trở lại ngay tức thời cho NHNN.

Trong khi đó. hội nhập về tỷ giá là điều hầu như không thể tránh khỏi. tỷ giá thực (real exchange rate) có tầm quan trọng đặc biệt trong việc giải mã bài toán tỷ giá. Tỷ giá đi đâu về đâu? Theo như đăng ký với IMF và phát biểu của chính Thống đốc NHNN. ví dụ hôm nay 1 USD bằng 16. Các đối tác thương mại tham gia vào tính toán tỷ giá thực đại diện cho hầu hết các quốc gia chủ yếu mà VN có quan hệ mậu dịch. gồm có 7 đối tác lớn: Singapore. Phải chăng các biến động bất thường của tỷ giá trong thời gian qua là phần khai cuộc cho ván cờ chính sách tỷ giá trong giai đoạn hậu WTO? Bài viết này không đi vào lý luận phức tạp về tỷ giá mà chỉ tập trung làm rõ diễn biến bất ổn của tỷ giá USD/VND trong thời gian qua và cũng chỉ giới hạn thông qua giải mã các phát biểu từ các quan chức NHNN và từ nghiên cứu báo cáo của World Bank cũng như các nghiên cứu của bản thân tác giả. Tỷ giá thực luôn được xác lập trong mối quan hệ với hàng loạt các đối tác mà VN có quan hệ mậu dịch. cần thiết phải giải mã những “tín hiệu” mà Chính phủ muốn gửi gắm – một cách kín đáo – đến thị trường. Nếu các yếu tố khác như chất lượng hàng hóa là không đổi. Đồng VN đang được định giá cao hay thấp? Để trả lời cho câu hỏi này. Mỹ. là mức tỷ giá mà các ngân hàng công bố cho các giao dịch tiền tệ trên thị trường. đồng tiền của các nước trong khu vực và VND đều đã có sự điều chỉnh lại để hướng đến ngang giá chung. Phần cuối cùng trong bài viết là các dự báo của tác giả về chính sách tỷ giá trong giai đoạn hậu WTO. . Theo quan sát của tác giả trong nhiều năm gần đây. khi tỷ giá danh nghĩa tương thích với chênh lệch lạm phát trong nước và quốc tế.Theo TCKTPT Chính sách tỷ giá hậu WTO TCKT cập nhật: 06/05/2007 Khi mà quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu ngày càng trở nên sâu rộng và thực chất. Sở dĩ như thế là do năm 1999 là thời điểm diễn ra sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997. cơ chế tỷ giá hiện nay là “thả nổi có quản lý”.000 đồng. tỷ giá thực là căn cứ vô cùng quan trọng để NHTW các nước lấy đó làm một trong mức chuẩn để xác lập tỷ giá mục tiêu cho nền kinh tế. Tỷ giá danh nghĩa. Nhật. còn được gọi là tỷ giá thực có hiệu lực (real effective exchange rate) – gọi ngắn gọn trong bài này là tỷ giá thực. các doanh nghiệp xuất khẩu không phải lo lắng gì nhiều đến sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu. Để có thể dự báo tỷ giá. tác giả lấy năm 1999 là kỳ gốc để xác lập tỷ giá thực. Việc Trung Quốc luôn duy trì chính sách về một đồng nội tệ yếu theo kiểu tỷ giá danh nghĩa không tương thích với chênh lệch lạm phát trong nước và thế giới để làm tràn ngập hàng hóa của mình trên thị trường quốc tế là điển hình về cách thức dự báo đồng nhân dân tệ đi đâu về đâu. Do có tác động lớn đến giá cả hàng hóa xuất khẩu (và cả nhập khẩu). tỷ giá thực là một chỉ số cho thấy tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo chênh lệch lạm phát trong nước và lạm phát nước ngoài.

Tuy nhiên.. Không hiểu rồi đây khi có những cú sốc thực sự từ các biến động tiền tệ.500 VND trong năm 2007. Trần tỷ giá USD/VND đã bị phá vỡ Nếu quan sát thường xuyên những diễn biến phương thức điều hành tỷ giá của NHNN trong khoảng thời gian gần . Tuy nhiên. Đầu cơ chỉ là giọt nước cuối làm tràn ly” (TBKTSG 11. rằng tỷ giá USD/VND hiện nay đã được điều chỉnh khá sát theo thị trường.000. Có thể hiểu đây là thông điệp mà các nhà hoạch định chính sách muốn nhắn gửi. chỉ số giá tiêu dùng CPI và trọng lượng xuất nhập khẩu giữa VN với 7 đối tác thương mại (tính theo quý) dùng để tính tỷ giá thực được tác giả chọn lọc từ cơ sở dữ liệu thống kê tài chính quốc tế (IFS) của IMF và Tổng cục thống kê VN (kết quả tính toán thể hiện trên hình). Số liệu về tỷ giá danh nghĩa giữa đồng tiền VN và các nước. Con số 100 trên hình là mức ngang giá sức mua. Các tính toán của tác giả khớp với công bố từ Global Development Finance 2006 của WB. các doanh nghiệp đã hoang mang. Đây là diễn biến rất đáng chú ý để dự báo về đường đi của tỷ giá trong giai đoạn sắp đến. Đây dường như là điều bình thường. xem như hàng hóa VN và các nước đều có sức cạnh tranh về giá cả là ngang nhau. Chỉ mới bình thường và phản ánh đúng tương quan của thị trường. Nhìn tổng thể trong giai đoạn 7 năm qua. EIU dự đoán tỷ lệ lạm phát của VN sẽ ở mức tương đối cao trong những năm tới và với những gì phát biểu từ các nhà hoạch định chính sách về việc duy trì tính cạnh tranh trong xuất khẩu. mà cụ thể là theo dấu khá sát với chênh lệch lạm phát trong nước và quốc tế. Thực tế thời gian qua mọi biến động về chỉ số giá tiêu dùng. biến động giá các đồng tiền của các nước. càng tiến về cuối năm 2005. Có thể thấy phản ứng khá bình thản của các nhà hoạch định chính sách từ cái gọi là cơn sốt tỷ giá thông qua tín hiệu phát đi từ phát biểu của ông Trương Văn Phước – Vụ trưởng Vụ ngoại hối NHNN – khi tỷ giá USD/VND vượt ngưỡng 16. Đài Loan.000: “Không có chuyện ém tỷ giá trong thời gian dài.520 VND. VND đã liên tục định giá thấp so với USD (tỷ giá thực cao hơn con số 100 cho thấy VND định giá thấp và ngược lại). Nhóm nghiên cứu EIU của tạp chí The Economist đã đưa ra dự báo về mức tăng của tỷ giá VND/USD với mức trên 16.5.5. Tỷ giá luôn theo dấu khá sát với chênh lệch lạm phát trong nước và 7 quốc gia mà VN có quan hệ mậu dịch. Các phản ứng chính sách Như vậy sau nhiều năm không bao giờ vượt ngưỡng “tâm lý” 16. có lúc tỷ giá USD/VND đã lên đến mức 17. Pháp và Đức. Tại mức này. Ông Lê Xuân Nghĩa – Vụ trưởng Vụ chiến lược phát triển ngân hàng – cũng hàm ý tương tự “Sự biến động tỷ giá có nguyên nhân từ thị trường. các doanh nghiệp sẽ phản ứng ra sau. Diễn tiến trên phần nào cho thấy dáng đi của tỷ giá trong thời gian qua. nay phải điều chỉnh tăng vọt.. tỷ giá thực có xu hướng ngày càng tiến gần về ngang giá sức mua khi liên tục giảm dần về con số 100. vào thời điểm năm 1999.2006). do đồng USD tiếp tục có xu hướng sụt giá so với các ngoại tệ mạnh khác trên thị trường toàn cầu nên EIU dự báo trong năm 2007 trung bình 1 USD sẽ đổi được 16.Trung Quốc.2006). VND sẽ còn tiếp tục sụt giá trong những năm tới. theo đó tỷ giá thực của VN được định giá “hơi cao” trong giai đoạn 2002-2006.000 vào một số thời điểm trong những tháng vừa qua.đều đã được đưa vào một bài tính phức tạp để giải bài toán tỷ giá” (Tuổi trẻ ngày 10.

Tỷ giá USD/VND do Nhà nước công bố giờ đây chỉ còn là hình thức. chủ yếu là EUR. chỉ chiếm khoảng 20% trong cơ cấu ngoại tệ (80% còn lại là USD) nên động thái này khó có thể tác động nhiều đến tỷ giá USD/VND chính thức do Nhà nước công bố. Tuy nhiên các giao dịch vãng lai chỉ đi vào thực chất nếu như tỷ giá phải phản ánh đúng các diễn biến của thị trường. Đây có thể được xem như là phác thảo đầy ẩn ý (khó thấy) của chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý. các doanh nghiệp có thể tự do chuyển đổi từ USD sang EUR theo tỷ giá thỏa thuận.đây. chúng ta dễ cảm nhận về một sự chuyển động khá âm thầm nhưng không kém phần mạnh mẽ. Và rào cản này đã được xóa bỏ khi mới đây NHNN . do cơ cấu các ngoại tệ mạnh trên thị truờng. Can thiệp của Nhà nước vào tỷ giá đã giảm dần và tuân theo một cơ chế truyền động. Có thể thấy rất rõ điều này bằng cách quan sát trên thị trường ngoại hối. rồi sau đó lại chuyển từ EUR sang VND. Một chuyển biến đáng lưu ý nữa là NHNN đã chính thức xóa bỏ các rào cản trên tỷ giá kỳ hạn. Một khi tỷ giá kỳ hạn được xác lập từ các quan hệ thị trường thì tỷ giá giao ngay giờ đây cũng vậy. Nếu không hài lòng với mức tỷ giá USD/VND do nhà nước công bố. Việc NHNN quy định độ dài tối thiểu của một hợp đồng kỳ hạn gần sát với một hợp đồng giao ngay là một ý đồ. dường như là có chủ đích. Nếu quy lại. Tuy Nhà nước có khống chế tỷ giá USD/VND nhưng do thả nổi tỷ giá các ngoại tệ mạnh khác và không còn kiểm tra chứng từ đối với các giao dịch mua bán ngoại tệ không sử dụng VND (Quyết định 1452 ngày 10. thay vì tuân theo mức trần tỷ giá do nhà nước công bố. Tỷ giá kỳ hạn giờ đây do các NHTM tự xác định dựa trên các chênh lệch lãi suất trong nước và quốc tế.25% hiện nay do Nhà nước công bố. hoặc (2) sử dụng tỷ giá kỳ hạn như là một ngang giá mà không tuân thủ hoàn toàn theo biên độ ±0. Khi linh hồn của tỷ giá kỳ hạn là chênh lệch lãi suất được xác lập.11. Các chủ thể được tạo điều kiện tiếp cận không hạn chế quyền mua ngoại tệ để thực hiện các khoản thanh toán và chuyển tiền trong các giao dịch vãng lai. Vì độ chênh thời gian giữa 2 hợp đồng kỳ hạn và giao ngay giờ đây là quá bé nên cho phép thị trường thẩm định lại trần tỷ giá giao ngay theo hướng (1) hoặc chấp nhận tỷ giá trần như một ngang giá. 3 bước nữa đến thả nổi? Cơ chế tỷ giá từng bước được thả nổi đã dần hiện hữu khi vào cuối năm 2005 IMF chính thức công nhận VN thực hiện hoàn toàn việc tự do hóa các giao dịch vãng lai. tỷ giá kỳ hạn đã phản ánh được các quan hệ cung cầu trên thị trường.2004) nên mặc nhiên thị trường có thể phá trần tỷ giá USD/VND một cách hợp pháp. tỷ giá USD/VND nhận về theo đường vòng này có thể cao hơn mức tỷ giá do Nhà nước công bố và phản ảnh đúng với mức giá của thị truờng hơn. Có điều.

cho phép EXIMBANK đuợc phép thí điểm “mua bán ngoại tệ theo giá thỏa thuận”. Một số chuyên gia nhận định đây là một bước ngoặc trong chính sách ngoại hối. Nhận định này không sai, nhưng nếu quan sát kỹ, ta thấy quy định này có khả năng dẫn đến thay đổi căn bản trong chính sách tỷ giá. Có thể dự báo các bước tiếp theo tuân theo trình tự như sau: (1) Nhà nước sẽ cho phép hàng loạt các ngân hàng thương mại thực hiện mua bán ngoại tệ theo giá thỏa thuận; (2) tiếp theo sau ngoại tệ mặt, sẽ áp dụng mua bán ngoại tệ theo tỷ giá thỏa thuận đối với ngoại tệ chuyển khoản; và (3) bước đi cuối cùng là chính thức bãi bỏ công bố tỷ giá bình quân liên ngân hàng. Bước đi cuối cùng chính là điểm khởi sự đầu tiên cho một chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý một cách thực chất, theo hướng tỷ giá phải linh hoạt hơn nữa theo khuyến cáo của IMF và phù hợp với việc VN là thành viên của WTO. Bao giờ thả nổi? Thách thức lớn nhất cho các nhà hoạch định chính sách là lựa chọn lộ trình thời gian 3 bước đến tỷ giá thả nổi. Nhanh hay chậm? Câu hỏi này không dễ trả lời. Có điều, khi mà các giao dịch thương mại và tài chính với thế giới ngày càng mở rộng, khi mà dòng vốn quốc tế từ các giao dịch này luân chuyển vào và ra nền kinh tế một cách thường xuyên và với quy mô lớn thì việc chậm chân có thể sẽ đặt ra thách thức nhiều hơn là sự cẩn trọng thái quá. Tỷ giá phải phản ánh các quan điểm của thị trường. Ẩn số còn lại là NHNN can thiệp như thế nào và ở mức độ nào để không tạo ra tâm lý bất ổn. Cái gì của Cesar hãy trả lại cho Cesar. Đó có lẽ là thông điệp đáng lưu ý nhất mà chúng ta có thể đọc được ngay từ nước khai cuộc của ván cờ tỷ giá hậu WTO. Từ giờ trở đi có khả năng không còn chuyện nhà nước bảo hộ rủi ro tỷ giá thay cho các doanh nghiệp nữa rồi. Doanh nghiệp nào không tính đến các biến động tỷ giá trong các kế hoạch kinh doanh và tài chính, có khả năng sẽ phải đương đầu với thảm họa. Các tiêu đề đại loại như “USD lên giá, doanh nghiệp lo sốt vó” hay “tỷ giá nhích lên từng ngày” giờ đã xuất hiện khá thường xuyên trên các tờ báo. Diễn biến này cũng khá hợp lý bởi một trong những thách thức hiển nhiên là khi tỷ giá không phản ánh đúng các quan điểm của thị trường, chắc chắn sẽ dẫn đến khủng hoảng. Bài học từ việc cố định cứng nhắc tỷ giá đã dẫn đến cuộc khủng hoàng tài chính châu Á là một điển hình cho các thách thức như thế và hiển nhiên các nhà hoạch định chính sách không thể xem thường nguy cơ này. Tỷ giá ngày càng linh hoạt hơn, nếu không muốn gọi với một cái tên ít được ưa thích là “bất ổn hơn” là điều dường như phải xảy ra. Điều này không phải chỉ xuất phát từ chính bản thân sức ép của nền kinh tế trong nước mà còn từ đòi hỏi của một nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu. PGS.TS TRẦN NGỌC THƠ - TCKTPT Quyền lựa chọn tiền tệ: Công cụ mới được vận hành trên thị trường hối đoái Việt Nam TCKT cập nhật: 01/07/2006 Trong thời gian qua, nhất là những ngày gần đây, do nguy cơ chiến tranh Irắc càng gần tới điểm nút và những sự kiện căng thẳng khác, dồn dập xẩy ra trên thế giới, khiến cho diễn biến tỷ giá, trên thị trường vô cùng phức tạp. USD đã mất giá đáng kể so với hầu hết các đồng tiền chuyển đổi khác, như EUR, GBP, JPY,..trên thị trường hối đoái quốc tế. Ở thị trường trong nước, trong khi USD tương đối ổn định, thì giá bán EUR của các ngân hàng thương mại, lại liên tục tăng cao.Ngày 4.3, tại TP.Hồ Chí Minh, giá bán 1 EUR là 16.913 VND, trong khi vào thời điểm cuối

tháng 2, mới chỉ có 16.667 VND. Tình hình biến động tỷ giá phức tạp như vậy, đã ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp hoạt động nhập khẩu, trước hết là nhập từ thị trường EU và thanh toán bằng EUR. Hơn lúc nào hết, họ rất cần có những công cụ hữu hiệu trên thị trường hối đoái, để vận dụng vào mục đích phòng chống rủi ro tỷ giá. Ngày 12 tháng 2 năm 2003 vừa qua, Thống đốc NHNN Việt Nam, đã chấp thuận đề nghị của NHTMCP xuất nhập khẩu Việt Nam (EXIMBANK), cho phép ngân hàng này được thực hiện thí điểm, nghiệp vụ quyền lựa chọn tiền tệ. Cùng với các nghiệp vụ hối đoái khác, đã và đang được giao dịch trên thị trường hối đoái Việt Nam, như giao dịch hối đoái trao ngay (SPOT), giao dịch hối đoái kỳ hạn (FORWARD), giao dịch hoán đổi ngoại tệ (SWAP); việc đưa vào áp dụng sản phẩm quyền lựa chọn tiền tệ (CURRENCY OPTION) là một biểu hiện của quá trình, đa dạng hoá các sản phẩm, trên thị trường hối đoái. Trên cơ sở đó, góp phần hoàn thiện và phát triển thị trường hối đoái Việt Nam; từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập, trên lĩnh vực thị trường tài chính – tiền tệ nói riêng, với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trên thị trường hối đoái quốc tế, quyền lựa chọn tiền tệ đã được sử dụng phổ biến từ thế kỷ 19. Tuy nhiên, với thị trường hối đoái Việt Nam, đây cũng là loại sản phẩm chỉ mới được thử nghiệm đầu tiên. Xét trên giác độ lý thuyết, bản thân công cụ này có những ưu thế nhất định, so với các công cụ khác trên thị trường; đặc biệt là vai trò bảo hiểm rủi ro tỷ giá - một vấn đề được các nhà kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh xuất nhập khẩu, thường xuyên hết sức quan tâm. Song, về mặt kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ này cũng khá phức tạp. Hơn nữa chúng ta còn thiếu kinh nghiệm vận dụng thực tế. Vì vậy, cần tìm hiểu để nắm chắc kiến thức lý thuyết và thận trọng trong quá trình triển khai vận hành, nhằm hạn chế tối đa rủi ro có thể xẩy ra. Bài viết này xin cung cấp một số thông tin về lý thuyết và một số suy nghĩ bước đầu về quá trình triển khai áp dụng quyền lựa chọn tiền tệ. Thế nào là quyền lựa chọn tiền tệ? Quyền lựa chọn tiền tệ là quyền được mua hoặc bán, một số lượng ngoại tệ, trong một khoảng thời gian, hoặc tại một thời điểm, xác định trong tương lai, với một tỷ giá nhất định, đã được thoả thuận ở thời điểm hiện tại. Quyền lựa chọn tiền tệ gồm hai loại: Quyền lựa chọn mua (Call Option) và quyền lựa chọn bán (Put Option). Quyền lựa chọn mua là quyền được mua ngoại tệ, theo một tỷ giá nhất định, đã được thoả thuận trước, trong một khoảng thời gian, hoặc tại một thời điểm nhất định trong tương lai. Quyền lựa chọn bán là quyền được bán ngoại tệ, theo một tỷ giá nhất định, đã được thoả thuận trước, trong một khoảng thời gian hoặc tại một thời điểm nhất định trong tương lai. Việc giao dịch quyền lựa chọn được tiến hành thông qua hợp đồng quyền lựa chọn tiền tệ (currency option contract), với hai chủ thể tham gia là người mua và người bán hợp đồng. EXIMBANK là ngân hàng thương mại đầu tiên ở Việt nam, được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ quyền lựa chọn. Đối tượng được tham gia giao dịch, hợp đồng quyền lựa chọn tại EXIMBANK, là tất cả các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam. Đồng tiền giao dịch, bao gồm tất cả các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi, như: USD, EUR, GBP, AUD, CHF,… Lợi ích của giao dịch quyền lựa chọn

Trong quan hệ đối tác giữa hai chủ thể của hợp đồng, người mua hợp đồng luôn là người có quyền, nhưng hoàn toàn không có nghĩa vụ, thực hiện việc mua hoặc bán ngoại tệ, theo mức tỷ giá đã thoả thuận trước trong hợp đồng. Điều đó cũng có nghĩa là người mua hợp đồng sẽ cân nhắc và quyết định, tiến hành giao dịch để thực hiện quyền, nếu thấy với tỷ giá thoả thuận trong hợp đồng là có lợi. Trong trường hơp ngược lại, họ sẽ không thực hiện quyền của mình, nếu thấy rằng, như vậy sẽ đỡ thiệt hại cho mình hơn. Đương nhiên, trong trường hợp này, họ phải chịu mất phí trả cho quyền lựa chọn (Option Premium). Còn về phía người bán hợp đồng, sau khi thu phí giao dịch, họ luôn có nghĩa vụ sẵn sàng thực hiện giao dịch, như đã cam kết trong hợp đồng, nếu người mua có yêu cầu thực hiện quyền. Như vậy, ơ đây có một vấn đề liên quan tới cả người mua và người bán hợp đồng, đó là vấn đề phí mua quyền. Khoản phí này thực chất là một loại giá cả của hợp đồng quyền lựa chọn mà người mua quyền phải trả cho người bán quyền. Nó được biểu hiện bằng tỷ lệ phần trăm của tỷ giá thoả thuận trong hợp đồng. Về nguyên lý, phí hợp đồng quyền lựa chọn phụ thuộc nhiều yếu tố như:thời hạn hiệu lực của hợp đồng; tỷ giá trao ngay và tỷ giá kỳ hạn tại thời điểm ký kết hợp đồng; tỷ giá thực hiện; kiểu quyền lựa chọn (châu Au hay Mỹ); lãi suất 2 loại ngoại tệ giao dịch. Ngoài ra, có thể căn cứ vào dự kiến về mức độ biến động của tỷ giá, lãi suất,… trong tương lai. Qua đó, có thể thấy rằng, đứng trên giác độ lợi ích của doanh nghiệp, trong việc hạn chế rủi ro tỷ giá, doanh nghiệp có thể sử dụng công cụ hợp đồng tương lai (FUTURE) hoặc kỳ hạn (FORWARD). Tuy nhiên, ở cả 2 loại công cụ giao dịch này, đều có điểm khác biệt rõ rệt, so với giao dịch OPTION, ơ chỗ: khi đáo hạn hợp đồng, nó phải được các bên tham gia, thực hiện thanh toán với nhau. Điều đó cũng có nghĩa là, các bên tham gia đều không có bất kỳ một sự lựa chọn nào khác, ngoài việc thanh toán hợp đồng; cho dù biết rằng, điều đó là bất lợi đối với mình. Rõ ràng là, với việc xuất hiện công cụ OPTION, tạo cho doanh nghiệp có cơ hội tốt hơn, trong việc lựa chọn và quyết định, sử dụng công cụ bảo hiểm tỷ giá, theo tình hình thực tế của thị trường. Cho đến nay, trên các thị trường hối đoái quốc tế, vẫn song song tồn tại hai kiểu quyền lựa chọn: Quyền lựa chọn kiểu Mỹ và kiểu châu Au. Quyền lựa chọn kiểu Mỹ cho phép người mua hợp đồng, được thực hiện quyền lựa chọn tại bất kỳ thời điểm nào, trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng. Trong khi đó, quyền lựa chọn kiểu châu Au, lại chỉ cho phép người mua hợp đồng, thực hiện quyền lựa chọn tại thời điểm đáo hạn của hợp đồng. Do vậy người mua quyền sẽ căn cứ vào mục tiêu ưu tiên của mình để lựa chọn kiểu quyền nào cho phù hợp. Chẳng hạn, nếu muốn ưu tiên cho mục tiêu phòng ngừa rủi ro tỷ giá, người ta sẽ mua hợp đồng quyền lựa chọn kiểu châu Au. Ngược lại, nếu muốn tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động đầu cơ, người ta lại mua hợp đồng quyền lựa chọn kiểu Mỹ. Xin nêu 1 ví dụ minh hoạ: Ngày 26.2.2003, công ty XYZ ký hợp đồng QLC mua ngoại tệ của EXIMBANK với những nội dung chủ yếu sau đây: -Số lượng ngoại tệ: 150.000 EUR, thanh toán bằng USD -Tỷ giá thực hiện: EUR/USD = 1,0650 -Loại quyền lựa chọn kiểu Mỹ. -Thời hạn hiệu lực: 1 tháng, từ 26.02.03 đến 26.03.03

0660 Tại bất cứ thời điểm nào.278).2003.000 EUR đã được khách hàng thực hiện. với số lợi thu được là 700 USD. Vilube bán 100. Nếu tỷ giá EUR/USD trên thị trường. giả sử là 1. biến động theo chiều tăng. Sự hưởng ứng nhiệt tình của các doanh nghiệp.000 EUR.000 EUR. 2.322 USD (2. Nếu tỷ giá EUR/USD giảm xuống. cung như bản thân các NHTM.-Phí giao dịch: 1.2% hay 1. trong khoảng thời gian từ 24. theo tôi.278) so với giao dịch kỳ hạn. cả về phía cơ quan quản lý vĩ mô. có thể xẩy ra 1 trong 2 tình huống: 1.000 EUR và 5.03 đến 24. công ty vẫn có lợi hơn. công ty có quyền không thực hiện hợp đồng. để mua 100. Tuy nhiên.600 Trừ phí OPTION 1. để hợp đồng QLC có tác dụng lớn hơn.722 USD (3. Để hỗ trợ cho các doanh nghiệp có biện pháp bảo hiểm tỷ giá hữu hiệu hơn. ngay sau khi chính thức khai trương nghiệp vụ này.000 = 2. Thực trạng tình hình giao dịch và một số suy nghĩ… Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước hiện nay.500.0950 = 109.… Tính đến ngày 3. EXIMBANK đã nhận được sự hưởng ứng của nhiều doanh nghiệp lớn.600 – 1. công ty phải chi: 100. công ty có quyền mua của EXIMBANK 100. về lợi ích của việc sử dụng công cụ bảo hiểm tỷ giá OPTION. giả sử đạt ở mức 1. song đây chính là một minh chứng thực tế khá rõ. chẳng hạn như: .000 JPY.000 EUR và 6 quyền mua với tổng giá trị 558.500 USD. đã có 1 hợp đồng QLC mua với trị giá 200. sự biến động của giá vàng thế giới và tỷ giá hối đoái vô cùng phức tạp.0660 –1. trong đó có 5 quyền bán với tổng giá trị 150.3. công ty có lợi 1. nhiều hơn 3.3. nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu.278 USD Tỷ giá tham khảo tại thời điểm ký hợp đồng: + Tỷ giá giao ngay:1.03. Ngày 24.000 USD. với hợp đồng QLC. Trường hợp này. phần nào cũng đã phản ánh nhu cầu bức xúc đối với việc mở rộng quy mô của giao dịch QLC. Nếu không có hợp đồng QLC. Vậy.000 USD. so với thực hiện một hợp đồng kỳ hạn(nếu công ty giao dịch theo loại hợp đồng này): (1. Trong số những hợp đồng đó. tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ và thu hút được nhiều đối tác tham gia hơn. thấp hơn tỷ giá đặt mua trong hợp đồng. trong đó có Vinataba với hợp đồng QLC mua 3 triệu SGD. 11 hợp đồng QLC đã được ký kết.0400.02.000 EUR với giá 1. với 11 hợp đồng QLC.03. Tuy số tiền không lớn.000 – 1. trong hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung.000.0680 + Tỷ giá kỳ hạn: 1.03. công ty vẫn có lợi hơn 1. Domesco mua 200.0650 và số tiền chi ra là 106.0950. Ngân hàng Nhà nước đã cho phép EXIMBANK thực hiện giao dịch QLC.0400) x 100.278 USD.000 x 1. cần có những quy định “thoáng” hơn.

Có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh. không nên quy định giới hạn đồng tiền giao dịch trong hợp đồng như hiện nay. nhằm mục đích. để cho phép mở rộng phạm vi đồng tiền giao dịch.Trái phiếu Chính quyền địa phương do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát hành. được thực hiện giao dịch quyền lựa chọn. được phép thực hiện giao dịch QLC trên thị trường hối đoái trong nước. tuy VND chưa phải đồng tiền tự do chuyển đổi. hầu hết các doanh nghiệp. 3.Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh. . Trái phiếu Kho bạc. mở rộng hoạt động của thị trường hối đoái. Thứ tư. (2) . các NHTM nên quy định giá hợp đồng QLC ở mức “mềm” một chút. NHNN cần nghiên cứu. Thành viên tham gia thị trường mở: gồm các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng có đủ các điều kiện sau: .Có đủ phương tiện cần thiết để tham gia nghiệp vụ thị trường mở gồm máy FAX. (3) . kích thích lợi ích vật chất đối với khách hàng. phấn đấu giảm phí hợp đồng. Công trái xây dựng Tổ quốc. NH nên sẵn sàng giảm bớt phần nào lợi nhuận từ hoạt động này. Bởi lẽ. tuyên truyền phổ biến trên phương tiện thông tin đại chúng. Ngân hàng Nhà nước cấp giấy công nhận là thành viên tham gia thị trường mở cho các tổ chức tín dụng đáp ứng đủ các điều kiện. Trái phiếu Chính phủ do Ngân hàng Phát triển Việt Nam (trước đây là Quỹ Hỗ trợ phát triển) được Thủ tướng Chính phủ chỉ định phát hành. góp phần tạo khả năng. Đồng thời cũng tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng. Trên cơ sở có nhiều NHTM cùng thực hiện nghiệp vụ này sẽ tạo điều kiện thực hiện hoạt động tái bảo hiểm trên thị trường giữa các NHTM trong nước cũng như trên thị trường quốc tế. trên thị trường hối đoái Việt Nam. Nghĩa là chỉ bao gồm quan hệ giữa các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi với nhau. (4) . bao gồm: Trái phiếu do Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành được Chính phủ bảo lãnh thanh toán 100% giá trị gốc. Các loại giấy tờ có giá sử dụng trong giao dịch nghiệp vụ thị trường mở : Ngân hàng Nhà nước quy định các loại giấy tờ có giá được sử dụng trong các giao dịch nghiệp vụ thị trường mở gồm: (1) . 2. . song. Trong điều kiện hiện nay. trong giai đoạn thử nghiệm hiện nay.Thứ nhất. Trái phiếu công trình Trung ương. Điều đó cũng có nghĩa là. Trên đây là một số suy nghĩ bước đầu. Thứ hai. thành phố). làm hạn chế tính linh hoạt của các giao dịch. Thứ ba. giữa các NHTM. Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu để sớm quyết định cho phép tất cả các ngân hàng thương mại có hoạt động kinh doanh quốc tế. Nghiệp vụ thị trường mở là việc Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua.Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước. các NHTM cần có biện pháp thích hợp. việc tái bảo hiểm tỷ giá vẫn có thể được tiến hành. Trên cơ sở đó. lãi khi đến hạn. đối với các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi. bán ngắn hạn các loại giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng thông qua hình thức đấu thầu. Theo TCKTPT Nghiệp vụ thị trường mở 1. với hy vọng góp phần hoàn thiện một bước. máy tính có nối mạng internet. một cách có hiệu quả. bao gồm: Tín phiếu Kho bạc. kể cả đối với VND. nhằm thu hút khách hàng với quy mô rộng lớn hơn. .Trái phiếu Chính phủ. đều luôn hết sức quan tâm đến tỷ giá VND.Có giấy đăng ký tham gia nghiệp vụ thị trường mở. việc vận dụng sản phẩm OPTION.

lãi khi đến hạn. khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán và lãi suất do Ngân hàng Nhà nước thông báo. Danh mục các loại giấy tờ có giá. 5. Các phương thức mua hoặc bán giấy tờ có giá trong nghiệp vụ thị trường mở: Gồm giao dịch mua có kỳ hạn. Phương thức đấu thầu giấy tờ có giá trong nghiệp vụ thị trường mở: Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện thông qua phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất. Trái phiếu Chính quyền địa phương do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát hành. không tính ngày nghỉ cuối tuần.Được lưu ký tại Ngân hàng Nhà nước trước khi đăng ký bán (bao gồm giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng lưu ký trực tiếp tại Ngân hàng Nhà nước và lưu ký tại tài khoản của Ngân hàng Nhà nước mở tại Trung tâm giao dịch chứng khoán). h: Tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá tại thời điểm định giá và giá thanh toán. tỷ lệ giao dịch của các loại giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước qui định trong từng thời kỳ. Đấu thầu khối lượng: Là việc xét thầu trên cơ sở khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng. Tại mỗi phiên đấu thầu.Giấy tờ có giá được mua hẳn có thời hạn tối đa là 91 ngày. 7. giao dịch bán hẳn 6. Đấu thầu lãi suất: Là việc xét thầu trên cơ sở lãi suất dự thầu. giao dịch bán có kỳ hạn. Trường hợp ngày mua lại hoặc ngày đến hạn thanh toán của giấy tờ có giá trùng với ngày nghỉ cuối tuần.Được phát hành bằng đồng Việt Nam. giao dịch mua hẳn.Riêng đối với giao dịch mua có kỳ hạn. G: Giá trị giấy tờ có giá tại thời điểm định giá. . .h) Trong đó: Gđ: Giá thanh toán. nghỉ lễ và nghỉ tết. nghỉ lễ và nghỉ tết. Ngày giao dịch và định kỳ tổ chức thực hiện nghiệp vụ thị trường mở: . tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá tại thời điểm định giá và giá thanh toán. Xác định giá mua bán giấy tờ có giá: * Giá thanh toán giữa Ngân hàng Nhà nước với tổ chức tín dụng được xác định theo công thức sau: Gđ = G x (1. 8.Có thể mua. thì ngày thanh toán và chuyển giao giấy tờ có giá được thực hiện vào ngày làm việc tiếp theo. Ngân hàng Nhà nước chỉ giao dịch đối với: Công trái xây dựng Tổ quốc. Trái phiếu do Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành được Chính phủ bảo lãnh thanh toán 100% giá trị gốc. .Ngày giao dịch nghiệp vụ thị trường mở được tính theo ngày làm việc. . khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng và khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán. . Ngân hàng Nhà nước chỉ áp dụng một phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất. Điều kiện các giấy tờ có giá được giao dịch trong thị trường mở: .Định kỳ và ngày tổ chức thực hiện nghiệp vụ thị trường mở do Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở quy định cụ thể trong từng thời kỳ. 4. bán được và nằm trong danh mục các loại giấy tờ có giá được giao dịch qua nghiệp vụ thị trường mở .(5) .

Thời gian. Quy trình nghiệp vụ: (1).Phương thức xét thầu (Trường hợp đấu thầu lãi suất). 9. .. . nhận giấy tờ có giá trong trường hợp mua hẳn hoặc bán hẳn giấy tờ có giá. Tổng khối lượng giấy tờ có giá đăng ký mua hoặc bán của một tổ chức tín dụng trong một đơn dự thầu tối thiểu là 100 triệu đồng. Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước tổ chức thực hiện xét thầu với sự chứng kiến của các thành viên trong Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở. L: Lãi suất thống nhất hoặc lãi suất riêng lẻ (trường hợp đấu thầu lãi suất) hoặc lãi suất do Ngân hàng Nhà nước thông báo (trường hợp đấu thầu khối lượng) tại phiên đấu thầu. phương thức xét thầu. phương thức đấu thầu. (3). . Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước thông báo mua hoặc bán giấy tờ có giá cho các thành viên qua mạng vi tính với các nội dung chính như: Ngày đấu thầu. phương thức mua bán. . (2).Thời hạn của giao dịch mua.Các loại giấy tờ có giá cần mua. . bán. Việc xét thầu thực hiện theo nội dung thông báo của Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở (4). Cục Công nghệ tin học Ngân hàng). bán.* Giá mua lại giấy tờ có giá giữa Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng được xác định theo công thức sau: Gv = Gđ x ( 1 + L x Tb ________ ) 365 Trong đó: Gv: Giá mua lại. Gđ: Giá thanh toán. Sở Giao dịch. . khối lượng giấy tờ có giá cần mua hoặc bán .Khối lượng các loại giấy tờ có giá cần mua hoặc bán tính theo giá thanh toán giữa Ngân hàng Nhà nước với tổ chức tín dụng. các tổ chức tín dụng căn cứ vào thông báo của Ngân hàng Nhà nước để nộp đơn dự thầu (qua mạng vi tính) đăng ký mua hoặc bán giấy tờ có giá với Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước.Tỷ lệ giao dịch của các loại giấy tờ có giá. Trong thời hạn nộp đơn dự thầu. . Vụ Kế toán tài chính. .. cách thức xem xét và quyết định các nội dung chủ yếu trong phiên giao dịch nghiệp vụ thị trường mở do Trưởng ban hoặc người được Trưởng ban uỷ quyền quyết định. Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở có thẩm quyền quyết định các nội dung: . Vào ngày đấu thầu. đồng thời là căn cứ để lập hợp đồng mua lại trong trường hợp mua hoặc bán có kỳ hạn 10. Ngân hàng Nhà nước thông báo kết quả đấu thầu (qua mạng vi tính) cho các tổ chức tín dụng tham gia đấu thầu. Vụ Chính sách tiền tệ. tổ chức tín dụng có thể thay đổi nội dung đơn dự thầu hoặc huỷ bỏ đơn dự thầu.Phương thức đấu thầu.Lãi suất mua hoặc bán. Điều hành nghiệp vụ thị trường mở: Ngân hàng Nhà nước thành lập Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở do một Phó Thống đốc làm Trưởng ban và các thành viên là đại diện của các đơn vị có liên quan thuộc Ngân hàng Nhà nước (Vụ Tín dụng. Thông báo kết quả đấu thầu là căn cứ để thực hiện việc thanh toán và giao.Quyết định thông báo hoặc không thông báo khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán trước mỗi phiên đấu thầu. Tb: Thời hạn bán (số ngày).

2. Các tổ chức tín dụng là thành viên tham gia nghiệp vụ thị trường mở không cung cấp thông tin theo quy định của Quy chế Nghiệp vụ Thị trường mở sẽ bị tạm đình chỉ tham gia mua. sự gián đoạn công việc đã được tiếp tục một ngày sau đó.Không đủ số tiền phải thanh toán khối lượng trúng thầu được Ngân hàng Nhà nước thông báo. ai thắng ai Tin nổi bật ngày 27 tháng 5 năm 2011. Những bài viết đanh thép tố cáo TQ vi phạm nghiêm trọng chủ quyền tại điểm cách bờ 116 dặm.Không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền phải thanh toán khi đến hạn (đối với trường hợp tổ chức tín dụng bán và cam kết mua lại). Về căn bản ta không có khả năng ứng chiến với lý do chủ yếu là ta không có tàu đủ sức đáp ứng với tàu bạn. Vinashin và Petro Vietnam. 3. Quyết định số 01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế nghiệp vụ thị trường mở. Đường cơ sở ven bờ lục địa mà những bài báo đó dẫn chứng chỉ bao gồm Mũi Đại Lãnh và 10 đảo ven bờ như Lý Sơn (Quảng Ngãi). Tài liệu tham khảo 1. Cồn Cỏ (Quảng Trị). Ngày hiệu lực 04/02/2007. 11. Quyết định số 27/2008/QĐ-NHNN ngày 30/09/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi. Hòn Nhạn (Kiên Giang). Ngày hiệu lực 01/11/2008. huy động toàn bộ hệ thống chính trị lên án sự kiện 3 tàu chiến của TQ phá hoại thiết bị và đe dọa tàu thăm dò Bình Minh 02 của Petro Vietnam (viết tắt là PVN) vào lúc 5:30 sáng ngày 26/5/2011 trong vùng biển cách bờ biển Phú Yên 120 dặm (xin lỗi độc giả vì một câu quá dài). Còn những đảo và quần đảo khác không thấy nhắc tới như thể khẳng định phía bạn toàn quyền hành động bên ngoài giới hạn 200 dặm. thì mỗi lần vi phạm sẽ bị Ngân hàng Nhà nước tạm đình chỉ việc tham gia nghiệp vụ thị trường mở trong thời gian 1 tháng kể từ ngày có thông báo vi phạm lần thứ 3. . Tổ chức tín dụng tham gia đấu thầu nghiệp vụ thị trường mở vi phạm từ lần thứ 3 trở lên đối với một trong các trường hợp nêu trên. . Việc đóng tàu chiến để bảo vệ quyền lợi trên biển lại nằm trong tầm tay của Vinashin.Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở sẽ thông báo cho Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước các nội dung mà Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở đã quyết định về phiên giao dịch để Sở Giao dịch thông báo cho các thành viên. bán trong thời gian 1 tháng kể từ ngày Ngân hàng Nhà nước thông báo vi phạm.Không chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho Ngân hàng Nhà nước vào ngày thanh toán (trường hợp tổ chức tín dụng bán) hoặc vào ngày mua lại (trường hợp tổ chức tín dụng mua và cam kết bán lại). Về mặt thiệt hại kinh tế. . Hòn Đá Lẻ (Cà Mau). cho thấy vai trò quả đấm thép của tập đoàn này về an ninh quốc phòng. tất nhiên là không nhiều đến mức 60 triệu đô. Quyết định số 11/2010/QĐ-NHNN ngày 6/1/2010 về danh mục giấy tờ có giá được sử dụng trong các giao dịch của Ngân hàng Nhà nước. Xử phạt vi phạm: Ngân hàng Nhà nước sẽ có thông báo bằng văn bản gửi các tổ chức tín dụng trúng thầu có vi phạm một trong các trường hợp sau đây: . bổ sung một số điều của Quy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành kèm theo Quyết định số 01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. chi phí phục hồi đoạn cáp cảm biến mà phía bạn làm đứt không lớn.

Nhà đầu tư hoang mang không biết nên tiếp giữ cổ phiếu Vinashin hay PVN. Vinashin được sự bảo lãnh của chính phủ. Cùng là tập đoàn kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Việc chính phủ có thái độ ứng xử rất khác nhau đối với 2 tập đoàn đã có tác dụng xấu: 1. nhưng liệu rằng họ có thực sự cần đến số tiền kếch xù đó không hay chỉ là động thái phong trào. VNR500 trân trọng giới thiệu ý kiến của Thạc sĩ Nguyễn Quang Vinh – trước đã làm việc tại Bộ Tài chính. Không được các hãng thông tấn lớn trên thế giới đưa tin sự kiện trên. Bảo lãnh Chính phủ: Đừng “sập bẫy” như Vinashin Nếu lập lờ giữa bảo lãnh Chính phủ với Viện trợ phát triển sẽ là lập lờ về mục tiêu. dẫn đến mơ hồ về phương pháp quản lý Nguyễn Quang Vinh Xử lý khoản vay rất lớn như Vinashin vẫn chỉ là "đánh bùn sang ao" Rất nhiều tập đoàn. đặc biệt là quy định về tài sản thế chấp. Không tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận quốc tế. *** Chính ông Phó Tổng PVN thừa nhận chuyện "cắt cáp" đã diễn ra nhiều lần. Xin hãy hết sức tỉnh táo trong vấn đề này. 3. sau đó chuyển sang một tập đoàn. nhưng trên thực tế lại khác. Bên cạnh đó chính phủ làm ngơ không can thiệp. đã vay của nước ngoài số vốn quy nợ 600 triệu đô cam kết trả dần trong 10 kỳ mỗi kỳ 60 triệu đô. Sao lại bên trọng bên khinh như thế. Quần chúng không biết giới hạn lãnh hải của ta đến đâu để mà đấu tranh bảo vệ chủ quyền. Bài viết đề cập sâu hơn đến câu chuyện bảo lãnh Chính phủ hiện nay và tính cấp thiết cần phải thắt chặt. tăng trưởng giả tạo. . LTS: Sau khi Diễn đàn Kinh tế Việt Nam đăng bài “Tù mù chuyện trả nợ thay cho Vinashin”. PVN là một tập đoàn kinh tế nhà nước.Cũng như Vinashin. Vinashin lẽ ra phải được hệ thống chính trị hậu thuẫn tương đương. Về nguyên tắc lẽ ra cả hai được sự quan tâm như nhau. Vinashin với tư cách là một con nợ đã khước từ. tổng công ty nhà nước đang cố gắng để có được bảo lãnh chính phủ. 2. cho rằng đây là vấn đề doanh nghiệp tự chủ giải quyết. Đến kỳ trả nợ đầu tiên 20/12/2010. nhiều ý kiến độc giả gửi về bày tỏ sự lo lắng về cách bảo lãnh Chính phủ đối với các khoản vay nước ngoài của DNNN hiện nay. giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.

đảm bảo trả được nợ. Vấn đề là bảo lãnh như thế nào. thực hiện bảo lãnh Chính phủ và cơ chế kiểm tra giám sát bảo lãnh Chính phủ trong Quy chế bảo lãnh Chính phủ cũng còn rất nhiều bất hợp lý. tác động của Chính phủ (người cấp bảo lãnh) vào việc sử dụng khoản vay là khá thấp. Tỷ lệ tiền vay Chính phủ bảo lãnh tối đa chỉ 50% . Bảo lãnh Chính phủ (cho khoản vay) là cần thiết. 3. Quy chế bảo lãnh Chính phủ (ban hành kèm theo QĐ 272/2006/QĐ-TTg ngày 28/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ) hiện đang áp dụng sẽ là suôn sẻ nếu người được bảo lãnh sử dụng vốn vay một cách suôn sẻ. Tuy nhiên. cần xem xét lại quy định về tài sản thế chấp trong Quy chế bảo lãnh Chính phủ. Như vậy là rất phù hợp với nguyên tắc Bảo lãnh. cho đối tượng nào. dự án không đi vào sử dụng được… ) thì có thu hồi lại tài sản thế chấp cũng không thể đủ để trả khoản vay được. hoặc rõ hơn: là mục tiêu duy nhất. dẫn đến mơ hồ về phương pháp quản lý. và dự án nửa đường đứt gánh (thời gian đầu tư kéo dài. quản lý sử dụng như thế nào. 2. tức là vốn vay được phát huy hiệu quả theo đúng dự tính đặt ra. Nhưng nếu là DNNN. nhằm tạo điều kiện huy động vốn cho nền kinh tế (mà cụ thể là cho các doanh nghiệp. nếu người được bảo lãnh là doanh nghiệp tư nhân và khoản vay bảo lãnh Chính phủ không quá lớn so với tài sản của DN đó thì việc xử lý tài sản thế chấp có thể thực hiện được như quy đinh của quy chế bảo lãnh Chính phủ. tình hình tài chính) cho Người cấp bảo lãnh. vì thanh lý tài sản lúc này phải dựa trên nguyên tắc thị trường định giá. Rõ ràng vay bằng bảo lãnh Chính phủ là hình thức vay thấp hơn vay ODA. và khoản vay là rất lớn như Vinashin thì việc xử lý tài sản thế chấp không đơn giản chút nào. tổ chức kinh tế. Các quy định về mức bảo lãnh.Cần xem lại quy định về tài sản thế chấp 1. thu (hồi) sau. đặt hiệu quả (lợi nhuận) là mục tiêu hàng đầu. Lưu ý là bảo lãnh Chính phủ áp dụng cho đối tượng là các tổ chức kinh doanh. và vẫn chỉ là “đánh bùn sang ao”. được giao cho người được bảo lãnh sử dụng. Ở đây có một nhận định là. tổ chức tín dụng – gọi là người được bảo lãnh). kiểm tra giám sát ra sao để đảm bảo sử dụng hiệu quả khoản vay được bảo lãnh. Khoản vay bảo lãnh Chính phủ về nguyên tắc là của người được bảo lãnh. mà không thông qua các công cụ quản lý của Chính phủ (các chính sách đối với quá trình sử dụng hoặc kiểm tra trực tiếp các dự án của người được bảo lãnh). cả khách quan lẫn chủ quan. Nếu lập lờ giữa bảo lãnh Chính phủ với Viện trợ phát triển sẽ là lập lờ về mục tiêu. Vì vậy. Trong trường hợp hoạt động của người được bảo lãnh không đúng dự tính (không có hiệu quả) thì có tài sản thế chấp và người cấp bảo lãnh sẽ dùng tài sản thế chấp đó để thu hồi khoản nợ đã trả hộ người được bảo lãnh. Trong trường hợp một dự án dùng 100% bằng tiền vay bảo lãnh Chính phủ. Bất luận thế nào thì ngân sách của người cấp bảo lãnh cũng sẽ không suy giảm. qua đó thúc đẩy phát triển. nhất là đối với việc bảo lãnh Chính phủ cho các dự án của doanh nghiệp nhà nước. Người cấp bảo lãnh kiểm tra khi thấy cần thiết. Hay nói cách khác. Nó chỉ được giám sát qua một cơ chế khá lỏng lẻo: người được bảo lãnh báo cáo (tình hình vay. tài sản thế chấp lại là tài sản hình thành từ vốn vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh (theo tỷ trọng vốn hình thành nên tài sản đó). sử dụng. Có chăng là sự chậm chễ do chi (trả) trước. Các nước nghèo hoặc đang phát triển rất cần hình thức vay này.

Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho biết tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7. sẽ được bao nhiêu (ai mua. Tất nhiên là đóng tàu phải có thời gian (tạm coi là khoảng 18 tháng). Rất nhiều tập đoàn. tổng công ty nhà nước đang cố gắng để có được bảo lãnh Chính phủ. Bảo lãnh Chính phủ sẽ là rất phiêu lưu nếu không có một cơ chế quản lý sử dụng và giám sát khoa học. Vì vậy. chặt chẽ hơn. vì dù nguồn trả tiền vay từ đâu (từ doanh nghiệp hay từ Chính phủ) thì khi xảy ra việc mất khả năng trả nợ. hay chỉ là động thái phong trào. Vinashin đã thế chấp bằng gì. và tỷ lệ tài sản thế chấp là bao nhiêu? Thử cụ thể hóa xem nhé: ví dụ dự án của Vinashin là đóng một con tàu bằng 100% tiền vay (1 triệu USD chẳng hạn) và thế chấp bằng chính con tàu đang đóng. nhưng liệu rằng họ có thực sự cần đến số tiền kếch xù đó không. 5. Đối với doanh nghiệp nhà nước thì lại càng vô lý. Bán con tàu đẻ non 10 tháng ấy đi. tăng trưởng giả tạo. Chính phủ nắm chắc việc phải bù rồi. Người cấp bảo lãnh có quyền định đoạt tài sản thế chấp. Ngay lập tức thắt chặt việc bảo lãnh Chính phủ là rất cần thiết. Còn lại doanh nghiệp phải sử dụng vốn tự có.4. Cụ thể. Bộ trưởng . Mọi cái phải tuần tự và bền vững. Vấn đề cốt lõi không phải là không có thật nhiều vốn mà là cách sử dụng những đồng vốn hiếm hoi như thế nào. Đến tháng thứ 10 thì nhận ra rằng không thể tiếp tục được nữa trong khi đó tiền thì đã vay rồi (vay về gửi ngân hàng trong nước hoặc phung phí cho các việc khác). Trong kinh tế không có tăng trưởng đột biến kiểu trực thăng. . Muốn bay lên bầu trời. mua bao nhiêu)? Dám chắc chỉ được tối đa khoảng 300. Chính phủ đã nghe và thảo luận về tình hình tại Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) cũng như việc tái cơ cấu tập đoàn này. Nguồn: VNR500 Vinashin đứng trước nguy cơ phá sản >> Bắt nguyên Chủ tịch HĐQT Vinashin Phạm Thanh Bình TT .Tại cuộc họp báo chiều 4-8.000 USD. phải quan sát kỹ mặt đất đã. nếu nói đến tài sản thế chấp thì phải quy định là: nếu tài sản thế chấp là tài sản được hình thành từ tiền vay thì tỷ lệ tiền vay bảo lãnh Chính phủ chỉ tối đa là 50%. vẫn là tiền nhà nước (tế nhị tý: chính là tiền thuế). Xin hãy hết sức tỉnh táo trong vấn đề này.

115.8 tỉ USD. những dự án này chưa đưa vào sử dụng nhưng vẫn phải trả lãi. đã hoàn thành đóng và bàn giao được 279 tàu trị giá trên 1.000 tỉ đồng nhưng tổng số nợ là 86..000 tấn.. Để giải quyết khó khăn nêu trên. cần thiết.. Đến tháng 3-2009. như các dự án giải phóng mặt bằng khu công nghiệp. dàn trải.000 tấn. Riêng trong năm 2010 số hợp đồng đóng tàu có nguy cơ bị hủy lên tới trên 700 triệu USD. các chủ tàu đã hủy hợp đồng với các thỏa thuận đóng tàu trị giá hơn 8 tỉ USD. nguyên “thuyền trưởng” của con tàu Vinashin . rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính nghiêm trọng.Ông Phạm Thanh Bình. thậm chí lấy vốn lưu động để chi đầu tư. có dự án đầu tư bằng 100% vốn vay. đáp ứng nhu cầu kinh tế quốc dân. vượt khả năng cân đối tài chính. vốn điều lệ thấp lại sử dụng vốn dàn trải nên tỉ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu gần 11 lần. phù hợp với các nghị quyết liên quan của Đảng. công nhân chuyển việc. Đã thiết kế được phần công nghệ. hầu hết dự án đầu tư đều triển khai dở dang. bỏ việc gần 17.V. kho nổi chứa xuất dầu. dự án đóng tàu xuất khẩu.K. Vinashin đã có nhiều đơn hàng và thỏa thuận hợp đồng sơ bộ đóng tàu với tổng trị giá khoảng 12 tỉ USD. bước đầu thực hiện được phần thiết kế kỹ thuật cho tàu 58. Nợ đầm nợ đìa Thông báo của Văn phòng Chính phủ về Vinashin do ông Nguyễn Xuân Phúc trình bày khẳng định: việc hình thành. Kết quả là từ năm 2009. Trong đó có việc do ngành vận tải viễn dương bị đình đốn.000 tấn. mất việc gần 5. Vinashin đóng được tàu hàng đến 53.000 tấn. Vinashin kinh doanh thua lỗ. Đến nay. phát triển Vinashin mạnh để làm nòng cốt trong việc phát triển ngành công nghiệp tàu thủy của đất nước.. khó khăn của Vinashin. tàu chở dầu thô đến 105. có dự án chưa thật cần thiết nên nhiều dự án chỉ được phân bổ vốn chưa đến 50% tổng mức đầu tư.000 người. Do vậy. Ông Nguyễn Xuân Phúc cũng nêu rõ những yếu kém. đứng trước nguy cơ phá sản. Đến tháng 6-2010. vay ngắn hạn trả dài hạn. Các dự án đầu tư quá nhiều. . bước đầu đã hình thành được cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng và khá đồng bộ của ngành công nghiệp đóng tàu biển với 28 nhà máy đóng tàu đang hoạt động có trình độ công nghệ tiên tiến. Mặt khác.000 người. tổng tài sản của Vinashin khoảng 104.Ảnh: C. Vinashin đã phải vay nợ mới để trả nợ cũ. Việc sử dụng vốn không hiệu quả đã gây hậu quả nặng nề về tài chính đối với Vinashin. sản xuất đình đốn. quốc phòng. vốn tự có trong nhiều dự án rất thấp. Vốn điều lệ còn hạn chế.000 tỉ đồng. an ninh là chủ trương đúng đắn. công tác dự báo còn nhiều bất cập nên việc lập kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư không chính xác.

Theo ông Nguyễn Xuân Phúc. với mục tiêu ít thiệt hại nhất và có lợi nhất về kinh tế. tập trung vào 13 dự án của Vinashin. duy trì phát triển đối với Vinashin. bản thân Vinashin phải tự cân đối nguồn vốn và tiếp tục phát triển sản xuất kinh doanh để có tiền trả nợ. Chủ trương của Chính phủ là tập trung sự hỗ trợ của Nhà nước. bán phần vốn cổ phần hóa. sử dụng vốn của Vinashin. kiểm tra có làm nhưng không kiểm soát được và phát hiện .Tái cơ cấu toàn diện Thông báo của Văn phòng Chính phủ cũng nhìn nhận việc quản lý nhà nước và thực hiện quyền chủ sở hữu của Chính phủ đối với doanh nghiệp nhà nước. giám sát việc huy động. mạnh mẽ từ kinh tế nhà nước và của các định chế tài chính tín dụng để duy trì và từng bước ổn định. sơ bộ tính toán các năm 2010-2012 còn lỗ. Trước tiên là xác định lại chiến lược phát triển. không làm việc vận tải biển nữa.. giải pháp nêu trên. ông Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng kiểm tra. việc tái cơ cấu Vinashin liệu có khả thi? . Ông Nguyễn Xuân Phúc cho biết ngay từ năm 2006. đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nếu thấy cần thì Chính phủ có thể phát hành trái phiếu để tiếp tục cho Vinashin vay và khi Vinashin cân đối được phải trả lại khoản nợ này. Yếu kém của quản lý nhà nước Tại cuộc họp báo của Văn phòng Chính phủ. Trên cơ sở định hướng với các nhiệm vụ. bằng các nguồn tài chính thích hợp cho Vinashin vay để trả nợ nước ngoài đến hạn. chính trị. sửa chữa tàu. phát triển Vinashin với hiệu quả ngày càng cao. Còn lấy đâu trả nợ thì tái cơ cấu bao gồm bán dự án. Cần khẳng định: Chính phủ cấp vốn điều lệ cho Vinashin. Nhà nước cấp đủ vốn điều lệ từ Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp. Công tác thanh tra..Chúng ta có thể làm được. Các năm 2008. Về nhiệm vụ. về tài chính. thu hẹp ngành nghề kinh doanh. thứ hai. trả được nợ. Chính phủ chủ trương tái cơ cấu toàn diện với sự hỗ trợ trực tiếp. khó khăn của Vinashin đã có từ lâu nhưng chậm được xử lý? . thu hồi được vốn và làm được vai trò nòng cốt của ngành đóng tàu biển. Đối với việc xử lý các cá nhân có sai phạm. cơ cấu lại nợ tín dụng. ban. duy trì sản xuất kinh doanh và tiếp tục tái cơ cấu. giải pháp: thứ nhất là kiện toàn tổ chức và bộ máy lãnh đạo. dự báo năm 2013. xã hội của đất nước.. 2009. điều tra để xử lý nghiêm minh. thanh tra. tập đoàn kinh tế nói chung và Vinashin nói riêng còn nhiều bất cập.Đã có quá trình xử lý. công nghiệp phụ trợ cho đóng tàu và năng lực thiết kế. giải pháp đã nêu. kém hiệu quả. ngành chính của Vinashin “mới” là đóng tàu. giải quyết. ngành liên quan để tổ chức chỉ đạo có hiệu quả các nhiệm vụ. Thường trực Chính phủ đã họp nhiều lần để xử lý các vấn đề liên quan đến tháo gỡ khó khăn. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo kiểm tra. nỗ lực của doanh nghiệp để sòng phẳng về nợ nần. * Vì sao những biểu hiện yếu kém. sau khi báo cáo Bộ Chính trị. mấy chục dự án dở dang sẽ cơ cấu lại. * Thưa Phó thủ tướng.. chứ không phải cấp vốn cho Vinashin trả nợ. HĐQT Vinashin bước đầu xây dựng phương án sản xuất kinh doanh mới. kiểm toán. 2014 bắt đầu có lãi và sau năm 2015 phát triển ổn định. Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã trả lời các câu hỏi của báo chí liên quan đến Vinashin. thành phần có lãnh đạo các bộ. Thành lập ban chỉ đạo do phó thủ tướng Chính phủ phụ trách.

Những khó khăn liên quan đến tài chính của Vinashin thì cơ quan thanh tra đang làm.được một cách kịp thời. Chính phủ đã rút kinh nghiệm việc này và sắp tới sẽ sửa. Bài học gì ở đây? Trong đầu tư đã phân cấp quyền cho chủ tịch HĐQT tập đoàn. Vinashin: cơ chế "độc nhất vô nhị” TT . số đã biết có thêm 600 triệu USD mà Vinashin tự vay (khoản này không có bảo lãnh của Chính phủ). cơ chế hoạt động của hội đồng quản trị.. khủng hoảng. xe máy tại Hà Nội thuộc Công ty cổ phần Công nghiệp tàu thủy và xe . Vừa qua cấp có thẩm quyền đã bổ nhiệm ông Trần Quang Vũ làm tổng giám đốc điều hành Vinashin. Vinashin còn khoản nợ nào có yếu tố nước ngoài nữa? . * Những yếu kém và sai phạm nghiêm trọng của lãnh đạo Vinashin được thông báo là nguyên nhân trực tiếp. Việc kiểm soát trước hết là yếu kém của quản lý nhà nước. Yếu kém này là do cơ chế đặt ra.Là một trong tám tập đoàn thí điểm đầu tiên nhưng cách tổ chức. ban tổng giám đốc Vinashin lại quá “đặc thù”. như tinh thần chủ trương của Chính phủ thì các đồng chí đó có nhiệm vụ làm rõ.. Chủ tịch HĐQT Phạm Thanh Bình (ảnh dưới) và một cửa hàng kinh doanh ôtô. cách tổ chức. rơi vào khó khăn. * Ngoài khoản vay 750 triệu USD phát hành trái phiếu quốc tế được Chính phủ bảo lãnh. đúng ra anh phải quyết định trong quy hoạch được duyệt và danh mục được cho phép (chứ không “vượt rào”). được biết ông Trần Quang Vũ cũng vốn là lãnh đạo một đơn vị thuộc Vinashin? . cơ chế này là nguyên nhân chính khiến Vinashin sa lầy. Theo một quan chức của tập đoàn. khi quyết định từng dự án thì người lãnh đạo bên dưới có thể được phân cấp. chủ yếu dẫn đến khó khăn ở Vinashin.Hiện nay tổ cơ cấu tài chính của liên ngành đang tiếp tục làm việc để xác định từng khoản.

. Qua tìm hiểu của Tuổi Trẻ. tổng giám đốc khẳng định. xử lý kỷ luật chủ tịch HĐQT Vinashin Phạm Thanh Bình >> Kết luận của Ủy ban Kiểm tra trung ương cho thấy ông Phạm Thanh Bình.. ban tổng giám đốc đã biết và phản đối quyết liệt nên hợp đồng mua Hoa Sen 2 không được ký. Điển hình là việc mua tàu Hoa Sen ngày 7-5-2007.. các bộ mới biết . . . đã bổ nhiệm em ruột. đại diện phần vốn nhà nước trái quy định của Đảng và Nhà nước. lên tới 1. không hề qua hội đồng định giá và mua nhanh đến nỗi mua về rồi. Thực chất các tổng giám đốc trên vẫn giữ chức năng phó tổng và ông Bình trên thực tế vẫn đương nhiên nắm quyền điều hành của tổng giám đốc.000 tỉ đồng >> Kiểm điểm.máy .390 tỉ đồng không qua hội đồng định giá Chính vì sự tập quyền này nên có nhiều quyết định đầu tư.390 tỉ đồng nhưng việc này được giao cho Công ty vận tải viễn dương Vinashin mua. tổng giám đốc đầu tư. ông Phạm Thanh Bình được bổ nhiệm làm tổng giám đốc Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy. sở dĩ có việc bổ nhiệm này chính vì cơ chế tập quyền mà ông Bình có được. con trai vào các chức vụ chủ chốt. Công việc của chủ tịch và tổng giám đốc rất khác nhau. Theo các chuyên gia kinh tế. từ viện phó Viện Nghiên cứu thiết kế cơ khí giao thông vận tải.như công nhận của Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Phạm Viết Muôn. Tập trung quyền lực Từ tháng 1-1996. Vinashin còn dự định mua tiếp tàu Hoa Sen 2. ông Bình vẫn tiếp tục giữ chức tổng giám đốc. khi được thí điểm mô hình tập đoàn. có thể nói đây là cơ chế “độc nhất vô nhị” ở VN: một tập đoàn có sáu tổng giám đốc nhưng các tổng giám đốc vẫn ghi rõ là tổng giám đốc kinh doanh. phân nhiệm chức tổng giám đốc. dù giá trị rất lớn. ông Bình đã xin ý kiến và lập điều lệ tập đoàn... Sau vụ mua tàu Hoa Sen. chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) Vinashin. Mua tàu 1.CÙ ZAP Vinashin nợ hơn 80. theo đó Vinashin không chỉ có một tổng giám đốc mà có tới sáu vị. đứng ở vị trí cao nhất là chủ tịch HĐQT.. Từ năm 1998.H. tổng giám đốc nội chính. Đến năm 2007.Ảnh: K. khi có ý kiến nên tìm cán bộ có năng lực để phân công.một trong 200 công ty của Vinashin . tuy nhiên do các thành viên HĐQT. chủ tịch HĐQT Phạm Thanh Bình ký. không hề được biết. ông Bình được làm chủ tịch tổng công ty kiêm tổng giám đốc. ông Phạm Thanh Bình ký mà nhiều thành viên HĐQT.

nơi đang đóng hai con tàu chở dầu trên 100.tư vấn đầu tư. Ngày 16-7 được bổ nhiệm kiêm chức giám đốc phòng thí nghiệm trọng điểm thuộc Viện Khoa học công nghệ tàu thủy.000 tấn nhưng trễ hạn đến 27 tháng .phó bí thư thường trực Đảng ủy khối doanh nghiệp trung ương . ông Trần Văn Tuấn .Ảnh: Đăng Nam Một năm ba lần bổ nhiệm con trai Theo đánh giá của chính các nhân viên Vinashin. em vào các vị trí chủ chốt đại diện phần vốn nhà nước. Ủy ban Kiểm tra trung ương trực tiếp xử lý Theo thông báo của Ủy ban Kiểm tra trung ương. sự tập trung quyền lực quá lớn đã khiến ông Bình dễ dàng ra quyết định và đến nay bị kết luận sai quy định khi bổ nhiệm con. con trai ông Phạm Thanh Bình là Phạm Bình Minh (sinh năm 1980) khi chưa tới 27 tuổi đã được bổ nhiệm làm viện phó Viện Khoa học công nghệ tàu thủy. Thông báo của Ủy ban Kiểm tra trung ương cũng đã nêu rõ cơ quan này quyết định thực hiện quy trình kiểm điểm. Tất nhiên khi có cuộc họp về vấn đề liên quan thì đại diện Đảng ủy khối . vi phạm của ông Phạm Thanh Bình đến mức phải áp dụng hình thức kỷ luật. ông Bình không hề xin ý kiến ban thường vụ đảng ủy tập đoàn và không có nghị quyết của HĐQT. có năm như 2009 được bổ nhiệm tới ba lần: ngày 27-3-2009 bổ nhiệm làm chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Tư vấn thiết kế công nghiệp. Cụ thể. giữ chức chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc Công ty cổ phần Vinashin . Trao đổi với Tuổi Trẻ chiều 6-7. Em trai ông Bình là Phạm Thanh Phong cũng được bổ nhiệm làm phó tổng giám đốc Công ty đầu tư xây dựng Vinashin rồi được cử làm đại diện phần vốn công ty này. cũng được giữ chức trưởng ban kinh doanh đối ngoại .Nhà máy đóng tàu Vinashin Dung Quất . xử lý kỷ luật đối với ông Bình. Em vợ ông Phạm Thanh Bình.cho biết: “Theo quy định về phân cấp cán bộ thì Ủy ban Kiểm tra trung ương sẽ trực tiếp thực hiện công việc nêu trên.một vị trí đầy quyền lực trong tập đoàn. theo các quyết định của Vinashin. Từ năm 2007. ông Phạm Bình Minh liên tiếp được bổ nhiệm. Việc bổ nhiệm con trai kiêm nhiệm các chức vụ “to”. Ngày 22-12 được bổ nhiệm kiêm phó tổng giám đốc Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Dung Quất .một doanh nghiệp được đầu tư lớn để trở thành nhà máy đóng tàu lớn nhất Đông Nam Á.

chúng tôi đã chất vấn tại các kỳ họp của Quốc hội về sai phạm của Vinashin. thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý đảng viên và tổ chức Đảng cấp dưới thì “đây là bài học để chúng tôi kiểm tra. hiện nay ông mới chỉ tiếp cận được thông báo của Ủy ban Kiểm tra trung ương qua báo chí.Bằng những thông tin có được do cử tri cung cấp. Sau kết luận của Ủy ban Kiểm tra trung ương về sai phạm của chủ tịch HĐQT Vinashin Phạm Thanh Bình. phát hiện. giám sát. ông Hải bình luận: . kết luận. Đối chiếu với các quy định của pháp luật thì có những vấn đề cần được xem xét dưới góc độ trách nhiệm. còn trách nhiệm hành chính hay trách nhiệm hình sự. . các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng cần sớm xem xét. sai phạm của ông Bình. Tuy nhiên với việc Ủy ban Kiểm tra trung ương đề nghị Đảng ủy khối doanh nghiệp trung ương thường xuyên kiểm tra. nêu rõ khuyết điểm.doanh nghiệp trung ương sẽ tham gia”. Bản kết luận của Ủy ban Kiểm tra trung ương rất minh bạch. CẦM VĂN KÌNH _____________________ Ông Vũ Quang Hải Ông Vũ Quang Hải (ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội): Phải xử lý rốt ráo sai phạm Ông Vũ Quang Hải là người đã nhiều lần đưa vấn đề Vinashin lên bàn nghị sự của Quốc hội. báo cáo lên cấp có thẩm quyền”. Theo ông Tuấn. Đây cũng là vấn đề nhiều người đã nhìn thấy.

xử lý? Tôi rất băn khoăn và cho rằng đây chính là sự buông lỏng quản lý. con trai chiếm giữ các vị trí quan trọng của tập đoàn sờ sờ ra đấy. Vậy tôi xin hỏi nội bộ ở Vinashin thế nào? Công tác của đảng bộ. * Luật sư Nguyễn Ngọc Bích (Công ty luật DC): Không thể quản trị bằng mắt Về mặt quản trị doanh nghiệp. không thể nói là cơ quan quản lý nhà nước không biết.. Phải chăng đây là biểu hiện đáng quan ngại của lợi ích nhóm.* Kết luận của Ủy ban Kiểm tra trung ương cho thấy ông Phạm Thanh Bình đã “bổ nhiệm em ruột và con trai làm đại diện phần vốn của Nhà nước. giám sát của cơ quan nhà nước rõ ràng là yếu kém. Chủ tịch HĐQT Vinashin bổ nhiệm em ruột và con trai vào các vị trí quan trọng của tập đoàn là sai với quy định của Đảng và Nhà nước. bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải cũng nói không biết Vinashin mua tàu Hoa Sen. Nhưng tôi nghĩ trách nhiệm của cơ quan quản lý khi phát hiện sai phạm phải xử lý ngay chứ không thể để lâu dài vậy được. phân quyền nhưng để tình trạng xảy ra đến mức như vậy thì công tác kiểm tra. Tiền nhiều quá thế nên họ lúng túng rồi cho vay lại. * Luật gia Cao Bá Khoát (nguyên thành viên tổ công tác thi hành Luật doanh nghiệp): Quản lý tiền nhà nước lỏng lẻo Tôi thấy việc sử dụng vốn của Vinashin là không đúng quy định. tổ chức ở đấy thế nào? Cả một tập thể HĐQT như thế mà sao để ông ấy thao túng như vậy? Điều này hết sức vô lý. Đầu tư dàn trải vào những lĩnh vực không có tay nghề nữa thì đúng là “cái chết được báo trước”. Vay trái phiếu chính phủ với lãi suất 7. Việc ông ấy bổ nhiệm em ruột. Nói là đã phân cấp. Vậy tại sao không xử lý sớm những việc làm trái với quy định của Nhà nước? Đằng sau chuyện này là thế nào tôi xin không bình luận.. LÊ KIÊN thực hiện * Ông Ngô Văn Minh (ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội): Có sự buông lỏng quản lý Trong nội dung kết luận của Ủy ban Kiểm tra trung ương có đoạn nói Vinashin báo cáo thiếu trung thực với Chính phủ. đầu tư dàn trải không tính đến hiệu quả nên thất thoát là điều dễ hiểu.5% để rồi về đầu tư vào ngân hàng. chi bộ.Quy định của Đảng và Nhà nước về việc này đã rất cụ thể rồi. Tôi đề nghị cần phải làm rõ và công khai để nhân dân biết ngọn nguồn sự việc. đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trái quy định của Đảng và Nhà nước”. Tại sao dư luận bức xúc về Vinashin nhiều năm nay nhưng cơ quan quản lý nhà nước không kịp thời kiểm tra. Vinashin phạm một sai lầm rất lớn là phát triển quy mô quá lớn với tốc độ nhanh nên mất kiểm soát. không đúng dưới con mắt người kinh doanh có trách nhiệm. Việc kiểm soát ở đây phải dựa vào nền quản trị theo khoa học để nắm được hiệu . Những nhà đầu tư tư nhân không bao giờ dám làm liều như vậy. cho vay lại với lãi suất 4% là thua rồi. lợi ích gia đình trong một tập đoàn kinh tế? . Rõ ràng tiền của Nhà nước đã được quản lý rất lỏng lẻo. Nhà nước đi vay 750 triệu USD để rồi về đưa vào tay những người không biết làm ăn. Đó là những điều hết sức quan ngại.

. hiện nay. mặc dù đã được trang bị máy chấp nhận thẻ POS nhưng lượng người thanh toán bằng thẻ so với tiền mặt còn khá khiêm tốn. Ở quy mô doanh nghiệp nhỏ thì quản trị theo sự thuận tiện có thể được nhưng khi doanh nghiệp đã phát triển ở quy mô có đến 200 doanh nghiệp con thì không thể quản trị bằng mắt và chỉ dựa vào những người thân thuộc mà mình tin tưởng. Đây chỉ là một ví dụ. Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam (Vietinbank) cho rằng. để thay đổi thói quen này cần có sự vào cuộc của toàn xã hội.quả. Quan sát tại các siêu thị hiện nay. Bà Dương Thu Hương. chị Hoa ở Hoàng Mai (Hà Nội) lại ra cây ATM gần nhà để rút tiền mua hàng. Bên cạnh đó. Như vậy. Thực tế cho thấy. Ông Phạm Anh Tuấn. Nhưng xem ra sự vào cuộc của một mình ngân hàng chưa đủ sức thay đổi thói quen cố hữu "nhìn tận mắt. hung sức thay đổi thói quen sử dùng tiền mặt thanhtien7987 Số bài viết: 359 Trả lời: 51 Tham gia: 06/09/2010 1:50:43 PM Trong vài năm trở lại đây. ở Việt Nam. Một doanh nghiệp hoạt động không dựa trên nền tảng quản trị khoa học thì không thể bền vững. thanh toán không dùng tiền mặt chưa phát triển mạnh do kênh thiết lập thanh toán còn hạn chế. việc sử dụng thẻ ATM để thanh toán tại các điểm bán hàng có đặt máy chấp nhận thẻ còn rất hạn chế. 83% thẻ ATM chỉ dùng để rút tiền mặt Dù biết rằng thẻ ATM của mình có thể thanh toán được tại nhiều cửa hàng nhưng đã thành thói quen mỗi lần đi siêu thị. trên toàn quốc 83% lượng thẻ ATM chỉ dùng cho mục đích rút tiền mặt.. thanh toán thẻ qua POS (điểm chấp nhận thẻ). nhiều đơn vị chưa thực sự mặn mà với việc đặt máy POS vì họ cho rằng làm như vậy sẽ phải chịu sự kiểm soát thông qua ngân hàng. các ngân hàng thương mại cổ phần trên cả nước đã tung nhiều sản phẩm dịch vụ nhằm hướng tới mục tiêu thanh toán không dùng tiền mặt như Internet banking. Hơn nữa. Phải thực hiện việc quản trị bằng cách lập ngân sách chứ không thể dựa vào những kế hoạch theo lối hành chính. Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng cho rằng. tỷ lệ thanh toán tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán ở Việt Nam còn tới 14% trong khi đó ở các nước trên thế giới vào khoảng từ 5-7%. việc sử dụng dịch vụ thanh toán có liên quan đến công nghệ cũng chỉ mới tiếp cận được ở thanh thiếu niên và những người hiểu biết chút ít về công nghệ thông tin. sờ tận tay" của người tiêu dùng. mobile banking. Một điểm hạn chế nữa là thanh toán không dùng tiền mặt chưa phát triển rộng do dịch vụ bán hàng online quảng cáo sản phẩm . kế hoạch và việc tuân thủ quy định. so với các nước đây là một con số khá cao. của các cơ quan chức năng. Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng cho biết.

Techcombank phối hợp cùng Đại siêu thị BigC và tổ chức thẻ quốc tế Visa tổ chức chương trình khuyến mại “Tưng bừng mua sắm tại Siêu thị BigC cùng Visa”.hiện nay còn chưa thực sự tương xứng với túi tiền bỏ ra. 5 yếu tố phát triển không dùng tiền mặt Theo bà Dương Thu Hương. Siêu thị BigC và đại diện khách hàng để xác định 42 khách hàng may mắn trúng 42 thẻ F@stAccess BigC có sẵn 3. kết quả thu được còn chưa tương xứng. ngành liên quan. phát triển thanh toán không dùng tiền mặt cần 5 yếu tố là hạ tầng công nghệ. tất cả khách hàng có hoá đơn mua hàng thanh toán bằng thẻ Visa từ 300. Bên cạnh đó. để thay đổi thói quen của người dân.000 đồng trở lên.. tạo thói quen mua sắm hàng hoá bằng thẻ. của các ban. Đặc biệt. nhấn mạnh việc tuyên truyền phải đạt được mục tiêu khiến người sử dụng thấy thanh toán không dùng tiền mặt đơn giản như sử dụng một chiếc điện thoại di động. Theo đó. chủ thẻ có cơ hội nhận các quà tặng hấp dẫn với tổng giá trị của toàn bộ chương trình lên đến 135 triệu đồng. Bên cạnh đó. cơ chế. ngành sẽ đảm nhận một mảng liên quan tới lĩnh vực của mình trong đề án. nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tài chính. khi thanh toán hàng hoá tại Siêu thị BigC bằng thẻ Visa.000 đồng trở lên sẽ được tham gia chương trình bốc thăm may mắn tổ chức mỗi tuần 1 lần vào hai ngày 28/ 8 và 04/9.000 đồng trong tài khoản. các ngân hàng đang từng bước phân khúc lại đối tượng. Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo chi nhánh Ngân hàng Nhà nước các tỉnh. Bộ Khoa học và Công nghệ.siêu thị hợp tác đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt Nhằm mục đích thúc đẩy thanh toán phi tiền mặt. thông tin tuyên truyền sát với người sử dụng. sản phẩm dịch vụ phải phong phú. thành phố trên cả nước triển khai kết nối liên thông. Mới đây. mỗi bộ. Tuy nhiên. theo đó sẽ loại dần thẻ không phát sinh giao dịch. Vô hình chung những vấn đề này đã khiến khách hàng quay lại với thói quen tiêu dùng cố hữu là sử dụng tiền mặt để thanh toán khi mua hàng.. để phát triển được thanh toán không dùng tiền mặt cần sự tham gia của toàn xã hội. Techcombank sẽ tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên dưới sự giám sát của đại diện Sở Thương Mại. đảm bảo bảo mật về thông tin cho khách hàng.000. chính sách đồng bộ (miễn giảm thuế cho đơn vị chấp nhận thẻ POS. trong thời gian qua các ngân hàng đã rất nỗ lực đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt. Ông Phạm Anh Tuấn nhận định. việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt phải có một đề án tổng thể với sự phối hợp của nhiều ban. Ngoài ra. ngân hàng cũng cho rằng. hiện nay. Danh sách .). từ ngày 21/ 8 đến ngày 3/9/2006. Theo đó. Techcombank và Visa sẽ dành 300 quà tặng áo mưa thời trang cho 300 khách hàng đầu tiên có hoá đơn mua hàng thanh toán bằng thẻ Visa từ 300. tạo thuận lợi cho việc thanh toán không dùng tiền mặt trên cả nước. ngay bản thân các đơn vị trung gian cung cấp dịch vụ (đơn vị bán hàng qua mạng. ngành liên quan như: Ngân hàng.. Bộ Tài Chính. kênh quảng cáo về sản phẩm) cũng cần phải nhận thức rõ và có trách nhiệm với vấn đề này.TTXVN/Vietnam+ Ngân hàng. thành phố chưa triển khai kết nối và thanh toán thẻ qua POS thực hiện việc kết nối liên thông giữa các liên minh thẻ và phát triển thanh toán thẻ qua POS trên địa bàn để đến cuối năm 2011 tất cả các tỉnh. Bộ Công Thương. Ông Tuấn cũng cho biết thêm. để tạo điều kiện cho khách hàng trong việc thanh toán bằng thẻ. Thẻ F@st Access là loại thẻ thanh toán nội địa do Techcombank phát hành. nhiều ngân hàng cũng đã có chương trình cộng tiền vào tài khoản cho khách hàng khi sử dụng thẻ để thanh toán.. . Theo thể lệ chương trình. Để tạo thói quen thanh toán bằng thẻ cho người dân. trong đó.

Trưởng phòng thẻ Tín dụng của Techcombank. Nhóm đề án thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực công. việc sử dụng thẻ thanh toán đã tăng trưởng theo cấp số nhân tại Việt Nam. Giám đốc Visa tại Việt Nam cho biết Visa đã và đang thúc đẩy những phương thức thanh toán phi tiền mặt tại Việt Nam. việc thanh toán.” Theo ông Đặng Công Hoàn. Nhóm đề án thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực dân cư. ngành. bán Thanh toán bằng séc đã ra đời từ lâu ở nước ta nhưng đến nay loại hình thanh toán này vẫn chưa phát triển như mong đợi. Đề án thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực doanh nghiệp. . các Bộ. Theo ông Vũ Huy Toản. Bộ Thương mại. các Bộ. thanh toán séc. phối hợp với Bộ Tài chính. Techcombank đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thẻ quốc tế Visa từ ngày 28/05/2005 và dự định sẽ phát hành thẻ tín dụng vào cuối năm nay. ngành. thanh toán bằng séc bị hạn chế là do chưa có quy định bắt buộc về hạn mức phải thanh toán bằng séc mà hiện chỉ "động viên"dùng séc. địa phương liên quan và các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán triển khai thực hiện các đề án thành phần để thực hiện các mục tiêu.techcombank. chật vật. Đề án hỗ trợ thanh toán không dùng tiền mặt. doanh nghiệp.com. Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 tại Việt Nam. nước ta. còn thanh toán giữa doanh nghiệp với cá nhân. Ông Hoàn nhấn mạnh: "Với việc lần đầu tiên phối hợp cùng với hai đối tác lớn là Visa và Đại siêu thị BigC tổ chức chương trình này sẽ là kinh nghiệm tốt cho chúng tôi trong việc tổ chức các chương trình khuyến mại khác đưa lại nhiều tiện ích cho chủ thẻ trong thời gian tới”. trong đó chủ yếu là thanh toán giữa các doanh nghiệp với nhau. Được biêt. Ở các ngân hàng thương mại. “Trong thời gian vừa qua. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thanh toán không dùng tiền mặt Ngày 29/12/2006. hình thức thanh toán bằng séc chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 2%) trong tổng thanh toán phi tiền mặt. Ngoài việc phối hợp với Ngân hàng Nhà nước đưa ra các giải pháp thẻ thanh toán thương mại trong khu vực Chính phủ. thanh toán bù trừ. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì.vn và tại bản tin của Siêu thị BigC sau 03 ngày làm việc kể từ ngày bốc thăm. ngân hàng thương mại. hình thức. Nhóm đề án phát triển các hệ thống thanh toán. người tiêu dùng Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy việc sử dụng các phương thức thanh toán điện tử. Quyết định có hiệu lực thi hành sau 15 ngày. các chương trình khuyến mại như thế này sẽ phần nào kích thích được thói quen sử dụng thẻ để thanh toán hàng hoá trong người dân. tài khoản. định hướng và giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam. Quyết định nêu rõ: Giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Techcombank và Visa hy vọng. chủ yếu là. giữa cá nhân với cá nhân rất ít. như mong đợi. kể từ ngày đăng Công bá Chật vật thanh toán séc Tags: thanh toán phi tiền mặt. cá nhân. Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chi nhánh TPHCM. Visa cũng luôn chú trọng hợp tác với các ngân hàng thành viên và khu vực bán lẻ để thúc đẩy thanh toán điện tử trong người tiêu dùng. Ông Stuart Tomlinson. Chúng tôi tin tưởng rằng. Thanh Toán Bằng Séc.khách hàng trúng thưởng chính thức sẽ được đăng trên trang web: www. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. địa phương liên quan phối hợp tổ chức triển khai xây dựng và thực hiện các đề án thành phần bao gồm: Đề án hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thanh toán của nền kinh tế.

séc chuyển khoản.gửi cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán nơi mình mở tài khoản. dịch vụ đã cung ứng cho người mua thông qua tài khoản NH nơi mình mở Tk. còn nếu họ muốn Séc thì bạn đến ngân hàng làm thủ tục mua Séc trắng. góp phần đưa hình thức thanh toán này phổ biến rộng rãi. Việc thanh toán séc cũng gặp không ít phiền phức. Họ có thể dùng tờ Séc đó trả tiền cho một người khác mà họ muốn. yêu cầu tổ chức đó trích một số tiền nhất định trả cho người thụ hưởng.tuy nhiên: -Nếu trả bằng séc: thì khách hàng có thể cầm séc đó tới ngân hàng để lấy tiền mặt trực tiếp. + Séc xác nhận: được NH bảo đảm khả năng thanh toán.UNT là chứng từ thanh toán do người bán lập trên mẫu quy định trên cơ sở hóa đơn giao hàng hoặc dịch vụ để đòi tiền hàng hóa đã giao. séc giả. tâm lý của người bán nhận séc thường lo ngại là trên tài khoản của người mua không còn tiền. Séc cũng có nhược điểm là - . Người mua hàng ký séc đưa cho người bán và người bán chỉ cần cầm séc và CMND ra ngân hàng là có thể nhận được tiền.Thanh toán bằng séc rất thuận lợi và nhanh chóng trong giao dịch mua bán. bạn đến Ngân Hàng lập UNC trả vào tài khoản cho họ. -Nếu trả bằng UNC:thì ngân hàng sẽ trích tiền từ tài khoản của mình để trả vào tài khoản của khách hàng (KH) => KH ko thể lấy tiền mặt trực tiếp. giải pháp còn lại để mở rộng thanh toán bằng séc tại nước ta là khuyến khích người dân tập thói quen thanh toán bằng hình thức này. . yêu cầu Nh thu hộ số tiền ghi trên UNT ( trên cơ sở có thỏa thuận hoặc hợp đồng về các điều kiện thanh toán giữa bên trả tiền và bên thụ hưởng) Mình bổ sung thêm 1 chút :là bạn vẫn có thể dùng séc để trả tiền cho khách hàng. Ủy nhiệm chi và sec chuyển khoản ? Séc: Căn cứ vào hình thức thanh toán có 3 loại séc: + Séc tiền mặt: Dùng để rút tiền mặt tại NH + Séc chuyển khoản là tờ séc do chủ tài khoản ký phát và trực tiếp giao cho người thụ hưởng để thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình. Hiện nay khách mua và khách bán hàng có tài khoản ở cùng một ngân hàng thì khi khách bán đến ngân hàng để nộp séc. séc bảo chi. Tuy nhiên. đòi hỏi 2 bên phải ký hợp đồng mua bán mới có thể lập ủy nhiệm chi để trả tiền. ngân hàng sẽ ghi có trên tài khoản khách bán và ghi nợ trên tài khoản khách mua. Thực tế. bạn có thể dùng Séc tiền mặt nếu họ yêu cầu trả bằng Séc tiền mặt . Theo ông Toản. Người thụ hưởng yêu cầu trả bằng Séc vì Séc chuyển nhượng được (UNC thì không). dễ dẫn đến rủi ro trong giao dịch nên hay từ chối việc thanh toán séc. Phần lớn các giao dịch mua bán hiện nay được sử dụng bằng phương thức ủy nhiệm chi là chính (ở TPHCM chiếm khoảng 75% trong thanh toán không dùng tiền mặt) nhưng hình thức này thời gian thanh toán dài hơn.UNC hay lệnh chi: là phương tiện thanh toán mà người trả tiền lập lệnh theo mẫu do tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định . Vậy là đã rõ khi nào dùng séc và khi nào dùng UNC rồi đúng không ạ? . Nếu các ngân hàng phát hành mấy chục ngàn tờ séc mỗi ngày thì việc thanh toán bù trừ trong ngày gặp rất nhiều khó khăn. Mỗi ngày ở đây chỉ có 2 phiên thanh toán bù trừ (vào lúc 10 giờ sáng và 15 giờ) và việc kiểm tra séc ở NHNN vẫn chủ yếu là thủ công. buộc các ngân hàng thương mại phải thông qua hệ thống thanh toán bù trừ của NHNN. Nhưng khi khách mua và khách bán không có tài khoản ở cùng một ngân hàng. Các cơ quan nhà nước nên tiên phong trong việc thanh toán bằng séc. Hành lang pháp lý về thanh toán sẽ được cải tiến khi NHNN hoàn tất hướng dẫn nghị định về séc. hoàn thiện đề án xây dựng trung tâm bù trừ séc tại một số thành phố lớn.

HCM. Việc thanh toán séc cũng gặp không ít phiền phức. đánh giá cẩn thận về người mua (trừ trường hợp bạn hàng lâu năm ) Ðề: Ưu nhược điểm của sec. ngân hàng sẽ ghi có trên tài khoản khách bán và ghi nợ trên tài khoản khách mua. còn UNT thì ban blueremembrance đã giải thích rõ rồi. hoàn thiện đề án xây dựng trung tâm bù trừ séc tại một số thành phố lớn. tâm lý của người bán nhận séc thường lo ngại là trên tài khoản của người mua không còn tiền. Do vậy.HCM chiếm khoảng 75% trong thanh toán không dùng tiền mặt) nhưng hình thức này thời gian thanh toán dài hơn. ra đời đã lâu mà séc vẫn chưa phát triển được như mong đợi ở Việt Nam. trong đó chủ yếu là thanh toán giữa các doanh nghiệp với nhau. còn thanh toán giữa doanh nghiệp với cá nhân. . Nhưng khi khách mua và khách bán không có tài khoản ở cùng một ngân hàng. Do đó. séc giả. Người dân vẫn nặng thói quen dùng tiền mặt. Nếu các ngân hàng phát hành mấy chục ngàn tờ séc mỗi ngày thì việc thanh toán bù trừ trong ngày gặp rất nhiều khó khăn. Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP. Thực tế. tuy rằng tin đã hơi củ của năm 2006 Thanh toán bằng séc thuận lợi và nhanh chóng trong giao dịch mua bán. quy trình thanh toán sec bạn có thể tìm hiểu trong sách nói về ngân hàng bạn àh/ Tuy nhiên theo nguồn tin của tiền phong bạn có thể tham khảo thêm. Hiện nay khách mua và khách bán hàng có tài khoản ở cùng một ngân hàng thì khi khách bán đến ngân hàng để nộp séc. trước khi thoả thuận dùng hình thức thanh toán này trong hợp đồng bán hàng thì bên bán cần cân nhắc. UNT cũng mắc phải nhược điểm là khi bên bán nộp UNT cùng các chứng từ bán hàng thì bên mua lúc này tài khoản thanh toán cũng có thể không đủ số dư. Phần lớn các giao dịch mua bán hiện nay được sử dụng bằng phương thức ủy nhiệm chi là chính (ở Tp. thanh toán bằng séc bị hạn chế là do chưa có quy định bắt buộc về hạn mức phải thanh toán bằng séc mà hiện chỉ "động viên"dùng séc. Cũng nói thêm là. Người mua hàng ký séc đưa cho người bán và người bán chỉ cần cầm séc và CMND ra ngân hàng là có thể nhận được tiền. buộc các ngân hàng thương mại phải thông qua hệ thống thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước. Theo ông Vũ Huy Toản. đòi hỏi 2 bên phải ký hợp đồng mua bán mới có thể lập ủy nhiệm chi để trả tiền. Mỗi ngày ở đây chỉ có 2 phiên thanh toán bù trừ (vào lúc 10 giờ sáng và 15 giờ) và việc kiểm tra séc ở Ngân hàng Nhà nước vẫn chủ yếu là thủ công.từ khi người trả tiền kí phát đến khi người thụ hưởng trình Séc để thanh toán thì có thể tài khoản của người trả không đủ số dư để thanh toán (trừ trường hợp Séc bảo chi) trong khi UNC do người chi trả lập và nộp vào ngân hàng phục vụ bên chi trả (ngân hàng này sẽ kiểm soát đủ điều kiện mới thanh toán) nên chắc chắn một điều rằng người thụ hưởng sẽ nhận được giấy báo Có. Nhưng. Hành lang pháp lý về thanh toán sẽ được cải tiến khi Ngân hàng Nhà nước hoàn tất hướng dẫn nghị định về séc. Ở các ngân hàng thương mại. dễ dẫn đến rủi ro trong giao dịch nên hay từ chối việc thanh toán séc. trong thực tế người ta vẫn thích dùng UNC hoặc Séc bảo chi hơn là các loại séc khác. giữa cá nhân với cá nhân rất ít. hình thức thanh toán bằng séc chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 2%) trong tổng thanh toán phi tiền mặt. Thanh toán bằng séc rất thuận lợi và nhanh chóng trong giao dịch mua bán.

giải pháp còn lại để mở rộng thanh toán bằng séc tại nước ta là khuyến khích người dân tập thói quen thanh toán bằng hình thức này.Theo ông Toản. Các cơ quan nhà nước nên tiên phong trong việc thanh toán bằng séc. góp phần đưa hình thức thanh toán này phổ biến rộng rãi - .