P. 1
Tro Choi Toan Hoc

Tro Choi Toan Hoc

|Views: 483|Likes:
Được xuất bản bởiCat Luong

More info:

Published by: Cat Luong on Jun 18, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

06/18/2011

pdf

text

original

TOÁN TRÒ CHƠI: PHÂN LOẠI, CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI PGS TS Tạ Duy Phượng (Viện Toán học

)
Mở đầu Bài viết này là một phiên bản mở rộng bài nói chuyện của tác giả tại Câu lạc bộ giáo viên Hà Nội, Đông Anh, 11-3-2011. Theo gợi ý của Giáo sư Nguyễn Văn Mậu, Hội trưởng Hội toán học Hà Nội và đề nghị của một số giáo viên, chúng tôi đã biên tập và bổ sung nhiều đề thi Olympic về toán trò chơi với lời giải chi tiết. Trong thời gian một buổi sáng, khó có thể trình bày hết nội dung của Toán trò chơi. Trong khuôn khổ một bài viết cũng không thể liệt kê hết các dạng toán và bài thi Olympic về toán trò chơi. Bạn đọc quan tâm có thể xem thêm các tài liệu khác, thí dụ, [1]-[6]. Bài nói chuyện tại Câu lạc bộ gồm hai phần. Phần 1 giới thiệu trò chơi Tháp Hà Nội: Lịch sử, lời giải, ý nghĩa, các mở rộng và cải biên cũng như một số vấn đề chưa được giải quyết trong Bài toán Tháp Hà Nội. Ngoài ra, bài toán con mã đi tuần, trong đó có bài toán con mã đi tuần trên bàn cờ Phong Vân 9 ×10 ô vuông của Đoàn Hữu Dũng cũng được giới thiệu. Dưới đây là Phần 2 (có bổ sung) của bài nói chuyện với tiêu đề Toán trò chơi: Phân loại, công cụ và phương pháp giải Một công cụ, một phương pháp có thể sử dụng để giải nhiều bài toán. Một bài toán có thể được giải bằng các công cụ và phương pháp khác nhau. Toán trò chơi liên quan mật thiết với nhiều dạng toán khác (tổ hợp, đồ thị, tô màu,…). Nhiều bài toán có thể phát biểu lại dưới ngôn ngữ trò chơi. Một số bài toán trò chơi cũng có thể phát biểu dưới dạng khác. Toán trò chơi mô phỏng tốt các mô hình thực tế. Trong bài viết này, khái niệm Toán trò chơi không được định nghĩa, tạm hiểu trò chơi gồm một tập hợp các trạng thái (cấu hình, vị trí,…) chịu tác động của một hay nhiều người chơi. Người chơi với các khả năng và hạn chế của mình phải tìm ra các chiến lược, chiến thuật (cách đi, bước đi) tuân theo những qui tắc chơi đã được định sẵn để đưa một trạng thái ban đầu về trạng thái cuối (kết thúc trò chơi), với thời gian (số bước đi) có lợi nhất và ít tốn kém nhất. Toán trò chơi tạm hiểu là dạng toán mà ta có thể sử dụng các công cụ và phương pháp toán học để phân tích cấu trúc, trạng thái và qui tắc của trò chơi nhằm hoạch định chiến lược kết thúc trò chơi hoặc chỉ ra trò chơi có thể tiếp diễn vô tận. Các bài toán trò chơi rất đa dạng trong phát biểu, trong sử dụng công cụ và phương pháp giải. Vì vậy, phân loại các bài toán trò chơi trong bài viết này chỉ mang tính qui ước, còn rất sơ lược và chỉ có tính chất tương đối. Nó được đưa ra với hy vọng phần nào trợ giúp giáo viên và học sinh giải toán trò chơi dễ dàng hơn.

1

§1 Trò chơi một người Trò chơi một người tạm coi là trò chơi chỉ cần một người chơi (thí dụ, trò chơi Tháp Hà Nội, trò chơi Hamilton, bài toán con mã đi tuần, trò chơi khối vuông rubic, …). Các trò chơi này nhiều khi còn được đưa vào lớp các trò chơi giải trí toán học. 1.1 Phương pháp đại lượng bất biến hoặc đơn biến Bất biến Bất biến là đại lượng không đổi, đơn biến là tính không tăng hoặc không giảm (đơn điệu) của một đại lượng. Để tìm lời giải toán học cho một số trò chơi, ta thường phải phát hiện ra tính bất biến hoặc tính đơn biến của một đại lượng nào đó. Giả sử trò chơi ở một trạng thái ban đầu. Do tính bất biến, nên không thể thay đổi trạng thái (từ chẵn thành lẻ, từ trắng thành đen, từ chia hết sang chia có dư,…) được. Từ đó ta có kết luận về trạng thái cuối cùng của trò chơi. Bất biến được sử dụng để giải quyết nhiều dạng toán khác nhau (Dĩ bất biến ứng vạn biến!). Dưới đây là các ví dụ minh họa sử dụng đại lượng bất biến trong trò chơi. Bài 1 Trên bàn cờ 8 × 8 có 32 quân trắng và 32 quân đen, mỗi quân chiếm một ô vuông. Tại mỗi bước đi người chơi thay tất cả các quân trắng thành quân đen và tất cả các quân đen thành quân trắng trên một hàng hoặc một cột nào đó. Hỏi sau hữu hạn bước, có thể còn lại chính xác một quân đen trên bàn cờ không? Giải Nếu trước khi chuyển có chính xác k quân đen trên hàng (cột) định chuyển thì số quân trắng trên hàng (cột) ấy là 8 − k . Sau khi chuyển, 8 − k quân trắng này trở thành 8 − k quân đen và k quân đen lại trở thành k quân trắng. Như vậy, số quân đen trên bàn cờ sau khi chuyển sẽ thêm vào 8 − k và mất đi k quân, tức là số quân đen thay đổi trên bàn cờ là ( 8 − k ) − k = 8 − 2k . Số này là số chẵn dương (thêm vào) nếu k < 4 và là số chẵn âm (bớt đi) khi k > 4 và không thay đổi nếu k = 4 . Vì 8 − 2k là chẵn và lúc đầu có 32 quân đen nên số quân đen trên bàn cờ luôn luôn là chẵn (bất biến!). Vậy không thể còn lại một quân đen trên bàn cờ. Bài 2 (Chọn đội tuyển Hồng Kông tham gia IMO, 2000, vòng 1) Có 1999 tách uống trà đặt trên bàn. Lúc đầu tất cả đều được đặt ngửa. Mỗi một nước đi, ta làm cho đúng 100 tách trong số chúng lật ngược lại. Sau một số nước đi, có thể làm cho tất cả chúng đều úp xuống được không? Tại sao? Trả lời hai câu hỏi này trong trường hợp chỉ có 1998 tách. Giải Nếu có 1999 chiếc tách (số tách là số lẻ), tất cả đều được đặt ngửa (trạng thái ngửa) thì ta không thể quay úp xuống tất cả (trạng thái úp) được. Thật vậy, theo qui tắc chơi, tại mỗi thời điểm, giả sử có k tách đặt ngửa được làm úp xuống thì 100 − k tách đang úp được lật ngửa lên. Khi ấy số các tách úp đã tăng lên k chiếc và giảm đi 100 − k ,

2

vậy số tách úp bị thay đổi đi một số chẵn là (100 − k ) − k = 100 − 2k (nếu k > 50 thì số tách úp giảm đi, nếu k < 50 thì số tách úp tăng lên, k = 50 thì số tách úp không thay đổi). Nghĩa là tính chẵn lẻ của số các tách úp không thay đổi (bất biến!). Nhưng lúc đầu số tách úp bằng 0. Vì vậy không thể làm cho số tách úp bằng 1999 được. Nếu số tách là 1998 thì có thể úp tất cả các tách. Thuật toán như sau: Đánh số các tách theo thứ tự 1, 2,…, 1998. Lần lượt úp 100 tách đầu tiên, sau 18 lần úp được 1800 tách chuyển trạng thái từ ngửa sang úp. Tiếp theo úp 100 tách số 1801, 1803, 1804, …, 1901 (để nguyên tách số 1802 đang ngửa). Lần thứ hai, đảo ngược các tách 1802, 1803, 1804,…,1901 (giữ nguyên tách số 1801 đang úp). Sau hai lần này, thực chất chỉ có tách số 1 và số 2 bị úp, các tách khác không thay đổi (vẫn đặt ngửa sau khi lật úp rồi lại lật ngửa). Tiếp tục như vậy, sau 18+198=216 lần, tất cả các tách đều bị lật úp. Bài 3 Ba đống bi tương ứng có 19, 8 và 9 viên. Được phép chọn hai đống bi bất kì và chuyển một viên bi từ mỗi đống bi đã chọn vào đống thứ ba. Sau một số lần làm như vậy, có thể đạt được mỗi đống bi có 12 viên không?

( mod 3) . Lúc đầu a0 = 19 ≡ 1( mod 3) , b0 = 8 ≡ 2 ( mod 3) và c0 = 9 ≡ 0 ( mod 3) , tức là số dư theo ( mod 3) trong ba đống lần lượt là r1 = 1 , r2 = 2 , r3 = 0 . Sau lần chuyển đầu tiên, vì (19 − 1) ≡ 0 ( mod 3) và (19 + 2 ) ≡ 0 ( mod 3) ; ( 8 − 1) ≡ ( 8 + 2 ) ≡ 1( mod 3) và ( 9 − 1) ≡ ( 9 + 2 ) ≡ 2 ( mod 3) nên số bi trong ba đống sẽ là a1 ≡ 0 ( mod 3) , b1 ≡ 1( mod 3) và c1 ≡ 2 ( mod 3) , không phụ thuộc vào việc thêm (hai) hay bớt (một) viên bi vào đống nào. Sau lần chuyển thứ hai ta lại có số dư theo ( mod 3) trong ba đống bi là r1 = 2 , r2 = 0 , r3 = 1 vì ( a1 −1) ≡ ( a1 + 2) ≡ 2 ( mod3) , ( b1 −1) ≡ ( b1 + 2) ≡ 0 ( mod 3) và ( c1 − 1) ≡ ( c1 + 2 ) ≡ 1( mod 3) . Chứng tỏ, trong mọi bước số dư trong ba đống bi luôn luôn chỉ là ba số 0, 1, 2 (bất biến!). Nếu mọi đống bi đều là 12 viên thì a ≡ 0 ( mod 3) , b ≡ 0 ( mod 3) và c ≡ 0 ( mod 3) . Vô lí. Vậy không thể làm cho mỗi đống bi có 12 viên.
Bài 4 (Vô địch Bungaria, 1999, lớp 8) Ba đống sỏi có 51, 49 và 5 viên. Ta thực hiện một trong hai nước đi như sau. Một nước đi là dồn hai đống tùy ý thành một đống. Nước đi khác là chọn đống có số chẵn viên sỏi để chia thành hai đống bằng nhau. Hỏi có thể thực hiện một dãy các nước đi như thế để chia ba đống sỏi thành 105 đống mà mỗi đống chỉ có một viên sỏi hay không? Giải Ban đầu số sỏi trong ba đống là 51, 49 và 5 viên đều là số lẻ nên bước đi đầu tiên là phải dồn hai đống lại.

Giải Gọi số bi tại bước thứ k trong ba đống tương ứng là ak , bk , ck . Xét các số này theo

3

9) → (15.9.3.14..9.3.14. Thật vậy.9.9.36.18. 27 cùng chia hết cho 3.. 27.9.9.9.9.14.7.9.18..9.9) → ( 24.3.9. Do đó số sỏi trong mỗi đống luôn chia hết cho 3 và nhiều nhất có thể được là 35 đống.9.3.3.3.9. Như vậy.9. một số bước chia đôi được ghép lại): ( 5. 49) → ( 7.14.9) → ( 3.7.51) → ( 27. 7.7 ) .9.9.9. 7.6.9.7.7.3. ta được hai đống có 49 và 56 viên.9.7.3.9.7.3.9. Khi thực hiện một trong hai nước đi.9.3.3.3.9.9.7.3.3. → ( 7.9. Trường hợp 2 Bước đầu tiên dồn hai đống có 5 và 51 viên.9.9. ta lại có hai đống 27 và 78 viên sỏi cùng chia hết cho 3.9.9.9.3.9. khi gộp hai đống sỏi cùng chia hết cho 3 thì được một đống có số sỏi chia hết cho 3 và nếu chia một đống sỏi (là gộp của hai đống có số sỏi lẻ cùng chia hết cho 3) có số chẵn viên sỏi chia hết cho 3 thành hai phần bằng nhau thì số sỏi trong mỗi phần vẫn chia hết cho 3.3.3. ta được hai đống là 5 và 100 viên.9.9.9) → ( 6. 49) → (14. số sỏi trong mỗi đống đều là bội của 5.9. 7.3.9. Trường hợp 3 Bước đầu tiên dồn hai đống có 49 và 51 viên.18.9.3.3) .9.9.3.9) → ( 6.3.9.9. Vì cả ba đống có số lẻ viên nên bước thứ ba ta lại phải gộp 2 đống chứa 27 và 51 hòn sỏi thành đống 78 viên.7. số sỏi trong mỗi đống nhận được luôn là bội của 7. 21.3.36.9.9.9.9) → ( 6.7.9.9.3..9.3.7.3.3.9.9.3.9) → (15.14.9.9.3.9.3..3.9.. Do đó số đống với số sỏi nhỏ nhất chỉ có thể là 15 đống.9.3.7.3.3.3. Tức là. 28.9.9) → ( 21.3.3.9.3.9) → ( 42.3.9) → (12. 9.3.7.9.15. số 4 .9.9.9) → (15.9.7.7.18) → ( 33.9.3.3. Khi thực hiện các nước đi luân phiên.9.9 ) → (12.3. khi thực hiện các nước đi luân phiên.6.39) → ( 66.3.9.9.9.27.9.3.9. 21.9.7.9.9.9.9.3.9. 21.7.9. 49. 7.9. Bây giờ số sỏi trong cả ba đống là 51.9.7.9.9.39) → ( 33. → ( 3.3.9.9.9.7.9.7.33.6.3.3.9.9.7.3.9.51) → ( 54.9) → ( 30.9. số sỏi trong mỗi đống luôn là bội của 3 (bất biến!). 49 ) → ( 56.9.7 ) .9.9) → ( 3.3. Qui trình dưới đây minh họa điều trên: ( 5.9.9.51) → ( 27.7.6.9.3.9.3.9.3..7. 49) → ( 28.3.9.9.9.9.3.3.7.6.7.7.3.9.9.9. ta được hai đống là 51 và 54 viên.9. Dưới đây là qui trình minh họa (để ngắn gọn.7.9.9.3.7.7.78) → ( 27.9.39) → ( 33. mỗi đống đều là bội của 3.9) → (12.9) .18. Bước thứ hai ta chia đống có 54 viên thành 2 đống 27 viên.9.36) → ( 33.7 ) → ( 28.9.9.9.18.3.9. mỗi đống 7 viên. 49.3. Vì hai số 27 và 51 chia hết cho 3 nên tổng (=78) của chúng cũng chia hết cho 3.7.9.9) → ( 3.3.7.7.9.7 ) → (14. mỗi đống 3 viên.Trường hợp 1 Dồn hai đống có 5 và 49 viên.72) → ( 33.3.9.3.3.3.3.39.9.51) → ( 56.7.3.9) → (15.9.9. 7.9. 28.9.9. 7.3..3.3. cả hai số đều là bội của 7..12.9.14.

5) .5.5) → ( 5.5.5.5. số bi trắng trong bao hoặc giữ nguyên (khi trong hai viên có một viên trắng hoặc cả hai viên bi đều đen) hoặc số bi trắng trong bao giảm đi 2 (khi cả hai 5 .5.5.5.5..15.5.5..5. số còn lại trên bảng không thể bằng 0.5.15.5. khi hai số được chọn có một số chẵn và một số lẻ thì tổng và hiệu của chúng là lẻ) hoặc số các số lẻ giảm đi 2 (khi chọn cả hai số cùng lẻ thì tổng hoặc hiệu của chúng là chẵn).5.5.5..5.5. 25.5.5..5. Đơn biến-Phương pháp tụt vô hạn hoặc tăng hữu hạn Bài 5 (Vô địch Kiev. 25.. Vậy sau 1973 lần thực hiện phép chơi. anh ta cất đi cả hai rồi bỏ vào bao một viên bi đen (giả sử anh ta có đủ số bi đen ở ngoài bao để làm chuyện đó nếu cần). 25. Hãy chỉ ra rằng.5.5.5. 1974) Các số 1..5.. tức là số đó không thể bằng 0.5...5.5. 5) → (10.5.5.10. ta được số cuối cùng còn lại phải là số lẻ.5.5.15.5.sỏi trong mỗi đống nhận được luôn là bội của 5.5. Do đó số đống với số sỏi nhỏ nhất là 21 đống. ta còn đúng một viên bi trong bao..5.15.15.15.15.5. 2003) Có một bao đựng 150 viên bi đen và 75 viên bi trắng.5. 1974 được viết trên bảng.5.. 25) → ( 20.5.10. 20.5. 25) → (10.5.5.5. 25) → ( 5.5.5.5.15. Mỗi lần thay đổi. 49.5. Bài 6 (Vô địch vùng Balcan.5.25) → (15.20.5. 25) → ( 30..25.50.5. Giải Lúc đầu trên bảng có tất cả 1974 : 2 = 987 số lẻ..5.5. 25. 2..5. Vậy sau 224 (=150+75-1) lần thực hiện.5.5) → (10.5.5. 25. 25.5. số các số lẻ hoặc giữ nguyên (khi hai số được chọn cùng chẵn thì tổng và hiệu của chúng cũng là số chẵn. anh ta bỏ lại viên bi trắng vào bao và cất đi viên bi đen.5.5.5..10.15. 25.5.25.10.5. mỗi đống 5 viên.5..5.5.25) → ( 30.5) → ( 20.5) → ( 5.5.5. 25.. Kết luận: Không thể chia ba đống sỏi thành 105 đống mỗi đống một viên được..5. 25) → (15. Mỗi lần thay đổi.5. Nếu anh ta bốc được hai viên cùng màu.5. 25) → ( 20. Nếu anh ta bốc được một viên bi đen và một viên bi trắng.10. Một người bốc từ bao ra một cách ngẫu nhiên mỗi lần 2 viên bi.10.25) → (10.5. Do đó số các số lẻ còn lại trên bảng sau mỗi lần thực hiện vẫn luôn luôn là lẻ (bất biến!).5..5. 25) → ( 5.5. Người chơi được phép thay hai số bất kì bởi một số khác bằng tổng hoặc bằng hiệu của các số đó. 25..100) → ( 5. Chiến lược dưới đây minh họa điều trên: ( 5.5.5.15.5.5.5..10.50) → ( 5.5 ) → ( 20. 25) → ( 40.5.5. lí do tại sao? Viên bi đó màu gì? Giải Vì mỗi lần lấy ra hai viên nhưng bỏ vào một viên nên số lượng viên bi trong bao giảm đi một viên.5. Quá trình được lặp lại cho đến khi còn đúng một viên bi trong bao.5.51) → ( 5. 25) → ( 40.5.5.5.5.10.5.5. 25.5.5.25.5.5. Vì mỗi lần chơi ta thay hai số bằng một số nên sau mỗi lần chơi số lượng các số giảm đi một đơn vị (đơn biến!).5. 25. sau 1973 lần thực hiện phép toán đó.

Do lúc đầu có 75 viên bi trắng và số các viên bi trắng còn lại trong bao sau mỗi lần thực hiện vẫn luôn luôn là lẻ (bất biến!) nên viên bi cuối cùng trong bao phải là viên bi trắng. Khi ấy tổng các số trong bảng tăng lên thật sự. Phương pháp tụt vô hạn cũng được dùng để giải quyết nhiều dạng toán khác (thí dụ.viên bi đều trắng). Do S chỉ nhận hữu hạn giá trị nên sau một số hữu hạn lần thực hiện phép đổi dấu (cho các hàng và các cột với tổng các số hạng âm). m+n Có thể chứng minh được rằng. 1. do đó một bảng không thể nhận được hai lần bằng cách đổi dấu này. Dưới đây là bài toán sử dụng khái niệm tăng hữu hạn. Bảng này chính là bảng thỏa mãn điều kiện đầu bài. mỗi số được giữ nguyên hoặc đổi dấu. trên thực tế chỉ cần không quá phép đổi dấu (hàng 2 và cột) để được bảng có tất cả các hàng và các cột có tổng không âm. Hai phòng triển lãm được gọi là hai phòng láng giềng nếu chúng có cạnh chung. Nhận xét Phương pháp chứng minh trong hai bài toán trên được gọi là phương pháp tụt vô hạn. Bài 7 (Vô địch toàn liên bang Nga lần thứ nhất. tức là bảng có tổng tất cả các số ở các hàng và các cột là không âm. Phương pháp này chỉ ra rằng ta không thể làm giảm (tụt) mãi một đại lượng nếu nó chỉ nhận một số hữu hạn giá trị.2 Kĩ thuật tô màu Tô màu được dùng phổ biến trong lí thuyết đồ thị. Mỗi lần chơi ta có thể đổi dấu tất cả các phần tử trong một hàng hoặc một cột. 1961) Các số thực được viết vào các ô trong một bảng chữ nhật m × n . Giả sử trong một bảng có một hàng (hoặc một cột) với tổng các số là âm. Có thể dùng kĩ thuật tô màu để giải quyết một số bài toán trò chơi. Một khách du lịch muốn đi xem càng nhiều càng tốt số phòng 6 . ta sẽ nhận được một bảng mới có tổng tất cả các số trong bảng lớn hơn trong bảng T . trong giải phương trình nghiệm nguyên. Bài 8a Một nhà triển lãm có n 2 phòng hình tam giác đều. Thật vậy. Như vậy có tất cả tối đa 2mn bảng và S chỉ có thể nhận hữu hạn 2mn giá trị (thực ra số khả năng có thể thực hiện đổi dấu một lần tất cả các số trong một hàng hoặc một cột còn nhỏ hơn.…). Trái với cách chọn bảng T . Từ mỗi phòng đều có cửa đi sang phòng láng giềng của nó. Vậy T chính là bảng cần tìm. nếu tổng các số trong một hàng (một cột) nào đó của bảng T là âm thì đổi dấu các số trong hàng (cột) ấy. Nhận xét rằng sau một lần thực hiện. Giải Giả sử S là tổng của tất cả mn số trong bảng. Đổi dấu các số trong hàng (hoặc cột) đó. số này chỉ là 2m + n −1 ). Hãy chứng minh rằng sau một số lần như vậy. ta có thể làm cho tổng của các số trong mỗi hàng và mỗi cột là không âm. ta được một bảng T với tổng S lớn nhất.

7 . 2 Số phòng màu đen sẽ là n ( n − 1) 1 + 2 + 3 + . 2 n ( n + 1) n ( n − 1) Như vậy. Mâu thuẫn với tính toán trên.. Chứng minh rằng nếu một người muốn đi xem các phòng của lâu đài với điều kiện mỗi phòng chỉ đi đúng một lần thì anh ta chỉ có thể xem không quá 91 phòng. Hỏi anh ta có thể đi tối đa bao nhiêu phòng. Tất cả các bức tường của các phòng có độ dài như nhau bằng 10 mét. Nó được chia ra thành 100 phòng nhỏ hình tam giác.. Hình 1 Hình 2 Giải Tô các phòng triển lãm thành các ô hai màu đen trắng xen kẽ như Hình 1. + ( n − 1) = . Bài 8b (Vô địch Liên Xô lần thứ tư. Như vậy không thể đi tham quan tất cả các phòng được. Khi ấy số phòng đen chỉ ít hơn số phòng trắng đúng 1 phòng. số phòng có màu trắng sẽ là n ( n + 1) 1 + 2 + 3 + . Như vậy nếu đi qua tất cả phòng đen thì tối đa tổng số phòng có thể tham quan là n ( n − 1) n ( n − 1) + + 1 = n 2 − n + 1 phòng. khách du lịch luôn phải đi từ phòng trắng sang phòng đen hoặc ngược lại. Giữa các gian liền kề có các cửa thông nhau. + n = .triển lãm với điều kiện mỗi phòng chỉ đi qua đúng một lần. số ô đen nhỏ hơn số ô trắng là − = n ≥ 2 ô. 2 2 Trong quá trình đi xem.. Giả sử có thể đi tham quan tất cả các phòng sao cho mỗi phòng đi qua đúng một lần. 1970) (Lớp 8) Một lâu đài có dạng một tam giác đều với độ dài cạnh là 100 m. 2 2 Có thể thực hiện được điều này theo đường đi như Hình 2. Do mỗi phòng chỉ đi qua đúng một lần mà phải đi xen kẽ các phòng đen-trắng liên tiếp nên số phòng màu trắng đi qua chỉ hơn số phòng màu đen một phòng. Với n ≥ 2 ..

Lucas xuất bản năm 1895. mỗi lần chuyển một đĩa mất thời gian 1 giây cần 264 − 1 = 18 446 744 073703551615 giây ≈ 50 tỉ năm. mặc dù có thuật giải đơn giản và tối ưu. Sau đó chuyển đĩa lớn nhất từ cọc 1 sang cọc 3. tức là ta đã chuyển được (tuân theo qui tắc trên) n − 1 đĩa từ cọc 1 sang cọc 2. Thí dụ. nhưng có độ phức tạp tăng cỡ mũ. lại chuyển n − 1 từ cọc 2 lên cọc 3 (chồng lên đĩa lớn nhất) và bài toán giải xong. Qua các điểm chia kẻ các đường thẳng song song với các cạnh. Bài toán 1 (Bài toán Tháp Hà Nội với ba cọc và n đĩa) Có n đĩa kích thước nhỏ dần (từ dưới lên trên) xếp chồng lên nhau trên một cọc. Nếu sử dụng máy tính thực hiện chương trình đệ qui với tốc độ Hình vẽ Bài toán Tháp Hà 1 triệu phép toán/giây thì thời gian chạy máy là: Nội vơi 8 đĩa trong cuốn ( 264 − 1) :1000 000 ≈ 50 000 năm. trong đó không có tam giác nào xuất hiện hai lần. L(2) = 3 và L(n) = L(n − 1) + 1 + L(n − 1) . Lời giải bài toán này rất đơn giản. Khi ấy để giải bài toán với n đĩa trước tiên ta giải bài toán với n − 1 đĩa trên cùng từ cọc 1 sang cọc 2. bài toán Tháp Hà Nội. đĩa lớn ở dưới. Từ đây ta dễ dàng lập trình và tính trên máy để giải bài toán.(Lớp 10) Mỗi cạnh của tam giác đều được chia thành k phần bằng nhau. 2) Không được xếp đĩa lớn lên trên đĩa nhỏ. Kết quả là tam giác được chia thành k 2 các tam giác nhỏ. Ngoài cọc chứa đĩa còn có hai cọc trống khác. Hãy chuyển đĩa này sang cọc khác với số lần chuyển ít nhất tuân theo hai qui tắc sau: 1) Mỗi lần chỉ được chuyển một đĩa từ cọc này sang cọc khác và được dùng cọc thứ ba làm cọc trung gian. Hỏi số các tam giác trong xích đó tối đa là bao nhiêu? 1. để giải bài toán với 8 đĩa cần 255 bước chuyển. Cuối cùng. 8 . và mỗi tam giác tiếp theo có cạnh chung với tam giác trước đó. Để giải bài toán với 64 đĩa. Nội. Như vậy bài toán Tháp Hà sách sách Số học vui của E.3 Giới thiệu hai trò chơi nổi tiếng Trò chơi Tháp Hà Nội Trò chơi Tháp Hà Nội do nhà toán học Eduard Lucas sáng tạo ra năm 1883. Từ đây suy ra L(n) = 2n − 1 . Giả sử số bước cần chuyển trong bài toán Tháp Hà Nội với ba cọc và n đĩa (theo qui tắc trên) là L(n) thì L(1) = 1 . đĩa nhỏ ở trên. Như vậy. không giải được trong thời gian thực. Ta gọi xích là một dãy các tam giác. Đó là thuật toán đệ qui: Giả sử bài toán với n − 1 đĩa đã được giải.

học sinh được đề nghị tìm lời giải bài toán gồm ba đĩa với số bước chuyển ít nhất.Stewart (1941) giải bài toán bốn cọc. Đã chứng minh được độ phức tạp tính toán trong bài toán Tháp Hà Nội với bốn hoặc nhiều cọc là thời gian dưới mũ (Stockmeyer. Qui tắc của trò chơi gần như không thay đổi: Các đĩa được chuyển từ cọc này sang cọc khác. Được phép đặt hai đĩa có cùng kích thước (khác màu) chồng lên nhau. Có rất nhiều cải biên mới và thú vị của bài toán Tháp Hà Nội. đã có thuật toán Frame. Trong khi chuyển được phép sử dụng tất cả các cọc làm cọc trung gian (Hình bên). nhưng chưa chứng minh được đó là thuật toán tối ưu. trò chơi tháp Hà Nội với đĩa màu gồm có hai đĩa khác màu cho mỗi kích thước (to nhỏ) của đĩa.Bài toán 2 (Bài toán Tháp Hà Nội với số cọc bất kì) Có k cọc và n đĩa.… Bài toán 3 (Bài toán Tháp Hà Nội ba cọc với các đĩa hai màu-2 color hanoi tower) Một biến thể của trò chơi Tháp Hà Nội đã được đề nghị tại kì thi vô địch quốc tế lần thứ hai (Pháp. không nhấc các 9 . Khoảng 450 bài báo nghiên cứu về bài toán Tháp Hà Nội dưới góc độ toán và tin học đã được đăng trong hơn 100 tạp chí khoa học. Mục đích của trò chơi là từ hai tháp với các đĩa có màu liên tiếp trên hai cọc hãy xây dựng hai tháp cùng màu (Hình dưới). Trong kì thi. 1994). Nhiều vấn đề toán học và tin học bài toán Tháp Hà Nội còn chưa được giải quyết. Thí dụ. Khác với trò chơi tháp Hà Nội cổ điển. mỗi lần chỉ di chuyển một đĩa và không được đặt đĩa lớn lên trên đĩa nhỏ. ngoại trừ một ô trống. Hãy chuyển các đĩa từ cọc nguồn sang cọc đích theo qui tắc như trong bài toán ba cọc. các số giảm dần từ trái sang phải). Lúc đầu trên hai (trong ba) cọc có ba đĩa màu khác nhau (Hình dưới). Khi di chuyển có thể sử dụng cọc trung gian thứ ba. Hãy chuyển dịch các ô (bằng cách sử dụng ô trống như một ô trung gian. Bạn đọc quan tâm về bài toán Tháp Hà Nội có thể xem thêm trong [4]. Trò chơi với hộp vuông có 8 hoặc 15 số Một hộp chữ nhật (không có nắp) được xếp đầy các ô hình vuông có ghi các số tự nhiên theo một thứ tự nào đó (thí dụ. Nhiều vấn đề toán học và tin học thú vị đã và chưa được giải quyết với bài toán bốn hoặc nhiều cọc. 1988) về trò chơi toán học và lôgic.

). Nếu số lần chuyển là lẻ thì bài toán không có lời giải (nghĩa là một ô không thể chuyển sang vị trí mới.. Tương tự cho ô mang số 3 và số 6. để chuyển bốn ô này cần tối thiểu 12 bước chuyển. thì bài toán giải được (như trong trường hợp này). Bây giờ ta quan tâm tới việc tìm lời giải tối ưu. phải mất thêm hai lần chuyển để đổi chỗ các hình vuông với ô số 1 hoặc ô số 3 (sát cạnh ô trống trong bảng đầu) và thêm 2 lần chuyển nữa để chuyển ô số 8 hoặc ô số 6 (sát cạnh ô trống trong bảng cuối). các số tăng dần từ trái sang phải. tức là có cách di chuyển các ô vuông từ một cấu hình ban đầu đến cấu hình cuối hay không. để được cấu hình 2 từ cấu hình 1? Có thể khẳng định. vì trong các trường hợp này hình vuông phải được đặt 10 . việc kiểm tra tính chẵn của số chuyển vị cho phép nhanh chóng có câu trả lời bài toán giải được hay không. Thật vậy.. ta sẽ lần lượt chuyển các ô từ Bảng 1 cho đến khi được Bảng 2. 8 5 2 7 4 1 Bảng 1 6 3 1 4 7 2 5 8 3 6 Bảng 2 Để trả lời câu hỏi này. 7. Trò chơi với hộp vuông chứa các ô 8 số Xét bài toán sau đây: Hãy chuyển các ô vuông chứa các số theo thứ tự giảm dần từ trái sang phải trong Bảng 1 để được hộp vuông chứa các số theo thứ tự tăng dần trong Bảng 2 bằng cách đẩy ô số liền kề sang ô trống mà không nhấc ô vuông ra khỏi hộp. Như vậy. Trước tiên ra sẽ tính xem cần phải làm bao nhiêu phép chuyển (có thể chuyển dịch theo bất kì hướng nào và trước tiên ta chưa quan tâm đến tối thiểu số phép chuyển). Hỏi cần tối thiểu bao nhiêu bước dịch chuyển. Trong tất cả các trò chơi loại này. để chuyển dịch mỗi ô có số 1. Mặt khác.ô số ra khỏi hộp) để được một cấu hình mới sắp xếp theo trật tự nào đó (thí dụ. nếu không nhấc ô đó ra khỏi hộp). Như vậy. 2.. số lần cần chuyển khôg ít hơn 12+4+4=20. đó là trò chơi với hộp vuông 3 × 3 và trò chơi với hộp vuông 4 × 4 . Nếu số lần chuyển dịch là chẵn. Có hai trò chơi khá phổ biến của loại trò chơi này. số lần chuyển dịch cần thiết không ít hơn 26. 8 trong Bảng 2 sang vị trí mới cần tối thiểu là 3 bước chuyển. Hai ô mang số 5 và số 4 có vị trí hoán đổi nhau trong bảng đầu và bảng cuối nên cần không ít hơn 4 lần chuyển để đổi chỗ hai ô này.

Dudeney. cần tối thiểu 26 bước để giải được bài toán. Bởi vì trong bài toán này. Chương trình của Uliam F. Uliam F. Vì để chuyển ô trống từ góc vào trung tâm cần 2 bước nên 30 bước là đủ để giải bất kì bài toán với ô trống nằm cùng một vị trí trong cả hai bảng xuất phát và bảng cuối cùng. nghĩa là. Trong giai đoạn 2. Trong vòng nửa thế kỉ. Trò chơi với hộp vuông chứa 15 ô số Sam Loid được coi là một bậc kì tài trong số các nhà sáng tạo ra các trò chơi toán học. Nó đòi hỏi 36 bước. Trong các lời giải dưới đây. Để tìm lời giải tối ưu trong bài toán với hộp vuông 8 số. Ta chỉ cần đếm các chữ số tô đậm để biết số lần chuyển trong lời giải. nếu xây dựng cây (đồ thị) cho các bước ban đầu thì sẽ thấy cần mất thêm hai bước chuyển nữa Như vậy. các bài toán với ô trống ở trung tâm trong cả bảng xuất phát và bảng cuối cùng có thể chỉ cần 26 bước. ta còn có 10 lời giải khác gồm 30 bước chuyển (xem [4]). Nhờ chương trình này Sophild đã tìm thấy tất cả 10 lời giải gồm 30 bước. Như vậy. Dempster đã chỉ ra rằng. Một lời giải tốt đã biết cho bài toán này thuộc về nhà toán học Anh Henry E. Hàng nghìn bài toán do Ông nghĩ ra đã được in trên nhiều báo và tạp chí. Như vậy. các chữ số tô đậm biểu thị các ô với các chữ số đã được chuyển. lời giải ngắn nhất đòi hỏi số bước tối đa. “ô trống” lại trở về vị trí ban đầu. nhưng kết quả này chưa loại trừ khả năng tồn tại các lời giải ngắn hơn.lên các ô nằm bên cạnh đường đi ngắn nhất nối vị trí đầu và vị trí cuối. Các lời giải này đều ngắn hơn lời giải của Dudeney. Tất cả gồm 10 lời giải và mất 2 phút ba mươi giây chạy máy. được tất cả 634 lời giải. Trong giai đoạn một Uliam F. Dempster tìm tất cả các lời giải gồm 30 bước hoặc nhỏ hơn. Ông nổi tiếng với các bài toán vui và các trò chơi. Sophild đã lập trình để tìm để tìm lời giải với số bước tối thiểu cho bài toán với ô trống nằm ở chính giữa trong cả hai cấu hình ban đầu và cấu hình cuối. bắt đầu từ năm 1911. nên mọi lời giải phải có số chẵn lần chuyển. Lời giải của Dudeney (1903) gồm 36 bước chuyển: 8 7 6 5 4 3 2 1 8 7 6 4 3 5 2 1 8 6 4 7 1 5 3 2 12376 8 1 4 6 2 5 7 3 12376 1 2 8 6 3 4 5 7 1237548 1 2 3 8 5 6 4 7 123657 1 2 3 4 8 5 7 6 65847 1 2 3 4 5 6 7 8 856 Bước chuyển: 12543 Ngoài lời giải của Dudeney. bài toán của Dudeney thuộc loại bài toán “xấu nhất” trong các bài toán trò chơi với hộp vuông gồm 8 ô số. và nó vẫn 11 . Sau 10 phút chạy máy được 112 lời giải với 32 bước và 512 lời giải với 34 bước. Dưới đây trình bày lời giải của Dudeney. chương trình tìm lời giải gồm 34 bước hoặc ít hơn. Dempster đã chia chương trình làm hai giai đoạn. Như vậy.

Chứng minh rằng theo qui tắc này ta không bao giờ nhận được bảng có tất cả các ô chứa các dấu cộng. Bài tập Bài 9 (Vô địch Liên Xô lần thứ hai. có thể đổi dấu các + + số trong ô góc). vòng 1) Viết vào mỗi ô của một bảng hình vuông 3 × 3 số 1 hoặc −1 . trong đó có Hình 2. Cho phép đồng thời đổi dấu tất cả các số trong các ô của một hàng. 1984. bởi vì bài toán mà Sam Loid là không có lời giải! Để bài toán giải được. Với mỗi ô ta tính tích của các số ở các ô lận cận với ô đó 12 . Chứng minh rằng theo qui tắc này ta không bao giờ + + nhận được bảng có tất cả các ô chứa các dấu cộng. Bài 10 (Vô địch Liên Xô lần thứ 18. Trong số tất cả hơn 20 triệu cấu hình có một nửa các cấu hình có thể nhận được từ cấu hình ban đầu (Hình 1). Sam Loid đã treo giải thưởng 1000 đôla cho ai chuyển được hộp vuông với 15 số ở Hình 1 sang Hình 2. cấu hình của hai bảng đầu và bảng cuối phải có cùng tính chẵn của số chuyển vị. các cấu hình còn lại.mang tính thời sự cho tới ngày nay. 1968) (Lớp 8) Trong một bảng hình vuông gồm 4 × 4 ô được đặt các dấu cộng (dấu +) hoặc trừ (dấu − ) như Hình 1. Cho phép đồng thời đổi dấu tất cả các số trong các ô của một hàng. do không cùng số chẵn của số chuyển vị nên không chuyển được từ cấu hình ban đầu. một cột hoặc một đường chéo (đường chéo là đường đi bất kì của quân tượng). Dưới góc độ toán học. + + + + + + + + + + (Lớp 10) Trong một bảng hình vuông gồm 8 × 8 ô được đặt các dấu cộng (dấu +) ngoại trừ một ô góc được đặt dấu trừ (dấu − ). sáng tạo lớn nhất của Sam Loid có lẽ là trò chơi với hộp vuông 15 số. một cột hoặc trên đường thẳng song song với + − một trong hai đường chéo của hình vuông (đặc biệt. nhưng họ không thể ghi lại được cách làm của mình. Hình 1 Hình 2 Hàng nghìn người tuyên bố đã giải đước bài toán. Thực ra không ai có thể lĩnh giải. lớp 10.

Khi ấy hiệu hai số còn lại đúng bằng 55. người thứ hai 5 lượt). vòng 2) Trên mặt phẳng cho 1968 điểm là các đỉnh của một đa giác đều. 2001. Lời bình: Vì người thứ hai bắt buộc phải chọn đúng chín số trong mỗi bước đi. chỉ còn lại 2 số. không phụ thuộc vào người chơi thứ hai. 101.…). Sau đó ta viết tích nhận được vào ô đã cho thay cho số đã viết. khả năng và những hạn chế trong chọn chiến lược của mình cũng như của đối thủ. nhưng không phải lúc nào cũng như thế. §2 Trò chơi hai người với thông tin đầy đủ Trò chơi với hai người tham gia thường có tính chất đối kháng: Mỗi người đều cố gắng tìm chiến lược thắng (theo tiêu chuẩn kết thúc trò chơi) nhưng thường chỉ có một người thắng. Giải Bước đầu tiên người thứ nhất gạch 9 số từ 47 đến 55. mỗi người đều biết trạng thái trò chơi. Ta chỉ xét loại trò chơi với thông tin đầy đủ. Các số còn lại chia làm hai lớp: từ 1 đến 46 và từ 56 đến 101. lớp 7.(các ô có chung cạnh với ô đã cho). vòng 2) Hai người chơi trò chơi sau đây. Sau đó người thứ hai phải trả cho người thứ nhất số điểm bằng đúng hiệu giữa hai số còn lại. tiêu chuẩn kết thúc trò chơi. Người thua là người không thể làm bước tiếp theo. Sau 11 lượt (người thứ nhất 6 lượt. ta được bảng gồm toàn những số 1. Chiến thuật (chiến lược) của mỗi người tại mỗi bước là đẩy đối thủ vào trạng thái thua. vì vậy khả năng thắng thường là nhiều hơn. ….1 Trò chơi hai người có mặt khắp nơi Bài 11 (Vô địch Moscow lần thứ 32. Mỗi người chơi tùy theo cách chọn của mình lần lượt gạch 9 số từ dãy số 1. Hỏi làm thế nào để thắng? Ai là người thắng trong trò chơi này? 13 . người thứ nhất chọn 55 − k . Chứng minh rằng sau một số phép làm như vậy. Do đi trước nên người thứ nhất thường có nhiều lợi thế hơn. nghĩa là: Tại mỗi bước đi. và không được cắt các đoạn đã kẻ. thua với tiêu tốn ít năng lượng nhất. mà các số này có giá trị như nhau trong chọn chiến lược của người thứ nhất nên người thứ hai thua sau đúng 11 bước. 100. 2. lớp 7. Nếu không thắng được thì tìm chiến lược làm cho đối phương thiệt hại nhất (thua sau thời gian lâu nhất. 2. Với bảng mới ta lại làm tương tự. Chứng minh rằng người thứ nhất luôn luôn nhận được tối thiểu 55 điểm. một người thua (cũng có thể xảy ra trường hợp hòa-không thua không thắng hoặc trò chơi kéo dài vô tận). Bài 12 (Vô địch Moscow lần thứ 31. 1969. 3. Hai người chơi lần lượt nối hai đỉnh của đa giác đều bởi các đoạn thẳng theo qui tắc sau: không được nối hai điểm mà một trong các điểm ấy đã được nối với điểm khác. Với mỗi số k bị gạch bởi người thứ hai.

Người thứ nhất thay một dấu * bất kì bằng một số nào đó. Do số điểm trong mỗi nửa đa giác là 983 (số lẻ) nên sau mỗi bước đi số các điểm còn lại giảm đi 2 và vẫn là số lẻ (bất biến!). còn nếu có ít nhất một nghiệm thực thì người thứ hai thắng. 14 . Phương trình nhận được là x3 + ax 2 − x − a = x ( x 2 − 1) + a ( x 2 − 1) = ( x + a )( x − 1)( x + 1) = 0 luôn có ba nghiệm nguyên x1 = − a . 1969.Giải Người đi trước kẻ đường chéo qua tâm của đa giác đều chia đa giác đều thành hai 1968 − 2 nửa. người thứ nhất đều xây dựng chiến lược dựa trên cách chia một tập hợp thành hai nửa đối xứng rời nhau. Nếu đa thức không có nghiệm (thực) thì người thứ nhất thắng. Bài 14 (Vô địch Liên Xô lần thứ 11. lớp 9-10) Trên bảng có phương trình x3 + *x 2 + *x + * = 0 . x2 = 1 và x3 = −1 với mọi a . Đầu tiên người thứ nhất thay một dấu * bất kì bằng một số nguyên khác 0 (dương hoặc âm). Chứng minh rằng người thứ nhất bao giờ cũng làm cho phương trình có ba nghiệm nguyên. người thứ nhất thực hiện chiến lược: mỗi bước đi tiếp theo kẻ các đường chéo đối xứng với đường chéo mà người thứ hai vừa kẻ. Khi ấy ta có phương trình x3 + *x 2 − x + * = 0 . Người thứ nhất đặt nốt một số nguyên vào vị trí tự do cuối cùng. Hai người chơi trò chơi sau đây. Sau khi người chơi thứ hai đặt số a nguyên vào hệ số của x 2 hoặc vào hệ số tự do thì người thứ nhất đặt −a vào hệ số còn lại. Bài 13 (Vô địch Liên Xô lần thứ 3.. Người thứ hai chỉ còn “vớt vát” được là kéo dài tối đa trò chơi. Người thứ nhất thắng. bắt đầu từ đường chéo ngắn nhất (dài nhất) và thua sau 983 bước. Giải Người chơi thứ nhất đặt −1 vào hệ số của x . Lời bình Cả hai bài trên. sau đó người thứ hai thay một số nguyên vào một trong hai dấu * còn lại. + *x 2 + *x + 1 . lớp 10) Cho đa thức x10 + *x9 + *x8 + . Hai người chơi trò chơi sau đây. Sau khi người thứ hai đi bước đầu tiên.. Cứ như vậy tiếp tục (có tất cả 9 bước đi). người thứ hai còn một (hoặc một số lẻ) điểm bên này và một (một số lẻ) điểm bên kia đường chéo qua tâm. Thua nhanh nhất nếu cứ mỗi lần kẻ lại bỏ cách một điểm (kẹp giữa hai đường kẻ). mỗi nửa chứa = 983 điểm. do đó không thể kẻ tiếp được và thua. Hỏi người thứ hai có thể thắng với mọi cách đi của người thứ nhất không? Giải Chiến lược sau đây đảm bảo cho người thứ hai thắng. Do phải kẻ các đoạn thẳng không được cắt và 2 không chung đỉnh với các đoạn đã kẻ nên chỉ có thể kẻ đoạn thẳng nằm trọn trong một nửa đa giác đều. sau đó người thứ hai thay một số tự chọn vào một dấu * còn lại. không phụ thuộc vào cách chọn số của người chơi thứ hai. bằng cách lần lượt kẻ các đường chéo. 1977. Vậy sau tối đa 983 bước (có thể ít hơn).

Hỏi người chơi thứ nhất có thể đảm bảo cho mình diện tích lớn nhất của tam giác XYZ là bao nhiêu? 1 Giải Trước tiên ta có thể thấy rằng. Tại bước thứ 9 người α= m c + (−2) thứ nhất đặt số thực β bất kì nào thì đa thức P ( x) + α x m + β x 2l +1 cũng có nghiệm thực.*x 3 . lớp 8.. 9) Cho tam giác ABC có diện tích bằng 1. Bài 15 (Vô địch Liên Xô lần thứ 9. Mục đích của người chơi thứ nhất là làm cực đại diện tích tam giác XYZ và mục đích của người chơi thứ hai là làm cực tiểu diện tích tam giác XYZ .. cF (1) + F (−2) = 0 với mọi β . Do đó phương trình F ( x) = 0 có nghiệm trong khoảng [ −2. người chơi thứ hai chọn điểm Y trên cạnh BC. trong đó có năm dấu * là hệ số thuộc lũy thừa bậc lẻ ( *x.*x 5 . thí dụ. XYZ = với S ABC 4 mọi vị trí của điểm Y trên BC. đến lượt người thứ hai) ta có đa thức P ( x) + *x m + *x 2l +1 . Sau đó người chơi thứ nhất chọn điểm Z trên cạnh AC.Vì có tất cả 9 dấu *. là đa thức với các hệ số đã được chọn. = = 4 S ABC AC H H2 Mặt khác. 1975. Người chơi thứ nhất chọn điểm X trên cạnh AB. Khi ấy S XYZ XY H − h h( H − h) 1 ≤ . người chơi thứ nhất chọn điểm X và Z là S 1 các điểm giữa của AB và AC. Chọn α và c > 0 sao cho đa thức F ( x) = P( x) + α x m + β x 2l +1 thỏa mãn hệ thức nào đó mà từ đó suy ra phương trình F ( x) = 0 có nghiệm. Khi ấy. c = 22l +1 và α = − m c + (−2) m 2 l +1 Do c > 0 và cF (1) + F (−2) = 0 nên F (1) và F (−2) trái dấu. Người thứ hai thắng. người thứ hai đã đi được ba bước. 15 .1] với mọi β . + 1 . Để cF (1) + F (−2) = c [ P(1) + α + β ] + ⎡ P (−2) + α ( −2 ) + β ( −2 ) ⎤ = 0 với mọi β thì ⎣ ⎦ P(−2) + cP(1) m (số α có nghĩa do m ≠ 2l + 1 nên c + ( −2 ) ≠ 0 ).*x 7 . người thứ hai đặt giá trị P (−2) − cP(1) vào hệ số x m của đa thức P ( x) + *x m + *x 2l +1 . Tại bước thứ 8 (bước đi thứ tư của người thứ hai). Thật vậy. Giả sử sau bước thứ 7 (người thứ nhất đi đã đi được bốn bước. người chơi thứ hai có thể đạt được S XYZ ≤ không 4 phụ thuộc vào vị trí của X mà người thứ nhất chọn. chỉ cần chọn Y sao cho XY // AC .*x 9 ) nên nếu trong ba bước đầu người thứ hai điền số vào ba hệ số thuộc lũy thừa bậc chẵn thì sau bốn bước đi của người thứ nhất vẫn còn ít nhất một lũy thừa bậc lẻ. trong đó P ( x) = x10 + .

Sau đó người thứ nhất lại chọn ba cạnh và sơn màu đỏ. Y . Người thứ hai chọn ba cạnh chưa sơn và sơn chúng thành màu xanh. Một điều thú vị là. BC và AC. Vậy có 6 1 ba số không vượt quá . Ngoài ra. Hỏi người thứ nhất có luôn thắng không? Giải Vì mỗi cạnh đều tìm được hai cạnh khác của lập phương đôi một chéo nhau nên sau khi người chơi thứ nhất đã sơn đỏ ba cạnh bất kì thì người chơi thứ hai vẫn tìm được ba cạnh đôi một vuông góc chưa sơn. Sau khi sơn các cạnh này bằng màu xanh (với lưu ý trên). Do đó người chơi thứ nhất không thể sơn tiếp để được bốn cạnh của một mặt cùng một màu được. 6 Giải Giữa tám số không âm có tổng bằng 1 bao giờ cũng chọn được ba số không vượt 1 1 quá . lớp 8) Mỗi đỉnh của một hình vuông được gán cho một số thực không âm. sau đó người thứ hai chọn mặt tiếp theo. nếu người thứ nhất đã sơn hai hoặc ba cạnh cùng một mặt thì người thứ hai sơn một cạnh của mặt ấy (cùng với hai cạnh chéo với nó).Lời bình Bài này có thể phát biểu đơn giản (không qua ngôn ngữ trò chơi): Cho ba điểm S 1 X . 1982. Vô lí. ngoài ra tổng của tám số này bằng 1. Người thứ nhất chọn ba cạnh của lập phương và sơn chúng thành màu đỏ. S ABC 4 Bài 16 (Vô địch Liên Xô lần thứ 18. không được chọn mặt song song với một trong các mặt đã được chọn. Hơn nữa. Chứng minh rằng XYZ ≤ . Hai người chơi trò chơi sau đây. Hơn nữa. tất cả sáu mặt đều chứa một cạnh màu đỏ. Như vậy. người thứ nhất tô đỏ ba cạnh chéo nhau. Bài 17 (Vô địch Liên Xô lần thứ 16. nếu chỉ có tối đa hai số không vượt quá thì có tối thiểu sáu số lớn 6 6 1 hơn . 1984. Thật vậy. và sau đó người thứ hai chọn mặt thứ ba. vì mỗi đỉnh chỉ có duy nhất một đỉnh đối diện là 6 16 . Chiến lược “hòa” đẹp nhất có lẽ là mỗi người lần lượt tô ba cạnh đôi một chéo nhau. lớp 9) Có một hình lập phương và hai màu: màu đỏ và màu xanh. Người nào đầu tiên sơn được một mặt có bốn cạnh cùng màu thì người đó thắng. Và cuối cùng người thứ hai sơn nốt ba cạnh còn lại bằng màu xanh. Vì vậy người thứ nhất không thể thắng. Chứng minh rằng người thứ nhất có thể chọn chiến lược 1 chơi sao cho số nằm trên một đỉnh chung của cả ba mặt đã được chọn không vượt quá . Do đó người thứ hai không thể tô màu xanh tất cả bốn cạnh của một mặt nào đó được. Khi ấy tổng sáu số này lớn hơn 1. Hai người chơi trò chơi sau đây: Người thứ nhất chọn một mặt bất kì. Cấm sơn lại một cạnh đã sơn (bằng màu khác cũng như bằng màu đã sơn). Như vậy sẽ được tất cả sáu mặt. thì do chúng đôi một vuông góc nên mỗi cạnh là cạnh kề của hai mặt và ba cạnh là ba cạnh kề của tất cả sáu mặt khác nhau. người thứ hai cũng không thể thắng. Z bất kì tương ứng trên các cạnh AB. Chứng tỏ tổng tám số lớn hơn 1. mỗi mặt có hai cạnh xanh và hai cạnh đỏ. Thật vậy.

Khi ấy người thứ hai không bao giờ đi vào ô góc được. Hai người chơi lần lượt đẩy quân cờ sang ô bên cạnh (có cạnh liền kề với ô mà quân cờ đang đứng). Người thứ hai thực hiện chiến lược tương tự như người thứ nhất trong trường hợp n chẵn và giành chiến thắng vì cuối cùng còn thừa một ô và đến lượt người thứ nhất. khi thực hiện chiến lược “đóng đôminô” như trên. mà ở ô bên cạnh góc bàn cờ thì người thứ nhất luôn luôn thắng. Nếu ba đỉnh không nằm trên một mặt thì phải có hai đỉnh (thứ nhất và thứ ba) đối xứng qua tâm. lớp 8) Một quân cờ đam đứng ở góc bàn cờ gồm n × n ô vuông. do đó người thứ nhất sẽ thắng cuộc. 6 Bài 18 (Vô địch Liên Xô lần thứ 12. đỉnh chung của ba mặt kề nhau chính là một trong hai đỉnh của đường chéo đã chọn và tương ứng với số 1 nhỏ hơn .không cùng nằm trên một mặt nên hai trong ba số này phải là hai đầu của một đường chéo của một mặt nào đó. Không được phép trở lại ô mà quân cờ đã đi qua. Vì lúc đầu quân cờ ở ô bên cạnh góc bàn cờ nên người thứ nhất đi sang ô nằm trên đường chéo. Người thứ nhất chỉ cần chọn mặt kề với hai mặt vừa chọn bởi người thứ nhất và người thứ hai. còn nếu n lẻ thì người chơi thứ hai thắng. Người chơi thứ hai buộc phải đi sang ô của quân đôminô mới (mở đôminô). 17 . 1978. mà ở ô bên cạnh góc bàn cờ? Giải 1) Nếu n chẵn thì cả bàn cờ có thể chia thành các quân đôminô (các ô hình chữ nhật 1× 2 được tô hai màu đen trắng). Thật vậy. Nhưng đỉnh thứ ba khi ấy phải tạo với đỉnh thứ hai một đường chéo của một mặt. Nếu n lẻ thì lại chia bàn cờ thành các quân đôminô. nếu ba đỉnh nằm trên một mặt nào đó thì điều này hiển nhiên. 2) Ai là người chiến thắng. trừ quân góc. nếu lúc đầu quân cờ không ở vị trí góc bàn cờ. Người nào không còn nước đi thì người ấy thua. Như vậy. 1) Chứng minh rằng nếu n chẵn thì người chơi thứ nhất thắng. Nhận xét Người thứ nhất thắng khi quân cờ đam ở vị trí bất kì không phải là góc bàn cờ (không nhất thiết phải ở ô cạnh góc). thì người chơi thứ nhất sẽ đi sang ô thứ hai của quân đôminô ấy (đóng đôminô lại). người thứ nhất lại đóng lại và cuối cùng người thứ nhất thắng. Nếu n lẻ thì có thể chia bàn cờ thành các quân đôminô. 2) Nếu quân cờ không ở vị trí góc bàn cờ. trừ một ô thừa ra. Người chơi thứ nhất chọn chiến lược sau đây (và thắng): Nếu quân cờ đã đứng ở một ô của quân đôminô nào đó. Người thứ nhất chọn mặt này. người thứ hai phải chọn một trong bốn mặt kề (có chung cạnh) với mặt đã chọn. Theo qui tắc chơi. Thật vậy. nếu n chẵn thì người thứ nhất thực hiện chiến lược như trong phần 1) và thắng.

. 3). 2. 2. Sau khi người thứ hai buộc phải để lại số que diêm là một trong các số 1. người thứ nhất đi bước cuối cùng bằng cách lấy tất cả các que diêm và thắng. Số này không chia hết cho 6 do p là số nguyên tố. bằng 20 . Đến lượt B phải lấy 1. (thí dụ.2 Kĩ thuật môđulô Bài 19 (Vô địch Moscow lần thứ 34. Giải A đi trước thắng. 4 . thì người thứ nhất bao giờ cũng thắng. tức là số diêm còn lại cũng không chia hết cho 6. 3. 2.. Người nào đi nước cuối (lấy hết đậu trong đống) thì người ấy thắng. người thứ hai buộc phải lấy số diêm là p n que. 2 hoặc 3 hạt) nên người thứ nhất thắng sau đúng 501 bước đi. Bài 20 (Annual Maritine Mathematics Competition-Thi toán hàng năm miền duyên hải Canada. một trong các số 1. Theo qui tắc chơi.Lời bình Các Bài 10-Bài 18 cho thấy: Trò chơi có mặt khắp noi trong toán (từ số học đến đại số. sau đó đến B và luân phiên nhau. Hai người chơi trò chơi sau đây. đúng luật chơi. 2. Số que diêm còn lại chia hết cho 6. trong đó p là số nguyên tố. người thứ nhất lấy 1 que. từ toán trên bàn cờ đến toán tổ hợp). Như vậy.1. cứ mỗi lần B đi xong anh ta lại lấy 4 − x nên kết quả bao giờ cũng được một số là bội của 4. n = 0. người thứ hai lấy 8 = 23 que. 2. 5. Như vậy. vòng 1) Một đống gồm 1 tỉ que diêm. A đi trước. 4 = 22 . các nước sau anh ta sẽ lấy 4 − x hạt. 5 và 1 tỉ chia cho 6 dư 4 nên bước đầu tiên anh ta lấy 4 que diêm. trong đó x là số hạt đậu mà B vừa lấy ( x bằng một trong các số 1. Sau một số bước người thứ nhất để lại cho người thứ hai đúng 6 que diêm.. 2 hoặc 3 hạt. 2001) A và B tiến hành chơi với 2001 hạt đậu. sau bước đi đầu tiên. 18 . Mỗi bước người chơi có thể lấy từ đống diêm p n que. 3. lớp 10. 4 . 1971. số hạt đậu còn lại là 2000 hạt. Hỏi ai là người chiến thắng? Giải Vì người chơi thứ nhất có quyền chọn số que diêm bằng một trong các số 1. 3. Vậy người nào có chiến thuật để luôn thắng và chiến thuật đó ra sao. 2. nếu đi đúng chiến lược. Tiếp theo.. Người nào lấy que diêm cuối cùng thì người đó thắng.). Do đó người thứ nhất lại lấy số que diêm bằng số dư (theo mod 6 . người thứ nhất lấy 25 que.. Lời bình: Vì chiến lược của người thứ nhất không phụ thuộc vào cách đi của người thứ hai (lấy 1. Một nước đi là một lần lấy khỏi đống hạt đậu đi 1. 5) và để lại số diêm cho người thứ hai là bội số của 6. Người thứ hai chỉ có thể “vớt vát” bàng cách thua lâu nhất nếu mỗi bước đi anh ta lấy đúng 1 que. người thứ hai lấy 5 que. từ hình học đến giải tích. 2 hay 3 hạt. Chiến thuật của anh ta như sau: Nước đi đầu tiên anh ta lấy 1 hạt đậu. A lấy nốt và anh ta thắng. Vì số hạt đậu giảm dần nên cuối cùng chỉ còn bốn hạt. người thứ nhất lấy 49 = 7 2 que. không phụ thuộc vào chiến lược của người thứ hai.

. 3.. cậu ta lấy 2 chiếc và trò chơi phải kết thúc vì cậu bé thứ nhất không ăn (phải ăn 2) cũng không chuyển được nữa và cậu bé thứ hai thắng. 2 hay 3 quân cờ thì số quân cờ còn lại là 3. Tại mỗi bước đi. Người chơi thứ nhất lấy nốt và thắng. Đống thứ nhất có 12 chiếc và đống thứ hai có 13 chiếc. Hỏi n phải bằng bao nhiêu để người chơi thứ nhất có thể dành chiến thắng? Tương tự. Khi ấy chỉ còn có thể lấy số kẹo ở đống thứ hai và do S ≡ 3 ( mod 4 ) khi đến lượt đứa trẻ thứ hai nên cuối cùng chỉ còn ba chiếc kẹo ở đống thứ hai.Bài 21 Hai đứa trẻ chơi trò chơi sau đây với hai đống kẹo. Dưới đây ta chú ý đến điều kiện 1 < k < n . 2 hoặc 1. Hỏi cậu ta có thắng không? Giải Gọi S là hiệu số kẹo của đống thứ hai trừ đi đống thứ nhất. số S theo mod 4 luôn là 3. Vì ở những bước đi đầu đứa trẻ thứ hai luôn có thể lấy ra hai chiếc kẹo ở đống thứ nhất nên đứa trẻ thứ hai có thể làm giảm số kẹo ở đống thứ nhất xuống còn 0 hoặc 1 chiếc. 3. Hãy chỉ ra rằng đứa trẻ thứ hai không thể thua. nếu k = 1 và n bất kì thì do mỗi người lần lượt lấy đi đúng một quân cờ nên nếu n lẻ thì người chơi thứ nhất thắng và n chẵn thì người chơi thứ hai thắng. Người thứ hai lấy một quân cờ hoặc hai quân thì vẫn còn hai hoặc một quân cờ. Với k = 2 thì nếu người thứ nhất lấy một quân cờ thì số quân cờ còn lại là ba. Người thứ nhất lấy nốt và thắng. Lúc đầu S0 = 13 − 12 = 1 . Mỗi đứa trẻ lấy ra hoặc hai viên kẹo từ một đống (để ăn) hoặc chuyển một viên từ đống thứ nhất sang đống thứ hai. Sau mỗi lần chuyển. Người chơi nào đến lượt có thể lấy mọi quân cờ sẽ là người chiến thắng.(bất biến!). có n quân cờ đam trên bàn cờ ( n > 0 ). Với n = 3 thì k chỉ có thể bằng 2 (khi ấy n = k + 1 ). Trường hợp này tầm thường. người chơi lấy ra tối thiểu một quân và tối đa k quân cờ từ bàn cờ ( 1 < k < n cho trước cố định). Với k = 3 thì dù người thứ nhất lấy 1. Với n = 4 thì k chỉ có thể bằng 2 (khi ấy n = ( k + 1) + 1 ) hoặc bằng 3 (khi ấy n = k + 1 ). Như vậy S theo mod 4 sẽ luôn là 1. 19 . 1. Hơn nữa. Vậy cuối cùng đứa trẻ thứ hai có thể làm cho số kẹo ở đống thứ nhất bằng 0. Người thứ hai lấy nốt và thắng. Vì lúc đầu S0 ≡ 1( mod 4 ) nên mỗi lần sau khi đứa trẻ thứ nhất lấy kẹo. Bài 22 (Trò chơi Bachet-Bachet’s games) Đầu tiên. hiệu S sẽ giảm đi 2 (khi lấy ra 2 viên kẹo ở đống thứ hai) hoặc tăng lên 2 (lấy ra hai viên kẹo từ đống thứ nhất hoặc chuyển một viên kẹo từ đống thứ nhất bỏ sang đống thứ hai). Đứa trẻ nào không chuyển được nữa thì sẽ thua. Do 1 < k < 3 nên người thứ nhất chỉ có thể lấy một hoặc hai quân cờ thì vẫn còn lại hai hoặc một quân cờ. Nếu còn một chiếc thì bước tiếp theo (nếu đứa trẻ thứ nhất ăn hai chiếc kẹo ở đống thứ hai) đứa trẻ thứ hai chuyển nốt chiếc kẹo ở đống thứ nhất sang đống thứ hai. n phải bằng bao nhiêu để người chơi thứ hai có thể thắng? Giải Trước tiên ta nhận xét rằng nếu n = 2 thì k chỉ có thể bằng 1 và người thứ hai thắng.

Người thứ nhất buộc phải lấy một hoặc hai viên kẹo. Hai người thay phiên nhau bốc kẹo. Sau đó chỉ còn lại ( k + 1) q quân cờ. Người thứ hai buộc phải phá vỡ trạng thái thua. n1 = ( k + 1) q − p = ( k + 1)( q − 1) + r1 với 0 < r1 = ( k + 1) − p < k +1 . 6} . 2. Nếu n = ( k + 1) q thì vai trò của người thứ nhất và người thứ hai đổi nhau. Lúc đầu trên bàn có 100 viên kẹo. 5 hoặc 1 viên kẹo. Với n = 5 người thứ nhất bốc 2 viên còn ba viên và sau đó thắng. Bài 23 Hai người A và B chơi một trò chơi. Người thứ hai chỉ có thể lấy ra p quân cờ với 1 ≤ p ≤ k . Cứ tiếp tục như vậy. số quân cờ còn lại trên bàn cờ sẽ giảm và cuối cùng người thứ nhất thắng. tức là mọi chiến lược của người thứ nhất đều đưa người thứ hai về trạng thái thắng. 6 . tức là người thứ nhất luôn có thể đưa người thứ hai về trạng thái thua (số quân cờ chia hết cho k + 1 ). Nếu còn 6 hoặc 1 viên kẹo thì người thứ hai thắng ngay. Khi ấy người thứ nhất thắng ngay từ bước đi đầu tiên. Trong các trường hợp còn lại ( 5 khả năng) thì người thứ nhất thắng.1. còn ba viên. ta có bảng sau: n mod 7 thắng 1 1 1 2 2 1 3 3 2 4 4 1 5 5 1 6 6 1 7 0 2 8 1 1 9 2 1 10 3 2 11 4 1 12 5 1 13 6 1 14 0 2 15 1 1 16 2 1 17 3 2 Từ đây ta phát hiện ra (dự đoán) qui luật sau: người thứ hai thắng nếu n ≡ 0 ( mod 7 ) hoặc n ≡ 3 ( mod 7 ) . tức là buộc phải đưa người thứ nhất về trạng thái thắng (số quân cờ còn lại không chia hết cho k + 1 ). 20 . nếu n = ( k + 1) q + r nếu 0 < r < k + 1 thì người chơi thứ nhất có thể giành chiến thắng bằng cách lấy đi r quân cờ. nếu n không là bội của k + 1 thì người thứ nhất thắng.. Do đó số quân cờ còn lại là n1 = ( k + 1) q − p không chia hết cho ( k + 1) . Chứng minh (quy nạp): Gọi số kẹo là n. Ta sẽ chứng minh dự đoán trên bằng qui nạp theo k . còn lại 2 hoặc 1 viên đến lượt người thứ hai bốc nốt và thắng. 2. Nếu n = 3 thì người thứ hai thắng vì người thứ nhất chỉ có thể bốc 1 hoặc 2 viên. Với n = 4 người thứ nhất bốc 1 viên. Người thứ nhất lại lấy r1 ( 1 ≤ r1 ≤ k ) quân cờ. Người thứ hai chỉ có thể bốc 1 hoặc 2 viên và người thứ nhất thắng.. Hỏi ai là người có chiến thuật thắng? Giải Ta sử dụng lập luận tính ngược từ cuối: Giả sử ban đầu có 1. Đặt n = 7 k + r với r = 0.Từ phân tích trên ta đi đến nhận xét rằng.. mỗi lần bốc được k viên với k ∈ {1. Suy luận tương tự. Với n = 7 người thứ hai thắng vì cả ba cách đi dẫn đến còn 6. nếu còn 5 viên kẹo thì người thứ hai thắng sau 2 bước (lấy ra hai viên kẹo.. còn 3 viên. tức là. Thật vậy. 2. người thứ hai lấy nốt và thắng). 6 viên kẹo. Trong trường hợp ngược lại người thứ hai sẽ thắng.

đẩy người thứ nhất vào thế thua như chứng minh trên. 2. 2. 6 thì người thứ nhất thắng và r = 0 hoặc r = 3 thì người thứ hai thắng. Vậy nếu r = 4 hoặc r = 5 thì người thứ nhất thắng. vì nó đưa tập hợp vô hạn các số nguyên về hữu hạn các lớp đồng dư. Đến lượt người thứ hai (trở thành người đi đầu tiên). Nếu r = 0 .Với k = 0 thì khẳng định đúng theo phân tích trên. 6 thì người thứ nhất lấy ra r viên kẹo.. Nếu r = 4 (hoặc r = 5 ) thì cả ba cách bốc đều dẫn đến người thứ nhất thắng.. trang 32) Cho tam giác đều ABC có cạnh bằng 1. ở đây ta còn sử dụng phương pháp qui nạp và phương pháp tính ngược từ cuối. M337. 2 viên) thì đều còn lại 7 ( k + 1) + 3 viên ( ≡ 3 ( mod 7 ) ). vòng 2) Hai người chơi trò chơi sau đây. lớp 9. Thật vậy. 1976. nếu người thứ nhất bốc 1 viên thì còn lại 7 ( k + 1) + 2 viên. người thứ nhất chỉ có thể bốc tương ứng 1. còn lại 7 ( k + 1) . Mỗi người chơi lần lượt gạch một trong các số 1. thì người thứ hai thắng.. Người thứ hai lấy ra 1. No4. Nếu r = 1. còn lại 7 k + 3 viên ( ≡ 3 ( mod 7 ) ). 1969. Bài tập Bài 24 (Vô địch Moscow lần thứ 32. Người thứ hai bốc 2 viên. 7 k + 5 hoặc 7 k + 1 viên. Nếu tổng hai số này chia hết cho 5 thì người thứ nhất thắng. 7 k + 5 hoặc 7 k + 1 viên. Người thứ hai thua theo qui nạp. Còn lại n = 7 ( k + 1) ≡ 0 ( mod 7 ) . Giả sử qui nạp n = 7 k + r với r = 1. Các trường hợp khác người thứ nhất thắng. tức là n = 7 ( k + 1) thì cả ba cách bốc đều dẫn đến người thứ nhất thua. lại đẩy người thứ nhất vào thế thua. Hỏi ai sẽ là người thắng cuộc? Bài 25 (Kvant.5. Lời bình Phương pháp môđulô cực kì lợi hại trong các bài toán với các biến nguyên. người thứ nhất bốc 1 viên (tương ứng. 2 hoặc 6 viên. người chơi thứ hai chọn điểm Y trên 21 . Xét n = 7 ( k + 1) + r = 7 k + 7 + r . còn lại 7 ( k + 1) . 2. đẩy người thứ hai (đến lượt đi) vào thế thua như chứng minh trên. Người thứ hai thắng theo qui nạp. Người thứ hai bốc 1 viên. Thật vậy. Thật vậy. Người chơi thứ nhất chọn điểm X trên cạnh AB. Nếu người thứ nhất bốc 6 viên thì còn lại 7 k + 4 viên. 2 hoặc 6 viên. còn lại 7 k + 6 . Nếu người thứ nhất bốc 2 viên thì còn lại 7 ( k + 1) + 1 viên. Người thứ hai bốc 1 viên. Kết luận: Người thứ nhất thua khi n ≡ 0 ( mod 7 ) hoặc n ≡ 3 ( mod 7 ) . nếu không chia hết cho 5. 3. Vậy nếu r = 3 thì cả ba cách bốc đều dẫn đến người thứ nhất thua. Còn lại 7 k + 6 .. Ngoài ra. đến lượt người thứ nhất. Người thứ hai thắng theo qui nạp. 4. 27 cho đến khi chỉ còn hai số. Nếu r = 3 thì cả ba cách bốc đều dẫn đến người thứ nhất thua.

Hãy chỉ ra rằng người chơi thứ hai luôn ngăn được người thứ nhất giành chiến thắng. còn người thứ hai đặt nó vào một chỗ nào đó theo ý thích của mình vào một trong các dấu * ở hình dưới. Sau đó người chơi thứ nhất chọn điểm Z trên cạnh AC. vòng 2) Hai nhà thông thái chơi trò chơi sau đây. thì người đó ăn nốt và thắng cuộc.cạnh BC. lớp 8 và lớp 10) Mỗi người chơi lần lượt viết lên bảng một số không vượt quá số p cho trước. sau đó chia một đống khác thành hai phần (không nhất thiết bằng nhau). Người chơi thứ nhất chọn một ô vuông và đánh dấu là O. Hãy chỉ ra chiến lược ấy.. lớp 7. Sau đó người thứ hai trả cho người thứ nhất số điểm bằng hiệu giữa các số đó. Nếu cuối cùng ai đóng kín được các đường đã nối thì người đó thắng. 1968. Sau đó người thứ nhất lại gọi một số và cứ 22 . Một người gọi một số. lớp 10... 2. Hỏi ai là người thắng cuộc.. Bài 26 (Vô địch Israel. và chiến lược chơi như thế nào để thắng? Bài 28 (Vô địch Moscow lần thứ 32. vòng 2) Có 1977 chiếc đinh được đóng trên một cái bảng. 1995) Hai người chơi cờ carô trên một bảng ô carô vô hạn.. còn lại hai số. nếu chiến lược của cả hai đều đúng. Người thứ hai gạch 256 số còn lại. Khi ấy người đó thắng. b) Hỏi ai là người chiến thắng nếu p = 1000 ? Bài 31 (Vô địch Liên Xô lần thứ 6. lớp 8) Hai người chơi một trò chơi sau đây. Nếu ai đó không thể chia được nữa. 1972. Qui tắc của trò chơi cấm viết lên bảng các số là ước số của các số đã viết.. Luật chơi như sau: Mỗi người chơi ăn một chiếc kẹo từ một trong các đống.Đến bước thứ 10 người thứ hai gạch một số.. người chơi thứ hai chọn một ô vuông khác và đánh dấu là X. Người thứ nhất gạch 512 số trong các số 1. Bài 29 (Vô địch Moscow lần thứ 40. Người nào không viết được nữa người đó sẽ thua. Lúc đầu đống thứ nhất có 33 chiếc và đống thứ hai có 35 chiếc. hỏi ai là người có chiến lược thắng. Mục đích của người chơi thứ nhất là làm cực đại chu vi tam giác XYZ và mục đích của người chơi thứ hai là làm cực tiểu chu vi tam giác XYZ. Hỏi ai thắng cuộc (không cho phép nối lại hai chiếc đinh đã được nối)?. 3. 1024. Bài 27 (Vô địch Moscow lần thứ 31. 1987. Hai người chơi cho đến khi một trong hai người có được một dòng hoặc một cột năm ô vuông đánh dấu liên tiếp. Người thứ nhất lại gạch 128 số. lớp 10) Hai người chơi một trò chơi sau đây với hai đống kẹo. Hai người chơi trò chơi sau đây: Mỗi người nối hai chiếc đinh bằng một sợi dây. tức là chỉ còn một chiếc kẹo. Hỏi ai sẽ là người có lợi hơn? Hỏi người thứ hai phải trả cho người thứ nhất bao nhiêu. Hỏi người chơi thứ nhất có thể đảm bảo cho mình chu vi lớn nhất của tam giác XYZ là bao nhiêu? Lời giải Khó hơn nhiều so với Bài 15. 1969. 1977. b) Với p = 10 . Bài 30 (Vô địch Liên Xô lần thứ 21.

. sau đó đến lượt B. Như vậy. Cạnh có định hướng được gọi là cung. nếu hai đỉnh tùy ý thuộc N đều không kề nhau (không có cạnh hoặc cung nối với nhau). B đi lượt cuối). nếu mỗi đỉnh x tùy ý nằm ngoài tập M ( x ∉ M ) đều có ít nhất một đỉnh y thuộc tập M ( y ∈ M ) để hoặc x và y được nối bởi một cạnh hoặc có một cung đi từ x vào y . B thắng nếu thực hiện chiến thuật sau: 1) Nếu A lấy ba viên bi ở ba cạnh đỏ khác nhau.3 Công cụ đồ thị (graph) Đồ thị (graph) là một công cụ rất hữu hiệu trong Toán trò chơi. Tập con M các đỉnh của đồ thị được gọi là tập ổn định ngoài. Ai đến lượt. Định nghĩa 2 Tập con N các đỉnh của đồ thị được gọi là tập ổn định trong.. Ở đây chỉ đưa ra một vài ví dụ có tính chất minh họa và gợi ý. 2. 2) Nếu A lấy hai viên bi ở một cạnh đỏ và 1 viên ở cạnh khác thì B lấy nốt viên còn lại ở cạnh ấy và hai viên ở một cùng cạnh khác. lúc nào cũng còn tất cả các cạnh nguyên vẹn (còn đủ hai viên bi ở hai đỉnh kề).như vậy 8 lần. Hai người chơi trò chơi như sau. [5] và [6]. Nếu hai viên bi này nằm trên hai đỉnh kề nhau của 2012-giác đều thì B thắng. còn lại 2 viên trên cùng một cạnh (hai đỉnh kề).. Định nghĩa 1 Đồ thị (graph) hữu hạn là một bộ hai tập hợp hữu hạn: Tập hợp các đỉnh và tập hợp các cạnh nối hai đỉnh với nhau. Ngược lại A thắng. Có thể tham khảo thêm các tài liệu [2].. người đó phải lấy đi 3 viên bi. Giải Xây dựng một đồ thị với tập đỉnh là tập tất cả 2012 đỉnh của 2012-giác lồi và cạnh của đồ thị gồm 1006 cạnh của đa giác đôi một không kề nhau (đánh số các đỉnh từ 1 đến 2012. Hai cạnh của một graph có chung một đỉnh được gọi là hai cạnh kề. Người thứ nhất có mục đích nhận được hiệu giữa hai số ở hai dòng càng lớn càng tốt. Hãy chứng minh rằng: 1) Người thứ hai có thể đặt các số để hiệu nhận được không lớn hơn 4000. Vậy B thắng. Họ chơi cho đến khi còn lại 2 viên bi. không phụ thuộc vào các số mà người thứ nhất gọi. Tô màu đỏ các cạnh này. thì B lấy nốt ba viên bi ở ba đỉnh còn lại của các cạnh này. Sau 2012:3=670 lượt đi (mỗi người 335 lượt. Hai đỉnh khác nhau của một graph được gọi là hai đỉnh kề hay hai đỉnh láng giềng nếu chúng được nối với nhau bởi một cạnh hoặc một cung. Bài 32 Trên mỗi đỉnh của 2012-giác lồi đặt một viên bi. Người thứ hai muốn hiệu này càng nhỏ càng tốt. Hỏi ai thắng và thắng bằng cách nào. A bắt đầu đi. 23 . Nối đỉnh số 2k − 1 với đỉnh số 2k . * * * * không phụ thuộc vào vị trí các số mà người thứ hai đặt.1006 ). * * * * 2) Người thứ nhất có thể gọi các số sao cho hiệu không nhỏ hơn 4000. k = 1.

Vì mỗi người đến lượt phải bốc ít nhất một viên bi và nhiều nhất ba viên nên: +) Tại đỉnh u ( 3 ≤ u ≤ 14 ) xuất phát đúng 3 cung được dán nhãn 1. Tức là A bốc 2 viên bi. 3. A xuất phát từ đỉnh 11 đi theo cung dán nhãn 3. dễ dàng thấy rằng N là tập ổn định trong. 8. nếu S vừa là tập ổn định trong. 3) Người đến lượt mà không chọn được đỉnh là thua cuộc. u ∪ 2 . 2. mà mỗi đỉnh này hoặc có cạnh nối với đỉnh của người đi trước vừa chọn hoặc từ đỉnh mà người đi trước vừa chọn có cung đi tới nó. Cách giải 1 (Đồ thị) Xây dựng đồ thị G có 15 đỉnh tương ứng với 15 khả năng (0. +) Tại đỉnh 1 xuất phát cung duy nhất với nhãn 1 để đi tới đỉnh 0. Vậy N = {0.Tập con S các đỉnh của đồ thị G được gọi là nhân của đồ thị G . 2. u ∪ 3 . Bước 3: Tùy theo B đã chọn cung nào. B thực hiện trò chơi chọn đỉnh đồ thị theo nguyên tắc sau: 1) Người đi đầu xác định ngẫu nhiên. 4. Hỏi ai thắng và chiến lược để thắng.…. 4. 12. Trò chơi chọn đỉnh đồ thị Hai đấu thủ A. 2) Người đi đầu được chọn đỉnh tùy ý. Mỗi người lần lượt bốc số bi ít nhất một viên và không quá ba viên. Cụ thể. A (đi đầu) chọn được đỉnh thuộc nhân nên theo định lí trên A thắng. Đồ thị G có nhân N gồm các đỉnh 0. 8. thì bảo đảm đấu thủ đó thắng hoặc hòa. 2. để lại trên bàn 11. vì các đỉnh không thuộc N đều có cạnh hoặc cung nối với các điểm trong N . 24 . vừa là tập ổn định ngoài của G. 1. vì các đỉnh này không có cạnh hoặc cung nối. Bài 33 Trên bàn gồm 14 viên bi. Thật vậy. Người đi sau phải căn cứ vào đỉnh mà người đi trước vừa chọn và chỉ được chọn một trong các đỉnh. 2 hoặc ba viên bi. +) Tại đỉnh 2 xuất phát 2 cung với nhãn 1. 3 để đi tới các đỉnh tương ứng u ∪1 . 14) số bi trên bàn. 12} là nhân của đồ thị. Hai em A và B chơi trò chơi như sau. Khi ấy B đi đến một trong các đỉnh 11. 2 để đi tới các đỉnh tương ứng 1 và 0. còn lại 12 viên. Bước 2: B xuất phát từ đỉnh 12 buộc phải đi theo một trong các cung có nhãn 1. 10. Hơn nữa. Tức là B bốc 1. A sẽ xuất phát từ đỉnh tương ứng. 10 hoặc 9 viên. trên bàn còn 8 viên bi. N là tập ổn định ngoài. Chiến lược của A (đi đầu) để thắng cụ thể như sau: Bước 1: A xuất phát từ đỉnh 14 đi theo cung nhãn 2 để đạt được đỉnh 12 thuộc N . Ai đến lượt mà hết bi để bốc là thua cuộc. xuất phát từ đỉnh 10 đi theo cung dán nhãn 2 hoặc xuất phát từ đỉnh 9 đi theo cung dán nhãn 1 để đến đỉnh 8. Định lí (xem [6]) Nếu đồ thị G có nhân mà đấu thủ nào đến lượt chọn được đỉnh thuộc nhân. 9.

Định nghĩa 3 Đường đi của một graph là một dãy kế tiếp các cạnh trong đồ thị nếu chúng không đi qua đỉnh nào của graph quá một lần. Bước 7: A xuất phát từ đỉnh 3 đi theo cung nhãn 3. 5. 6 hoặc 5 viên bi. Tức là B bốc 1. Cụ thể: Bước 1: A bốc 2 viên bi. A đặt quân mã lên ô bất kì của bàn cờ. Rõ ràng B có thể thắng A nếu bằng cách luôn dẫn con mã theo các cạnh của tập hợp 32 cạnh được đánh dấu này. Bước 4: B buộc phải bốc 1. Bước 2: B buộc phải bốc 1. 2. Vậy A là người chiến thắng. tức là không có bi để bốc nên thua cuộc. Cách giải 2 (Môđulô) Chiến lược của A (đi trước) là đưa B về trạng thái thua bằng cách lấy số bi dư của 14 theo mod 4 . 2 hoặc ba viên bi. Bài toán tìm chu trình Hamilton là bài toán quan trọng trong lí thuyết đồ thị. 2. Bước 5: A xuất phát từ đỉnh 7 đi theo cung dán nhãn 3. để lại trên bàn 3. 1. 2. xuất phát từ đỉnh 2 đi theo cung dán nhãn 2 hoặc xuất phát từ đỉnh 1 đi theo cung dán nhãn 1 để đến đỉnh 0. để lại trên bàn 7. để lại trên bàn 4 viên bi. Bước 3: A bốc 3. 2 hoặc ba viên bi. 2 hoặc ba viên bi. Sau đó B dẫn con mã đi một bước trên bàn cờ theo qui tắc bước nhảy thông thường của con mã. 2. Đường đi khép kin (chu trình Hamilton) của một graph là một dãy các cạnh kế tiếp khép kín sao cho mỗi đỉnh của graph được đi qua không quá một lần. Lời bình Khá nhiều bài toán trò chơi giải được bằng kĩ thuật môđulô thì cũng giải được bằng đồ thị. Bước 6: B xuất phát từ đỉnh 4 buộc phải đi theo một trong các cung có nhãn 1. Hỏi ai sẽ thắng và thắng bằng cách nào? Giải Xây dựng một đồ thị với các đỉnh là 64 ô trên bàn cờ. để lại trên bàn 3. để lại trên bàn 11. hoặc 1 viên. hoặc 1 viên. Tức là B bốc 1. Do số đỉnh (bằng 32) là chẵn. Mỗi ô trên bàn cờ chỉ được đến một lần. để lại trên bàn 8 viên bi. Bước 5: A bốc 3. để lại trên bàn 7. 2 hoặc 1 viên.Bước 4: B xuất phát từ đỉnh 8 buộc phải đi theo một trong các cung có dán nhãn 1. 6 hoặc 5 viên. xuất phát từ đỉnh 6 đi theo cung dán nhãn 2 hoặc xuất phát từ đỉnh 5 đi theo cung dán nhãn 1 để đến đỉnh 4. Vì đỉnh 0 không có cung nào nên đến lượt B không có đỉnh để chọn. 3 và đến một trong các đỉnh 7. Bước 6: B buộc phải bốc 1. nên ta có thể tìm được một bộ 32 cạnh đôi một không liền kề. 2 hoặc ba viên bi. còn lại trên bàn 12 viên. 10 hoặc 9 viên. 25 . 2 hoặc 1 viên. Bài 34 (Đường đi của con mã) Hai người chơi một trò chơi trên bàn cờ 8 × 8 như sau. 2 hoặc ba viên bi. còn hai ô được nối với nhau bởi một cạnh nếu con mã có thể nhảy từ ô này tới ô kia. 6. 3 và đến một trong các đỉnh 3. Bước 7: A bốc nốt và thắng cuộc. 2.

Đồ thị này có một chu trình Hamilton. 26 . Vậy B đi trước thắng. Nhà toán học Abraham de Moivre đã tìm được đường đi mở đầu tiên của con mã đi tuần. Bài toán con mã đi tuần có lịch sử ít nhất là hơn 1000 năm. thì ta được mỗi “góc tư” 4 × 4 lại là một “nửa ma phương” với hằng số bằng nhau trong cả bốn hình vuông 4 × 4 là 130. mỗi ô đúng một lần. Nếu sau đó con mã lại trở về vị trí xuất phát thì ta gọi đó là đường đi đóng. Một đường đi mở của quân mã do Uliam Beverli tìm ra năm 1848 (Hình 3) cũng khá thú vị: Beverli là người đầu tiên tìm ra “đường đi nửa ma phương”. Lời giải này của Euler còn có một điều thú vị nữa: do được ghép bởi hai đường đi mở trên hai chữ nhật 4 × 8 đối xứng. Đường đi đóng đầu tiên do nhà toán học người Pháp Adrien-Marie Legendre (1752-1833) tìm ra (Hình 1). Đây chưa phải là ma phương vì tổng các số trên đường chéo không bằng 260. 37 62 43 56 35 60 41 50 44 55 36 61 42 49 34 59 63 38 53 46 57 40 51 48 54 45 64 39 52 47 58 33 1 26 15 20 7 32 13 22 31 16 19 8 Hình 1 (Adrien-Marie Legendre) Hình 2 (Leonard Euler) 25 14 21 6 27 2 18 9 17 10 29 4 29 3 23 12 24 11 30 5 Hình 2 là một đường đi đóng của quân mã do nhà toán học Leonard Euler tìm ra năm 1759. nếu không thì ta gọi là đường đi mở. . nên hiệu giữa hai số bất kì đối xứng qua tâm của bàn cờ (đoạn thẳng nối hai điểm ấy nhận tâm bàn cờ làm điểm giữa) luôn luôn bằng 32. Đường đi đóng này được xây dựng bằng cách ghép hai đường đi mở trên hai bàn cờ 4 × 8 (các số trên mỗi ô là kí hiệu thứ tự các bước đi). Người cuối cùng không có bước đi là A. tức là tổng các số đứng trên mọi hàng và mọi cột là 260. Lời bình Đây là một cách phát biểu khác của bài toán con mã đi tuần (trò chơi một người): Tìm đường đi của con mã trên bàn cờ sao cho nó có thể nhảy qua tất cả các ô. Nếu sau đó lại “chia bốn” để được các hình vuông 2 × 2 thì tổng các số trong bốn ô của mỗi hình vuông 2 × 2 cũng bằng 130. Nếu chia bàn cờ vuông 8 × 8 với đường đi trên thành bốn bàn cờ nhỏ 4 × 4 .

Biểu diễn số này qua lũy thừa của 2 ta được: 2011 = 210 + 29 + 28 + 27 + 26 + 24 + 23 + 21 + 20 .000 đường đi đóng.123.484. đường đi “mở đến vô cùng” do Dan Thomason tìm ra năm 2001 (Hình 4) hay các đường đi không tự cắt. 2. Năm 1995 Martin Löbbing và Ingo Wegener đã chạy trên dàn 20 máy tính Sun workstations trong vòng bốn tháng để tìm ra số đường đi của quân mã bằng 33. tôi sẽ khẳng định được bạn đã chọn số nào.000. trong đó có khoảng 122. bạn chỉ có quyền trả lời “đúng” hoặc “sai”. 27 . Hỏi phép chia có dư hay không? Nếu bạn trả lời là “không” thì tôi viết số 0. trong đó có các bài toán trò chơi. Bài 35 Giả sử bạn chọn một số bất kì nào đó trong khoảng từ 1 đến 1000. Dựa trên 10 câu trả lời của bạn. thí dụ. Viết các hệ số (bằng 0 hoặc 1) theo thứ tự lũy thừa giảm dàn từ phải sang trái. ta có thể biểu diễn 2011 qua hệ đếm cơ số 2 như sau: 2011 = (11111011011)2 .Hình 3 Hình 4 Tồn tại rất nhiều các đường đi “nửa ma phương”. Rất nhiều “bước nhảy đẹp” (đường đi đẹp) của con mã. Tại sao? Giải Các câu hỏi lần lượt như sau. còn nếu câu trả lời là “có” thì tôi viết số 1. nhưng không có một đường đi nào cho tổng các số trên đường chéo bằng tổng các số trên một hàng hay một cột (không tồn tại “đường đi ma phương”).439. Một số thực đều có thể biểu diễn dưới dạng một số trong hệ đếm cơ số 2 (hệ nhị phân). đường đi “lọ hoa” và đường đi “bông hoa”… Bạn đọc có thể tìm trên mạng hoặc xem trong [4] các đường đi này. Câu thứ nhất: Lấy số đã chọn chia cho 2. Tồn tại rất nhiều đường đi đóng và đường đi mở của con mã trên bàn cờ vuông 8 × 8 truyền thống. Tôi sẽ hỏi bạn 10 câu hỏi. thí dụ. cả đường đi mở và đường đi đóng. trong [4] còn có cả các đường đi của con mã trên bàn cờ Phong Vân 9 ×10 ô (tác giả Đoàn Hữu Dũng). 2011.4 Công cụ Hệ đếm Lấy một số bất kì.294 (gần 33 tỷ rưỡi!). Hệ đếm là một công cụ tốt để giải nhiều dạng toán.

. b và c viên sỏi... + c1. 667 Vậy số ban đầu bạn chọn là 667. hai người chơi lần lượt lấy một số sỏi bất kì (tối thiểu một viên cho đến cả đống sỏi) từ một trong ba đống đó (và mỗi lần chơi chỉ lấy sỏi từ một đống). Kiểm tra lại: 667=333 × 2+1=(166 × 2+1) × 2+1=((83 × 2) × 2+1) × 2+1 =(((41 × 2+1) × 2) × 2+1) × 2+1=((((20 × 2+1) × 2+1) × 2) × 2+1) × 2+1 =(((((10 × 2) × 2+1) × 2+1) × 2) × 2+1) × 2+1=(((((5 × 2) × 2+1) × 2+1) × 2) × 2+1) × 2+1 =((((((2 × 2+1) × 2) × 2+1) × 2+1) × 2) × 2+1) × 2+1 =(((((((1 × 2) × 2+1) × 2) × 2+1) × 2+1) × 2) × 2+1) × 2+1 =29+27+24+23+2+1=(1010011010)2. Ai là người nhặt viên sỏi cuối cùng thì người đó thắng. ta gọi ba đống sỏi là các đống thứ nhất. ta khôi phục được số ban đầu.2n + bn −1..2 + b0 = ( bnbn −1. Hỏi phép chia có dư hay không? Nếu câu trả lời là “không” thì tôi viết số 0. c = cn . Như vậy.binary).2n + cn −1. thứ hai và thứ ba. Có hay không một chiến lược chơi để thắng? Giải Ngày nay các viên sỏi thường được thay thế bởi các đồ vật khác.2 + a0 = ( an an −1. + b1. Trong hệ đếm cơ số 2. Do số ban đầu chưa biết nên bây giờ chỉ cần chuyển số nhận được trong hệ đếm cơ số 2 sang hệ đếm cơ số 10. thí dụ..c1c0 )2 .. Đổi số này sang hệ đếm cơ số 2 nhờ Maple: [> convert(1010011011. còn nếu câu trả lời là “có” thì viết số 1 trước số đã viết.a1a0 )2 . + a1.2n −1 + . Giả sử trong mỗi đống có a .2n + an −1. 28 . Sau 10 lần trả lời. sau 10 lần trả lời. hệ thống 10 câu hỏi trên chính là cách chuyển một số đã cho (nhỏ hơn 1000) từ hệ đếm cơ số 10 sang hệ đếm cơ số 2.. Hỏi phép chia có dư không? Nếu câu trả lời là “không” thì viết số 0.. Nội dung của trò chơi này như sau: Có ba đống sỏi.. ta nhận được 10 chữ số chỉ gồm các chữ số 0 và 1. Các câu hỏi tiếp theo cũng tương tự: Lấy thương của phép chia vừa xong chia cho 2.2n −1 + ..2n −1 + . Để giải bài toán này ta sẽ sử dụng hệ đếm cơ số 2.decimal. 10 câu hỏi là đủ. còn nếu câu trả lời là “có” thì tôi viết số 1 vào trước số đã viết (số 0 hoặc số 1) của câu trả lời thứ nhất. Thí dụ.Câu thứ hai: Lấy thương của phép chia vừa rồi chia cho 2. các que diêm. vì vậy người ta cũng gọi trò chơi này là trò chơi “ăn diêm”.. Bài 36 (Trò chơi Nim) Người Trung Quốc thời xưa có trò chơi gọi là trò chơi Nim.2 + c0 = ( cn cn −1. ta nhận được số 1010011010.b1b0 )2 . bởi vì mọi số từ 1 đến 1000 đều có thể viết được dưới dạng một số trong hệ đếm cơ số 2 với không quá 10 chữ số (vì 210 = 1024 = 100000000002 ). các số này được biểu diễn dưới dạng a = an .. Hơn nữa. b = bn .

... Người chơi đầu tiên sẽ lấy một số sỏi từ một trong ba đống. i = 0. Thực hiện được chiến lược này nhờ cách đi như sau. anh ta sẽ sử dụng chiến lược như người chơi thứ nhất thực hiện khi số sỏi ban đầu là lẻ (như chiến lược đã trình bày ở trên) và anh ta sẽ thắng.. thì sau lần đi đầu tiên của người thứ nhất. 29 . Khi ấy người chơi thứ nhất lấy một lượng sỏi d từ đống thứ nhất sao cho tất cả các tổng ai + bi + ci ... i = 0. thí dụ. thì các hệ số bi .. i = 0. n (hoặc ci ) sẽ thay đổi. ak = 1 ... Tiếp tục cách làm trên. i = 0. c cùng có bậc cao nhất là 2n . an−1 . i = 0.. b. thí dụ. n có giá trị 0 hoặc 1.. 3 . sau một số hữu hạn q bước. bn . ak +1 của a và a′ bằng nhau... để tiện trình bày.. a0 + b0 + c0 . Điều này dễ dàng làm được vì nếu cần ta có thể thêm các hệ số bằng 0. tất cả các tổng ai + bi + ci ..... Nếu ban đầu tất cả các tổng ai + bi + ci . sau khi người thứ nhất đi bước đi đầu tiên. i = 0. phải bằng 0 (vì tổng số sỏi giảm thực sự sau mỗi bước). n là chẵn.... bi . người thứ nhất sẽ lấy đi một số sỏi từ một đống để được tất cả các tổng ai + bi + ci . 2. Như vậy.. Tương tự... tức là không còn viên sỏi nào sau bước đi thứ q của người thứ nhất. a1 + b1 + c1 . n là chẵn. tức là ta không đòi hỏi tất cả các hệ số an . i = 0.…... n là chẵn.. trong đó ai′ = ai nếu ai + bi + ci . n là chẵn.a1a0 . vì vậy. bk . cho dù anh ta lấy đi bao nhiêu sỏi từ một đống bất kì nào đó.. i = 0. k − 1 là chẵn và ai′ = 1 − ai nếu ai + bi + ci là lẻ. Bây giờ giả sử người chơi thứ hai lấy một số sỏi bất kì. Vì các hệ số ai . Nếu một trong các tổng trên là lẻ (tức là nhận giá trị 1 hoặc 3) thì người chơi thứ nhất có thể thắng nhờ chiến lược sau: Tại mỗi bước đi.. thì có ít nhất một tổng ai + bi + ci bắt buộc phải lẻ.. bi ... ci . tức là người chơi thứ nhất có thể chọn được một chiến lược theo qui tắc nêu trên. Để làm việc này chỉ cần lấy d viên sỏi sao cho số sỏi còn lại từ đống thứ nhất sẽ là ′ ′ ′ a′ = an an−1. n sẽ bị thay đổi.Các hệ số ai . Giả sử. ta đã viết biểu diễn của a. i = 0. nếu lấy sỏi từ đống thứ hai (hoặc từ đống thứ ba). ci . i = 0. Ở đây... 1.. n chỉ nhận giá trị 0 hoặc 1 nên mỗi tổng này chỉ nhận một trong bốn giá trị 0. đến lượt người chơi thứ hai....ak +1 0ak −1. mà hệ số ak của a′ bằng 0 nên a > a′ và d = a − a′ > 0 . Khi ấy các hệ số ai .... Xét các tổng an + bn + cn . tất cả các tổng ai + bi + ci .. từ đống thứ nhất. n . thí dụ. tức là có ít nhất một trong ba số ak .. cn phải khác 0. an −1 + bn −1 + cn −1 . còn hệ số ak của a bằng 1. d ′ viên từ một đống nào đó.... Do các hệ số an . và anh ta thắng... ck bằng 1. Giả sử ak + bk + ck là tổng đầu tiên (tính từ trái sang phải) là lẻ. nhưng vì n là bậc cao nhất nên ít nhất một trong các hệ số đó phải khác 0. Vì d ′ khác 0 nên bắt buộc ít nhất một trong các tổng ai + bi + ci phải thay đổi từ chẵn sang lẻ.

a4 = b4 = 0 . a2 + b2 + c2 = 3 . a1 + b1 + c1 = 1 là các số lẻ. a = 3 = ( 00011)2 . Lần 1: Ta có a3 + b3 + c3 = 1 . c4 = 1 . dù biết hay không biết chiến lược. Số sỏi còn lại ở các đống là: Bây giờ ta lại có a4 + b4 + c4 = 0 . a3 + b3 + c3 = 1 . c = 23 = (10111)2 . a3 + b3 + c3 = 2 . c = 23 . a1 + b1 + c1 = 2 . Bây giờ ta có a0 + b0 + c0 = 2 . a3 + b3 + c3 = 1 . Số sỏi còn lại ở các đống là: a = 13 − 10 = 3 = ( 00011)2 . b = 20 = 101002 . a1 + b1 + c1 = 2 . a3 + b3 + c3 = 0 . Người chơi thứ hai. Lần 2: Do a4 + b4 + c4 = 1 . trong đó a3 + b3 + c3 = 1 là số lẻ đầu tiên. Tổng các hệ số: a4 + b4 + c4 = 2 . c = 23 = 24 + 22 + 2 + 1 = (10111)2 = ( c4 c3c2 c1c0 )2 . a1 + b1 + c1 = 2 . b3 = c3 = 0 và a = 011012 và các tổng ai + bi + ci có tính chẵn lẻ như trên nên người chơi thứ nhất sẽ lấy d viên sỏi từ đống thứ nhất sao cho số sỏi còn lại là a′ = 000112 = 3 (tức là d1 = a − a′ = 011012 − 000112 = 010102 = 10 ). Người chơi thứ hai lấy ra số sỏi bất kì. là cách duy nhất (trong thí dụ cụ thể này) đảm bảo cho người chơi thứ nhất đi đến thắng lợi. thí dụ. c = 1 = ( 00001)2 . Thí dụ Giả sử người chơi thứ nhất biết chiến lược để thắng. Giải Ta có a = 13 = 23 + 22 + 1 = 11012 = 011012 = ( a4 a3a2 a1a0 )2 . số sỏi còn lại ở ba đống là: a = 3 = 2 + 1 = ( 00011)2 . 30 . a0 + b0 + c0 = 2 . a2 + b2 + c2 = 2 . a1 + b1 + c1 = 1 . c = 23 = 24 + 22 + 2 + 1 = (10111)2 . 10 viên từ đống thứ ba. Hãy thực hiện chiến lược trong trò chơi Nim với a = 13 . thí dụ d1′ = 12 = ( 01100 )2 từ đống thứ hai. Khi ấy số sỏi còn lại ở ba đống là: a = 3 = 2 + 1 = ( 00011)2 . a0 + b0 + c0 = 2 . a2 + b2 + c2 = 0 . cũng phải chọn một số sỏi từ một đống nào đó. a0 + b0 + c0 = 2 . c = 23 − 12 = 11 = 010112 . b = 20 . a4 + b4 + c4 = 2 . tức là chọn d 2 = c − c′ = (10111)2 − ( 01011)2 = 011002 = 12 viên. Tổng các hệ số sau khi người chơi thứ hai đã đi là: a4 + b4 + c4 = 1 . b = 8 = ( 01000 )2 . a2 + b2 + c2 = 1 . b = 8 = ( 01000 )2 . b = 8 = ( 01000 )2 .Tùy theo số sỏi cụ thể trong từng đống. mỗi người chơi có thể chọn số lượng sỏi trong mỗi bước đi để đảm bảo thắng nhanh nhất hoặc lâu thua nhất. b = 20 = 24 + 22 = 101002 = ( b4b3b2b1b0 )2 . Vì a3 = 1 . a2 + b2 + c2 = 3 . c = (10111)2 và tổng các hệ số như trên nên người thứ nhất lấy từ đống thứ ba d 2 viên sỏi sao cho số sỏi còn lại ở đống thứ ba là c′ = ( 01011)2 = 11 .

thí dụ. 4) 10=1+4+5=(0001)2+(0100)2+(0101)2. 8) 10=3+3+4=(0011)2+(0011)2+(0100)2. từ đống thứ ba. 5) 10=2+2+6=(0010)2+(0010)2+(0110)2. nếu lúc đầu có ít nhất một tổng ak + bk + ck là lẻ thì với mỗi cách đi của người thứ hai. a0 + b0 + c0 = 2 . c = 1 = ( 00001)2 . số sỏi còn ở ba đống là: a = 3 = ( 00011)2 . Tuy nhiên. n là chẵn. a1 + b1 + c1 = 1 . thí dụ. và cuối cùng anh ta sẽ thắng... Lần 3: Vì a3 + b3 + c3 = 1 . a = 3 = ( 00011)2 nên người chơi thứ nhất chọn d 4 sao cho số sỏi còn lại ở đống thứ nhất là a′ = 0 = ( 00000 )2 . Bây giờ ta lại có sỏi từ đống thứ hai. a2 + b2 + c2 = 0 . tức là lấy ra d3 = b − b′ = ( 01000 )2 − ( 00010 )2 = 001102 = 6 viên b = 2 = ( 00010 )2 . i = 0. c = 0 . Người thứ hai chọn số sỏi bất kì. a0 + b0 + c0 = 3 .. Thí dụ. a3 + b3 + c3 = 0 .. tức là d 4 = 000012 = 3 . Số sỏi còn lại ở các đống bây giờ là: a = 3 = ( 00011)2 .. a1 + b1 + c1 = 2 . i = 0.. a0 + b0 + c0 = 2 . Số sỏi còn lại ở các đống là: a = 0 = ( 00000 )2 . b = 1 = ( 00001)2 . c = 1 = ( 00001)2 . a4 + b4 + c4 = 0 . a1 + b1 + c1 = 0 .. 1 viên từ đống thứ hai.. người chơi thứ nhất bao giờ cũng chọn được ít nhất một cách đi tương ứng để sau khi đi thì tất cả các tổng ai + bi + ci . a2 + b2 + c2 = 0 .Tổng các hệ số sau khi người chơi thứ hai đã đi là: a4 + b4 + c4 = 0 .. a2 + b2 + c2 = 0 . Khả năng thắng của người chơi thứ hai ít hơn nhiều so với người chơi thứ nhất. Người chơi thứ hai chỉ có thể chọn một viên từ đống thứ hai hoặc đống thứ ba. Người chơi thứ nhất chỉ cần lấy nốt viên sỏi cuối cùng ở đống thứ hai và anh ta thắng. 31 ... c = 1 = ( 00001)2 . a3 + b3 + c3 = 0 . Người thứ hai chỉ thắng khi tất cả các tổng ai + bi + ci . 6) 10=2+3+5=(0010)2+(0011)2+(0101)2. b = 8 = ( 01000 )2 và tổng các hệ số có tính chẵn lẻ như trên nên người chơi thứ nhất lấy ra từ đống thứ hai một số sỏi d3 sao cho số viên sỏi còn lại là b′ = ( 00010 )2 = 2 . Bây giờ ta lại có a4 + b4 + c4 = 0 . Tổng các hệ số: a4 + b4 + c4 = 0 . Lần 4: Do a1 + b1 + c1 = 1 và a1 = 1 . b = 1 . a3 + b3 + c3 = 1 . 7) 10=2+4+4=(0010)2+(0100)2+(0100)2. Lời bình Người chơi thứ hai có thể chọn nhiều cách đi. a1 + b1 + c1 = 1 . 3) 10=1+3+6=(0001)2+(0011)2+(0110)2.. nếu tất cả các tổng ai + bi + ci . số sỏi còn lại ở ba đống là: a = 0 . n là chẵn. với 10 viên sỏi chia làm ba đống a + b + c = 10 thì có tất cả 8 khả năng viết số 10=(1010)2 dưới dạng tổng của ba số dương khác 0: 1) 10=1+1+8=(0001)2+(0001)2+(1000)2. b = 1 = ( 00001)2 . a0 + b0 + c0 = 2 . Tương tự. b3 = 1 . a2 + b2 + c2 = 0 . 2) 10=1+2+7=(0001)2+(0010)2+(0111)2. a3 + b3 + c3 = 0 . i = 0. n là chẵn thì người thứ hai sẽ thắng.

nên có thể kết thúc trò chơi. Tiêu chuẩn kết thúc trò chơi là người đuổi bắt được (không bắt được) người chạy sau thời gian hữu hạn.3. vì chỉ cần tính các tổng ai + bi + ci là biết ai sẽ thắng. Bài 37 (Đề dự tuyển Vô địch Quốc tế. b . Peter là người thắng cuộc nếu số nhận được không viết được dưới dạng tổng của hai số chính phương. Trong trò chơi hai người. về tốc độ). Nhà sinh vật học này nhận thấy rằng: (i) Con ruồi đầu tiên bị bắt sau thời gian nghỉ một phút. c = 17 . nhưng nhờ có sự hợp tác. 2001) Ivan và Peter thay nhau viết các chữ số 0 hoặc 1 (mỗi lần một chữ số) cho đến khi mỗi người viết được 2001 chữ số. Nếu cả hai người chơi đều đã biết thuật toán như trên thì trò chơi mất hứng thú. i = 0. 1999) Một nhà sinh vật học quan sát một con thạch sùng đang bắt ruồi và nó nghỉ ngơi sau mỗi lần bắt được một con ruồi. biết toán sẽ bảo đảm biết chắc thắng hay chắc thua. Trong trò chơi này hai người (hoặc nhiều người) tham gia thường chuyển động với vận tốc khác nhau.Trong 8 cách này. Chứng minh rằng Peter (đi sau) có chiến lược đảm bảo anh ta thắng cuộc. mỗi người đuổi có thể kém hơn (thí dụ. §3 Trò chơi mô tả bởi hệ động lực Trò chơi mô tả bởi hệ động lực mô phỏng khá tốt thực tế. người đuổi thường phải có lợi thế hơn người chạy (thí dụ. gồm một (nhiều) người đuổi và một (nhiều) người chạy. b = 12 . Một lớp trò chơi mô tả bởi hệ động lực là trò chơi đuổi bắt. Bài tập Hãy chọn chiến lược tốt nhất (thắng nhanh nhất hợc thua lâu nhất) trong các trò chơi ăn diêm với số diêm a . 4 là chẵn: 10=1+4+5=(0001)2+(0100)2+(0101)2. Trò chơi chỉ thú vị khi ít nhất một trong hai người chơi không biết toán (không biết suy luận như trên). Trong trò chơi nhiều người đuổi một người. nói cách khác. (iii) Khi thạch sùng hết nghỉ. b = 13 . 2. 32 . 2) a = 11 . c trong các đống diêm như sau: 1) a = 15 . (ii) Thời gian nghỉ trước khi bắt con ruồi thứ 2m bằng thời gian nghỉ trước khi bắt con ruồi thứ m và kém một phút so với thời gian nghỉ trước khi bắt con ruồi thứ 2m + 1 . Như vậy. chỉ có duy nhất một cách trong đó tất cả các tổng ai + bi + ci . nó bắt ruồi ngay lập tức. ta sẽ nhận được một dãy gồm 4002 chữ số 0 hoặc 1. tốc độ) thì mới kết thúc trò chơi được. Hỏi: a) Có bao nhiêu con ruồi bị bắt trước thời gian nghỉ lần đầu tiên là 9 phút? b) Sau bao nhiêu phút thì thạch sùng bắt được con ruồi thứ 98? c) Có bao nhiêu con ruồi bị thạch sùng bắt sau 1999 phút trôi qua? Bài 38 (Kì thi mùa đông Bungaria. c = 10 . Coi đây là biểu diễn nhị phân của một số.

Do vận tốc của Kôlia gấp ba lần vận tốc của ông bố nên khi Kôlia quay lại đến điểm E thì ông bố cũng quay lại đến điểm A và lại đứng chờ ở đó. Không hạn chế tổng quát. Bốn đường đi theo bốn cạnh.Trong thực tế. Ông bố đứng yên và quan sát. Ông bố (lúc đầu ở vị trí bất kì trong công viên) phải chuyển về vị trí A. Cách tốt nhất của cậu ta là “đi chậm” (bằng vận tốc của bà mẹ). Giải Để bắt được Kôlia. vòng 2) Trong một công viên có sáu đường đi cùng độ dài men theo hàng cây hẹp. trước tiên ông bố phải ở vị trí A C D A I B E F và bà mẹ phải ở vị trí B. bởi vì ông bố đã án ngữ tại điểm A. Nếu Kôlia chạy từ F đến A (khi ấy ông bố đang ở vị trí I) thì ông bố quay lại theo hướng IA. Cả người bảo vệ và con khỉ đều cùng chạy theo các con đường nhỏ. Có tất cả 6 con đường thẳng: 3 đường dài tạo thành 33 . Bài 40 (Vô địch Moscow lần thứ 33. Vì vậy Kôlia không thể quay lại đoạn ED và đi vào đoạn DA được. còn bà mẹ chuyển về vị trí B. Bài 39 (Vô địch Moscow lần thứ 33. ở đây chúng ta chỉ xét các chuyển động liên tục đơn giản hoặc các hệ động lực rời rạc. Nếu Kôlia quay lại thì ông bố cũng quay lại. 1970. khi ấy cậu ta lâu bị bắt nhất. Khi Kolia chạy đến điểm E và tiếp tục chạy theo hướng EF thì ông bố bắt đầu chạy song song cùng chiều với Kôlia trên đoạn AB. lớp 7. lớp 8. 1970. Cậu bé Kôlia chạy khỏi bố mẹ theo các con đường đó. có thể coi Kôlia ở phía trên đoạn DB. Cũng vì vận tốc của Kôlia gấp ba lần vận tốc của ông bố nên khi Kôlia chạy từ F đến B thì ông bố chạy từ I đến B và Kôlia bị bắt tại B. Tuy nhiên. vòng 2) Một con khỉ trong vườn bách thú nhỏ bị sổng chuồng và hai người bảo vệ đuổi bắt nó. Nếu Kolia ở trong đoạn AB thì hiển nhiên bị bắt. Ta sẽ làm rõ điều này hơn như sau. Hỏi bố và mẹ có thể bắt được Kôlia không nếu cậu ta chạy nhanh gấp ba lần bố mẹ (trong suốt cuộc chơi cả ba người đều nhìn thấy nhau). Do vận tốc của Kôlia gấp ba lần vận tốc của ông bố nên Kôlia vừa đến điểm A thì ông bố cũng quay lại đến điểm A và Kôlia bị bắt. hệ động lực thường được mô tả bởi hệ phương trình vi phân. Kôlia không thể quay lại mãi vì đã bị mẹ “dồn đuổi” sau lưng. Rõ ràng Kôlia không thể chạy vào đoạn CA hoặc DA. Bây giờ ông bố phải kiểm soát đường AB sao cho Kôlia không thể vượt qua ngã tư A và ngã ba B (Hình trên). Bà mẹ đuổi theo Kôlia và bắt được cậu ta khi “dồn” cậu ta đến chỗ bị “kẹp” giữa ông bố và bà mẹ. Kết luận là Kôlia bị bắt trong mọi trường hợp. Cậu ta chỉ có thể chạy đến F rồi hoặc đi vào đoạn FA hoặc đi đến B. hai đường còn lại dọc theo hai đường trung bình của hình vuông. Bà mẹ bắt đầu đuổi từ vị trí B.

Hỏi các con nhện có thể có bắt được ruồi không (nhện và ruồi luôn luôn nhìn thấy nhau)? Giải Một con nhện phải kiểm soát cạnh AB . người thứ hai (đóng vai mèo) có vài quân đam trắng (vài con mèo). Nếu một con mèo nhảy được vào ô chuột đang đứng. những người bảo vệ phải tuân theo chiến lược sau đây. Nếu chuột chạy ra đến mép bàn cờ. Tất cả các quân chuyển động như nhau: mỗi lần đi một ô sang trái. 1974. có thể theo các hướng khác nhau). thì mèo ăn thịt chuột. Nếu con khỉ nằm ở phía trên đoạn AB thì bị bắt ngay. vòng 2) Ba con nhện và một con ruồi bò theo các cạnh của một lập phương trong suốt. Vận tốc lớn nhất của con ruồi lớn hơn vận tốc lớn nhất của nhện gấp ba lần. Hỏi hai người bảo vệ có bắt được con khỉ không? Biết rằng khỉ chạy nhanh gấp ba lần những người bảo vệ (đầu tiên những người bảo vệ đứng ở đỉnh tam giác. Vì vậy có thể coi con khỉ nằm ở phía dưới đoạn AB . 1970. Mục đích của chuột là nhảy ra khỏi bàn cờ. Trả lời: Nhện có thể bắt được ruồi. Trên hình lập phương không còn đường đi đóng nào. Bài 41a (Vô địch Moscow lần thứ 33. thì đến bước sau nó nhảy ra khỏi bàn cờ. con khác kiểm soát cạnh CC ′ sao cho con ruồi không thể vượt qua các đỉnh A. Bước tiếp theo là bước đi của mèo: tất cả các con mèo đều chuyển động. Bài 42 (Vô địch Liên Xô lần thứ 8. Đầu tiên các con nhện nằm trên một đinh của lập phương. ba cạnh ngắn nối các điểm giữa các cạnh. lớp 9. lớp 8) Hai người chơi trò “mèo đuổi chuột” trên một bàn cờ 8 × 8 . nhưng vận tốc tối đa của ruồi và nhện là như nhau. C ′ . Bài 41b (Vô địch Moscow lần thứ 33. do đó ruồi không thể thoát khỏi con nhện thứ ba. còn khỉ đứng ở một đỉnh khác)? Giải Để bắt được khỉ. 34 . còn con ruồi nằm ở đỉnh đối diện. xuống dưới. Chuột đi bước đầu tiên. lên trên.ba cạnh của tam giác đều. Người thứ nhất (đóng vai chuột) có một quân cờ đam màu đen (một con chuột). sang phải. Tiếp theo dễ dàng bắt lại được con khỉ. lớp 10. Mục đích của mèo là bắt được chuột. Tại mỗi thời điểm người và khỉ đều nhìn thấy nhau. C . vòng 2) Xét bài toán trên với hai con nhện. 1970. Đầu tiên họ phải chiếm điểm A và điểm B . còn người thứ hai kiểm soát đoạn AB để cho con khỉ không thể vượt qua A hoặc B được. B. Bây giờ một người đi dọc theo cạnh AC .

Bước đi thứ nhất xe cảnh sát có thể chuyển đến vị trí A hoặc B. lớp 8) Giữa cánh đồng hình vuông có một chú cáo. nhưng mỗi bước chuột có thể nhảy hai ô liền. Tốc độ tối đa của mỗi con chó nhanh gấp 1. ngã tư. xe cảnh sát chỉ có thể ngoặt phải hoặc đi thẳng. Qui tắc chơi được mô tả hình ảnh trên Hình 1. Nếu sau một số bước. để chúng có thể bắt được chuột không? 2) Giả sử có ba con mèo. thì kẻ cướp bị bắt và trò chơi kết thúc. xe cảnh sát ở vào ô trung tâm. 1969. cáo có thể cắn chết một con chó. còn xe kẻ cướp đi được một ô. Xe cảnh sát được đánh dấu tròn gạch chéo với mũi tên. từ B có thể chuyển sang E hoặc F. Vì chỉ có ba con mèo nên một trong bốn miền của bàn cờ không có mèo. Biết rằng. ngoặt phải. Chứng minh rằng các con chó có thể giữ không cho con cáo ra khỏi hình vuông. nhưng không được phép đi theo đường chéo. Và chuột phải đi trong miền đó hướng ra ngoài biên. nhưng hai con chó có thể cắn chết cáo. Vì vậy.). Bài 43 (Vô địch Liên Xô lần thứ 3.5 lần tốc độ tối đa của cáo. Chuột đã đứng ở một ô nào đó bên trong bàn cờ (không ở ô ngoài biên). Hãy chứng minh rằng chuột có thể chạy thoát từ mọi vị trí ban đầu.. Rõ ràng mèo không thể bắt được chuột.. thì hai con mèo cũng cứ đi sao cho chuột vẫn nằm giữa chúng trên đường thẳng song song với đường chéo. Xe cảnh sát thực hiện bước đầu tiên. xe kẻ cướp có thể ngoặt theo mọi hướng đi tại mỗi giao lộ.. Hỏi có thể đặt hai con mèo tại vị trí nào đó trên biên bàn cờ. Bước tiếp theo. Bước thứ hai có thể chuyển từ A sang vị trí C hoặc D. Bài 44 (Trò chơi cảnh sát bắt cướp. [1]) Giả sử đường phố của một đô thị có dạng “ô bàn cờ vô tận”. tại mỗi giao lộ.1) Giả sử có hai con mèo. Có một xe của kẻ cướp tại một vị trí khác trong thành phố. Một xe cảnh sát túc trực tại một giao lộ (ngã ba. dù chuột đi thế nào. 2) Kẻ qua ô chuột đang đứng hai đường thẳng song song với các đường chéo và loại bỏ các ô mà các đường thẳng này đi qua. 35 . Giải 1) Có thể. xe kẻ cướp không có mũi tên. Cáo có thể chạy trên toàn bộ cánh đồng. Cần đặt hai con mèo vào vị trí sao cho chuột nằm trên đường thẳng nối hai con mèo song song với một đường chéo của bàn cờ. Các bước chuyển động giống như của “con xe” trong cờ tướng: có thể tiến thẳng. nhưng phải tuân thủ các qui tắc giao thông: không được phép ngoặt trái hoặc quay ngược (không được thực hiện các phép quay hình chữ U). Xe cảnh sát có tốc độ gấp đôi xe của kẻ cướp. vì sau mọi bước đi của mèo vẫn còn cách chuột một ô trống trong miền tự do của chuột. Mỗi bước xe cảnh sát đi được hai ô (bàn cờ). còn chó chỉ có thể chạy theo các cạnh của hình vuông. còn bốn chú chó săn thì đứng ở bốn góc hình vuông. còn xe kẻ cướp ở vào một trong tám ô lân cận. Ngược lại.

Điều ngược lại cũng đúng. Z. Dưới đây ta xét bài toán đơn giản hơn. cũng phải cần 9 bước xe cảnh sát mới bắt được xe kẻ cướp (ô được đánh dấu chấm). để có thể kiểm soát được thành phố (không cho xe kẻ cướp trốn thoát? Nhà toán học Isac (chuyên gia về trò chơi vi phân) đã chỉ ra rằng. Sau khi chơi đủ nhiều số ván. trừ một vị trí (xem Hình 2). Các vị trí . sau bao nhiêu bước cảnh sát bắt được kẻ cướp. ta có thể vẽ được miền bảo đảm bắt được xe kẻ cướp. 36 . Tuy nhiên. mà còn chỉ ra được. Trên Hình 2 chỉ ra số bước cần thiết tương ứng với vị trí của xe kẻ cướp để xe cảnh sát có thể bắt được xe kẻ cướp. nếu xe kẻ cướp ở ngoài miền gồm 69 ô ấy. Qua một số thực nghiệm này. trước tiên ta có thể làm thực nghiệm: vẽ một ô bàn cờ kích thước 50 × 50 với xe cảnh sát ở giữa. thì trò chơi kết thúc. còn kẻ cướp ở một trong 8 ô liền kề với ô F. Kẻ cướp có thể thoát hiểm từ tất cả các vị trí. thì kẻ cướp có thể chạy thoát (với điều kiện ô bàn cờ là vô hạn). W. mà xe kẻ cướp ở trong bất kì 69 ô đó đều sẽ bị bắt (Hình 2). Vị trí này này nằm ngay sát nách vị trí xe cảnh sát: hai xe cách nhau “chỉ một bước nhảy của con ngựa”! Tuy nhiên. nghĩa là. trừ một vị trí (ô được đánh dấu chấm) nằm ngoài khu vực này. Giả sử xe cảnh sát có vị trí ban đầu như trong Hình 1. cho phép không chỉ vẽ được miền kiểm soát.Bước đi thứ nhất của xe kẻ cướp (sau bước thứ nhất của xe cảnh sát) có thể là chuyển sang một trong các vị trí X. có thể tính được miền không đối xứng. gồm 69 ô quanh vị trí của xe cảnh sát. Để giải quyết bài toán này. còn xe kẻ cướp ở một trong các vị trí được đánh dấu . Nếu cảnh sát ở vị trí F. từ đó có thể chạy được ra biên của bàn cờ. Hình 1 Hình 2 Bài toán đặt ra là: Phải đặt các xe cảnh sát ở vị trí nào (tạo một mạng lưới kiểm soát tối ưu). vì vậy kẻ cướp có thể chạy thoát. Có thể chọn một số vị trí của xe kẻ cướp và bắt đầu cuộc chơi. ta có thể tìm ra các vị trí đặt xe kẻ cướp. Y. cũng có thể xây dựng một phương pháp đơn giản hơn.

các quân đôminô được đặt sao cho hiệu giữa các số trên các quân cạnh nhau bằng 0. thì số đồng hào tăng thêm 1. thì số đồng 25 xu (quater) tăng thêm 1 nên Q = d − q (2). 100. tôi thấy mình có đúng 100 đồng xu cùng với một số đồng tiền khác. Biết số đó. số đồng xu của tôi tăng thêm 1. nếu bạn bỏ vào 1 đồng hào. Kế toán gọi một số có 1000 chữ số A1 . khi bỏ vào máy 1 đồng 25 xu (quater). Tương tự. Mỗi lần bỏ vào máy 1 đồng hào. cần phải luôn luôn đặt một số chẵn cạnh hai số lẻ. Được số A2 và báo cho người chơi.Thi chọn tài năng của đại học Winconsin. tôi đã bỏ vào máy tất cả p đồng xu (penny). Để ý rằng. còn nếu bạn bỏ vào 1 đồng 25 xu. Sau khi chơi. Vì ban đầu tôi không có đồng xu nào (chỉ có 1 đồng hào) nên P = d − p (1). khi bỏ vào máy 1 đồng xu (penny). Bài 46 (Vô địch Moscow lần thứ 34. 10. Theo đề bài. 1000. 2000-2001) Một chiếc máy kì diệu làm việc như sau: nếu anh bỏ vào máy 1 đồng xu (penny). Bài 47 (Winconsin Mathematics Science and Engineering Talent Search. nó sẽ nhảy ra 2 đồng hào. vòng bổ sung) Trong trò chơi đôminô thông thường. d đồng hào (dime). Người chơi lại báo cho kế toán số B2 nào đó. số đồng xu (penny) của tôi không thêm không bớt. người chơi gọi một số B1 nào đó. Sau đó kế toán xem xét và quyết định trừ số lớn cho số nhỏ hoặc cộng chúng. Hỏi có thể đặt tất cả 28 quân đôminô vào một vòng khép kín để cho tất cả các hiệu bằng ±1 ? Giải Để có thể đặt được các quân đôminô theo yêu cầu của đầu bài. Nhưng trên quân đôminô có 32 số chẵn và và chỉ có 24 số lẻ.… Chứng minh rằng người chơi luôn có thể kết thúc trò chơi sau khi thông báo cho kế toán không quá 20 số. Hỏi số tiền bé nhất mà tôi có thể có vào lúc này là bao nhiêu? (1 dollar = 10 dime = 100 penny). cứ mỗi lần bỏ vào máy một đồng hào. Theo đầu bài. Giải Giả sử trong suốt thời gian chơi. nó cho nhảy ra một đồng hào (dime). cứ mỗi lần bỏ vào máy một đồng xu. tôi chơi với máy một lúc. q đồng 25 xu (quater). thì số đồng hào giảm bớt 1 và cứ mỗi lần bỏ vào máy một 37 . D đồng hào và Q đồng 25 xu. lớp 10. vòng 2) Kế toán và người chơi chơi trò chơi sau đây. số đồng 25 xu (quater) không thêm không bớt.§5 Một số bài toán khác Bài 45 (Vô địch Moscow lần thứ 33. và mỗi lần bỏ vào máy 1 đồng xu. Cứ mỗi lần bỏ vào máy một đồng hào. số đồng xu của tôi giảm bớt 1. Trò chơi tiếp tục cho tới khi nếu kế toán nhận được một trong các số 1. Khi đếm tiền. Bắt đầu bằng một đồng hào. 1971. 1970. tôi có P đồng xu. Vì vậy bài toán không giải được. sẽ nhảy ra một đồng xu và 1 đồng 25 xu (a quater). P = 100 . lớp 7.

ta sẽ được 1110 xu. tôi phải có ít nhất 1110 xu Ta có thể thấy khả năng này là có thể xảy ra theo cách chơi sau đây (gạch dưới biểu thị ta đã đút đồng xu đó vào máy để ra số tiền mới). 2000. Khi ấy M = P + 10 D + 25Q ≥ P + 10( D + 2Q) ≥ P + 10( P + 1) = 11P + 10 = 1110 . (3) ta có: D + 2Q = 1 + d + p ≥ 1 + d − p = 1 + P . n(n + 1) Bài 48 (Vô địch Quốc gia Belorus. lớp 8. Nếu hai chữ liên tiếp là như nhau thì ta đặt một chữ X vào giữa chúng. Tôi đã khởi đầu bằng đồng 1 hào. hoặc là hệ số tự do. hỏi sau một số bước có thể có được 9 chữ O không? Bài 50 (Vô địch Liên Xô lần thứ 18. Nói cách khác. Sau đó lần lượt mỗi học sinh tăng hoặc giảm một đơn vị hoặc là hệ số của x .đồng 25 xu.. Câu hỏi: Giả sử mỗi lần chơi mất 1 phút. Nếu hai kí hiệu liên tiếp là khác nhau thì ta đặt một chữ O vào giữa chúng. Với 200 lần chơi (bằng số thời gian trên). Lúc đầu tất cả đều được đặt ngửa. vòng 4) Có đồng tiền được đặt khít 2 bên nhau trong một tam giác đều. tức là lãi 16 xu) rồi lại bỏ đồng 25 xu (để được 2 đồng 1 hào. hãy tìm chiến lược để được lãi lớn nhất. Như vậy. Gọi M là tổng số tiền (tính ra xu) tôi có sau khi chơi. Bài 49 Bốn chữ X và năm chữ O được viết trên một vòng tròn theo thứ tự bất kì. Bỏ đi các chữ O và X cũ. trừ một đồng. sẽ lại 11 xu. rồi lật ngược tất cả các đồng tiền nằm trên đường thẳng AB. Mỗi một bước chuyển là một lần chọn hai đồng tiền kề nhau có tâm A và B. vậy số đồng hào tôi có sau khi chơi là D = 1 + p − d + 2q (3). Hỏi có thời điểm nào mà trên bảng xuất hiện một tam thức bậc hai với các nghiệm nguyên không? 38 . Cuối cùng ta được tam thức bậc hai x 2 + 20 x + 10 . Hãy xác định tất cả các trạng thái ban đầu. Liên tục làm như vậy. 1984. còn lại “lãi ròng” là 1100 xu=11 dollar. ta có thể thực hiện một số hữu hạn bước chuyển nhằm làm cho tất cả mọi đồng tiền đều lật úp xuống. Từ các phương trình (1).. Do đó cứ bỏ 100 lần đồng 1 hào và 100 lần đồng 25 xu. cứ tiếp tục bỏ vào 1 đồng hào (để được 1 đồng xu và 1 đồng 25 xu. thì số đồng hào tăng thêm 2. (2). Tổng hai lần như vậy. Mỗi cạnh có đúng n đồng tiền. tức là lỗ 5 xu). trừ đi đồng hào (làm vốn). để sao cho từ trạng thái ban đầu đó. vòng 2) Thầy giáo viết lên bảng một đa thức bậc hai x 2 + 10 x + 20 . 1 đồng hào → 1 đồng xu+1 đồng 25 xu (tổng cộng 26 xu) → 1 đồng 1 hào+1 đồng 1 hào (tổng cộng 21 xu) → 1 đồng xu+1 đồng 25 xu (tổng cộng 37 xu) → 1 đồng 1 hào+1 đồng 1 hào (tổng cộng 32 xu).

126 trang). 2002. Mathematical Excalibur. [7] Các tạp chí Kvant. 2011. 2005. Mathematical Games I. [3] Kin Y. Vol 7. 26-28 tháng 11. 1971 (bản tiếng Nga). II. [4] Tạ Duy Phượng. 39 . Kỉ yếu Hội thảo “Các chuyên đề chuyên toán bồi dưỡng học sinh giỏi Trung học phổ thông (Nguyễn Văn Mậu chủ biên). Nhà xuất bản Giáo dục. Krux. Li. Nhà xuất bản Khoa học kĩ thuật Hà Nội.Tài liệu sử dụng [1] Martin Gadner. Nhà xuất bản Mir. Nam Định. Moscow. New Mathematical Diversions from Scientific American. các sách thi Olympic Toán. 2006.Mathematical Excalibur. No 2 & 5. Trò chơi và đồ thị. Đoàn Hữu Dũng. [5] Đặng Huy Ruận. 2010. Trò chơi chọn đỉnh đồ thị và ứng dụng. [6] Đặng Huy Ruận. [2] Vũ Đình Hòa. Giới thiệu một số trò chơi toán học (bản thảo. Một số kiến thức cơ sở về graph hữu hạn.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->