CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

I. Việc làm và tạo việc làm

1. Việc làm. a) Khái niệm và phân loại. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ: “việc làm là gì? ”. Và ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp…) người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. • Theo bộ luật lao động_ Điều 13: “ Mọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức: + Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó. + Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó. + Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc 1 thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý. Khái niệm trên nói chung là khá bao quát nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản. Hạn chế thứ nhất: hoạt động nội trợ không được coi là việc làm trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ. Hạn chế thứ hai: khó có thể so sánh tỉ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán,…Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi đó là việc làm nhưng ở quốc gia khác lại bị cấm. Ví dụ: đánh bạc ở Việt Nam bị cấm nhưng ở Thái Lan, Mỹ đó lại đựơc coi là một nghề thậm chí là rất phát triển vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu. • Theo quan điểm của Mac: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vỗn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để sử dụng sức lao động đó). Sức lao động do người lao động sở hữu. Những điều kiện cần thiết như vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,… có thể do người lao động có quyền sở hữu, sử dụng hay quản lý
1

hoặc không. Theo quan điểm của Mac thì bất cứ tình huống nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó đều có thể dẫn tới sự thiếu việc làm hay mất việc làm. Tuỳ theo các mục đích nghiên cứu khác nhàu mà người ta phân chia việc làm thành nhiều loại. Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc ta có việc làm chính và việc làm phụ + Việc làm chính: là việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian nhất hay có thu nhập cao nhất. + Việc làm phụ: là việc làm mà người lao động dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính. Ngoài ra, người ta còn chia việc làm thành việc làm bán thời gian, việc làm đâỳ đủ, việc làm có hiệu quả,.. b) Các đặc trưng của việc làm Nghiên cứu các đặc trưng của việc làm chính là việc tìm hiểu cơ cấu hoặc cấu trúc dân số có việc làm theo các tiêu chí khác nhau nhằm làm rõ các khía cạnh của vấn đề việc làm. Bao gồm có: + Cấu trúc dân số có việc làm theo giới và tuổi. Cho biết trong số những người có việc làm thì tỉ lệ nam, nữ là bao nhiêu; độ tuổi nào là lực lượng lao động chính (chiếm phần đông trong lực lượng lao động). + Sự thay đổi quy mô việc làm theo vùng (nông thôn- thành thị). Cho biết khả năng tạo việc làm ở hai khu vực này cũng như tiềm năng tạo thêm việc làm mới trong tương lai. + Cơ cấu việc làm theo ngành kinh tế. Cho biết ngành kinh tế nào trong nền kinh tế quốc dân có khả năng thu hút được nhiều lao động nhất ở hiện tại và tương lai; sự dịch chuyển lao động giữa các ngành này. Trong nền kinh tế quốc dân ngành kinh tế được chia làm 3 khu vực lớn. Khu vực I: ngành nông nghiệp và lâm nghiệp; khu vực II: ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, khai thác mỏ, năng lượng; khu vực III: dịch vụ. + Cơ cấu việc làm theo nghề. Cho biết nghề nào hiện tại đang tạo ra được nhiều việc làm nhất và xu hướng lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai của người lao động. + Cấu trúc việc làm theo thành phần kinh tế. Cho biết hiện tại lực lượng lao động đang tập trung nhiều nhất trong thành phần kinh tế nào và xu hướng dịch chuyển lao động giữa các thành phần kinh tế trong tương lai. Thành phần kinh tế được chia dựa trên quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. + Trình độ văn hoá và đào tạo của dân số theo nhóm tuổi và giới tính, theo vùng.
2

Sự phân chia ở trên chỉ mang tính chất tương đối với mục đích để người đọc mường tượng được vấn đề. Trong thực tế các đặc trưng trên luôn có tác động qua lại lẫn nhau.Ví dụ: ta có cấu trúc dân số có việc làm theo giới và tuổi ở khu vực thành thị; cấu trúc dân số có việc làm theo giới và tuổi theo vùng, lãnh thổ… a) Các chỉ tiêu đo lường • Tỷ lệ người có việc làm: là tỷ lệ % của số người có việc làm so với dân số hoạt động kinh tế. • Tỷ lệ người có việc làm đầy đủ: là tỷ lệ % của số người có việc làm đầy đủ so với dân số hoạt động kinh tế. Dân số hoạt động kinh tế (DSHĐKT) là một bộ phận dân số cung cấp hoặc sẵn sàng cung cấp sức lao động cho sản xuất của cải vật chất và dịch vụ. DSHĐKT = Những người đang làm việc + những người thất nghiệp. Những người đang làm việc = Những người trong độ tuổi lao động + ngoài độ tuổi lao động đang tham gia làm việc trong các ngành của nền kinh tế quốc dân. Những người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu tìm việc nhưng hiện tại chưa tìm được việc. 2. Tạo việc làm. a) Khái niệm Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động. Như vậy, muốn tạo việc làm cần 3 yếu tố cơ bản: tư liệu sản xuất, sức lao động và các điều kiện KTXH khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động. Ba yếu tố này lại chịu tác động của nhiều yếu tố khác. b) Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo việc làm. + Nhân tố điều kiện tự nhiên, vốn, công nghệ: là các tiền đề vật chất để tiến hành bất cứ một hoạt động sản xuất nào. Điều kiện tự nhiên do thiên nhiên ưu đãi. Vốn do tích luỹ mà có hoặc được tạo ra từ các nguồn khác. Công nghệ do tự sáng chế hoặc áp dụng theo những công nghệ đã có sẵn. Nhân tố này cùng với sức lao động nói nên năng lực sản xuất của một quốc gia. + Nhân tố bản thân người lao động trong quá trình lao động. Bao gồm: thể lực, trí lực, kinh nghiệm quản lý, sản xuất của người lao động. Người lao động có được những thứ này lại phụ thuộc vào điều kiện sống, quá trình đào tạo và tích luỹ kinh nghiệm của bản thân, sự kế thừa những tài sản đó từ các thế hệ trước.

3

+ Cơ chế, chính sách kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia: Việc làm được tạo ra như thế nào, chủ yếu cho đối tượng nào, với số lượng dự tính bao nhiêu,… phụ thuộc vào cơ chế, chính sách KT-XH của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ cụ thể. + Hệ thống thông tin thị trường lao động: được thực hiện bởi chính phủ và các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu tuyển dụng lao động thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, đài phát thanh,…Các thông tin bao gồm thông tin về: sẽ học nghề ở đâu? nghề gì? khi nào? tìm việc ở đâu?... c) Các chính sách tạo việc làm. Chúng ta cần phân biệt việc làm và tạo việc làm. Tạo việc làm là một quá trình như đã nói ở trên, còn việc làm là kết quả của quá trình ấy. Muốn có được nhiều việc làm cần có các chính sách tạo việc làm hiệu quả. Có thể kể ra một số các chính sách tạo việc làm như: + Chính sách tạo vốn để phát triển kinh tế; + Chính sách di dân đi vùng kinh tế mới; + Chính sách gia công sản xuất hàng tiêu dùng cho xuất khẩu; + Chính sách phát triển ngành nghề truyền thống; + Chính sách phát triển hình thức hội, hiệp hội ngành nghề làm kinh tế và tạo việc làm. + Chính sách xuất khẩu lao động; ….. Như vậy trong số các giải pháp tạo việc làm thì xuất khẩu lao động là một giải pháp cũng được quan tâm nhưng còn khá mới mẻ với nhiều người. Vậy xuất khẩu lao động là gì?
II. XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

1. Khái niệm và nội dung. a) Khái niệm. Xuất khẩu lao động là hoạt động mua_bán hàng hoá sức lao động nội địa cho người sử dụng lao động nước ngoài. + Người sử dụng lao động nước ngoài ở đây là chính phủ nước ngoài hay cơ quan, tổ chức kinh tế nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động trong nước. + Hàng hoá sức lao động nội địa: muốn nói tới lực lượng lao động trong nước sẵn sàng cung cấp sức lao động của mình cho người sử dụng lao động nước ngoài. + Hoạt động mua_ bán : thể hiện ở chỗ người lao động trong nước sẽ bán quyền sử dụng sức lao động của mình trong một khoảng thời gian nhất định cho người sử dụng lao động nước ngoài để nhận về một khoản tiền dưới hình thức tiền lương (tiền công). Còn người sử dụng nước ngoài sẽ dùng tiền của mình mua sức lao động của người lao

4

Nội dung: Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động sẽ tuyển lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các hợp đồng cung ứng lao động. chuyên gia. Hình thức xuất khẩu lao động: là cách thức thực hiện việc đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài do nhà nước quy định. Ở Việt Nam cho đến nay đã tồn tại một số hình thức sau: a) Thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung: xuất khẩu lao động chủ yếu thông qua các hiệp định liên chính phủ và nghị định thư. Người lao động ở đây bao gồm: người lao động làm các công việc như lao động phổ thông. Đặc điểm: 5 . Các hình thức xuất khẩu lao động. yêu cầu họ phải thực hiện công việc nhất định nào đó (do hai bên thoả thuận) theo ý muốn của mình.…(những công việc ít đòi hỏi về trình độ chuyên môn). Chuyên gia: là những người lao động có trình độ chuyên từ bậc đại học trở lên. Do sự giới hạn phạm vi bài viết em xin được đề cập đến vấn đề xuất khẩu lao động tương ứng với nội dung 1_ đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Và quan hệ lao động sẽ chỉ thực sự chấm dứt khi hợp đồng lao động ký kết giữa hai bên hết hiệu lực hoặc bị xoá bỏ hiệu lực theo thoả thuận của hai bên. Quan hệ này khởi đầu cho một quan hệ mới_quan hệ lao động. các tổ chức quốc tế qua Internet. b) Nội dung Xuất khẩu lao động gồm hai nội dung: + Đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. tu nghiệp sinh. Hàn Quốc) chỉ những người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ chuyên môn của nước nhập khẩu lao động và nếu muốn vào làm việc ở các nước này họ phải được hợp pháp hoá dưới hình thức TNS nghĩa là vừa làm vừa được đào tạo tiếp tục về trình độ chuyên môn kỹ thuật. b) Bước sang thời kỳ mới_ thời kỳ xuất khẩu lao động chịu tác động của thị trường thì nó bao gồm các hình thức sau: * Cung ứng lao động theo các hợp đồng cung ứng lao động đã ký kết với bên nước ngoài.động. 2. +Xuất khẩu lao động tại chỗ (XKLĐ nội biên): người lao động trong nước làm việc cho các doanh nghiệp FDI. Nhưng hoạt động mua_bán này có một điểm đặc biệt đáng lưu ý là: quan hệ mua_bán chưa thể chấm dứt ngay được vì sức lao động không thể tách rời người lao động. giúp việc. Tu nghiệp sinh (TNS): (Mới chỉ có ở Nhật Bản. sản xuất.

quản lý lao động ở nước ngoài cũng như đảm bảo các quyền lợi của người lao động ở nước ngoài. + Quan hệ lao động được điều chỉnh bởi pháp luật của nước tiếp nhận. đầu tư ra nước ngoài. Nội dung: Các doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu. + Cả người sử dụng lao động Việt Nam và lao động Việt Nam đều phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. khoán công trình ở nước ngoài. a) Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đồng thời cũng là hoạt động mang tính xã hội cao. + Các yêu cầu về tổ chức lao động. nhận khoán công trình ở nước ngoài hoặc đầu tư dưới hình thức liên doanh liên kết chia sản phẩm hoặc các hình thức đầu tư khác. Nói xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế vì nó đem lại lợi ích cho cả hai bên tham gia (bên cung và bên cầu). + Quyền và nghĩa vụ của người lao động do phía nước ngoài bảo đảm. người lao động chịu sự quản lý trực tiếp của người sử dụng lao động nước ngoài. + Doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam trực tiếp đưa lao động đi nước ngoài. Ở tầm vĩ mô bên cung là nước xuất khẩu lao động. tìm hiểu rõ các thông tin về đối tác. Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế ở tầm vi mô và vĩ mô. • Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhận thầu. giao tiếp rộng. bên cầu là nước nhập 6 . Vì vậy quan hệ lao động tương đối ổn định. + Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam có thể trực tiếp tuyển dụng lao động hoặc thông qua các tổ chức cung ứng lao động trong nước. + Các yêu cầu về tổ chức lao động do phía nước tiếp nhận đặt ra. Hình thức này ở Việt Nam còn rất ít vì nó đòi hỏi người lao động phải có trình độ học vấn. điều kiện lao động do doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam đặt ra. 3. Đặc điểm của xuất khẩu lao động. • Lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động nước ngoài. ngoại ngữ tốt. phong tục tập quán của nước ngoài. Hình thức này chưa phổ biến nhưng sẽ phát triển trong tương lai cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Đặc điểm: + Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam sẽ tuyển chọn lao động Việt Nam nhằm thực hiện các hợp đồng kinh tế. + Quá trình làm việc là ở nước ngoài. hợp đồng liên doanh_ liên kết giữa Việt Nam và nước ngoài.+ Các doanh nghiệp tự mình đảm nhiệm tất cả các khâu từ tuyển chọn đến đào tạo đến đưa đi và quản lý người lao động ở nước ngoài.

Dù đứng ở góc độ nào thì với tư cách là chủ thể của một hoạt động kinh tế cả bên cung và bên cầu khi tham gia hoạt động xuất khẩu lao động đều nhằm mục tiêu là lợi ích kinh tế. Còn tính chất đặc biệt của quan hệ mua_ bán đã đựơc trình bày ở phần II. Và khi xuất khẩu lao động vận động theo quy luật thị trường thì tất yếu nó phải chịu sự tác động của quy luật cạnh tranh và mang tính cạnh tranh. yếu thì thua.khẩu lao động. 7 . Tính xã hội thể hiện ở chỗ: dù các chủ thể tham gia xuất khẩu lao động với mục tiêu kinh tế nhưng trong quá trình tiến hành xuất khẩu lao động thì cũng đồng thời tạo ra các lợi ích cho xã hội như giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận người lao động. Sở dĩ vậy vì hàng hoá ở đây là sức lao động_ loại hàng hoá không thể tách rời người bán. nâng cao phúc lợi xã hội. tình hình dân số_ nguồn lao động của nước tiếp nhận lao động. Họ luôn luôn tính toán giữa chi phí phải bỏ ra với lợi ích thu được để có quyết định hành động cuối cùng sao cho lợi nhất. c) Không có sự giới hạn theo không gian đối với hoạt động xuất khẩu lao động. giảm rủi ro trong xuất khẩu lao động và nó cũng thể hiện khả năng cạnh tranh mạnh mẽ của quốc gia đó. Nó làm tăng các loại ngoại tệ. Chính vì thế bên cạnh các quốc gia chỉ đơn thuần là xuất khẩu hay nhập khẩu lao động thì còn có cả những quốc gia vừa xuất khâu vừa nhập khẩu lao động. Cạnh tranh là quy luật tất yếu của thị trường. Thị trường xuất khẩu lao động với một quốc gia xuất khẩu lao động càng phong phú và đa dạng bao nhiêu thì càng tốt.1 4) Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động. đảm bảo an ninh chính trị … b) Xuất khẩu lao động là một hoạt động mang tính cạnh tranh mạnh. góp phần ổn định và cải thiện cuộc sống cho người dân. Sự cạnh tranh ở đây diễn ra giữa các nước xuất khẩu lao động với nhau và giữa các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trong nước với nhau trong việc dành và thống lĩnh thị trường xuất khẩu lao động. bên cầu là người sử dụng lao động nứơc ngoài. d) Xuất khẩu lao động thực chất cũng là việc mua_bán một loại hàng hoá đặc biệt vượt ra phạm vi biên giới quốc gia. Ở tầm vi mô bên cung là người lao động mà đại diện cho họ là các tổ chức kinh tế làm công tác xuất khẩu lao động (gọi tắt là doanh nghiệp xuất khẩu lao động ). * Điều kiện kinh tế chínhtrị. Cạnh tranh giúp cho chất lượng nguồn lao động xuất khẩu ngày càng được nâng cao hơn và đem lại lợi ích nhiều hơn cho các bên đồng thời cũng đào thải những cá thể không thể vận động trong vòng xoáy ấy. Trong cạnh tranh ai mạnh thì thắng. a)Nhóm nhân tố khách quan.

5) Rủi ro và hạn chế trong xuất khẩu lao động. thông tin liên lạc giữa quốc gia xuất khẩu lao động và quốc gia tiếp nhận. Nếu nước tiếp nhận có tình hình chính trị không ổn đình thì họ có thể cũng không có nhu cầu tiếp nhận thêm lao động và nước xuất khẩu lao động cũng không muốn đưa người lao động của mình tới đó. Rủi ro trong xuất khẩu lao động được phát sinh bởi các nguyên nhân sau: + Từ phía người sử dụng lao động (đối tác nước ngoài). Sự thiếu hụt lao động càng lớn trong khi máy móc chưa thể thay thế hết được con người thì nhu cầu thuê thêm lao động nước ngoài là điều tất yếu. Chính trị cũng ảnh hưởng tới xuất khẩu lao động. tạo ra sự phát triển mới cho hoạt động xuất khẩu lao động. Rủi ro trong xuất khẩu lao động là những biến cố bất ngờ không may xảy ra gây thiệt hại cho các bên tham gia xuất khẩu lao động. xác định đúng vị trí của nó trong phát triển kinh tế_ xã hội sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu lao động và ngược lại. Bao gồm hệ thống các quan điểm. Nếu coi trọng xuất khẩu lao động. Đồng thời với quá trình này thì công tác tổ chức thực hiện. giám sát việc thực hiện cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động. 8 . Chiều tiêu cực: cạnh tranh không lành mạnh hoặc tính cạnh tranh yếu sẽ bị đào thải. • Sự cạnh tranh của các nước xuất khẩu lao động khác Sự cạnh tranh này mang tác động hai chiều. Vì thế họ có nhu cầu tiếp nhận thêm lao động từ nước khác.Các nước tiếp nhận lao động thường là các nước có nền kinh tế phát triển hoặc tương đối phát triển nhưng trong quá trình phát triển kinh tế của mình họ lại thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động cho một hoặc một vài lĩnh vực nào đó. b) Nhóm nhân tố chủ quan. xuất khẩu lao động còn chịu nhiều tác động từ sự phát triển kinh tế có ổn định hay không của nước tiếp nhận. a) Rủi ro trong xuất khẩu lao động. Nếu nền kinh tế có những biến động xấu bất ngờ xảy ra thì hoạt động xuất khẩu lao động cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn. kiểm tra. • Điều kiện giao thông vận tải. Ngoài ra. Chiều tích cực: thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động của nước mình không ngừng tự nâng cao chất lượng hàng hoá sức lao động để tăng tính cạnh tranh trên thị trường. chính sách và chủ trương của nhà nước về hoạt đông xuất khẩu lao động. Vì thế hoạt động xuất khẩu lao động sẽ diễn ra thường xuyên và mạnh mẽ hơn. Nếu những điều kiện này tốt sẽ góp phần làm giảm chi phí trong hoạt động xuất khẩu lao động cũng như thuận lợi trong quá trình đưa lao động đi và nhận lao động về.

Người sử dụng lao động sẽ bị thiệt hại nặng nề nếu số lượng người lao động bỏ việc nhiều và nhất là trong cùng một lúc.. + Từ phía người lao động. tạo dư luận không tốt trong xã hội nước sở tại ảnh hưởng đến uy tín của người sử dụng lao động. Hậu quả là. có những trường hợp do người sử dụng lao động không trả hoặc đánh mất hộ chiếu của người lao động nên người lao động không thể trở về nước. Khi người sử dụng lao động cố tình thực hiện không nghiêm túc hợp đồng đã ký như cắt giảm tiển lương. chi phí tìm kiếm lao động (nếu lao động bỏ trốn. bảo hiểm y tế. người lao động sẽ bỏ việc hoặc bị sa thải. Tiếp theo đó là sự thiệt hại về tài chính bao gồm: chi phí đưa người lao động về nước. gây tâm lý hoang mang cho những người lao động nước ngoài khác còn lại đang làm việc. nhận thức kém đã tự ý phá vỡ hợp đồng (bỏ việc làm) để ra làm ngoài cho các công ty tư nhân với mức thu nhập cao hơn. cắt giảm các lợi ích của người lao động như: bảo hiểm xã hội. Có người thì đã tích luỹ đủ tiền để góp phần ổn định cuộc sống khi về nhưng cũng có người thì lại rơi vào hoàn cảnh nợ chồng chất.… dẫn đến phải cắt giảm nhân công hay sa thải nhân công thì hợp đồng lao động sẽ bị chấm dứt trước thời hạn. Điều đó có thể dẫn tới sự đình trệ sản xuất. Còn các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. khiến cho họ trở thành người nhập cư bất hợp pháp và phải chịu bất cứ hình phạt nào theo quy định của nước sở tại. Nếu có khiếu kiện thì thủ tục rất rườm rà do sự kiện phát sinh vượt ra ngoài biên giới quốc gia và chi phí rất tốn kém. Vì thế. các doanh nghiệp xuất khẩu lao động thường chịu thiệt. Mặt khác. Trong trường hợp này người lao động và doanh nghiệp xuất khẩu lao động bị thiệt hại. họ phải chịu chi phí phát sinh để đưa người lao động trở về nước cũng như tiền đền bù cho những người lao động này do hợp đồng bị phá vỡ mà không phải do lỗi của người lao động. do nước sở tại tiến hành và yêu cầu doanh nghiệp xuất 9 .. bị phá sản. Với doanh nghiệp xuất khẩu lao động điều trước tiên họ phải gánh chịu là sự mất uy tín với đối tác và thậm chí là nguy cơ mất thị trường xuất khẩu lao động. Người lao động bị mất việc làm và phải trở về nước. bóc lột công nhân một cách quá đáng dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động. Các rủi ro từ phía người lao động chủ yếu là do người lao động ý thức kém. Trong trường hợp này người sử dụng lao động và doanh nghiệp xuất khẩu lao động sẽ bị thiệt hại. Theo thoả thuận số tiền đó sẽ được bên sử dụng lao động hoàn trả nhưng nếu họ không trả thì các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng khó mà đòi được.Khi người sử dụng lao động không may làm ăn thua lỗ.Trong trường hợp này người bị hại sẽ là người lao động và các doanh nghiệp xuất khẩu lao động.. đánh đập công nhân.

Hạn chế trong xuất khẩu lao động có thể do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan nhưng có thể đánh giá nó thông qua: • Sức cạnh tranh trong hoạt động xuất khẩu lao động. khả năng thích nghi với môi trường mới của người lao động. Trường hợp này người lao động cũng bị thiệt hại về tài chính song không nhiều như trường hợp trên. nghe thậm chí là đọc. Họ bị thiệt hại về tài chính nặng nề (vì số tiền nộp để đi xuất khẩu lao động lên tới hàng chục triệu đồng Việt Nam) thậm chí có những người lao động đã phải trả giá cả bằng tính mạng. • Tính đa dạng của thị trường xuất khẩu lao động. Rủi ro phát sinh chủ yếu là do doanh nghiệp xuất khẩu lao động là các “doanh nghiệp ma” nghĩa là hoạt động không hề có sự cho phép của các cơ quan chức năng.khẩu lao động phải hoàn trả). sự thiếu thông tin về lĩnh vực xuất khẩu lao động và đặc biệt là khát vọng muốn đổi đời của người lao động để lừa đảo. viết ngoại ngữ của nước sẽ tới. thể trạng. 10 . Chính phủ Việt Nam và chính phủ nước sở tại có thể bị hại một cách gián tiếp trong việc giải quyết hậu quả. cân nặng. Hạn chế trong hoạt động xuất khẩu lao động: là những yếu kém còn tồn tại trong hoạt động xuất khẩu lao động và cần được khắc phục. • Công tác quản lý hoạt động xuất khẩu lao động của nhà nứơc. + Trình độ ngoại ngữ: khả năng nói. + Từ phía doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Trong trường hợp này ngưòi bị hại trực tiếp là người lao động. b) Hạn chế trong hoạt động xuất khẩu lao động. Nó lại đựơc đo bằng: chất lượng và kỷ luật lao động của người lao động. Thực chất hành vi của các doanh nghiệp này là lợi dụng sự cả tin của người lao động. Bên cạnh đó cũng có những doanh nghiệp xuất khẩu lao động đựơc cấp giấy phép rồi nhưng hoạt động không hiệu quả đã nhận tiền của người lao động song lại không tìm kiếm được thị trường để đưa họ đi. Chất lượng lao động bao gồm: + Trình độ. Kỷ luật lao động: là ý thức của ngưòi lao động trong việc tuân thủ các quy định tại nơi làm việc cũng như các quy định trong hợp đồng lao động. Ngoài ra còn một số yêu cầu riêng tuỳ theo nghề. tay nghề: kiến thức. Nếu tình trạng này kéo dài doanh nghiệp xuất khẩu lao động có thể bị phá sản hoặc bị thu hồi giấy phép xuất khẩu lao động. kỹ năng. nhân phẩm. Muốn nói tới khả năng tham gia và chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu lao động. hiểu biết mà người lao động đã được đào tạo trước khi đi cũng như khả năng tiếp thu công nghệ mới của người lao động. + Sức khoẻ: chiều cao.

kích thích các yếu tố. đón nhận những luồng gió mới từ bên ngoài vào. doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Và một số các khía cạnh khác liên quan đến phúc lợi xã hội. + Doanh nghiệp xuất khẩu lao động: là lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu lao động. Cụ thể như sau: + Với người lao động: đó là thu nhập sau thuế và các hàng hoá có giá trị có thể gửi về nước. 2. Bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế là sự mở cửa nền kinh tế. phồn vinh. + Nhà nước: là nguồn ngoại tệ thu về. hạnh phúc. + Khả năng giải quyết công ăn việc làm. điều kiện trong nước để phát triển kinh tế. 6. Người ta dùng rất nhiều các tiêu thức khác nhau để đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động. IV. Bài viết sử dụng hai chỉ tiêu cơ bản sau: • Hiệu quả về kinh tế Là những lợi ích vật chất mà các chủ thể của nước xuất khẩu lao động (nhà nước. trang 235). Những cơ hội và thách thức mà hội nhập kinh tế quốctế đem lại cho các quốc gia thành viên của nó là: 11 . HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. • Hiệu quả về xã hội Là tất cả những lợi ích phi vật chất có thể có được trực tiếp qua hoạt động xuất khẩu lao động hoặc phát sinh từ hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu lao động nhằm đảm bảo cho xã hội ổn định. Khái niệm Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động. (Giáo trình Kinh tế quốc tế. ngừơi lao động) nhận được thông qua hoạt động xuất khẩu lao động. chính sách liên quan đến xuất khẩu lao động mà nhà nứơc đã ban hành và việc tiến hành triển khai thực hiện chúng. + Mỗi quan hệ giao lưu hợp tác với nước bạn. Những thời cơ và thách thức hội nhập kinh tế quốc tế đem lại. Biểu hiện: + Khả năng đảm bảo cuộc sống cho người lao động. trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên có sự rằng buộc theo những quy định chung của khối.Là toàn bộ hệ thống các văn bản pháp quy.

+ Hội nhập kinh tế quốc tế cũng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới để nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường. + Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình hợp tác để phát triển nhưng đồng thời cũng là quá trình đấu tranh rất phức tạp của các quốc gia (nhất là các quốc gia chưa phát triển) để bảo vệ lợi ích của mình. Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu khách quan. khu vực hoá. Sự hội nhập đó đem lại cả những thời cơ và thách thức cho những quốc gia này. khi mà hiện nay nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới có mối liên hệ phụ thuộc ngày càng chặt chẽ thì sự liên kết. Hội nhập là quy luật tất yếu khi lực lượng sản xuất ngày càng phát triển. Thông qua quá trình hội nhập kinh tế quốc tế các quốc gia này phát huy tối ưu các lợi thế so sánh của mình đồng thời cũng tiếp nhận công nghệ tiên tiến. đối phó với những thách thức thì quốc gia ấy ắt sẽ mạnh.+ Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình xoá bỏ từng bước. Thật vậy. hội nhập giữa các quốc gia này là điều hoàn toàn tất yếu. Trong thời đại mới này không thể có một quốc gia nào lại tồn tại được nếu không có bất cứ một sự liên hệ nào với thế giới bên ngoài và cũng không có quốc gia nào có nền kinh tế phát triển mà lại không có nhiều sự liên kết hợp tác với các quốc gia khác. trong thời đại mới này hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu khách quan. Quốc gia nào biết nắm lấy thời cơ. xuất khẩu lao động là một biện pháp để giải quyết việc làm cho người lao động. HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. V. Quá trình đó diễn ra ngày càng mạnh mẽ dưới tác động của xu thế toàn cầu hoá. quốc tế hoá nền kinh tế và sự phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu. + Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện mở rộng thị trường ngoài nước. GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM. tận dụng thời cơ đồng thời biết đương đầu. MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG. + Hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội vươn lên của các quốc gia đang và kém phát triển. phương pháp quản lý hiện đại trên thế giới. Như đã trình bày ở trên. từng phần của rào cản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia. Chính vì thế. khơi thông các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển kinh tế. Nhưng chúng ta cũng cần lưu ý rằng việc tiến hành xuất khẩu lao động hiện nay đã bước sang một thời kỳ mới_ thời kỳ xuất khẩu lao động chịu sự tác 12 . Các quốc gia dù là cường quốc kinh tế hay kém phát triển nhưng trong xu hướng chung thì đều hội nhập vào nền kinh tế quốc tế. 3. chống lại sự áp đặt phi lý của các cường quốc mạnh.

không thể tách rời. Giải quyết việc làm trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những yêu cầu. hội nhập kinh tế quốc tế cũng còn có thể tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lao động trong nước. Tuy vậy. tạo sức ép việc làm tăng lên. trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sự di chuyển tự do lao động quốc tế sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn và đó có thể là nguy cơ đẩy cao sự mất việc làm của người lao động trong nước. cần có những chiến lược. Người lao động không chỉ cần có việc làm. 13 .động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu lao động góp phần giải quyết việc làm. Và xuất khẩu lao động với tư cách là một giải pháp tạo việc làm sẽ phải có những bước đi như thế nào để đáp ứng được những yêu cầu trên. giữa xuất khẩu lao động. Ngược lại. tính mạng. Và chúng ta cũng cần khẳng định rằng: ba phạm trù trên có mối quan hệ rất chặt chẽ. cần cả những phúc lợi xã hội mà họ sẽ nhận được thông qua quá trình lao động. những thách thức không giống giai đoạn trước. Vì thế. giải quyết việc làm. hội nhập kinh tế quốc tế luôn có mối quan hệ tác động qua lại và mang tính biện chứng. Tóm lại. sức khoẻ cho họ. có thu nhập đủ sống mà cần cả những môi trường làm việc đảm bảo sự an toàn. Quá trình này sẽ tạo ra những thuận lợi và cả những khó khăn cho công tác xuất khẩu lao động. chính sách và bịên pháp cụ thể cho xuất khẩu lao động.

thương binh và xã hội. Tổng số việc làm(triệu) 1986 1990 1999 Mức tăng năm(86-99) Tổng số(ngàn) Tốc độ(%) hàng 702 2. xây dựng 13.2 6. Việc làm mới là số việc làm tăng lên tuyệt đối bình quân một năm.0 Nguồn: bộ lao động.1 Dịch vụ 1985 1990 1999 100 100 100 13. bình quân mỗi năm có hơn 700 nghìn việc làm mới được tạo ra.thương binh và xã hội.1 13.3 35.5 4.thương binh và xã hội. Số người lao động trong độ tuổi lao động có việc làm chiếm tỷ lệ cao (93% trong tổng số).1 30.9 12.0 Công nghiệp.6 4.9 Công nghiệp.3 3.2 69. XD 3. Trong giai đoạn này nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng tốc độ chuyển dịch cơ cấu việc làm khá chậm.6 13.31%/năm.8 Nông-lâmngư nghiệp 19 21.6 Chung 26. Bảng 2: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế 1985-1999.31 422 1.CHƯƠNG II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM A_ Tình hình lao động và việc làm ở Việt Nam trong thời gian qua.883 triệu lao động (từ 13 tuổi trở lên) và 2/3 trong số này là ở khu vực nông thôn.9 24. tốc độ tăng việc làm đạt 2.9 19. Trong giai đoạn 1986-1999 tổng số việc làm đã tăng gần 10 triệu riêng năm 1999 đạt 36 triệu việc làm.2 4.8 Dịch vụ Nguồn: Bộ lao động. Theo số liệu thống kê của bộ lao động. Số việc làm được tạo thêm vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực nông nghiệp. Như vậy.9 72. 14 .34 227 4. năm 2000 cả nước có 38.95 53 1. Đơn vị: % Năm Chung Nônglâm-ngư nghiệp 72. Bảng 1: Việc làm và tốc độ tăng việc làm 1986-1999.

dịch vụ là 20.61 69.31 73.95 72. công nghiệp là 14. Thành phần KT Nhà nước Tập thể Số lao (người) 3769151 6144862 động Tỷ lệ trong tổng số lao động (%) 10 16.14 0.94 Tư nhân và hỗn 1361376 hợp Cá thể FDI 26048291 353750 Nguồn: bộ lao động-thương binh và xã hội. lâm nghiệp).1%.thương binh và xã hội năm 2001 cả nước có 60. Nhưng thực tế điều tra cũng 15 .44 7.5%.32 3.86 2001 6. Theo điều tra dân số.4 74. Kết luận: So với các nước trong khu vực thì tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam tương đối cao.nguồn lao động năm 2001 thì dân số từ 15 tuổi trở lên có việc làm thường xuyên chia theo thành phần kinh tế như sau: Bảng 4: Dân số có việc làm chia theo thành phần kinh tế. Đơn vị: % Năm Cả nước Hà nội 1998 6.85 9.Trong một thời gian dài tỷ lệ lao động nữ luôn là 50-52% tổng số lao động nhưng năm 2000 giảm xuống còn 48%. Cũng theo thống kê của bộ lao động.4 Tỷ lệ 71.7% lực lượng lao động kê khai nghề nghiệp chính là nông nghiệp (chăn nuôi.09 1999 7.49 2000 6. Khu vực nông thôn vẫn là khu vực thu hút chủ yếu lực lượng lao động và là khu vực tạo ra đựơc nhiều việc làm mới cho người lao động.13 sửdụng TGLV ở KVNT Nguồn: bộ lao động-thương binh và xã hội: số liệu thống kê lao động và việc làm 962000 Khu vực nông thôn vẫn tập trung chủ yếu lực lượng lao động nhưng trong số đó chỉ có 1/10 lao động là thuộc diện hưởng lương số còn lại là nhân công trong gia đình ngay cả ở khu vực thành thị con số này cũng chưa đầy 50%.4 10. nuôi trồng thuỷ sản.2 7. Bảng 3: Bảng tỷ lệ thất nghiệp.

Và xuất khẩu lao động là một trong những biện pháp đã được áp dụng. giải quyết việc làm cho đối tượng là lao động ở nông thôn là điều cần làm trước hết. B_ Xuất khẩu lao động Việt Nam thời kỳ 1980. Chỉ đến khi xuất khẩu lao động được tiến hành và đem lại các kết quả tốt đẹp thì nhận thức của Đảng và Nhà nước ta dần dần thay đổi và coi nó như một biện pháp chiến lược trong giải quyết việc làm và phát triển kinh tế đất nước. sự nới lỏng. I. phát triển của xuất khẩu lao động Việt Nam cũng đồng thời phản ánh bối cảnh kinh tế xã hội của Việt Nam và quan điểm chủ trương của Đảng. Chúng ta có thể phân chia xuất khẩu lao động thành hai chặng đường cơ bản sau: + Giai đoạn từ 1980 đến 1990 + Giai đoạn từ 1991 đến 2003. do chính nhà nước tiến hành và hầu như không chịu sự tác động của thị trường. tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu lao động. ngay từ đầu dù xác định xuất khẩu lao động là một biện pháp quan trọng để giải quyết việc làm nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn chưa nhận thức đúng đắn hoàn toàn về nó. Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương. chủ thể tham gia chủ yếu trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài không phải nhà nước mà là các doanh nghiệp xuất khẩu lao động.cho thấy tỷ lệ sử dụng thời gian làm việc ở khu vực này chưa cao chỉ chiếm khoảng hơn 70%. chính sách. Trước tình trạng sức ép việc làm đã có những tác động xấu không nhỏ lên nền kinh tế. nhà nước ta trong từng thời kỳ. Nhờ vậy mà trong những năm gần đây có thể nói hoạt động xuất khẩu lao động đang trên đường khởi sắc. Giai đoạn 1991-2003: là giai đoạn xuất khẩu lao động chịu sự tác động của thị trường.2003. 16 . Mặt khác. biện pháp để giải quyết việc làm cho người lao động nhằm giảm bớt sức ép về việc làm. Và đó là một sự lãng phí nguồn lao động. Giai đoạn từ 1980-1990: là giai đoạn xuất khẩu lao động được sự bao cấp hoàn toàn của nhà nước. Đóng góp vào trong đó có phần không nhỏ của công tác xuất khẩu lao động. Sự chuyển biến trong nhận thức cũng dẫn đến sự ban hành hàng loạt các chính sách. Phân chia như vậy cho thấy con đường trưởng thành. Công bằng mà nói. Chính bởi vậy. lên đời sống xã hội của quần chúng nhân dân và nhiều khía cạnh khác. Sở dĩ phân chia như trên vì xuất khẩu lao động trong hai giai đoạn trên có những đặc trưng cơ bản rất khác biệt.Tuy chưa xoá bỏ được sức ép về việc làm nhưng chúng ta cũng đã đạt đựơc những kết quả đáng ghi nhận. Giai đoạn 1980 đến 1990. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. thu nhập ở khu vực này còn thấp lại chủ yếu làm công cho hộ gia đình mình nên cuộc sống của người lao động chưa được cải thiện là mấy.

Cônggô. khám sức khoẻ. đơn vị. đoàn. chịu chi phí đào tạo hoàn toàn với nguồn lao động do ta cung ứng. công nhân.Từ đầu năm 1980 chính phủ ra quyết định QĐ 46/ CP ngày 11/02/1980 “về việc đưa công nhân và cán bộ đi bồi dưỡng nâng cao trình độ và làm việc có thời hạn ở các nước xã hội chủ nghĩa”. thu tài chính. bình quân mỗi năm đưa được khoảng 2. giáo dục. Tại khu vực Trung Đông chúng ta cũng đã đưa lao động đi làm việc trong các lĩnh vực công nghiệp. Các cơ quan quản lý nhà nước phải làm tất cả từ đàm phán ký kết đến phân bổ chỉ tiêu tuyển lao động. Đối tượng được đưa đi thường là cán bộ. biên chế lực lượng lao độngđược tuyển thành các đơn vị đưa đi. Trong khuôn khổ hịêp định và nghị định thư đã ký kết giữa nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu (Liên Xô. 1989. chiếm 2/3 nguồn dầu mỏ của thế giới. giúp đỡ lẫn nhau giữa các nứơc là thành viên của khối “SEV” (Hội đồng tương trợ kinh tế). Lao động có nghề chiếm khoảng 42%. Angieri. Do được tuyển chọn. 2. bồi dưỡng. Đa số lao động trước khi đi không qua đào tạo. Modămbich. Người lao động không phải trả bất cứ một khoản chi phí nào do được nhà nước bao cấp. Trong thời kỳ này chúng ta cũng đã tổ chức đưa lao động sang làm việc ở Trung Phi chủ yếu dưới hình thức hợp tác chuyên gia trong lĩnh vực y tế. lao động không có nghề chiếm 58%.000 lượt lao động Việt Nam làm việc tại các công trình thuỷ lợi lớn. Năm 1980 Việt Nam bắt đầu đưa lao động sang Iraq thông qua hiệp định chính phủ gồm có gần 20. CHDC Đức. Bungari. Nước bạn bố trí sử dụng. Tiệp Khắc) ta đã đưa được 277183 lao động và chuyên gia đi làm việc ở nứơc ngoài. làm thủ tục xuất cảnh. Do chiến tranh vùng Vịnh số lao động nói trên phải trở về nước.5 vạn lao động. Giai đoạn 1991 đến 2003. xí nghiệp theo hình thức đội. Lao động được bố trí làm việc tại nhà máy. 1990 lao động không có nghề chiếm khoản 70%. vùng và đựơc đào tạo nghề theo hình thức kèm cặp trong sản xuất tại xí nghiệp của bạn. Đặc trưng của giai đoạn này là: sự hợp tác lao động mang tính chất tương trợ. tài chính ở một số nước như: Ăngola. bộ đội xuất ngũ và con em của các cán bộ công nhân viên đang công tác. giáo dục kỹ trước khi đi lại được quản lý chặt chẽ ở nước ngoài nên lao động Việt Nam được nứơc bạn tin dùng và đánh giá cao. tính cạnh tranh không cao và nói chung hiệu quả kinh tế chưa cao. kỹ thuật. 17 . kiểm tra hồ sơ. Vì thế xuất khẩu lao động ít chịu tác động của thị trường. Lao động sang các nước Đông Âu chủ yếu là lao động trong lĩnh vực xây dựng. Trung Đông là khu vực bao gồm một số nước ở TÂY NAM Á VÀ BẮC PHI trải dài từ Libia đến Afganistan gồm chủ yếu các nước theo đạo Hồi. tổ chức. Đặc biệt những năm 1988. xây dựng.

HĐH”.59 388.122 75.008 lao động đi làm việc tại 46 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các kết quả đạt đựơc của xuất khẩu lao động trong giai đoạn này là: a) Số lượng lao động đựơc đưa đi làm việc có thời hạn ở nứơc ngoài và số thị trường xuất khẩu lao động.960 9.6 46 46 27 38 40 15 12 Thị trườngXKLĐ Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 Tổng Số lao động(người) 1. giải quyết việc làm. mang tính cạnh tranh cao hơn và chắc chắn sẽ hiệu quả hơn nhiều.97 45. tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.020 810 3. Chỉ thị 41_CT/ TƯ(22/9/1998) khẳng định: “Xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực. đúng đắn hơn về xuất khẩu lao động. cùng với sự chuyển biến tính chất của nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường nên đặc trựng của xuất khẩu lao động trong giai đoạn này là xuất khẩu lao động chịu sự tác động của quy luật thị trường. lâu dài. tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động.050 12.Bắt đầu từ giai đoạn này chính phủ Việt Nam đã có những nhận thức mới mẻ hơn. góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nứơc trong thời kỳ CNH.240 21.000 279.73 78.230 10.89 -33. Chúng ta có bảng sau: Bảng 5: Số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài. Trong thời gian qua chúng ta đã đưa đựơc tổng số 279.19 44. cùng với các giải pháp giải quyết việc làm trong nước là chính.89 133.240 31.468 36. xuất khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lược quan trọng.660 18. Tăng so với năm trước(%) ---20.88 25.52 62.1 8.008 18 .93 27.28 14.470 12.168 46. Mặt khác.

5 <1.0 1997 3. 1998 tỷ lệ tăng số lao động được đưa đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài so với năm trước đó đều sụt giảm một cách nghiêm trọng. Sau biến cố chính trị này tất cả lao động nước ngoài ở các nước này đều phải trở về nước trong đó có lao động Việt Nam.0 2. Liên hệ với bối cảnh kinh tế trong nước.8 2. từ trước cho đến thời điểm đó Liên Xô và các nước Đông Âu vốn là thị trường xuất khẩu lao động truyền thống của Việt Nam nên khi xảy ra biến cố này Việt Nam thực sự rơi vào tình thế bị động trong cả việc giải quyết việc làm. Mặt khác. ổn định đời sống cho người lao động về nước và việc tiếp tục duy trì hoạt động xuất khẩu lao động.3 1354 +Duy trì c/t TNS.Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn.6 2.8 2. khu vực và thế giới trong khoảng thời gian đó ta giải thích như sau: + Cuối thập kỉ 80 đầu thập kỉ 90 sau sự sụp đổ của Liên Xô. Qua bảng trên chúng ta có thể nhận thấy một số điểm mốc quan trọng trong hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua.7 -19 (12/97) -55 (12/97) -48(1/98) Hàn Quốc 7. • Năm 1992. trì trệ nền kinh tế của các nước trong khu vực.5 3. lãnh thổ Tỷ lệ tăng trưởng Tỷ lệ GDP(%) nghiệp(%) 95-97 Nhật Bản 2 1998 2.0 1. Bảng 2: ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng khu vực tại một số nứơc châu á. Cuộc khủng hoảng kéo theo nó là sự sụp đổ.6 19 . Nước. làm giảm nhu cầu nhập khẩu lao động nước ngoài tại các nước này. Vì thế số lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài năm 1992 chỉ dừng lại ở con số 810 người.2 Malaysia 8. + Năm 1997 diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực châu á mà đầu tiên là ở ThaiLan. +G/hạn HĐ về ĐT H/chế nhập l/đ phổ thông 210 2500 Tạm dừng Hồi hương lao động bất hợp pháp Singapo 7.4 sách thất Sự giảm giá Số lao Chính điều chỉnh về động đồng tiền lao động nứơc 1998 6/97-5/98 ngoài 4.5 6. hàng loạt các nước XHCN ở Đông Âu cũng liên tiếp sụp đổ.

Từ chỗ chỉ có 12 thị trường năm 1992 lên tới 46 thị trường vào năm 2003. Năm 2003 số lao động được đưa đi làm việc ở nứơc ngoài chiếm tới 26. Tỷ lệ lao động có tay nghề là khoảng 65%. điện tử. Cụ thể là: 45% lao động làm trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ.cầu trên thị trường.0 Nguồn: Niên giám thống kê di dân châu á. Điều đó cho thấy: + Thứ nhất. dệt. 94) và rồi lại có xu hướng giảm dần. nghề khác nhau như: xây dựng.5 2. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu lao động phổ thông có xu hướng giảm và tăng nhu cầu lao động có tay nghề (trước khi đi làm việc ở nứơc ngoài đã được đào tạo). Hiện nay lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đang tham gia lao động ở 30 nhóm ngành. + Thứ hai. 6% trong lĩnh vực nông nghiệp và chế biến thuỷ sản. hoạt động xuất khẩu lao động thực sự đã bị yếu tố thị trường chi phối nghĩa là phụ thuộc vào quan hệ cung. • Những năm sau đó tỷ lệ tăng so với năm trước được khôi phục (93. giáo dục.88% tổng số lao động trong cả giai đoạn 1990-2003. cơ khí. Indonexia. Libia tỷ lệ này đạt gần 100%. Những kết quả đó cho thấy trong tương lai hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sẽ còn gặt hái nhiều thành công hơn nữa. cơ cấu lao động. chế biến thuỷ sản. đánh bắt hải sản. dịch vụ. 20 . Philippin. đặc biệt là các nứơc trong khu vực như ThaiLan. chuyên gia y tế. Về thị trường xuất khẩu lao động: không ngừng đựơc mở rộng và khai thác. xuất hiện tính cạnh tranh gay gắt với các nứơc xuất khẩu lao động khác. hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam vẫn khởi sắc. máy. 26% trong lĩnh vực xây dựng. nông nghiệp. chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng áp dụng các biện pháp khắc phục kịp thời. b) Cơ cấu ngành nghề. ở một số nước như Nhật Bản. Dù vậy.Đài Loan 297 Nhập lao động xd. 20% trong lĩnh vực cơ khí. dịch vụ các nước ĐNA Hạn chế Hồng Kông 5. vận tải biển. nhạy bén với thời cuộc để chuyển từ thế bị động sang thế chủ động.00 3. Trong thời gian ngắn hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam lại nhanh chóng đi vào sự ổn định.9 4. Bảng 6: Lao động trong các ngành giai đoạn 1991-1999. 3% trong lĩnh vực khác.

đánh 14.93 100 Thuyền viên. bình quân 250 USD/ người/tháng. Lao động Việt Nam làm việc trong lĩnh vực này chưa nhiều. + Thuyền viên: cường độ làm việc cao dù là thuyền trưởng hay thuyền viên.43 14. c) Thị trường xuất khẩu lao động.000 11. Tuy nhiên lao động Việt Nam trong lĩnh vực này cũng được đánh giá khá cao. đòi hỏi người lao động phải có sức chịu đựng. phải sử dụng thành thạo các dụng cụ sinh hoạt. 21 . vô kỷ luật_ nhiều lao động phá vỡ hợp đồng bỏ ra làm ngoài.500 cá Các nghề p/thông 29640 khác Tổng 78140 Nguồn: tổng hợp từ nhiều nguồn • Yêu cầu một số ngành nghề mà các nước nhập khẩu lao động đòi hỏi. kỉ luật lao động nghiêm khắc. trung thực. công nghệ và máy móc xây dựng khá hiện đại. + Công nhân nhà máy: làm việc trong các nhà máy có trình độ tự động và chuyên môn hoá cao. + Lao động giúp việc gia đình: Yêu cầu ngoại ngữ tốt để giao tiếp hàng ngày với đối tượng phục vụ. Thuyền viên Việt Nam nói chung chưa đáp ứng được những yêu cầu trên đây. Thợ lao động xây dựng Việt Nam khéo léo. có tay nghề. Thu nhập bình quân 500 USD/người/ tháng _ bằng 50-60% thu nhập của công nhân nước sở tại. chịu được sóng gió. tận tụy với công việc. tính bền bỉ trong công việc cao. tiền công không cao. có tác phong công nghiệp và vốn ngoại ngữ khá để thực hiện chính xác mệnh lệnh của thuyền trưởng.08 18.56 37. cường độ lao động cao. ý thức kỷ luật lao động cao để hoà nhập với công nhân nước khác. tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro. một phần do ngoại ngữ yếu. dễ tiếp thu công nghệ nhưng tính vô kỷ luật cao nên chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số lao động bị trả về nước. tổ chức thi công trên công trường rất khoa học. một phần do quan niệm xã hội Việt Nam mấy năm gần đây mới coi giúp việc gia đình là một nghề. đòi hỏi người thuyền viên phải có thể lực tốt. + Thợ xây dựng: là loại lao động nặng nhọc chủ yếu diễn ra ngoài trời.000 Tỷ lệ lao động (%) 29. Lao động Việt Nam ở nhóm này nói chung trình độ kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu nhưng trình độ ngoại ngữ kém.Lĩnh vực Xây dựng Dệt may Số lao động(người) 23.

Mặt khác thời tiết nắng nóng. Năm 1994 sự hợp tác tạm dừng. Lybia. nghề may khoảng 150 USD/ người/tháng. 1990-1994 đưa gần 2000 lao động cơ khí và lắp ráp sang làm việc tại các nhà máy của Lybia. CONSTREXIM. CHLB Đức.…nên đến nay đây vẫn là thị trường bỏ ngỏ. + Nhật Bản: bắt đầu có quan hệ hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực lao động từ năm 1992. Trong giai đoạn 1995. LOD) ký kết và thực hiện hợp đồng nhận thầu xây dựng trên 1000 biệt thự 2 tầng. CH Ailen. xây dựng. Tại thị trường này ít xảy ra các vấn đề với người lao động và đặc biệt là không có lao động bỏ trốn ra làm việc ngoài hợp đồng. y tế. Thu nhập bình quân khoảng 210 USD/ người/ tháng. Từ 1996-2002 mới có 4 công ty (VINACONEX. Thị trường Trung Đông và Châu Phi: chủ yếu là xuất khẩu chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp. Số ở lại tính đến năm 2002 là 500 người. vật liệu cũng quá nặng so với sức khoẻ của người lao động Việt Nam. Hylap. Hai là. Thụy Điển. + Lybia: bắt đầu có quan hệ hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực lao động từ năm 1990 thông qua hai hình thức: Một là. • Tại châu á. Singapor. Malaysia. Chúng ta đang dần tiến đến các thị trường khó tính nhưng đầy sức hấp dẫn như Mỹ. Từ năm 1992-2002 có 9000 người lao động trong đó 99% làm việc trong lĩnh vực xây dựng. Canada. 22 . phục vụ nhà hàng.Nếu như giai đoạn 1980-1990: Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu là thị trường xuất khẩu lao động truyền thống của Việt Nam thì đến giai đoạn 1991-2003 thị trường đó lại là: Hàn Quốc. giáo dục. + Coet: bắt đầu có quan hệ hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực lao động từ 1996. Ngành nghề chủ yếu là may mặc. kỹ thuật khác xa với Việt Nam. CHDCND Lào. Năm 1997 chương trình hợp tác được tiếp nối và triển khai với quy mô tính đến năm 2002 là 1000 người. + Các tiểu vương quốc ả rập thống nhất (UAE): bắt đầu có quan hệ hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực lao động từ năm 1995. Nga. Hylap. Manta. còn lại là nghề khác. OLECO. Ba Lan trúng thầu tại Lybia. Các thị trường mới tiềm năng như: Đài Loan. Nhật Bản. hợp tác trực tiếp theo thoả thuận giữa bộ quốc phòng hai nước. Tuy nhiên.2002 Việt Nam đã đưa được trên 1000 lao động đi làm việc ở khu vực này. hợp tác gián tiếp thông qua một số công ty của Hàn Quốc. đưa được trên 200 lao động đi làm việc tại Coet. do đối tác chưa thực sự nghiêm túc trong thực hiện hợp đồng. Sau đây là tình hình cụ thể về lao động Việt Nam tại một số thị trường: • Tại Trung Đông. Thu nhập của công nhân xây dựng khoảng 180-280 USD/ người/tháng.

may. đặc điểm nổi bật của thị trường Nhật Bản là chỉ nhận lao động có tay nghề kỹ thuật từ một số cơ sở sản xuất công nghiệp như điện tử. Thế nhưng. IMS. Đó là: LOD. Nhưng thị trường Nhật Bản cũng rất hấp dẫn bởi mức thu nhập cao. Năm 1996 số lao động đưa đi đạt mức kỷ lực ở con số 6. OLECO. Năm 1996 Số lao động (người) 6275 23 . Từ năm 1992-2002: có 40 doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam phối hợp với tổ chức hợp tác lao động quốc tế Nhật Bản (JITCO) đưa được khoảng 10. người Nhật ít thiện cảm với lao động ngụ cư nước ngoài nên có quy định khá ngặt nghèo với lao động làm thuê nước ngoài. xây dựng. + Hàn Quốc: chính thức đặt quan hệ hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực lao động từ năm 1993 chủ yếu thông qua chế độ tu nghiệp sinh. xây dựng phân bố trên khắp nước Nhật. Trong tương lai do dân số Nhật đang già hoá nên sẽ có nhu cầu rất lớn về nhập khẩu lao động nhưng chủ yếu là các lao động có trình độ kỹ thuật cao.Hình thức hợp tác chủ yếu là thông qua “chương trình tu nghiệp sinh nghề và thực tập kỹ thuật” cho phép lao động Việt Nam (gọi là tu nghiệp sinh) tham gia thu nghiệp nghề và thực hành tại các xí nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản. TRACODI.… và lao động phải được học tiếng Nhật trước khi đi. chủ yếu trong lĩnh vực dệt. Khi làm thêm giờ người lao động sẽ được trả 150%so với mức lương chính. TRACIMEXCO. Từ năm 1994 theo thoả thuận về chương trình tiếp nhận tu nghiệp sinh y tá. Thị trường Nhật Bản là thị trường khó tính vì: thứ nhất. VINACONEX. Theo đó. Thị trường Nhật Bản ít coi trọng tầm vóc. Tính đến năm 2000 có 8 doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam được phép cung ứng TNS cho Hàn Quốc. SOVILACO đưa được tổng số lao động sang làm việc tại Hàn Quốc là 29. SULECO. sau khi thi tay nghề là 800 USD/ tháng. hàng năm Việt Nam đưa 15-20 người sang học ở một số trường y tá Nhật Bản. lao động Việt Nam sang tu nghiệp tại Nhật đã phá vỡ hợp đồng ra làm ngoài không ít gây thịêt hại về kinh tế cho cả hai bên và sự mất uy tín cho phía Việt Nam.000 người chiếm khoảng 40% thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam kể từ khi thực hiện theo cơ chế mới.000 lao động sang Nhật Bản tu nghiệp. ngôn ngữ của người lao động nước ngoài nhưng lại rất đề cao tính trung thực và kỷ luật trong lao động.275 người. thứ hai. Sau khi tốt nghiệp các y tá này đựơc làm việc 4 năm tại bệnh viên Nhật Bản và được hưởng lương + chế độ khác như lao động Nhật Bản. Mức lương cho người học nghề Việt Nam ở năm đầu tiên khoảng 700 USD/ tháng. cơ khí.

Thời hạn hợp đồng làm việc ở Đài Loan là 2 năm. 127 (41. thuyền viên đánh cá. mức tiền công chênh lệch không nhiều. Đặc trưng của thị trường này là có nhu cầu rất lớn đối với lao động làm việc trong các nhà máy. Tính đến năm 2000 có 139 doanh nghiệp Việt Nam chuyên doanh xuất khẩu lao động được phép cung ứng lao động cho Đài Loan trong đó có 34 doanh nghiệp được phép thí điểm cung ứng lao động khán hộ công và giúp việc gia đình.100 WON). giúp việc gia đình và khán hộ công. xây dựng. kém hấp dẫn. Cũng trong năm 2000 có 30/139 doanh nghiệp đã ký kết đựơc hợp đồng xuất khẩu lao động đưa được 6000 lao động (3256 nữ) sang làm việc tập trung ở ngành như điện tử. dệt. Năm 2003 có tới 14. 6 người (1. 11 người (3. + Đài Loan: bắt đầu có quan hệ hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực lao động từ năm tháng 11/1999. Lao động nước ngoài được hưởng các quyền lợi gần như lao động trong nước. độc hại) nên thu nhập thường không cao. Từ tháng 11/1999 đến 2002 có 26. Thu nhập bình quân là 250-300 USD/tháng. 24 . Nguyên nhân 108 người (35. giúp việc gia đình và khán hộ công là 32%. Trong năm 2000 có 306 lao động bị trả về nước trước thời hạn chiếm 5.59%) vi phạm kỷ luật. thuyền viên la 7%.5%) do tiếng Hoa kém.000 lao động Việt Nam là lao động bất hợp pháp.500 lao động phân bố ở 28 ngành nghề khác nhau trong đó làm việc sản xuất chế tạo chiếm 50%.96%) do phía chủ và công ty môi giới không chấp nhận. Theo ông Phạm Tiến Vân_ đại biện lâm thời đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc “ khoảng 60% số lao động Việt Nam tại Hàn Quốc đã phá vỡ hợp đồng ra làm ngoài”. riêng khán hộ công và giúp việc gia đình là 1950 người. 000 WON/tháng (trên 400USD/ tháng theo tỷ giá năm 2000: 1USD = 1.3%) vì lý do sức khoẻ. may mặc. Với các TNS thì trong 3 tháng đầu chỉ được hưởng mức lương bằng 60-70% lương chính thức. Năm 2003: 1500 lao động Việt Nam bị bắt giữ vì làm ngoài. Lao động Việt Nam tại Hàn Quốc thường phải làm các công việc 3D (nặng nhọc.7% số lao động đưa sang.1999 Đầu 2000 2003 3700 5500 Trên 4000 Mức thu nhập bình quân là 500. Người lao động nước ngoài trong đó có lao động Việt Nam không được hưởng các quyền lợi về lao động như lao động Hàn Quốc nên nhiều lao động đã phá vỡ hợp đồng ra làm ngoài. đựơc gia hạn hợp đồng 1 lần tối đa không quá 1 năm nhưng chi phí môi giới rất cao khoảng 5-6 tháng tiền lương tiết kiệm của người lao động.

đóng góp nhiều cho hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong thời gian qua như: công ty SONA. có thể gia hạn 5 năm đối với lao động tay nghề thấp và 6 năm với lao động tay nghề cao. cũng trong số này thì có 85 doanh nghiệp thuộc 19 bộ.000 lao động. 141 doanh nghiệp ngành nghề khác được bổ sung chức năng xuất khẩu lao động. thành phố. Luật pháp Malaysia quy định người lao động nước ngoài ở Malaysia được hưởng sự đối xử như đối với lao động bản xứ về tiền lương và các lợi ích khác. khiển trách. tính bình quân mỗi tháng đưa trên 1000 lao động. Bên cạnh đó còn tồn tại nhiều doanh nghiệp hoạt động chưa hiệu quả. Đây là quốc gia có diện tích bằng diện tích của Việt Nam nhưng dân số chỉ bằng 1/3. ngành. 11 doanh nghiệp thuộc 5 đoàn thể ở trung ương và 3 doanh nghiệp tư nhân đựơc làm thí điểm xuất khẩu lao động. d) Doanh nghiệp xuất khẩu lao động. chi phí đi lại thấp. chưa phát triển được ở các khu vực khác. nông nghiệp và dịch vụ. đình chỉ hoạt động của 1 doanh nghiệp. Năm 1996 mới có 20 doanh nghiệp được cấp giấy phép xuất khẩu lao động thì đến năm 2003 con số này đã lên tới 156 trong đó có 15 doanh nghiệp chuyên xuất khẩu lao động. trên thực tế còn tồn tại rất nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này không hiệu quả nhưng chưa bị khiển 25 . Đây chỉ là những con số thống kê trên sổ sách. Đặc trưng của thị trường này là có nhu cầu về lao động có tay nghề và chuyên môn vừa phải. ta thấy rằng thị trường xuất khẩu lao động của Việt Nam tập trung chủ yếu mới chỉ ở khu vực châu á.000 lao động Việt Nam. Thu nhập bình quân khoảng 200 USD/ tháng.+ Malaysia: chính thức hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực lao động từ cuối tháng 4/2002. 1 doanh nghiệp đã bị thu hồi giấy phép do vi phạm nghiêm trọng nghị định 152/CP và 4 doanh nghiệp do hoạt động kém hiệu quả. hơn 700 lao động Việt Nam trong ngành xây dựng bị mất việc. ngay trên chính thị trừơng truyền thống của mình thì tỷ lệ lao động Việt Nam trong tổng số lao động nước ngoài vẫn còn rất thấp. sản xuất công nghiệp. cơ quan trực thuộc chính phủ. 57 doanh nghiệp thuộc 31 tỉnh. Trong tương lai thị trường Malai có thể tiếp nhận tới 200. Đầu năm 2004. tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trên 8%/năm. VIETRACIMEX ( thuộc bộ GTVT). Mặt khác. Từ tháng 4 đến tháng 8/2002 đưa trên 4000 người đi làm việc. VINACONEX ( thuộc bộ xây dựng). Từ tháng 4/2002 đến cuối 2003 có 70 doanh nghiệp được chính phủ cho phép làm thí điểm xuất khẩu lao động sang Malai đã đưa 70. Năm 2003 đưa được 40.000 lao động đi làm việc. Tóm lại. Năm 2001. cảnh cáo một số doanh nghiệp. Các công ty có uy tín lớn. công bố huỷ giấy phép hết thời hạn hoạt động của 7 doanh nghiệp. chủ yếu là lao động phổ thông cho lĩnh vực xây dựng. Thời hạn hợp đồng là 3 năm.

1 triệu rúp và 9 triệu USD. Người lao động muốn vay vốn thì phải thế chấp rất lớn ở ngân hàng. Thứ nhất. vì lợi nhuận nhiều tổ chức kinh tế vẫn thu phí cao hơn so với pháp luật quy định và dĩ nhiên người lao động không biết điều này. Đơn vị (triệu đồng) Năm Ngoại tệ thu về quy đổi đồngVN 26 . Trong thời kỳ 1980-1990 thông qua các hiệp định liên chính phủ. LỢI ÍCH VÀ HẠN CHẾ TỪ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG. Thay vào đó nhà nứơc ban hành một loạt các nghị định và thông tư hướng dẫn chế độ tài chính đối với ngưới lao động đi làm việc ở nước ngoài trong đó phân định rõ trách nhiệm thu chi tài chính đối với người lao động. Riêng số lao động ở Iraq cuối 1989 nộp ngân sách nhà nứơc 4. lãi suất cao.1 triệu rúp phi mậu dịch. • Lợi ích của nhà nứơc.183 lao động và chuyên gia đi làm việc ở các nước XHCN. các tổ chức kinh tế và nghĩa vụ của họ với nhà nứơc. Bảng7: Số ngoại tệ thu về cho ngân sách nhà nước. Trong giai đoạn đầu (1980-1990) người lao động được sự bao cấp từ phía nhà nước và nước tiếp nhận lao động nên vấn đề tài chính không phải là một sức ép với người lao động. Luật xem ra là hợp lý nhưng vấn đề thực hiện nó thì còn gây nhiều bức xúc.Lợi ích a) Hiệu quả về kinh tế. Nhưng trong giai đoạn này (từ 1991 trở đi) khi xuất khẩu lao động chịu sự tác động của quy luật thị trường thì nhà nước thôi không bao cấp nữa. Thứ hai.trách và còn rất nhiều doanh nghiệp ma mà các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này chưa nắm rõ hết đựơc. tồn tại. Nói chung.062 triệu đồng (thời giá 1990) tức 482. thủ tục lại rườm rà. e) Cơ chế tài chính. số tiền vay được cũng chỉ bằng 80% tổng chi phí hợp pháp ghi trong hợp đồng. 1. Cung cấp tài chính cho người lao động đi làm việc ở nứơc ngoài chưa phải là lĩnh vực quan tâm của các ngân hàng và quỹ tín dụng. Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh doanh nên lợi ích về kinh tế bao giờ cũng được đặt làm đầu. trực tiếp thu về 263. II. nghị định thư nhà nước ta đã được tổng số là 277. các thủ tục của khâu tài chính chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động. chưa có một cơ quan tài chính nào chính thức ra đời để hỗ trợ về tài chính cho người lao động.

358 187. Lợi ích kinh tế của nhà nứơc còn được thể hiện ở việc giảm được hàng chục tỷ đồng cho ngân sách nhà nước do không phải giải quyết việc làm cho những người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và một bộ phận nhỏ những người ăn theo (những người gián tiếp được tạo việc làm nhờ những lao động đi xuất khẩu).225 Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn. 6.800 4.000 6. Theo các con số thống kê thì thu nhập bình quân của người lao động đi làm việc ở nước ngoài bằng 10-15 lần so với thu nhập của lao động trong nước.000 7.1989 1990 1991 1992 1993 1994 Tổng 102.042 6. Chúng ta có thể lấy ví dụ như sau: Bảng 8: Thu nhập của lao động nước ngoài tại một số thị trường.013 77. Nếu hàng năm chúng ta đưa hàng chục nghìn thậm chí hàng trăm nghìn lao động đi làm việc ở nứơc ngoài thì ngân sách nhà nước sẽ tăng lên đáng kể.042 5.200 6.292 4.800 2.800 3.640 3.128 823. Đơn vị tính: USD/người/ năm.940 120.000 7.800 4.000 Thợ điện 27 . Nếu tính bình quân hàng năm mức chi phí quản lý cho một lao động đi làm việc ở nước ngoài là khoảng 30 USD và mức thu về khoảng 36.7 USD thì nhà nước lãi 6. Nhật Bản Nước Nghề Laođộng phổ thông Thợ mộc Thợ hàn Thợ dệt Thợ may Khán hộ 4.000 6.174 161.065 3.000 6.612 174.200 6.000 3. • Lợi ích với người lao động.7 USD/ người/ năm.065 Hàn Quốc Lybia Đài Loan nề. Động cơ chủ yếu thúc đẩy họ đi làm việc ở nước ngoài chính là thu nhập cao.

song chúng ta cũng bước đầu gặt hái được những thành 28 . Riêng năm 2000 là 1. Chưa có một thống kê cụ thể nào về lợi nhuận của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này nhưng qua báo cáo cho thấy tỷ suất lợi nhuận bình quân trên doanh thu của hoạt động xuất khẩu lao động ở một số doanh nghiệp đạt 15-20%. • Lợi ích với doanh nghiệp xuất khẩu lao động.000USD) 2.800 15.800 129.900 100.100 77. ….4 tỷ USD.200 Nguồn: Tạp chí thương mại số 15/2000. dù mới bước vào hoạt động xuất khẩu lao động đựơc 24 năm_ một thời gian quá ít so với kinh nghiệm hàng chục năm của các nước trong khu vực như Thai Lan. Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 Tổng Số ngoại tệ thu về (1.2 tỷ USD/ năm. Như vậy.800 675.. Trong giai đoạn 1980-1990 số hàng hoá mà người lao động Việt Nam ở các nước XHCN gửi về cho gia đình ước trị giá 720 tỷ đồng Việt Nam và ở các nước khác là trên 7 triệu USD.200 148.công Nguồn: Tạp chí thị trường.800 43.25 tỷ USD trong đó 250 triệu USD là của người đi lao động xuất khẩu theo các hợp đồng mới và 1 tỷ USD là do số lao động cũ ở lại làm việc và hoạt động kinh tế khác. Năm 2002 con số này là 1.11-9/2001 thì tính đến năm 2001 thu nhập ròng mà người lao động làm việc ở nước ngoài chuyển về nước là 1.giá cả số 3-2001. trang 27.500 6. Từ năm 1991 đến nay theo lời phát biểu của thủ tướng Phan Văn Khải tại hội nghị xuất khẩu lao động và chuyên gia họp tại Hà Nội ngày 10. Indonexia. Bảng 9: Số ngoại tệ thu về qua các doanh nghiệp xuất khẩu lao động giai đoạn 1991-1999. Tóm lại. trang 6. sau khi hết hạn lao động ở nước ngoài (thường là 2 năm) người lao động có thể tích luỹ được 70-80 triệu đồng với lao động phổ thông và 200-210 triệu đồng với lao động có tay nghề .300 150.

b) Hiệu quả về xã hội. một điều dễ thấy là thu nhập của người lao động đi làm việc ở nước ngoài tăng lên. góp phần cải thiện. Kết luận lại. Ví dụ: ở Philipin trong 2 năm 1997. Lao động nước ta hiện nay tập trung chủ yếu làm các công vịêc lao động phổ thông và các công việc có hàm lượng kỹ thuật thấp vì thế thu nhập của người lao động 29 . Và hiệu quả xã hội mới là cái đích cuối cùng mà chúng ta theo đuổi. • Sức cạnh tranh của hàng hoá sức lao động Việt Nam còn kém hơn so với các nước khá + Chất lượng lao động: Về sức khoẻ: nói chung sức khoẻ lao động Việt Nam phù hợp với công việc giúp việc gia đình. III. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ RỦI RO TRONG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ NGUYÊN NHÂN. xuất khẩu lao động góp phần giải quyết việc làm tạm thời cho người lao động. Ba là. Về trình độ tay nghề: còn khá kém. trong đó gần 60% là chưa có nghề và gần 4 vạn là lực lượng vũ trang đã hết hạn phục vụ trong quân ngũ. 1998 lao động đi làm việc ở nước ngoài đã chuyển về nước gần 11 tỷ USD (bằng giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 1999). làm việc trong nhà máy. Hai là. Trước hết là. Đời sống nhân dân được ổn định đó cũng là nền tảng cho sự ổn định của xã hội. Hạn chế.công nhất định. chưa đáp ứng đựơc yêu cầu của người sử dụng lao động. ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ. giảm bớt tệ nạn xã hội. Dẫu vậy chúng ta không khỏi trăn trở khi đặt các kết quả trên lên bàn cân so sánh với kết quả đạt được của các quốc gia xuất khẩu lao động khác trong khu vực. với số tiền tích luỹ được cộng thêm kinh nghiệm sản xuất và tác phong công nghiệp đã học được người lao động đi làm việc ở nước ngoài sau khi trở về nước có thể tự tạo việc làm cho bản thân mình và cho người khác. Nhiều lao động không chịu nổi điều kiện làm việc nặng nhọc và điều kiện thời tiết khắc nghiệt đã bỏ về nước. 1. công nghiệp xây dựng nhất là ở khu vực Trung Đông thì chưa đạt yêu cầu. Bốn là. thông qua xuất khẩu lao động góp phần làm tăng cường mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và các nước trên thế giới. Trong giai đoạn 1980-1990 giải quyết việc làm cho 3% lao động trong độ tuổi lao động (gần 27 vạn người). ta thấy rằng hiệu quả kinh tế là cái quan tâm trước mắt và góp phần tạo ra hiệu quả xã hội_ cái quan tâm lâu dài. Còn với các công việc như đi biển.

Họ chỉ nhận những lao động có trình độ kỹ thụât cao. Nguyên nhân của vấn đề trên bắt nguồn từ chỗ: đối tượng được đưa đi làm việc ở nước ngoài đa phần là lao động nông thôn. trên thực tế chất lượng hàng hoá sức lao động Việt Nam còn thấp lại mới xâm nhập vào 30 .thường không cao. làm liều. Đây mới chính là những thị trường đem về cho Việt Nam nguồn ngoại tệ lớn. Nhiều tranh chấp lao động xảy ra cũng bắt nguồn do người lao động không hiểu ý của người sử dụng lao động bởi sự bất đồng ngôn ngữ. • Thị trường xuất khẩu lao động còn nghèo nàn. Trung Bắc á. + Kỷ luật lao động: lao động Việt Nam được tiếng là cần cù. phá vỡ hợp đồng khá cao gây thiệt hại cho người sử dụng lao động. thông minh nhưng cũng được biết đến với tiếng tăm là kỷ luật lao động kém bởi tỷ lệ lao động bỏ trốn. Mặt khác. Hãy so sánh với Ân Độ. Có thể nói nếu người lao động không biết một tý gì về ngoại ngữ thì không thể đưa đi làm việc ở nước ngoài được. Nhiều người trong số họ còn chưa học hết phổ thông. những lao động này hầu hết đều có cuộc sống rất khó khăn. tiếp thị hàng hoá sức lao động Việt Nam trên trường quốc tế. thiếu sự gắn bó trong hợp tác lao động. một số nước ở Bắc Phi. công nghệ cao. thiếu sự quảng bá. chịu khó. Thị trường châu Âu và châu Mỹ là những thị trường rất hấp dẫn song chúng ta chưa tiếp cận được nhiều nếu không nói là quá ít. Mặt khác. Nguyên nhân: do chúng ta thiếu thông tin về thị trường lao động nước ngoài. Hiện nay số nước tiếp nhận lao động Việt Nam đã lên tới 46 quốc gia và vùng lãnh thổ nhưng chủ yếu lại là các quốc gia trong khu vực Đông Nam á. Cuộc sống làm nghề nông ở một nước còn kém phát triển như Việt Nam đã vô tình hình thành nên trong họ tác phong chậm chạp. Đây cũng là thịêt thòi với lao động Việt Nam vì TNS không được hưởng chế độ đãi ngộ về lương bổng ngang bằng lao động. Nhiều lao động bị trả về nước trước thời hạn do không đạt yêu cầu về trình độ ngoại ngữ. Những lao động này phần lớn là chưa qua một lớp đào tạo chính quy nào về nghề cả. hàng năm số lao động đi làm việc ở nước ngoài không nhiều nhưng đã chuyển về trong nước một số tiền khổng lồ là 11 tỷ USD/năm là do lao động của họ chủ yếu làm việc trong lĩnh vực kỹ thuật cao. Mà ở các nước công nghiệp kỷ luật lao động là vấn đề rất được coi trọng. Về trình độ ngoại ngữ: rất kém. khi đi làm việc ở nước ngoài luôn mang trên vai gánh nặng thu nhập rất lớn nên họ thường bất chấp tất cả miễn là kiếm được tiền cao. thiếu hiểu biết về sản xuất công nghiệp. Ví dụ: muốn vào làm việc ở Nhật Bản. Hàn Quốc chúng ta phải đưa lao động đi với danh nghĩa là TNS vì những nước này chưa cho phép nhập khẩu lao động không có trình độ chuyên môn hay trình độ chuyên môn thấp. Trung Đông.

do sự thiếu kính phí và sự nhận thức chưa rõ ràng về tầm quan trọng của công tác quản lý xuất khẩu lao động. Rủi ro trong xuất khẩu lao động. + Các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong lĩnh vực này chưa tổ chức việc cung cấp một cách có hệ thống thông tin thị trường lao động nước ngoài làm cơ sở cho hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp cũng như phổ cập hiểu biết cho người dân về xuất khẩu lao động. 31 . các cơ quan quản lý chưa nắm rõ tình hình hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. + Các chính sách. Điều này cũng cho thấy tình hình kinh tế của nước tiếp nhận lao động khá ổn định.trong lĩnh vực này nên các thị trường tiềm năng đều đã có đối thủ dày dặn kinh nghiệm hơn nhiều. văn bản về xuất khẩu lao động chưa bám sát thực tế và thường đi sau thực tế. phức tạp gây mất nhiều thời gian và tiền của. thanh tra hoạt động xuất khẩu lao động được tiến hành chưa thực sự nghiêm túc và có hiệu quả. 2. nể nang của các cán bộ quản lý. Chính vì thế. nóng vội. có phương hướng chỉ đạo hay sự chấn chỉnh kịp thời để công tác xuất khẩu lao động đạt hiệu quả cao hơn. đặc biệt là ở thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc. chủ quan. Trong thời gian trên sự rủi ro trong hoạt động xuất khẩu lao động bắt nguồn từ phía người sử dụng lao động không nhiều mà chủ yếu lại là từ người lao động. Cũng trong thời gian trên thì tỷ lệ lao động Việt Nam phá vỡ hợp đồng ra làm ngoài tuy không lớn nhưng cũng không phải là nhỏ. • Công tác quản lý xuất khẩu lao động còn yếu kém. kiểm tra. Từ đó. Tuy nhiên. + Thủ tục xuất cảnh và các thủ tục khác có liên quan thường rườm rà. Số vụ lừa đảo đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nứơc ngoài tăng lên về cả số vụ và tính nghiêm trọng. + Công tác triển khai thực hiện. đầu năm 2004 vừa qua một rủi ro không may đã xảy ra với lao động Việt Nam: hơn 700 công nhân trong lĩnh vực xây dựng ở Malaysia đã bị mất việc làm. chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động cấp nhà nước với các cơ quan cấp địa phương và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Nguyên nhân: do sự tồn tại của các tư tưởng quản lý lỗi thời như quan liêu. + Trong thời gian qua.

CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG I. Vấn đề là ở chỗ phải biết tìm ra cơ hội. và cũng không phải lúc nào cũng gây ra những khó khăn. XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG NHẰM GIẢI QUÝÊT VIỆC LÀM . đều nhanh chóng bắt nhịp với cuộc sống. thị trường xuất khẩu lao động cần hướng tới trong từng giai đoạn và các biện pháp thực hiện. Xuất khẩu lao động là một trong những khía cạnh của lĩnh vực hợp tác lao động quốc tế. Không phải lúc nào hội nhập cũng đem lại thuận lợi. • Mục tiêu lâu dài Giảm số lượng xuất khẩu lao động nhưng lại tăng giá trị xuất khẩu lao động. MỤC TIÊU CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG. + Làm thế nào để tăng số người lao động đi làm việc ở nước ngoài. • Mục tiêu trước mắt. Muốn xuất khẩu lao động thực sự có hiệu quả thì trước tiên cần nhận thức đúng đắn về nó. sử dụng triệt để cơ hội. Cái chúng ta cần phải làm là: “đi tắt. Việt Nam đã tham gia vào quá trình ấy trong rất nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực hợp tác lao động quốc tế.xã hội cuả nước mình và sẵn lòng đem những kiến thức. II. + Xây dựng thương hiệu cho hàng hoá sức lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế. Sau nữa cần có các kế hoạch phát triển dài hạn hay các chiến lược xuất khẩu lao động. với bối cảnh kinh tế. Là một nước đi sau trong lĩnh vực xuất khẩu lao động tất nhiên việc học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước là rất quan trọng nhưng chúng ta cũng không nên quá phụ thuộc vì đây là một loại hình kinh doanh đặc biệt và nền kinh tế thì luôn luôn biến đổi. Chúng ta cần xác định cầu lao động ở thế giới trong tương lai để có chiến lược cho phù hợp. QUAN ĐIỂM VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. Hội nhập kinh tế quốc tế và xuất khẩu lao động là quá trình tất yếu của bất cứ một quốc gia nào. Hiểu nguyên tắc đó trong xuất khẩu lao động có nghĩa là làm sao để người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài sau khi hết hạn đều sẵn sàng trở về nước. đón đầu”. nắm lấy cơ hội. Nhưng hội nhập phải luôn nhớ một nguyên tắc: “hoà nhập nhưng không hoà tan”. Điều đó có nghĩa là số lượng lao động đưa đi xuất khẩu lao động thì ít đi nhưng thu nhập ròng 32 . trong đó phải xác định rõ đối tượng được đưa đi xuất khẩu lao động. kinh nghiệm mà mình đã có được để phục vụ cho đất nước.

III. Các biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu trước mắt. cần thiết lập một kênh thông tin hai chiều giữa cục hợp tác lao động với nước ngoài và các địa phương. Mục đích của kênh thông tin này là nhằm thông báo chính xác tình hình xuất khẩu lao động và một số vấn đề khác có liên quan của địa phương cho cục biết đồng thời thông qua đó các địa phương có thể có được những thông tin cập nhật nhất về xuất khẩu lao động. nhà nước cần tuyên truyền. cung cấp những thông tin về tình hình thực hiện xuất khẩu lao động của cả nước. • Nhà nước cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động nước ngoài và cung cấp miễn phí. Ví dụ. + Xã hội hoá về xuất khẩu lao động: nghĩa là làm cho mọi người dân đều có những hiểu biết cơ bản về xuất khẩu lao động. phù hợp với tình hình thực tế. bổ sung kiến thức về xuất khẩu lao động. hơn cả so với giai đoạn trước. xây dựng những bộ phim hài mang tính giáo dục về xuất khẩu lao động và cho phát trên các chương trình giải trí của truyền hình. • Làm thay đổi nhận thức về xuất khẩu lao động và thực hiện xã hội hoá về xuất khẩu lao động. + Nhà nước và nhân dân cần hiểu đúng về xuất khẩu lao động. 33 . nhận thức. Muốn vậy. Trong quá trình thực hiện để đạt được kết quả tốt đẹp. cơ quan quản lý cấp nhà nước về xuất khẩu lao động (cục hợp tác với nước ngoài thuộc bộ lao động – thương binh và xã hội ) cần tổ chức thường xuyên. công việc của những người lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài. những lợi ích cũng như thiệt hại xuất khẩu lao động đem lại. công khai. Muốn vậy. Sau đó chính những cán bộ này sẽ chịu trách nhiệm phổ biến kiến thức về xuất khẩu lao động cho nhân dân địa phương. Đầu tiên cần thay đổi nhận thức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo từ cấp trung ương đến cấp địa phương đặc biệt là các cán bộ quản lý chuyên trách về lĩnh vực xuất khẩu lao động hoặc cán bộ làm công tác quản lý lao động. Hiểu đúng thể hiện ở chỗ hành động phải đúng với tư duy. làm những thước phim tư liệu ngắn về đời sống. Để dân chúng có thể tiếp thu một cách dễ dàng nhất thì nhà nước nên xây dựng các chương trình tuyên truyền thật sinh động và gắn với cuộc sống thường ngày của người dân. liên tục các khoá học bồi dưỡng. quảng bá công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về xuất khẩu lao động. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN. Phương hướng thực hiện sẽ do cục hợp tác với nước ngoài chỉ đạo còn biện pháp thực hiện cụ thể thì do cán bộ địa phương tự quyết cho phù hợp với tình hình của địa phương mình. 1. Đây là quá trình lâu dài và chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn.mà người lao động đi xuất khẩu gửi về trong nước thì tăng lên đáng kể. từng vùng trong một khoảng thời gian nhất định trên các bản tin thời sự….

phải được thực hiện xây dựng một cách nghiêm túc vì đây là nền tảng quyết định sự thành công của nhiều khâu tiếp sau. đại sứ quán nước ngoài ở Việt Nam và đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài để luôn có những tin tức cập nhật về thị trường lao động nước ngoài. Công tác cung cấp thông tin thị trường lao động nước ngoài rất quan trọng. ngành nghề. nhịp nhàng. Khâu này chủ yếu được thực hiện bởi các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và có thể có sự trợ giúp của nhà nước. Qua đó cho biết nên tiến vào thị trường nào là có lợi nhất và cách tiếp cận sao cho thành công nhất. đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ. điều kiện làm việc. Bao gồm hai nội dung chủ yếu là: nghiên cứu thị trường xuất khẩu lao động và quảng bá hàng hoá sức lao động Việt Nam ra thị trường lao động quốc tế. các văn bản pháp quy mới nhất về xuất khẩu lao động cũng như tình hình thực hiện xuất khẩu lao động trên toàn quốc và ở các tỉnh. Trong tờ báo đó sẽ cho đăng tải tất cả chủ trương. khá đầy đủ. chính sách của Đảng và nhà nước. tiến xa hơn nữa bộ có thể chỉ đạo thành lập các trung tâm hỗ trợ thông tin chuyên về một thị trường nào đó để phục vụ chủ yếu cho các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Nếu chưa có điều kiện để phát hành tờ báo riêng cho mình về lĩnh vực xuất khẩu lao động thì bộ có thể cho xuất bản các chuyên đề về xuất khẩu lao động thường kỳ theo một ấn định thời gian nào đó (theo tháng. kịp thời. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu lao động: Là khâu trọng yếu của hoạt động Marketting nhằm mục đích tìm hiểu rõ các cơ hội và thách thức đang chờ đón ở thị trường đang nghiên cứu. số lượng lao động của các nước khác trên quốc gia đó. cầu lao động chung ở trên thị trường và với riêng từng khu vực. Muốn vậy cần thực hiện các bước sau: 34 . liên tục của nhiều cơ quan chức năng. quan điểm và luật pháp của quốc gia tiếp nhận về nhập khẩu lao động nước ngoài. • Làm tôt công tác Marketting trong xuất khẩu lao động. Công tác này cần được thực hiện ngay và phải được tiến hành thường xuyên. Thông tin thị trường lao động nước ngoài bao gồm các thông tin về: cung. theo quý). phong tục tập quán của nước tiếp nhận lao động. Muốn xây dựng hệ thống thông tin về thị trường lao động nước ngoài thì trước tiên bộ lao động – thương binh và xã hội cụ thể là cục hợp tác lao động với nước ngoài nên có một tờ báo riêng làm cơ quan phát ngôn cho mình. Yêu cầu đối với thông tin: thông tin phải tương đối chính xác. quyền lợi của người lao động. Sau đó.+ Đại diện cho nhà nước trong lĩnh vực này là bộ Lao động. giá cả sức lao động với nhân công nước ngoài. loại công việc và yêu cầu của công việc với người lao động.Thương binh và xã hội cần phỗi hợp chặt chẽ với bộ ngoại giao. Ngoài ra. còn một số thông tin về kinh tế. các chế độ ưu đãi. chính trị.

+ Xây dựng các chiến lược. sách lược cho hoạt động xuất khẩu lao động và các biện pháp tiến hành cho phù hợp với điều kiện cụ thể. + Phân tích các thông tin có được bằng các phương pháp tin cậy và đánh giá các kết quả rồi cho kết luận. dưới sức ép của cầu trong lĩnh vực này cùng với sự chỉ đạo của nhà nước thì các trung tâm dạng này tự khắc sẽ phát triển. Khâu này doanh nghiệp xuất khẩu lao động nên chủ động vì nhà nước cung cấp thông tin dù đầy đủ đến đâu cũng không thể bao quát hết tình hình thực tế đang diễn ra. cục hợp tác với nước ngoài và gia đình người lao động đi xuất khẩu lao động. Các biện pháp cụ thể như sau: + Tuyển chọn thật kỹ.+ Sử dụng triệt để thông tin thị trường lao động nước ngoài mà nhà nước cung cấp đồng thời tự khai thác thêm nếu có thể. + Có các biện pháp để người sử dụng nước ngoài tin và quen dùng lao động Việt Nam. thông tin cũng là một vũ khí cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cho nên doanh nghiệp càng có nhiều thông tin bí mật thì sức cạnh tranh càng cao. vi phạm luật pháp nước ngoài. Đây chính là việc xây dựng thương hiệu cho hàng hoá sức lao động Việt Nam. dựa trên cơ sở các kết quả đã phân tích. Để thực hiện được điều này cần có sự phối chặt chẽ giữa doanh nghiệp xuất khẩu lao động. từ đâu (trừ nguồn từ nhà nước) thì mỗi doanh nghiệp sẽ có cách làm khác nhau. bản thân doanh nghiệp xuất khẩu lao động phải chủ động trong việc cung cấp nguồn lao động nghĩa là luôn có sẵn trong tay lực lượng lao động có trình độ sẵn sàng đi xuất khẩu lao động bất cứ lúc nào. không 35 . đào tạo kỹ trước khi đưa lao động đi. + Có biện pháp quản lý chặt chẽ người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Và lấy thông tin như thế nào. đại sứ quán của Việt Nam tại quốc gia đó. Quảng bá hàng hoá sức lao động Việt Nam ra thị trường lao động quốc tế. Đối với từng thị trường có những đặc điểm riêng nên cần căn cứ vào đó để giáo dục ý thức của người lao động đi xuất khẩu để họ có những hành vi cư xử phù hợp. ở Việt Nam hiện nay chưa có những trung tâm chuyên về thực hiện các công việc trên cho nên rất có thể để thực hiện công việc trên các doanh nghiệp xuất khẩu lao động phải thuê chuyên gia nước ngoài hoặc chuyên gia trong nước có kinh nghiệm nhưng nếu vậy thì chi phí phải nộp của người lao động sẽ rất lớn. Cần có những biện pháp xử phạt hành chính và tài chính thật nghiêm để phạt những người lao động đi xuất khẩu vô kỷ luật. Mặt khác. Muốn vậy. Sau đó. Đây là một bước rất quan trọng quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Vì thế nhà nước nên nghiên cứu có phương án xây dựng thí điểm sự hoạt động của một vài trung tâm chuyên hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác phân tích thông tin.

Chúng ta rất cần lấy lòng của người sử dụng lao động nước ngoài nhưng không phải vì thế mà chúng ta nhân nhượng cho những hành vi xâm phạm đến quyền lợi của người lao động. thủ tục vay vốn đơn giản. Bên cạnh đó bộ cần thường xuyên hướng dẫn chỉ đạo thực hiện xuất khẩu lao động tăng cường công tác kiểm tra trong lĩnh vực này cũng như lắng nghe ý kiến phản hồi từ phía các doanh nghiệp. + Nghiên cứu khả năng thành lập một quỹ tiền cho người lao động đi xuất khẩu lao động vay vốn (số tiền vay <= số tiền chi phí phải nộp hợp pháp) mà không phải thế chấp hoặc thế chấp ít. nghiên cứu khả năng miễn thuế thu nhập cá nhân cho người lao động ít nhất là trong giai đoạn đầu. đánh giá vai trò cũng như điểm mạnh. Vì thế doanh nghiệp cần lưu ý điều này khi ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài. + Có chính sách cho người nghèo vay vốn với lãi suất thấp. có chính sách ưu đãi về thuế. điểm yếu của các địa phương. Để doanh nghiệp bảo vệ lợi ích cho người lao động tránh vì lợi nhuận mà bán rẻ lao động trong nước thì nhà nước cần có những quy định luật pháp rõ ràng về vấn đề này. các doanh nghiệp trong xuất khẩu lao động chung của cả nước. • Phối hợp chặt chẽ bộ. Mục tiêu của biện pháp trên là để tránh các vụ lừa đảo đồng thời tăng quản lý nhà nước trong xuất khẩu lao động. Các rủi ro trong xuất khẩu lao động sẽ giảm xuống do có sự ràng buộc giữa các bên.làm mất lòng người sử dụng lao động thậm chí là còn phải gây được thiện cảm với người sử dụng lao động. xâm phạm đến danh dự của người lao động. các địa phương để có những biện pháp điều chỉnh cho hợp lý hay có các văn bản giải thích thắc mắc kịp thời. Bộ lao động – thương binh và xã hội cần tổ chức theo định kỳ các buổi báo cáo về tình hình xuất khẩu lao động của các địa phương trong cả nước. các hội nghị tổng kết đánh giá tình hình xuất khẩu lao động chung. Sự phối hợp chặt chẽ trong hoạt động xuất khẩu lao động cũng là điều kiện tiền đề để hoạt động này đạt kết quả tốt hơn. • Về cơ chế tài chính. 36 . gọn nhẹ. Cần có sự cải cách thủ tục hành chính ở các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực này để tăng cường sự hợp tác giữa các thành phần trên. các cuộc hội thảo trao đổi kinh nghiệm giữa các địa phương. + Có các biện pháp để bảo vệ quyền lợi cho lao động Việt Nam tránh xảy ra tranh chấp gây thiệt hại cho các bên. Nhà nước cần có các biện pháp để giảm chi phí đi xuất khẩu cho người lao động. Cần có sự thông thoáng hơn. khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu lao động như: + Cho doanh nghiệp vay vốn với lãi suất thấp. ngành có liên quan với các địa phương và với doanh nghiệp xuất khẩu lao động.

Trong quá trình xây dựng luật nên tham khảo ý kiến từ phía bộ chủ quản. + Trong quá trình hoạt động thì hiệp hội cũng cần có sự ưu tiên của nhà nước để dần phát huy vai trò của mình. Nhà nước có thể thành lập một tổ điều tra viên thường xuyên kiểm tra việc thực hiện hoạt động xuất khẩu lao động có tuân thủ theo đúng luật pháp hay không để có chế tài điều chỉnh cho phù hợp.Thương binh và xã hội mà đại diện là cục hợp tác với nước ngoài. cơ chế tài chính…. nhà nước cần xây dựng và ban hành ngay luật về xuất khẩu lao động trong đó quy định rõ các chế tài khen thưởng. • Về luật pháp. phản hồi từ phía hiệp hội. Bộ cũng nên xây dựng các phương án kêu gọi sự đầu tư. Hiệp hội các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cần được công nhận là một bộ phận của hiệp hội các doanh nghiệp Việt Nam. xử phạt với các bên vi phạm. Quỹ này do các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đóng góp theo quy định của hiệp hội. các địa phương và được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách về luật. Các biện pháp cụ thể: + Nhà nước cần có văn bản pháp quy công nhận sự tồn tại của hiệp hội này. Tổ điều tra viên này nên chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ bộ tư pháp và có sự phối hợp nhịp nhàng với bộ lao động – thương binh và xã hội.Để làm được việc này bộ lao động – thương binh và xã hội cần có sự phối hợp với bộ tài chính nghiên cứu khả năng tài chính cho các phương án trên. Bản thân hiệp hội cũng phải xây dựng quy chế hoạt động riêng cho tổ chức của mình nhưng không được trái pháp luật. Các doanh nghiệp sẽ chia sẻ thông tin cho nhau. được tham gia hoạt động và được hưởng các quyền lợi của hiệp hội. • Về công tác giáo dục người lao động đi xuất khẩu lao động. Mục tiêu của biện pháp trên là để bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đồng thời khắc phục sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp này. Hiện nay chưa có bộ luật nào về xuất khẩu lao động. 37 . Nhà nước cũng cần chú ý lượng hoá tình hình và dự báo các biến động có thể xảy ra. Vì thế. • Thành lập hiệp hội các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Sau đó nó nên được thành lập ngay dưới sự chỉ đạo của bộ Lao động.… để luật không phải sửa đổi liên tục khi đi vào thực tế. kinh doanh của các ngân hàng trong lĩnh vực này. Sau khi xây dựng luật xong. công tác ban hành luật cũng cần được coi trọng vì nếu thực hiện không đúng có thể đánh mất hết ý nghĩa của việc xây dựng luật. Nếu thấy khả thi thì lập ngay báo cáo đề nghị chính phủ phê duyệt. Chính phủ nên lắng nghe những bức xúc. Hiệp hội cũng sẽ thành lập quỹ tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu lao động gặp rủi ro. liên thông trong lĩnh vực đào tạo người lao động. quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia xuất khẩu lao động.

công tác đào tạo ngoại ngữ cho người lao động cần được chú trọng đảm bảo cho người lao động có khả năng giao tiếp. Để đạt được ý nghĩa của công tác đào tạo ngoại ngữ cho người lao động thì việc sát hạch ngoại ngữ trước khi đưa lao động đi là điều thiết yếu và cần thực hiện nghiêm túc. Trong quá trình học tập người lao động sẽ dần dần làm quen với các tác phong công nghiệp. hiểu mệnh lệnh của người sử dụng lao động. đặc biệt chú ý đến một số thuật ngữ chuyên dùng trong một số ngành. tốc độ tăng dân số Việt Nam đang giảm dần khiến cung và cầu 38 . chú trọng về văn phong giao tiếp chứ không phải ngữ pháp hay văn phong viết. Trong tương lai nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh. nghề. Các biện pháp thực hiện mục tiêu lâu dài.Trước mắt. doanh nghiệp xuất khẩu lao động cần biến lớp học của mình thành mô hình thu nhỏ của nơi làm việc mà người lao động sẽ làm việc khi đi xuất khẩu. Muốn vây: + Bộ lao động – thương binh và xã hội cần chỉ đạo việc ban hành giáo trình giảng dạy từng ngoại ngữ thống nhất. Việc xây dựng tiêu chuẩn sát hạch cũng nên tham khảo ý kiến của đại sứ quán Việt Nam tại các quốc gia nước ngoài. Muốn vậy. có thể sử dụng những người lao động đã đi xuất khẩu lao động về có trình độ ngoại ngữ tốt (đã qua sát hạch và đạt tiêu chuẩn) và bồi dưỡng thêm cho họ kỹ năng sư phạm. chỉ thực sự phát huy được hiệu quả nếu nó được tiến hành trong một thời gian nhất định song song với quá trình đào tạo nghề cho người lao động do doanh nghiệp tiến hành. Vì thế. trung cấp đến đại học để tiết kiệm chi phí đào tạo cho doanh nghiệp cũng như người lao động. Về công tác giáo dục ý thức kỷ luật của người lao động. Nội dung của giáo trình sẽ xoay quanh các chủ đề về đàm thoại trong cuộc sống sinh hoạt. 2. + Thi sát hạch ngoại ngữ trước khi đưa lao động đi. kỹ năng sư phạm giỏi. sự đóng góp ý kiến của đại sứ quán Việt Nam tại quốc gia đó. Còn về lâu dài thì doanh nghiệp cần chủ động tự tạo nguồn cho mình bằng cách tuyển người lao động có nhu cầu đi xuất khẩu lao động và tổ chức lớp đào tạo nghề cho họ trong dài hạn. Giáo trình nên viết dễ hiểu. cần xây dựng tiêu chuẩn sát hạch. Giáo trình này được biên soạn bởi các nhà sư phạm có uy tín. Dù là người lao động đã được đào tạo nhưng để họ không khỏi ngỡ ngàng khi đi làm việc nước ngoài các doanh nghiệp xuất khẩu lao động nên tổ chức các khoá học ngắn hạn bồi dưỡng cho người lao động những kỹ năng cần thiết. vì thế sẽ tạo ra nhiều chỗ làm mới. Về giáo dục nghề trước hết nên tuyển chọn từ các trường dạy nghề. trong sản xuất tại nước ngoài. cho người lao động biết môi trường làm việc của mình cũng như những phẩm chất cần thiết của người lao động trong xã hội công nghiệp hiện đại. Kèm theo đó. + Tuyển chọn giáo viên có trình độ ngoại ngữ tốt.

Nhà nước vừa phải có biện pháp khuyến khích. xuất khẩu lao động cần có sự chuyển hướng. liên tục. Chúng ta hoàn toàn có thể làm được điều này vì thực tế hiện nay Việt Nam có thế mạnh trong lĩnh vực này song thực hành còn yếu nên chất lượng chưa cao. + Thay vì đẩy mạnh số lượng ta đẩy mạnh giá trị xuất khẩu lao động. Nghĩa là đẩy mạnh lao động đi làm việc trong các lĩnh vực công nghệ cao. Muốn vậy. Trong quá trình thực hiện cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế. trên đây chỉ là một số giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả của xuất khẩu lao động. Vì thế chính phủ cần đầu tư chi phí xây dựng cơ sở vật chất cho việc giảng dạy ngành này. Bên cạnh đó. vừa phải có biện pháp ràng buộc để tránh tình trạng chảy máu chất xám hay di cư lao động bất hợp pháp. do đặc trưng của ngành là biến đổi theo từng giây. viết (ở mức độ thành thạo) đặc biêt chú trọng đào tạo các thuật ngữ chuyên ngành. nông nghiệp. Ngành nghề đào tạo chủ yếu là đào tạo lao động trong ngành công nghệ kỹ thuật cao từ bậc đại học trở lên. nói. Nhu cầu giải quyết việc làm sẽ không còn gây áp lực như giai đoạn trước. chúng ta còn có thể tiến vào thị trường lao động của các nước kém phát triển và đang phát triển ở Châu Phi thông qua việc xuất khẩu chuyên gia trong lĩnh vực y tế. từng phút nên cần cập nhật lên tục. Có như vậy cầu lao động Việt Nam trong lĩnh vực này mới tăng cao và giá cả cũng tương xứng với chất xám. chúng ta cần vươn lên đứng trong tốp các nước dẫn đầu về phát triển công nghệ thông tin. đọc. chi phí chúng ta đã bỏ ra. thường xuyên sự thay đổi công nghệ thông tin trên thế giới để điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp với thực tế. Không chỉ có vậy. Tóm lại. Điều tiếp theo cần làm là đào tạo cho người lao động có trình độ ngoại ngữ tốt: làm tốt 4 kỹ năng nghe. Người lao động ở đây hầu hết đều có trình độ cao nên công tác giáo dục hệ tư tưởng cũng cần có sự điều chỉnh khác với giai đoạn trước.lao động sẽ chênh lệch không nhiều. Giáo dục ý thức cho người lao động. Bên cạnh việc tiến vào thị trường lao động của các nước phát triển ở lĩnh vực công nghệ cao. xây dựng tác phong công nghiệp cho người lao động là công việc cần được thực hiện thường xuyên. Cụ thể là: + Xuất khẩu lao động vẫn được coi là hoạt động kinh tế mang tính chiến lược nghĩa là vẫn cần được đẩy mạnh và phát triển. Do vậy. Lĩnh vực này sẽ không tốn nhiều chi phí như lĩnh vực đào tạo lao động cho ngành công nghệ cao. công tác giáo dục người lao động trong tương lai cần phải coi trọng hàng đầu. Chúng ta cần đào tạo với số lượng nhiều để phục vụ cho xuất khẩu lao động và cho nhu cầu CNH-HDH đất nước. 39 .

40 .

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful