P. 1
Giao an Boi Duong Mon Ngu Van 8 Trong He

Giao an Boi Duong Mon Ngu Van 8 Trong He

|Views: 9,071|Likes:
Được xuất bản bởiNguyễn Bích Ngọc

More info:

Published by: Nguyễn Bích Ngọc on Jun 22, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

09/16/2013

pdf

text

original

Phần thứ nhất TẬP LÀM VĂN A. VĂN BẢN I. Chủ đề 1. Chủ đề là gì?

Là đề tài chính và đối tượng mà văn bản biểu đạt, là tư tưởng, tình cảm thể hiện trong văn bản. VD: Chủ đề của truyện “Lục Vân Tiên” là trung, hiếu, tiết, nghĩa. - Bức thư của bố: “mẹ tôi” trong “những tấm lòng cao cả có chủ đề như sau: “Qua bức thư, bố nghiêm khắc phê phán hành vi vỗ lễ của con đối với mẹ; chỉ cho con thấy công ơn to lớn và tình thương bao la của mẹ hiền, khuyên con phải thành khẩn xin lỗi mẹ” - Chủ đề bài thơ “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh là: Tình yêu gia đình và quê hương dào dạt trong tâm hồn người lính trẻ trên đường hành quân ra trận thời đánh Mĩ. 2. Chuyện với chủ đề - Không được lầm lẫn giữa chuyện với chủ đề VD: “Buổi học cuối cùng” - Đô đê Tác giả kể chuyện : Em bé Phrăng kể lại chuyện buổi dạy học cuối cùng của thấy Ha –men ở vùng An-dát của nước Pháp bị Đức chiếm đóng. Chủ đề của truyện đó là : nỗi đau của nhân dân dưới ách thống trị của ngoại bang; biết yêu tiếng mẹ đẻ là yêu nước; biết giữ lấy tiếng nói của dân tộc mình là nắm được chìa khoá để giải phóng, để giành lại tự do. - Vậy “chuyện” và “chủ đề” của truyện “lão Hạc” là gì? + Chuyện về lão Hạc- một người nông dân vì nghèo đói quá nên đã tìm đến cái chết bằng cách ăn bả chó tự tử sau khi đã bán chó, dành dụm tiền cho đứa con trai đang làm thuê ở đồn điền cao su. + Chủ đề: Số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý tiềm tàng của họ. Đồng thời truyện còn cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng của nhà văn đối với người nông dân. 3. Đại ý: Đại ý là ý lớn trong một đoạn thơ, một tình tiết, một đoạn, một phần của truyện. Một đoạn thơ, một tình tiết, một đoạn, một phần của truyện thì chưa hình thành được chủ đề. Cần phân biệt đại ý với chủ đề. VD: Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan - 4 câu thơ đầu, đại ý là tả cảnh Đèo Ngang lúc bóng xế tà. - 4 câu thơ cuối (2 câu luận + 2 câu kết) ; nỗi buồn cô đơn của nữ sĩ (đại ý) => Chủ đề: tâm trạng buồn, cô đơn của li khách khi bước tới Đèo Ngang trong ngày tàn. 4. Đa chủ đề: một tác phẩm có thể chỉ có một chủ đề. Một tác phẩm cũng có thể có nhiều chủ đề (đa chủ đề) VD: Bài thơ “Ngắm trăng” (Vọng nguyệt) rút trong “Nhật kí trong tù” có chủ đề tình yêu trăng (thiên nhiên) và phong thái ung dung tự tại của người chiến sĩ cách mạng trong cảnh tù đầy. - “Nhật kí trong tù” là một tập thơ đa chủ đề + Những khổ cực đày đoạ của thân tù + ý chí kiên cường bất khuất, lạc quan + Lòng khao khát tự do + Lòng yêu nước +Lòng thương người

1

+Tình yêu thiên nhiên +Phong thái ung dung, tự tại … Đó là những phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ vĩ đại + Hiện thực chế độ nhà tù tăm tối, vô nhân đạo. - Những bộ tiểu thuyết đồ sộ hàng nghìn trang như “tam quốc chí”, “tây du kí”, “thuỷ hử”, “chiến tranh và hoà bình”… đều có đa chủ đề là một điều dễ hiểu. Nhưng có những tác phẩm quy mô nhỏ vẫn có thể có nhiều chủ đề. VD: Bài thơ “Bánh trôi nước” có các chủ đề sau: + Tự hào về một loại bánh ngon của dân tộc + Ca ngợi phẩm chất người phụ nữ Việt Nam (nhan sắc, thuỷ chung…) + Cảm thông với thân phận, số phận người phụ nữ trong xã hội cũ. - Bài thơ “bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến có người bảo chỉ có một chủ đề: tình bạn cố tri chân thành, chung thuỷ. Có người lại cho rằng có hai chủ đề: + Tình bạn đẹp, chân thành + Hai cuộc đời thanh bạch của một nhà nho. Ý kiến của em thế nào? 5. Tính thống nhất của chủ đề Nếu các câu thơ, đoạn thơ, đoạn văn, các tình tiết.. là xương thịt của tác phẩm, thì chủ đề là linh hồn của bài thơ, của truyện. Nếu không nắm được toàn bộ các chi tiết của văn bản thì khó hình dung được chủ đề, tính tư tưởng của tác phẩm. Các chi tiết bộ phận của tác phẩm liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành chủ đề. Tựa như nền, móng, cột kèo, xà, tường, nóc, ngói, tranh… hợp thành mới ra cái nhà. Tính thống nhất của chủ đề là sự liên kết chặt chẽ, sự hoà hợp gắn bó của các bộ phận tác phẩm như nhan đề, lời đề từ (nếu có), từ ngữ hình tượng, giọng điệu (thơ), cốt truyện, nhân vật, diễn biến, câu trữ tình ngoại đề (nếu có)- tạo thành một chỉnh thể. Sự thừa, thiếu trong tác phẩm là hiện tượng biểu lộ sự non yếu của tác giả đã phá vỡ tính thống nhất của chủ đề. VD: Truyện ngắn “cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài, từ nhan đề đến cốt truyện, các tình tiết đều mang tính liên kết khá chặt chẽ: - Thuỷ và Thành đau khổ khóc suốt đêm - Sáng sớm Thành đau buồn đi ra vườn ngồi một mình, thì em gái theo ra. - Hai anh em chia đồ chơi - Thành dẫn Thuỷ về trường cũ, chào giã biệt cô giáo Tâm và các bạn lớp 4B. - Trước lúc lên xe, Thuỷ để lại cho anh trai cả hai con búp bê…. Thành nhìn theo bóng em gái rối khóc. => Qua đó, ta rút ra chủ đề của truyện là: - Sự đau khổ của tuổi thơ trước bi kịch gia đình (cha mẹ bỏ nhau) - Tình thương yêu của anh em, của bè bạn trong bi kịch gia đình. *BÀI TẬP Bài 1 1. Phân tích bố cục bài “Rừng cọ quê tôi” (trang 13 –sách ngữ văn 8) 2. Giới thiệu hai câu văn biểu cảm trực tiếp 3. Chủ đề văn bản “Rừng cọ quê tôi” là gì? Gợi ý: Đây là một văn bản biểu cảm rất đặc sắc Phần I: Câu mở đầu tác giả tự hào giới thiệu cảnh “rừng cọ trập trùng”, là vẻ đẹp của sông Thao quê tôi không có nơi nào đẹp bằng Phần II: gồm 3 đoạn văn tả cây cọ, rừng cọ và lợi ích của nó

2

+Đoạn 1: tả cụ thể cây cọ: thân cao vút thẳng, rất dẻo dai “gió bão không thể quật ngã”. Búp cọ “như thanh kiếm sắc vung lên”. Cây non… “lá đã xoà sát mặt đất”. Lá cọ tròn xoe “như một rừng tay vẫy”. Rừng cọ là nơi trú ngụ ca hót của đàn chim khi mùa xuân về. Tất cả các chi tiết : thân cọ, búp cọ, cây non, lá cọ, rừng cọ mùa xuân, đều thể hiện rừng cọ rất đẹp, cây cọ có một sức sống vô cùng mạnh mẽ. + Đoạn 2: Nói rừng cọ với tuổi thơ tác giả. Tâm hồn tác giả đã gắn bó thiết tha với rừng cọ. Căn nhà “núp dưới rừng cọ”. Ngôi trường “khuất trong rừng cọ”. Con đường đi học “đi trong rừng cọ”. Ngày nắng, ngày mưa có bóng cọ chở che. + Đoạn 3: Rừng cọ gắn bó với đời sống vật chất của người dân sông Thao. Cha làm chổi cọ, mẹ lấy móm lá cọ đựng hạt giống. Chị đan lá cọ, làm mành cọ, lán cọ để xuất khẩu. Trẻ chăn trâu nhặt trái cọ đem về om, “ăn vừa béo vừa bùi” - Phần 3, tác giả nhắc lại câu hát: “cơm nắm lá cọ là người sông Thao”, rồi khẳng định một tình yêu thuỷ chung của người sông Thao: “đi đâu rồi cũng nhớ về rừng cọ quê mình” 2. Có hai câu văn biểu cảm trực tiếp nói lên tình cảm của tác giả, của người sông Thao đối với rừng cọ quê nhà - Chẳng có nơi nào đẹp như sông Thao quê tôi, rừng cọ trập trùng - Người sông Thao đi đâu, rồi cũng nhớ về rừng cọ quê mình 3. Chủ đề “rừng cọ” quê tôi là gì? - Rừng cọ là vẻ đẹp của vùng sông Thao - Tình yêu mến quê nhà của người sông Thao. Bài 2: Hãy nêu xuất xứ, chủ đề của truyện ngắn “tôi đi học” của Thanh Tịnh? Hãy chỉ ra tính thống nhất về chủ đề của văn bản đó? Gợi ý 1. Xuất xứ, chủ đề Truyện “tôi đi học” như một trang hồi kí ghi lại những hoài niệm, kỉ niệm đẹp của tuổi thơ trong buổi tựu trường, truyện được in trong tập “Quê mẹ”, xuất bản năm 1941 “Tôi đi học” đã thể hiện những tình cảm hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng, tâm trạng bâng khuâng, hồi hộp của một em bé trong buổi tựu trường. Em “như một con chim con đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ” 2. Tính thống nhất về chủ đề của truyện “Tôi đi học” Truyện ngắn “tôi đi học” gồm có các chi tiết, tình tiết diễn tả tâm trạng của chú bé (nhân vật “tôi”) trong buổi tựu trường. - Mẹ âu yếm nắm tay tôi dẫn đi tren con đường làng dài và hẹp trong một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Lòng tôi “có sự đổi thay lớn”… nên tôi thấy cảnh vật thân quen trở nên “lạ” - Thấy các bạn nhỏ cầm sách vở, bút, thước… tôi rất “thèm” và đòi mẹ đưa bút thước cho cầm thử để thử sức mình. - Thấy trường làng Mĩ Lí oai nghiêm như đình làng Hoà Ấp, đông đặc cả người, ai cũng áo quần sạch sẽ, gương mạt vui tươi sáng sủa. Lòng tôi “đâm ra lo sợ vẩn vơ”. Học trò mới “thèm vụng và ước ao thầm”… được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy đề khỏi “rụt rè” trong cảnh lạ - Nghe tiếng trống trường dội vang, nghe ông đốc đọc tên, các học sinh mới đều khóc, còn tôi cũng nức nở theo. Nghe gọi đến tên minh, tôi “giật mình và lúng túng”, quên cả mẹ đang đứng sau. Khi thấy giáo trẻ dẫn vào lớp, tôi cảm thấy “trong thời thơ ấu tôi chưa lần nào thấy xa mẹ tôi như lần này”. - Vào ngồi trong lớp, tôi thấy một mùi hương lạ xông lên; tôi bâng khuâng ngắm nhìn xung quanh, nhìn bạn… rồi vòng tay lên bàn, nhìn thầy viết và lẩm nhẩm đánh vần đọc bài tập viết: “Tôi đi học”

3

cứ đùa doạ bắt trói em và đem nhốt. d. không thừa. Cái năm “ngớ ngẩn” ấy. thấy em lũn cũn cắp cặp đi học. đi qua phố Tô Hiến Thành. bạn nào đúng. Ghi nhớ : . c. Cô rất dịu dàng và đặc biệt có hai bím tóc dài tới tận khoeo chân. sang trường học. Em đã thật thà hỏi cô: “lát nữa con về. Văn bản thường có bố cục 3 phần: Mở bài. em đã tự đi xe đạp một mình.Chú em cho em một chiếc cặp sách rất đẹp khi em sắp vào năm học lớp Tám. đi thẳng rất lâu mới đến trường cấp I. phòng học lớp Năm. Giá như mọi ngày em sẽ gấp chiếc thuyền giấy thả trôi sông. Tên cô giáo cũng nghe nhầm” (Chị em học lớp ba cùng trường mà).=> Các chi tiết trên không chỉ thể hiện diễn biến sự việc. xoa đầu em và bảo: “Có chứ.đến tận bây giờ em vẫn không quên. kết bài 4 . nhưng cô lại có tên không hay. ngày đầu tiên đi học lớp Một. hoà quyện. Em bỗng mỉm cười nhớ lại cái ngày đầu tiên ở lớp Một mẹ đưa em đến lớp b. e. Em rất ghét mấy chị lớn hơn em một chút. Từ nhà em ở phố Mai Hắc Đế. Có hai bạn triển khai hai hướng như sau: Hướng 1: a. cô giáo đi thu mũ nón của các bạn trong lớp để gọn gàng một góc lớp. II Vân Hồ. ai cũng mặc quần áo đẹp.Bố cục của văn bản 1. cô viết chữ mẫu trên bảng rất đẹp. Lập tức em đã bị chị em cười rất to và giễu: “Đó là cô Hưng. em đứng thật nghiêm chỉnh trên đò. Hôm em sang trường dự khai giảng năm học lớp Tám. Cảnh vật và tâm trạng đều diễn biến. sân trường làng Mĩ Lí. Em nghe các bạn gọi là cô Chưng e. em đã hãnh diện nói với bố mẹ và chị của em là em học lớp cô Chưng. Bà đã già nên không kịp ra phố mua cặp mới cho em. Hai bà cháu đi dò qua sông. bà nội đưa em đi. tình cảm trong sáng hồn nhiên của tuổi thơ trong buổi tựu trường (đầu tiên của đời mình) Bài 3: Cho đề văn sau: “Kể lại kỉ niệm ngày đầu tiên đi học lớp Một của em”. c. Qua đó ta thấy tính thống nhất của chủ đề truyện “tôi đi học”: tâm trạng hồi hộp. Ấn tượng của buổi học đầu tiên là hình ảnh cô giáo của em. Cô giáo em có giọng nói rất hay. con!” d. Chiếc cặp đã gợi nhớ kỉ niệm ngày đầu tiên đi học lớp Một b. Không khí như ngày hội. Trên đò rất nhiều các bạn và các vị phụ huynh. thân bài. Cô giáo bật cười. Nhưng hôm nay. Thật là ngớ ngẩn. hai hướng triển khai của hai bạn học sinh trên về đề văn đã cho. trong ba không gian: con đường làng dài và hẹp. em đựng sách trong túi vải rất to của bà. các chi tiết nêu ra đều hướng tới làm rõ ý cơ bản của đề bài là về kỉ niệm buổi đi học đầu tiên của em (tức là bài văn đã xác định được sự thống nhất của chủ đề văn bản) II. sau buổi học đầu tiên. Khi về nhà. bâng khuâng. Vì các sự việc. Lời nói của cô: “con đưa mũ để cô cất nào” và nụ cười của cô. Vào lớp học. Ví dụ con chim nhỏ đậu trên cửa sổ lớp học rồi vụt cách bay đi. Gợi ý: Cả hai hướng triển khai của hai bạn học sinh đều đúng. bạn nào sai? Vì sao? Có điểm nào ai bạn cùng giống nhau không ? Em thích khai triển theo hướng nào? Hãy trình bày hướng triển khai đề văn của riêng em và viết thành bài cụ thể. Hướng 2: a. vì bố mẹ em đi công tác xa. cảnh vật và tâm trạng nhân vật “tôi” trong buổi tựu trường mà còn gắn kết với nhau trong một thời gian (buồi sớm đầy sương thu và gió lạnh). Cách đây tám năm. em rất sợ các chị. cô có trả mũ nón không ạ?”. Thật là ngượng nhớ đời! Theo em.Bố cục của văn bản là sự tổ chức các đoạn văn để thể hiện chủ đề. trông rất ngộ.

chủ đề.Thân bài: kể diễn biến câu chuyện . hay bình luận từng luận điểm. đem về. ý đồ giao tiếp của người viết.Kết bài: kết cục câu chuyện. Lê Lợi. hỏi: “muốn chuộc vợ sao?” Bèn thả con chim mái ra. Văn tự sự . Người đi săn lại gần định bắt lấy cho được cả đôi. 2. Một người đi săn ở Thiên Tân đem bẫy vào rừng đánh bắt được một con chim hồng mái rất đẹp. + Phần thân bài thường có một số đoạn nhỏ trình bày các khía cạnh của chủ đề.Kết bài: tác giả nêu lên nhiệm vụ của toàn dân là phải phát huy tinh thần yêu nước để kháng chiến và kiến quốc.+ Phần mở bài có nhiệm vụ nêu ra chủ đề của văn bản. Đôi chim mừng mừng tủi tủi. khắp mọi miền đất nước (miền ngược.Mở bài: giới thiệu câu chuyện . Con chim trống cứ bay theo. Loài cầm thú cũng thế ư?. người đi săn dậy mở cửa đã nhìn thấy con chim trống đậu trước sân. Nhìn chung. theo sự phát triển của sự việc hay theo mạch suy luận. tiền tuyến. 2. VD: a. Cầm cục vàn trên tay.Mở bài: giới thiệu chung về ấn tượng cảm xúc đối với cảnh vật . nhả ra một cục vàng rất to.Thân bài:tác giả chứng minh tinh thần yêu nước của nhân dân ta + Những trang sử vẻ vang thời đại Bà Trưng. Văn miêu tả . hậu phương. các thành phần giai cấp. Bỏ chim vào lồng. quanh quẩn mãi. sao cho phù hợp với sự triển khai chủ đề và sự tiếp nhận của người đọc.Kết bài: nêu cảm xúc.” (Theo “liêu trai chí dị”) c. 3. Chim vẫy cánh nhịp nhàng như có ý ra hiệu gì.Thân bài: giải quyết vấn đề. giặc ngoài. Trần Hưng Đạo. tôn giáo. ý nghĩ b. Được hai lạng sáu đồng cân. có sức mạnh vô địch để chiến thắng thù trong. Con trống bay theo về tận nhà người đi săn. chưa nỡ bay đi. sắp xếp nội dung phần thân bài 5 . Chim trống vươn cao cổ.Mở bài: Tác giả nêu vấn đề: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước”. Mờ sáng hôm sau. Có thể lần lượt dùng lí lẽ hoặc dẫn chứng để giải thích. hay chứng minh. anh ta xúc động nghĩ : “ Cầm thú không biết gì mà còn chung tình thế? Có nỗi buồn nào bằng nỗi buồn của đôi lứa phải chia li. kêu khóc như van xin cho đến tối mịt mới chịu bay đi. cảm nghĩ Câu chuyện: Con chim hồng 1. Liên hệ cảm nghĩ VD: Bài “tinh thần yêu nước của nhân dân ta” của Hồ Chí Minh . Quang Trung… + Tinh thần yêu nước của nhân dân ta được thể hiện trong cuộc kháng chiến chống Pháp: đủ các lứa tuổi. Văn nghị luận . Bà Triệu.Thân bài: tả từng phiên cảnh cụ thể.Mở bài: nêu vấn đề . sáng lấp lánh. miền xuôi. hoặc nói lên suy nghĩ. từng khía cạnh của vấn đề . . + Phần kết bài tổng kết chủ đề của văn bản. nội dung ấy thường được sắp xếp theo trình tự thời gian và không gian. những hành động yêu nước…) . cất tiếng kêu rất ai oán.. Lòng yêu nước của nhân dân ta là một truyền thống quý báu. tả khái quát toàn cảnh . . Người đi săn chợt hiểu. Cách bố trí. Người đi săn cân vàng.Kết bài: khẳng định vấn đề.Nội dung phần thân bài thường được trình bày theo một thứ tự tuỳ thuộc vào kiểu văn bản.

Đoạn văn chỉ có một câu văn. sắp xếp nội dung khác nhau. người viết dùng lí lẽ. lùi vào độ một ô tính từ lề. có thể sắp xếp. hàng vạn anh hùng noi gương Thánh Gióng dùng gậy tầm vông đánh thực dân Pháp. các nhân vật nối tiếp hoặc xen kẽ nhau xuất hiện theo diễn biến tự nhiên của câu chuyện. các sự việc. Tuổi trẻ VN được cắp sách đến trường. Qua các luận điểm. Đoạn văn là gì? Một văn bản gồm có nhiều đoạn văn hợp thành. tự do của dân tộc. chăm chú nghe giảng… . Học để làm người. (Hồ Chí Minh) VD2: Cách mạng tháng Tám thành công mở ra một kỉ nguyên mới độc lập. Trong những ngày đầu kháng chiến. với lao động…. luận cứ. Trong lịch sử ta có ghi chuyện anh hùng dân tộc là Thánh Gióng đã dùng gốc tre đánh đuổi giặc ngoại xâm. bình luận để làm nổi bật luận đề (vấn đề đã nêu ra) VD: trong bài “thế nào là học tốt”. Câu chủ đề của đoạn văn Câu chủ đề (còn gọi là câu chốt) mang nội dung khái quát lời lẽ ngắn gọn. a. khoa học. Đoạn văn biểu đạt một ý tương đối trọn vẹn của văn bản. người lao động sáng tạo. 3. Học không phải để làm quan. học tập là nghĩa vụ của chúng ta. học sinh phải kính trọng thầy.Ba là học sinh phải chăm lo học tập và rèn luyện về các mặt trí dục. cùng gánh trách nhiệm với thầy trong việc xây dựng nhà trường xhcn….Bốn là.Mụ vợ ông lão đánh cá bảo chồng ra biển xin con cá vàng một cái máng lợn . luận cứ. dẫn chứng và cách lập luận. có trình độ văn hoá. Người người học tập. Kết thúc đoạn văn bằng dấu chấm xuống dòng. bố trí các tình tiết. Xây dựng đoạn văn trong văn bản. Về hình thức. c. chữ đầu đoạn văn phải viết hoa. thể dục để phát triển toàn diện con người mới xã hội chủ nghĩa . Thân bài văn miêu tả: có thể sắp xếp bố trí từ cảnh này đến cảnh khác. 4 luận điểm sau: . kĩ thuật để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá. Quan hệ giữa các câu trong đoạn văn 6 . đoạn văn là một phần của văn bản.Mụ vợ ông lão đánh cá đòi được làm Long Vương ngự trên mặt biển c.Thân bài là phần chính trung tâm. hoặc do một số câu văn tạo thành.Mụ vợ bắt chồng đòi cá vàng để mụ được làm nữ hoàng . Vậy.Mụ vợ bắt chồng đi gặp con cá vàng xin cho mụ làm nhất phẩm phu nhân . Mỗi loại văn bản ở phần thân bài có cách bố trí. thiếu niên nhi đồng. mĩ dục. b.V. a. Vì vậy.Mụ vợ sai chồng ra biển xin con cá vàng cho mụ một cái nhà mới . ông Trường Chinh đã nêu lên 4 căn cứ. được hưởng thụ một nền giáo dục hoàn toàn tự do. thường đủ hai thành phần chính C. Thân bài văn nghị luận: chất liệu làm nên bài văn nghị luận là lí lẽ. Đảng ta đã lãnh đạo hàng nghìn. của văn bản. VD: truyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng” có 5 tình tiết sau hình thành cốt truyện và diễn biến câu chuyện: . đức dục. Thân bài của một bài văn nghị luận là hệ thống các luận điểm. chứng minh. b. phần trọng tâm của bài văn. hiện đại hoá đất nước. Thân bài văn tự sự. Một chân trời tươi sáng bao la mở rộng trước tầm mắt thanh. dẫn chứng để giải thích. có cảnh chính và cảnh phụ.Học tốt trước hết là học sinh phải đi học cho đều. nó có thể đứng đầu đoạn văn (đoạn diễn dịch) cũng có thể đứng cuối đoạn (đoạn quy nạp) VD1 : Đảng ta vĩ đại thật. từ bộ phận này đến bộ phận khác theo thời gian và không gian. . nhà nhà học tập để nâng cao dân trí.Hai là học phải gắn với hành.

Muốn sử dụng tốt kĩ thuật cải tiến thì phải có văn hoá. 35 sách “cảm thụ ngữ văn THCS 8. các con phải ngoan và chăm chỉ học hành”. Sau đó. 1. Tiếng gõ thuyền lộc ộc của bạn chài săn cá. chăm sóc từng viên thuốc. Chú ý: đoạn diễn dịch có thể đảo lại thành đoạn quy nạp. bổ sung cho nhau. hãy chuyển đổi đoạn văn diễn dịch thành đoạn văn quy nạp. 2. từ nét mặt. tình bạn là một trong những tình cảm cao đẹp của chúng ta. Vậy. b. ( Vịnh Hạ Long) . Chung quanh ta. giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. tri kỉ… Nhân dân ta có nhiều câu tục ngữ rất hay nói về tình bạn như : “giàu vì bạn. ảo ảo. khi thành đạt. Bố thì nghiêm.Trong một đoạn văn các câu có quan hệ ý nghĩa chặt chẽ với nhau. hoặc ngược lại VD: Tình bạn phải chân thành. 18 sách “các dạng tập làm văn và cảm thụ thơ văn lớp 8) Bài 2: Cho câu chủ đề sau: a. VD: Em rất kính yêu mẹ. lúc buồn. Ca dao và tục ngữ Việt Nam đã diễn tả sâu sắc tình cảm yêu thương cộng đồng. được học hành giỏi giang. hầu như ai cũng có bạn. sương buông trắng xoá. Tiếng sóng vỗ loong boong trên mạn thuyền. hồn nhiên nhất. có bạn tri âm. phối hợp với nhau về ý nghĩa. từng bát cháo… Mẹ luôn dặn các con: “nhà ta còn khó khăn.“Em quên sao được kỉ niệm ngày đầu tiên đi học lớp Một”. mặc đẹp. khi khó khăn. Hãy viết tiếp câu chủ đề trên để có một đoạn văn nghị luận chứng minh kết cấu theo kiểu tổng – phân . BÀI TẬP Bài 1: Nhận diện đoạn văn ( trang 33. 4. việc bổ túc văn hoá là cực kì cần thiết. VD: Muốn xây dưng chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản xuất. VD: Đi giữa Hạ Long vào mùa sương. bài 13 tr 17. vừa quen thuộc. Đoạn diễn dịch thì câu chốt đứng đầu đoạn. Nêu cách chuyển đổi. Viết đoạn văn tổng phân hợp cho sẵn câu chủ đề. cụ thể đến ý chung khái quát. Thật vậy. nhà thơ Nguyễn Khuyến có bài “bạn đến chơi nhà” được nhiều người yêu thích. mẹ thì hiền.hợp c. nụ cười đôn hậu đến đôi bàn tay nhỏ nhắn. Mỗi lần đi xa một hai ngày.Dựng đoạn móc xích ( là đoạn văn trong đó cách sắp xếp ý nọ tiếp theo ý kia theo lối móc nối vào ý trước (qua những từ ngữ cụ thể) để bổ sung. sang vì vợ” hay “Học thầy không tày học bạn”.Dựng đoạn quy nạp ( là cách trình bầy nội dung đi từ các ý chi tiết. Có bạn chí thiết. Muốn tăng gia sản xuất tốt thì phải có kĩ thuật cải tiến. mẹ thở dài lo lắng. Mẹ đã về hưu được vài năm nay. thời cắp sách là trong sáng nhất. phối hợp nhau để diễn tả ý chung. Trong đoạn quy nạp. Đứa con nào bị ốm. Còn thuyền bơi trong sương như bơi trong mây. em nhớ mẹ lắm! . 34.Dựng đoạn song hành (là đoạn văn được sắp xếp các ý ngang nhau. Thỉnh thoảng mấy con hải âu đột ngột hiện ra trong màn sương…. khéo léo. các câu mang ý chi tiết. Bạn học thời tuổi thơ. Đoạn song hành không có câu chủ đề.Dựng đoạn diễn dịch ( là cách thức trình bày ý đi từ ý chung. giải thích cho ý trước. khái quát đến các ý cụ thể chi tiết. tôn trọng nhau. hết lòng yêu thương. cụ thể đứng trước. Có thể bổ sung ý nghĩa cho nhau. . 7 . âm vang mặt vịnh. Mẹ giống bà ngoại. các câu đi kèm sau nhằm minh hoạ câu chốt. Viết tiếp câu chủ đề trên để có một đoạn văn diễn dịch khoảng từ 10 đến 12 câu. Trong đời người. ta cảm thấy những hòn đảo vừa xa lạ. bạn bè phải san sẻ cùng nhau. có thể liên kết. mờ mờ. Lúc vui. Cách trình bày nội dung trong đoạn văn: . dậy sớm lo cho các con được ăn ngon. câu chủ đề đứng cuối đoạn. Mẹ thức khuya.

không thể quên. mẹ. bà đã giúp mẹ chăm sóc em (nghe mẹ kể lại) 3. Theo em. mới cảm thấy có lỗi với một con chó như vậy. Ông lão “quá lương thiện” ấy cảm thấy lương tâm đau nhói khi thấy trong đôi mắt của con chó bất ngờ bị trói có cái nhìn trách móc… Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó. hãy sửa lại. hoặc một thầy giáo. buổi học đầu tiên 1. nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó. đôi mắt ầng ậc nước”. dàn ý thân bài mà bạn học sinh dự kiến như trên đã hợp lý chưa? Vì sao? Nếu chưa hợp lý. 5. Bài 4: Đề chuẩn bị cho bài viết số 1 về văn tự sự trong tuần sau. . Kỉ niệm khi em chập chững biết đi. Dự kiến phần thân bài của tôi như sau: 1. Lão Hạc đau đớn đến thế khỏng phải chỉ vì quá thương con chó. Người viết và nói phải chuyển đoạn văn để liên kết lại thành một khối chặt chẽ. Kỉ niệm khi em lớn lên và đi học. Mục đích của việc chuyển đoạn văn Mỗi văn bản do nhiều đoạn văn hợp thành. Thỉnh thoảng không có việc gì làm. lão lại bắt rận cho nó hay đem nó ra ao tắm. Lão “gọi nó là cậu Vàng như bà mẹ hiếm hoi gọi đứa con cầu tự.Cái tình của lão Hạc đối với “cậu Vàng” thật là hiếm có và Nam Cao đã ghi lại trong những dòng chữ xúc động. Lão hu hu khóc. Kỉ niệm khi ở nhà. anh. niềm vui. 8 . Kỉ niệm trong buổi lễ khai giảng e. Tình thế cùng đường khiến lão phải tính đến việc bán ‘cậu Vàng” thì trong lão diễn ra một sự dằn vặt đau khổ. bà đã chăm em.. lộn xộn. . Đến nỗi ông giáo thương lão quá “muốn ôm chầm lấy lão mà oà lên khóc”. ép cho nước mắt chảy ra. . Phải có trái tim vô cùng nhân hậu và trong sạch thì mới bị dày vò lương tâm đau đớn đến thế. Chuyển đoạn văn trong văn bản a. Không nên quan niệm về sống chế. hoặc hiểu lầm là viết về người đã khuất. Bài 3: Một bạn học sinh đã có dự định sắp xếp dàn ý phần thân bài như sau và mỗi ý bạn ấy sẽ triển khai thành một đoạn văn: a. em.“Sống mãi” có nghĩa là để lại những kỉ niệm sâu sắc. cô giáo. Một vài nhận xét nhanh về bà từ hình dáng. cậu “vàng” đã trở thành người thân. cha. mà còn vì lão không thể tha thứ cho mình vì đã nỡ lừa con chó trung thành của lão. tập một) như sau: . chị. Kỉ niệm khi kết thúc buổi học c. lão Hạc không còn nén nổi nỗi đau đớn cứ dội lên : “mặt lão đột nhiên co dúm lại. bà. Kỉ niệm khi em mới sinh.Các em có thể chọn “người ấy” là một người bạn. 4. lủi thủi một mình của lão. Kỉ niệm trong lớp. mời các bạn hãy triển khai mỗi ý của dàn ý thành một đoạn văn và hoàn thành đề văn số 2. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Kỉ niệm suốt dọc đường đến lớp d. lão nói với nó như nói với một đứa cháu bé về bố nó”. 2. Rồi lão chửi yêu nó.Tôi đã chọn viết về bà nội yêu quý của mình. cô giáo đã hướng dẫn cả lớp tôi làm đề văn số 2 (ngữ văn 8. Lão kể lại cho ông giáo việc bán “cậu vàng” với tâm trạng vô cùng đau đớn: “lão cười như mếu. viết thành một đoạn văn diễn dịch hoặc quy nạp.Các bạn có trùng dự định như tôi không? Nếu đồng cảm. hoặc một người thân trong gia đình như ông. Chọn một ý của dàn ý thân bài đã sửa. đến công việc hằng ngày 2. chuẩn bị đến trường b. tránh rời rạc. Khi nhắc đến việc cậu Vàng bị lừa rồi bị bắt. niềm an ủi đối với cuộc sống cô đơn. bà vẫn chăm sóc và dạy bảo em. Những vết nhăn xô lại với nhau. cho nó ăn cơm trong một cái bát như một nhà giầu(…) Lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp thức ăn cho con trẻ. Bởi không còn là con chó thường.

Sau đó. hãy phân tích các phương tiện chuyển đoạn văn được sử dụng. chuyển đoạn. Nhờ thế..Dùng các quan hệ từ .b. Muốn chuyển đoạn. tôi đã dùng nhiều vần theo lối hát dặm Nghệ Tính: Bờ đẹp đẽ cát vàng Thoai thoải hàng thông đứng Như lặng lẽ mơ màng Suốt ngàn năm bên sóng.Dùng từ ngữ chỉ sự liệt kê . người ta có thể sử dụng từ ngữ hoặc dùng câu văn * Dùng từ ngữ để liên kết đoạn. không gian với không gian được nối kết liền mạch. tình thế với tình thế.Dùng từ ngữ chỉ ý tương phản. thời gian với thời gian. ( Tham khảo bài “Lão Hạc”) 9 . có thể: . liên kết đoạn. Trong bài “Biển” (1961).Dùng từ ngữ thể hiện ý tiểu kết.Dùng từ ngữ chỉ sự tiếp diễn. tổng kết. khái quát sự việc . sự vật với sự vật.Dùng từ ngữ thay thế (các đại từ…) * Dùng câu nối để chuyển đoạn văn Có lúc. nối tiếp . thà biết rất sâu rất thạo rồi sau đó không dùng không theo. khong theo một cách tự giác. đối lập . VD: “Học thơ ca dân gian và thơ cổ điển cho vững chãi nghề thơ. Trở lại với vần thơ dân gian. chặt chẽ. vì mình thấy cái lối mới của mình hay hơn nhiều. người viết phải sử dụng một câu văn để nối hai đoạn văn.” (Tiếp nhận ảnh hưởng của thơ truyền thống – Xuân Diệu) Bài tập Hãy viết một số đoạn văn phân tích tấm lòng nhân hậu và lương thiện của lão Hạc. chứ không phải vì chưa hiểu biết. Các phương tiện chuyển đoạn.

Chuyện là gì? Là các sự việc do nhân vật gây ra. “một lúc sau cô bé nhổm dậy. Án San lập bàn thờ lạy sống mẹ và nghiêm khắc tự xử phạt mình 4. Khi tàu chạy qua. vô vị.Hai là.Trong truyện phải có nhân vật. cô bé nhổm dậy. miêu tả nhân vật. Em gái lớn gào khóc sướt mướt. Tàu hoả đã đến quá gần. tâm lí. có tình huống… giữa các nhân vật mới có “chuyên” xẩy ra trong thời gian và không gian nhất định. con em nhỏ đánh đổ giỏ nấm và cúi xuống nhặt. có xung đột. Nhân vật phải cụ thể. Thế nào gọi là văn tự sự? Văn tự sự là loại văn trong đó tác giả giới thiệu. diễn biến liên tục trong một thời gian nhất định.Em bé đánh đổ nấm cúi xuống nhặt. em bé nằm bất động giữa các thanh ray. 2. thuyết minh. chúng băng ngang đường ray. có ngôn ngữ hành động. Chúng phải đi ngang qua đường tàu. Xây dựng nhân vật . Tình huống của truyện Tình huống được thể hiện qua các tình tiết. Định nghĩa 1. cá tính hoá.Cách xây dựng truyện 1. Cái được kể trong văn bản truyện thì gọi là câu chuyện. Viết truyện phải biết xây dựng nhân vật. mặt úp xuống.Ba là.tính cách. những sự việc diễn biến của câu chuyện được kể trong tác phẩm truyện.Một là. Em gái lớn nhảy lùi lại. truyện ngụ ngôn…. người nghe hình dung được diễn biến và ý nghĩa của câu chuyện ấy. tiêu biểu cho một lớp người nào đó trong xã hội. 10 . Nhân vật có ngoại hình. hấp dẫn. Cô bé hái nấm Hai em bé gái trên đường về nhà. . được viết là “ch” 2.Ai ngờ. giầu kịch tính đem đến cho người đọc nhiều lí thú. Truyện là một thể loại… là văn bản kể được tác giả sáng tác. kể lại diễn biến câu chuyện… sao cho người đọc. đứng lên nhặt hết nấm bỏ vào giỏ và chạy đến chỗ chị”. Nhưng em nhỏ không nghe thấy và tiếp tục nhặt nấm. chạy đi!”. thể hiện tư duy và phẩm chất con người mang ý nghĩa đời sống. Tưởng rằng tàu hoả còn xa. Chị khóc. Tình tiết có thú vị thì truyện mới hay. người ta thấy em gái nhỏ nằm bất động giữa các thanh ray mặt úp xuống. Ai cũng ngỡ là em đã bị chết. II. Tàu chạy qua. => Đó là tình huống thứ hai. bà buồn và giận lắm.B. bà trả lại con tấm lụa kèm theo cái roi . hành động và tâm tư tình cảm của nhân vật. trên không gian nhất định. => Đó là tình huống thứ nhất. Không ngờ tàu hoả xuất hiện. . cũng gọi là các tình tiết. . Một lúc sau. VD: Truyện “Tấm lụa và cây roi” có mấy tình tiết sau: . Đọc truyện phải biết nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả. sự cố bất ngờ. mang theo một giỏ đầy nấm vừa hái trong rừng. Tàu chạy qua chẹt lên em bé nhỏ. đứng lên nhặt hết nấm vào giỏ và chạy đến chỗ chị. Bằng phẳng quá thì nhạt nhẽo. Người lái tầu không thể dừng lại được và tàu chẹt em gái nhỏ. những chặng. VD: truyện cổ tích. Hành khách vô cùng lo sợ. thương cảm. Hành khách đổ xô đến cửa sổ các toa tầu. Em lớn kêu lê: “Bỏ hết nấm. 3. Văn tự sự I. thân mẫu Trần Bích San nhận được tấm lụa con đi làm quan xa gửi về tặng mẹ. Xây dựng tình tiết truyện: Tình tiết truyện là những mạch.

hoặc kết cục câu chuyện. ông giáo ạ!. yếu tố miêu tả cảnh vật. thấm vào lời văn. đang được nói đến. Cũng có lúc người ta bắt đầu từ một sự cố nào đó.Từ lo âu. 2. hờn. Sự việc kết thúc. do khôn ngoan mà thoát chết. III.Trong văn tự sự. cái miệng móm mém cất tiếng khóc hu hu của lão làm cho tôi đau đớn và xúc 11 . Hãy đóng vai ông giáo và viết một đoạn văn kể lại giây phút lão Hạc sang báo tin bán chó với vẻ mặt và tâm trạng đau khổ. Đó là đoạn trữ tình ngoại đề mà ta thường bắt gặp trong một số truyện. + Cảm xúc được bày tở. lão Hạc sang báo cho ông giáo biết. dại đi. tình trạng và số phận nhân vật được nhận diện khá rõ.Miêu tả tâm lí. Kết bài: câu chuyện kể đi vào kết cục.Miêu tả hành động nhân vật: ( hành động của tên cai lệ và người nhà lí trưởng.. rên ư ử như khóc như van… cứ hiện ra trước mắt tôi. lí thú Trong văn tự sự thường có 4 yếu tố miêu tả đan xen vào các tình tiết theo diễn biến của câu chuyện: . lo âu. tâm trạng nhân vật (tâm trạng nhân vật chị Dậu trong cảnh bán con) 2. buồn. đan xen nhau theo diễn biến của câu chuyện 3. mong ước. thằng Mục bất ngờ túm lấy hai chân sau dốc ngược lên rồi trói lại. Và hình ảnh lão Hạc. sự việc diễn biến mà cảm xúc tràn ra. phân tích nhân vật (tiểu thuyết. trang văn do người đọc cảm nhận được. Hai tình huống trên đã tạo nên tính hấp dẫn của truyện. nhớ thương…. nhất là qua ngôi kể thứ nhất. Sự biểu hiện và giá trị của yếu tố biểu cảm trong văn tự sự . được biểu hiện qua các nhân vật. truyện ngắn. Thân bài: Kể các tình tiết làm nên câu chuyện. Như một kẻ mất hồn. Nếu tác phẩm truyện có nhiều nhân vật thì tình tiết lồng vào nhau. Chú ý: lúc đọc. Miêu tả trong văn tự sự Miêu tả không chỉ làm nổi bật ngoại hình mà còn có thể khắc hoạ nội tâm nhân vật. nhân vật… còn có yếu tố biểu cảm.Các yếu tố biểu cảm trong văn tự sự thường được biểu hiện qua 3 dạng thức sau đây: + Tự thân cảnh vật. ngoài các yếu tố tình tiết. võ đài diễn ra cuộc thì đấu giữa Trũi và Mèn) .Cảm xúc được tác giả bày tỏ trực tiếp. cái đầu ngọeo về một bên. IV.đoạn miêu tả vùng cỏ may. sợ hãi mà người đọc vui mừng vì em bé may mắn. Phương pháp cụ thể 1. hành động của chị Dậu…) . Thương lão quá. giận. Đồng thời giá trị nhân bản của truyện được tô đậm. đôi mắt đờ ra. lúc cảm thụ. Cảnh già cô đơn chỉ có con chó làm bạn sớm khuya.Lập dàn bài cho một bài văn tự sự 1. số phận nhân vật rồi ngược lên kể lại từ đầu. sự việc đang diễn ra.Biểu cảm trong văn tự sự a. lúc phân tích tác phẩm. Cảnh cậu Vàng bị thằng Xiên.Miêu tả ngoại hình nhân vật ( Miêu tả Dế Mèn) . nhất là tuỳ bút…) ta phải đặc biệt lưu ý tới các yếu tố biểu cảm. Lão Hạc ra về rồi. Nước mắt ứa ra nơi hai hõm mắt. giờ lại bán đi. làm cho chuyện kể trở nên đậm đà.) luôn luôn hoà quyện vào cảnh vật.không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật ( Dế Mèn phiêu lưu kí . Những yếu tố biểu cảm (vui. truyện thơ. . hi vọng. Mở bài: Có thể giới thiệu nhân vật và tình huống xẩy ra câu chuyện. . “Mặt co rúm lại. Luyện tập: Cho sự việc và nhân vật sau đây: Sau khi bán chó.Miêu tả cảnh vật. sau khi báo tin “cậu Vàng đi đời rồi.

Một văn bản thuyết minh hay. ngày 31-1 -1946. Chiếc đuôi dài giúp cá đuối giữ thăng bằng dưới nước. cao đến vài mét. giới thiệu. hữu ích cho con người. giải thích. là loại văn bản có khả năng cung cấp tri thức xác thực. chặt chẽ.Thuyết minh còn có nghĩa là hướng dẫn cách dùng 2. Câu nói của lão Hạc làm tôi day dứt và thảng thốt mãi: “thì ra tôi già bằng ngần này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó. thực dụng. Cá đuối màu xanh sẫm. gắn liền với thân. giới thiệu . do hai vây ngực rộng và phẳng ở hai bên. Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức về các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên. một vùng địa lý . Tuy nhiên. VĂN THUYẾT MINH I. Khi cá bơi. cá đuối còn nhảy vọt lên trên mặt nước. VD: -Giới thiệu về một nhân vật lịch sử . Từ đó đến nay. Văn bản thuyết minh có tính chất khách quan.Giới thiệu một loài hoa. có giá trị là một văn bản trình bày rõ ràng hấp dẫn những đặc điểm cơ bản của đối tượng thuyết minh. Lúc “cao hứng”. tiền giấy được phát hành lần đầu tiên dưới thời nhà Hò (1400 – 1407) nhưng chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn.Giới thiệu một miền quê. Văn bản thuyết minh sử dụng ngôn ngữ chính xác. kiếp cậu Vàng. Cá đuối thích sống thành từng đàn. Người ta có khi nhìn thấy bầy cá đuối ba đến bốn con bơi cạnh nhau. các vây ngực mềm này chuyển động lên xuống trong nước trông rất đẹp. 4. nhưng cũng có loài đuối lưng có những đốm màu trắng nom rất nổi bật. nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó!”. loài chim. Thân hình chúng nom dẹt và mỏng. Bài tập 1: Hai văn bản sau có phải là văn bản thuyết minh không? Hãy đặt tên cho các văn bản ấy? Văn bản 1: Ở nước ta. có thể châm đốt gây nguy hiểm cho người và các động vật khác. 5. Sau khi nước VNDCH ra đời. nước ta đã trải qua hai lần đổi tiền (1959 và 1985) và một lần thống nhất tiền tệ hai miền Nam Bắc theo loại tiền mới (1978) Văn bản 2: Cá đuối thường sống ở vùng biển nhiệt đới.Thuyết minh là gì? . Song. trong xã hội bằng phương thức trình bày. đuôi cá đuối có nọc độc.Giới thiệu một đặc sản. Gợi ý: Cả hai văn bản trên đều là văn bản thuyết minh Văn bản 1: Về tiền giấy Việt Nam Văn bản 2: Loài cá đuối ở vùng biển nhiệt đới.Giới thiệu một vị thuốc . Sau khi Pháp xâm chiếm Việt Nam. cá đuối cũng biết giấu mình dưới cát để tránh kẻ thù. cô đọng. Chính Phủ đã kí nghị định phát hành tiền giấy VN và đến ngày 30. ngân hàng Đông Dương ra đời năm 1875 và tiền giấy bắt đầu được phát hành ở Nam Kì và Hải Phòng vào khoảng những năm 1891 – 1892. Ngày 5-6-1951.11 – 1946 tờ giấy bạc đầu tiên của nước VNDCH ra đời. 12 . Chúng cũng rất thích nhảy múa nữa. một món ăn . sinh động. loài thú… 3. Tôi nghĩ về kiếp chó. giải thích.Thuyết minh nghĩa là nói rõ. nghĩ về kiếp người. Ngân hàng quốc gia VN được thành lập và phát hành loại tiền giấy mới. Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh 1.động vô cùng.

Vì thế ta thường bắt gặp chúng vào mùa hè. đặc trưng của chúng. 13 .Báo hoạ mi) 2. Điều đó. người được thừa hưởng một trong những gia tài kếch sù nhất thế giới. chặt chẽ. liệt kê. diễn đạt rõ ràng. (Theo 365 lời khuyên về sức khoẻ) Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải. sáng rõ. nói vừa phải. Dơi là động vật ngủ đông. . nghe bài thuyết minh của mình.Ngôn ngữ diễn đạt trong văn bản thuyết minh phải chính xác. cứ 8 người Mĩ. làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa. vách tường ẩm và không có ánh sáng…” (Theo Thanh Huyền. mô tả sự vật. Kiến thức sinh học 2. VD: (xem trang 95. chứng tỏ: người Mĩ ngày càng sống lâu hơn. Đọc các đoạn văn thuyết minh sau. . khó chịu. lây truyền dịch bệnh. nhất là phải nắm bắt được bản chất.Phải sử dụng ngôn ngữ chính xác. tránh đại ngôn… Tham khảo ví dụ trong sách trên (như mục III) Bài tập: Bài 1. đã gục chết trên một vỉa hè ỏ Niu-oóc vì “chơi bạch phiến” quá liều. Kiến thức về sức khoẻ đời sống 3. người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như : nêu định nghĩa.96.Cần chú ý thời gian được thuyết minh. Bài 2: Cho văn bản sau: “ Cách đây hai năm. có một người ở độ tuổi 65 hoặc cao hơn. dơi thường trú trên mái nhà. dễ hiểu. “Nhà” của dơi là những nơi tối ẩm như vách đá. cần hết sức tránh.Một văn bản thuyết minh hay có giá trị là một văn bản trình bầy rõ ràng. Yêu cầu: . Yêu cầu và phương pháp thuyết minh 1. mạch lạc . 2. Tính chất của văn thuyết minh . khoa học về đối tượng thuyết minh . con số đó là 4 người. nêu ví dụ. đặc biệt là trong những thân cây lớn đã chết. Tới năm 2005. Kiến thức về môi trường.97 sách cảm thụ ngữ văn THCS 8 – Tạ Đức Hiền) III. đối tượng đọc. có tuổi thọ cao hơn. chính xác đối tượng cần thuyết minh. Cho biết người viết đã phải huy động kiến thức gì và sử dụng những phương pháp thuyết minh nào? 1. để tránh sa vào trình bầy các biểu hiện không phải tiêu biểu. hấp dẫn những đặc điểm cơ bản của đối tượng thuyết minh. Nhóm người ở độ tuổi 75 trở lên ngày càng đông.Hiện nay. cô đọng và sinh động. Phương pháp Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục. đối chiếu phân tích. hang động. so sánh. sự việc. Sự tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh. tìm hiểu kĩ lưỡng. Đặc biệt bao bì ni lông mầu đựng thực phẩm làm ô nhiễm thực phẩm…. dài dòng sẽ gây cho người nghi ngờ.II. Ở nơi có dân cư. Cách viết màu mè. (Theo thông tin về ngày trái đất năm 2005) Gợi ý: a.Phải quan sát.Trước hết phải hiểu rõ yêu cầu của bài làm là cung cấp tri thức khách quan. gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi. chàng thanh niên Ra-pha-en-đơ Rốt-sin. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi nuốt phải. năm đó chàng mới 23 tuổi. phân loại. dùng số liệu. không quan trọng.

các tài liệu tin cậy… c. Chính vì điều đó mà các cụ đã thiết kế ra kiểu áo có cổ cao một phân. chú ý sử dụng ngôn ngữ chính xác. Bài tập 1: Hãy giới thiệu một món ăn của các bé ở lứa tuổi nhi đồng. Mãi đến tận thế kỉ XX. Bài 3: Hãy sưu tầm các kiến thức cần thiết để chuẩn bị cho đề bài : “thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam”. sao cho người đọc dễ hiểu VD: Nếu thuyết minh về chiếc xe đạp có thể đi từ bộ phận quan trọng.trách nhiệm của gia đình và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ. . Đây có phải là đoạn văn thuyết minh không ? Vì sao? b. nghiên cứu đã khẳng định ở trong sách. a. chiếc áo dài mớ ba mớ bảy được cải tiến thành chiếc áo năm thân. trang nhã.mặc dù thời tiết của nước ta rất nóng. ghi chép lại) hoặc tìm đọc ở sách báo các kiến thức tin cậy về đối tượng thuyết minh 3. Khi làm văn thuyết minh. mạch lạc.Làm theo trình tự hợp lí: 14 . Nếu đúng là văn thuyết minh thì đoạn văn đã sử dụng các phương pháp thuyết minh nào? a. cách làm nón. đến tác dụng của xe đạp với người sử dụng… Nếu thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam cần đi theo trình tự từ nguồn gốc. diễn đạt rõ ràng. IV. ở Bắc Ninh. sau khi có kiến thức rồi. các vua chúa đã để ý đến cách ăn mặc của nhân dân và có lẽ chính vì điều ấy mà chiếc áo dài đã ra đời… Đầu thế kỉ XVII. tài liệu hoặc học hỏi những người lớn hiểu biết.Học sinh có thể đọc sách báo. Tiếp theo. hợp với người thiếu nữ. Muốn viết được đoạn văn trên. Tìm kiến thức mà các nhà khoa học. người làm bài phải tìm các tri thức khách quan. Văn bản trên có phải là văn bản thuyết minh không? Vì sao? b. Đoạn văn trên đúng là đoạn văn thuyết minh b.. người viết đã phải lấy kiến thức từ đâu? 3. cần tìm một hướng trình bày theo một trình tự thích hợp với đối tượng cần thuyết minh. a. các kiểu dáng nón. vẫn tạo ra dáng vẻ áo dài sao cho thanh tao. Văn bản trên có ích gì cho bạn đọc? Gợi ý: Văn bản trên là văn bản thuyết minh (có yếu tố tự sự) => một bản tin của báo Văn bản trên nhắc nhở việc giáo dục thế hệ trẻ.những người đã thiết kế nên chiếc áo dài. nhằm xác định đối tượng sẽ thuyết minh 2. Các phương pháp thuyết minh mà đoạn văn sử dụng: hs tự làm. Sau khi tìm hiểu đề. Tiếp theo nữa. Chú ý “chất văn” phù hợp với văn thuyết minh. khoa học về đối tượng thuyết minh (có thể đến tận nơi quan sát. đến không quan trọng. tìm hiểu kĩ lưỡng. Cách làm bài văn thuyết minh 1. Phải tìm hiểu đề bài. biểu lộ sự kín đáo cảu người con gái… Từ thời xưa. cần thực hiện tiếp những bước nào để hoàn thành bài thuyết minh trên? . chiếc áo dài mớ ba mớ bảy đã được ra đời để phù hợp với cách vấn khăn. báo chí. tác dụng khi con người sử dụng… 4.Đối tượng thuyết minh: cách làm một món ăn . hợp với kiểu tóc búi tó của phụ nữ thời xưa.Cái chết của chàng tỉ phú trẻ này đã làm không ít các bậc cha mẹ tỉ phú khác lo lắng: làm sao để con cái họ đừng hư vì số tài sản khổng lồ không do chính chúng tạo dựng. bộc lộ rõ những nét đẹp của người Việt Nam. (Tham khảo sách “Cảm thụ ngữ văn 8 của Tạ Đức Hiền (tr 109) và sách “Các dạng bài tập làm văn và cảm thụ thơ văn lớp 8 (tr 168) Bài 4: đọc đoạn văn sau: Cha ông ta ngày xưa. chính xác.

trường được đổi tên là Chu Văn An. Hà Nội . tự nhiên. * Dàn ý nói: Giới thiệu trường THCS GV . đầy đủ các kiến thức về đối tượng cần thuyết minh. Nêu tên các thầy cô giáo tiêu biểu (các học sinh tiêu biểu. Bài tập 3: Hãy thuyết minh về các loài hoa ngày tết cổ truyền Việt Nam Bài tập 4: Thuyết minh về bánh dẻo. 5. rõ.Biết rõ những hoạt động của trường từng tuần.Nhà giáo ưu tú Đinh Văn Bình. từng lớp học 3. giao lưu với bạn bè trong và ngoài nước. dạy giỏi. từng ngày. các lớp tiêu biểu) * Dàn ý nói: . nhân dân yêu mến gọi là trường Bưởi . nhất là văn bản thuyết minh đòi hỏi phải rõ ràng. . hiện đang giữ những cương vị quan trọng của Đảng và Nhà nước.tên người thầy giáo lỗi lạc của dân tộc ta. bánh nướng trong dịp tết trung thu. Trường được đón nhận huân chương lao động hạng nhì và hạng 3 của nhà nước.85%.Trường có đội ngũ các thầy cô giáo quản lí giỏi. Năm 1999. . trường đón nhận Huân chương lao động hạng nhì của Nhà nước. quận Tây Hồ. một di tích lịch sử của địa phương em. . chính xác. Bài tập luyện: Bài 1: Lập dàn ý cho đề văn : Hãy giới thiệu trường của em Cách làm: 1. trước mặt là hồ Giảng Võ. trường được tham gia lễ dâng hương “Nam Quốc nho tôn biểu vạn thế sự Chu Văn An” tại Văn Miếu. quen nói trước đông người . Dạng bài tập luyện số 1. giỏi đạt 70%.Quận Ba Đình.+ Nguyên liệu + Cách làm + Chất lượng sản phẩm Bài tập 2: Hãy thuyết minh về một danh lam thắng cảnh.Luyện nói văn bản thuyết minh . lập dàn ý nói theo trình tự phù hợp với đối tượng thuyết minh. xuất sắc. có nhiều giải học sinh giỏi : tốt nghiệp năm học 2001 – 2002 là 99. 15 .Sau CMT8 năm 1945. Tỉ lệ tốt nghiệp nhiều năm đỗ 100%. Hà Nội . có nhiều giải học sinh giỏi cấp quận.Nhiều năm đạt danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc về học tập và thể dục thể thao. Dựa vào dàn ý để nói A. nắm được những thành tích nổi bật của trường em 2. . .Rèn tác phong nói nhanh nhẹn. học sinh khá.Trường còn mở rộng quan hệ giao lưu với bạn bè trong và ngoài nước . B. .Quốc Tử Giám. V. Lưu ý ngắm khung cảnh của trường ở từng khu vực.Rèn kĩ năng nói to. học sinh được sự tận tâm dạy dỗ của các các thầy cô giáo giỏi. các công việc cụ thể.Trường em còn mở rộng quan hệ. .Trường thành lập năm 1990. . Dạng bài tập số 2: Thuyết minh về một loài động vật có ích đối với con người.Giới thiệu trường THCS Chu Văn An. 4.Trường em đã tròn 15 tuổi toạ lạc trên một ngôi đất rộng. Tìm các số liệu.Ngôi trường đó đã đào tạo bao thế hệ học sinh ưu tú.Tìm hiểu kĩ đề.Xuân Quý Mùi 2003. => 3 BT trên tham khảo trong phần “Phụ lục” của sách “các dạng bài tập làm văn và cảm thụ thơ văn lớp 8”. cấp thành phố và cấp toàn quốc. Dựa vào phòng truyền thống của trường.Toàn trường được sự lãnh đạo của thầy hiệu trưởng.Trường đạt danh hiệu tiên tiến xuất sắc cấp thành phố.

mình nó khoác một bộ lông dày mượt mà. Em rất yêu con chó mà nhà em đang nuôi. dùng để bón cây. mỗi lứa một con nghé.Bài tập 2: Lập dàn ý nói cho đề bài sau: “Thuyết minh về một con vật nuôi mà em yêu thích (chó. . Trâu rất dễ nuôi. Mèo nhà em có bộ ria mép dài. màn đêm buông xuống là lúc mèo bắt đầu hoạt động. ăn cám. chọi trâu thì về » Mắt trâu lồi to rất ưa nhìn. Trâu cũng biết ăn rơm. đặc biệt là tai mèo nghe được mọi cử động của chuột. Ngoài bộ ria nhạy bén. gà. uốn cong rất đẹp. 6. tai và mắt rất tinh vào ban đêm. mỗi bàn chân đều có móng vuốt sắc. Về mùa hè. trâu cày với ta » Con trâu là biểu tượng cho những đức tính như hiền lành. Thức ăn chính là cỏ tươi.Hiện nay chó làm được rất nhiều việc giúp con người như trinh thám. Nó thể hiện rõ nét về tình mẫu tử. Khi mọi người đi ngủ. trâu nái » nói lên chuyện làm giàu ở nhà quê ngày xưa. * Thuyết minh về con trâu Con trâu là vật nuôi đứng đầu hàng lục súc. Chó có nhiều loại. còn gọi là « linh cẩu ».20 kg.. cứu hộ… 5. Mèo chuyển động nhẹ nhàng. 3. nhưng chịu nắng giỏi. 2. mèo.18 năm . Da trâu thuộc để xuất khẩu. Mèo là động vật bốn chân thuộc lớp thú. sinh con. Trâu tơ. 16 . nói chính là trợ thủ giúp mèo bắt chuột trong đêm. Hải Phòng có lễ chọi trâu : « Dù ai buôn đâu bán đâu Mồng mười tháng tám. đuổi ruồi. Bụng trâu khá to . 4. Chó là loài động vật rất trung thành. có khả năng đánh hơi rất tài. nó có thể kéo cày. lúc nào cũng đập qua đập lại để đuổi muỗi. Hai chiếc sừng nhọn hoắt. để làm giầy dép.Não chó rất phát triển. tai và mũi mèo cũng góp phần quan trọng. kéo bừa từ mờ sáng đến non trưa. chịu khó… Nó là cánh tay phải. Chiếc đuôi dài khoảng một mét. trâu đực.Là loại động vật có bốn chân. nhiều giống khác nhau 4. Bốn chân trâu to và dài. có phải vì thế mà trâu bước đi chậm chạp ? Trâu là loài nhai lại. nuôi con rất khéo. Hầu như em bé VN nào cũng thuộc bài ca dao : « Trâu ơi.Chúng thường nặng từ 15. Đặc điểm chung của chúng : . có chùm lông dài và mượt. ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng. nhưng là nguồn thực phẩm rất dồi dào và có giá trị. Trâu chịu rét kém. trắng như cước. em gọi nó là Lu. Sữa trâu rất bổ.) • Dàn ý nói thuyết minh về mèo: 1. Trâu cái độ 2. Tên nó chính là “Miu” * Dàn ý thuyết minh về chó : 1. Em thích con mèo nhà em. dễ gần và là bạn của con người. . nhưng khi hoạt động (đi lại) thì cụp vào. là tài sản vô giá của người nông dân VN : « con trâu là đầu cơ nghiệp » Mỗi con trâu có thể nặng trên dưới ba tạ. Thịt trâu tuy không ngon bằng thịt bò. Bộ lông ấy có thể màu đen trắng (mèo khoang). 5. cần cù. Ở Đồ Sơn. Câu tục ngữ : « ruộng sâu. lông lưa thưa.. bàn chân có móng gân guốc to. Phân trâu màu đen. Chó là loài động vật rất có ích cho đời sống con người. Da trâu đen bóng. thỏ. 3. nó chỉ có một hàm răng (hàm dưới). bón lúa rất tốt. có thể màu tro (mèo mướp) và cũng có khi là ba màu khác nhua (mèo tam thể) 2. tuổi thọ trung bình từ 16. trâu mờm kéo cày rất khoẻ. 3 năm đẻ một lứa. dày và nhọn.

Màu xanh mênh mông của những đồng lúa. quy luật phát triển. rạch ròi. Hãy chỉ ra các bước chuẩn bị từ đầu cho đến tận khâu cuối để viết văn bản. nó gắn liền với tư duy khoa học . cùng lí do phát sinh. C.Có 6 phương pháp thuyết minh cần được chú ý : định nghĩa. Văn bản thuyết minh là văn bản trình bày tính chất. hãy thuyết minh đặc điểm chính của thể loại truyện ngắn. Bài tập 2 : (tham khảo sách cảm thụ ngữ văn 8 trang 126. dùng ví dụ cụ thể. truyện ngắn… + Đối tượng thuyết minh là các loại đồ dùng gia đình và dụng cụ học tập… + Đối tượng thuyết minh là về một cách làm. một thí nghiệm. sau hay thứ tự chính phụ : cái chính nói trước. sau đó viết thành văn bản thuyết minh hoàn chỉnh. dùng số liệu. một danh lam thắng cảnh… + Đối tượng thuyết minh về phần tình bày một hiệu sách tự chọn.Chép chính xác bài thơ « Qua Đèo Ngang » của Bà Huyện Thanh Quan (đã học ở Ngữ văn 7). miêu tả.126) a. Thuyết minh đã bao hàm cả ý giải thích. theo thứ tự nhận thức (từ tổng đến bộ phận. một tác giả thơ. . Ngành nghề nào cũng cần đến loại văn bản này.Các cách làm các kiểu bài thuyết minh với các đối tượng khác nhau : + Đối tượng thuyết minh là các thể loại : thơ. Dạng bài tập luyện số 6: Thuyết minh một phương pháp. và tiếng sáo mục đồng mãi mãi là hồn quê non nước. từ xa đến gần…) theo thứ tự diễn biến sự việc trong thời gian trước. mỗi ý viết thành một đoạn văn. một thể thơ hoặc thể loại. tránh lẫn ý của đoạn văn khác vào. D. phích nước điện…) E. văn… 17 . cấu tạo. một ngôi trường của em + Đối tượng thuyết minh có thể là lời giới thiệu một tập sách. tự sự.Văn bản thuyết minh khác với các văn bảnnghị luận. hành chính.Quan sát kĩ và mô tả đặc điểm của thể thơ mà bài thơ trên thể hiện. G. phân tích và phân loại. biểu cảm. so sánh. « Lão Hạc ». một thí nghiệm… + Đối tượng thuyết minh là một di tích lịch sử. cánh cò trắng rập rờn điểm tô. liệt kê… . 1. ở chỗ chủ yếu nó trình bày tri thức một cách khách quan. Dạng bài tập luyện số 3 : Thuyết minh đặc điểm một văn bản. Tên gọi của thể thơ ấy là gì ? c. b. Dạng bài tập luyện số 5 : Thuyết minh đặc điểm các đồ dùng trong c/s. có phạm vi sử dụng rộng rãi trong đời sống. . Bài tập : Thuyết minh về một thứ đồ dùng trong gia đình (chiếc bàn là điện kiểu thông dụng. cách dùng. cấu tạo của sự vật. . Ôn tập về văn bản thuyết minh. cần xác định các ý lớn. » của chú bé vắt vẻo ngồi trên lưng trâu. một phương pháp. Ghi lại các đặc điểm kiến thức của thể thơ lập thành dàn ý. biến hoá của sự vật cần thiết nhằm cung cấp hiểu biết cho con người. . từ ngoài vào trong. nên tuân theo thứ tự. và con trâu hiền lành gặm cỏ ven đê… là hình ảnh thân thuộc đáng yêu của quê hương.. công vụ.127) Trên cơ sở các truyện ngắn đã học như : « Tôi đi học ». VI.Viết đoạn văn.Khi viết đoạn văn. Câu hát : « ai bảo chăn trâu là khổ….VBTM là loại văn bản thông dụng. Luyện viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh . giới thiệu. trình bày. nó đòi hỏi chính xác. « Chiếc lá cuối cùng ». một tập thơ. cái phụ nói sau. Các khái niệm cần nhớ : . giúp con người sử dụng tri thức ấy nhằm phục vụ thiết thực cho cuộc sống . VII. Bài tập 1 : (tham khảo sách « cảm thụ ngữ văn 8 – trang 125.Khi làm văn thuyết minh.Dạng bài tập luyện số 7 : Thuyết minh một danh lam thắng cảnh.

Muốn vậy phải : quan sát. NH phải thôi học khi vừa đậu xong tiểu học và bắt đầu cuộc đời đói khổ. + Sắp xếp các kiến thức theo một trình tự hợp lí so với đối tượng cần thuyết minh theo một dàn ý. +Sau đó dựa vào dàn ý viết thành bài thuyết minh hoàn chỉnh.. ghi chép lại. Nhưng anh nghĩ. lam lũ. du đãng … trong xã hội cũ. nghà nghèo. người mẹ trẻ nghèo khổ bị khinh rẻ phải tha phương cầu thực. tù tội. dù có chết đi cũng phải để lại cho cõi 18 . lang thang đầu đường xó chợ. . PHẦN THỨ HAI MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC HAY LỚP 8 Bài 1 : TRONG LÒNG MẸ Nguyên Hồng I . Cuốn tiểu thuyết này được nhà văn viết năm 20 tuổi gồm 9 chương thấm đẫm tinh thần nhân đạo sâu sắc đã làm rung động bao tâm hồn bạn đọc vì “Nó là sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại”. tác phẩm 1) Tác giả: Nguyên Hồng (1918 – 1982) ở Nam định. mô tả khi đến tham quan.Giới thiệu Quãng đời ấu thơ là quãng đời ngọt ngào và nhiều kỷ niệm nhất của con người. đói khổ. uất hận và buồn tủi. xác định đối tượng thuyết minh + Đi tìm kiến thức để viết văn bản sao cho sát đối tượng cần thuyết minh. lam lũ … Quãng đời thơ ấu ấy được nhà văn ghi lại đầy cảm động qua những trang tự truyện đầm đìa nước mắt và sự căm giận trong “Những ngày thơ ấu”.Mồ côi bố vì bố bị ho lao nên mất sớm. chung đụng với đủ các hạng trẻ em nghèo đói. Đó là những năm tháng tràn đầy hạnh phúc trong tình thương của cha mẹ và những người thân.Quan trọng nhất vẫn là rèn các kĩ năng để làm bài thuyết minh +Tìm hiểu đề. Chương 4 của cuốn hồi ký này là đoạn trích “trong lòng mẹ” II – Vài nét về tác giả. NH tưởng như là sẽ chết đau đớn ở cái tuổi 16. học hỏi mọi người xung quanh.Lớn lên lại bị đày đoạ. Nhà văn Nguyên Hồng của chúng ta đã phải nếm trải một tuổi thơ đầy cay đắng. Song không phải ai cũng có một thời thơ với những kỷ niệm ngọt ngào như vậy. . lại thêm cảnh đói khổ do thất nghiệp kéo dài. đọc sách báo có kiến thức về đối tượng.

đồng thời có trái tim khao khát hạnh phúc và biết yêu một cách sôi nổi. sống ân tình.. thấy người quen thì vội quay đi. Đó là một tuổi thơ có quá ít những kỷ niệm êm đềm. đầy đoạ. mà nhai. cùng khổ” sinh ra trong một gia đình sa sút. Bé Hồng ngả đầu vào cánh tay mẹ. viết văn là một lẽ sống) .Trong số những người cùng khổ đó.Từ cuộc đời của mình.Ngay từ những trang viết đầu tay. 19 . mua cho bé Hồng và em Quế bao nhiêu là quà.. Biết những rắp tâm tanh bẩn của người cô. bé chạy theo và gọi : « Mợ ơi ! Mợ ơi ! Xe chạy chậm lại. Nhà văn dứt khoát bênh vực người phụ nữ . mợ mày về dù sao cũng đỡ tủi cho cậu mày » . Nam định … Truyện ngắn của ông chứa chan tinh thần nhân đạo sâu sắc. bất chấp “cái đói ê ẩm thấm thía vô cùng trong đêm mưa lạnh hoang vắng. Trong đời sống văn học đương thời thì NH là một trong ít nhà văn có quan điểm tiến bộ về vấn đề phụ nữ trong lĩnh vực tình yêu hôn nhân. NH đã viết nhiều và cảm động về những trẻ em nghèo. Chiều tan học ở trường ra. Họ còn bị những lề thói khắc nghiệt của XH cũ vùi dập. Với trái tim nhân đạo dào dạt thắm thiết.. mẹ của bé Hồng ở Thanh Hoá vẫn chưa về. . bé Hồng đã từ chối và nói cuối năm thế nào mẹ cũng về.Tóm tắt: .. Cô lại cười nói. bất hoà. mẹ sụt sùi khóc. mẹ về một mình. . sớm phải sống lêu lổng. (Với anh. bơ vơ giữa sự ghẻ lạnh cay nghiệt của họ hàng và thái độ dửng dưng một cách tàn nhẫn của xã hội. thoáng thấy một người đàn bà ngồi trên xe kéo giống mẹ.về những nỗi khổ nhiều mặt trong cảnh sống lầm than của chúng. mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi. Và ông thuỷ chung với con đường văn học đó trong suốt cuộc đời cầm bút của mình. viết một cách đau khổ say mê. Đó là một tập hồi ký gồm 9 chương ghi lại một cách trung thực những năm tháng tuổi thơ cay đắng của tác giả.Bé Hồng chẳng phải viết thư cho mẹ đến ngày giỗ đầu của bố. mẹ cầm nón vẫy lại. Người cô nói với em các chuyệ về người mẹ ở Thanh Hoá : mặt mày xanh bủng. lấy nón che. cần cù tần tảo mà cả cuộc đời chỉ là vất vả. Con nức nở. ông quan tâm và thể hiện thành công những nhân vật phụ nữ và nhi đồng. Mẹ xoa đầu con và dỗ : « Con nín đi ! Mợ đã về với các con rồi mà ». Nhưng đó cũng là những người phụ nữ có vẻ đẹp tâm hồn đáng quý như yêu thương chồng con tha thiết. bất hạnh. 2) Tác phẩm: . Miệng xinh xắn nhai trầu thơm tho. lo nuôi chồng con. Đồng thời nhà văn hầu như bao giờ cũng phát hiện và miêu tả những nét đẹp trong sáng. thương me vô cùng.Đó là những người phụ nữ lao động nghèo khổ. Em thấy mẹ vẫn tươi sáng. và nhất là về những nỗi đau trong trái tim nhạy cảm dễ tổn thương của tuổi thơ.. tủi cực của một “đứa bé côi cút. nước da mịn. NH đã nói lên thật cảm động số phận đầy đau khổ ở các thành phố lớn như Hà nội.Gần đến ngày giỗ đầu bố.. Một hôm người cô gọi bé Hồng đến bên cười hỏi là bé Hồng có muốn vào Thanh Hoá chơi với mẹ không. . Nước mắt bé Hồng ròng ròng rớt xuống. Cô nghiêm nghị đổi giọng bảo bé Hồng đánh giấy cho mẹ về để rằm tháng Tám « giỗ đầu cậu mày.. ông đã hướng ngòi bút của mình vào những người nghèo khổ. Cô hứa cho tiền tàu vào thăm mẹ và thăm em bé. gò má màu hồng. mà chủ yếu là những kỷ niệm đau buồn. vừa tha thiết yêu thương nhất của tâm hồn. cảm động trong những tâm hồn non trẻ đó. Hải Phòng.đời mà anh yêu mến một cái gì vừa tinh khiết.Tác phẩm viết năm 1938 và đến năm 1940 thì được in trọn vẹn thành sách. Và anh bắt đầu viết – viết suốt ngày suốt đêm. ngồi cho con bú bên rổ bóng đèn. giống như nhà văn nga Gorki. người gầy rạc. Bé Hồng vừa khóc vừa căm tức những cổ tục muốn vồ ngay lấy mà cắn.“Trong lòng mẹ” là chương 4 của tập hồi ký 3. trong sáng. thuỷ chung. ngọt ngào.

=> Chú bé đã mất bố. Nỗi nhớ vừa phải giấu kín. căm ghét những hủ tục phong kiến đã chôn vùi. nên không thể sống nổi với cái xã hội đầy những thành kiến. Những lời nói cay nghiệt của bà cô chính là những nhát dao cứa sâu vào trái tim thơ trẻ của chú bé. Chú bé từ chỗ “im lặng cúi đầu” đến “nước mắt ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và ở cổ. một phần khác vì chưa hết tang chồng mà lại có con. bà cô gợi ý cho bé Hồng vào thăm mẹ. + Đầu tiên. đã phải bỏ nhà đi xa.Hồng mồ côi cha gần 1năm . Bé Hồng cười vì hiểu thấu tâm địa độc hiểm của bà cô. + Rồi bà cô giục bé Hồng vào Thanh hoá để đòi mẹ “may sắm và thăm em bé”. Nỗi đau ấy được thể hiện rõ nhất trong cuộc đối thoại giữa bé Hồng và bà cô của bé. khinh bỉ thái độ lèo lá. Em thiếu một mái ấm gia đình. độc ác. uất nghẹn về tình yêu thương vô bờ bến của Bé Hồng đối với người mẹ nhân từ. Bà ta cố ngân dài từ “em bé” thật ngọt. + Sự kiện 2: Mẹ bé Hồng trở về – cuộc gặp gỡ đầy nước mắt của niềm vui và hạnh phúc III – Phân tích chương “trong lòng mẹ” 1)Sự kiện 1: Tình cảnh đáng thương và nỗi đau của bé Hồng Qua đoạn 1 và qua lời tự thuật của nhân vật “tôi”. khiến bé Hồng “cười dài trong tiếng khóc”. tiếng khóc uất ức. khinh ghé. giả dối. sống cuộc sống côi cút. bé Hồng lại “im lặng cúi đầu xuống đất”. tần tảo mà cuộc đời đầy bất hạnh. Người mẹ khốn khổ ấy một phần vì túng bấn. lại xa mẹ.” “chú bé nhận ra ý nghĩa cay độc trong giọng nói rất kịch của bà ta. bé Hồng đã phải nuốt thêm vào lòng niềm thương và nỗi đau. một chỗ dựa cho tuổi ấu thơ. Đấy là những tiếng đầy dụng ý xấu xa. bé Hồng lại luôn luôn phải nghe những lời nói xấu cay nghiệt về mẹ. Thấy mẹ bị xúc phạm. Một trạng thái tình cảm phức tạp vừa đau đớn. Nỗi nhớ mẹ của đứa tre từng nhiều phen “rớt nước mắt” vì “thiếu thốn một tình thương ấp ủ” lại được khơi dậy. Chú bé “im lặng cúi đầu không đáp. Có hai sự kiện đã trở thành kỷ niệm không thể phai mờ được nhà văn ghi lại trong chương này. Đã xa mẹ. Đó là những sự kiện gì ? + Sự kiện 1: Cuộc trò chuyện giữa bé Hồng và bà cô. nhẫn tâm của bà. bơ vơ đói rách giữa sự ghẻ lạnh của những người họ hàng giầu có mà ích kỉ. ta thấy chú bé Hồng có tình cảnh đáng thương như thế nào ? * Tình cảnh đáng thương của Hồng . => một lần nữa. Hồng không thể tiếp tục ghìm nén nỗi tủi cực. Em hãy lược thuật lại cuộc đối thoại giữa bà cô với bé Hồng? Qua đoạn đối thoại.Cuộc trò chuyện với bà cô là kỷ niệm không thể quên về một nỗi đau uất nghẹn mà tuổi thơ NH đã phải trải qua. em thấy chú bé Hồng phải chịu thêm những nỗi đau như thế nào ? Hãy phân tích tâm trạng đau đớn ấy của Hồng ? . vừa uất nghẹn nảy sinh trong tâm hồn thơ trẻ. Song nỗi đau khổ sâu xa không chỉ dừng lại ở sự thiếu tình thương mà Hồng còn phải chịu những nỗi đau khác nữa do người khác xúc xiểm một cách độc ác về mẹ chú. + Rồi bà cô lại ngọt ngào giả dối “Mẹ mày dạo này phát tài lắm” trong khi bà ta thừa biết tình cảnh khốn khổ của mẹ nơi tha hương. Cậu bé cảm thấy lòng “càng thắt lại” và “khoé mắt đã cay cay”. Em “Khóc” vì thương nhớ mẹ. cay nghiệt. hủ tục độc ác. xa lánh nên phải đi vào Thanh hoá tha phương kiếm sống. nhớ mẹ.Mẹ Hồng do bị mọi người hắt hủi. đày đoạ bao số phận 20 .Chương hồi ký này là nỗi đắng cay. Cho nên lần này bé không thể giả cười để đáp lại bà cô. thiếu một tình thương yêu đích thực.

Hồng căm ghét cực độ những hủ tục đã đầy đoạ mẹ mình. nghiến” một cách nát vụn những hủ tục ấy. mẹ chú hoàn toàn vô tội. + Có lúc bà ta tỏ sự ngậm ngùi thương xót Hồng và người cha bất hạnh của em. + Dường như chưa cho thế là đủ. chú không hề mảy may dao động. một lời nhắn hỏi. mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. xô bồ. bà ta sẽ phải chăm sóc. tình cảm dâng trào mạnh mẽ. mạnh mẽ đối với người mẹ mà chú vô vàn yêu thương kính mến. Lúc nào bà ta cũng nhân danh vì quyền lợi của Hồng “sao lại không vào ? mợ mày phát tài lắm …vào đi. Và bà ta cũng biết rõ về tình cảnh khốn khổ của chị dâu mình. Bé Hồng đã hiện lên qua những dòng miêu tả là một em bé giầu tình cảm. do có một tình cảm tự nhiên. Câu văn có vẻ dồn dập. Nguyên Hồng muốn nói to lên nỗi bất hạnh của phụ nữ và trẻ em trong xã hội cũ.Thâm tâm: Bà ta cố ý. sâu kín nhất trong tâm hồn bé Hồng đã được tác giả ghi lại bằng những câu văn bình dị. cuồng nhiệt đến mức bật thành giả thiết: “Giá những cổ tục là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh. gấp gáp tựa như sự uất hận của bé ngày một tăng tiến. Chú đau đớn vô cùng. mặt mày xanh bủng. một đồng quà. . tàn phá.. ngồi cho con bú ở chợ …. thật là trẻ con. mặc dù non một năm mẹ chú không gửi cho chú một lá thư. bà cô còn “tươi cười” kể cho chú bé nghe rằng “mẹ chú ăn vận rách rưới. rất trẻ thơ nhưng chính xác và gợi cảm. đây là những trang miêu tả hay và tinh tế của nhà văn về tâm trạng của bé Hồng. mà nhai. qua đó kết án đanh thép sự tàn nhẫn. và chắc chắn bà ta thừa thấu hiểu Hồng là một chú bé dễ xúc cảm và rất mau nước mắt. lớn lao cái ý nghĩ đó của chú bé ! Sự căm ghét dữ dội ấy chính là biểu hiện đầy đủ của lòng yêu thương dào dạt của chú bé đối với mẹ chú. Đáng lẽ trong hoàn cảnh ấy. Những nét thay đổi nhỏ nhất. Có thể nói chương truyện là bài ca bất diện của tình mẹ con. gợi cảm. tao chạy tiền tầu cho). tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn. nhai. . tình cảm của đứa cháu mồ côi cha đối với mẹ. Nỗi đau đớn tủi cực và cả nỗi căm giận buộc phải nén lại của chú bé sâu sắc biết chừng nào. rắp tâm tanh bẩn là gieo rắc vào đầu óc chú bé những hoài nghi để chú bé khinh miệt và ruồng rẫy người mẹ. đặc biệt là lòng thương mẹ. làm ra vẻ quan tâm. nhịp văn dồn dập. * Tóm lại.Trong lòng chú bé Hồng luôn có hình ảnh người mẹ có “vẻ mặt rầu rầu và hiền từ”.Bên ngoài: đóng vai người cô tốt + Nói cười ngọt ngào. giúp nó dịu bớt nỗi đau mất cha và nhất là nỗi đau 21 .tình cảm thiêng liêng muôn đời không một thế lực nào có thể ngăn cản. và cũng thật là mãnh liệt.Đúng là “rắp tâm ranh bẩn” của bà cô không thể xâm phạm đến tình thương yêu và lòng kính mến mẹ của bé Hồng. chú bé vẫn đầy lòng yêu thương và kính mến đối với mẹ mình. tìm mọi cách nói xấu mẹ Hồng.người phụ nữ. đầu mẩu gỗ. chắc chắn bà ta không lạ gì nỗi khổ xa mẹ. an ủi đứa cháu. Với chú. Qua đoạn đối thoại. Là người trong gia đình.Bà cô càng cố khoét sâu vào nỗi đau thì lòng yêu thương mẹ và nỗi căm ghét những hủ tục phong kiến vô lý tàn ác càng dâng lên dào dạt và mãnh liệt trong tâm hồn bé. Lòng căm phẫn cao độ ấy được NH diễn tả bằng những hình ảnh cụ thể. một đứa trẻ thông minh và cũng rất quả quyết. bất công của xã hội ấy. Ba động từ ấy chỉ ba trạng thái phản ứng của Hồng ngày càng dữ dội để thể hiện nỗi căm phẫn tới cực điểm . Mặc dù mẹ Hồng bỏ nhà ra đi giữa sự khinh miệt của đám họ hàng cay nghiệt.” => chú bé chưa nghe hết câu đã nghẹn họng “khóc không ra tiếng”. Hồng muốn “cắn. . Đặc điểm nổi bật của người đàn bà này là sự tàn nhẫn và độc ác. Thật là hồn nhiên. ta thấy bà cô bé Hồng là người như thế nào ? * Bà cô: . => Vậy là chú bé không chịu ảnh hưởng của những thành kiến đạo đức phong kiến. nhiều thành phần đồng vị ngữ quen gặp ở Nguyên Hồng mỗi khi gặp cảm xúc trào dâng ào ạt.

đối thoại bằng mấy câu nói. 2)Sự kiện hai: Cuộc gặp gỡ đầy nước mắt của niềm vui và hạnh phúc Phần cuối của chương hồi ký thuật lại cảnh bé Hồng bất ngờ được gặp mẹ. xúc động bằng hình ảnh so sánh đó. đồng thời bà ta cũng lấy làm hả hê thích thú trước tình cảnh khốn khổ của chị dâu. là thất vọng to lớn cho Hồng.Không những thương mẹ. Bà ta chẳng những tiêu biểu cho cái thành kiến cổ hủ. vỡ oà. mẹ chú hiện ra thật đẹp. bối rối. Cảm xúc này là kết quả của tâm trạng Hồng sau những cuộc đối thoại đầy cay đắng với bà cô. Hồng còn hiểu nỗi lòng mẹ. Đó còn là tiếng khóc sung sướng. mà còn là người đàn bà có tâm địa đen tối khi cố ý khoét sâu vào nỗi đau rướm máu trong tâm hồn nhạy cảm của đứa cháu mồ côi. rắp tâm chia lìa tình cảm mẹ con. phi nhân đạo của xã hội khi đó. . => Nhân vật bà cô được thể hiện khá sắc sảo. Em đã có một phán đoán rất người lớn và cũng rất trẻ thơ “hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc”.xa mẹ. Nỗi khắc khoải mong mẹ tới cháy ruột của Hồng đã được thể hiện thật thấm thía. Có đặt cái thất vọng cùng cực trước khi chết khát như vậy. cố ý gieo vào lòng nó thái độ khinh miệt. Niềm vui. niềm hạnh phúc tuyệt vời được trở về “trong lòng mẹ” của đứa trẻ “thiếu thốn một tình thương ấp ủ “là kỷ niệm sâu sắc nhất. đó là những cảm xúc gì ? . nhà văn dựng lại khá sinh động chân dung nhân vật bà cô tiêu biểu cho một hạng người. ngọt ngào nhất của cuộc gặp gỡ ấy Niềm vui sướng cao độ của Hồng khi gặp mẹ được diễn tả bằng những chi tiết nào ? Hãy tìm và phân tích ? Tác giả đặc biệt miêu tả những cảm xúc bên trong của Hồng. mừng rỡ. bà ta tìm mọi cách hành hạ. cử chỉ. “ríu cả chân lại”. đau khổ toát lên từ những cử chỉ cuống quýt ấy.Dường như bao nhiêu sầu khổ dồn nén không được giải toả trong chú bé suốt thời gian xa mẹ dài đằng đẵng. mới thấy niềm vui sướng. . Chỉ cần ghi lại một cuộc trò chuyện. Lần này là tiéng khóc của niềm vui và hạnh phúc tràn ngập. lúc này bỗng vỡ oà. thật phúc hậu. Có thể nói mỗi dòng mỗi chữ ông viết ra là một dòng nước mắt nóng bỏng tình xót thương. Biết bao hồi hộp sung sướng. hy vọng. ép thẳng ra từ trái tim vô cùng nhạy cảm của mình. sinh động. thật hiền: “vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn. có kèm theo vài chi tiết gợi tả giọng điệu. Chỉ cần thoáng qua + Thoáng nhìn thấy -> cuống quýt gọi mẹ một cách thất thanh. nhất là được “nằm trong lòng mẹ”. Nếu người quay lại mà là người khác thì thật là điều tủi cực. “Trán đẫm mồ hôi”. Có lẽ chính vì tình thương và niềm tin mãnh liệt ấy nên bé Hồng có sự linh cảm hết sức nhạy bén chính xác. ruồng rẫy đối với người mẹ mà nó vô vàn yêu thương.Hồng đã gặp lại mẹ một cách bất ngờ sau buổi học. do đó bé tin thế nào mẹ bé cũng trở về. làm nổi bật mầu hồng của hai gò má”. Nhưng bà ta hoàn toàn khác. Ai biết được trong cuộc đời mình. Chính em cũng nói “thực sự nếu em nhầm lẫn thì khác nào người bộ hành đang sắp gục ngã đi giữa sa mạc mênh mông bắt gặp ảo ảnh của bóng râm và dòng suối”. huỷ diệt niềm yêu thương kính trọng của chú bé Hồng đối với người mẹ khốn khổ. hạnh phúc trần gian vô hạn của đứa con đang khao khát tình mẹ được gặp mẹ. . xoa đầu em”. NH đã khóc bao nhiêu lần ? Nhưng tiếng khóc của bé Hồng chẳng lần nào giống nhau cả.Nỗi sung sướng đến cuống quýt của bé Hồng được thể hiện ở những hành động: “Thở hồng hộc”. giễu cợt nỗi đau xa mẹ của Hồng.Dưới cái nhìn vô vàn thương yêu của đứa con mong mẹ. “oà lên khóc. thảng thốt. 22 . khóc nức nở khi mẹ kéo tay. bất ngờ nên Hồng nghĩ “mình đã lầm” nhưng em vẫn gọi và chạy theo. Nhưng do quá sung sướng.

sung sướng cực điểm khi nằm trong lòng mẹ. Chú không nhớ mẹ chú đã hỏi những gì và chú đã trả lời những gì. tự nhiên một cách giả dối.. rạo rực cả người khi được hít thở trong bầu không khí của tình mẹ con tuyệt vời. để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm và gãi rôm ở sống lưng cho. mạnh mẽ và sâu sắc đến mức có thể đi mãi với ta trong suốt cuộc đời. mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng” Dường như tất cả mọi giác quan của chú bé đều thức dậy và mở ra để cảm nhận tận cùng những cảm giác rạo rực. Cả chương truyện đều tràn đầy cảm xúc. thấm thía như dưới ngòi bút của Nguyên Hồng. Đến đoạn tả cảnh chú bé gặp lại. căm giận ngày càng tăng của chú bé Hồng…. cho thấy tâm lý một người đàn bà có tâm địa khá thâm độc. sắc sảo. gần gũi và tin cậy. khi gặp mẹ. tính cách bà cô được khắc hoạ thật sinh động. Hồng lúc ấy chỉ là chú bé con trở về trong lòng người mẹ yêu dấu. Qua đó NH thể hiện thái độ cảm thông. Cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. những câu văn trên đã là “những rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại” (Thạch Lam) IV – TỔNG KẾT 1) Nội dung: .Cảm giác khi nằm trong lòng mẹ được hình dung rất tỉ mỉ. vừa vỗ vai “tươi cười” vừa ném ra những lời thật đau đớn với chú bé. => Tóm lại.Nhà văn đã thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật. đùi áp đùi mẹ tôi. tình cảm của Hồng khi xa mẹ và niềm hạnh phúc lớn lao của Hồng khi được ngồi trong lòng mẹ. đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi.vô cùng” . ghi nhận được những cảm giác tinh tế ở bên trong . cảm xúc dâng trào như thác lũ…. Hồng đã tỏ rõ những cảm xúc mãnh liệt của mình. Nhà văn đem phần trong sáng nhất của tâm hồn ra giãi bầy trước công chúng. cảm giác của tác giả đã đạt tới độ sâu sắc. đùi áp vào đùi mẹ tôi …….Bút pháp giầu chất trữ tình. Có lẽ chưa nhà văn nào diễn tả tình mẹ con một cách chân thật và sâu sắc. Đằng sau những dòng chữ. cao quý của họ ngay cả khi trong những tình huống khắc nghiệt của cuộc sống. Diễn biến tâm trạng đau đớn. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường”. . lối viết đi sâu vào cảm giác. (Cảm giác của cậu bé cô đơn. những cảm giác từ tuổi ấu thơ phải là những gì thật sự lắng đọng. nhà văn nêu lên nhận xét khái quát đầy cảm động về sự êm dịu vô cùng của người mẹ trên đời: “Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ. tách bạch từng cảm giác sung sướng đến mê li. có khả năng làm thức dậy mọi giác quan ở người đọc.Từ những cảm giác đê mê sung sướng của chú bé khi nằm “trong lòng mẹ”. Đặc biệt là đoạn sau – cảnh chú bé gặp mẹ và nhào vào lòng mẹ.NH đã lắng nghe được những âm vang sâu lắng của tâm hồn. 23 . 2) Nghệ thuật . một sự xúc động sâu lắng với những ấn tượng mạnh mẽ thắm thiết. tinh tế. và luôn khẳng định những phẩm chất tốt đẹp. Trong cuộc đối thoại với bà cô …. hiếm có. tâm trạng nhân vật trong nhiều tình huống. . ngòi bút phân tích cảm xúc.Nguyên Hồng gần gũi với Thạch Lam ở lối phân tích tâm lý tinh tế. Tâm lý. Qua sự chọn lọc và đào thải của thời gian. tất cả đều rất kịch. Từ giọng nói ngọt ngào. tôn trọng đối với Phụ nữ và trẻ em.Là chương cảm động về tình cảm mẹ con. rất thơ ngây và trong trắng. những kỷ niệm. xúc động có thể xếp vào những trang miêu tả tâm lí đặc sắc nhất của văn chương Việt Nam. Ông đã viết những dòng miêu tả tâm lí trẻ thơ rất hay. cụ thể: “tôi ngồi trên đệm xe. tác giả đã mổ xẻ. tận hưởng cái “êm dịu vô cùng” đó của người mẹ.Lối viết văn tự truyện tạo nên ở người đọc một sự đồng cảm. tủi cực sau bao ngày đằng đẵng xa mẹ bỗng được lăn vào lòng mẹ: “tôi ngồi trên đệm xe. Có thể nói. áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ. nhào vào lòng mẹ.

Hoàn cảnh của bé Hồng . Hồng khao khát gặp lại mẹ và hạnh phúc khi ở trong lòng mẹ a.... tâm huyết của nhà văn... ============================= BÀI 2. từng chữ đều thẫm đẫm tình cảm chân thành.Ngoài những nghệ thuật trên. thiếu thốn. Hồng sớm hiểu nguyên nhân làm mẹ khổ : . được ái mộ. mãnh liệt 1. Hồng luôn dành cho mẹ những tình cảm yêu thương vô bờ bến a. bản thân phải sống nhờ vả những người họ hàng giầu có mà ích kỉ. Dẫn chứng : Khi nói chuyện đi thăm mẹ. chúng ta trân trọng tài năng bẩm sinh của người nghệ sỹ.Hà Nội) . xúc xiểm cũng không làm tình thương đối với mẹ thay đổi Dẫn chứng : « Đời nào. 2.. + Về hoạt động báo chí. xúc phạm đến tình mẫu tử thiêng liêng » b. nhà báo. « Giá những cổ tục.. nhà dịch thuật và khảo cứu nổi tiếng..Ngô Tất Tố (1893. Khi bà cô tiếp tục dùng những lời cay độc để nói về mẹ thì Hồng đau đớn. uất nghẹn tột độ. Khao khát gặp lại mẹ : chạy ríu cả chân. không còn nghe thấy gì nữa. đề cập nhiều vấn đề thời sự. mẹ phải tha phương. cười dài trong tiếng khóc 3. huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh. nát vụn mới thôi » 4. có mặt trên nhiều tờ báo trong cả nước với hàng chục bút danh. c. Yêu mẹ.. b. Dàn ý phân tích nhân vật bé Hồng trong «trong lòng mẹ» Đặc điểm nổi bật nhất của bé Hồng : Là một chú bé có lòng yêu thương mẹ sâu sắc. Khi nền Hán học suy tàn : “ông nghè..Bố chết. Dãn chứng : Nước mắt chan hoà. ông cống cũng nằm co”(Tú Xương).Dù bà cô có cố tình bôi nhọ.Tác giả . . gọi là “đầu xứ Tố”. văn hoá.Nỗi khổ lớn nhất của Hồng là phải xa mẹ. Chương truyện này thực sự hấp dẫn gây xúc động đối với người đọc có lẽ bởi sau từng câu. TỨC NƯỚC VỠ BỜ (Trích “Tắt đèn” – Ngô Tất Tố) I. muốn gặp mẹ mà phải kìm nén và giấu kín tình cảm vì không muốn nghe những lời xúc phạm mẹ.. Hồng không muốn đi. tàn nhẫn. 24 .1954) sinh tại Lộc Hà. chính trị.. . Hạnh phúc khi ở bên mẹ : Nhận ra mẹ vẫn đẹp....Thuở nhỏ học chữ Nho nổi tiếng thông minh....nghiến. Ngô Tất Tố tự học chữ Quốc ngữ và học tiếng Pháp..Căm tức những thành kiến nặng nề.Bé Hồng phải chịu nhiều nỗi ấm ức. lo sợ không phải là mẹ.. đỗ đầu kì thi khảo hạch vùng kinh Bắc... Tình mẫu từ thiêng liêng . ông được coi là “một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà nho” (lời Vũ Trọng Phụng).. khổ sở.ròng ròng. với một khối lượng bài báo đồ sộ. xã hội. em luôn thèm khát tình mẹ.. Ông trở thành một nhà văn...

bị đánh …. 1. Đó là một nhà báo có lập trường dân chủ tiến bộ. ông qua đời trước mấy ngày chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.Tóm tắt tác phẩm “Tắt đèn” . bị trói. bịch vào ngực và tát đánh bốp vào mặt chị Dậu. rũ như xác chết được khiêng trả về nhà. gia đình chị Dậu tuy vợ chồng đầu tắt mặt tối quanh năm mà vẫn không đủ ăn. rồi vùng chạy. Anh Dậu bị ngất đi. rồi nhảy thốc vào trói anh Dậu khi anh Dậu đã bị lăn ra chết ngất. Anh Dậu lại bị trận ốm kéo dài mấy tháng trời không có tiến nộp sưu. tiếng tù và nổi lên suốt đêm ngày. Nhưng khác với những tác phẩm đương thời cùng đề tài. Chúng lồng lên chửi mắng. anh Dậu đã bị bọn cường hào “bắt trói” như trói chó để giết thịt. Gọi NTT là “nhà văn của nông dân” bởi ông chuyên viết về nông thôn và đặc biệt rất thành công ở đề tài này. có lối viết sắc sảo. chị Dậu phải lên tỉnh đi ở vú. Một đêm tối trời. là nhà tiểu thuyết nổi tiếng. “Tắt đèn” giầu giá trị nhân đạo 25 . “man rợ” đang đè nặng lên cuộc sống người nông dân ở nhiều vùng nông thôn khi đó. NTT sống và hoạt động văn hóa văn nghệ tại chiến khu Việt Bắc. Lí trưởng làng Đông Xá bắt anh Dậu phải nộp suất sưu cho chú Hợi đã chết từ năm ngoái vì “chết cũng không trốn được nợ nhà nước”. . Nhưng tên Cai Lệ đã gầm lên. đốc thuế ở một làng quêláng Đông xá dưới thời Pháp thuộc. II.Giới thiệu “Tắt đèn”. b.Chị Dậu bị bắt giải lên huyện. Sáng sớm hôm sau anh Dậu còn đang ốm rất nặng chưa kịp húp tí cháo thì tay chân bọn hào lí lại ập đến. rồi xông vào đánh ngã nhào tên Cai Lệ và tên hầu cận lý trưởng. Tác phẩm ít nhiều có ý nghĩa chống lại phong trào phục cổ do thực dân đề xướng lúc bấy giờ.Sau hai cái tang liên tiếp(tang mẹ chồng và tang chú Hợi). điêu luyện giàu tính chiến đấu. đến nay đã lên đến “bậc nhất nhì trong hạng cùng đinh”. Chị Dậu nghiến hai hàm răng thách thức. một áng văn có thể gọi là kiệt tác. Món nợ nhà nước vẫn còn đó. Chị Dậu vùng chạy thoát ra ngoài trong khi “trời tối đen như mực” III. Bọn hào lý và lũ tay chân với roi song. “Tắt đèn” là một bức tranh xã hội chân thực. . VD: Các phóng sự : Tập án cái đình (1939). đôi mắt sắc sảo đã giở trò bỉ ổi. Chị Dậu tất tả chạy ngược chạy xuôi. tay thước nghênh ngang đi lại ngoài đường thét trói kẻ thiếu sư. Việc làng (1940) là các tập hồ sơ lên án những hủ tục “quái gở”. Tiểu thuyết “Lều chõng” (1939) tái hiện tỉ mỉ sinh động cảnh hà trường và thi cử thời phong kiến. áo không đủ mặc. dây thừng. Chị Dậu van lạy chúng tha trói chồng mình.Sau cách mạng tháng Tám. tòng lai chưa từng thấy (Lời Vũ Trọng Phụng trong bài “báo thời vụ”).Câu chuyện trong “Tắt đèn” diễn ra trong một vụ đốc sưu. Chị Dậu đã “ném tọt” cả nắm giấy bạc vào mặt con quỷ dâm ô. phải dứt ruột bán đứa con gái đầu lòng và ổ chó cho vợ chồng Nghị Quế để trang trải “món nợ nhà nước”. cụ cố thượng đã ngoài 80 tuổi mò vào buồng chị Dậu. Tiểu thuyết “Tắt đèn” là “thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội hoàn toàn phụng sự dân quê. . “lều chõng” đã vạch trần tính chất nhồi sọ và sự trói buộc khắc nghiệt bóp chết óc sáng tạo của chế độ giáo dục và khoa cử phong kiến. “Tắt đèn” là một tác phẩm giàu giá trị hiện thực: Tố cáo và lên án chế độ sưu thuế dã man của thực dân Pháp đã bần cùng hóa nhân dân. những kẻ đã “hút nhiều xái cũ”. nhiều bài là những tiểu phẩm châm biếm có giá trị văn học cao + Về sáng tác văn học. Bị ốm. Tri Phủ Tư Ân thấy Thị Đào có nước da đen dòn. Cổng làng bị đóng chặt.nghệ thuật. Tiếng trống ngũ liên. Là cây bút phóng sự. Về nội dung tư tưởng a. một bản án đanh thép kết tội chế độ thực dân nửa phong kiến. ông là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực trước cách mạng.

tình mẹ con. Trong hoàn cảnh bị áp bức cùng cực. vừa trong sạch.Các phần nội dung liên quan trong văn bản: chị Dậu bị áp bức cũng quẫn. Tình huống truyện hấp dẫn thể hiện mối xung đột cao độ giữa kẻ áp bức và người bị áp bức. 26 . chi tiết đan cài chặt chẽ.Khắc hoạ thành công nhân vật: các hạng người từ người dân cày nghèo khổ đến dịa chủ.Thể hiện đúng tư tưởng của văn bản : có áp bức. gia đình chị Dậu bị dồn đến bước đường cùng trong cơn khốn quẫn nhất: phải bán con. 2. 4.Sự việc chị Dậu đương đầu với Cai Lệ và người nhà lí trưởng.Ngôn ngữ từ miêu tả đến tự sự. buộc phải phản ứng chống lại Cai lệ và người nhà lí trưởng. số phận những người phụ nữ. những người cùng đinh được tác giả nêu lên với bao xót thương. bán đàn chó mới đẻ mới đủ suất tiền sưu cho anh Dậu để cứu chồng đang ốm yếu bị đánh đập ngoài đình. tập trung. tình xóm nghĩa làng giữa những con người cùng khổ.Tính xung đột. nhẫn nhục và dũng cảm chống cường hào. tính bi kịch cuốn hút. những em bé. nhức nhối và đau lòng. Câu hỏi: Theo em. tần tảo. đầy ấn tượng làm nổi bật chủ đề. có thể xác định nhân vật trung tâm của đoạn trích này là chị Dậu. hình ảnh chị Dậu được khắc hoạ rõ nét nhất ở sự việc nào? vì sao em khẳng định như thế? . 3. Cái tình tiết.Từ tên gọi của văn bản.Tình vợ chồng.. Chị Dậu có bao phẩm chất tốt đẹp : cần cù. một hình tượng chân thực đẹp đẽ về người phụ nữ nông dân Việt Nam. . Chị Dậu là hiện thân của người vợ. đã ba lần vùng lên chống trả quyết liệt sự áp bức của bọn thống trị để bảo vệ nhân phẩm của mình và bảo vệ chồng con. Về nghệ thuật: .Phần 1: Từ đầu đến chỗ “ngon miệng hay không”: Chị Dậu ân cần chăm sóc người chồng ốm yếu giữa vụ sưu thuế . từ bọn cường hào đến quan lại đều có nét riêng rất chân thực. Tiêu đề “Tức nước vỡ bờ” thâu tóm được : .Phần 2: Từ “anh Dậu uốn vai đến hết”: Chị Dậu khôn ngoan và can đảm đương đầu với bọn tay sai phong kiến như Cai Lệ và người nhà Lý trưởng. . chí ít người đọc cũng nhớ chị Dậu.1945. tinh thần phản kháng của chị Dậu mới có dịp bộc lộ rõ ràng. một áng văn có thể gọi là kiệt tác. có đấu tranh . .Kết cấu chặt chẽ. sống động. giầu tình thương. Nhưng nguy cơ anh Dậu lại bị bắt nữa vì chưa có tiền nộp sưu cho người em ruột đã chết từ năm ngoái. áp bức. người phụ nữ rất mực dịu dàng và biết chịu đựng nhẫn nhục.Giữa vụ sưu thuế căng thẳng. Vì khi đó tính cách ngoan cường của chị Dậu được bộc lộ. chương thứ 18 của tiểu thuyết “Tắt đèn” nổi tiếng của văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930. hấp dẫn . Phân tích: a. rồi đến ngôn ngữ nhân vật đều nhuần nhuyễn đậm đà. . người mẹ vừa sắc sảo. vừa đôn hậu. đúng như Vũ Trọng Phụng nhận xét : “Tắt đèn” là một thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội hoàn toàn phụng sự dân quê. Trong đó thì tiểu biểu nhất là cảnh “tức nước vỡ bờ” mà nhà văn viết thành một chương truyện đầy ấn tượng khó phai. Bố cục: Chuyện tức nước vỡ bờ của chị Dậu diễn ra ở hai sự việc chính: . Giới thiệu đoạn trích: Trong tiểu thuyết “Tắt đèn”. IV. Nhân vật chị Dậu xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm . => Tóm lại. Tìm hiểu đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” 1. 2.“Tắt đèn” đã xây dựng nhân vật chị Dậu.

” + Đùng đùng. tàn nhẫn và không có luật lệ. bán con mà vẫn không lo đủ tiền sưu. tình huống vừa mới mở ra mà xung đột đã nổi lên ngay. b. thứ thuế nộp bằng tiền mà người đàn ông là dân thường từ 18 đến 60 tuổi (gọi là dân đinh) hằng năm phải nộp cho nhà nước phong kiến thực dân. tinh tế khi ông không dùng một chi tiết nào để miêu tả suy nghĩ tên cai lệ trong cảnh này. “mày” và xưng “ông”.Bộ mặt tàn ác bất nhân của bọn cai lệ và người nhà lí trưởng. chẳng bao giờ thấy động lòng trắc ẩn thì làm gì chúng còn biết suy nghĩ? Nhà văn đã kết hợp các chi tiết điển hình về bộ dạng. 27 . cai lệ đã lập tức ra oai “gõ đầu roi xuống đất”. một xã hội có thể gieo hoạ xuống người dân lương thiện bất kì lúc nào. Bởi vì lũ đầu trâu mặt ngựa xem việc đánh người.Chị Dậu chăm sóc anh Dậu trong hoàn cảnh : Giữa vụ sưu thuế căng thẳng. “Thằng kia! Ông tưởng mày chết đêm qua. . Từ đó ta thấy tên cai lệ đã bộc lộ tính cách hống hách. tính mạng của anh Dậu bị đe doạ nghiêm trọng. c. Hắn cùng với người nhà lí trưởng kéo đến nhà chị Dậu để tróc thuế sưu. Trong phần hai của văn bản này xuất hiện các nhân vật đối lập với chị Dậu. nhà nghèo.Nhờ hàng xóm giúp. trói người như là việc tự nhiên hàng ngày. cai lệ giật phắt cái thừng trong tay anh này và chạy sầm sập đến chỗ anh Dậu : “tha này! tha này!. ta thấy bản chất xã hội thực dân phong kiến là một xã hội đầy rẫy bất công tàn ác. đó là chị Dậu. một xã hội tồn tại trên cơ sỏ của các lí lẽ và hành động bạo ngược. * Trước hết là tấm lòng của người vợ đối với người chồng đang đau ốm được diễn tả chân thật và xúc động từ lời nói đến hành động... Truyện “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố đã tạo dựng được hình ảnh chân thực về người phụ nữ nông dân bị áp bức cùng quẫn trong xã hội phong kiến nhưng vẫn giữ được bản chất tốt đẹp của người lao đông. lời nói. không còn nhân tính. Còn anh Dậu thì bị tra tấn. Trong đó nổi bật là tên cai lệ. . => Như vậy. “cha mày”. đánh đập và bị ném về nhà như một cái xác rũ rượi… => Trước hoàn cảnh khốn khó. Hình ảnh đẹp đẽ của người nông dân lao động nghèo khổ. Anh chưa kịp húp ít cháo cho đỡ xót ruột như mong muốn của người vợ thương chồng thì bọn đầu trâu mặt ngựa đã ào vào như một cơn lốc dữ khiến anh lăn đùng ra không nói được câu gì. Vừa nói hắn vừa bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch rồi lại sấn đến để trói anh Dậu. sưu là công việc lao động nặng nhọc mà dân đinh phải làm cho nhà nước đó. hắn quát: “mày định nói cho cha mày nghe đấy à? Sưu của nhà nước mà dám mở mồm xin khất!” + Vẫn giọng hầm hè: “Nếu không có tiền nộp sưu cho ông bây giờ. Cai lệ là viên cai chỉ huy một tốp lính lệ. ta thấy ngòi bút hiện thực NTT đã khắc họa hình ảnh tên cai lệ bằng những chi tiết điển hình thật sắc sảo.. chị Dậu đã chịu đựng rất dẻo dai.” => Ngòi bút của NTT thật sắc sảo. + Vừa vào nhà. không gục ngã trước hoàn cảnh. hách dịch gọi anh Dậu là “thằng kia”. thô bạo. cai lệ và người nhà lí trưởng đã sầm sập tiến vào với những roi song tay thước và dây thừng.Theo dõi nhân vật cai lệ. chị Dậu ra sức cứu sống chồng nhưng trời vừa sáng. còn sống đấy à? Nộp tiền sưu mau!” + Cai Lệ trợn ngược hai mắt. hành động để khắc hoạ nhân vật.. Gia đình chị Dậu phải đóng suất thuế sưu cho người em chồng đã mất từ năm ngoái cho thấy thực trạng xã hội thời đó thật bất công. phải bán chó. thì ông sẽ dỡ cả nhà mày đi. chửi mắng thôi à!.. báo trước kịch tính rất cao đề dẫn đến cảnh “tức nước vỡ bờ” như là một quy luật không thể nào tránh khỏi. Từ hình ảnh tên cai lệ này.

Sự cự lại của chị Dậu cũng có một quá trình gồm hai bước. Tất cả chỉ là để cứu chồng qua cơn hoạn nạn. biết cái tình thế khó khăn. chị đã nhẫn nhục hạ mình xuống. => Đó là những cử chỉ yêu thương đằm thắm. Rồi chị “túm cổ cai lệ ấn dúi ra cửa.Khi tên cai lệ chạy sầm sập đến trói anh Dậu. người nông dân thấp cổ bé họng. . chị Dậu “xám mặt” vội vàng chạy đến đỡ lấy tay hắn. Cứ tưởng rằng đây là một phút giây ngắn ngủi trong cả cuộc đời đau khổ của chị Dậu để chị có thể vui sướng tràn trề khi anh Dậu hoàn toàn sống lại. -> Lời nói đanh thép như một lời cảnh cáo. hành động của anh Dạu đều có ánh mắt thấp thỏm. ông không được phép hành hạ”. . nhưng vẫn cố van xin thảm thiết: “Cháu van ông ! Nhà cháu vừa mới tỉnh được mọt lúc. Với thái độ quyết liệt ấy.Nhưng chị Dậu không thuộc loại người yếu đuối chỉ biết nhẫn nhục van xin mà còn tiềm tàng một khả năng phản kháng mãnh liệt. Nhưng giờ đây chị sẽ phải xử sự ra sao để cứu được chồng thoát khỏi đòn roi. dịu dàng của một người vợ yêu chồng. . ông tha cho”. chị chỉ mong chúng tha cho anh Dậu. chị cự lại bằng lí lẽ : “Chồng tôi đau ốm. + Khi tên cai lệ mỗi lúc lại lồng lên như một con chó điên “bịch vào ngực chị mấy bịch” rồi “tát đánh bốp vò mặt chị thậm chí nhảy vào chỗ anh Dậu”….Trong cơn nguy biến chị đã tìm mọi cách cứu chữa cho chồng: Cháo chín. . Trong hoàn cảnh này. lại đang ốm nặng). Nhưng dường như chị Dậu sinh ra là để khổ đau và bất hạnh nên dù chị có khao khát một giây phút hạnh phúc ngắn ngủi nhưng nào có được. ta thấy chị Dậu là một người phụ nữ cứng cỏi đã dũng cảm chống lại bọn cường hào để bảo vệ chồng. Thực ra chị không viện đến pháp luật mà chỉ nói cái lí đương nhiên. bất bình trước sự vô lương tâm của lũ tay sai. ngặt nghèo của gia đình mình (anh Dậu là kẻ có tội thiếu suất sưu của người em đã chết. Rồi chị lấy quạt quạt cho chóng nguội. Đến khi tên cai lệ dã thú ấy vẫn không thèm trả lời còn tát vào mặt chị một cái đánh bốp rồi cứ nhảy vào cạnh anh Dậu thì chị đã vụt đứng dậy với niềm căm giận ngùn ngụt: Chị Dậu nghiến hai hàm răng “mày trói chồng bà đi. tính mạng người chồng bị đe doạ. Chị Dậu đã kiên quyết cự lại. Một cách xưng hô hết sức đanh đá của phụ nữ bình dân thể hiện tư thế “đứng trên đầu thù” sẵn sàng đè bẹp đối phương. đáo để. Tình cảm ấy như hơi ấm dịu dàng thức tỉnh sự sống cho anh Dậu. . Bọn Cai lệ và người nhà lí trưởng đã sầm sập tiến vào như cơn lốc dữ dập tắt ngọn lửa sống đang nhen nhóm trong anh Dậu. bà cho mày xem!”. lẳng người nhà lí trưởng ngã nhào ra 28 .. Lúc này chị đã thay đổi cách xưng hô ngang hàng nhìn vào mặt đối thủ. Chị rón rén bưng một bát đến chỗ chồng nằm: Thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột. Tác giả miêu tả thật tỉ mỉ. từng dấu hiệu chuyển biến của anh Dậu : “anh Dậu uốn vai ngáp dài một tiếng”… Dường như mỗi cử chỉ. (“Xám mặt”tức là chị đã rất tức giận. Thoạt đầu. chị Dậu mang ra giữa nhà. * Theo dõi nhân vật chị Dậu trong phần thứ hai của văn bản “tức nước vỡ bờ”. lời nói của chị vẫn rất nhũn nhặn. Chị có thái độ như vậy là vì chị biết thân phận bé mọn của mình. Mặc dù vậy. cái đạo lí tối thiểu của con người. một chị Dậu dịu dàng đã trở nên mạnh mẽ. ngả mâm bát múc la liệt.Ban đầu chị nhẫn nhục chịu đựng: + Chị Dậu cố van xin thiết tha bằng giọng run run cầu khẩn: “Hai ông làm phúc nói với ông lí cho cháu khất” => Cách cư xử và xưng hô của chị thể hiện thái độ nhẫn nhục chịu đựng. Rồi chị đón lấy cái Tỉu và ngồi xuống đó như có ý chờ xem chồng ăn có ngon miệng không. kĩ lưỡng từng hành động cử chỉ. không đánh trói hành hạ anh. lo lắng của chị Dậu dõi theo da diết. tức là hắn hành động một cách dã man thì mọi sự nhẫn nhục đều có giới hạn.chứng tỏ sức chịu đựng của chị rất lớn. Nỗi cay đắng trong chị Dậu không biết lớn đến mức nào.

tơi tả. chị trả lời: “thà ngồi tù. Chị Dậu vẫn chưa nguôi giận. giầu tình yêu thương.Tư sự kết hợp miêu tả và biểu cảm . Thể hiện chính xác quá trình tâm lí nhân vật. có sức truyền cảm. Khắc hoạ nhân vật bằng kết hợp các chi tiết điển hình về cử chỉ.Sự phản kháng của chị Dậu còn tự phát. Giọng văn của Ngô Tất Tố trở nên hả hê. chân thực. chị sẽ là người đi hàng đầu trong cuộc đấu tranh.Kết hợp các chi tiết điển hình về cử chỉ Câu hỏi: Nhận xét về nghệ thuật khắc hoạ nhân vật chị Dậu trong đoạn .Dùng phép tương phản tính cách chị Dậu với bọn cai lệ và người nhà lí trưởng. Tính cách chị Dậu hiện lên nhất quán với diễn biến tâm lí thật sinh động.Từ nhũn nhặn. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế. . uất hận bị dồn nén đến mức không thể chịu đựng được nữa.Từ hình ảnh của chị Dậu ta liên tưởng đến người nông dân trước cách mạng tháng Tám: tự ti. Nhà văn còn ca ngợi một phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ nông dân nghèo khổ: giàu tình thương yêu và có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ. . an phận do bị áp bức lâu đời. . 5. từ hình ảnh “cái cò lặn lội bờ sông. lời nói và hành động. Câu hỏi: Em thích nhất chi tiết nào ? Vì sao? => Chi tiết chị Dậu quật ngã bọn tay sai hung ác trong tư thế ngang hàng. hiền dịu. Vừa ra tay chị đã nhanh chóng biến tên tay sai hung hãn vũ khí đầy mình thành những kẻ thảm bại xấu xí. ta thấy chân dung người phụ nữ Việt Nam trong văn học đã có một bước phát triển mới cả về tâm hồn lẫn chí khí. . Nhưng họ sẽ đứng lên phản kháng quyết liệt khi bị áp bức bóc lột tàn tệ. chỉ biết sợ hãi mà trái lại vẫn có một sức sống mạnh mẽ. nhà tù thực dân cũng chẳng có thể làm cho chị run sợ nên trước sự can ngăn của chồng. Chính với ý nghĩa ấy mà Nguyễn Tuân viết: “tôi nhớ như có lần nào. đơn độc chưa có kết quả (chỉ một lúc sau.thềm”. hình ảnh chị Dậu hiện lên khoẻ khoắn. Tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó? với lời nói và hành động.Đây là một văn bản tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.Với ngòi bút hiện thực sinh động. biết nhẫn nhục chịu đựng nhưng hoàn toàn không yếu đuối. sinh động. Với chị. Nội dung và nghệ thuật đặc sắc của văn bản “Tức nước vỡ bờ” . Dưới ngòi bút của ông. bất khuất với sức mạnh kì lạ. Ông đã chỉ ra một quy luật tất yếu trong xã hội “có áp bức có đấu tranh”. tha thiết van xin đến cứng cỏi thách thức. Chị Dậu mộc mạc. quyết liệt bao nhiêu thì hình ảnh bọn tay sai hung ác trở nên nhỏ bé. => Tác dụng:tạo được nhân vật chị Dậu giống thật. chị Dậu bị áp bức dã man đã vùng lên đánh trả một cách dũng cảm. sống khiêm nhường. Đó còn là sức mạnh của lòng yêu thương chồng con vô bờ bến. tôi không chịu được”. một tinh thần phản kháng tiềm tàng. nhẫn nhục. => Như vậy. hả hê như Ngô Tất Tố. tôi đã gặp chị Dậu ở một đám đông phá kho thóc Nhật ở một cuộc cướp chính quyền huyện kì tổng khởi nghĩa. “con giun xéo mãi cũng quằn”. nực cười bấy nhiêu. quyết liệt . bất nhân của xã hội thực dân phong kiến đương thời đã đẩy người nông dân vào tình cảnh vô cùng cực khổ. Có thái độ rõ ràng đối 29 . Sức mạnh kì diệu của chị Dậu là sức mạnh của lòng căm hờn. Hành động dã man của tên cai lệ là nguyên nhân trực tiếp làm cho sức chịu đựng của chị lên quá mức. Và chúng ta khi đọc đến những dòng này cũng sung sướng. đầy vị tha. cả nhà chị bị trói giải ra đình trình quan) tức là chị vẫn bế tắc nhưng có thể tin rằng khi có ánh sáng cách mạng rọi tới. Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non” và từ hình ảnh người phụ nữ trong thơ xưa đến hình ảnh chị Dậu trong “Tắt đèn”. Tình huống truyện hấp dẫn thể hiện nổi bật xung đột. . hèn hạ. Ngô Tất Tố đã vạch trần bộ mặt tàn ác.

Em hiểu về như thế nào về nhan đề “Tức nước vỡ bờ” đặt cho đoạn trích? Theo em đặt tên như vậy có thoả đáng không? . Với tên cai lệ “lẻo khoẻo” vì nghiện ngập. Thật vậy. Ngôn ngữ kể chuyện. khi bị đẩy tới đường cùng.Kinh nghiệm của dân gian được đúc kết trong câu tục ngữ đó đã bắt gặp sự khám phá chân lí đời sống của cây bút hiện thực NTT. NTT chưa nhận thức được chân lí cách mạng nên chưa chỉ ra được con đường đấu tranh tất yếu của quần chúng bị áp bức.Những người nông dân như chị Dậu muốn sống được. sẵn sàng đè bẹp đối phương.Cổ vũ tinh thần phản kháng của họ . ấn dúi ra cửa”. đầy sức thuyết phục. chị đã vùng dậy chống trả quyết liệt. .Đoạn trích chẳng những làm toát lên cái lô gic hiện thực “tức nước vỡ bờ”. 4. bóc lột tàn bạo không còn chỗ cho người lương thiện như chị Dậu được sống . đồng thời khẳng định tư thế “đứng trên đầu thù”.Lòng tin vào phẩm chất tốt đẹp của họ.với nhân vật. còn “tát vào mặt chị một cái đánh bốp” rồi cứ nhảy vào cạnh anh Dậu. cuộc đọ sức có dai dẳng hơn một chút (hai người giằng co nhau. Khi tên cai lệ dã thú ấy vẫn không thèm trả lời. du 30 . được ông thể hiện thật sinh động.Chế độ phong kiến còn áp bức. bà cho mày xem!” Chị chẳng những không còn xưng hô “cháu . hắn đã “ngã chỏng quèo trên mặt đất! Đến tên người nhà lí trưởng. không có cách nào khác phải vùng lên đấu tranh chống áp bức bóc lột. có thể nhận ra thái độ nào của nhà văn NTT đối với thực trạng xã hội và đối với phẩm chất của người nông dân trong xã hội cũ? . không có con đường nào khác.Nhưng chị Dậu không thuộc loại người yếu đuối chỉ biết nhẫn nhục van xin mà còn tiềm tàng một khả năng phản kháng mãnh liệt. miêu tả của tác giả và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật rất đặc sắc. gọi tên cai lệ bằng “mày”! Đó là cách xưng hô hết sức đanh đá của phụ nữ bình dân. 6. . Và không quá lời nếu nói rằng cảnh “tức nước vỡ bờ” trong đoạn trích đã dự báo cơn bão táp quần chúng nông dân nổi dậy sau này.Cảm thông với cuộc sống cùng khổ của người nông dân nghèo . bộ dạng thảm hại hết sức hài hước của hai tên tay sai bị chị “ra đòn”. 2. chị chỉ cần một động tác “túm lấy cổ hắn.Lên án xã hội thống trị áp bức vô nhân đạo . Cảnh tượng chị Dậu quật ngã hai tên tay sai đã cho ta thấy sức mạnh ghê gớm và tư thế ngang hàng của chị Dậu. thể hiện một thái độ thật bất khuất.Đó là một nhận xét chính xác. Nhà văn Nguyễn Tuân cho rằng: “Với tác phẩm Tắt đèn. tác phẩm kết thúc rất bế tắc. mà lần này. có đấu tranh” mà còn toát lên cái chân lí: con đường sống của quần chúng bị áp bức chỉ có thể là con đường đấu tranh để tự giải phóng. chị xưng “bà”. Viết đoạn văn tổng phân hợp khoảng 15 câu để làm rõ câu chủ đề sau: .ông”. thể hiện sự căm giận và khinh bỉ cao độ. Câu hỏi luyện tập 1. đối lập với hình ảnh. Từ đó. nhà văn đã cảm nhận được xu thế “tức nước vỡ bờ” và sức mạnh to lớn khôn lường của sự “vỡ bờ” đó. mà cũng không phải “tôi – ông” như kẻ ngang hàng. NTT đã xui người nông dân nổi loạn. “có áp bức. Vì vậy mà tuy tác giả “Tắt đèn” khi đó chưa giác ngộ cách mạng. nhưng với cảm quan hiện thực mạnh mẽ. thì chị đã vụt đứng dậy với niềm căm giận ngùn ngụt: “chị Dậu nghiến hai hàm răng: “mày trói ngay chồng bà đi. Nên hiểu như thế nào về nhận định này? Gợi ý: . nhưng nhà văn Nguyễn Tuân đã nói rằng: Ngô TẤt Tố với “tắt đèn” đã xui người nông dân nổi loạn. 3. Lần này chị Dậu đã không đấu lí mà quyết ra tay đấu lực với chúng.

tay chân lũ cường hào gian ác. giàu kịch tính như một màn bi hài kịch. thảm hại bấy nhiêu.đẩy nhau. thái độ. ứng xử. chúng hùng hổ. Còn có gì tuyệt khéo nữa? Cảnh đánh nhau giữa chị Dậu và tên cai lệ diễn ra dữ dội và hết sức bất ngờ. Có tiếng chửi. Hắn lồng lên như một con thú dữ. Chị cự lại: “chồng tôi đau ốm. hành động của tên cai lệ được đặc tả “tuyệt khéo” đã vạch trần bộ mặt ghê tởm của một tên sai nha mất hết cả tính người. Chỉ một tiếng thét “thằng kia”! thế mà tên cai lệ đã làm cho anh Dậu vừa kề miệng vào bát cháo đã “lăn đùng ra chết ngất!” Hắn chửi chị Dậu thậm tệ. Chị trở nên táo bạo và quyết liệt. ông không được phép hành hạ!” Cai lệ “tát đánh bốp” vào mặt chị Dậu. Người đàn bà con mọn đã hạ nhục. Như lửa đổ thêm dầu. Hãy viết một số đoạn văn chứng minh ý kiến của nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan : “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên Cai Lệ là một đoạn “tuyệt khéo”. Hắn “trợn ngược hai mắt” quát: “mày định nói cho cha mày nghe đấy à? Sưu của nhà nước mà dám mở mồm xin khất! Hắn chạy sầm sập đến chỗ anh Dậu để trói kẻ thiếu sưu. người chồng ốm đau sắp bị trói. Chị đã “túm tóc” và “lẳng cho một cái”. chị bị tên cai lệ chửi và bịch vào ngực mấy cái. nào dây thừng tay thước. Trong lúc đó. Có cảnh đánh nhau giữa người đàn bà lực điền và tên cai lệ. Người đọc vô cùng hả hê trước sức mạnh phản kháng của chị Dậu. rồi ai nấy đền buông gậy ra. “ Tắt đèn” có nhiều điểm rất hay. tay thước. nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc. 5. tiếng rên. chúng hài hước. một trang văn “tuyệt khéo”. hành động của chị Dậu. tên hầu cận lý trưởng nào roi song. khi chị thiết tha xin khất sưu. Ngòi bút của Ngô Tất Tố “tuyệt khéo” khi nói về cách đối đáp. Xin ông trông lại!” “Cháu van ông. chị đã “nghiến hai hàm răng” thách thức: “mày trói ngay chồng bà đi. làm cho hắn “ngã chỏng quèo” trên mặt đất. Gợi ý: Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn “tuyệt khéo”. dẫu ông chửi mắng cũng đến thế thôi. Lúc mới xông vào. Sau cái “nghiến hai hàm răng” thách thức. ông tha cho!” Sau đó. có nhiều trang làm xúc động lòng người. Sau đó. Sau đó hãy phân tích các phương tiện chuyển đoạn văn được sử dụng. chị Dậu đã “túm lấy cổ” và ấn dúi tên cai lệ. tát đánh bốp vào mặt chị Dậu. dữ tợn bao nhiêu thì giờ đây. Cảnh “tức nước vỡ bờ” còn có gì “tuyệt khéo”nữa? Những lời đối thoại thật khéo. tinh thần. rất khéo. kẻ “hút nhiều xái cũ” tuy đã bị đánh ngã nhào. ngã nhào ra thềm! Vừa ra tay. anh chàng “hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn. Chồng sắp bị trói. nhưng miệng hắn “vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu”. chị Dậu đã nhanh chóng biến hai tên tay sai hung hãn vũ khí đầy mình thành những kẻ thảm bại xấu xí. bị tát đánh “bốp” vào mặt. Đoạn văn đặc biệt sống động và toát lên một không khí hào hứng rất thú vị “làm cho độc giả hả hê một chút sau khi đọc những trang rất buồn thảm. chị Dậu đã phản ứng lại dữ dội. Lũ sai nha sát khí đằng đằng. điệu bộ. làm cho hắn “ngã nhào ra thềm”. Hắn dã man “bịch” vào ngực chị Dậu. Anh Dậu vừa mới tỉnh được một lát thì tên cai lệ. Người đàn bà con mọn chỉ có hai bàn tay không. bà cho mày xem!”Và chị đã đã đánh ngã nhào hai tên chó má! Dưới ngòi bút “tuyệt khéo” của ông 31 . đã đánh ngã nhào bọn đầu trâu mặt ngựa. tên cai lệ. có tiếng van xin. áp vào vật nhau). kết cục. Bị “bịch” vào ngực. không nạn ! Nhà cháu đã không có. Lúc đầu chị nín nhịn nhẫn nhục van xin: “nhà cháu đã túng lại phải… Hai ông làm phúc nói với ông lí cho cháu khất…”. Thật hài hước. đó là lời bình luận của nhà văn Vũ Ngọc Phan về tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố. tên hầu cận lí trưởng với roi song. Trong đó có cảnh “tức nước vỡ bờ”. Ngôn ngữ. có lời thách thức. hắn bị chị này túm tóc lẳng cho một cái. Có tiếng khóc. tơi tả. chị Dậu đã hoàn toàn thay đổi. nhưng cũng không lâu. dây thừng “sầm sập” kéo tới. chị Dậu còn “vật nhau” với tên hầu cận lí trưởng. tanh hôi.

Cái đồ nghiện oặt ấy. Ông đã chỉ ra cái hiện tượng “con giun xéo mãi cũng quằn”. ta thấy “trên cái tối giời tối đất của đồng lúa ngày xưa..Đầu xứ Tố.Phân tích đặc điểm nhân vật chị Dậu trong đoạn trích « Tức nước vỡ bờ » của Ngô Tất Tố I . tôi coi như rơm như rác.Với một nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo và trái tim yêu thương con người tha thiết. Thật vậy. hiện lên một cái chân dung lạc quan của chị Dậu (Nguyễn Tuân). đứng lố nhố phía ngoài đình. Đoạn trích « tức nước vỡ bờ » đã cho ta thấy thêm một vẻ đẹp bất ngờ trong tính cách 32 . Chị Dậu là một người vợ. . Hắn sấn đến trói chồng tôi. hắn lấn tới áp chế. Nhưng đánh chó còn ngó đến chúa nhà. tủm tỉm cười.Thị Đào. .Lí đương vừa nói vừa đập tay xuống chiếu. Xế trưa hôm ấy.. Lí đương cất tiếng: “con thị Đào này ghê gớm lắm! Bướng bỉnh lắm! Phải giải ngay lên quan phủ để trừng trị!. chạy thục mạng về đình. chồng tôi mới hoàn hồn.Ngô Tất Tố là nhà văn hiện thực. Hắn gào lên: “Tha này! Tha này!”. Tôi nghiêm sắc mặt. Chồng tôi chết ngất lăn đùng ra! Tôi van xin. Tôi đâu phải là kẻ quá quắt. Xung quanh đình có tiếng cười rúc rích. Người viết đã chứng minh cái “tuyệt khéo” trong cảnh “tức nước vỡ bờ”. mày dài dòng lắm! Nói ngay vào sự việc! – Lí đương ngắt lời tôi và nạt bằng giọng lè nhè. Nhiều người dân kéo đến. bà cho mày xem!”Tôi còn sợ gì nữa. 6. để làng lập cung.“Trời đánh còn tránh miếng ăn”. hắn thét trói. Nhưng hắn lá đứa bất nhân đã chửi tôi thậm tệ. sao mày dám đánh người nhà của quan! Tội mày to lắm. Mấy tên tay chân chạy lăng xăng. Hắn bị tôi túm tóc. Tôi nghiến hai hàm răng. Chúng bắt tôi khai về chuyện chống đối chính quyền. Hắn bịch vào ngực tôi mấy bịch. Hắn tát đánh bốp vào mặt tôi. Phải cứu chồng tôi chứ. lẳng cho một cái ngã nhào ra thềm. Các đoạn văn được nối kết khá chặt chẽ. ông không được phép hành hạ!” Sự đời mềm nắn. . Tù mọt gông! Mày hãy kể lại việc làm ngỗ ngược của mày. rắn buông! Ai ngờ. dây thừng… Đáng lẽ tôi phải đánh cho hai tên ấy một trận nhừ tử. Trang văn thấm đầy tình nhân đạo.Mở bài : . bà con hàng xóm chạy chữa mãi. Còn cái thằng hầu cận ông lí. Tôi nể ông Lí đấy!. Đề tập làm văn: Hãy tưởng tượng : em nhập vai chị Dậu kể lại chuyện đánh tên Cai lệ. giàu tình thương và rất cứng cỏi. Cái “tuyệt khéo” của Ngô Tất Tố là đã dựng nên bức chân dung chị Dậu. tôi ấn dúi hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất.Các ông nên hỏi hai thằng khốn nạn ấy chứ! Nhưng các ông muốn lập cung chứ gì? Ừ thì tôi nói. Chúng đã bỏ lại ở nhà tôi roi song. . Tôi túm lấy cổ hắn. Ngô Tất Tố viết “tuyệt khéo”. để lập cung giải huyện. Chồng tôi bị ông lí đánh trói thập tử nhất sinh. Sự việc ở nông thôn ngày xưa rất thực. Hai thằng khốn nạn ấy lồm ngồm bò dậy. Mẹ con tôi. Ông đã nêu lên một quy luật hiển nhiên: “có áp bức. => Các chữ in đậm là phương tiện chuyển đoạn. Máu trong người tôi sôi lên. 7. nói với hắn: “chồng tôi đau ốm. lí trưởng làng Đông Xá bắt tôi giải ra đình. rất sống. . Tôi chẳng sợ. ông lí đã sai tay chân gánh chồng tôi về nhà trả cho mẹ con tôi. . Lí Cựu ngồi trên chiếu. người mẹ đảm đang. hắn nhảy vào trói chồng tôi. Sợ xảy ra án mạng. Tôi chỉ tay vào mặt hắn: “mày trói ngay chồng bà đi. xoay mình vuốt râu. Hắn như con chó dại lồng lên. có đấu tranh”.Thị Đào. xuất sắc viết rất thành công và chân thực về hình tượng người nông dân trước CMT8. Có đủ mặt quan viên. có cả lí cựu nữa. không tự biết thân lại còn giơ gậy đánh tôi. có phải không nào? Chồng tôi vừa kề miệng vào bát cháo thì tên cai lệ xồng xộc kéo tới. tay thước.

hành hạ anh) 2. Trong hoàn cảnh này.> Tức là chị đã rất tức giận. đáo để . Thái độ của chị thì bất bình nhưng lời nói của chị vẫn nhũn nhặn => Chứng tỏ sức chịu đựng của chị . b. Xin ông trông lại » + Cách xưng hô : gọi « ông » và xưng « cháu » b. vội vàng đặt con bé xuống. chịu đựng của chị. Chị Dậu không thuộc loại người yếu đuối chỉ biết nhẫn nhục van xin mà còn tiềm tàng một khả năng phản kháng mãnh liệt. không đánh trói.Trong hoàn cảnh ấy.của chị Dậu. biết cái khó khăn ngặt nghèo của gia đình mình.tôi »=> thể hiện sự uất ức củ chị + Thái độ : quyết liệt : một chị Dậu dịu dàng đã trở nên mạnh mẽ. Nhận xét.Tự ti.Là sức mạnh của lòng yêu thương chồng con vô bờ bến . ấn dúi ra cửa + Lẳng người nhà Lý trưởng ra thềm => Chị Dậu quật ngã bọn tay sai hung ác trong tư thế ngang hàng..Uất hận vì bị dồn nén đến mức không thể chịu nổi nữa . nhẫn nhục. đỡ lấy tay hắn và tiếp tục van xin : « ông tha cho nhà cháu » « Xám mặt ». bất bình trước sự vô lương tâm của lũ tay sai. lời nói thì thô lỗ . Chị Dậu . hành động thì hung hãn.Sự phản kháng của chị Dậu còn tự phát. Thái độ của chị Dậu khi bọn tay sai ập vào .Khi tên Cai Lệ sầm sập chạy đến chỗ anh Dậu thì : + Chị xám mặt. đó là sự vùng lên chống trả quyết liệt ách áp bức của giai cấp thống trị mà sức mạnh chính là lòng căm hờn. ông không được phép hành hạ » -> Lời nói đanh thép như một lời cảnh cáo + Cách xưng hô : ngang hàng « ông. chịu đựng a. nghe tiếng thét của Cai Lệ thì sợ quá lăn đùng ra phản) . an phận do bị áp bức lâu đời . Chị có thái độ như vậy là vì chị biết thân phận bé mọn của mình. chị chỉ mong cho chúng tha cho anh Dậu.một người nhẫn nhục..Thái độ của bọn tay sai : hách dịch. bà cho mày xem ! » + Túm cổ Cai Lệ.Khi tên Cai Lệ bịch vào ngực chị và đánh trói anh Dậu : + Chị cự lại bằng lời nói : « chồng tôi đau ốm. dẫu ông chửi mắng cũng đến thế thôi. uất hận và tình yêu thương chồng con vô bờ bến II. đơn độc nên chưa có kết quả * Liên hệ quy luật xã hội 33 . bất khuất với sức mạnh kì lạ. thái độ của chị Dậu + Run run ( chị sợ thì ít mà lo cho chồng thì nhiều) + Chị cầu khẩn bằng giọng thiết tha « nhà cháu đã không có. Nhận xét : Cách cư xử của chị thể hiện thái độ nhẫn nhục. * Từ hình ảnh chị Dậu liên tưởng đến người nông dân trước cách mạng .Họ sẽ phản kháng quyết liệt khi bị áp bức bóc lột tàn tệ .Hành dộng dã man của tên Cai Lệ là nguyên nhân trực tiếp làm cho sức chịu đựng của chị lên đến quá mức. Phân tích lời nói bộc lộ tính cách của nhân vật chị Dậu .Thân bài : 1.Khi Cai Lệ tát chị Dậu và tiếp tục nhẩy vào cạnh anh Dậu + Chị nghiến hai hàm răng=> Thể hiện sự uất ức cao độ không thể kìm nén + Ngang nhiên thách thức : « mày trói chồng bà đi. đánh giá. a.Mọi cố gắng chăm sóc chồng của chị Dậu đều uổng phí ( Anh Dậu vừa kề bát cháo đến miệng. bình luận * Sức mạnh kì diệu của chị Dậu là sức mạnh của lòng căm hờn .

Mở bài . sâu sắc và nhất là với tình thương tha thiết và niềm tin mãnh liệt vào họ. lần đầu tiên trong VHVN có một điển hình chân thực. Bài viết cần nêu được các ý chính sau: 1. chữ viết rõ ràng. Đoạn trích đã cho thấy sự tìm tòi khám phá và tiến bộ trong ngòi bút của Ngô Tất Tố.Nam Cao là nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam. Văn phong sáng sủa. Dựa vào phần ghi nhớ của tác phẩm này trong sgk Ngữ văn 8 để nêu lên một số ý chính về nội dung và nghệ thuật 4. đẹp đẽ về người phụ nữ nông dân lao động.Sau cách mạng tháng Tám. truyện dài chân thực viết về người nông dân nghèo đói bị vùi dập và người trí thức nghèo sống mòn mỏi. Giới thiệu vắn tắt giá trị của truyện ngắn Lão Hạc.Tính cách nhân vật chị Dậu hiện lên thật nhất quán. Cuối năm 1951. Vì thế Ngô Tất Tố đã thành công đặc biệt trong việc thể hiện chân thực vẻ đẹp và sức mạnh tâm hồn của người phụ nữ nông dân. nhát sợ. tố cáo sự dã man của bọn tay sai. Nêu cảm nghĩ của người viết đối với tác giả Nam Cao và truyện ngắn “LH” I. rồi làm công tác văn nghệ tại chiến khu Việt Bắc. BÀI 3 :LÃO HẠC Hãy viết bài văn thuyết minh ngắn. .Ở đâu có áp bức thì ở đó có đấu tranh * Thái độ của nhà văn : Những trang viết với sự hả hê. Ông đã để lại những trang viết tâm huyết về người người nông dân trước cách mạng tháng Tám với cách nhìn đúng đắn. phủ Lý Nhân. các phương pháp thuyết minh. truyện ngắn “Lão Hạc” là một trong những truyện ngắn hay và tiêu biểu nhất của ông. * Nghệ thuật xây dựng nhân vật : .Thuyết minh về cuộc đời và sự nghiệp Nam Cao . lên án. ông đi công tác vào vùng sau lưng địch.Trước năm 1945. Gợi ý phần tự luận Yêu cầu cần đạt: Học sinh cần nắm được cách viết một bài văn thuyết minh.Nam Cao là bút danh của Trần Hữu Trí. đồng thời cần có những hiểu biết cơ bản. câu đúng ngữ pháp. Với hình tượng chị Dậu. không dùng từ sai. III. nhịn nhục một cách đáng thương. Dù viết ngắn hay dài bài viết cũng cần có 3 phần đầy đủ: mở bài. toàn vẹn.Nam Cao được nhà nước truy tặng « Giải thưởng Hồ Chí Minh » về văn học nghệ thuật (năm 1996). Giới thiệu khái quát Nam Cao và truyện ngắn “Lão Hạc”: Nam Cao được coi là một nhà văn hiện thực xuất sắc trước cách mạng tháng Tám. kết bài. giới thiệu về nhà văn Nam Cao và giá trị truyện ngắn “Lão Hạc”. . 34 . phong kiến.« Lão Hạc » là một trong những truyện ngắn hay và tiêu biểu nhất của ông. thân bài.. tỉnh Hà Nam. chính xác về nhà văn Nam Cao và truyện ngắn “Lão Hạc” đã học.Miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật thật tinh tế . tận tuỵ sáng tác phục vụ kháng chiến : làm phóng viên mặt trận. Ông sinh năm 1915 tại làng Đại Hoàng.chiến sĩ. bế tắc trong xã hội cũ. tinh thần kiên cường bất khuất của những người nông dân bị chà đạp tưởng đâu chỉ biết an phận. . 2. ông dạy học tư và viết văn. . ông chân thành. Ông là một nhà văn hiện thực xuất sắc với những truyện ngắn. Thuyết minh về cuộc đời và sự nghiệp của Nam Cao (dựa vào phần chú thích sao ở cuối văn bản Lão Hạc trong SGK ngữ văn 8) 3. hi sinh trong tư thế một nhà văn.Kết luận Tóm lại chưa mấy nhà văn cùng thời như Ngô Tất Tố thấy được sức sống tiềm tàng.Thân bài : 1. nhà văn đứng về phía những người cùng khổ đồng tình với họ. II.

đầy bi kịch.Giới thiệu vắn tắt giá trị của truyện ngắn « Lão Hạc » Viết về đề tài người nông dân trước cách mạng. kể lại chuyện với ông giáo mà nước mắt rân rấn : « Thẻ của nó người ta giữ.Không có ruộng cầy. Đã nghèo. truyện còn cho thấy tấm lòng yêu thương. Tác phẩm của Nam Cao biểu hiện « một chủ nghĩa nhân đạo thống thiết » (Nguyễn Đăng Mạnh). « Mua nhà ».Chính cái nghèo đã kiến cho lão Hạc trở thành người cha phải bó tay trước hạnh phúc không thành của người con trai độc nhất. đem sức mình đổi lấy miếng ăn. lại góa vợ. thành một người trong nhà lão.Bán chó : . toàn bộ gia tài của lão chỉ là một con chó và một mảnh vườn. -Vậy mà. Đồng thời. Lão vô cùng đau xót về điều này. tiềm tàng của họ. « Con chó là của cháu nó mua đấy chứ ». Làng mất nghề sợi. Nó lại đã lấy tiền của người ta. Lão bị ốm một trận kéo dài 2 tháng 18 ngày. trơ trợ một mình trong nỗi bất hạnh ngày thêm chồng chất. đăng báo lần đầu năm 1943. đặc biệt trong việc miêu tả tâm lý nhân vật và cách kể truyện. hoa màu trong vườn bị phá sạch sành sanh. Chỉ có con chó là bầu bạn sớm tối. Cho nên lão phải làm thuê làm mướn.. Nó là người của người ta rồi.. Giá trị nội dung 1 Tình cảnh cùng khổ và số phận bi đát của người nông dân trước cách mạng tháng Tám. dè sẻn mãi mới để ra được năm mươi đồng bạc tậu ». cuộc đời lão Hạc bị vây bủa trong sự nghèo đói. hay một chén thuốc ! Tình cảnh ấy thật đáng thương ! Tiếp theo một trận bão to. Người nông dân nghèo. « Lão Hạc ».. có bao nhiêu niềm thương. như cháu tưởng như không thể nào có thể rời xa nó. c. Truyện đã thể hiện một cách chân thực. lão Hạc yếu hẳn đi. Có một mối dây liên lạc rất lạ lùng giữa lão Hạc. « Đời thừa ». . săn sóc cho một bát cháo. Câu nói của lão nhói lên một nỗi đau. mà có lần lão đã chua xót thốt lên rằng : « nó chỉ nhỉnh hơn cái kiếp của một con chó » b. lão sống thui thủi. Đàn bà congái trong làng đi làm thuê rất nhiều. không một người thân bên cạnh đỡ đần. Sau trận ốm.6 năm chưa về. => Đó là tất cả cuộc đời lão đã khiến lão thấm thía cái kiếp nghèo tủi nhục của mình. Lão yêu quý «cậu vàng » như con. khắc họa nhân vật bằng độc thoại với bao trang đời éo le. Thế là cái nghèo lại cướp nốt đứa con trai của lão. chẳng 35 . Đó là mảnh vườn còm cõi. trân trọng đối với người nông dân và tài năng nghệ thuật xuất sắc của nhà văn Nam Cao. hoa màu của nó cũng chỉ đủ để lão « bòn mót ». tình cảnh đói nghèo khốn quẫn đã buộc lão phải chia tay với nó. nỗi nhớ chất chứa trong lòng. A. cảm động số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý. « Lão Hạc » là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nam Cao. tưởng như cuộc đời lão không thể thiếu nó. « Đôi mắt ».Cũng như bao người nông dân khác. Mảnh vườn ấy có được là do vợ lão cố thắt lưng buộc bụng. cây cối. a.Nam Cao là tác giả của cuốn tiểu thuyết « Sống mòn » và khoảng 60 truyện ngắn tiêu biểu nhất là các truyện « Chí Phèo ». Mất con . là tài sản của đứa con trai.Nam Cao có tài kể chuyện. chứ đâu còn là con tôi ». Anh con trai vì không đủ tiền cưới vợ đã phẫn chỉ bỏ đi đồn điền cao su tận Nam Kì biền biệt 5. Hình của nó người ta chụp rồi. Lão vẫn không quên con chó là kỉ vật thiêng liêng. giành hết mọi việc. lão Hạc lầm vào cảnh một thân gà trống nuôi con.Anh con trai đi biền biệt. người trí thức nghèo là hai đề tài in đậm trong truyện của Nam Cao. con chó và đứa con trai vắng mặt. 2. con chó thành « cậu Vàng ».. bởi nó đã khái quát cả một cảnh đời cùng khổ một số phận thảm thương của người nông dân trong chế độ cũ. Cái nghèo không cho lão dựng vợ cho con để trọn cái đạo làm cha. Cho nên. . lão dồn hết vào con chó.

củ ráy. lão Hạc bị đẩy sâu xuống đáy vực bi thảm. Dĩ nhiên.. bế tắc phải tìm đến cái chết thê thảm. nhưng trước hết đó là cái tình của nhà văn đối với kiếp người tủi cực trong chế độ cũ. Lang Rận thắt cổ chết. không thể vẽ lên một nỗi đau hằn sâu trên khuôn mặt lão Hạc như vậy. Lão Hạc thành ra thất nghiêp. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ mới chết. Nước mắt lão khi thì « rân rấn ». ăn củ chuối. Có lẽ đây là giây phút đau đớn nhất trong cuộc đời lão. lúc « ầng ậng ». anh phẫn chí ra đi nuôi mộng « cố chí làm ăn. chỉ hiện ra trong nỗi nhớ của lão Hạc. Cái đầu lão ngoeo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Bán nó xong.Và khi buộc lòng phải bán nó lão vô cùng đau đớn. ép cho nước mắt chảy ra. gạo kém. sự đói khổ đã đẩy lão đến bước đường cùng phải chết. lực kiệt. Lão tự nhận là một kẻ bất nhân. d. không có tiền. Kể lại chuyện bán chó với ông giáo mà « Lão cố làm ra vui vẻ. Lão Hạc đã từng hỏi ông giáo : « Nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng ? Câu hỏi ấy đã thể hiện nỗi đau khổ tột cùng của một kiếp người. Không có một sự cảm thông sâu sắc. rau má.. bất nhân đã gây nên những cảnh đời thê thảm như lão Hạc. Những vết nhăn xô lại với nhau.cũng thật đáng thương : chỉ vì quá nghèo mà cô gái anh yêu thương trở thành vợ kẻ khác ... « mặt lão đột nhiên co rúm lại ». thân phận phu cao su chỉ là thân phận nô lệ. Lão đã đắn đo. nghèo khổ đã đẻ nặng lên cuộc đời làm thuê làm mướn khiến cho lão sức cùng lực kiệt . niềm an ủi cuối cùng của lão. lão lựa chọn cái chết ấy là vì đứa con trai nhưng suy cho cùng thì chính tình cảnh khốn quẫn. Một nét vẽ mà như cô đúc cả một cảnh đời. cái chết ấy còn là một lời tố cáo sâu sắc và mạnh mẽ cái chế độ tàn ác. Cái chết ấy đã kết thúc một cảnh đời tủi cực và một số phận bi đát của người nông dân trước cách mạng tháng Tám. sống khổ sống sở ở cái làng này nhục lắm ». để rồi cuối cùng lão đã ăn bả chó mà chết. đã già mà còn đánh lừa một con chó ».Nhưng thê thảm nhất vẫn là cái chết của lão Hạc sau những ngày ăn khoai. Nhưng. cái nơi mà anh ta tìm đến với hi vọng làm giầu lại là đồn điền cao su Nam Kì. bọt mép sùi ra. thật tội nghiệp. .Đó là một cái chết thật là dữ dội và cũng vô cùng bi thảm : « Lão Hạc đang vật vã ở trên giường.. nghèo khổ lại cướp nốt đứa con trai của lão . Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt ầng ậc nước ». khiến cho « mặt lão đột nhiên co rúm lại. Lão hu hu khóc. 36 . Nam Cao đã nói lên bao tình thương xót đối với những con người đau khổ. hay bữa trai. cả khi « cười cũng như mếu ».Cái chết . Không chỉ là nỗi đau.ai thuê lão đi làm nữa. Chí Phèo tự sát bằng một mũi dao. và lão Hạc đã quyên sinh bằng bả chó. một kiếp người trong xã hội cũ.nhân vật không xuất hiện. Lão cảm thấy mình là một kẻ « tệ lắm ». » => Cuộc đời lão Hạc là một dòng nước mắt chảy dài của những nỗi đau bất lực. Những vết nhăn xô lại với nhau ép cho nước mắt chảy ra ».. bao giờ có bạc trăm mới về ». nảy lên.. sung luộc. * Số phận anh con trai lão. Cho nên khi khóc. Bán con chó là bán đi niềm vui. khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái. tủi cực của lão. Cuộc sống cùng khốn và cái chết bi thương của lão Hạc đã nói lên thấm thía số phận thê thảm của người nông dân lao động trong xã hội tăm tối đương thời. một địa ngục trần gian. và nghèo khổ lại đẩy lão đến cái chết đau đớn và thảm khốc như chưa từng thấy. là tên lừa đảo đối với một con chó vốn tin yêu mình.. Với chủ nghĩa nhân đạo thống thiết. bữa ốc.Thóc cao. => Như vậy.. do dự mãi khi quyết định bán con chó. quần áo xộc xệch. Lão tru tréo. . lão Hạc đành phải bán con chó mà lão rất yêu quý. hai mắt long sòng sọc. Nhiều người cho rằng đây là cái tài miêu tả cuả Nam Cao. đầu tóc rũ rượi. cướp nốt cả « cậu vàng » thân yêu. Nước mắt ấy dường như đã cạn kiệt trong cuộc đời khổ đau. không có một tình xót thương chân thành.. sức cùng. niềm an ủi cuối cùng của lão . Còn lão Hạc thì cứ mong con mỏi mắt suốt tận ngày cuối đời.

Nó đã toả sáng tâm hồn và làm ánh lên bản tính tốt đẹp của lão nông đau khổ. tiền bạc cho ông giáo và nhất là qua cái chết thảm khốc mà lão đã lựa chọn cho chính mình. vợ ông giáo cũng chẳng ưa gì lão : « cho lão chết ! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ ? Lão làm lão khổ chứ ai làm lão khổ ! » Chính ông giáo cũng có lúc từng nghĩ là lão « quá nhiều tự ái ». Khi nhắc đến việc cậu Vàng bị lừa rồi bị bắt. Thỉnh thoảng không có việc gì làm. Những vết nhăn xô lại với nhau. lão lại bắt rận cho nó hay đem nó ra ao tắm. Nam Cao đã thấu hiểu cái tình cha con. + Rồi lão chửi yêu nó. lủi thủi một mình của lão. + Lão “gọi nó là cậu Vàng như bà mẹ hiếm hoi gọi đứa con cầu tự. Đằng sau « manh áo rách » là một tấm lòng vàng ». Chính trong cảnh đời thê thảm ấy. bất hạnh này. nơi san sẻ tình thương. Lão Hạc đau đớn đến thế không phải chỉ vì quá thương con chó.kể cả tính mạng – cho đứa con thân yêu của mình. làm nên tâm sự chính của nhân vật và mạch truyện chủ yếu của tác phẩm. hiền lành và nhân hậu vô cùng * Cái tình của lão đối với « cậu Vàng » thật là hiếm có. sau khi bán cậu Vàng đi. mới cảm thấy có lỗi với một con chó như vậy. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. qua việc gửi gắm vườn tược. 37 . nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu ! » Nhưng kì thực lão Hạc có một nhân cách hết sức cao quý mà bề ngoài không dễ thấy. mà còn vì lão không thể tha thứ cho mình vì đã nỡ lừa con chó trung thành của lão. đến việc lão gửi gắm nhờ gửi ông giáo. giúp lão Hạc vợi đi ít nhiều nỗi buồn cô đơn. + Bởi không còn là con chó thường. như cháu. đôi mắt ầng ậc nước”. suốt cả cuộc đời lo lắng cho con và sẵn sàng hi sinh tất cả. Cậu Vàng là một phần cuộc đời lão Hạc. niềm an ủi đối với cuộc sống cô đơn. chỗ dựa tinh thần. cậu Vàng được lão Hạc chăm sóc. cậu “vàng” đã trở thành người thân. Nó là nguồn vui. Đoạn lão nói chuyện với cậu Vàng về việc « định giết cậu để cưới vợ cho con trai rồi lại không giết nữa. ta lại thấy bừng sáng lên một vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách cao cả của lão Hạc. cay đắng. Lão hu hu khóc. từ túng quấn. Vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách cao cả của lão Hạc. Lão kể lại cho ông giáo việc bán “cậu vàng” với tâm trạng vô cùng đau đớn: “lão cười như mếu. cho nó ăn cơm trong một cái bát như một nhà giầu (…) Lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp thức ăn cho con trẻ. Tấm lòng người cha ở lão Hạc đối với anh con trai mới thực cảm động. để nuôi » đã bộc lộ sâu sắc tình cảm của lão Hạc đối với con chó thân yêu. lão nói với nó như nói với một đứa cháu bé về bố nó”. + Tình thế cùng đường khiến lão phải tính đến việc bán “cậu Vàng” thì trong lão diễn ra một sự dằn vặt đau khổ. và giải thích rõ cái chết thảm khốc của lão ở cuối truyện. b. Đến nỗi ông giáo thương lão quá “muốn ôm chầm lấy lão mà oà lên khóc”. bề ngoài lão có vẻ như lẩm cẩm. sâu sắc đó ở người lão nông nghèo khổ này và đã diễn tả thật cảm động trên từng trang viết của tác phẩm. Lão Hạc. Nó liên quan đến cái tình của lão đối với cậu vàng. niềm vui. nuôi nấng như con. Phải có trái tim vô cùng nhân hậu và trong sạch thì mới bị dày vò lương tâm đau đớn đến thế. Đó là tấm lòng của người cha thương con. lão Hạc chìm xuống đáy bể bi kịch. thiêng liêng. Ông lão “quá lương thiện” ấy cảm thấy lương tâm đau nhói khi thấy trong đôi mắt của con chó bất ngờ bị trói có cái nhìn trách móc… Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó. lão Hạc không còn nén nổi nỗi đau đớn cứ dội lên : “mặt lão đột nhiên co dúm lại. Vì thế. ép cho nước mắt chảy ra. Nó được thể hiện qua tấm lòng của lão đối với con trai.2. gàn dở . đối với « cậu Vàng ». a. dẫn đến cái chết vô cùng thảm thương. nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó. một con người chất phác. Lão Hạc sống lủi thủi. đặc biệt và Nam Cao đã ghi lại tỏng những dòng chữ xúc động. còn Binh Từ thì « bĩu môi nhận xét : Lão làm bộ đấy ! thật ra thì lão chỉ tẩm ngẩm thế. => Có thể nói. thầm lặng.

s có sự nhịn ăn mấy ngày liền thì mới có việc xin bả chó để tự kết liễu đời mình. Lão Hạc là một nông dân nghèo khổ mà trong sạch. Trước khi đi phu. thiêng liêng biết chừng nào. giống như lão đang khóc. bán đi niềm vui. từ khi gửi gắm vườn tược. lão để riêng ra. Cho nên. nhưng thăm thẳm. Và lão đã chọn cái chết. trọn đạo làm cha. anh con trai dặn bố : « bòn vườn đất với làm thuê làm mướn cho người ta thế nào cũng đủ ăn ». thì không phải chỉ vì không nuôi nổi nó.. nhân cách làm cha.) của mẹ nó tậu thì nó hưởng ».Hoàn cảnh ngày càng cùng cực đã đẩy lão tới một sự lựa chọn đầy nghiệt ngã. + Sau đó. Nỗi đau mất con khiến lão « chỉ còn biết khóc chứ biết làm thế nào nữa ? Bởi « nó là người của người ta rồi. mà chết cho con. Ta thấy trong từng nếp nghĩ của lão bao giờ cũng thấm đẫm đức hy sinh cao cả. .. lão đau đớn. lão Hạc « thương con lắm. khi chỉ còn sống cô đơn. lão gửi lại ông giáo 38 .Ba sào vườn gửi lại nguyên vẹn cho con trai như một lời nguyền đinh ninh : « Cái vườn là của con ta (.. Lão chắc mẩm. .. vì con. ngay cả khi họ phải sống khốn quẫn nhất trong xã hội cũ. tiền bạc cho ông giáo . cụ thể mà cao cả biết bao của những người lao động nghèo. lương tâm dằn vặt « thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó ». kí giấy đi làm dồn điền cao su.Bất đắc dĩ phải bán con chó .) của mẹ nó tậu thì nó hưởng. và cả những lúc ăn sung luộc. lão vô cùng đau đớn. nhưng biết làm sao được ?... không phải cho xong đời mình. Đứa con trai độc nhất của lão đã bị cái nghèo cướp nốt. Thấy con buồn.. Nhưng lão đã tự xóa đi cái quyền sở hữu của mình đối với mảnh vườn ấy : « cái vườn là của con ta (. nếu con đã đủ tiền cưới vợ thì cho nó để có chút vốn mà làm ăn. .. Lớp trước ta không bán là ta có ý giữ cho nó chứ có phải giữ để ta ăn đâu ! ». chứ đâu còn là con tôi ». bán xong rồi.. thủi thủi một mình thì lão Hạc đã biết chọn một cách sống cho con. một sự hi sinh thầm lặng cực kì to lớn ! => Lão Hạc là một nông dân không được học hành. Có nỗi đau bán chó. ăn củ ráy. không có chữ nghĩa. hi sinh như thế thì đó chính là lòng thương con mộc mạc. anh con trai « sinh phẫn chí ». lại thôi. lão làm thuê làm mướn để kiếm ăn. Đó là cách sống không tính đến bản thân mình. lìa cha. giầu lòng tự trọng. Đến cả chuyện buộc phải bán chó.. đang đau nỗi đau xé ruột của người cha hoàn toàn bất lực khi thấy con trai tuột ra khỏi tay mình để trở thành người của người ta. Lão Hạc kể lại chuyện khóc con. lòng vị tha-mà ở đây chính là tình thương yêu sâu sắc của lão Hạc đối với đứa con trai. » Đó là tình thương đầy bất lực của một người cha nghèo. Nhưng cái chết dữ dội của lão là bằng chứng cảm động về cái tình phụ tử nguyên sơ. mà cái chính vẫn là vì con : « bây giờ tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Lão tính tiền ấy lão sẽ thêm vào cho con cưới vợ. niềm an ủi cuối cùng của đời mình . Tất cả vì con. + Nhưng cái chết mới là đỉnh cao của đức hy sinh.+ Đầu tiên là việc anh con trai tính chuyện bán vườn để lo cưới vợ nhưng nghe lời bố. thế nào đến lúc con lão trở về cũng có được một trăm đồng bạc. bỏ làng. mộc mạc. càng không biết nhiều lí luận về tình phụ tử. Tiêu lắm chỉ chết nó ». Thương con mà vị tha. c. Hoa lợi của khu vườn được bao nhiêu. Có nghĩa là lão đã chuẩn bị chu đáo mọi việc cho con (và cả cho mình nữa) để sắn sàng đi vào một cái chết thật dữ dội và bi thảm. vì con. để cuối cùng lão quyết định xin Binh Tư bả chó !.Lão Hạc đã tìm đến cái chết mặc dù trong tay vẫn còn mấy chục bạc (không kể vẫn còn mảnh vườn đáng giá mà không ít kẻ nhòm ngó) . bi đát : tiếp tục kéo dài sự sống tàn để trở thành kẻ báo hại cho con hay là chết đi để trọn đạo làm người. + Trong nỗi đau ấy. khiến cho tình yêu thương và lòng nhân hậu của lão đã hoá thành một nhân cách làm người. Trước khi chết. +Lão đã âm thầm chuẩn bị cho cái chết từ lúc quyết định bán con chó. có sự chu đáo và cẩn trọng trong việc gửi gắm nhờ vả ông gia.

nhiều đau khổ và bất hạnh. lão Hạc không muốn hàng xóm nghèo phải phiền luỵ về cái xác già của mình. với bao trân trọng. Vận hạn xẩy ra luôn như ông nghĩ : « Đời người ta không chỉ khổ một lần ». « ông giáo khổ trường tư ». . Đó cũng là một nét nhân cách đáng trọng của người lao động nghèo. với bao mộng tưởng. . tuy vậy không nên đồng nhất hoàn toàn với nhân vật về nguyên mẫu). nhiều lí luận. sống vì một lý tưởng đẹp. đau đớn.người kể chuyện (cũng chính là tác giả. về quê chỉ có một va li sách. Đứa con thơ bị chứng kiết lị gần kiệt sức. bằng khoai ráy. Là một con người chăm chỉ. tự trọng của lão Hạc. đã gửi lại ông giáo toàn bộ số tiền dành dụm bằng nhịn ăn. xót thương. Ông đã từng lặn lội vào tận Sài Gòn. « Tôi cắn rơm.. cuộc đời của lão Hạc đầy nước mắt. Hai tiếng « ông giáo » từ miệng lão Hạc nói ra. « trong trẻo. Nhân vật «Tôi ». nghèo đói. 3. lão Hạc đã trở thành một vị thánh. cái gia tài quý giá nhất của người trí thức nghèo. một nhân vật để lai bao ấn tượng đối với mỗi chúng ta về người trí thức nghèo trong xã hội cũ. Chỉ còn giữ lại 5 quyển sách với lời nguyền : « dù có phải chết cũng không bán ». Nếu lão Hạc quý cậu Vàng bao nhiêu thì ông giáo lại quý những quyển sách của mình bấy nhiêu. Như một kẻ cùng đường phải bán máu.mảnh vườn cho con. và gửi lại 30 đồng hàng xóm.Con người « nhiều chữ nghĩa » ấy lại nghèo. cắn cổ lạy ông giáo ».Cái nghèo vẫn đeo đẳng ông giáo mãi.. một kẻ « làm nghề ăn trộm » ở phần cuối truyện. Sau một trận ốm nặng ở Sài Gòn.. Binh Tư. cung kính. . ra đi vẫn giữ được tâm hồn thanh thản. tìm về thời trai trẻ của ông giáo. lão Hạc đã thể hiện một khí tiết cao quý. chết thì quằn quại. nhân cách trong sạch. làm cho cuộc đời thêm sắc màu ý vị. « Lão Hạc ơi ! Ta 39 ... để học tập.Với lòng tự trọng cao độ và nhân cách hết sức trong sạch. Hai tiếng « ông giáo » đã khẳng định vị thế của một con người giữa làng quê trước năm 1945 « nhiều chữ nghĩa.Không rõ họ tên là gì. Với cái chết đau đớn dữ dội mà lão Hạc tự chọn.. nhịn tiêu của lão.. Sống thì âm thầm. trọng vọng : « cậu vàng đi đời rồi ông giáo ạ !. Tuy thế. ham mê. lúc nào cũng đượm vẻ thân tình. . Lang Rận. Lão Hạc dù nghèo đói vẫn quyết sống bằng bàn tay lao động của mình trong khi ở xã hội đó có nhiều người đã bị ngã quỵ trước bản năng (cái đói và miếng ăn) như Chí Phèo. củ chuối.. lão chỉ còn ăn uống đói khát qua bữa. rách cho thơm »... Cái va li « đựng toàn những sách » được người thanh niên ấy rất nâng niu ».... chất phác.Bên cạnh nhân vật lão Hạc là ông giáo. làm nổi bật tấm lòng trong sạch. người ta kiêng nể ». kể cả sự giúp đỡ của ông giáo mà chắc lão hiểu là rất thân tình. . .. => Tóm lại.. có thức thức nhân phẩm rất cao. ông giáo dạy phải ! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng ». Lão thà nhịn đói chứ không tiêu xu nào vào món tiền mà lão cậy ông giáo cầm giúp đó. ông giáo đã phải bán nốt đi 5 cuốn sách cuối cùng. Lão Hạc là một điển hình về người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ được Nam Cao miêu tả chân thực. thấm đượm một tinh thần nhân đạo thống thiết. Lão Hạc là con người của câu tục ngữ : « đói cho sạch. rau má. Là một ông già nông dân cùng khổ. biết yêu và biết ghét » . nhân hậu. lão Hạc lại có bao phẩm chất tốt đẹp như hiền lành. để gây dựng sự nghiệp. cô đơn . trong sạch và tự trọng. nhưng lại kiên quyết từ chối mọi sự giúp đỡ của người khác.Nam Cao đã tinh tế đưa nhân vật Binh Tư. một lão nông chân quê đáng trọng. « Vâng..Hãy đi ngược thời gian. quần áo bán gần hết. tạo nên một sự đối sánh đặc sắc. cái kỉ niệm « đầy những say mê đẹp và cao vọng » ấy. « thà thác trong còn hơn sống đục ». « hòn ngọc Viễn Đông » thời ấy để làm ăn. sống say mê. Bởi lẽ những quyển sách ấy đã làm bứng lên trong lòng ông « như một rạng đông » thời trai trẻ. Khi đã đem gửi hết đồng tiền cuối cùng. Sách cứ bán dần đi. để nhờ ông giáo đưa ra nói với bà con hàng xóm lo giúp cho lão khi lão chết. hơn sáu chục năm còn làm cho ta xúc động và quý trọng một nhân cách đẹp.

tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn : Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn vẹn . Nhờ đọc hộ một lá thư.. Tâm sự về mảnh vườn và và chuyện đứa con trai « phẫn cí » không lấy được vợ. ông giáo khổ trường tư. Ông giáo là người để lão Hạc « chọn mặt gửi vàng ».. Không phải là nhân vật trung tâm.trong xã hội thực dân nửa phong kiến. uống nước chè.. động viên. Tôi sẽ cố giữ gìn cho lão.. nỗi buồn. một bà cô dành cho đứa cháu nội một bát nước cháo đã vữa ra như một sự bố thí (Những ngày thơ ấu). Ông giáo đã đồng cảm. cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào. ta mới thấy niềm tin. một củ khoai lang « lúc tắt lửa tối đèn có nhau ».. và dám hi sinh vì cuộc sống ! ..Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng ? Lão cười và ho sòng sọc. là niềm an ủi. .Vâng ! Ông giáo dậy phải ! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng ». » ... Ông giáo là nơi để lão Hạc san sẻ bao nỗi đau. Ông giáo khẽ cất lời than trước vong linh người láng giềng hiền lành tội nghiệp. trong lúc đàn con của ông giáo cũng đang đói . Tình tiết ấy nói lên lão Hạc rất tin ông giáo.. Đó là những con người nghèo mà trong sạch. thằng Xiên. đã san sẻ với lão Hạc với tất cả tình người.nhà văn nghèo.. bảo : . chắc sẽ không bao giờ quên mẩu đối thoại này : . ăn rau. hình ảnh ông giáo trong truyện « lão Hạc » đã kết tinh cái tâm và cái tài của Nam Cao trong nghệ thuật xây dựng nân vật. rồi hút thuốc lào. vừa là người dẫn chuyện. vợ tên địa chủ bắt bí. đã thể hiện một nhân cách đẹp trước sự khốn cùng : biết sống. đã thương xót. .Trong truyện « Lão Hạc ».. Có lúc là một điếu thuốc lào. sự kính trọng của kẻ khốn cùng đối với ông giáo thật là thánh thiện. nấu một ấm chè tươi thật đặc : ông con mình ăn khoai. sống nhân hậu. Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão. Có người đã cho rằng. Điền trong « Trăng sáng ».Ông giáo nghèo mà đức độ lắm. Ý kiến ấy rất lí thú. cái chết « đau đớn và bất lình lình ». gửi lại ông giáo ba sào vườn cho đứa con trai. một bát nước chè xanh. đã tô đậm giá trị nhân đạo của truyện ngắn đặc sắc này. Không chỉ an ủi. chỉ có ông giáo và Binh Tư hiểu. ăn củ ráy. ôn tồn bảo : . nhưng có cái này là sung sướng : bây giờ cụ ngồi xuống phải này chơi. nhờ viết hộ một lá thư cho đứa con trai đi phu đồn điền. tin cậy của lão Hạc. Trong giọt lệ là những lời hứa của một nhân cách cao đẹp. Giữa cái xã hội đen bạc thời ấy.. Ai đã từng là độc giả của Nam Cao. đáng trọng : « Lão Hạc ơi ! Lão Hạc ơi ! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt ! Lão đừng lo gì cho cái vườn của lão.Tôi bùi ngùi nhìn lão. nhưng sự hiện diện của ông giáo đã làm cho « bức tranh quê » ngày xa xưa ấy thêm sáng tỏ. cái nghĩa cử « lá lành đùm lá rách » ấy mới thật cao đẹp biết bao ! .Chẳng kiếp gì sung sướng thật. ông giáo vừa là nhân vật. bóp nặn người đàn bà khốn cùng để mua rẻ đứa con gái lên bảy tuổi và ổ chó (Tắt đèn). lão Hạc đã gửi ông giáo 30 đồng để phòng khi chết « gọi là của lão có tí chút. Ông là chỗ dựa tinh thần. . Thế là sướng. tôi đi luộc mấy củ khoai lang. cụ ạ ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng ? .Kiếp ai cũng thế thôi. Đến khi con trai lão về. mà ông còn tìm mọi cách để « ngấm ngầm giúp » khi biết lão Hạc đã nhiều ngày ăn khoai. .có quyền giữ cho ta một tí gì đâu ? » Lời than ấy cất lên nghe thật não nuột. hăm hở và nhiệt tâm từng ôm ấp bao mộng đẹp. ông giáo là một nhân vật tự truyện. mang dáng dấp hình bóng Nam Cao. nhân vật « tôi » trong « mua nhà ».Ông giáo đã thương lão Hạc « như thể thương thân ». một tên phụ mẫu ăn bẩn đồng hào đôi của chị nhà quê (Đồng hào có ma). ». Trước khi ăn bả chó. Nhân vật ông giáo là chiếc gương soi sáng cuộc đời và tâm hồn lão Hạc.. vị tha. San sẻ về nỗi đau buồn sau khi bán cậu Vàng cho thằng Mục.Cùng chung với ông giáo Thứ trong « sống mòn ».Trước cái chết dữ dội của Lão Hạc. 40 .Ông giáo là một trí thức có trái tim nhân hậu rất đáng quý.

Cho nên.. Cách nhìn người của nhà văn Nam Cao. chẳng những trong « Lão Hạc » mà trong cả « Chí Phèo ». không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương . cũng không có nhiều hành động. B.Xây dựng nhân vật : + Không được miêu tả thật kĩ về ngoại hình. và phải có cách nhìn có chiều sâu. tính cách ông lão nông dân nhân hậu. chính từ đó mà số phận đau thương. Tài nghệ bậc thầy đó thể hiện ở nhiều khía cạnh và có những điểm nổi bật sau : . Sau cách mạng. « cái bản tính tốt » ấy của họ thường bị những nỗi khổ cực. có điều. nhất là không thành kiến. + Tác giả đã đi sâu vào những tâm tư. trong truyện ngắn « Đôi mắt » (1948).. có bề dầy xã hội và đồng thời có cá tính độc đáo. bỉ ổi » ấy chỉ là « những người đáng thương » và có « bản tính tốt ». « một bữa no ».. « Lang Rận ». Có thể nói. một Lang Rận. bỉ ổi. một anh Cu Lộ. Nhân vật lão Hạc chân thực. ngu ngốc. xấu xa. vấn đề « đôi mắt » là một đặc điểm quan trọng trong quan điểm sáng tác của Nam Cao. khẳng định rằng họ đều có tình cản rất « đáng thương » và đều « bản tính tốt ». bần tiện.3. có thể thấy rõ cảnh sống cô đơn của lão. Tác giả đi thằng vào giữa truyện ( cảnh lão Hạc nói chuyện với « tôi » về việc sẽ phải bán « cậu Vàng ») rồi mới nhẩn nhà đi ngược thời gian. chủ yếu được nhà văn khắc hoạ bằng miêu tả tâm lý. bần tiện. bút pháp trần thuật linh hoạt. không hời hợt. Nam Cao đã phát biểu suy nghĩ về cách nhìn người : «Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta. nếu không cố tìm và hiểu họ. và hầu hết truyện dài của Nam Cao. hối hận.Suy nghĩ của nhân vật «tôi» trên đây chính là một điểm quan trọng trong ý thức sáng tác của nhà văn Nam Cao. trở thành ý thức nghệ thuật thường trực trong suốt cuộc đời cầm bút của nhà văn có tấm lòng gắn bó sâu nặng với nhân dân. nhà văn đặt ra vấn đề phải có tình thương. có thể nói. tính cách độc đáo của nhân vật hiện ra thật rõ nét.. phiến diện chỉ thấy cái bề ngoài. từ chuyện « con chó là của cháu nó mua đấy » chuyển sang chuyện anh con trai đã bỏ đi phu. đã cho thấy rất rõ tâm hồn. Trong « Lão Hạc ». Chẳng hạn. Hoặc những chi tiết thể hiện phản ứng tâm lí của lão Hạc xung quanh việc mà lão cho rằng đã « lừa cậu Vàng » : đau đớn. nhà văn cho rằng đối với người nông dân lao động thì phải « cố mà tìm hiểu họ » thì mới thấy rằng chính những con người bề ngoài lắm khi « gàn dở. chất người trung hậu ( thể hiện qua thái độ âu yếm.) Cái bản tính tốt củ người ta bị những nỗi lo lắng buồn đau. thì ta chỉ thấy họ gàn dở. nhưng chính cuộc đời quá khắc nghiệt đã đẩy họ vào con đường lưu manh hoặc làm những việc xấu xa. Nam Cao đã trực diện đặt ra vấn đề cần xác định « đôi mắt » đúng đắn để thấy được bản chất cách mạng của quần chúng nông dân đang là chủ lực của cuộc kháng chiến chống Pháp khi đó. . « Tư cách mõ ». tàn nhẫn. đáng thương ấy. toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn.Cách dựng truyện. để lại lão Hạc sống cô đơn và giờ đây 41 . không bao giờ ta thương (. qua cản lão Hạc trò chuyện với « cậu Vàng ». song được tập trung soi sáng từ bên trong. xấu xa.. Đó chính là vấn đề mà sau này Nam Cao gọi là « Đôi mắt » . những lo lắng trong cuộc sống « che lấp mất ». phải xác định « đôi mắt » đúng đắn trong cách nhìn về quần chúng nghèo khổ.. sinh động. mới mẻ.. ích kỉ che lấp mất » . Giá trị nghệ thuật đặc sắc của truyện « Lão Hạc » là một trong những truyện ngắn hay nhất của cây bút truyện ngắn bậc thầy Nam Cao. chiều chuộng đối với cậu Vàng) và tình thương sâu nặng đối với đứa con trai đang ở xa.. những lo tính của lão Hạc chung quanh việc bán « cậu Vàng » và việc lặng lẽ chuẩn bị cho cái chết. Ông chính là luật sư đứng ra bênh vực cho một Chí Phèo. Tức là. kể về cảnh ngộ nhân vật. nhà văn đều đặt ra vấn đề « đôi mắt ». chua xót. có sự cảm thông. ngu ngốc. một bà cái Tí.

Một truyện ngắn chứa chan tình người. . tác giả đã gọi tên nhân vật lên để trò chuyện. một thân một mình gà trống nuôi con . chân thành . tự nhiên.Truyện rất mực chân thực. cơ cực và cùng quẫn như lão Hạc. Lão Hạc là một lão nông nghèo khổ bất hạnh nhưng lại một con người có trái tim nhân hậu. » Những câu văn triết lý đó không hề có giọng sách vở. sức cùng. chân thực. . ông đã giúp ta nhìn thấy vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách cao cả của họ. ở những câu cảm thán nhiều khi không nén được cảm xúc. ! ». số phận người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ. đồng thời thấm đượm cảm xúc trữ tình.Nam Cao là nhà văn nhân đạo.. vật vã => Cuộc đời lão Hạc là số phận người nông dân bị đẩy đến bước đường cùng không lối thoát. lực kiệt-> Tìm đến cái chết để giải thoát ..Cũng như bao cố nông cùng khổ khác. 2.Cái chết dữ dội.. như chung quanh việc « Tôi » phải bán mấy quyển sách : « ôi những quyển sách rất nâng niu(. nhân cách cao cả. trìu tượng mà là những suy nghĩ gan ruột nên có sức thuyết phục đặc biệt. tập trung. .. tội nghiệp.đang lâm cảnh cùng đường. tác giả đã biểu lộ tự nhiên những cảm xúc. Là người sống rất nhân hậu . => Vừa tỉnh táo. II-Thân bài 1..) Chất trữ tình còn thể hiện ở những lời mang giọng tâm sự riêng của « tôi »...Truyện ngắn « Lão Hạc » không chỉ miêu tả xúc động tình cảnh khốn cùng và số phận bi đát của người nông dân mà còn là một câu chuyện xúc động về một nhân cách cao quý. Lão Hạc là một lão nông nghèo khổ. có vẻ lỏng lẻo song kì thật thật chặt chẽ. đem đến cho ta một niềm tin sâu sắc vào con người. lương thiện và có một tâm hồn. « Lão Hạc ơi.Nghèo đói... than thở : ( Lão Hạc ơi ! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão khong muốn bán con chó vàng của lão ! Hỡi ơi lão Hạc ! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều hơn ai hết.Đối với con chó 42 . vừa trữ tình thắm thiết và đậm đà ý vị triết lí.Kết bài : Tác phẩm « Lão Hạc » đã làm cho em vô cùng xúc động. Qua nhân vật « Tôi ».. đó chính là đặc điểm bút pháp văn xuôi Nam Cao được thể hiện rõ nét trong « Lão Hạc » III.Đứa con trai duy nhất vì nghèo mà phẫn chí bỏ đi . Nhân vật Lão Hạc đã để lại trong lòng ta bao ám ảnh khi nghĩ về số phận con người.Vợ mất sớm. bất hạnh .Sống bằng nghề cầy thuê. DÀN Ý PHÂN TÍCH NHÂN VẬT LÃO HẠC I .) kỷ niệm một thời hăng hái và tin tưởng đầy những say mê đẹp và cao vọng » Và thể hiện rõ nhất là ở những đoạn văn trữ tình ngoại đề đậm màu sắc triết lý : « Chao ôi ! Đối với những người ở quanh ta. cuốc mướn . ốm đau . đau đớn.Mở bài . khổ sở. Cách dẫn chuyện rất thoải mái. lên án xã hội thối nát => Giá trị hiện thực sâu sắc. Xin cảm ơn nhà văn Nam Cao. lão hãy yên lòng nhắm mắt. suy nghĩ của mình.Sống cô đơn.Đối với mọi người : Sống tốt. Cái chết của lão Hạc là lời tố cáo. lay động bao nỗi xót thương khi tác giả kể về cuộc đời cô đơn bất hạnh và cái chết đau đớn của một lão nông nghèo khổ. già cả. người kể chuyện. khắc hoạ nhân vật và thể hiện chủ đề. Chất trữ tình thể hiện ở giọng kể. Có biết bao nhiêu người nông dân đã sống nghèo khổ. Ông đã để lại những trang viết tâm huyết về người nông dân trước cách mạng tháng Tám.

Có thể kể các tập : Bắp cải và vua chúa (1904). nhưng phần lớn hướng vào cuộc sống nghèo khổ.Hình ảnh lão Hạc gây ấn tượng đậm nét và cứ ám ảnh vương vấn không dứt trong lòng người đọc . Cha ông là thầy thuốc.Kết luận .Kiên quyết từ chối mọi sự giúp đỡ của người khác. Hầu như tuần nào ông cũng có truyện in trên các báo và tạp chí. gàn dở là một nhân cách vô cùng cao quý .Chọn cái chết để giữ trọn phẩm giá III. người rất thân tình với ông . Một số truyện mang ý nghĩa phê phán xã hội rõ rệt. ông sống ở New ước. Sau đó còn phải làm nhiều nghề khác để kiếm ăn như : nhân viên kế toán. luôn mong con về + Chọn cách sống cho con. 3. anh lấy bút danh là Ô.tơ vô cùng cảm mến. Ông sáng tác rất nhiều.Mười năm cuối đời. ====================== Bài 4 : CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG» I.Truyện của ông phong phú.Đối với con trai + Nỗi đau bất lực của người cha vì nghèo mà không lo được hạnh phúc cho con + Khi con đi. Tiếng nói của thành phố (1908).hen ri từ đó (Ohenri là tên của một người cai ngục nhân hậu mà Po. Bốn triệu (1906). tuyệt vọng. anh đã được tự do. Ra tù. ở trại chăn nuôi.Thà nhịn đói chứ không tiêu vào tiền của con . ở với bố.Bên trong cái vẻ bề ngoài gần như lẩm cẩm. và trở thành một nhà văn chuyên nghiệp về sở trường truyện ngắn. vì con. Trung tâm miều Tây (1907). Nhưng rồi một chuyện không đâu. kể cả sự giúp đỡ của ông giáo. Là người lương thiện và giầu lòng tự trọng . Tác giả : O Hen ri là nhà văn Mĩ (1862 -1910). tên thật của ông là Po-tơ. vẽ tranh. lao động sáng tạo miệt mài bèn bỉ. . thủ quỹ ngân hàng. ông đăng báo đến 10 truyện ngắn. anh bị cầm tù với mức án 5 năm. tài năng phát triển một cách kì lạ. Danh tiếng nổi lên như cồn .Người đọc xót xa trước cái chết của lão Hạc bao nhiêu thì càng trân trọng và vững tin ở nhân cách bấy nhiêu. được dùng làm bút danh để nhớ mãi hình ảnh một ân nhân của mình) .Không muốn hàng xóm nghèo phải phiền luỵ về cái xác già của mình ( gửi ông giáo tiền lo ma chay cho mình) . Năm 15 tuổi đã phải thôi học đến làm công kiếm sống tại một hiệu thuốc. đau khổ như mất con. ông không được học hành nhiều mà vừa đi học vừa đi lao động. bất hạnh của người dân Mĩ. Nhưng mới chỉ thụ án 3 năm 3 tháng. Có tháng. 1905. Có năm như 1904. ông đã viết 65 truyện ngắn in ở nhiều bào. bất tận .Cuộc đời lão Hạc là một dòng nước mắt chảy dài của những nỗi đau triền miên. Những sự lựa chọn (1909). . mẹ ông qua đời khi ông mới lên ba.+ Quý nó quá mức + Chăm sóc nó tỉ mỉ + Đau xót khi phải bán nó . + Tìm đến cái chết để giữ tài sản cho con. 43 . luôn để dành tiền cho con.Thuở nhỏ. đa dạng về đề tài.

Xiu đã nói với cụ về nỗi niềm tuyệt vọng của Giôn xi. một người tên là Xiu. nghiện rượu nặng. đã tạo nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật trong những tác phẩm của O. Khi người ta yêu.Phần 3 : Bí mật của chiếc lá cuối cùng (còn lại) IV. Số lượng nhân vật không nhiều. cũng không phải vì cái phong cảnh tuyệt vời của nó mà vì « tiền thuê rẻ ».Phần 2 : Giôn xi vượt qua cái chết ( tiếp đến « vịnh Na-plơ ») . Cụ luôn luôn có ý định vẽ một bức tranh kiệt tác. Giầy và quần áo cụ ướt sũng và lạnh buốt còn để lại trong phòng.Vinh dự lớn nhất của O.. Giôn xi bình phục dần. gắn bó trong tình chị em thân thiết.. kết cấu chặt chẽ.Về nghệ thuật. Chiếc lá cuối cùng. chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó. Với « Chiếc lá cuối cùng ». em thân yêu. Viên bác sĩ cho Xiu biết. Các nghệ sĩ nghèo thường lui tới tìm thuê những căn phòng có cửa sổ hướng bắc. Ô. những buồng xép sát nóc kiểu Hà Lan với giá tiền rẻ. hội nghệ thuật và khoa học Mĩ đã lấy tên ông làm giải thưởng cho 3 truyện ngắn hay nhất hàng năm. và chiếc bút lông rơi vung vãi.. Bố cục : 3 phần . mệt mỏi buông xuôi nghĩ sẽ ra đi khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống.Phòng hoạ của hai nữ hoạ sĩ trẻ đặt ở tầng thượng ngôi nhà cổ gạch ba tầng thấp lè tè . Nhưng chiếc lá dũng cảm màu vàng úa vẫn bám vào cành. . . tầng cuối cùng là phòng của cụ Bơ men đã ngoài 60 tuổi. chạy chữa cho đứa em tội nghiệp.. người bác sĩ đến chữa bệnh cho Giôn xi và cụ già Bơmen. Một cô từ bang Men tới. Một đêm mưa tuyết lạnh lẽo nữa lại ào tới.. đó chính là tác phẩm kiệt xuất của cụ Bơ men đấy. một cô từ Ca-lipho-ni-a.Henri. nhưng chưa bao giờ bắt đầu cả. Cái cửa xanh. Sương mù ở Xen-tôn. Hai nữ hoạ sĩ trẻ. kì quặc.Cụ Bơ men đã chết vì sưng phổi sau 2 ngày nằm viện..Hen ri và rất lôi cuốn sự hứng thú của bạn đọc. truyện ngắn của ông có lối viết nhẹ nhàng. Phân tích : « Chiếc lá cuối cùng » là một trong những truyện tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật của O. Đã hơn bốn mươi năm mà ngòi bút màu của cụ chưa với tới được gấu áo vị nữ thần nghệ thuật. Họ tìm đến quảng trường Gri-niz gần công viên Oa sinh tơn không phải vì cái vẻ cổ kính. Cô chỉ biết nhìn ra phía cửa sổ.Hen ri qua đời. II.Mùa đông năm ấy. chúng ta bước vào thế giới của những nghệ sĩ nghèo. . nhìn chiếc lá cuối cùng trên cây rồi bảo : « ồ. Nổi tiếng nhất là những truyện ngắn kiệt tác như : Căn gác xép. Ngày đêm trôi qua. Giôn xi nằm yên bất động và trắng bệch như pho tượng đổ..cô bạn cùng chung phòng trọ. Cụ đã vẽ nó vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng. bệnh tình của Giôn-xi mười phần chỉ còn hi vọng được một thôi. chỉ có 3 nhân vật : Giôn xi. nhẩm đếm từng chiếc lá còn lại trên cây thường xuân. . Trong cái xã hội mà thước đo là đồng tiền thì « tiền thuê rẻ » cũng nói lên khá nhiều điều và tác giả 44 . mua thuốc để săn sóc. Chiếc than. . Thế rồi Giôn xi bị cảm lạnh nằm bất động trên chiếc giường sắt. một người tên Giôn xi. Tên cảnh sát và gã lang thang. Xiu khẽ nhắc em hãy nhìn ra ngoài cửa sổ.Cụ Bơ men lại lên gác 3 ngồi làm người mẫu cho Xiu vẽ.. Xiu tranh thủ vẽ để kiếm thêm tiền mua rượu Boóc đô pha sữa.Henri là gần 10 năm sau khi ông qua đời..Năm 1910. đầy tình huống hấp dẫn. chiếc đèn bão. Phương thức biểu đạt của văn bản này là : Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.Tại một khu nhỏ phía tây công viên Oa-sinh tơn là cái làng Gri-nig cổ kính.. Chiếc lá thường xuân.. Quà tặng của những nhà hiền triết.cô hoạ sĩ bị ốm và xiu.Phần 1 : Giôn xi đợi cái chết (từ đầu đến « kiểu Hà lan ») . Tóm tắt tác phẩm . » III. để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ : khoảng 600 truyện ngắn. chứng viêm phổi hoành hành đã đánh ngã hàng chục nạn nhân bên khu phía đông.hoạ sĩ già sống cùng ngôi nhà trọ đó. . ở ngoài cửa sổ. V. Họ kết nghĩa.

thường xuyên gõ cửa rình rập và đe doạ họ. điều đó càng trở nên ác liệt hơn. tình bạn được thử thách).cũng mỉa mai nhận xét : « Phố này có một khả năng rất quý. .Hình dung như thế nào về nhân vật Giôn xi từ chi tiết miêu tả dáng vẻ « thẫn thờ » và giọng nói « thều thào » của cô ? . . a. A.Giôn xi bị viêm phổi.. gần như cạn kiệt sức sống. nằm liệt giường. do các nhà văn trẻ viết để lát con đường của họ dẫn tới văn học » + Cùng cảnh nghèo.Nghèo . Theo dõi phần thứ nhất của văn bản cho biết : bệnh tật của Giôn Xi có gì đặc biệt ? . cho dù họ là hoạ sĩ. hoang tàn. b Sụ kiện nào cho ta thấy sự gắn bó giữa hai cô hoạ sĩ này không đơn thuần chỉ là mối quan hệ của những người trọ cùng một nhà mà thân thiết như chị em ruột thịt ? .Chưa từng thành công trong sự nghiệp => Giôn xi không có một sợi dây ràng buộc nào đáng kể với cuộc sống. cô kia quê ở Ca-li-pho-ni-a và họ cùng thuê chung một phòng trọ nơi phố nghèo. không có tiền . . Cái không gian nghèo nàn ngay từ vẻ bên ngoài ấy chỉ tiếp nhận những con người ngụ cư. Bác sĩ nói : « Bệnh tình của cô ấy có thể nói là mười phần chỉ còn hy vọng được một thôi ». Mùa đông năm ấy. Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó thì em sẽ chết ». 45 .Cô muốn nhìn xem chiếc lá thường xuân cuối cùng bên cửa sổ đã rụng chưa.Điều gì đã gắn kết Xiu và Giôn xi lại với nhau ? + Cùng sở thích về món rau diếp xoăn trộn dầu dấm và kiểu ống tay rộng + Cùng lựa chọn nghề hội hoạ : « hàng ngày làm việc lát con đường dẫn tới nghệ thuật bằng những bức tranh minh hoạ cho những truyện ngắn của các tạp chí.Hai nữ hoạ sĩ trẻ ở hai miền quê khác nhau : một cô từ bang Men tới. « CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG » LÀ BỨC THÔNG ĐIỆP MÀU XANH VỀ TÌNH THƯƠNG VÀ SỰ SỐNG CON NGƯỜI 1. Trong mùa đông.. .. Em hiểu gì về trạng thái tinh thần của Giôn xi từ câu nói của cô : « Đó là chiếc lá cuối cùng.. Và cái không gian đó cho dù nó được gọi là quảng trường thì nó vẫn bị chia nhỏ thành những quảng trường « chằng chịt » khiến cho phạm vi không gian bị thu hẹp lại..Tình bạn cảm động. Đối với những người nghèo. Hãy tưởng tượng xem một tay thu ngân nào đó mang hoá đơn đòi tiền sơn hay giấy và vải vẽ đi qua con đường này.Sự việc Giôn xi bị ốm. Đây là một cách tạo dựng tình huống có vấn đề để dẫn dắt tới cách giải quyết đột biến bất ngờ khi kết thúc truyện.Một cô gái trong tình trạng sức khoẻ yếu ớt. thì đói rét và bệnh tật thường xuyên là khách không mời. đột nhiên lại gặp ngay chính mình quay trở ra. tạo ra thước đo phẩm chất nhân vật (chính trong hoàn cảnh bi đát ấy. Sự « chật hẹp » hiện ra như « mọc rêu » khiến cho khu nhà càng thêm vẻ cô quạnh. => Đây là nghệ thuật tạo dựng tình huống. Chọn một nhân vật trong trạng thái ốm đau bệnh tật làm tiêu điểm cho hành vi hoạt động của các nhân vật khác là đòn bẩy để từ đó làm nổi lên các tình cảm nhân đạo.Cảnh ngộ ấy ảnh hưởng đến tâm trạng của Giôn xi như thế nào ? Tại sao Giôn xi « mở to cặp mắt thẫn thờ nhìn tấm mành mành và thều thào ra lệnh « kéo nó lên ». Em cứ tưởng là nhất định trong đêm vừa qua nó đã rụng. Tác giả chọn bệnh tật làm đối tượng miêu tả trực tiếp để đặc tả những phương diện khác..Bản thân Giôn xi là một cô gái ốm yếu và thiếu máu . chứng viêm phổi hoành hành đã « đánh ngã hàng chục nạn nhân ». Họ vẽ tranh để kiếm cái lèn chặt dạ dầy thường hay trống rỗng của họ và cao hơn nữa là để duy trì sự sống của chính họ mỗi khi mùa đông băng giá đến. tiền nợ không thu được một xu nhỏ ».

. vị tha. em yêu dấu !. là một con người giầu đức hy sinh thầm lặng. Một niềm tin định mệnh đớn đau. Cô nói qua làn nước mắt : « Em thân yêu. Cuộc sống của Giôn xi giờ đây được ví như chiếc lá nhỏ nhoi. Xiu thương bạn vô cùng. Xiu lo âu và đã làm tất cả để cứu Giôn xi . cô đau khổ tự giầy vò vì thấy người khác phải chăm sóc mình.. lúc thì mời bác sĩ. « Trong khắp thế gian.. thước đo cuộc đời. Xiu đã giành giật với tử thần để chạy chữa cho đứa em nuôi bé bỏng tội nghiệp. (Cô bệnh nhân ấy « yên trí là mình không thể khỏi được » đã bình thản lạnh lùng làm vái việc nhìn qua cửa sổ trong tư thế nằm trên giường bệnh đếm từng chiếc lá thường xuân đang rụng dần trong gió lạnh. Đối với Giôn Xi : chiếc lá là biểu tượng của thước đo thời gian. Em hãy cố ngủ đi » . nén nỗi xót thương lo lắng để nâng đỡ tinh thần cho bạn. cô đã khóc « đến ướt đẫm cả một chiếc khăn trải bàn Nhật Bản ». Đây quả là một sự so sánh tuyệt vời rất phù hợp với kiểu tư duy hình tượng Đông phương. trong bản lĩnh.Xiu đã tận tình chăm sóc em. chỉ chờ cho chiếc lá thường xuân bé nhỏ đang quằn quại trong gió lạnh kia rụng xuống. đáng sợ hơn là Giôn xi không cảm thấy luyến tiếc cuộc sống. là ngọn đèn cạn dầu leo lét trước gió. lúc thì quấy nước súp gà. Đồng thời nó cũng nói lên sự đồng cảm xót xa của nhà văn trước đồng loại. Cuộc đời được ví với những cái mảnh mai yếu ớt. . Em hãy hứa với chị là hãy nhắm mắt lại và không nhìn ra ngoài cửa sổ nữa. lúc thì cầu cứu bác Bơ men. Giôn xi tự cảm thấy mình là gánh nặng cho người khác. Cuộc đời của cô sẽ chấm dứt khi chiếc lá cuối cùng đó lìa cành. Những sợi dây ràng buộc cô với tình bạn. Nghèo thường đi đôi với hèn. tâm hồn đang chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi xa xôi bí ẩn của mình cho ta biết thêm điều gì về Giôn xi ? . Cuộc đời của cô. Sự so sánh cuộc đời con người với chiếc lá mong manh trước làn gió mạnh trong giá rét phũ phàng của mùa đông là một sự so sánh tuyệt vời sâu sắc.Sự sụp đổ về tinh thần của cô hoạ sĩ trẻ bất hạnh làm cho bệnh tình ngày thêm trầm trọng. dễ vỡ. nhỏ nhoi đang quằn quại trong gió lạnh. Và cuộc đấu tranh để bảo tồn cái nhỏ nhoi ấy. Con người yếu đuối và tuyệt vọng như Giôn xi gợi cho em những cảm xúc gì ? . Tâm hồn cô đã chuẩn bị sẵn sàng cho một chuyến đi xa. Giôn xi có những dự cảm mình sẽ chết. yếu ớt.Cô vô cùng yếu đuối và tuyệt vọng. Chi tiết Giôn xi đã không đáp lại những lời lẽ yêu thương của bạn. đó là tâm trạng chán nản của kẻ chờ đợi phút chia tay với cuộc đời.Cô vẽ nhiều hơn để có tiền mua thuốc và mua thức ăn cho bạn. Niềm hi vọng ở đây duy nhất cô đặt cả vào chiếc lá thường xuân vàng úa.Giôn xi cảm thấy mình bất hạnh..Cô chăm sóc động viên bạn. không tha thiết với cuộc sống. để đổ. Trong cuộc sống tựa vai vào người khác như vậy. Xiu là một nhân vật rất đẹp làm ta xúc động và 46 . với thế gian này cứ lơi lỏng dần từng cái một thì ý nghĩ kì quặc kia hình như lại càng choán lấy tâm trí cô mạnh mẽ hơn ». lúc thì đặt thêm gối. cái cô đơn nhất là một tâm hồn đã chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi xa xôi bí ẩn của mình. khi đứa em tội nghiệp « nằm yên lặng và trắng nhợt như một pho tượng bị đổ » thì Xiu vẫn kiên nhẫn an ủi em. có một trái tim nhân hậu mênh mông. =>Xiu là hiện thân của lòng trắc ẩn. lúc thì pha sữa với rượu Boóc đô. bất lực trước bệnh tật.. mỏng manh. mảnh mai kia. Và cuộc đấu tranh để bảo vệ cái cuộc sống nhỏ nhoi. tình bạn được thử thách. yêu ớt ấy là một cuộc đấu tranh với sự chiến thắng tuyệt vời của tình người. nhưng ở đây không phải là hèn trong phẩm cách mà là yếu đuối trong niềm tin. cô đã xây dựng cho mình một niềm tin bất hạnh : cô sẽ ra đi khi chiếc lá thường xuân cuối cùng rụng xuống. để bảo vệ cái yếu ớt ấy là phẩm chất tuyệt vời của tình người) cXiu đã làm gì để bảo vệ Giôn xi ? Chính trong hoàn cảnh bi đát ấy. phải bận tâm vì mình.

Cái chết là rất đáng ghét nhưng trong trường hợp của Bơ men.BỊ viêm phổi nặng và đã chết vì sưng phổi Nêu cảm nhận của em về cái chết của cụ Bơ men ? Cái chết của Bơ men thật là cao cả.một con người còn rất trẻ và biết đâu. sự hi sinh thầm lặng của ông ít ai biết đến. Và cũng trong đêm mưa gió bão bùng ấy. Nhân vật Xiu toả sáng « bức thông điệp màu xanh » của « chiếc lá cuối cùng » d. nhưng chính nó đã cứu sống được một mạng người. nó vô cùng đang kính trọng. Không có tranh để bán. Người hoạ sĩ già ấy đã phải trả giá như thế nào cho bức vẽ chiếc lá cuối cùng của mình ? . Trong đêm mưa rét ấy. kịp thời thay thế cho chiếc lá vừa rung. Ở đây.ngưỡng mộ về một tình bạn. bởi nó càng khẳng định lòng yêu thương con người. và vài chiếc bút lông rơi vung vãi. Bởi vì tác phẩm đó đã biểu hiện tất cả phẩm chất cao đẹp của bác : nghèo nhưng vô cùng nhân hậu. mà đã tìm ra cách để chữa căn bệnh nguy hiểm trong trí não giôn-xi. Ước mơ. thật chân chính. kéo dài sự sống cho một tâm hồn yếu đuối đáng đếm lá rụng chờ chết.Bác Bơ men là một hoạ sĩ nghèo đã 60 tuổi. đó lại là một tài năng vĩ đại sau này sẽ tiếp tục con đường nghệ thuật chân chính mà Bơ men đã theo đuổi suốt đời. vẫn sống mãi trong lòng các thế hệ bạn đọc.Vẽ âm thầm. cao quý. Bác luôn có ý định vẽ một bức tranh kiệt tác. và một bảng pha màu có màu xanh và màu vàng trộn lẫn ». bí mật trong đêm mưa gió lạnh buốt ngoài trời. hàng ngày bác « kiếm được chút ít bằng cách ngồi làm mẫu cho các nghệ sĩ trẻ không đủ tiền thuê người làm mẫu chuyên nghiệp ». suốt đời chỉ uống loại rượu nặng rẻ tiền. KIỆT TÁC « CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG » 47 . Cái chết lặng lẽ. Bác là biểu tượng của nghệ thuật vị nhân sinh cao cả. . cụ Bơ men đã vẽ bức tranh chiếc lá cuối cùng với mục đích gì ? Để cứu người khỏi tai hoạ. một hoạ sĩ già là một con người giầu đức hi sinh như vậy. sau khi vẽ bức kiệt tác trong tình thương của mình lên bức tường cáo tới sáu thước. sự hi sinh cao cả vì con người của người nghệ sĩ già. Cuộc sống của Bác thật khổ và thật bấp bênh. có những con người đứng trước cái chết không hề sợ chết. bước xuống khỏi cái thang chông chênh. một kiệt tác đã hoàn thành. Cụ già Bơ-men. ông già đã bị viêm phổi nặng. Trong một gian buồng như thế thì vẽ thế nào được tranh. tình chị em thuỷ chung. dù ông có phải xông pha trong bão tuyết. giàu lòng yêu thương và đức hi sinh. Hoạ sĩ già Bơ men đã vẽ bức tranh chiếc lá cuối cùng như thế nào ? . Bác Bơ men đã chết nhưng tác phẩm kiệt xuất của bác vẫn sống mãi với hai cô gái nghèo. không thành đạt trong nghệ thuật : « cụ múa cây bút vẽ đã bốn mươi năm mà vẫn không với tới được gấu áo vị nữ thần của mình » nhưng sống rất lương thiện và luôn khát vọng sáng tạo một kiệt tác. nhưng bác Bơ men vẫn sống cô độc « trong một gian buồng tối om om ở tầng dưới » Chỉ có những người nghèo mới phải ở trong một gian buồng như thế. cho nên trên giá vẽ ở góc buồng của bác vẫn là một tấm vải trống trơn chưa có một nét vẽ. Bơ Men trở về và làm việc thầm lặng dưới ngọn đèn bão tuyết tù mù. rồi hai ngày sau ông đã lặng lẽ đi vào cõi vĩnh hằng. chứng cớ là « người ta tìm thấy một chiếc đèn bão vẫn còn thắp sáng và một chiếc thang đã bị lôi ra khỏi chỗ để của nó. Bí mật chiếc lá cuối cùng Theo dõi phần cuối văn bản « Chiếc lá cuối cùng » cho biết sự thật về chiếc lá vẫn còn đó liên quan đến nhân vật nào ? (cụ Bơ men) Bơ men được tác giả giới thiệu như thế nào ? . II. khát vọng của bác thật đẹp.Tuy sống trong nghèo khổ. nhưng ước mơ sáng tạo lúc nào cũng cháy bỏng trong lòng bác. Ông không chỉ thương xót. Đã ngoài sáu mươi.

Câu hỏi : Vì sao có thể nói : « Chiếc lá cuối cùng » là một hình tượng quan trọng, linh hồn của truyện ngắn này ? Không phải ngẫu nhiên hình ảnh chiếc lá trường xuân cuối cùng đã trở thành nhan đề một truyện ngắn bất tử của nhà văn Mĩ lừng danh O.Hen ri. Đó là một chi tiết cảm động, biểu tượng nghệ thuật bất ngờ, độc đáo mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc a. Chiếc lá trường xuân nhỏ bé tầm thường, do bàn tay một hoạ sĩ « thường thường bậc trung » tạo ra rất giống chiếc lá thật. Bức tranh « lá » thật sinh động đến nỗi con mắt chuyên môn tinh trẻ của Giôn xi nhìn ngắm hoài mà sao không thể phân biệt nổi lá thật hay lá vẽ ? « Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió phũ phàng kéo dài cả một đêm, tưởng chừng không bao giờ dứt, vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch. Đó là chiếc lá cuối cùng trên cây. Tuy ở gần cuống lá còn giữ màu xanh sẫm, nhưng rìa lá hình răng cưa đã nhuốm màu vàng úa, tuy vậy chiếc lá dũng cảm vẫn bám vào cành cách mặt đất chừng sáu thước. Và « ngày hôm đó trôi qua và ngay cả trong ánh hoàng hôn, họ vẫn trông thấy chiếc lá thường xuân đơn độc bám lấy cái cuống của nó trên tường và rồi, cùng với màn đêm buông xuống, gió bấc lại lồng lộn, trong khi mưa vẫn đập mạnh vào cửa sổ và mái hiên thấp kiểu Hà Lan mưa rơi lộp độp xuống mặt đất ». Chiếc màn xanh lại được kéo lên khi buổi sáng lại về. Chiếc lá thường xuân vẫn còn đó ». b- Chiếc lá dũng cảm đó đã cứu sống một con người. - Nhờ chiếc lá giả- lá vẽ (nhưng có thật) vào mặt bức tường trước khuôn cửa sổ mà cô hoạ sĩ trẻ Giôn Xi dần khỏi bệnh . Hoạ sĩ già Bơ men đã cứu được cô gái đáng thương bằng kiệt tác đầu tiên- và cũng là cuối cùng của mình, hay chính cô đã tự cứu cô bởi niềm hi vọng lớn dần, mạnh ấm dần khởi nguồn từ chiếc lá lạ lùng, gan lì bám trụ, quyết không chịu lìa khỏi ngọn dây leo loằng ngoằng. - Chiếc lá cuối cùng xuất hiện kịp thời đúng lúc đó đã đem lại niềm tin vào sự sống cho Giôn xi, đã thăng hoa nội lực cho Giôn xi, giúp cô chiến thắng gã « viêm phổi » dai dẳng hiểm ác. Cô chợt hiểu ra : « có một cái gì đó làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đấy để em thấy rằng mình đã tệ như thế nào » và hi vọng « một ngày nào đó sẽ được vẽ vịnh Na Plơ » lại trỗi dậy trong cô ; cùng với niềm hi vọng ấy nhựa sống lại lên men, nghị lực và mầm sống lại hồi sinh, khiến bác sĩ phải thốt lên : « được năm phần mười rồi. Chăm sóc chu đáo thì chị sẽ thắng và « cô ấy khỏi nguy hiểm rồi, chị đã thắng ». Không hẳn chiếc lá của cụ Bơ men đã cứu Giôn xi khỏi tắt lịm đi như ngọn đèn mờ con con trước gió đông lạnh buốt mà chính bàn tay già nua của người hoạ sĩ láng giềng nghèo, cô đơn trong đêm gió tuyết ấy chỉ cố tạo nên niềm hi vọng, khơi bùng lên ngọn lửa tình đời sắp lụi tàn nơi trái tim người đồng nghiệp trẻ không may b. Chiếc lá ấy được vẽ bằng trái tim của tình yêu thương con người. - Bác Bơ men vẽ chiếc lá ấy trong cái đêm rét khủng khiếp, khi chiếc lá cuối cùng đã rụng xuống. Do đắm mình trong mưa tuyết giá lạnh, bác Bơ men đã nhiễm bệnh sưng phổi và đã qua đời sau đó hai ngày. Chắc chắn khi dầm mình trong mưa tuyết để vẽ chiếc lá, bác không phải không cảm thấy giá buốt, không phải không cảm thấy nguy hiểm cho tính mạng mình. Nhưng lòng thương yêu Giôn xi, ý muốn dùng cây bút và bảng màu để cứu sống cô đã thúc đẩy bác vượt lên trên giá buốt, hiểm nguy để vẽ chiếc lá cuối cùng. - Thực ra chiếc lá cuối cùng đã rụng, còn lại mãi trên tường không phải là thần dược, nó là tác phẩm nghệ thuật được tạo nên bởi tình yêu thương con người, của sự hi sinh cao cả, quên mình tuyệt đối, vô tư tuyệt đối, là lòng yêu mến cuộc sống bỏng cháy của người hoạ sĩ già. Chiếc lá cuối cùng,, sáng tạo một đêm kết quả của tình yêu thương trĩu nặng dồn qua ngòi bút xuất thần của cụ Bơ men. « Chiếc lá » nối dài một cuộc đời, cướp đi một cuộc sống, để lại trong bao thế hệ người đọc niềm xót xa, thương kính người hoạ sĩ nghèo không may mắn, đồng thời lại vô cùng kinh ngạc về sức mạnh diệu kì của nghệ thuật- đem lại

48

cuộc sống và hi vọng cho con người. Dù phải đổi giá cực đắt, nhưng nghệ có nghệ sĩ chân chính nào không vui lòng đánh đổi tất cả để lấy một « chiếc lá cuối cùng ». Từ kiệt tác « chiếc lá cuối cùng, em hiểu thêm ý nghĩa nào của truyện « chiếc lá cuối cùng » ? -Nghệ thuật chân chính được tạo ra từ tình yêu thương con người. - Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật của tình yêu thương, vì sự sống của con người. Bức tranh của hoạ sĩ Bơ men là nghệ thuật chân chính vì nó hướng tới con người, vì con người. Nghệ thuật chân chính mang trong lòng nó chức năng sinh thành và tái tạo để phục vụ con người.Tình yêu thương là nguồn sức mạnh của ông già và tài năng nghệ thuật hướng ngòi bút của ông vào việc hoàn thành một tác phẩm mang thiên chức vĩ đại của nghệ thuật : nghệ thuật vị nhân sinh. Và người nghệ sĩ đã đem cả sinh mệnh của mình để trả lại màu xanh cho chiếc lá đã úa vàng, trả lại màu hồng cho đôi má của người thiếu nữ xanh xao trả lại niềm tin nghị lực cho những người yếu đuối. Chiếc lá cuối cùng trở thành niềm hi vọng của sự hồi sinh được xây dựng bằng tình người. III. Nghệ thuật đặc sắc - Nét độc đáo của nghệ thuật truyện này là hiện tượng đảo ngược tình huống hai lần khắc sâu trong một câu chuyện đã tạo nên một kết thúc bất ngờ hấp dẫn người đọc. Đọc truyện, lúc đầu người đọc cứ đinh ninh là cô Giôn xi nhất định sẽ chết vì bệnh viêm phổi. Nhưng tình huống đã đảo ngược, giàu kịch tính và kết thúc bất ngờ : Sau một đêm bão tuyết, chiếc lá cuối cùng đã rụng mà chẳng ai hay, bức vẽ « chiếc lá cuối cùng » vẫn bám chắc cây thường xuân, chính chiếc lá ấy, bức vẽ kì diệu ấy đã cứu sống Giôn xi. Cụ Bơ men, tác giả bức vẽ ấy đã chết ở tuổi 60, sau hai ngày bị viêm phổi nặng. Kết thúc này càng khắc sâu vẻ đẹp tâm hồn của nghệ sĩ già Bơ men và tô đậm giá trị tư tưởng và nghệ thuật của truyện. Câu hỏi 1. Cụ Bơ men qua đời tại bệnh viện vì tuổi già, sức yếu, cảm lạnh nặng do phải đứng vẽ trên bậc thang cao khấp khểnh giữa trời tuyết cóng cũng là một cách kết thúc một cuộc đời nghệ sĩ không mấy niềm vui. Tại sao O.Hen ri lại chọn cách kết thúc truyện đau đớn ấy mà không viết những dòng cuối nhẹ nhàng, êm ái hơn ? Chẳng hạn, cụ Bơ men cảm nặng phải vào viện, Giôn xi khỏi bệnh biết rõ sự thật, vô cùng cảm động, ân hận. Cô ngày đêm chăm sóc cụ Bơ men như chăm sóc người cha thân yêu. Và sức khoẻ của hoạ sĩ cũng dần dần bình phục. Một buổi sáng mùa xuân nắng ấm, hai người cùng nhau ra viện, trở về noi cũ ở. Họ cùng nhìn lên bức tường xám nham nhở : chiếc lá trường xuân vẫn xanh ngắt giữa đám dây leo loằng ngoằng. Không dễ dãi và nhạt nhẽo như ta nghĩ, nhà văn Mĩ đã gia tăng chất muối, cho gắt mặn hơn ấn tượng đậm chát trong lòng người đọc, cho độ căng của nghịch cảnh càng tăng, cho giọt nước mắt ân hận, biết ơn, nhớ tiếc càng chảy dài trên má Giôn xi, Xiu, và cả mỗi chúng ta. Người đọc cứ bị ám ảnh mãi về tính hai mặt của biểu tượng « chiếc lá cuối cùng ». Chiếc lá cứu người- đó là mặt phải. Chiếc lá lại giết người- đó là mặt trái. Làm sao không nghĩ, không chiêm nghiệm về triết lí nhân sinh cao cả mà nghiệt ngã do nhà văn gợi ra từ một chiếc lá trường xuân nhỏ bé tầm thường, do bàn tay một hoạ sĩ « thường thường bậc trung ». Cụ Bơ men đáng thương, đáng kính và cũng nhiều khi đáng ngại, khi uống rượu say- đã để trọn cuộc đời dài trong nghèo túng và thất bại bằng thành công loé sáng cuối cùng. Bức tranh « lá » thật sinh động đến nỗi con mắt chuyên môn tinh trẻ của Giôn xi nhìn ngắm hoài mà sao không thể phân biệt nổi là lá thật hay lá vẽ ? Hoạ sĩ già « tử vì nghệ », đã vui lòng đổi kiệt tác của mình bằng cả xác, hồn và tình thương người nồng nhiệt, nỗi đam mê nghề nghiệp đến quên cả tuổi tác, nỗi cay cú vì cả đời lao động nghệ thuật kiệt lực mà thành công chưa một lần mỉm cười.

49

Một điều hết sức cảm động là khi đứng giữa trời đêm gió lạnh, tay miệt mài đưa bút vẽ lên tường, cụ Bơ men chắc không hề nghĩ đến việc mình đang làm nghệ thuật, đang thực hiện công trình có thể lưu danh hậu thế. Đơn giản, cụ chỉ nghĩ đây là cách tốt nhất cụ có thể làm, để cứu Giôn xi. Bức tranh vẽ hoàn thành, hoạ sĩ già vào viện và thanh thản sang thế giới bên kia trong niềm vui Giôn xi khỏi bệnh, chẳng hề bận tâm đến « chiếc lá » kia có thành kiệt tác hay không ? 2.Câu hỏi dành cho học sinh giỏi : Có người nhận xét rằng chiếc bóng trên vách đã giết chết Vũ Nương nhưng chiếc lá trên tường đã cứu sống Giôn Xi. Em có đồng ý với ý kiến đó không? Hãy phát biểu ý kiến của em về vấn đề này. Gợi ý 1. Chuyện “người con gái Nam Xương” là một thành công nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Dữ. Tác giả có những sáng tạo trong cách kể, trong việc hư cấu thêm tình tiết và đưa thêm những yếu tố li kì vào câu chuyện. Trong đó “chiếc bóng trên tường” là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc. *. Cái bóng được tạo bởi tình yêu thương - Người vợ trẻ vì nhớ thương chồng, vì muốn nguôi ngoai cảm giác thiếu vắng hơi ấm của người chồng. - Người mẹ xót lòng cho con trẻ chưa một lần được thấy mặt cha nên đã nghĩ ra trò chơi chiếc bóng. * Chính chiếc bóng được tạo bởi tình yêu thương ấy đã trở thành cái bóng oan nghiệt cướp đi cuộc sống của VN - người phụ nữ giàu tình yêu thương. - Vì ghen tuông mù quáng mà TS đã bức tử VN vì chiếc bóng của chính mình * Nguyễn Dữ đã sáng tạo ra chiếc bóng một cách rất tài tình, chi tiết này chất chứa nỗi niềm phẫn uất của tác giả đối với chiến tranh phong kiến phi nghĩa, với sự độc đoán, đa nghi phi lý của chàng Trương. Chi tiết cái bóng còn phản ánh nỗi dầy vò đau xót trong lòng tác giả về hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến như VN phải trói buộc đời mình mòn mỏi vào những người dường như hình ảnh của những “chiếc bóng oan khiên”. d. Nghệ thuật xây dựng chi tiết tài tình : thật kết hợp với ảo. Bóng là ảo ảnh, giết chết một con người là sự thật cay đắng, phũ phàng. 2. Chiếc lá cuối cùng trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Mĩ O.Hen ri là một chiếc lá đặc biệt, là chi tiết cảm động, là biểu tượng nghệ thuật bất ngờ, độc đáo, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Chiếc lá ấy đã trở thành một niềm hi vọng của sự hồi sinh được xây dựng bằng tình người. (học sinh tham khảo phần II - Chiếc lá cuối cùng là một kiệt tác nghệ thuật) ========================

THƠ HỒ CHÍ MINH VÀ NHẬT KÝ TRONG TÙ I. Hoàn cảnh và lý do sáng tác Nhật ký trong tù 1. Hoàn cảnh - Tháng 2/1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước, lúc này tình hình trong nước và thế giới đã có những biến động dữ dội, hết sức khẩn trương, Nhật đã đi vào Đông Dương, phát xít Đức và Nhật đang làm mưa làm gió, trên thế giới, Liên Xô và các nước đồng minh đang có nhiều khó khăn

50

. vị cha 51 . phong thái ung dung. Lý do : Trang mở đầu của tập thơ. Người đã bị giam cầm.mà là bị mất tự do. khi vừa tới Túc Vinh (Quảng Tây. lãnh tụ cách mạng Nguyễn Ái Quốc bắt đầu lấy tên mới là Hồ Chí Minh. đi đường.Trong chuỗi ngày tù đầy gian khổ đó. tự chủ.Vì vậy ngày 13/8/1942. trằn trọc. đói rét. mong mỏi từng ngày. 2. Trong suốt thời gian bị tù đầy. bị đầy đoạ vô cùng khổ cực. Người chỉ làm thơ cho mình khi điều kiện thời gian cho phép. thường bị giải tới. Bác bị cách biệt với thế giới bên ngoài. nỗi đau khổ của người tù cách mạng đang mong đợi tự do cháy ruột. tới ngày 29/8. toàn bộ tâm trí. đáp thuyền. trước hết là của Trung Quốc) . Bác đã sáng tác rất nhiều và có nhiều bài hay.) Việt đoạn văn dùng phép nối và phép thế Qua năm bài thơ đã học và đọc thêm trong « NKTT ». Trung Quốc) thì HCM chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ. HCM đã viết tập thơ « Nhật kí trong tù » bằng chữ Hán bao gồm 133 bài. Nếu không yêu thích thơ thì vì sao để giải trí « cho khuây » trong những ngày tù đày. băn khoăn lo cho vận mệnh đất nước. lá cờ Tổ Quốc theo cả vào trong giấc mơ : « Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh ». Đến khi vừa chợp mắt.. Người đã nói rõ lý do sáng tác tập thơ : « Ngâm thơ ta vốn không ham Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây Ngày dài ngâm ngợi cho khuây Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do » . ta thấy HCM là một nhà yêu nước vĩ đại. thường là rất ít. xa rời chiến đấu. Một lần. trở về với phong trào cách mạng mà thôi.. . đa số theo thể thơ tứ tuyệt. thời gian quá dư thừa mà người lại không làm được cách mạng nên đành phải làm thơ để « đợi ngày tự do ». giải lui gần 30 nhà tù khắp tỉnh Quảng Tây hơn một năm trời.Nhiều đêm Người không ngủ. nỗi khổ lớn nhất của HCM không phải là gồm cùm. Bác đành phải làm thơ để tiêu thì giờ và vơi nỗi buồn. có ý nghĩa sâu sắc. đáp thuyền đi Ung Ninh) * Tâm hồn nghệ sĩ luôn nhạy cảm với vẻ đẹp bình dị mà thi vị củ thiên nhiên (ngẳm trăng. Vẻ đẹp tâm hồn của Bác qua những bài thơ trong « NKTT » đã học * Lòng yêu nước cháy bỏng. trằn trọc băn khoăn lo cho vận mệnh đất nước (Không ngủ được)..Nhưng vì Bác phải dành toàn bộ cuộc đời. Bác lại làm thơ ? .Suốt thời gian bị cầm tù. những đày đoạ về thể chất. Người chiến sĩ cách mạng ấy đêm ngày khao khát tự do tới cháy ruột. luôn làm chủ hoàn cảnh với tinh thần lạc quan chiến thắng (Ngắm trăng. đêm ngày khắc khoải.Sau nửa tháng đi bộ. Bác đã thấy lá cờ cách mạng. Bác là người có tâm hồn nghệ sĩ và năng khiếu thơ ca bẩm sinh. . Ốm nặng) * Chất thép phi thường của người chiến sĩ vĩ đại HCM. Người chủ trì Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 8 thành lập mặt trân Việt Minh ( Việt minh cần sự thừa nhận và viện trợ của các nước đồng mình. thời gian cho cách mạng nên Người không thể « ham » ngâm thơ và làm thơ.Tháng 5/1941. từ địa điểm cơ quan bí mật đóng ở vùng Pắc Bó tỉnh Cao Bằng đã lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tề và liên hệ với các lực lượng chống Nhật của người Việt Nam ở Trung Quốc. từng giờ sớm trở về với phong trào cách mạng trong nước. ============================ 3. Song lúc này ở trong tù. không thể làm chính trị được trong khi công việc cách mạng đang khẩn trương bề bộn.Tuy nhiên cần phải hiểu Bác là người rất yêu thơ và văn chương nghệ thuật nói chung.Song nhờ có năng khiếu làm thơ và tâm hồn thơ.

Rằm tháng giêng. trăng vẫn lấp lánh toả sáng trong những vần thơ của Bác. Bác hiện lên như một chiến sĩ cách mạng trong cốt cách của một nhà hiền triết phương Đông. với nét tiên cốt xuất thần của một con người đã ung dung chiếm lĩnh được những « đỉnh cao của cuộc sống ». người tù thi sĩ vẫn ung dung ngắm trăng qua song sắt nhà tù.Người chiến sĩ cách mạng ấy. Trong nhiều bài thơ như thế. trăng mới tràn đầy thơ Người . . như ánh sáng chiếu rọi từ tâm hồn lớn của người tù cách mạng. « Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non » là tầm vóc.. tinh tế.. Người lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta còn là một tấm gương về nghị lực và bản lĩnh cách mạng phi thường. Chẳng thế mà trong cuộc giải lao trên đường núi đầy gian lao. BH vẫn ung dung ngắm cảnh làng xóm ven sông và thuyền câu thênh thênh rẽ sóng trên sông nước.già dân tộc lâm bệnh nặng trong nhà tù Tưởng Giới Thạch.ngắm trăng trong nhà tù.. Người chiến sĩ gang thép ấy còn là một tâm hồn thi sĩ luôn nhạy cảm. giao cảm mênh mông với vầng trăng bè bạn len lỏi tìm đến thăm Người.Vị cha già dân tộc. Đối trăng. phần vì thời tiết Trung hoa nóng lạnh thất thường.. khát khao hoà hợp với thiên nhiên.Phép thế : HCM. Về đề tài ngắm trăng và phân tích hai câu đầu 52 .. Trong lòng thi nhân luôn toả sáng một vầng trăng rực rỡ. Có cả một chuỗi ngọc thơ trăng Hồ Chí Minh mà bài nào cũng long lanh sáng đẹp : Cảnh khuya. không chỉ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. ý chí.Gió khuya ngon giấc.... Chẳng thế mà ngay trong chốn ngục tù. Chẳng những người tù cách mạng ấy đã dũng cảm chịu đựng hoàn cảnh sống khác loài người « vô vàn cực khổ » trong nhà tù tàn bạo mà còn vượt hẳn lên hoàn cảnh ấy với một thái độ ung dung tàn bạo mà còn vượt hẳn lên hoàn cảnh ấy với một thái độ ung dung tự chủ. nhọc nhằn trắc trở : « núi cao rồi lại núi cao trập trùng ».Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền (Rằm tháng giêng) Chính vì thế. Tin thắng trận.. khi Bác là người tự do đang chèo lái con thuyền kháng chiến của dân tộc đi đến bến bờ vinh quang. Vọng nguyệt Ngục trung vô tửu diệc vô hoa Đối thử lương tiêu nại nhược hà Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thi gia 1. một nàng thơ trăng tri âm tri kỉ : Trăng vào cửa sổ đòi thơ Việc quân đang bận xin chờ hôm sau (Tin thắng trận) . phần chính vẫn là nỗi đau đất nước « nội thương đất việt cảnh lầm than ».Bác Hồ. Một lần. bên song trăng nhòm (Đối trăng) . trong đó trăng chiếm một địa vị xứng đáng trong tâm hồn Bác và thơ Bác. bị giải đi bằng thuyền chân treo ngược lên mui thuyền. ============================= BÀI 1 : NGẮM TRĂNG Phân tích tác phẩm Bác Hồ là người rất mực yêu thiên nhiên. « Ngắm trăng » được xem như là một bài thơ hay nói về cuộc ngắm trăng thật đặc biệt của Bác. trí tuệ lớn của người anh hùng CM trong chốn tù đầy gian khổ. đau đớn như treo cổ.Bác. bản lĩnh.. luôn biết yêu và rung động với mọi cái đẹp trong thiên nhiên và trong cuộc đời. mà ngay cả khi bị giam cầm đầy đoạ cực khổ trong nhà tù. Đó là cái « được » tuyệt vời của người chiến sĩ trên con đường CM gian nan mà không phải ai cũng có được. thể hiện một tinh thần lạc quan chiến thắng.

tức là « ngắm trăng ». hững hờ chứ không rung cảm mạnh mẽ như trong thơ chữ Hán. giữa thi nhân với bạn tâm tình : Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ Đây là một mối giao hoà thầm lặng mà thiết tha sâu lắng biết bao giữa Người và trăng. luôn biết yêu và rung động với mọi cái đẹp trong thiên nhiên và trong cuộc đời.nhất là trong hoàn cảnh thưởng trăng đặc biệt ở chốn ngục tù.Vọng nguyệt (hay « khán minh nguyệt. biết yêu thương. Khi chén rượu. trong lành đêm nay biết làm thế nào ? Tác giả dịch thành « cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ » là đã bỏ đi cái xốn xang bối rối rất nghệ sĩ của Bác được thể hiện ở lời tự hỏi « nại nhược hà » ( biết làm thế nào). là một thi đề phổ biến trong thơ xưa. Và chính tấm lòng của họ đã chiến thắng cái 53 . có hoa được ? Người thừa biết điều ấy nhưng vẫn nhắc đến trong câu thơ với hai lần nhấn mạnh chữ « không » như một lời tạ lỗi với trăng. Ở đây.. vẫn thèm được tận hưởng cảnh trăng đẹp. đối nguyệt »). Đây là một tâm hồn nghệ sĩ đích thực nên mới bối rối vì « trong tù không rượu cũng không hoa » để đón trăng bởi Người rất yêu trăng. Nhưng vì sao câu thơ thứ hai lại có một chút bối rối đọng lại trong ba chữ « nại nhược hà » của nguyên tác ? « Nại nhược hà » là biết làm thế nào ?Cả câu thơ « đối thử lương tiêu nại nhược hà ?» có nghĩa là trước cảnh đẹp đẽ. Đó là cái bối rối. sau này trong hoàn cảnh tự do. Nhưng câu thơ không mang ý nghĩa phê phán chế độ nhà tù mà chủ yếu để nói về tâm trạng của Bác. biết xúc cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên thì trước « cảnh đẹp đêm trăng trong tù mới có niềm xúc động ấy. Bậc tao nhân mặc khách thưởng trăng đó đang là một tù nhân bị đầy đoạ vô cùng cực khổ. lấy đâu ra rượu và hoa để thưởng trăng. như thế cuộc thưởng trăng mới mười phần mĩ mãn. bất chấp cái gian khổ của đời sống ngục tù để giữ nguyên vẹn một tâm hồn nhạy cảm. lại thả hồn trong ánh « trăng lồng cổ thụ. bên cạnh cái hiện thực trơ trụi của nhà tù thì niềm băn khoăn nghệ sĩ ấy càng bộc lộ một bản lĩnh vững vàng của con người. người nghệ sĩ ấy. Hồ Chí Minh ngắm trăng trong một hoàn cảnh đặc biệt : trong nhà tù ! Người ngắm trăng ở đây đang trong cảnh ngục tù. khi cuộc cờ Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên ( Nguyễn Du – TK) Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén (Nguyễn Trãi) Nói chung. tâm hồn vẫn tự do ung dung. tinh tế. thư thái. thiếu thốn mọi bề. còn coi trăng như người bạn tri âm tri kỉ ? Đón một người bạn như thế mà không có rưọu và hoa theo phong cách tao nhã của thi nhân muôn đời Phương Đông thì coi sao tiện ? Trong tù. Việc nhớ đến rượu và hoa trong cảnh ngục tù khắc nghiệt đã cho thấy người tù ấy không hề vướng bận bởi gánh nặng về vật chất. với người bạn tâm tình mà Người rất yêu quý và trân trọng. thú vị. và hơn thế nữa. băn khoăn rất nghệ sĩ của nhà thơ Hồ Chí Minh mà không phải ai cũng có được như Bác. Sau cái phút băn khoăn bối rối ban đầu là một mối giao hoà tuyệt đẹp giữa người với trăng. chỉ có tấm lòng của đôi bạn tâm giao thu vào một chữ « ngắm » : họ nhìn nhau đăm đắm qua chấn song sắt nhà tù. Điều kiện sinh hoạt của nhà tù tàn bạo dã man mà tù nhân phải sống cuộc sống « khác loài người ». tâm hồn thoải mái. Rượu. Dịch là « khó hững hờ » thì thấy nhân vật trữ tình có vẻ bình thản. mới có nỗi băn khoăn ấy. làm sao có rưọu. người ta chỉ ngắm trăng trong hoàn cảnh thảnh thơi. Thi nhân xưa gặp cảnh trăng đẹp thường đem rượu ra uống trước hoa để thưởng trăng . Bởi chỉ có tâm hồn nghệ sĩ. Người khao khát được thưởng trăng một cách trọn vẹn và lấy làm tiếc không có rượu và hoa. bóng lồng hoa » hay đắm mình vào cảnh « khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền » Ở bài thơ này. Trước cảnh đêm trăng đẹp. Cuộc sống đó làm sao phù hợp với việc « thưởng nguyêt". Và ta hiểu. 2. hoa không có.

cả cái song sắt nhà tù kia như biến mất. thấy ở người tù một nhà thơ. gian khổ. Trăng trở thành người bạn tri âm tri kỉ của người tù khiến cho phút giao hoà thầm lặng ấy thêm thấm thía. Bài thơ là sự minh hoạ sinh động cho hình tượng HCM. hướng tới cái đẹp.nguyệt . Không chỉ Người hướng tới cái đẹp của trăng mà mà trăng cũng phát hiện ra cái đẹp ở cõi Người. có ánh mắt. « ngắm » chưa cô đúc và nhất là chữ « nhòm » e chưa được nhã. giam cầm. giao hoà với vầng trăng tự do đang toả mộng giữa trời và vầng trăng cũng vượt qua song sắt nhà tù để tìm đến ngắm nhà thơ trong tù. chỉ có nhà thơ và vầng trăng tri kỉ. khát khao tự do. Đằng sau những câu thơ rất thơ đó lại là một tinh thần thép mà biểu hiện ở đây là sự tự do nội tại.. vừa có màu sắc cổ điển (thể hiện ở đề tài « vọng nguyệt ». không còn tù nhân.người khách tiên trong ngục. mà còn cho thấy một cuộc vượt ngục về tinh thần của người tù cách mạng HCM. muỗi rệp. giao hoà cùng nhau. Cấu trúc đối của hai câu thơ chữ Hán làm nổi bật tình cảm song phương giữa người và trăng. để tìm đến đối diện đàm tâm với vầng trăng tri kỉ. Hình thức và cấu trúc câu thơ chữ Hán đã thể hiện mối giao hoà đặc biệt giữa người và trăng. Ngoài ra 2 từ « nhân ». giữa là song sắt nhà tù nổi lên thô bạo như chướng ngại vật ngăn cách. giảm đi phần nào sức truyền cảm. đặc biệt nhất là hình ảnh của chủ thể trữ tình ung dung giao cảm đặc 54 . một nhân cách lớn vừa rất nghệ sĩ. Và trong chốn ngục tù. minh nguyệt>< thi gia) . Kết cấu đó tạo một hiệu quả nghệ thuật riêng. Bởi thế. phong thái ung dung vượt lên ngục tù tàn bạo. Hoàn cảnh là trói buộc. nhưng sức sống của con người là vô hạn. yêu trăng của Bác. Phút giao cảm ấy khiến mọi đau thương. ngắm nhau say đắm. nhẹ nhõm. Người tù cách mạng ấy dường như không chút bận tâm về những cùm xích. dưới theo luật thơ Đường (nhân hướng>< nguyệt tòng . Hai câu thơ của Bác cho thấy trăng yêu người cũng ngang với người yêu trăng. tăm tối của cuộc sống ngục tù. ghẻ lở. cấu trúc đăng đối trong hai câu thơ sau . Song người đã thả hồn ra ngoài cửa sắt để ngắm trăng sáng. vừa cho thấy sức mạnh tinh thần to lớn của người chiến sĩ vĩ đại đó. ở thi liệu « rượu. sự chiến thắng ấy được thể hiện tài tình trong nghệ thuật đối rất sáng tạo của câu thơ chữ Hán : Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thi gia Ở đây có đối giữa hai câu trên... là một minh chứng sinh động cho câu thơ Bác viết ở ngoài bìa tập NNKTTT: Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao. Tấm lòng ấy. có gương mặt. trăng ». nguyệt . Hai câu thơ dịch làm mất đi cấu trúc đó.thi gia) khiến cho trăng và người quấn quýt với nhau trong một mối tâm giao tri kỉ.song sắt nhà tù thô bạo và ghê tởm kia. Cả trăng và người đều chủ động tìm đến. Hình thức và cấu trúc câu thơ đã hiện rõ cảnh ngắm trăng trong tù . của chế độ nhà tù khủng khiếp. lại đối ở chữ đầu và cuối của mỗi câu thơ ( nhân. đói rét. bất chấp song sắt thô bạo của nhà tù để tâm hồn bay bổng. thăng hoa :tù nhân thoắt biến thi nhân. Nghệ thuật nhân hoá đã khiến trăng trở nên như con người. « ngắm trăng » không chỉ là bài thơ nói lên lòng yêu thiên nhiên. hai đầu là Người và Trăng. *Tóm lại : chỉ là một bài thơ tứ tuyệt giản dị nhưng « Ngắm trăng » đã cho thấy vẻ đẹp của một tâm hồn. Người hướng đến ánh trăng sáng phải chăng cũng là hướng tới tự do như nỗi khát khao cháy bỏng của Người : Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu Bài thơ vừa thể hiện tình yêu thiên nhiên đặc biệt sâu sắc mạnh mẽ. hoa. Bài thơ đã cho thấy nét đặc sắc của thơ trữ tình HCM. vừa có đủ bản lĩnh phi thường của người chiến sĩ vĩ đại. Không còn tù ngục. một biểu hiện nổi bật của tâm hồn nghệ sĩ ở Bác Hồ. có linh hồn. tâm hồn con người trở nên thanh thản.

Trăng ôm trùm cảnh vật khiến cảnh rừng trở nên lung linh. trăng cũng như đi cùng : « Sao đưa thuyền chạy. Có thể nói trong thơ Bác.. Tình thần của bài thơ. 55 . ấm áp. Hoàn cảnh sáng tác Bài thơ được viết ra trong một hoàn cảnh đặc biệt : tháng 2/1941. Trăng thân mật với Người và « trăng vào cửa sổ đòi thơ. là người bạn tâm tình của Bác.trăng ngân đầy thuyền (Rằm tháng giêng) Trăng đã là cuộc sống. Đằng sau niềm vui đó là vẻ đẹp của một tâm hồn bình dị mà thanh cao hồn nhiên mà đầy bản lĩnh của Bác Hồ 3. là hạnh phúc. có thể thấy bài tứ tuyệt này gồm hai phần : . tối vào hang.biệt với thiên nhiên) vừa mang hồn của thời đại (một hồn thơ lạc quan.. sau 30 năm bôn ba hoạt động cách mạng ở nước ngoài tìm đường giải phóng dân tộc. làm cho cảm nghĩ của con người thêm thâm trầm. một nụ cười hóm hỉnh. hồn nhiên.. Cảm nhận chung về bài thơ Bài thơ với bốn câu. gắn bó với Bác. Trăng đã đi vào thơ Bác ở nhiều bài thơ thuộc những giai đoạn khác nhau. tươi vui. lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước.. Ánh trăng làm cho cái đẹp của cảnh vật trở nên êm đềm sâu sắc. =================== Viết đoạn : Nhận xét về ánh trăng trong thơ Bác Hồ Trong thơ Bác. Người sống và làm việc trong những điều kiện hết sức gian khổ ở hang Pắc Bó Cao Bằng sát biên giới Việt Trung. có giọng đùa vui hóm hỉnh. qua phần kể và tả cũng đã phần nào bộc lộ quan niệm sông của tác giả. trăng đã luôn là bạn. Trăng đầy ắp khoang thuyền theo Bác trở về sau khi đã bàn bạc việc quân : Rằm xuân lồng lộng trăng soi . người bạn tri âm tri kỉ của Bác : « Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ » Ở những bài thơ viết trong nước. từ những bài thơ viết trong nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch... Bác đã làm thơ về những ngày gian khổ đó. đọc lên ta có cảm tưởng như Bác Hồ sống thật ung dung.. ánh trăng càng thân thiết. khí chất của người viết... a. dấu ấn của tác giả được cô đúc và toả sáng trong câu thơ này. Việc quân đang bận xin chờ hôm sau » (Tin thắng trận). để nhà thơ có thể tổng kết lại như một lời khẳng định đầy tự hào : Cuộc đời cách mạng thật là sang. Phân tích bài thơ Theo cấu trúc. Thú lâm tuyền : .Ba câu đầu là phần tả cảnh và kể sự việc ở Pắc Bó . Nhưng với một tinh thần lạc quan cách mạng. quấn quýt : « Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa » (Cảnh khuya). vừa mang tinh thần thép vừa giản dị. là thanh bình. đã toát lên một cảm giác vui thích.. thoải mái. Bài 2 : TỨC CẢNH PÁC BÓ 1. thuyền chờ trăng theo ». ánh trăng luôn được trìu mến và trăng cũng góp phần làm nên vẻ đẹp của thơ Người.Câu mở đầu bài thơ có giọng điệu phơi phới. trong sáng. là ước mơ... hoà hợp nhịp nhàng với điệu sống của núi rừng : Sáng ra bờ suối. luôn hướng về phía cuộc sống.Câu cuối nói lên cảm nghĩ về cuộc sống ở Pắc Bó đồng thời cũng là quan niệm sống của người chiến sĩ cách mạng trong những ngày đầu hết sức gian khổ ? -Thực ra. ở ba câu đầu. hoà hợp.. ánh trăng luôn luôn tràn đầy. 2. là niềm an ủi.. vừa hàm súc.. thoải mái. huyền ảo. Thuyền đi.

Hiểu như vậy. với kết cấu chặt chẽ của bài thơ hơn. một đạo sĩ. Thú lâm tuyền là một tình cảm cao khiết. toát lên cảm giác nhip nhàng. Cách hiểu ấy không sai về mặt ngữ pháp nhưng e không thích hợp lắm với giọng thơ đùa vui. Thì ra trong con người chiến sĩ cách mạng vĩ đại ấy vẫn có một « khách lâm tuyền ». trẻ em chăn trâu không dính líu gì với vòng danh lợi ». cái sự thật đầy gian khổ. câu thơ như một nụ cười hồn nhiên vượt lên trên gian khổ khó khăn. rau măng) thì lúc nào cũng có sẵn. như một ẩn sĩ. Đó là thú lâm tuyền của Bác. Cảm hứng vui với cái nghèo cũng để lại cả một mạch sáng tác trong văn thơ truyền thống : Nguyễn Bỉnh Khiêm viết : Thu ăn măng trúc. ở Việt Bắc. giống như « cháo bẹ rau măng » ở Pắc Bó vậy. song lại trở thành cái thực giàu có. in đậm bản sắc HCM như Bác đã trả lời các nhà báo tháng 1 năm 1946 : « Tôi chỉ có một sự ham muốn. cứ « tha hồ ».Câu thứ hai là một nét cười đùa. hạ tắm ao Cuộc sống của Bác chẳng khác gì với cuộc sống đạm bạc mà thanh cao giữa thiên nhiên cùa người xưa đó. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ. nhàn nhã. đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc. hạc là người quen Vui thú lâm tuyền cũng là vui với cái nghèo. . ai cũng được học hành. để câu cá.. nơi có non xanh nước biếc. Mà không phải ai cũng có được nụ cười ấy trong hoàn cảnh ấy. có truyền thống từ xa xưa. Có lẽ nên hiểu là : Thức ăn ( cháo bẹ.Câu thơ ngắt nhịp ở giữa tạo thành hai vế sóng đôi. « rượu ngọt chè tươi » cũng « vẫn sẵn sàng » muồn gì có nấy. tự chù. trồng rau. sang trọng. câu thơ thứ ba nói về làm việc. tối vào. sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi. khiến cho Người mang phong thái một nhà hiền triết phương Đông. không những thế còn bộc lộ niềm vui sâu kín : được hoà mình với thiên nhiên phóng khoáng trong một phong thái ung dung. cả 3 câu đều là thuật tả sinh hoạt vật chất. dân ta được hoàn toàn tự do. Như vậy. thoải mái của cả bài thơ. Nụ cười của Bác Hồ dường như đã xua tan tất cả những gì là gian khỏ của cuộc sống cách mạng. cho biết thức ăn của con người sống ở suối. với quạt gió đèn trăng : Nghêu ngao vui thú yên hà Mai là bạn cũ. Sự hoà hợp gần gũi với thiên nhiên trong một cuộc sống giản dị. nề nếp : sáng ra. Những bậc hiền nhân quân tử.. sx phù hợp với mạch thơ. khi gặp cuộc đời nhiễu nhương lầm bụi đã từ bỏ công danh. ở hang ấy thật đầy đủ. chỉ đến câu kết mới phát biểu cảm xúc. ham muốn tột độ là làm sao cho nước ta được độc lập. đông ăn giá Xuân tắm hồ sen. . như Bác đã tự bộc lộ và khẳng định trong nhiều bài thơ khác của Người. tìm về cuộc sống ẩn dật chốn núi rừng. ý nghĩ. thanh đạm là một nét đặc thù làm nên thế giới tâm hồn phong phú của Bác.Câu thơ thứ nhất nói về ở. . bạn với cây cỏ chim muông. « mặc sức » hưởng thụ. Có người hiểu là : dù chỉ có cháo bẹ rau măng nhưng tinh thần cách mạng vẫn sẵn sàng. đầy đủ đến dư thừa : Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng.Nhưng sự thực. « non xanh nước biết » . Hai câu thơ này còn làm gợi nhớ cảm xúc thơ của bài « Cảnh rừng Việt Bắc » (1947) của Bác cũng diễn tả niềm vui thích tới sảng khoái trong cảnh sống của Người ở núi rừng : Khách đến thì mời ngô nếp nướng Săn về thường chén thịt rừng quay Non xanh nước biếc tha hồ dạo Rượu ngọt chè tươi mặc sức say Với Bác Hồ. 56 .câu thơ thứ hai nói về ăn. những câu thơ trên đây kể về cảnh sống của Bác Hồ ở PBó là hoàn toàn nói đúng sự thật.

một cái thú riêng. Cuộc đời cách mạng thật là sang Câu kết như một lời tổng kết hóm hỉnh. cảm thấy « nghèo mà sang ». không phải là ẩn sĩ mà là một chiến sĩ. dịch cuốn «Lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô » làm tài liệu huấn luyện cán bộ cách mạng Việt Nam. thật là vinh quang. Khác ở chỗ người xưa lui về chốn lâm tuyền là để xa lánh cõi đời nhơ bẩn. ở niềm vui thú sống hòa hợp giữa thiên nhiên. Cho nên giữa chốn non xanh nước biếc ấy. là một thái độ sống thanh cao. nhen nhóm cho phong trào cách mạng bùng lên từ cái hang đầu nguồn Pắc Bó này. là « phong lưu rất mực ». nhưng chưa ai tự nhận « cuộc đời cách mạng thật là sang » như Bác. Con người đã vượt lên hoàn cảnh. là « tri túc ». một tầm tư tưởng cao.. hóm hỉnh 57 . tin tưởng vào mình. Nếu hình ảnh « bàn đá chông chênh » của thiên nhiên gợi lên cái thế chưa ổn định. Giống ở phong thái ung dung. lại diễn tả một phong thái vượt lên trên vật chất tầm thường vươn tới một đời sống tinh thần cao cả. phải đánh giá rất cao cuộc sống ấy. một nhân cách đáng trọng. ở sự vượt lên coi thường gian khổ. lớn lao của câu thơ lại được viết ra một cách vui tươi. giàu có. thật là cao đẹp. b. cho nhân dân. bởi nhà hiền triết ấy là một chiến sĩ cách mạng đang lo toan. Và cái bàn đá thiên tạo của Bác gợi nhớ đến phiến đá Côn Sơn của Nguyễn Trãi : Côn Sơn có đá rêu phong Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm Nhưng giống mà lại khác các bậc tiền nhân xưa thì đó mới là Bác Hồ. Và ba chữ « dịch sử Đảng » đã ngời sáng một hồn thơ chiến sĩ của người cộng sản HCM gợi nhớ đến 3 chữ « đàm quân sự » trong câu « yên ba thâm sứ đàm quân sự » Người viết 7 năm sau trong một đêm « nguyên tiêu » trăng sáng đầy trời giữa nơi khói súng. chịu đựng gian khổ thiếu thốn vô ngần. ở tư cacsh tiên phong đạo cốt. Ba câu trên đã đã được tổng kết lại và nâng cao lên thành một nhân sinh quan mới in đậm bản sắc HCM : cuộc đời CM. là sự quay lưng với hiện thực. cho nên dù có ở núi rừng nhưng vẫn là đang dấn thân vào hiện thực xã hội. còn Bác là người cách mạng. phải tự hào mãnh liệt về cuộc sống ấy. đậm phong vị truyền thống. dù có sống trong thú lâm tuyền thì vẫn làm việc cho cách mạng. Đó không phải là một ẩn sĩ. nhưng khi con người đã sống vì một lý tưởng cao đẹp thì cuộc đời ấy vẫn mang một phong vị đặc biệt.. Điều này không phải ai cũng cảm nhận và ý thức được như Bác. Viết ra được một câu thơ như vậy phải là của một cách nhìn mới mẻ. tự hào với cái nghèo. người lại dịch sử Đảng. vững vàng cảu cách mạng trong những ngày đầu trứng nước thì cụm từ « dịch sử Đảng » rắn đúc lại đã làm cho cái bàn đá kia không còn chông chênh nữa. dù sao cũng mang ít nhiều khí vị thoát li . về tinh thần. uống rượu làm tho nhưng ở đây nhà thơ hiền triết HCM lại ngồi dịch sử Đảng. Thật là kì diệu bởi nó đem đến một quan niệm sống thật mới mẻ và cao đẹp của người cộng sản HM. Tự nhận như vậy là phải yêu cuộc sống ấy lắm. Người ta có thể nói cuộc đời cách mạng thật là vẻ vang.Nguyễn Trãi viết trong « Côn Sơn ca » : Nửa đời vùi mãi trong lâm đục Muôn chung chín vạc để làm gì ? Nước lã cơm rau hãy tri túc Nghèo mà lại cảm thấy là « hào ». Nhưng cái sâu sắc. đồng thời lại là một lời khẳng định đầy tự hào về cuộc sống cách mạng của mình. Đây là câu thơ nói rõ sự khác nhau cơ bản giữa nhà cách mạng HCM với người xưa : « Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng » Cứ ngỡ cái bàn đá thiên tạo bên bờ suối ấy phải là nơi các tao nhân mặc khách ngồi đánh cờ. Do đó mà có cảm giác rất thoả mãn. một giá trị mà những cuộc đời khác không thể có được : Thật là Sang ! Từ Sang vừa có nghĩa là sang trọng. Vì chính cái vị đạm bạc của cảnh nghèo ấy lại là biểu hiện cúa giàu sang về đạo lý. Nhiều người đã bình cái hay của câu thơ trong sự tương phản ý giữa « bàn đá chông chênh » và « dịch sử Đảng ». cho đất nước. một cuộc đời phải sống trong bí mật. thể hiện bản lĩnh tự chủ.

========================== Bài 3 TẬP VIẾT LỜI BÌNH CHO CÂU THƠ CUỐI CỦA BÀI THƠ : « KHÔNG NGỦ ĐƯỢC » Nhớ nước mà không ngủ được cũng là điều thường thấy ở các bậc vĩ nhân trong lịch sử. Bởi lẽ. còn Lê Lợi và Nguyễn Trãi thì : Những trằn trọc trong cơn mộng mị Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi. hay nói đúng hơn. Bài « tức cảnh Pắc Bó » là điển hình của hồn thơ. Câu thơ đã nâng bài thơ dậy. Và hình ảnh « sao vàng năm cánh » đã đến ngay trong giấc mơ khi Người vừa chợp mắt. Bác là người hơn ai hết hiểu gian khổ. Bác Hồ cũng có nhiều đêm không ngủ như thế. đau đớn nhớ Nước của Bác trong những ngày « Người đi tìm hình của nước » : Đêm mơ nước ngày thấy hình của Nước Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà An một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ Quốc Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa Và ta hiểu ý thơ này của ông đã được khơi nguồn từ hình ảnh « sao vàng năm cánh mộng hồn quanh » trong bài « không ngủ được » của Bác. VÀ chữ SANG kết thúc bài thơ như một nhãn tự. ruột đau như cắt.thi sĩ . nghèo là điều kiện vật chất hôm nay. còn sang chính là xu thế tất thắng của cách mạng ngày mai.chiến sĩ « Cánh bốn. vừa đậm đà màu sắc cổ điển. chú ý nhất. Câu thơ như một tiếng cười vui hồn nhiên của người chiến sĩ trước cuộc sống gian truân. trong cuộc đời cách mạng gian truân. cũng như Hoàng Trung Thông khi đọc thơ Bác đã cảm nhận lòng yêu nước cao đẹp... nửa đêm vỗ gối.thì đó mới là BHồ của chúng ta. Trần Hưng Đạo cũng đã từng « tới bữa quên ăn . nước mắt đầm đìa ». Bởi đó chính là bản chất con người Bác. còn sang giầu là tương lai . máu thịt và tâm hồn Bác mà hoá thành thơ.. Có nghĩa là hình ảnh Tổ Quốc luôn da diết và thường trực trong máu thịt và tâm hồn Người. (Bình Ngô đại cáo) Tiếp nối truyền thống yêu nước của cha ông. canh năm vừa chợp mắt Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh » Giấc mơ là mộng nhưng cũng là thực của nỗi lòng Bác lúc bấy giờ. Nhưng có phải những đêm không ngủ của nhà cách mạng HM vẫn có những nét mới. dù là ở bão tuyết Luân Đôn hay tù ngục phương Đông. thiếu thốn. Bởi theo tâm lý những hình ảnh hiện lên trong giấc mơ của con người bao giờ cũng là những điều mà họ quan tâm. những điều ám ảnh nhất đối với họ trong lúc tỉnh. Có phải vì thế mà Chế Lan Viên đã thấu hiểu nỗi niềm thiết tha. phong cách thơ đó.. nghèo nàn là hiện tại. * Thơ Bác Hồ vừa rất mực giản dị.( Hịch tướng sĩ). từng câu trên đã đẹp. Cái gì đã hiện lên trong giấc mơ ở chốn ngục tù của Bác ? Đó là « sao vàng năm cánh ». vất vả mà không cần phải suy nghĩ gì cả. ngân vang mãi một lạc quan cách mạng trong một quan niệm sống cao cả tuyệt vời của Bác. gợi lên bao ý nghĩa sâu xa . đến câu cuối này thì bài thơ toả sáng. những điểm toả sáng hơn ? Điều này được thể hiện ở sự vận động của mạch thơ từ « thức » sang « ngủ » đến « mơ » để có một hình ảnh lung linh rực rỡ khép lại bài thơ trong một giấc mơ kì diệu của người tù. vất vả của Người. biểu tượng cho lá cớ tổ quốc và cách mạng. vừa thể hiện đầy đủ tinh thần thời đại. song lại rất hàm súc. tuyệt vời của lãnh tụ : 58 .

Khổ 1 : Niềm vui sướng tràn ngập tâm hồn nhà thơ khi bắt gặp lí tưởng cộng sản .Phân tích 1. đến sự chuyển đổi có gì như đột ngột ở trang thái « vừa chợp mắt » trong câu thứ ba. ======================== THƠ TỐ HỮU BÀI 1 : TỪ ẤY I. một chí khí lạc quan bay bổng khi hồn thi nhân vượt khỏi nhà tù bay về quê hương. đến với tương lai tươi đẹp của Tổ quốc. đó là lúc ông tiếp nhận lí tưởng cộng sản và lí tưởng ấy đã bừng sáng trong ông. những sự đổi thay kì diệu để lại dấu ấn suốt đời. Niềm tin ấy phải mạnh mẽ đến thế nào thì mới có một giấc mộng về Tổ quốc đẹp đến thế. tích tục. Nỗi nhớ nước canh cánh trong một niềm tin phơi phới ở chốn ngục tù đã bộc lộ nét vĩ đại của một tâm hồn lớn.. nặng nề ở trạng thái thao thức trong hai câu đầu.Giới thiệu Đời CM và đời thơ của Tố Hữu được đánh dấu bằng bài thơ « Từ ấy » viết vào tháng 7 năm 1938. lượn quanh ánh sao vàng. sắc màu.nó chính là sự vượt ngục tinh thần của nhà thơ để vươn ra ánh sáng. Sự bừng 59 . Với Tố Hữu. bởi tất cả đều bừng sáng trong tâm hồn thi sĩ.. Đó là phút giây tình yêu chợt đến. để có lời tâm nguyện chân thành sống theo lí tưởng mới. Đó là lúc người ta đổi thay toàn bộ cách cảm nhận về cuộc đời. hương vị. biểu tượng cho lá cờ Tổ Quốc và cách mạng. Câu thơ nâng cả bài thơ dậy trong một vầng sáng rực rỡ như một niềm tin mãnh liệt.Tố Hữu đã trở thành một chiến sĩ cách mạng và bước vào đời thơ cách mạng. . cũng ngây ngất say mê. Có đủ âm thanh. Đó là cái thời điểm nhà thơ tiếp nhận một lý tưởng sống. II. Thơ tứ tuyệt thường kết tinh và toả sáng ở câu cuối.Bài thơ là niềm vui sướng tràn ngập tâm hồn tác giả khi bắt gặp lí tưởng cộng sản và lời tâm niệm chân thành của người thanh niên mới giác ngộ lí tưởng cộng sản nguyện gắn bó với quần chúng lao khổ. Đây là sự bừng sáng của chân lí cách mạng đối với một con người. rực rỡ : « Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh ». của dân tộc trong một dự cảm đầy niềm tin của mình. một đời người. nắng hạ bừng sáng. một quan niệm sống.. Đó là chất lãng mạn vươn lên trên hiện thực đen tối của nhà tù.. vườn cây ngát hương và tiếng chim rộn rã.Thân ở trong tù hồn ở nước Bay quanh hồn mộng ánh vàng sao Bởi đấy không chỉ là nỗi nhớ nước da diết và thường trực của người con yêu nước số một của dân tộc mà còn là « nối nhớ nước trong một niềm tin phơi phới » của người chiến sĩ cách mạng lão thành đã nhìn thấy tương lai tươi sáng của nước nhà ngay trong bóng tối của chốn ngục tù.. Đọc bốn câu thơ mà tưởng như tâm hồn Tố Hữu đang bừng sáng lên mạnh mẽ trong cái giây phút theieng liêng giác ngộ lí tưởng cách mạng. mà cái gì cũng đẹp.Trong đời mỗi người đều có thể có những phút giây bừng sáng. là thời điểm giác ngộ một lí tưởng nhân sinh. rọi sáng cho ông suốt đời : Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim..lí tưởng cách mạng. mới sáng tạo ra một hình ảnh đầy chất thơ như vậy. . để rồi bột phát và toả sáng mạnh mẽ ở trạng thái mộng trong câu cuối. Mặt trời chói chang.. từ dồn nén. Cho nên hình ảnh Tổ Quốc hiện lên trong giấc mơ mới thật lung linh. cái lí tưởng đã thay đổi toàn bộ cuộc đời của nhà thơ.Bài thơ tiêu biểu cho bút pháp thơ giầu chất lãng mạn thuở ban đầu của Tố Hữu. Cả bài thơ là một cuộc đối thoại nội tâm sâu lắng vận động qua các cung bậc cảm xúc. một lẽ sống. là lúc chân lí khoa học loé sáng.

mộc mạc biết bao. « vạn kiếp ». náo nức. ngỡ như không hề có chút vướng bận. lại tươi vui. Hoa lá. chưa tìm được hướng đi cho mình. yếu đuối nữa. có « bừng ». Nó được biểu thị bằng hai hình ảnh « mặt trời chân lí ». Nhà thơ đã cảm nhận lí tưởng với trái tim ngây ngất của tình yêu. tiếng chim là trạng thái đầy sinh khí của thiên nhiên trong một khu vườn. sáng mãi ». với quần chúng lao khổ như một lẽ tự nhiên : Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời Nhà thơ đến với « mọi người ». Nhưng « mặt trời chân lí » là hình ảnh đầu tiên Tố Hữu đã dùng trong bài thơ « Từ ấy » để ghi lại cái giây phút bừng sáng của lí tưởng trong tâm hồn ông. 2. nhưng nhà thơ nghiêng về những kiếp người bất hạnh : những « kiếp phôi pha ». 60 . Tố Hữu. Hai khổ cuối : Lời tâm nguyện chân thành của người thanh niên mới giác ngộ lí tưởng. « với bao hồn khổ ». rộn ràng của một tâm hồn đang vui sướng tràn ngập khi bắt gặp lí tưởng cách mạng : Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim..sáng ấy vừa đột ngột vừa chói chang. Viễn Phương. Có « mặt trời chân lí » chói chang nhưng lại có « vườn hoa lá » xanh mát . Câu thơ giống như lời nói thường ngày. đặc biệt trong thuở ban đầu với bút pháp thơ giàu chất lãng mạn. Dùng hình ảnh mặt trời để biểu trưng cho cách mạng thật không gì đúng và đẹp bằng. Và ông đã tự hào nói lên điều đó với tình cảm thiết tha của mình : Tôi đã là con của vạn nhà Là em của vạn kiếp phôi pha Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm cù bất cù bơ. nên họ thường bơ vơ. Lí tưởng đã hoà vào cuộc sống. bi quan giữa cuộc đời. mà cũng đằm thắm tính giai cấp biết mấy. với « trăm nơi ».... đều dùng mặt trời để biểu trưng cho cách mạng trong những bài thơ sau này. Lí tưởng như ngọn lửa thắp sáng tâm hồn nhà thơ. nó thể hiện tâm trạng say sưa. hồn nhà thơ đã nằm trong hồn những người lao khổ để « gần gũi nhau thêm mạnh khối đời ». tạo thành một khối đời liên kết với nhau mạnh mẽ. « rộn ». Câu thơ hay nhất. « chói ». còn chân lí của chủ nghĩa Mác Lê Nin thì như mặt trời. Vẫn là gắn bó với gia đình nhân loại rộng lớn : « vạn nhà ». Đó là điểm khác biệt với các thi nhân trong « thơ mới » lúc bấy giờ. đây cũng là một đặc điểm của hồn thơ Tố Hữu. Bởi lòng nhà thơ đã thuộc về lòng quần chúng cách mạng. khiến tâm hồn ông thêm rộng mở.. Bốn câu thơ tuôn chảy từ một trái tim tự nguyện chân thành. Tố Hữu tự nguyện đến với cuộc sống cách mạng. « Mặt trời chân lí » ấy đã « chói qua tim » (chứ không phải chói trong tim) bởi mặt trời như chiếu xuyên qua tim làm tâm hồn nhà thơ bừng sáng. « vườn hoa lá » hài hoà thống nhất với nhau và kết tụ lại trong bốn từ làm bừng sáng cả khổ thơ : « bừng ». riêng lẻ. lạc lõng. Lê Anh Xuân. « chói » của ánh sáng lí tưởng thì lại có « đậm » mùi hương và « rộn » tiếng chim của cuộc sống cách mạng. « đậm ».. « vạn đầu em nhỏ ». Nếu hai câu thơ trên chói chang rực rỡ ánh sáng của lí tưởng thì hai câu dưới lại xanh mát tươi vui hương sắc của cuộc sống. Ông không còn cảm thấy cô đơn. bừng sáng nhất là : Mặt trời chân lí chói qua tim Nhà thơ đã dùng cách nói mới du nhập từ phương tây : «Mặt trời chân lí » là một ẩn dụ có cấu tạo mới khiến cho lí tưởng cách mạng giống như mặt trời toả sáng rực rỡ. hương thơm. Khi đã « buộc lòng tôi với mọi người » thì cũng là lúc nhà thơ đã thực sự gắn bó với quần chúng lao khổ. Chính Bác Hồ đã nói : « những sai lầm đều như bóng mây qua. đã thành cuộc sống cách mạng trong tâm hồn thi sĩ. đằm thắm và dạt dào sức sống. băn khoăn..

khi là tiếng guốc đi về dưới đường xa hay tiếng rao đêm lảnh lót. Ở đây đã xuất hiện những hình ảnh thơ quen thuộc sau này của ông : tâm hồn. cùng với ngọn lửa lí tưởng cháy sáng tỏng tim. ============================== BÀI 2 : KHI CON TU HÚ I. bưng bít giữa bốn bức tường kín mít. nhưng hoàn cảnh sáng tác thì đã đổi khác. Nó cho thấy đó là lời tâm niệm thiết tha. đã thực sự hoà mình vào quần chúng rồi. Bài thơ « không chỉ » là kỉ niệm về một thời điểm mở đầu. Lời thơ còn dàn trải.những trẻ em « không áo cơm cù bất cù bơ ». tháo cũi. liền mạch. Và phải chăng những hình ảnh đầy sức sống này. sự khẳng định dứt khoát. tha thiết được trở thành thành viên ruột thịt của cái đại gia đình to lớn ấy. Nhưng tất cả đều được bắt đầu từ một tiếng chim tu hú vọng vào nhà lao như nhan đề bài thơ đã ghi : « Khi con tu hú ». còn « khi con tu hú » lại được viết ra khi nhà thơ đã bị giam trong nhà lao Thừa Phủ (Huế) giữa bốn bức tường ngột ngạt của nhà tù đế quốc. mà còn là khởi đầu của thế giới thơ Tố Hữu. cả bài thơ. Người đọc hiểu đây là khi con tu hú kêu. nhưng chỉ có hai kiểu câu và tập trung nói thiết tha một ý chính.Nghệ thuật : Hai khổ thơ có 8 câu thơ. khuôn sáo (hồn khổ. kiếp phôi pha) . có những từ ngữ còn sách vở. và tiếng kêu ấy đã gọi dậy trong lòng người chiến sĩ trẻ bị giam trong tù niềm khao khát tự do cháy bỏng.ông đã viết liền một mạch đến 5 bài thơ rất thương tâm về những em bé bất hạnh đang sống bơ vơ. Và ở bài thơ này là tiếng chim tu hú kêu báo hiệu mùa hè. khi ta đọc những dòng này của ông. « Từ ấy » được viết khi Tố Hữu còn tự do. một loạt từ ngữ như vậy đã có một hiệu quả nghệ thuật mạnh mẽ. Nhưng nếu để ý thì sẽ thấy trong khổ thơ 4 câu này. Cho nên. Khoảng cách thời gian giữa hai bài thơ chưa dài. khi nhà thơ đã mở rộng cánh tay thương yêu đón các em vào lòng mình. Cả bài thơ được xây 61 . « Tôi đã là » nghĩa là dứt khoát rồi. sổ lồng. Chưa thể nói ở hai khổ thơ này. . là tâm nguyện gắn bó với nhân dân lao khổ. chỉ có hai câu nói về tu hú kêu (câu đầu và câu cuối) mà sao tiếng kêu ấy vang suốt cả bài thơ. Những âm thanh đó chinh là cuộc sống bên ngoài đã ùa vào thơ Tố Hữu trong những ngày bị xiềng xích. nắng chói. trôi nổi giữa cuộc đời ? Và 3 chấm lửng kết thúc câu thơ cuối gợi nhiều liên tưởng về những em bé bất hạnh đó. chỉ còn có âm thanh là mối dây liên hệ với bên ngoài : khi là tiếng chim kêu. những câu thơ ấy vẫn đầy sức truyền cảm. thiết tha. giục giã anh hành động. say mê với lí tưởng Đảng . tiếng dơi chiều đập cánh.. « Từ ấy » có thể xem như một cột mốc trong đời thơ và đời cách mạng của Tố Hữu. yêu thương nhất ? Như ta đã thấy trong phần đầu « máu lửa » của tập « Từ ấy ». ngòi bút thơ của Tố Hữu đã đạt tới độ tinh luyện. là mảnh vườn đầy nhành non lá mới. Ông mở lòng đón nhận những kiếp người đau khổ vào trong gia đình bao la của mình.. sống giữa cuộc sống cách mạng. đã làm nên chất lãng mạn say người của bài thơ : đó là lãng mạn cách mạng trong thơ Tố Hữu.Giới thiệu Bài thơ « khi con tu hú » được Tố Hữu sáng tác tháng 7/1939. vang mãi đến tận hồm nay. Việc lặp đi lặp lại một kiểu câu. giọng thơ sôi nổi. nhà thơ đã dành hai câu cho các em nhỏ ( các đối tượng khác chỉ 1 câu). sau bài thơ «Từ ấy » vừa đúng một năm. đã trở thành ruoot thịt của họ rồi. hoa thơm. chim hót. Tự nhiên. những hình ảnh ấy sẽ còn xuất hiện sau này trong nhiều bài khác nữa của nhà thơ. ra ngoài bài thơ.. là nhiệt tình hăm hở của người chiến sĩ trẻ nguyện tìm về chỗ đứng của mình ở phía những người khốn khổ ». khối đời. Cảm hứng của thi nhân là niềm khao khát tự do cùng với khát vọng hành động. âm thanh bên ngoài trở thành biểu tượng của thế giới tự do. song với cảm xúc chân thành. Người chiến sĩ trẻ bị giam trong tù.. Phải chăng đó là những con người mà ông quan tâm.

thèm khát sự sống cháy ruột. nắng đào đầy sân. hoài niệm gọi nhau theo một phản ứng dây chuyền trong các câu thơ : tiếng chim gọi bầy gợi lúa đang chín. trái ngọt. trái cây ngọt dần Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không Một bức tranh đồng nội tuyệt đẹp vào vụ tháng năm. điểm kết thúc. Âm thanh ấy lại càng cồn cào.cái sắc mầu quê kiểng sao mà rực rỡ chói chang ! Nắng đào là nắng hồng rực rỡ lại gợi nhớ đến bầu trời xanh trong cao rộng..khúc nhạc xao xuyến của mùa hè. Thực ra. Câu thơ không nhằm mô tả tiếng chim kêu mà nhấn mạnh cái thời điểm tu hú gọi bầy : khi tu hú gọi bầy thì sẽ ra sao. Cái tiếng ve ngân ấy báo hiệu mùa hè đã đến. Hoài niệm sống dậy bao giờ cũng lung linh đẹp đẽ. Trái cây ngọt dần lại gợi đến những khu vườn râm mà ở đấy dậy lên tiếng ve ngân. đến bao âm thanh vui tươi. ấy là lúc bắp rây vàng hạt đang phơi đầy sân nắng đào. Cảnh thiên nhiên tươi vui. Ta hiểu vì sao.. trời xanh cao rộng và sáo diều bay lượn. để cho câu chữ vẫy gọi nhau. sắc màu. Càng cảm thấy ngột ngạt chết uất trong phòng giam chật chội. Âm thanh không chỉ là tiếng kêu. Nhưng khó có thể hình dung đây là cảnh tượng có thật được nhìn bằng mắt. mà chính là kí ức. một khúc nhạc ve ran khi vào hè đủ cho ta nhớ lại những ngày mực tím. Vì vậy đây chỉ có thể là bức tranh của hoài niệm được gọi dậy trong lòng nhà thơ từ một tiếng chim tu hú gọi bầy. rộn ràng đầy quyến rũ đối với người chiến sĩ trong tù Bài thơ mở đầu bằng tiếng kêu chim tu hú gọi hè : Khi con tu hú gọi bầy. nó chính là « cái tứ » của bài thơ trong tù của người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi.. không phải câu chữ. ông đã đem đến cho ta một điều kì diệu : sự liên tưởng tạo thành một phản ứng dây chuyền trong các câu thơ. Một tiếng trống trường ngày khai giảng. đầy sức sống. Tiếng chim tu hú là điểm khởi đầu.. Nếu « thi trung hữu hoạ » (trong thơ có vẽ) thì đây chính là một bức hoạ bằng thơ. hình ảnh. Từ một tiếng chim mà gợi nhớ đến bao điều. mới quyến rũ biết bao ! Với niềm khao khát tự do. cái gì cũng đẹp.. ve ngân dậy vườn.dựng trên hình ảnh âm thanh đó. bởi tác giả đang ở trong tù. chỉ một tiếng chim tu hú gọi bầy cất lên đã làm hiện ra trong tâm trí Tố Hữu một thế giới đồng nội thân thuộc và quyến rũ đến thế : Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đương chín. da diết biết bao khi nó đến với những người bị cách biệt với cuộc sống đồng loại : những chiến sĩ cách mạng bị giam trong tù. hình ảnh nối tiếp nhau mà đan dệt thành bức tranh đồng nội đầy quyến rũ... ngô vàng. Tố Hữu là một người như thế nên trong đoạn thơ này. II. sẽ xuất hiện những điều gi ?. Trong âm thanh thường có cả một thế giới hoài niệm gắn liền với âm thanh ấy. anh càng cảm thấy cảnh mùa hè ngoài kia mới tưng bừng rộng rãi.và ta hiểu 62 . người tù cách mạng đã huy động mọi giác quan căng ra đón nhận mọi tín hiệu của thế giới sự sống bên ngoài.biết bao là hương vị của đồng quê. Đầu tiên là tiếng chim tu hú gọi mùa hè. cũng tươi vui. Có đủ âm thanh. của cuộc sống bên ngoài nhà tù như đang lên hương ngây ngất trong lòng nhà thơ. bao sắc màu đẹp đẽ của làng quê. Tiếng chim ấy đánh thức cả một mùa hè thôn dã sống dậy trong kí ức ông và chảy ra theo ngòi bút thơ.. Đó là nhờ sức mạnh của liên tưởng và tưởng tượng. áo trắng một thuở học trò náo nức đến trường.. tháng sáu :lúa chín. Điều này chỉ có thể có được khi tâm hồn nhà thơ đầy ắp ấn tượng về thôn dã.Phân tích : 1. và tất cả đều hài hoà với nhau trong một không gian cao rộng mà êm ả của làng quê. và một bầu trời êm ả như thế ở làng quê thì không thể vắng bóng sáo diều bay lượn trên không. Cuộc sống ấy được hồi tưởng lại đẹp bao nhiêu thì cũng có nghĩa là ông đang khao khát nó bấy nhiêu. trái cây chín dần.

ngoài kia. Và tháng 3/1942. Chính vì thế mà cái tiếng chim tu hú trong câu dưới mới thật da diết. Tu hú kêu báo hiệu mùa hè đã đến. bởi một mình giữa bốn bức tường ngột ngạt. và đây là tiếng lòng của nhà thơ cách mạng trong nhà tù đế quốc. « ngột làm sao. với nhân dân. đến đỉnh điểm. không thể khoanh tay. 2. ý chí vượt ngục luôn thường trực. như nhà thơ đã hồi tưởng ở đoạn trên là mùa của tự do. Nếu 6 câu trên là cảnh tưởng tượng qua hoài niệm về cuộc sống tươi vui. như giục giã người chiến sĩ. tự do ấy. Tố Hữu đã vượt ngục về với cách mạng. Bài thơ đã kết thúc trong một tâm trạng nhức nhối. đễn mãnh liệt. Và tất cả đều hiện ra trên nền âm thanh củ tiếng tu hú kêu. nhưng chính là để mở ra một không gian cao rộng. Con chim cứ kêu có nghĩa là tiếng gọi tự do không bao giờ thôi. Hình ảnh « đôi con diều sáo lộn nhào từng không » thật thoải mái. hè ôi ! Tố Hữu thì thầm với mùa hè. Trong này. dữ dội là cách ngắt nhịp ở hai câu 8. thiết tha như nhắn gửi. của sự sống. rộn ràng ngoài nhà tù. Mùa hè. ======================= 63 . tiếng chim cứ dóng dả. Nhưng trong nhà tù thì làm gì có được mùa hè ấy ? Câu thơ thể hiện khát vọng hành động tháo cũi.9 (nhịp 6/2 và nhịp 3/3. của nồng nàn. bồn chồn. tự do : Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không. của đam mê. tự do và tâm hồn nhà thơ như cùng đang bay lượn trong cái không gian cao rộng. ngồi yên để nung nấu ý chí hành động. là lời phát biểu trực tiếp những cảm xúc. Sự tương phản ấy bộc lộ niềm khao khát tự do đến cháy bỏng. nhức nhối. chết uất thôi ». thì bốn câu dưới là tình. tâm trạng của nhân vật trữ tình trong cảnh thực ngột ngạt trong phòng giam của người chiến sĩ trẻ. dường như cảm xúc bực bội không nén được cứ trào ra : « Hè ôi ! ». đây cũng là một hình ảnh mới trong thơ. ông còn biết tâm sự với ai ? Thì thầm với mùa hè cũng như thì thầm với chính mình. gợi cảm giác nhói lên bực bội đến điên người) và giọng điệu cảm thán. u uất của người chiến sĩ trẻ trong phong giam ngột ngạt.đây là niềm khao khát tự do của người ciến sĩ trẻ đang bị giam trong tù. Tất cả đều thể hiện tâm trạng ngột ngạt cao độ không thể nào chịu được của nhà tù. nhưng thực ra nó đã được giục giã từ tiếng chim tu hú kêu gần ba năm về trước. « Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi ! » Cùng với ý nghĩ thật táo tợn. nhà tù ngột ngat. Nhưng mùa hè đến đã gọi dậy trong lòng người chiến sĩ những đièu gì khi ông đang đối diện với cảnh sống ngột ngạt ấy ? Ta nghe hè dậy bên lòng Mà chân muốn đạp tan phòng. Có phải vì thế mà đoạn thơ đã chốt lại. xổ lồng của người chiến sĩ. Cảnh có sự đối lập nhưng tâm trạng thì vẫn là sự nối tiếp của một con người thống nhất. Con chim cách mạng ấy đã cất cánh tung bay trên bầu trời tự do. Tâm trạng bực bội.

329543.4.:9. "2K  .9H3.:..E -3 E.2 9 3G428.E-3 E9H394-H3-8:53.J3 . 94E9.E.3 . 23 9743333 :9733..383H3  29::3:3..:983.4H39329 33836:.3.29...3.3 .9H343..383 3 3.8l3 :K33 -3 E .O 3.O 83 9743 9 2 9:39K.3. G42...E97H3 29E972 33 .23'9. 4 .33 3.2 l.    / .E. .:.3 E3 . :37...3 3033O2..83.:.3.3343 ..:.23 .33G4-:3..2K3 %9K/:-3O 02 3296:.. 3 9 .H3  .5.5H:.O.8l3 73 .. /8.3..3. -. :H2 . .. 3. -3.3.J3..: 9743 29 H2 3:H39H: 97g38E3 97...E.3.36:..E.4 2K3  lO 3 5  29 3 8  ' -./. .83 594 23 9.. -K3.E.3.H33. .3..8l3 /.-.3.4 3 9..3.. 9K O 2  E..3 :3:3!..  29.O3 :3..  E.297432 $.9.  26:3 8  9743 ..:9.  979.39. 23998..2E.E.32..3 E.:.3 99.4 59K.329:3 .4543974.   3  5439E:3/:3 9..3. 97: 39 3 %333... 93 33 ...38 ...O E7H:543 %. 83 2 5 E3E79. .:.O  /"39 2 95439E. ..E3... 8 l3   38E3 2939.3J93:J. ..E.E.:792.33283 9922.E..9  3g2 8...83 2-. %9  $.O  3 73 3..E.E.29 /. .3. 3..4332.383 .K29 9..:8.23 -3H39.3. .9743 89. . 93 9.E 9 ..   .E.29.:.3...O83   - :. 3.. ..: .: 3..9K.:2943.38.E-3 E9H394..:3%7 3$3.E.4.3. 99 29 3.4 5...4..8l3 -3 397929.E.E. -3 E.89H3543 4.3 3 2  E. /.353 .4.3.O93O.23 .3 .3 99.3  '. ..23.H3/. 3 3  . 9.3  .38...:979.:.  2543. .3 39.3.3.:97H3   .3. 83. 'K.. 3 E.:.3 3.933 ..:.43H3/.3 %  $.23... .99743 3$.3.939.:..E.9H3 3H3.433/3 43H3.H3 .. 9. 9H3 3H3  H3 .-9 29.3 93-33 9 . 2..323 2-38.: H3 -.9393  299E 839.83. . . .39:93.E. 433.3O78E.3 .  8.:.8l3  3.3 97 3 :.3#97H3 E33#.3E.33.3494.E..9H3 3H3 8.   .4 4 O2.E.. 5839743-J 29 .K. /.83  l:335. 2-.:9.23998.27.$9H397H3.49...9.4..9 32..29939O23  39293 3 9 4.E.O .4.3 353 E3$.4 5 3.32.32.23 3538229..3 .433.:3 . :3.29 4  543.39793/.23 99.3.3 . '97.8l3.3 :93. 92 8 2 6:3 8  .E3-.3 /3 93 .3E.-3 86:.33..3.39 2 9 8 3939 3.E3G4 .:.233.4 93.:.799423 94.3 .:3. O  :3%7.E.

3l3 O5..E3   33.E...8 %73.3.K%#": ..2.K/:. 29 .. 5  . ..83. H3-.4E.23.3. 9 3   93 93 9    9. 2 3 3 .29339 33.E.lO 8. 3  .23.4.9743.3..4.9.$.6:H3 32 92 3343.. 9.9.39.O333F9 2  33 2948E3 .  ..3.   .3 33.E. .E..3/ 8437928.4.E8:8..38 . 543.3.:.  .233.9743333 .. -.:3.39 K3.K33%":.3 .3.2.:9..3  .397:3 ...3... 3K3 2 2  29 92 9.9.:3%79K  397 397 .K92. O  3K3..E3 -:9..3229.33g2..923E.32 32   -g34g32 93# ##    K3 .33283 .33g2..-.    E.397:3 .3.    l. .923...9.9.4.3 3.97432E: 99.3l4.3.2332.93.. . .    3. . / 93.O29K33:337.$99. .  lH223 .3 3G4 :3.:39K-9.3.923.. &    %. 8.E4  %5397:393H:3. :9.93 EK 3H3 9743. 3. 2.3 !.9.3 9:93 3G43339 .J3:99993. -9..33g2. 9K2K3...#  7: 9 .3 E..2993.33...J3-3 .9 .4. 2E:99...9743.9 98 .4 3.9.2.3 93 9 .E.33g2. .397.2.3 8. .:3/.24E939..3O 3.3'H3 9:: 332999.. 33-9.9:.5..792..392 .E..3.3 897..3  : 9./9.. E3 973 .2 9 2 K.433.39.33E..:.3H.9 9.E.3 9  ..: 33.38 E3.3..O533 H233.23. :9.9743 29.9:9.E.    %.:33H3.. /-4 9:9:3l3.38 .9.  O.. 3..$52 9 $.3 .:9. 96:... .3.2. 9  3 ..3..3l: 3 .4.23 'K33 8.4  29 33 .39.3:9.. ..E32 3#36:...6:..38.E.E. 9743.. .3.E. 9743..948E3 ' .9743.3 .8:.H2-.3 3  3 2....7F5-9.358:3K. 33 9743 .3. O         %! '%       & %.:. !3H333 22 9334.:97H3  5  3.239743296:.29.- 90492  33K333H39743.. 39 33 :E2339 .9.E.E. H2...529 O3. O23 9K O2. . .. 2  2: 8.O3: H233 3.4..333 :2 6:.E.97.433.- ...6:H3g3 3 .E.9 3 8 .

.395 33 J9.39 3O.3 9743- 33 .3 2935232 39 349K2...%":. .  '%:  O ..23 lO .39 %3 97439#3 3 . /974329.3.  7 -95E9..9!5J9 3.33g2.:..: -9.-3.3 -38E397433 78E3.9 3 . .3.E J 9.9 -.39.E #9 2..33.3 .E3 2336:.4..:8 39733 592#339.9743.4 5 9:9.3  33  -3   . 9..E. 5 39 28E3947.299:3 3 7..: :  38. 3339739E9....3J9..939-.23  9. E3/:-3-9.-9.E32336:..3 :.%: . 29.3 8 .4-95E59.O .O29.: 9. ...33383 2983 lO.: :9.3F9..4  9.3. 8E3 .43H:3.3 36:.E.3  3 3 3.23.3J4.3833:33-O .2 33 .3 -:9.39.93.E.. . 38 3 %743 23.4F8E3  9 2E..3.29.9H:-:.99.'9.E.3 .2 3293.9.E. 039.-95J9.E  599003 H3 E.E.. 5..38.4.529 9743.948E3.3#32 3E3..6:H.38E37..-.E397432932935.2333H:3.. J 9.%6:. %6:.O923:3.6:..5 .9.3.3H397H339..2K3 %. 9.43%7:3%3  . 9232.3  9..974329/.9. 2 ..33.. . 3. .23 33. 943-. 95 33 29   9..73..3 2 J9.49E33g2  %: 979329. 943928:3.3 .9 43H3K33%":.943- . /3 9.9.383..3..99:99..:.9323.9...:3 .438:9  %97439-333 997.3  . 9/33F3 9J..E.E.O6:.92 3%: ./39.383 .3.4  3...%&  %   9: l. 9743 29 32 93 5.3E38.E.3.299233       %.%:   !39J...34.6:3.. 3.36:.49. 3 J 9...3.333..3 32 83  .33..93239:-.. 8 29 .E38E3  3.7393. .393... 93997.329J9.  # 2...3 -38E3 H3 23 29743.3...38..3973359239E.39E .K/: /:38:9  lO599K3H:. ..3.4E.3J.OK3.3 3.3:39K33 8.:3-. :.92 3929.E.  ..J3 8.6:.3.3993 .32.3 . 3 3.23.397.. % . lO.3 83  29 6:.7 $. 9743 -O39.:.:.JJ.3H39743.2..:9.33H32E.-3 3933..9.O9. .948E32329739E239743...:8.37.E 9 2 3 9. 23 4 93  3K3 9 9../9.2. .39383904J9..3-. 23  997 .2  l. 9.29K33  .:9-..:.O3359-38E3 338 9.4 9.33. 5  .9..293293239 29.33g2..3.4.9.9393.:./.

:/.397335-95J9.3  .:.3 3.397.92292339..3.97g23.93.E59-38E3...3.: ..3 4.::H36:.3 3.E.4 '3 943OH3 : O...3  :/32997 -: 97.92 9..-.83 4.3J 293/.39 -38E339997.O ....2  9...2 ..39.O .37.3J  .23 339.29.E. ..3.:3 .3.6:3 .43...3.3J.92  .O.433.8E3 .E.23 .35.EK.3.4.O.999743-392-38E3.-9-.:.42K3 3H39.33398.2737 O 29.2 93.29.E.. lO  2E..3-.23..83-O...38.7393. # .9 2997E9293:3.39. 3  J 9 3  J9..E.   .3. 3E43.9.- ..:9H223  9. 73 93..33.3..3 2997. 3E9.3.:9.39.-38E3  :. 9:. 939. 29 3.23993K 3.3.9K3.39 997.3 7H3 : :3../9/48.J9..2.. 3  9.3 3H3 2  E..3 3 2. 3O 338.-.-O326:...3-3 -g34g3  339.3J.9323    ...958E3923 39. -3  .E. 9K. l9K397.-95E59.:  292. 83.9:3. %  .3. 2 .O6:.34..9339743 9.3.8.3O9.-9..-997439:-.3J. $-3 8E3. . 3.2 9739E  83 J..3 J  .  .4.43..83.43 949329 H39.E.2H -99.29923 .E38E3J9.233J9.2K3%  .9K3H:  . l39.6:3..33   02.E..$.83  93.2993H3 %-:.:    92 3:"3 ..9..36:3.23974392 398  :9.E 49339....E.3 -6:.2333.:.83 O .9K2 .3.97E92339..32E9 9.39.83.J 9. ..E.3 3O93929738.3 4.5-92    -:.2.E    #9 2.97H3.3.:.3J K33 :9H3%: /39743-9. .4 2.2997 8E32 %: H3:3 '3!.: . 33 .:9.3 2E9 .329 . .3 9.2 :3..:9423.4  33..:9H223  :9. 7373 .O .O .%:  .3.O  2 2. .3 :.23 J9.393 33.3.:. :-38E3974392398  l8-38E3.O6:.2997948E37.:.3...K33 2997.E. 329743333 3.3 2929J3.. 2: .O 974392 -29973.. -:9-3..2999.3.39.3.O   2  73  O 2997 .E. 23. E  .39K.3 :023    .H39K 3.3  .7E38E3..3555.3.3 93 ..3.:8. 9.  2.7 3K3 32997 -:97.3 8.O -3  .:.O. 5-3 J3E..3 5 .39K. 97g23...23....233929 .23974333-9..4.23 .8.3.3O2/:3595.43 33..34.397439233  997.  3.:232  33.4J9.3.E ... 392 339H2732 % :93:3 3. /3.3J   ..9H33H3974329:.

32. 3302 -F -93 . . 2 3 6:.9743 9...33 3. 83 3  .023 .:. .-9.3 9.439:  .:397433:-E.93292.O 4. ./94E97  9.:3. .97:3.:3 39.9597:33O999.6:039:.3/397 .49743.E.84 2K3 . 33.9. /3.:.3 .:3:H39..02.-9.432K3  9:9..83 999.2.3 8. .23. J 9.E . .3923 23.392 ...9E3..3.4 2.  323 O3333353.  7  . .393 39. 3.3. .  3E4..2    % ..3H: O3..3E.E.J3 '. :38E4 3   555.O9023.:9.....-.%:  99 93:3 9. 3-9.  843.4 6:3 ... 83 3/94E9  399K3g2.3 5  .99 . 97 3. K3 33 4 73 3 .. 9. 799.H37:999.  '3  3 -O .3 : 02 3 3.4.2397439.3 33343E2 33 .2.49 O9232999.-. 32.9..9.E.O3393. 3.3 3-99. ' . 3 9...99.979393..%:   :9333K3 39.95 % 3 .3 3  .3 39. 335 3.. O323 . K3-.3302-F-93 O 3 9.%:8E39E.g3 O  33 . 3H3 .:9.O...9.. . 273.:  ! .92.5 529:.2399.3.3.%:  9.3.2K35J.  9974353 : 2E:..33 /3..2K3  %  3.3 3:   9K 8 9 97439.29.43 3. K3943   . 3..2 . 3..2O9 33K338.3 7   9793 7:44999 .: .%:         %&   9: 9..299 22 : 923:33-O..O29:6: 39:9232 O. -9333 555.:9.383 -. 9. 29 .E.  ' 5 ..8.  339702 3E4...38973:39K2.93238.. 33 .g3 33 K3 3  8.4.3 39 .2.-9.E39.: 2949933.E.:...3:938..:..93O.38E..3 92  H: 9. .O.3 :..E8E39392  23H3..

439:H: .9.43.33 3 9E4. .-9. : .97..439: .4E99/4. 9. 39.3..: : .4%. 9K  E.39 6:. 83   .-9.:-9.O.9:H: . 7.32/H3.O29.9.  %  .29:.3l3.39/4 83./ 3.43. ..399.3J32J9 .34-9..: 28.3897-.23  8..3.29743932.-9.! : .93 H: /974333.3 .9..E.38E39E..-9 :92993..33939..9%:. 23 . .38:9. 2H .:.:3O.3..93332. .33 3 43H3 ..439:   .-3-. J9...83./.. . .. % ..-H334 93.32 393 23.3.  -...343.  .: ..3-J9 ..93   .2H: 93/.297439 -.: 5.3.:. ..3 -9.E3 93:.2 97433.33/33. 3293g2 43.4E99/4.493H:...3897-.E.3  . 8..E -3 .E9.-3-.3.

 .439: . 6:37 39 .  :9. 3 97.23.9H3  2 37.29:G .29 3939.4 .3-H3349793-:9.427.2 9:    2.3/993 -. 9J2  E4 973 29 9: .:  8. . 2.2993. 97 3E4 3. 9K .97439.4.49.3  99397397.J3/3 -9-.O9K3/:3 .J3 97E39  3.3.O 9.3.23 : 32E....473 2 H2.2- .:.. 3897439 9. 93H: %74329.3.3..3-3737 26:37-9-.:9. 539.-.3.: 7 373 6: 37 .393.3.4.3.3  2 9.4-39.93/ %:293..E9 .EK.29.29: - 4 32 83/ -.: 9.2 9:   2  :  2 9 9.J329-.3.E.3..3.39.83 .29:  -.g37.H2 3. %3H3 29..23979:   !39J.3. .3.4:3.E7:9 3.3 O.73 3-:97.2 E39.83 3 433.2:6:H38.. .2 :-393H:. .E.29:H:-E4:2.473.29 :K/:8H39. .4 8:9333 :  29.  K3 3  2 ..G  3 . .38.G34.4'32.9.G -9.O9-.39..33.3 5 .4G .97.3O...4 l.3.49.9E33g2 9E38E:. .3 29.6:.9 9/4 '-9.E8.3.3 8.  l: 9H3  93 .3.:.3..3..3.35.E9 29: -9:-9K87./9-9-.3. 7.O .-9.  3O .E.2: .7.G E93.292.9..033  57.4E99/4 9G2E98 83. 97.: .904 3 -99..: 2 . G  %3..397H33 %2993.37 3.2H:23323.  ..32.4.7.:.39493 29 53 3 / .33. 36:H : 997:3 : 4  97439. .3.-57.7.H39.3-O38E4/:-.07.93.4 /. 3.439: ..O.97439297J%: 299 3 3939:.9 3H39743 439.3 .38.3...%: 9743333-3J.G93/83/9743J.39/3  333:.O99 .. 8333 4 .39.43O 3.3322993.8E4/:-.29943233.3 3  02 3.92993.333.3.9883-H334 'K...4 H23O9 329.8.. 3 .3:33 5  lO38. /97433 39.:39743.:90429533/..033 .4 .3   .3 9 833 3 4 %7 .3  O 29..49. /3 97H3 K3 3 2 9.297439 %.3K3-329 -9E.J3 .92339. 3.   39H33H39...:9743 293.3 33 3 2..O.39743.J3  J .3 33 4 83 97.33 4333 7.E.39.29-:97H23.033-E4:2. 29.99.-9. : 4.3 9/ 3 ' 372/ 9 3.83-H334 .:3 9743 .2.29...O.K8.473 .  4323.:. O33329J3 :.9:9974353.3 l:3.23-.033/.J3 97E.3.39 ..  3 5 . 36:H %7E..E.3 3 3  6:3 7  %..9.J3 97E..223   .43/ :8E4 3349 33 9-.E..3722 /H393.3 O  %3 .3.397439 3.: K3 3 395 3...93 6:H9K39.3 339:9 5.432 ..97.

48.353 G  % : 9K 92 .9K92.3 5-.2..23 93 9  :..E.E3.33 39E4.3.9979K39743..43H:9K.9 3.9. .839.293.. .3. . .2: 5 .297439 O5.3897  3.39.G  3  . 39 35  .:97H3.3-9928. 9..3.3....3.36:.39743399K2K.9339 ' 99.429.3.93 E9. 3.23974339  6:.:   35 .3 3.473 9/4 %7 .3 .43/:8E4334933 99942E 9/4.$.  - 29 2K3.3 4397H32. :: 9.9533. G   .3.2..939:H: %:H:-E4:2..38  ..9K3 5E9-:97.O3.923 39. 3939974353.3 .4 :  3-..43/ :8E4 3349 33  K33  . .883 ..:.: 32. 9.3929739K.33399743339.3-.-3-..: 7373 3439 9K-3.9...33 .J3 27.3333 .4 l.39. 3897 9743543..32: 3 59.32: 3 59.G 3.3.36:H .E.473 9/4   %297 3.83 .39. 933.3.3H3. .3-. 3.83 -H334393.3..39.3.3833939 %.2.3-.4E99/4.22H .:/.. G 3 /9743 3 3. 2.3  29 K3 3 2 9743 9.33939 3... 92973 ..353 G  3 .38395.O8 53..G..:.432.%K92..433.3  /3.29.3 2. :37. ..K92 439.4E93O-3H: ..3897 .9/4 .3 ..30G/ -H33 .2. :.3.:9.G:9.97H33329..37 3...39743.J32K3 .O .3 8 33 G:K3 .39..  3 999E493  / /  ... -.

 . 35.

974329929733.. /O3 /  999.3OH3-.H:.39.2 . 3. ..353-. 33   3.38 $9.4 .2E.. .O3.39 J3 .- 3 H33.J. 99.  3. . :93929733939.  3H3 3:33: .: .3 394.. ./9 3.E-3  3239  3 3 2 43. . .J3 3 '9E3.3 %7433 39 39 3.E93.4 3934.29:9743.939/43-..32.29E3 /. -3 3F3 .:/..  93 .4E99/4 3.299/. -. :39.397.33.  9.3 :.9747.2 .2.9:99  %9.3 -3. G  3928..49  .K92.9  34 .93.

. 33 /3  43 ..E3 9:3 -.3O  .            .993.29:H:3-.3g2.7. %: .. 23   .39.E.E.97.93.2 .. 97H3 -: 97 9 /4  3.9 .. 23  ...

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->