Bí quyết thành công trong quản trị kinh doanh của Harold Geneen

Giám đốc người làm ra lợi nhuận
Lê Minh Đức dịch, biên soạn theo: "La Direction doit diriger" của Philippe Delranc. 1986. NXB TP. HCM 1990.

Lời dẫn Trong giới kinh doanh, tên tuổi của Harold Geneen đã vượt xa biên giới nước Mỹ. Trong lĩnh vực quản trị, tiếng tăm của ông được sánh ngang với A. P. Sloan Jr. (PDG thành công nhất của General Motor) thiên tài quản trị đã tổ chức, cấu trúc làm sống lại công ty General Motors và đem lại cho nó tầm vóc hiện nay. Harold Sydney Geneen là người chủ tuyệt đối (PDG và Chairman) của Công ty Điện thoại và Điện tín quốc tế ITT International Telephone and Telegraph. Từ 1959 Geneen làm PDG (President Directeur General) cho ITT đến 1977 thôi PDG, 1979 thôi nốt Chairman. ITT là công ty thương mại thuộc loại phức tạp nhất thế giới, hoạt động ở tất cả các nước công nghiệp hóa phương Tây. Trong những ngày huy hoàng nhất, nó đã sử dụng tới 375.000 người, 350 xí nghiệp, ở trên 80 nước, tạo ra 250 nguồn lợi nhuận mới. Harold Geneen đã gọi công trình của ông là “công ty đa quốc gia mới dưới sự quản trị thống nhất" (conglomerat). Một conglomerat lớn nhất và sinh lợi nhất toàn cầu (60% từ nguồn nước ngoài). Dưới sự lãnh đạo của ông, ITT không những là nhà cung cấp thiết bị viễn thông tinh vi hiện đại và là nới quản lý các công ty điện thoại mà còn là cửa hàng hamburger, cho thuê xe, cung cấp thiết bị và sửa chữa đồ điện, xưởng cơ khí… đây không phải là những công ty nhỏ, mà hợp thành những công ty lớn, nằm dưới trướng ITT, đem lại hàng tỷ $ lợi nhuận và ngày càng sinh lợi. Đứng đầu bảng là Công ty siêu bánh mỳ Continental Baking, sau đó là Công ty Avis cho thuê xe hơi, Công ty Khách sạn Sheraton (chiếm vị trí thứ hai trên thế giới) Công ty Bảo hiểm Hartfort (thứ tư thế giới). Công ty ITT cũng là nhà sản xuất Bơm và Sup páp lớn nhất thế giới. Trong thời kỳ cao điểm, ITT đã chiếm vị trí thứ hai trong danh sách 500 công ty công nghiệp lớn nhất thế giới. Khi Harold Geneen rời khỏi PDG, ITT tụt xuống hàng thứ 11 (trong 10 công ty đứng đầu thì có 6 là các công ty dầu khí, rất giàu có và các công ty khác là những công ty ô tô khổng lồ General Motor và Ford Motor). ITT được xếp ngang với General Electric và International Buisiness machine IBM. Ở Mỹ người ta cho rằng H Geneen là kẻ khát quyền lực, gian xảo, không từ thủ đoạn nào để thống trị thế giới, nhiều vụ tố cáo, điều tra về quyền lực, sự lũng đoạn thị trường của ITT. Cộng đồng các nhà doanh nghiệp đã gọi ITT là “Đồ chơi của H. Geneen.” Ông ta là người làm ra tiền. Mỗi năm ITT có lợi nhuận 10-15% (trong khi các công ty khác chỉ 2-5%) bất chấp các cuộc khủng hoảng, các hạn chế ngân sách, đảo lộn kinh tế và thăng trầm chính trị. Chỉ có 2 năm 1974 và 1975, ITT đạt 11% là do cấm vận dầu lửa khủng hoảng năng lượng và biến động giá đồng $. Wall street ngạc nhiên với lợi nhuận của ITT tăng liên tục suốt 58 quý liền (14,5 năm) thời ông. Rất có thể ở ITT người ta đã nghiên cứu phân tích tình hình kinh tế kỹ hơn các công ty khác. Nhiều người gọi quản trị ở ITT là “quản trị theo mục tiêu.” Người khác gọi là lối quản trị với những cuộc họp. Có người lại nhấn mạnh sự kiểm tra tài chính hết sức tập trung. Hoặc cho rằng đó là do tính cách của PDG H. Geneen làm nền tảng của thành công đó. H. Geneen (sinh năm 1909, học cử nhân kinh tế lớp buổi đêm) trước khi làm PDG cho ITT, ông đã có 33 năm làm nhiều nghề trong thương mại như chào hàng, kế toán, lâu nhất là làm quản trị viên kiểm tra tài chính (Financial Controlleur) chuyên nghiên cứu các doanh nghiệp qua các báo cáo tài chính quý, năm). Nhiều công ty mới xuất hiện học cách làm của ITT: Quản trị theo mục tiêu, những phiên họp thường kỳ, nghiên cứu và phân tích kinh tế, kiểm tra tài chính tập trung, nhưng họ cũng không đạt được những tỷ lệ lợi nhuận mà họ đã đặt ra. “Hãy quyết định xem anh muốn gì và lao vào!" - đó là phương châm sống của Geneen. Geneen làm gì cũng rất nhanh, từ ăn, lái xe, suy nghĩ, phát biểu và làm việc không biết mệt 1214h /ngày, Ban lãnh đạo của Geneen có đặc điểm là quản lý tài chính rất tập trung và khít khao, một ê kíp lãnh đạo rộng lớn để có thể tiếp nhận mọi thông tin có ích và điều quan trọng nhất là những cuộc tiếp xúc với các giám đốc chi nhánh khắp thế giới. Những cuộc họp như vậy chiếm 1

vị trí rất quan trọng trong việc quản trị công ty ITT. Mỗi tháng một lần, các giám đốc đều gặp Geneen người mà họ biết là đã đọc kỹ báo cáo hàng tháng của họ và không bỏ xó bất kỳ sai sót nào trong đó. Trong những cuộc họp có chừng 120 giám đốc ở Âu châu và 130 giám đốc ở Mỹ tham dự, Geneen đã hỏi từng người về những báo cáo của họ. Ông cùng họ xem xét những vấn đề cấp bách của từng chi nhánh, tìm những thiếu sót, vì ông luôn nghĩ rằng khó tránh hết những thiếu sót, thiếu sót đó sẽ làm hại công ty trong cuộc cạnh tranh. Với tư cách là nhà quản trị, công việc của họ là phải làm sao cho Công ty mình hoạt động không kém hiệu quả so với các công ty khác trong ngành. Geneen có quan niệm rất Socrate về tranh luận. Thảo luận một vấn đề làm bật ra một vấn đề khác, ông yêu cầu mọi kiến giải đều phải được minh chứng bằng các sự kiện. Các giám đốc cao cấp của ITT được trả lương hậu hĩnh, không những phải quan tâm tỉ mỉ đến vấn đề thương mại của công ty mà còn học cách hạn chế tính kiêu ngạo và ích kỷ (về thành tích đã có) để tập trung mọi nỗ lực đương đầu với cuộc thách thức trí tuệ và thực tế phũ phàng của thế giới kinh doanh đặt ra, nếu Geneen có để mắt tới những thành tích đã qua thì cũng chỉ là để nhằm giải quyết những vấn đề sắp tới. Ở ITT các giám đốc luôn tìm những sáng kiến mới đề triển khai mọi hoạt động sẵn có, vũ trang bằng những sản phẩm, họ đi chinh phục những thị trường mới. H. Geneen về bản chất là bậc thầy đứng đầu một trường phái các nhà quản trị kinh doanh thực tiễn, nhưng ở ITT chứ không phải trường đại học thương mại. Ông ứng phó một cách linh hoạt với các vấn đề thực tiễn của kinh tế thế giới. Alvin Moscow 1986 Mục lục Lời dẫn I. Một triết lý về quản trị II. Lãnh đạo một doanh nghiệp như thế nào? III. Kinh nghiệm và tiền tài IV. Hai cơ cấu tổ chức V. Ban giám đốc phải lãnh đạo VI. Nghệ thuật chỉ huy VII. Cái bàn và con người VIII. Nghiện rượu và sùng bái bản thân IX. Ý nghĩa của những con số X. Mua lại và mở rộng XI. Tinh thần doanh nghiệp XII. Hội đồng quản trị XIII. Lo cho tương lai XIV. Gửi gắm Phụ lục. ITT trước vành móng ngựa

2

I. Một triết lý về quản trị
“Không ai lãnh đạo một doanh nghiệp, hay làm bất cứ việc gì trên đời này theo lý thuyết cả” (Harold Geneen) Hơn 50 năm lăn lộn trong thương trường tôi đã ngốn hàng trăm tác phẩm, hàng nghìn bài tạp chí và thông báo khoa học của các trường Đại học dạy người ta phải làm thế nào để đưa một doanh nghiệp đến thành công. Hồi còn trẻ, tôi sẵn sàng tiếp nhận những bài lý thuyết, những công thức mà các giáo sư Đại học và các cố vấn kinh doanh đã nặn ra và có khuynh hướng tin vào đó. Họ giải thích cho chúng ta biết là phải làm thế nào để tăng năng suất lao động, làm thế nào để tăng tiền lương và lợi nhuận, làm sao cho ban lãnh đạo, những người làm công, những người có cổ phần ai cũng được hạnh phúc và thịnh vượng. Phải nói rằng lập luận của họ bao giờ cũng hết sức logic và chặt chẽ, sự khôn ngoan của họ sâu sắc không thể chối cãi, còn kết luận của họ thì không thể bác bẻ được. Thế đấy, nhưng khi tôi đã tới đỉnh cao của thang lãnh đạo, khi mà nhiều người phải làm theo mệnh lệnh của tôi thì tôi lại thấy rằng không có lý thuyết nào trong các lý thuyết ấy mang lại hiệu quả như nó hứa hẹn cả. Chỗ này hay chỗ khác cũng có mấy điểm dùng được, nhưng không một tác phẩm lý luận nào, một lý thuyết quản trị kinh doanh nào mà có thể quy kết dù chỉ một phần việc của lãnh đạo doanh nghiệp vào một công thức đơn giản hay một tổ hợp công thức có ích cho nhà quản trị. Trong thực tế của thế giới kinh doanh, những đoạn văn mà tôi tâm đắc nhất cũng phải hết sức thận trọng và cân nhắc khi đem áp dụng. Suốt cuộc đời làm kinh doanh của mình, tôi chưa từng được thấy nhà kinh doanh nào thử lắp công việc quản trị thực tế của mình vào cái khung lý thuyết, công thức hay sơ đồ sẵn có nào cả. Ngược lại, tôi thấy có nhiều người chưa kịp tốt nghiệp đại học, cũng chưa đọc một tác phẩm kinh tế nào, nhưng theo tôi, họ lại nắm được nghệ thuật lãnh đạo doanh nghiệp không hề vấp váp. Vì sao? Vì họ đã biết hòa nhập làm một với doanh nghiệp và cùng tiến với nó. Một khi phải đụng độ với những vấn đề ngày càng phức tạp của môi trường thương mại, họ biết dựa vào đầu óc thực tiễn của mình, vừa làm vừa học thêm. Cũng phải thừa nhận rằng, có những người thành công quá sớm, doanh nghiệp của họ trở nên quá quan trọng, đến nỗi họ đã để mất quan hệ máu thịt với chính cơ đồ mà họ đã tạo dựng. Và chính lúc đó, họ không thể tránh khỏi doanh số bị chao đảo, lợi nhuận giảm sút và họ lâm vào trạng thái rơi tự do. Thông thường sự đảo ngược này xảy ra khi người phụ trách doanh nghiệp bắt đầu ngây ngất với thành công của chính mình và bắt đầu xa rời với công việc mà mình đã thành thạo, rồi bắt đầu quan tâm đến cái triết lý tưởng như siêu đẳng về kinh tế thế giới, hoặc quan tâm đến những trách nhiệm nặng nề hơn trong các vấn đề xã hội của cộng đồng, của nhà nước, nghĩa là lãnh vực mà ông ta chỉ biết sơ sơ thôi. Thế là ông ta giao lại trách nhiệm kinh doanh cho người tùy thuộc, ông ta ra ngoài đọc diễn văn, soạn thảo những chương trình vì lợi ích công cộng và tham gia nhiều công việc liên quan khác. Mặc dầu không hề đánh giá thấp phần cống hiến của ông này cho xã hội, nhưng tôi vẫn cho rằng ông ta sẽ hữu ích hơn nếu cứ giữ trách nhiệm quản trị doanh nghiệp của mình, vì đã lãnh đạo doanh nghiệp tài tình, đảm bảo an ninh kinh tế cho những người làm công và cộng đồng xã hội. Nhưng hoạt động xã hội bên ngoài lại tạo cho ông ta những thỏa mãn cá nhân. Sự thỏa mãn cái tôi của mình chính là cái bẫy nguy hiểm nhất làm hỏng những nhà doanh nghiệp có thời gặp may. Tôi đã chứng kiến sự kiện đó không biết bao nhiêu lần, nhưng tôi lại chưa bao giờ được nghe cũng như được đọc gì về vấn đề đó ở trường Đại học Harvard hay trong tạp chí Fortune của giới kinh doanh. Mặt khác, mỗi khi PDG ủy thác trách nhiệm chuyên môn của mình cho người khác để rảnh tay tham gia “cứu giúp nhân loại” thì các vị cũng thấy rằng cần phải chuyển giao những công thức và giáo huấn cho người dưới quyền điều hành công việc một cách tốt đẹp. Tuy nhiên không hiểu vì sao, những công thức quản trị kinh doanh đó lại không hề phát huy tác dụng khi họ vắng mặt. Trong bảng dài những lý thuyết về thành công trong quản lý, một trong những cái mới nhất (1984) là ”Thuyết Z” (do người Mỹ viết về những gì họ học được từ Nhật, chứ không phải do người Nhật viết) hay là “Nghệ thuật quản trị của Nhật.” Đó là tên của 2 tác phẩm được phổ biến rộng rãi, nhằm giúp chúng ta xét lại những lý thuyết và phương pháp quản trị của Mỹ để có thể chiến thắng trong cạnh tranh với Nhật. Thêm vào đó là vô vàn những bài báo và công trình 3

nghiên cứu của các trường Đại học nhằm dạy cho chúng ta những công thức thần kỳ để thành công mà người ta đã đọc được ở các nhà cạnh tranh khôn khéo người Nhật. Rất lâu trước khi xuất hiện thuyết Z, chúng ta đã được biết thuyết X và thuyết Y về triết lý trong quản trị của giáo sư Douglas Mc Gregor, Học viện Massachusetts truyền bá. Mấy thuyết này hấp dẫn ở chỗ, mọi vấn đề của quản trị kinh doanh đều được gói ghém gọn gàng đầy đủ trong đó cả. Trong tất cả các trường thương mại người ta đều học hai thuyết này. Vì lẽ khi đã nắm vững 2 thuyết này thì không còn phải sợ gì những khúc khuỷu gập ghềnh trên đường kinh doanh nữa, Hiện nay mọi xí nghiệp đều được quản lý không theo thuyết này thì cũng theo thuyết kia, trong 2 thuyết đó. Thuyết X cho rằng, trên đời này không có ai thực sự muốn lao động cả, một khi đã bắt buộc phải lao động để sống thì người ta cũng chỉ làm đủ mức cần thiết bắt buộc thôi, còn người phụ trách thì cũng chỉ phụ trách đúng cái trách nhiệm được giao mà thôi, không ai tự nhiên lại đi gánh thêm trách nhiệm làm gì. Một khi định đề này được chấp nhận, thì công ty sẽ tự tổ chức theo một hệ thống tôn ty trật tự rất chặt chẽ, người ta giải thích cho mỗi người trong hệ thống đó biết, anh ta phải làm gì, làm lúc nào và làm như thế nào, thế thôi. Thí dụ điển hình là quân đội, các vị tướng ra mệnh lệnh cho cấp tá, cấp tá truyền đạt cho cấp úy, cứ thế xuống đến anh binh nhì ngoài mặt trận. Còn trong doanh nghiệp quản lý theo thuyết X thì không ai được phép nói chuyện trực tiếp với cấp trên mình từ 3 cấp trở lên. Tốt nhất là khi gặp cấp trên thì nên chào và tuân lệnh. Còn sau đây là định đề thuyết Y: Bất cứ ở cương vị nào, mỗi người đều muốn làm tốt hơn, muốn có nhiều khả năng và hiệu suất hơn, anh ta thấy bị gò bó trong hệ thống quản lý theo thuyết X. Do đó việc quản lý theo thuyết Y đòi hỏi phải vươn tới sự bình đẳng trong chức năng của mỗi người, làm sao để mỗi người lao động đều có thể tham gia vào quá trình đề ra các quyết định. Hiện nay, nhiều giám đốc xí nghiệp của chúng ta hướng theo thuyết Y và tìm cách để làm sao đưa được cái tinh thần đoàn kết và tương trợ vào trong xí nghiệp, ít nhất thì cũng là họ định làm như vậy. Cái dở của những thuyết trên là dù sao thì cũng không có một xí nghiệp nào có thể áp dụng đầy đủ, trọn vẹn một trong 2 thuyết đó. Kể cả tổ chức chặt chẽ nhất là quân đội. Trong giờ phút hiểm nguy, nếu viên thiếu úy dũng cảm anh ta sẽ lôi cuốn được những người lính xung phong. Nhưng anh ta do dự, thì có khi viên đội sẽ là người quyết định. Trong giới kinh doanh, trong cuộc đời thực cũng vậy thôi, những quyết định quan trọng đều được đề ra từ những nhà lãnh đạo có đủ lòng tự tin để trở thành người đưa đường dẫn lối. Ở lầu 5 góc hay ở trong nhà tù, tại ban lãnh đạo hay tại nhà ăn của xí nghiệp, ở đâu cũng vậy, mọi tổ chức dù lớn nhỏ, đều phản ảnh nhân cách và cá tính của người lãnh đạo nó. Còn thuyết Z của người Nhật đậm mầu sắc thiền học, lại tìm cách giải thích vì sao và làm thế nào mà hệ thống quản trị của người Nhật lại cao hơn của Mỹ. Họ dựa vào một vài dữ kiện khách quan như người Nhật bán được nhiều hàng hóa hơn Mỹ, từ xe hơi, camera, radio, ngành điện tử nói chung. Họ đã làm được cái gì đó có hiệu quả mà chúng ta không biết làm. Thuyết Z làm rõ sự khác biệt giữ 2 hệ thống quản trị kinh doanh. Ở Nhật trong các tổ hợp công nghiệp và thương mại lớn, người ta đối xử với người làm công như cha mẹ thương yêu con cái vậy. Đảm bảo cho họ công ăn việc làm suốt đời và sự an toàn vật chất. Trong 10 năm người ta sẽ cho những người làm công có năng lực nhất, trong đó có mấy người nữ được đi học một khóa học quản trị đại cương trước khi đề bạt họ vào một chức vụ then chốt trong xí nghiệp. Những người đó sẽ duy trì mối quan hệ tốt đẹp chủ - thợ và tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện chính sách phân chia trách nhiệm, quyết định thù lao. Người ta cũng quan tâm đến nguyện vọng cá nhân của người làm công. Ngược lại, người làm công phải quan tâm làm việc hết sức và lòng trung thành của họ đối với doanh nghiệp chỉ có thể so sánh với lòng hiếu thảo đối với cha mẹ mình. Lao động, gia đình và tổ quốc gắn với nhau, không thể tách rời. Khi doanh nghiệp thịnh vượng và duy trì được đà tăng trưởng kinh tế thì những người làm công sẽ thịnh vượng, gia đình họ cũng thịnh vượng, đất nước họ thịnh vượng. Mọi người đều lao động vì hạnh phúc của tất cả. Mô tả theo kiểu đó làm người ta thấy môi trường lao động Mỹ hình như xám xịt, khắc khổ và đáng chán. Còn ở Nhật thì ngọt ngào hấp dẫn. Tôi nghi ngờ tình hình thực tế lại như thế. Mà 4

dù có tương phản như thế chăng nữa, chúng ta, những người Mỹ, có thể đem đổi cái gia tài tự do cá nhân và cơ may cá nhân của chúng ta để lấy thói gia trưởng cũ kỹ, thói cam phận và xả thân như vậy của người Nhật không? Liệu chúng ta có chấp nhận nổi không nếu chúng ta muốn? Đời sống Nhật rất khác với chúng ta, dựa vào nền văn hóa cổ hàng bao nhiêu thế kỷ và chính từ nền văn hóa đó mà sinh ra phong cách quản lý hiện đại kiểu Nhật. Phong cách này không thể phát triển ở bất cứ nơi nào khác và dưới bất cứ hình thức nào khác. Ở buổi đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, nước ta cũng đã trải qua một thứ chủ nghĩa gia trưởng tương tự thế. Và từ lâu, chúng ta đã tránh xa một cách khôn ngoan cái thói can thiệp như vậy của xí nghiệp vào đời tư của người làm công. Tự do của mỗi người chuyển từ xí nghiệp này sang xí nghiệp khác, đi đâu thì đi, tự mình nhoi lên kiếm sống trong xã hội và tùy theo năng lực của mình, đó là những gì đã làm cho nước Mỹ trở thành cường quốc công nghiệp số một thế giới, kể cả Nhật. Tôi xin hỏi các bạn, vậy vấn đề nằm ở đâu? Thuyết Z theo báo cáo của những đoàn đi tham quan Nhật về, họ đã sai lầm khi cho rằng Nhật sản xuất nhiều hơn chúng ta trên thị trường thế giới là do cấu trúc và quản lý các xí nghiệp của Nhật tốt hơn chúng ta. Tôi nghĩ rằng sự tương phản quá lớn của 2 nền văn hóa đã che mất thực chất của vấn đề này. Nếu chúng ta đặt vấn đề sai thì rất có thể là chúng ta sẽ có những giải đáp sai. Vào đầu những năm 1960, khi mà ITT được coi là kiểu mẫu quản trị hiện đại của Mỹ, có một nhóm cán bộ lãnh đạo xí nghiệp Nhật đã đến thăm trụ sở chúng tôi ở New York và đã hỏi Herbert Knortz lúc đó là cán bộ kiểm tra quản trị của chúng tôi như sau: “Ông có thể cho chúng tôi xem phòng máy tính điện tử của ITT, nơi đã đề ra mọi quyết định ấy”. Herbert đã hướng dẫn họ đi xem phòng máy tính, vừa đi vừa giải thích cho họ hiểu rằng ở ITT không phải là cái máy tính đã đưa ra các quyết định. Nhưng ông ta lại nói lại với tôi rằng ông ta không đảm bảo là họ đã tin lời ông nói. Ở Nhật, những người Mỹ tham quan đã được nghe giải thích về phong tục Nhật, dự các cuộc thảo luận nhóm, nghe các bài ca và chúc tụng, nhìn những khuôn mặt tràn đầy hạnh phúc, họ có thể thấy sự khác biệt giữa 2 nơi làm việc. Nhưng tôi không dám chắc rằng họ đã thấy được nơi đề ra các quyết định về quản trị. Thậm chí tôi có thể nói được rằng ở Nhật, các phương pháp kiểm soát tài chính, kiểm tra chất lượng, dự kiến về sản xuất, nghiên cứu về thị trường và tất cả mọi thứ khác cũng không khác chúng ta lắm đâu. Tôi nghĩ rằng mấy anh chàng quản trị người Nhật có đầu óc thực tế như vậy, đã nghiên cứu thị trường và tìm cách thỏa mãn người tiêu dùng trên toàn thế giới hoàn toàn giống y như chúng ta. Người Nhật bán nhiều thứ hàng hóa rẻ hơn người Mỹ, cái đó đúng, nhưng không liên quan gì đến cấu trúc hệ thống và hiệu quả của nền quản trị Nhật cả. Tôi không nói là các nhà quản trị Nhật không có năng lực, nói như vậy là ngu ngốc. Tôi nói là nền quản trị Nhật tự nó chưa đủ giải thích được sự thâm nhập của Nhật vào sự cạnh tranh trên toàn thế giới. Họ bán hàng rẻ hơn chúng ta vì những lý do thông thường và dễ thấy. Ở Nhật giá nhân công rẻ hơn ở Mỹ rất nhiều, nhà máy của họ xây sau Thế chiến II tất nhiên là hiện đại và hiệu quả hơn chúng ta. Giá thành làm ra một xe ô tô ở Nhật rẻ hơn chúng ta từ 1500 đến 1800 $. Họ rất có thể dành một phần tiền lời đó để thiết kế hệ thống kiểm tra chất lượng mà cho đến nay các nhà sản xuất xe của Mỹ ở Detroit vẫn chưa làm nổi. Ngoài giá nhân công rẻ, công nghiệp Nhật còn được thừa hưởng nhiều thuận lợi do Chính phủ của họ tạo ra. Vì cái đảo quốc này sống chủ yếu vào ngoại thương nên Chính phủ và các ngân hàng hùng mạnh của Nhật đã nắm tay giúp đỡ giới kỹ nghệ tạo ra những thị trường ở nước ngoài và nhờ đó mà làm giàu cho nước họ. Khác với chúng ta, họ có một chính sách công nghiệp quốc gia. Trong 50 năm qua, nền công nghệ Mỹ đã hoạt động trong trạng thái đối đầu với chính phủ, họ đã phải chờ đợi lâu mới dược Chính phủ Mỹ giúp xuất khẩu hàng ra nước ngoài. Tất cả các luật và lệ của nước này được lập ra để trói chặt nền doanh nghiệp tự do Mỹ. Nhưng chúng ta không được hưởng lợi bao nhiêu với xuất khẩu của chúng ta. Từ sau chiến tranh thế giới đến nay (1984), khi mà chúng ta xuất hiện như cường quốc kỹ nghệ hùng mạnh nhất và duy nhất không bị suy suyển, thì chúng ta đã sống phè phỡn, tự trả cho mình những khoản lương cao nhất thế giới,

5

nó cũng không chú ý gì hơn đến việc Mỹ tự để mất ưu thế của mình với nhiều nước ngoài như Nhật. Tất cả những cái đó đều xưng là khoa học. những chiến lược thương mại đến với chúng ta như đi quanh vài vòng biểu diễn rồi lại đi khuất. Còn hiện nay thì những nghiên cứu về nhịp điệu lao động đã lỗi thời và phần lớn được nhắc tới như để dẫn chứng về hiệu suất của một thời đã qua. việc này sẽ dẫn đến sự ra đời của nhiều sản phẩm mới có khả năng cạnh tranh hơn hàng hóa Mỹ và cả hàng Nhật và việc đó sẽ đến trong tương lai gần đây thôi. từ dây chuyền lắp ráp cho đến tổ đánh máy văn phòng. Rồi năm tháng trôi qua. Theo lý thuyết đó thì bạn phải phân chia các cơ sở của mình ra nhiều loại theo công thức sau: Loại thứ nhất gồm những chi nhánh nào có tỷ suất lợi nhuận và tiềm năng phát triển cao. Nhưng chúng ta muốn giữ vững mức sống và không phải từ bỏ những tự do cá nhân của mình thì không phải chỉ có giới quản trị kinh doanh phải đưa ra lời giải đáp mà cả những công nhân. Vài năm trước đây ở Công ty ITT người ta đưa cho tôi một thuyết mới ra lò về quản trị. trở thành đồ phế phẩm. Nói cho cùng thì phương pháp đó cũng chỉ được áp dụng ở cấp lao động cơ sở. rất có ý thức theo dõi mọi nhịp điệu phát triển và yêu cầu của nền công nghiệp mũi nhọn. để rồi trở thành những con người nhu nhược mềm yếu. Thuyết Z không hề nói đến khía cạnh đó. những tiêu chuẩn đề ra cho hoạt động theo nhịp điệu ấy cứ mòn dần. mà chỉ ở mức có thể chấp nhận được và cần được cải thiện hơn nữa mới được. mòn dần do chính sách hợp đồng giữa chủ và thợ và trong các tài liệu của các công ty người ta nói rằng các tài liệu đó không phải là tối ưu. Loại thứ hai là các chi nhánh có tỷ suất lợi nhuận cao mà tiềm năng phát triển thấp 6 . Các nước Tây Âu hiện đang lao vào chương trình nghiên cứu rất quan trọng. Mỹ vẫn chưa dựng lên hàng rào thuế quan để đáp lại sự cạnh tranh từ bên ngoài và đặt ra mức hạn chế nhập khẩu hàng Nhật về xe hơi và hàng điện tử hoặc bất cứ hạn chế nhập khẩu hàng nào khác với bất cứ hàng hóa từ đâu đến. Mặc dù có vài mưu toan này khác. Điều đó cho thấy Mỹ chấp nhận sự thách thức từ các nước ngoài và đấu tranh ngay trên mảnh đất tự do cạnh tranh. Tôi có ý thức rằng anh chàng khổng lồ ngái ngủ này đang dụi mắt tỉnh dậy. Hongkong chế tạo vải sợi và quần áo phụ nữ rẻ hơn và tốt hơn của chúng ta. Những nghiên cứu về nhịp điệu lao động được sáng chế ra để làm con người hoạt động có năng suất lao động ngang với máy móc và cũng giàu tưởng tượng như máy móc chăng? Các vị giáo sư Đại học đã soạn thảo ra không ít các giáo trình về những tiến bộ trong việc áp dụng khoa học vào công nghiệp sau Thế chiến II. Dù sao thì đối với Mỹ chưa phải là mọi việc đều hỏng. Những bài toán nảy sinh từ sự xác định lập trường đó sẽ quyết định những vấn đề mới và những vấn đề mới sẽ đòi hỏi những giải đáp mới. các văn phòng để tính toán phân tích nhịp điệu lao động cho từng loại hình lao động riêng biệt. Những giải đáp của chúng ta sẽ xác định những biện pháp cần có. Nam Triều Tiên sản xuất tàu biển cũng rẻ hơn và tốt hơn của Mỹ. Sau đó họ đã đưa ra một bản báo cáo mà theo đó mỗi chức trách phải làm như thế nào để có một hiệu suất lao động tối ưu. Nhưng cái thời đại hoàng kim mà họ tiên đoán chưa bao giờ đến cả. nhưng điều có ý nghĩa là cho đến nay. chúng ta đã để cho những nhà máy của mình già đi. nó được chế tạo ngay tại trường kinh doanh Harvard. tâm lý học và các chuyên viên thương mại đã tràn ngập các nhà máy. Mỹ có thể đáp ứng như thế nào và đáp ứng đến đâu. nơi mà thao tác thường lặp đi lặp lại mà thực ra người lãnh đạo thông minh cũng có thể nghĩ ra được. Bạn có nhớ những công trình nghiên cứu về nhịp điệu lao động rất thịnh hành sau Thế chiến II không? Các nhà kỹ thuật. Tôi thực sự không thể nào quan niệm nổi một tương lai mà trong đó công nhân nam nữ Mỹ chấp nhận một thứ chủ nghĩa gia đình phường hội theo kiểu Nhật. nói về cách thức làm thế nào phân chia thu nhập của một công ty có nhiều chi nhánh khác nhau. Chúng ta thấy dấu hiệu đáng mừng của ngành ôtô Mỹ đã có những cải tiến chưa từng thấy trong mấy thập kỷ trước. nền kỹ nghệ luyện kim cũng có nhiều biểu hiện tỉnh giấc. không cần gì đến cái mớ từ ngữ khoa học giả hiệu đó. Còn nền kỹ nghệ điện tử của chúng ta đang tìm mọi cách. cuộc cạnh tranh tự do trên thị trương hôm nay.nhưng lại lơ là trong việc nâng cao năng suất lao động. cả nhân dân thông qua chính phủ Mỹ phải đưa ra giải đáp. Cũng như mọi đam mê và mọi thời trang. đó là cái thuyết về những con bò sữa và những con bò cần sữa.

càng nhanh càng tốt tới những mục tiêu chung và rất rõ ràng. các nhà quản trị doanh nghiệp phải có khả năng phát hiện xem vì sao nó lại rơi vào tình trạng tồi tệ như vậy và làm sao để nó có thể sinh lợi. Được tắm gội trong hào quang của nền quản trị khoa học. Lãnh đạo một doanh nghiệp như vậy thì sẽ phải vắt sữa loại thứ nhất để vỗ béo loại thứ nhì. Còn sự phán xét. những người “động não” là loại người biết phản ứng và đề ra quyết định. ở đó chẳng có định luật bất biến nào cả. chúng tôi cùng tiến. cần phải được nâng đỡ và phát triển chứ không phải là bị vắt sữa để nuôi một chi nhánh khác không có gì đáng được ưu tiên cả. Trên quan điểm quản trị. bạn cứ chờ xem đến lúc nào thuận tiện thì vứt bỏ nó đi. Có một chân lý cơ bản: Quản trị một doanh nghiệp không có gì là khoa học cả. Trong việc đánh giá con người. Việc tiếp theo. cần phải trang bị thêm công cụ quản trị hữu hiệu. họ dấn thân vào đời mang theo những nguyên lý và những công thức bắt nguồn từ những kinh nghiệm không phải từ bản thân. Còn loại chi nhánh thứ ba. mà từ những trò ảo thuật với những cái khung lý thuyết có thể dung nạp được bất kỳ công thức nào. hòng năng cao tiềm năng phát triển cùng với lợi nhuận của nó. Với một sự chính xác tuyệt đối. Đưa 7 . can đảm chỉ là một phần trong nhân cách con người. Cứ hàng năm. những công thức đó hợp thành cái mà người ta thường gọi là nền quản trị khoa học hiện đại. Dùng người động não + can đảm vào những trách nhiệm quan trọng và đài thọ tốt nhất. tất cả đều không nhìn thấy được. là loại người “can đảm” thực hiện những quyết định của cấp trên. cũng như những công thức mà các nhà vật lý và hóa học thường dùng trong các phòng thí nghiệm. Thứ hai. dựa trên một sự quản trị đồng đội. hài hòa và phức tạp. Trong danh sách những người được lựa chọn có 2 loại dị bản. Thông minh. thì bạn hãy tự đặt ra câu hỏi: Ai sẽ chịu làm việc trong một xí nghiệp chịu cho người ta vắt sữa và do đó nó không còn khả năng phát triển nữa? Trực giác dạy cho tôi thấy rằng một chi nhánh công ty lành mạnh sinh lợi. Dùng người can đảm nhưng không động não vào một chức vụ thứ yếu. Đây lại thêm một thứ lý thuyết nghe rất hay về quản trị nhưng dùng không được. cái máy có thể cắt thép với độ chính xác cao không suy suyển. Loại cuối cùng là cả hai đều thấp. tôi không bao giờ tán thành việc thanh toán một xí nghiệp khi nó bị thất bại. Như vậy là bạn có thể nâng đỡ một chi nhánh có tiềm năng phát triển cao nhưng lợi nhuận thấp. tính trung thực khách quan và một số đức tính khác cũng có tầm quan trọng không nhỏ. tôi không bao giờ dùng đến những công thức như vậy. hành động. họ có nhiều ưu điểm và cả khuyết điểm. mà còn phủ nhận toàn bộ những gì chúng tôi đã đạt được ở ITT trong suốt 20 năm ròng. Tôi không thể xếp họ vào loại này hay loại khác về mặt tâm lý. ai cũng có một nhân cách trọn vẹn. Tôi giao trách nhiệm và theo dõi xem anh ta thực hiện trách nhiệm đó ra sao. Dù đã cân nhắc mọi mặt như vậy đi nữa cũng không thể nào đã biết được chắc chắn. Trong trường hợp bạn thấy hấp dẫn bởi công thức vắt sữa nuôi bò này như nhiều nhà quản trị khác. thì theo tôi. được cấp một chứng chỉ quản trị kinh doanh. Nếu một công ty hay chi nhánh cần phải đem bán. thì tôi thấy phải củng cố nó trước đã và nếu bán thì cũng bán một xí nghiệp đang sinh lợi chứ không phải bán một công ty đang thua lỗ. Thứ nhất. Trái với môn cơ học. Ở ITT tôi chỉ biết phương pháp duy nhất để đánh giá một người nào đó là căn cứ vào hiệu quả lao động của người đó. Nếu họ đủ thông minh thì những vị cử nhân ấy sẽ sớm phát hiện ra rằng trong thực tế những công thức của họ cũng không phải là không thể sai lầm. thái độ cố gắng. Bạn sử dụng mỗi người theo từng loại sau: "Động não can đảm” hoặc “động não không can đảm” và sau cùng là “không động não cũng không can đảm”. Những lý thuyết. Còn có một công thức nữa về việc chọn người và lắp mỗi người được chọn vào vị trí thích hợp với người đó. làm cho nó có thể vượt qua được cơn thử thách nguy hiểm. Không những nó không hiệu quả gì. Còn loại cần thanh toán. rất đơn giản: Loại bỏ người không động não lại không can đảm. Những người đã làm việc với tôi. Bạn nghĩ thế nào về cái thuyết này? Tôi không chấp nhận như vậy. có hàng ngàn bạn trẻ tốt nghiệp các trường cao đẳng thương mại.hoặc ngược lại là có tiềm năng phát triển cao nhưng tỷ suất lợi nhuận thấp.

nhưng bạn có thể thêm muối chỗ này. chính bạn phải vận dụng những kiến thức riêng của mình vào mỗi trường hợp cụ thể mà đề ra quyết định. hàng tháng. Chăm chú xem chừng món ăn đang làm. kiểm tra ngân sách và mọi thứ khác. báo cáo điều tra và quan sát của cán bộ. đồng thời gia giảm vào đó phần của mình nữa. Chắc bạn không bao giờ muốn làm hỏng tất cả chỉ vì một phút sao lãng vì lo việc khác. Chúng tôi cũng không chắc là lúc nào cũng đúng. lúc đó có thể gia giảm thứ gì cần thiết. có hiệu quả hơn và biết làm nhiều việc hơn. Bạn không thể cân đong một cách chi ly mọi thứ gia vị. Món ăn đó sẽ là bằng khen cho tài nấu nướng của bạn. củi. thì bạn hãy rút lửa ra.một nguyên liệu vào theo quy trình vận hành của máy tự động. gió. Đấy là cách bạn nấu bếp bằng củi khi chúng ta chưa có một quy trình như trong cái bếp tự động. tôi thường hỏi một hoặc nhiều người “ý kiến anh thế nào?”. đội trưởng và giám đốc cũng vậy. Khi mà tất cả đã xong và hợp ý của bạn. làm kế toán. Có quá nhiều người tin tưởng một cách mù quáng vào những công thức khô cứng và tự thỏa mãn với cách tiếp cận rất lý thuyết và đơn giản mọi vấn đề. nhưng một khi có được các thông tin đó rồi thì bạn hãy vứt lý thuyết đó vào sọt rác và hành động theo sự kiện bạn đã nắm được. vốn kinh nghiệm của chúng tôi thêm phong phú. Ở ITT cũng như ở nhiều công ty khác trên thế giới. dù nó có là sản phẩm tưởng tượng của một vị giáo sư lỗi lạc nào đi nữa. Chúng tôi có những máy tính khổng lồ làm việc 24/24h và những máy telex nhận tin từ các chi nhánh của chúng tôi trên toàn thế giới. một chi nhánh hay một dịch vụ với một bản danh mục những công thức hay lệ thuộc vào một học thuyết nào đó. Đó là những công cụ quản trị. nó sẽ cho ta một sản phẩm đã định hình trước. ăn ngon hơn bất cứ món ăn nào khác mà bạn làm được bằng cách bấm nút một cái bếp vi ba của bạn. Nhờ huy động trí tuệ từ những cuộc trao đổi ý kiến như vậy. Khi tôi cần có một quyết định. Canh chừng xem xét hoài cho đến khi nó chín. Dù đã tự động hóa rộng rãi nhưng vẫn là những con người với tất cả ưu điểm và nhược điểm vốn có. 8 .. rồi lại nếm lại. Xử lý các vấn đề càng phức tạp càng làm chúng tôi tiến bộ. việc bán hàng. bao giờ cũng tỏ ra quá ương bướng và mềm dẻo để người ta có thể thu nó vào một sơ đồ. Làm thế nào để nấu nướng với công cụ cổ xưa ấy? Vì biết mình không sao có thể kiểm soát được tất cả các yếu tố lửa. Bạn làm gì thì làm nhưng không bao giờ được lơ là. nếu còn gì chưa vừa lòng thì tiếp tục điều chỉnh. tin tưởng ở khả năng của mình hơn. Thực tiễn chứng minh là chúng cần được sử dụng khéo léo mới được. chúng tôi đi đến chỗ giải quyết vấn đề đang xuất hiện. Đó cũng là "não trạng" bạn cần phải có nếu bạn muốn lập một doanh nghiệp và quản trị nó một cách tốt đẹp. Máy tính điện tử. bởi vì thế giới kinh doanh cũng như thế giới nói chung. hàng năm.. một công thức hay một lý thuyết. tất cả những cái đó chỉ cung cấp cho chúng tôi một điều đơn giản và duy nhất. Cách tiếp cận đó là cách tiếp cận tốt nhất để có được những thông tin. đó là: Thông tin . Chắc chắn là logic.. thêm tiêu chỗ khác theo ước lượng của bạn. tập hợp gạch ngói mà xây nên cơ sở của Doanh nghiệp. bạn bắt buộc phải ngồi ngay cạnh cái lò cổ xưa đó. Chúng tôi không bao giờ cho rằng tất cả những cái đó sẽ làm cho công việc quản trị của chúng tôi trở nên khoa học. Một nhóm nhân viên quan trọng ngồi phân tích dòng lũ những con số mọi nơi đổ về trụ sở trung ương chúng tôi. Nhưng không bao giờ chúng tôi thu gọn nghệ thuật quản trị kinh doanh vào một công thức. Nhưng người lao động làm việc trên dây chuyền không phải là người máy. Các kệ sách của chúng tôi đầy ắp những báo cáo hàng tuần. rồi ngồi đó chờ xem nó sôi chưa. Bạn vừa làm theo lời của người ta bày cho. những kỹ thuật và kinh nghiệm nghề nghiệp giúp chúng ta sử dụng linh hoạt mọi chức năng của xí nghiệp như Marketing. đóng vai trò chất dính kết. bạn không thể lãnh đạo một xí nghiệp. Như vậy là bạn vừa làm xong món ăn ngon nhất của bạn từ trước đến nay. Bạn ngửi mùi. chúng tôi đã sử dụng những công cụ xưng là khoa học ấy vào công việc quản trị. nếu tôi cần phải tóm tắt thì tôi sẽ nói rằng cách tốt nhất để quản trị một doanh nghiệp với nhiều cơ may thành công nhất là làm giống như bạn phải làm khi nấu bếp bằng củi vậy. Trong kinh doanh. nhưng trải qua gần nửa thế kỷ tôi nhận những trách nhiệm trong giới kinh doanh.thông tin về những sự kiện có thật và đôi khi có những điều không chính xác nữa. nhúng đũa nếm thử. Tóm lại. Chúng tôi vừa tiến lên vừa học thêm. Tuy vậy chúng tôi không bao giờ tự đánh lừa mình.

Người ta đọc một quyển sách từ đầu đến cuối. Trong lãnh vực kinh doanh dù có nói đủ điều và làm đủ mọi chuyện.Tất cả những điều tôi nói trên chỉ là sự chuẩn đoán cho những chương sau. Nhiều bạn trẻ hỏi bí quyết thành công của tôi. những điều tôi nói cũng giống nhu những lời mẹ bạn nói khi bạn hỏi bà về cách nấu món ăn "tủ” nào đó của bà. Phần lớn trường hợp tôi tránh trả lời. tôi thấy rằng công ty này không giống như tôi tưởng. tôi cũng buộc phải có một số quyết định khẩn cấp. Nhưng vấn đề đau đầu nhất vẫn là những báo cáo tài chính của công ty. không có bí quyết. Người ta sẽ quên hết tất cả mọi thứ để chỉ nhớ đến bản kết toán kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó. Tôi đã dành phần lớn thời gian của tuần làm việc đầu tiên để thu nhặt những số liệu thống kê tài chính của công ty. Tôi yêu cầu gặp những người phụ trách các chi nhánh sau khi tôi đã đọc kỹ báo cáo tài chính của họ. được chọn làm Chủ tịch HĐQT và chủ tịch tổng giám đốc PDG (President Directeur General) là nhờ tiếng tăm của tôi sau 4 năm làm phó chủ tịch quản trị lo về kiểm tra tài chính của công ty Raytheon đã làm cho lợi nhuận của nó tăng gấp 3 và đã có 33 năm trong thương trường. có người bực dọc tôi vì không giao cho họ vị trí họ muốn. Rồi các bạn sẽ thấy. không có công thức. Sau khi đọc các báo cáo tài chính. đã nhận được và tôi cho là bổ ích cho cái thế giới rất thực dụng của giới kinh doanh. vì tôi không những có nghề mà còn có hồn làm kế toán. những khu vực đang sinh lợi. không có lý thuyết. những khu vực đang có vấn đề. từng chi nhánh một. Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp không phải chỉ giới hạn trong bản quyết toán 3 tháng hay một năm. Từ đó tôi bắt đầu đặt ra câu hỏi. Tôi đã đến với ITT từ năm 1959.Người ta lãnh đạo Doanh nghiệp theo chiều ngược lại. Đó là kinh nghiệm thực tiễn. Còn khi cần phải trả lời thì bí quyết của tôi là: Tôi không có bí quyết nào cả. có người ve vãn tôi.Nghĩa là người ta bắt đầu từ đoạn cuối và sau đó làm mọi việc có thể làm được để đi đến kết quả. Khi nói tới khả năng cạnh tranh. các phân tích. đó là Kết quả. . Lâu nay ai cũng nghĩ rằng ITT chiếm địa vị rất tốt trong phạm vi cả nước và đặc 9 . mà phải là lâu dài. II. đang phát triển hay đang đình trệ. thì rốt cuộc người PDG và toàn bộ ban lãnh đạo của nó cũng chỉ được thiên hạ đánh giá theo một tiêu chuẩn duy nhất. Lãnh đạo một Doanh nghiệp như thế nào? Toàn bộ bài giảng về quản trị kinh doanh được tóm tắt lại trong 3 câu: . tôi muốn nói đến khả năng hoàn thành và phát triển dài hạn của một doanh nghiệp trong môi trường thương mại thường xuyên biến động. không có lợi gì để nâng nó lên tầm lý thuyết. Khi tôi mới bước vào ITT. Những con số đến với tôi từ các chi nhánh khắp nơi trên thế giới cho phép tôi đánh gía tài sản của ITT. Tôi đã rèn luyện được cảm giác nhạy bến về sự cân đối cần có của một doanh nghiệp. . Người ta chỉ cần biết doanh nghiệp đó đã đạt được gì trong cuộc cạnh tranh trực tiếp với các đối phương trong một môi trường kinh tế định sẵn. Trong bất cứ trường hợp nào cũng không được coi nó là một công thức hay một sự hướng dẫn kinh doanh thành công. tôi luôn nghĩ rằng những con số chính là bộ xương của doanh nghiệp. những nguồn lợi nhuận. nguồn thu và chi của nó. Từng bước. Đây là lần đầu tôi làm PDG của một Công ty tập đoàn lớn với biết bao thách thức. Thậm chí tôi còn hình dung được con người đang viết báo cáo tôi đang đọc bằng xương bằng thịt. xem xét từng ngành. Tôi còn muốn đi xa hơn nữa để nói rằng: những con số đối với tôi chẳng khác nào đọc giữa những dòng chữ (to read between the lines). tôi nắm được tất cả những con người đã hình thành nên Công ty ITT. Tôi nhìn những con số mà hình dung ngay ra trong đầu của mình các bộ phận của công ty đang hoạt động như thế nào. tôi nhận ngay hậu quả về nhân sự. nhờ đó mà người ta có thể đoán nhận được là nó có thể tái lập thành tích của nó từ năm này sang năm khác được không. Đó là những gì tôi đã học được.

thanh lịch và làm việc kiên trì không biết mệt mỏi. duyệt ngân sách đề nghị. Từ đó không ai dám ho he gì nữa. Sau nữa họ đề nghị là trụ sở điều hành ITT châu Âu nên đặt ở Bruxelles chứ không nên ở Pháp hay Đức. có một người hỏi Behn một câu. 10 . Nhưng sự thực thì tổng hợp tất cả những hợp đồng ấy. Tôi đánh giá cao sự trung thành của các thành viên giám đốc người Anh. Qua 6 tháng đầu Scudder đã dẫn tôi đi khắp các chi nhánh của ITT ở Tây Âu. 5 phó chủ tịch có văn phòng ở nhà 67 Broad Street và chỉ một phó chủ tịch duy nhất chịu trách nhiệm phối hợp các hoạt động của ITT ở các nước ngoài! Con người đó là Henry Scudder. 85% lợi nhuận còn lại khai thác được là từ hệ thống liên lạc viễn thông ở 24 nước khác. Tôi ngạc nhiên thấy rằng toàn bộ những hợp đồng quân sự chiếm 3/4 doanh thu trong nước của ITT thì tổng lợi nhuận thu được trong nước cũng chỉ chiếm 15% tổng số lợi nhuận của toàn Công ty. Tệ hơn nữa ê kip lãnh đạo lại nằm gần hết ở Mỹ chứ không phải ở gần nơi sản xuất kinh doanh.000 nhân viên ở nước ngoài. khi tôi tỏ ý ngạc nhiên về việc không có phản ứng gì ở cuộc họp vừa qua thì người ta đã giải thích cho tôi hiểu: Trong một cuộc họp mà Đại tá Behn đã chủ trì hai năm trước. Mặc dù tôi thấy được cái lợi của sự thu xếp đó. ít lâu sau anh ta bị chuyển đi nơi khác. Anh vẫn còn mang mối hận của Thế chiến II không thể hợp tác với nhau. Trong bữa ăn sau đó. vì đã có Henry Scudder làm trung gian.biệt mạnh là nhờ ngành điện tử phục vụ quân sự. gửi đều các báo cáo tài chính về Mỹ.000 ở trong nước Mỹ. doanh nghiệp nào cũng muốn không phụ thuộc và hợp tác với ai cả. Mỗi doanh nghiệp đều có chương trình riêng về nghiên cứu phát triển mặt hàng mới y như nhau. Scudder cho tôi biết ông ta đã thu xếp để giữ một nhóm 20 người ở New York với sứ mạng không bình thường: Theo dõi và trình bày tình hình như thế nào để các vị phó chủ tịch kia không bao giờ thấy cần thiết phải đi kiểm tra ở Châu Âu nữa. Cuối buổi họp tôi hỏi thêm có ai muốn phát biểu gì? Không có ai. thật là một sự lãng phí quy mô lớn. Người ta còn giải thích thêm cho tôi. các quan chức chính quyền địa phương. ở Âu châu theo phép lịch sự phải gọi bằng họ chứ không được gọi tên. Nam Mỹ và Viễn Đông. Đức đối với Sosthenes Behn người sáng lập ITT. thí dụ Charles (tên) De Gaulle (họ) gọi xã giao phải là Mr De Gaulle. Trong cuộc họp đầu tiên của ban lãnh đạo ITT ở châu Âu do tôi chủ tọa tại một gian phòng lớn đầy người ở Paris. phần lớn là ở Tây Âu. tôi đã nói đến sự cần thiết phải áp dụng những phương pháp quản trị Mỹ cho các công ty của ITT ở Âu châu. chương trình dự án. Các phân tích tài chính toàn Công ty thì lại nghiêng về phía cho rằng ITT sẽ bị lỗ trong các hoạt động hải ngoại. Như vậy là Công ty ITT đã mất cân bằng nặng. gặp gỡ các đối tác quan trọng. ITT cũng chỉ thu được rất ít lợi nhuận. Cái bất lợi lớn nhất của sự độc lập các doanh nghiệp ở châu Âu với ban lãnh đạo ở Mỹ của ITT là sự cạnh tranh. Qua ít hôm làm quen và đả thông được. thăm nhà máy. Ông và chỉ một mình ông xem xét những khó khăn của họ. chừng nào cánh bên Mỹ có thể cho họ thấy làm ăn tốt hơn hãy đòi họ quản trị theo phương pháp Mỹ. chỉ người thân mới được gọi tên Charles. trong khi chỉ có 23. đẹp người. Trong suốt thời gian này tôi chỉ về Mỹ mỗi tháng một lần dự cuộc họp HĐQT của công ty. Pháp. gặp giám đốc và các cán bộ cao cấp. Tôi ghi nhận những điều này và tập trung những cố gắng đầu tiên vào các thương vụ ở châu Âu vì đúng là công việc ở đây đã đem lại thu nhập và lợi nhuận chủ yếu của ITT lúc đó. nó có tới 113. Tôi đã gặp và thấy các giám đốc người Pháp. đầu tư… Các vị giám đốc ở Châu Âu rất thích cách cư xử như thế vì họ có thể quản trị các doanh nghiệp này theo cách của họ. nhưng nó không phù hợp với quan điểm của tôi về quản trị. vì tôi muốn dành phần lớn thời gian để đi xem các cơ sở của công ty. tất cả các doanh nghiệp mà họ được giao cho quản trị đều được giao với đầy đủ quyền hạn để làm việc cho quyền lợi của các cổ đông Mỹ. Lợi nhuận ròng của toàn công ty chỉ xoay quanh con số 3%. các giám đốc Châu Âu còn cho tôi biết là họ biết rõ ITT đứng vững được là nhờ hoạt động ở châu Âu. Thật là ngược hẳn với những điều mà tôi nghĩ đến sau khi đọc các báo cáo tài chính toàn Công ty. xem các sản phẩm. trên thực tế là họ đã cạnh tranh với nhau còn dữ dội hơn là đối với các đối thủ ngoài ITT. Tôi biết rằng tôi phải củng cố những vị trí của chúng tôi ở châu Âu trước khi bắt tay vào giải quyết cái ẩn số phía Mỹ trong chương trình ITT.

. Tôi hoàn toàn ý thức được tầm quan trọng căn bản của mục đích đó. Cái hay của việc tự đặt ra cho mình một mục tiêu kiên quyết và thực tế như vậy. để đảm bảo cho khả năng phát triển cho năm sau. nhưng nếu vào năm mà nền kinh tế gặp khó khăn thì chúng tôi sẽ phải làm việc như điên mới mong đạt nổi. Căn cứ vào đâu? Trước hết tôi xem các công ty tương tự khác lúc đó.Sáu tháng đầu trong lúc làm con thoi qua lại giữa Châu Âu và Mỹ. Tôi cũng đã nói với các nhà báo việc đạt mức tăng trưởng 10% năm không phải là việc khó ở những năm bình thường. Đó là mục đích cao nhất để tôi tập trung mọi cố gắng vươn tới. Đối với một công ty đa quốc gia như ITT rõ ràng là để đạt mức 10% trung bình thì phải có những doanh nghiệp đạt trên mức đó (đến 15%) để bù cho một vài doanh nghiệp đạt thấp. họ phải mang tới đây một tư duy hiện đại.15% năm được coi là đích cuối cùng. nên chúng tôi đặt mức phấn đấu 15% để đạt bình quân 10%. đó là đề ra mục tiêu và chỉ cách cho họ đạt mục tiêu. nhưng sẽ làm hại cho sự phát triển của những năm sau đó và tạo ra bản quyết toán không đúng sự thực. . Đó cũng sẽ là cây thước đo hiệu quả quản trị của tôi. Tỷ lệ lạm phát 2%. tôi đã cho HĐQT biết là tôi sẽ có chương trình mua lại các công ty nhỏ để làm sao cho lợi nhuận của ITT trong nước sẽ tăng từ 15% lên 50% 11 . hoặc như tôi nói là phải bắt đầu ở đoạn cuối là nó buộc chúng tôi phải định ra những gì cần phải làm để đạt tới mục tiêu đó. trước khi đạt đến tăng trưởng 10% . Đối với tôi. Và chúng tôi đã chứng minh được điều đó trong 58 quý liên tục. Thông thường người ta đánh giá hiệu quả một doanh nghiệp ở tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của nó. mức tăng trưởng 10% lặp lại năm này qua năm khác là cái mà tôi gọi là mục tiêu di động. vì coi nó như một công ty nước ngoài. Chúng tôi thuê một công ty “săn bắt những cái đầu” để tìm kiếm những tài năng hiếm hoi ấy và thuê văn phòng Mc Kinsey dựng cho chúng tôi hệ thống thang bảng lương đó.Muốn vậy phải thay đổi ban lãnh đạo. 85% lợi nhuận của chúng tôi là ở nước ngoài và người ta có thể giả thiết là các cổ đông ở nước Mỹ sẽ xa lánh nó.Điều đó có nghĩa là tôi phải thu hút về ITT những con người ưu tú nhất trong giới quản trị kinh doanh. Để ITT có tầm vóc ngay trong nước. Nếu muốn tới điểm Z thì bạn phải qua điểm Y. Mỗi doanh nghiệp có vô số cái đích cần đạt đến nếu doanh nghiệp đó muốn đi đến thành công. Tôi trình dự án của tôi trước HĐQT. họ không để ý đến cái được gọi là “chất lượng của doanh lợi” mà tôi luôn nhấn mạnh ở ITT.Phải cải tiến ban lãnh đạo đang mất đoàn kết này thành một thực thể thống nhất và được quản lý tốt. đầu óc tôi không lúc nào quên rằng mình đang theo đuổi mục đích nhất định cuối cùng. Thoạt đầu các chuyên viên. muốn tới điểm Y bạn phải qua được điểm X… Mỗi mục tiêu đề ra cho chúng tôi những chặng đường phải vượt qua để tới được nó và mỗi chặng đường như vậy tự nó cũng là một cái đích. một cách liên tục. Ở ITT tất cả các giám đốc đều hiểu rằng họ phải làm cách nào để đạt mức tăng trưởng 10% năm. tôi thuyết phục họ về tăng lương cao hơn các công ty khác 10% và thiết lập một chế độ khen thưởng hàng năm cho cán bộ lãnh đạo tùy theo kết quả công tác của họ. tôi phải vượt qua một số chặng đường trung gian: . Với ITT tôi đưa ra mức tăng trưởng 10%. Ngoài việc tổ chức lại đội ngũ lãnh đạo thì nhu cầu cấp bách nhất của ITT là phải củng cố và phát triển lợi nhuận từ các hoạt động trong nước. điều đó có nghĩa là phải mở rộng hầu bao ra cho nghiên cứu và phát triển: phát triển mẫu hàng mới. Trong thí dụ về ITT. nhân tố không thể thiếu được cho sự hoàn thành mục tiêu cuối cùng của ITT đã đề ra. Tôi đã tin tưởng từ lâu rằng nhiệm vụ chủ yếu của một PDG là làm hậu vệ cho đồng đội của mình. với một thời gian biểu đều đặn. Bất cứ công ty nào cũng có thể dồn hết sức lực và tiền của vào để đạt doanh lợi cao cho một năm. các nhà báo ở Wall street họ tưởng là chúng tôi chỉ phấn đấu đạt 10% lấy một năm thôi. các công ty như RCA hay Westinghouse đạt 5% (1959) phần đông các công ty khác đạt 3%. tìm thị trường mới. Đối với niên khóa hiện hành. Việc kế hoạch hóa của chúng tôi xoay quanh những dữ kiện như vậy. Tôi cần có những con người không những có thẩm quyền trong ngành chuyên môn của họ mà còn phải được động viên đúng mức để thích nghi với nhịp độ lao động của công ty.

Nhưng nếu ở châu Âu trực tiếp gặp mặt người yêu cầu. các công ty nhỏ và vừa lệ thuộc vào các công ty quan trọng hơn về phụ tùng thay thế và nhiều thứ sản phẩm khác. Pháp chịu nhận chỉ thị của các giám đốc Đức. Từ sau thế chiến II ở châu Âu. Các công ty hoạt động ở các nước khác nhau đều có đại diện trong các văn phòng phối hợp hoạt động. lúc nào cũng nhằm vào cái đích cuối cùng muốn đạt tới. cảm nhận được đầy đủ niềm tin chứa đựng trong yêu cầu đó. lợi nhuận của chúng tôi ở nước ngoài đã bị trưng thu. Tôi cũng đồng thời phát hiện được một điều khác nữa là chúng tôi đã mất quá nhiều thời gian để làm kế hoạch cho năm tới hoặc 5 năm sau. 12 . Và họ thường che đậy bằng câu nói: "ô. Cũng trong thời gian này. nên giữa họ với nhau không còn tranh chấp nữa. chính việc mở rộng thị trường của Mỹ ngay thời gian sau chiến tranh và tình trạng giá nhân công châu Âu tương đối thấp so với Mỹ đã làm các công ty của ITT ở Âu châu có thể kiếm được lợi nhuận mà không cần phải năng nổ lắm trong cạnh tranh. thì rất có thể là tôi sẽ có câu trả lời khác hẳn. Mặc dầu khi đó nó đem lại lãi đáng kể nhưng các công ty của chúng tôi ở Âu châu còn phải lẽo dẽo theo đuôi các công ty châu Âu. trừ tháng 8 (hè) và tháng 12 (tết). Trong thực tế. để tăng thêm lợi nhuận chúng tôi cần củng cố và thống nhất tài sản của chúng tôi ở châu Âu. ngay lập tức tôi đã quyết định rằng tôi phải kiểm soát mọi hoạt động của ITT ở châu Âu ngay tại chỗ. ở Mỹ cũng như ở nước ngoài. Từ nay trong nội bộ ITT. Vì vậy. Các quyết định của các văn phòng này có hiệu lực ở tất cả các cấp của ITT và làm điểm xuất phát cho sự thống nhất hành động cho tất cả các công ty ITT ở Âu châu. chỉ nhờ sự dũng cảm của một vài ngân hàng mà sống sót được. lúc đó là đáng kể. Để tăng số lợi nhuận trong nước. Nếu điều đó xảy ra chắc chắn là ITT sẽ phá sản. Ý và ngược lại. nó đã xảy ra trong một thời gian ngắn vào cuối Thế chiến II. mà vì tính trung lập của nó. một trong những sáng kiến đầu tiên của chúng tôi là lập ra ban điều hành ITT ở Bruxelles (Bỉ) không phải vì Bỉ ở trung tâm châu Âu. Trong suốt 17 năm cùng với những cộng sự viên thân cận nhất. tiến tới đích cuối cùng đã định trước. nên việc tranh giành giữa họ với nhau cũng được giải quyết. Để được như vậy chúng tôi phải tự tổ chức lại từ bên trong. Pháp khó làm việc chung nếu trụ sở đặt tại Đức hay Ý. doanh số của ITT ở châu Âu tăng từ 300 triệu $ lên 7 tỷ $. nghe người đó nói. tổ chức theo nhóm sản phẩm. để vị trí của chúng tôi thêm thuận lợi và có thể phát triển thêm cơ sở của mình. trụ sở của khối thị trường chung châu Âu. Để thực hiện mọi kế hoạch của mình tôi phải giải quyết mọi việc tại chỗ. Ngay thời gian đầu nhậm chức. quan trọng hơn mà không cảm thấy mình thấp kém. Từ 1959 đến 1977. bao gồm những nhà sản xuất những sản phẩm nhất định và những nhà sản xuất nhỏ hơn. nay chỉ cần 3 đến 4 người đưa ra. Chúng tôi đã đi đến quyết định thành lập các văn phòng phối hợp hành động. thì câu trả lời của tôi thường là khác nhau tùy theo khi đó tôi đang ở Mỹ hay ở tại châu Âu. Thời tiết kinh tế ở Châu Âu lúc đó thật đáng lo ngại. Và ITT lúc ấy ở bờ vực thẳm. Chúng tôi đã cùng nhau làm việc như thế đấy. hai vấn đề nổi lên trong lĩnh vực quản trị kinh doanh là làm thế nào để thuyết phục các giám đốc người Anh. những năm tôi điều hành công việc của ITT.trong tổng lợi nhuận. đừng lo. Làm thế nào để các doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu theo các quyết định của các doanh nghiệp lớn. Các viên giám đốc Anh. Trong thực tế. trước đây cần 8 đến 9 người. tôi đến châu Âu và ở đây làm việc mỗi tháng một tuần. chúng tôi đã đạt được điều mong muốn: biến công ty của chúng tôi thành một tổ chức thống nhất và có thể tự hào về các thành viên của nó. Để bổ cứu tình trạng đó. Tôi còn nghĩ rằng phần lợi nhuận trong nước sẽ đủ để trang trải lợi tức cho các cổ đông. đến nỗi các chi nhánh của chúng tôi bê trễ việc thực hiện kế hoạch 3 tháng đầu năm hiện hành. hoàn thành hết nhiệm vụ này đến nhiệm vụ khác. Còn các quyết định. đặc biệt là Philips và Siemens. mặt đối mặt với những con người có liên hệ. Các quyết định của các văn phòng điều hành này có hiệu lực đối với toàn bộ các hoạt động của các công ty của ITT ở châu Âu. Khi tôi nhận được nó tại văn phòng ITT ở New-York thì tôi dễ dàng bác bỏ nó. các nước châu Âu có thể quyết định bất cứ lúc nào về việc ngăn cấm các công ty Mỹ chuyển lợi tức về nước. vượt qua từng chặng đường một. chúng tôi đã phải tăng thêm tài sản bằng cách kêu gọi thêm cổ phần. tôi đã có nhận thức là một khi người ta đưa đến tôi một yêu cầu từ các chi nhánh ở Âu châu.

Người ta đọc một quyển sách từ đầu cho đến cuối. phá sản. được nhận vào làm (3 năm) cho Công ty Mayflower Associates. Tôi rất thích việc này. Thế là tôi lại đi học lại (lớp ban đêm đại học New York trong 8 năm. những báo cáo tài chính năm của những công ty lớn nhất trong nước. Với tư cách là một chuyên viên kế toán tôi đi từ công ty này đến công ty khác để kiểm tra sổ sách tài chính giúp họ. hai là kinh nghiệm. giá trị cổ phiếu của nó tăng gấp trăm lần. tôi đã đưa ra một bản chỉ thị ngắn chưa từng có trong công ty ITT “không dự kiến dài hạn nữa”. tiền tài rồi sẽ đến sau. Cho đến năm 16 tuổi. học trường phổ thông Suffield –Connecticut. Tôi đã làm việc cho công ty Lybrand & Brothers 6 năm và cũng đi thi giật được mảnh bằng tốt nghiệp chuyên viên kế toán. bố làm tổ chức lưu diễn. Tôi được giao trách nhiệm thương lượng các hợp đồng và xoay ngân quỹ. các bạn hãy tin tôi. Bạn hãy thu được số tiền lời dự kiến cho quý 1. lương 20-30$ tuần. người ta lãnh đạo một doanh nghiệp theo chiều ngược lại. Vì quá bận việc chạy vạy cho hãng quảng cáo. khi đó thì mới khỏi sợ quý 4 không hoàn thành. rồi làm cho một hãng quảng cáo đi mời người đăng. tôi cũng học được cả cách lãnh đạo của họ. Nhưng một năm sau. Phải khách quan.5$ lãi 100%. Một là tiền tài. cũng như học được cách làm cho ai cũng hoàn thành được trách nhiệm của mình. Tiếp đó xin được việc bán sách giao tận nhà. nếu bạn không hoàn thành kế hoạch quý 1 thì bạn sẽ không hoàn thành kế hoạch cả năm đâu. vẫn cảm thấy mình là dân chầu rìa. chứng kiến nhiều cơ nghiệp lên xuống. Năm 22 tuổi. III. Hay có thể dùng một công thức đơn giản hơn: Hãy quyết định xem bạn muốn gì và lao vào mà làm. Tất cả mọi người chúng tôi lao vào việc xây dựng nhà máy với lòng hăng say phi thường. Khi giá tăng tôi bán được 1. Đó là nguyên tắc lý thuyết được thực hiện trong thực tiễn. Đầu năm 1935 hãng Landsberg sa thải tôi vì không nuôi nổi một nhân viên phụ việc. tôi biết rằng tôi đã thực sự bước vào đời. đó là thời kỳ tập sự tuyệt vời. quen biết với nhiều người. nó đem lại cho tôi mấy cái lợi (1) là làm cho tôi lành nghề hơn. (2) là có nhiều mối quen biết hơn. nhưng trên thực tế vẫn chưa thực sự tiếp xúc với quá trình đó. của quý này. Sau đó tôi làm cho Amertrop (4 năm) tôi được giao việc phụ trách thành lập hai xưởng làm vũ khí cho Hải quân Mỹ. lương 22$/tuần. G. Không được. buôn bán đất. Nhiệm vụ được giao cho tôi với tư cách là chuyên viên kế toán của thị trường chứng khoán. Khi đọc những bản báo cáo tài chính của các công ty. Cái nghề kế toán dạy cho tôi biết cách đề cập mọi vấn đề quản trị kinh doanh một cách có phân tích. Sau đó làm việc (6 năm) ở thị trường chứng khoán New York cho vài hãng môi giới. Kinh nghiệm và tiền tài Trong kinh doanh có 2 thứ thu nhập. Toàn thể đội ngũ lãnh đạo đều hoan nghênh tinh thần đúng đắn của bản chỉ thị đầy hài hước đó và thế là chấm dứt các kế hoạch 5 năm được vẽ ra mà không chịu hoàn thành ngay công việc trước mắt. tích lũy được nhiều thông tin trong khi đọc những thông báo của thị trường chứng khoán.tôi chưa làm được trong quý này nhưng tôi sẽ hoàn thành trước cuối năm”. Tôi sinh năm 1909 ở thành phố nhỏ Bournerouth gần Londres. Mùa hè 1925 về New York bắt đầu bằng việc đưa hàng cho một nhà làm litho (bản in bằng đá). phải lo kiếm sống trước đã. Tới năm 1935 tôi đã nắm được kiến thức kế toán. mẹ tôi bảo "Con định làm một anh lính quèn suốt đời sao? Phải tìm lấy một việc làm thực sự chứ”. Mọi vấn 13 . bị rèn luyện sống tự lập từ bé. Vấn đề này. giá mà tôi đừng bán lúc đó thì bấy giờ tôi đã giàu to. tôi phải ngừng học đại học ban đêm. dưới sự lãnh đạo của ông C. Preiss tôi đã học được cách hoàn thành mọi trách nhiệm được giao. của năm này. chưa thật sự trực tiếp tham gia vào cái phần tích cực và hữu ích nhất của quản trị kinh doanh. chỉ gặp nhau ở dịp nghỉ hè. họ ly dị nhau năm tôi 5 tuổi. năm 8 tuổi theo mẹ sang Mỹ. Tuy vậy tôi vẫn chưa thỏa mãn. rồi quý 3. người ta bắt đầu từ đoạn cuối và người ta làm tất cả những gì có thể làm được để đi đến đó. Mẹ gửi 2 anh em ở trường mồ côi. giao hàng bánh mỳ và tiếp tục học hết 2 năm phổ thông ở trường Suffield. đã đẩy tôi tới gần quá trình sản xuất. có được bằng cử nhân kinh tế). Sau này công ty Mayflower bộc phát trong dầu lửa. rồi quý 2. một công ty đầu tư nhỏ. Mẹ là nghệ sĩ không thành đạt. Hãy thu nhặt kinh nghiệm trước. tôi bắt đầu mua vào vài ba cổ phiếu loại 75 cent. phải dựa trên các sự kiện để đánh giá công việc.

ông là người tự học từ chỗ không có gì. những nhà máy thép cũng không bao giờ chạy đến 80-90% công suất và khi nhu cầu thép giảm thì chi phí ở những nhà máy thép khổng lồ này cũng vẫn rất cao. Chính là công việc quản trị ở đó đã cho tôi thấy là hoạt động của các công ty khổng lồ đó cũng không khác gì những công ty nhỏ hơn. Đó là những triệu chứng đầu tiên của căn bệnh của nó hiện nay. sẵn sàng chuyển hướng ngay.đề đều phải được giải quyết. Như vậy mỗi xe tăng chỉ 12$ trên giá bán 500$ lúc đó. tiền lương có cao hơn. nhưng lao vào làm dụng cụ quang học cho chính phủ. Các công ty thép bị vây hãm trong những cuộc đấu tranh đòi tăng lương của công nhân và không đủ vốn để đầu tư vào những nhà máy mới. rất hấp dẫn và được lãnh đạo tốt bởi ông chủ của nó Joseph McNab. Sản phẩm làm ra có to lớn hơn.000$/năm. Tôi làm phó chủ tịch (phó PDG) và quản trị viên với lương 40. lò cao trải dài trên bờ sông Ohio. Sloan đã thành công trong việc tổ chức một công ty phân tán trong sản xuất nhưng thống nhất trong quản trị. Tôi đặc biệt thích Công ty thuộc ngành công nghiệp nặng này với những lò luyện thép. công ty luyện thép đứng hàng thứ 5 ở Mỹ. Tổng thống Truman đã phải chiếm quyền kiểm soát các nhà máy và thỏa thuận tăng lương trong hợp đồng với công nhân và sau đó trả những nhà máy lại cho những người lãnh đạo của chúng. cái đó gây ấn tượng rất mạnh. tất cả những vấn đề quyết định cho một doanh nghiệp có hoạt động được hay đình trệ. về giá cả và về năng suất lao động. một công ty nhỏ mới thành lập đang trên đà phát triển.. rằng giá xe hơi sẽ cao đến mức mà đa số dân chúng sẽ không mua nổi. Phần lớn thời gian của tôi gặp các quản đốc xưởng và khuyên họ tìm mọi cách giảm chi phí sản xuất. Lúc ấy giá thép tăng thêm đến 8$ mỗi tấn thì có tiếng la ó từ phía công chúng và chính phủ. tôi đã đưa ra một chương trình kiến nghị nhưng không được chấp nhận Năm 1946. Chiến tranh Thế giới II (1938-1945) kết thúc. Giá thép quá thấp. đưa tôi đến chỗ ngày càng lấn sâu vào nhà máy.000$/năm) xét về phân công trong công ty thì việc trả lương như thế là không có lý và tôi cũng đã hiểu ra rằng muốn tiến thân trên con đường doanh nghiệp này tôi phải leo lên mức thang cao hơn. tiết kiệm cho Công ty hàng triệu $ mỗi năm. trong chiến tranh đã xây dựng công ty này. Toàn ngành công nghiệp đã liên kết lại để chống lại yêu cầu tăng lương của Nghiệp đoàn lao động ngành Thép. Tôi nhẩy sang Công ty Jone and Laughlin. 2 nhà máy này phải nghĩ đến việc chuyển sang làm hàng dân dụng. lương 14. Trong những năm 1950 ngành thép Mỹ không phát triển mạnh. Tiếng lò cao và máy móc hạng nặng làm đậm nét thêm quang cảnh bẩn thỉu và buồn bã của môi trường xung quanh. tôi làm việc với tư cách là giám đốc tài chính cho công ty Bell and Howell (5 năm). Ai cũng thấy thế nhưng không ai làm được gì cả. Để có ý kiến mới trong công việc. là thép. Từ trong những cỗ máy khổng lồ tuôn ra những thỏi thép dài vô tận. Trong công ty này luôn có những vấn đề khó khăn và khủng hoảng. chi phí xây lắp quá cao so với giá thành của thép. Ở đây chỉ có sự khác nhau về qui mô thôi. nhưng các vấn đề thì cũng vậy. về tinh thần làm việc. Bằng cách này đã giảm đáng kể lực lượng dự phòng để tản mạn khắp nơi trước đây. 14 . tôi đề nghị tăng giá thép. Khi về Công ty Jones and Laughlin tôi phải hết sức khó khăn mới làm cho ban lãnh đạo ở đây chấp nhận vài lời khuyên mà tôi đã học được từ GM. Đó là những vấn đề thường gặp về con người. hoàn toàn lệ thuộc vào thị trường. Năm 1950 McNab chết vì ung thư. Muốn làm một xe hơi lúc đó cần 2T thép. Mặc dù tôi rất lưu luyến vói công ty này. để nơi nào lúc nào cần thì có thể nhanh chóng điều động họ đến đó. di chúc lại cho Charles Percy làm Chủ tịch PDG (lương 70. nếu muốn được mọi người kính trọng thì người ta không được phép ngủ yên khi sứ mạng chưa hoàn tất. tôi tìm cách để được mời tham dụ một khóa quan sát 6 ngày về phương pháp quản trị kinh doanh của General Motor.. nơi mà nhà quản trị thiên tài Alfred P. Ngay trong thời kỳ tốt đẹp. nhưng chủ tịch HĐQT kiêm PDG của Jones and Laughlin đô đốc Ben Morcel đã vặn lại tôi không thể được.000$. công nghiệp xe hơi là khách hàng lớn nhất của chúng ta. Đặc biệt là vấn đề làm thế nào để tập hợp được lại một chỗ lực lượng dự bị của Công ty. còn tôi làm giám đốc tài chính.. Công nghiệp luyện thép chỉ có một loại sản phẩm duy nhất. khi không tăng được giá bán thì lối thoát duy nhất là phải hạ được giá thành. vượt qua khuôn khổ quản lý tài chính của tôi.

họ quá tự hào là người làm thép. ông Adams sẽ chỉ là Chủ tịch HĐQT. đó là nguyên tắc của ông. Công ty J&L đã trải qua một thời kỳ khốn khó và cuối cùng phải bán lại cho James Ling. Nhưng Công ty J&L thì không làm như thế. Đó là lúc tôi nghe tin công ty Raytheon vừa mới mất viên giám đốc tài chính cần tìm người thay. Mặc dầu cuộc đấu tranh này còn dai dẳng. Tôi đã đề ra một số quy định về kế toán sao cho giá thành và lợi nhuận trong mỗi đề án sản xuất phải được nắm vững hơn nữa. Năm thứ nhất. ông này đã thấy được tôi là người có khả năng làm quản trị chứ không chỉ tài chính. tôi theo học khóa quản trị kinh doanh cao cấp của trường thương mại Harvard.Công việc đổi mới ở Jones and Laughlin có thể coi là trận đấu chưa đánh đã thua. danh tiếng công ty Ray cũng lan rộng. Giải pháp: phải có mặt hàng khác. tôi đã đi vào tổ chức lại công ty Ray sao cho mỗi người phụ trách chi nhánh có nhiều tự chủ hơn trước trong điều hành công việc. Một phần công việc của tôi là hướng dẫn các nhà phân tích tài chính đi tham quan xí nghiệp. hợp đồng chủ yếu với quân đội. nhất định không làm thứ gì khác. tên lửa và dụng cụ hàng hải. Tôi đã gặp ông Charles Francis Adams PDG của Công ty Raytheon. Cách làm đó rất có hiệu quả. Tôi cần phải tìm được ở nơi họ những vấn đề về thiết kế công nghiệp mà họ đang gặp phải. chịu trách nhiệm cá nhân về lỗ lãi ở chi nhánh. Tình hình này đã khiến tôi phải gặp ông Adams vào một ngày thứ sáu. phải đa dạng hóa sản phẩm của Công ty. Vấn đề của Công ty Ray là như sau: Công tác nghiên cứu phát triển của họ tập hợp được nhiều kỹ sư giỏi. Có những đồn đại tôi sẽ là PDG. tôi nói hoặc là tôi lãnh đạo Công ty này. Tôi làm việc “quanh” họ. Việc tôi đến đây đã thành đầu mối cho một cuộc đấu tranh gay gắt giữa họ và tôi.000$. Theo cách đó tôi có thể nói đồng thời với mọi người ở tất cả các chi nhánh. tôi tiếp tục đi tìm những kỹ thuật mới về quản trị. lấy làm tự hào về kết quả kinh doanh ít ra cũng ngang với tự hào của họ trong thành tựu kỹ thuật. Người ở đây phần lớn là các kỹ sư. sản xuất ra-đa. Raytheon chia cắt ra rất nhiều các chi nhánh. năm khi mười họa mới gửi báo cáo về cho PDG. Mọi người được thưởng theo kết quả đóng góp của mình. có khả năng mang lại sức sống cho công ty. hoặc họ. Tôi yêu cầu có những cuộc họp hàng tháng với các cán bộ lãnh đạo của Công ty và những người phụ trách các chi nhánh. những giám đốc chi nhánh có năng lực và nhiệt tình. mà những người trong ban lãnh đạo này lại không quan tâm cụ thể đến kết quả về mặt tài chính của các chi nhánh. góp phần tổ chức nó lại theo nguyên tắc của môn quản trị kinh doanh hiện đại. Chính những con người đang hoàn thành trách nhiệm của họ và họ sờ nắn được cái thực tế của thế giới kinh doanh. Tôi muốn làm việc trực tiếp với ông không qua khâu trung gian của họ và tôi cũng muốn được truyền đạt mệnh lệnh của ông một cách trực tiếp. tôi đã đem lại cho Raytheon số tiền lớn hơn nhiều món tiền họ trả cho tôi. Tôi đã phải gặp ông Adams để hỏi về chuyện này đồng thời cũng muốn biết ý kiến của ông về vị trí tôi có là PDG không? Ông Adams đã trả lời là ông không đảm bảo điều đó. Xin ông suy nghĩ và xin cho biết quyết định của ông vào thứ hai tới. giải thích với họ mọi hoạt động hiện tại và dự kiến tương lai và vì cổ phần của Công ty Ray cứ tiếp tục tăng đều. Lúc đó đã có một số công ty thép mở thêm các ngành sản xuất chế phẩm hóa dầu rất có lãi và tạo ra được việc làm mới. cuối cùng Công ty J&L cũng phải thấy được là phải chấm dứt sự lệ thuộc mình vào một sản phẩm duy nhất là Thép. đặc biệt là về khía cạnh tài chính. nhưng họ lại tùy thuộc vào ban lãnh đạo trung ương. tôi lại không có ảnh hưởng gì với họ cả. Khi tôi đến. Những cộng sự của PDG Adams hình như sinh ra để mị dân chứ không phải là người giải quyết những vấn đề thực sự. Thế là đúng như vị giáo sư đại học New York Hoopingaener đã nói với tôi 20 năm trước: Trước hết anh phải tích lũy kinh nghiệm đã rồi sau đó tiền tài sẽ đến với anh. Cũng như các công ty thép khác. giá cổ phiếu tăng. Họ đến tôi và chuyển cho tôi nhiều “mệnh lệnh” mà lẽ ra là chỉ ông Adam mới có quyền. Hợp đồng thì nhiều nhưng không biết cách mặc cả nên lợi nhuận không tương xứng và lại lệ thuộc hoàn toàn vào chính phủ Mỹ. tùy ông chọn. đã bổ nhiệm tôi làm phó PDG lương 100. Như vậy là có chỗ nghẽn trong hoạt động của công ty. Năm 1956 tôi đã làm việc cho J&L được 5 năm. 15 . công ty phồn vinh. lợi nhuận đã tăng lên. Sáng thứ hai đó tôi được bổ nhiệm làm Giám đốc phụ trách sản xuất. Vào lúc đó Raytheon là một công ty khiêm tốn.

Cuối năm 1958 tôi lặng lẽ rời khỏi Raytheon để tìm chỗ làm việc mới. Ông bắt buộc phải tin vào người đó vì giả thiết là họ biết nhiều hơn ông về những gì đang xảy ra ở bên dưới. Tuy nhiên. không có tiền thưởng. Khi tôi thương thảo với hội đồng tuyển người của HĐQT ITT tôi không đòi hợp đồng dài hạn. nhưng tất nhiên là các phó PDG sẽ tóm tắt thông tin đó trong báo cáo của họ. nó cũng không làm tôi được thỏa mãn. Mỗi người đều hiểu rõ cương vị và trách nhiệm của mình. Nhưng có một hệ thống thứ bậc lại có nguy cơ là mỗi khâu trong tổ chức lại biến thành một lãnh địa độc lập. Công ty đình trệ. Cơ cấu chính thức của một Công ty trong phần lớn trường hợp là cơ cấu theo hình tháp. Càng đến gần 500 doanh nghiệp lớn với con số hàng chục ngàn người. không ai quan tâm đến quyền lợi chung của Công ty. Còn cơ cấu kia là quan hệ hàng ngày giữa những con người trong một tổ chức. trên thực tế là tôi không đòi hỏi một hợp đồng như thế nào. Hai cơ cấu tổ chức Mỗi công ty đều có hai cơ cấu tổ chức Một là cơ cấu chính thức được ghi trong điều lệ. nhưng không phải là trách nhiệm của 16 . Tính cứng nhắc của cơ cấu tổ chức cũng như tính cách của người lãnh đạo đã đẩy Công ty của họ vào ngõ cụt và làm mất đi biết bao ý kiến hay có thể sinh lời. quân đội và hầu hết các công ty kinh doanh Mỹ. Trong phần lớn các Công ty Mỹ có khi cần đến 6 tháng để có được một quyết định đơn giản. Các viên giám đốc thường bị biến thành người cung cấp giấy tờ.000$/năm. giả định rằng logic và phương pháp là những cái ngự trị hoàn toàn ở đây. Nó chứa đựng bệnh quan liêu là chứng bệnh đang gặm nhấm chính phủ. việc của anh ta tôi không biết. thành ra cuối cùng PDG chỉ được biết những gì người ta cho ông ta biết thôi. Trên thực tế các hệ thống tổ chức thường bị tắc nghẽn ở cả hai chiều. cứ thế cho đến khi có một người cấp trên nào đó tìm cách làm cho hai người làm việc phối hợp với nhau nhằm một mục tiêu chung. Rất có thể là có người nói công việc của tôi là thế đấy. Theo tôi thì điều tai hại nhất là mọi thông tin từ dưới lên cứ teo dần theo từng bậc thang. Thông tin đi từ dưới lên và mệnh lệnh đi từ trên xuống. Người PDG thường không nắm được tình hình để có thể thay thế người yếu kém đó đi. công ty ITT đang muốn tìm một PDG mới. người ngồi trên đỉnh tháp chỉ hiểu được lơ mơ những gì xảy ra bên dưới. Báo cáo chồng chất lên nhau. Một sơ đồ tổ chức vạch ra cơ cấu tổ chức của một Công ty là tuyệt đối cần thiết cho mỗi doanh nghiệp. Nếu mỗi cán bộ đều làm tròn trách nhiệm của mình trong hệ thống thì cơ chế hoạt động tốt. để mọi người có thể thông báo cho nhau một cách có phương pháp và hợp lý.. các điều lệ tổ chức của nó cũng được vạch ra nhằm một mục đích là: Chỉ cho mọi người thấy rõ rằng ai chịu trách nhiệm về cái gì và chịu trách nhiệm với ai trong tổ chức đó. Một lần nữa tôi phải chứng minh khả năng của mình. IV.. thì cơ cấu càng phức tạp. Trong thực tế là họ chẳng biết gì cả. còn mỗi người tùy thuộc cũng chỉ quan tâm đến trách nhiệm của riêng họ. Vì nếu cần thiết ông ta có thể biện hộ trước HĐQT rằng: Tình hình như thế đấy. vả lại họ cũng không đề nghị với tôi điều ấy. mọi yêu cầu thì rất dè dặt. người khác nói đây là việc của tôi. nó đã vượt khỏi quy mô của một kiểu kinh doanh gia đình. Tôi đã chứng kiến hiện tượng đó trong nhiều Công ty mà tôi đã làm việc. Mọi quyết định thì chậm trễ và không cụ thể. Không có một hệ thống thứ bậc được cấu trúc hoàn hảo thì sẽ hỗn loạn. Đó là cái không thể thiếu để thông tin được tự do truyền đạt. Cơ cấu đó quy định tôn ti trật tự thông thường. những giám đốc chi nhánh cũng vậy. mỗi viên phó PDG phụ trách một phần việc chỉ quan tâm đến phần việc của mình. Nhưng cho dù quy mô doanh nghiệp có lớn đến đâu. Nhưng nếu một con người trong hệ thống đó yếu đi khủng hoảng sẽ phát sinh. Tôi chấp nhận mức thù lao của họ đề nghị 125. đáy là những công nhân gánh toàn thể cơ cấu và các cấp bậc kiểm soát chồng chất lên nhau cho đến đỉnh. cơ cấu này dù có hợp lý đến đâu. doanh thu hàng tỷ $. Công nhân thì biết việc gì đang xảy ra.

điện tử. đều có thể đến thẳng văn phòng của tôi. Những ý kiến như vậy không bao giờ đến được tới PDG. Nếu tôi có điều gì muốn hỏi thì tôi sẽ gọi trực tiếp người thảo báo cáo chứ không hỏi cấp trên của anh ta. cũng chịu chung số phận. Điều gì sẽ sảy ra sau sự kiện đó? Người ta sẽ đồn với nhau là hãy cẩn thận. tiếp thị. Điều gì sẽ xảy ra nữa? Một vấn đề nhỏ sẽ biến thành một cuộc khủng hoảng lớn. hoặc bị mất hút trong đám cán bộ cao cấp. kế toán. nếu có xảy ra tranh chấp giữa họ với những người đang điều hành công việc thì có 3 cách xử lý: Người điều hành thuyết phục được người chuyên viên rằng anh ta sai vì không nắm được tình hình. một ban lãnh đạo cùng nắm tay nhau tiến tới mục tiêu chung. hệ thống này làm cho các giám đốc những chi nhánh tự trị của chúng tôi hiểu được rằng ITT là một công ty. hàng tiêu dùng. Nếu có khuyết điểm thì hãy tạo cho người lãnh đạo này một cơ hội để sửa chữa. Chúng tôi đã thiết lặp một hệ thống báo cáo hàng tháng. đối với những ý kiến táo bạo thì anh ta thích để ngâm tại đó mà nghiên cứu kỹ hoặc tốt hơn hết là bác bỏ nó ngay từ đầu. dễ bị mất việc đấy. Người ta đọc được điều đó mỗi tuần nếu không là mỗi ngày trên các cột báo tài chính. PDG không biết là mình đang bị mất những thứ quan trọng như thế nào và công ty thì không bao giờ có thể hoạt động hết tiềm năng. các ý kiến đóng góp nhiều khi rất sáng tạo. Với một điều kiện là trước đó anh ta phải thông báo cho người lãnh đạo trực tiếp biết rằng anh ta đang gửi báo cáo cho tôi. Không chỉ những vấn đề tồn tại mới bị lơ là trong hệ thống thông tin quan liêu của các Công ty. Dần 17 . hoặc người điều hành nhận ra sai và tự sửa. mà nó là hậu quả của những vấn đề bị bưng bít mãi thành ra trầm trọng thêm. Hoặc họ xin thôi nhiệm và đi tìm chỗ làm khác. nhân sự. Họ làm việc rất mật thiết với những người tại chỗ. Chừng nào họ còn giấu được khó khăn khuyết điểm của họ thì họ còn được tồn tại. Tại ITT tôi đã phải mất nhiều năm mới thiết lập được một hệ thống xuyên qua cơ cấu tổ chức chính thức. Nếu khủng hoảng không được khắc phục kịp thời sẽ có thảm họa. đó là cái chính. nhưng cũng phải mất một thời gian mới có được như vậy. Họ tập sự hợp tác với nhau một cách thuận thảo vì lợi ích chung của Công ty. Dần dần đã nảy nở giữa người chuyên viên giúp người kỹ sư bằng cách đem đến cho ông ta một cách nhìn từ bên ngoài và có thẩm quyền về những vấn đề thiết kế công nghiệp và mặt khác anh ta ủng hộ mọi yêu cầu về tiền bạc của chi nhánh trước ban lãnh đạo Công ty. thì vấn đề sẽ được đưa về bộ tổng tham mưu để xử lý. nếu không. pháp chế và mọi thứ khác… Hệ thống tổ chức của chúng tôi ở cơ sở tạo điều kiện cho phép bất cứ ai cũng có thể đến bất cứ đâu trong Công ty. Trong thực tế. Cấp trên trực tiếp có thể ghi thêm ý kiến phê phán của mình vào. thương vụ. nhưng ông ấy đã làm tôi thất vọng và tôi phải cho ông X thôi việc. thiết kế công nghiệp. đặt câu hỏi. Bao giờ cũng có những cán bộ sợ liên lụy mà không dám mạo hiểm ủng hộ những sáng kiến mới. Các chuyên viên của chúng tôi đã làm đảo lộn cái cơ cấu chính thức cứng nhắc. Ngược lại anh ta không nhất trí. hoặc người điều hành thấy sai mà không chịu sửa mặc dầu đã có sự can thiệp của văn phòng giám đốc. bây giờ bắt đầu che giấu. nhưng không được làm trên lưng lãnh đạo. thiết kế. Nhiều PDG đã nói như vậy nhưng họ đã không làm gì tiếp theo. đó là một người tốt. Điều tôi thực sự quan tâm là làm sao cho ai đó có bất cứ ý kiến gì mới để nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty. Tôi muốn được thông báo đầy đủ những gì đang diễn ra trong Công ty. Điều gì sẽ xảy ra? Các cán bộ tài giỏi cấp trung gian sẽ không đề nghị sáng kiến nào nữa. một đội ngũ.tôi. các vụ tranh chấp. Họ kiểm tra từng mặt một cho từng chi nhánh như: lợi nhuận. làm báo cáo kiến nghị và chịu trách nhiệm về mọi việc tốt xấu trong khu vực họ phụ trách. Năm 1959 tôi đến ITT thì ở đây cũng có tình hình như tôi vừa mô tả trên. Đã nhiều lần tôi tuyên bố rằng tôi muốn có một hệ thống liên lạc mở. tôi đã tin vào ông X. cho các chi nhánh hoạt động và tăng cường thêm chuyên viên để giúp cho ban lãnh đạo theo dõi và kiểm tra các mặt hoạt động khác nhau của Công ty: viễn thông. Khủng hoảng và thảm họa không phải ngày một ngày hai. họ im lặng thi hành những gì người ta giao cho và quên làm người thông minh đi. Tôi thậm chí còn đòi hỏi mỗi bản báo cáo phải có chữ ký của người thảo ra nó. nếu anh ta nhất trí để sửa thì không cần phải đi đâu xa nữa. nghe trả lời và đến thẳng phòng Giám đốc của tôi để chia sẻ với tôi câu kết luận của họ. Nhờ những kinh nghiệm trước đây mà tôi đã phát hiện được điều đó và tôi muốn cải tiến lập tức. trường hợp này anh ta sẽ bị cho thôi việc. Anh ta không phải xin phép người lãnh đạo trực tiếp. Thế là có những người trước đây không hề che dấu khuyết điểm. Đối với tôi.

cái họ đòi hỏi là họ phải được toàn quyền kiểm soát hoàn toàn công việc của chi nhánh và người FC của chi nhánh phải là người hoàn toàn trung thành với họ. PDG bị kẹp giữa hai gọng kìm: một bên là của các chủ sở hữu doanh nghiệp. Những người này có toàn quyền tự do tưởng tượng và sáng tạo. 18 .000 người. cho thuê ô tô. Tất cả cái họ cần làm là bán những ý kiến của họ cho giám đốc chi nhánh và cùng nhau hợp tác để làm việc cho công ty tốt hơn. Người chuyên viên này có trách nhiệm xem xét một cách tỉnh táo hơn tình hình trong công ty thuộc ITT trong quan hệ với thị trường cạnh tranh xung quanh và phát hiện ra vấn đề cần phải khắc phục nếu có. Vì sao cần nhóm này? Vì chúng tôi thấy mỗi người bán hàng. bằng những con số cũng như bằng những câu chữ. Bên cạnh nhóm chuyên viên hoạt động thường xuyên này. hai người khác nhau vẫn có hai cách nhìn nhận khác nhau về cùng một sự kiện. Cũng trong tinh thần có một hệ thống liên lạc mở tôi đưa thêm vào tổ chức của ITT một sáng kiến mới nữa. Mục đích của việc quản trị một doanh nghiệp là lãnh đạo nó. Tôi muốn giải phóng cho các cán bộ quản trị tài chính FC ở các chi nhánh khỏi các sức ép ấy và có điều kiện cung cấp cho chúng tôi sự đánh giá trung thực về tình hình. Điều đó đòi hỏi một chất lượng thông tin ngày càng tốt hơn và những quyết định ngày càng đúng hơn. Đứng trên chúng tôi có 5 công ty dầu lửa lớn và General Motors. Quản trị một Doanh nghiệp bằng cách đưa ra những quyết định và làm sao cho những quyết định đó được thực hiện. General Electric và IBM. ITT có khoảng 375. ITT trở thành Công ty công nghiệp đứng hàng thứ 9 trên toàn nước Mỹ. người quản trị. một vài dịch vụ tài chính và bảo hiểm. còn những người tùy thuộc họ thì lại ủng hộ họ vì sợ mất việc làm. đó là quy định các quản trị phụ trách tài vụ FC (Financial Controlleur) ở các chi nhánh phải gửi về trụ sở trung ương ở New York bản báo cáo tài chính của chi nhánh mình. khách sạn. chúng tôi bổ sung thêm một nhóm nữa gồm 12 .600 người ở Châu Âu. trên 115 nước. Tôi đã nói như vậy hàng trăm lần trong cuộc đời sự nghiệp của tôi. Thực quá dễ để che đậy một sự kiện nào đó. Nói chung ITT được coi là Công ty đa quốc gia lớn rộng và phức tạp nhất thế giới thời đó. Dù không muốn lừa dối đi nữa. Chúng tôi. làm thế nào để quân bình được những đòi hỏi từ mọi phía và thỏa mãn đươc mọi người? Chính vì vậy. các giám đốc chi nhánh la lối om xòm. Và cách duy nhất để thực hiện được như vậy là phải nắm được toàn bộ tình hình có liên quan đến doanh nghiệp. Chỉ khi nào nắm được tình hình thực tế một cách chính xác thì công việc quản trị kinh doanh mới đạt được kết quả thỏa mãn Tăng trưởng hàng năm của ITT là 10-15%. một bên là những đòi hỏi của nhân viên. Chúng tôi chế tạo và bán ra đủ thứ. Thí dụ như có một số người quản trị có xu hướng đánh giá quá cao về doanh số đồng thời đánh giá thấp về chi phí sản xuất.dà mọi người coi đội ngũ các chuyên viên như vậy là “chuyên viên từ bên ngoài” mà người ta rất tin tưởng và muốn được họ giúp đỡ. Khi chỉ thị này được đưa ra. chế tạo cơ khí và thiết bị công nghiệp.16 người chịu trách nhiệm theo dõi từng nhóm sản phẩm. việc FC của chi nhánh có báo cáo thế nào đi nữa cũng không quan trọng. nói rằng tôi (PDG) định biến các người làm FC của họ thành gián điệp làm việc cho Công ty? Đối với họ. Nếu có sự bất đồng giữa người quản trị tài chính FC của chi nhánh với giám đốc chi nhánh về cách đánh giá thì sự bất đồng này sẽ được giải quyết ở cấp trên trong một cuộc họp công khai và trung thực. Thông tin từ 250 trung tâm từ các nơi chảy về như dòng nước xoáy. đồ mỹ phẩm.400 người ở Mỹ và 1. với đội ngũ lãnh đạo gồm 2. bánh xốp. sự lưu thông tự do mọi thông tin là rất cần thiết. Cuối những năm 1960. người kỹ sư và mọi người phụ trách nói chung của ITT đã quá quen nghĩ toàn điều tốt về các sản phẩm của mình đến nỗi chỉ thấy cái xấu trong các sản phẩm của thiên hạ. Còn câu trả lời bao giờ cũng là: Chúng tôi phải làm việc ngày càng nhiều hơn. mỗi người trong nhóm này theo dõi tình hình cạnh tranh nói chung trên thị trường và khả năng cạnh tranh của các chi nhánh của ITT. Làm thế nào mà chúng tôi có thể kiểm soát được ITT mà còn tiếp tục giữ đà tăng trưởng của nó năm này qua năm khác? Tôi đã suy nghĩ nhiều về câu hỏi này. từ những hệ thống thông tin liên lạc tinh vi đến những bánh mì. Nhưng tôi thì muốn có sự kiểm tra tài chính độc lập với họ và người Chief FC của Công ty phải chịu trách nhiệm trực tiếp với ban lãnh đạo chung toàn Công ty ITT.

19 . mạo hiểm và đổi mới. Những đề nghị đi từ dưới lên và những chỉ thị từ trên xuống. tôi đã thấy rõ ý nghĩa của việc nói chuyện trực tiếp với các giám đốc chi nhánh ITT ở Châu Âu. Lâu nay tôi vẫn cho rằng một trong những sai lầm hàng đầu và căn bản nhất của nền quản trị kinh doanh Mỹ là cùng với năm tháng họ đã đánh mất lòng ham thích phiêu lưu. Tháng nào tôi cũng bay qua châu Âu với đoàn cộng sự viên khoảng 40 người. Công ty ITT khác với các công ty khác ở chỗ phong cách và quy mô các cuộc họp của ban lãnh đạo. Trong phần lớn trường hợp người mắc sai lầm vì đã đưa ra quyết định trên cơ sở thông tin không đầy đủ và chính xác. Tôi đã phải đặt thêm một trụ sở ở Bruxelles. Chính đó là chỗ khác nhau giữa công ty này với Công ty khác. với một sự chậm chạp quan liêu chủ nghĩa vốn có. Trong kinh doanh có đến 99% trường hợp bị bất ngờ là thua thiệt. Đường lối hành động của nó. Một vấn đề nào xuất hiện.150 người. khách quan trong đánh giá tình hình thì họ có cơ may thành công. Tôi mong muốn người đó có nhiều tưởng tượng và sáng tạo. Như tôi đã nói ở phần trước. Chúng ta không thể nào phát hiện hết mọi vấn đề khi nó mới xuất hiện. Quan trọng hơn nữa là thái độ của người cán bộ trước trách nhiệm. V. Khi tình hình trở nên xấu. Dù đội ngũ lãnh đạo có tài ba đến đâu. nhưng phát hiện được sớm chừng nào thì càng có thời gian để đối phó chừng ấy. Công việc quản trị thực sự chỉ bắt đầu khi người ta tập hợp những con người đó lại và họ phải cùng nhau làm việc trong một mối tương quan căn bản giữa người với người. thì cấu trúc tổ chức ITT cũng chẳng khác gì các Công ty khác ở Mỹ. Tôi hỏi đã từ bao giờ anh thấy nguy cơ đình công? Trả lời từ 3 tháng trước. Theo kinh nghiệm của tôi. sự thật thì có một câu nằm lạc trong đó. Tại sao không báo cáo? Đã có báo cáo. các ủy ban lãnh đạo ITT gồm từ 120 . người ta ít phạm sai lầm trong lúc đưa ra quyết định. Đây là một điều rất đơn giản. Trên giấy tờ thì một doanh nghiệp này giống hệt một doanh nghiệp khác nhưng trên thực tế thì khác hẳn. Ban giám đốc phải lãnh đạo. Mọi người đều biết như vậy. Một trong những nguyên tắc cơ bản của tôi rút ra từ những cuộc họp là không được để bị bất ngờ. Vì vậy mà tôi đã yêu cầu các giám đốc trong báo cáo hàng tháng phải báo cho tôi biết những vấn đề quan trọng mà họ đang gặp phải. nhưng kỳ lạ là ai cũng cứ quên. Liệu cần phải nhắc các bạn tới bao giờ nữa câu nói này. Có một lần một giám đốc chi nhánh cho biết công nhân xí nghiệp ông đang đình công. thì đó là do người ta đã đưa ra những quyết định tốt. cho rằng họ là những người chắc chắn là không bị sai lầm. Nếu được như thế thì chỉ cần họ tỉnh táo. cũng không muốn bị bất ngờ. Những người chịu trách nhiệm trực tiếp về lỗ lãi của Công ty. trong quá trình quản trị. Sau đó tôi thay đổi chính sách ngay và quy định. khi bị bất ngờ sẽ dễ phạm sai lầm dễ sinh thêm vấn đề. Một sơ đồ tổ chức chẳng qua chỉ là tờ giấy vô tri vô giác. Sai lầm phần lớn là từ khâu đánh giá tình hình. Ban lãnh đạo trung tâm của ITT gặp gỡ trực tiếp với các giám đốc chi nhánh ở Châu Âu và sau đó ở Mỹ để cùng nhau thảo luận trực tiếp mọi vấn đề. có thể là chìa khóa để thành công trong kinh doanh. Ban giám đốc phải lãnh đạo Ban giám đốc phải lãnh đạo. nhưng cơ sở của quyết định ấy là tình hình thì lại không chính xác. Từ nay các cán bộ quản trị phải báo cáo những vấn đề quan trọng ở ngay trang đầu của báo tháng với ký hiệu màu đỏ và giữ dấu hiệu đó cho đến khi nào vấn đề đã được giải quyết xong mới thôi. trong đó có ghi sự phân công nhiệm vụ và những con người. Lý do của sự thay đổi này là lòng tin sai lầm đặt vào những nhà quản trị chuyên nghiệp. cũng như trong tất cả những gì bạn làm. Các Công ty khác cũng có những cuộc họp như vậy nhưng thường họp diện hẹp hơn theo từng cấp. mọi quyết định và mọi hoạt động chủ yếu của nó là nhằm vào những con người chứ không phải những chức vụ. Tôi không muốn họ lẩn tránh vấn đề. Ở đâu? Ở trang 18 trong báo cáo tháng trước. từng tiểu bang rồi gửi báo cáo lên trên. nếu được phát hiện và đề cập sớm thì việc giải quyết càng dễ dàng.Trên giấy tờ. Ở ITT chúng tôi đã bỏ qua hai ba cấp quản lý để họp trực tiếp với những người nằm ở tuyến thứ nhất của cuộc cạnh tranh. thậm chí rất xấu.

Bởi vì mọi việc đã diễn ra ngoài tầm kiểm soát của bạn. Anh X cho rằng điểm học trung bình của mình là điểm B vì trong quá khứ thường thế. chúng tôi rất tiếc là đã gần đạt đến kết quả nhưng cuối cùng thì lại chưa đạt tới. Nhưng không may trước kỳ thi. nên bị 1 điểm C. Các giám đốc đưa ra dự kiến (forecast) và ngân sách (budget) với mục đích là đạt được một số lợi nhuận thỏa đáng trong một tài khóa nào đó. Anh cày mỗi đêm 3. Nếu 3 anh này chen chân vào được thương trường. Như vậy là điểm học trung bình phải là A. mà là phải biết tìm một giải pháp thứ hai khi giải pháp thứ nhất thất bại và nếu vẫn chưa được thì lại tiếp tục tìm giải pháp khác đến lúc nào đạt được mục đích mới thôi. Lãnh đạo là làm cho hoạt động của nó đạt tới một kết quả nào đó. tổng giám đốc. xin cho phép tôi trình bày 20 . tìm bạn chỉ bảo thêm để phải lấy lại điểm A đó. hay giám đốc thương mại… nhưng đối với tôi thì bạn vẫn chưa là một giám đốc. Ban giám đốc phải lãnh đạo. Bạn không có lãnh đạo. hy vọng may ra thì được. Đó chính là quản trị kinh doanh. Anh đạt A hết các môn. bạn phải đạt được một doanh số nào đó. Chúng đã diễn ra như thế nào bạn cũng không có tác dụng gì trong đó. người ta yêu cầu gì anh làm được đó. nhưng vẫn có một điểm B. Y. Nói lãnh đạo có nghĩa là một khi bạn đã có dự kiến và dự trù ngân sách. nhất định phải tìm ra được giải pháp. Trong giới kinh doanh tôi thấy ít người có thái độ đó. bạn không phải là một giám đốc. cùng muốn thi vào đại học thương mại để sau này làm nhà doanh nghiệp. năm cuối anh đạt 2 điểm A. hay đơn giản là bạn chẳng giám đốc gì cả. Anh Z quyết định thi vào trường Stanford hoặc trường Harvard chứ không vào các trường khác. ý tôi là bạn phải làm sao đạt được mục tiêu đã đặt ra. Y là người chăm chỉ nhưng thiếu sáng kiến. cũng có thể làm một nhà quản trị. Bằng bản năng của mình anh đã nắm được cái nguyên lý căn bản của một nền quản trị tốt. một B và bất ngờ có một điểm C. không phải là vấn đề phải làm việc thâu đêm hay không. nhưng rồi học kỳ sau anh lại bị một điểm C. tóm lại phải đạt được cái mà bạn cam kết từ đầu. Phải. học kì sau sẽ gỡ lại. anh nghĩ đó không phải lỗi ở anh ta. Muốn vậy phải đạt toàn điểm A mới được. đó có nghĩa là một nhiệm vụ. Các bạn có thể nói một điểm B trong 4 năm có gì là kém đâu mà phải sôi sục như thế. Thành công mà 2 anh này nếu có được là do may mắn. Anh đi học chăm chỉ. Anh Y thì quyết định thi vào một trong 12 trường đại học kinh doanh nổi tiếng nhất. hoặc xấp xỉ thế. chiếm được một thị phần nào đó. Năm thứ hai rồi năm thứ ba anh tiếp tục đạt những điểm A. Nếu bạn đã thử 36 cách mà vẫn chưa được thì phải nghĩ đến cách 37. Còn Z càng tốt cho anh ta sẽ đứng đầu những công ty như ITT. về logic mà nói đó phải là một mục tiêu có khả năng đạt được. anh ốm. đạt tới mục tiêu mà ban giám đốc và cả bạn nữa đã đề ra. Một cán bộ trung cấp nói "Thưa sếp. Anh ta buồn nghĩ mình không gặp may và cứ nộp đơn vào 1 trong 12 trường đó. sau cùng anh tốt nghiệp với điểm trung bình B và với chút may mắn thì có thể vào một trường đại học không nổi tiếng lắm. Tất nhiên là bạn vẫn có chức danh là giám đốc. Y sẽ không bao giờ thành một nhà quản trị thực thụ. Nếu quanh họ không có ai hơn thì họ cũng len lỏi được tới thắng lợi nào đó. Còn anh Z theo tôi. anh ta quyết định sẽ tăng thêm giờ tự học hơn nữa. Y là người làm tất cả những gì có thể làm được. Nếu bạn chưa đạt được mục tiêu bạn đề ra thì bạn chưa phải là giám đốc. Nhưng Z vẫn quyết tâm tìm thầy. nếu trường đó không đủ số thí sinh điểm cao hơn mình chứ không riêng gì số điểm của anh.Chúng ta hãy định nghĩa xem. mỗi người đạt được cương vị xứng đáng với khả năng của mình. anh ta thực sự có cố gắng. anh X sẽ đạt được những kết quả nhỏ bé với những tham vọng nhỏ bé. 4h để nắm vững các môn học. nhưng lại để cho các diễn biến bên ngoài quyết định số phận mình. Chúng ta xem thí dụ về 3 chàng sinh viên X. không cần học trường thương mại nào. Z. Họ đều có khả năng và thông minh như nhau. Nhưng nếu chỉ muốn đạt được một số kết quả ở cuối nhiệm kỳ thì chưa đủ. phó chủ tịch. đó là động từ chỉ hành động. cứ thế anh không bao giờ đạt điều mình mong muốn. “Ban giám đốc” là cụm từ để chỉ đội ngũ những nhà lãnh đạo làm cho doanh nghiệp hoạt động. X là người có tâm lý thất bại chủ nghĩa. Trong kinh doanh bao giờ cũng có những khó khăn trở ngại đang chờ đâu đó. Theo tôi thì 2 anh X. Khi X gặp phải điểm B đầu tiên.

do các tiến bộ kỹ thuật mới. cách nào nghe cũng hợp lý cả để thanh minh cho thất bại… Lý do vì sao thất bại. Ở đây chỉ có một điều đáng kể là mục tiêu có đạt được hay không mà thôi. Phải tự mình học lấy. tôi không hề muốn nói mọi công việc quản trị đều tuyệt hảo. tay cầm máy tính. không có sơ hở. Điều không bao giờ nên làm là cứ đeo đuổi mãi một công việc không có lợi rồi tìm cách thanh minh cho sai lầm của mình. vì ông giải thích đủ thứ để đi đến chỗ nói rằng “được như vậy là may. Có nhiều người bị bắt buộc phải theo một người cầm đầu nào đó. đầu đầy kiến thức tin học. Báo cáo của ông không ai bác bỏ nổi. VI. Trong kinh doanh cái mà bạn chỉ đạo đó là con người. Báo cáo của PDG gửi HĐQT và các cổ đông phải công nhận là một tác phẩm logic và hợp lý. cùng nhau phấn đấu cho mục tiêu chung. nhưng quản trị là điều ít nhiều có tính khách quan: người ta định ra mục tiêu. trong chính trị hay trong một đội bóng cũng vậy. dù thanh minh thật là hợp lý. Đó là lãnh đạo. Bởi vì lãnh đạo một doanh nghiệp không phải chỉ là nhào nặn những con số hay thay đổi những sơ đồ tổ chức. nạn thiếu nguyên vật liệu. Để thanh minh cho việc ông ta không làm nên việc. lạm phát. Tuy nhiên nghệ thuật chỉ huy cũng là cái gì đó có thể nắm bắt được. khó mà nói rõ nó gồm những gì. Trong trường học kinh doanh người ta dạy cho bạn sử dụng những công cụ nghề nghiệp của mình. Nắm được nghệ thuật chỉ huy là khái niệm hoàn toàn chủ quan. gắn bó chặt chẽ với nhau trong một đội ngũ. năng lượng. ông này lại nói với HĐQT: “Tôi rất tiếc phải thông báo với quý vị rằng…”.những khó khăn mà chúng tôi đã gặp…” Báo cáo đó cứ đi hết phòng này sang phòng khác. do cạnh tranh nước ngoài. Nếu trong một công ty mà người giám đốc lại không quan tâm đến việc đạt được mục tiêu thì ai là người phải quan tâm? Nói Ban giám đốc phải lãnh đạo. không có thất bại. trong quân đội. Vấn đề là phải đạt được mục tiêu đã đề ra chứ không phải là giải thích vì sao không đạt được các mục tiêu đó. Không nên lẫn lộn thử thách với thanh minh. rồi tìm cách thực hiện đi từ đây tới đấy và có thể đo đếm kết quả đạt được. nó thể hiện tính cách và sự lựa chọn của người PDG và đội ngũ lãnh đạo của công ty đó. Quản trị và chỉ huy là hai việc không thể tách rời. Nghệ thuật chỉ huy Nghệ thuật chỉ huy thì không thể dạy được. Nhưng nếu quan niệm Ban giám đốc phải lãnh đạo. đó là cái quan trọng nhất để đi đến thắng lợi. Theo ý tôi. Bạn có thể thấy được hàng ngàn vạn báo cáo như thế mỗi năm. Một nguời quản trị giàu kinh nghiệm có đến 1001 cách khác nhau. tình hình đáng lẽ còn xấu hơn nữa là khác. cuối cùng đến phòng PDG. thì những lời giải thích trên không đáng giá một xu. cũng không phải là áp dụng những lý thuyết mới nhất về quản trị kinh doanh của các trường thương mại chế tạo ra. Cũng có thể bạn phát hiện ra rằng đó là những mục tiêu không thể nào đạt được. Mỗi năm có một lớp bạn trẻ xuất thân từ các trường Đại học. 21 .” Ông lại còn ca ngợi ban lãnh đạo đã làm việc hết mình trong những hoàn cảnh bất lợi như thế. Ưu thế của bạn nằm ở những mục tiêu bạn muốn đạt tới. Nếu bạn đủ điểm trong những kỳ sát hạch. cũng như người ta không thể đào tạo ra một cầu thủ giỏi được. ông ta có thể dẫn ra tình hình kinh tế đảo lộn trong nước. dù là trong kinh doanh. nhưng khá lắm thì họ có thể thành những nhà quản trị giỏi chứ không thể trở thành thủ lĩnh. Nó chỉ có thể đủ mạnh để thắng nhiều hơn thua. Nhưng phần đông lại không cho vấn đề đó là quan trọng. Trên đời này không ai thành tựu một mình cả. Không có một đội bóng nào chỉ toàn thắng mà không có những trận thua. hoặc tổng hợp mọi lý do. người ta sẽ tặng bạn một bằng cấp về quản trị kinh doanh. Vậy thì hãy thay đổi môi trường hoạt động: bán nhà máy đó đi và bắt đầu làm cái khác. cũng không thể nào đo đếm được nó cho thật khách quan và cũng không thể nào dạy và học ở trường. Tôi không hoàn toàn đồng ý với thuyết có người sinh ra để làm lãnh tụ. từng công ty. Trong kinh doanh bạn phải làm tốt hơn đối phương. Biết chỉ huy nghĩa là biết làm cho những người khác cảm thấy hứng thú làm việc dưới quyền chỉ huy của mình. Nghệ thuật làm thủ lĩnh chính là linh hồn của công tác quản trị. Không phải như thế. Nó thể hiện cá tính của từng người. Nhưng bạn phải làm thế nào để đạt được mục tiêu ấy.

Chúng tôi cần những người có năng lục. Tại ITT. Dù với lý do gì. Họ nghĩ rằng suy cho cùng thì nếu tôi làm được thì họ cũng làm được. Thường thì cả hai đều có những phần sai. cách làm của tôi cũng không suy tính trước. nếu không đồng ý với tôi hay với ai. một chính sách đề bạt nhanh chóng. những chuyện mà chính bản thân họ cũng không nghĩ là làm được. cuối tuần còn mang tài liệu về nhà làm. Làm sao cho mỗi người ý thức rõ ràng rằng mình là một phần tử của đội ngũ. không kể cấp bậc. mà chỉ là cố gắng làm tốt công việc của mình. Để thu hút những người như thế tôi đã đề nghị mức lương thêm 10% cao hơn mức trung bình. Tôi làm việc 12 . cách làm đó rất tốt. Nhưng lúc đó thì ngay đến những khái niệm này tôi cũng không hề nghĩ đến. Ở ITT tôi muốn tạo ra một bầu không khí sôi động đầy sáng tạo và thách thức thường xuyên. 22 . Chúng tôi đã bố trí cho các cán bộ lãnh đạo ngồi chung trong một phòng lớn để mọi người có thể trao đổi trực tiếp với nhau. nhưng tôi vẫn là tấm gương cho mọi người về quản trị hiệu quả. bên trong cần một sự thông cảm thực sự lẫn nhau.16h mỗi ngày. biết rõ trách nhiệm của mình. Tôi cũng không thích vai trò quản nô quất roi bắt người ta làm việc. Nói theo cách nào đó. Muốn có bầu không khí làm việc thoải mái và có kết quả thì điều quan trọng bậc nhất là quan hệ cởi mở. nếu họ biết tin vào khả năng của mình. rồi bắt tay vào một thử thách khác ngày càng lớn và ngày càng khó hơn. nó bắt nguồn từ những kinh nghiệm sống cuộc đời hàng ngày. Tôi quan niệm người thủ lĩnh như thế. biết mình được quý trọng và trọng dụng. phải có sự công bằng trong hưởng thụ. ngoài ra có tiền thưởng sau khi hoàn thành nhiệm vụ và tăng lương ngay khi thấy xứng đáng. Không phải để nêu gương cho mọi người. mà vì sự tiến thân của họ. tự do và thẳng thắn ở tất cả các cấp. Khi có phê bình tôi cố tự kiềm chế để khỏi phản ứng. Không có chuyện là thuyền trưởng ngồi chơi sau lái xem mọi người làm việc. Tôi không bao giờ để ai lỡ dịp tiến thân cả. Nếu bạn muốn tìm được người giỏi nhất trên thị trường lao động và bạn muốn làm những chuyện phi thường. Tôi muốn họ nhấm nháp cái khoái cảm được tấn công vào một vấn đề khó khăn và giải quyết nó một cách tốt đẹp.Nguời ta phải học nghệ thuật chỉ huy. nhưng đó là loại kháng cự cần được kiểm soát. Giao thêm trách nhiệm cho những ai muốn và có thể đảm nhận. Tôi muốn họ làm như vậy không phải vì công ty. dĩ nhiên là không ai muốn bị phê bình cả. Sứ mạng của tôi ở ITT như tôi đã quan niệm là giải phóng một số người còn phân vân do dự ở đây khỏi sự sợ hãi đang trói buộc họ. Đúng như vậy. Một số người kiếm được chỗ làm tốt hơn. Không cố ý. Nếu tôi hay chọn những mục tiêu khó đạt. biết tự hào là một thành viên của một đội ngũ đang chiến thắng. gần như lần nào có những ý kiến trao đổi như vậy đều có những sự kiện mới nẩy sinh. người phê bình tôi cũng nói sai. đó là vì tôi là loại người như vậy trước khi tôi đến ITT. Tôi muốn cho mọi người cố vươn tới những mục tiêu mà họ cho là không thể vươn tới được. những mục tiêu trở thành thách thức với chúng tôi. vì một thứ như là tình yêu nghệ thuật. làm xuất hiện một cách hoạt động khác trước mà không ai trong chúng tôi nghĩ ra cả. Trong doanh nghiệp được tổ chức tốt. họ có toàn quyền phát biểu ý kiến của mình mà không sợ bị… Tôi cố gắng tiếp nhận sự phê bình. Nhưng đó mới chỉ là hình thức. Bản năng của con người là tự vệ và kháng cự. thì bạn phải có thù lao tương xứng. thường xuyên qua lại châu Âu. chủ yếu dựa vào bản năng. kinh nghiệm nhưng phải có quyết tâm thực hiện suy nghĩ của mình. người PDG cũng không muốn mất các cầu thủ xuất sắc trong đội. ITT trở thành công ty mà ở đó ai cũng thích làm việc. không ngại làm việc hết sức. tôi muốn được mọi người chỉ cho tôi những sai lầm của tôi mắc phải. Cái khả năng chỉ huy và động viên người khác có tính bản năng hơn là tính toán. Mỗi giám đốc đều có đường dây điện thoai trực tiếp đến văn phòng trung tâm. tính chất của nó phụ thuộc vào cá tính của người lãnh tụ. Làm thế có điều kiện đánh giá tình hình được trung thực hơn. tất nhiên tôi phải cùng xuống thuyền cùng cầm chèo và cố gắng phấn đấu như mọi người. tôi thành thật chúc mừng họ. mặc dầu tôi không thể nói được là phải học như thế nào. nhưng với tôi cái tệ nhất là để mất một người nào đó chỉ vì trả lương người ta tệ quá. Có những trường hợp tôi sai. Tôi làm việc cũng nhiều và cũng mệt như bất cứ ai khác ở ITT và mọi người đều biết như vậy.

tốt nhất là thừa nhận sớm để còn kịp sửa chữa. Người lãnh đạo phải biết khơi gợi và ủng hộ người có sáng kiến. nhưng muốn biết họ thực sự ra sao thì hãy nhìn vào cái bàn làm việc của họ. sức làm việc giảm sút là luật tự nhiên không là lỗi của người đó. Người ta có quyền sa thải một người khi anh ta không làm tròn trách nhiệm. hoặc đã được bạn giúp đỡ rồi mà vẫn thất bại thì đó là việc mà cả bạn nữa. nghiên cứu… Nếu cái bàn của vị PDG đáng kính này gọn ghẽ sạch sẽ thì chắc rằng cái bàn của vị phó PDG của ông đang 23 . cứ mỗi lần gặp một người làm việc có cái bàn ngăn nắp bóng loáng như thế. đặc biệt là những người tốt nghiệp các trường quản trị kinh doanh.Để bảo vệ cho cái triết lý về mối quan hệ công khai và trung thực. một loại có cái bàn làm việc lúc nào cũng bóng lộn gọn ghẽ không chê vào đâu được. Ông phải giúp họ thực hiện những yêu cầu đó cũng như họ giúp đỡ ông thực hiện những yêu cầu của ông. nhưng cho bản thân họ. nói năng sao cho phong nhã. Ông sẵn sàng chia sẻ với họ những rủi ro trong kinh doanh. họ làm việc với ông. anh ta đã từng có thành tích tốt trong quá khứ. Nghệ thuật lãnh đạo là một vấn đề về thái độ ứng xử hơn là vấn đề nói và làm. Trong khi vị chủ tịch PDG đang tập trung tư tưởng vào vấn đề chiến lược dài hạn của công ty thì cái bàn đang quằn xuống vì sức nặng của các bản báo cáo. Mọi quyết định đưa ra đều phải dựa trên sự phân tích tình hình một cách khách quan. đã học được cách ăn mặc. còn người kia cái bàn làm việc bao giờ cũng tràn ngập giấy tờ tài liệu. mua chuộc. Cái bàn và con người Bàn thế nào. Muốn quản trị có hiệu quả phải dựa trên sự thực. anh ta có quyền được giúp đỡ. Những sáng kiến không phải lúc nào cũng có. Trải qua nhiều năm tháng. tôi lại có cảm tưởng như đang gặp một người cách xa thực tế doanh nghiệp của mình tới mấy năm ánh sáng và một người nào đó đang lãnh đạo doanh nghiệp chứ không phải anh ta. sẽ bị tôi cách chức. người lãnh đạo của anh ta cũng không giải nổi. Chúng tôi đang trên cùng một con thuyền và đang phấn đấu để về đến đích. Một người vốn làm việc chăm chỉ. là người mà họ có thể tin tưởng. Riêng điều đó thôi cũng đảm bảo tới 80 . Cũng có thể anh ta mắc khuyết điểm không hoàn thành trách nhiệm và không nhận được sự giúp đỡ. Những người làm quản trị kinh doanh. Dù sao ông ta cũng là người có trách nhiệm thử nghiệm những sáng kiến mới. Họ có những mơ ước riêng và có quyền phát triển cá nhân họ. phải tìm cho họ một lối thoát có tình lý. Người đứng đầu công ty cần phải hiểu rằng những người tùy thuộc không phải thực sự làm việc cho ông. tôi thấy cần đấu tranh với các thủ đoạn móc ngoặc. ông là người có năng lực trong vai trò PDG của mình. quen biết… áp đặt cho người khác. Tôi đã nói với mọi người trong ITT rằng nếu ai đó cảm thấy bị áp lực như vậy thì hãy đến gặp riêng tôi ở văn phòng. những người cấp dưới thường sợ nếu nhỡ thử nghiệm thất bại sẽ tiêu ma sự nghiệp đã có. vì lòng tự tin của anh ta quá cao. Có thể chia 2 loại người làm quản trị kinh doanh. Tôi thực sự tin rằng cái quan trọng nhất trong công tác quản trị của một PDG là làm cho những người cộng sự của mình quyết tâm cố gắng góp phần lớn nhất trong khả năng của họ. Những công ty càng lớn. thì đó không thể là lỗi của anh ta. nguời thế ấy. VII. nay sắp đến tuổi hưu. bao giờ ông cũng biết thù lao cho họ xứng đáng và công bằng. nhưng nhiều trường hợp người bị sa thải như thế lại không thấy được mà vẫn cho là mình không thiếu trách nhiệm.90% thắng lợi. Xin nhớ rằng nếu cần mạo hiểm để thử nghiệm một sáng kiến thì PDG là người có điều kiện hơn ai hết trong công ty. tôi đã nói trong công ty nếu ai tìm cách gây bè cánh ủng hộ lẫn nhau hoặc dùng sức ép để bắt một cán bộ trẻ hơn thay đổi ý kiến thì hãy coi chừng. Ông cần chứng minh rằng ông cũng làm việc hết mình như họ. tôi hứa sẽ bảo vệ người đó và tôi sẽ đích thân xử lý vụ ấy. chứ không phải do một người có thế lực nào đó hăm dọa. Đức tính quan trọng của PDG là phải có đủ tự tin để thừa nhận những sai lầm của mình và hiểu rằng làm như thế không hại gì cả. càng giàu thì càng có khả năng chấp nhận mọi rủi ro trong khi thí nghiệm những mặt hàng mới.

thì việc vừa làm việc một cách nghiêm chỉnh vừa có cái bàn làm việc bóng loáng là không thể được. Ông phân công cho các người khác tất cả những gì có thể phân công được. một cú điện thoai gọi đến. chính tôi là người sắp xếp (cuối giờ làm việc). trong đầu lúc nào cũng cân nhắc nhiều quan điểm thuộc mọi khía cạnh của quá khứ.. ông ta chỉ còn một cách là lại tìm đến một người khác giúp mình. những cái quan trọng nhất thì để ngay trên bàn. Tóm lại nếu bạn thực sự làm việc được phân công. vì dù sao cũng phải có ai đó trong ban giám đốc làm việc điều hành doanh nghiệp chứ.. Như tôi đã nói. Họ biết rằng đằng sau cánh cửa nào. thì phải chăng ông đang giảm chức năng của mình xuống thành một nhân viên liên lạc? Trong thực tế. Dù sao đi nữa. Một cán bộ phụ trách nhiều công việc một lúc làm sao mà nhớ cho hết mọi dữ kiện. Ông ta phải có mọi tài liệu ngay trên bàn cùng một lúc. có nguy cơ xảy ra thất bại cho người giao việc. vốn không nắm được gì. thư quan trọng đến. Một khi những khó khăn vấp váp xảy ra. hiện tại và tương lai. Cách xếp đặt tài liệu của tôi có thể không giống ai. một số khác để ở kệ sau lưng. các nét lớn trong các diễn văn… Một PDG làm việc rất trật tự sẽ phê bình tôi là đã lãng phí thời gian một cách kinh khủng vào những việc như thế. Mỗi người giám đốc chi nhánh có quyền tự trị và chịu trách nhiệm liên đới. Tất cả các bàn làm việc của chúng ta tràn ngập giấy tờ. Cấp dưới trình ông những khả năng lựa chọn thì ông ta cũng duyệt và quyết định. không lúc nào ngơi. dù có ý thức hay không. Những hồ sơ đang làm thì tôi để trong phòng làm việc. Giao trách nhiệm và quyền điều hành một công việc cho người khác mà không thực sự nắm vững được cái gì đang diễn ra ở bên dưới. chúng ta là nhà quản trị kinh doanh. chúng ta lựa chọn những quyết định dựa vào sự nắm vững tình hình đang diễn biến.làm tất cả mọi việc. người cán bộ này càng không có khả năng cứu vãn tình hình. để nhớ và lấy ra nhanh. Ngay cả thời gian biểu cũng được tính toán chi ly chính xác không để kéo dài dù có phát sinh những vấn đề mới chưa kịp thảo luận. thì bàn làm việc của bạn phải tràn ngập giấy tờ. sạch là biểu hiện của cách làm việc của người làm việc một cách có tổ chức. Như vậy là đằng sau một cái văn phòng PDG hợp lý hóa với cái bàn sạch sẽ đó chỉ là một kẻ bất lực đáng thương. để hiểu rằng tôi đang phân công người ta làm cái gì. Họ cho rằng cái bàn gọn. như đọc nội dung thư cho thư ký đánh máy chứ không nhờ cô ta thảo hộ. quyền lực đang thực sự ngự trị. Ở ITT một mình tôi không thể điều khiển cả 250 cơ sở của ITT. Làm như thế thì không khoa học nhưng được việc. thì không lâu gì người ta sẽ thấy không cần ông PDG này nữa. vì chính thời gian biểu của bạn cũng bị tràn ngập công việc. trong tầm tay. Sau khi tôi làm xong hồ sơ nào thì giao cho thư ký để lưu lại 3 tháng (sau đó vứt đi). ông bật đèn xanh hay đèn đỏ cho những quyết định do những người khác chứ không phải do ông đưa ra. Cái bàn của tôi tràn ngập giấy tờ vì tôi ngập mình trong những thương vụ của công ty. 24 . Tất nhiên chúng ta phải hiểu rằng các PDG phải phân một phần công việc của mình cho cấp dưới. Tôi biết rằng có nhiều người không đồng ý với tôi về chuyện này.. Làm một PDG mà phân công hết mọi việc giám đốc của mình cho những người khác có nguy cơ trở thành một người thừa trong công ty. để cho cái bàn của mình được sạch trơn. các tài liệu được xếp sắp ngăn nắp. Họ cũng biết rằng ai là người đưa ra những “kiến nghị” lúc nào cũng được ông PDG chấp nhận. hay cán bộ trung cấp thôi. tất cả những cái đó đều có chỗ của nó trong chương trình làm việc của cán bộ điều hành. nếu các vị phó PDG đều điều hành công việc một cách tốt đẹp. ông ta bằng lòng với việc điều khiển đống giấy tờ. chỉ cần bấm nút gọi thư ký mang tới. những cái còn lại để trong các cặp hồ sơ theo phân loại. một bức điện. Đối với một cán bộ quản trị cấp cao của doanh nghiệp. hồ sơ đang làm để ngay trên bàn hoặc trong một cái cặp riêng. nhưng trong khi phân công cho người khác thì tôi phải nắm được tình hình đang diễn biến. ông ta là quán quân của cái gọi là văn phòng về hợp lý hóa. như vậy những cán bộ cấp dưới đều hiểu rõ rằng ai mới là người thục sự quyết định. một tin khẩn cấp. Tôi tự làm nhiều công việc mà phần lớn các cán bộ quản trị thường giao cho người giúp việc. Dù chương trình chúng ta đang thực hiện chỉ là tầm trung bình.

biết rút ra những kết luận cần thiết từ những ý kiến phát biểu. Ít khi sự việc lại diễn ra như dự kiến. nếu không có lý do chính đáng. 25 lần.Anh chàng quản trị có bàn làm việc tràn ngập giấy tờ. Vấn đề quan trọng nhất trong ngày có thể sẽ xuất hiện vào cuối thời gian dành cho nó trong chương trình nghị sự. các cuộc họp của anh ta với một chương trình nghị sự nhất định. mà thường là xấu hơn. anh ta cần sự thông cảm của họ.15 lần tiền lời của nó. rồi nhằm vào một vài công ty nào đó của ngành ấy để cuối cùng chọn công ty tốt nhất và cho rằng đó là xí nghiệp cần tậu thêm cho công ty của anh ta. Mỗi lập luận đều được củng cố vững chắc bằng hàng loạt báo cáo nghiên cứu. Thường thì một cuộc họp bị kéo dài như vậy cũng sẽ là một nguyên nhân làm cho bàn làm việc của anh ta bừa bộn thêm. nhưng đối với anh ta thì cái chương trình nghị sự đó lại không quan trọng bằng những vấn đề thực sự nảy ra trong cuộc họp. Lỗi không phải là do đã không dự kiến đến khủng hoảng dầu lửa và sự phục hồi của ngành này. Thế mạnh của anh. Có thể phải mất một thời gian dài mới thu hồi lại được vốn. Lỗi ở đây là đã quá tin tưởng mù quáng như thế vào một công thức mà người ta cứ cho rằng nó chịu đựng được mọi thử thách trong tương lai. mà phải chờ đợi thêm. Lập luận và chiến lược vạch ra không thể nào bác bẻ nổi. Thường thì đó là nhà quản trị kinh doanh tắm mình trong hào quang của lý luận quản trị hiện đại. chỉ cần chính xác cao và sinh lợi nhất. mọi người đều tính toán như thế và đổ xô nhau đi mua xí nghiệp này. Thế là họ tìm một danh sách những công ty khoan dầu. một cuộc đầu tư có đảm bảo. cái nào quan trọng? Cuộc họp đúng giờ hay là cuộc họp gợi được suy nghĩ sáng tạo. Sau đó thu hẹp phạm vi điều tra vào một ngành công nghiệp đang phát triển mạnh nhất lúc đó. ghi chép. Người ta bán những công ty này với giá cao gấp 10 . Các nhà chiến lược bèn đọc lướt qua bản danh sách và chấm xí nghiệp X đang có tỷ suất lợi nhuận 20% năm. Anh không cắt cuộc họp ngay theo giờ đã định. điều đó có nghĩa là thời gian hoàn vốn sẽ phải dài hơn nhiều. cái đó không có gì bí mật cả. Nhưng khi mở cuộc thương lượng để mua xí nghiệp X thì họ mới biết là không phải chỉ có họ mới nghĩ như thế. Chắc bạn còn nhớ cuộc khủng hoảng dầu lửa thế giới? Những ai đã mua các công ty dầu lửa với giá cao trước đây đều phải hối tiếc vì đã lao vào ngành này. Thực tế là không ai hiểu gì về xí nghiệp X vào thời điểm mua ấy. giá mua từ 165 triệu $ tăng lên đến 220 triệu $. Đó là một thị trường rộng lớn với những triển vọng vô hạn và những cổ phần của nó được bán với giá cao. đó là một trong những công ty tốt nhất trong ngành này. coi đó là cơ hội đầu tư tốt nhất. những ý kiến mới có những kết quả không ngờ tới. Anh ta làm việc như thế nào? Phương pháp tiếp cận của anh ta như sau: Đầu tiên anh ta nghiên cứu tình hình kinh tế nói chung. không có một sơ hở nào. Cụ thể là làm như thế nào? Đầu tiên anh ta mời những nhà chiến lược cao cấp nhất đến và hỏi họ: Cái gì quan trọng nhất trên thế giới hiện nay? Năng lượng. Thế nhưng họ vẫn giữ nguyên lập luận và quyết mua xí nghiệp X dù giá có cao như thế và hy vọng các cổ đông sẽ chấp nhận. Thế rồi kết quả sẽ đi đến đâu. Trong một cuộc họp khi mọi người đều quan tâm hứng thú thì từ những cuộc trao đổi tự do. cũng có thể là nó đáng cần đến hai giờ đồng hồ để tranh luận chứ không phải 5 phút như quy định. Tất nhiên sẽ có những người được hẹn trước đó đến gặp anh. Rồi thu hẹp thêm vào một bộ phận của ngành đó thôi. nhưng đây là một công ty tốt trong lĩnh vực kinh doanh nhiều hứa hẹn. dĩ nhiên là những công ty đó đang hái ra tiền. Do đó mà cái giá của nó lên tới 15 lần lợi nhuận. nhưng cuối cùng họ vẫn chấp nhận vì nghĩ rằng các công ty khoan dầu đáng giá đó. Họ lướt qua một số trong ngành đó và cuối cùng ngừng lại ở ngành khoan dầu. họ đã trả giá không phải 15 lần mà 20. Chắc chắn rằng dù mọi sự có tiến triển tốt đẹp đi nữa cũng phải 9 năm chứ không phải 5 năm người ta mới ra khỏi được vụ này. Các nhà chiến lược cho rằng giá như thế là quá cao. Những việc như vậy cứ 25 . Có quan hệ với ngành năng lượng là ngành máy móc khai thác dầu khí. Vì sao? Vì ngành này không cần nhiều vốn. Cái đó có được là do sự thoải mái của những người tham dự. như anh ta thường tự hào là kế hoạch hóa trong tương lai một cách khoa học. đó là cái nút của vấn đề. Anh thấy rõ điều đó trong cách thức anh đi tậu một xí nghiệp mới. đó là 9 năm nợ nần và chẳng có đồng lời nào cả. anh có thể kéo dài cuộc họp nửa giờ để nghe và nắm được tầm quan trọng của vấn đề và phân công một người nào đó đưa vấn đề đó ra để thảo luận trong một dịp khác. Đây là vấn đề về ưu tiên. Không có chiến lược nào có thể tiên tri về những biến động trong tương lai.

cái nguy hiểm nhất là thói sùng bái bản thân mình. Anh tính rằng nếu biết thu hồi sắt vụn ngay trước khi nó được đưa ra chợ sắt Chicago. nếu anh đến gần ông sau bữa ăn chiều có thể làm cho anh mất việc như chơi. Anh ta mềm dẻo nên có thể phản ứng nhanh chóng. Tôi đã biết một giám đốc tài chính trong một chi nhánh quan trọng của chúng tôi. ở sự trút trách nhiệm cho người khác. ông có nhiều khả năng thành đạt trong cuộc đời làm kinh doanh. Kết quả là anh ta đã kiếm được tiền ngay từ phút đầu và nếu anh ta khéo làm ăn thì anh ta còn có lời hơn chủ cũ. Anh đã đến tận nơi xem sao. các công ty viễn thông khổng lồ đi mua các nhà xuất bản. người này nghiện rượu đã nhiều năm. Theo tôi được biết nếu có một nhà quản trị nào ăn nhậu say sưa làm việc kém hiệu quả. nghiện ngập được coi là vấn đề thuộc sinh hoạt cá nhân. bắt đầu sự nghiệp bằng nghề lái xe tải. chỉ ảnh hưởng nhất thời đến công việc. Mọi người thường không muốn nói với anh ta rằng anh ta đang gây ra nhiều vấn đề kinh tế và quan hệ với người xung quanh. anh quyết định mua cái kho đó. Những năm gần đây người ta nói nhiều đến một trong những vấn đề quan hệ đến tiền đồ của nhà quản trị. rồi tạo dựng cơ nghiệp bằng một xí nghiệp làm máy công cụ. ở cách phân phối thời gian cứng nhắc. những cái khác hơi mạo hiểm. có người bạn dạm bán cho anh ta một cái kho sắt vụn ở phía tây Chicago. Những lời khuyên của họ gắn với thị hiếu của thời trang. Cái bàn đó chỉ chứng tỏ anh ta chấp nhận mù quáng những bài giảng ở trường quản trị kinh doanh. nhưng cuối cùng tôi vẫn phải cho ông ấy thôi việc 26 . lúc đó ông ấy có thể đưa ra những quyết định đầy tai họa. mà còn mất quá nhiều công sức. Cuối cùng là về anh cán bộ có cái bàn bóng láng kia. Bao giờ cũng có hàng chục công ty muốn bán. Giá mua rất phải chăng vì chẳng có ai tính chuyện làm ăn gì với cái kho này cả. Còn cái người với bàn làm việc bóng láng kia thì lại định sẵn trong đầu xí nghiệp nào là loại lãi nhất và phải mua đúng cái xí nghiệp đó mới được. Xin chớ có tin điều đó. Trước đây anh chưa hề nghĩ đến việc mua một cái kho sắt vụn. Nghiện rượu và tệ sùng bái bản thân Điều tệ hại nhất cho một nhà quản trị. Một hôm. không phải là thói nghiện rượu như người ta thường nghĩ. Anh ta tốt nghiệp trung học. Các công ty hàng không đổ xô nhau đi mua khách sạn. ở cách sắp xếp mọi dữ kiện. Cái này nghe có lý. Không những anh ta đã tự hạn chế sự lựa chọn của mình và đã mua với giá cao nhất một xí nghiệp mà mọi người đang tranh giành. đó cũng là con nguời điều khiển cuộc họp theo thời gian biểu cứng nhắc đến nỗi không ai dám phát biểu nữa khi cuộc họp sắp hết giờ quy định. và vẫn còn xảy ra khi các nhà chiến lược cùng có những điều tra nghiên cứu và kết luận như nhau trong một khoảng thời gian. Ông ta là người làm việc đã lâu năm cho công ty. Tôi nghĩ rằng một cán bộ quản trị làm việc này phải uyển chuyển và sẵn sàng tiếp nhận mọi bất ngờ. các nhà xuất bản chạy theo sách bỏ túi và mọi người xúm nhau tậu các hãng điện toán… Ngược lại chúng ta hãy quay lại với người có cái bàn làm việc ngập giấy tờ. Say sưa. Không ai muốn tố cáo con người ấy nhất là sau khi tỉnh rượu anh ta lại trở lại con người làm việc có năng lực và tốt bụng. nói là để đưa đi Florida. cứ nghĩ rằng tương lại sẽ diễn ra như mình đã dự kiến. nhưng những việc như vậy cứ diễn ra trong đời sống thực tế. mọi người đều biết sau khi ông ta đã uống thì không được bàn việc gì quan trọng nữa. không ai dám tin vào ông ta sau bữa ăn chiều nữa.sảy ra thường xuyên. Bạn nhớ không. VIII. điều tôi phản đối là cách tư duy của anh ta chứ không phải là cái bàn. Đó là một $ tiền lời từ đống sắt vụn cũng có giá trị như một $ tiền lời từ dầu lửa hay từ điện tử. sẽ tiết kiệm được 2$/tấn và sẽ bán được với giá lời hơn những nhà cạnh tranh với anh ở Chicago. ở sự tin tưởng và thỏa mãn thiếu cơ sở. Thực tế thì anh quản trị có cái bàn bừa bộn này đã biết tranh thủ thời cơ và biết rằng mình có thể làm gì được với cơ sở mới mua này. thời gian để tập trung vào một mục tiêu hạn chế mà bỏ qua nhiều cơ hội khác. thuộc nhiều ngành sản xuất vài cái tốt vài cái xấu. Có thể thí dụ trên là thô thiển. Có một điều mà rất nhiều chiến lược gia đã không tính đến. tôi đã rất mến ông ta.

Tôi biết có một số người đầu óc tỉnh táo hoàn toàn. 14 tỷ $ về trợ cấp y tế và xã hội. Liệu anh có thể quên đi những thoải mái mà cương vị lãnh đạo đem lại. nhưng nó làm hại cho công ty. anh ta say sưa với thắng lợi của mình và của nền quản trị khoa học. chúng ta đều có nghĩa vụ cho sự phồn vinh của xã hội. Nhưng dù tổn thất do thói nghiện rượu gây ra có cao như thế nào thì cũng chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với cái thói xấu nghiêm trọng hơn nhiều mà tôi gọi tên là “thói sùng bái bản thân của người cán bộ quản trị kinh doanh”. anh ta có còn lãnh đạo gì nữa đâu. Phần đông các cán bộ quản trị tôi được biết đều cố tránh thói xấu này. chưa nói đến việc giảm ý chí và mất năng lực của những cán bộ quản trị giỏi nhưng mắc bệnh nghiện rượu. Liệu anh có nghe với sự đề phòng đúng mức những lời nịnh hót và ca tụng của những con người giảo quyệt không. 19 tỷ $ về giảm năng suất lao động. Tổn thất và thiệt hại mà sự lạm phát cái tôi gây ra cho các doanh nghiệp vượt quá số giờ đã mất. Con người rút kinh nghiệm trong thất bại. trên bình diện cá nhân. cho người xung quanh và do đó cho toàn xã hội. IX. vấn đề được đặt ra như sau: Liệu anh ta có thể tiêu hóa được chiến thắng của mình không. ít khi trong thành công. Liệu anh có biết làm cho mình miễn nhiệm với thói sùng bái cá nhân mình không.Khó mà tính được tệ nghiện rượu đã gây hại cho nền công nghiệp như thế nào. Anh đón nhận mọi ý kiến gợi ý và thông tin của những người khác. đến nỗi anh dành phần lớn thời gian chạy đi khắp nơi để nói cho mọi người nghe về đề tài hấp dẫn đó. công ty đã mời anh nghỉ việc. Ý nghĩa của những con số 27 . hoài nghi. anh ta có mọi giải đáp cho mọi vấn đề. Theo tôi đó là một con người bệnh hoạn. vì anh phải giữ vị trí của mình nếu không muốn bị coi là mềm yếu. Đó là vấn đề cũng xưa như nghiện rượu và có thể là cùng chung nguồn gốc là bất ổn nội tâm. Chính phủ Liên bang đã ước tính thiệt hại đó lên tới 33 tỷ $ mỗi năm. vì trong lúc đi đây đi đó đọc diễn văn. Logic. Tệ sùng bái bản thân cũng vậy. Đó là thái độ bình thường cần phải có. vì trong trường hợp chiến thắng chỉ có một mình anh biết nên làm gì mà thôi. Nhưng dù thông minh thế nào anh ta cũng biết rằng mình có thể mắc sai lầm. Theo tôi thì còn phải tính nhiều hơn trong những quyết định được đưa ra trong khi say rượu. Cái đó phát triển đến mức anh ta đến phòng làm việc thì ít. Một cán bộ tốt phải biết giữ sao cho các thành kiến và khoe khoang không ảnh hưởng đến quyết định của mình. khách quan đó là đức tính cần có của nhà quản trị muốn phát huy tài năng của mình. Đối với sự vững mạnh của công ty thì tệ sùng bái bản thân còn nguy hiểm hơn tệ nghiện rượu nhiều. Khi Công ty bạn có thành công. đi khoa trương bên ngoài thì nhiều. Tôi cho rằng xử sự như thế nào trong lúc chiến thắng khó hơn nhiều so với khi thất bại. có lúc cảm thấy bất ổn. hoặc tránh làm ra vẻ như vậy. Báo giới thường nhắc đến anh như một người hàng đầu trong kỉ nguyên quản trị kinh doanh hiện đại. mà thực sự là thời gian của xã hội. con người tự sùng bái một cách tuyệt đối thường nghĩ rằng mình thông minh hơn mọi người. là người nắm giữ quyền lực mà mọi người khác phải tuân phục. nhưng không nên quên rằng. Ít người chịu khó định nghĩa hai chữ “thành công” và “thất bại” xem sao. Tôi nhớ một người đứng đầu công ty đến khoảng 20 năm. rất thông minh và khiêm tốn. Họ bắt đầu dừng lại và tắm mình trong hào quang của địa vị mới. Theo tôi. Ở cấp lãnh đạo. Dù thói sùng bái bản thân này không làm hại trực tiếp đến sức khỏe của người cán bộ. báo chí người ta có quyền đòi hỏi ở bạn một số thời gian. quyết đoán. có thể anh ta chưa hiểu điều gì đã và đang xảy ra: Cái tôi của anh ta đang thắng thế. một cán bộ lãnh đạo có thể tác hại nhiều hơn nếu anh ta uống rượu tại chỗ làm việc chứ không phải ở nhà. phần đóng góp này là của các cổ đông. xã hội. bắt đầu choáng váng từ cái ngày họ đạt tới những đỉnh cao họ chưa từng biết. để làm việc này hay việc khác. Để kết thúc. thời gian này là thời gian trừ vào nhiệm vụ giám đốc của công ty và các cổ đông phải trả lương cho bạn. để quan tâm đến những vấn đề cụ thể mà thường thì không được thoải mái cho lắm. Nhưng anh ta đâu biết rằng mình đang là trò cười trong công ty. Dĩ nhiên là HĐQT của công ty đã đưa ra một lý do khác cho sự việc này. Trong đời sống. Mặt khác anh ta cũng không cho ai can thiệp vào công việc của mình. nhưng vụ này lớn đến nỗi chẳng ai bị lừa cả. Họ nhầm lẫn việc tiến đến điểm xuất phát của một cuộc thí nghiệm với việc đạt tới mục đích cuối cùng.

Với những con số mà chúng ta nhận được hàng ngày. các con số cũng không đem lại cho bạn một giải pháp. Trong kinh doanh phải biết phát hiện xem cái gì đang núp sau những con số. Trên một bức tranh. cũng dùng được rồi. Nếu trong các sản phẩm lưu hành. hay một tập thể các xí nghiệp phụ thuộc vào một công ty mẹ. Những con số là người đầu tiên báo cho ban giám đốc biết việc gì xảy ra và những con số càng chính xác. Có phải vì trang trí không? Vì giá cao quá? Vì bán dở quá? Vì tổ chức phân phối tồi quá? Vì đầu tư quá ít? Hay vì cái gì? Công việc nghiên cứu này không những tiến hành ở cấp cao mà ở khắp mọi cấp hoạt động.000$ so với 50 triệu $). Những con số đó không phải sản phẩm của trí tưởng tượng. đồng tiền chạy vào két của nhà bạn nhiều hơn hay ít hơn số chạy ra? Còn nếu bảo số tiền lời của doanh nghiệp trong một năm là 3 triệu $ là tốt hay xấu? Cái đó còn tùy thuộc vào năm trước bạn lãi 2 triệu hay 4 triệu $? Số lãi đó trên doanh số 40 triệu hay 400 triệu $. Nhiều người lầm tưởng rằng các công ty lớn ở Mỹ như ITT đều chỉ đạo bằng những con số. Trong thực tế. thì bạn có thể xét đến việc sản xuất thêm. nếu để riêng lẻ.. chúng ta có thể phát hiện được những sai biệt giữa dự kiến với thực tế và đó là những tín hiệu cho hành động. nó chính là hình ảnh của công việc kinh doanh..000$. giảm 100. là gợi ý để suy nghĩ. những con số chỉ có ý nghĩa khi người ta so sánh với những con số khác. là ngày bạn đã thực sự đứng ở vị trí trung tâm của donh nghiệp. cung ứng. ông ta ghi trên giấy một số phương án bằng những con số. Thí dụ một Doanh nghiệp có doanh số 500 triệu $. khi cần thiết. càng dựa nhiều vào những "sự kiện không thể chối cãi” thì thông tin càng rõ ràng và đáng tin cậy. càng sớm càng hiệu quả. Nếu một chi nhánh có doanh thu 500. Trong quản trị. dù sao chăng nữa. Con số đó bao gồm mọi phí tổn và sản phẩm: trang trí. những con số dạy tôi nhiều hơn thế. Trong kinh doanh. v. Nó nói với tôi rằng tốt nhất là tôi nên tìm cách khám phá xem đằng sau những con số là cái gì? Và tìm xem cái gì đang diễn ra. Cũng như các con chữ.Sự khác nhau giữa một doanh nghiệp được quản trị tốt với một doanh nghiệp được quản trị tồi là ở chỗ người ta đã quan tâm đến các con số như thế nào. những con số chính là những ký hiệu mà nhờ đó người ta có thể đo lường được hoạt động của một doanh nghiệp riêng lẻ. Khi một giám đốc lập ngân sách cho năm tới. nhưng tôi cũng đoán ngay ra rằng vấn đề của chi nhánh này có thể nghiêm trọng hơn. cũng như mọi thu nhập từ những chuyến hàng sắp tới. chúng chỉ là tín hiệu báo động. bạn có thời gian để xem có cách nào để nâng doanh số của nó được không. Réné Magritte đã vẽ một ống điếu. Số liệu tượng trưng cho các hoạt động thực tế trong kinh doanh. Nếu họ lầm như vậy. Trong khi làm những bài toán cộng và trừ ta sẽ được cái mà tôi muốn nói: cái đích của kinh doanh lãi hay lỗ. mọi đơn đặt hàng đang làm. khi doanh số giảm đi 50 triệu $ thì tôi nói là suy giảm 10%. mà nó được sàng lọc tỉ mỉ từ những sự kiện mà các nhân viên của công ty biết được. hoặc không. tính liêm khiết của những người 28 . kế toán gia đình coi nền tảng của số học. nhưng nếu đặt nó vào một khung cảnh nào đó thì nó có ý nghĩa phức tạp hơn rất nhiều.v. Nếu hàng ế. Dù sao thì cũng không có doanh nghiệp nào không dùng đến con số.000$ là sụt 20%. chính là vì họ hiểu câu chữ giỏi hơn các con số. các con số chỉ là những ký hiệu. Đó đúng thực không là ống điếu mà là hình ảnh của ống điếu. có một món bán rất chạy. thiết kế. Nếu trong trường hợp (thường gặp hơn) bạn phát hiện thấy một sản phẩm bán ra không được như dự kiến. dựa trên mọi đầu cơ ở thị trường chứng khoán. Vì vậy tôi xin được nói: Số liệu không phải là công việc kinh doanh. Bạn sớm biết các con số bạn càng sớm phản ứng với tình hình. không phải xem bói được. hoặc là giảm giá thành. Các bạn nên nhớ. nhưng lại chú thích: đây không phải là ống điếu. Giống như những chữ. thế thôi. tiếp thị. Dù chi nhánh này mất ít tiền hơn doanh nghiệp kia (100. nó giúp tôi thấy được nhiều điều. Khi tôi đọc bảng chữ số tôi tự động chuyển thành những tỷ lệ %. bán hàng và phân phối. nó là những đơn vị đo lường chứ không phải là bản thân hoạt động kinh doanh. tính trung thực. Lúc đó chúng ta lại thấy tầm quan trọng của thông tin liên lạc trong nội bộ doanh nghiệp. Ngày mà bạn bắt đầu đào xới những con số. nó mang ý nghĩa nội tại đơn giản. Những con số là hàn thử biểu chỉ sức khỏe và sự phồn vinh của doanh nghiệp.

Lúc đó bạn thấy rằng bạn đã không còn kiểm soát tình hình được nữa và bạn sẽ phải gọi vật đúng tên: Một thảm họa. Các chi nhánh chỉ báo cáo 3 tháng một lần. Kết quả là chúng tôi cảm thấy là chúng tôi đã kiểm soát được tình hình. làm cho những quyết định dựa trên cơ sở đó trở nên sai lạc. Nếu doanh số xuống thấp họ không có biện pháp ứng phó kịp thời mà chỉ hy vọng vào những lời hứa hẹn của các đại lý. nhưng không phải là lúc nào cũng có. không thể thuyết phục được. Một khi đã tìm được nguyên nhân của vấn đề thì phải huy động trí tuệ tập thể của bạn và của các giám đốc. Có thể anh này chỉ chiếm một địa vị nhỏ trong hệ thống công ty và bạn không có thì giờ để đi sâu vào chi tiết của công việc của một bộ phận nhỏ như vậy. Ban giám đốc công ty họp mỗi tháng sẽ xét duyệt các con số phản ảnh sự sai biệt giữa các dự kiến và thực hiện. vì nó là cái hàn thử biểu của kinh doanh.. Toàn bộ hệ thống các báo cáo đều hoạt động từ nguồn thông tin nhậy bén là các số liệu. xác định đâu là những điểm gay cấn. Như người ta nói muốn tráng trứng thì đừng đập tất cả các quả trứng cùng một lúc. Tập quán này phổ biến từ chi nhánh này sang chi nhánh khác. Nhưng tình hình ngày một xấu đi và hết khu vực này sang khu vực khác bị thua lỗ liên tiếp rồi cuối cùng bạn được người ta mời nghỉ việc.. nhưng nếu bạn tin cậy ở người phụ trách sản xuất. Làm lâu ngày. làm cho những bản kết toán ngày càng không chính xác. bạn phải trả lời trong buổi họp của ban giám đốc. Do đó chúng tôi đã kịp thời nắm được mọi sự kiện bất ngờ xuất hiện trên con đường của chúng tôi. khi chúng tôi phát hiện thấy cái gì đó không ổn. thì chúng tôi tập trung mọi suy nghĩ và nỗ lực giải quyết vấn đề. Nhiều công ty lại chấp nhận một sai biệt rất lớn giữa dữ kiện của họ và thực tế của thị trường. Đó là phương cách duy nhất để lãnh đạo một doanh nghiệp. Sự khác nhau giữa một doanh nghiệp được quản trị tốt.. Bạn là PDG của một Công ty. Họ thúc giục và thỉnh thoảng cũng có kết quả. nên cấp trên không nắm được tình hình đầy đủ. tháng Ba. Ngân sách kết toán được dùng làm cơ sở để hoạch định cho năm sau. Có thể xây dựng một nhà máy mới hoặc làm một việc gì khác. thì bạn sẽ chấp nhận những tính toán của anh ta và xuất phát từ đó mà làm việc. Những con số báo cáo đi từ dưới lên đến cấp lãnh đạo với tần số nào? Chính xác không? Sự sai biệt giữa dự kiến với thực hiện đến mức nào thì có thể chấp nhận được? người ta bắt đầu chú ý từ bao giờ và lúc nào thì có quyết định để ứng phó với biến động của những con số? Ban giám đốc đã đào sâu suy nghĩ kỹ đến mức nào để tìm các giải pháp? Ở ITT chúng tôi quan tâm đến các con số một cách nghiêm túc.cộng tác. kéo dài đến suốt năm và được soạn thảo rất kỹ. Chúng ta hãy lấy một thí dụ. mà tìm một giải pháp thích hợp nhất với hoàn cảnh. tìm cách cải tiến công viêc của chúng tôi. Nó có thể chính xác hay không. Khái niệm sau đây không có gì mới hay đặc biệt gì cả. Người phụ trách sản xuất báo cáo bạn rằng giá thành sản xuất trong năm qua tăng thêm 12 triệu $. Nếu bản thân PDG không chú ý đến con số thì ai phải chú ý đến nó? Họ chỉ quan tâm đến những con số tròn trịa để làm tăng một cách giả tạo con số lợi nhuận. Chúng tôi không thích “bị bất ngờ”. kịp thời. Về những câu hỏi trên. Điều đó có nghĩa là gì? Bạn biết là trong giá thành sản phẩm có lương của toàn bộ công nhân viên. Nhưng nói như vậy chung chung quá. nguyên vật liệu. Phần lớn trường hợp họ không nắm được nguyên nhân của mọi diễn biến bất lợi đó và nếu bạn coi thường những tín hiệu báo động thì bạn sẽ không thể ngăn chặn kịp thời. 29 . đặc tính đó không nằm trong bản thân nó mà tùy theo cách người PDG đối xử với nó như thế nào và tùy theo cách ông ta tìm gì trong những bản báo cáo từ dưới gửi lên. hoặc với cán bộ các cấp trong công ty. Cái tài là phải kiểm soát được đến tận chi tiết công việc của một doanh nghiệp rộng lớn phức tạp như ITT. Những báo cáo ngân sách của chúng tôi bắt đầu từ tháng Hai. chi tiết hay không. Các cán bộ trị sự và chuyên gia gửi báo cáo hàng tuần còn các giám đốc thì báo cáo hàng tháng. chúng tôi trở thành những chuyên gia trong lãnh vực giải thích các số liệu và chúng tôi có thể dự kiến những gì sẽ làm và không làm để khai thác mọi tài nguyên của chúng tôi trong tương lai. Những con số cũng có đặc tính riêng và quan trọng của nó. với một doanh nghiệp được quản trị dở là nằm ở chỗ người ta quan tâm đến những con số tới mức nào. Nhiều công ty không biết đối xử với các số liệu.

Với hệ thống này. Nắm được như vậy rồi. đầu tư. mà xét tổng thể và tương quan với nhau. khoảng 100 làm nhân viên văn phòng. ông ta mới bắt đầu đi vào chi tiết. tình hình biến chuyển xấu. Ông ta tìm cách phát hiện ra những khuynh hướng của tình hình diễn biến: Số liệu có khả năng tổng hợp tình hình diễn biến. tôi không cần biết cái đó.… dần dần biến doanh nghiệp này thành một doanh nghiệp được quản trị chặt chẽ. ông ta không xem xét hết chương này đến chương khác.Khoan đã.Cái khoản giá thành sản xuất ra sao? Nó gồm những gì vậy? . . một tổng số là 4 có thể là kết quả của +12 với -8. từ trước tới nay chúng ta không làm sổ sách theo kiểu đó. nợ và tiền lời. Ông ta sẽ thấy trong nhà máy của mình những công nhân đang mài dũa những dụng cụ không ai dùng đến từ lâu.Rồi một PDG mới đến thay bạn. số liệu có khả năng tổng hợp tình hình của nhiều điểm khác nhau trong cấu trúc chung của công ty. Trong kinh doanh. lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận. đi vào những điểm đáng quan tâm nhất: Doanh số bán ra. Quản trị một doanh nghiệp cũng như việc vẽ chữ trên tuyết. Người phụ trách sản xuất có thể tìm ra khối việc để sửa chữa. Người PDG mới đã ưu tiên phân tích sổ sách của công ty. Ông ta phải thường xuyên giữ vững nếp đó. tức là nâng cao tỷ suất lợi nhuận. Điều đó làm tăng phẩm chất của ông ta với tư cách là một nhà quản trị. chi phí như thế này là cao quá so với khối lượng sản phẩm. giá thành sản xuất.Chúng ta không đi sâu vào chi tiết. Thế là PDG mới của công ty tự mình đề ra một hệ thống chấm công mới và mỗi loại nguời có cách chấm công riêng. Phân tích số 4 ông ta thấy rằng nó không biểu hiện 2+2 mà là 3+1. ông biết rõ rằng trong quỹ lương được phát. Chúng ta giả thiết là ông ta ghi số 4 (có thể là 4 trăm hay 4 triệu $) vào một chương nào đó của một chi nhánh. trong khi một nhà lãnh đạo khác nhờ theo dõi chặt chẽ mà kịp thời hạ giá thành sản phẩm để mở rộng khoảng cách giữa giá bán với giá thành. Đó là một thí dụ đơn giản về cách làm thế nào để lấy ra được những sự kiện từ các con số. đơn giản chỉ vì họ muốn bày việc ra làm để khỏi bị đuổi việc mà thôi. cứ phải viết đi viết lại. có 300 người trong dây chuyền thực sự làm ra sản phẩm. Một nhà lãnh đạo nào đó có thể bỏ qua những con số. ông ta đào sâu suy nghĩ về số -13 chẳng hạn và ông ta thấy rằng nó chỉ là một số sản phẩm lỗi 30 . tiếp thị. .Được thôi. Ông ta cũng phát hiện ra những trò đố kỵ giữa các viên thanh tra và kiểm soát và cuối cùng ông đã tìm ra nguyên nhân đã làm tăng giá thành sản phẩm. tôi muốn biết hiện nay cán bộ công nhân viên của xí nghiệp thực sự đang làm gì và họ được trả lương như thế nào và họ để ra mấy giờ đồng hồ trong ngày để làm tròn trách nhiệm của mình? . Sau đó. Trong kinh doanh. Anh hãy xem mấy ông thanh tra và kiểm soát làm những việc gì? Làm gì mà 3 công nhân phải có một người kiểm soát.Khỏi. chúng ta cùng xem lại lương bổng vậy. . khi nói về những bộ phận cấu thành của giá thành sản phẩm. Còn khoản này là gì vậy? Tôi muốn biết các anh tính gì trong giá thành sản phẩm? . kiểm soát và thanh tra và khoảng 100 người nữa làm bảo trì. Có thể + 12 là đã vượt vượt yêu cầu nên ông ta tập trung tìm hiểu -8 và đã phát hiện ra rằng đó lại là kết quả của +5 với -13. .Nhưng thưa ông. vì ông ta không chịu quan tâm đến tài vụ. Ông này gọi người phụ trách sản xuất đến để hỏi sau khi ông đã xem xét mọi sổ sách: .Không cần nhiều đến như vậy. phần lớn là do chất lượng những con số báo cáo cho PDG. nó gồm lương công nhân và những chi phí khác của xí nghiệp. ông tiến hành phân tích. ông ta báo với người phụ trách sản xuất. nếu không thì tuyết sẽ lấp hết và chính vì phải viết đi viết lại nên nét chữ trở nên cứng cáp đẹp đẽ hơn.Dạ. Trong khi ông PDG bắt đầu theo dõi sổ sách thu chi mà các khu vực gửi đến cho ông ta.. . chủ yếu là lương. . Chúng ta tiếp tục thí dụ trên.

trong những thông tin cần thiết đối với ông ta. Tất cả những con số đó có một 31 . thậm chí hoạt động với số 0 về nợ nần. Điều đó đã xảy ra cho ngành công nghiệp xe hơi. Những con số trong bản kết toán tài sản cho biết toàn bộ tài sản của công ty. công ty ấy mỗi tháng mất 30. đã vượt qua cơn khủng hoảng để đạt tới mức phát triển hiện nay. về ban giám đốc và HĐQT của nó. cần được xử lý cẩn thận và thường xuyên để đảm bảo cho sự phồn thịnh của Công ty. Ngồi khoanh tay chờ thế cuộc xoay vần theo hướng có lợi cho mình là điều không thể chấp nhận được. thì đó là một cách tiếp cận khá bảo thủ trong kinh doanh. còn khói than đó có thoát ra được hay không thì họ không cần biết.thời và không bán được nữa. Một công ty muốn có ít nợ. Tổ chức lại cũng có nghĩa là giảm thiết bị. hỏng hết mất rồi. sẽ giải quyết được số -13 đó và khi cộng kết quả đó vào kết quả chung thì số 4 sẽ là số 17. Những con số cho chúng tôi biết là cái gì đang xảy ra có một vai trò quan trọng trong trường hợp này. tỷ suất và giá trị của tiền lời phải trả của việc quay vòng kho hàng và sau cùng là số tiền ấy chảy vào két của bạn. còn có một tập hợp những con số. Các con số đó cho người ta biết về chính sách của công ty. Để vay mượn thì thường lãi suất tùy thuộc số tiền vay quan trọng tới mức nào. gặp đủ thứ xấu. Cái chính ở đây là phải làm ra được số tiền cần thiết để trả số nợ đó thôi. Một số người khác thì lại nói: Thật họa vô đơn chí. Ở ITT mỗi khi chúng tôi bị lệ thuộc vào sự kiện khách quan và không tìm được cách nào thoát. dầu lửa và luyện kim của ITT. doanh số lại sụt trở về con số 40. doanh số. Ngoài những con số liên quan đến mọi nghiệp vụ hàng ngày. Làm thế nào đây? Vá víu bằng cách giảm giá thành một số chỗ cũng chưa giải quyết được vấn đề. Cái đó tùy thuộc vào việc tăng giá thành. bán quách xí nghiệp này đi. Một kết quả đáng kể cho ban giám đốc đấy chứ. làm việc khác. Nhưng nếu cơ quan quản lý môi trường phạt nặng việc thải khí than của nhà máy (mỗi ngày 1000$ chẳng hạn. Chúng tôi không thể làm được điều đó nếu chúng tôi không làm chủ được các con số. Tiếp tục nghiên cứu sổ sách của mình ông giám đốc có thể phát hiện thêm một số thiếu sót trong hệ thống báo cáo. các khoản đầu tư của cổ đông và số nợ hiện có. Dĩ nhiên sự tăng trưởng sẽ hạn chế. dù cho lãi suất có phải chăng. Chúng tôi xem lại các thống kê có ý nghĩa của mỗi vụ và đưa công ty trở lại kích thước của nó khi đạt doanh số 40 triệu $. Họ đạt được doanh số 80 triệu $ hàng năm và lợi nhuận cũng tăng theo tương ứng. Nói chung các công ty thường cố gắng giữ số nợ ở tỷ lệ 30-40% để giữ được thăng bằng cho ngân sách của mình. Một công ty càng dè dặt trong vay mượn thì lợi tức cổ phần càng cao. Có thể họ chỉ muốn biết rằng nhà máy A mỗi tháng tiêu thụ bao nhiêu tấn than. chúng tôi “tổ chức lại” công ty sao cho nó có thể hoạt động được trong môi trường mới. Những con số như vậy trở thành rất quan trọng. nghĩa là lớn hơn và sinh lợi nhiều hơn 3 lần trước đây. nếu vay nợ đến 40% thì lãi suất chỉ còn AA mà thôi.một chi nhánh của ITT. Dĩ nhiên là ban giám đốc một Công ty. lợi nhuận.000$) thì tự nhiên là họ phải quan tâm đến việc thải khí than và cả thải các phế thải khác nữa trong sản xuất. giảm nhân công để công ty trở lại kích thước của nó ban đầu (40 triệu $) rồi nâng dần trở lại 42-45 triệu $… Công ty Cannon Electric . khi một công ty vay nợ trên 30% thì phải chịu lãi suất cao nhất là AAA. Chúng tôi cũng không đồng ý bán một doanh nghiệp phá sản. Đó gọi là sống bằng hy vọng. Một số người cho rằng cứ chờ đấy rồi doanh số sẽ tăng trở lại sau suy thoái. Thế là ông ta đòi hỏi từ nay phải báo cáo sao cho ông ta có thể theo dõi được hoạt động thương mại một cách chặt chẽ hơn. Chúng ta lấy thí dụ như có một Công ty doanh số 40 triệu $ và thu được một số tiền lời đáng kể. một sự kiện quốc tế quan trọng. Trong một xí nghiệp đang thua lỗ thì nhiều thứ chi tiêu bỗng trở nên một thứ xa xỉ. Thí dụ như giá nhiên liệu đột ngột tăng. một chi nhánh hay một nghiệp vụ họ chỉ muốn có những tin tức cần cho mình thôi. Cũng có khi nhân tố độc lập bên ngoài tác động mà ta không phát hiện kịp. Nếu cho ngừng sản xuất loại sản phẩm đó. thì có thể tăng khả năng sản xuất và bán một số hàng hóa 30% nhiều hơn một công ty không vay thêm vốn. cuộc suy thoái kinh tế trong nước đã làm đảo lộn những tính toán chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Giả thiết mọi điều kiện khác đều bình thường. Nhưng rồi kinh tế suy thoái. Dĩ nhiên là công ty nào vay nợ 30% ngân sách của mình và đầu tư số tiền đó vào việc bành trướng công ty.

Trong kinh doanh chỉ có một sai lầm không thể cứu chữa được là hoạt động mà không có vốn. người ta đánh giá các conglomerat một cách nghiêm túc hơn.tương quan nội tại và quan hệ giữa chúng với nhau tùy theo cách giải quyết của người quản trị. Chúng ta đã chứng kiến các vụ sáp nhập chưa từng thấy. quản lý tốt hơn. chẳng qua cũng vì không biết quan tâm đúng mức đến những con số. lò nướng bánh. Thời ấy các nhà phân tích tài chính không hiểu nổi làm sao người ta lại nhét một nhà băng. Mua lại và mở rộng Thế nào là một Conglomerat? Chữ conglomerat trở thành một thứ thời trang vào khoảng cuối những năm 1960. một hãng làm kèo nhà chẳng hạn vào một công ty. Hình như có rất ít người biết rằng nhiều Công ty cỡ lớn của Mỹ đã trở thành những “conglomerat” từ lâu rồi. về lòng tin của bạn vào bản thân mình và ê kíp lãnh đạo.. vào thị trường và vào tình hình kinh tế. các conglomerat mới ra đời lại muốn tung ra các mặt hàng khác nhau cùng một lúc hay trong một thời gian rất ngắn. tất cả những chuyện nói trên chỉ là những trò chơi trẻ con đối vói những ai đã tốt nghiệp một trường thương mại hay tự mình quản trị doanh nghiệp của mình. đánh đổi mấy tấm cổ phiếu lấy tiền mặt và tài sản cố định. làm cho nhiều công ty có chứng khoán bị giảm giá trở thành một cơ hội cho những ai muốn mua lại. Nếu bạn muốn bạn có thể vay 30. vào công ty của mình và hàng chục nhân tố khả biến khác. nhiều Công ty nhỏ lại mua lại những công ty lớn hơn. đầu máy xe lửa. Nhiều vụ có vẻ là đã được chuyển nhượng một cách lương thiện. bán hàng. sự thịnh vượng của công ty tùy thuộc vào việc bạn quan tâm đến các con số hay không và quan tâm như thế nào. cứ lần lượt nuốt chửng những doanh nghiệp này đến doanh nghiệp khác mặc dù chúng chẳng liên quan gì với nhau cả. 40. Trong các giới theo trường phái tự do. là những vụ làm ăn lương thiện. Bạn cần nắm vững khả năng của công ty có thể hoạt động trong môi trường của nó. Tính đến khả năng vay mượn thêm để bành trướng trong năm tới và tiếp tục trong tương lai. Liệu làm như vậy có chắc ăn không? Có dũng cảm không? Tất cả những cái đó tùy thuộc vào cách bạn sản xuất. Nhưng nói chung những vụ sáp nhập trong thời kỳ này. vào yêu cầu của khách hàng. Cái khả năng thanh toán là rất quan trọng. một hãng may mặc. các báo cáo này có giá trị hay không còn tùy theo giá trị những con số nó chứa đựng. X. đâu phải là đơn độc. Bạn cũng phải nắm chắc là nó đủ khả năng thanh toán để ứng phó với mọi tình thế. Tuy vậy mọi conglomerat đều bị bỏ chung vào một rọ và bị đánh giá không lấy gì làm hay ho cho lắm. Và cuối cùng. buôn bán. chúng lệ thuộc lẫn nhau. được ghi rõ trong các báo cáo. nhưng nhiều vụ khác thì có ít nhiều gian lận trong đó. thậm chí 50% ngân sách để mở rộng kinh doanh hay mua thêm xí nghiệp mới. chứ kinh doanh mà không có tiền thì không được. một hãng làm giầy dép.. họ tin tưởng một cách sâu sắc rằng nếu không kịp ngăn 32 . dễ dàng và có một vài conglomerat được dựng lên vội vàng. Người ta lại hình dung nó là một kiểu Công ty có lòng tham vô tận. Thế mà mỗi năm hàng ngàn vụ làm ăn thất bại. mạnh hơn. bóng đèn điện. hàng trăm vụ mua đi bán lại các cơ sở kinh doanh. Còn bây giờ. Nhưng phải trải qua một thời gian dài GE mới lần lượt cho ra từng loại sản phẩm đó. Mọi người bắt đầu có cảm tưởng rằng conglomerat là một thứ buôn gian bán lận gì đó. tủ lạnh. động cơ máy bay. Tôi đã gặp nhiều người. Sự phồn thịnh của một công ty phụ thuộc vào lời lỗ trong kinh doanh. các báo cáo hàng tuần và hàng tháng. Có người thì không thấy được kịp thời sự chỉ dẫn của nó trong các bản ngân sách. Lúc đầu người ta cũng không hiểu nó là gì. Về lý thuyết. những con số đó là sự phản ảnh của tình hình thực tế về sản xuất. Mặc dầu ở Wall Street cũng có một số kẻ cơ hội để làm giàu mau chóng. trao đổi công bằng và kết quả là có được những Công ty lớn hơn. Mọi sai lầm khác có thể sửa chữa bằng cách này hay cách khác. thị trường. Công ty General Electric (GE) đã sản xuất máy phát điện. Thị trường chứng khoán phát triển mau lẹ trong những năm 60 đã đã làm đảo lộn giá trị các chứng khoán.

Công ty đó có một dịch vụ hay một sản phẩm mà người tiêu thụ sẽ mua hay tiếp tục mua hay không. mua trả ngay hoặc trả dần xe hơi của các hãng sản xuất. Chúng tôi đã mua công ty Shraton với sự phân tích tương tự: Ngày càng có nhiều người Mỹ đi du lịch để kinh doanh và giải trí. tôi thường nói với các anh em rằng chúng tôi sẽ mua những công ty nào có thể sử dụng được. Chúng tôi sẽ phát triển Avis sang châu Âu và chính ở đây đã mang lại những lợi nhuận đáng kể. Tôi thấy hình như vào thời kỳ ấy. Trong phần lớn trường hợp. chúng tôi cần cố gắng ổn định lợi nhuận của công ty trên lãnh thổ Mỹ. chúng tôi trở thành một conglomerat vì một lý do không chê vào đâu được: Chúng tôi không còn con đường nào khác để phát triển. Sản phẩm có tốt không? Tiềm lực của công ty đó là gì? Thị trường của nó mở rộng hay thu hẹp? Vấn đề sau cùng là. Chúng tôi không có một chiến lược nào hết. với khả năng huy động vốn rất lớn của chúng tôi. Chúng tôi đã mua lại nhiều công ty trong lãnh vực hàng tiêu dùng mà không có ai cạnh tranh. Trong địa bàn này. Trong những năm 60 và đầu 70. Khi tôi đến ITT thực chất là một công ty kỹ nghệ chuyên dụng trong các hệ thống nối điện cơ học trong vô tuyến viễn thông. tức là các kế hoạch thương mại. năm 1966. chúng tôi đã mua công ty Avis là một công ty cho thuê xe hơi.chặn đúng lúc thì cuối cùng các conglomerat sẽ thôn tính cả hành tinh của chúng ta. Điều chúng tôi làm là xem xét từng Công ty một. Nếu quản trị được chặt chẽ về tài chính thì chắc chắn là có lợi nhuận đều đặn và không ngừng tăng lên. các loại hình hoạt động này có một tiềm lực tăng trưởng cao nhất. Dĩ nhiên là chúng tôi phải xem xét các con số kết toán của họ. chúng tôi ở ITT với những kiến thức về quản trị. người ta ca ngợi và người ta phỉ báng. Theo ý tôi. Chúng tôi đánh giá ban lãnh đạo công ty này. Những sản phẩm của ITT từ đó được bày bán ở tất cả các tiệm thực phẩm trong cả nước. ITT đã cho mọi người thấy rằng nó là conglomerat lớn nhất trong các conglomerat. Đặt chân vào lĩnh vực hàng tiêu dùng và dịch vụ. tôi giữ nguyên ban quản trị cũ và mời các nhà quản trị của công ty đó tham gia vào tổ chức của ITT. mọi việc mua bán này đều dựa trước hết vào trực giác vào kinh nghiệm vào lòng tin rằng chúng tôi sẽ quản trị được nó tốt hơn trước đây. Trong thực tế. chúng tôi đã dành 75% ngân sách nghiên cứu và phát triển cho những phương tiện vô tuyến viễn thông mà các nhà bác học và kỹ sư của chúng tôi dự tính cho tương lai. những công ty nào chào bán hoặc muốn sáp nhập vào ITT. Phải nói rằng chúng tôi là những người đầu tiên cảm nhận được việc biến chuyển nền kinh tế quốc dân sang nền kinh tế dịch vụ. với các loại bánh nổi tiếng của nó là một bước tiến lớn của chúng tôi trên thị trường quốc gia về hàng tiêu dùng. Chúng tôi xoay sang khu vực hàng tiêu dùng và dịch vụ. chúng tôi có thể phát triển nó không? Những câu hỏi đơn giản như vậy cho chúng tôi biết là công ty này hay công ty khác là phù hợp với hệ thống quản trị của ITT. cũng như chúng tôi mua giường ngủ rồi cho thuê lại ban đêm vậy. Chúng tôi sẽ xây dựng nhiều khách sạn và khách sạn cho người đi xe đường dài (motel). Continental Baking là lò bánh mì công nghiệp lớn nhất nước Mỹ khi chúng tôi mua nó vào năm 1968 với giá 181 triệu $ bằng cổ 33 . Các bạn biết đấy. Việc mua lại công ty Continental Baking Co. về khả năng chúng tôi có thể giải quyết những vấn đề đó và chúng tôi bắt tay hành động. mua APCOA các bãi đậu xe ở sân bay và năm 1968 mua công ty Sheraton (khách sạn) và Avis về cơ bản là một công ty hoạt động tốt. đánh giá các vấn đề hiện nay của họ. tức là tạo ra một khoảng cách so với sự lệ thuộc của chúng tôi vào thiết kế và sản xuất công nghiệp. thì chúng tôi có thể đóng góp một cái gì có ý nghĩa vào công ty đó không? Liệu sau khi mua lại. chúng đã diễn ra trên toàn thế giới công nghiệp. ngân sách chi tiết. kiểm tra tài chính chặt chẽ và các cuộc họp chung của ban lãnh đạo. chúng tôi đã vượt qua hệ thống điện lăng nhăng. những vụ thôn tính lẫn nhau đâu chỉ hạn chế trên lãnh thổ nước Mỹ. tiến tới ngành điện tử và đạt tới trình độ tinh vi và cực nhanh như hiện nay. rồi cho thuê lại tính theo giờ hoặc theo cây số. Nói như vậy có thể là quá đơn giản. Trong vòng 20 năm. Người ta đặt chúng tôi lên bệ. Không có gì là khoa học trong quá trình ấy cả. Hậu ý của chúng tôi dựa trên nguyên tắc cho rằng tiếp tục một công cuộc kinh doanh có sẵn thì dễ hơn là khởi sự một công cuộc mới. Chính trong lúc ấy. Năm 1965. kinh doanh. Tương tự khi chọn các công ty để mua. chỉ đơn giản là xem xét cẩn thận từng công ty một.

Để tự bảo vệ. Trong hành trình này. New York ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tính đến khả năng phát triển trong tương lai. doanh số của nó lên tới 621 triệu $ và sau đó. được thành lập từ cơ sở ban đầu là việc cất một lô nhà rẻ tiền gọi là Levit Town ở Long Island. giá trị cổ phiếu của chúng tôi không được khuếch đại. bây giờ trị giá khoảng 2. nhằm tăng lợi nhuận của ITT trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên trong nước.20 phút xem xét sổ sách của họ. Những năm 60. Chúng tôi nghĩ rằng ITT có tiền. doanh số của Continental Baking đã tăng hơn hai lần đạt 1. Có nhiều công ty chúng tôi đã mua lại sau 10. Chúng tôi không mua lại các công ty này bằng tiền mặt. Glass and Sand và 10 công ty khác nữa. Riêng trong năm 1968 chúng tôi đã mua lại các công ty Levitt. nó đã tăng giá trị gấp 10 lần. nhà sản xuất quan trọng về silic dioxide. mà bằng các thứ cổ phiếu thường và cổ phiếu đặc biệt của ITT. Cũng cần nhấn mạnh là không có trường hợp nào chúng tôi phải mua miễn cưỡng cả. lợi nhuận đó không thể kéo dài. phân bón và thuốc trừ sâu với giá 112 triệu $. Hai cách quản trị của chúng tôi không ăn khớp với nhau và thị trường nhà kiểu này đã mau chóng bị thu hẹp. chúng tôi đều trả theo cái giá mà người ta đưa ra. với một tỷ suất lợi nhuận xấp xỉ với các công ty 34 . Nhưng đó không phải là trường hợp của ITT. phần lớn những lời chào mua đều đến với chúng tôi.5 tỉ $ (1982). thì chúng tôi có thể được bù lại bằng lợi nhuận trên cổ phiếu. Sheraton. Nhiều người cho rằng giá trị cổ phiếu của chúng tôi ở thị trường chứng khoán đã bị khuếch đại. Năm sau. chúng tôi có thể mua nó bằng 14 hoặc 15 lần lợi nhuận của nó.5. Tôi nhớ là tôi đã quyết định mua công ty này trong vòng có 20 phút. Khi chúng tôi chọn được công ty nào vừa ý. để đài thọ cho những chương trình to lớn đó. Rayonier. Hai tháng sau chúng tôi lại tậu thêm công ty Pensynvania Glass and Sand. bóng đèn. Ở Wall Street nhiều người đã chau mày trước giá mua của chúng tôi. Giá trị đồng US$ có thể được nâng lên. nhất là những mối quan trọng nhất. hoặc gần như vậy. nhưng một khi chúng tôi đã nâng cao được lợi nhuận của công ty vừa mua được. Năm 1972. dùng làm thủy tinh. nhưng chúng tôi có thể tự cho phép mua cao hơn giá của nó vì cổ phiếu của ITT lúc đó được bán với giá 20 lần nhiều hơn lợi tức cổ phần của nó.6 triệu $ và đó là một trong những sai lầm lớn nhất của chúng tôi.3 tỉ $. tạp chí Fortune đã tiến hành một cuộc nghiên cứu sâu rộng về các công ty do ITT sở hữu và thấy rằng các công ty này tiếp tục phát triển dưới mái nhà của ITT. từ ngân hàng Lazard Frères với ông Felix Rohatyn nổi tiếng làm trung gian môi giới. mà còn là những năm lạm phát phi mã và sụt giá đồng US$ liên tục. Thực ra. là một vụ mua lại tốt nhất của chúng tôi trong lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên. chống cơn xoáy lạm phát. không phải chỉ là những năm thuận lợi của thị trường chứng khoán. mà chính là dự đoán của các cổ đông về chiều hướng phát triển của tình hình. Theo ý tôi. Công ty Rayonier là một trong những công ty chủ yếu trên thế giới sản xuất cellulosa thành phần cơ bản của acetat và tơ nhân tạo. Pensylvania. chúng tôi đã mua lại công ty này với giá 91.phiếu ITT. đồ sứ và xin nói thẳng. kết quả là chúng tôi được tiếng là người hào phóng. nó là một công ty đang hoạt đông uể oải với lợi nhuận thấp ở lúc chúng tôi mua nó (1968) với giá 293 triệu $. khai khoáng và hơi đốt. Chúng tôi không mua những cái mà người ta muốn bán. Trong mấy trường hợp này điều chúng tôi muốn tìm là một công ty hoạt động độc lập và chúng tôi có thể giúp nó hoạt động tốt hơn. Một trong những vụ mua lại hứa hẹn nhất của chúng tôi là vụ mua công ty Levitt & Sons vào giữa những năm 1960. Một lần nữa chúng tôi lại là những người đầu tiên nhận thức được rằng mọi tài nguyên thiên nhiên chỉ có thể tăng thêm giá trị khi lạm phát tiếp tục leo thang ở Mỹ. Nhìn từ bên ngoài người ta cứ tưởng các Conglomerat đã “mua lại" lợi nhuận. sách. mọi thứ có thể làm ra lợi nhuận ngay trên đất Mỹ thì chúng tôi làm tất. Nhờ đầu tư thêm vốn và dưới sự quản trị của ITT. công ty này chẳng những có lời mà còn tính đến việc mở các chi nhánh ở nước ngoài. chúng tôi đã tậu thêm hàng loạt các công ty khác thuộc lãnh vực sản xuất hàng tiêu dùng rộng rãi như: mỹ phẩm. Chúng tôi cũng mua lại những công ty dầu lửa. chúng tôi xoay sang mua lại những công ty khai thác tài nguyên thiên nhiên. là một công ty chuyên làm các loại nhà rẻ tiền đầu tiên và nổi tiếng nhất nước Mỹ. Như vậy là khi mua một công ty mà cổ phiếu của nó được trị giá bằng 12 hoặc 13 lần lợi nhuận hàng năm. dưới sụ quản trị của ITT.

trong lúc một số khác giảm sút. Còn tôi. dọa bỏ đi vì coi đi vào điện toán là niềm vui. hấp dẫn ấy. Cái quyết định “không mua” đó đã tránh cho ITT một khoản mất mát ít nhất cũng là 500 triệu $. Không nên trách cứ các kỹ sư về tổn thất kể trên. Điều đáng buồn và bao giờ cũng sẵn có cho các chiến lược gia dài hạn là mọi người khác cũng nghĩ như họ. thì lập tức giá cổ phiếu của chúng ta sẽ tăng ngay. thì nhiều kỹ sư trong công ty của chúng tôi. Một công ty kinh doanh nhiều ngành công nghiệp khác nhau. cấm mọi phát triển về tin học trong ITT. khi mà máy điện toán có vẻ là con đường của tương lai. Nếu danh mục của nó đủ rộng. Tôi vẫn cương quyết đứng vững. Nhưng với tư cách là nhà kinh doanh thì đó là cơn ác mộng. Vào thời đó ngay cả các chuyên viên tài chính cũng chủ trương phát triển tin học. xoay trở khó khăn trong quản trị và những thu nhập quá bấp bênh trong một tương lai mù mịt. Sterry… ở Mỹ. RCA. Tóm lại ITT đã chứng tỏ được khả năng tăng trưởng với tỷ lệ đáng kinh ngạc (12%/năm) đối với các công ty cũ cũng như những công ty mới mua lại. rồi sẽ thấy mình như đang làm trò đi trên dây thăng bằng và phía dưới là vực thẳm. chỉ được thừa nhận khi phong trào này đã phát triển. họ nói rằng ai có khả năng đều lao vào tin học. Hàng tỉ và hàng tỉ $ đã được ghi bằng số âm vào kết toán của những công ty nổi tiếng như GE. Từ đó mà suy rằng công ty nào phát triển mau chóng nhiều ngành cùng một lúc. muốn làm những người đầu tiên lao vào cái biển mới mẻ. sớm muộn gì cũng có ngày ngã gãy cổ. Trong hàng trăm vụ mua lại mà chúng tôi đã thực hiện. Honeywell. họ đã đề ra những kế hoạch để chiếm lĩnh một phần của thị trường trong tương lai. các conglomerat quá lớn nên không thể quản trị có hiệu quả và quá khác nhau nên không thể chỉ huy từ một mối được. đẩy cho họ phát triển mau hơn và mạnh hơn và chúng tôi kiên trì nâng 35 . đầy những khoản đầu tư nặng nề. Tôi đã đề nghị ngừng ngay mọi phát triển trong lĩnh vực điện toán trong ITT. Cái lỗi là ở những người thuộc đội ngũ lãnh đạo. Con đường mà bạn đã không đi trong cuộc đời có thể quan trọng không kém con đường mà bạn đã đi. Mỗi vụ kinh doanh đều bị tác động nhiều chiều. ngồi ở nhà của mình mà nhìn thấy tương lai 20 năm sau. tôi cũng làm một cuộc nghiên cứu riêng của mình về 50 công ty có doanh số hàng năm là 750 triệu $ năm 1959 và tôi phát hiện ra rằng lợi nhuận tính theo cổ phần của ITT đứng hàng thứ hai ở Mỹ. Ích lợi của việc đa dạng hóa và việc cấu trúc lại các công ty thành Conglomerat. cái quyết định mua mà tôi thích nhất là quyết định “không mua” vào đầu những năm 60. nhưng khó dự đoán. Tất cả đều tấn công vào IBM để giành lấy một phần thị trường khổng lồ này. Họ nói rằng chỉ cần đưa tin ITT sẽ lao vào cuộc thách thức trong tin học. như trong một công ty và vào các sản phẩm hoặc ngành hàng đang có thuận lợi nhất. phát triển tài năng của họ. Cũng trong năm 1972 ấy. Ở ITT mỗi khi yêu cầu về thiết bị điện tử giảm xuống thì ở các công ty làm hàng tiêu dùng lại phát đạt nhất. Công ty của chúng tôi ở CHLB Đức dẫn trước rất xa các công ty khác trong lĩnh vực tin học. tôi lại khoái trí vì đã không cho ITT mua lại những công ty trong lĩnh vực đó. nhờ những kiến thức sẵn có và các ý niệm chiến lược.chúng tôi sở hữu từ đầu. Philips… ở châu Âu. nhất là ở châu Âu. Chúng tôi có thể phối hợp mọi nỗ lực. Còn với các công ty đang gặp khó khăn thì chúng tôi cố giảm mọi tác hại và ảnh hưởng tiêu cực. Cũng theo lập luận này. giành được một hợp đồng lắp đặt hệ thống giữ chỗ cho hãng hàng không Air France. Từ đó tôi để mắt theo dõi xem các công ty khác làm ăn như thế nào trên bình diện này. chỉ sau IBM. Những ai tới nay còn sống sót vẫn phải chiến đấu với IBM để giành lấy một phần thị trường và chỉ có vài người trong số đó còn sống sót được lâu mà thôi. làm nhiều sản phẩm khác nhau thì có thể được bảo hiểm trước mọi đảo lộn về kinh tế. Vào đầu những năm 60 đó. họ hoàn toàn có lý khi dự tính đến tác động của tin học đến đời sống và thị trường. Nó cũng lên xuống như thủy triều. cũng như ở các công ty Siemens. Nói cách khác là chúng tôi ủng hộ những người chiến thắng. người ta khẳng định rằng. thì lúc nào nó cũng có một số loại hàng hóa được yêu cầu trên thị trường. Các kỹ sư của chúng tôi lúc đó nhiều người phản đối. Chúng tôi đã mất 10 triệu $ về cái hợp đồng ấy. cứ tưởng mình là nhà chiến lược vĩ đại. qua mặt IBM. Tất cả những cái đó đều do mộng tưởng và tham vọng của các kỹ sư như kiểu tôi đã gặp ở ITT. Người ta đã thường nói nhất nghệ tinh nhất thân vinh đó sao? Những ai thích leo rào ra khỏi lĩnh vực chuyên môn của mình chỉ tổ chuốc lấy nhọc nhằn.

thì nhiều người khác theo phái tự do lại la ó lên rằng các conglomerat quá lớn nên sẽ nuốt chửng những công ty nhỏ hơn trong cuộc cạnh tranh. đình trệ theo năm tháng. Trong một conglomerat bạn có lợi thế là khi một sản phẩm này bị ứ đọng. Điều đó phản ảnh một quan điểm chính trị hơn là mô tả một tình hình thực tế. Nó ngày càng to lớn. thì đã có sản phẩm khác bán chạy. Theo tôi. cái đó đã làm chúng tôi vượt lên khỏi tầm trung bình của các công ty trong danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới. PDG của ABC muốn hợp nhất với một công ty nào có tiền và chịu giữ gìn cho sự toàn vẹn và tự trị của hệ thống ABC này. Nhưng các conglomerat lại có những lợi thế có ý nghĩa. những nhà dân túy mới. ở lò coke hay lò luyện thép? Ở ITT mỗi người giám đốc chịu trách nhiệm về mọi việc xảy ra trong cơ sở của mình. từ truyền hình đen trắng sang nhiều mầu. Nhưng trên mặt trận chính trị. làm rất căng. Không nên bác bỏ các conglomerat ngay từ đầu. càng chèn ép các doanh nghiệp nhỏ trong cuộc cạnh tranh không ngang sức. các conglomerat lao vào những ngành hoạt động khác nhau mà trong đó họ chỉ chiếm được một phần nhỏ của thị trường. Trong văn phòng của PDG. không có ai là thiên tài cả. Không có conglomerat nào như ITT. và 1968 với công ty Hartford. Họ la lối các conglomerat lớn quá. Trong khi có nhiều người trong giới kinh doanh và giới tài chính cho rằng các conglomerat lớn quá nên khó mà quản trị được tốt. vô tuyến truyền hình là một ngành đang phát triển. Dự án của chúng tôi với ABC (Americain Broadcasting Co) thích đáng cho cả hai công ty và thuần túy là về thương mại. Trong thực tế tôi thấy doanh số của một mặt hàng đang ăn khách tăng nhanh hơn nhiều so với sự sút giảm của những mặt hàng đang ế khách. Thay vì bóp nghẹt cạnh tranh. Năm 1965 khi chúng tôi đề nghị sáp nhập với công ty Americain Broadcasting Co. Trong một công ty có một loạt những trung tâm sinh lợi. Giữa những năm 60. Chúng tôi làm việc tập thể.đỡ kẻ đang thua. cũng đủ hình dung ABC sẽ 36 . ITT trở thành cái bung xung cho sự sinh tồn của các conglomerat. Ban lãnh đạo mỗi doanh nghiệp mới mua được lại chỉ cho chúng tôi biết những khái niệm cơ bản về kinh doanh của họ để chúng tôi ở tổng hành dinh của công ty có thể cảm thông được và đánh giá tốt hoạt động của họ. Còn những năm thuận lợi chúng tôi đạt 15% /năm với một nỗ lực ít hơn. Theo ý tôi. do đó trong khi ủng hộ công ty đang thắng thế chúng tôi có thể làm tăng gấp đôi doanh số của chúng. Vì hoạt động của chúng tôi trải rộng phần lớn trong nền kinh tế quốc dân. Ông Leonardo. Gulfand Western và nhiều nhà khác kiểm soát thị trường tới mức bị pháp luật và tòa án có thể gán cho cái tội “độc quyền”. có nhiều quan điểm mới và nhiều kiến thức mà chúng tôi không có. trong khi những công ty đang thất thế chỉ suy giảm 25% doanh số. Trong những năm mà nền kinh tế chung phát triển kém. phát triển mau quá và trong kinh doanh mà to con quá là một điều xấu. tôi nghĩ là nhờ đó mà chúng tôi được thông tin đầy đủ hơn về nền kinh tế thế giới. Theo dư luận tốt nhất trong chính phủ thì các conglomerat không bị coi là lũng đoạn khi chúng chưa chiếm quá 5% thị trường trong một loại sản phẩm. Textron. Tôi còn nhớ những cuộc xung đột căng thẳng ở công ty Thép Jones and Laughlin khi phải xác định ai là người phải chịu trách nhiệm trước thất bại. Chúng tôi chỉ cần xem số tiền đang tăng lên không ngừng của NBC đem lại cho RCA (Radio Corporation America) vốn là một đối thủ của ITT. không có sự lộn xộn về trách nhiệm như trong trường hợp những công ty sáp nhập theo chiều dọc. lợi nhuận của ITT vẫn phát triển 10% nhưng phải có rất nhiều cố gắng. càng mạnh lên. Ling Temco Vought. la ầm lên rằng các conglomerat sẽ nuốt hết mọi thứ trên đường đi của nó. Litton. Trong thực tế. Có thể là chúng tôi đã phải làm việc khó nhọc với những người đứng đầu các công ty có sản phẩm duy nhất. Mỗi công ty mà chúng tôi mua lại có một loại chất xám mới. nhưng ABC mặc dầu đang đứng thứ ba sau NBC và CBS. được quản trị độc lập với nhau. đã làm nổ ra một cuộc đấu tranh giữa chính phủ và giới kinh doanh tự do. các conglomerat kích thích cạnh tranh ở những nơi mà các công ty đã trở nên uể oải. Khi chu kỳ kinh doanh thay đổi thì chúng tôi lại tập trung mọi lực lượng ủng hộ những người chiến thắng mới xuất hiện và đồng thời nâng đỡ những người mới thất bại lần này. lại quá nghèo không thể đầu tư công nghệ mới để chuyển được. thời gian đã cho thấy những người hoài nghi đã sai lầm. lỗi ở mỏ than. người ta hoàn toàn có khả năng quản trị nó. một cuộc đấu tranh chính trị hơn là kinh tế.

Cuối năm ấy (1968) ông Felix Rohatyn đến báo cho chúng tôi là Hartfort Insurance Co. Họ sợ những phản ứng chính trị bất lợi. Ở Anh có sự hợp nhất của 5 xưởng đóng tàu ở Ecosse. Nhưng cuộc hợp nhất không được lâu. nhưng tôi cho rằng giá (47$) của Hartfort trên thị trường chứng khoán là thấp hơn giá trị thực.… Như vậy là ở khắp Tây Âu nơi mà chính phủ đã làm “bà mối” cho những cuộc hôn nhân này. giới tài chính và giới chính trị. dù nó không khống chế thị trường nào đi nữa. và tiếp tục duy trì các quan hệ và nghĩa vụ của nó đối với địa phương… Ủy ban bảo hiểm của Bang đã chấp nhận sự hợp nhất. Ngay từ lúc đó Mỹ đã bắt đầu mất dần những lợi thế của mình trong cuộc chạy đua giữa các nước. đòi hủy bỏ kết luận của Ủy ban truyền thông và ngăn cản cuộc hợp nhất. chúng tôi phải mất một năm ròng và nhiều cuộc họp mới thuyết phục được họ. lần này đã kéo dài và gay gắt hơn lần trước. Những cuộc cạnh tranh này lan rộng trong giới luật. chúng tôi cố gắng giải thích. đang có ý định bán. chúng tôi tuyên bố hủy bỏ dự kiến hợp nhất giữa 2 công ty ITT và ABC. 4 đồng ý. Khi chúng tôi tiếp cận với ban lãnh đạo và HĐQT của Hartfort. Cuộc hợp nhất được công bố tháng 12/1965 và lập tức làm nổ ra sự phản đối mạnh mẽ của những nhóm chống độc quyền (anti-trust) vang dội đến Washington.đem lại những gì trong lĩnh vực truyền hình đang phát triển này cho ITT. Nhưng hình như họ bất lực trong việc ngăn chặn cuộc thánh chiến của Vụ chống độc quyền. Sự hợp nhất phải được Ủy ban bảo hiểm Connecticut đồng ý. giữ trụ sở của nó ở chỗ cũ. ITT bị tố cáo đủ thứ tội lỗi: nào là ITT sẽ vắt chanh bỏ vỏ công ty Hartfort. trong đó các công ty sẽ cạnh tranh với nhau trên bình diện quốc tế và các công ty này phải mạnh thì mới có hiệu quả. dân ở đây sẽ mất việc làm… Chúng tôi muốn đến Connecticut như những người đồng minh chứ không phải là kẻ xâm lược. Ủy ban đã bỏ phiếu đồng ý cho hợp nhất với 3 phiếu chống và 4 phiếu thuận. Luận điểm của họ là các đại doanh nghiệp (Big Business) có hại cho lợi ích chung. Họ cho rằng khi công ty bảo hiểm Hartfort là thành viên của ITT sẽ tạo cho Hertfort có một thị trường trong các chi nhánh của ITT do đó làm bất lợi cho những người cạnh tranh khác. Bộ trưởng tư pháp John Mitchell và nhiều thành viên khác trong nội các đã công khai tuyên bố rằng chính quyền này không hề nói rằng một công ty lớn quá sẽ là một công ty xấu. Ủy ban truyền thông liên bang lại mở phiên tòa điều trần lần hai. Trong khi đó ở Nhật đã giúp 2 công ty luyện kim lớn nhất của họ hợp nhất thành Nippon Steel Corporation và đó là công ty luyện kim lớn nhất thế giới. Cuối cùng thì Ủy ban về vô tuyến truyền thông của Liên bang lập phiên tòa xét sử vụ này. Trong những phiên điều trần. Và khi tôi đề nghị mua mỗi cổ phiếu của họ với giá 68$. Ở CHLB Đức có sự liên minh của 26 công ty mỏ thành một công ty và đứng vững. Tài sản gần 2 tỷ $ thu nhập trong năm nhờ tiền bảo hiểm lên tới 969 triệu $ Nhưng nó đang thua thiệt vì những khoản tiền bồi thường lớn của 4 năm trước. Ở Pháp có sự phối hợp trong chế tạo xe hơi Renault và Peugeot và sự hợp nhất Peugeot với Citroen. Họ nghi ngờ ý định về một conglomerat. giới kinh doanh. Sau khi xem sổ sách tài sản của Hartfort tôi thấy cũng có những nét giống với quỹ tín dụng Aetna mà chúng tôi đã mua lại trong buổi đầu tìm cách kinh doanh đa ngành. Một lần nữa việc hợp nhất lại được thông qua với 3 phiếu chống. trong khi giá trị trao đổi của nó là 47$ thì các cổ đông của Công ty Hartfort khó mà không đồng ý được. Ngày 1/7/1968. Nhiều người cho rằng mua như thế quá đắt. Những người chống đối lại tiếp tục phản đôi quyết định này và cho là phiên tòa không trung thực. bảo đảm quyền tự trị của Hartfort. Vào thời đó người ta đã nhấn mạnh rằng thế giới đã trở thành một thị trường kinh tế duy nhất. Chỉ cần nhắc lại rằng chính tổng thống Nixon. Chúng tôi sẽ giữ nguyên HĐQT. đứng thứ 6 trong ngành. nên chúng tôi đã thỏa thuận hợp tác với cuộc trao đổi bằng cổ phiếu 200 triệu $ và để ABC với ông Leonardo và đội ngũ của ông tiếp tục lãnh đạo với tư cách một chi nhánh của ITT mà họ chịu hoàn toàn trách nhiệm. thì họ lại tỏ ra thù địch với việc hợp nhất. Cuộc hợp nhất này được mô tả là cuộc hợp nhất rộng lớn nhất trong ngành truyền thanh truyền hình và dư luận cho rằng vì nó quá lớn nên rất có hại. chỉ đưa vào thêm 2 người của ITT. sẽ làm mất tổng hành dinh làm cho các tổ chức ở đây mất chỗ dựa. Bộ tư pháp đưa đơn kiện ITT. chúng tôi công bố bản tuyên ngôn 10 điểm và cam kết sẽ tiếp trợ vốn cho Hartfort chứ không phải là vét sạch nó. Nhưng sau đó chúng tôi lại đụng phải Vụ chống độc quyền của Bộ tư pháp. 37 . Vụ này đưa ra đơn kiện ITT để chặn đứng sự hợp nhất.

Mọi suy nghĩ tự do bị tù túng. người chủ doanh nghiệp kinh doanh là vì quyền lợi riêng của mình. ông ta có thể được rất nhiều. còn người khác thì không. mạo hiểm với hy vọng được nhiều lợi nhuận. quan liêu giấy tờ. đánh cuộc vào sự nghiệp mà ông tin là sẽ thành công. Carnegie. Chúng tôi không sao hiểu được sự rút lui của mình. Chúng tôi chấp nhận thỏa thuận đó và phải chia tay với các công ty Avis. người ta thấy cần tìm lại tinh thần doanh nghiệp Mỹ trước đây. ông ta đánh cuộc. Từ khi hợp nhất đến nay chúng tôi đã tôn trọng các cam kết của chúng tôi với công ty Hartfort và với thành phố. dù sao. cũng có thể là ông ta phải cầm cố tài sản. Từ đầu những năm 80 sự hợp nhất của những công ty khổng lồ như Dupont. người đứng đầu một công ty tư nhân là người được giao sử dụng hàng trăm triệu. Nhiều ý kiến khác nhau.Tuy nhiên. khi thấy có một cơ may nho nhỏ nào đó chăng? Không đâu. Trong phần lớn trường hợp. Ford của thời nay đâu rồi? Vì sao các đại công ty của chúng ta cứ ì ạch. Những chủ doanh nghiệp mà ngày nay chúng ta được biết. nhiều ý kiến cho rằng phải tìm ra những con người quản trị chuyên nghiệp. có nhiều PDG trải qua những năm tháng này đã hiểu ra rằng đa dạng hóa tài sản của mình và chiếm lĩnh một phần thị trường thì có lợi như thế nào. Chúng tôi có thể giúp gì được cho những công ty mà chúng tôi bị buộc phải bán lại. thì mới thoát ra khỏi tình trạng ì ạch hiện nay và trở lại địa vị mà các quốc gia công nghiệp thèm muốn. rồi xây dựng lại nó với sức lực của mình. Vụ Hartfort là một rắc rối về chính trị chứ không phải về quản trị. không được mua thêm một công ty bảo hiểm nào khác có trị giá trên 10 triệu $ và không được mua bất cứ một công ty nào khác có trị giá trên 100 triệu $ mà không có sự đồng ý của Bộ tư pháp. Những Rockefeller. thu nhập ròng đã tăng từ 50 triệu $ lên 254 triệu $.Xin thưa: Mất rồi! Theo định nghĩa. trả họ lương cao. Theo đánh giá của tôi. Chúng tôi đã đi đến thỏa hiệp vừa ý với Vụ chống độc quyền. dư luận đã có những thay đổi. US Steel và nhiều công ty dầu lửa trị giá tới 7 tỷ $. nhà cửa. nhưng ITT phải giảm bớt số chi nhánh với doanh số tương đương và cam kết trong 10 năm tới. hoặc đã mua lại một cơ ngơi đã phá sản hoặc bị mọi người bỏ chạy mất hết. Nếu thắng. Trong thực tế. Ông ta tổ chức. Từ đó về sau. chúng tôi không hoán cải được xã hội. tinh thần doanh nghiệp Mỹ đâu rồi? . điều khiển và mạo hiểm vì doanh nghiệp ấy. nếu thua. ít ra là trong thời kỳ đầu nhưng lại phát triển dần lên tới mức vượt qua các công ty khổng lồ có vốn đầu tư lớn. hạn chế nhiều cơ hội làm ăn. cũng không thể điều khiển được hướng đi của con người.5 tỷ $ đã được thực hiện mà không có sự phản đối của Vụ chống độc quyền Bộ tư pháp. để họ thi thố tài năng. ông ta sẽ bị quét ra khỏi thương trường. Một lần nữa cũng như ở trường hợp của ABC chúng tôi có thể thắng về pháp lý. Bạn có nghĩ rằng người PDG của các công ty cỡ GE hay GM lại dễ dàng đưa doanh nghiệp của mình vào cuộc. doanh thu từ 969 triệu $ tăng thành 5 tỉ $ 1982. thỏa thuận này không là thắng lợi của một ai. với mọi quyết định độc đoán làm nghẹt thở mọi thử nghiệm táo bạo vốn có trước đây. làm ăn có hiệu quả hơn? Liệu dân chúng có lợi ích gì khi công ty Avis không còn thuộc ITT mà thuộc về một Conglomerat khác là Norton Simon? Sau cuộc hợp nhất Hartfort phát triển gấp 5 lần. Sự hợp nhất của ITT và Hartfort chỉ có 1. Ông ta chỉ là người được chọn mặt gửi vàng. thuộc Bộ tư pháp: ITT được quyền giữ Hartfort với thu nhập hàng năm 1 tỷ $ tiền bảo hiểm. Người ta tự hỏi. Ông ta thành lập doanh nghiệp. ba năm trôi qua trong xung đột. hàng tỷ $ của người khác. Những người gửi 38 . hay một sản phẩm mới. đâu phải tiền của ông ta. Hiện nay doanh số của Hartfort chiếm 23% và lợi nhuận chiếm tới 36% của ITT. đã xây dựng cơ ngơi của mình từ một sáng chế. Thời gian đã chứng minh rằng nước Mỹ đang cần đến quyền lực của big business để có thể đứng vững trên thị trường thế giới. Tinh thần Doanh nghiệp Tinh thần doanh nghiệp Mỹ đâu rồi? Hiện nay ở Mỹ. nhưng không thể chịu bị giam chân 3 năm như thế được. đó là những doanh nghiệp quy mô nhỏ. XI. tài ba. Levitt. giao cho họ quyền hành. Canteen và một phần của công ty Grinnell. Tôi nghĩ.

còn Polaroid thì trở thành một công ty ổn định hơn. HĐQT sẽ không ủng hộ ông ta. Nhưng khi ông ấy về hưu thì hình như mọi tinh thần phát minh sáng chế cũng về hưu theo và những nhân vật chủ chốt. sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm lớn. nó cũng quá nhỏ để làm thay đổi quá trình hình thành của doanh nghiệp. Trên bình diện cá nhân hay bình diện toàn công ty cần phải đề phòng cẩn thận mọi nguy hiểm. Những sai lầm lớn này bao giờ cũng là những tai nạn không lường trước được của những kế hoạch quá chu đáo. thì mới được coi là con người tài ba. khái niệm tinh thần doanh nghiệp là phản đề hoàn toàn của triết lý ở các công ty lớn hiện nay. có triển vọng thành công. Dù người ta có động cơ gì. thì những “tế bào dám nghĩ dám làm" đó cũng chưa phải là tinh thần doanh nghiệp đích thực. Mối quan tâm hàng đầu của những người điều khiển các công ty lớn hiện nay là đừng phạm sai lầm có thể làm cho họ mất chức. giảm mọi chi phí. nhưng một khi đã trưởng thành và lớn mạnh thì lại đánh mất nhiệt tình kinh doanh của mình. chỉ đơn giản là doanh nghiệp một khi đã sinh lợi. họ cô lập một bộ phận nhỏ ra làm thí nghiệm và biết chắc rằng nếu cuộc thí nghiệm đó có thất bại thì doanh nghiệp đó cũng chẳng làm sao. Trong các công ty lớn người ta có được tỷ suất lợi nhuận ổn định. Thông thường ông ta cần có sự ủng hộ của các bạn đồng nghiệp. nên khó mà tha thứ cho bất cứ sai lầm nào. tổn thất tương đối ít và PDG vẫn giữ được địa vị của mình. Không ai gánh lấy trách nhiệm một mình trong một quá trình như vậy cả. mới dám đưa ra một dự án mới và một khi dự án này được cấp trên chấp nhận thì trách nhiệm được chia đều cho họ và cấp trên của họ. ít ra là trong lúc tiến sỹ Edward Land còn đang lãnh đạo. sau khi đã tung ra thị trường một sản phẩm mới. đó vẫn là một sự đánh cuộc về phần ông. Đó là một mạo hiểm xứng đáng với một người chủ doanh nghiệp hàng đầu. có thể nói là ngững người “doanh nghiệp” nhất trong số họ đã dứt áo ra đi. Họ không yêu cầu ông mạo hiểm đem tất cả tài sản của công ty ra mạo hiểm với hy vọng. Nhưng cuộc thí nghiệm đó có thành công. Thật mỉa mai và đáng buồn thay.tiền cho ông ta đòi hỏi ông ta hàng năm phải đem lại cho họ tỷ suất lợi nhuận 10 . Thí dụ nổi bật nhất là trường hợp của Lee Iacocca và những gì ông đã làm ở Công ty Chrysler.12 hay 15%. Nó đã trở lại hàng ngũ những những công ty cùng chung tầm vóc và quy mô với nó. Trong tất cả các công ty. yên vị và phớt lờ hơn. Chỉ cần một lỗi lầm nhỏ đủ để người ta nghi ngờ và có thể làm tiêu ma sự nghiệp. Còn công ty Americain Motor cũng gặp trường hợp tương tự. người giám đốc hết sức dè dặt với tiếp nhận và sử dụng các sáng kiến mới. Không có gì để nói nữa. Mặc dầu được chính phủ cho Chrysler vay một khoản tiền lớn. Công ty Xerox là một thí dụ rõ ràng. Trong vòng một năm. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là các công ty lớn không phạm phải những sai lầm lớn. Ông đã lao vào cuộc chỉ vì ông thấy rằng Chrysler không còn con đường nào khác. nhưng họ lại chọn con đường bảo thủ 39 . đã phát triển và nổi tiếng. chỉ dự kiến những mạo hiểm tầm thường. tìm một nơi nào đó có không khí sôi động để làm việc. Nhưng những sai lầm lớn này không phải là kết quả của những mạo hiểm lớn đã được chấp nhận một cách tự giác để đổi lấy những lợi nhuận lớn. Cũng có nhiều trường hợp ngoại lệ. Một PDG mới phải chứng tỏ khả năng của mình ít nhất là 5 lần thách thức. Nếu những vụ đem tiền ra đánh cuộc trong kinh doanh như vậy mà thất bại. nhưng rất ít so với quy luật cho rằng các doanh nghiệp càng lớn càng nhát. có nhiều công ty lúc đầu rất dũng cảm. Tâm trạng chung hiện nay là càng ít mạo hiểm càng tốt. Nhưng các công ty lớn bây giờ chỉ chấp nhận những mạo hiểm nhỏ hơn để đánh đổi lấy những lợi nhuận nhỏ hơn. Những nhà doanh nghiệp (Entrepreneur) là những người canh tân độc lập. thì bạn có biết là sẽ có bao nhiêu vụ với tầm vóc như thế nào không? Quản lý tài sản của người ta như thế thì người PDG cầm chắc phần thua. Nếu ông ta thiếu thận trọng mà muốn thử thời vận theo kiểu đó thì. tăng gấp đôi hay gấp 4 vốn đầu tư của họ. đánh cuộc rằng sẽ tổ chức lại toàn bộ. Cũng có những công ty lớn ra vẻ bạo phổi. với bản năng tự vệ. ông đã thực sự thử thách số phận của cả công ty. nhưng thật ra chỉ trong một phạm vi nhỏ thôi. theo dõi sản xuất một loạt mẫu xe mới và bán ra đủ để có lời. Họ cũng đã từng phạm những sai lầm lớn. Cần phải có sự ủng hộ của các chuyên gia và cố vấn từ bên ngoài thì ông ta mới dám sử dụng. Công ty Polaroid vẫn tiếp tục tiến lên sau khi tung ra thị trường cái máy chụp ảnh lấy ngay. Trong thực tế. như vậy thì làm vừa lòng những nhà đầu tư có đầu óc bảo thủ. thì ít có tham vọng giành thắng lợi thêm nữa. đánh đổi lấy những lợi nhuận lớn.

Họ đi tìm cái hăng say đầu tư đã từng là biểu hiện của các chủ doanh nghiệp. Con người dám đánh cuộc cả sự nghiệp của mình là con người được cổ vũ bởi lòng tự hào. Chúng tôi cấu trúc lại gần như toàn bộ công ty. không sản xuất nữa. Nhưng một khi chúng tôi đã biến 350 doanh nghiệp mới tậu thành 250 trung tâm lợi nhuận và doanh số hàng năm của ITT lên tới 20 tỷ $. Làm như vậy thì mạo hiểm không bao nhiêu. trông coi công việc của khoảng 375. Trong 2 cách ứng xử đó. Khoảng 85% lợi nhuận của chúng tôi lúc đó là từ nước ngoài và chúng tôi đang gặp nguy. nỗi lo thất bại. Thế là chúng tôi bắt đầu đánh cuộc. tiếp theo là những món lớn hơn. Nếu họ bán hàng được nhiều thì có lợi chung cho cả mọi người. sản xuất. Không thể tưởng tượng nổi. chúng tôi chỉ cho một giám đốc chừng một đến hai triệu $ để thí nghiệm một sáng kiến mới. nhưng chúng tôi cũng có sự lựa chọn khó khăn. nhưng những người khác trong quá trình sản xuất thì không thể chứng minh tài năng của mình 40 . một công ty mới hay một lãnh vực mới. dù năng lực rất cao. thì có lẽ nó đã tiếp nhận cái tinh thần doanh nghiệp đó rồi. tôi cũng không biết. kế hoạch hơn. nếu cuộc thử nghiệm thất bại. tiếp thị. ITT đã không còn có thể cho phép mình mạo hiểm như những ngày đầu được nữa. tôi vẫn tự hỏi không rõ tinh thần doanh nghiệp của chúng tôi sẽ đi đến đâu. Nói như vậy thì tôi chỉ thấy có 2 PDG đã trung thành với lời tuyên bố của mình một khi người bán hàng xuất sắc thực sự có thu nhập cao hơn họ. vì phần lớn các công ty Mỹ tiến triển từng bước nặng nề chậm chạp. Năm đầu tiên của tôi. hoặc là cam chịu thất bại ngày mai. có một ngày tôi mời hai nhà lãnh đạo quan trọng nhất của ITT đến yêu cầu họ thăm dò và đưa cả công ty và các chi nhánh của họ vào một thị trường hoàn toàn mới mẻ. niềm vui chiến thắng và vui trước những phần khen thưởng mà mình xứng đáng được hưởng. Các vị giám đốc sẽ vui mừng khi có một vài người trong số đó có thu nhập cao hơn mình. khi mới đến ITT. Điển hình là một người bán hàng xuất sắc của công ty. Năm 1959. Biết được ý định của các cổ đông. Vậy vấn đề đặt ra là làm sao trong một công ty. tôi đã ở vị trí có thể điều khiển được công ty này. Nếu các công ty quan trọng nhất của chúng ta không vướng víu với cái tổ chức của nó. 5 món như vậy trong một tuần. Nếu làm không tính toán cẩn thận sẽ gây ra hỗn loạn trong công ty. cho đến khi chúng tôi đã tậu được 350 công ty mới thêm vào tài sản của ITT. Thay vì mạo hiểm đầu tư toàn bộ lợi nhuận hàng năm của chúng tôi vào một sản phẩm mới. Nếu trả lương cho người bán hàng cao hơn những người có công làm ra sản phẩm thì có logic hay không? Người bán hàng giỏi đã chứng minh tài năng của mình bằng số hàng bán ra. cái tinh thần đã một thời làm tiêu chuẩn cho thế giới. theo nhịp độ khoảng 4. họ đã nhượng lại một nửa tài sản cho Công ty Renault và rút 2 mẫu xe mới của họ lại. phải được thu nhập cao hơn chủ tịch công ty không? Vì PDG là người chịu trách nhiệm thiết kế mẫu mới. ngân sách chi ly chính xác. động não hơn viên giám đốc làm việc theo lương tháng. Dĩ nhiên là ông ta làm việc hăng say hơn. Có nhất thiết rằng người đại lý. ngay cả khi chưa đạt tới mức cao đó. Lúc đó trong mắt của những nhà đầu tư và cổ đông. Những người đó điều khiển công việc của họ một cách có phương pháp. hoặc là mạo hiểm đánh cuộc hôm nay. Làm sao kích thích được tinh thần doanh nghiệp của anh ta. nhiều nhà kinh doanh đã bắt đầu tìm cách hồi sinh cái tinh thần doanh nghiệp Mỹ của cha ông thời trước. Trong những năm đầu nguy ngập đó. ban giám đốc và mọi người trong công ty đã làm mọi việc để tạo ra sản phẩm cho người đại lý đem ra bán. người ta có thể thưởng công cho một công nhân nhiều sáng kiến tương xứng với một người chủ doanh nghiệp nói trên. cách nào có lý? Thành thật mà nói. trường hợp của chúng tôi không rõ ràng là nguy ngập như Chrysler. cho một sản phẩm mới.hơn. toàn bộ nền kĩ nghệ Mỹ không còn cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới được nữa. Đây là một vấn đề cũ. Chúng tôi không có lựa chọn nào khác. Trong những năm gần đây. còn những người khác đã nuốt lời. chúng tôi thử nghiệm cái khác mà vẫn đảm bảo được lợi nhuận cho công ty và lợi túc cổ phần cho các cổ đông. chúng tôi bắt đầu đánh cuộc những món nhỏ.000 nhân viên. Cuba là nước thứ 7 đã quốc hữu hóa một công ty điện thoại của ITT mà không bồi thường gì cả. Tôi đã nghe nhiều vị chủ tịch công ty nói rằng họ không hề quan tâm đến thu nhập của mấy anh bán hàng xuất sắc này. có nghĩa là sử dụng tới 500 triệu $ và về sau tới 900 triệu $.

dù dịch vụ đầu tư này có ngon ăn đến đâu. Tuy nhiên. họ bỏ đi nơi khác. Trong những năm gần đây có một số công ty đã tuyển chọn cán bộ từ các trường đại học. khó mà chấp nhận nổi. thay vì phải đơn thương độc mã lăn lộn trên thị trường mặc dầu có khả năng giành được những khoản thu nhập cao hơn. bán lại cho công ty 50% còn lại với giá 1 triệu $. Mới gần đây thôi. Công ty tăng vốn của mình lên gấp 7 lần mà ít nguy hiểm. Thang lương của các công ty là một cấu trúc tế nhị để làm sao thỏa mãn được yêu cầu của công nhân viên cũng như người lãnh đạo công ty. nhiều người muốn có một chỗ làm ổn định và sự nâng đỡ của một công ty lớn. Những người này đã bị mắc kẹt. Cũng có một vài công ty muốn khuyến khích tinh thần doanh nghiệp của cán bộ. Nhưng từ đây đến đó thì đã quá muộn để chuyển nghề rồi. Cuộc mặc cả diễn ra như sau: đáp lại số vốn công ty kia cấp cho ban đầu. Nhưng nếu trả cao quá thì sẽ gây bất mãn cho những người đã tham gia làm ra sản phẩm để bán. tùy anh lựa chọn. nên được thù lao thích đáng để anh ta không bỏ mà đi sang nơi khác được trả cao hơn và thường có những công ty như thế. Mọi người đều nghĩ rằng. đã thả lỏng cho những cán bộ xuất sắc của mình thi thố tài năng. Nếu anh ta tự mình kinh doanh và thành công thì thu nhập có thể từ 2 đến 20 lần nhiều hơn tiền mà công ty trả. họ cung cấp cho công nhân sự an toàn. Nếu anh ta là một phần tử có năng lực thì có thể sẽ đáng giá hơn số lương được trả. xứng đáng với giá trị của người cán bộ. chưa nói đến chính viên chủ tịch công ty. đặc biệt trong lãnh vực công nghệ cao. Từ lâu. Những công ty làm như vậy đã có được đội ngũ cán bộ tốt với giá rẻ. Ai cũng hiểu là làm cho công ty không thể nào tốt bằng làm cho chính mình. Họ không muốn những phần tử có ích của công ty phải đi sang nơi khác. Họ sẽ bất mãn khi thấy người bán hàng lãnh lương cao hơn mình. Muốn phát triển và tăng thêm lợi nhuận. thường phải lĩnh số lương thấp hơn giá trị thật của họ trên thị trường. Cái lợi của nghiệp vụ này là làm cho cán bộ trẻ trở thành con tin của công ty. nhưng họ vẫn dùng được những người tài cao với giá hạ. Chỉ cần mấy cái bàn. Nhưng cái nguy là họ sẽ nhận vào công ty này một nhóm người mới chỉ có 5 năm làm việc mà bỏ túi hàng triệu $. từ khi tôi mới bắt đầu con đường quản trị kinh doanh. giao cho công ty này 50% công việc và hết 5 năm. Tôi phải kiếm chỗ cho những người tài ba lập ra một dịch vụ tài chính đặc biệt. Sau đó việc tăng lương bắt đầu giảm dần và giảm hẳn. có chiếu cố đến chức vụ lãnh đạo tùy theo thâm niên mà nâng bậc cho mọi người. trong khi chính họ là những người lãnh đạo công ty? Thế là họ từ chối lời chào hàng này. Họ ý thức được rằng những người có thực tài muốn tự bay bằng đôi cánh của mình. Nhưng cái khả năng sinh lợi chủ yếu của các công ty là tuyển dụng những người còn trẻ vào những chức vụ thấp rồi đề bạt và tăng lương dần cho họ. khi tôi nghỉ việc ITT. Chính sách này không tế nhị lắm. để ai cũng bình đẳng trong lao động. làm sao cho ai cũng nỗ lực làm việc hơn nữa để công ty được sinh lợi. Dịch vụ của họ tiến hành không chút mạo hiểm nào và đã chứng minh được kết quả trong giai đoạn đầu. Khi hiểu ra. thì công ty lại tuyển số người trẻ mới. ngay từ buổi đầu trả lương cho họ tương đối cao và không ngừng tăng lương để giữ họ ở lại công ty lâu đến mức mà khi họ muốn chuyển sang nơi khác thì đã quá muộn hoặc đã quá khó. Theo tôi thì đó là tinh thần doanh nghiệp trong giới bán hàng. tôi có được nhiều dịp để thử thách tinh thần doanh nghiệp của các công ty Mỹ. Mỗi chức vụ được tính toán dựa vào mức lương trung bình. giám đốc. người bán hàng giỏi. tăng lương. là những người chỉ lãnh từ 3% đến 5% thù lao đó. có một công ty cứ liên tục đề bạt các giám đốc trẻ gần như hàng tuần. cái hãng dịch vụ tài chính này kiếm lời rất khá. Họ làm sao mà giải thích được cái thù lao đó cho các phó chủ tịch. Người nào làm việc cho bản thân mình chính là làm việc cho ông chủ khó tính nhất. phần đông các công ty trả lương. vài máy điện thoại. Theo tôi nghĩ. nhóm này sẽ hoàn trả trong 3 năm. họ cũng không thể mạo hiểm gây bất hòa trong công ty vì món lời bấp bênh này. nhóm này muốn gia nhập một nhóm khác lớn hơn để có thể cấp cho họ một số vốn ngắn hạn. dĩ nhiên là có buộc một sợi 41 . đề bạt và khen thưởng. nhưng không tăng lương gì cả. họ lập ra những nhóm công tác và thả cho nó bay theo ý nó trong không trung.một cách rõ ràng như thế. Thay cho lương cao. Có 6 công ty đã xem xét đề nghị đó và ai cũng cho là nên đầu tư vì chắc là có lợi.

kể cả ITT dám cho phép. Làm như vậy thì trong một quãng thời gian nào đó. bằng khoản tăng lương 20% và nhiều tiền thưởng. Trong các công ty của Mỹ. có những người chủ doanh nghiệp làm việc với tinh thần hăng hái và quên mình như làm việc cho chính mình vậy.000$. đó cũng xuất phát từ tinh thần doanh nghiệp. Cái đó cũng không hẳn là bất công. không bị ngăn trở và không có một đại công ty nào. nhưng theo một nghĩa khác 42 . Người ta có quyền hỏi rằng tại sao những người như vậy lại đi làm giàu cho các đại công ty mà không cố gắng tự làm để hưởng trọn lợi nhuận? Một số người trong đó khi muốn thoát ra khỏi công ty để làm cho riêng mình thì lại thấy vướng víu với những tiện nghi và an toàn mà công ty đã cung cấp cho họ. không thích lao vào cuộc đời sóng gió bấp bênh của người chủ doanh nghiệp độc lập. đó là những người “bán doanh nghiệp” nhưng vẫn làm việc cho công ty và công ty là người được hái những kết quả lao động do họ vun trồng. Người ta cố gắng sao cho công việc quản trị được tinh tế hơn. người ta đặt ra giải thưởng H. trong số 300. Trong thực tế. dịch vụ mới. Sau khi tôi rời khỏi ITT. mang lại cho ITT hàng chục triệu $. Chỉ có điều là ITT không thể trả cho họ 30% hay 50% số tiền mà họ đã mang lại cho công ty. Tôi bổ nhiệm những người này vào các vị trí lãnh đạo những chi nhánh nào đó của ITT đang gặp khó khăn và khi họ đã làm cho chi nhánh này trở thành lành mạnh và sinh lợi thì họ được thưởng công.000 $. Geneen về sáng tạo trong quản trị kinh doanh. Phần lớn người làm công mà tôi được biết đều lấy làm thỏa mãn với cuộc đời trong công ty. bởi vì công ty vẫn ở đó. mỗi năm trao cho khoảng 5. Một chút độc lập tạm thời đối với bộ máy quan liêu cũng không tạo ra được những người dám nghĩ dám làm. vì mọi quyết định của họ đã được cấp trên duyệt và chịu trách nhiệm. để thù lao cho ông về đóng góp này. họ là những nhà sáng chế. họ biết như vậy và tôi cũng biết như vậy. Rõ ràng là GE.000 công nhân viên của ITT vì những cố gắng của họ. người ta đã thưởng cho ông 50. nhưng tất cả những cái đó đều do các chương trình nghiên cứu và phát triển mà người ta chỉ dành cho một phần không đáng kể trong ngân sách hàng năm. IBM. Hơn nữa họ cũng không biết họ sẽ có thể kiếm được gì từ thế giới bên ngoài. nhưng họ muốn bay bằng đôi cánh của chính họ. Như tôi thấy. Ở ITT. không bằng lòng với mức lương tăng hàng năm 5-10% hoặc không thích sự phân công manh mún. A. ông được ITT tạo điều kiện làm việc ổn định và tiện nghi. Nhưng cũng như Reeves và nhiều người khác. đó là tiền lương hơn là tiền thưởng. Bị nhốt trong lồng hay được tung cánh tự do với sợi dây buộc ở chân thì cũng không khác nhau gì mấy. Họ thích những chức vụ làm việc không biết lúc nào nghỉ. rủi ro và mọi phần thưởng của riêng họ. Họ đã làm việc đủ mệt nhọc ở sở. đây phần lớn là vấn đề cá tính của con người. Điều mà tôi thấy được là phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề tinh thần và động viên con người. Nhiều công ty cũng muốn có những sản phẩm mới. của AT&T. chấp nhận mọi trách nhiệm. các phòng thí nghiệm của Bell. Họ không thỏa mãn với việc leo từng bước trên thang bậc lãnh đạo. Tóm lại họ không phải bận tâm đến những mạo hiểm và mọi lợi nhuận to lớn mà một người làm ăn riêng lẻ phải nhận lãnh. Reeves đã được trả lương để làm công việc nghiên cứu. Nếu bạn thấy như vậy là bất công thì nên biết rằng. không phải là nhà doanh nghiệp. Không phải vì cấu trúc của các đại công ty không thích hợp với những người chủ doanh nghiệp chân chính mà chúng ta không có những con người sáng tạo canh tân và dũng cảm trong giới doanh nghiệp Mỹ. Nhưng cái đó vẫn chưa cân xứng với cố gắng mà họ đã bỏ ra và thu được.000 hoặc 10. Ngày nay một trong những nét nổi bật trong giới kinh doanh là người ta ngày càng nhận thức ra được sự lựa chọn khó khăn là làm thế nào để kết hợp được tinh thần doanh nghiệp đích thực với nhiệt tình hăng say của nó vào cấu trúc của các đại công ty mà không sợ phá vỡ cấu trúc này. Thế là họ rũ áo ra đi.dây nhỏ ở dưới chân. tiến sỹ Alex Reeves mấy năm trước đây đã có một phát minh làm đảo lộn hệ thống điện thoại thế giới. Những giám đốc làm việc theo kiểu các chủ doanh nghiệp là một loại người khác hẳn. tự thân lập nghiệp. 6 người. Họ được mời dự tiệc và được tặng số tiền 5. sau lưng họ. ITT và hành trăm công ty khác mấy năm qua đã tung ra thị trường nhiều sản phẩm mới. tài trợ cho những cố gắng của họ và hưởng kết quả của họ. mang theo tài liệu về nhà làm việc trong ngày nghỉ và thích sự yên ổn.

Ông ta đưa cả công ty vào cuộc. Những người chủ doanh nghiệp tài giỏi.99% hoạt động của họ vẫn tập trung vào việc đảm bảo một tỷ lệ tăng trưởng ổn định khoảng 10% năm. Những người như vậy nằm lại ở các đại công ty một thời gian đủ để tích lũy kinh nghiệm. Điều quan trọng là không có và không thể có những người chủ doanh nghiệp đích thực trong đời sống kinh doanh và nếu có thì cũng không lâu. về sáng chế phát minh. Chúng tôi đồng ý. không quan tâm nhiều đến nguy hiểm hay lời lỗ. mà là năng lực làm việc mới. Thông thường thì họ là người đứng đầu cái chi nhánh không sinh lợi đó và kinh doanh cho riêng mình. về hiệu suất công tác. thường với giá trị đặc biệt hoặc ngang với giá trị kết toán của nó. Ba năm sau công ty có trị giá khoảng 300 triệu $ Những cố gắng nhiều hứa hẹn nhất là những cố gắng do những người nắm vững nghiệp vụ đang làm và lãnh đạo việc kinh doanh như những người chủ thực sự. Họ bắt đầu việc đổi mới công ty. Nhờ sự ủng hộ của một nhóm nhỏ các nhà đầu tư. bằng cách tuyển dụng lại một nửa số nhân sự cũ và ngay những ngày đầu họ đã có lãi liền. là sự dấn thân quên mình mà những người chủ doanh nghiệp đầu tư cho sự nghiệp của mình. nhưng thực ra họ chỉ dành 1. bằng toàn bộ cuộc thử nghiệm phiêu lưu với tầm vóc nhỏ hơn. hoặc mọi nhân tố đó xuất hiện đồng thời. lãi suất. còn 97 . Ai muốn lao vào kinh doanh không thể làm khác. Vậy cái mà người ta trao cho họ không phải là sản phẩm mới. tương lai tùy thuộc vào những người chủ doanh nghiệp này. Các giới kinh doanh. cổ phần xuống giá. Theo ý tôi. tài chính và đầu tư đã thừa nhận rằng những người và nhóm người nào muốn tự mình xông vào thì có thể bằng cố gắng của bản thân sẽ tạo ra được nguồn của cải mới trên thị trường. không nhất thiết phải là người phát minh sáng chế ra cái gì mới. Hai người này mua với điều kiện: đóng cửa công ty và thải hết người trước khi giao công ty cho họ. ITT thì không dám làm như thế vì thế nào cũng có đình công và không chừng nó còn lan sang các chi nhánh khác. đó là người vay tiền thiên hạ để mua một chi nhánh đang thua lỗ và làm cho nó sinh lợi. Họ làm như vậy bởi mấy lý do: các chi nhánh này làm ăn thua lỗ hoặc lãi không đủ bù đắp mọi rắc rối do nó gây ra. nợ nần tăng. khi lợi nhuận xuống thấp. mượn thêm một số nhiều hơn từ nhà Bank và làm ra cái máy tính của họ. nhưng thực ra sự khác nhau của họ cũng không có gì đáng kể. Người ta cũng nói công ty này chịu chơi hơn công ty khác. Họ đáng cho người ta tin cậy. công ty này không đem lại được đồng xu nào cả. còn 5 triệu $. ai cũng làm việc cật lực và lĩnh lương bằng cổ phiếu chứ không bằng tiền. nhưng cơ hội thành công thì lại rất nhiều. Nguy hiểm không phải đã bị loại trừ. Thế là chúng tôi quyết định bán nó cho hai nhân viên của ITT. nộp thuế mất 5 triệu $. Nhưng những ông chủ mới của công ty này lại có thể sản xuất như cũ với tiền thuê mướn nhân công rẻ hơn một nửa. Những cố gắng này đã tiến hành theo cái tôi tạm gọi là chế độ mua dưới uy thế. Họ đã lôi kéo được một số người then chốt trong công ty cũ. Bởi vì các công ty lớn cũng lao vào tìm tòi nghiên cứu cải tiến để đưa ra những sản phẩm mới. Lợi nhuận có thể là không ghê gớm. Trong những năm gần đây. Trong các công ty lớn. phải bán bớt một số công ty chi nhánh. thấy công ty điện tử của họ bị bán lại cho người khác. đều rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và phồn thịnh của nền công nghiệp. ITT có một công ty nhỏ làm hàng điện tử. hàng hóa. Các đại công ty cảm thấy đã đến lúc phải thắt lưng buộc bụng. Ở Cleveland.2 hoặc 3% ngân sách hàng năm giao cho một chi nhánh hay một khu vực nào đó làm thí nghiệm riêng lẻ thôi. nhưng được giảm thiểu tối đa. Nên hiểu rằng tăng trưởng 10% đòi hỏi nhiều tiền bạc tài nguyên. Giả thiết là công ty đem bán đó thu được mỗi năm 10 triệu $. vì đây là công ty cỡ lớn. mà tách ra lập một xí nghiệp nhỏ của riêng họ ở Mineapolis. Cái đó không phải là không 43 . họ gom được 3 triệu $. Do đó một doanh nghiệp hay chi nhánh được rao bán. Chính những loại cố gắng như vậy ngày càng nhiều và được chấp nhận trong giới kinh doanh ngày nay. nó hoạt động như sau: Trong thời kỳ suy thoái. họ không đi theo công ty để làm việc cho chủ mới. sôi động. sau đó họ đi tìm sự nghiệp riêng. đã có sự thừa nhận rất mới và rất rộng về vai trò của họ trong xã hội. Tôi có quen hai người. được ăn cả ngã về không. hoặc đơn giản là nó không thích nghi với chiến lược mới của công ty. một chút thay đổi về tinh thần làm việc. về nghệ thuật quản trị.Người ta nói rằng họ đang nghiên cứu một sản phẩm mới.

Họ biết rằng họ có thể làm cho công ty này có thu nhập nhiều hơn trước đây. thì ngân hàng là người cho vay ưu đãi sẽ được hoàn vốn đầu tiên trước mọi người khác. đặc biệt. là có 1. dù phải cầm cố tài sản riêng. đồng thời tăng mức sản xuất và sản phẩm bán ra. và nếu tất cả mọi nhân tố đều chứng tỏ đây là một mạo hiểm đáng chấp nhận. công ty này được treo giá 40 triệu $. hoặc một cơ quan nào đó. Những người kia cũng có thể góp một phần tiền vào đó làm bằng chứng cho sự cam kết tham dự. nhưng lại đóng thuế ít hơn.2 triệu $ ở năm thứ ba… Tiền vay nợ giảm dần theo từng năm và lãi tiền vay phải trả cũng thế. thí dụ 2 triệu $ chẳng hạn. tức là 11. Tuy vậy. Họ không có nhiều chỗ để tung hoành như các công ty lớn. các nhà đầu tư chịu trách nhiệm tìm ra một giải pháp. Chúng ta lại giả thiết tiếp. Để cạnh tranh được trên thương trường. không những họ kiểm tra các con số kết toán. đó là cái giá xấp xỉ giá trị kết toán của nó. các dữ kiện. thì họ sẽ cho vay 30 triệu $ trong thời hạn nhất định. Bất cứ lúc nào. họ muốn có những mạo hiểm lớn để có những lợi nhuận lớn. số tiền đó có thể là tất cả những gì mà họ có được. hoặc bị người cạnh tranh. muốn mạo hiểm trong nghiệp vụ mới này. mang theo cả niềm hy vọng và nguyện ước của họ đến gặp các nhà đầu tư. có thể đóng thành quyển sách. Chính vì vậy ông ta phải tận tâm tận lực làm việc cho nó. Thế là họ mang theo bản kết toán lời lỗ. kế hoạch và chiến lược phát triển của công ty này. Nhưng khổ nỗi là họ lại không có tiền. Khi cuộc mặc cả kết thúc. sản phẩm của họ có thể đến lúc lỗi thời. công ty thu được một lợi nhuận như cũ. nguy cơ vẫn còn rất lớn. Nếu thất bại thì uy tín. nhóm người đầu tư này có thể tìm được một người chịu xuất vốn hoặc một nhóm đầu tư khác. các ngân hàng ngày nay cũng tỏ ra chấp nhận các cuộc mạo hiểm như vậy. Nếu như công ty cũ lời 10 triệu $ và đóng thuế hết 5 triệu. Nếu xét thấy được. chúng ta có công ty mới được mua lại. làm việc cho chính bản thân mình và có thể là người sở hữu 10% và các giám đốc khác sẽ chia nhau 10-25% còn lại. 12. hy vọng và tiền sẽ cùng mất đi theo công ty này. tự hào. nhóm người đầu tư đầu tiên đem mọi dữ liệu và số liệu đến vận động một ngân hàng tham gia vào công cuộc mạo hiểm này bao gồm dự trù kinh phí. Họ cũng chấp nhận cho nhóm người đầu tư kia một phần sở hữu của công ty mới. những người có liên quan đến dự án. để đổi lấy lợi lộc nếu công việc làm ăn trôi chảy. Bây giờ ông ta là chủ tịch. dù cho ban giám đốc có kinh nghiệm và công ty mới này làm ăn cẩn trọng như thế nào. Trước đây người giám đốc làm việc cho công ty. Họ phải trả 4 triệu $ tiền lời cho ngân hàng mỗi năm. trong năm đầu. Với 10 triệu $ trong tay. Cho dù ông ta không đầu tư tiền riêng của mình vào đây thì ông cũng đã đầu tư cả sự chính trực và năng lực của mình vào đây. Trong giai đoạn tiếp theo. có thể một cuộc đình công xảy ra. Bây giờ thì chính sự sống còn của ông ta được đưa vào cuộc. Nếu công ty mới này không giữ đúng được cam kết.đáng kể. Ông ta thực hiện giấc mơ của đời mình bằng 10% đó. thì công ty mới trả 4 triệu $ tiền lời cho ngân hàng. Người mới dự phần này đồng ý mua 8 triệu $ trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi của công ty mới này và sẽ nhận dược chẳng hạn 40% cổ phiếu thường của công ty. nhưng tình thế đã hoàn toàn khác trước. Nếu lợi nhuận hàng năm 44 . Như vậy là ngân hàng có một số lời khá.5 triệu $ ở năm đầu. mà cả nhân tố con người. có nghĩa là 4 triệu $ nếu ông thành công. Theo tôi được biết. cố khắc phục những yếu kém. hoặc một công ty bảo hiểm. 2 hoặc 5 cán bộ cũ của công ty này muốn nhân dịp này nắm lấy quyền điều hành công ty. 5 năm chẳng hạn. cùng với sản phẩm đó. thu nhập và lợi nhuận năm này qua năm khác. còn lại 6 triệu $ thì đóng thuế hết 3 triệu $ và trả cho người vay chủ yếu. Ngân hàng sẽ xét đơn vay tiền một cách cẩn thận.5 đến 2% nữa. được đảm bảo bằng giá trị quyết toán của công ty. ban lãnh đạo đó. Trong quá trình trả nợ.5 triệu $ ở năm thứ hai và 14. Họ cung cấp một số tiền vốn ban đầu. nó sẽ không chia cổ tức và cũng không có tiền thưởng. nền kinh tế cũng có thể bị đảo lộn. trong đó những cán bộ này có thể trở thành chủ nhân hoặc chủ nhân một phần của công ty. hoặc thiên tai bất ngờ làm đình đốn sản xuất. Nhưng rất có thể là công ty mới này sẽ tăng được số tiền lời hàng năm lên 14 triệu $. họ có thể vay tiền. thường với lãi suất cao hơn lãi suất cơ bản thêm 1. mọi thu nhập đều được dùng để trang trải nội bộ và trả tiền vay ngân hàng. Nhưng nó là không đủ vì lý do này hay lý do khác. Công ty này cố gắng giảm chi phí về nhân công và những chi tiêu không cần thiết.

Nhưng khi ông và các đồng nghiệp của ông rời bỏ nó và khi cổ phiếu của nó được bán ở thị trường chứng khoán New York và danh tiếng của nó được nhắc đến trên các cột báo của tờ Fortune và Forbes thì những người tự nguyện và dũng cảm xông pha kia sẽ không được phép mà cũng không có khả năng bay nhảy tự do nữa. Trong hi vọng thành đạt. *** Theo tôi đó là phương thức hoạt động mà nền kinh tế chúng ta phải theo. gồm những người sở hữu công ty. Như vậy. luật sư. người có quyền tối thượng điều khiển mọi công việc. 5 năm sau nó sẽ có giá trị 150 triệu $ và 10 năm sau là 200 triệu $. Cái công ty trị giá 70 triệu $.000$ năm. nằm trong số 500 công ty lớn nhất. Nhưng đó là bề mặt của tảng băng thôi. người đó đã đem lại một cái mới cho tất cả mọi người. trên cái nền của cuộc cạnh tranh quốc tế và sự đình đốn của một số công ty Mỹ. Họ chỉ làm khó dễ trong trường hợp tuyệt vọng hay nghi ngờ có gian dối. người xuất vốn đã chấp nhận nguy hiểm. các cổ đông mà ít ai ngờ đến. Đáy của nó là đông đảo những người làm công. có khi còn đông hơn toàn bộ những người làm công trong công ty nữa. Tùy theo hoàn cảnh và kết quả kinh doanh của công ty mới này họ có thể vay tiền ngân hàng 4.dưới 4 triệu $ thì khó khăn sẽ xuất hiện. Mọi người đều có lợi. ngân hàng đã trở lại với vai trò cố hữu và chân chính của mình là người tham dự về tài chính trong những nghiệp vụ kinh doanh mới. Cùng với thời gian nó có thể trở thành một công ty rộng lớn với chi chít những chi nhánh. máy bay của công ty 45 . vì họ đã chung lưng đấu cật. Người ta luôn tỏ lòng kính trọng với những thành viên tôn nghiêm của hội đồng này. Công ty cũ đã nhận được 40 triệu $ coi như giá trị ban đầu của công ty và đã sử dụng số vốn đó vào việc khác. đã han rỉ thường được gọi dưới cái tên là HĐQT. Người ta chúc mừng họ. Danh sách những công ty giàu nhất này cứ luôn thay đổi. những người chủ doanh nghiệp mới đã xuất hiện để đóng vai trò mũi nhọn cho hiệu quả của nền kinh tế Mỹ. nếu các bạn nhìn kỹ các bạn sẽ thấy một khối vô hình rộng lớn. Tới lúc đó thì lợi nhuận có thể lên tới 20 triệu $. Mọi người đều có lợi. Tôi thấy thường các ngân hàng chấp nhận cho hoãn nợ. Giờ của những con người xông pha dũng cảm đã điểm. Nhưng họ chỉ là một nhóm rất nhỏ trong nền kinh tế của chúng ta. Công ty mới này đã tham gia vào đời sống kinh tế của cộng đồng bằng cách tạo ra công ăn việc làm cho hàng ngàn người. hay 300 triệu $. những giám đốc này trở thành chủ nhân của công ty. tức là 10 triệu $ sau khi đóng thuế và công ty được đánh giá 70 triệu $. trao cho họ mọi ưu đãi xã hội. nếu thấy họ không có trách nhiệm gì về sự không may này. mà sự nghiệp của họ đã chứng tỏ họ là những người đã thành đạt trong cuộc đời. những xe hơi sang trọng. Hội đồng quản trị Làm gì với HĐQT? Cơ cấu của 500 công ty lớn nhất ở Mỹ có thể mô tả giống một ngọn tháp. đã làm nó phát triển và được thù lao 5 triệu $ tới 50 triệu $. cho đến lúc có thể xin vay dài hạn với những điều kiện dễ chịu hơn. Đó cũng là một phần trong truyền thống dân gian của chúng ta. Chừng nào người sáng lập cái công ty mẫu kia còn cầm lái thì ông ta còn có thể đem công ty của mình ra đánh cuộc và xử sự như một người chủ doanh nghiệp đích thực. từ chỗ không có gì mà tạo nên một tài sản 70 triệu $. nhưng không ai phản đối một người tự mình khởi xướng gây dựng cơ nghiệp kinh doanh. trên đó là các lớp cán bộ. Nhóm các nhà đầu tư cũng lấy lại được tiền với món thù lao đáng kể. Cái chu kỳ này lại trở lại từ đầu. bạn sẽ phát hiện ra rằng trên đỉnh tháp đang tồn tại một cơ cấu cổ lỗ. trên cùng là PDG đang trị vì công ty. đáng được hưởng thù lao xứng đáng và đến bao nhiêu cũng được. họ sẽ tìm cách sử dụng tốt hơn mọi ưu thế sẵn có và làm tăng năng suất công nghiệp. 5 hay 8 năm. mà chúng ta đã lấy làm thí dụ trên. Tất cả đều xứng đáng với thành quả đạt được. nhà ngân hàng. Trên đầu của vị PDG đó. Các cổ đông có thể và không ngần ngại gì chống lại việc trả lương cho PDG tới 500. Thông thường đó là những nhà kinh doanh. XII. họ phải chạy đến ngân hàng để lo hoãn nợ. Đó là những trụ cột của cộng đồng. nhóm nhà đầu tư đầu tiên đã gây dựng cơ nghiệp này. Và nếu bạn nhìn kỹ thêm tí nữa. Ngân hàng đã thu hồi vốn với một số lợi nhuận.

ông có thể tự mình đi sâu vào chi tiết. ông ta có thể giao nhiệm vụ đó cho giám đốc tài vụ. Nhưng nếu bạn làm một cuộc du lịch tham quan thì bạn chỉ được chiêm ngưỡng một gian phòng vắng vẻ. về kế hoạch phát triển mới. có hệ thống và có lợi nhất. giám đốc sản xuất. để sao cho những người ngồi quanh đấy đều cảm thấy bình đẳng như nhau. họ nói về một sản phẩm mới. nó là hiện thân của linh hồn công ty. Đã bao giờ bạn thấy phòng họp của HĐQT công ty chưa? Đó là căn phòng tráng lệ nhất của tòa nhà. Hồn thiêng của họ vẫn nhắc nhở những người kế tục sự nghiệp phải giữ cho ngọn lửa trong đền mãi mãi rực sáng và họ vẫn phù hộ vị tù trưởng hiện nay của bộ tộc. họ về nhà và bấy giờ mới bóc cái phong bì dán kín để lấy ra khoản thù lao của họ. Cuối phòng là những thiết bị chiếu phim và màn ảnh. Công ty vẫn phát triển đấy chứ? Nó phát triển 46 . gần như chỉ có những người trong ban giám đốc nói hết thời gian. Ngày thứ ba. uy nghi như một đền thờ của thổ dân Maya giữa rừng thiêng. họ phán xét việc làm của ban giám đốc công ty.thuộc quyền sử dụng của họ. Họ giải thích về những gì đã xảy ra trong công ty. Nếu ông ta vẫn cứ cứng cổ. Cái bàn hình bầu dục. không bóp méo mọi sự họ trình bày trước hội đổng. cũng như tình hình riêng của từng chi nhánh hơn ông rất nhiều. Nếu muốn. Vậy có thể làm gì được. hoặc thứ năm lần thứ hai của mỗi tháng. thì là chân dung của các bậc đáng kính đã từng ngự trị trong phòng này. Mỗi tháng một lần. hay một yêu cầu đổi mới một sản phẩm cũ. trong hiện tại và tương lai. có thể làm gì? Ông ta có thể hỏi một câu đang làm ông ta băn khoăn. cũng có thể giao cho cố vấn của ông. nếu không phải là ngả người vào ghế bành. có dẫn chứng mọi chi tiết. mà những người này thì nắm vững tình hình chung của toàn công ty. hoặc thay đổi nhân sự của công ty. người PDG sẽ báo cáo hoạt động của công ty trong tháng qua. Những người khác ngồi nghe. Những tách cà phê bằng sứ mỏng. Khi toàn thể hội đồng họp lại. Ở của ra vào. nhấm nháp ly cà phê và cho qua. vào ấn tượng ở những câu chuyện ngồi lê đôi mách? Hay những mẩu tin đọc được trong báo? Nếu một vị hội đồng nào đó cứ hỏi hoài. Một cuộc họp của HĐQT thường là cuộc họp thông tin một chiều. để ban thường vụ hội đồng họp riêng để thảo luận về thù lao của ban giám đốc. rất có thể ông ta sẽ bị lúng túng vì không nắm được tình hình. Người PDG và toàn ban giám đốc cũng không nói dối. vào trực giác ư. Đội ngũ lãnh đạo đã duyệt xét kỹ. kế hoạch và phương thức lãnh đạo của ban giám đốc. đã xét lặp đi lặp lại những gì họ sẽ nói trước hội đồng sao cho báo cáo của họ được chặt chẽ. còn nếu không. mặc dầu có biết bao nhiêu điều bất lợi đang ám ảnh nền kinh tế và thị trường. sau đó ít lâu người ta đọc và thông qua biên bản của phiên họp trước. đằng sau những cánh cửa đóng kín. dĩ nhiên phải như vậy. Người ta sẽ trả lời ông rất logic. gần như thế. Họ sống với tình hình đó ngày này qua ngày khác. Nói chung đó là những người đàng hoàng và có những ý định tốt nhất trên đời. Phải. họ họp với nhau ở tổng hành dinh của công ty và nhân danh các cổ đông. Trên chiều dài của các bức tường. Còn các thành viên hội đồng thì nên nghiên cứu và tìm hiểu các chiến lược. sau đó. các vị hội đồng chỉ dùng nó mỗi năm có 12 lần. họ dành thời gian để giải quyết vấn đề đó nhiều hơn ông. nếu không phải là những tác phẩm nghệ thuật hiện đại. hoặc họ bị một đối thủ cạnh tranh khôn ngoan hơn đánh gục. bao giờ các giám đốc cũng nhấn mạnh đến hiệu suất đáng kể của họ trong thời gian qua. Không bao giờ. Các vị hội đồng xuất hiện mỗi tháng có một lần. Đôi khi người ta tạm dừng cuộc họp. Họ chỉ đơn giản là tô cho nó hồng thêm một chút cho người ta đừng thấy được những vết sứt sẹo mà thôi. đòi truy cứu chuyện này chuyện nọ. thì ông ta sẽ đóng vai trò mà không ai ưa cả: là người gây rối. một hội viên của HĐQT. người ta trân trọng trao cho mỗi vị một phong bì dán kín. Mọi vấn đề đều được trình bày dưới một khía cạnh tốt đẹp nhất. Người ta sẽ nói cho ông ta biết rằng câu trả lời không tùy thuộc người PDG mà tùy thuộc toàn thể ban giám đốc. Trong trường hợp như vậy. không trực tiếp công tác trong công ty. trông như một cái bàn thờ tỏa ánh thiêng liêng. những nhân vật quan trọng này đã chiếu cố đến dự cuộc họp của hội đồng. các vị hội đồng thường nhấm môi có thể là được xếp trong tủ chén gần đấy. họ biết được gì nào? Họ dựa vào cái gì để mà phát biểu. Không bao giờ họ chịu thừa nhận rằng họ đã làm việc chưa tốt. Con số những thành viên của HĐQT đúng bằng con số những chiếc ghế trống được xếp quanh cái bàn bóng lộn này. hay giám đốc thương mại. Dù cho các kết quả thực tế ra sao đi nữa. nay đã khuất.

phần đó càng nhỏ hơn nữa nếu người ta đem so sánh với số xe đã bán ra trong năm. thời gian để mất. những điểm cao không vươn tới nổi. Họ không làm nhiệm vụ của họ và nếu muốn. Họ sẽ trực tiếp kiểm chứng những ý kiến đó xem có đúng hay không. Chính là tài nghệ cá nhân xuất chúng của họ đã lôi kéo được quần chúng và phần đóng góp của họ trong thu nhập chung là có thể đếm được. HĐQT nào làm việc chăm chỉ cẩn thận thận tất phải đặt ra câu hỏi then chốt như vậy: những người quản trị công ty phải có hiệu suất công tác như thế nào – nghĩa là vấn đề không nằm ở chỗ trong năm qua hay năm nay công ty đã đạt được gì. Theo tôi thì bất cứ ai đã tạo ra cái gì mới. Đó là điều đôi khi tưởng chừng đã diễn ra. Đó là điều giả thiết sẽ xảy ra. tính khách quan trong công việc quản trị Mỹ đã suy giảm liên tục. trong quá trình theo dõi kiểm tra hoạt động của ban giám đốc. Trách nhiệm của hội đồng là đánh giá công tác quản trị của ban giám đốc. Nói như vậy không có nghĩa là hội đồng sẽ lãnh đạo công ty. Bởi vì không có họ thì công ty vẫn phát triển như thường. cơ hội nào đã lỡ. Nếu người sáng lập hoặc người cổ đông 47 . Đó là điều chưa thực sự diễn ra bao giờ. Họ chỉ làm trái độn. Việc tăng lương của họ không có quan hệ trực tiếp với hiệu quả quản trị của công ty năm qua.là do ông PDG và ê kip của ông. Như vậy. đặc biệt là của PDG và khen thưởng. ông ta đã không trả lời câu hỏi then chốt là bản thân ông ta đã có đóng góp gì trong việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp và vì sao ông ta lại được thưởng? Theo tôi thì thù lao có cao bao nhiêu cũng không thành vấn đề. nếu công ty hoạt động bình thường. các ngôi sao nhạc Rock. Do đó các thành viên của HĐQT sẽ tìm lại được tính khách quan của mình. Trong một cuộc nghiên cứu gần đây ở 100 công ty của Mỹ. Họ phán xét sự việc dựa vào những thông tin mà ban giám đốc cung cấp cho họ. Nhưng câu hỏi then chốt đặt ra cho tất cả các PDG không riêng gì của ngành xe hơi là: phần đóng góp thực tế và chất lượng lao động của họ như thế nào để xứng đáng với món thù lao hậu hĩnh mà họ được hưởng. Cũng như năng suất lao động. không kịp thời thay đổi phương hướng. mà là công ty đáng lẽ đã đạt được gì? Người ta hiếm khi thấy có một HĐQT ý thức được cái gì đã mất. Có thể nói đó là lý do chính để cho bao nhiêu công ty mới xây dựng ở Mỹ đã mắc vào mớ bòng bong của sự dốt nát. Nếu năm đó ông ta làm tốt hơn mọi năm thì tăng 15%. trừng phạt hoặc thay thế ông ta nếu thấy cần thiết. Mọi HĐQT đã được giả thiết là làm người đại diện và bảo vệ quyền lợi của các cổ đông. hoặc đạt mức chưa từng có đều xứng đáng được hậu đãi. Hội đồng được bầu để đại diện cho cổ đông. có giá trị. Thông thường thì lương của người PDG cứ tự động tăng lên hàng năm vào khoảng 10%. Người PDG của một công ty xe hơi Mỹ đã giải thích rằng lương của ông ta đã tăng vì năm đó lợi nhuận của xí nghiệp đã tăng đáng kể và thù lao của ông chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong đó. HĐQT trở nên thừa. Đó cũng là nhiệm vụ của HĐQT. nhưng không có ai trong họ lại bỏ tiền riêng hoặc tiền ngân hàng riêng để đầu tư vào việc gì mà chỉ dựa vào ý kiến của người nào đó. Hơn nữa ông ta biện minh rằng phải mất 25 năm mới đào tạo được một người PDG như ông. Trong 500 công ty hàng đầu của Mỹ. Nhưng có thể là họ tưởng là họ biết. nhưng theo tôi. họ cũng không biết làm như thế nào. tôi ước lượng có tới 95% HĐQT không làm hết vai trò của họ về mặt pháp luật cũng như đạo lý. một nghĩa vụ mà họ phải hoàn thành theo luật định. Nhưng nếu công ty lại không phát triển và không đạt đến đúng mức khả dĩ của nó thì sao đây? HĐQT khi đó có thể làm gì? Làm sao mà các thành viên HĐQT lại biết được rằng công ty của họ đã không sử dụng hết khả năng của nó chứ? Họ chỉ biết những gì người ta đã cho họ được biết thôi. Hiếm thấy năm nào mà đội ngũ lãnh đạo cao cấp của một công ty lại không được tăng lương. Những HĐQT hôm nay không có hiệu quả vì họ không trả lời được những câu hỏi ấy. Chức năng đầu tiên của nó là theo dõi và đánh giá hiệu suất công tác của ban giám đốc và can thiệp trong trường hợp ban giám đốc không làm tròn trách nhiệm của họ. các minh tinh màn bạc… lãnh những món tiền khổng lồ nhưng rõ ràng là họ xứng đáng. người ta thấy rằng có 55 công ty hoạt động giảm sút nhưng một nửa số PDG ở các công ty đó lại được tăng lương. Hoàn toàn đúng. Những nhà kinh doanh cũng vậy. Chính những nhà quản trị chuyên nghiệp đã được thu dụng để làm việc đó. Thù lao không được phát theo sự lời lỗ của công ty hay so sánh với thù lao của chức vụ tương đương của công ty bên cạnh. mà phải căn cứ vào phần đóng góp trực tiếp của người đó vào lợi nhuận của doanh nghiệp trong thời gian qua.

tức là những nơi không có gì nguy hiểm cho bất cứ ai. thì sự uể oải mệt mỏi này lại xuất phát từ các tầng lớp trên của bậc thang quản trị và từ đó mà lan dần xuống dưới. ở đâu cũng vậy. nhưng dù công nhân có một phần trách nhiệm đi nữa. khi ngồi vào cái bàn bầu dục. thì không phải chỉ có một nhóm PDG mất việc hàng năm đâu. chúng ta phải đạt mục tiêu sau đây: Phải làm thế nào cho các quản trị viên trong HĐQT đại diện cho cổ đông của một công ty. Những nhà kinh doanh dũng cảm của một thời đã qua. các cậu. Trong giới lãnh đạo cao cấp. Bằng cách này hay cách khác. mà khẩu hiệu đó có thể xuất phát từ HĐQT. các thành viên của hội đồng sẽ đặt ra cho ban giám đốc đủ thứ câu hỏi và họ chỉ thỏa mãn khi lợi tức đáp ứng yêu cầu của họ. Họ bắt đầu làm quen với luật chơi. Nếu HĐQT cùng với người PDG duyệt lại những yêu cầu mà hội đồng đề ra cho ban giám đốc vào đầu năm chứ không phải là cuối năm. Tôi lo ngại đó là lý do có cuốn sách này. Tôi rất tin tưởng ở nền công nghiệp Mỹ. Nhìn khắp xung quanh. Tôi có cảm tưởng rằng giới “đại kinh doanh” của chúng ta trước đây rất cương nghị và không hề dừng bước. Họ biết nên bỏ phiếu cho những quyết định nào. cũng có thể là chúng ta sai. mà cả những công ty lớn vốn là nền tảng của nền kinh tế nước ta.000 đến 1 triệu $ là những người thực sự xứng đáng với thù lao đó. Tôi đau lòng khi phải nói rằng nền công nghiệp Mỹ đang uể oải. Nhưng hãy cố làm tăng thêm 10% nữa xem sao. tôi nhận thấy và không chỉ riêng tôi nhận thấy. những 48 . Đó là khẩu hiệu hành động. người ta chỉ đạt được những kết quả tầm thường. thủ tục tập quán. chứ không phải ngược lại. vị trí hàng đầu của Mỹ trong giới kinh doanh sẽ sang tay người khác. không phải chỉ ở những công ty nhỏ mới thành lập. Một HĐQT không lệ thuộc vào ban giám đốc sẽ có tác dụng sâu xa hơn tới công việc quản trị. Nhưng tôi có thể đảm bảo với các bạn rằng số PDG còn lại với số lương mỗi năm từ 500. mệt mỏi. thì bạn hãy hình dung xem điều gì sẽ sảy ra? HĐQT sẽ đóng một vai trò khác với vai trò nó đang đóng hiện nay và nó sẽ ở vị thế tốt hơn để đánh giá tình hình công ty. Mỗi khi có dính líu trực tiếp đến tiền bạc của họ. điều then chốt là phải biết nghe ngóng. Và nếu chúng ta muốn chữa căn bệnh này thì phải chữa từ bên trên. Xin nhắc lại là HĐQT không tìm cách tự mình lãnh đạo công ty hay chỉ cho PDG biết những việc ông ta phải làm. Họ nghĩ rằng chúng ta phải nâng kết quả lên 10% nữa. Nhưng khi nhìn xung quanh. Nếu các thành viên HĐQT của ngành công nghiệp Mỹ đều làm như vậy và làm đúng. mà có thể nhiều hơn. Người ta thường đổ lỗi cho giai cấp công nhân. Lo cho tương lai Muốn quản trị tốt. học nói những lời hoa mỹ đúng lúc cần nói. vì nó là quyền lợi của cổ đông.” "Ban giám đốc phải lãnh đạo”. Thật là khủng khiếp khi thấy quá nhiều PDG bị cuốn vào môi trường của họ như thế nào. quan hệ công cộng. XIII. Khi một công ty muốn tiến xa hơn thì HĐQT của nó phải đề ra cho ban giám đốc mức lợi nhuận phải đạt trong năm tới. HĐQT nghĩ rằng chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa. Điều đó sẽ tác động chung tới năng suất trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vì thế mà nhiều công ty quan trọng hàng đầu của Mỹ đã sa vào vũng lầy của luật lệ. Theo tôi nghĩ thì sau đó người PDG sẽ về gặp các đồng sự của mình và nói rằng: "Này. có thể bàn công việc của công ty cũng thông thạo như các giám đốc. Theo tôi đó mới là thái độ cần có của một HĐQT trong một công ty cổ phần. tính sinh động trong quản trị kinh doanh đã được thay thế bằng quá trình quan liêu nặng nề. Lý do của họ là thế này… Có thể giả thiết của họ là sai. họ tập trung làm những con cừu của Panurge. Hội đồng chỉ đưa ra một lượng định mà họ cho là ban giám đốc cần phải đạt tới trong năm. họ quen nghe theo những lời khuyên của các tùy viên báo chí. Vì sao lại để các giám đốc đề ra mục tiêu phấn đấu cho công ty mà HĐQT lại không tham gia vào quá trình đó? Vì họ là người đại diện cho cổ đông mà? Đó là cách làm có lợi cho công ty hơn là chỉ đơn thuần kiểm tra những gì đã làm. thì nay lại bối rối mất phương hướng.chủ yếu làm chủ tịch HĐQT thì người ta sẽ thấy họ làm việc rất khách quan và nghiêm túc.

Chính sức mạnh của tình cảm đã động viên mọi người. thua keo này bày keo khác đến bao giờ tìm được câu giải đáp thỏa đáng mới thôi. Một công ty có thể có hoặc không có lực đó. Người lãnh đạo là một người như vậy. tìm cho ra giải đáp để có thể đưa họ đến kết quả cao hơn. nó có đạt được những mục tiêu đã đề ra không. Quản trị là một lực sinh động. Cách đó chưa hẳn là tốt nhất. người ta có hàng ngàn cách nhưng chỉ có mươi cách có thể mang lại kết quả vừa phải. Anh ta luôn luôn học được nhiều cách mới và đạt kết quả cao hơn trên bước đường tiến lên của mình. những mục tiêu cao hơn. nhưng nếu có vấp váp thì rút kinh nghiệm và sửa chữa. đạt được những kết quả mà trước đây họ tưởng là không thể đạt tới. Một vận động viên chạy việt dã là người có thể chạy suốt chặng đường 38. Nó phải là một phần không thể thiếu trong cá tính của ai muốn làm một nhà quản trị đích thực. Dù bạn đang phụ trách một công ty. Nếu một giám đốc muốn đạt tới mục tiêu đề ra thì anh ta nhất định phải có những thông tin cần thiết để có được những quyết định thích đáng. Chính cái lực đó cho phép chúng ta đạt đến những mục tiêu thỏa đáng. mà không theo cách khác. Các giám đốc cũng vậy. những người cộng sự của anh cũng bị lôi cuốn và họ sẵn sàng đi theo hướng “cảm xúc” đã góp phần hình thành cá tính của người lãnh đạo. anh ta có thể làm cho mọi người xung quanh trở nên có hiệu quả hơn và thành tựu nhiều hơn trong các lãnh vực khác. Muốn nắm được những sự kiện chính xác. Nếu anh tự làm được như vậy. làm cho họ bám lấy mọi nhiệm vụ. nhất định anh ta tìm ra câu giải đáp đó. Chính người đó sẽ hiểu vì sao mà ban giám đốc phải lãnh đạo. Ý định phải làm cho bằng được việc cần làm chỉ có thể xuất phát từ tình cảm sâu sắc chứ không thể từ phân tích logic. Tất cả mọi thứ còn lại chỉ là vấn đề kỹ thuật mà thôi. Mục tiêu càng cao thì quản trị phải càng tốt. người giám đốc tiếp tục tìm kiếm đến bao giờ chọn được trong mười cách ấy. nếu bạn muốn. mà thiên hướng đó phải là một cuộc đầu tư nhiệt tình. Sự kiện sẽ tạo ra sức mạnh. sự kiện là cái không thể thiếu được cho việc quản trị tốt. Ê kíp lãnh đạo cần phải có một lý do tồn tại. có thể nhà quản trị đó không giải thích nổi vì sao anh ta làm việc theo cách đó. Người nào nói rằng: “tôi phải làm việc đó. anh ta phải đào sâu suy nghĩ nắm vững toàn bộ tình thế mà anh ta phải đối phó. vì anh ta phải nắm được tình huống của từng bước đường.” anh ta sẽ bám vào việc đó tới cùng. thúc đẩy họ hành động. nhưng anh ta không chấp nhận sự thỏa hiệp nào giữa mười cách đó. làm đủ mọi cách. nếu bạn là một giám đốc chân chính bạn sẽ tự biết phải làm gì. đáng hài lòng hơn. một thiên hướng. Nếu anh ta thường xuyên đưa ra được những quyết định đúng. Chính vì có nhiệt tình cao. Lần sau anh ta sẽ tìm ra cách tốt hơn. một nền quản trị tốt có thể được đánh giá theo kết quả nó đem lại. Nói như vậy là không tế nhị cho lắm. làm cho ai cũng cảm thấy tự hào và hăng hái. Đó là chữ thích hợp nhất để chỉ cái đã mất trong nền quản trị Mỹ. chúng ta sắp xếp các vận động viên theo thành tích của họ. nhưng nói được điều ta muốn nói. Anh làm như vậy vì anh “cảm thấy” cách đó là đúng nhất. Loại cảm xúc đó sẽ lan tỏa ra xung quanh. thì sẽ tạo ra đà phấn đấu cho toàn công ty. Công tác quản trị đâu phải là việc sưu tầm mấy cái hộp trên đó có tên tuổi và chức vị của mỗi người trong sơ đồ tổ chức. Tất nhiên là không phải cố gắng nào cũng thắng lợi cả. 49 . Trên từng bước tiến lên anh ta mới xác định bước đó sẽ phải làm gì. lấy ra một cách làm. mà anh ta đã làm được như vậy và chắc chắn cách làm đó sẽ được mọi người xung quanh noi theo. Để làm một công việc gì đó. người giám đốc phải biết đề ra những câu hỏi chính xác và muốn có câu hỏi chính xác. ai cũng làm được cả. Thực tế. Vì khi mọi người noi theo. bạn sẽ hạn chế được tổn thất và bắt tay làm việc khác. nó sẽ thành cách sống và cách làm việc của công ty. một ngành hay một gia đình cũng thế thôi. Cái chìa khóa hay nhân tố chủ yếu của một nền quản trị tốt là phải biết nghe ngóng.5km trong thời gian 3h30’ nhưng một người mất 10h để đi hết chặng đường đó thì không thể coi là vận động viên được. nếu những mục tiêu đề ra quá thấp thì đó sẽ không còn là công việc quản trị nữa. Trước hết câu giải đáp đó phải làm cho chính anh ta hài lòng. sao cho tổng hợp mọi thành tựu chung của họ lại giá trị sẽ nhiều hơn là thành tựu của từng người cộng lại. một giáo hội.con người đã đánh dấu một giai đoạn và thành công của họ đã được mọi người ngưỡng mộ ấy nay đâu rồi? Tiêu hết rồi. Nếu có thông tin đầy đủ thì không khó gì trong việc ra quyết định. Thái độ đó là thái độ đòi được thỏa mãn.

Các trường đó đã chú trọng quá đáng đến bản thân quá trình quản trị mà không chú ý đầy đủ đến những giá trị tình cảm trong việc hình thành một nền quản trị có kiệu quả. Nếu có một ngày nào đó mà nước Mỹ có được những nhà quản trị như vậy thì chúng ta sẽ là người dẫn đầu trong cuộc cạnh tranh toàn thế giới và người ta sẽ ngưỡng mộ chúng ta như trước đây. Những người tốt nghiệp các trường thương mại đó chỉ trở thành những nhà quản trị giỏi khi họ hiểu được rằng trong công tác quản trị có những yếu tố tình cảm mà họ phải trả một giá nào đó để có được. Như vậy người ta còn được 30-35 năm nữa. Khi chúng tôi đã có được đội xung kích đó rồi chúng tôi nổ máy. nghiên cứu thị trường. hệ thống truyền thông quản lý các luồng thông tin. Làm việc gì chỉ để cho “có vẻ” chỉ có hại cho bạn và làm mất tiếng thơm của công ty. phải thích nghi với cấu trúc của công ty. Tất cả mọi việc mà một người trẻ tuổi nên làm là chọn một con đường và theo đuổi con đường đó. Thật là sai lầm thô thiển nếu bạn giam hãm trí tưởng tượng của mình vào khuôn khổ suy nghĩ lâu nay. rồi hãy lao vào mà làm. Hiện nay có rất nhiều chỗ trong hàng ngũ quản trị cao cấp cho các bạn trẻ hiểu được những điều nói trên.Xin bạn nhớ cho rằng. . làm như vậy là bạn tự đặt mình vào khuôn khổ tầm thường đang thịnh hành. Còn một việc có ý nghĩa hơn nữa là chúng tôi ngay từ đầu đã nhắm và tuyển chọn cán bộ sao cho phù hợp được với chúng tôi về một ban lãnh đạo mới mà thôi. hệ thống kiểm tra tài chính. Đã có lúc khi tôi nói chuyện ở trường Wharton về quản trị kinh doanh. Sự khả tín của người báo cáo cũng quan trọng như bản thân sự kiện vậy.Hãy tránh xa mọi tham vọng. Nhiều công ty đã mất thăng bằng và thất bại. kể cả ở những xí nghiệp mua lại. Tôi thấy cần phải nói lại cho rõ: tôi không nghĩ là họ sai lầm khi họ dạy những gì đang dạy. tôi chỉ nói là họ quá cường điệu những cái đó. Trong thực tế. cũng như về cuộc đời của họ: hãy quyết định xem anh muốn gì. đó là thời gian để ban giám đốc một doanh nghiệp thay đổi đến 3-4 lần. thu thập kinh nghiệm khi còn trẻ và tới khoảng 30-35 tuổi thì nên quyết định sự nghiệp tương lai của mình. như vậy là chúng tôi đã có được sức mạnh của núi lửa để thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng mà chúng tôi đã đề ra cho mình từ ban đầu. * Nếu bây giờ tôi phải nói rõ thêm về câu trả lời trên và cố gắng nói lên những gì mà tôi đã học được trong suốt cuộc đời sự nghiệp thì tôi sẽ đưa ra một số châm ngôn về nghệ thuật lãnh đạo: . thì điều đó đâu có nghĩa là bạn bắt buộc phải suy nghĩ theo luật lệ đó. đừng chơi cái trò chính trị bàn giấy và đừng đóng vai trò không phải của mình.Nếu bạn bị bắt buộc phải tuân theo luật lệ. trong kiểm tra chất lượng sản phẩm. Công việc đó bao gồm cấu trúc và tổ chức của doanh nghiệp. 50 . ITT lớn mạnh do những vụ mua lại các doanh nghiệp. Thực tế không phải vậy. mà chỉ là những ý kiến được coi là sự kiện. Đó là những gì tôi đã nói với họ về công việc quản trị. Đừng tự sùng bái mình. Những nhà quản trị mũi nhọn vẫn còn thiếu. các nhân tố trong sản xuất. người ta hỏi tôi làm thế nào để thành công trong kinh doanh. Tôi đáp rằng người ta cần điều khiển doanh nghiệp của mình. . Bạn đừng quên rằng các sự kiện ít khi là sự kiện thực sự.Ở ITT chúng tôi đã làm như vậy. những sự kiện trắng đen rõ ràng khác với những sự kiện được phản ảnh. Bao giờ cũng có chỗ cho một người giám đốc tài giỏi. cách tổ chức các cuộc họp. trong đó chứa đầy giả thuyết. phân phối… Đó là một quá trình có tính sống còn. vì đã không chú ý đến nó. Chúng tôi chỉ để ra 10% thời gian cho việc mua lại thôi. nâng cao sức mạnh của bản thân chúng tôi. làm cho chúng tôi có thể đem cổ phiếu ITT đổi lấy một phần tài sản của các công ty khác. Tôi đã thường chỉ trích hơi quá đáng các trường quản trị kinh doanh và coi thường bằng cấp do họ phân phát. Nhiều người nói. Chúng tôi đã trải qua 90% thời gian để điều khiển công ty. Quá trình quản trị kinh doanh nhằm giúp bạn có thể phóng nhanh trên con đường đã vạch ra mà không để cho sức mạnh của xúc cảm đưa bạn xuống vực.

Bạn tự hỏi: liệu bạn có chịu cống hiến một phần đời mình để thành một nhà quản trị trên trung bình không? Cái mềm yếu hiện nay của nền kĩ nghệ Mỹ là do phần lớn những nhà lãnh đạo của nó chỉ thích hưởng thụ những quyền lợi do địa vị của nó đem lại. Nhưng từ 17h thì mọi người. về chương trình diễn 51 . những vấn đề. mọi khó khăn trong ngày đã hết. để làm cho mình thành một nhà quản trị nhất định "phải" thành công không? Bạn đã sẵn sàng để làm nhiều và làm muộn giờ. Mọi quyết định của bạn phải căn cứ vào những sự kiện của một tình huống nhất định. . Cũng có thể có một máy truyền hình trên bàn. tất cả đều liên hệ đến toàn công ty mà bạn cần phải giải quyết. chứ không thực sự lao vào nhiệm vụ của mình. nhằm vươn tới những mục tiêu cao. Chính bạn đòi làm việc này chứ có ai bắt buộc đâu. Mọi người đến gặp bạn đều mang theo những khó khăn. Thật là thoải mái khi giao việc của mình cho người khác rồi ra ngoài đóng vai trò chủ tịch hoặc phó chủ tịch công ty trong các bữa tiệc và hội nghị.. * Tất cả những cái đó đều phải trả giá. Bạn phải sẵn sàng để bất cứ ai trong tổ chức cũng có thể đến gặp và trao đổi ý kiến. vì họ có thể và muốn trả lời những câu hỏi đó. Đó cũng chính là điều các cán bộ tốt và có năng lực trông đợi ở bạn. Ngày làm việc của bạn thuộc về người khác. Đối ngoại. Nếu bạn sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh đó thì hãy bắt tay vào việc và xin đừng phàn nàn. chỉ biết ăn không ngồi rồi. những yêu cầu. Bạn hãy tự hỏi. Vị trí giám đốc của bạn cho phép bạn có những câu trả lời trực tiếp cho những câu hỏi trực tiếp và bạn sẽ nhận được những câu trả lời đó. làm cho bạn nổi tiếng không? Nếu bạn nghĩ rằng bạn chỉ có thể làm việc một cách miễn cưỡng. Thỉnh thoảng từ đường dây điện thoại nội bộ. từ những nguồn khác nhau. Máy bay của công ty đang đậu ở phi cảng gần đấy. hoặc cho phép người khác được nói thay cho bạn. chỉ có bạn. mới lẩn tránh những câu hỏi đi thẳng vào thực chất của vấn đề. hội nghị hay nói chuyện tay đôi với người đồng cấp hay cấp dưới… là cố gắng thường xuyên của người giám đốc. Phải tôn trọng các sự kiện. những người bạn phải gặp và những bữa tiệc bạn không thể từ chối. nếu bạn biết đưa ra những câu hỏi chính xác. thì mỗi ngày bạn sẽ trở lại với sự hy sinh đó vào 5 giờ chiều. phải ra quyết định. .Những người có năng lực trong công ty chờ đợi ở bạn những câu hỏi đúng. một cách ăn ý. từ bỏ một phần lớn cuộc sống sang trọng. Chính là luật lệ và cấu trúc của công ty hiện nay đã ngăn cản một người tài hoa vượt qua hàng rào của nó để cùng tiến với đồng sự của mình. một ngành hay toàn công ty. làm hiện sóng truyền những tin tức về cổ phiếu. . Chính nhiệm vụ lãnh đạo của bạn yêu cầu bạn phải vạch mặt bọn người đó ra và loại trừ ra khỏi hàng ngũ. lại vang lên tiếng của một trong 2 cô thư ký.Chỉ có những phần tử ba láp. Vì bạn là người chịu trách nhiệm. các bạn có thể làm việc chung với nhau. Những câu hỏi tốt có thể hình thành trong đầu bạn lần đầu tiên. đặc biệt là những quyết định tối hậu. bạn biết rằng giờ đây mình có thể làm việc theo ý mình. với tốc độ chậm chạp. thì có thể chẳng bao giờ bạn trở thành một nhà quản trị đích thực. . thì bạn. Bạn không có quyền phổ biến hoặc ra lệnh bằng cách ủy quyền cho người khác. đúng đắn.Bạn cần tự mình tìm lấy những cái cần tìm. vì sẽ có nhiều người khác bỏ xa bạn trong cuộc chạy đua đến thành công này. Mệnh lệnh của bạn sẽ được tôn trọng và được thực hiện vì đó là mệnh lệnh của bạn. Họp. bạn lại phải gặp những người bạn muốn gặp. bạn có quyền làm đúng cũng như làm sai. Từ đó. Nếu bạn trở thành người giám đốc đã thành đạt đó. chỉ có bạn có quyền đó.Sẽ không có ai đưa ra cho bạn lời giải đáp hay một giải pháp nếu bạn không đặt vấn đề ra. Bạn đã được trả lương để làm việc đó. Dù bạn phụ trách một đội đặc biệt. Lúc đó bạn ngồi vào bàn giấy một mình.Khi bạn đã là người chịu trách nhiệm. chiếc limouzin sang trọng và lái xe đang chờ phía dưới. bạn đã đủ quyết tâm và ý chí cần thiết để vươn tới những mục tiêu cao hơn tới mức để qua một bên mọi tiện nghi và thoải mái trong cuộc sống.

thậm chí còn muộn hơn. đi thẳng về nhà và để công việc nặng nề đó cho người khác. thì tôi cũng mang theo về nhà ngày nghỉ nhưng chỉ dành cho nó một phần thời gian thôi. Tôi chưa từng thấy một vị thủ lĩnh chân chính nào lại không làm tròn nghĩa vụ của mình. chúng tôi mời các vị trong HĐQT thích săn bắn đến đây chơi một tuần ở vùng Georgia. ITT sở hữu một khu vực để đi câu cá dọc biên giới Canada. nhưng xuất phát từ một người khác.. Nhưng thực tế thì đã khác. nhưng trong góc phòng cũng có những “nghĩa vụ” đang chờ. Khi tôi đến ITT tôi cũng muốn chia sẻ với vài người một số thú vui của tôi và giúp mở thêm chân trời của những người cộng sự. Lúc mọi người về hết là lúc bạn làm việc riêng của mình. tại đó chúng tôi có thể 52 . Bạn sẽ ở lại làm việc theo nghĩa vụ của mình cho tới khuya hay là xếp cặp lại. ITT còn có một khu vực đi câu và đi săn khác. người ta không nên chỉ nghĩ đến sự nghiệp của mình. hiểu biết con người là nghệ thuật bán hàng. Đó là lúc tôi suy nghĩ. nếu có ý thức sắp xếp và chọn lựa. mọi con số nhòe hẳn đi. không biết mình có làm quá mức cần thiết hay không? Tôi lại đi đến một kết luận là dù sao đi nữa tôi cũng không thể dừng lại tại đây. không biết mình khùng hay sao mà làm chết người như vậy. đưa tôi trở lại với ánh sáng và không khí trong lành. đó không còn là quyết định. ở đó tôi có thể trà trộn với nhiều người giám đốc trong công ty và đôi khi cũng có dịp gặp một vài nhân vật quan trọng trong chính quyền. mời tôi đi câu trên dòng sông chỗ bán đảo Gaspé.kịch ở New York hay London. bất kể phải trả với giá nào. Một giám đốc khác đã về hưu là Alan Kirby. Cũng có thể có thiếp mời đi dự tiệc. Tôi không thuộc loại người phải tranh cho bằng được giải quán quân khúc côn cầu hoặc quá say mê trong các môn thể thao tôi vẫn chơi trong giờ nghỉ. tôi biết đó là một quan niệm phổ biến. Một buổi chiều ở trụ sở ITT tôi lại bị đặt trước sự lựa chọn như vậy. Những con người đó sẽ học được cách giải trí cho thân chủ của công ty. lúc đó đã nổi tiếng giầu có. Bạn không bắt buộc phải làm như vậy. suốt thời kỳ ở ITT. Đối với tôi đó chỉ là giải trí. thư giãn và chơi cho vui thôi. vì bạn không làm như vậy thì công ty vẫn tiếp tục tồn tại.. Chúng tôi cũng gửi tới đây những cán bộ cấp cao theo một chế độ luân phiên để cho mọi người đều có dịp gặp và làm quen với các viên giám đốc của ITT. Mùa xuân. nghĩ đi nghĩ lại và quyết định. rộng 750 ha ở Florida. Khi bắt đầu sự nghiệp tôi đã tự đặt cho mình một chương trình mà tôi luôn giữ đúng. dài chừng 30km và 5 cái hồ khá rộng. Bạn có thể yên trí dựa vào họ mà nghỉ ngơi và bề ngoài bạn vẫn là người phụ trách trước mặt mọi người. Năm ngày trong tuần tôi dành cho làm việc tất cả thời gian có thể được. thoát khỏi sách vở và thành phố mà tôi bị giam hãm trong thời trẻ. hoặc nếu còn việc phải làm. Người ta mang đến cho tôi bữa ăn tối mà tôi sẽ dùng trên cái bàn nhỏ trong phòng. Vợ tôi biết là không mong gì tôi về nhà trước 11h30 đêm. Bạn không còn là thủ trưởng nữa mà chỉ còn là một viên chức và sức sống của công ty cũng trôi theo dòng nước. Tôi đoan chắc với các bạn đó là con đường duy nhất. Có thể là tôi đã thở dài. Nhưng trong kinh doanh. Chúng tôi muốn cho mọi người được tham gia. khoác cái áo thun đen cũ vào và làm việc. theo đuổi những suy nghĩ của mình. Những ham mê ban đầu đeo đuổi suốt đời tôi là săn bắn và câu cá. nhưng tôi lại gọi điện thoại về nhà cho biết là tôi sẽ về muộn. Sự thay đổi đó diễn ra từ từ và người tinh ý lắm mới nhận thấy. Đó chính là lúc tôi vật lộn với những bản báo cáo cho đến khi mọi dòng chữ. Những thú này đưa tôi thoát ly khỏi giấy tờ. không còn là mệnh lệnh của bạn nữa. Bạn biết như vậy và các thành viên khác của tổ chức cũng biết như vậy. George Brown người đã nhiều năm làm giám đốc cho ITT thường mời tôi đi săn ở trang trại của ông ta ở Texas. Thế là bạn đã đánh mất lòng tin và lòng kính trọng của mọi người đối với bạn. Đó là sự lựa chọn không tránh khỏi. Không có cách nào tốt hơn để hiểu rõ khách hàng và làm cho họ hiểu chúng tôi và như tôi có dịp nói.. Tôi cởi áo ngoài. Bao giờ cũng có những con sói con nanh dài sẵn sàng thay bạn để đề ra quyết định. Tôi ở gần nơi làm việc để tránh khỏi phải đi từ ngoại ô vào sở làm. Nhưng trong một tuần có khá nhiều thờì giờ dành cho gia đình. Đôi lúc tôi cũng tự hỏi. nới lỏng cà vạt. Ở đây cũng có một thứ lợi ích thuần túy thương mại. cho giải trí và mọi thứ khác. Đến ngày nghỉ cuối tuần thì tôi quên hết mọi chuyện. Đúng là do bạn ban ra.

mà quên hết mọi thứ khác. quên hết mọi thứ khác đi. Ở ITT. hoặc bạn tự hỏi. Tôi nghĩ rằng trong kinh doanh có một định luật bất biến: từ ngữ chỉ là từ ngữ. Mọi khách hàng của ITT đều có thể đến đây chơi. Tôi cũng đã tạo dựng một sân golf. Vì vậy tôi quan niệm giám đốc: giám đốc người mang lại kết quả. Tôi giả thiết điều đó có nghĩa về hai mặt: một mặt tôi thích đánh golf và mặt khác tôi cần làm việc. kết quả đạt được là thước đo tốt nhất về sự vững vàng. Đây là chương ngắn nhất và cũng là chương quan trọng nhất trong cuốn sách. Kết quả quan trọng nhất là chính bạn.). Nếu có một vài cổ đông nào đó có quan tâm đến chi phí duy trì những khu vực giải trí này. Bạn không cần phải tổ chức gặp gỡ mới có bạn bè. tôi có cảm giác là tôi đã học được và tiến bộ năm này qua năm khác. một phần nào mối quan hệ với thiên nhiên. Tôi vẫn thích làm việc. 53 . Bạn có thể hỏi: làm sao một người có thể ham thích chơi nhiều thứ như thế mà vẫn làm việc cật lực được? Câu trả lời nằm trong những việc mà tôi không làm. nhìn lại những năm tháng đã qua tôi có thể nói không chút do dự rằng những năm tháng tôi đã trải qua trong kinh doanh là những năm tháng hạnh phúc. đó là phần thưởng chân chính. mọi người sẽ nhớ đến bạn. đã đạt được nhiều tiến bộ. Cùng với một nhóm những giám đốc kiểu mẫu. XIV. Hơn nữa tôi không muốn kết thúc cuốn sách ở chương thứ 13. Tôi còn có những ham thích khác như chơi tennis. Xin bạn nhớ cho điều đó: chỉ có kết quả là đáng kể. Bạn sẽ thấy là cách làm ấy có kết quả. Tôi không dự một lô những cuộc ăn chơi thượng lưu. Món lời căn bản nằm trong tâm trạng và tưởng tượng của những người được khung cảnh thiên nhiên làm cho phong phú. Chúc may mắn và thành công. về tài năng và lòng gan dạ của bạn. hoặc ít ra tôi cũng thích làm việc như đánh golf. Chúng tôi đã chia sẻ với nhau những giờ phút sung sướng. chúng tôi đã làm vui lòng nhau và đã đạt được những mục tiêu tham vọng. tôi đã tập chơi từ thời trung học. thì tôi có thể đảm bảo rằng chi phí đó không có gì đáng phải quan tâm. Tôi không nghĩ rằng người ta có thể đòi hỏi gì hơn. Vì chúng tôi đã có được những kinh nghiệm đáng kể làm cho chúng tôi có cảm tưởng rằng chúng tôi đã sáng tạo ra một cái gì mới trong nghệ thuật quản trị kinh doanh. Gửi gắm Alvin Moscow cho rằng không nhất thiết phải có chương này. bạn có mọi tự do để tự thể hiện. Một khi đã đạt được kết quả. đó là một trong 100 sân golf tốt nhất nước Mỹ. với tư cách cả nhóm. Đứng lòng vòng nói những chuyện vặt không thích hợp với quan điểm của tôi về giải trí. Đến nay. chỉ cần nhắc máy lên gọi số điện thoại. nhưng đó đâu đã phải là tiền lời duy nhất mà ITT nhận được. Nếu cần phải làm lại cuộc đời thì sao? Tôi nghĩ rằng tôi sẽ làm như tôi đã làm. đó là lòng biết ơn của những người đến đây với công ty mà họ đã làm việc hết mình. Nếu bạn đạt được kết quả tốt. lời 20 triệu $. * Người ta hỏi bạn. Những lúc làm việc với đồng sự đã dem lại cho tôi biết bao niềm vui. Tôi lại cho là cần có. hoặc đơn giản hơn. Đây là thí dụ tình cờ nhớ lại. piano. trừ các trường hợp bạn bè rất thân và nhiệm vụ yêu cầu. Chúng tôi đã thỏa thuận viết thêm chương này. đã làm một cái gì cao hơn khả năng bình thường của chúng tôi. trong lúc có một công tác đang chờ tôi. Những quan hệ thượng lưu tôi có được trong công việc đủ rồi. chỉ có kết quả mới là đáng kể. Tôi thích chơi một trận golf. Chúng tôi đã làm một việc mà chúng tôi biết rằng trước đây chưa có ai làm và chúng tôi cố gắng để hoàn thành.nói chuyện không úp mở về đủ mọi thứ trên đời. tôi muốn chia sẻ với những người cùng làm. Sau khi tôi đi khỏi ITT thì ban lãnh đạo mới đã bán lại tất cả các khu vực ấy lấy 30 triệu $ (so với đầu tư ban đầu 12 triệu $. có những ảnh hưởng đáng kể trong đời sống của nhiều người.

Tài liệu này cho biết là theo chính báo cáo của ông Chủ tịch của ITT là Harold Geneen thì từ giữa những năm 60. đa ngành với 433 chi nhánh trải dài trên 40 nước trên thế giới. Bởi các nhà báo và những người lãnh đạo họ ở ABC biết rằng chính ITT mới là ông chủ. ABC có quyền lợi và liên hệ với các trạm thu phát ở 25 nước trên thế giới được biết dưới cái tên World division Group. xuất bản sách. Một số nhà báo đó sẽ tiến thân trong các cơ quan thông tấn. ITT đã có mặt và hoạt động trên 50 nước trên thế giới. Để ủng hộ quan điểm này Bộ tư pháp Mỹ đã đưa ra 23 văn kiện để làm chứng. 54 . NXB Dell. công ty này có thể tác động đến 93% trên tổng số 50 triệu máy thu hình gia đình ở nước Mỹ. nên đành bỏ cuộc. Vì không có nhà báo nào không nhớ rằng tiền đồ của bản thân mình tùy thuộc vào việc mình đề cập như thế nào về các vấn đề mà ITT quan tâm." Khi ra điều trần trước Ủy ban truyền thông liên bang. đầu tư. tất cả đều là những đài dẫn đầu trên thị trường đại chúng. Chúng tôi trích dịch một số tài liệu sau đây để bạn đọc tham khảo *1. Đây là công ty kỹ nghệ lớn hàng thứ 9 trên thế giới tính theo lực lượng lao động nó sử dụng. Lý do là khi công ty này quá lớn nó sẽ lũng đoạn mọi mặt đời sống chính trị kinh tế và văn hóa của đất nước. ITT thấy rằng đeo đuổi việc sáp nhập ABC trở thành quá tốn kém. *2. lợi nhuận thu được từ nước ngoài chiếm khoảng 60% lợi nhuận hàng năm của công ty. Thất bại này ảnh hưởng không ít đến thanh thế đang lên của ITT. quá nhanh cả trong nước và ngoài nước Mỹ. 6 đài AM và 6 đài FM. Một trong các lập luận để chống lại ITT mua ABC là cho rằng ITT có quá nhiều quyền lợi ở nước ngoài và một công ty như vậy mà nắm một trong 3 hệ thống truyền thanh và truyền hình của nước Mỹ là không thể chấp nhận được. Công ty ITT do bành trướng quá mạnh. cho thuê xe hơi.. cả hai công ty ITT và ABC lập luận rằng hệ thống truyền hình này có một quy chế tự trị và nội dung truyền thông của ABC sẽ không bị ảnh hưởng bởi quyền lợi nào khác của ITT. rằng ITT có nhiều mối liên hệ với cấp cao trong chính phủ và mọi biến động về công nghiệp và kinh tế đều động đến quyền lợi của ITT. nhưng các nhà điều tra của ủy ban thì rất nghi ngờ. New York 1971. Mạng lưới truyền thanh của nó tác động đến 97% trên tổng số 55 triệu máy thu thanh trong cả nước. Cohen. đòi các cơ quan hành pháp và lập pháp Mỹ phải ngăn chặn việc này lại. là một trong 3 hãng truyền hình lớn nhất và một trong 4 hệ thống truyền thanh lớn nhất thế giới. Cuối cùng như chúng ta đã biết. Nó đành phải tìm những công ty khác nhỏ hơn. Vụ việc ITT . Như các bạn đã đọc. ít rắc rối hơn để mua lại. Với 137 trạm phát. Nó cũng đầu tư rất sâu trong lĩnh vực thu băng và tài trợ cho việc xuất bản 3 tờ báo. Nó đã vấp phải sự phản đối đáng kể của dư luận Mỹ và đã bị đưa ra trước các Ủy ban điều tra của Bộ tư pháp và Quốc hội Mỹ. công ty tín dụng quy mô nhỏ. Một số tài liệu về ITT và các công ty tư bản độc quyền khác của Mỹ đã được sưu tầm trong cuốn: Công ty Mỹ. Ngoài số thiết bị điện tử và hệ thống điện thoại hoạt động ở nước ngoài. một nửa thu nhập của nó từ trong nước là từ những hợp đồng về quốc phòng và vũ trụ.Harold Geneen Ngày 4 tháng 6 năm 1984 Phụ lục ITT trước vành móng ngựa. Nếu người ta ý thức được quyền lợi của ITT nằm ở đâu thì người ta không còn có thể viết những mẩu tin hoặc tài liệu với thái độ khách quan như khi ABC chưa phụ thuộc vào ITT. Hãng ABC Films thuộc công ty này phân phối những chương trình biểu diễn quay thành phim cho khắp trong nước và ngoài nước. Vì vậy việc đầu tiên của các ủy ban điều tra là điều tra về quy mô của ITT và ABC. Ngoài ra nó còn kinh doanh trong các lĩnh vực bảo hiểm..ABC Khi công ty ITT có ý định hợp nhất với ABC (American Broadcasting Companies) dư luận nhiều giới tự do Mỹ đã lên tiếng phản đối. hiện sở hữu 399 rạp hát ở 34 tiểu bang. “ABC thành lập 1941. hoặc bị sa thải. do luật sư Ralph Nader viết lời tựa. ai là người sở hữu và hoạt động ở Mỹ của hai tác giả MortonMintz và Jerry S. Báo cáo của một ủy ban thuộc Quốc hội Mỹ cho biết: “ITT là một công ty quốc tế rộng lớn. Khi Bộ tư pháp Mỹ điều tra về vụ ITT đề nghị cho được mua ABC. 5 đài phát VHF. người ta đã có dịp đưa ra ánh sáng một khía cạnh mới của ITT và một số lớn người Mỹ chưa được biết: ITT là một công ty quốc tế. kí với chính phủ Mỹ. hoặc trở thành quan chức ABC có thể là của ITT nữa.

HẾT Harold Geneen là người làm giám đốc tài chính (nhiều công ty khác nhau). phải điều hành. phải uyển chuyển trong các quyết định sau khi đã căn cứ vào xem xét thực tiễn chọn lấy quyết định hoặc điều chỉnh các quyết định kể cả chiến lược. ITT sở hữu rất nhiều công ty lớn của các nước này. .Ở Ấn độ. ITT nắm một phần nhỏ cổ phần của công ty Indian Telephone Industries.Ở Mỹ Latin. học đại học tại chức kinh tế New York. trong mọi trường hợp phải tự chọn lấy quyết định: là giám đốc. phát hiện sự việc ở đâu. không bảo thủ khi có thiếu sót. . . biết lắng nghe. Geneen là các báo cáo tài chính. những con số đặt trong bối cảnh của nó và cách làm việc sâu sát. ITT nắm 20% của công ty nghiên cứu về về truyền thông. phần lớn cổ phần thuộc chính phủ Ấn độ. Công ty điện thoại chi nhánh của ITT ở Chi lê có 3 người giám đốc do chính phủ bổ nhiệm. .Ở Pháp. McCone. Công cụ làm việc quan trọng nhất của H. năm 1956 theo học lớp quản trị kinh doanh cao cấp của trường thương mại Harvard trong khi đang làm giám đốc tài chính cho công ty Thép Jones and Laughlin.Trong các giám đốc thành viên ITT ở châu Âu có hai người. trưởng thành trong thực tế (tốt nghiệp trung học. đi làm phụ việc rồi làm kế toán cho các công ty chứng khoán. chính phủ Pháp nắm phần lớn.Một trong lãnh đạo cao cấp của ITT là John A. hai người là thượng nghị sĩ nước Anh và một nghị sĩ quốc hội Pháp. Geneen là tinh thần làm việc hăng say không chịu khuất phục theo đuổi bằng được mục tiêu đã đặt ra và là những mục tiêu trên bình thường để mà phấn đấu. phải biết suy nghĩ sáng tạo. còn giải pháp thì chính người giám đốc phải điều tra tìm ra những thông tin xác thực. Đặc trưng của H. vạch hướng chung chung và tốt cho việc chỉ cho người giám đốc biết những chỗ tìm thông tin. suy ngẫm đối chiếu chọn lấy quyết định. coi các lý thuyết chỉ có giá trị như những lời khuyên. Tổng giám đốc kiêm Chủ tịch HĐQT ITT thành công nhất ở Mỹ và Tây Âu 1960-1977). không cứng nhắc không hấp tấp. cụ thể. 55 . nguyên giám đốc CIA.Người ta có thể thấy tầm vóc quốc gia của ITT qua các cán bộ cao cấp của nó: . một người nguyên là thủ tướng nước Bỉ.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful