P. 1
Ma trận BCG

Ma trận BCG

|Views: 1,066|Likes:
Được xuất bản bởiCandy Khanh

More info:

Published by: Candy Khanh on Jul 27, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

06/28/2013

pdf

text

original

MA TRẬN BCG

1. Nguồn gốc ma trận BCG
BCG là tên của một công ty tư vấn chiến lược (strategy consulting) của Mỹ, the Boston Consulting Group. Công ty này thành lập năm 1963 do Bruce Henderson sáng lập. Sau đó, nó nhanh chóng trở thành một trong ba công ty tư vấn chiến lược hàng đầu trên thế giới, bao gồm: McKinsey, Boston Consulting và Mercer. Lĩnh vực chủ yếu của tư vấn chiến lược là: lập kế hoạch kinh doanh chiến lược, hoạch định chiến lược của công ty, hoạch định chiến lược marketing (cấp công ty) v.v... chủ yếu ở tầm CEO - cấp độ cao nhất trong một công ty. Sau khi được thành lập, ngay trong thập kỷ 60, BCG dựa vào kinh nghiệm của bản thân các nhân viên của mình và đã "sản xuất" ra hai mô hình quan trọng (một là về lý thuyết và cái còn lại có tính thực tiễn cao hơn): • Đường kinh nghiệm (Experience Curve) • Ma trận BCG Trước hết, xin phép được giới thiệu qua về Experience Curve

(experience curve). Họ cũng đưa ra một khả năng để giải thích sự chênh lệch về chi phí sản xuất giữa các công ty cạnh tranh nhau (kiểu như giữa Romano của Unza và X-Men của ICP) là do một số công ty đã tích lũy kinh nghiệm sản xuất và phát triển được kiến thức của họ về sản xuất sản phẩm đó trong khi các công ty khác chưa thể làm được điều này Lý thuyết này diễn giải khá dài, tóm lược lại thì nếu nhìn vào trong đồ thị ở trên, các bạn có thể hiểu được là, nếu một công ty có 20 kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất một sản phẩm thì từ năm thứ 10 trở đi đến năm thứ 20, chi phí sản xuất sẽ giảm được 20%. Và sẽ tiếp tục tiếp tục và tiếp tục... nhưng không bao giờ giảm về ZERO cả Experience Curve có một ý nghĩa quan trọng là: Nếu một công ty có thể gia tăng kinh nghiệm sản xuất của mình thông qua việc tăng thị phần thì công ty đó có khả năng đạt được lợi thế về chi phí trong ngành kinh doanh đó mà các đối thủ khó có khả năng đạt được => nó khuyên các công

• Dựa vào sơ đồ phân loại và sắp xếp các SBU (strategic business unit ) – “đơn vị kinh doanh chiến lược” trên ma trận. Mục tiêu chính ma trận BCG: Xác định những yêu cầu về vốn đầu tư (dòng tiền) và những nơi có thể tạo ra nguồn đầu tư ở lĩnh vực kinh doanh khác nhau trong cấu trúc kinh doanh của công ty.ty tập trung đầu tư nhằm nhanh chóng tăng thị phần vì khoản đầu tư này sẽ được bù đắp trong tương lai Xu hướng mới trong chiến lược của các đại gia đã được khẳng định từ đó => đánh mạnh vào thị trường nhằm giành càng nhiều thị phần càng tốt. đánh giá triển vọng và tương lai của chúng. thời gian đầu lỗ đến mức nào cũng được vì sau này sẽ được bù đắp Lý thuyết này cũng được xây dựng dựa trên một nguyên lý của kinh tế học .Danh mục sản phẩm được phân loại thành 4 nhóm và mỗi nhóm thì được hình tượng hóa một cách dễ hiểu rồi đặt trên bốn phần trên mặt phẳng ma trận.Tính hiệu quả về quy mô (economies of scale) Trên cơ sở Experience Curve và Product Life Cycle. Ma trận phân loại các sản phẩm thành bốn nhóm. Mỗi nhóm được đặt ở một góc phần tư riêng tùy thuộc vào thị phần và tốc độ tăng trưởng trong thị trường của chúng. Nguyên tắc cơ bản của ma trận này chính là đề cập đến khả năng tạo ra lợi nhuận thông qua việc phân tích danh mục sản phẩm của 1 công ty và đặt nó vào trong 1 ma trận dựa trên quan hệ giữa tăng trưởng và thị phần của các sản phẩm. hiển thị trên trục thị trường tăng trưởng và thị phần. Trong chiến lược này. Các công ty sẽ phải xác định được tốc độ tăng trưởng của từng sản phẩm cũng như thị phần của từng sản phẩm này để đặt vào trong ma trận. • Xây dựng các mục tiêu chiến lược cho các loại SBU. . .Ma trận BCG được xây dựng vào cuối thập kỷ 60 bởi công ty tư vấn chiến lược hàng đầu thế giới BCG (Boston Consulting Group). Dựa trên ma trận này. -Phương pháp này bao gồm ba bước: • Xác định các lĩnh vực và đơn vị kinh doanh chiến lược. BCG xây dựng lên mô hình ma trận BCG. đôi khi phải hy sinh lợi nhuận trước mắt để . BCG đưa ra 4 chiến lược cơ bản: Xây dựng (Build): Sản phẩm của công ty cần được đầu tư để củng cố để tiếp tục tăng trưởng thị phần.

tăng giá. Ma trận BCG đơn giản hóa chiến lược thông qua hai yếu tố là tốc độ tăng trưởng sản phẩm và thị phần. dẫn đầu thị phần trong một thị trường đầy triển vọng . Tại vị trí này. Phân tích ma trận BCG Ma trận BCG gồm 4 nhóm chính: • Nhóm I: Cash Cows • Nhóm II: Stars • Nhóm III: Question Marks • Nhóm IV: Dogs a) Cash Cows: Hay còn gọi là nhóm bò sữa. Do đó định hướng chiến lược cho vị trí này thường là tranh thủ lợi nhuận. Nó không chỉ áp dụng cho sản phẩm mà có thể sử dụng để phân tích các bộ phận hay công ty con của một công ty => phân phối lại nguồn lực trong công ty 2. . ta thấy rằng tỷ lệ tăng trưởng của thị trường (%) là thấp. Chiến lược này áp dụng cho sản phẩm nằm trong phần Dấu hỏi và chắc chắn không thể trở thành Ngôi sao và cho sản phẩm nằm trong phần Chó. b) Stars: Đây là vị trí doanh nghiệp có thế mạnh. cho dù nó có ảnh hưởng tới mục tiêu lâu dài của sản phẩm hay công ty. Nó giả định rằng để có được tốc độ tăng trưởng cao thì phải sử dụng nhiều nguồn lực (và tiền) hơn. Ngoài ra.nhắm đến mục tiêu dài hạn. có thể sử dụng cho sản phẩm trong Dấu hỏi nhưng không thể chuyển sang Ngôi sao hay Chó • Từ bỏ (Divest): Mục tiêu là từ bỏ sản phẩm hoặc bộ phận kinh doanh nào không có khả năng sinh lời để tập trung nguồn lực vào những sản phẩm hay bộ phận có khả năng sinh lời lớn hơn. các doanh nghiệp thường áp dụng chiến lược ổn định – phát triển. Chiến lược này phù hợp với sản phẩm trong phần Bò Sữa nhưng thị phần hoặc tăng trưởng thấp hơn bình thường hoặc Bò Sữa nhưng tương lai không chắc chắn. Để bảo vệ vị trí của mình. không đầu tư thêm nữa nhằm tối đa lợi nhuận. Chiến lược này được áp dụng cho sản phẩm nằm trong phần Dấu hỏi (Question Mark) • Giữ (Hold): Chiến lược này áp dụng cho sản phẩm nằm trong phần Bò Sữa (Cash Cow) nhằm tối đa hoá khả năng sinh lợi và sản sinh tiền • Thu hoạch (Harvest): Chiến lược này tập trung vào mục tiêu đạt được lợi nhuận ngay trong ngắn hạn thông qua cắt giảm chi phí. Điều này chứng tỏ những sản phẩm thuộc nhóm này có thị phần rất cao trong một thị trường không còn tăng trưởng hay đã bảo hòa. trong khi phần chiếm lĩnh thị trường tương đối cao.

Phương pháp ma trận BCG phân tích chủ yếu dựa trên dữ liệu quá khứ. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng thành công. Thường thì các nhà hoạch định có chiến lược rút lui bằng cách cắt giảm chi phí. Và nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đang đi theo con đường này để phát triển thành tập đoàn lớn. 3. d) Dogs: Trong thực tế. Nhóm này tập trung chủ yếu các sản phẩm cao cấp. Tuy nhiên có một số sản phẩm trong nhóm chó ốm này lại đóng vai trò thiết yếu đối với vị trí của các sản phẩm quan trọng khác của doanh nghiệp. nhưng bênh cạnh đó nó ẩn chứa nhiều rủi ro vì có thị phần thấp. đa dạng hóa sản phẩm. sản phẩm doanh nghiệp có thể bị rơi vào vị trí này với thị phần thấp. Phường pháp ma trận BCG quá đơn giản. củng cố vị thế doanh nghiệp. Công ty này đã vắt sữa bò từ hoạt động kinh doanh bia.bằng cách tiếp tục đầu tư cải tiến sản phẩm nhằm duy trì chiến lược ưu việt của sản phẩm. Đồng thời tranh thủ lợi thế về quy mô sản xuất lớn để hạ giá thành. doanh nghiệp hàng đầu tronh lĩnh vực nước giải khát ở Việt Nam. không còn tăng trưởng nữa. không phù hợp với các sản phẩm mới. tức là gia tăng thị phần bằng cách cải tiến các hình thức dịch vụ. Nhưng để hiện thực hóa chiến lược thì đòi hỏi doanh nghiệp cần nhiều vốn đầu tư và nâng cao trình độ quản lý. khả năng sinh lời cao. duy trì lợi thế về mặt giá thành. Có thể các doanh nghiệp sẽ chuyển phần vốn đó vào đầu tư cho nhóm ngôi sao. c) Question Marks: Các sản phẩm thuộc vị trí dấu hỏi thu hút được sự chú ý của các nhà hoạch định chiến lược vì tỷ lệ tăng trưởng của thị trường khá cao. Theo nguồn từ Tạp chí Thành Đạt. Đánh giá về tiềm năng và sự phát triển của sản phẩm chỉ dựa trên hai yếu tố tỷ lệ tăng trưởng thị trường và thị phần chiếm lĩnh là chưa đầy đủ. Do đó. Rơi vào vị trí này. doanh nghiệp sẵn sàn trích lợi nhuận từ nhóm bò sữa hay nhóm ngôi sao để duy trì sản xuất sản phẩm này. tối đa hóa khả năng sinh lời. có khả năng sinh lời cao. các doanh nghiệp có thể di chuyển một số sản phẩm chiến lược từ nhóm bò sữa sang nhóm ngôi sao nhằm gia tăng thị phần chiếm lĩnh. Ứng dụng ma trận BCG vào thực tế Ma trận BCG giúp các doanh nghiệp tối đa hóa hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính hay vốn đầu tư. cố thu hồi vốn thật nhanh. Trong trường hợp này. tập trung đầu tư để tăng sức cạnh tranh. . công ty Sabeco có sức cạnh tranh ngang ngửa các nhãn bia trên thế giới trong thị trường nội địa. Ví dụ như trường hợp của Sabeco. định hướng chiến lược của doanh nghiệp có thể tìm cách di chuyển sang nhóm ngôi sao. tập trung đầu tư vào các sản phẩm có tiềm năng hơn.

từ đó thu hút được nhiều nhà đầu tư mua cổ phiếu. REE cũng có hành động tương tự. Điều đó cho thấy tỷ suất lợi nhuận của tập đoàn là quá thấp so với danh tiếng. Chưa kể một vài dự án chó ốm chưa được giải quyết. Trong thực tế. Nhưng bân cạnh đó doanh nghiệp cần dựa vào những nhân tố tác động vi mô lẫn vĩ mô. các doanh nghiệp Việt Nam cần thận trọng khi sử dụng ma trận BCG để phân bổ nguồn lực. Các tập đoàn hàng đầu thế giới đã áp dụng BCG một cách linh động hơn: liên tục đầu tư. càn lại là những ngành không phải thế mạnh nằm trong nhóm ngôi sao và dấu hỏi. Tuy nhiên. . giai đoạn cuối thập niên 90s khi khủng hoảng kinh tế châu Á. gánh nặng đè lên bò sữa quá lớn. Một số doanh nghiệp khác như Kinh Đô. Vì nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định đúng đắn các nhóm sản phẩm. Cách thức này tạo ấn tượng về một tập đoàn kinh doanh hùng mạnh. tạo ra nhiều sữa. khi tiếp cận các báo cáo kinh doanh của Sabeco. đa dạng. khi nó mập mạp hơn thì huy động vốn để phát triển các lĩnh vực khác. bồi bổ cho Bò sữa luôn khỏe mạnh.nước giải khát để đầu tư cho các ngôi sao là chứng khoán. tập đoàn này đã tập trung bồi bổ Bò sữa là chip điện tử. chứ không vắt sữa này cho các nhóm Ngôi sao. Ví dụ với Samsung. địa óc và một số dấu hỏi như du lịch…mong muốn kiếm siêu lợi nhuận. Dấu hỏi hay Chó ốm. rủi ro cao gây thất vọng cho nhà đầu tư. các nhà đầu tư nhận thấy: vốn điều lệ của công ty là 6000 tỷ đồng nhưng chỉ 1/3 là thuộc lĩnh vực chính đảm bảo phát triển ổn định – bò sữa.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->