P. 1
Ky Yeu de Tai Nckh Dieu Duong 2010 Full Text)

Ky Yeu de Tai Nckh Dieu Duong 2010 Full Text)

|Views: 2,905|Likes:
Được xuất bản bởivoicekid90

More info:

Published by: voicekid90 on Jul 27, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

03/31/2015

pdf

text

original

Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø II

1
HỘI ĐIỀU DƯỠNG VIỆT NAM
KỶ YẾU
§Ò TµI NGHI£N CøU KHOA HäC §IÒU D¦ìNG
Kû NIÖM20 N¡MNGµY THµNH LËP
HéI §IÒU D¦ìNG VIÖT NAM
(26/10/1990 - 26/10/2010)
Héi nghÞ khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn iv
HÀ NỘI, 10 - 2010
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
2
HỘI ĐIỀU DƯỠNG VIỆT NAM
CHỦ BIÊN
Bà Vi Nguyệt Hồ Chủ tịch Hội Điều dưỡng Việt Nam
ThS. Phạm Đức Mục, Phó Chủ tịch thường trực
ThS. Nguyễn Bích Lưu, Phó Chủ tịch
BAN BIÊN TẬP
TS. Trần Quang Huy, Ủy viên Thường vụ, Trưởng ban nghiên cứu khoa học
ThS. Trần Thị Thuận, Ủy viên Thường vụ, Trưởng ban Đào tạo
ThS. Phạm Thu Hà, Ủy viên Thường vụ
ThS. Thái Thị Kim Nga, Ủy viên Thường Vụ, Phó trưởng ban nghiên cứu
khoa học
ThS. Nguyễn Thị Thanh Thủy, Ủy viên Ban chấp hành
ThS. Vũ Hồng Ngọc, Ủy viên Ban chấp hành
ThS. Nguyễn Thị Như Tú, Ủy viên Ban chấp hành
ThS. Đào Thành, Ủy viên Ban chấp hành
BAN THƯ KÝ
ThS. Ngô Đức Thọ, Ủy viên Ban chấp hành
CN. Nguyễn Thị Hồng Anh, Văn Phòng TƯ Hội Điều dưỡng Việt Nam
CN. Hà Thị Kim Phượng Chuyên viên Phòng Điều dưỡng - Tiết chế, Cục
Quản lý Khám, chữa bệnh Bộ Y tế
CN. Hoàng Xuân Hương, Văn Phòng TƯ Hội Điều dưỡng Việt Nam
CN. Đinh Thị Thúy Hà, Nhân viên dự án Phòng Điều dưỡng-Tiết chế, Cục
Quản lý Khám, chữa bệnh-Bộ Y tế
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
3
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực điều dưỡng ở
nước ta đã và đang phát triển mạnh, ngày càng nhận được sự hưởng ứng nhiệt thành
của Điều dưỡng, Hộ sinh trong toàn quốc, trở thành yêu cầu không thể thiếu trong
thực hành điều dưỡng và đã được Bộ Y tế chính thức đưa vào là một trong các nội
dung quan trọng của công tác Điều dưỡng.
Hội nghị Khoa học Điều dưỡng toàn quốc đã được tổ chức lần đầu tiên năm
2002, lần thứ hai năm 2005, lần thứ 3 năm 2007 với nhiều đề tài nghiên cứu điều
dưỡng có giá trị, được áp dụng trong công tác điều trị và chăm sóc người bệnh tại
các cơ sở y tế, góp phần tăng cường chất lượng chăm sóc cũng như đem lại sự hài
lòng cho người bệnh.
Hội nghị Khoa học Điều dưỡng toàn quốc lần thú IV được tổ chức tại Hà Nội vào
ngày 25 và 26 tháng 10 năm 2010, Ban Tổ chức đã nhận được hơn 125 đề tài báo cáo
khoa học của Điều dưỡng, Hộ sinh từ mọi miền tổ quốc gửi về với những nội dung rất
phong phú, khẳng định tiềm năng to lớn của Điều dưỡng trong nghiên cứu và áp dụng
kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Đó là minh chứng về sự phát triển mạnh mẽ của
ngành Điều dưỡng Việt Nam.
Ban Tổ chức xin cảm ơn tất cả các tác giả đã gửi bài tham gia báo cáo trong
Hội nghị Khoa học Điều dưỡng toàn quốc lần IV. Với thời lượng tổ chức Hội nghị
có hạn nên Ban Tổ chức xin được trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc những đề tài
nghiên cứu điều dưỡng tiêu biểu được báo cáo trong Hội nghị để các bạn đồng
nghiệp tham khảo và áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc người bệnh.
Rất mong sự quan tâm và góp ý của Quý độc giả để công tác nghiên cứu điều
dưỡng ngày càng phát triển.
Trân trọng cảm ơn.
BAN BIÊN TẬP
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
4
In 700 cuốn khổ 19 x 27cm tại Nhà xuất bản GTVT.
Đăng ký KHXB số: 148-2010/CXB/26-05/GTVT
Quyết định xuất bản số: 163/QĐ-XBGT ngày 15/10/2010.
TÀI LIỆU PHỤC VỤ HỘI NGHỊ
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
5
THỰC TRẠNG NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG TRƯỞNG
TOÀN QUỐC NĂM 2010
Phòng Điều dưỡng-Tiết chế, Cục Quản lý KCB
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc điều dưỡng là hoạt động
nghề nghiệp của người điều dưỡng, đòi hỏi
người điều dưỡng phải có kiến thức chuyên
môn, kỹ năng thành thạo và đạo đức nghề
nghiệp, năng lực của mỗi điều dưỡng thể
hiện qua ba nội dung trên. Điều dưỡng
trưởng không chỉ là người điều dưỡng thạo
tay nghề, mà còn cần có năng lực quản lý,
vì vậy họ là đối tượng cần ưu tiên phát triển
trong lực lượng điều dưỡng viên. Có thể ví
một người điều dưỡng trưởng là một quản
gia trong gia đình đông người với đủ lứa
tuổi, thành phần, trình độ, tính cách khác
nhau. Sự bình yên, sung túc và thành đạt
của một gia đình lớn có phần nhờ tài quản
lý của người quản gia. Do vậy, các nước
trên thế giới đã xây dựng và thực hiện một
chương trình đào tạo về Quản lý điều
dưỡng trong nhiều năm nay và họ ưu tiên
phát triển đội ngũ này.
Ở nước ta, chức danh Y tá trưởng (nay
là Điều dưỡng trưởng) được ra đời trong
các bệnh viện từ năm 1965. Tuy nhiên, 25
năm sau, Phòng Y tá bệnh viện mới có tên
trong tổ chức bệnh viện sau khi Bộ trưởng
Bộ Y tế ban hành Quyết định số 570/QĐ-
BYT ngày 14/7/1990. Tiếp đó, Phòng Y tá
trong Vụ Quản lý sức khoẻ của Bộ Y tế
được thành lập tại Quyết định số 356/QĐ-
BYT ngày 14/3/1992.
Năm 1997, sau 7 năm Phòng Y tá các
bệnh viện và 5 năm sau khi Phòng Y tá
thuộc Vụ Quản lý sức khoẻ ra đời, với
những đóng góp của các Điều dưỡng
trưởng Bệnh viện, Phòng Y tá -Bộ Y tế đã
đề xuất với Bộ trưởng Bộ Y tế xem xét ký
Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT ngày
19/9/1997 ban hành Quy chế bệnh viện
trong đó có quy định Phòng Y tá (Điều
dưỡng) là một trong những phòng chức
năng và nghiệp vụ của bệnh viện. Tính đến
tháng 7/2010, sau 13 năm thực hiện Quy
chế bệnh viện, Cục Quản lý Khám, chữa
bệnh đã tiến hành một khảo sát nhanh, kết
quả cho thấy: 100% bệnh viện trực thuộc
Bộ Y tế, 72% bệnh viện tuyến tỉnh và
64,6% bệnh viện tuyến huyện đã thành lập
Phòng hoặc tổ điều dưỡng trưởng theo quy
chế bệnh viện. Tuy nhiên, vẫn còn 28%
bệnh viện tuyến tỉnh và 35,4% bệnh viện
tuyến quận, huyện chưa thành lập Phòng
Điều dưỡng mà bổ nhiệm điều dưỡng
trưởng thuộc Phòng Kế hoạch tổng hợp nên
công tác điều dưỡng tại các bệnh viện này
hạn chế hơn so với các bệnh viện đã thành
lập Phòng Điều dưỡng.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong
công tác quản lý điều dưỡng, ngày
2/7/1999, Bộ trưởng Bộ Y tế ra Quyết định
số 1936/1999/QĐ-BYT quy định chức
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
6
năng, nhiệm vụ của Điều dưỡng trưởng
thuộc Sở Y tế các tỉnh/thành phố trực thuộc
Trung ương. Tính đến tháng 7/2010, sau 11
năm thực hiện Quyết định 1936/1999/QĐ-
BYT đã có 74% (47/63) các Sở Y tế đã bổ
nhiệm Điều dưỡng trưởng Sở; 36,5%
(23/63) Sở Y tế bổ nhiệm Điều dưỡng
trưởng Sở Y tế làm Phó trưởng phòng
nghiệp Vụ Y, 25,4% (16/63) Sở Y tế chưa
bổ nhiệm điều dưỡng trưởng Sở Y tế (kết
quả khảo sát của phòng Điều dưỡng-Cục
QLKCB).
Ngày 03/8/2010, Bộ Y tế đã ban hành
công văn số 5134/BYT-KCB gửi tới các Sở
Y tế và các Bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế
yêu cầu các Sở Y tế và các bệnh viện tiếp
tục củng cố hệ thống điều dưỡng trưởng.
Có thể nói, từ khi được tổ chức theo hệ
thống nghề nghiệp, đội ngũ điều dưỡng
trưởng đã khẳng định được vai trò và vị trí
của mình trong toàn ngành y tế, có những
đóng góp quan trọng vào việc tăng cường
chất lượng khám, chữa bệnh, quản lý các
nguồn lực của các cơ sở y tế và nâng cao
trình độ cho điều dưỡng, hộ sinh viên. Họ
đã thực sự trở thành những cán bộ chủ chốt
trong các đơn vị. Một số người đã được bổ
nhiệm chức vụ cao từ trung ương đến địa
phương như: Phó Cục trưởng Cục Quản lý
Khám, chữa bệnh; Giám đốc, Phó giám đốc
một số bệnh viện; Phó Giám đốc Chi cục
dân số tỉnh; Lãnh đạo một số trường, khoa
đào tạo điều dưỡng.
Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu khám
chữa bệnh của nhân dân ngày càng cao, sự
phát triển khoa học y tế ngày càng nhanh,
cơ chế tự chủ và xã hội hóa trong các bệnh
viện ngày càng đòi hỏi trình độ quản lý của
các bác sĩ, điều dưỡng thì người điều
dưỡng trưởng càng đứng trước thách thức
lớn hơn về năng lực quản lý. Bên cạnh đó,
xu hướng thiếu nhân lực điều dưỡng toàn
cầu và sự di cư nhân lực điều dưỡng giữa
các nước, các vùng, các miền trong một
nước đang là thách thức với các nhà quản
lý y tế, không chỉ ở Việt Nam. Thách thức
lớn đối với Việt Nam là thiếu điều dưỡng
có trình độ chuyên môn cao và thiếu người
quản lý điều dưỡng giỏi.
Để có bức tranh tổng thể về nguồn
nhân lực điều dưỡng làm cơ sở xây dựng kế
hoạch hành động quốc gia tăng cường công
tác điều dưỡng-hộ sinh giai đoạn 2011-
2015, Phòng Điều dưỡng-Tiết chế, Cục
Quản lý Khám, chữa bệnh thực hiện một
khảo sát về thực trạng nhân lực điều dưỡng
trưởng năm 2010 với 3 mục tiêu sau đây:
1. Mô tả thực trạng về số lượng, trình
độ chuyên môn, trình độ quản lý của đội
ngũ Điều dưỡng trưởng Sở Y tế.
2. Mô tả thực trạng nhân lực Điều
dưỡng trưởng trong hệ thống bệnh viện: số
lượng, trình độ chuyên môn, trình độ quản
lý và phụ cấp trách nhiệm được hưởng.
3. Đề xuất giải pháp tăng cường năng
lực của đội ngũ điều dưỡng trưởng các
cấp.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mô tả cắt ngang với đối
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
7
tượng khảo sát là điều dưỡng trưởng Sở Y
tế của các Sở Y tế tỉnh/thành phố trực
thuộc trung ương, Điều dưỡng trưởng bệnh
viện, Điều dưỡng trưởng khối, cán bộ của
Phòng Điều dưỡng bệnh viện và điều
dưỡng trưởng khoa của các bệnh viện trực
thuộc Bộ Y tế, các bệnh viện trực thuộc các
Sở Y tế.
Công cụ thu thập số liệu gồm 2 phiếu
khảo sát: (1) danh sách trích ngang cán bộ
phụ trách công tác điều dưỡng tại Sở Y tế
(Điều dưỡng trưởng SYT) và Trưởng
phòng Điều dưỡng bệnh viện trực thuộc Bộ
Y tế (2) Báo cáo nhân lực quản lý điều
dưỡng tại các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế
và các bệnh viện thuộc Sở Y tế của các
tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương.
Phiếu khảo sát được thu thập trong thời
gian từ 15/8-5/10/2010 qua đường bưu điện
hoặc qua hộp thư điện tử. Tổng số có 57 Sở
Y tế và 36 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế gửi
báo cáo về, tuy nhiên chúng tôi vẫn có đủ
thông tin cá nhân của các điều dưỡng
trưởng Sở Y tế và Trưởng phòng Điều
dưỡng bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế từ
những lần khảo sát trước.
Trong quá trình làm sạch số liệu, một
số thông tin được kiểm định để đảm bảo độ
chính xác. Số liệu được xử lý và phân tích
bằng phần mềm SPSS 16.0.
3. KẾT QUẢ
Các kết quả dưới đây thu thập được từ
57/63 Sở Y tế và 36 Bệnh viện trực thuộc
Bộ Y tế.
3.1. Trình độ chuyên môn của Điều dưỡng trưởng Sở Y tế và bệnh viện.
Bảng 1. Phân bố trình độ chuyên môn của Điều dưỡng trưởng các bệnh viện
Số lượng Trình độ
Chức
danh
Số lượng tỷ lệ Tổng > ĐH Đại học Cao đẳng Trung cấp
Số lượng 690 8 273 109 300
Trưởng
phòng
Tỷ lệ % 100.0 1,2 39,4 15,8 43,6
Số lượng 342 2 98 63 179
Phó phòng
Tỷ lệ % 100.0 0,6 28,7 18,4 52,3
Số lượng 275 3 74 45 153
ĐDT khối
Tỷ lệ % 100.0 1,1 26,9 16,4 55,6
Số lượng 513 4 101 31 377 Cán bộ
phòng
ĐDT
Tỷ lệ % 100.0 0,8 19,6 6,0 73,6
ĐDT khoa Số lượng 6758 1 1232 662 4863
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
8
Tỷ lệ % 100.0 0,0 18,1 9,8 71,9
Số lượng 8578 18 1778 910 5872
Tổng
Tỷ lệ % 100 0,2 20,7 10,6 68,5
Nhận xét: Tổng số điều dưỡng trưởng
ở các bệnh viện được khảo sát là 8.572
người, trong đó 18 người (0,2%) có trình
độ trên đại học, 20,7% có trình độ đại học
và 10,6% ở trình độ cao đẳng và 68,5%
(5872) có trình độ trung học. Số liệu ở
bảng 1 cũng cho thấy tỷ lệ điều dưỡng
trưởng có trình độ cử nhân điều dưỡng
giảm dần từ cấp phòng đến khoa: từ
39,4% ở cấp trưởng phòng; 26,9% ở cấp
khối và 18,1% ở cấp khoa. Trong khi đó
tỷ lệ Điều dưỡng trưởng có trình độ trung
học điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao ở cấp
quản lý khoa phòng (71,9% ở cấp điều
dưỡng trưởng khoa xuống 43,6% ở cấp
Trưởng phòng).
3.2. Thực trạng nhân lực Điều dưỡng trưởng Sở Y tế và chuyên viên phụ trách
Bảng 2. Phân bố theo nghề và trình độ chuyên môn của điều dưỡng trưởng
Sở Y tế và chuyên viên phụ trách
Trình độ chuyên môn (n = 47)
Nghề nghiệp của điều dưỡng
trưởng Sở Y tế
Tổng/
tỷ lệ
(%)
Sau
đại học
Đại
học
Cao
đẳng
Trung
cấp
Tỷ lệ % 85,3 7.3 87,8 4,9 0
Điều dưỡng
Số lượng 41 3 36* 2 0
Tỷ lệ % 4,2 0 50,0 50,0 0
Hộ sinh
Số lượng 2 0 1 1 0
Tỷ lệ % 4,2 0 50,0 50,0 0
Kỹ thuật viên
Số lượng 2 0 1 1 0
Tỷ lệ % 6,3 0 100,0 0 0
Bác sĩ
Số lượng 3 0 3** 0 0
Tổng số 48 3 41 4 0
Tổng số/tỷ lệ chung
Tỷ lệ % 76,2 6,3 85,4 8,3 0
Ghi chú: * 8 người đang làm nhiệm vụ như điều dưỡng trưởng nhưng chưa được
bổ nhiệm chức danh.
** Bác sĩ được cử kiêm nhiệm công tác điều dưỡng.
Nhận xét: Có 48 (76,2%) Sở Y tế bổ
nhiệm chức danh điều dưỡng trưởng SYT
và cử chuyên viên phụ trách kiêm nhiệm
công tác điều dưỡng của Sở Y tế. Tất cả
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
9
trong số họ có trình độ chuyên môn từ cao
đẳng trở lên. 85,4% có trình độ đại học,
6,3% có trình độ cao học. Có 3 người là
bác sĩ (Cần Thơ, An Giang, Thanh Hóa) và
số còn lại là điều dưỡng, hộ sinh và kỹ
thuật viên Y.
Bảng 3. Phân bổ điều dưỡng trưởng Sở Y tế được bổ nhiệm làm Phó trưởng phòng
nghiệp vụ Y theo nghề và trình độ
Trình độ chuyên môn
Nghề nghiệp
Điều dưỡng
trưởng
Số lượng/
tỷ lệ (%)
Sau đại
học
Đại học
Cao
đẳng
Trung
cấp
Số lượng 24 3 21 1 0
Điều dưỡng
Tỷ lệ % 92,0 12,5 83,3 4,2 0
Số lượng 2 0 0 2 0
Hộ sinh -KTV
Tỷ lệ % 8,0 0 0 100,0 0
Tổng 26 3 21 2 0
Nhận xét: Có 26 Sở Y tế đã bổ nhiệm Điều dưỡng trưởng làm Phó trưởng phòng
Nghiệp Vụ Y. Hầu hết các Phó trưởng phòng nghiệp vụ phụ trách điều dưỡng có trình độ
đại học điều dưỡng (92,0%) và ba người trong số họ có trình độ thạc sĩ, chỉ có một người
ở trình độ cao đẳng.
Bảng 4. Số lượng và tỷ lệ điều dưỡng trưởng Sở Y tế có chứng chỉ quản lý điều dưỡng
Chứng chỉ quản lý điều dưỡng Số lượng Tỷ lệ %
Có 32 66,7%
Không 16 33,3%
Tổng số 48 100%
Nhận xét: Có 66.7% Điều dưỡng trưởng Sở Y tế và cán bộ chuyên trách công tác điều
dưỡng tại Sở Y tế có chứng chỉ quản lý điều dưỡng.
3.3. Thực trạng Điều dưỡng trưởng ở các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế
Bảng 5. Phân bổ theo trình độ và nghề nghiệp
của Trưởng phòng điều dưỡng bệnh viện trực thuộc Bộ
Trình độ
Nghề nghiệp
S.lượng/
tỷ lệ
Tổng số/
tỷ lệ
Sau đại
học
Đại
học
Cao
đẳng
Trung học
Số lượng 32 4 25 1 2
Điều dưỡng
Tỷ lệ % 91,9% 12,1% 78,8% 3,0% 6,1%
Số lượng 2 0 2 0 0
Hộ Sinh Tỷ lệ % 5,4% 0 100,0 0 0
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
10
Số lượng 1 0 1 0 0
Bác sỹ Tỷ lệ % 2,7% 0
100,0
%
0 0
Cộng 35 4 28 1 2
Nhận xét: Có 35/36 Bệnh viện trực
thuộc Bộ Y tế đã bổ nhiệm chức danh
trưởng phòng Điều dưỡng trừ bệnh
viện Tâm Thần TƯ II (mới bổ nhiệm Phó
trưởng phòng). Hai trong số 35 trưởng
phòng Điều dưỡng còn ở trình độ trung học
điều dưỡng (Bệnh viện C Đà Nẵng và Phong
Da Liễu Quỳnh Lập). Có 4 trưởng phòng ở
trình độ thạc sĩ (Chợ Rẫy, Nhi TW, Tai Mũi
Họng TW và Phong Da Liễu Quy Hòa).
Bảng 6. Phân bổ theo trình độ chuyên môn của điều dưỡng
trưởng trong bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế
Trình độ
Chức vụ
Số lượng
Tỷ lệ %
Tổng
Trên
Thạc sĩ
Đại học Cao đẳng
Trung
cấp
Số lượng 35 4 28 1 2
T.phòng
Tỷ lệ % 100.0 12,3 80,0 2,9 5,8
Số lượng 23 1 16 3 3
Phó phòng
Tỷ lệ % 100,0 4,4 69,6 13,0 13,0
Số lượng 45 3 21 8 13
ĐDT khối
Tỷ lệ % 100.0 6,7 46,7 17,8 28,9
Số lượng 39 0 20 5 14
Cán bộ
phòng ĐD
Tỷ lệ % 100.0 0,0 51,3 12,8 35,9
Số lượng 641 1 281 82 277
ĐDT khoa
Tỷ lệ % 100.0 0,2 43,8 12,8 43,2
Số lượng 783 9 366 99 309
Tổng số
Tỷ lệ % 100.0 1,3 46,7 12,6 39,4
Nhận xét: Tổng số điều dưỡng trưởng
và cán bộ phòng Điều dưỡng của 36 bệnh
viện trực thuộc Bộ Y tế là 783 người, gần
nửa trong số họ có trình độ đại học (46,7%).
Tỷ lệ điều dưỡng trưởng có trình độ trung
học điều dưỡng chiếm 39,4% tổng số điều
dưỡng trưởng, số lượng điều dưỡng trưởng
có trình độ thạc sĩ còn rất thấp (1,3%).
Bảng 7. Tình hình hưởng phụ cấp trách nhiệm của các chức danh điều dưỡng trưởng,
cán bộ quản lý điều dưỡng tại các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế
Loại Hưởng phụ cấp trách nhiệm
Số lượng Tỷ lệ %
Trưởng phòng (n = 35) 35 100
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
11
Phó phòng (n = 23) 23 100
ĐD trưởng khối (n = 45) 38 84,4
Nhân viên phòng ĐD trưởng (n = 39) 4 10,3
ĐD trưởng khoa (n = 641) 634 98,9
Nhận xét: 100% Trưởng, Phó phòng
Điều dưỡng và 98,9% điều dưỡng trưởng
khoa được hưởng phụ cấp trách nhiệm. Số
điều dưỡng trưởng khối là 84,4% và 10,3%
cán bộ phòng điều dưỡng được hưởng phụ
cấp trách nhiệm.
3.4. Thực trạng Điều dưỡng trưởng trong các bệnh viện trực thuộc các Sở Y tế
tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương
Bảng 8. Trình độ chuyên môn của các điều dưỡng trưởng công tác
trong các bệnh viện thuộc Sở y tế các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương
Số lượng Trình độ
Chức danh Số lượng
tỷ lệ
Tổng/
tỷ lệ (%)
Thạc sĩ Đại học Cao đẳng Trung
cấp
Số lượng 655 4 245 108 298
Trưởng
phòng
Tỷ lệ % 8,4 0,6 37,4 16,5 45,5
Số lượng 319 1 82 60 176
Phó phòng Tỷ lệ % 3,6 0.3 25.7 18.8 55.2
Số lượng 230 0 53 37 140
ĐDT khối Tỷ lệ % 3,0 0.0 23.0 16.1 60.9
Số lượng 474 4 81 26 363 Cán bộ
phòng Điều
dưỡng
Tỷ lệ % 6,0 0.8 17.0 5.5 76.7
Số lượng 6117 0 951 580 4586
ĐDT khoa
Tỷ lệ % 78,5 0.0 15,5 9.5 75.0
Cộng Số lượng 7795 9 1412 811 5563
Tỷ lệ % 100,0 0,1 18,2 10,3 71,4
Nhận xét: Số liệu từ 57/63 Sở Y tế
cho thấy tổng số điều dưỡng trưởng và
cán bộ phòng của các phòng Điều dưỡng
thuộc 57 tỉnh là 7795 người, phần lớn có
trình độ chuyên môn là trung cấp (71,4%),
tiếp đó là đại học (18,2%), cao đẳng 10,3%
và tỷ lệ thấp nhất là thạc sĩ (0,1%).
Cũng giống như thực trạng chung về
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
12
trình độ chuyên môn của điều dưỡng
trưởng được trình bày trong bảng 1. Bảng
này cũng chỉ ra rằng trình độ chuyên môn
của điều dưỡng trưởng tỷ lệ thuận với vị trí
công tác của họ, có nghĩa là ở vị trí điều
dưỡng trưởng cấp cao thì càng đòi hỏi
người đó có trình độ chuyên môn cao hơn.
Bảng 9. Tình hình hưởng phụ cấp trách nhiệm của cán bộ quản lý điều dưỡng
tại các bệnh viện tuyến tỉnh
Hưởng phụ cấp trách nhiệm
Chức danh
Số lượng Tỷ lệ %
Trưởng phòng (n=655) 622 94.9
Phó phòng (n=319) 295 92.5
ĐD trưởng khối (n=230) 105 45.7
Nhân viên (n=474) 76 15.9
ĐD trưởng khoa (n=6117) 5637 92.2
Nhận xét: Bảng 9 cho thấy 92.2% Trưởng, Phó phòng Điều dưỡng và điều dưỡng
trưởng khoa được hưởng phụ cấp chức vụ. Trên 50% điều dưỡng trưởng khối và trên 80%
cán bộ của Phòng Điều dưỡng chưa được hưởng phụ cấp chức vụ.
4. KẾT LUẬN VÀ BÀN LUẬN
4.1. Nhân lực Điều dưỡng Trưởng Sở
Y tế
Quyết định số 1936/1999/QĐ-BYT do
Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành từ năm 1999
yêu cầu các Sở Y tế bổ nhiệm chức danh
Điều dưỡng trưởng Sở Y tế và chức danh
phó phòng nghiệp vụ y phụ trách công tác
điều dưỡng, nhưng tới nay, sau 11 năm thực
hiện, mới có 48 (76,2%) Sở Y tế bổ nhiệm
Điều dưỡng trưởng Sở Y tế hoặc cử cán bộ
chuyên trách công tác điều dưỡng của Sở. Tỷ
lệ này cao hơn kết quả khảo sát năm 2007
của Hội Điều dưỡng Việt Nam (56,3%).
Hiện nay đã có 36 Sở Y tế bổ nhiệm chức
danh điều dưỡng trưởng và 26 người trong số
họ đã được bổ nhiệm làm Phó trưởng phòng
nghiệp vụ Y. Tỷ lệ này tương đương với kết
quả khảo sát năm 2007. Một trong những lý
do mà tỷ lệ này không thay đổi là do một số
người ở vị trí này đã nghỉ hưu nhưng chưa có
người thay thế.
Trình độ chuyên môn của điều dưỡng
trưởng Sở Y tế có sự tiến bộ nhiều, 91,7%
điều dưỡng trưởng Sở Y tế có trình độ cao
đẳng trở lên và 6,3% có trình độ thạc sĩ. So
với khảo sát năm 2007, tỷ lệ điều dưỡng
trưởng Sở Y tế có trình độ chuyên môn từ
cử nhân mới là 69,5% và không ai trong số
họ có trình độ thạc sĩ. 66,7% điều dưỡng
trưởng Sở Y tế đã được đào tạo về quản lý
điều dưỡng. Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với
kết quả khảo sát năm 2007 (25,5%).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
13
4.2. Nhân lực quản lý Điều dưỡng tại
các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế
35/36 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế
được khảo sát đã bổ nhiệm trưởng phòng
Điều dưỡng. Hầu hết các trưởng phòng là
điều dưỡng (92%) và 92,3% có trình độ từ
đại học trở lên và 4 người trong số họ đã tốt
nghiệp thạc sĩ, trong khi kết quả khảo sát
năm 2007 chưa có trưởng phòng nào có
trình độ thạc sĩ. Tuy nhiên, có một bệnh
viện bổ nhiệm Trưởng phòng là bác sĩ, 2
Trưởng phòng còn ở trình độ trung học
điều dưỡng. 100% các trưởng phòng Điều
dưỡng được hưởng phụ cấp trách nhiệm
theo chế độ hiện hành.
4.3. Nhân lực quản lý Điều dưỡng tại
các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế các
tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương
Kết quả tổng hợp báo cáo nhân lực điều
dưỡng trưởng của 57 Sở Y tế cho thấy tổng
số điều dưỡng trưởng có 7791 người, trong
đó tỷ lệ điều dưỡng trưởng khoa chiếm tỷ
lệ cao nhất 78,5% (6117 người) và Trưởng
phòng Điều dưỡng chiếm 8,4% (655
người), điều dưỡng trưởng khối chỉ chiếm
3% (230 người) và tập trung ở các bệnh
viện tỉnh/thành phố. Điều này cho thấy vị
trí điều dưỡng trưởng khối chưa được quan
tâm, bổ nhiệm ở các bệnh viện tuyến
tỉnh/huyện. Trong khi đó một số bệnh viện
có cán bộ điều dưỡng công tác tại Phòng
Điều dưỡng nhưng không bổ nhiệm Điều
dưỡng trưởng khối (6%).
Phần lớn các điều dưỡng trưởng ở các
bệnh viện này có trình độ chuyên môn ở
bậc trung học (71,4%), tiếp đó là đại học
(18,2%), cao đẳng 10,3% và có 0,1% trình
độ thạc sỹ. Số liệu này cho thấy đã có sự
tiến bộ nhưng không nhiều về trình độ
chuyên môn của điều dưỡng trưởng so với
kết quả khảo sát năm 2007. Các tỷ lệ về
trình độ chuyên môn của điều dưỡng
trưởng năm 2007 theo tuần tự Trung học
(73,7%), đại học 15,6% và cao đẳng là
10,7%. Tuy nhiên, ở kết quả khảo sát năm
nay đã có 0,1% (9 người) điều dưỡng
trưởng ở các tuyến này có trình độ thạc sĩ.
Số thạc sĩ được phân bổ ở các vị trí điều
dưỡng trưởng từ Trưởng phòng (4 người),
Phó trưởng phòng (1 người), cán bộ công
tác tại phòng Điều dưỡng (4 người).
Liên quan đến phụ cấp chức vụ của đội
ngũ này, kết quả khảo sát cho thấy trên
90% Trưởng, Phó phòng Điều dưỡng và
điều dưỡng trưởng khoa được hưởng phụ
cấp chức vụ. Trên 50% điều dưỡng trưởng
khối và trên 80% cán bộ của Phòng Điều
dưỡng chưa được hưởng phụ cấp chức vụ.
So với kết quả khảo sát năm 2007, tỷ lệ
điều dưỡng trưởng được hưởng phụ cấp
chức vụ có được cải thiện chút ít (năm
2007, tỷ lệ được hưởng phụ cấp là 86,6%).
Về chứng chỉ quản lý điều dưỡng, do
trong phiếu khảo sát đối tượng này không
đưa nội dung thông tin này vì vậy không có
số liệu, tuy nhiên theo số liệu khảo sát năm
2009 của phòng Điều dưỡng, Cục QLKCB
thì tỷ lệ này là sấp sỉ 50% so với kết quả
năm 2007 cho thấy 54% điều dưỡng trưởng
được đào tạo về quản lý điều dưỡng. Bởi
trong 3 năm trở lại đây, một số trường đã tổ
chức đào tạo quản lý điều dưỡng, nhưng số
lượng này không nhiều, nhân lực điều
dưỡng lại biến động, có những điều dưỡng
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
14
trưởng được đào tạo xong lại chuyển công
tác hoặc nghỉ hưu.
5. ĐỀ NGHỊ
5.1. Các Sở Y tế và các bệnh viện cần
thực hiện chỉ đạo của Bộ Y tế theo tinh
thần công văn số 5134/BYT-KCB ngày
3/8/2010 của Bộ Y tế yêu cầu các Sở Y tế
và các bệnh viện tiếp tục duy trì và phát
triển đội ngũ điều dưỡng trưởng.
5.2. Các Sở Y tế và bệnh viện cần đầu
tư năng lực chuyên môn và quản lý cho cán
bộ chủ chốt, đặc biệt là Điều dưỡng trưởng
bằng tạo điều kiện cho điều dưỡng trưởng
tham gia các khóa đào tạo nâng cao.
5.3. Bộ Y tế, Vụ khoa học Đào tạo nên
tổ chức các khóa đào tạo Giảng viên giảng
dạy chương trình đào tạo quản lý điều
dưỡng cho Điều dưỡng trưởng cấp Sở Y tế
và cấp bệnh viện. Vụ Tổ chức cán bộ và
Cục Quản lý khám chữa bệnh nên xem xét
chức danh Điều dưỡng trưởng khối ở
những bệnh viện hạng đặc biệt và hạng I để
có phụ cấp chính thức cho đối tượng này
đồng thời đáp ứng được khối lượng công
tác quản lý điều dưỡng trong bệnh viện.
5.4. Các trường Đại học, Cao đẳng và
trung học y tế nên đánh giá nhu cầu đào tạo
quản lý điều dưỡng của các đơn vị khám
chữa bệnh trên địa bàn để tổ chức nhiều
khóa đào tạo quản lý cho điều dưỡng của
địa phương.
5.5. Bản thân mỗi Điều dưỡng trưởng
cần xác định vai trò và trách nhiệm của
mình ở vị trí quản lý, lãnh đạo điều
dưỡng để tự rèn luyện, nâng cao trình độ
chuyên môn cũng như trình độ quản lý
chuyên ngành.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hội Điều dưỡng Việt Nam. Kết quả
khảo sát về nhân lực Điều dưỡng tại các cơ
sở khám chữa bệnh, 1999.
2. Hội Điều dưỡng Việt Nam. Kết quả
khảo sát về nhân lực Điều dưỡng trưởng
năm 2007.
3. Kết quả khảo sát nhanh về nhân lực
điều dưỡng của Cục QLKCB.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
15
ĐÁNH GIÁ CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐIỀU DƯỠNG
THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 2004-2009
Nhóm nghiên cứu: TS. Trần Quang Huy
1
, ThS. Phạm Đức
Mục
1
, ThS. Nguyễn Bích Lưu
1
, ThS. Vũ Hồng Ngọc
1
, CN.
Đinh Thị Thúy Hà
1
, CN. Hà Thị Kim Phượng
1
, CN. Nguyễn
Thị Hồng Anh
2
, ThS. Phạm Thu Hà
3
, CN. Phan Cảnh
Chương
4
, ThS. Thái Thị Kim Nga
5
, CN. Nguyễn Thị Thúy
6
1. Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; 2. Văn phòng Trung ương Hội
Điều dưỡng Việt Nam; 3. Bệnh viện Nhi Trung ương; 4. Bệnh
viện Trung ương Huế; 5. Bệnh viện Chợ Rẫy; 6. Bệnh viện Việt
Nam-Thụy Điển Uông Bí
TÓM TẮT
Nghiên cứu hồi cứu mô tả được tiến
hành năm 2010 để đánh giá 170 đề tài
nghiên cứu khoa học điều dưỡng thực hiện
trong giai đoạn 2004-2009. Đánh giá dựa
trên 10 tiêu chí và thang điểm do nhóm
nghiên cứu xây dựng với số điểm tối đa là
68, điểm các đề tài được phân 5 loại: Xuất
sắc, giỏi, khá, đạt yêu cầu và đạt yêu cầu
nhưng còn hạn chế. Kết quả: Số điểm trung
bình của các đề tài là 44,5 (đạt 65% điểm
tối đa). 42,4% số đề tài được xếp từ loại
khá trở lên, 34,7% số đề tài đạt yêu cầu
nhưng còn một số mặt hạn chế. Số đề tài có
tính cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn chiếm
52,9% và 40%, tuy nhiên số đề tài có giá
trị khoa học chỉ chiếm 14,7%. Không có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa xếp loại
đề tài với một số biến số quan tâm như cấp
độ của đề tài, phân tuyến của cơ quan chủ
trì đề tài và học vị của tác giả thứ nhất. Đề
tài do cơ quan chủ trì thuộc tuyến Trung
ương chiếm 48,8%, trong khi tuyến huyện chỉ
chiếm 4,7%. Đề tài cấp cơ sở chiếm 81,1%.
Đề tài thuộc chuyên ngành Điều dưỡng
chiếm 78,8%. Lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu
là thực hành (51,2%), rất ít các đề tài
thuộc lĩnh vực đào tạo (2,9%). Thiết kế
nghiên cứu của các đề tải chủ yếu là
nghiên cứu mô tả (66,5%) với phương pháp
thu thập số liệu là phỏng vấn cấu trúc hoặc
quan sát dùng bảng kiểm (73,6%), cũng có
một số ít đề tài sử dụng phương pháp thảo
luận nhóm hoặc phỏng vấn sâu. Đa số các
báo cáo đề tài chưa nêu cách chọn mẫu,
phương pháp khống chế sai số, phương
pháp phân tích số liệu và khía cạnh đạo
đức trong nghiên cứu. Phần bàn luận của
các báo cáo thường là sơ sài, có một số
báo cáo không có phần bàn luận. Nhiều
tiêu chí trong trình bày kết quả, bàn luận
và kết luận của các đề tài chưa đạt yêu
cầu hoặc chưa được đề cập trong báo cáo.
Các báo cáo chủ yếu là liệt kê tài liệu
tham khảo chứ chưa được trích dẫn theo
quy định. Kết luận: (i) Nghiên cứu khoa
học trong lĩnh vực điều dưỡng đã có
nhiều tiến bộ cả về lượng và chất; (ii)
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
16
Một số đề tài có chất lượng tốt, có tính khoa học và thực tiễn cao và có ý nghĩa
đối với công tác thực hành, phát triển
nghề điều dưỡng; (iii) Còn một số hạn chế
nhất định của các đề tài đó là: phân bổ
lĩnh vực nghiên cứu chưa đồng đều; ít đề
tài được thực hiện ở tuyến huyện; ít hộ
sinh viên và kỹ thuật viên tham gia nghiên
cứu khoa học; các đề tài chủ yếu là nghiên
cứu mô tả; một số nội dung của báo cáo
đề tài chưa đạt yêu cầu theo các tiêu chí
đánh giá. Đề nghị: (i) Trung ương Hội
Điều dưỡng Việt Nam và các Tỉnh/thành
hội nên tổ chức nhiều lớp tập huấn và hội
nghị khoa học để tăng cường năng lực
nghiên cứu điều dưỡng đặc biệt là tuyến
huyện; (ii) Khuyến khích các giáo viên
điều dưỡng, các hộ sinh viên và kỹ thuật
viên thực hiện các đề tài nghiên cứu; (iii)
Các Tỉnh/thành, chi hội và hội viên nên
tham khảo kết quả nghiên cứu này làm bài
học kinh nghiệm để cải thiện chất lượng
các đề tài nghiên cứu trong thời gian tới.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều dưỡng là một nghề, là một ngành
khoa học riêng biệt (1). Theo đánh giá của
Tổ chức Y tế thế giới thì dịch vụ điều
dưỡng là một trong các trụ cột của hệ thống
dịch vụ y tế (2). Cũng như những ngành
nghề khác, để nâng cao chất lượng dịch vụ
điều dưỡng, nghiên cứu khoa học đóng một
vai trò quan trọng và không thể thiếu (3).
Thông qua nghiên cứu khoa học, chúng ta
khám phá ra những điều mới giúp cho thực
hành dựa vào bằng chứng, phát hiện và xác định
đúng vấn đề, hiểu rõ hơn về vấn đề quan tâm;
có bằng chứng về thực trạng để can thiệp
và đánh giá hiệu quả của những giải
pháp can thiệp từ đó rút kinh nghiệm
triển khai trên một phạm vi rộng hơn góp
phần cải tiến nâng cao chất lượng công
tác chăm sóc người bệnh (4,5). Hơn thế
nữa Nghiên cứu khoa học điều dưỡng
còn góp phần thể chế hóa chuyên ngành
điều dưỡng, khẳng định tính chuyên
nghiệp, tăng cường hình ảnh và vị thế
người điều dưỡng trong xã hội đồng thời
mở rộng phạm vi hợp tác với điều dưỡng
Quốc tế (6).
Kể từ khi Hội Điều dưỡng Việt Nam
được thành lập (26 tháng 10 năm 1990)
cho đến nay, công tác Điều dưỡng đã có
những tiến bộ vượt bậc trong đó có hoạt
động Nghiên cứu khoa học điều dưỡng
(7). Trước đây hoạt động nghiên cứu khoa
học đối với người điều dưỡng rất hạn chế,
nhưng đến nay chúng ta đã có nhiều điều
dưỡng trực tiếp tham gia nghiên cứu khoa
học với hàng nghìn đề tài ở các cấp khác
nhau, trong đó có nhiều đề tài được đánh
giá cao về ý nghĩa khoa học và thực tiễn…
Trung ương Hội Điều dưỡng Việt Nam đã
tổ chức nhiều lớp tập huấn về phương
pháp nghiên cứu khoa học và đã tổ chức
ba hội nghị khoa học điều dưỡng toàn
quốc (8). Nhiều tỉnh/thành hội và chi hội
điều dưỡng bệnh viện đã thường xuyên tổ
chức hội nghị khoa học như hội Điều
dưỡng Hà Nội, bệnh viện Nhi Trung ương,
bệnh viện đa khoa Trung ương Huế, và
một số cơ sở hội khác.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
17
Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu khoa
học điều dưỡng còn tồn tại một số hạn
chế: lực lượng điều dưỡng, hộ sinh và kỹ
thuật viên tham gia NCKH chưa nhiều;
năng lực nghiên cứu của điều dưỡng còn
yếu do thiếu lý luận và kinh nghiệm về
nghiên cứu khoa học. Điều này dẫn đến số
lượng đề tài NCKH còn khiêm tốn, thiếu
chặt chẽ về phương pháp nghiên cứu; Nội
dung báo cáo các đề tài nghiên cứu nhiều
khi còn sơ sài, chưa tuân thủ những quy
định trong trình bày một báo cáo khoa học;
Phổ biến chia sẻ kết quả nghiên cứu với
đồng nghiệp còn nhiều hạn chế do ít có cơ
hội được trình bày tại các hội thảo, đăng tải
trên các tạp chí, các website để tiếp cận
độc giả.
Để đánh giá thực trạng tình hình các
đề tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng
chúng thực hiện nghiên cứu: “Đánh giá
các đề tài nghiên cứu Điều dưỡng được
thực hiện tại Việt Nam giai đoạn 2004-
2009” với mục đích: Đánh giá thực trạng
các đề tài nghiên cứu khoa học Điều
dưỡng của Việt Nam được thực hiện trong
5 năm từ 2004-2009 để rút kinh nghiệm
và đưa ra những đề xuất nhằm thúc đẩy,
nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học
điều dưỡng.
Mục tiêu cụ thể của đề tài:
1) Mô tả sự phân bổ các đề tài NCKH
về: cơ quan chủ trì, lĩnh vực nghiên cứu,
tác giả nghiên cứu.
2) Đánh giá và chấm điểm nội dung
báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học theo
các tiêu chí thống nhất.
3) Đánh giá tổng quát các đề tài về:
tính cần thiết, ý nghĩa thực tiễn và xếp loại
đề tài theo số điểm mà đề tài đạt được.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀPHƯƠNGPHÁP
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4
đến tháng 9 năm 2010 bằng phương pháp
nghiên cứu là mô tả hồi cứu với đối tượng
nghiên cứu là các báo cáo đề tài nghiên
cứu khoa học của điều dưỡng.
Tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu:
(i) đề tài được thực hiện trong giai đoạn
2004 đến 2009; (ii) được đăng trong kỷ
yếu công trình NCKH của các hội nghị
khoa học điều dưỡng toàn quốc, khu vực
hoặc hội nghị chuyên ngành.
Cỡ mẫu: trong tổng số hơn 300 đề tài
nghiên cứu được đăng trong Kỷ yếu hội
nghị khoa học điều dưỡng toàn quốc lần
thứ hai và lần thứ ba (2005, 2007), Kỷ yếu
hội nghị khoa học điều dưỡng Nhi khoa
toàn quốc lần thứ nhất đến lần thứ sáu
(2005-2010) và hội nghị khoa học Điều
dưỡng khu vực miền Trung mở rộng lần
thứ nhất đến lần thứ ba (2008-2010). Áp
dụng công thức tính cỡ mẫu cho các
nghiên cứu điều tra quần thể với các dữ
kiện: cỡ quần thể, tần xuất kỳ vọng
(p = 0,5), sai số cao nhất chấp nhận được
(d = 0,05) và mức độ tin cậy là 95%. Theo
tính toán cần cỡ mẫu là 168, trên thực tế
đã tiến hành đánh giá 170 đề tài nghiên
cứu khoa học đảm bảo các tiêu chuẩn
chọn vào đánh giá.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
18
Phương pháp thu thập số liệu: Các đề
tài NCKH đảm bảo đủ tiêu chuẩn chọn
vào đánh giá được tập hợp. Nhóm nghiên
cứu thực hiện đánh giá theo các tiêu chí và
cho điểm dựa trên bảng điểm đã được
nhóm nghiên cứu xây dựng và thống nhất.
Quy trình đánh giá: mỗi phân nhóm gồm 2
thành viên của nhóm nghiên cứu đánh giá
và cho điểm độc lập một số đề tài được
phân công, sau đó ghép điểm.
Phân tích số liệu: Số liệu được nhập
và phân tích bằng phần mềm thống kê
SPSS 13.0 và Epi-Info 6.02. Các tiêu chí
(biến số) đánh giá đề tài được tính tần
xuất, tỷ lệ. Xếp loại đề tài được phân tích
tìm mối liên quan với một số tính chất cơ
bản của đề tài (cơ quan chủ trì, cấp độ đề
tài, trình độ của tác giả thứ nhất của đề tài)
và được kiểm định bằng test χ² với p≤
0,05 là có ý nghĩa thống kê.
Kỹ thuật khống chế sai số: Các tiêu
chí và thang điểm đánh giá được nhóm
nghiên cứu xây dựng và thống nhất sau đó
đánh giá thử và hoàn thiện. Cán bộ tham
gia đánh giá được tập huấn trước khi tiến
hành đánh giá.
Khía cạnh đạo đức của đề tài: Đề tài
nghiên cứu này không thực hiện trên đối
tượng nghiên cứu là con người nên không
có nguy cơ gây tổn thương, không làm ảnh
hưởng đến lợi ích của đối tượng nghiên
cứu. Tất cả các số liệu thu thập
được chỉ sử dụng vào mục đích khoa học,
các thông tin liên quan đến cá nhân các tác
giả của đề tài nghiên cứu được bảo mật.
3. KẾT QUẢ
3.1 Đặc điểm chung của các đề tài
3.1.1 Phân tuyến của cơ quan chủ trì
và cấp độ của đề tài
Trong tổng số 170 đề tài được chọn
vào đánh giá, các đề tài do các cơ sở thuộc
tuyến Trung ương và tuyến tỉnh chủ trì
chiếm tỷ lệ là 48,8% và 38,8%, số còn lại
là các đề tài có cơ quan chủ trì thuộc
tuyến huyện hoặc các cơ sở y tế ngành
(biểu đồ 1).
48.8
38.8
4.7
7.7
0
10
20
30
40
50
60
Trung ương Tỉnh Huyện Y tế ngành
Biểu đồ 1. Phân bổ đề tài theo tuyến
của cơ quan chủ trì
Đánh giá theo cấp độ đề tài cho thấy
có 138 đề tài (81,1%) thuộc cấp cơ sở, 32
đề tài (18,9%) thuộc cấp Bộ hoặc Tỉnh
(biểu đồ 2).
18.9
81.1
Cấp Bộ/Tỉnh
Cấp cơ sở
Biểu đồ 2. Phân bổ theo cấp độ
của đề tài
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
19
3.1.2 Một số đặc điểm của các đề tài
nghiên cứu
Số liệu ở bảng 1 cho thấy phần lớn các
đề tài nghiên cứu được thực hiện thuộc
chuyên ngành Điều dưỡng (78,7%), trong
khi các đề tài thuộc chuyên ngành Hộ sinh
và Cận lâm sàng chỉ chiếm một tỷ lệ rất
nhỏ (2,4% và 1,8%), số còn lại thuộc các
chuyên ngành khác như Phục hồi chức
năng, Gây mê hồi sức...(chiếm 17,1%).
Lĩnh vực nghiên cứu của các đề
tài chủ yếu thuộc về thực hành điều
dưỡng, hộ sinh hoặc xét nghiệm (51,2%),
tiếp theo là truyền thông-giáo dục sức
khỏe (10,6%), quản lý và kiểm soát nhiễm
khuẩn (8,8% và 7,0%). Có rất ít các đề tài
thuộc lĩnh vực đào tạo và đánh giá sự hài
lòng của nhân viên (2,9% và 1,8%). Các
đề tài chủ yếu thuộc nghiên cứu định
lượng (61,8%), 14,7% đề tài kết hợp cả
định lượng và định tính. Số đề tài nghiên
cứu định tính chiếm 20,0%.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu
được sử dụng là phương pháp mô tả
(66,5%). 12,9% số đề tài sử dụng
phương pháp can thiệp, số còn lại sử
dụng các phương pháp phân tích, thăm
dò hoặc can thiệp.
Bảng 1. Các đặc điểm chính của các đề tài nghiên cứu
TT Các đặc điểm
Số lượng
(n=170)
Tỷ lệ (%)
Điều dưỡng 134 78,7
Hộ sinh 4 2,4
Cận lâm sàng 3 1,8
1 Chuyên ngành
nghiên cứu
Khác 29 17,1
Thực hành ĐD/HS/XN 87 51,1
Truyền thông, GDSK 18 10,6
Quản lý 15 8,8
Kiểm soát nhiễm khuẩn 12 7,0
Hài lòng người bệnh 8 4,7
Đào tạo 5 2,9
Hài lòng nhân viên 3 1,8
2 Lĩnh vực nghiên cứu
Khác 22 12,9
Định lượng 105 61,8
Định tính 34 20,0
Kết hợp 25 14,7
3
Loại nghiên cứu
Không có số liệu* 6 3,5
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
20
Mô tả 113 66,5
Phân tích 4 2,3
Can thiệp 22 12,9
Khác 27 15,9
4
Phương pháp
nghiên cứu
Không có số liệu* 4 2,4
Phỏng vấn cấu trúc 36 21,2
Bộ câu hỏi tự điền 71 41,8
Quan sát 18 10,6
Thảo luận nhóm 3 1,8
Phỏng vấn sâu 10 5,9
Khác 22 12,8
5
Phương pháp thu
thập thông tin
Không xác định 10 5,9
3.1.3 Đặc điểm cá nhân của tác giả
thứ nhất của các đề tài
Kết quả đánh giá cho thấy 71,2% tác
giả thứ nhất là nữ. Nam giới chiếm tỷ lệ
25,9%. Một số ít (2,9%) đề tài không xác
định được giới tính của tác giả thứ nhất.
Số liệu bảng 2 cho thấy Điều dưỡng
viên tham gia làm nghiên cứu là chủ yếu
(58,2%). Tỷ lệ hộ sinh và kỹ thuật viên
tham gia nghiên cứu là không đáng kể.
Cũng có một số ít bác sĩ tham gia làm
nghiên cứu về điều dưỡng (1,2%). Tuy
nhiên có nhiều trường hợp không xác
định được chức danh của tác giả (36,5%)
vì không được ghi trong báo cáo.
Tác giả các đề tài có trình độ từ đại
học/cao đẳng trở lên chiếm 32,3%, số tác
giả có trình độ trung cấp rất ít (2,4%), tuy
nhiên có tới 58,8% các trường hợp không
xác định được trình độ của tác giả vì
không được ghi trong báo cáo đề tài.
Bảng 2. Một số thông tin cá nhân của tác giả thứ nhất
TT Tiêu chí đánh giá
Số lượng
(n=170)
Tỷ lệ (%)
Điều dưỡng 99 58,2
Hộ sinh 2 1,2
KTV Y 5 2,9
Bác sĩ 2 1,2
1 Chức danh
Không xác định 62 36,5
Sau đại học 11 6,5
Đại học/cao đẳng 55 32,3
Trung học 4 2,4
2 Học vị
Không xác định 100 58,8
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
21
3.2 Cấu trúc nội dung của các đề tài
Số liệu ở bảng 3 cho thấy 60% các
báo cáo đề tài không có phần tóm tắt,
một số ít các báo cáo không có phần bàn
luận hoặc kết luận. Chỉ có 81,2% số báo
cáo có tài liệu tham khảo, trong đó chủ
yếu là có dưới 5 tài liệu tham khảo và chỉ
có 32,4% số báo cáo có trích dẫn tài liệu
tham khảo theo quy định, số còn lại chỉ
liệt kê danh sách các tài liệu tham khảo.
Tỷ lệ các báo cáo đề tài có nêu và
mô tả phương pháp phân tích số liệu,
biện pháp khống chế sai số là khá thấp
(28,2% và 8,8%). Chỉ có 16,5% số báo
cáo có đề cập đến vấn đề đạo đức trong
nghiên cứu.
Phần lớn số báo cáo đề tài đã trình
bày kết quả theo mục tiêu nghiên cứu,
kết quả được trình bày rõ ràng và có kết
hợp biểu, bảng và hình ảnh để trình bày,
minh họa kết quả.
Phần bàn luận kết quả trong báo cáo
đề tài có nhấn mạnh kết quả quan trọng
của nghiên cứu và bàn luận về những kết
quả đó chiếm tỷ lệ là 51,2%. Có ít báo
cáo có so sánh kết quả với kết quả của
các nghiên cứu khác (14,1%) và có bàn
luận về phương pháp nghiên cứu
(22,4%).
Có 58,2 số báo cáo đề tài có kết luận
phù hợp với kết quả nghiên cứu và
41,8% số báo cáo có đề nghị hợp lý dựa
trên kết quả và mục tiêu nghiên cứu.
Bảng 3. Kết quả các tiêu chí chính đánh giá đề tài
TT Các tiêu chí đánh giá
Số lượng
(n=170)
Tỷ lệ
(%)
Tóm tắt 68 40,0
Giới thiệu 170 100
Phương pháp 170 100
Kết quả 170 100
Bàn luận 159 93,5
Kết luận 162 95,3
Đề nghị 130 76,5
1 Cấu trúc báo cáo
Tài liệu tham khảo 138 81,2
Đạt yêu cầu 92 54,1
Đạt nhưng còn hạn chế 72 42,4 2
Mục đích/mục tiêu
(theo các tiêu chí
đánh giá mục tiêu)
Không đạt 5 2,9
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
22
TT Các tiêu chí đánh giá
Số lượng
(n=170)
Tỷ lệ
(%)
Đạt yêu cầu 55 32,4
Đạt nhưng có hạn chế 49 28,8 3
Cỡ mẫu và chọn
mẫu
Không đạt 66 38,8
Đạt yêu cầu 48 28,2
Đạt nhưng còn hạn chế 80 47,1 4
Phương pháp phân
tích số liệu
Không đạt 41 24,1
Đạt yêu cầu 15 8,8
Đạt nhưng còn hạn chế 37 21,8 5
Biện pháp khống
chế sai số
Không đạt 118 69,4
Đạt yêu cầu 28 16,5
Đạt nhưng còn hạn chế 15 8,8 6
Nêu vấn đề đạo đức
trong nghiên cứu
Không nêu 127 74,7
Theo mục tiêu 110 64,7
Trình bày rõ ràng 117 68,8 7 Trình bày kết quả
Kết hợp biểu, bảng 103 60,6
Nhấn mạnh kết quả quan trọng và
phân tích những kết quả đó
87 51,2
So sánh với kết quả nghiên cứu
khác và phân tích
24 14,1 8
Bàn luận kết quả
Bàn luận phương pháp 38 22,4
Kết luận phù hợp với kết quả 99 58,2
9
Kết luận và khuyến
cáo
Đề nghị phù hợp với kết quả và
mục tiêu
71 41,8
3.3 Đánh giá chung về chất lượng của các đề tài
Kết quả đánh giá (bảng 4) cho thấy số
đề tài có tính cấp thiết và có ý nghĩa thực
tiễn chiếm 52,9% và 40%, số đề tài có giá
trị khoa học còn thấp (14,7%).
57,1% số báo cáo đề tài có đề mục rõ
ràng, thống nhất và gần 70% số báo cáo
đề tài có văn phong lưu loát, ngắn gọn,
dễ hiểu.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
23
Bảng 4. Đánh giá tổng quát chất lượng đề tài
TT Các tiêu chí đánh giá
Số lượng
(n=170)
Tỷ lệ
(%)
Sự cần thiết của nghiên cứu 90 52,9
Có đóng góp cho công tác chăm
sóc điều dưỡng và phát triển
ngành Điều dưỡng
68 40,0
1 Đáng giá
tổng quát
Tính khoa học 25 14,7
Các đề mục rõ ràng, thống nhất 97 57,1
2
Tổng quan
báo cáo Văn phong của báo cáo lưu loát,
đúng ngữ pháp, ngắn gọn, dễ
hiểu
117 68,8
3.4 Xếp loại đề tài
Với số điểm tối đa mà một báo cáo đề tài có thể đạt được là 68 điểm và được chia
thành 5 loại: Xuất sắc (≥ 90% số điểm); Tốt (từ 80-89% số điểm); Khá (từ 70-79% số
điểm); Đạt yêu cầu (từ 60-69% số điểm); Đạt yêu cầu nhưng còn hạn chế (< 60% số
điểm). Kết quả đánh giá cho thấy điểm trung bình của các đề tài là 44,5 = 65,5% số điểm
cao nhất có thể đạt được, [phạm vi khoảng: (22-64), điểm phổ biến (mode) là 40]. Kết quả
xếp loại các báo cáo đề tài được thể hiện ở biều đồ 3.
4.1
12.4
25.9
22.9
34.7
Xuất sắc
Tốt
Khá
Đạt
Còn hạn chế
Biểu đồ 2. Xếp loại các báo cáo đề tài theo số điểm đạt
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
24
3.5 Liên quan giữa xếp loại đề tài và một số biến số quan tâm
Kết quả bảng 5 cho thấy tỷ lệ các đề tài xếp loại khá trở lên có cơ quan chủ trì thuộc
tuyến trung ương thấp hơn so với tuyến địa phương và ngành. Các đề tài cấp tỉnh hoặc cấp
bộ có tỷ lệ xếp loại khá trở lên cao hơn so với đề tài ở cấp cơ sở. Đề tài có tác giả thứ nhất
có học vị cao đẳng trở lên được xếp loại khá trở lên nhiều hơn so với đối tượng trung học
và không xác định. Tuy nhiên tất cả những sự khác biệt này đều không có ý nghĩa thống
kê với p > 0,05.
Bảng 5. Mối liên quan của một số yếu tố: cơ quan chủ trì,
cấp độ đề tài và học vị của tác giả thứ nhất với xếp loại đề tài
Xếp loại đề tài
Khá + Đạt TT Biến số quan tâm
n % n %
Giá trị p
Trung ương 30 36,0 53 64,0
1 Cơ quan chủ trì
Địa phương + ngành 34 39,1 53 60,9
>0,05
Bộ/tỉnh 10 31,2 22 68,8
2 Cấp đề tài
Cở sở 54 39,1 84 60,9
>0,05
Cao đẳng + 26 39,4 40 60,6
3
Học vị tác giả
thứ nhất
Trung học và không
xác định
38 36,5 66 63,5
>0,05
4. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy: chưa
có đề tài nào cấp Nhà nước trong số 170
đề tài được chọn vào đánh giá nhưng
cũng đã có tới gần 20% số đề tài thuộc
cấp bộ và tỉnh, đây là điều rất đáng khích
lệ. Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ ra sự
phân bổ không đều các đề tài NCKH
theo tuyến của cơ quan chủ trì đề tài.
Phần lớn các đề tài được thực hiện ở các
cơ sở thuộc tuyến Trung ương và tuyến
tỉnh. So với tổng số các bệnh viện trong
cả nước thì các bệnh viện tuyến Trung ương
chỉ chiếm khoảng 5% (9), nhưng các đề tài
NCKH được thực hiện ở tuyến này chiếm
tới gần 50%. Mặc dù trong cả nước có tới
hơn 600 bệnh viện tuyến huyện (9) nhưng
số đề tài được thực hiện ở tuyến huyện là
rất ít. Đặc biệt không có đề tài nào do các
cơ sở y tế tuyến xã thực hiện. Điều này
cũng phản ánh một thực trạng chung đó là
cán bộ y tế ở tuyến dưới nói chung, điều
dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên nói riêng ít
tham gia nghiên cứu khoa học. Thực tế này
có thể do nhiều nguyên nhân như môi
trường làm việc thiếu động lực phấn đấu
trong khi năng lực thực hiện nghiên cứu
của điều dưỡng ở tuyến dưới còn hạn chế.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
25
Đánh giá này cũng cho thấy phần lớn
các đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành
Điều dưỡng, trong khi các đề tài thuộc
chuyên ngành hộ sinh, cận lâm sàng và do
tác giả thứ nhất là hộ sinh hoặc kỹ thuật
viên thực hiện chiếm một tỷ lệ không đáng
kể, điều này là không tương xứng với phạm
vi, mức độ công việc cũng như tỷ lệ phân
bổ của các đối tượng này so với tổng số
nhân lực thuộc khối điều dưỡng, hộ sinh và
kỹ thuật viên trong hệ thống y tế (9).
Cũng như bất kỳ một ngành nghề nào
khác, đào tạo đóng một vai trò quan trọng,
để nâng cao chất lượng trong đào tạo điều
dưỡng rất cần có những nghiên cứu về lĩnh
vực này. Qua nghiên cứu của chúng tôi, số
đề tài thuộc lĩnh vực đào tạo chiếm một tỷ
lệ còn rất ít (2,9%). Điều này chứng tỏ
nghiên cứu về đào tạo trong điều dưỡng
chưa được chú trọng. Ít đề tài NCKH
thuộc lĩnh vực đào tạo chắc chắn sẽ không
thể cung cấp được các số liệu thực chứng
cần tìm hiểu như vậy sẽ ảnh hưởng đến
công tác quản lý, nâng cao chất lượng
cũng như quy hoạch trong lĩnh vực này.
Số liệu này cũng thể hiện sự bất tương
xứng so với tiềm năng thực hiện nghiên
cứu khoa học của đội ngũ giáo viên điều
dưỡng. Phải chăng hiện nay hầu hết các
giáo viên dạy điều dưỡng còn là các bác sĩ
nên họ chưa thật sự quan tâm đến nghiên
cứu điều dưỡng?
Kết quả đánh giá chi tiết nội
dung các đề tài thể hiện những điều
còn hạn chế trong thực hành nghiên cứu.
Mục tiêu của nhiều đề tài chưa được viết
theo đúng tiêu chí, nhiều mục tiêu nghiên
cứu không cụ thể. Phần lớn các tác giả sử
dụng thiết kế nghiên cứu mô tả với phương
pháp thu thập số liệu là phỏng vấn trực tiếp
hoặc tự điền bộ câu hỏi cấu trúc hoặc quan
sát dựa trên bảng kiểm. Đây là phương
pháp thu thập thông tin có độ tin cậy và
chính xác không cao (10-12). Với những
phương pháp này nhiều khi số liệu thu thập
được không phản ánh đúng thực trạng tình
hình nghiên cứu vì khi có mặt nghiên cứu
viên quan sát một hành vi hoặc thao tác kỹ
thuật thì người bị quan sát sẽ cố gắng thể
hiện hành vi hoặc thực hiện các bước thao
tác kỹ thuật một cách chuẩn mực nhất (13).
Tuy nhiên cũng đã có một số đề tài đã sử
dụng phương pháp tiếp cận định tính như
dùng phương pháp thảo luận nhóm hoặc
phỏng vấn sâu để thu thập số liệu. Đây là
điều rất đáng khích lệ nhất là trong nghiên
cứu điều dưỡng vì những phương pháp này
cho phép nghiên cứu viên tìm hiểu chi tiết
và giải thích thấu đáo hơn vấn đề được
nghiên cứu. Vì vậy những phương pháp
này được sử dụng nhiều trong nghiên cứu
điều dưỡng (14).
Nghiên cứu này còn bộc lộ một số yếu
điểm khác của các báo cáo NCKH điều
dưỡng trong phương pháp nghiên cứu: không
mô tả phương pháp chọn mẫu, phương pháp
khống chế sai số và phân tích số liệu. Đặc
biệt có rất ít đề tài đề cập đến khía cạnh đạo
đức trong nghiên cứu, tuy nghiên cứu đó không
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
26
phải là những nghiên cứu can thiệp hay thử
nghiệm lâm sàng nhưng đối tượng tham gia
nghiên cứu có quyền được thông báo và tự
nguyện tham gia. Trình bày kết quả và bàn
luận cũng còn những hạn chế, một số báo
cáo vừa dùng bảng vừa dùng biểu đồ để
trình bày cùng một số liệu kết quả hoặc sử
dụng quá nhiều bảng và biểu đồ. Một số
báo cáo không có phần bàn luận hoặc phần
bàn luận được viết rất sơ sài, chưa tuân thủ
những khuôn mẫu quy định. Chủ yếu các
báo cáo liệt kê tài liệu tham khảo chứ
không trích dẫn theo quy định, thậm chí
một số báo cáo không có tài liệu tham
khảo. Bên cạnh đó một số báo cáo có
những kết luận không bám sát kết quả và
nhiều kiến nghị mang tính chủ quan của
người nghiên cứu.
Đánh giá chung chất lượng đề tài cho
thấy số đề tài đạt loại khá trở lên chiếm tỷ
lệ khá cao (42,4%) đây là một kết quả rất
đáng khích lệ. Tuy nhiên bên cạnh một số
đề tài đạt kết quả xuất sắc, hoặc tốt (đạt từ
80% số điểm chuẩn tối đa trở lên) cũng còn
một số đề tài có số điểm đạt còn thấp cho
thấy chất lượng thực hiện nghiên cứu chưa
đồng đều. Điều này cũng phù hợp với kết
quả đánh giá số đề tài có tính khoa học
chưa cao trong nghiên cứu này.
Đây là một nghiên cứu hồi cứu với sự
tham gia đánh giá của 11 nghiên cứu viên.
Bảng đánh giá đề tài đã được các nghiên
cứu viên thảo luận, thống nhất
và được đánh giá thử trước khi hoàn thiện
và chính thức sử dụng. Nhóm nghiên cứu
cũng đã cố gắng hạn chế các sai số như tập
huấn đánh giá, phân công hai người cùng
đánh giá một số đề tài để tăng tính thống
nhất. Tuy nhiên nghiên cứu này cũng còn
một số hạn chế đó là: (i) Số người tham gia
đánh giá nhiều dễ dẫn đến sai số trong đánh
giá giữa những người đánh giá; (ii) Kết quả
đánh giá có thể bị tác động bởi một số yếu
tố chủ quan như: người đánh giá có học vị
cao có thể thường khắt khe hơn khi nhận
xét một đề tài nghiên cứu khoa học nên có
thể dẫn đến đánh giá đề tài thấp hơn, cho
điểm thấp hơn. (iii) Vì điều kiện thời gian
có hạn nên nhóm nghiên cứu chưa thực
hiện đánh giá ngẫu nhiên lại một tỷ lệ nhất
định các đề tài đã được đánh giá để xác
định tính chính xác của kết quả đánh giá.
5. KẾT LUẬN
Với kết quả thu được từ đánh giá 170
đề tài NCKH điều dưỡng được thực hiện
trong giai đoạn 2004-2009 trên phạm vi
toàn quốc, nhóm nghiên cứu rút ra một số
kết luận sau: (i) Nghiên cứu khoa
học trong lĩnh vực điều dưỡng đã
có nhiều tiến bộ cả về lượng và chất; các
đề tài nghiên cứu đa dạng, phong phú;
Một số đề tài có chất lượng tốt, có tính
khoa học và có ý nghĩa đối với công tác
thực hành và phát triển nghề điều dưỡng;
(ii) Tuy nhiên các đề tài cũng còn một số
hạn chế nhất định: ít đề tài được thực hiện
ở tuyến huyện; phân bổ lĩnh vực nghiên
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
27
cứu chưa đồng đều; số hộ sinh viên và kỹ
thuật viên tham gia làm nghiên cứu khoa
học chưa nhiều; các đề tài chủ yếu là
nghiên cứu mô tả; một số nội dung của báo
cáo đề tài chưa đạt yêu cầu theo các tiêu
chí đánh giá. Đây là những yếu điểm cần
khắc phục thông qua tăng cường đào tạo về
nghiên cứu khoa học và tổ chức hội thảo
khoa học chia sẻ kinh nghiệm để nâng cao
năng lực nghiên cứu và kỹ năng viết báo
cáo khoa học cho điều dưỡng viên, hộ sinh
viên và kỹ thuật viên.
6. ĐỀ NGHỊ
Dựa trên kết quả nghiên cứu này, nhóm
nghiên cứu đề nghị: (i) Trung ương Hội
Điều dưỡng Việt Nam và các Tỉnh/thành
hội cần tổ chức nhiều lớp tập huấn và hội
nghị khoa học để tăng cường năng lực
nghiên cứu điều dưỡng đặc biệt là tuyến
huyện; (ii) Khuyến khích các giáo viên
điều dưỡng, các hộ sinh viên và kỹ thuật
viên thực hiện các đề tài nghiên cứu; (iii)
Các Tỉnh/thành, chi hội và hội viên nên
tham khảo kết quả nghiên cứu này làm bài
học kinh nghiệm để cải thiện chất lượng
các đề tài nghiên cứu trong thời gian tới.
Lời cám ơn: Nhóm nghiên cứu xin bày
tỏ lòng biết ơn chân thành tới Trung ương
Hội Điều dưỡng Việt Nam, Hội Điều dưỡng
Canada đã nhiệt tình hỗ trợ để thực hiện
nghiên cứu này.
7. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Potter P.A & Perry A.G. 5
th
Ed.
(2005), Fundamentals of Nursing. Mosby
Publisher.
2. WHO annual report 2002. Geneva:
World Health Organization.
3. Ph¹m §øc Môc (2005), Ph- ¬ng
ph¸p nghiªn cøu §iÒu d- ìng-Nhµ xuÊt b¶n
Y häc, Hà Nội.
4. Polit D.F & Hungler B.P. 5
th
Ed.
(1995). Nursing research. Principles and
methods. Philadelphia: J.B. Lipponcott
Company.
5. Flemming, K. (1998). Asking
answerable questions. Evidence Based
Nursing; 1: 36-37.
6. Mulhall, A (1998). Nursing,
research, and the evidence. Evidence Based
Nursing; 1: 4-6.
7. Báo cáo tổng kết của ban chấp hành
Trung ương Hội Điều dưỡng Việt Nam tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, năm
2007.
8. Dự thảo chiến lược quốc gia công tác
điều dưỡng, hộ sinh 2011-2015 và tầm nhìn
2020 (Hội Điều dưỡng Việt Nam).
9. Niên giám thống kê y tế 2008, Bộ Y
tế.
10. Pope, C. (1995). Qualitative
Research: Reaching the parts other
methods cannot reach: an introduction to
qualitative methods in health and health
services research. BMJ; 311: 42-45.
11. Berg B. (2001). "Qualitative
research methods for social sciences".
Boston: Allyn & Bacon.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
28
12. Patton, M. 2
nd
Ed (1990).
Qualitative evaluation and research
methods. London: SAGE Publication.
13. Dahlgren L. and A. Winkvist
(2004). "Qualitative methodology for
International Public Health" Umea
International School of Public Health,
Epidemeology of Public Health Science,
Department of Public Health and Clinical
Medicine, Umea University.
14. Morse J. and Field P. 2
nd
Ed.
(1984). "Nursing research: the application
of qualitative approaches". London:
Chapman and Hall.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
29
ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG
TRONG BỆNH VIỆN CÔNG LẬP NGÀNH Y TẾ NGHỆ AN NĂM 2009
CN. Lê Thị Hồng Sơn
Sở Y tế Nghệ An
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Công tác điều dưỡng là hoạt động quan
trọng trong công tác chăm sóc sức khoẻ cho
người bệnh tại bệnh viện và chăm sóc sức
khoẻ trong cộng đồng. Đội ngũ Điều dưỡng
đa khoa (ĐD)-Điều dưỡng phụ sản (HS) có
mặt ở mọi lĩnh vực của hệ thống chăm sóc
sức khoẻ và còn là trụ cột chính của hệ thống
cung cấp dịch vụ y tế. Tổ chức y tế thế giới
đã khuyến cáo: “Ở bất kỳ quốc gia nào,
muốn nâng cao chất lượng chăm sóc sức
khoẻ thì phải chú ý công tác điều dưỡng” và
xem “Điều dưỡng là một nghề, một mắt xích
quan trọng và là phần nửa của công tác chăm
sóc sức khoẻ”. Mục tiêu của Bộ Y tế đến
năm 2010 là đảm bảo cho người bệnh được
chăm sóc toàn diện tại các cơ sở y tế, mở
rộng dịch vụ chăm sóc đến các gia đình và
cộng đồng, chất lượng chăm sóc phải đạt
ngang tầm với các nước trong khu vực và
từng bước hội nhập với các nước trên thế
giới
[1]
. Để đáp ứng nhu cầu đó, cần chú ý
phát triển nguồn nhân lực ĐD-HS về cả số
lượng và chất lượng.
Trước sự khủng hoảng về thiếu nguồn
nhân lực ĐD-HS trên toàn thế giới, Hội đồng
Y tế thế giới đã ra nghị quyết số 54.12 ngày
21/5/2001 về chiến lược tăng cường dịch vụ
Tại Việt Nam ngày 3/5/2002 Bộ y tế đã
có Quyết định số 1613/2002/QĐ-BYT phê
duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về tăng
cường công tác điều dưỡng- Hộ sinh”
[2]
.
Trong đó có đánh giá nguồn nhân lực và đưa
ra các chỉ tiêu phát triển nguồn nhân lực ĐD-
HS. Hội Điều dưỡng Việt Nam đã có nhiều
nghiên cứu về nguồn nhân lực Điều dưỡng
trong toàn quốc
[4]
.
Mặt khác để tăng cường chất lượng
dịch vụ chăm sóc người bệnh, quản lý
nguồn nhân lực của bệnh viện và nâng cao
trình độ cho đội ngũ điều dưỡng viên, ngày
14/7/1990 Bộ Y tế đã có quyết định số:
570/BYT-QĐ về việc thành lập phòng điều
dưỡng trong các bệnh viện
[2]
, ngày
19/9/1997 bộ Y tế đã có quyết định số:
1895/1997/BYT-QĐ về ban hành Quy chế
Bệnh viện. Điều dưỡng trưởng các cấp hiện
nay đã trở thành nguồn cán bộ chủ chốt
trong các cơ sở y tế.
Tại Nghệ An, Sở Y tế đã xây dựng đề
án phát triển công tác điều dưỡng giai
đoạn 2001-2005. Hội nghị khoa học Điều
dưỡng Nghệ An lần thứ nhất năm 2006 đã
có 2 đề tài nghiên cứu về nguồn nhân lực
Điều dưỡng và Thực trạng Điều dưỡng
trưởng[3] nhưng cho đến nay, so với kế
hoạch hành động quốc gia về tăng cường
công tác Điều dưỡng-Hộ sinh mà Bộ Y tế
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
30
ĐD -HS toàn cầu
[1]
. đề ra còn ở mức khiêm tốn.
Đa số các bệnh viện đã có quyết định thành
lập phòng điều dưỡng nhưng số phòng
Điều dưỡng hoạt động độc lập thực hiện
đầy đủ chức năng nhiệm vụ theo quy chế
bệnh viện rất ít, phần lớn đang hoạt động
như tổ Điều dưỡng.
Mặc dù Ngành Điều dưỡng Nghệ An đã
có những cố gắng đáng khích lệ nhưng thực
tế số lượng và chất lượng nguồn nhân lực
Điều dưỡng chưa đáp ứng được nhu cầu, vai
trò khả năng thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của một số Điều dưỡng trưởng còn hạn chế
đặc biệt là năng lực điều hành, quản lý và
nghiên cứu khoa học.
Thực hiện chủ trương của ngành y tế
tỉnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Điều
tra thực trạng hệ thống và năng lực nguồn
nhân lực điều dưỡng trong bệnh viện công
lập ngành y tế Nghệ An năm 2009” nhằm
mục tiêu:
1. Mô tả tổ chức mạng lưới phòng Điều
dưỡng tại các bệnh viện công lập ngành y
tế tỉnh.
2. Mô tả thực trạng và nguồn nhân lực
Điều dưỡng-Hộ sinh-Kỹ thuật viên trong các
bệnh viện công lập ngành y tế tỉnh.
3. Đề xuất các giải pháp nhằm củng cố
hệ thống và nâng cao năng lực cho đội ngũ
điều dưỡng.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Điều dưỡng, hộ sinh tại 26 bệnh viện
công lập của tỉnh Nghệ An.
- Phòng điều dưỡng, Điều dưỡng
trưởng bệnh viện, Điều dưỡng trưởng khoa
26 Bệnh viện công lập của tỉnh Nghệ An.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả
cắt ngang.
2.3. Phương pháp thu thập số liệu:
Phiếu điều tra gửi về các Bệnh viện công lập
trực thuộc Sở Y tế qua đường bưu điện.
2.4. Công cụ thu thập số liệu: 02 bộ
phiếu điều tra:
- Nguồn nhân lực Điều dưỡng- Hộ sinh
trong các bệnh viện.
- Phòng, tổ Điều dưỡng, Điều dưỡng
trưởng các bệnh viện.
2.5. Thời gian: Từ tháng 1÷7/2009
2.6. Xử lý số liệu: Bằng bảng tính Exel.
3. KẾT QUẢ
3.1.Tổ chức mạng lưới phòng Điều dưỡng
Bảng 1: Hệ thống tổ chức Phòng Điều dưỡng/ĐDT bệnh viện
Tổ chức
Số lượng
(n =26)
Tỷ lệ (%)
Có phòng Điều dưỡng 18 69,2
Chỉ có 1 ĐDT trong phòng KHTH 7 27
Chưa có quyết định ĐDT 1 3,8
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
31
Tổng 26 100
Nhận xét: Số bệnh viện có phòng điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao (69,2%), còn 27% bệnh
viện chỉ có Điều dưỡng trưởng bệnh viện, vẫn còn 1 bệnh viện chưa có hệ thống điều
dưỡng trưởng (3,8%).
Bảng 2: Hoạt động của phòng Điều dưỡng.
Nội dung Số lượng Tỷ lệ %
Phòng ĐD hoạt động theo Quy chế BV 6 33,3
Phòng ĐD hoạt động như tổ ĐD 12 66,7
Tổng 18 100
Nhận xét: Chỉ có 33,3% số phòng Điều dưỡng hoạt động độc lập theo đúng chức năng
nhiệm vụ, số còn lại hoạt động như tổ điều dưỡng (66,7%).
Bảng 3. Bệnh viện đã có phụ cấp trách nhiệm cho phòng/ĐDT
Hưởng phụ cấp chức vụ Số lượng Tỷ lệ (%)
- Có 39 57,3
- không 29 42,7
Tổng 68 100
Nhận xét: Mới chỉ có 53,7% cán bộ phòng được hưởng phụ cấp chức vụ, vẫn còn
42,7% cán bộ phòng chưa được hưởng phụ cấp chức vụ.
Bảng 4. Trình độ quản lý của Điều dưỡng trưởng
Có Không
Đối tượng
SL % SL %
TP Điều dưỡng hoặc ĐDT BV 10 38,5 16 61,5
Điều dưỡng trưởng khối 7 19,4 29 80,6
Điều dưỡng trưởng khoa 70 43,7 90 56,3
Nhận xét: Số cán bộ chưa học quản lý điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao, nhiều nhất là điều
dưỡng trưởng khối (80,6%), ĐDT bệnh viện còn 61,5% chưa học quản lý.
Bảng 5. Trình độ chuyên môn của cán bộ ở phòng Điều dưỡng /ĐDT BV
Trình độ chuyên môn Số lượng Tỷ lệ (%)
Đại học 2 2,9
Cao đẳng 12 17,6
Trung học 54 79,5
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
32
Tổng 68 100
Nhận xét: Chủ yếu là trình độ trung học 79,5%, trình độ đại học thấp 2,9%. Còn lại là
trình độ cao đẳng 17,6%.
3.2. Nguồn nhân lực điều dưỡng, hộ sinh các bệnh viện công lập trong ngành
Bảng 6. Phân loại ĐD-HS theo giới tính, nhóm tuổi.
Số lượng (n=1735) Tỷ lệ (%)
Giới tính
Nam
Nữ
268
1467
15,5
84,5
Nhóm tuổi
<30 tuổi
30-40 tuổi
41-50 tuổi
>50 tuổi
434
330
482
489
25,0
19
27,7
28.3
Nhận xét: Đội ngũ ĐD-HS đa số là nữ (84,5%), Nhóm tuổi >50 tuổi chiếm tỷ lệ cao
hơn trong các độ tuổi (28,3%).
Bảng 7. Phân loại ĐD-HS theo trình độ chuyên môn
Trình độ chuyên môn
Chuyên
ngành
Tổng
số
Tỷ lệ
%
ĐH
Tỷ lệ
%

Tỷ lệ
%
TH
Tỷ lệ
%
SH
Tỷ lệ
%
ĐD 1486 85,65 13 0,8 130 8,7 1265 88,9 25 1,6
HS 249 14,35 3 1,2 32 12,8 199 86 0 0
Tổng 1735 100 16 2,0 162 21.5 1464 87 25 1.6
Nhận xét:
- Điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tổng số (85,65%), chủ yếu là trình độ trung
học (88,9%). Trình độ Đại học 0,8%, cao đẳng 8,7%.Vẫn còn ĐD sơ học làm việc ở bệnh
viện (1,6%).
- Hộ sinh chiếm 14,35% trong tổng số, trình độ đại học 1,2%; cao đẳng 12,8%, trung
học 86%.
Bảng 8. Trình độ ngoại ngữ
Trình độ ngoại ngữ Số lượng (n=1735) Tỷ lệ (%)
Anh A 121 6,97
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
33
Anh B 83 4,78
Trình độ ngoại ngữ Số lượng (n=1735) Tỷ lệ (%)
Anh C 7 0,4
Pháp B 2 0,1
Tổng số 212 12,25
Nhận xét: Trình độ ngoại ngữ chỉ đạt 12,25% trên tổng số, chủ yếu là bằng A tiếng
anh, bằng B tiếng pháp có 2 người đạt 0,1%.
Bảng 9. Trình độ tin học
Trình độ tin học Số lượng (n=1735) Tỷ lệ (%)
Tin A 210 12,1
Tin B 221 12,7
Tổng 431 24,8
Nhận xét: Trình độ tin học đạt 24,8% trong tổng số, bằng A và B gần tương đương nhau.
3.3. Phân bổ tỷ lệ Điều dưỡng-Hộ sinh so với Bác sỹ và giường bệnh.
Bảng 10. Phân bổ tỷ lệ Điều dưỡng-Hộ sinh/Bác sỹ
Điều dưỡng-Hộ sinh Bác sỹ Tỷ lệ ĐD-HS/BS
Tổng số 1735 774 2,2
Nhận xét: Tỷ lệ ĐD-HS/ BS: 2,2/1.
Bảng 11. Phân bổ Điều dưỡng-Hộ sinh theo giường bệnh
Điều dưỡng-Hộ sinh Giường bệnh KH Tỷ lệ ĐD -HS/GB
Tổng số 1735 3795 0,45
Nhận xét: Tỷ lệ ĐD-HS/GBKH: 1/0,45.
4. BÀN LUẬN
4.1. Tổ chức mạng lưới phòng Điều
dưỡng
- Trong tổng số 26 bệnh viện hạng
III trở lên, mới chỉ có 18 bệnh viện
có quyết định thành lập phòng
Vẫn còn 8 BV chưa thành lập phòng
Điều dưỡng theo quy định của Quy chế
bệnh viện
[5]
.
- Mặc dù đã có quyết định thành lập
Phòng Điều dưỡng nhưng 66,7% số
phòng đang hoạt động như tổ Điều
dưỡng, trưởng phòng làm việc và sinh
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
34
Điều dưỡng (đạt lệ 69,2%). Trung
bình số cán bộ của phòng là 3 ± 1 người.
hoạt với phòng KHTH hoặc phòng khác,
các thành viên còn lại làm việc và sinh hoạt
tại khoa lâm sàng, chưa thực hiện đúng
chức năng nhiệm vụ của phòng theo quy
chế Bệnh viện.
- Cán bộ phòng Điều dưỡng chưa
được hưởng phụ cấp chức vụ vẫn còn
42,7%, nhiều nhất là điều dưỡng trưởng
khối. Một trường hợp điều dưỡng trưởng
bệnh viện tuyến tỉnh đã đảm nhận công
việc 3 năm những vẫn chưa được hưởng
phụ cấp chức vụ.
- Vẫn còn 61,5% cán bộ trưởng
phòng/ĐDT BV, 80,6% ĐDT khối, 56,3%
ĐDT khoa chưa được học quản lý điều
dưỡng theo chương trình của Bộ Y tế.
- Có 79,5% cán bộ phòng Điều dưỡng
trình độ trung học, Đại học và cao đẳng chỉ
chiếm 20,5%. Việc thực hiện nhiệm vụ
tham gia nghiên cứu khoa học chưa được
chú trọng.
4.2. Nguồn nhân lực ĐD-HS các bệnh
viện công lập trong ngành
- Đội ngũ điều dưỡng, hộ sinh trong
toàn ngành là: 1735 chủ yếu là nữ (84,5%),
đây cũng là đặc thù của nghề nghiệp với đa
số là cán bộ nữ.
- Tỷ lệ đại học, cao đẳng là 11,7% so
với nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân giáo
viên trường cao đẳng Y tế Nghệ an năm
2006 là 1,5%
[5]
, đây là kết quả của sự quan
tâm giúp đỡ của lãnh đạo các cấp và sự cố
gắng vươn lên của đội ngũ điều dưỡng
nhưng so với kế hoạch hành động của Bộ Y
tế đến năm 2010 là: 40%
[1]
thì không đạt
được. Trong khi đó một số nước như Thái
Lan đang phổ cập điều dưỡng ở trình độ đại
- Trình độ ngoại ngữ đạt 12,25% trên
tổng số, so với năm 2006 (5,83%) thì đội
ngũ điều dưỡng đã có sự cố gắng nhưng
còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa khi đất
nước đang trong thời kỳ hội nhập.
- Trình độ tin học đạt 24,83% trên tổng
số (năm 2006:10,5%)
[3]
, chủ yếu là bệnh
viện tuyến tỉnh, các bệnh viện miền núi tỷ
lệ này thấp.
4.3. Phân bổ tỷ lệ điều dưỡng-hộ sinh
so với bác sỹ và giường bệnh
- Tỷ lệ ĐD-HS/BS thấp 2,2/1 so với kế
hoạch hành động của Bộ Y tế đến năm
2010 là 3/1 thì còn thiếu 587 Điều dưỡng
nữa. Trong khi đó một số nước năm 2007
như: Thái lan là: 8/1, Nhật bản: 4/1
[4]
-Tỷ lệ ĐD-HS/GBKH còn cao (1/0,45),
so với kế hoạch hành động của Bộ Y tế
đến năm 2010: 0,5
[1]
thì còn thiếu 162
điều dưỡng.
5. KẾT LUẬN
1. Tổ chức mạng lưới Phòng điều
dưỡng chưa đồng bộ/cán bộ phòng Điều
dưỡng còn hạn chế về trình độ, đa số chưa
được đào tạo về quản lý điều dưỡng.
- Số bệnh viện hạng III trở lên chưa có
quyết định thành lập Phòng điều dưỡng còn
8/26 Bệnh viện (30,7%)
- Còn 12/18 bệnh viện có quyết định
Phòng Điều dưỡng (66%) nhưng hoạt động
như tổ điều dưỡng.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
35
học. Vẫn còn trình độ sơ học làm việc tại
bệnh viện (1,6%).
- Có 42,7% cán bộ Phòng Điều dưỡng
chưa được hưởng phụ cấp chức vụ.
- Trình độ chuyên môn của Phòng điều
dưỡng: Trình độ đại học và cao đẳng mới đạt
20,5%. So với kế hoạch hành động của Bộ Y
tế đến năm 2010 là: 100% cử nhân, 15% cao
học
[1]
là quá thấp.
- Số cán bộ phòng đã qua lớp quản lý
còn thấp: chỉ có 38,5% trưởng phòng/ĐDT,
trong khi chỉ tiêu kế hoạch hành động của
Bộ Y tế đến năm 2010 là 90%
[1].
- Một số phòng Điều dưỡng thực hiện
chức năng nhiệm vụ chưa đầy đủ theo quy
chế bệnh viện đặc biệt thực hiện nhiệm vụ
tham gia NCKH chưa được chú trọng.
2. Nhân lực ĐD-HS-KTV chưa cân
đối về cơ cấu, thiếu về số lượng và yếu về
chất lượng.
- Tỷ lệ ĐD-HS/BS: 2,2/1 là quá thấp.
- Tỷ lệ ĐD-HS/GB:1/0,45 là chưa đạt
theo yêu cầu.
- Trình độ chuyên môn: Chủ yếu là
trình độ trung học (88,9%), trình độ đại học
và cao đẳng đang ở mức thấp: Điều dưỡng
(0,8%); Hộ sinh: (1,2%). Vẫn còn sơ học
(1,6%).
- Trình độ ngoại ngữ và tin học còn thấp:
Ngoại ngữ mới đạt 12,25% trong tổng số
(tiếng Anh, tiếng Pháp, bằng A,B,C). Tin học
đạt 14,83% (Chứng chỉ A, B).
3. Các giải pháp
- Tăng cường kiểm tra giám sát việc
- Đào tạo quản lý điều dưỡng cho Điều
dưỡng trưởng khoa trở lên tại các bệnh
viện. Mục tiêu đến hết năm 2010 tất cả các
cán bộ làm quản lý được đào tạo.
- Cần bổ túc đội ngũ ĐD-HS sơ học,
đảm bảo ĐD-HS có trình độ từ trung học
trở lên.
- Có kế hoạch nhận ĐD-HS vào các
bệnh viện để có đủ nhân lực phục vụ chăm
sóc người bệnh toàn diện (ưu tiên đại học,
cao đẳng).
- Tăng cường đào tạo hệ tại chức cho
cán bộ có biên chế.
- Có kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ
tin học, ngoại ngữ.
6. KIẾN NGHỊ
1. Đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh
- Đưa chỉ tiêu nhân lực ĐD-HS/giường
bệnh theo Kế hoạch hành động quốc gia về
tăng cường công tác ĐD-HS giai đoạn 2002-
2010 của Bộ Y tế vào chỉ tiêu nhân lực
ngành Y tế tỉnh để phục vụ chăm sóc người
bệnh toàn diện.
- Có chế độ, chính sách hỗ trợ cán bộ
điều dưỡng đi học đại học và sau đại học.
2. Đối với Sở Y tế
- Có kế hoạch tuyển dụng nhân lực
ĐD-HS có trình độ trung học, cao đẳng, đại
học sau khi tốt nghiệp (ưu tiên đại học, cao
đẳng), cân đối với tỷ lệ giường bệnh và
nhân lực bác sỹ.
- Khuyến khích đào tạo tại chức (đại
học, cao đẳng), nâng cao trình độ chuyên
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
36
thực hiện các quyết định của Bộ Y tế và
quy chế bệnh viện tại các đơn vị.
môn cho ĐD-HS đã có biên chế tại các
Bệnh viện.
3. Đối với trường Cao đẳng Y tế
- Tăng cường đào tạo Cao đẳng, có kế
hoạch liên kết đào tạo Đại học Điều dưỡng
hệ tại chức tại Nghệ An.
- Mở lớp đào tạo Quản lý điều dưỡng
theo chương trình của Bộ Y tế mới ban
hành.
4. Đối với các bệnh viện
- Phải thành lập Phòng Điều dưỡng
theo quyết định của Bộ Y tế (các bệnh viện
từ hạng III trở lên).
- Phòng Điều dưỡng các Bệnh viện
hoạt động theo đúng chức năng nhiệm vụ.
- Áp dụng hưởng phụ cấp trách nhiệm
theo đúng quy định cho điều dưỡng
trưởng các cấp.
- Bố trí ĐD-HS làm việc theo đúng văn
bằng, chức danh.
- Hàng năm có kế hoạch đào tạo về
chuyên môn, quản lý, ngoại ngữ,...cho đội
ngũ ĐD-HS.
7. TÀI LIỆU KHAM KHẢO.
1. Bộ Y tế, Kế hoạch hành động quốc
gia về tăng cường công tác Điều dưỡng-Hộ
sinh giai đoạn 2002-2010, tháng 5/2002.
2. Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học
Điều dưỡng tỉnh Nghệ An lần thứ nhất
tháng 11/2006.
3. Kỷ yếu Đề tài Nghiên cứu khoa học
điều dưỡng, tại Hội Nghị khoa học điều
dưỡng toàn quốc lần thứ III, tháng 10
năm 2007.
4. Phạm Đức Mục, Nguyễn Hải Ninh,
Đào Thành: Một số nhận xét về sự phát
triển tự nhiên của nguồn nhân lực Y tá-
Điều dưỡng và Hộ sinh trong bối cảnh
nguồn nhân lực Việt Nam giai 1986-2000.
Kỷ yếu các tài nghiên cứu khoa học điều
dưỡng, tháng 5/2002.
5. Quy chế bệnh viện.
6. Thông tin Điều dưỡng số 32 tháng
10 năm 2007.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
37
HIÊU BIÊT NGHỀ NGHIỆP VÀ LÒNG YÊU NGHỀ
CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG
TS. Trần Quang Huy, CN. Nguyễn Thị Thúy
Phòng Điều dưỡng, bệnh viện Việt Nam-
Thụy Điển Uông Bí.
TÓM TẮT
Mục đích: Mô tả sự hiểu biết, lòng
yêu nghề và những yếu tố có liên quan ở
sinh viên điều dưỡng. Phương pháp:
Nghiên cứu mô tả sử dụng bộ câu hỏi tự
điền được tiến hành từ tháng 3-tháng 6
năm 2009 trên 536 sinh viên cao đẳng và
đại học điều dưỡng thực tập lâm sàng tại
bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí.
Kết quả: Đăng ký dự thi Điều dưỡng là
nguyện vọng thứ nhất của 58% số sinh
viên được khảo sát và chỉ có 11% số sinh
viên chọn nghề điều dưỡng là do yêu
thích, số còn lại là do tình cờ hoặc do tác
động của gia đình hay bạn bè. Tỷ lệ sinh
viên hiểu biết đầy đủ về vai trò, chức
năng và những lĩnh vực nhiệm vụ cơ
bản của nghề đang theo học không cao.
45,3% số sinh viên cho rằng nghề điều
dưỡng có vị thế thấp hơn so với những
nghề khác và có tới 25,4 % số sinh viên
có ý định chuyển học nghề khác. Sinh
viên nam ít hài lòng và gắn bó với nghề
thấp hơn so với nữ. Sinh viên hệ đại học
hiểu biết nghề nghiệp tốt hơn sinh viên
hệ cao đẳng, nhưng sinh viên hệ cao
đẳng lại hài lòng và đánh giá vị thế
nghề điều dưỡng cao hơn so với sinh
viên hệ đại học. Khả năng chuyển nghề
ở nhóm sinh viên không hài lòng và đánh giá
thấp vị thế của nghề cao hơn nhiều so với
nhóm sinh viên hài lòng với nghề và đánh
giá cao vị thế của nghề điều dưỡng. Kết
luận và đề nghị: Nghề điều dưỡng chưa
phải là một nghề hấp dẫn, một số không
nhỏ sinh viên cho rằng nghề điều dưỡng
có vị thế thấp hơn so với những nghề khác
và có tư tưởng chuyển đổi học nghề khác.
Vì vậy cần tăng cường tuyên truyền quảng
bá, mở rộng tư vấn, hướng nghiệp tới sinh
viên trước khi thi vào trường; Bồi dưỡng,
nâng cao nhận thức nghề nghiệp cho sinh
viên sau khi nhập học có ý nghĩa quan
trọng để nâng cao sự hiểu biết nghề đang
theo học cho sinh viên từ đó có động cơ
học tập đúng đắn hơn và gắn bó với nghề;
Cần thực hiện một nghiên cứu khác trên
một quy mô rộng hơn và kết hợp cả
phương pháp định lượng và định tính.
Từ khóa: Đào tạo Điều dưỡng, hiểu
biết nghề nghiệp, hài lòng nghề nghiệp,
Việt Nam.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều dưỡng là một nghề, là một
ngành khoa học riêng biệt (1). Điều
dưỡng là trụ cột của hệ thống Chăm sóc
sức khỏe (2). Ở nhiều nước trên thế giới,
nghề điều dưỡng được tôn trọng và có vị
thế cao trong xã hội. Người điều dưỡng
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
38
yêu nghề của mình và tự hào về nghề
nghiệp của mình như người ta thường nói:
“Điều dưỡng là những người đẹp nhất”.
Trên lĩnh vực phát triển nghề đã có nhiều
điều dưỡng đạt học vị cao và được phong
hàm giáo sư của các trường đại học danh
tiếng. Ở Việt Nam trong những năm gần
đây ngành điều dưỡng đã có những bước
tiến nhảy vọt trong cả lĩnh vực thực hành,
quản lý và đào tạo. Hình ảnh và vị thế của
người điều dưỡng đã được thay đổi rất
nhiều và được xã hội thừa nhận (3). Trong
lĩnh vực đào tạo điều dưỡng đã có những
thay đổi quan trọng. Theo báo cáo của Vụ
Khoa học đào tạo, Bộ Y tế, hiện nay toàn
quốc đã 15 cơ sơ đào tạo đại học Điều
dưỡng và hơn 30 trường trung cấp Y được
nâng cấp thành trường Cao đẳng Y để đào
tạo điều dưỡng ở trình độ cao đẳng (4).
Một số cơ sở đào tạo như trường Đại học
Y Hà Nội, Y-Dược thành phố Hồ Chí
Minh, Đại học Điều dưỡng Nam Định, Đại
học Y Huế đã thực hiện các chương trình
đào tạo Thạc sĩ điều dưỡng, điều duỡng
chuyên khoa I…Chính với sự phát triển
như vậy nên hàng năm đã có hàng nghìn
sinh viên điều dưỡng cao đẳng và đại học
điều dưỡng chính quy và tại chức được đào
tạo và sẽ có nhiều điều dưỡng có trình độ
sau đại học được tốt nghiệp tại các trường
trong cả nước. Điều này đã và sẽ góp phần
thay đổi dần cơ cấu trình độ trong lực lượng
điều dưỡng (2). Tuy nhiên trên thực tế cho
thấy có nhiều sinh viên điều dưỡng không
khi chọn thi hoặc chọn ngành điều dưỡng
làm ngành học của mình. Có những em
chọn thi và vào học chỉ là do tác động của
bạn bè hoặc là do gia đình với suy nghĩ:
cùng vào học cho vui hoặc cần có người
làm ngành y để chăm sóc sức khỏe gia
đình hoặc đơn giản là có bố mẹ làm nghành
y rồi nếu học nghề này sẽ dễ xin việc
vv…Với những lý do như vậy dẫn đến
trong quá trình học một số em này không có
động cơ học tập đúng đắn, nảy sinh tâm lý
chán nản, muốn bỏ học và cũng đã có một
số em bỏ học để thi lại vào trường khác,
chọn nghề khác (5). Tuy chưa có số liệu
chính xác nhưng trên thực tế đã có một số
điều dưỡng tốt nghiệp, có công việc ổn định
rồi nhưng vẫn bỏ nghề vì cho rằng nghề
điều dưỡng vừa vất vả, vừa thu nhập thấp
và không có vị thế xứng đáng trong xã
hội…Để tìm hiểu rõ hơn phần nào về vấn
đề nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu
này nhằm mục đích: mô tả sự hiểu biết,
lòng yêu nghề và những yếu tố có liên quan
ở sinh viên điều dưỡng.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀPHƯƠNGPHÁP
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3-6
năm 2009
- Địa điểm: Tại bệnh viện Việt Nam-
Thụy Điển Uông Bí.
- Phương pháp: Mô tả
- Đối tượng: sinh viên điều dưỡng thực
tập lâm sàng tại bệnh viện.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
39
xác định rõ ràng nguyện vọng của mình
- Tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu:
các sinh viên điều dưỡng hệ cao đẳng hoặc
đại học chính quy, tự nguyện tham gia.
- Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ
mẫu cho các nghiên cứu điều tra quần thể
trong chương trình Epi-Info với các dữ
kiện: cỡ quần thể (N=2800), tần xuất kỳ
vọng (p=0,5), sai số cao nhất chấp nhận
được (d=0,05) và mức độ tin cậy (99%).
Theo tính toán cần cỡ mẫu là 536 sinh
viên. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
đơn được thực hiện trong số các sinh viên
đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập số liệu: Tự
điền bộ câu hỏi cấu trúc với những câu hỏi
đóng và một số câu hỏi mở (6).
- Phân tích số liệu: Số liệu được nhập
và phân tích bằng phần mềm thống kê y
học EPI Info phiên bản 6.02. Các nội dung
khảo sát (biến số) được tính tần xuất, tỷ lệ,
tỷ suất chênh (OR) và được kiểm định
bằng test χ² với p< 0.05 được coi là có ý
nghĩa thống kê.
- Kỹ thuật khống chế sai số:
+ Bộ câu hỏi được nhóm nghiên cứu
xây dựng và thống nhất sau đó khảo sát
thử và hoàn thiện.
+ Cán bộ tham gia thu thập số liệu
được tập huấn kỹ trước khi tiến hành thu
thập số liệu để hạn chế để sót, thiếu hoặc
mất thông tin.
- Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu:
Các đối tượng nghiên cứu đều được
thông báo và chỉ tham gia khi tự nguyện
đồng ý. Số liệu thu thập được chỉ sử dụng
vào mục đích khoa học, các thông tin cá
nhân đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật.
3. KẾT QUẢ
3.1 Một số đặc điểm cá nhân của đối
tượng nghiên cứu
Tổng số có 536 sinh viên tự nguyện
tham gia nghiên cứu trong đó có 424 nữ
(chiếm 78,9%), số sinh viên nam là 112
chiếm 21,1% (biểu đồ 1).
Phân bổ giới ở đối tượng nghiên cứu
21.1
78.9
Nam
Nữ
Biểu đồ 1. Phân bố giới ở đối tượng
nghiên cứu
Các đặc điểm cá nhân khác được tổng
hợp ở bảng 1. Tuổi trung bình của đối tượng
nghiên cứu là: 22,1 ± 1,2. Phần lớn sinh viên
(87,7%) có nơi ở của gia đình ở khu vực
nông thôn. Trong số sinh viên tham gia
nghiên cứu có 374 em thuộc hệ đại học
chiếm 69,8%, số còn lại học hệ cao đẳng. Có
một số ít sinh viên (57 em chiếm 10,6%) có
người thân trong gia đình (bố, mẹ hoặc anh
chị) làm trong ngành y, trong đó chủ yếu là
mẹ và chị và phần lớn làm nghề điều dưỡng
hoặc hộ sinh.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
40
Bảng 1. Đặc điểm cá nhân đối tượng nghiên cứu
STT Đặc điểm cá nhân đối tượng nghiên cứu Số lượng Tỷ lệ
1 Tuổi trung bình: 22,1 ± 1,2
Nông thôn 470 87,7
2 Nơi ở của gia đình
Thành thị 66 12,3
Cao đẳng 162 30,2
3 Hệ đào tạo
Đại học 374 69,8
4 Có người thân (bố, mẹ, anh, chị em ruột) làm
việc trong ngành y
57 10,6
3.2 Sự chuẩn bị khi chọn nghề và
nhận thức về nghề Điều dưỡng
Số liệu ở bảng 2 cho thấy chỉ có
18,7% số sinh viên cho biết là có tìm
hiểu về nghề Điều dưỡng trước khi quyết
định dự thi và vào học và gần một nửa số
sinh viên vào học là nguyện vọng 2 hoặc
3. Có 11% số sinh viên chọn nghề là do
yêu thích, còn lại chủ yếu là do tình cờ
hoặc do tác động của gia đình, bạn bè.
Số sinh viên biết đúng và đủ vai trò
và các lĩnh vực nhiệm vụ của người điều
dưỡng không cao (28,9 và 21,8% riêng
cho mỗi vấn đề). Tỷ lệ sinh viên hiểu biết
chức năng nghề nghiệp cũng không cao
(53,9%). Phần lớn sinh viên (72,4%) hài
lòng hoặc rất hài lòng với nghề đang theo
học. Tuy nhiên có tới 45,3 số sinh viên
cho rằng nghề Điều dưỡng có vị thế thấp
hơn những nghề khác và 25,4% sinh viên
muốn chuyển học nghề khác.
Bảng 2. Sự tìm hiểu, nhận thức và đánh giá về nghề điều dưỡng
TT Nội dung khảo sát
Số
lượng
Tỷ lệ (%)
1 Có tìm hiểu về nghề trước khi vào học 100 18,7
Nguyện vọng 1 311 58,0
2
Đăng ký nguyện vọng thi
và vào học Điều dưỡng
Nguyện vọng 2+ 225 42,0
Tự chọn do yêu thích 59 11,0
Tự chọn do tình cờ 280 52,4
Do gia đình, bạn bè tác động 195 36,4
3 Lý do chọn vào học
Không có số liệu 02 0,2
4 Biết đúng, đủ về vai trò nghề nghiệp 155 28,9
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
41
TT Nội dung khảo sát
Số
lượng
Tỷ lệ (%)
5 Biết đúng, đủ về chức năng nghề nghiệp 289 53,9
6 Biết đúng, đủ những lĩnh vực nhiệm vụ cơ bản của nghề 117 21,8
Hài lòng + 388 72,4
7
Mức độ hài lòng với
nghề nghiệp Không hài lòng 148 27,6
Như những nghề khác 235 43,9
Hơn những nghề khác 58 10,8
8
Đánh giá vị thế nghề
điều dưỡng
Kém những nghề khác 243 45,3
Không có ý định chuyển
nghề
311 58,0
Có ý định chuyển nghề 136 25,4
9 Lòng yêu nghề
Không có ý kiến 89 16,6
3.3 Liên quan giữa giới với sự tìm hiểu và hài lòng nghề nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự tìm
hiểu nghề trước khi vào học và sự hài lòng
nghề nghiệp giữa hai giới. Mặc dù vậy so
với nữ thì nam sinh viên có xu hướng đánh
giá nghề Điều dưỡng thấp hơn các nghề
khác (53,6% so với 43,2%) và tỷ lệ nam
giới muốn chuyển nghề khác cũng cao hơn
(33,9% so với 23,1%). Sự khác biệt này là
có ý nghĩa thống kê (bảng 3).
Bảng 3. Liên quan giữa tìm hiểu và hài lòng nghề nghiệp với giới tính
Giới
(số lượng và tỷ lệ)
TT Biến số quan tâm
Nam Nữ
Test
thống kê
Có 22 (19,6) 78 (18,4)
1 Tìm hiểu nghề
Không 90 (80,4) 345 (81,6)
χ² = 0,02
p = 0,87
Hài lòng+ 73 (65,1) 315 (74,3)
2
Hài lòng với
nghề đã chọn
Không HL 39 (34,9) 109 (25,7)
χ² = 3,04
p = 0,07
Như nhau 36 (32,1) 199 (46,9)
Cao hơn 16 (14,3) 42 (9,9) 3
So sánh vị thế
nghề so với
những nghề khác
Kém hơn 60 (53,6) 183(43,2)
χ² = 8,11
p = 0,017
Không chuyển nghề 51 (45,5) 260 (46,9)
Muốn chuyển nghề 38 (33,9) 98 (23,1)
4
Lòng yêu nghề
(gắn bó với nghề)
Không có ý kiến 23 (20,6) 66 (15,6)
χ² = 9,21
p = 0,01
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
42
3.4 Liên quan giữa hệ đào tạo với
sự hài lòng và hiểu biết nghề nghiệp
Phân tích về sự tìm hiểu nghề, hiểu
biết nghề, sự hài lòng với nghề đã chọn
và lòng yêu nghề (gắn bó với nghề) giữa
đối tượng sinh viên hệ đại học và hệ cao
đẳng cho thấy hầu hết có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê giữa hai hệ đào tạo về
các chỉ số đánh giá (bảng 4). Tuy phần
lớn sinh viên của cả hai hệ đều không tìm
hiểu nghề trước khi thi và vào học nhưng
tỷ lệ sinh viên cao đẳng quan tâm tìm
hiểu nghề trước khi thi và vào học
cao hơn so với hệ cao đẳng. Tỷ lệ sinh viên
cao đẳng hài lòng với nghề đã chọn cũng
cao hơn so với sinh viên hệ đại học.
Lòng yêu nghề (gắn bó với nghề) của
sinh viên hai hệ đào tạo cũng có khác
nhau nhưng không có ý nghĩa thống kê.
Tỷ lệ sinh viên cao đẳng đánh giá vị
thế nghề điều dưỡng cao hơn hoặc như
những nghề khác cao hơn so với hệ đại
học (66,7% so với 49,4%). Tuy nhiên
sinh viên đại học hiểu biết về nghề
nghiệp (thông qua các chỉ số biết về vai
trò, chức năng và các lĩnh vực nhiệm vụ
cơ bản) cũng tốt hơn hẳn so với sinh viên
hệ cao đẳng.
Bảng 4. Liên quan giữa sự hiểu biết và hài lòng nghề nghiệp với hệ đào tạo
Hệ đào tạo*
(số lượng và tỷ lệ) TT Biến số quan tâm
Cao đẳng Đại học
Test
thống kê
Có 43 (26,5) 57 (15,3)
1 Tìm hiểu nghề
Không 119 (73,5) 316 (84,7)
χ² = 8,7
p=0,003
Hài lòng+ 137 (84,6) 251 (67,1)
2
Hài lòng với
nghề đã chọn
Không HL 25 (15,4) 123 (32,9)
χ² = 16.37
p = 0,00…
Cao hơn 31 (19,1) 27 (7,2)
Như nhau 77 (47,6) 158 (42,2) 3
So sánh vị thế
nghề so với
những nghề khác
Kém hơn 54 (33,3) 189 (50,6)
χ² = 22,9
p = 0,00…
Không chuyển nghề 97 (59,9) 214 (57,2)
Muốn chuyển nghề 41 (25,3) 95 (25,4) 4
Lòng yêu nghề
(gắn bó với
nghề)
Không có ý kiến 24 (14,8) 65 (17,4)
χ² = 0,59
p = 0,74
Biết đúng, đủ 15 (9,3) 140 (37,4)
Biết chưa đủ 118 (72,8) 204 (54,6) 5
Biết vai trò nghề
nghiệp
Không biết 29 (17,9) 30 (8,0)
χ² = 22,9
p = 0,00…
Biết đúng, đủ 30 (18,5) 259 (69,3)
Biết chưa đủ 118 (72,8) 102 (27,3) 6
Biết chức năng
nghề nghiệp
Không biết 14 (8,7) 13 (3,4)
χ² = 117,1
p = 0,00…
Biết đúng, đủ 1 (0,6) 116 (31,0)
Biết chưa đủ 122 (75,3) 225 (60,2)
7
Biết lĩnh vực
nhiệm vụ nghề
nghiệp
Không biết 39 (24,4) 33 (8,8)
χ² = 71,4
p = 0,00…
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
43
3.5 Liên quan giữa mức độ hài lòng
và đánh giá vị thế nghề nghiệp đã chọn
với lòng yêu nghề
Kết quả nghiên cứu thể hiện sự liên
quan giữa hài lòng nghề nghiệp với lòng
yêu nghề và đánh giá vị thế nghề so với
nghề khác (bảng 5).
Sinh viên hài lòng với nghề thì tỷ lệ
muốn chuyển nghề khác thấp hơn hẳn so
với sinh viên không hài lòng với nghề
(21% so với 58,4%). Khả năng chuyển
nghề ở nhóm sinh viên không hài lòng
với nghề cao gấp hơn 5 lần so với nhóm
sinh viên hài lòng với nghề (95% khoảng
tin cậy của khả năng này là 5,30-8,60).
Sinh viên đánh giá nghề Điều dưỡng
có vị thế thấp hơn những nghề khác thì tỷ
lệ muốn chuyển đổi nghề khác cũng cao
hơn hẳn so với nhóm sinh viên đánh giá
vị thế nghề như hoặc cao hơn so nghề
khác. Khả năng chuyển nghề ở nhóm
sinh viên đánh giá vị thế nghề thấp cao
gấp hơn 2 lần so với nhóm sinh viên hài
lòng với nghề (95% khoảng tin cậy của
khả năng này là 1,53-3,63).
Bảng 5. Lòng yêu nghề và các yếu tố liên quan
Lòng yêu nghề
(số lượng và tỷ lệ)*
TT Biến số quan tâm
Không có ý
chuyển nghề
Muốn chuyển
nghề khác
Test
thống kê
Hài lòng+ 264 (79,0) 70 (21,0)
1
Hài lòng với
nghề đã chọn
Không HL 47 (41,6) 66 (58,4)
OR=5,38
[5,30-8,60]
p = 0.00…
Như nhau + 198 (77,3) 58 (22,7)
2
So sánh vị thế
nghề với những
nghề khác
Kém hơn 113 (59,2) 78 (40,8)
OR=2,36
[1,53-3,63]
p = 0.00…
* Không tính 89 trường hợp không có ý kiến về có ý định chuyển nghề hay gắn bó với
nghề điều dưỡng đang học hay không.
4. BÀN LUẬN
Theo kết quả trong nghiên cứu của
chúng tôi, đăng ký dự thi để vào học
Điều dưỡng là nguyện vọng thứ nhất của
58% số sinh viên đang theo học và chỉ có
11% số sinh viên chọn nghề điều dưỡng
là do yêu thích, số còn lại chọn vào học
là do tình cờ hoặc do tác động của gia
đình, bạn bè. Từ kết quả này cho thấy
Điều dưỡng chưa phải là một nghề hấp
dẫn và rất ít sinh viên tìm hiểu về nghề
trước khi vào học. Do vậy công tác
hướng nghiệp, quảng bá về nghề nghiệp
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
44
cần phải được quan tâm hơn nhằm giúp
sinh viên hiểu biết rõ hơn về nghề điều
dưỡng. Nhân lực điều dưỡng hiện có ở
nước ta hiện nay mới chỉ bằng một nửa số
lượng theo yêu cầu vì vậy nhu cầu đào tạo
điều dưỡng trong thời gian tới sẽ tiếp tục
tăng cao và đã có rất nhiều cơ sở ngoài
công lập cũng tham gia đào tạo điều
dưỡng (3). Tuy vậy hiện có rất ít trường
đào tạo điều dưỡng tổ chức các hình thức
như mở ngày hội tuyển sinh để tuyên
truyền, tư vấn nghề nghiệp cho học sinh,
sinh viên. Tư vấn nghề nghiệp là một vấn
đề hết sức quan trọng vì từ thực tế cũng
như từ kết quả nghiên cứu của chúng tôi
cho thấy khi sinh viên hiểu biết về nghề,
đánh giá đúng vị thế nghề nghiệp đã chọn
thì sẽ hài lòng với nghề, gắn bó với nghề
hơn. Mà chỉ khi sinh viên yêu thích nghề
mình đang theo học thì mới có động cơ
học tập đúng đắn, mới có hứng thú trong
học tập có vậy mới có kết quả học tập tốt
để có đủ năng lực thực hành công việc sau
khi tốt nghiệp như thông điệp của một tổ
chức hướng nghiệp ở Nhật Bản thì: “Đặc
điểm cá nhân không phù hợp với việc theo
đuổi một ngành học nào đó, lại cố tâm
đeo bám học hành và thi cử vào ngành
đó, chắc chắn sẽ thất bại, giống như bệnh
đã nặng còn tiếp tục uống sai thuốc!” (7).
Kết quả ít hơn 20% sinh viên điều
dưỡng được khảo sát có tìm hiểu trước về
nghề trước khi đăng ký dự thi hoặc đăng
ký nguyện vọng vào học và chỉ có 11%
số sinh viên chọn nghề điều dưỡng là do
yêu thích và nhiều khả năng chuyển đổi
học nghề khác ở các sinh viên không hài
lòng với nghề đang học cho thấy khi sinh
viên hiểu biết về nghề, đánh giá đúng vị
thế nghề nghiệp đã chọn thì sẽ hài lòng
với nghề, gắn bó với nghề hơn. Theo nhà
tâm lý học Quang Dương trao đổi tại
ngày hội tuyển sinh tại Đại học Quốc gia
Hà Nội thì: sở thích dễ thay đổi tùy
hứng, tùy thời, tùy tâm trạng…, sở thích
chưa hẳn là sở trường. Cũng có nghĩa
là nghề mà ta thích chưa hẳn là nghề
mà ta sẽ học được và làm được (8).
Điều này càng khẳng định ngoài sự tìm
hiểu của sinh viên về nghề trước khi dự
thi thì khi sinh viên vào học, nhà trường,
các thầy cô giáo cần thường xuyên bồi
dưỡng nâng cao sự hiểu biết nghề
nghiệp, lòng yêu nghề cho sinh viên điều
dưỡng là một việc làm hết sức cần thiết.
Nghiên cứu của chúng tôi có một số
hạn chế nhất định đó là: (i) tuy cỡ mẫu là
đủ lớn nhưng chưa đảm bảo tính đại diện
cao vì nghiên cứu được thực hiện trên số
sinh viên của hai trường đào tạo điều
dưỡng ở miền Bắc đi thực tập tại bệnh
viện do vậy phần nào ảnh hưởng tới tính
khái quát hóa của kết quả nghiên cứu; (ii)
Trong phân tích kết quả chưa sử dụng
phân tích đa biến do vậy chưa thể biết
được yếu tố nào là yếu tố quyết định dẫn
đến lòng yêu nghề (gắn bó với nghề);
(iii) Nghiên cứu sử dụng phương pháp
thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi cấu trúc
để đối tượng nghiên cứu tự điền nên
không tìm hiểu sâu để làm rõ được một
số vấn đề ví dụ: tại sao sinh viên không
tìm hiểu về nghề trước khi vào học?
tại sao sinh viên hài lòng hoặc không hài
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
45
lòng với nghề đã chọn? hoặc tại sao sinh
viên có ý định bỏ nghề? vv… Để khắc
phục những hạn chế này cần thực hiện
nghiên cứu ở quy mô lớn hơn với mẫu
nghiên cứu đại diện hơn và kết hợp với
phương pháp nghiên cứu định tính như
thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu để tìm
hiểu kỹ hơn về những vấn đề quan tâm
như đã nêu trong nghiên cứu này (9, 10).
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Từ kết quả nghiên cứu trên đây, nhóm
nghiên cứu rút ra một số kết luận về sự
hiểu biết và lòng yêu nghề của sinh viên
điều dưỡng: (i) Điều dưỡng chưa phải là
một nghề hấp dẫn trong khi phần lớn sinh
viên chưa nghiên cứu, tìm hiểu về nghề
trước khi đăng ký thi và vào học. Đa số
sinh viên đăng ký thi và vào học là do tình
cờ hoặc tác động của gia đình và bạn bè;
(ii) Sinh viên cao đẳng đánh giá vị thế và
gắn bó với nghề đang học tốt hơn sinh viên
đại học; (iii) Có mối liên quan giữa giới
với sự hài lòng và gắn bó với nghề: tỷ lệ
nam sinh viên hài lòng và gắn bó với nghề
thấp hơn so với nữ; (iv) Khả năng chuyển
học nghề khác ở nhóm sinh viên không hài
lòng và đánh giá thấp vị thế của nghề cao
hơn nhiều so với nhóm sinh viên hài lòng
với nghề và đánh giá cao vị thế của nghề.
Dựa trên những kết luận từ nghiên cứu
này chúng tôi đề nghị:
1. Tăng cường tuyên truyền quảng bá
về hình ảnh người điều dưỡng và nghề
điều dưỡng.
2. Mở rộng tư vấn, hướng nghiệp tới
sinh viên trước khi thi vào trường,
3. Thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao
nhận thức nghề nghiệp cho sinh viên sau
khi nhập học và trong quá trình học để các
em hiểu biết về nghề mình đang theo học
từ đó có động cơ học tập đúng đắn hơn và
gắn bó với nghề đã theo học.
4. Cần thực hiện một nghiên cứu khác
trên một quy mô rộng hơn và kết hợp cả
phương pháp định lượng và định tính.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Potter P.A & Perry A.G. 5
th
Ed.
(2005), Fundamentals of Nursing. Mosby
Publisher.
2. WHO annual report 2002. Geneva:
World Health Organization (2002).
3. Dự thảo chiến lược quốc gia công tác
điều dưỡng, hộ sinh 2011-2015 và tầm nhìn
2020 (Hội Điều dưỡng Việt Nam).
4. http:// Bao dien tu Chinhphu.vn/
Đào tạo 45 ngàn sinh viên y dược vào năm
2015. Cập nhật lúc 3:56 PM, 29/05/2010.
Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2010.
5. http:// dan tri.com.vn/ đổ sô đi học
điều dưỡng. Cập nhật lúc 07:25, Thứ Tư,
27/02/2008 (GMT+7). Truy cập ngày 20
tháng 5 năm 2010.
6. Polit, D.F. Hungler B.P. 5
th
Ed.
(1995). Nursing research. Principles and
methods. Philadelphia: J.B. Lipponcott
Company.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
46
7. http:// Vietnamnet.vn/ Cùng bàn
bạc về sự hứng thú trong nghề Điều
dưỡng. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm
2010.
8. http:// dantri.com.vn/ ngay-hoi-
tuyen-sinh-dh-quocgia-hanoi-va ngoai-
thuong. htm. Truy cập ngày 20 tháng 7
năm 2010.
9. Pope, C. (1995). Qualitative
Research: Reaching the parts other
methods cannot reach: an introduction to
qualitative methods in health and health
services research, BMJ. 311, 42-45.
10. Patton, M. 2
nd
Ed (1990).
Qualitative evaluation and research
methods, London: SAGE Publication.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
47
KHẢO SÁT NHỮNG LỢI ÍCH VÀ TRỞ NGẠI KHI ĐIỀU DƯỠNG
TRUNG CẤP HỌC NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÊN CỬ NHÂN
1. Nguyễn Thị Tuyết Trinh; 2. Cao Văn Thịnh; 3. Nguyễn Thị
Lan Hương; 4. Lý Hoàng Phượng
Bệnh viện Nhân dân 115, thành phố Hồ Chí Minh.
TÓM TẮT:
Mục tiêu: Khảo sát nhận thức của
điều dưỡng trung cấp (ĐDTC) về lợi ích
và những trở ngại trong việc quyết định
tiếp tục học để đạt được trình độ cử nhân
tại Bệnh Viện Nhân Dân 115 (BVND 115),
thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phương pháp: Đối
tượng: 325 ĐDTC đang công tác tại các
khoa lâm sàng BVND 115. Thiết kế
nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Kết quả: Tỷ lệ ĐDTC có dự định nâng
cao trình độ cử nhân điều dưỡng
(CNĐD) đạt 72%, không dự định là 10%
và lưỡng lự là 18%. Những lợi ích của
việc học nâng cao trình độ: bản thân
(99%), nghề nghiệp (98,5%), mở rộng
kiến thức (99%) và nâng cao kỹ năng tay
nghề (73%). Một số các yếu tố trở ngại:
liên quan đến tài chính (59%), học phí
cao (47%).Ngoài ra, trở ngại do thời
gian lo cho gia đình bị hạn chế (47%) và
khoảng cách từ nhà đến trường xa
(36%). Thời gian học bị ảnh hưởng vì
vừa học, vừa làm, vừa trực (83%), công
việc bận rộn (22%) và làm ca-kíp (14%).
Những yếu tố thuận lợi: tuyển sinh đầu vào
dễ hơn (67%), hỗ trợ học phí (52%), công
bệnh viện (BV) cần có qui định khen
thưởng khi ĐD học đạt kết quả tốt (50%).
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ĐDTC
quyết định học nâng cao trình độ: Độ tuổi
từ 21-30 dự định tiếp tục sẽ học để nâng
cao trình độ (80%) và ĐD>50 tuổi là
không ý định học tiếp tục (83%). Tình
trạng hôn nhân: ĐD độc thân dự định tiếp
tục sẽ học để nâng cao trình độ (85%) và
ĐD đã lập gia đình có ý định học tiếp
(55%). Tổng số con: ĐD lập gia đình
nhưng chưa có con có dự định tiếp tục học
(82%) và không có dự định học tiếp tục khi
đã có 1 con (14%), 2 con (37%) và 3 con
(100%). Kết luận: ĐDTC có quyết định
tiếp tục học để nâng cao trình độ là ĐD
độc thân hoặc có gia đình nhưng chưa có
con, tuổi <50. Tình trạng công việc và mức
thu nhập không ảnh hưởng đến tỷ lệ quyết
định tiếp tục học.
Từ khóa: Điều dưỡng trung cấp, cử
nhân điều dưỡng, nâng cao trình độ.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc sức khỏe toàn diện hiện
nay là vấn đề quan tâm hàng đầu trên
thế giới nói chung và đặc biệt là tại
khu vực Đông Nam Á. Trong mô hình
này, lực lượng điều dưỡng (ĐD) có vai
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
48
việc sắp xếp linh động (54%) và lãnh đạo trò nòng cốt đáp ứng các nhu cầu thiết yếu
của người dân nhằm nâng cao sức khỏe,
duy trì, phục hồi và dự phòng bệnh tật
cho người dân. Do đó đòi hỏi người ĐD
phải không ngừng học tập để nâng cao
trình độ chuyên môn và kỹ năng tay nghề
chuyên nghiệp.
Chương trình đào tạo CNĐD tại chức
cho ĐD tốt nghiệp trung cấp là một cơ hội
để hoàn thiện về kiến thức, kỹ năng tay
nghề và chất lượng chăm sóc
(2)
.
Người ta thấy mặc dù việc nâng cao
trình độ mang đến một số lợi ích nhưng số
lượng đồng ý về vấn đề này khoảng 16 %
đối với ĐDTC và 24% đối với ĐD đã tốt
nghiệp cử nhân tại chức
(3)
. Mặc khác, hiện
nay nghề ĐD đang đối mặt với sự thiếu hụt
trầm trọng trong tất cả các lĩnh vực mặc dù
số lượng tuyển sinh CNĐD tại Đại Học Y
Dược, thành phố Hồ Chí Minh có tăng chỉ
tiêu trong những năm qua
(4)
. Chiến lược
phát triển của ngành ĐD Quốc tế từ nay
đến năm 2010 đề ra phải đạt được ít nhất
75% ĐD đạt trình độ cử nhân hay cấp độ
cao hơn như thạc sĩ, tiến sĩ ĐD. Tuy nhiên,
thực tế hiện tại chỉ có khoảng 32% ĐD
trình độ cử nhân
(5)
.
Tại BVND 115, công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ luôn được lãnh đạo quan
tâm, nhưng với tỉ lệ CNĐD hiện tại trong
BV chỉ là 5.4% là rất ít so với yêu cầu
trong tiêu chuẩn kiểm tra của Bộ Y Tế đối
với BV hạng I cần đạt ít nhất 30% có trình
độ đại học.
Lĩnh vực đào tạo và sử dụng ĐD có
trình độ cử nhân rất ít được nghiên cứu
(4)
. Vì vậy, rất cần có nghiên cứu về vấn
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát: Khảo sát nhận
thức của ĐDTC về lợi ích và những trở
ngại trong việc quyết định tiếp tục học để
đạt được trình độ CNĐD tại BVND 115,
thành phố HCM.
Mục tiêu cụ thể:
(1) Xác định tỷ lệ ĐDTC dự định tiếp
tục học để đạt được trình độ cử nhân.
(2) Khảo sát kiến thức của ĐDTC về
những lợi ích khi tiếp tục học tập để đạt
được trình độ cử nhân.
(3) Khảo sát những trở ngại khi ĐDTC
tiếp tục học tập để đạt trình độ cử nhân.
(4) Khảo sát những yếu tố thuận lợi
giúp ĐDTC tiếp tục học tập để đạt được
trình độ cử nhân.
3. PHƯƠNGPHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô
tả cắt ngang.
Đối tượng nghiên cứu
Dân số nghiên cứu: Các ĐDTC đang
công tác tại BVND 115- Sở Y Tế TP.HCM.
Dân số chọn mẫu: Các trường hợp ĐD
thuộc dân số mục tiêu có trong tiêu chuẩn
chọn, đang công tác tại các khoa lâm sàng
từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 10/ 2009.
Cỡ mẫu: 325 ĐDTC.
Kỹ thuật chọn mẫu Chọn mẫu ngẫu
nhiên đơn dùng bảng số ngẫu nhiên.
Tiêu chuẩn chọn mẫu. ĐDTC đang
công tác trong tất cả các khoa nội, ngoại,
hồi sức, cấp cứu, gây mê hồi sức tại
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
49
đề này. BVND 115.
Tiêu chuẩn loại trừ ĐD khoa cận lâm
sàng, đang học lớp CNĐD tại chức.
Thu thập dữ kiện:
Phỏng vấn và điền thông tin theo mẫu
bảng.
Xử lý số liệu thống kê: Phần mềm
Stata 10.0.
4. KẾT QUẢ
Đặc điểm dân số nghiên cứu
Tuổi : Tuổi trung bình là 28 ± 7,3, tuổi
thấp nhất là 21 tuổi và tuổi lớn nhất là 52
tuổi. Nhóm tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là từ
21 đến 30 tuổi (79%).
Giới tính: Nữ chiếm tỉ lệ 93% (301
ĐD) và nam chiếm tỉ lệ 7% (24 ĐD), tỷ lệ
nam/ nữ là 1: 0,08.
Tình trạng hôn nhân: Phần lớn là
ĐD độc thân (57%), kế đến là ĐD đã lập
gia đình (42%) với tỷ lệ gần tương
đương nhau.
Trong các trường hợp lập gia đình có
số con trung bình là 0,5 ± 0,7, ít nhất là
chưa có con và nhiều nhất là 3 con. Trong
đó tuổi trung bình của con là 9 ± 7,6 tuổi,
con thấp nhất là 9 tháng và con lớn nhất là
27 tuổi.
Những lý do chọn ngành ĐD: ĐD
chọn ngành ĐD vì yêu nghề muốn giúp đỡ
mọi người (55%).
Vị trí công tác: Đa số là ĐD chăm sóc
Tính chất công việc: Thâm niên công
tác là trung bình là 6 ±7,2 năm, ít nhất là 1
tháng và cao nhất là 32 năm. Đa số các ĐD
làm việc 8 giờ trong một ngày và tham gia
trực 24 giờ (74%) với tần suất cách mỗi 3
ngày một lần.
Tổng thu nhập: Thu nhập trung bình
là 3,9 ± 1,02 triệu trong một tháng, ít nhất
là 1.500.000 ngàn đồng / tháng và cao nhất
là 5,5 triệu đồng/tháng.
Tỷ lệ ĐDTC dự định tiếp tục học để
đạt được trình độ cử nhân
Có 72%
Không 10%
Lưỡng lự
18%
Biểu đồ 1: Tỷ lệ ĐDTC dự định tiếp tục
học nâng cao trình độ
Có 72% ĐD dự định tiếp tục học để
nâng cao trình độ cử nhân, 10 % không
dự định và 18% còn lưỡng lự chưa quyết
định (biểu đồ 1).
Những lợi ích khi tiếp tục học tập để
đạt được trình độ cử nhân.
Mang lại lợi ích cho sự phát triển bản
thân
Có 99% ĐD trả lời rằng việc nâng cao
trình độ có mang đến lợi ích cho bản thân,
bao gồm: mở rộng kiến thức (99%) và hài
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
50
chiếm tỷ lệ 87%. lòng với bản thân (84%).
Mang lại lợi ích cho sự phát triển
nghề nghiệp
Có 98,5% ĐD trả lời rằng việc nâng
cao trình độ có mang đến lợi ích cho nghề
nghiệp, bao gồm: nâng cao kỹ năng tay
nghề (73%) và nâng cao tính chuyên
nghiệp (54%).
Những trở ngại khi ĐDTC học nâng
cao trình độ
59%
37%
33%
18%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
Tài chánh Công việc Gia đình Tuổi lớn
Biểu đồ 2: Những trở ngại khi ĐDTC
quyết định học nâng cao trình độ
Đa số những trở ngại xuất phát từ vấn
đề tài chính (59%) (biểu đồ 2).
Những trở ngại liên quan đến tài
chính
Những trở ngại từ tài chính chủ yếu là
học phí cao (47%) và chi phí nhiều khoản
cho việc học tập như mua sách, tài
liệu…(50%).
Những trở ngại liên quan đến gia đình
Việc đi học tiếp tục có thể làm cho
thời gian lo cho gia đình bị hạn chế (47%)
và nhà xa trường học là một trong những
trở ngại khi ĐD tiếp tục học nâng cao trình
độ chuyên môn (36%).
Những trở ngại liên quan đến công
việc: Đa số ĐD cho rằng thời gian học bị
ảnh hưởng vì vừa học, vừa làm, vừa tham
Những yếu tố thuận lợi giúp ĐDTC
học nâng cao trình độ CNĐD
Hỗ trợ từ phía nhà trường
Tuyển sinh đầu vào dễ hơn sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho việc tiếp tục học nâng cao
trình độ (67%), hỗ trợ học phí (54%) và có
thể áp dụng vào thực tiễn (48%).
Hỗ trợ từ phía lãnh đạo bệnh viện
Lãnh đạo BV nên cung cấp học phí
(52%, công việc được sắp xếp linh động
(54%), có khen thưởng khuyến khích khi
đạt kết quả tốt (50%).
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ĐDTC
quyết định học nâng cao trình độ
Mối liên quan giữa tuổi và tỷ lệ quyết
định tiếp tục học
Đa số ĐD ở độ tuổi từ 21-30 chiếm tỷ
lệ cao trong dự định tiếp tục sẽ học để
nâng cao trình độ chuyên môn (80%). Sự
khác biệt về tỷ lệ ĐD dự định tiếp tục học
nâng cao trình độ và độ tuổi rất có ý nghĩa
thống kê với p=0.00.
Mối liên quan giữa tình trạng hôn
nhân và tỷ lệ quyết định tiếp tục học
Đa số ĐD độc thân chiếm tỷ lệ cao trong
dự định tiếp tục sẽ học để nâng cao trình độ
chuyên môn (85%). Sự khác biệt về tỷ lệ
ĐD dự định tiếp tục học nâng cao trình độ
chuyên môn và tình trạng hôn nhân rất có ý
nghĩa thống kê với p=0.00.
Mối liên quan giữa tổng số con và tỷ
lệ quyết định tiếp tục học
Đa số ĐD lập gia đình nhưng chưa có
con chiếm tỷ lệ cao trong dự định tiếp tục
sẽ học để nâng cao trình độ chuyên môn
(82%). Sự khác biệt về tỷ lệ ĐD dự định
tiếp tục học nâng cao trình độ chuyên môn
và tổng số con rất có ý nghĩa thống kê với
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
51
gia trực (83%). p = 0.00.
Mối liên quan giữa tình trạng công
việc và tỷ lệ quyết định tiếp tục học
Đa số ĐD làm 8 giờ/ngày, trực 24 giờ
chiếm tỷ lệ cao trong dự định tiếp tục sẽ
học để nâng cao trình độ chuyên môn
(73%). Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ ĐD
dự định tiếp tục học nâng cao trình độ
chuyên môn và tình trạng công việc không
có ý nghĩa thống kê với p=0.48.
Mối liên quan giữa mức thu nhập và
tỷ lệ quyết định tiếp tục học
ĐD có thu nhập cao trên 5 triệu chiếm
tỷ lệ cao trong dự định tiếp tục sẽ học để
nâng cao trình độ chuyên môn (100%).
Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ ĐD dự
định tiếp tục học nâng cao trình độ chuyên
môn và mức thu nhập không có ý nghĩa
thống kê với p=0.59.
5. BÀN LUẬN
Tỉ lệ ĐDTC dự định tiếp tục học để
đạt được trình độ cử nhân
Có 72% ĐD dự định tiếp tục học để
nâng cao trình độ cử nhân, 10 % không dự
địmh và 18% còn lưỡng lự chưa quyết
định. Kết quả chúng tôi có tỷ lệ cao hơn.
Tác giả E.Spratley cho thấy tỷ lệ ĐD dự
định tiếp tục học là 28,7%
(7)
. Đây là kết
quả cho thấy sự khả quan đáng mừng của
đội ngũ ĐD BV về tinh thần không ngừng
học tập phấn đấu vươn lên để nhằm nâng
cao chất lượng chăm sóc người bệnh.
Những lợi ích khi tiếp tục học tập để
đạt được trình độ cử nhân
Mang lại lợi ích cho sự phát triển bản
Có 99% ĐD trả lời rằng việc nâng
cao trình độ có mang đến lợi ích cho bản
thân và 99% là để mở rộng kiến thức.
Kết quả của chúng tôi có tỷ lệ cao hơn so
với các nghiên cứu khác. Tác giả
E.Spratley cho thấy có 16% ĐD chính
qui và 24% ĐD đã tốt nghiệp CNĐD tại
chức đồng ý về việc nâng cao trình độ có
mang lại lợi ích cho sự phát triển bản
thân
(7)
. Tác giả Zuzelo (2001) cũng ghi
nhận một số lợi ích như: hài lòng với bản
thân, cải thiện hình tượng bản thân, cảm
nhận sự thành đạt-thành công và mở
mang kiến thức
(8)
. Đây cũng là kết quả
đáng mừng của đội ngũ ĐD bệnh viện vì
nhận thức được rằng việc học tập mang
lại lợi ích cho bản thân mở rộng tầm nhìn
với những kiến thức mới để giúp ích cho
việc nâng cao sức khỏe cho người bệnh.
Mang lại lợi ích cho sự phát triển
nghề nghiệp
Có 98,5% ĐD trả lời rằng việc nâng
cao trình độ có mang đến lợi ích cho nghề
nghiệp và 73% là để nâng cao kỹ năng tay
nghề. Kết quả chúng tôi có tỷ lệ cao hơn.
Tác giả E.Spratley cho thấy có 10% ĐD
đồng ý về việc nâng cao trình độ có mang
lại lợi ích cho sự phát triển nghề nghiệp
(7)
. Tác giả Zuzelo (2001) cũng ghi nhận
một số lợi ích như: nâng cao tính chuyên
nghiệp, kỹ năng tay nghề, chuyển đổi vị
trí công tác, tăng lương và có cơ hội thăng
tiến
(8)
. Cho thấy đội ngũ ĐD BV có lòng
nhiệt huyết yêu nghề, phấn đấu học tập vì
muốn nâng cao vị thế, vai trò ngành ĐD
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
52
thân trong xã hội.
Những trở ngại khi ĐDTC học nâng
cao trình độ
Có 59% những cản trở xuất phát từ
vấn đề tài chính. Kết quả khác với nghiên
cứu của D.Colleen Delaney
10
cản trở chủ
yếu xuất phát từ vấn đề gia đình và công
việc. Tác giả Trainor cũng xác định 26%
những trở ngại là vấn đề tài chính, gia đình
và công việc
(11)
. Sự khác biệt này do
nghiên cứu của tác giả D.Colleen Delaney
và Trainor được thực hiện tại Mỹ với nền
kinh tế phát triển cao hơn nhiều so với
Việt Nam. Do đó, vấn đề tài chính đối với
ngành nghề ĐD là tương đối thỏa mãn,
trong khi Việt Nam là nước đang phát triển
với nền kinh tế còn nhiều khó khăn, mức
thu nhập của ĐD rất thấp, nên vấn đề tài
chính được đa số ĐD chọn là một trong
những trở ngại quan trọng.
Những vấn đề trở ngại từ tài chính
Có 50% là chi phí nhiều khoản cho
việc học tập và 47% những trở ngại chủ
yếu là học phí cao. Tác giả Trainor cũng
xác định những trở ngại là học phí cao, chi
phí học tập nhiều và thiếu nguồn tài chính
hỗ trợ
(11)
.
Những cản trở từ vấn đề gia đình
Có 47% ĐD cho rằng việc đi học tiếp
tục có thể làm cho thời gian lo cho gia
đình bị hạn chế và 36% do nhà xa trường
học. Tác giả Trainor cũng xác định những
trở ngại là thời gian lo cho gia đình bị hạn
chế, thiếu sự chu đáo đối với các thành
Những trở ngại từ vấn đề công việc
Có 83% ĐD cho rằng thời gian học bị
ảnh hưởng vì vừa học, vừa làm, vừa tham
gia trực. Tác giả Trainor (2002) cũng xác
định những trở ngại là công việc đang
đương nhiệm bị ảnh hưởng
(11)
. Chúng tôi
cũng xác định thêm những trở ngại là do
môi trường làm việc quá bận rộn (22%) và
vấn đề làm ca-kíp có thể làm cho ĐD khó
sắp xếp thời gian để đi học (14%).
Những yếu tố thuận lợi giúp ĐDTC
học tập nâng cao trình độ CNĐD
Hỗ trợ từ phía nhà trường
Có 67% ĐD cho rằng nếu tuyển sinh
đầu vào dễ hơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho việc học nâng cao trình độ. Kết quả
phù hợp với nghiên cứu của D.Colleen
Delaney là tuyển sinh đầu vào dễ hơn, giờ
học linh động, học tại nhà, hỗ trợ học phí,
tư vấn nghề nghiệp và học qua mạng vi
tính
(10)
.
Hỗ trợ từ lãnh đạo bệnh viện
Có 52% ĐD cho rằng lãnh đạo BV nên
cung cấp học phí, 54% cho rằng công việc
nên được sắp xếp linh động và 50% cho
rằng cần có khen thưởng khuyến khích khi
ĐD học đạt kết quả tốt. Kết quả phù hợp
với nghiên cứu của D.Colleen Delaney hỗ
trợ từ phía lãnh đạo BV: trong thời gian
học không tham gia làm việc, coi trọng giá
trị nghề nghiệp và có phần thưởng khuyến
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
53
viên trong gia đình
(11)
. khích khi ĐD học đạt kết quả tốt
(10)
.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ quyết
định tiếp tục học nâng cao trình độ
Tuổi liên quan đến tỷ lệ quyết định
tiếp tục học
Có 80% ĐD ở độ tuổi từ 21-30 dự định
tiếp tục sẽ học để nâng cao trình độ chuyên
môn và 83% ĐD >50 tuổi là không ý định
học tiếp tục. Kết quả phù hợp với nghiên
cứu của D.Colleen Delaney có sự khác biệt
giữa ĐD dự định tiếp tục học nâng cao
trình độ chuyên môn và độ tuổi như ĐD dự
định tiếp tục học ở độ tuổi 35.7 và ĐD
không có ý định học tiếp ở độ tuổi 46.3
(10)
.
Tại bệnh viện Nhân dân 115 nhóm
tuổi trúng tuyển cao nhất là từ 25-29 tuổi
chiếm tỷ lệ 100% ( năm 2008) và độ tuổi
30-34 chiếm tỷ lệ 50% (năm 2005), còn
độ tuổi trên 45 tuổi thì không có ĐD nào
đăng ký dự thi
(12)
. Như vậy, ĐD với độ
tuổi càng cao thì càng không có ý định
học tiếp do tuổi càng lớn càng khó tiếp
thu. Ngoài ra, theo qui chế tuyển sinh
ĐD > 45 tuổi khi đi học phải tự túc hoàn
toàn kinh phí học tập.
Tình trạng hôn nhân liên quan đến tỷ
lệ quyết định tiếp tục học
Có 85% ĐD độc thân dự định tiếp
tục sẽ học để nâng cao trình độ trong khi
chỉ có 55% ĐD đã lập gia đình có ý định
học tiếp. Điều này chứng tỏ rằng ĐD độc
thân có nhiều cơ hội thuận lợi hơn so với
ĐD lập gia đình trong việc học nâng cao
trình độ. Kết quả này khác với nghiên
sự khác biệt giữa ĐD dự định tiếp tục học
nâng cao trình độ và tình trạng hôn nhân
(10)
. Sự khác biệt này do nghiên cứu của tác
giả D.Colleen Delaney được thực hiện tại
Mỹ là quốc gia phát triển với lối sống hiện
đại, quyền tự do, tự lập cao, con >18 tuổi
hoàn toàn tự lập, cha mẹ cũng ít bị ràng
buộc. Trong khi đó, tại Việt Nam thì con
cái phụ thuộc rất nhiều vào cha mẹ. Do đó,
những ĐD đã lập gia đình rất khó khăn
trong việc học nâng cao trình độ tiếp tục.
Tổng số con liên quan đến tỷ lệ quyết
định tiếp tục học
Có 82% ĐD lập gia đình nhưng chưa
có con dự định tiếp tục học để nâng cao
trình độ. Trong khi đó những ĐD đã có
con thì tỉ lệ không dự định học tiếp tục
càng tăng theo số con như có 1 con là
14%, 2 con là 37% và nếu có 3 con thì
hoàn toàn không có ý định học tiếp
(100%). Kết quả khác với nghiên cứu của
D.Colleen Delaney là không có sự khác
biệt giữa ĐD dự định tiếp tục học nâng cao
trình độ và tổng số con
(10)
. Sự khác biệt
này do nghiên cứu của tác giả D.Colleen
Delaney được thực hiện tại Mỹ là quốc gia
phát triển cha mẹ và con cái ít bị ràng buộc
và xã hội có đầy đủ các chính sách chăm lo
cho trẻ em. Trong khi đó, tại Việt Nam
chính sách xã hội cho trẻ em chưa đầy đủ,
nên cha mẹ là người chăm lo chính yếu
cho con cái. Do đó, với gia đình càng đông
con thì nhu cầu chăm sóc càng tăng. Vì
thế đối với ĐD có đông con rất khó
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
54
cứu của D.Colleen Delaney là không có khăn trong việc học nâng cao trình độ.
6. KẾT LUẬN
Tỉ lệ ĐDTC có dự định tiếp tục học để
đạt được trình độ CNĐD đạt 72%, không
dự định là 10% và còn lưỡng lự chưa quyết
định là 18%.
Những lợi ích của việc học nâng cao
trình độ gồm: mang đến lợi ích cho bản
thân (99%), lợi ích cho nghề nghiệp
(98,5%), mở rộng kiến thức (99%) và nâng
cao kỹ năng tay nghề (73%).
Một số các yếu tố trở ngại khi ĐDTC học
nâng cao trình độ như: vấn đề tài chính (59%)
với học phí cao (47%) và chi phí nhiều khoản
cho việc học tập như mua sách, tài liệu (50%).
Ngoài ra, vấn đề thời gian lo cho gia đình bị
hạn chế (47%) và khoảng cách từ nhà đến
trường xa (36%). Thời gian học bị ảnh hưởng
vì tính chất công việc vừa học, vừa làm, vừa
tham gia trực (83%), môi trường làm việc bận
rộn (22%) và làmca-kíp (14%).
Những yếu tố thuận lợi giúp ĐDTC học
nâng cao trình độ cử nhân bao gồm: tuyển
sinh đầu vào dễ hơn (67%), hỗ trợ học phí
(52%), công việc nên được sắp xếp linh động
(54%) lãnh đạo BV cần khen thưởng ĐD học
đạt kết quả tốt (50%).
Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ĐDTC
quyết định học nâng cao trình độ: độ tuổi
từ 21-30 dự định tiếp tục sẽ học để nâng
cao trình độ (80%) và phần đông ĐD>50
tuổi là không ý định học tiếp tục (83%).
Tình trạng hôn nhân: phần lớn ĐD độc
thân dự định tiếp tục sẽ học để nâng cao
trình độ (85%) và chỉ một số ĐD đã lập gia
đình có ý định học tiếp (55%). Tổng số
con: đa số ĐD lập gia đình nhưng chưa có
con có dự định tiếp tục học (82%) và
không có dự định học tiếp tục khi đã có 1
Tình trạng công việc và mức thu nhập
không ảnh hưởng đến tỷ lệ quyết định tiếp
tục học.
7. ĐỀ NGHỊ
Lãnh đạo bệnh viện
Hỗ trợ học phí cho ĐD học nâng cao
trình độ, tạo môi trường làm việc thoải mái
để ĐD an tâm công tác và học tập. Chú ý
độ tuổi thuận lợi xét duyệt cho đi học là từ
21 đến 30 tuổi.
Hỗ trợ ĐD trong thời gian học không
tham gia làm việc và công việc nên được
sắp xếp một cách linh động như bố trí
trực, làm ca- kíp thích hợp. Cần có phần
thưởng khuyến khích khi ĐD học đạt kết
quả tốt.
Nhà trường: Qui chế tuyển sinh đầu
vào nên dễ hơn.
Gia đình: Hỗ trợ tích cực về mặt vật
chất lẫn tinh thần cho ĐD học nâng cao
trình độ, nhất là những ĐD đã lập gia đình.
Có thể thuê nhà gần trường học hơn đối
với trường hợp nhà xa để thuận lợi cho
việc ĐD học tập.
8. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Qui chế tuyển sinh cử nhân điều
dưỡng tại chức hệ vừa học vừa làm năm
2009. Đại Học Y Dược thành phố Hồ
Chí Minh.
2. National Council on Nurse Education
and Practice (2001). Nursing: A strategic
asset for the health of the nation policy on
the nursing workforce shortage, 102 nd
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
55
con (14%), 2 con (37%) và 3 con (100%). meeting. Silver Spring, MD: Author.
3. Trần Thị Châu (2007). “Phương
hướng hoạt động của Hội ĐD thành phố
HCM- 2007-2012”. Đại hội đại biểu Hội
ĐD thành phố HCM, tr. 1-3.
4. Nguyễn Thị Xuyên (2009). « Tiêu
chuẩn kiểm tra bệnh viện năm 2009 ».
Quyết định ban hành bảng kiểm tra bệnh
viện năm 2009. Số 2866/QĐ-BYT ban
hành ngày 10/8/2009.
5. National Council on Nurse
Education and Practice (2001). Nursing:
A strategic asset for the health of the
nation policy on the nursing workforce
shortage, 102 nd meeting. Silver Spring,
MD: Author.
6. Nguyễn Văn Thanh (2009). Đào
tạo liên kết điều dưỡng viên với vai trò
thay đổi hiện nay ở các nước Đông Nam
Á. Website http://www.ykhoa.net.
7. Spratley E., Johnson A.,Sochalski
J., Fritz M., et al (2000). The registered
nurse population: Findings from the
national sample survey of registered
nurses. Rockville, MD: U.S. Department
of Health and Human Services, Health
Resources and Service Administration
Bureau of Health Professions, Division
of Nursing.
8. Zuzelo R.P. (2001). Describing the
RN-BSN learner perspective: Concerns,
priorities, and practice influences.
Journal of Professional Nursing, 17 (1),
pp. 55-64.
9. Callin M. (1996). “ The RN to
BSN: Seeing familiar situations in
different ways”. The journal of
Continuing Education in Nursing, 27 (1),
p. 28-33.
10. Coleen D.,& Barbara P. (2004). “
RN-BSN programs”. Journal for nurses
in staff development, 20 (4), pp. 157-161.
11. Trainor M.J.(2000). A study of
the work environment as a factor in
persistence or non-persistence of RN
students in a baccalaureate nursing
program. Published doctoral dissertation,
Pennsylvania State University.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
56
NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC THỰC HÀNH CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP LÀM
VIỆC TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ NGHỆ AN
1. ThS. Phan Quốc Hội; 2. CN. Nguyễn Thị Xuân và CS.
Trường Cao đẳng Y tế Nghệ An
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực trạng giáo dục hiện nay là một tỷ
lệ không nhỏ các sinh viên tốt nghiệp
không đủ kiến thức, kỹ năng cần thiết để
hành nghề. Kế hoạch đào tạo hàng năm
được xây dựng dựa trên năng lực nhà
trường, việc đánh giá nhu cầu của xã hội
chưa được quan tâm đúng mức. Vấn đề
chất lượng đào tạo không đáp ứng nhu cầu
xã hội đang là một thách thức. Mặt khác,
xu thế hội nhập khu vực và thế giới đòi
hỏi người lao động phải có kiến thức, kỹ
năng thực hành nghề nghiệp đáp ứng được
nhu cầu sử dụng nhân lực.Thực hiện chủ
trương của Nhà nước, các trường cần phải
chủ động đánh giá nhu cầu sử dụng lao
động về số lượng và chất lượng nhằm cải
tiến mục tiêu, nội dung, chương trình đào
tạo, đồng thời bảo đảm đạt chuẩn về cơ
sở vật chất, trang thiết bị, giáo trình môn
học để nâng cao chất lượng đào tạo, đáp
ứng nhu cầu thị trường lao động. Theo kết
quả khảo sát đánh giá sau đào tạo, chất
lượng năng lực thực hành nghề nghiệp học
sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường chỉ đáp
ứng được 50% số lượng thủ thuật được
phân công theo tuyến với mức độ thành
em khi thực hành nghề nghiệp còn hạn chế
kỹ năng giao tiếp, tư vấn và giáo dục sức
khoẻ [2]. Vấn đề đặt ra là “phải chăng có
sự chưa phù hợp giữa chương trình đào tạo
tại trường và nhu cầu sử dụng của các cơ
sở y tế?”. Do đó cần thiết phải tiến hành
đánh giá về nhu cầu sử dụng, những thiếu
hụt kiến thức, kỹ năng của người học sau
tốt nghiệp để điều chỉnh chương trình đào
tạo phù hợp với nhu cầu xã hội. Với lý do
trên, chúng tôi tiến hành đánh giá năng lực
thực hành của sinh viên trường Cao đẳng Y
tế Nghệ An đã tốt nghiệp và đang làm việc
tại các cơ sở y tế trong tỉnh Nghệ An để
trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao
chất lượng đào tạo của nhà trường. Nghiên
cứu có những mục tiêu cụ thể sau:
1. Đánh giá năng lực thực hành của
học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp
trường Cao đẳng Y tế Nghệ An làm việc tại
các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh.
2. Tìm hiểu năng lực thực tại của nhà
trường theo các tiêu chuẩn về đội ngũ giáo
viên, chương trình, giáo trình, cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy học, công tác quản
lý học sinh, sinh viên
3. Đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
57
thạo 76,6%, rất thành thạo 4,5%, hầu hết các lượng đào tạo.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
58
2. ĐỐI TƯỢNG VÀPHƯƠNGPHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt
ngang.
2.2. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh, sinh viên tốt nghiệp của
trường Cao đẳng Y tế Nghệ An làm việc
ở các cơ sở y tế tại thời điểm điều tra.
- Cán bộ chủ chốt của các cơ sở y tế
nơi tiếp nhận học sinh, sinh viên tốt
nghiệp của nhà trường về làm việc.
- Số liệu sẵn có về đội ngũ giáo viên,
cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học,
chương trình, giáo trình môn học.
2.3. Cỡ mẫu và chọn mẫu: Áp dụng
công thức chọn mẫu cho nghiên cứu mô
tả cắt ngang:
- Sinh viên tốt nghiệp trường Cao
đẳng Y tế Nghệ An đang làm việc tại các
cơ sở y tế.
n = Z
2
(1-a/2)
x p x (1-p)/d
2
÷ n = 400
Đối tượng nghiên cứu được chọn ở
10 bệnh viện của tỉnh Nghệ An. Mỗi bệnh
viện chọn 40 điều dưỡng, hộ sinh nguyên
là học sinh, sinh viên của trường Cao đẳng
Y tế Nghệ An bằng phương pháp chọn mẫu
ngẫu nhiên đơn.
- Đánh giá kỹ năng thực hành sinh viên
tốt nghiệp: 100 điều dưỡng, hộ sinh được
chọn ngẫu nhiên đơn trong số 40 HS-SV
được phỏng vấn tại mỗi cơ sở (5 ĐD và 5
HS).
- Cán bộ chủ chốt các cơ sở sử dụng
cán bộ y tế: 100 người, mỗi cơ sở 10 người
gồm: 1 đại diện ban Giám đốc, 4 Trưởng
khoa và 5 ĐD trưởng khoa.
2.4. Phương pháp thu thập số liệu
- Khảo sát điều dưỡng, hộ sinh bằng bộ
câu hỏi tự điền.
- Đánh giá kỹ năng bằng bảng kiểm.
- Phỏng vấn cán bộ chủ chốt bằng bộ
câu hỏi cấu trúc.
- Lấy số liệu sẵn có từ kết quả đánh giá
kiểm định chất lượng đào tạo các trường
Cao đẳng, Trung cấp Y tế khu vực Bắc
Miền Trung năm 2008.
2.5. Xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm thống kê Epi-Info
6.04
3. KẾT QUẢ
3.1. Thực trạng về năng lực thực hành
3.1.1. Kết quả đánh giá kiến thức, thực hành của điều dưỡng viên, hộ sinh
Biểu đồ 1: Áp dụng được kiến thức đã học cho công việc
Nhận xét: Điều dưỡng, hộ sinh tự đánh giá mức độ tốt và khá là 90,3% và 92.7%;
Cán bộ quản lý đánh giá mức độ tốt, khá là 81,1%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
59
Biểu đồ 2: Làm được số lượng các quy trình kỹ thuật học ở trường
Nhận xét: số lượng điều dưỡng, hộ sinh làm được quy trình kỹ thuật là 65,1% và 69,4
%; Cán bộ quản lý đánh giá tỷ lệ thấp hơn (37,2 %).
Biểu đồ 3: Các thủ thuật được tiến hành đúng quy trình
Nhận xét: Kết quả khảo sát cho thấy điều dưỡng có tỷ lệ bỏ bước cao hơn Hộ sinh
(24,4% so với 14,8%); Cán bộ quản lý đánh giá bỏ bước 26,1 %.
Biểu đồ 4: Thực hiện tư vấn, giáo dục sức khoẻ
Nhận xét: Số điều dưỡng, hộ sinh thực hiện tư vấn, giáo dục sức khỏe thường xuyên
chiếm tỷ lệ thấp (18.3% và 25.3 %). 45,7% số cán bộ quản lý cho rằng điều dưỡng, hộ
sinh chưa thực hiện công việc này hoặc có làm nhưng có nhiều hạn chế.
3.1.2. Thực trạng thực hiện quy trình kỹ thuật của điều dưỡng, hộ sinh
Bảng 1: Thực hiện 10 quy trình tại 10 Bệnh viện
Thành thạo Chưa chuẩn Bỏ bước Quy trình
Kỹ thuật
n=120
Tần số % Tần số % Tần số %
Tiêm bắp thịt 13 8 61,5 4 30,8 1 7,7
Truyền dịch 13 9 69,2 2 15,4 2 15,4
Tiêm tĩnh mạch 13 8 61,5 4 30,8 1 7,7
Đo nhiệt độ 15 11 73,3 3 20,0 1 6,7
Theo dõi mạch 14 10 71,4 3 21,4 1 7,2
Theo dõi nhịp thở 12 9 75,0 2 16,7 1 4,8
Đo Huyết áp 14 10 71,4 3 21,4 1 7,2
Thở ôxi 9 6 66,7 1 11,1 2 14,3
Cho ăn = sonde 7 4 57,1 2 28,6 1 14,3
Thay băng 10 7 70,0 1 10,0 2 20,0
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
60
Nhận xét: mức độ thành thạo (57,1-75,0 %), một số còn bỏ bước (4,8-20,0 %)
3.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực hành của Điều dưỡng viên
Bảng 2: Mối liên quan giữa tuổi, trình độ, tuyến công tác và năng lực thực hành
Năng lực
Nhóm tuổi
Thành thạo (n) Chưa chuẩn (n)
Tổng
< 30 tuổi 14 12 26
Từ 30-39 tuổi 9 6 15
Nhóm tuổi Năng lực Tổng 79
Thành thạo (n) Chưa chuẩn (n)
;
2
= 4.7; p < 0.01
Cao đẳng trở lên 28 3 31
Trung cấp 54 35 89
Tổng 82 38 120
;
2
= 9.3; p < 0.01
Miền núi 17 20 37
Đồng bằng, ven biển 46 15 61
Tp Vinh 19 3 22
Tổng 82 38 120
;
2
= 13.4; p < 0.01
Nhận xét: Có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê về năng lực thực hành giữa các nhóm
tuổi, trình độ chuyên môn và tuyến công tác.
3.2 Thực trạng về đội ngũ giáo viên,
cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học,
chương trình, giáo trình môn học
Kết quả đánh giá kiểm định chất lượng
giáo dục của khu vực Bắc Trung Bộ năm
2008 được thể hiện ở biểu đồ 5. Theo kết
quả đánh giá của đoàn kiểm định, nhà
trường đã đạt 92.9% so với chuẩn Kiểm
định chất lượng đào tạo
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
61
Biểu đồ 5: Tỷ lệ đạt của các tiêu chí được kiểm định
3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo
3.3.1. Giải pháp về quản lý và phối hợp nhà trường-bệnh viện
Bảng 3: Các giải pháp phối hợp được các nhà quản lý đề cập (n = 105)
Giải pháp Ý kiến đề xuất Tỷ lệ %
Phối hợp quản lý lâm sàng chặt chẽ 100 95,2
Tập huấn pp dạy học lâm sàng cho Bs, ĐD bệnh viện 100 95,2
Dự báo hàng năm nhu cầu nguồn nhân lực ngành y tế 97 92,4
Tổ chức hội nghị các cơ sở bệnh viện thực hành đầu năm 85 81,0
Xây dựng chương trình, giáo trình có sự tham gia góp ý
kiến của đơn vị sử dụng nhân lực y tế
83 79,1
Điều tra định kỳ 5 năm nhu cầu XH, mô hình bệnh tật 81 77,1
Nhận xét: Các ý kiến phần lớn đề cập
đến quản lý lâm sàng chặt chẽ, tập huấn
nâng cao năng lực cho cán bộ bệnh viện
tham gia giảng dạy lâm sàng, dự báo nguồn
nhân lực. Có gần 80% số ý kiến cho rằng
khi xây dựng chương trình phải có sự tham
gia của cơ sở thực hành.
3.3.2 Giải pháp về tăng cường nguồn lực
Số liệu ở bảng 4 cho thấy: Giải pháp
kết hợp Viện-Trường được 100% các cán
bộ được phỏng vấn đề xuất. Từ 91- 96%
số cán bộ được hỏi cho rằng cần tăng
cường đào tạo chuyên khoa cho điều
dưỡng, tăng cường nghiên cứu khoa học.
Các ý kiến về tăng cường đầu tư hơn nữa
cho cơ sở đào tạo và có chính sách để thu
hút đội ngũ giáo viên giỏi cũng được
nhiều ý kiến đề cập.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
62
Bảng 4: Các giải pháp tăng cường được các nhà quản lý đề cập (n = 105):
Giải pháp Ý kiến đề xuất Tỷ lệ %
Kết hợp Trường-Viện 105 100,0
Đào tạo nâng cao, chuyên sâu 101 96,2
Sáng kiến, cải tiến kỹ thuật 96 91,4
Khai thác hiệu quả TTB, tiết kiệm trong sử dụng vật tư 96 91,4
Thu hút cán bộ có trình độ cao 89 84,8
Tăng đầu tư cho giáo dục 75 71,4
3.3.3 Một số giải pháp khác (n = 105)
a) Trang bị kiến thức
Bảng 5: Nhu cầu đào tạo về kiến thức
Nội dung kiến thức Ý kiến đề xuất Tỷ lệ %
Phòng chống nhiễm khuẩn 102 97,1
Hồi sức cấp cứu 99 94,3
Sử dụng, bảo quản, vận hành trang thiết bị, máy móc y tế 97 92,4
Nội dung kiến thức Ý kiến đề xuất Tỷ lệ %
Chuyên khoa Nhi 86 81,9
Vệ sinh an toàn thực phẩm 85 81,0
Chẩn đoán điều dưỡng 84 80,0
Chuyên khoa hệ ngoại 82 78,1
Chuyên khoa hệ nội 75 71,4
Vệ sinh phòng dịch 71 67,6
Nhận xét: Hơn 90% số ý kiến cho rằng
học sinh, sinh viên điều dưỡng, hộ sinh
phải được trang bị kiến thức kiểm soát
nhiễm khuẩn, chăm sóc cấp cứu; sử dụng,
bảo quản, vận hành sử dụng trang thiết bị.
Nhiều ý kiến mong muốn sinh viên phải
được đào tạo chuyên khoa.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
63
b) Rèn luyện kỹ năng
Bảng 6: Nhu cầu đào tạo về kỹ năng (n = 105)
Kỹ năng Ý kiến đề xuất Tỷ lệ %
Kỹ năng truyền thông-Giáo dục sức khoẻ 105 100,0
Kỹ năng tư vấn 105 100,0
Kỹ năng quản lý điều dưỡng 103 98,1
Kỹ năng thực hiện các quy trình kỹ thuật điều dưỡng
chuyên khoa, hồi sức cấp cứu
99 94,3
Kỹ năng tin học, ngoại ngữ 89 84,8
Kỹ năng nhận định, chẩn đoán điều dưỡng. 76 72,4
Kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc điều dưỡng 76 72,4
Nhận xét: Nhu cầu kỹ năng được đề cập chủ yếu là Tư vấn, Truyền thông-Giáo dục
sức khỏe, Quản lý điều dưỡng và quy trình kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa.
4. BÀN LUẬN
Qua điều tra 420 HS-SV tốt nghiệp
ra trường và 105 cán bộ quản lý, chúng
tôi thấy rằng: đa số ý kiến cho rằng học
sinh, sinh viên sau tốt nghiệp đã áp dụng
kiến thức đã học vào công việc (90,3-
92,7 % số ý kiến), kết quả này cũng
tương tự nghiên cứu của Cao Thúc Sinh
[2]. Về số quy trình kỹ thuật đã học ở
trường và làm được sau khi ra trường đạt
tỷ lệ khá cao (65,1% cho điều dưỡng và
69,4% cho hộ sinh), tuy nhiên cán bộ
quản lý đánh giá tỷ lệ này thấp hơn (37,2
%). Nghiên cứu của Hà Thị Soạn tại Phú
Thọ năm 2004 cho thấy tỷ lệ này chỉ là
50,9 % [3]; Kết quả khảo sát của chúng
tôi (biểu đồ 3) cho thấy khi thực hiện các
thủ thuật tỷ lệ bỏ bước còn khá cao (14,8
cho hộ sinh và 24,4% cho điều dưỡng),
cán bộ quản lý đánh giá điều dưỡng, hộ
sinh làm tắt, bỏ bước còn cao hơn (26,1%).
Theo nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Phú
tỷ lệ này là 11% [1]. Trong nghiên cứu
của chúng tôi tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh
thường xuyên thực hiện tư vấn, giáo dục
sức khoẻ chiếm tỷ thấp (18.3% cho điều
dưỡng và 25.3% cho hộ sinh). Nhiều cán
bộ quản lý cho rằng điều dưỡng, hộ sinh
chưa làm, hoặc làm không tốt nhiệm vụ
này (45,7% số ý kiến). Kết quả này thấp
hơn kết quả trong nghiên cứu của Cao
Thúc Sinh năm 2005 [2]. Điều này cho
thấy cần tăng cường đào tạo trong nhà
trường về tư vấn giáo dục sức khỏe cho
học sinh, sinh viên để các em có nhận
thức tốt hơn về tầm quan trọng của công
việc này và có đủ năng lực để thực hiện
tư vấn, giáo dục sức khỏe.
Đánh giá thực hiện 10 quy trình kỹ
thuật điều dưỡng do điều dưỡng, hộ
sinh thực hiện trong nghiên cứu của
chúng tôi cho thấy mức độ thành thạo chiếm
tỷ lệ 57.1-75.0%, bỏ bước (4.8-20.0 %).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
64
Kết quả này cũng tương tự như kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Phú (đủ
bước và thành thạo: 68,3%; bỏ bước:
11%) [1] và của Đỗ Đình Xuân (đủ bước
và thành thạo 73,8%, bỏ bước 20,9%)
[4]. Như vậy có thể thấy tình trạng cắt
xén động tác khi thao tác của điều dưỡng,
hộ sinh là khá phổ biến và cần được tăng
cương quản lý.
Theo kết quả đánh giá kiểm định chất
lượng đào tạo của khu vực Bắc Trung Bộ
năm 2008, trường Cao đẳng Y tế Nghệ
An có các tiêu chuẩn quan trọng theo yêu
cầu kiểm định đạt điểm tương đối cao so
với điểm chuẩn, tuy nhiên còn một số
tiêu chuẩn mà nhà trường cần phải nỗ lực
nhiều hơn đó là: đánh giá học sinh trường
và và cơ sở thực hành, trang thiết bị, đồ
dùng dạy học vì hiện nay điểm của các
tiêu chí này còn thấp.
Nghiên cứu của chúng tôi đã tìm hiểu
ý kiến về những giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng đào tạo của nhà trường
trong đó có những giải pháp cần khẩn
trương triển khai đó là: Tập huấn
phương pháp dạy học lâm sàng cho
bác sĩ, điều dưỡng của bệnh viện nơi
có học sinh, sinh viên đến thực tập;
xây dựng chương trình, giáo trình có
sự tham gia góp ý kiến của đơn vị sử
dụng nhân lực y tế. Các giải pháp như
dự báo hàng năm nhu cầu nguồn nhân
lực ngành y tế và định kỳ điều tra
khảo sát nhu cầu xã hội, mô hình bệnh
tật là những đề xuất cần xem xét để áp dụng.
Ngoài ra các ý kiến về tăng cường cơ
sở vật chất, trang thiết bị, nâng cao trình
độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ giáo
viên nhà trường cũng là những đề xuất
hợp lý nếu muốn nâng cao chất lượng
đào tạo của nhà trường.
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra
một số kết luận sau: (i) Phần lớn học
sinh, sinh viên sau tốt nghiệp đã áp dụng
tốt kiến thức vào thực tế công việc, tuy
nhiên có một số thủ thuật ít có cơ hội
được thực hiện trong thực tế công việc;
(ii) Tuy có sự đánh giá khác nhau giữa
đối tượng học sinh, sinh viên đã tốt
nghiệp và cán bộ chủ chốt của các cơ sở
y tế nơi tiếp nhận học sinh, sinh viên tốt
nghiệp về là việc, nhưng nhìn chung ý
kiến đều thống nhất về sự hạn chế về kỹ
năng tay nghề của sinh viên sau tốt
nghiệp, trong đó tình trạng cắt xén động
tác, chưa thực hiện nghiêm túc các quy
trình kỹ thuật cũng còn khá phổ biến;
(iii) Nghiên cứu đã tìm hiểu và tập hợp
được nhiều ý kiến đề xuất giải pháp hữu
ích nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
của nhà trường.
Dựa trên những kết quả và kết luận
trên đây, nhóm nghiên cứu đề nghị
1. Đối với Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và
Đào tạo: Xây dựng các chương trình
khung mang tính phù hợp, khả thi, liên
thông, hội nhập và đáp ứng nhu cầu sử
dụng nguồn nhân lực y tế.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
65
2. Đối với tỉnh: Đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất, mua sắm trang thiết bị,
phương tiện dạy học cho Trường; Tăng
biên chế để tiếp nhận, thu hút cán bộ có
trình độ cao về trường công tác lâu dài.
3. Đối với Sở Nội vụ: xây dựng cơ
chế chính sách, các quy định cụ thể để
thu hút và điều chuyển cán bộ có trình
độ cao về Trường cũng như cơ chế
khuyến khích cán bộ đi học tập nâng cao
trình độ.
4. Đối với lãnh đạo nhà trường: Cải
tiến chương trình giáo dục theo hướng
đáp ứng yêu cầu người sử dụng, người
học; Xây dựng kế hoạch đào tạo khoa
học, khả thi, hiệu quả; Tăng cường công
tác kiểm tra, giám sát quá trình đào tạo;
Áp dụng các biện pháp nâng cao chất
lượng đào tạo bắt đầu năm học 2009 -2010
như kết hợp Viện-Trường; Có chính sách
thu hút cán bộ trình độ cao; Tăng cường
cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học;
nâng cao chất lượng quản lý đào tạo.v.v.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Cảnh Phú và cộng sự.
Nghiên cứu giải pháp kết hợp giữa
Trường Cao đẳng Y tế với các bệnh viện
để nâng cao chất lượng dạy/học lâm sàng
và chăm sóc người bệnh tại Nghệ An,
(2007), Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa
học Điều dưỡng, Nhà xuất bản Giao
thông Vận tải-Hà Nội.
2. Cao Thúc Sinh, Một số giải pháp
chủ yếu nâng cao chất lượng đào tạo tại
trường Cao đẳng Y tế Nghệ An giai đoạn
2004 -2010, Luận văn Thạc sỹ khoa học
giáo dục, Đại học Vinh.
3. Hà Thị Soạn (2004), Hiện trạng
nguồn nhân lực điều dưỡng, hộ sinh, kỹ
thuật viên tại các cơ sở y tế nhà nước và
tư nhân tỉnh Phú Thọ năm 2004, kỷ yếu
nghiên cứu khoa học điều dưỡng toàn
quốc lần thứ II.
4. Đỗ Đình Xuân và cộng sự, Đánh
giá thực trạng nguồn nhân lực giáo viên
của các trường, các khoa đào tạo Điều
dưỡng và công tác đào tạo Điều dưỡng ở
nước ta. Trình bày tại Hội nghị phát triển
nguồn nhân lực Điều dưỡng Việt Nam
(2005), Nam Định.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
66
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN
NGHỊ ĐỊNH SỐ 43/2006/NĐ-CP ĐẾN NGUỒN NHÂN LỰC
ĐIỀU DƯỠNG TẠI 7 KHOA LÂM SÀNG CỦA BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2010
ThS. Bùi Văn Thắng - Phòng ĐD Bệnh viện Bạch Mai
TÓM TẮT
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang kết
hợp định lượng và định tính được tiến
hành tại 7 khoa lâm sàng của bệnh viện
Bạch Mai từ tháng 1 đến tháng 6 năm
2010 nhằm mục tiêu: (1) Phân tích thực
trạng nguồn nhân lực điều dưỡng tại 7
khoa lâm sàng của bệnh viện Bạch Mai
năm 2010; (2) Tìm hiểu tác động của
việc thực hiện Nghị định 43 đến nguồn
nhân lực điều dưỡng tại 7 khoa lâm sàng
của bệnh viện Bạch Mai; (3) Đề xuất
những giải pháp để nâng cao năng lực
của điều dưỡng cả về số lượng, chất
lượng và khả năng hoàn thành công việc.
Số liệu định lượng được thu thập thông
qua 30 phiếu quan sát trực tiếp công việc
hàng ngày của điều dưỡng và 145 phiếu
khảo sát điều dưỡng viên; số liệu định
tính được thu thập bằng phương pháp
thảo luận nhóm đối với 07 điều dưỡng
trưởng khoa và 07 điều dưỡng viên. Kết
quả nghiên cứu cho thấy: Về trình độ
chuyên môn: 84,1% điều dưỡng tại 7
khoa vẫn có trình độ trung cấp; 15,9% có
trình độ cao đẳng và đại học; Hiện nay
đang xảy ra tình trạng quá tải cho điều
dưỡng tại 7 khoa do thiếu nhân lực, sự
quá tải này là cao hơn so với trước khi
khoán; Công tác đào tạo cho điều dưỡng
tại một số khoa ít được quan tâm hơn so
với trước khi khoán; Khi thực hiện khoán
quản thì ý thức trách nhiệm của điều dưỡng
được nâng lên, cẩn thận hơn trong công việc
để tránh sai sót, điều dưỡng ít nghỉ hơn;
Lãnh đạo khoa quan tâm hơn đến công tác
chuyên môn của điều dưỡng; Sự phối hợp,
giúp đỡ nhau giữa các NVYT trong khoa tốt
hơn và sự trao đổi thông tin về người bệnh
cũng nhiều hơn; Thu nhập của điều dưỡng
cao hơn so với trước khi khoán, đời sống ổn
định hơn giúp cho điều dưỡng yên tâm công
tác. Nghiên cứu cũng đã đưa ra một số
khuyến nghị: cần nhận thêm nhân lực điều
dưỡng về khoa, ưu tiên tuyển dụng điều
dưỡng có trình độ cao đẳng và đại học; Ban
lãnh đạo các khoa phải thực sự quan tâm,
ủng hộ và bảo vệ quyền lợi cho điều dưỡng;
Triển khai mô hình: bác sĩ cho thuốc trực
tiếp vào máy vi tính; Tổ chức đào tạo nâng
cao trình độ chuyên môn cho điều dưỡng
bằng nhiều hình thức; Các phòng chức
năng, khối hậu cần cũng phải vào cuộc để
trả điều dưỡng về làm việc theo đúng chức
trách nhiệm vụ của mình; Xây dựng và thực
hiện theo phác đồ điều trị chuẩn hoặc
protocol hướng dẫn điều trị.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự ra đời của hệ thống dịch vụ hành
nghề y tư nhân đã góp phần tạo ra một
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
67
bước tiến quan trọng trong việc huy động
các nguồn tài chính, nhân lực và cung cấp
các dịch vụ khám chữa bệnh cho nhân dân.
Kéo theo đó là việc thu hút nguồn nhân lực
từ cơ sở y tế công sang cơ sở y tế tư nhân
thông qua việc trả lương cao cũng như
điều kiện làm việc tốt, sự chênh lệch này
ngày càng lớn. Để giúp các đơn vị sự
nghiệp công lập chủ động trong công tác
quản lý, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 10/2002/NĐ-CP về chế độ tài chính áp
dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu, tuy
nhiên khi đưa vào thực hiện thấy còn nhiều
bất cập nên cần phải bổ sung, điều chỉnh
và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày
25/04/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ
chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với
đơn vị sự nghiệp công lập đã được ban
hành[9].
Ngày 28/12/2006 Bộ trưởng Bộ Y tế
đã ký Quyết định số 5550/QĐ-BYT về
việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về tài chính đối với đơn vị sự
nghiệp công lập và cụ thể là bệnh viện
Bạch Mai. Theo quyết định này, bệnh viện
Bạch Mai được phân loại đơn vị tự bảo
đảm một phần chi phí hoạt động[7].
Ngày 22/5/2007, Giám đốc bệnh viện
Bạch Mai đã ký Quyết định số 252/QĐ-
BM về việc ban hành quy chế quy định
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực
hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
và tài chính cho các đơn vị trực thuộc
bệnh viện Bạch Mai, đợt đầu tiên gồm
20 đơn vị từ tháng 6 năm 2007, trong đó có
12 đơn vị lâm sàng, quyền tự chủ được
giao cho lãnh đạo các đơn vị dưới sự quản
lý của Ban Giám đốc bệnh viện[6]. Từ khi
triển khai thực hiện Nghị định này, số
lượng bệnh nhân nội trú đã liên tục tăng
mạnh qua các năm, đến nay đã tăng lên
23.876 bệnh nhân so với thời điểm bắt đầu
thực hiện khoán quản. Chỉ tiêu giường bệnh
kế hoạch cho bệnh viện từ 1.080 giường
năm 2007 đến 1.500 giường năm 2008 và
cuối năm 2009 là 1.800 giường. Tuy nhiên
việc bổ sung nhân lực lại không theo kịp
với đà tăng trưởng đó dẫn đến tình trạng
thiếu nhân lực y tế tại bệnh viện[1], [3], [4].
Vậy việc triển khai thực hiện Nghị định 43
đã có tác động như thế nào đến nguồn nhân
lực điều dưỡng tại các khoa đã khoán quản?
Tại bệnh viện Bạch Mai chưa có nghiên
cứu khoa học chính thức nào về vấn đề này.
Chính vì vậy, với khả năng về nguồn lực và
phạm vi của đề tài này, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu “Phân tích tác động của việc
thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP đến
nguồn nhân lực điều dưỡng tại 7 khoa lâm
sàng của bệnh viện Bạch Mai, năm 2010”
nhằm 3 mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng nguồn nhân lực
điều dưỡng tại 7 khoa lâm sàng của bệnh
viện Bạch Mai năm 2010.
2. Phân tích tác động của việc thực
hiện Nghị định 43 đến nguồn nhân lực
điều dưỡng tại 7 khoa lâm sàng của bệnh
viện Bạch Mai.
3. Đề xuất những giải pháp để nâng
cao nguồn nhân lực điều dưỡng cả về số
lượng, chất lượng và khả năng hoàn thành
công việc.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
68
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu
Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết
hợp nghiên cứu định lượng và định tính.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả Điều dưỡng viên có thâm niên
công tác tại 7 khoa từ trước năm 2007.
2.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: được tiến hành
từ tháng 12/2009 đến hết tháng 06/2010.
2.4. Địa điểm nghiên cứu
Tại 7 khoa lâm sàng của bệnh viện
Bạch Mai: khoa Thần kinh, khoa Huyết
học truyền máu, khoa Hồi sức tích cực,
khoa Thận tiết niệu, khoa Cơ xương
khớp, khoa Nội tiết & Đái tháo đường,
khoa Hô hấp.
2.5. Cỡ mẫu và phương pháp thu
thập số liệu
- Số liệu định tính: Áp dụng phương
pháp thảo luận nhóm riêng đối với 7 điều
dưỡng trưởng và 7 điều dưỡng viên của 7
khoa lâm sàng trong bệnh viện.
- Số liệu định lượng:
- 150 phiếu khảo sát ý kiến của điều
dưỡng được thu thập theo phương pháp
phát vấn: trong buổi giao ban của các đơn
vị, điều tra viên thông báo mục đích của
nghiên cứu và cách trả lời phiếu khảo sát
theo quy định trong phiếu hướng dẫn, phát
phiếu để điều dưỡng tự điền và kiểm tra sự
đầy đủ của thông tin khi thu phiếu.
Điều dưỡng có thể điền phiếu và nộp ngay
hoặc điền vào thời gian thích hợp và nộp
lại vào sáng hôm sau cho điều tra viên.
Điều tra viên sau khi phát vấn và thu phiếu
đã kiểm tra và làm sạch số liệu trước khi
nộp phiếu cho giám sát viên.
- 30 phiếu quan sát trực tiếp công việc
của điều dưỡng được thực hiện theo
phương pháp mù đơn. Quan sát viên sẽ
đến các khoa và ghi lại tất cả những công
việc của người điều dưỡng trong 1 ngày
làm việc (bắt đầu từ lúc 7 giờ 30 phút cho
đến khi hết ca), mỗi phiếu chỉ dùng để
quan sát cho 1 điều dưỡng trong 1 nhóm
chăm sóc.
2.6. Phân tích số liệu
- Số liệu định lượng sau khi thu thập
đã được nhập bằng phần mềm Epi Data 3.1
và được xử lý bằng phần mềm SPSS 15.0
cho các thông tin mô tả và phân tích thống
kê. Mức độ hài lòng so với trước khi
khoán được chia thành 3 nhóm: nhóm ít
hài lòng hơn, sự hài lòng không thay đổi
và nhóm hài lòng hơn để tính tỷ lệ hài lòng
với việc thực hiện Nghị định 43 theo từng
tiểu mục.
- Thông tin từ các phiếu quan sát đã
được mã hóa và phân tích theo số liệu định
lượng, có liên hệ với chức năng nhiệm vụ
của người điều dưỡng.
- Các số liệu định tính được xử lý theo
phương pháp thông thường.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
69
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng tại 7 khoa lâm sàng
Bảng 1: Thông tin về tuổi và thâm niên của đối tượng nghiên cứu
Thông tin chung N Tỷ lệ (%)
Tuổi (mean = 36,7; min = 25; max = 59) 145 100
≤ 29 tuổi 24 16,6
30-39 tuổi 77 53,1
40-49 tuổi 25 17,2
≥ 50 tuổi 19 13,1
Thâm niên công tác (mean = 13,9) 145 100
s 9 năm 58 40,0
10-19 năm 50 34,5
20-29 năm 25 17,2
≥ 30 năm 12 8,3
Điều dưỡng trong nghiên cứu này có độ
tuổi trung bình là 36,7; thấp nhất là 25 tuổi
và cao nhất là 59 tuổi; cao nhất là nhóm tuổi
30-39 chiếm 53,1%; nhóm tuổi ≥ 50 chỉ
chiếm 13,1%; điều dưỡng có thâm niên
công tác ≤ 9 năm chiếm đa số (40%). Điều
này cho thấy nhân lực điều dưỡng tại 7 khoa
lâm sàng đa số là trẻ, bên cạnh đó cũng có
13,1% điều dưỡng có độ tuổi ≥ 50, đây là
đội ngũ sắp sửa về nghỉ hưu theo quy định,
do vậy những nhà quản lý cũng cần có kế
hoạch bổ sung nhân lực trong thời gian tới.
Bảng 2: Thông tin về giới, trình độ lao động của đối tượng nghiên cứu
Thông tin chung N Tỷ lệ (%)
Giới tính: 145 100
- Nam 9 6,2
- Nữ 136 93,8
Trình độ chuyên môn 145 100
- Trung cấp 122 84,1
- Cao đẳng 5 3,5
- Đại học 18 12,4
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
70
Giới tính của điều dưỡng trong nghiên
cứu này đa số là nữ (chiếm 93,8%); nam
giới chỉ chiếm 6,2%. Tỷ lệ này thấp hơn
trong nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai
của Đỗ Xuân Quang năm 2005
(12,9%)[12] và nghiên cứu của Nguyễn Thị
Minh Tâm trên địa bàn Hà Nội năm 2004
(14,3%)[13]. Phần lớn điều dưỡng có trình
độ trung cấp (84,1%); trình độ cao đẳng
hoặc đại học chỉ chiếm 15,9%. Điều này
cũng chứng tỏ tình trạng thiếu hụt điều
dưỡng có trình độ cao đẳng hoặc đại học.
Tỷ lệ này theo quy định đối với bệnh viện
Bạch Mai phải đạt ≥ 30%.
Bảng 3: Tỷ lệ về nhân lực tại 7 khoa tính trung bình năm 2009
Tỷ lệ BS/ĐD
Stt Tên đơn vị
Theo quy định Thực tế
1 Hô hấp 1/3-3,5 1/2,3
2 Nội tiết & Đái tháo đường 1/3-3,5 1/1,7
3 Thận tiết niệu 1/3-3,5 1/2,1
4 Hồi sức tích cực 1/4,8 1/3,8
5 Cơ xương khớp 1/3-3,5 1/1,7
6 Huyết học truyền máu 1/3-3,5 1/2,6
7 Thần kinh 1/3-3,5 1/3,0
Bảng 3 cho thấy số lượng điều dưỡng
tại 7 khoa lâm sàng trong bệnh viện hiện
nay so với quy định đều thiếu đặc biệt là
tại khoa Cơ xương khớp và khoa Nội tiết
(mới đạt tỷ lệ 1 bác sĩ/1,7 điều dưỡng).
Tỷ lệ này thấp hơn tỷ lệ trung bình
chung của toàn bệnh viện theo thống kê
của phòng TCCB (1 bác sĩ/2,3 điều
dưỡng)[5]. Theo nghiên cứu của tác giả
Khương Anh Tuấn và cộng sự tại 5 bệnh
viện Trung ương trong đó có BV Bạch
Mai cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế trên 1
giường bệnh dao động từ 0,57-1,09 là
quá thấp so với quy định[14].
Bảng 4: Số lượng bệnh nhân trung bình mà 1 điều dưỡng phải chăm sóc
Trong giờ
hành chính
Trong ca trực
Số lượng bệnh nhân phải chăm sóc
N % N %
< 10 bệnh nhân 60 41,4 27 18,6
10 s 20 bệnh nhân 36 24,8 20 13,8
20 s 30 bệnh nhân 20 13,8 0 0
≥ 30 bệnh nhân 29 20,0 98 67,6
Tổng cộng 145 100 145 100
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
71
Bảng 4 cho thấy số lượng bệnh nhân
mà 1 điều dưỡng phải chăm sóc hiện nay là
khá nhiều, đặc biệt trong các ca trực. Tính
trung bình trong giờ hành chính 1 điều
dưỡng phải chăm sóc cho 19 bệnh nhân còn
trong đêm trực hoặc vào ngày nghỉ, 1 điều
dưỡng phải chăm sóc cho 53 bệnh nhân.
Đây cũng là áp lực đối với điều dưỡng
“Hiện nay 1 điều dưỡng phải chăm sóc cho
quá nhiều bệnh nhân, không thể đáp ứng
được yêu cầu về chăm sóc người bệnh toàn
diện” (ý kiến của ĐDT).
1.5
15.5
16.4
9.8
56.9
Giao ban TH thuốc CS khác Ghi chép Việc riêng
Biểu đồ 1: Tỷ lệ về thời gian tiến hành các công việc của điều dưỡng
Kết quả tổng hợp từ phiếu quan sát
trực tiếp công việc của điều dưỡng tại
biểu đồ 1 cho thấy trong tổng thời gian
làm việc hàng ngày tại bệnh viện, thời
gian dành cho việc thực hiện các y lệnh
về thuốc cho bệnh nhân chiếm đến 56,9%
(gồm phát thuốc, tiêm, truyền); những
chăm sóc khác như hướng dẫn, thay băng,
lấy xét nghiệm chỉ chiếm 15,5% thời
gian. Giải thích về vấn đề này có ý kiến
đã cho rằng: “Số lượng bệnh nhân mà 1
điều dưỡng phải chăm sóc là quá lớn
nhất là trong ca trực, số lượng y lệnh
phải thực hiện cho 1 bệnh nhân hiện nay
cũng nhiều đặc biệt là nhiều loại thuốc
phải dùng đường tiêm hoặc truyền tĩnh
mạch nên chiếm rất nhiều thời gian của
điều dưỡng” (ý kiến của ĐDV).
3.2. Tác động của việc thực hiện Nghị định 43 đến nguồn nhân lực điều dưỡng
3.2.1. Tác động đến công việc của người điều dưỡng
Bảng 5: Tỷ lệ điều dưỡng/giường bệnh tại các đơn vị trước và sau khoán
Tỷ lệ ĐD/GB
Stt Tên đơn vị
Năm 2007 Năm 2009
1 Hô hấp 1/2,8 1/3,2
2 Nội tiết & Đái tháo đường 1/3,1 1/3,5
3 Thận tiết niệu 1/4,2 1/4,0
4 Hồi sức tích cực 1/0,9 1/0,9
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
72
Tỷ lệ ĐD/GB
Stt Tên đơn vị
Năm 2007 Năm 2009
5 Cơ xương khớp 1/3,1 1/3,7
6 Huyết học truyền máu 1/2,1 1/6,5
7 Thần kinh 1/1,5 1/3,4
8 Trung bình 1/2,5 1/3,6
Bảng 5 cho thấy tính trung bình số giường bệnh kế hoạch do 1 điều dưỡng phụ trách
tại các khoa đã tăng lên 1,1 giường so với trước khi khoán, đặc biệt là tại khoa Huyết học
truyền máu (từ 2,1 lên 6,5) và khoa Thần kinh (từ 1,5 lên 3,4).
Bảng 6: Ý kiến của điều dưỡng về những công việc hiện nay
Có Không
Nội dung
N % N %
Điều dưỡng phải làm những công việc khác
so với trước khi khoán
86 59,3 59 40,7
Khoa triển khai thêm các kỹ thuật mới trong
chẩn đoán, điều trị và chăm sóc sau khi
khoán quản
119 82,1 26 17,9
Thống kê cho thấy 40,7% điều
dưỡng cho rằng họ đang phải làm
thêm những việc mà trước khi khoán họ
không phải làm. “Điều dưỡng đang phải
làm những việc mà đúng ra người
khác phải làm như: thực chi thanh toán
cho bệnh nhân, quản lý thẻ bảo hiểm y
tế, nhập y lệnh của bác sĩ vào máy tính,
đi lĩnh thuốc,...” (ý kiến của ĐDT).
82,1% điều dưỡng trả lời là sau khi thực
hiện khoán quản, khoa có triển khai
thêm các kỹ thuật mới trong chẩn đoán
và điều trị, trong đó chỉ có 42,9% điều
dưỡng không tham gia trong các kỹ thuật
này; 50,4% kiêm nhiệm còn 6,7% là
chuyên trách.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
73
0
11.7
88.3
57.2
26.9
15.9
0
20
40
60
80
100
%
Khối lượng công việc Sai sót trong công việc
Ít hơn Vẫn như vậy Nhiều hơn
Biểu đồ 2: So sánh của ĐD về khối lượng và sai sót trong công việc,
giữa trước và sau khi thực hiện khoán quản
Hầu hết điều dưỡng viên và điều
dưỡng trưởng tham gia thảo luận nhóm
đều cho rằng “Sự quá tải của điều dưỡng
hiện nay thể hiện ở: số lượng bệnh nhân
phải chăm sóc hàng ngày, số lượng y lệnh
phải thực hiện cho 1 bệnh nhân, có quá
nhiều thuốc phải thực hiện bằng đường
tiêm hoặc truyền tĩnh mạch, những việc
ngoài công tác chuyên môn như: thực chi
thanh toán, quản lý thẻ BHYT, đi lĩnh
thuốc...” (ý kiến của ĐDT). Kết quả thống
kê cho thấy mặc dù khối lượng công việc
nhiều nhưng sai sót trong công việc ít, lý
do được đưa ra là “Khi trong khoa có sai
sót gì thì đầu tiên mọi người thường nghĩ
là do điều dưỡng, không có ai đứng lên
để bảo vệ, cùng với đó là việc trừ tiền
thưởng đối với người để xảy ra sai sót
nên mọi người đều cẩn thận hơn” (ý kiến
của ĐDV).
3.2.2. Tác động đến số lượng và chất lượng nhân lực điều dưỡng
54,5% điều dưỡng khi được hỏi đều trả lời là số điều dưỡng hiện nay tại các khoa so
với trước khi thực hiện khoán là thiếu hơn, lý do được thống kê theo bảng sau:
Bảng 7: Lý do thiếu điều dưỡng tại các khoa
Lý do N Tỷ lệ %
Điều dưỡng không muốn về khoa 10 12,7
Bệnh viện không cung cấp đủ 12 15,1
Khoa không muốn nhận thêm 30 38,0
Quá tải bệnh nhân và công việc 20 25,3
Thiếu điều dưỡng đại học 1 1,3
ĐD không muốn về và BV không cung cấp đủ 1 1,3
BV không cung cấp đủ và khoa không nhận 3 3,8
Không biết lý do 2 2,5
Tổng cộng 79 100
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
74
Phần lớn ý kiến khảo sát của điều
dưỡng viên cho thấy lý do thiếu điều dưỡng
tại các khoa là do khoa không muốn nhận
thêm người. Tác giả Đàm Viết Cương và
cộng sự đã tiến hành đánh giá tác động ban
đầu của việc thực hiện tự chủ tài chính đối
với cung ứng và chi trả dịch vụ y tế, kết
quả cho thấy một xu hướng phổ biến về gia
tăng về số hợp đồng ngoài biên chế tại các
bệnh viện sau khi thực hiện tự chủ[11]. Tuy
nhiên, một số ý kiến của điều dưỡng trưởng
chưa tán thành với quan điểm này “Khoa
vẫn ưu tiên để nhận thêm nhân lực vì có đủ
người thì mới có thể triển khai được công
việc, để giải quyết tình trạng thiếu nhân
lực, các khoa đã phải ký hợp đồng thêm
điều dưỡng làm việc tại khoa”.
64,1% điều dưỡng khi được hỏi đều
cho rằng số lần tham dự các khóa đào tạo
về chuyên môn hiện nay so với trước khi
khoán là không thay đổi hoặc ít hơn, lý do
được đưa ra chủ yếu là thiếu nhân lực nên
khoa không sắp xếp được. Kết quả định
tính cũng phù hợp với nhận định trên
“Trước đây các khoa thường tập huấn về
chuyên môn theo chuyên khoa cho điều
dưỡng 1 hặc 2 tuần/lần, nay thì 1 tháng/lần
hoặc có khoa thì không thực hiện được một
cách thường xuyên. Một số điều dưỡng
Trung cấp có nguyện vọng đi học lên Cao
đẳng hoặc Đại học nhưng cũng không thực
hiện được do khoa không có người thay thế
nên chưa sắp xếp được” (ý kiến của ĐDT).
“Khi tham gia các lớp tập huấn, điều
dưỡng phải cam kết không ảnh hưởng đến
công việc tại khoa, nếu đi học thì phải làm
bù, vì vậy nên ĐD cũng không muốn đi
hoặc nếu đi thì cũng đến muộn về sớm” (ý
kiến của ĐDV).
3.2.3. Tác động đến quan điểm của lãnh đạo khoa và phối hợp của đồng nghiệp đối
với điều dưỡng
0.7
11
88.3
8.3
32.4
59.3
3.4
11.7
84.9
0
50
100
%
Kiểm tra Đào tạo Tạo áp lực
Ít hơn Vẫn như vậy Nhiều hơn
Biểu đồ 3: Sự quan tâm, tác động của lãnh đạo khoađối với công tác điều dưỡng
Theo kết quả khảo sát 88,3% điều
dưỡng cho biết sau khi thực hiện khoán
quản, lãnh đạo khoa kiểm tra công tác
chuyên môn của điều dưỡng nhiều hơn
trước và áp lực tạo ra cho điều dưỡng cũng
nhiều hơn trước. Điều này giúp cho hiệu
quả công việc trong khoa tốt hơn “Khi thực
hiện khoán quản, ý thức trách nhiệm của
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
75
cán bộ nhân viên cao hơn, thực hành tiết
kiệm hơn, cường độ lao động và hiệu quả
công việc tốt hơn, nhân viên y tế ít nghỉ
hơn kể cả khi vẫn còn nhiều ngày phép,
mọi người chú ý đến công việc hơn vì sợ
gặp phải sai sót, đời sống của nhân viên y
tế cao hơn và minh bạch hơn so với trước
khi khoán” (ý kiến của ĐDT).
4.1
22.8
73.1
3.4
27.6
69
5.5
35.2
59.3
0
20
40
60
80
%
PH để hoàn thành
CV
Trao đổi thông tin Giúp đỡ
Ít hơn Vẫn như vậy Nhiều hơn
Biểu đồ 4: Sự phối hợp của đồng nghiệp với ĐD giữa trước và sau khi khoán
Một trong những tác động tích cực
khác của việc thực hiện Nghị định 43 là
tăng cường sự phối hợp và trao đổi thông
tin giữa các nhân viên y tế với nhau.
73,1% điều dưỡng cho rằng đồng nghiệp
phối hợp tốt hơn; 69% trao đổi thông tin
nhiều hơn; 59,3% nhận được sự giúp đỡ
nhiều hơn.
3.2.4. Tác động đến thu nhập của điều dưỡng
Bảng 8: Nhận xét về thu nhập của bản thân hiện nay so với trước khi khoán
Nhận xét N Tỷ lệ (%)
Thấp hơn 16 11,0
Không thay đổi 19 13,1
Cao hơn 110 75,9
Tổng cộng 145 100
Kết quả đã cho thấy mức thu nhập
trung bình hàng tháng của điều dưỡng tại 7
khoa lâm sàng trong nghiên cứu này là
4.347.587 đồng/tháng; trong đó 75,9% đối
tượng nghiên cứu khi được hỏi đều cho
rằng thu nhập hiện nay của bản thân cao
hơn so với trước khi khoán quản; kết quả
định tính cũng trùng khớp với ý kiến này
“Từ khi thực hiện khoán, đời sống của
CBVC tại các khoa nói chung và điều
dưỡng nói riêng đã được nâng lên, thu
nhập hàng tháng tăng gần gấp đôi so với
trước khi khoán, có khoa còn cao hơn”
(ý kiến ĐDV).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
76
3.2.5. Mức độ hài lòng của điều dưỡng
Bảng 9: Mức độ hài lòng của điều dưỡng giữa trước và sau khi khoán
Ít HL hơn Vẫn như vậy HL hơn Hài lòng
của điều dưỡng
N=145 % N=145 % N=145 %
Tổng
cộng (%)
HL với công việc 47 32,4 74 51,0 24 16,6 100
HL với lãnh đạo 8 5,5 59 40,7 78 53,8 100
HL với đồng nghiệp 7 4,8 53 36,6 85 58,6 100
HL với thu nhập 26 17,9 86 59,3 33 22,8 100
Thống kê về sự hài lòng của điều
dưỡng giữa trước và sau khi khoán tại bảng
9 cho thấy công việc hiện nay làm cho điều
dưỡng ít hài lòng nhất (32,4%); tiếp sau đó
là thu nhập 17,9%; ít hài lòng hơn với lãnh
đạo và đồng nghiệp chiếm tỷ lệ thấp. Điều
làm cho điều dưỡng cảm thấy hài lòng hơn
so với trước khi khoán chính là sự phối hợp
của đồng nghiệp và sự quan tâm của lãnh
đạo khoa.
3.3. Giải pháp để nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực điều dưỡng tại 7 khoa
Bảng 10: Kết quả định tính về giải pháp nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực ĐD
Giải pháp
Ý kiến
của ĐDT
Ý kiến
của ĐDV
Thống nhất một phần mềm trong bệnh viện 7/7 7/7
Trả điều dưỡng về đúng chức năng nhiệm vụ của mình 7/7 7/7
Tuyển dụng thêm nhân lực, ưu tiên ĐD có trình độ cao đẳng
hoặc đại học
6/7 5/7
Đào tạo nâng cao trình độ cho ĐD 7/7 6/7
Bác sĩ cho thuốc vào máy vi tính 7/7 7/7
Xây dựng các phác đồ điều trị chuẩn 4/7 5/7
Tăng cường kiểm tra việc ra y lệnh 7/7 7/7
Hạn chế dùng thuốc theo đường tiêm 7/7 7/7
4. KẾT LUẬN
4.1. Thực trạng nguồn nhân lực điều
dưỡng
- Về số lượng: tính theo Thông tư số
08/2007/TTLT/BYT-BNV ngày 5 tháng 6
năm 2007 với tỷ lệ BS/ĐD quy định là 1/3-
1/3,5 thì hiện nay 7 khoa lâm sàng này còn
thiếu từ 46 đến 90 điều dưỡng.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
77
- Về trình độ chuyên môn: 84,1% điều
dưỡng tại 7 khoa vẫn có trình độ trung cấp;
theo quy định của Bộ Y tế thì đối với bệnh
viện hạng đặc biệt như BV Bạch Mai phải
đạt tỷ lệ ≥ 30% điều dưỡng có trình độ cao
đẳng và đại học.
- Về công việc: tình trạng quá tải cho
điều dưỡng do: số lượng bệnh nhân đông, y
lệnh thuốc nhiều, điều dưỡng phải thực chi
thanh toán, quản lý thẻ BHYT của BN, gõ
y lệnh của bác sĩ vào máy tính... dẫn đến
thời gian để thực hiện các chăm sóc khác
đối với bệnh nhân còn ít và công việc ghi
chép điều dưỡng thực hiện chưa tốt.
4.2. Tác động của việc thực hiện Nghị
định 43 đến nguồn nhân lực điều dưỡng
4.2.1. Tác động tốt
- Khi thực hiện khoán quản thì ý thức
trách nhiệm của điều dưỡng được nâng lên,
cẩn thận hơn trong công việc để tránh sai
sót, điều dưỡng ít nghỉ hơn.
- Lãnh đạo khoa quan tâm hơn đến
công tác chuyên môn của điều dưỡng.
- Sự phối hợp, giúp đỡ nhau giữa các
NVYT trong khoa tốt hơn và sự trao đổi
thông tin về người bệnh cũng nhiều hơn.
- Thu nhập của điều dưỡng cao hơn so
với trước khi khoán, đời sống ổn định hơn
giúp cho điều dưỡng yên tâm công tác.
4.2.1. Tác động chưa tốt
- Sự quá tải của điều dưỡng nhiều hơn
so với trước khi khoán:
- Việc đào tạo cho điều dưỡng tại một
số khoa ít được quan tâm hơn: do công việc
nhiều; thiếu nhân lực thay thế nên không
sắp xếp được cho điều dưỡng đi học.
4.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả
nguồn nhân lực điều dưỡng
- Cần thống nhất một phần mềm quản
lý thông tin của bệnh nhân trong toàn BV.
- Các đơn vị cần đảm nhận trách nhiệm
của mình để trả điều dưỡng về làm việc
theo đúng chức năng nhiệm vụ chính của
mình đó là chăm sóc bệnh nhân.
- Tăng cường thêm nhân lực điều
dưỡng cho các khoa.
- Xây dựng các phác đồ điều trị chuẩn
hoặc protocol hướng dẫn tại các khoa để
thống nhất về y lệnh.
5. ĐỀ NGHỊ
5.1. Đối với các khoa lâm sàng
- Cần nhận thêm nhân lực điều dưỡng
về khoa, cố gắng đạt chỉ tiêu về số lượng
điều dưỡng theo quy định tại Thông tư liên
tịch số 08/2007/TTLT/BYT-BNV của Bộ
Y tế và Bộ Nội vụ.
- Ban lãnh đạo các khoa phải thực sự
quan tâm, ủng hộ và bảo vệ quyền lợi cho
điều dưỡng. Tổ chức đào tạo tại chỗ để
nâng cao chuyên môn cho điều dưỡng.
- Triển khai mô hình: bác sĩ cho thuốc
trực tiếp vào máy vi tính để tránh nhầm lẫn
và giảm gánh nặng cho ĐD.
5.2. Đối với bệnh viện
- Cần xác định nhu cầu bổ sung nhân
lực điều dưỡng của các đơn vị và tiến hành
tuyển dụng để đáp ứng công tác chuyên
môn cũng như quy định của Bộ. Trong đó
ưu tiên tuyển dụng điều dưỡng có trình độ
cao đẳng và đại học để tránh tình trạng
thiếu nhân lực do điều dưỡng đi học.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
78
- Tổ chức đào tạo nâng cao trình độ
chuyên môn cho điều dưỡng bằng nhiều
hình thức: chính quy, tại chức, cầm tay chỉ
việc, tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa
hoặc theo chuyên đề để điều dưỡng các
khoa trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.
- Các phòng chức năng, khối hậu cần
cũng phải vào cuộc để trả điều dưỡng về
làm việc theo đúng chức trách nhiệm vụ
của mình, để điều dưỡng có nhiều thời gian
dành cho việc chăm sóc bệnh nhân hơn.
- Bệnh viện cần chỉ đạo các khoa xây
dựng và thực hiện theo phác đồ điều trị
chuẩn hoặc protocol hướng dẫn điều trị để
thuận lợi hơn cho công việc của điều dưỡng.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bệnh viện Bạch Mai (2007), Báo cáo
thống kê bệnh viện, Hà Nội.
2. Bệnh viện Bạch Mai (2007), Kế
hoạch triển khai thực hiện Nghị định 43
CP, Hà Nội.
3. Bệnh viện Bạch Mai (2008), Báo cáo
thống kê bệnh viện, Hà Nội.
4. Bệnh viện Bạch Mai (2009), Báo cáo
thống kê bệnh viện, Hà Nội.
5. Bệnh viện Bạch Mai (2009), Báo cáo
thống kê nguồn nhân lực của bệnh viện
Bạch Mai, Hà Nội.
6. Bệnh viện Bạch Mai (2007), Về việc
ban hành Quy chế quy định quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ,
tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính cho
các đơn vị trực thuộc Bệnh viện Bạch Mai,
Quyết định số 252/QĐ-BM, ngày 21 tháng
5 năm 2007.
7. Bộ Y tế (2006), Về việc giao quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với
đơn vị sự nghiệp công lập, Quyết định số
5550/QĐ-BYT, ngày 28 tháng 12 năm 2006.
8. Bộ Y tế-Bộ Nội vụ (2007), Hướng
dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các
cơ sở y tế nhà nước, Thông tư liên tịch số
08/2007/TTLT/BYT-BNV, ngày 05 tháng
06 năm 2007.
9. Chính phủ (2006), Quy định quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện
nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài
chính đối với sự nghiệp công lập, Nghị
định số 43/2006/NĐ-CP, ngày 25 tháng 4
năm 2006.
11. Đàm Viết Cương & cs (2008),
Đánh giá tác động ban đầu của việc thực
hiện tự chủ tài chính đối với cung ứng và
chi trả dịch vụ y tế, Viện chiến lược và
chính sách Y tế, Hà Nội.
12. Đỗ Xuân Quang & cs (2005), Đánh
giá nguồn nhân lực điều dưỡng, hộ sinh, kỹ
thuật viên tại bệnh viện Bạch Mai năm
2005, Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội.
13. Nguyễn Thị Minh Tâm & cs
(2005), "Khảo sát nhân lực điều dưỡng, hộ
sinh, kỹ thuật viên tại các cơ sở y tế khu
vực nhà nước và tư nhân trên địa bàn Hà
Nội", Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học
điều dưỡng toàn quốc lần thứ II, Nhà xuất
bản GTVT, Hà Nội, tr. 7-16.
14. Khương Anh Tuấn và cs (2007),
Đánh giá tình hình quá tải của một số bệnh
viện tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
và đề xuất giải pháp khắc phục, Viện Chiến
lược và Chính sách Y tế, Hà Nội.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
79
KHẢO SÁT NHU CẦU SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC Y TẾ TẠI NHÀ CỦA
NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG NĂM 2009
CNĐD. Nguyễn Thị Ly
Sở Y tế Hải Dương
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau hơn 20 năm đất nước đổi mới,
kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng trên
7% năm, đời sống của nhân dân được
nâng cao rõ rệt, đặc biệt khu vực thành
thị, nhu cầu sống cũng ngày càng đòi hỏi
cao hơn phù hợp với sự phát triển chung,
một trong những nhu cầu đó là chăm lo
sức khoẻ của chính mình cũng như người
thân trong gia đình.
Trong khi đó, bác sỹ, điều dưỡng gia
đình là một trong những hình thức chăm
sóc sức khoẻ nhân dân tại cộng đồng dân
cư, làm giảm tải cho hệ thống các bệnh
viện đã và đang được nhiều nước trên thế
giới hiện nay áp dụng.
Hiện tại, thành phố Hà Nội và thành
phố Hồ Chí Minh đã phát triển các hình
thức dịch vụ chăm sóc y tế tại nhà.
Tuy nhiên tại tỉnh Hải Dương chưa có
nghiên cứu cụ thể nào để minh chứng cho
vấn đề này. Vì vậy, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu này với các mục tiêu:
1. Khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ
chăm sóc y tế tại nhà của nhân dân trên địa
bàn thành phố Hải Dương.
2. Đề xuất giải pháp đáp ứng nhu cầu
chăm sóc y tế tại gia đình, nhằm giảm tải
cho các cơ sở y tế trên địa bàn.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Hộ gia đình trên địa bàn Thành phố Hải
Dương thuộc đơn vị hành chính cũ, chọn 6
phường theo phương pháp ngẫu nhiên.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang thông
qua hình thức phỏng vấn trực tiếp
- Công cụ nghiên cứu: Bộ câu hỏi thiết
kế sẵn có 8 câu hỏi.
2.3. Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 4/2009-tháng 12/2009.
2.4. Mẫu nghiên cứu
Áp dụng công thức:
p.(1-p)
n = Z
2
( 1 -·/2)
d
2
Trong đó:
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
p: Tỷ lệ người trả lời có nhu cầu sử dụng
dịch vụ y tế tại nhà (giả thiết p = 50%)
q: Tỷ lệ người trả lời không có nhu cầu sử
dụng dịch vụ y tế tại nhà q = 1-p
d: Sai số mong muốn (5%)
Z = 1,96 (khoảng tin cậy 95%)
Qua công thức, tính được cỡ mẫu
nghiên cứu: n = 384 làm tròn 400
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
80
Cỡ mẫu n = 400
Để dự phòng cho một số trường hợp từ
chối bỏ cuộc hoặc phiếu phỏng vấn hỏng
chúng tôi ước tính thêm 50% cỡ mẫu. Như
vậy tổng số phiếu cần điều tra là 400 + 200
= 600 phiếu.
2.5. Các bước chọn mẫu
- Lập danh sách các phường cũ của
Thành phố Hải Dương đánh số từ 1 đến 13
(Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Thanh Bình,
Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Bình Hàn,
Ngọc Châu, Hải Tân, Trần Phú, Lê Thanh
Nghị, Cẩm Thượng, Việt Hoà, Tứ Minh).
- Bốc thăm ngẫu nhiên chọn được 6
phường: Quang Trung, Ngọc Châu, Trần
Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Trần Phú, Lê
Thanh Nghị.
- Lập danh sách các hộ gia đình thuộc 6
phường theo số trong sổ hộ khẩu.
- Chọn ngẫu nhiên 600 hộ (mỗi phường
100) theo khoảng cách mẫu.
- Mỗi gia đình tiến hành phỏng vấn một
người trong hộ gia đình (dựa vào các yếu
tố: tuổi, giới, nghề nghiệp, vai trò trong gia
đình, thu nhập cá nhân).
2.7. Địa điểm nghiên cứu
Tại 600 hộ gia đình ở 6 phường thuộc
thành phố Hải Dương đã chọn.
2.8. Phân tích, xử lý số liệu
- Số liệu được làm sạch và xử lý bằng
phần mềm SPSS 12.0
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Phân bố giới của đối tượng nghiên cứu
Giới Số lượng Tỷ lệ %
Nam 325 54,2 %
Nữ 275 45,8 %
Tổng 600 100,0 %
Nhận xét: Tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu là 600 đạt 100% trong đó nam
chiếm 54,2%, nữ chiếm 45,8%, tỷ lệ gần tương đương nhau.
Bảng 2: Nghề nghiệp của các đối tượng tham gia nghiên cứu
Nghề nghiệp Số lượng Tỷ lệ %
Cán bộ, công chức 89 14,8 %
Công nhân 129 21,5 %
Buôn bán 118 19,7 %
Chủ doanh nghiệp 20 3,3 %
Nội trợ 57 9,5 %
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
81
Già/ Hưu 63 10,5 %
Nghề khác 124 20,7 %
Tổng
600 100,0 %
Nhận xét: Nhìn vào biểu đồ cho thấy đối tượng tham gia nghiên cứu đầy đủ các thành
phần xã hội, chủ yếu là Công nhân (chiếm 21,5%) và Buôn bán (chiếm 19,7%) ngoài ra
còn các ngành nghề khác, cán bộ công chức cũng chiếm tỷ lệ khá cao (14,8%).
Bảng 3: Gia đình có người già, người mắc các bệnh mạn tính
Kết quả Số lượng Tỷ lệ %
Có 267 44,5%
Không 333 55,5%
Tổng 600 100,0%
Nhận xét: Trong tổng số 600 hộ gia đình được phỏng vấn có tới 267 gia đình có
người già mắc các bệnh mạn tính chiếm tỷ lệ khá cao 44,5%.
Bảng 4: Gia đình có trẻ nhỏ
Kết quả Số lượng Tỷ lệ %
Có 334 55,7%
Không 266 44,3%
Tổng 600 100,0 %
Nhận xét: Tổng số có 334 gia đình có cháu nhỏ tham gia nghiên cứu chiếm tỷ lệ cao
55,7%.
Bảng 5: Gia đình đã sử dụng dịch vụ y tế tại nhà
Kết quả Số lượng Tỷ lệ %
Có 242 40,3%
Chưa 358 59,6%
Tổng 600 100,0%
Nhận xét: Có 242/600 đối tượng tham gia nghiên cứu trả lời đã từng sử dụng dịch
vụ y tế gia đình dưới nhiều hình thức: Tiêm thuốc, truyền dịch, khám tư vấn tại nhà
chiếm 40,3%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
82
Bảng 6: Thuận lợi và bất tiện khi sử dụng dịch vụ y tế gia đình
Kết luận Có sử dụng Tỷ lệ%
Thuận lợi 242 100%
Bất tiện 0 0%
Tổng 242 100%
Nhận xét: Trong số 242 đối tượng trả lời đã sử dụng các dịch vụ y tế tại nhà được hỏi
về những thuận lợi và bất tiện khi sử dụng các loại hình dịch vụ này thì 100% đối tượng
đều trả lời là thuận lợi.
Bảng 7: Gia đình có nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế tại nhà
Kết quả trả lời Số lượng Tỷ lệ %
Có 551 91,8%
Không 49 8,2%
Tổng 600 100,0%
Nhận xét: Theo kết quả điều tra cho thấy có 551 trong tổng số 600 đối tượng tham gia
nghiên cứu chiếm 91,8% trả lời có nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế tại nhà.
Bảng 8: Mức độ mong muốn sử dụng dịch vụ y tế tại nhà
Kết quả trả lời Số lượng Tỷ lệ %
Thường xuyên 398 66,3%
Thỉnh thoảng 169 28,2%
Không sử dụng 1 0,2%
Không trả lời 32 5,3%
Tổng 600 100,0%
Nhận xét: Tỷ lệ đối tượng tham gia
nghiên cứu trả lời mong muốn thường
xuyên sử dụng các loại hình chăm sóc sức
khoẻ tại nhà là 66,3%, còn 169 đối tượng
trả lời chỉ cần thỉnh thoảng có sử dụng dịch
vụ y tế tại nhà chiếm 28,2%, số còn lại trả
lời không muốn sử dụng hoặc không tỏ
quan điểm chiếm 5,5%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
83
Bảng 9: Các hình thức dịch vụ y tế mong muốn sử dụng
Loại hình dịch vụ Số lượng Tỷ lệ %
Chăm sóc người già, người tàn tật, bị di chứng sau
các bệnh…
255 95,5%
Chăm sóc trẻ nhỏ 324 97,0%
Chăm sóc, theo dõi thai phụ định kỳ 295 49,2%
Đo huyết áp tại nhà 407 67,8%
Tiêm thuốc, truyền dịch theo đơn 567 94,5%
Thay băng, xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt tại nhà 525 87,5%
Khám và tư vấn sức khoẻ định kỳ tại nhà 420 70,0%
Nhận xét: Trong 600 gia đình tham
gia nghiên cứu thì có 255/267(95,5%)
gia đình có người già, người mắc bệnh
mạn tính và 324/334(97,0%) gia đình có
trẻ nhỏ mong muốn sử dụng hình thức
chăm sóc người già, người tàn tật, người
bệnh di chứng và chăm sóc trẻ nhỏ tại
nhà. Ngoài ra, các loại hình dịch vụ y tế
khác có trên50% người dân mong muốn
sử dụng.
Bảng 10: Gia đình có nhu cầu sử dụng dịch vụ cấp cứu
Kết quả Số lượng Tỷ lệ %
Có 563 93,8%
Không 31 5,2%
Không trả lời 6 1,0%
Tổng 600 100,0%
Nhận xét: 93, 8% người được hỏi đều trả lời muốn sử dụng dịch vụ cấp cứu tại nhà.
Bảng 11: Gia đình sẵn sàng chi trả chi phí để được sử dụng dịch vụ y tế
Kết quả Số lượng Tỷ lệ %
Có 559 93,2%
Không 33 5,5%
Không trả lời 8 1,3%
Tổng 600 100,0%
Nhận xét: 93,2% đối tượng tham gia nghiên cứu trả lời sẵn sàng trả chi phí khi sử dụng
các dịch vụ y tế.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
84
Bảng 12: Mối liên quan giữa nghề nghiệp và nhu cầu sử dụng DVYT tại nhà
CÓ NHU CẦU SD DVYT TẠI NHÀ
NGHỀ NGHIỆP CÓ KHÔNG
TỔNG
Cán bộ công chức 78 11 89
Công nhân 117 12 129
Buôn bán 112 6 118
Chủ doanh nghiệp 17 3 20
Nội trợ 52 5 57
Già/nghỉ hưu 58 5 63
Nghề khác 115 9 124
Nhận xét: Tổng số có 89 người là cán
bộ công chức thì có 78 người (87,6%) trả
lời có nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế tại
nhà. Tương tự như vậy, các đối tượng khác:
Công nhân 90,7%, Buôn bán 94,9%, Chủ
doanh nghiệp 85,0%, Nội trợ 91,2%,
Già/Nghỉ hưu 92,1%, Nghề khác 92,7%
đều trả lời có nhu cầu sử dụng các dịch vụ
y tế tại nhà.
Nhìn chung không có sự khác biệt về
nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế giữa các đối
tượng, các đối tượng đều có nhu cầu cao về
sử dụng dịch vụ y tế tại nhà.
4. BÀN LUẬN
Qua phân tích 600 đối tượng đã được
điều tra là đại diện các hộ gia đình tại 6
phường của thành phố Hải Dương kết quả
cho thấy có những vấn đề sau:
- Tỷ lệ gia đình có người già, người
mắc bệnh mạn tính và trẻ nhỏ chiếm tỷ lệ
cao, đây là những đối tượng rất cần tới sự
chăm sóc về y tế, đặc biệt các dịch vụ chăm
sóc y tế tại nhà.
- Nhu cầu mong muốn sử dụng các dịch
vụ y tế tại nhà của người dân ở mức độ
thường xuyên và thỉnh thoảng trên 94%
(trong đó 66,3% người mong muốn được
sử dụng ở mức độ thường xuyên và 28,2%
người mong muốn thỉnh thoảng sử dụng).
Đây thực sự là một vấn đề ngành Y tế cần
phải quan tâm, vừa đáp ứng được nhu cầu
chăm sóc y tế nâng cao sức khỏe của người
dân, vừa tận dụng được sức lao động
nhànrỗi trong ngành đồng thời cải thiện
được đời sống của cán bộ y tế, đặc biệt là
điều dưỡng viên. Vì khi được cung cấp
dịch vụ y tế tại nhà hầu hết người
dân(93,2%) đều sẵn sằng chi trả kinh phí
với giá cả hợp lý.
- Đối với hình thức sử dụng dịch vụ cấp
cứu thì có tới 93,8% người trả lời phỏng
vấn mong muốn cần có loại dịch vụ cấp
cứu người bệnh tại nhà. Điều đó chứng tỏ
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
85
nhu cầu được chăm sóc y tế của người dân
rất cao, nếu các cơ sở y tế trên địa bàn biết
tổ chức liên kết tạo thành một mạng lưới
cung cấp các dịch vụ cho người dân, sẽ
giúp làm tăng hiệu quả trong cấp cứu ban
đầu cũng như điều trị tại các tuyến.
Hiện tại ở Hải Dương chưa cấp phép
phát triển loại hình dịch vụ chăm sóc y tế
tại nhà thì đã có 40,3% gia đình đã và đang
áp dụng loại dịch vụ này dưới các hình
thức: tiêm thuốc, truyền dịch, khám tư vấn
điều trị tại nhà do các cá nhân không được
phép hoạt động. Điều này dẫn đến không
quản lý được về mặt chuyên môn mà chất
lượng dịch vụ cũng không được đảm bảo,
có thể ảnh hưởng đến tính mạng và sức
khỏe của người dân.
5. KẾT LUẬN
Hiện nay, dịch vụ chăm sóc y tế tại nhà
là một loại hình được nhiều nước trên thế
giới áp dụng. Tại Việt Nam, đã được triển
khai ở một số thành phố lớn như Hà Nội,
TP Hồ Chí Minh. Qua điều tra 6 phường
thuộc thành phố Hải Dương thì 91,8% đối
tượng tham gia nghiên cứu mong muốn
được sử dụng loại dịch vụ y tế tại nhà. Hơn
nữa, trong khi chưa được phép thì đã có
40,3% những người được hỏi đã và đang sử
dụng dịch vụ chăm sóc y tế tại nhà.
Các loại hình thức dịch vụ y tế tại nhà
chủ yếu tập trung: Khám tư vấn sức khỏe
định kỳ tại nhà: Tiêm thuốc, truyền dịch
theo đơn; Đo huyết áp; Chăm sóc người già
tàn tật, di chứng, bệnh mạn tính và trẻ nhỏ.
Ngoài ra, trên 90% muốn sử dụng dịch vụ
cấp cứu tại nhà trong điều kiện cần thiết.
6. ĐỀ NGHỊ
Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát
triển, đời sống của nhân dân liên tục được
cải thiện. Để đáp ứng nhu cầu được chăm
sóc sức khoẻ ngày càng cao của người dân
và giảm tải cho các bệnh viện như hiện
nay,chúng tôi xin đề nghị:
Bộ Y tế, Sở Y tế Hải Dương cho phép
phát triển dịch vụ chăm sóc y tế tại nhà
trong khuôn khổ có tổ chức, nhất là tổ chức
Hội Điều dưỡng, có sự liên kết chặt chẽ với
các bệnh viện và quản lý về chuyên môn
nghiệp vụ của Sở Y tế.
Hình thức dịch vụ y tế tại nhà: Khám tư
vấn sức khoẻ; Tiêm thuốc, truyền dịch theo
đơn của bác sĩ; Đo huyết áp; Chăm sóc
người bị bệnh mạn tính; Người già, người
tàn tật, di chứng; Chăm sóc sức khoẻ trẻ
em và tổ chức cấp cứu ban đầu tại nhà.
Chăm sóc y tế tại nhà một khi được
triển khai chắc chắn đáp ứng được mong
mỏi của nhiều người có nhu cầu chăm sóc
và nâng cao sức khoẻ phù hợp với xu thế
phát triển chung. Đồng thời cũng tạo điều
kiện cho cán bộ y tế tăng phần thu nhập,
nhất là đội ngũ điều dưỡng viên giúp họ
yên tâm công tác, nâng cao kỹ năng
chuyên môn phục vụ nhân dân ngày càng
tốt hơn./.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
86
BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN TIÊM AN TOÀN
TẠI 13 BỆNH VIỆN LỰA CHỌN-DỰ ÁN HỢP TÁC GIỮA HỘI ĐDVN & PI
ThS. Đào Thành và nhóm Dự án hợp tác VNA- PI,
cùng Phòng Điều dưỡng-Tiết chế, Cục QLKCB
1. BỐI CẢNH
Thực hiện Thông tư số 07/2008/TT-
BYT ngày 28/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Y
tế về hướng dẫn đào tạo liên tục cho cán bộ
y tế, Hội Điều dưỡng Việt Nam đã hợp tác
với tổ chức PathFinder International (PI)
nhằm thực hiện chương trình can thiệp
nâng cao năng lực của cán bộ y tế trong
thực hành tiêm an toàn trong các cơ sở y tế.
Mục tiêu của Dự án nhằm nâng cao năng
lực thực hiện tiêm an toàn tại 13 bệnh viện
lựa chọn tham gia Dự án.
Một trong các hoạt động của dự án đã
được thực hiện thành công trong thời gian
qua là triển khai tập huấn về tiêm an toàn
cho các giảng viên tại 13 Sở Y tế/Bệnh viện
đại diện cả 3 vùng Bắc, Trung và Nam.
Trước đó Hội cũng đã tiến hành đánh giá
thực trạng tiêm an toàn tại các bệnh viện
này nhằm xác định nhu cầu đào tạo để từ đó
có thể điều chỉnh nội dung cho phù hợp với
từng bệnh viện cụ thể. Các khóa tập huấn
này áp dụng chương trình và tài liệu đào tạo
tiêm an toàn đã được Hội đồng chuyên môn
của Bộ Y tế thẩm định. Mục tiêu của các
khóa tập huấn nhằm trang bị và bổ sung
kiến thức, kỹ năng giảng dạy cho điều
dưỡng về tiêm an toàn và kiểm soát nhiễm
khuẩn liên quan đến tiêm an toàn. Tổng số
học viên được tập huấn về Tiêm an toàn của
13 bệnh viện là 390 người chủ yếu là những
cán bộ điều dưỡng có kinh nghiệm chuyên
môn và có khả năng truyền đạt lại cho cán
bộ y tế của bệnh viện. Nhóm giảng viên
hướng dẫn là các chuyên gia có nhiều kinh
nghiệm trong lĩnh vực tiêm an toàn và xử lý
chất thải y tế của TW Hội, Cục Quản lý
Khám, chữa bệnh-BYT, các BV TW, các
BV của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó các hoạt động khác có liên
quan của Dự án cũng được Hội ĐDVN tích
cực huy động và đã đạt được những thành
tựu đáng kể.
1.1. Thời gian thực hiện Dự án: từ
tháng 4-10/2010.
1.2. Các bệnh viện được lựa chọn
tham gia Dự án: 13 bệnh viện, bao gồm:
- Phía Bắc: 4 Bệnh viện bao gồm
BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc, BVĐK tỉnh Phú
Thọ, BVĐK Xanh Pôn-Hà Nội và BV Bắc
Thăng Long-Hà Nội.
- Phía Nam: BV Thống Nhất Đồng Nai,
BV Thống Nhất TP. HCM, BV Nhân dân
Gia Định-TP.HCM; BVĐKTT An Giang,
BVĐK tỉnh Bạc Liêu
- Miền Trung: BVĐK tỉnh Lâm Đồng,
BVĐK thành phố Đà Nẵng, BVĐKKV Phú
Phong-Bình Định, BVĐK tỉnh Khánh Hoà.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
87
1.3. Đối tượng & địa điểm Dự án
can thiệp
- Điều dưỡng/Hộ sinh/Kỹ thuật viên và
những người thực hiện tiêm/truyền.
- Các khoa lâm sàng nơi diễn ra hoạt
động tiêm truyền và quản lý chất thải liên
quan đến tiêm của 13 bệnh viện lựa chọn.
2. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG ĐÃ ĐƯỢC
TRIỂN KHAI & KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
CỦA DỰ ÁN
Đến 30/9/2010, Dự án đã thực hiện
thành công các hoạt động chính dưới đây:
2.1. Tổ chức Hội thảo nhằm thống
nhất kế hoạch, chương trình và nội dung
đào tạo giảng viên về tiêm an toàn cho 13
bệnh viện tham gia Dự án
Hội thảo được tổ chức vào tháng
4/2010 tại Hà Nội đã có 20 chuyên gia là
những nhà quản lý, giáo viên, chuyên gia
kỹ thuật của Hội ĐDVN và đại diện các
bệnh viện tham gia Dự án tham dự Hội
thảo để thống nhất kế hoạch và nội dung
giảng dạy về tiêm an toàn cho 13 bệnh viện
tham gia Dự án. Sau Hội thảo này các bệnh
viện đã xây dựng kế hoạch đào tạo chi tiết
tại bệnh viện và đã được triển khai thành
công trong tháng 4-5/2010. Hội thảo cũng
đã thống nhất được đội ngũ giảng viên
quốc gia giảng dạy về tiêm an toàn được cử
tham gia giảng dạy cho các bệnh viện tham
gia Dự án.
2.2. Đánh giá thực trạng tiêm an toàn
tại 13 bệnh viện trước khi triển khai Dự án
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang về
thực trạng tiêm an toàn đã được thực hiện
có hệ thống tại 13 bệnh viện tham gia Dự
án. Nhóm nghiên cứu của Hội ĐDVN tiến
hành xây dựng Đề cương và 4 bộ công cụ
nghiên cứu có cấu trúc nhằm đánh giá thực
trạng tiêm truyền tại các bệnh viện này.
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá
nhận thức, kiến thức, kỹ năng và thái độ
của Điều dưỡng về thực hành tiêm an toàn
tại đơn vị. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng
tìm hiểu một số phương tiện thiết yếu phục
vụ công tác tiêm truyền và xử lý vật sắc
nhọn an toàn sau tiêm tại bệnh viện. Nhóm
nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 1.030 Điều
dưỡng, Hộ sinh, Kỹ thuật viên, thực hiện
quan sát 1.375 mũi tiêm, thống kê số lượng
mũi tiêm tại 203 khoa lâm sàng và tổng
hợp thực trạng phương tiện phục vụ công
tác tiêm truyền tại 223 (100%) khoa lâm
sàng của 13 bệnh viện. Báo cáo kết quả
nghiên cứu này đã được hoàn thành làm cơ
sở cho việc xác định nhu cầu đào tạo và
điều chỉnh nội dung đào tạo cho phù hợp
đối với từng bệnh viện tham gia Dự án.
2.3. Biên soạn và cập nhật nội dung
bài giảng về tiêm an toàn theo chương
trình và tài liệu của Bộ Y tế
Căn cứ vào chương trình và tài liệu về
tiêm an toàn của Bộ Y tế, nhóm giáo viên
quốc gia của Hội Điều dưỡng Việt Nam đã
được phân công các nội dung và chủ đề
phù hợp để chuẩn bị cho việc tham gia
giảng dạy tại 13 bệnh viện. Để tiết kiệm
thời gian và kinh phí, Hội Điều dưỡng Việt
Nam phân công giáo viên phục trách chủ
đề theo vùng tham gia giảng dạy và hỗ trợ
cho giáo viên tại bệnh viện cùng tham gia
giảng dạy.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
88
2.4. Tiến hành đào tạo giảng viên về
tiêm an toàn cho 13 bệnh viện.
Từ ngày 10/4/2010 đến 28/5/2010, các
khóa đào tạo về tiêm an toàn tại 13 bệnh
viện đã được tổ chức thành công. Các khóa
đào tạo này được sử dụng theo chương
trình và tài liệu giảng dạy của Bộ Y tế. Các
chủ đề chính bao gồm:
- Tổng quan về tiêm an toàn.
- Kiểm soát nhiễm khuẩn liên quan đến
tiêm an toàn.
- Các giải pháp thay đổi hành vi hướng
tới tiêm an toàn.
- Phòng ngừa chuẩn liên quan đến tiêm.
- Phòng và xử trí phơi nhiễm sau tai
nạn rủi ro do vật sắc nhọn.
- Các giải pháp thực hành tiêm an toàn.
- Phương pháp học tập của người lớn.
- Thực hành các giải pháp tiêm an toàn.
- Quản lý chất thải y tế sau tiêm.
- Lập kế hoạch bài giảng.
Tổng số có 390 Điều dưỡng được Dự
án đào tạo và nhận chứng chỉ hoàn thành
khóa học giảng viên về tiêm an toàn do
Trung ương Hội Điều dưỡng Việt Nam
cấp. Mỗi khóa đào tạo trên được diễn ra
trong 5 ngày với hình thức đào tạo vừa
học vừa làm để không ảnh hưởng đến
công việc hàng ngày của học viên. Phương
pháp giảng dạy tích cực được áp dụng tối
đa cho khóa học. Giảng viên cho các khóa
đào tạo này là các nhà quản lý, giảng viên
của các Trường CĐYT, THYT, các
chuyên gia của BYT, các bệnh viện TW,
bệnh viện Hà Nội và các Sở Y tế, Bệnh
viện tham gia Dự án. Bên cạnh đó, các
bệnh viện còn tự đào tạo bằng nguồn lực
của bệnh viện được 3.373 người (trung
bình 260 người/bệnh viện). Giáo viên của
các khóa đào tạo này chủ yếu là các học
viên đã được học lớp TOT do Trung ương
Hội đào tạo có sự hỗ trợ của giảng viên
Trung ương Hội. Bảng dưới đây mô tả chi
tiết tình hình đào tạo tại các bệnh viện.
Bảng 1. Tổng hợp tình hình đào tạo của các bệnh viện
Giảng viên Tài liệu Bệnh viện Số lớp Số ĐD được
đào tạo
BV Khác* BYT BV
Xanh pôn 3 60 X X
Bắc Thăng Long 43 X X
ĐK tỉnh Phú Thọ 10 203 X X X
ĐK tỉnh Vĩnh Phúc 6 144 X X
ĐK tỉnh Lâm Đồng 2 110 X X X
ĐK tỉnh Khánh Hòa 1 365 X X X
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
89
Phú Phong-Bình Định 13 104 X X
ĐK Tp Đà Nẵng 18 272 X X X
ĐK An Giang 14 496 X X
ĐK Bạc Liêu 4 311 X X
Thống Nhất Tp HCM 3 395 X X
Thống Nhất-Đồng Nai 7 170 X X
Nhân dân Gia Định 8 700 X X
Tổng 89 3.373
Ghi chú: * là giảng viên của Sở Y tế và Trường CĐYT phối hợp giảng dạy cho các
khóa tập huấn về Tiêm an toàn của bệnh viện.
Bên cạnh đó, trong tháng 9/2010 đã có 2 Tỉnh Hội Điều dưỡng áp dụng đào tạo tiêm
an toàn nhân rộng cho các bệnh viện và trung tâm y tế trong tỉnh nhà đó là Tỉnh Hội Lâm
Đồng và tỉnh Hội Đồng Nai.
2.5. Tổ chức giám sát trực tiếp tại các
bệnh viện sau tập huấn
Sau các khóa đào tạo về TOT của
Trung ương Hội, nhóm Dự án đã phối hợp
chặt chẽ với các chuyên gia của Hội để tổ
chức giám sát hỗ trợ tại tất cả các bệnh viện
tham gia Dự án. Bộ công cụ giám sát và
báo cáo kết quả giám sát đã được hoàn
thành trong tháng 9/2010. Nhóm giám sát
đã tập trung kiểm tra các nội dung liên
quan đến công tác chỉ đạo tổ chức thực
hiện tiêm an toàn tại các bệnh viện, đặc biệt
là vấn đề đào tạo về tiêm an toàn cho toàn
bộ điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên của
bệnh viện thực hiện bởi các giảng viên của
khóa đào tạo TOT do Trung ương Hội đào
tạo. Một trong những nội dung giám sát
quan trọng là việc tuân thủ quy trình tiêm
và công tác vô khuẩn trong việc thực hiện
các bước tiêm, công tác xử lý chất thải
nhiễm khuẩn sau tiêm đặc biệt là chất thải
sắc nhọn có nguy cơ gây tổn thương cho
cán bộ y tế. Nhóm giám sát đã đưa ra nhiều
ý kiến góp ý cho các bệnh viện, người trực
tiếp thực hiện quy trình tiêm... nhằm chấn
chỉnh việc tuân thủ đúng các quy định, quy
trình chuyên môn kỹ thuật và công tác vô
khuẩn trong quá trình thực hiện quy trình
tiêm an toàn.
Ngoài việc tổ chức các khóa đào tạo về
tiêm an toàn cho toàn bộ điều dưỡng, hộ
sinh, kỹ thuật viên bằng nguồn lực của
bệnh viện, các bệnh viện tham gia dự án
còn có sự chỉ đạo bằng văn bản của Ban
Giám đốc bệnh viện, hỗ trợ cung cấp thêm
một số phương tiện phục vụ tiêm thiết yếu
như găng tay, hộp an toàn, xe tiêm, khay
tiêm... Đặc biệt Hội thi Tiêm an toàn được
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
90
tổ chức tại một số bệnh viện đã tạo được sự
hưởng ứng và thi đua sâu rộng trong toàn
bộ cán bộ viên chức bệnh viện nhằm hướng
tới mũi tiêm an toàn. Nhờ công tác giám
sát, các chuyên gia cũng phát hiện việc
giao tiếp của điều dưỡng trong quá trình
thực hiện quy trình tiêm còn hạn chế, cần
được nâng cao trong thời gian tới.
2.6. Đánh giá thực trạng tiêm an toàn
tại 13 bệnh viện sau 3 tháng được tập
huấn
Sau hơn 3 tháng tổ chức đào tạo giảng
viên về Tiêm an toàn cho các bệnh viện
cùng kết quả tự đào tạo của các bệnh viện
và những can thiệp nhất định đối với công
tác tiêm an toàn, nhóm Dự án đã phối hợp
cùng các chuyên gia tiến hành đánh giá
hiệu quả và tác động của Dự án. Trên cơ sở
của báo cáo đánh giá thực trạng tiêm an
toàn trước đào tạo tại các bệnh viện, một
nghiên cứu thực trạng tiêm an toàn đã được
thực hiện trong tháng 9/2010 với 4 bộ công
cụ thu thập số liệu với sự tham gia của 953
điều dưỡng đã được phỏng vấn để tìm hiểu
nhận thức và kiến thức về tiêm an toàn,
1.309 mũi tiêm đã được quan sát, 199 khoa
lâm sàng đã được thống kê về số lượng và
loại mũi tiêm và 199 khoa lâm sàng đã
được tổng hợp về tình hình trang bị phương
tiện, dụng cụ hỗ trợ cho thực hiện tiêm an
toàn. Kết quả nghiên cứu này sẽ được so
sánh với kết quả đánh giá thực trạng trước
đào tạo để làm cơ sở cho việc đánh giá hiệu
quả của chương trình. Báo cáo cuối cùng sẽ
được hoàn thành trong tháng 10/2010.
2.7. Các bệnh viện tự cung cấp một
số phương tiện tiêm an toàn
Ba tháng sau khi được đào tạo, phần
lớn bệnh viện (9/13 = 70%) trước đây chưa
đủ phương tiện hoặc phương tiện phục vụ
tiêm an toàn chưa đồng bộ cũng đã được
trang bị thêm. Các phương tiện được trang
bị chủ yếu là xe tiêm, panh, kéo. Bên cạnh
đó phương tiện thu gom và xử lý chất thải
sau tiêm cũng được các bệnh viện quan tâm
và trang bị, đặc biệt là hộp an toàn. Một
trong những phương tiện ảnh hưởng lớn
đến đảm bảo vô khuẩn khi thực hiện mũi
tiêm an toàn là dung dịch sát khuẩn tay
nhanh cũng được các bệnh viện đầu tư
thêm. Cho đến nay, tất cả các bệnh viện
tham gia Dự án đều trang bị dung dịch sát
khuẩn tay nhanh gắn trên xe tiêm phục vụ
cho việc sát khuẩn tay của người đi tiêm.
Loại dung dịch phổ biến được các bệnh
viện sử dụng là cồn 70 độ pha với Glycerin
1%. Ngoài ra găng tay cũng được các bệnh
viện quan tâm trang bị thêm, trên tất cả các
xem tiêm đều có găng tay sạch phục vụ cho
các hoạt động tiêm/truyền khi cần. Khay
tiêm cũng được một số bệnh viện bổ sung.
Bảng dưới đây mô tả chi tiết các loại
phương tiện đã được các bệnh viện tự trang
bị thêm để phục vụ công tác tiêm an toàn.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
91
Bảng 2. Các loại phương tiện phục vụ tiêm truyền được các bệnh viện tự trang bị
Xe tiêm
Bệnh viện
Mới Sửa
Khay
tiêm
Hộp
an toàn
DD sát
khuẩn
tay
Găng
tay
Khác
Xanh Pôn
Bắc Thăng Long 4 3 2 45 1483
ĐK tỉnh Phú Thọ 1 98 960 66454
ĐK tỉnh Vĩnh Phúc 2 1 19 31 10
lavabo
ĐK tỉnh Lâm Đồng 6 5 20 100 600
ĐK tỉnh Khánh Hòa 6
Phú Phong-Bình Định
ĐK TP Đà Nẵng
ĐK An Giang
ĐK Bạc Liêu 5 2 112 hộp inox đựng bông tiêm: 54, rổ nhựa
đựng thuốc: 56
Thống Nhất TP HCM 6 4 hộp inox đựng bông tiêm: 27, trụ cắm
panh: 21, hộp chống shock: 3
Thống Nhất-Đồng Nai 5 30 30 100 đôi găng cho
mỗi xe tiêm
Nhân dân Gia Định 3 24
Trên đây là một số hoạt động và kết quả thực hiện Dự án tiêm an toàn trong khuôn
khổ hợp tác giữa Hội Điều dưỡng Việt Nam và Pathfinder International (PI) trong thời
gian từ tháng 4-10/2010.
2.8. Các bệnh viện ban hành văn bản
chỉ đạo công tác tiêm an toàn
Tất cả 13/13 bệnh viện đều có văn bản
của Giám đốc bệnh viện về việc chỉ đạo
tăng cường thực hiện tiêm an toàn tại các
khoa/phòng trong bệnh viện. Phần lớn các
văn bản chỉ đạo triển khai công tác đào tạo
cho điều dưỡng/hộ sinh trong bệnh viện và
lồng ghép chỉ đạo thực hiện tiêm an toàn.
Tuy nhiên chưa có bệnh viện nào có hướng
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
92
dẫn cụ thể để áp dụng thực hiện tiêm an
toàn tại bệnh viện mà mới dừng ở văn bản
chỉ đạo chung. Trong thời gian tới, các
bệnh viện nên căn cứ vào nội dung đào tạo
tiêm an toàn đã được Bộ Y tế ban hành để
xây dựng Hướng dẫn Tiêm an toàn cụ thể
cho các khoa/phòng thực hiện thống nhất
trong toàn bệnh viện.
3. TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN
- Xây dựng năng lực và chuẩn bị được
một đội ngũ giảng viên có khả năng tham
gia giảng dạy về tiêm an toàn tại bệnh
viện và hỗ trợ Trung ương Hội Điều
dưỡng trong việc góp ý xây dựng chương
trình và nội dung đào tạo về tiêm an toàn
sát thực tế hơn.
- Tạo sự thay đổi trong nhận thức của
Lãnh đạo các Sở Y tế và bệnh viện tham gia
Dự án, từ đó nhận được sự ủng hộ của các
khoa, phòng và các cá nhân trong bệnh viện
hưởng ứng phong trào tiêm an toàn và đầu
tư thêm kinh phí, thời gian tập huấn mở
rộng cho nhân viên. Đầu tư kinh phí để mua
thêm phương tiện phục vụ cho tiêm an toàn.
- Nâng cao năng lực cho nhóm chuyên
gia, cán bộ kỹ thuật của TW Hội trong việc
xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo cũng
như lập kế hoạch và thiết kế công cụ giám
sát hỗ trợ các bệnh viện. Bên cạnh đó, thông
qua chương trình này nhóm chuyên gia kỹ
thuật cũng có thêm cơ hội để thiết kế và tổ
chức thực hiện một nghiên cứu mang tính hệ
thống cao về thực trạng tiêm truyền tại các
bệnh viện tham gia Dự án.
Tạo nguồn cơ sở dữ liệu quan trọng cho
Hội về tiêm an toàn tại các bệnh viện để từ
đó có cơ sở xây dựng kế hoạch hành động
can thiệp về tiêm an toàn cho những năm
tiếp theo.
4. ĐỀ NGHỊ & KẾ HOẠCH TIẾP
THEO
- Hội ĐDVN tiếp tục có những nội
dung can thiệp và giám sát hỗ trợ các
bệnh viện này để phát huy được phong
trào tiêm an toàn và đội ngũ giảng viên đã
được đào tạo sẽ trở thành đội ngũ nòng
cốt trong việc thúc đẩy công tác tiêm an
toàn tại bệnh viện.
- Tiếp tục mở rộng chương trình tiêm
an toàn tới các tỉnh, bệnh viện khác, tập
trung vào công tác huấn luyện cho cán bộ
nhân viên trong bệnh viện về tiêm an toàn
theo chương trình và tài liệu đã được Bộ Y
tế phê duyệt.
- Tiến hành điều tra đánh giá thực trạng
tiêm an toàn tại các bệnh viện khác làm cơ
sở cho việc lập kế hoạch can thiệp trong
những năm tiếp theo.
- Đồng bộ đưa chương trình đào tạo về
tiêm an toàn vào hệ thống đào tạo chính quy
của các trường Y, trường Điều dưỡng nhằm
nâng cao nhận thức và thực hành tiêm an
toàn cho các thế hệ cán bộ y tế tương lai.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
93
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TIÊM AN TOÀN
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
1. CN.Phan Cảnh Chương; 2. CN. Đặng Duy Quang;
3. CN.Lê Thị Hằng; 4. CN.Trần Thị Kim Cúc
Bệnh viện Trung ương Huế.
TÓM TẮT
Mục tiêu: nghiên cứu mô tả cắt ngang
với mục tiêu: (i) Đánh giá thực hành tiêm
an toàn tại các khoa lâm sàng; (ii) Đánh
giá mức độ thay đổi hành vi của điều
dưỡng trong thực hành tiêm an toàn; (iii)
Đề xuất một số giải pháp thực hiện tiêm an
toàn. Phương pháp nghiên cứu:Qua quan
sát ngẫu nhiên1.000 mũi tiêm tại 30 khoa
lâm sàng-Bệnh viện TW Huế từ 1/7/2010
đến 31/7/2010 theo các tiêu chí: sử dụng
dụng cụ thích hợp, an toàn-không gây hại
cho người được tiêm-không gây nguy cơ
phơi nhiễm cho người thực hiện-không tạo
chất thải nguy hại cho người khác. Các mũi
tiêm được quan sát và đánh giá trên phiếu
khảo sát được thiết kế sẵn, vào nhiều thời
điểm khác nhau trong ngày. Kết quả:
Trung bình có 5.456 mũi tiêm/ngày thực
hiện tại Bệnh viện TW Huế và có trung
bình 16,8 mũi tiêm/Điều dưỡng cho thấy
nguy cơ rất lớn khi thực hành tiêm. Tiêm
tĩnh mạch chiếm tỉ lệ cao nhất (75,7%)
trong các đường tiêm. Các dụng cụ,
phương tiện để thực hành tiêm an toàn đã
được chuẩn bị đầy đủ hơn so với tỉ lệ khảo
sát lần 1 ngay sau khi kết thúc tập huấn
(Tháng 12/2009). Điều dưỡng đã thay đổi
hành vi và các thói quen không đúng khi
thực hành tiêm: rửa tay, sát khuẩn tay
nhanh trước khi chuẩn bị dụng cụ (91,7%)-
kiểm tra sự nguyên vẹn của bơm tiêm
(94,8%)-rút thuốc không chạm tay vào
vùng vô khuẩn (92,6%)-sát khuẩn vị trí
tiêm đúng qui định (94,8%)-điều dưỡng đã
giao tiếp, quan sát người bệnh trước, trong
và sau khi tiêm (95,7%)-rửa tay ngay sau
khi kết thúc mũi tiêm (93,3%)- không dùng
tay đậy nắp kim (95,8%). Kỹ thuật tiêm do
điều dưỡng thực hiện là rất tốt song cũng
cần phải khuyến cáo với các tỉ lệ qua
nghiên cứu này: kim tiêm chưa bảo đảm vô
khuẩn cho đến khi tiêm (7,4%)-thời gian
bơm thuốc (1ml/10giây) chưa đúng qui
định (17,7%).
Công tác kiểm tra, giám sát thực hành
tiêm an toàn tại các khoa lâm sàng đã
mang lại kết quả tốt.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêm là một trong những biện pháp đưa
thuốc hoặc hóa chất vào cơ thể nhằm mục
đích chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tiêm
là một kỹ thuật phổ biến, trung bình mỗi
năm có khoảng 1,5 mũi tiêm/người. Tại các
nước đang phát triển, hàng năm có khoảng
16 tỷ mũi tiêm, trong đó có tới 50% số mũi
tiêm chưa đạt đủ các tiêu chuẩn cần thiết
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
94
cho một mũi tiêm an toàn.
Theo WHO, “Tiêm an toàn là mũi tiêm
có sử dụng phương tiện tiêm vô khuẩn, phù
hợp với mục đích, không gây hại cho người
được tiêm, không gây nguy cơ phơi nhiễm
cho người thực hiện tiêm và không gây
chất thải nguy hại cho người khác”.
Tiêm không an toàn có thể gây ra
những nguy cơ như: áp xe, teo cơ tại vị trí
tiêm, choáng phản vệ và đặc biệt là nguy
cơ lây truyền các virus qua đường máu như
virus viêm gan B, viêm gan C và HIV cho
cả người bệnh, nhân viên y tế và cộng
đồng, ngoài ra tiêm không an toàn làm tổn
hại đến nhân viên y tế do thiếu phương tiện
tiêm, phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể…
Các tổ chức quốc tế như WHO-
UNICEF-UNFPA đã phối hợp và thành lập
Mạng lưới Tiêm an toàn Toàn cầu (Safety
Injection Global Network) được viết tắt là
SIGN với mục đích là đưa ra những khuyến
cáo nhằm giảm tần xuất tiêm và thực hiện
tiêm an toàn. Từ năm 2001 đến nay, Bộ Y
tế đã phối hợp với Hội Điều Dưỡng Việt
Nam đã phát động phong trào tiêm an toàn
toàn quốc, đồng thời tiến hành một số khảo
sát thực trạng về tiêm an toàn vào những
năm 2002, 2005 và 2008.
Bệnh viện đa khoa Trung ương Huế
đã được Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Bộ Y tế và Hội Điều dưỡng Việt Nam tập
huấn 26 giảng viên về nội dung tiêm an
toàn vào tháng 10/2009. Tháng 11/2009,
chúng tôi triển khai tập huấn cho tất cả
Điều dưỡng trong bệnh viện về tiêm an
toàn. Từ 01/12 đến 31/12/2009 chúng tôi
tiến hành khảo sát hiện trạng tiêm an toàn
tại các khoa lâm sàng lần thứ nhất, sau 6
tháng được tập huấn và tăng cường công
tác kiểm tra giám sát, điều dưỡng có thời
gian thay đổi hành vi trong thực hành
tiêm an toàn, chúng tôi tiến hành đánh giá
thực trạng tiêm an toàn lần thứ hai nhằm
mục đích:
1. Đánh giá thực hành tiêm an toàn tại
các khoa lâm sàng sau 6 tháng tập huấn.
2. Đánh giá mức độ thay đổi hành
vi của điều dưỡng trong thực hiện tiêm
an toàn.
3. Đề xuất một số giải pháp thực hiện
tiêm an toàn nhằm nâng cao chất lượng
trong chăm sóc và an toàn cho người bệnh.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và thời gian nghiên
cứu
- Chúng tôi tiến hành quan sát các bước
thực hành tiêm của Điều dưỡng tại 30 khoa
lâm sàng theo các Khối: Khối Nội, Khối
Ngoại, Khoa Sản, Khoa Nhi, Hồi sức Cấp
cứu và các chuyên khoa khác.
- Nghiên cứu được thực hiện từ
1/7/2010 đến 31/7/2010.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Mô tả cắt ngang thực hiện bằng
phiếu khảo sát và quan sát ngẫu nhiên
1.000 mũi tiêm tại 30 khoa lâm sàng với
các tiêu chí sau:
* Sử dụng dụng cụ thích hợp, an toàn.
* Không gây hại cho người được tiêm.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
95
* Không gây nguy cơ phơi nhiễm cho
người thực hiện tiêm.
* Không tạo chất thải nguy hại cho
người khác.
- Nhóm quan sát gồm 08 CNĐD được
tập huấn và thống nhất phương pháp quan
sát với các tiêu chí trên.
- Các mũi tiêm được quan sát và đánh
giá trên phiếu khảo sát được thiết kế sẵn,
vào nhiều thời điểm khác nhau trong ngày.
- Thống kê xử lý số liệu bằng phần
mềm Excel.
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Thực trạng mũi tiêm:
Bảng 1: Số lượng mũi tiêm trung bình/ngày trong toàn bệnh viện
Khảo sát
Khối
Nội
Khối
Ngoại
Sản Nhi
Hồi
Sức
Khối
CK
Tổng
Số mũi tiêm
TB/ngày
1.352 1.889 340 337 968 570 5.456
Điều dưỡng
trực tiếp
CS/ngày
58 92 46 25 51 53 325
Số mũi tiêm
TB/ĐD/ngày
23.3 20.5 7.4 13.5 19.0 10.8 16.8
Nhận xét:
- Số mũi tiêm TB/ngày = Tổng số mũi tiêm của 1 tuần/7
- Với trung bình 5.456 mũi tiêm mỗi ngày và 16,8 mũi tiêm trung bình cho mỗi điều
dưỡng là con số quá lớn về nguy cơ cho người bệnh, điều dưỡng và cộng đồng. (10 mũi
tiêm/ĐD/ngày theo nghiên cứu của Hội ĐD VN thực hiện tại 8 BV điểm các Tỉnh phía Bắc).
Bảng 2. Đường tiêm
Khảo sát
Khối
Nội
Khối
Ngoại
Sản Nhi
Hồi
Sức
Khối
CK
Tổng
số
Tỷ lệ %
Tiêm TM
(trực
tiếp)
401 504 84 95 78 247 1.404 25,8
Tiêm TM
qua chạc
3/catheter
282 378 67 111 722 119 1.679 30,8
75,7
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
96
Khảo sát
Khối
Nội
Khối
Ngoại
Sản Nhi
Hồi
Sức
Khối
CK
Tổng
số
Tỷ lệ %
Tiêm TM
bằng kim
én
367 558 20 59 3 37 1.044 19,1
Tiêm
bắp
208 324 126 57 123 134 972 17,8
Tiêm
dưới da
48 50 22 6 15 21 162
3,0
Tiêm
trong da
46 75 21 9 27 12 190 3,5
Nhận xét:
- Tiêm tĩnh mạch (TM) chiếm tỷ lệ
cao nhất trong các đường tiêm (75,7%),
trong đó tiêm TM trực tiếp chiếm 25,8%,
tiêm qua chạc 3/catheter chiếm 30,8%,
tiêm TM bằng kim én chiếm 19,1%; tiêm
bắp 17,8%.
- Theo nghiên cứu năm 2008 tại bệnh
viên Nhi Quốc gia và Huyện Kim Sơn Tỉnh
Ninh Bình, tỉ lệ tiêm TM chiếm 67,7%,
tiêm bắp chiếm 15,8%.
- Như vậy người bệnh vào điều trị tại
Bệnh viện TW Huế có tiêm thuốc thì chủ
yếu được tiêm bằng đường TM.
Bảng 3. Tỉ lệ mũi tiêm đã quan sát (1.000 mũi tiêm)
Quan sát (n = 1.000) Số lượng quan sát Tỷ lệ %
Tiêm TM (trực tiếp) 288 28,8
Tiêm TM qua chạc 3/catheter 298 29,8
Tiêm TM bằng kim én 173 17,3
Tiêm bắp 181 18,1
Tiêm dưới da 35 3,5
Tiêm trong da 25 2,5
Tổng cộng 1000 100
Nhận xét:
- Tiêm TM chiếm 75,9% trong đó tiêm
TM trực tiếp là 28,9%, tiêm TM qua chạc
3/catheter là 29,8%, tiêm TM qua kim én
là 28,9%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
97
Tỉ lệ các loại mũi tiêm không chênh lệch nhiều so với số liệu khảo sát mũi tiêm trung
bình tại bảng 2.
2. QUAN SÁT MŨI TIÊM
2.1. Sử dụng dụng cụ thích hợp, an toàn
Bảng 4. Quan sát chuẩn bị phương tiện, dụng cụ
Có Không
Các tiêu chí quan sát (n = 1.000)
SL
Tỷ lệ
%
Tỉ lệ đạt
lần 1
(%)
SL
Tỷ lệ
%
Khay tiêm thuốc (sạch) 978 97,8 92,6 22 2,2
Ống đựng panh và panh 1000 100 98,2 0 0
Bơm kim tiêm vô khuẩn dung 1 lần 1000 100 100 0 0
Kim lấy thuốc vô khuẩn dùng 1 lần 1000 100 100 0 0
Bông sát khuẩn vô khuẩn 1000 100 96,7 0 0
Có đủ 2 hộp đựng bông cồn VK 969 96,9 68,8 31 31
Gạc vô khuẩn bẻ thuốc 992 99,2 95,2 08 0,8
Có hộp kháng thủng gần nơi tiêm 1000 100 97,5 0 0
Có hộp chống sốc đủ cơ số 989 98,9 97,9 11 1,1
Dung dịch sát khuẩn tay nhanh 1000 100 98,1 0 0
Nhận xét:
- So với số liệu khảo sát lần 1(thực hiện
vào tháng 12/2009 ngay sau khi kết thúc
tập huấn tiêm an toàn trong toàn bệnh
viện), các phương tiện, dụng cụ để thực
hiện tiêm an toàn đã được trang bị đầy đủ
hơn đặc biệt là khay tiêm thuốc, bông sát
khuẩn, hộp bông cồn, gạc vô khuẩn bẻ
thuốc, hộp kháng thủng và dung dịch sát
khuẩn tay nhanh.
- Khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn, Khoa
Dược đã hỗ trợ và phối hợp tốt với các khoa
lâm sàng để trang bị đầy đủ các phương
tiện, dụng cụ thực hiện tiêm an toàn.
- Điều dưỡng trưởng các khoa đã trang
bị đầy đủ các phương tiện, dụng cụ để thực
hiện tiêm an toàn.
- Một số điều dưỡng chưa chuẩn bị
đầy đủ gạc bẻ thuốc vô khuẩn, hộp bông
cồn và hộp chống sốc còn thiếu nước cất
và bơm tiêm.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
98
2.2. Không gây hại cho người bệnh
Bảng 5. Thực hiện nguyên tắc vô khuẩn
Có Không
Các tiêu chí quan sát ( n =1000)
SL Tỷ lệ
%
Tỉ lệ đạt
lần 1
(%)
SL Tỷ lệ
%
ĐD rửa tay, sát khuẩn tay nhanh
trước khi chuẩn bị dụng cụ
917 91,7 62,3 83 8,3
Kiểm tra sự nguyên vẹn của bơm
tiêm
948 94,8 40,5 52 5,2
Sử dụng bơm, kim tiêm vô khuẩn
cho mỗi mũi tiêm
1000 100 95,6 0 0
Rút thuốc không chạm tay vào vùng
vô khuẩn
926 92,6 71,0 74 7,4
Nhận xét:
- Điều dưỡng có ý thức thực hiện
nguyên tắc vô khuẩn đã cải thiện một cách
rõ rệt như rửa tay, sát khuẩn tay trước khi
chuẩn bị dụng cụ, kiểm tra sự vẹn toàn của
bơm, kim tiêm và dùng bơm kim tiêm vô
khuẩn cho mỗi lần tiêm kể cả trong trường
hợp sau lần tiêm thứ nhất thất bại.
- Rút thuốc chạm tay vào vùng
vô khuẩn (7,4%) thường xảy ra đối
với điều dưỡng trẻ, thao tác chưa thành
thạo và bị áp lực với thời gian và số
lượng mũi tiêm quá nhiều. Tỉ lệ này thấp
so kết quả nghiên cứu của Khoa Điều
dưỡng Trường Đại học Y Dược TPHCM
là 70%.
Bảng 6. Chuẩn bị trước khi tiêm
Có Không
Các tiêu chí quan sát (n = 1000)
SL
Tỷ lệ
%
Tỉ lệ đạt
lần 1
(%)
SL
Tỷ lệ
%
Kiểm tra thuốc trước khi tiêm 982 98,2 92,5 18 1,8
Sát khuẩn đầu ống thuốc / lọ thuốc 956 95,6 55 44 4,4
Sát khuẩn vị trí tiêm đúng quy định 948 94,8 51,4 52 5,2
Sát khuẩn tay trước khi tiêm qua da,
qua chạc 3, hoặc catheter
888 88,8 65,5 12 1,2
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
99
Có Không
Các tiêu chí quan sát (n = 1000)
SL
Tỷ lệ
%
Tỉ lệ đạt
lần 1
(%)
SL
Tỷ lệ
%
Đảm bảo kim tiêm vô khuẩn đến khi
tiêm
926 92,6 94,6 74 7,4
Sát khuẩn lại vị trí tiêm bằng bông
vô khuẩn theo đúng quy định.
958 95,8 52,5 42 42
Nhận xét:
- Kiểm tra thuốc trước khi tiêm, sát
khuẩn ống, lọ thuốc đã được thực hiện
rất tốt.
- Sát khuẩn vị trí tiêm đúng quy
định đã được cải thiện rất tốt (94,8%).
So với kết quả nghiên cứu của Bộ Y tế
phối hợp với Hội Điều dưỡng Việt Nam
năm 2008 (27.5%), khảo sát về tiêm
an toàn tại Bệnh viện Việt Đức năm
2009 là 96.4%. Sát khuẩn vị trí tiêm
chưa đúng quy định (5.2%) chủ yếu do
một số điều dưỡng vẫn sử dụng một loại
cồn 70
0
để sát khuẩn trong tiêm tĩnh
mạch và tiêm mông.
- Sát khuẩn tay trước khi tiêm qua da
đạt 88,8%, so với kết quả lần thứ nhất chỉ
65,5% chứng tỏ điều dưỡng đã thay đổi
hành vi tốt về vấn đề này. Kết quả nghiên
cứu của Bộ Y tế phối hợp với Hội Điều
dưỡng Việt Nam năm 2008 là 43,9%.
- Kim tiêm chưa đảm vô khuẩn đến khi
tiêm (7,4%) do thao tác tay điều dưỡng
chạm vào thân kim hoặc dùng tay tháo, đậy
nắp kim
- Sát khuẩn lại vị trí tiêm bằng
bông cồn vô khuẩn theo đúng quy định là
95.8%, Tuy nhiên vẫn còn 4,2% sát
khuẩn lại vị trí tiêm không đúng quy định
là do thói quen của điều dưỡng dùng
bông cồn đã sát khuẩn trước khi tiêm để
sát khuẩn lại sau khi tiêm.
Bảng 7. Tránh tiêm nhầm thuốc và phòng sốc phản vệ
Có Không
Các tiêu chí quan sát (n = 1000)
SL Tỷ lệ
%
Tỉ lệ đạt
lần 1
(%)
SL Tỷ lệ
%
Giao tiếp với NB trước khi tiêm 983 98,3 93,6 17 1,7
Thực hiện đúng y lệnh 1000 100 98,3 0 0
Giao tiếp, quan sát người bệnh
trong và sau khi tiêm
957 95,7 65,5 43 4,3
Bơm thuốc chậm (1ml/10 giây) 823 82,3 65 177 17,7
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
100
Có Không
Các tiêu chí quan sát (n = 1000)
SL Tỷ lệ
%
Tỉ lệ đạt
lần 1
(%)
SL Tỷ lệ
%
Luôn mang theo hộp thuốc chống
sốc
1000 100 97,5 25 2,5
Không dùng một kim tiêm để lấy
nhiều loại thuốc
1000 100 98,5 15 1,5
Nhận xét:
- Điều dưỡng giao tiếp với người bệnh trước, trong và sau khi tiêm có cải thiện đáng kể.
- Hộp chống sốc đúng qui định luôn có trên xe tiêm khi thực hành tiêm.
- Thời gian bơm thuốc chưa đúng quy định (17,7 %).
Bảng 8. Kỹ thuật tiêm
Có Không
Các tiêu chí quan sát (n = 1000)
SL Tỷ lệ
%
Tỉ lệ đạt
lần 1
(%)
SL Tỷ lệ
%
Tiêm đúng vị trí 1000 100 99,0 0 0
Thay kim tiêm đúng tiêu chuẩn cho
các đường tiêm
1000 100 98,7 0 0
Đúng góc tiêm 985 98,5 96,5 15 1,5
Đúng độ sâu 974 97,4 95,7 26 2,6
Nhận xét: Điều dưỡng thực hiện tốt kỹ thuật tiêm truyền.
2.3. Không gây nguy cơ phơi nhiễm cho người tiêm và cộng đồng
Bảng 9. An toàn cho người tiêm và cộng đồng
Có Không
Các tiêu chí quan sát (n = 1000)
SL Tỷ lệ
%
Tỉ lệ đạt
lần 1
(%)
SL Tỷ lệ
%
Bẻ đầu ống thuốc bằng gạc vô khuẩn 964 96,4 68,7 36 3,6
Không dùng tay đậy nắp kim 958 95,8 38,3 42 4,2
Không dùng tay tháo kim sau khi
tiêm
958 95,8 35,7 42 4,2
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
101
Có Không
Các tiêu chí quan sát (n = 1000)
SL
Tỷ lệ
%
Tỉ lệ đạt
lần 1
(%)
SL
Tỷ lệ
%
Cho ngay kim, bơm tiêm vào hộp
kháng thủng
998 99,8 64,5 2 0,2
Không để kim tiêm, vật sắc nhọn
trong rác thải y tế
978 97,8 95,2 22 2,2
Mang găng khi tiêm TM, truyền dịch 756 75,6 25,5 244 24,4
Rửa tay, sát khuẩn tay sau khi kết
thúc mũi tiêm
933 93,3 64,7 33 3,3
Nhận xét:
- Điều dưỡng đã thay đổi thói quen và
thực hiện thường quy như dùng gạc vô
khuẩn để bẻ đầu ống thuốc, không dùng tay
đậy hoặc tháo kim.
- Cô lập ngay VSN sau tiêm thực
hiện tốt.
- Mang găng khi tiêm truyền TM đạt
75,6 %, một số điều dưỡng có kỹ năng tiêm
truyền thành thạo không cần mang găng
khi thực hiện kỹ thuật này.
- Kết quả sát khuẩn tay sau tiêm đạt kết
quả cao (93,3%) là sự thay đổi rất tốt.
So với tỉ lệ của khảo sát lần 1 với tiêu
chí an toàn cho người tiêm và cộng đồng đã
cải thiện đáng kế trong việc thực hiện
nguyên tắc vô khuẩn khi thực hành tiêm, cô
lập vật sắc nhọn ngay sau khi tiêm.
4. KẾT LUẬN
Qua kết quả nghiên cứu này chúng tôi
rút ra một số kết luận sau đây:
- Số lượng mũi tiêm quá nhiều (16.8
mũi tiêm/Điều dưỡng /ngày) so với nghiên
cứu của Hội điều dưỡng VN năm 2005 là
10 mũi tiêm/Điều dưỡng/Ngày.
-Tiêm tĩnh mạch chiếm tỉ lệ cao nhất
(75,7%) trong các đường tiêm, đây là nguy
cơ rất lớn cho người bệnh, điều dưỡng và
cộng đồng nếu không thực hiện đúng các
qui định về tiêm an toàn.
- Đã có sự phối hợp của Phòng Điều
dưỡng, Điều dưỡng trưởng các khoa phòng
và các phòng chức năng để cung cấp, trang
bị các dụng cụ-phương tiện cho việc thực
hành tiêm an toàn.
- Sau 6 tháng tập huấn điều dưỡng đã
thay đổi nhận thức, hành vi theo các tiêu
chí thực hiện tiêm an toàn: chuẩn bị một xe
tiêm đầy đủ, gọn gàng; sử dụng bơm kim
tiêm vô khuẩn cho mỗi lần tiêm; kiểm tra
sự vẹn toàn của bơm kim tiêm; giao tiếp
với người bệnh trước trong và sau tiêm;
tuân thủ rửa tay, sát khuẩn tay nhanh; thực
hiện và cô lập vật sắc nhọn đúng qui định.
- Tuy nhiên vẫn còn một số điều dưỡng
chưa giao tiếp đầy đủ với người bệnh trước,
trong và sau khi tiêm (4,3%); chưa tuân thủ
rửa tay đúng quy định (8,3%); chưa kiểm
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
102
tra sự vẹn toàn của bơm kim tiêm (5,2%);
rút thuốc chạm vào vùng vô khuẩn (7,4%);
chưa kiểm tra thuốc trước khi lấy thuốc
(1,8%); không mang găng khi tiêm truyền
tĩnh mạch (24,6%).
- Công tác kiểm tra giám sát thực hành
tiêm an toàn tại các khoa lâm sàng đã mang
lại kết quả tốt.
5. KIẾN NGHỊ
Đối với Bộ Y tế
- Ban hành sớm hướng dẫn thực hành
tiêm an toàn và phòng ngừa chuẩn cấp
quốc gia trong các cơ sở y tế.
- Đưa chương trình Tiêm an toàn vào
nội dung giảng dạy tại các trường đào tạo
điều dưỡng.
- Đưa tiêu chuẩn tiêm an toàn vào đánh
giá, kiểm tra chất lượng bệnh viện hàng năm.
Đối với lãnh đạo bệnh viện
- Kiểm tra, giám sát việc kê đơn của
các bác sĩ nhằm giảm chỉ định thuốc tiêm
không cần thiết thông qua các hoạt động đi
buồng của trưởng khoa, Giám đốc hoặc
bình bệnh án.
- Cung cấp đầy đủ các phương tiện
phục vụ thực hiện tiêm an toàn: xe tiêm,
hộp kháng thủng đúng quy định.
- Thiết lập và duy trì hệ thống báo cáo
tai nạn rủi ro nghề nghiệp do vật sắc nhọn.
- Đảm bảo đủ nhân lực điều dưỡng so
với tỉ lệ giường bệnh.
Đối với Phòng Điều dưỡng và Điều
dưỡng trưởng khoa phòng
- Duy trì công tác giám sát, kiểm tra
thực hành tiêm tại các khoa lâm sàng.
- Tổ chức huấn luyện, đào tạo tiêm an
toàn cho nhân viên mới tuyển dụng.
- Trang bị, bổ sung đầy đủ các phương
tiện dụng cụ thực hành tiêm an toàn.
Đối với điều dưỡng
- Thực hành các quy trình kỷ thuật với
ý thức trách nhiệm cao, tự giác.
- Thay đổi nhận thức và hành vi khi
thực hành tiêm, truyền. Đặc biệt chú trọng
thực hiện đúng 17 tiêu chuẩn về tiêm an
toàn.
- Tăng cường giao tiếp với người bệnh
trước, trong và sau khi tiêm, truyền.
- Sử dụng găng hợp lý khi thực hiện
tiêm, truyền.
- Tuân thủ đúng quy định báo cáo và
quy trình xử trí khi xảy ra phơi nhiễm.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Kết quả khảo sát tiêm an toàn, Hội
Điều dưỡng Việt Nam, 2002.
2. Kết quả khảo sát tiêm an toàn, Hội
Điều dưỡng Việt Nam, 2004.
3. Kết quả nghiên cứu tiêm an toàn tại
các bệnh viện điểm của Phòng Điều dưỡng,
Cục QLKCB-Bộ Y tế năm 2008.
4. Khảo sát tiêm an toàn tại các cơ sở
thực hành bệnh viện- Khoa Điều dưỡng,
Trường Đại học Y Dược TP HCM-Hội
nghị khoa học điều dưỡng mở rộng Bệnh
viện Nhi đồng 2, Tháng 9/2009.
5. Khảo sát hiện trạng về tiêm an toàn
tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, 2009.
6. Managing an injection safety policy,
WHO, 2003.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
103
ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC CỦA BÀ MẸ NUÔI CON MẮC BỆNH TIÊU CHẢY TẠI
KHOA NHI BVĐKKV BỒNG SƠN TỪ 07-2008 ĐẾN 06 -2009”
CN. Nguyễn Văn Thanh, ĐD. Nguyễn Thị Thuỷ
Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn, Bình Định
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêu chảy là bệnh thường gặp ở trẻ em
các nước đang phát triển, là một trong những
nguyên nhân gây tử vong, ước tính hằng năm
có khoảng 1.300 triệu lượt trẻ tiêu chảy và có
đến 4 triệu trẻ tử vong do tiêu chảy, trung
bình trẻ mắc 3,3 lượt tiêu chảy trong năm,
80% tử vong dưới 2 tuổi. Các Chương trình
Y tế quốc gia đã đẩy mạnh công tác giáo dục
sức khoẻ nhằm giảm số mắc tiêu chảy và tỷ
lệ tử vong. Tuy nhiên, vẫn còn một số bà mẹ
chưa có kiến thức đúng, gây hậu quả nghiêm
trọng có thể tử vong. Từ thực tế tại địa bàn
huyện Hoài Nhơn, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu: “ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC
CỦA BÀ MẸ NUÔI CON MẮC BỆNH
TIÊU CHẢY TẠI KHOA NHI BVĐKKV
BỒNG SƠN TỪ 07-2008 đến 06 -2009” với
các mục tiêu sau:
1 Khảo sát kiến thức của bà mẹ nuôi
con mắc bệnh tiêu chảy tại khoa Nhi
BVĐKKV Bồng Sơn thời gian từ 07-2008
đến 06-2009.
2 Đánh giá trước và sau tư vấn kiến
thức của bà mẹ theo thang điểm đã có sẵn.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng: 139 bà mẹ có con mắc
tiêu chảy tại khoa Nhi BVĐKKV Bồng
Sơn ở trẻ từ 04 tháng đến 24 tháng tuổi thời
gian từ 07-2008 đến 06-2009.
- Loại trừ: bà mẹ bị rối loạn tâm thần,
thiểu năng tâm thần, tàn tật.
2.2 Phương pháp nghiên cứu: mô tả
tiến cứu có can thiệp.
2.3 Đánh giá thang điểm qua các
kiến thức:
1. Xử trí tiêu chảy tại nhà, về chế độ ăn
khi trẻ tiêu chảy, về các biện pháp phòng
chống tiêu chảy khác. Mỗi kiến thức đúng
tính 2 điểm với tổng 10 điểm:
- Nếu điểm: < 6 ¬ Xếp loại: Chưa tốt;
¬ -Nếu điểm: ≥ 6 ¬ Xếp loại: Tốt.
2.4 Xử lý số liệu: thu thập số liệu; xử
lý số liện: bằng phần mềm EPI. INFO
2003.
Từ khoá: Tiêu chảy (TC); suy dinh
dưỡng (SDD); chế độ ăn (CĐ ăn); kiến
thức (KT).
3. KẾT QUẢ
3.1 Kiến thức của bà mẹ nuôi con
mắc bệnh tiêu chảy
3.1.1 Một số đặc điểm mẫu nghiên
cứu
Về tuổi, bà mẹ 25-29 tuổi là chủ yếu
(chiếm 41,37%). Về trình độ, tỷ lệ bà mẹ
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
104
có trình độ trung học có tỷ lệ 64,75%, trình độ tiểu học và không biết chữ 31,65%.
Bảng 1. Phân bố theo tuổi trình độ và nghề nghiệp của bà mẹ
Đặc điểm các bà mẹ n %
< 20T 5 03,60
20-24T 37 26,62
25-29T 58 41,73
30-34T 25 17,99
Tuổi
≥ 35T 14 10,07
Tiểu học và không biết chữ 44 31,65
Trung học 90 64,75 Trình độ
Đại học, sau đại học 5 03,60
3.1.2 Khảo sát kiến thức của bà mẹ nuôi con mắc bệnh tiêu chảy tại khoa Nhi
BVĐKKV Bồng Sơn trước tư vấn
+ Kiến thức của bà mẹ về xử trí tiêu chảy tại nhà:
Bảng 2. Kiến thức xử trí tiêu chảy tại nhà
Kiến thức bà mẹ
Kiến thức chung
n %
Cúng bái 12 8,63
Dùng thuốc cầm TC 27 19,42
Tự mua thuốc điều trị 114 82,01
Đến cơ sở y tế và y tế tư nhân 98 70,50
Biết dùng ORS và dịch tương đương 87 62,59
Tốt (Đúng ≥3 kiến thức đúng) 127 91,37
Chưa tốt 12 8,63
Tỷ lệ bà mẹ còn đi cúng khi tiêu chảy 8,53%. Dùng thuốc cầm tiêu chảy 19,42%. Tự
mua thuốc uống 82,01%. Kết quả đánh giá bà mẹ có kiến thức tốt có tỷ lệ 91,63%, chưa
tốt 8,63%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
105
B i ể u đ ồ 3 . 1 X Ử T R Í T I Ê U C H Ả Y T Ạ I N H À
1 9 , 4 2
7 0 , 5
6 2 , 5 9
8 , 6 3
8 2 , 0 1
0 2 0 4 0 6 0 8 0 1 0 0
C ú n g b á i
U ố n g t h u ố c c ầ m t i ê u c h ả y
T ự m u a t h u ố c đ i ề u t r ị
Đ ế n c ơ s ở y t ế v à y t ế t ư n h â n
D ù n g O R S v à d ị c h t ư ơ n g đ ư ơ n g
0
+ Kiến thức của bà mẹ về chế độ ăn của trẻ trong tiêu chảy
Bảng 3. Kiến thức chế độ ăn trong tiêu chảy
Kiến thức bà mẹ
Kiến thức chung
Số lượng %
Kiêng ăn 118 84,89
Giảm khẩu phần 99 71,22
Sử dụng dung dịch ORS 103 74,10
Sử dụng các loại nước tương đương như: dừa, cam, chuối 108 77,70
Ăn uống đầy đủ chế độ ăn hằng ngày 65 46,76
Tốt (Đúng ≥3 kiến thức đúng) 90 64,75
Chưa tốt 49 35,25
Biểu đồ 3.2 CHẾ ĐỘ ĂN TRONGÍ TIÊU CHẢY
71.22
77.7
46.76
84.89
74.1
0 20 40 60 80 100
Kiêng ăn
Giảm khẩu phần ăn
Sử dụng dịch ORS
Sử dụng các dịch tương
đương
Ăn uống đây đủ
0
Tỷ lệ bà mẹ kiêng ăn khi con bị TC
84,89%. Biết sử dụng dung dịch ORS
74,10%. Chỉ 46,76% cho ăn đủ khi TC. Kết
quả đạt kiến thức tốt 65,75%, chưa tốt
35,25%.
+ Kiến thức của bà mẹ về các biện
pháp phòng chống tiêu chảy:
Kiến thức của bà mẹ về các biện pháp
phòng chống TC 91,37% bà mẹ sử dụng
nước sạch, 83,45% thực hiện rửa tay,
73,38% xử lý phân tốt. Kết quả đạt kiến
thức tốt 87,77%, chưa tốt 12,23% (bảng 4).
BIỂU ĐỒ 3.2 CHẾ ĐỘ ĂN TRONG TIÊU CHẢY
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
106
Bảng 4. Kiến thức của bà mẹ về các biện pháp phòng chống tiêu chảy
Kiến thức bà mẹ
Kiến thức chung
n %
Dùng nước sạch 127 91,37
Rửa tay trước khi ăn, trước khi chế biến thức ăn 116 83,45
Rửa tay sau khi đi ngoài 114 82,01
Xử lý phân tốt 102 73,38
Tiêm chủng đầy đủ 113 81,29
Tốt (Đúng ≥3 kiến thức đúng) 122 87,77
Chưa tốt 17 12,23
3.2. Đánh giá kiến thức của bà mẹ
theo thang điểm đã có sẵn
Kiến thức trước và sau tư vấn có thay
đổi, 100% các kiến thức đúng bỏ đi cúng
bái, không dùng thuốc cầm TC từ 80,58%
tăng 92,09% và 82,01% tự mua thuốc điều
trị giảm 46,76%. Kiến thức tốt tăng 91,37
lên 96,40% (bảng 5).
Bảng 5. Xử trí tiêu chảy tại nhà trước và sau tư vấn
Trước tư vấn Sau tư vấn
Xử trí tiêu chảy
n % n %
Không đi cúng 127 91,37 139 100
Không dùng thuốc cầm TC 12 80,58 128 92,09
Tự mua thuốc điều trị tại nhà 114 82,01 65 46,76
Đến cơ sở y tế và y tế tư nhân 98 70,50 114 82,01
Biết dùng ORS và các loại tương đương 87 62,59 123 88,49
Tốt (Đúng ≥3 kiến thức đúng) 127 91,37 134 96,40
Chưa tốt 12 8,63 5 3,60
Bảng 6. Kiến thức về CĐ ăn khi trẻ TC trước và sau tư vấn
Trước tư vấn Sau tư vấn
KT chế độ ăn trẻ tiêu chảy
n % n %
Kiêng ăn 118 84,89 136 97,84
Giảm khẩu phần 40 28,78 106 76,26
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
107
Trước tư vấn Sau tư vấn
KT chế độ ăn trẻ tiêu chảy
n % n %
Có sử dụng dung dịch ORS 103 74,10 118 84,89
Có sử dụng các loại nước tương đương 108 77,7 110 79,14
Ăn uống đầy đủ chế độ ăn hằng ngày 65 46,76 134 96,40
Tốt (Đúng ≥3 kiến thức đúng) 90 64,75 117 84,17
Chưa tốt 49 35,25 22 15,83
Kiến thức về chế độ ăn trong tiêu chảy có
thay đổi, kiến thức đúng về kiêng ăn từ
84,89% tăng 97,84%, có sử dụng ORS từ
74,10% tăng 84,89% sau tư vấn, ăn uống đầy
đủ từ 45,76% tăng 96,40%. Sau tư vấn bà mẹ
có kiến thức tốt tăng 64,75 lên 84,17%%.
Bảng 7. Các biện pháp phòng chống tiêu chảy khác trước và sau tư vấn
Trước tư vấn Sau tư vấn
KT về biện pháp phòng chống
tiêu chảy
n % n %
Dùng nước sạch 127 91,37 129 92,81
Rửa tay trước khi ăn, chế biến thức ăn 116 83,45 125 89,93
Rửa tay sau khi đi ngoài 114 82,01 120 86,33
Xử lý phân tốt 102 73,38 110 79,14
Tiêm chủng đầy đủ 113 81,29 134 96,40
Tốt (Đúng ≥3 kiến thức đúng) 122 87,77 125 89,93
Chưa tốt 17 12,23 14 10,07
Có sự thay đổi các kiến thức phòng bệnh TC, tuy nhiên sự thay đổi không đáng kể.
Sau tư vấn bà mẹ có kiến thức tốt tăng từ 87,77 lên 89,93%
4. BÀN LUẬN
Qua tư vấn 139 bà mẹ nuôi con tiêu
chảy chúng tôi ghi nhận được một số kết
quả như sau:
4.1. Đánh giá kiến thức của bà mẹ
nuôi con
- Kiến thức xử trí TC tại nhà: theo bảng 2,
tỷ lệ bà mẹ tự mua thuốc điều trị 82,01%,
dùng thuốc cầm TC 19,42%. Tỷ lệ dùng thuốc
cầm TC thấp hơn tác giả Lưu Thị Minh Châu
là 48,6% đây là vấn đề cần lưu ý khi GDSK
giúp bà mẹ biết được các tai biến, tác dụng
phụ không mong muốn có thể xảy ra như
chướng bụng, liệt ruột táo bón kéo dài khi
dùng thuốc cầm TC [4], chỉ 62,59% bà mẹ
biết dùng ORS khi con bị TC. Kết quả đánh
giá 91,63% có kiến thức tốt, 8,63% chưa tốt.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
108
- Kiến thức CĐ ăn của trẻ trong TC: tỷ
lệ khá cao 84,89% bà mẹ cho trẻ kiêng ăn,
71,22 % giảm khẩu phần ăn (bảng 3). Kết
quả này tương tự tác giả Nguyễn Thị Như
Mai 70% [7]. Chỉ có 46,76% bà mẹ cho ăn
đủ khi TC. Dinh dưỡng trong TC là một
nguyên tắc quan trọng, cho trẻ ăn thêm bữa
cho đến khi cân nặng đạt như cũ, bỏ những
tập quán kiêng ăn, giảm khẩu phần ăn (với
lý do bà mẹ sợ khi cho ăn làm tăng lượng
phân đi ngoài và tăng số lần TC), với CĐ
ăn đủ chất và hợp lý giúp hạn chế hậu quả
TC phòng chống SDD. Tỷ lệ bà mẹ có sử
dụng gói ORS chiếm tỷ lệ 74,10% cao hơn
tác giả Nguyễn Thị Như Mai 64% [7] và
Lưu Thị Minh Châu 53,3% [6]. Cách pha
gói ORS chưa đúng do sợ trẻ uống không
hết chỉ pha một phần, cách cho uống và số
lượng ORS uống còn chưa đúng, khi truyền
thông nên nhấn mạnh cách pha ORS và
cách uống cho từng lứa tuổi, trong nghiên
cứu này chùng tôi không đánh giá thực
hành pha ORS. Kết quả đánh giá kiến thức
tốt 65,75%, chưa tốt 35,25%.
- Kiến thức của bà mẹ về các biện pháp
phòng chống TC: theo bảng 4 tỷ lệ bà mẹ
sử dụng nước sạch 91,37%, thực hiện rửa
tay 83,45%. Cách xử lý phân tốt ngăn sự
lây lan 73,38% thấp hơn tác giả Nguyễn
Thị Như Mai 91,01% [7]. Kết quả đánh giá
kiến thức tốt 87,77%, chưa tốt 12,23%.
4.2 Đánh giá kiến thức của bà
mẹ trước sau tư vấn theo thang điểm
đã có sẵn
- Kiến thức xử trí TC tại nhà: kiến thức
sau tư vấn có thay đổi, 100% bà mẹ bỏ đi
cúng, đi cúng không chữa được bệnh và có
khi làm chậm thời gian điều trị, tỷ lệ không
dùng thuốc cầm TC từ 80,58% tăng
92,09% và 82,01% tự mua thuốc điều trị
giảm 46,76%. Kiến thức tốt từ 91,37% lên
96,40%.
- Kiến thức về chế độ ăn trong TC: có
thay đổi theo (bảng 6) tỷ lệ bà mẹ hiểu
được giá trị dinh dưỡng trong TC không
kiêng ăn từ 84,89% tăng 97,84% và
76,26% thực hiện đủ khẩu phần ăn trong
ngày và ăn thêm sau TC, ăn uống đầy đủ từ
45,76% tăng 96,40%, sử dụng ORS từ
74,10% tăng 84,89% và sử dụng các dịch
thay thế 79,14%. Sau tư vấn bà mẹ có kiến
thức tốt từ 64,75% lên 84,17%.
- Kiến thức của bà mẹ về các biện pháp
phòng chống TC: có sự thay đổi, tuy nhiên
sự thay đổi không đáng kể. Sau tư vấn bà
mẹ có kiến thức tốt tăng từ 87,77 lên
89,93% (bảng 7).
5. KẾT LUẬN
Từ các kết quả thu được, chúng tôi có
một số kết luận sau:
1. Kiến thức của bà mẹ chăm sóc trẻ
tiêu chảy:
- Kiến thức của bà mẹ về xử trí tiêu
chảy tại nhà, 82,01% tự mua thuốc, 19,42%
uống thuốc cầm tiêu chảy, 62,59% biết sử
dụng ORS. Kiến thức tốt 91,63%, 8,63%
chưa tốt.
- Kiến thức chế độ ăn của trẻ trong tiêu
chảy, cho trẻ ăn kiêng 84,89%, 71,22%
giảm khẩu phần ăn. Tỷ lệ có sử dụng gói
ORS chiếm tỷ lệ 74,10%. Kiến thức tốt
65,75%, chưa tốt 35,25%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
109
- Kiến thức về biện pháp phòng chống
tiêu chảy, sử dụng nước sạch 91,37%, thực
hiện rửa tay 83,45%. Cách xử lý phân tốt
73,38%. Kiến thức tốt 87,77%, chưa tốt
12,23%.
2. Thay đổi kiến thức sau tư vấn:
- Kiến thức xử trí tiêu chảy tại nhà sau
tư vấn có sự thay đổi, 100% bà mẹ không
đi cúng, không dùng thuốc cầm TC tăng
92,09% và 82,01% tự mua thuốc điều trị
giảm 46,76%. Kiến thức tốt từ 91,37 lên
96,40%
- Có sự thay đổi kiến thức về chế độ
ăn trong tiêu chảy tỷ lệ bà mẹ có kiến
thức đúng về bỏ thói quen kiêng ăn
97,84% và 76,26% thực hiện đủ khẩu
phần ăn trong ngày và ăn thêm sau tiêu
chảy, ăn uống đầy đủ 96,40%, sử dụng
ORS 84,89% và sử dụng dịch thay thế
79,14%. Sau tư vấn bà mẹ có kiến thức
tốt từ 64,75% lên 84,17%.
- Có sự thay đổi các kiến thức phòng
bệnh TC, tuy nhiên sự thay đổi không đáng
kể. Sau tư vấn bà mẹ có kiến thức tốt tăng
từ 87,77 lên 89,93%.
6. KIẾN NGHỊ
Tăng cường công tác giáo dục sức
khoẻ, cần bổ sung trong nội dung giáo dục
các vấn đề liên quan đến bệnh tiêu chảy.
Bổ sung đầy đủ và hợp lý các chất dinh
dưỡng cho trẻ.
Cần quan tâm tất cả các đối tượng khi
thực hành truyền thông giáo dục.
7. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bài giảng nhi khoa (2004). Trường
Đại Học Y Hà Nội. Nhà XB Y học.
2. Cẩm nang điều trị nhi khoa (1991).
Viện bảo vệ sức khoẻ trẻ em. Nhà XB y
học, tr.143-148.
3. Bộ Y tế Tài liệu Hướng dẫn xử trí
Tiêu chảy trẻ em 2009.
4. Điều dưỡng cơ bản trường đại học y
dược Huế.
5. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị
bệnh trẻ em (2003). Nhà XB y học, tr.162 -
168.
6. Lưu Thị Minh Châu. Thực trạng,
kiến thức, thái độ, thực hành của các bà mẹ
dối với việc phòng chống bệnh tiêu chảy
cấp ở trẻ em dưới 1 tuổi tại huyện Khoái
Châu- Hưng Yên năm 2002. Y học thực
hành số 7 năm 2002, tr. 21-23.
7. Nguyễn Thị Như Mai. Đánh giá
kiến thức và thực hành của một số bà mẹ
có con bị tiêu chảy cấp tại Khoa Nhi
Bệnh Viện Trung ương Huế. Y học thực
hành Hội Nghị Nhi Khoa miền Trung
2006, tr. 308-316.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
110
ĐÁNH GIÁ VIỆC GIÁO DỤC SỨC KHỎE
CHO NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÀ TĨNH
CN. Nguyễn Việt Thắng
Trường CĐYT Hà Tĩnh và cộng sự
TÓM TẮT
Trong điều trị, chăm sóc bệnh đái
tháo đường rất cần có sự hợp tác chặt
chẽ, lâu dài giữa thầy thuốc và người
bệnh, vì thế việc giáo dục sức khoẻ cho
người bệnh đái tháo đường là rất cần
thiết để họ biết được cách tự chăm sóc,
chế độ ăn uống, luyện tập, phòng tránh
biến chứng cũng như cách sử dụng thuốc
phù hợp với tình trạng bệnh lý trong
những thời điểm khác nhau. Khảo sát 90
bệnh nhân điều trị tại Khoa nội, Bệnh
viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh cho thấy: Sau
2-3 ngày vào viện tỷ lệ người bệnh đái
tháo đường đã được tư vấn, hướng dẫn
chỉ có 35.5%; Tỷ lệ người bệnh hiểu biết
chung về các nguy cơ gây đái tháo
đường chỉ đạt 9%.Tỷ lệ hiểu biết đúng về
chế độ ăn và cách ăn là 23.57%; có đến
76,43% người bệnh không biết chế độ ăn
và cách ăn, trong đó sai lầm về việc
giảm ăn tinh bột nhiều và nhanh chiếm tỉ
lệ cao nhất 86.6%; Chỉ có 50% hiểu biết
đúng về chế độ uống nước.Thời gian tư
vấn, hướng dẫn của Bác sỹ và điều
dưỡng chủ yếu là lúc khám bệnh, tiêm
thuốc (90.5 %); Tỷ lệ người bệnh hiểu
biết chung về về các tai biến và cách
phòng chống đạt 14%; Có 64.5 % người
bệnh được hỏi không biết cách dùng thuốc
chống đái đái đường và bảo quản Insulin.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục sức khỏe (GDSK) cho
người bệnh là một nhiệm vụ quan trọng
của người điều dưỡng. Giáo dục sức
khỏe có ý nghĩa đặc biệt đối với các
bệnh mãn tính như tăng huyết áp, đái
tháo đường (ĐTĐ)..., vì người bệnh và
gia đình người bệnh cần có kiến thức để
tự chăm sóc theo dõi nhằm rút ngắn ngày
nằm viện, giảm tỷ lệ tàn tật, tử vong và
biết cách tự chăm sóc tại nhà.
Đái tháo đường (chủ yếu đái tháo
đường typ II) là một bệnh phổ biến ở các
nước phát triển. Trong những năm gần
đây, sự gia tăng nhanh chóng tỷ lệ mắc
bệnh cùng với sự phức tạp của các biến
chứng và các bệnh phối hợp đã trở thành
một vấn đề lớn của y học nước ta. Người
mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam
thường được phát hiện muộn và có kèm
theo các biến chứng nặng nề, đây là
nguyên nhân làm cho chi phí chữa bệnh,
tỷ lệ tàn tật và tử vong cao.
Đánh giá tầm quan trọng của công tác
GDSK cho người bệnh Đái tháo đường.
Hiệp hội Đái tháo đường thế giới (IDF) đã
khuyến cáo: ”Nên chuyển ngay những
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
111
người mắc bệnh đái tháo đường lần đầu
được phát hiện đến những trung tâm hoặc
bệnh viện có kinh nghiệm cao nhất. Bởi vì
tại đây, người bệnh sẽ nhận được những ý
kiến tư vấn tốt nhất, được phát hiện đầy đủ
biến chứng, tìm ra phương pháp chữa trị
hợp lý nhất’’.
Trong điều trị, chăm sóc bệnh đái tháo
đường rất cần có sự hợp tác chặt chẽ, lâu dài
giữa thầy thuốc và người bệnh, vì thế việc
cung cấp kiến thức phổ thông cho người
bệnh đái tháo đường là rất cần thiết để họ
biết được cách tự chăm sóc, chế độ ăn uống,
tập luyện, phòng tránh biến chứng cũng như
cách sử dụng thuốc phù hợp với tình trạng
bệnh lý trong những thời điểm khác nhau.
Để tìm hiểu thực trạng về công tác
giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân đái
tháo đường điều trị tại bệnh viện chúng
tôi tiến hành đề tài này nhằm các mục
tiêu sau:
1. Đánh giá mức độ hiểu biết của người
bệnh về các yếu tố nguy cơ, cách tự chăm
sóc, phòng tránh biến chứng do bệnh đái
tháo đường.
2. Đề xuất các giải pháp nhằm tăng
cường hiệu quả giáo dục sức khỏe cho
người bệnh Đái tháo đường.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian
nghiên cứu
Người bệnh được chẩn đoán ĐTĐ typ II,
điều trị nội trú tại khoa Nội Tổng hợp bệnh
viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, có độ tuổi < 70
trừ các trường hợp sau: những bệnh nhân đã
được điều trị nhiều lần tại bệnh viện Trung
ương; các trường hợp người bệnh có biến
chứng cấp tính (hôn mê, các biến chứng về
gan, thận nặng, biến chứng tai biến mạch
não...). Thời gian thực hiện nghiên cứu: từ
tháng 10/2008 đến tháng 3/2009.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện
bằng phỏng vấn đối tượng nghiên cứu theo
bộ câu hỏi thiết kế sẵn.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thông tin chung về đối tượng
được nghiên cứu.
* Phân bố theo giới: Nam: 38= 43%;
Nữ: 52/90=57%.
* Phân bố theo tuổi
Người bệnh từ 51- 60 tuổi chiếm tỷ lệ
cao nhất, tiếp theo là độ tuổi trên 60. Người
dưới 40 tuổi chiếm tỷ lệ ít nhất (bảng 1).
Bảng 1. Phân bố theo tuổi
Tuổi n %
< 40 3 3,5
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
112
41- 50 17 19
51-60 40 44
> 60 30 33.5
- Độ tuổi bị bệnh từ 51-60 tuổi chiếm 44%
* Phân bố theo nghề nghiệp
Bảng 2. Phân loại theo nghề nghiệp
Nghề nghiệp n %
Công chức, viên chức, hưu trí 44 48.8
Nông dân 36 40
Nghề khác 10 12.2
Tỷ lệ người bệnh là công chức, viên chức, hưu trí chiếm 48,%, người bệnh là nông
dân chiếm 40%.
3.2. Kết quả khảo sát về việc tư vấn và giáo dục sức khỏe của BS và ĐD
- Đã được tư vấn, hướng dẫn: 32/90 = 35.5
- Chưa được tư vấn, hướng dẫn 58/90 = 64,5
3.3. Đối tượng cung cấp kiến thức cho bệnh nhân về, chế độ ăn uống, các tai biến
và cách đề phòng và cách bảo quản thuốc
- Bác sỹ: 69/90 = 76.6%
- Điều dưỡng: 21/90 = 23.4%
3.4. Thời điểm tư vấn, giáo dục sức khỏe
Bảng 3. Thời điểm tư vấn, giáo dục sức khỏe
Thời gian tư vấn n (32) %
Lúc khám bệnh 19 59.3
Lúc tiêm thuốc và làm kỹ thuật 10 31.2
Thời điểm khác 3 9.5
3.5. Sự hiểu biết về bệnh và cách chăm sóc
Bảng 4. Hiểu biết về các yếu tố nguy cơ gây bệnh (n=90)
Có biết Không biết
Các yếu tố nguy cơ
n % n %
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
113
Tuổi trên 40 13 14.5 77 85.5
Tăng huyết áp 7 7.8 83 92.2
Có biết Không biết
Các yếu tố nguy cơ
n % n %
Vòng bụng lớn 7 7.8 83 92.2
Yếu tố gia đình có người bị ĐTĐ 8 9 82 91
Thừa cân, béo phì 9 10 81 90
Ít vận động 5 5.6 85 94.4
Hút thuốc lá, uống nhiều rượu 7 7.8 83 92.2
Trung bình 8 9 82 91
Nhận xét: Tỷ lệ NB hiểu biết chung về các nguy cơ gây ĐTĐ chỉ đạt 9%
Bảng 5: Hiểu biết về chế độ ăn và cách ăn (n=90)
Có Không
Chế độ ăn
n % n %
Giảm tinh bột nhiều và đột ngột 78 86.6 12 13.4
Hạn chế dầu, mỡ 25 27.7 65 72.3
Ăn nhạt 17 18.8 73 81.2
Ăn nhiều chất xơ (rau) 20 22.2 70 17.8
Ăn các loại ngũ cốc không chế biến kỹ 17 18.8 73 81.2
Ăn các loại miến thay cơm 53 60 37 40
Không ăn các đồ ngọt (kẹo, bánh, nước ngọt) 8 9 82 91
Nhận xét: Có 86,6% người bệnh giảm ăn tinh bột nhiều và đột ngột khi biết bị đái
tháo đường, 60% người bệnh cho rằng có thể ăn các loại miến thay cơm. Tỷ lệ người bệnh
hiểu biết về ăn nhạt, ăn nhiều chất xơ rất thấp
Bảng 6. Hiểu biết về cách uống nước (n=90)
Có Không
Chế độ uống nước
n % n %
Không hạn chế uống nước 45 50 45 50
Chỉ uống khi khát 48 53.3 42 46.2
Uống 1 lần nhiều nước 40 44.4 50 55.6
Không khát cũng uống 8 9 82 91
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
114
Uống nhiều lần trong ngày, mỗi lần 150-200ml 15 16.6 85 84.4
Nhận xét: Có 50% NB cho rằng cần phải hạn chế uống nước, 53,3% chỉ uống khi khát
Bảng 7. Hiểu biết về các biến chứng, cách phòng chống và điều trị (n=90)
Có biết Không biết
Biến chứng và cách phòng
n % n %
Hạ đường máu 10 11 80 89
Tăng đường máu 30 33.3 60 66.7
Đo huyết áp định kỳ 1 tuần /lần 15 16.6 75 74.4
Khám mắt định kỳ 6 tháng/lần 5 5.5 85 94.5
Phòng tránh tổn thương bàn chân 15 16.6 75 83.3
Kiểm tra đường máu thường xuyên 20 22.2 70 77.8
Đi xét nghiệm nước tiểu 6 tháng/lần 4 4.4 86 95.6
Hiểu biết về cách dùng thuốc chống
đái tháo đường và bảo quản Insulin
32 35,5 58 64,5
Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh hiểu biết về biến chứng của bệnh và cách phòng chống
nhìn chung rất thấp. Chỉ có 35,5 số người bệnh hiểu biết về cách dùng thuốc chống đái
tháo đường và bảo quản Insulin.
4. BÀN LUẬN
Qua khảo sát thấy tỷ lệ người bệnh sau
2-3 ngày vào viện đã được tư vấn, hướng
dẫn chỉ có 35.5%. Tỷ lệ người bệnh hiểu
biết về các nguy cơ gây đái tháo đường chỉ
đạt 9%, trong đó các yếu tố vòng bụng
tăng, thừa cân, béo phì, ít hoạt động thể lực
có thể can thiệp được để thay đổi lối sống
làm giảm nguy cơ mắc bệnh.
Trong bệnh đái tháo đường, chế độ ăn
uống rất quan trọng, tuy nhiên có đến
86,6% người bệnh giảm ăn tinh bột nhiều
và đột ngột khi biết bị đái tháo đường, làm
cơ thể không thích nghi kịp và dẫn tới
nhiều tai biến; 60% người bệnh cho rằng có
thể ăn miến thay cơm nhất là miến dong,
đây là một quan niệm sai lầm vì tất cả các
sản phẩm tinh bột khi được chế biến kỹ thì
sự hấp thu nhanh làm tăng đường máu sau
ăn nhanh hơn. Bên cạnh đó các chế độ ăn
nhạt, ăn giảm mỡ, ăn nhiều chất xơ có vai
trò quan trọng hạn chế biến chứng nhưng tỷ
lệ hiểu biết của người bệnh rất thấp
(27,7%; 18,8%; 22,2%).
Việc cung cấp đủ nước cho người bệnh
đái tháo đường có tác dụng làm giảm áp
lực thẩm thấu của huyết tương, dự phòng
hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu, ngoài ra
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
115
nó còn có tác dụng cải thiện tuần hoàn máu
ngoại vi, làm giảm độ quánh của máu, hạn
chế được nhiều biến chứng, phũng ngừa
được nhiễm trùng tiết niệu. Tuy nhiên chỉ
có 9% người bệnh biết không khát củng
uống, còn 50% cho là phải hạn chế uống
nước. Điều này cho thấy việc giáo dục sức
khoẻ hàng ngày chưa được điều dưỡng
quan tâm và cần phải hướng dẫn người
bệnh nhiều lần.
Giáo dục sức khỏe cho người bệnh và
công việc chính của người điều dưỡng
nhưng chỉ có 23.4 % người bệnh trả lời
điều dưỡng là người hướng dẫn họ về
nguyên nhân, cách phòng bệnh, chế độ ăn
uống, cách chăm sóc theo dõi, cách sử
dụng thuốc và đề phòng biến chứng. Lý do
điều dưỡng ít tư vấn GDSK cho người bệnh
có thể do thiếu kiến thức, kỹ năng tư vấn,
giáo dục sức khỏe hoặc do khả năng truyền
đạt của điều dưỡng còn hạn chế.
Khảo sát này cũng cho thấy 90.5%
người bệnh trả lời thời gian tư vấn, hướng
dẫn của Bác sỹ và điều dưỡng là lúc khám
bệnh, tiêm thuốc. Như vậy bác sĩ và điều
dưỡng không có thời gian để giành riêng
cho công việc tư vấn, GDSK cho bệnh
nhân. Vì vậy tỷ lệ người bệnh hiểu biết về
các biến chứng của bệnh và cách phòng
chống rất thấp. 64.5 % người bệnh được
hỏi không biết mình sử dụng loại thuốc gì,
tác dụng, cách dùng và những điều cần theo
dõi khi dùng thuốc, đặc biệt là không biết
cách dùng và bảo quản Insulin. Do vậy
công tác tư vấn, giáo dục sức khỏe cho
người bệnh đái tháo đường cần phải được
quan tâm hơn.
Nghiên cứu này có một số hạn chế nhất
định vì nguồn lực có hạn nên chưa tiến
hành được trên một mẫu có tính đại diện
lớn hơn, chưa tìm hiểu được các yếu tố liên
quan đến hiểu biết của người bệnh. Do vậy
cần tiếp tục nghiên cứu để triển khai can
thiệp một cách hiệu quả góp phần phòng
chống bệnh đang gia tăng, giảm thiểu biến
chứng để hạ thấp gánh nặng.
5. KẾT LUẬN
Từ kết quả của nghiên cứu, chúng tôi
rút ra một số kết luận sau:
- Sau 2-3 ngày vào viện tỷ lệ người
bệnh đái tháo đường đã được tư vấn, hướng
dẫn chỉ có 35.5%
- Tỷ lệ người bệnh hiểu biết chung về các
nguy cơ gây đái tháo đường chỉ đạt 9%, trong
đó các nguy cơ có thể đề phòng được như
thừa cân, béo phì, ít vận động, uống rượu, hút
thuốc nhiều thì tỷ lệ hiểu biết còn thấp.
- Tỷ lệ hiểu biết chung về về chế độ ăn
và cách ăn là 23.57%, trong đó sai lầm về
việc giảm ăn tinh bột (cơm) nhiều và nhanh
chiếm tỉ lệ cao nhất 86.6%, ăn các loại
miến thay cơm: 60%
- Có 50% người bệnh trả lời hạn chế
uống nước, 53,3% trả lời là chỉ uống nước
khi khát
Thời gian tư vấn, hướng dẫn của Bác
sỹ và điều dưỡng chủ yếu là lúc khám
bệnh, tiêm thuốc (90.5 %)
- Tỷ lệ người bệnh hiểu biết chung về
về các tai biến và cách phòng chống đạt
14%.
- Có 64.5% người bệnh được hỏi không
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
116
biết cách dùng thuốc chống đái đái đường
và bảo quản Insulin.
6. ĐỀ NGHỊ
- Thường xuyên đào tạo, cập nhật kiến
thức cho điều dưỡng chăm sóc người bệnh
ĐTĐ để người điều dưỡng có đủ năng lực
tư vấn và giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân.
- Cần tăng cường công tác giáo dục sức
khỏe cho bệnh nhân Đái tháo đường, củng
cố bộ phận tư vấn, GDSK, có phòng tư vấn
để nâng cao hiểu biết cho người bệnh vì đối
với NB đái tháo đường đã được giáo dục
các kiến thức rồi vẫn cần giáo dục nhắc lại
thường xuyên, mở rộng giáo dục cho người
bệnh điều tri ngoại trú và các đối tượng
khác có quan tâm.
- Cần chú trọng kiến thức và kỹ năng
giáo dục sức khỏe cho HSSV điều dưỡng,
để giúp cho HSSV điều dưỡng sau khi ra
trường làm tốt công việc tư vấn giáo dục
sức khỏe cho bệnh nhân và cộng đồng./.
7. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS. Tạ Văn Bình: Làm gì để
phòng chống bệnh Đái tháo đường và biến
chứng- NXB Y học 2003
2. PGS.TS.Tạ Văn Bình: Người bệnh
đái tháo đường cần biết-NXB Y học 2004
3. ThS. Nguyễn Huy Cường: Bệnh đái
tháo đường, những quan điểm hiện đạ, NXB
Y học 2005
4. CN. Đào Tố Hoan và cộng sự: Đánh
giá kiến thức, thái độ thực hành của
người bệnh đái tháo đường tại Bệnh viện
Nội tiết TW năm 2004, Kỷ yếu NCKH Điều
dưỡng Toàn quốc, Hội ĐD Việt Nam 2005.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
117
CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN Ở NGƯỜI BỆNH ĐIỀU
TRỊ TẠI KHOA HỒI SỨC-CHỐNG ĐỘC, BỆNH VIỆN QUẢNG NGÃI
CN. Nguyễn Ngọc Thanh
Bệnh viện Quảng Ngãi
TÓM TẮT
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là
nhiễm khuẩn xảy ra trong thời gian nằm
viện. Nó làm tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài
thời gian nằm viện tăng chi phí điều trị,
tăng tỷ lệ tử vong, làm gia tăng sự trỗi dậy
của các dòng vi khuẩn kháng thuốc. Khoa
HSTC-CĐ là nơi rất dễ xảy ra NKBV vì
bệnh nặng, thời gian nằm viện kéo dài và
đặc biệt là các thủ thuật xâm lấn. Mục đích
nghiên cứu: Mô tả tình hình NKBV tại
khoa HSTC-CĐ và tìm hiểu các yếu tố nguy
cơ của NKBV tại khoa HSTC-CĐ. Phương
pháp: Mô tả hồi cứu 82 ca nhiễm khuẩn
bệnh viện từ tháng1/1/2009 -30/11/2009.
Kết quả: Có 82/670 (12,24%) trường hợp
NKBV, trong số 82 ca NKBV tỷ lệ giữa 2
giới là gần như nhau. Tuổi mắc NKBV
nhiều ở người bệnh >80 tuổi (50%). Thời
gian điều trị càng dài thì nguy cơ NKBV
cao, người bệnh nằm viện trên 14 ngày
chiếm 22,5%, khác biệt có ý nghĩa thống kê
với thời gian nằm viện dưới 7 ngày 7,4%.
Trong các trường hợp NKBV, nhiễm khuẩn
hô hấp chiếm đa số (57%), ít gặp hơn là
viêm mô tế bào (6%). Cấy bệnh phẩm có
67/82 (81,7%) trường hợp (+), vi khuẩn
thường gặp nhiều nhất là trực khuẩn mủ
xanh, tụ cầu, liên cầu và enterobacter,
hiếm gặp hơn là E-coli (3%). Thủ thuật
xâm lấn là nơi xâm nhập đầu tiên của vi
khuẩn vào cơ thể. Tỷ lệ cao nhất của NKBV
là thông khí nhân tạo (27,6%), hiếm gặp
hơn là nhiễm khuẩn ở người bệnh đặt kim
truyền tĩnh mạch ngoại vi (3%). Kết luận:
Tỷ lệ NKBV tại khoa HSTC-CĐ bệnh viện
Quảng Ngãi là 12,24%; không có sự khác
biệt giữa 2 giới; Người già trên 80 tuổi
nguy cơ NKBV cao nhất (50%). Trong đó
nhiễm khuẩn hô hấp rất cao (57%). Thời
gian nằm viện kéo dài cũng làm gia tăng tỷ
lệ NKBV. Vi khuẩn phân lập chủ yếu là liên
cầu α, trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu,
Enterococi. Thông khí nhân tạo có tỷ lệ
NKBV cao lên tới 27,6%.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là
nhiễm khuẩn xảy ra ở các bệnh nhân trong
thời gian nằm viện mà họ không các bệnh
nhiễm khuẩn tiềm tàng trước thời điểm
nhập viện, những biểu hiện của nhiễm
khuẩn trong 48 giờ đầu sau khi nhập viện
không phải là nhiễm khuẩn bệnh viện.
NKBV gây ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng điều trị, làm tăng tỷ lệ tử vong, kéo
dài thời gian nằm viện tăng chi phí điều trị,
tăng tỷ lệ tử vong...Ngoài ra NKBV còn
làm gia tăng sự trỗi dậy của các dòng vi
khuẩn kháng thuốc.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
118
Tại Mỹ tỷ lệ NKBV từ 6-10%; Ở Việt
Nam theo GS Trần Qụy hàng năm có
600.000 người bệnh bị NKBV, nó làm kéo
dài thời gian nằm viện từ 9,4-24,3 ngày,
tăng chi phí điều trị và tỷ lệ tử vong.
NKBV thường là kết quả của nhiều yếu tố
nguy cơ như tuổi, tình trạng bệnh, các thủ
thuật xâm lấn, thuốc điều trị, môi trường
khoa phòng và độc tính của tác nhân.
Khoa HSTC-CĐ là nơi rất dễ xảy ra
NKBV vì bệnh nặng, thời gian nằm viện
kéo dài và đặc biệt là các thủ thuật như:
catheter tĩnh mạch trung tâm, thông khí
nhân tạo, thông tiểu....Cho đến nay ở
Quảng Ngãi còn ít nghiên cứu về yếu tố
nguy cơ NKBV để làm cơ sở cho việc đề ra
các biện pháp kiểm soát NKBV hiệu quả.
Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này
với các mục tiêu sau: (i) Mô tả tình hình
NKBV tại khoa HSTC-CĐ; (ii) Tìm hiểu
các yếu tố nguy cơ của NKBV tại khoa
HSTC-CĐ.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả hồi
cứu
2.2. Đối tượng nghiên cứu: Những
bệnh nhân lớn hơn 16 tuổi điều trị tại khoa
HSTC-CĐ từ 01/01/2009 đến 31/12/2009.
Người bệnh được chẩn đoán là NKBV dựa
trên các tiêu chuẩn của trung tâm kiểm soát
và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ-CDC. Tiêu
chuẩn loại trừ: người bệnh bị NKBV từ
khoa khác chuyển đến.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian 12 tháng từ 1/2009 đến
12/2009 có 82 ca đủ tiêu chuẩn chẩn đoán
NKBV trong tổng số 670 ca nhập HSTC-
CĐ chiếm 12,24%.
3.1. Một số đặc điểm của người bệnh bị NKBV
- Tỷ lệ NKBV ở nam nhiều hơn nữ (biểu đồ 1).
TỶ LỆ THEO GIỚI
Nam, 44, 54%
Nữ, 38, 46% Nam
Nữ
Biểu đồ 1. Phân bố nhiễm khuẩn bệnh viện theo giới
- Tỷ lệ NKBV tăng cao theo lứa tuổi (bảng 1).
Nữ 46%
Nam 54%
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
119
Bảng 1. Phân bố nhiễm khuẩn bệnh viện theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi Số lượng Tỷ lệ (%)
16-49 12 14,6
50-79 29 35,4
> 80 41 50,0
Tổng cộng 82 100
- Tỷ lệ NKBV tăng cao theo thời gian
nằm viện: Tỷ lệ NKBV của nhóm người
bệnh có thời gian nằm viện hơn 14 ngày
chiếm tỷ lệ cao (22,5%). Tỷ lệ NKBV thấp
ở nhóm người bệnh nằm viện trong 1 tuần
thấp hơn rất nhiều (bảng 2).
Bảng 2. Tỷ lệ BN mắc NKBV theo thời gian
Thời gian nằm
viện (ngày)
3-7 ngày 8-14 ngày > 14 ngày
Bị NKBV 17 (7,4%) 33 (11,1%) 32 (22,5%)
Không bị NKBV 213 (92,6%) 116 (88,9%) 110 (77,5%)
Tổng cộng 230 (100%) 298 (100%) 142 (100%)
- Vị trí nhiễm khuẩn bệnh viện: Nhiễm khuẩn hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất. Nhiễm
khuẩn da và mô mềm có tỷ lệ thấp (bảng 3).
Bảng 3. Phân bố vị trí nhiễm khuẩn
Nhiễm khuẩn BV
Vị trí
Số lượng
(n=82)
Tỷ lệ (%)
Nhiễm khuẩn đường hô hấp (NKHH) 47 57,3
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKTN) 21 25,7
Nhiễm khuẩn huyết (NKH) 9 10,9
Nhiễm khuẩn da mô mềm (NKD) 5 6,1
Tổng cộng 82 100
- Phân bố loài vi khuẩn ở các NKBV:
Trong 82 ca NKBV có 67 ca cấy bệnh
phẩm cho kết quả dương tính, trong đó
chiếm tỷ lệ cao nhất là Liên cầu α, tiếp
theo là Enterococi và Tụ cầu, Liên cầu β
và trực khuẩn mủ xanh có tỷ lệ ngang
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
120
nhau, Ecoli chiếm tỷ lệ thấp (bảng 4).
Bảng 4. Phân bố loài vi khuẩn
Loài vi khuẩn
Số lượng
(n = 67)
Tỷ lệ
(%)
Liên cầu α 18 26,9
Enterococi 14 20,9
Tụ cầu 13 19,4
Liên cầu β 10 14,9
TK mủ xanh 10 14,9
E.coli 2 3,0
Tổng 67 100.0
- Liên quan giữa thủ thuật với nhiễm
khuẩn bệnh viện: Thông khí nhân tạo chiếm
tỷ lệ NKBV cao (27,6%), tiếp theo là đặt ống
thông tiểu (11,2%). Đặt ống thông tĩnh mạch
dưới đòn có nhiễm khuẩn bệnh viện là 5,5%.
Đặt kim luồn tĩnh mạch ngoại vi và các thủ
thuật khác có tỷ lệ bị NKBV thấp hơn và
tương đương nhau (bảng 5).
Bảng 5. Mối liên quan giữa thủ thuật xấm lấn với NKBV
Tình trạng Loại thủ thuật
Đặt TM
ngoại vi
Thông khí
nhân tạo
Catheter
TMTT
Sonde tiểu
Các thủ
thuật khác
Bị NKBV 20 (3%) 80 (27,6%) 17 (5,5%) 70 (11,2%) 16 (3,4%)
Không NKBV
650
(97%)
210(72,4%) 291(94,5%) 552(88,8%) 457(96,6%)
Tổng cộng 670 290 308 622 468
4. BÀN LUẬN
Mặc dù nghiên cứu của chúng tôi chỉ
thực hiện tại khoa HSTC-CĐ là khoa có
nhiều bệnh nhân nặng cần nằm điều trị dài
ngày, rất nhiều bệnh nhân hôn mê, tăng tiết
đờm dãi, suy hô hấp, trụy mạch nên phải
thực hiện các can thiệp xâm lấn như thông
khí nhân tạo, catheter TMTT, thông tiểu...
Tuy nhiên bệnh viện chúng tôi đã thành lập
khoa Chống nhiễm khuẩn thường xuyên
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
121
kiểm tra và nhắc nhở nhân viên y tế phải
thực hiện tốt qui trình chống nhiễm khuẩn
và đã được các thầy cô bệnh viện Trung
ương Huế tập huấn thường xuyên cho nên
qua nghiên cứu 82/670 (12,2%) trường hợp
NKBVchúng tôi nhận thấy rằng tỷ lệ này
tương đương nhiên cứu của GS.Trần Quỵ
8-11%.
Mối quan liên giữa Giới và tuổi với
NKBV: Trong số 82 ca NKBV chúng tôi
nhận thấy tỷ lệ giữa 2 giới là gần như nhau.
Nhiều khảo sát khác ghi nhận có sự khác
biệt về lứa tuổi mắc NKBV tuổi càng lớn
thì nguy cơ mắc NKBV càng cao nhất là
lứa tuổi > 80 tuổi; điều này cũng giống với
khảo sát của chúng tôi tuổi mắc NKBV
nhất là những bệnh nhân >80 tuổi (50%) vì
ở tuổi này khả năng đề kháng kém, và bệnh
lý cần nằm Hồi sức tích cực-chống độc
thường là nặng do đó nguy cơ mắc NKBV
sẽ cao hơn lứa tuổi khác.
Mối liên quan giữa thời gian nằm viện
và NKBV: Thời gian điều trị càng dài thì
nguy cơ NKBV cao và tăng nhiều lần nếu
nằm lâu hơn, tỷ lệ NKBV tỷ lệ thuận với so
ngày nằm viện. Khi số ngày nằm viện càng
dài thì việc gia tăng tiếp xúc với dụng cụ
nhiễm khuẩn, lây chéo qua bàn tay nhiễm
khuẩn của nhân viên y tế, gia tăng với tiếp
xúc với BN nhiễm khuẩn. Trong quá trình
điều trị và chăm sóc lâu ngày BN càng phải
can thiệp bằng các thủ thuật xâm lấn cho
nên nguy cơ NKBV rất cao. Nghiên cứu
của chúng tôi, người bệnh nằm viện trên 14
ngày chiếm 22,5%, khác biệt có ý nghĩa
thống kê với thời gian nằm viện dưới 7
ngày 7,4%.
Vị trí nhiễm khuẩn: Trong số 82 trường
hợp NKBV, chiếm đa số (57%) là nhiễm
khuẩn hô hấp vì khoa chúng tôi nhiều bệnh
nhân được đặt NKQ và thông khí nhân tạo
rất dễ nhiễm khuẩn theo đường này. Ít gặp
hơn có một số trường hợp viêm mô tế bào
do đặt đường truyền ngoại vi (6%).
Vi khuẩn gây NKBV: Bệnh viện
Quảng Ngãi chưa phân lập được nấm và
virus. Chúng tôi cấy 67/82 bệnh phẩm
(+) vi khuẩn (81,7%). Gặp nhiều nhất là
trực khuẩn liên cầu, enterobacter, tụ cầu,
trực khuẩn mủ xanh, hiếm gặp hơn là
Ecoli (3%).
Mối liên quan giữa thủ thuật xấm lấn
với NKBV: Thủ thuật xâm lấn là nơi xâm
nhập đầu tiên của vi khuẩn vào cơ thể để
khi có đủ cơ hội sẽ tạo nên NKBV.
Groshhop ghi nhận khi tiến hành từ 3 can
thiệp xâm lấn trên bệnh nhân thì nguy cơ
NKBV tăng lên 6 lần. Can thiệp xâm lấn
là yếu tố nguy cơ của NKBV và nguy cơ
này tăng lên khi có nhiều can thiệp xâm
lấn cũng được ghi nhận trong khảo sát tại
khoa HSTC-CĐ của Singh-Naz cứ mỗi
thủ thuật xâm lấn cho một ngày nằm viện
thì nguy cơ NKBV tăng lên gấp đôi. Từ
kết quả bảng (5) cho thấy chiếm tỷ lệ cao
nhất của NKBV là thông khí nhân tạo
(27,6%). Hầu hết người bệnh được thông
khí nhân tạo có đặt nội khí quản, đây là
con đường rất dễ cho vi khuẩn xâm nhập
vào cơ thể qua việc hút đờm dãi, thiết bị
máy thở và dụng cụ làm ẩm. Kết quả này
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
122
cũng phù hợp với kết quả của nhiều
nghiên cứu khác.
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Tỷ lệ NKBV tại khoa HTC- CĐ bệnh
viện đa khoa Tỉnh Quảng Ngãi 12,24%;
không có sự khác biệt giữa 2 giới; Người
già trên 80 tuổi nguy cơ NKBV cao nhất
(50%). Trong đó nhiễm khuẩn hô hấp rất
cao (47%). Thời gian nằm viện kéo dài
cũng làm gia tăng tỷ lệ NKBV. Vi khuẩn
phân lập là liên cầu α, TK mủ xanh, tụ cầu,
Enterococi.Thông khí nhân tạo có tỷ lệ
NKBV cao 27,6%.
Dựa trên kết quả nghiên cứu này, để
giảm thiểu nhiễm khuẩn bệnh viện nói
chung, nhiễm khuẩn bệnh viện ở khoa
HSTC-CĐ nói riêng của bệnh viện đa khoa
Quảng Ngãi, chúng tôi đề nghị:
- Tăng cường giáo dục cho nhân viên y
tế nhận thức được tầm quan trọng của
nhiễm khuẩn bệnh viện
- Trang bị đầy đủ dung dịch sát khuẩn
tay nhanh tại đầu giường cho khoa HSTC-
CĐ, xà phòng sát khuẩn.
- Các dụng cụ được gởi tập trung về
khoa chống nhiễm khuẩn để xử lý và tiệt
trùng theo đúng các quy trình CNK.
- Cung ứng đầy đủ vật tư tiêu hao để sử
dụng một lần.
- Các trang thiết bị như: Máy thở, máy
hút, dụng cụ đặt nôi khí quản phải được
thường xuyên vệ sinh, xử lý và bảo quản
đúng quy trình CNK.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế, Bệnh viện Bạch Mai
(2000), "Quy định kiểm soát nhiễm khuẩn
bệnh viện". Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
2. Quy chế chống nhiễm khuẩn bệnh
viện-Bộ Y tế. Nhà xuất bản Y học 2002.
3. Quy trình chống nhiễm khuẩn- Bộ Y
tế. Nhà xuất bản y học 2003.
4. Quy trình hướng dẫn thực hành
chống nhiễm khuẩn Bệnh viện TW Huế.
5. Hướng dẫn thực hành kiểm soát
nhiễm khuẩn bệnh viện năm 2003.
6. Sổ tay kiểm soát nhiễm khuẩn khu
vực châu Á.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
123
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA KHÍ OZONE
TRONG KHỬ KHUẨN KHÔNG KHÍ PHÒNG TIÊM, THAY BĂNG
CNĐD:Trần Thanh Trúc
ThS. Vũ Anh Tuấn
Bệnh viện Mắt trung ương
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các cơ sở y tế, việc khử khuẩn
tại phòng mổ, phòng tiêm thay băng là rất
quan trọng góp phần hạn chế tỉ lệ nhiễm
trùng trong bệnh viện.
Bệnh viện Mắt TW là một trong những
bệnh viện ngoại khoa, nhiễm trùng hậu
phẫu mắt là một biến chứng rất nặng, có
nguy cơ mù lòa cao mặc dù đã có những
thuốc kháng sinh tốt và các phương pháp
điều trị tích cực.
Để làm giảm nguy cơ nhiễm trùng, đặc
biệt là nhiễm trùng sau mổ đòi hỏi chúng ta
phải thực hiện nghiêm các bước chống
nhiễm khuẩn trước, trong và sau mổ.
Có nhiều phương pháp khác nhau đã
được sử dụng để khử trùng phòng tiêm,
thay băng như dùng đèn tia cực tím, dùng
thuốc sát khuẩn, phun hoá chất, dùng khí
Ozone...
Việc sử dụng khí Ozone đã được ứng
dụng rất nhiều trong cuộc sống như làm
sạch không khí, nước, làm sạch đồ ăn, rau
quả. Trong y tế, Ozone đã được sử dụng để
khử khuẩn không khí trong các phòng có
nguy cơ lây nhiễm cao; Ozone cũng được
sử dụng rất hiệu quả trong khử khuẩn nước
rửa tay cho các phẫu thuật viên; hoặc sử
dụng trong tiệt trùng các dụng cụ y tế (dao,
kéo, panh, ống thở, các dụng cụ không chịu
nhiệt). Trên thế giới cũng như ở Việt Nam
đã có nhiều nghiên cứu về tác dụng diệt
khuẩn của Ozone trong y tế. Tuy nhiên, ở
bệnh viện Mắt TW chưa có nghiên cứu nào
về hiệu quả khử khuẩn của Ozone nên
chúng tôi thực hiện đề tài với mục tiêu:
Đánh giá hiệu quả của khí Ozone trong tiệt
trùng không khí phòng tiêm, thay băng.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
* Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thử nghiệm đối chứng.
* Đối tượng nghiên cứu
- Không khí trong phòng tiêm, thay
băng khoa glôcôm-bệnh viện Mắt TW: thể
tích 60m
3
.
- Số lượng mẫu không khí: 700 mẫu
- Thiết bị tạo khí Ozone do Viện Vật
lý, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
chế tạo, công suất 4g Ozone/h
Kỹ thuật lấy mẫu
Phương pháp: Lấy mẫu không khí theo
kỹ thuật để lắng tự nhiên của R. Kock
Qui trình thực hiện
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
124
- Bước 1: Lau phòng tiêm, thay băng
bằng nước sạch.
- Bước 2: Lấy mẫu không khí trong
phòng.
- Bước 3: Cho khí Ozone tiếp xúc với
không khí phòng tiêm, thay băng trong thời
gian 20 phút.
- Bước 4: Sau 20 phút máy phát Ozone
tự động tắt; lấy mẫu ngay sau khi tắt máy.
- Bước 5: Lấy mẫu sau khi tắt máy
1giờ; 2 giờ và sau 14 giờ (vào sáng hôm
sau, trước khi có người đến làm việc).
Trong thời gian từ lúc bắt đầu lấy các
mẫu đầu tiên đến khi lấy các mẫu cuối
cùng phòng được đóng kín (chỉ mở khi
nhân viên vào đặt và lấy mẫu).
Xét nghiệm đánh giá
- Các hộp petri đã lấy mẫu không khí
được đưa đến khoa vi sinh vật nuôi cấy
trong tủ ấm 37
0
C trong vòng 24 giờ.
- Đọc kết quả: đếm số lượng khuẩn lạc
có trong đĩa petri để tính tổng vi khuẩn
trong 1m
3
không khí.
- Số lượng vi khuẩn trong 1m
3
không
khí được tính theo công thức:
K S
A
X
.
100 . 100 .
= (1)
Trong đó: X: tổng số vi sinh vật trong
1m
3
không khí
A: tổng số vi sinh vật đếm được trong
đĩa thạch
S: Diện tích đĩa thạch (cm
2
)
K: Thời gian mở đĩa thạch (K=1,2,3
tương ứng với thời gian mở đĩa 5 phút, 10
phút, 15 phút)
* Thời gian tiến hành
Các thử nghiệm được thực hiện trong
28 buổi trong thời gian từ 27/7/2009 đến
23/10/2009.
Trong mỗi buổi thử nghiệm, các mẫu
đầu tiên được lấy vào lúc 16h30 (sau khi
hết ca làm việc), các mẫu cuối được lấy vào
7 giờ sáng ngày hôm sau (14 giờ sau khi tắt
máy).
* Xử lý số liệu: số liệu được tổng hợp
và tính giá trị trung bình của số vi khuẩn tại
mỗi thời điểm lấy mẫu không khí.
3. KẾT QUẢ, BÀN LUẬN VÀ ĐỀ
NGHỊ
3.1. Kết quả thử nghiệm
Theo qui trình thực hiện đã được trình
bày trong phần 2, chúng tôi tiến hành khử
khuẩn bằng cách lau phòng tiêm, thay băng
bằng nước sạch sau đó bật máy phát Ozone
trong 20 phút rồi tắt máy.
Lấy mẫu không khí trước khi bật máy
phát Ozone và sau khi tắt máy 0 phút, 1
giờ, 2 giờ và 14 giờ (trước giờ làm việc
sáng hôm sau).
Tổng số mẫu được lấy là 700 mẫu.
Kết quả xét nghiệm vi sinh vật (theo
từng ngày thử nghiệm) là số khuẩn lạc có
trong không khí phòng tiêm, thay băng
trước và sau khi khử khuẩn bằng khí Ozone
ở các thời điểm: ngay sau khi tắt máy phát
Ozone, sau 1 giờ, 2 giờ và 4 giờ. Kết quả
(số khuẩn lạc trung bình của các mẫu thử
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
125
nghiệm theo thời điểm lấy mẫu được thể hiện trong biểu đồ 1.
26.52
1.24
1.53
2.23
4.74
0
10
20
30
trước sau 0 phút sau 1giờ sau 2 giờ sau 14 giờ
Thời điểm lấy mẫu
S


k
h
u

n

l

c

t
r
u
n
g

b
ì
n
h
Biểu đồ 1. Số khuẩn lạc trung bình theo thời điểm lấy mẫu
Từ số liệu của các mẫu thử nghiệm, chúng tôi cũng tính hiệu suất khử khuẩn không
khí bằng khí Ozone theo công thức:
Hiệu suất (%) = x 100%
Hiệu suất khử khuẩn không khí phòng tiêm, thay băng bằng khí Ozone được thể hiện
ở hình biểu đồ 2 dưới đây.
0
95.3
94.2
91.5
82
0
20
40
60
80
100
120
trước sau 0 phút sau 1giờ sau 2 giờ sau 14 giờ
Thời điểm lấy mẫu
H
i

u

s
u

t

k
h


k
h
u

n

(
%
)
Số vi khuẩn trước khử khuẩn – số vi khuẩn sau khử khuẩn
Số vi khuẩn trước khử khuẩn
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
126
Biểu đồ 2. Hiệu suất khử khuẩn không khí bằng khí Ozone
3.2. Bàn luận
Qua các kết quả xét nghiệm vi sinh vật
trong không khí phòng tiêm, thay băng
trước và sau khi được khử khuẩn bằng khí
Ozone trong thời gian 20 phút (máy tạo khí
ozone do Viện Vật lý chế tạo) đã được thực
hiện tại các thời điểm khác nhau, chúng tôi
có những nhận xét như sau:
- Với thời gian tiếp xúc Ozone là 20
phút, số lượng vi sinh vật trong không khí
phòng tiêm, thay băng đã được giảm đáng
kể (điều này được thể hiện rất rõ ràng trong
biểu đồ 1), hiệu suất khử khuẩn đạt được
trên 95%. So sánh kết quả này với các số
liệu đã được công bố ở nước ngoài cũng
như các thử nghiệm của Viện Vật lý thực
hiện tại các bệnh viện khác (bệnh viện 108,
bệnh viện Hữu nghị,…) cũng có hiệu suất
tương tự.
- Để xác định tác dụng khử khuẩn kéo
dài của Ozone, chúng tôi đã thực hiện
những thử nghiệm sau khi ngừng khử
khuẩn 1 giờ, 2 giờ và 14 giờ. Các kết quả
thu được cũng rất khả quan như số liệu
trình bày ở biểu đồ 2. Hiệu suất khử khuẩn
sau khi tắt máy phát Ozone 1 giờ đạt trên
94%, sau 2 giờ đạt trên 91% và sau 14 giờ
đạt 82%.
- So sánh với đánh giá về chất lượng
không khí của Ginoskova [1]:
+ Không khí tốt: trong đĩa petri mở 10
phút có 5 khuẩn lạc vi sinh vật.
+ Không khí vừa: trong đĩa petri mở 10
phút có 20-25 khuẩn lạc vi sinh vật.
+ Không khí xấu: trong đĩa petri mở 10
phút có > 25 khuẩn lạc vi sinh vật.
Như vậy, các kết quả thử nghiệm thu
được trước và sau khi khử khuẩn bằng khí
Ozone đều cho thấy không khí đạt chất
lượng tốt.
- So với các phương pháp khử khuẩn
truyền thống, hiệu suất khử khuẩn không
khí bằng Ozone không những cao hơn mà
nó còn có nhiều ưu điểm khác:
+ Máy tạo khí Ozone có thể tích nhỏ,
gọn, dễ thao tác vận hành.
+ Khí Ozone sinh ra chiếm hoàn
toàn không gian nhanh chóng hơn. Thời
gian khử khuẩn bằng Ozone ngắn hơn
và hiệu quả khử khuẩn hầu như không
bị ảnh hưởng bởi độ ẩm của không khí
xung quanh.
- Hơn nữa, Ozone có thời gian bán giã
nhanh, sau khi tác dụng sẽ tái hợp lại thành
phân tử oxy. Do đó khử khuẩn bằng khí
Ozone hầu như rất ít để lại tác dụng phụ,
thời gian khử khuẩn cũng như thời gian để
sử dụng phòng sau khi khử khuẩn nhanh
hơn rất nhiều so với các phương pháp
truyền thống.
3.3 Đề nghị
Với những kết quả đã thu được cũng
như tính hiệu quả, tiện lợi, nhanh chóng
trong khử khuẩn không khí bằng khí
Ozone, chúng tôi có một số đề nghị sau:
- Có thể sử dụng phương pháp khử
khuẩn không khí bằng khí Ozone để thay
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
127
cho các phương pháp khử khuẩn bằng đèn
cực tím hoặc hóa chất đang dùng.
- Do Ozone có tính tác dụng
nhanh, thời gian bắn giảm ngắn nên có
thể sử dụng để khử khuẩn không khí
đầu mỗi ca làm việc để đạt hiệu quả tốt
nhất.
- Để đạt được độ sạch vi khuẩn trong
phòng cao hơn thì có thể tăng thời gian khử
khuẩn lên 45-60 phút (các kết quả do Viện
Vật lý thực hiện tại các bệnh viện đã khẳng
định điều này).
4. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. “Các thành tựu ứng dụng Ozone
trong sản xuất và đời sống”, Biên dịch tổng
hợp tài liệu TS. Nguyễn Nguyên Hy, 2001.
[2]. Báo cáo tổng kết Dự án sản xuất
thử nghiệm “Nghiên cứu hoàn thiện công
nghệ sản xuất hệ thống sinh khí Ozone
phục vụ cho y tế và Bảo vệ môi trường”,
Nguyễn Ngọc Khang, 2008.
[3]. “Thường qui kỹ thuật”, Viện Y học
lao động và vệ sinh môi trường, NXB Y
học 2002.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
128
ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA ĐIỀU DƯỠNG
ĐỐI VỚI VIỆC THU GOM, PHÂN LOẠI CHẤT THẢI Y TẾ
TẠI 6 BỆNH VIỆN TRONG KHU VỰC THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
CN. Tống Vĩnh Phú và cộng sự
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
TÓM TẮT
Nghiên cứu về nhận thức và thái độ của
350 điều dưỡng tại 6 bệnh viện trong phạm
vi thành phố Nam Định, kết quả: Tỷ lệ điều
dưỡng có kiến thức đúng về định nghĩa
chất thải y tế là 50.3%, chất thải y tế nguy
hại là 81.5 %, trả lời đúng về phân loại chất
thải y tế và chất thải lâm sàng là 69.7%, về
thời gian lưu giữ tối đa chất thải y tế nguy
hại trong bệnh viện đạt tỷ lệ 34,29%, kiến
thức về phương pháp thiêu huỷ chất thải y
tế nguy hại 3,43%. Thái độ của điều d-
ưỡng: Ở mức độ rất quan trọng là trên
90%, riêng ở bệnh viện Lao là 100%. Mức
độ quan tâm đến công tác quản lý và xử lý
chất thải, tỷ lệ chung rất quan tâm là 80%.
Mức độ tích cực của điều dưỡng trong việc
tham gia lớp tập huấn về quản lý và xử lý
chất thải là 83.1%. Thái độ của điều dưỡng
đối với các trang thiết bị bảo hộ lao động
mà bệnh viện trang bị, tỷ lệ chung: Rất yên
tâm là 21.2%.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chất thải tại bệnh viện là những chất
thải ra trong quá trình điều trị, chẩn đoán,
chăm sóc và sinh hoạt trong môi trường
bệnh viện. Chất thải bệnh viện bao gồm
chất thải lâm sàng, chất thải phóng xạ, chất
thải hoá học, các bình có chứa áp suất, chất
thải sinh hoạt. Chất thải bệnh viện có đặc
tính lý hóa và sinh học, vừa là nguồn ô nhiễm
môi trường vừa là nguồn gây bệnh.
Để thu gom và phân loại được tốt, khâu
đầu tiên phải là nhận thức và thái độ của
nhân viên y tế nói chung và điều dưỡng nói
riêng. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Đánh giá nhận thức, thái độ,
của điều dưỡng đối với việc thu gom, phân
loại chất thải y tế tại 6 bệnh viện trong khu
vực thành phố Nam Định” với 2 mục tiêu:
1. Đánh giá nhận thức của điều dưỡng
đối với việc phân loại, thu gom chất thải y tế.
2. Đánh giá thái độ của điều dưỡng đối
với việc phân loại, thu gom chất thải y tế
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả
cắt ngang.
2.2. Đối tượng nghiên cứu: Điều
dưỡng của 6 bệnh viện nghiên cứu.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
350 điều dưỡng của các khoa lâm sàng và
cận lâm sàng trong 6 bệnh viện nghiên cứu.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
129
- Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng
vấn trực tiếp điều dưỡng dựa vào bộ câu
hỏi đã chuẩn bị trước.
* Các chỉ tiêu nghiên cứu:
- Kiến thức của điều dưỡng trong công
tác quản lý và xử lý chất thải y tế
- Thái độ của điều dưỡng trong công
tác quản lý và xử lý chất thải y tế
- Tiêu chuẩn đánh giá: Đánh giá kiến
thức theo tiêu chuẩn phân loại thu gom chất
thải y tế của Bộ Y tế. Đánh giá thái độ theo
3 mức độ (thang điểm 2-1-0): Rất quan
trọng, quan trọng, không quan trọng; Rất
quan tâm, quan tâm, không quan tâm; và
Tích cực tham gia, thỉnh thoảng, không
tham gia; Rất yên tâm, yên tâm, không yên
tâm.
2.3. Địa điểm-Thời gian nghiên cứu
- Địa điểm:Tại 6 bệnh viện trong khu
vực thành phố Nam Định
- Thời gian: Từ tháng 4/2008 đến tháng
10/2008 .
2.4. Xử lý số liệu
Số liệu nghiên cứu được xử lý theo
phương pháp thống kê Y học sử dụng phần
mềm SPSS 10.0.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 1. Phân bố đối tượng theo giới
Nam Nữ Chung
n Tỷ lệ % n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
53 15,1 297 84,9 350 100
Nhận xét: Đối tượng tham gia khảo sát chủ yếu là điều dưỡng nữ (84.9%)
Bảng 2. Đối tượng tham gia nghiên cứu theo bệnh viện
Bệnh viện n Tỷ lệ %
BVĐK tỉnh Nam Định 178 50.9
Phụ Sản 70 20
Đông Y 20 5.7
Lao 30 8.7
BVĐK thành phố 36 10.2
Mắt 16 4.5
Tổng số 350 100
Nhận xét: Điều dưỡng tham gia khảo sát chủ yếu là của bệnh viện đa khoa Tỉnh Nam
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
130
Định (50.9%) cao hơn các bệnh viện khác.
3.2. Kiến thức về định nghĩa chất
thải y tế và chất thải y tế nguy hại
Số liệu ở bảng 3 cho thấy:
- Kiến thức đúng về định nghĩa chất
thải y tế của điều dưỡng bệnh viện Đa khoa
thành phố Nam Định (Agape) là 60% cao
hơn điều dưỡng các bệnh viện khác.
- Kiến thức đúng về chất thải y tế
nguy hại của điều dưỡng bệnh viện Đa
khoa Tỉnh Nam Định là 89.4% cao hơn
các viện khác. Sự khác biệt là có ý nghĩa
thống với p < 0,05.
Bảng 3. Kiến thức của điều dưỡng các bệnh viện về định nghĩa chất thải y tế
và chất thải y tế nguy hại
Định nghĩa chất thải y tế Định nghĩa chất thải y tế nguy hại
Đúng Sai Đúng Sai Bệnh viện
n Tỷ lệ % n Tỷ lệ % n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
BVĐKTNĐ 80 45.0 98 55.0 159 89.4 19 10.6
Phụ Sản 37 52.9 33 47.1 55 78.6 15 21.4
Đông Y 9 45.0 11 55.0 12 60.0 8 40.0
Lao 17 56.7 13 43.3 21 70.0 9 30.0
BVĐKTP 24 60.0 12 40.0 28 78 8 22
Mắt 9 56.3 7 43.7 10 62.5 6 37.5
Tổng 176 50.3 174 49.7 285 81.5 65 18.5
Giá trị p p < 0,05 p < 0,05
Kiến thức đúng về chất thải y tế và
chất thải lâm sàng của điều dưỡng bệnh
viện đa khoa tỉnh Nam Định là 81.4%
cao hơn các bệnh viện khác. Sự khác
biệt là có ý nghĩa thống kê với p < 0.05
(bảng 4).
Bảng 4. Kiến thức của điều dưỡng về phân loại chất thải y tế và chất thải lâm sàng
Đúng Sai
Bệnh viện
n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
Bệnh viện ĐKTNĐ 145 81.4 33 18.6
Phụ Sản 44 62.9 26 37.1
Đông Y 12 60 8 40
Lao 18 60 12 40
BVĐKTP 15 65.2 8 34.8
Mắt 10 62.5 6 37.5
Tổng 244 69.7 106 30.3
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
131
Giá trị p p < 0,05
3.3. Kiến thức về quy trình quản lý
và xử lý chất thải
Số liệu ở bảng 5 cho thấy kiến thức
đúng của điều dưỡng về thời gian lưu giữ
tối đa chất thải y tế nguy hại trong bệnh
viện chỉ đạt 34,2%. Kiến thức đúng của
điều dưỡng về các nội dung liên quan khác
như: màu sắc túi đựng chất thải, quản lý
chất thải, xử lý chất thải y tế ban đầu, thu
gom chất thải y tế đều đạt ỷ lệ cao.
Bảng 5. Kiến thức của điều dưỡng về quy trình quản lý chất thải
Sai Đúng
Kiến thức về quản lý và xử lý chất thải y tế
n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
Màu sắc túi đựng chất thải 49 14.0 301 86.0
Quy định màu đựng từng loại rác thải 21 6.0 329 94.0
Vị trí để túi đựng chất thải 2 0.5 348 99.4
Thời gian lưu giữ tối đa CTYTNH trong bệnh viện 230 65.7 120 34.2
Định nghĩa quản lý chất thải 5 1.4 345 98.5
Định nghĩa xử lý chất thải y tế ban đầu 7 2.0 343 98
Định nghĩa thu gom chất thải y tế nguy hại 22 6.2 328 93.7
3.4. Thái độ của điều dưỡng với công tác quản lý và xử lý chất thải y tế
Bảng 6. Thái độ của điều dưỡng về ý nghĩa công tác quản lý và xử lý chất thải y tế
Rất quan trọng Quan trọng Không quan trọng
Bệnh viện
n % n % n %
BVĐKTNĐ 173 97.0 5 3.0 0 0.
Phụ Sản 67 95.7 3 4.2 0 0.
Đông Y 18 90. 2 10. 0 0.
Lao 30 100 0 0 0 0.
BVĐKTP 22 61.1 14 38.9 0 0
Mắt 15 93.3 1 6.6 0 0
Tổng 325 92.8 25 7.2 0 0
Nhận xét: Tỷ lệ chung thái độ của điều
dưỡng các bệnh viện đánh giá ý nghĩa của
công tác quản lý và xử lý chất thải y tế. Mức độ
rất quan trọng là 92.8%. Mức độ quan trọng là
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
132
7.2%. Riêng điều dưỡng bệnh viện Lao đánh giá mức độ rất quan trọng tỷ lệ là 100%.
Bảng 7. Mức độ quan tâm của điều dưỡng với công tác quản lý và xử lý chất thải y tế
Rất quan tâm Quan tâm Không quan tâm
Bệnh viện
n Tỷ lệ % n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
BVĐKTNĐ 141 79.2 30 16.8 7 4.0
Phụ Sản 59 84.2 11 15.7 0 0
Đông Y 14 70.0 6 30. 0 0
Lao 26 86.0 4 20. 0 0
BVĐKTP 27 60.0 9 40. 0 0
Mắt 13 80.0 3 20.0 0 0
Tổng 280 80.0 63 18.0 7 2.0
Nhận xét: Tỷ lệ chung về mức độ quan tâm của điều dưỡng với công tác quản lý và xử
lý chất thải y tế. Rất quan tâm là 80%, Quan tâm là 18%, không quan tâm là 2,0%.
Bảng 8. Thái độ của các điều dưỡng khi tham gia các lớp tập huấn
về công tác quản lý và xử lý chất thải y tế
Tích cực Thỉnh thoảng Không tham gia
Bệnh viện
n Tỷ lệ % n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
BVĐKTNĐ 147 82.5 31 17.5 0 0
Phụ Sản 60 85.7 10 14.3 0 0
Đông Y 16 80.0 4 20. 0 0
Lao 26 86.6 4 13.4 0 0
BVĐKTP 29 80.5 7 19.5 0 0
Mắt 13 80.0 3 20.0 0 0
Tổng 291 83.1 59 16.9 0 0
Nhận xét: Tỷ lệ chung về thái độ của điều dưỡng khi tham gia các lớp tập huấn về
quản lý và xử lý chất thải y tế. Mức độ tích cực 83.1%, thỉnh thoảng 16.9%.
Bảng 9. Mức độ yên tâm của điều dưỡng về các trang bị bảo hộ cá nhân
được bệnh viện trang bị
Rất yên tâm Yên tâm Không yên tâm
Bệnh viện
n % n % n %
BVĐKTNĐ 20 11.2 133 74.7 25 14.1
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
133
Phụ Sản 1 1.5 55 78.5 14 20.0
Rất yên tâm Yên tâm Không yên tâm
Bệnh viện
n % n % n %
Đông Y 17 85.0 3 15.0 0 0
Lao 0 0 6 20.0 24 80.0
BVĐKTP 24 66.6 12 33.4 0 0
Mắt 12 80 4 20.0 0 0.
Tổng 74 21.2 213 60.8 63 18.0
Nhận xét: Tỷ lệ chung mức độ yên tâm của điều dưỡng về các trang bị bảo hộ cá nhân
được bệnh viện trang bị: Rất yên tâm 21.2%, yên tâm 60.8%, không yên tâm 18%
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1. Kiến thức của diều dưỡng trong
công tác quản lý và xử lý chất thải y tế
* Kiến thức về định nghĩa chất thải y
tế, chất thải y tế nguy hại
- Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đúng
về định nghĩa chất thải y tế là 50.3%
- Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đúng về
chất thải y tế nguy hại nguy hại là 81.5 %
* Kiến thức về phân loại chất thải y tế
-Tỷ lệ chung của điều dưỡng các bệnh
viện trả lời đúng về phân loại chất thải y
tế và chất thải lâm sàng là 69.7%,
* Kiến thức về qui trình quản lý và xử
lý chất thải y tế
Kiến thức của ĐD về thời gian lưu
giữ tối đa chất thải y tế nguy hại trong
bệnh viện đạt tỷ lệ 34,29%, kiến thức về
phương pháp thiêu huỷ chất thải y tế
nguy hại 3,43%.
4.2. Thái độ của điều dưỡng trong
công tác quản lý và xử lý chất thải y tế
* Đánh giá thái độ của điều dưỡng về
tầm quan trọng của công tác quản lý và xử
lý chất thải hiện nay
Tỉ lệ > 90% điều dưỡng các bệnh viện,
100% điều dưỡng của bệnh viện Lao đều
cho là rất quan trọng
* Mức độ quan tâm đến công tác quản
lý và xử lý chất thải
- Tỷ lệ chung. Rất quan tâm là 80%,
Quan tâm là 18%, không quan tâm là 2,0%
- Tỷ lệ riêng. Rất quan tâm bệnh viện
Lao là 86% cao hơn các bệnh viện khác
* Mức độ tích cực của điều dưỡng
trong việc tham gia lớp tập huấn về quản lý
và xử lý chất thải
Mức độ tích cực là 83.1%, mức độ
thỉnh thoảng là 16.9%, không tham gia là
0%
* Thái độ NVYT đối với các trang thiết
bị bảo hộ lao động mà bệnh viện trang bị
- Tỷ lệ chung: Rất yên tâm là 21.2%,
yên tâm là 60.8%, không yên tâm là 18%
- Tỷ lệ riêng: Không yên tâm ở bệnh
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
134
viện Lao là 80% cao hơn so với các bệnh
viện khác
Đề nghị:
1. Tăng cường giáo dục, truyền thông
nhằm thay đổi hành vi cho nhân viên y tế
trong bệnh viện về phân loại, thu gom và xử
lý chất thải y tế để phòng, chống nhiễm
khuẩn bệnh viện.
2. Các bệnh viện cần tổ chức nhiều lớp
tập huấn về công tác quản lý xử lý chất thải
y tế cho điều dưỡng, nhất là cho nhân viên
điều dưỡng mới.
5. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế, 2003. Quy trình chống
nhiễm khuẩn tập I
2. Kỷ Quang Vinh, 2005. Kỷ yếu các
công trình nghiên cứu khoa học công nghệ
thành phố Cần Thơ
3. Lê Thị Tài, Đào Ngọc Phong, 2006.
Khoa y tế Công cộng Đại học y Hà Nội 2006
4. Hoàng Cao Sạ, 2004. Tạp chí thông
tin Y Dược số 3/2005
5. Bộ Y tế số 825 BYT- DT tháng 11
năm 2007. Hướng dẫn quản lý chất thải y tế
có thể tái chế
6. Suwannee Adsavakulchai, 2002.
Tiến hành nghiên cứu rác thải y tế từ các
bệnh viện nhà nước và tư nhân thuộc
Phitsanulok Thái Lan.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
135
ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC, THỰC HÀNH VÀ CHI PHÍ CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CHẤT THẢI Y TẾ RẮN TẠI BỆNH VIỆN 105
CNĐD Cấn Mạnh Hùng
CNĐD Trần Thị Lân
Bệnh viện 105
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
- Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi
trường đang là một vấn đề bức xúc mang
tính toàn cầu. Nhiều vòng đàm phán,
nhiều hội nghị quốc tế đã đề cập đến vấn
đề này. Tuy vậy vẫn chưa có biện pháp
chung, thống nhất giữa các quốc gia để
giải quyết vấn đề trên.
- Tại Việt Nam, trong những năm gần
đây, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ
thuật, tăng trưởng kinh tế, đời sống của
người dân được cải thiện thì mặt trái của nó
là vấn đề ô nhiễm môi trường, bệnh dịch
phát triển trong đó có một phần trách
nhiệm thuộc về việc quản lý xử lý chất thải
bệnh viện chưa đúng cách. Có thể nói, chất
thải nói chung và chất thải y tế nói riêng
đang ngày càng đe dọa đến môi trường
sống và sức khoẻ con người.
- Vấn đề quản lý và xử lý chất thải y tế
phải đồng bộ bao gồm từ khâu thu gom, phân
loại, vận chuyển và tiêu hủy trong đó vấn đề
thu gom phân loại phụ thuộc rất nhiều vào ý
thức và sự cộng tác của nhân viên y tế. Trong
khi đó tại nhiều bệnh viện thực sự vấn đề này
còn thiếu được quan tâm.
- Tại Bệnh viện 105, từ năm 2007
chúng tôi đã được đầu tư dây chuyền xử lý
chất thải y tế, tuy vậy vẫn chưa có điều tra
nào mang tính hệ thống để đánh giá thực
trạng về nhận thức và thực hành việc thu
gom, phân loại và xử lý chất thải bệnh viện
vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài nhằm 3
mục tiêu:
- Đánh giá nhận thức, thực hành đối
với công tác thu gom, phân loại quản lý
chất thải y tế rắn của nhân viên y tế Bệnh
viện 105.
- Tìm hiểu chi phí tài chính cho công tác
thu gom, phân loại các chất thải y tế rắn.
- Đề xuất các biện pháp nhằm thực hiện
tốt quy chế quản lý chất thải y tế.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
- 150 cán bộ nhân viên y tế (Điều
dưỡng viên, KTV, Hộ lý tại các khoa Lâm
sàng, Cận lâm sàng).
- 23 khoa Lâm sàng, Cận lâm sàng của
bệnh viện.
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Thực hành thu gom phân loại chất
thải phóng xạ, mô cơ quan người và
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
136
động vật.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu can thiệp
+ Điều tra thực trạng nhận thức và
thực hành của NVYT theo bộ câu hỏi
được xây dựng theo mẫu điều tra của Bộ
y tế về quản lý CTYT (khảo sát lần 1)
thời gian từ 11/3-11/4/2009.
+ Tập huấn cho NVYT tập trung tại
bệnh viện, tại khoa và cấp tài liệu. Thời
gian từ 11/4-11/9/2009.
+ Đánh giá nhận thức và thực hành của
NVYT sau can thiệp (khảo sát lần 2) thời
gian từ 11/9-11/10/2009.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Nhận thức về chất thải y tế
Bảng 1. Nhận thức về phân loại, thu gom chất thải y tế (n=150)
Khảo sát lần 1 Khảo sát lần 2
Phân loại
ĐDV-KTV-
Hộ lý
Tỷ lệ
%
ĐDV-KTV-
Hộ lý
Tỷ
lệ%
Để riêng vào dụng cụ chuyên dụng 136 90,7 150 100
Để lẫn với chất thải khác 14 9,3 0 0
Nhận xét:
* Khảo sát lần 1:
-90,7 % ĐDV-KTV-Hộ lý có nhận thức để riêng vào dụng cụ chuyên dụng
-9,3 % ĐDV-KTV-Hộ lý để lẫn với chất thải khác.
* Khảo sát lần 2: Sau tập huấn thì nhận thức đã thay đổi khác biệt (100% ĐDV, KTV
và Hộ lý) có ý thức để riêng vào dụng cụ chuyên dụng.
Bảng 2. Kiến thức về chất thải y tế lâm sàng (n=150)
Khảo sát lần 1 Khảo sát lần 2
Đúng Đúng Chất thải y tế lâm sàng
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Chất thải thông thường 148 98,7 150 100
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn 140 93,3 150 100
Chất thải sắc nhọn 149 99,3 150 100
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm
cao phát sinh từ phòng xét nghiệm
142 94,7 150 100
Chất thải y tế lâm sàng Khảo sát lần 1 Khảo sát lần 2
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
137
Đúng Đúng
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Chất thải là mô cơ và cơ quan
người, động vật
144 96,0 150 100
Chất thải phát sinh từ buồng
cách ly
140 93,3 150 100
Chất thải hoá học nguy hại 143 95.3 148 98,7
Chất thải phóng xạ 150 100 150 100
Nhận xét:
* Khảo sát lần 1: 100% nhận thức đúng về chất thải phóng xạ. Các nhóm khác cơ bản
các đã nhận thức đúng về nhóm.
* Khảo sát lần 2: ĐDV-KTV-Hộ lý đã có kiến thức sâu về phân loại chất thải y tế
theo nhóm (chỉ còn 1,3% phân loại chất thải hoá học sai là do còn có sự nhầm lẫn với
chất thải khác).
3.2.Thực hành về quản lý chất thải y tế
Bảng 3. Phân loại, thu gom chất thải thông thường (n = 23)
Khảo sát lần 1 Khảo sát lần 2
Dụng cụ Nội
(n = 7)
Ngoại
(n = 8)
CLS
(n = 8)
Nội
(n = 7)
Ngoại
(n = 8)
CLS
(n = 8)
Bỏ trực tiếp vào
thùng
1 0 0 0 0 0
Thùng có túi lót
nilon màu xanh
3 6 7 7 8 8
Túi nilon khác 3 2 1 0 0 0
Nhận xét:
* Khảo sát lần 1: 1/23 khoa bỏ trực tiếp vào thùng, 6/23 khoa để trực tiếp vào túi nilon
(sai quy định) nguyên nhân dụng cụ đựng chất thải chưa đầy đủ và phù hợp với số lượng
chất thải.
* Khảo sát lần 2: 10% các khoa đã để chất thải sinh hoạt đúng theo quy định.
Bảng 4. Phân loại, thu gom chất thải y tế lây nhiễm không sắc nhọn (n = 23)
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
138
Khảo sát lần 1 Khảo sát lần 2
Dụng cụ Nội
(n= 7)
Ngoại
(n= 8 )
CLS
(n= 8)
Nội
(n= 7)
Ngoại
(n= 8)
CLS
(n= 8)
Bỏ trực tiếp vào
thùng
1 0 0 0 0 0
Thùng có túi lót
nilon màu vàng
6 8 8 7 8 8
Túi nilon khác 0 0 0 0 0 0
Nhận xét:
* Khảo sát lần 1: 1/23 khoa bỏ trực tiếp vào thùng (sai quy định)
* Khảo sát lần 2: 100% các khoa thực hiện tốt thu gom phân loại chất thải lây nhiễm
không sắc nhọn.
Bảng 5. Phân loại, thu gom xử lý chất thải y tế sắc nhọn (n= 23)
Khảo sát lần 1 Khảo sát lần 2
Dụng cụ Nội
(n = 7)
Ngoại
(n = 8)
CLS
(n = 8)
Nội
(n = 7)
Ngoại
(n = 8)
CLS
(n = 8)
Hộp giấy chuyên dụng 0 0 0 0 0 0
Can nhựa vàng 0 0 0 0 0 0
Vỏ chai dịch truyền 5 8 7 7 8 8
Khác 2 0 1 0 0 0
Nhận xét:
* Khảo sát lần 1:
- Có 3/23 khoa còn để lẫn với chất thải lây nhiễm khác.
- Không có khoa nào để vào hộp giấy chuyên dụng và can nhựa vàng vì bệnh viện
chưa được trang bị.
* Khảo sát lần 2: 100% các khoa đã tách dụng cụ chứa chất thải y tế sắc nhọn để riêng.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
139
Bảng 6. Phân loại, thu gom chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh
từ phòng xét nghiệm (n= 23)
Khảo sát lần 1 Khảo sát lần 2
Dụng cụ Nội
(n = 7)
Ngoại
(n = 8)
CLS
(n = 8)
Nội
(n = 7)
Ngoại
(n = 8)
CLS
(n = 8)
Phân loại theo nhóm quy
định
7 7 8 7 8 8
Để lẫn với chất thải khác 0 1 0 0 0 0
Nhận xét:
* Khảo sát lần 1: 1/23 khoa chưa phân loại đúng nhóm.
* Khảo sát lần 2: 100% các khoa đã thực hiện tốt phân nhóm theo quy định.
Bảng 7. Phân loại, thu gom chất thải phát sinh từ buồng cách ly (n = 23)
Khảo sát lần 1 Khảo sát lần 2
Dụng cụ Nội
(n = 7)
Ngoại
(n = 8)
CLS
(n = 8)
Nội
(n = 7)
Ngoại
(n = 8)
CLS
(n = 8)
Phân loại theo
nhóm quy định
7 7 8 7 8 8
Để lẫn với chất
thải khác
0 1 0 0 0 0
Nhận xét:
* Khảo sát lần 1: 1/23 khoa chưa thực hiện phân loại đúng nhóm.
* Khảo sát lần 2: 100% các khoa đã thực hiện phân nhóm theo quy định.
Bảng 8. Phân loại, thu gom chất thải hóa học nguy hại (n = 23)
Khảo sát lần Khảo sát lần 2
Dụng cụ Nội
(n = 7)
Ngoại
(n = 8)
CLS
(n = 8)
Nội
(n = 7)
Ngoại
(n = 8)
CLS
(n = 8 )
Phân loại theo
nhóm quy định
7 7 8 7 8 8
Để lẫn với chất
thải khác
0 1 0 0 0 0
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
140
Nhận xét:
* Khảo sát lần 1: 1/23 khoa chưa thực hiện phân loại đúng nhóm.
* Khảo sát lần 2: 100% các khoa đã thực hiện phân nhóm theo quy định.
3.3 Số lần thu gom chất thải y tế / 24h (n =23)
Khảo sát lần 1 Khảo sát lần 2
Số lần
Số khoa Số khoa
2 Lần /24h 4 6
1 Lần /24h 18 17
1 Lần /48h 1 0
Nhận xét:
* Khảo sát lần 1: 22/23 chấp hành tốt quy định lưu chất thải y tế tại khoa. Một khoa
còn để lưu chất thải y tế quá 48h (sai quy định).
* Khảo sát lần 2: 23/23 chấp hành tốt quy định lưu chất thải y tế tại khoa.
3.4. Chi phí vật tư tiêu hao trong thu gom quản lý chất thải y tế (CTYT) rắn
3.4.1. Đánh giá số lượng túi nilon tiêu hao đựng CTYT/24h của bệnh viện
Khảo sát lần 1 (n = 23) Khảo sát lần 2 (n = 23) Số
lượng
túi /24h
Ngoại
(n = 8 )
Nội
(n = 7 )
CLS
(n = 8)
Tổng số
Túi
Ngoại
(n = 8 )
Nội
(n =7 )
CLS
(n = 8)
Tổng số
Túi
cộng 118 75 59 252 120 77 69 266
Nhận xét:
* Khảo sát lần 1: Những khoa bệnh nhân đông, nặng (Khối ngoại) sử dụng túi nilon
đựng chất thải y tế/ 24h cao hơn.
* Khảo sát lần 2: Số lượng túi sử dụng nhiều hơn là do bổ sung thêm cho các khoa đáp
ứng yêu cầu theo quy định.
Chi phí tài chính và dự toán kinh phí:
+ Thực trạng
- Số túi tiêu hao trong 24h của Bệnh viện là 252 túi nilon.
- Trong 1 tháng trung bình là: 7560 túi x 375
đ
= 2.835.000
đ
- Dự toán kinh phí phải chi/năm là: 2.835.000
đ
x 12 tháng = 34.020.000đ
+ Dự toán kinh phí nếu trang bị túi nilon đầy đủ theo quy định
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
141
- Số túi tiêu hao trong 24h của bệnh viện là 266 túi nilon.
- Trong 1 tháng trung bình là: 7980 túi x 375
đ
= 2.992.000
đ
- Dự toán kinh phí phải chi trong 1 năm là: 2.992.000
đ
x 12 tháng = 35.910.000đ
3.4.2. Đánh giá tiêu hao hộp chuyên dụng đựng chất thải y tế sắc nhọn
Khảo sát lần 1 (n = 23) Khảo sát lần 2 (n = 23) Hộp
giấy
chuyên
dụng/
tháng
Ngoại
(n = 8)
Nội
( n = 7)
CLS
(n = 8)
Tổng số
hộp
Ngoại
(n = 8)
Nội
(n = 7)
CLS
(n = 8)
Tổng số
hộp
0 hộp 0 0 3 0 0 0 3 0
1 hộp 0 0 2 2 0 0 2 2
2 hộp 0 0 2 4 0 0 2 4
3 hộp 7 3 0 30 7 3 0 30
4 hộp 1 2 1 16 1 2 1 16
5 hộp 0 2 0 10 0 2 0 10
Cộng 25 27 10 62 25 27 10 62
Nhận xét:
Khảo sát lần 1: Số hộp dùng tiêu hao đựng chất thải y tế sắc nhọn /24h là 62 hộp. Có 3
khoa không sử dụng hộp chuyên dụng (do đặc thù của khoa không có CTYT là vật sắc
nhọn).
Khảo sát lần 2: Số hộp dùng tiêu hao đựng chất thải
y tế sắc nhọn không thay đổi.
Chi phí tài chính và dự toán kinh phí:
+ Thực trạng: Bệnh viện chưa có hộp giấy chuyên
dụng. vì vậy các khoa đều sáng kiến dùng bằng vỏ
chai dịch truyền nhựa (dụng cụ sẵn có nên không tính
chi phí).
+ Dự toán kinh phí
- Nếu sử dụng hộp chuyên dụng thì trung bình một ngày sử dụng hết 62 hộp với giá
7000 đ/hộp như vậy trong 1 tháng mức sử dụng là:
62 x 7.000đ x 30 ngày = 13.020.000đ
- Kinh phí sử dụng 1 năm là: 13.020.000đ x 12 tháng = 156.240.000đ/ năm
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
142
3.4.3. Đánh giá tiêu hao thùng đựng chất thải y tế/năm
Khảo sát lần 1 ( n = 23) Khảo sát lần 2 ( n = 23) Số lượng thùng
dùng tại khoa
Ngoại
(n = 8)
Nội
( n = 7)
CLS
(n = 8)
Tổng
số hộp
Ngoại
(n = 8)
Nội
(n = 7)
CLS
(n = 8)
Tổng
số hộp
Cộng 69 66 47 182 106 70 64 240
Nhận xét:
* Khảo sát lần 1:
- Tổng số 182 thùng, số lượng thùng ở
các khoa chưa đồng đều khoa ít khoa nhiều
(có khoa giữ tốt dùng bền, có khoa làm
hỏng hoặc để mất, làm việc khác, có khoa
dùng xô thay cho thùng…).
- Thời gian sử dụng trung bình 1
thùng/năm.
* Khảo sát lần 2:
- Căn cứ theo quy chế và tình hình thực
tế thì số thùng phải trang bị cho các khoa là
240 thùng.
- Chi phí tài chính và dự toán kinh phí:
+ Thực trạng chi phí: 182 thùng x
90.000 đ = 16.380.000 đ/năm.
+ Dự toán khi trang bị theo quy định:
240 thùng x 90.000 đ = 21.600.000 đ/năm.
3.4.4 Tổng hợp tài chính (3 bảng
4.4.1; 4.4.2; 4.4.3)
+ Thực trạng: Dụng cụ đựng chất thải
(túi nilon, thùng đựng CTYT, không tính
tiền hộp chuyên dụng đựng vật sắc nhọn vì
khoa dùng vỏ chai dịch truyền) một năm là
50.400.000đ.
+ Dự toán kinh phí: Căn cứ theo quy
chế và khảo sát thực tế sau can thiệp thì
trang bị túi nilon, thùng, hộp chuyên dụng
đựng vật sắc nhọn thì một năm chi phí là
213.750.000đ/năm.
3.4.5. Phương pháp xử lý chất thải y tế của bệnh viện (nguy hại, lây nhiễm)
Phương pháp xử lý Khảo sát lần 1 Khảo sát lần 2
Bán Không Không
Để lẫn với chất thải công cộng Không Không
Để vào thùng chuyên đựng chất thải y tế 100% 100%
Nhận xét: Cả hai lần khảo sát (trước và sau tập huấn quy định quản lý CTYT), bệnh
viện đã thực hiện tốt việc thu gom, phân loại và sử lý tập chung theo quy định.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
143
4. BÀN LUẬN
Khảo sát thực trạng và sau can thiệp về
nhận thức và thực hành quản lý, phân loại
chất thải y tế rắn của 150 Điều dưỡng,
KTV, Hộ lý tại Bệnh viện 105 cho thấy:
- Nhận thức:
Kết quả khảo sát lần 1 (trước can
thiệp) mặc dù đã được quán triệt các quy
định về chế độ công tác chống nhiễm
khuẩn nhưng vẫn còn 9,3% NVYT chưa
nhận thức đúng về phân loại CTYT còn để
lẫn giữa các chất thải với nhau (bảng 1);
6,7% trả lời sai loại CTYT không sắc nhọn
và CTYT phát sinh từ buồng cách ly, 5,3%
trả lời sai CTYT nguy cơ lây nhiễm cao
phát sinh từ phòng xét nghiệm (bảng 2).
Sau can thiệp (khảo sát lần 2) Nhận
thức Điều dưỡng, KTV và Hộ lý của các
khoa lâm sàng, CLS trong bệnh viện được
nâng lên rõ rệt: 100% NVYT tham gia
khảo sát có kiến thức thu gom, phân loại
chất thải y tế, chỉ còn 1,3% trả lời sai nhóm
chất thải hóa học nguy hại (bảng 2).
- Thực hành:
+ Trước tập huấn 23/23 khoa Lâm
sàng và Cận lân sàng đã thực hiện thu gom,
phân loại CTYT ngay từ nguồn phát sinh
(buồng kỹ thuật, buồng bệnh, nơi chứa
đựng...) nhưng vẫn còn 7/23 khoa thu gom
CTYT thông thường (bảng 3); 1/23 thu
gom CTYT lây nhiễm không sắc nhọn,
CTYT có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh
từ phòng xét nghiệm, chất thải hóa học
nguy hại sai quy định (bảng 5,6,7,8).
Phân loại chất thải y tế sắc nhọn còn
nhiều sai sót 3/23 khoa còn để lẫn CTYT
sắc nhọn với CTYT lây nhiễm, là nhóm
CTYT dễ gây nguy hiểm và mất an toàn.
+ Sau tập huấn 100% các khoa đã thu
gom, phân loại đúng qui định.
+ Dụng cụ chứa đựng CTYT theo quy
định vẫn chưa được trang bị đúng chủng
loại (màu túi nilon, thùng, hộp kháng
thủng). Sau can thiệp 100% các khoa quản
lý phân loại CTYT theo qui định.
- Tài chính:
So sánh thực chi tài chính với dự toán
kinh phí theo quy chế cho các dụng cụ thu
gom và phân loại các chất thải y tế rắn có
sự chênh lệch lớn (gấp 4 lần), nhưng hiệu
quả là đảm bảo an toàn trong thu gom,
phân loại và xử lý CTYT).
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
* Thực trạng nhận thức của nhân viên y
tế chưa cao, thực hành về công tác thu
gom, phân loại chất thải tại các khoa còn
nhiều hạn chế. Việc can thiệp nâng cao
nhận thức và thực hành theo quy chế quản
lý CTYT đã có hiệu quả rõ rệt (100%
NVYT có kiến thức và thực hành phân loại
CTYT theo đúng quy chế). Do vậy việc
tuyên truyền, hướng dẫn kiến thức về quản
lý phân loại CTYT là rất cần thiết.
* Chi phí thực tại tài chính cho riêng
dụng cụ thu gom và phân loại CTYT rắn
một năm tương đối lớn, thực hiện đầy đủ
theo yêu cầu của quy chế quản lý CTYT thì
số tiền cao hơn rất nhiều.
* Đề nghị
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
144
- Bệnh viện
+ Cần thường xuyên tổ chức tập huấn
để nâng cao nhận thức và thực hành về quy
chế quản lý CTYT và cập nhập kịp thời
những kiến thức, thông tin bổ sung.
+ Có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối
với những cá nhân và khoa ban vi phạm.
+ Trang bị vật chất cho các khoa đầy
đủ, đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế
(theo quy định của Bộ Y tế).
- Cấp trên: Tăng kinh phí cho quản lý
và xử lý CTYT cho bệnh viện để bệnh viện
thực hiện đúng quy chế quản lý CTYT của
Bộ Y tế./.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quy định quản lý chất thải y tế số
43/2007. BYT
2. Quy chế quản lý chất thải y tế
(1999).
3. Tạp chí Y học thực hành số 428 năm
2002.
4. Tài liệu thực hành quản lý chất thải y
tế, Vụ Điều trị.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
145
KỸ THUẬT THU GOM CHẤT THẢI CUẢ NGƯỜI BỆNH SỐC GIẢM
THỂ TÍCH DO TIÊU CHẢY CẤP NGUY HIỂM TRÊN CÁNG CẢI TIẾN
Đinh Thị Quỳnh Nga
Lê Quang Lân
Trần Anh Quân
Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, Hà Nội
1. MỤC ĐÍCH
Cáng cải tiến có lỗ thoát chất thải để
thu gom chất thải (phân) của người bệnh đã
đáp ứng các yêu cầu sau:
- Thu gom chất thải của người bệnh
trong khi vẫn đảm bảo huyết động của
ngưòi bệnh trong tình trạng sốc giảm thể
tích (bất động, đầu thấp), không phải bộc lộ
người bệnh (phần dưới của cơ thể người
bệnh vẫn được che phủ kín đáo) nên người
bệnh luôn được giữ ấm.
- Bảo đảm thu gom được số lượng lớn
chất thải (tối đa 5 lít /lần thu gom) mà
không rơi vãi ra nền nhà và môi trường,
do vậy kiểm soát nguồn lây, tránh phơi
nhiễm cho nhân viên y tế và những người
xung quanh.
- Bảo đảm xử lý chất thải theo đúng
quy định về phòng chống dịch tả của Bộ
Y tế.
2. TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI
KỸ THUẬT
- Tả là bệnh truyền nhiễm, cấp tính,
nguy hiểm, gây dịch qua đưòng tiêu hoá
(phân của người bệnh) làm người bệnh tiêu
chay rất nhiều và liên tục, do vậy bô, bỉm
giấy không đáp ứng được yêu cầu thu gom
lượng lớn phân, dễ gây phơi nhiễm. Dùng
nhiều bỉm, giấy gây lãng phí, tốn nhiều
công phục vụ...
- Sáng kiến cải tiến kỹ thuật thu gom
chất thải củ người bệnh bị tiêu chay cấp
nguy hiểm trên cáng inox đã khắc phục
được tất cả các nhược điểm trên, đảm bảo
được huyết động cho BN sốc vì không phải
thay đổi tư thế cho người bệnh nên bảo
đảm an toàn hơn cho người bệnh.
3. CÁC THIẾT BỊ CHÍNH ĐỂ THỰC
HIỆN KỸ THUẬT
a) Cáng inox cải tiến.
b) Xô nhựa 10 lít có chia vạch từ
1-10 lít.
c) Dung dịch chloramine B 10%.
d) Quần áo bảo hộ, găng tay sạch.
4. TÍNH MỚI, TÍNH SÁNG TẠO
CỦA ĐỀ TÀI-KỸ THUẬT SO VỚI KỸ
THUẬT HIỆN HÀNH
a) Tính mới: lần đầu tiên áp dụng tại
Việt Nam.
b) Tính sáng tạo: cải tiến từ cáng inox
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
146
thông thường.
- Khoét lỗ làm cửa thoát chất thải.
- Xô nhựa có chia vạch: đảm bảo lượng
giá lượng nước đã mất của người bệnh một
cách chính xác.
- Bộ phận cố định xô nhựa chắc chắn
vào mặt cáng, tháo lắp dễ dàng.
c) Tính khả thi: đã được áp dụng từ
tháng 3/2008 cho 78 BN sốc giảm thể tích
nặng do tả.
d) Hiệu quả kinh tế và giá trị khoa học,
- Tiết kiệm: tiền bỉm giấy
400.000VNĐ/NB/ngày.
- Công lao động: 40lần/ngày so với 3
lần/ngày.
- 100% người bệnh hài lòng.
- Đảm bảo tốt các quy định về phòng,
chống dịch.
5. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
- Áp dụng kỹ thuật và cáng cải tiến cho
tất cả các tuyến y tế, đặc biệt các khoa
truyền nhiễm và Hồi sức cấp cứu khi chăm
sóc người bệnh bị tiêu chảy cấp nguy hiểm.
- Đăng ký bản quyền mẫu cáng cải tiến.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
147
KHẢO SÁT SỰ ĐỒNG CẢM CỦA ĐIỀU DƯỠNG VỀ MỨC ĐỘ LO ÂU CỦA
BỆNH NHÂN TẠI KHOA BỎNG BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
ThS. Nguyễn Phương Thảo
Trường Đại học Y Phạm Ngọc Thạch
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Mối quan hệ giữa ĐD-BN
là cơ bản cho tất cả các kỹ năng chăm sóc
và thấu hiểu BN. Vì vậy, nghiên cứu là cần
thiết để xác định sự đồng cảm của ĐD về
mức độ lo âu của BN bỏng.
Mục tiêu: Xác định mức độ cảm nhận
của ĐD và BN bỏng về các lo âu liên quan
đến mặt thể chất và mặt tinh thần của BN
bỏng và mô tả sự khác biệt về sự cảm nhận
này giữa ĐD và BN bỏng.
Đối tượng và phương pháp nghiên
cứu: Nghiên cứu mô tả so sánh-được tiến
hành cho 52 đối tượng, gồm 26 ĐD đang
chăm sóc BN và 26 BN bỏng tại khoa bỏng
Bệnh viện Chợ Rẫy.
Kết quả: Đối với các lo âu về mặt thể
chất, có 3,9% BN và 19,2% ĐD cảm nhận ở
mức độ lo âu vừa, 69,2% BN và 50% ĐD
cảm nhận ở mức độ lo âu nhiều và 26,9%
BN và 30,8% ĐD cảm nhận ở mức độ lo âu
rất nhiều. Đối với các lo âu liên quan đến
mặt tinh thần, có 11,5% BN nhưng không có
ĐD nào cảm nhận ở mức độ lo âu vừa,
46,2% BN và 42,3% ĐD cảm nhận ở mức
độ lo âu nhiều và 42,3% BN và 57,7% ĐD
cảm nhận ở mức độ lo âu rất nhiều. Trong
đó, có 23,1% và 30,8% ĐD không cảm nhận
được mức độ lo âu liên quan về mặt thể chất
và mặt tinh thần của BN bỏng (p < 0,05).
Từ khóa: Bệnh nhân bỏng, Sự đồng
cảm, Các lo âu, Mối quan hệ ĐD-BN.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bỏng luôn là một vấn đề nhức nhối và
đau đầu của nhiều quốc gia. Bỏng có liên
quan đến tỉ lệ bệnh và tỉ lệ tử vong cao [0],
[0]. Bỏng gây tổn thương không những về
mặt thể chất mà còn cả về mặt tinh thần
cho bệnh nhân (BN). Bỏng để lại rất nhiều
biến chứng nghiêm trọng [0], [0].
Tổn thương bỏng ở Việt Nam chỉ xếp
thứ hai sau tai nạn giao thông [0]. Nhiều
nghiên cứu đã ghi nhận rằng, bỏng có liên
quan cao đến lo âu, tỉ lệ các di chứng về
mặt tâm lý của BN bỏng chiếm khoảng
13% đến 45% [0]. Tuy nhiên, các tài liệu
nghiên cứu về vấn đề bỏng thuộc lĩnh vực
điều dưỡng (ĐD) còn rất hạn chế. BN bỏng
cần rất nhiều đến sự chăm sóc của ĐD,
nhưng hầu như chưa có nghiên cứu nào để
xác định sự nhận thức của ĐD về những
cảm nhận của BN bỏng trong suốt thời gian
nằm viện, cũng như những tổn thất nặng nề
mà BN bỏng phải gánh chịu. Trong khi đó,
mối quan hệ giữa ĐD và BN luôn là nền
tảng cho ngành ĐD và tất cả các kỹ năng
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
148
chăm sóc người bệnh. Sự thấu hiểu cũng là
một khía cạnh quan trọng trong mối quan
hệ này [0], [0], nhất là đối với BN bỏng,
giúp giảm bớt những vấn đề tâm lý cho BN
bỏng. Vì vậy hiểu được nguyên nhân gây lo
âu của BN bỏng rất quan trọng.
Vì tầm quan trọng của vấn đề trên,
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Khảo
sát sự đồng cảm của điều dưỡng về mức độ
lo âu của bệnh nhân tại khoa bỏng bệnh
viện Chợ Rẫy”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu tổng quát
Khảo sát sự đồng cảm của ĐD về mức
độ lo âu liên quan đến mặt thể chất và mặt
tinh thần của BN tại khoa bỏng bệnh viện
Chợ Rẫy từ tháng 02/2009 đến tháng
04/2009.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1. Xác định mức độ lo âu liên quan
đến mặt thể chất và mặt tinh thần của BN
bỏng và mức độ cảm nhận của ĐD về các
lo âu này của BN tại khoa Bỏng bệnh viện
Chợ Rẫy từ tháng 02/2009 đến tháng
04/2009.
2.2. Xác định sự giống nhau và khác
nhau giữa mức độ lo âu liên quan đến mặt
thể chất và mặt tinh thần của BN bỏng và
mức độ cảm nhận của ĐD về các lo âu này
của BN tại khoa Bỏng bệnh viện Chợ Rẫy
từ tháng 02/2009 đến tháng 04/2009.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả ĐD và BN bỏng tại khoa bỏng
bệnh viện Chợ Rẫy tại TP.HCM trong thời
gian từ tháng 02/2009 đến tháng 04/2009
thỏa các tiêu chí chọn mẫu sau:
- ĐD đang chăm sóc trực tiếp người
bệnh tại khoa bỏng: 26 ĐD (Tổng số ĐD
đang công tác tại khoa là 31, loại ra 5 ĐD
hành chính).
- BN bỏng được chẩn đoán đã qua khỏi
giai đoạn cấp cứu hồi sức, đe dọa đến tính
mạng và đang nằm điều trị tại khoa Bỏng.
Do nghiên cứu sử dụng so sánh cặp, nên cỡ
mẫu của hai nhóm đối tượng nghiên cứu
-nhóm đối tượng ĐD và nhóm đối tượng
BN bỏng-là như nhau, đều là N = 26.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả so sánh cho từng
cặp đối tượng ĐD-BN bỏng.
- Bỏng vấn ĐD bằng bộ câu hỏi tự điền
được thiết kế sẵn dựa trên dữ kiện thu thập
từ ĐD, BN và tài liệu nghiên cứu trước đó.
- Phỏng vấn trực tiếp BN cũng với bộ
câu hỏi được thiết kế sẵn dành cho nhóm
đối tượng ĐD, chỉ khác nhau về phần thông
tin chung.
- Thống kê xử lý bằng phần mềm Stata 10
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Đặc tính mẫu
- Đối tượng nghiên cứu là BN: Tuổi
trung bình là 30, nam (61,5%), đã lập gia
đình (50%) và có con (46,2%), trình độ học
vấn không cao (trình độ PTCS chiếm
57,7%), chủ yếu là công nhân (26,9%) và
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
149
làm ruộng (19,2%) và có thu nhập thấp
(88,5%).
- Đối tượng nghiên cứu là ĐD: Tuổi
trung bình là 32, nữ (88,5%), đã lập gia
đình (53,8%) và có con (46,2%), ĐD trung
học (100%), hài lòng với công việc hiện tại
(88,5%), đa số có thời gian làm việc tại
khoa bỏng từ 1 năm đến 3 năm (34,6%) và
từ trên 5 năm cho đến 10 năm (30,8%).
2. Các yếu tố liên quan đến bỏng
- Chủ yếu có diện tích bỏng từ 10% đến
30% (34,6%) và trên 50% (34,6%).
- Vị trí bỏng: bỏng ở đa vị trí trên cơ
thể (61,5%) và chi trên và chi dưới
(30,8%).
3. Điểm cảm nhận mức độ lo âu của ĐD và BN bỏng về các lo âu liên quan đến
mặt thể chất và mặt tinh thần của BN bỏng
Bảng 1. Điểm cảm nhận mức độ lo âu của ĐD và BN bỏng
về các lo âu liên quan đến mặt thể chất của BN bỏng
Số điểm dao động
BN
N (%)
ĐD
N (%)
Đau
6,1-8
8,1-10
1 (3,8%)
25 (96,2%)
10 (38,5%)
16 (61,5%)
Ngủ, ăn uống và ngứa
2,1-4
4,1-6
6,1-8
8,1-10
-
6 (23,1%)
20 (76,9%)
-
3 (11,5%)
6 (23,1%)
14 (53,9%)
3 (11,5%)
Các lo âu về mặt thể chất (đau và ngủ, ăn
uống và ngứa)
4,1-6
6,1-8
8,1-10
1 (3,9%)
18 (69,2%)
7 (26,9%)
5 (19,2%)
13 (50%)
8 (30,8%)
Nhận xét:
- Đối với các nguyên nhân gây lo âu
liên quan đến đau của BN bỏng: BN và
ĐD đều cảm nhận ở mức độ lo âu nhiều
và rất nhiều.
- Đối với các nguyên nhân gây lo âu
liên quan đến ngủ, ăn uống và ngứa của BN
bỏng: BN cảm nhận ở mức độ lo âu vừa và
nhiều. Trong khi đó ĐD lại cảm nhận ở
mức độ từ lo âu ít, lo âu vừa, lo âu nhiều và
lo âu rất nhiều.
- Tóm lại, đối với các nguyên nhân
gây lo âu liên quan đến mặt thể chất của
BN bỏng: BN và ĐD đều cảm nhận ở
mức độ từ lo âu vừa, lo âu nhiều đến lo âu
rất nhiều.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
150
Bảng 2. Điểm cảm nhận mức độ lo âu của ĐD và BN bỏng
về các lo âu liên quan đến mặt tinh thần của BN bỏng
Số điểm dao động
BN
N (%)
ĐD
N (%)
Môi trường chăm sóc và điều trị
2
4,1-6
6,1-8
8,1-10
-
4 (15,4%)
6 (23,1%)
16 (61,5%)
2 (7,7%)
8 (30,8%)
9 (34,6%)
7 (26,9%)
Những thay đổi hình dáng bên ngoài
2,1-4
4,1-6
6,1-8
8,1-10
4 (15,4%)
5 (19,2%)
9 (34,6%)
8 (30,8%)
-
6 (23,1%)
7 (26,9%)
13 (50%)
Lo âu trầm cảm
4,1-6
6,1-8
8,1-10
5 (19,2%)
15 (57,7%)
6 (23,1%)
1 (3,8%)
15 (57,7%)
10 (38,5%)
Gánh nặng
4,1-6
6,1-8
8,1-10
1 (3,8%)
8 (30,8%)
17 (65,4%)
-
5 (19,2%)
21 (80,8%)
Khả năng hồi phục
2,1-4
4,1-6
6,1-8
8,1-10
-
-
16 (61,5%)
10 (38,5%)
2 (7,7%)
1 (3,8%)
8 (30,8%)
15 (57,7%)
Các lo âu về mặt tinh thần
4,1-6
6,1-8
8,1-10
3 (11,5%)
12 (46,2%)
11 (42,3%)
-
11 (42,3%)
15 (57,7%)
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
151
Nhận xét:
- Đối với các nguyên nhân gây lo âu
liên quan đến môi trường chăm sóc và điều
trị của BN bỏng: BN cảm nhận ở mức độ từ
lo âu vừa, lo âu nhiều đến lo âu rất nhiều.
Trong khi đó ĐD lại cảm nhận ở mức độ từ
không lo âu, lo âu vừa, lo âu nhiều và lo âu
rất nhiều.
- Đối với các nguyên nhân gây lo âu
liên quan đến những thay đổi hình dáng
bên ngoài của BN bỏng: BN đều cảm nhận
ở mức độ lo âu ít, lo âu vừa, lo âu nhiều và
lo âu rất nhiều. Trong khi đó ĐD lại cảm
nhận ở mức độ từ lo âu vừa, lo âu nhiều
đến lo âu rất nhiều.
- Đối với các nguyên nhân gây lo âu
liên quan đến lo âu trầm cảm của BN bỏng:
BN và ĐD đều cảm nhận ở mức độ lo âu
vừa, lo âu nhiều và lo âu rất nhiều.
- Đối với các nguyên nhân gây lo âu
liên quan đến gánh nặng của BN bỏng: BN
cảm nhận ở mức độ từ lo âu vừa, lo âu
nhiều đến lo âu rất nhiều. Trong khi đó ĐD
lại cảm nhận ở mức độ lo âu nhiều và lo âu
rất nhiều.
- Đối với các nguyên nhân gây lo âu
liên quan đến khả năng hồi phục của BN
bỏng: BN cảm nhận ở mức độ lo âu nhiều
và lo âu rất nhiều. Trong khi đó ĐD lại cảm
nhận ở mức độ từ lo âu ít, lo âu vừa, lo âu
nhiều đến lo âu rất nhiều.
- Tóm lại, đối với các nguyên nhân gây
lo âu liên quan đến mặt tinh thần của BN
bỏng: BN cảm nhận ở mức độ từ lo âu vừa,
lo âu nhiều đến lo âu rất nhiều. Trong khi
đó ĐD lại cảm nhận ở mức độ lo âu nhiều
và lo âu rất nhiều.
4. Sự giống nhau và khác nhau trong điểm cảm nhận mức độ lo âu của ĐD và BN
bỏng về các lo âu liên quan đến mặt thể chất và mặt tinh thần của BN bỏng
4.1. Các lo âu liên quan đến mặt thể chất của BN bỏng
76.9%
84.6%
96.2%
23.1%
15.4%
3.8%
0% 20% 40% 60% 80% 100% 120%
Đau
Ngủ, ăn uống
và ngứa
Các lo âu về
mặt thể chất
Thấu hiểu
Không
thấu hiểu
Biểu đồ 1. Các cặp ĐD và BN thấu hiểu và không thấu hiểu
các lo âu liên quan đến mặt thể chất của BN bỏng
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
152
Nhận xét: 23,1% ĐD không thấu hiểu được mức độ lo âu liên quan đến mặt thể chất của
BN. Trong đó, 3,8% ĐD không thấu hiểu được mức độ lo âu liên quan đến đau của BN và
15,4% ĐD không thấu hiểu được mức độ lo âu liên quan đến ngủ, ăn uống và ngứa của BN.
4.2. Các lo âu liên quan đến mặt tinh thần của BN bỏng
88.5%
96.2%
76.9%
69.2%
23.1%
30.8%
69.2%
92.3%
11.5%
3.8%
30.8%
7.7%
0% 20% 40% 60% 80% 100% 120%
Môi trường chăm sóc và điều trị
Lo âu trầm cảm
Khả năng hồi phục
Thấu
hiểu
Không
thấu hiểu
Biểu đồ 2. Các cặp ĐD và BN thấu hiểu và không thấu hiểu
các lo âu liên quan đến mặt tinh thần của BN bỏng
Nhận xét: 30,8% ĐD không thấu hiểu
được mức độ lo âu liên quan đến mặt tinh
thần của BN. Trong đó, 7,7% ĐD không
thấu hiểu được mức độ lo âu liên quan đến
môi trường chăm sóc và điều trị của BN ;
30,8% ĐD không thấu hiểu được mức độ lo
âu liên quan đến những thay đổi hình dáng
bên ngoài của BN; 11,5% ĐD không thấu
hiểu được mức độ lo âu liên quan đến lo âu
trầm cảm của BN; 3,8% ĐD không thấu
hiểu được mức độ lo âu liên quan đến gánh
nặng của BN và 23,1% ĐD không thấu
hiểu được mức độ lo âu liên quan đến khả
năng hồi phục của BN.
5. BÀN LUẬN
1. Mức độ cảm nhận lo âu của ĐD và
BN bỏng về các lo âu liên quan đến mặt
thể chất và mặt tinh thần của BN bỏng
1.1. Mức độ cảm nhận lo âu của BN
bỏng
- Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần
lớn những BN bỏng cho thấy có các lo âu
về mặt thể chất và mặt tinh thần.
- Cơn đau do bỏng gây ra rất trầm trọng
và là một trong những lo âu nổi bật trong
các lo âu có liên quan đến mặt thể chất, có
đến 96,2% BN trả lời lo âu rất nhiều đối
với cơn đau mà họ phải chịu đựng.
- Hầu hết BN đều cảm nhận ở mức độ
lo âu nhiều và lo âu rất nhiều đối với các lo
âu liên quan đến gánh nặng và khả năng
hồi phục của BN hơn là những lo âu khác
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
153
về mặt tâm lý. Điều này không quá ngạc
nhiên vì phần lớn BN bỏng còn khá trẻ,
đang ở độ tuổi lao động, có thu nhập thấp,
bỏng nặng, có diện tích bỏng lớn và bỏng ở
đa vị trí trên cơ thể, vì vậy họ đã rất lo
lắng về các khoản chi phí cho việc điều
trị, tài chính và khả năng hồi phục của
chính bản thân. Theo Viện Bỏng quốc gia
[0], bình quân chi phí điều trị cho một ca
bỏng tiêu tốn từ 15.000.000 đến
20.000.000 đồng.
1.2. Mức độ cảm nhận lo âu của ĐD
- Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần
lớn ĐD cảm nhận sự lo âu của BN về mặt
thể chất và mặt tinh thần ở mức độ lo âu
nhiều và rất nhiều. Tuy nhiên đối với các lo
âu liên quan đến đau của BN bỏng có đến
38,5% ĐD cảm nhận ở mức độ lo âu nhiều,
đặc biệt một vài ĐD lại cho rằng BN bỏng
chỉ lo âu nhiều mỗi khi được thay băng.
- Một vài ĐD đã cho rằng BN cảm thấy
lo âu rất nhiều về những thay đổi liên quan
đến hình dáng bên ngoài, nhưng điều này
không hoàn toàn đúng với những BN mà
họ chăm sóc hàng ngày.
2. Sự khác biệt trong mức độ cảm
nhận của ĐD và BN bỏng về các lo âu
liên quan đến mặt thể chất và mặt tinh
thần của BN bỏng
- 23,1% ĐD không thấu hiểu được mức
độ lo âu liên quan đến mặt thể chất của BN
và 30,8% ĐD không thấu hiểu được mức
độ lo âu liên quan đến mặt tinh thần của
BN. Những ĐD trong các cặp này có thời
gian làm việc tại khoa bỏng từ 1-3 năm và
trên 3 năm đến 5 năm. Do đó, thời gian làm
việc tại khoa bỏng rất quan trọng để ĐD có
thể hiểu được các lo âu của BN. Ngoài ra,
một vài BN đã không thể hiện sự lo âu của
họ trước ĐD, những người mà đang chăm
sóc cho chính họ, nhất là sự sợ hãi mỗi khi
được thay băng, có lẽ là do ngưỡng chịu
đau của mỗi cá nhân là khác nhau, nên ít
nhiều đã ảnh hưởng đến mức độ cảm nhận
của ĐD về các lo âu liên quan đến đau của
BN bỏng.
- Kết quả từ nghiên cứu này cho thấy
giữa ĐD và BN có sự thấu hiểu nhau cao
hơn nghiên cứu của Olson and Hanchett [0]
có thể do:
+ ĐD và BN trong nghiên cứu này có
độ tuổi trung bình xấp xỉ nhau và phần lớn
các đối tượng này ở nhóm 18-29 tuổi.
+ Tính chất đặc biệt của việc chăm sóc
BN bỏng, những ĐD đang làm việc tại
khoa bỏng phải mất nhiều thời gian hơn
trong việc thực hiện chăm sóc toàn diện
cho BN bỏng, đặc biệt là việc thay băng
cho BN.
+ Nghiên cứu này được tiến hành tại
Việt Nam, một nước Châu Á. Phong cách
sống và truyền thống của người phương
Đông mang đậm dấu ấn về tình cảm gia
đình và bạn bè, nên họ dễ dàng cảm thông
với những gì mà BN đang phải chịu đựng.
6. KẾT LUẬN
Qua 56 phiếu khảo sát cho thấy những
lo âu về mặt thể chất và mặt tinh thần là
những vấn đề rất nghiêm trọng mà BN
bỏng phải đối mặt hàng ngày. Những thông
tin chung của BN và các yếu tố liên quan đến
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
154
bỏng có thể tác động đến mức độ cảm nhận
của BN bỏng về các lo âu này. Thấu hiểu
được các lo âu của BN là vấn đề rất quan
trọng cho người ĐD. Mối tương quan có ý
nghĩa thống kê giữa mức độ cảm nhận của
ĐD và BN bỏng về các lo âu liên quan đến
mặt thể chất và mặt tinh thần của BN bỏng
đỏi hỏi phải có sự tương tác từ cả hai phía
ĐD và BN.
Nghiên cứu cũng cho thấy sự đồng cảm
của ĐD về mức độ lo âu của BN tại khoa
bỏng bệnh viện Chợ Rẫy là khá cao (hơn
69%). Tuy nhiên, vẫn có một số ít ĐD chưa
thấu hiểu được BN mà họ đang chăm sóc
hàng ngày. Khắc phục được tình trạng này,
sẽ góp phần cải thiện và nâng cao chất
lượng chuyên môn ĐD và chăm sóc người
bệnh trong tương lai.
7. ĐỀ NGHỊ
- Triển khai thực hiện một chương
trình cập nhật kiến thức về các vấn đề
cảm xúc thường gặp ở các BN bỏng cho
ĐD tại khoa.
- Thường xuyên có các buổi thảo luận
để chia sẻ kinh nghiệm giữa các ĐD có
thâm niên công tác và ĐD mới.
- Cần tiến hành nhiều nghiên cứu hơn
nữa để xác định mức độ thấu cảm của ĐD
và BN về các lo âu của những BN bỏng với
cỡ mẫu lớn và đa dạng hơn.
- Cần có nhiều nghiên cứu hơn để xác
định các tác động của các yếu tố nguy cơ
tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến mức độ
cảm nhận của ĐD và BN bỏng về các lo âu
liên quan đến mặt thể chất và mặt tinh thần
của BN bỏng.
- Dựa trên kết quả từ nghiên cứu này,
có thể tiến hành các nghiên cứu can thiệp
thực nghiệm trong tương lai nhằm triển
khai mở rộng để phát hiện ra các kỹ năng
chăm sóc hiệu quả nhất cho BN.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. American International Group (2007).
National institute of burns, the Asia foundation
announce first ever comprehensive nationwide
burn prevention programin Vietnam.
2. Burn Survivor Resource Center
(2001). Burn Statistics. Retrieved May 20,
2008, from http://burnsurvivor.com/burn_
statistics.html.
3. Krichbaum, J. A., & Browning, S.
M. (2006). National Burn Repository 2005
Report. American Burn Association.
4. Loey, V., E 1, N. E., Van, S., & M 2,
M. J. (2003). Psychopathology and
psychological problems in Patient with Burn
Scars: Epidemiology and Management,
Therapy in Practice. American Journal of
Clinical Dermatology, 4(4), 245-272.
5. Muqim, R. U., Zareen, M., Dilbag,
Hayat, M., & Khan, M. I. (2007).
Epidemiology and outcome of Burns at
Khyber Teaching Hospital Peshawar.
Pakistan Journal of Medical Sciences, 23(3),
420-424.
6. Olson, J., & Hanchett, E. (1997).
Nurse-Expressed Empathy, Patient Outcomes,
and Development of a Middle-Range Theory.
Journal of Nursing Scholarship, 29(1), 71-76.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
155
7. Orlando, I. J. (1990). The dynamic
nurse-patient relationship: Function,
process and principles. New York:
National League for Nursing. (Reprinted
from 1961, New York: G. P. Putnam’s
Sons), 9-40.
8. Viện Bỏng Quốc Gia (2007). Truy
cập ngày 18 tháng 10 năm 2007 từ website
http://www.vienbongquocgia.org.vn/
vbqg.asp.
9. Wiechman, S. A., & Patterson, D. R.
(2004). Psychosocial aspects of burn
injuries. BMJ, 329:391-393.
doi:10.1136/bmj.329.7462.391.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
155
ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI ĐANG ĐIỀU TRỊ ARV
NGOẠI TRÚ VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TƯ VẤN VÀ ĐIỀU TRỊ
TẠI TRUNG TÂM Y TẾ QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI NĂM 2009
ThS. Vũ Thị Hồng Ngọc
TS. Lương Ngọc Khuê
Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá sự hài
lòng của người nhiễm HIV/AIDS đang điều
trị ARV về chất lượng dịch vụ tư vấn và
điều trị của Phòng khám ngoại trú-Trung
tâm y tế Đống Đa, năm 2009.
Phương pháp và đối tượng nghiên
cứu: mô tả cắt ngang bao gồm 105 người
đang điều trị ARV đến sử dụng dịch vụ tư
vấn và điều trị tại trung tâm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy khách hàng
chưa thật sự hài lòng với chất lượng CSSK
tại TTYT quận Đống Đa - Hà Nội với điểm
trung bình hài lòng 3,87 (dưới 4) và tỷ lệ
chưa hài lòng là 20%, trong đó: Khía cạnh
tiếp cận dịch vụ với yếu tố thời gian chờ đợi
có 03/09 mục (biến số) có điểm trung bình
hài lòng < 4; Khía cạnh giao tiếp và giúp đỡ
của nhân viên y tế, với 03/ 06 mục có điểm
trung bình hài lòng < 4; Khía cạnh giao tiếp
và giúp đỡ của bác sỹ, với 02/ 07 mục có
điểm trung bình hài lòng < 4; Khía cạnh các
vật thể hữu hình 03/06 mục có điểm trung
bình hài lòng < 4; Khía cạnh kết quả chăm
sóc sức khoẻ, với 02/ 03 mục có điểm trung
bình hài lòng < 4.
Kết quả nghiên cứu: khuyến nghị cho
các nhà quản lý và cho các cán bộ công
nhân viên tại TTYT quận Đống Đa cần xây
dựng và triển khai kế hoạch cải thiện chất
lượng chăm sóc sức khoẻ cũng như có sự
tham mưu kịp thời cho các cơ quan quản lý
cấp trên.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam, tính đến 31/3/2009 số
các trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống
là 144.483 trường hợp, số người bệnh
AIDS hiện còn sống là 30.966 và 42.477
trường hợp tử vong do AIDS [1]. Hiện nay,
số lượng người nhiễm HIV/AIDS đến các
cơ sở y tế khám và điều trị ngày một tăng,
việc đáp ứng nhu cầu của người nhiễm là
vấn đề cần thiết trong công tác chăm sóc
sức khỏe. Hoạt động tư vấn, điều trị đem
lại cơ hội cho người nhiễm kéo dài thêm
cuộc sống, giảm các chi phí cho dịch vụ
chăm sóc y tế. Tuy nhiên, chất lượng dịch
vụ tư vấn và điều trị như thế nào ? Người
bệnh có hài lòng với chất lượng này
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
156
không ? Đang là câu hỏi được các nhà quản
lý quan tâm. Có nhiều phương pháp để
đánh giá chất lượng chăm sóc sức khỏe
trong đó sự hài lòng của người bệnh khi sử
dụng dịch vụ y tế cũng là một trong những
tiêu chí quan trọng, đặc biệt là y tế cơ sở
(YTCS) [2], [3]. Hiện nay sự hài lòng của
người bệnh về chất lượng chăm sóc sức
khỏe ở tuyến YTCS chưa được quan tâm
đúng mức. Điều này dẫn đến việc cung cấp
các dịch vụ y tế chưa đáp ứng được nhu
cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân, chưa
làm cho người bệnh hài lòng trong đó có
người nhiễm HIV/AIDS.
Mục tiêu nghiên cứu: (1) Đánh giá sự
hài lòng của người nhiễm HIV/AIDS đang
điều trị ARV ngoại trú; (2) Xác định một
số yếu tố liên quan đến sự hài lòng về chất
lượng dịch vụ tư vấn và điều trị tại Phòng
khám ngoại trú điều trị HIV/ AIDS-Trung
tâm y tế quận Đống Đa - Hà Nội, năm 2009.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu: gồm 105
người nhiễm HIV/AIDS được quản lý, theo
dõi sức khoẻ, cấp phát thuốc ARV, khám,
xét nghiệm, tư vấn, điều trị tại phòng khám
ngoại trú điều trị HIV/AIDS - Trung tâm y
tế Đống Đa - Hà Nội
2. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.
3. Thời gian, địa điểm nghiên cứu:
Từ tháng 6/2009 đến tháng 9 /2009 tại
Phòng khám ngoại trú điều trị HIV/ AIDS -
TTYT quận Đống Đa.
4. Cỡ mẫu: Toàn bộ 105 đối tượng
nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV trong
diện quản lý của TTYT.
5. Bộ công cụ đánh giá: Bộ câu hỏi
phỏng vấn có cấu trúc sử dụng thang đo
Likert với thang điểm từ 1 (rất không hài
lòng) đến 5 (rất hài lòng). Bộ câu hỏi đã
được tiến hành thử nghiệm trên 30 người
đang điều trị ARV miễn phí tại TTYT quận
Hoàn Kiếm để xác định độ tin cậy của
thang đo thông qua hệ số Cronbach’s
Alpha.
6. Phân tích và xử lý số liệu: Số liệu
được nhập với phần mềm Epi Data 3.1 và
được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi, giới, trình độ học vấn và nghề nghiệp
Đặc điểm Số lượng (n = 105) Tỷ lệ (%)
Giới
Nam 73 69,5
Nữ 32 30,5
Độ tuổi
Dưới 30 tuổi 36 34,3
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
157
Từ 30 đến 40 tuổi 58 55,2
Trên 40 tuổi 11 10,5
Trình độ học vấn
Tiểu học 5 4,8
THCS 46 43,8
PTTH 44 41,8
Trung cấp, cao đẳng, đại học 10 9,6
Nghề nghiệp
Học sinh, sinh viên 2 1,9
Công nhân/CB nhà nước 5 4,8
Ở nhà/ Nội trợ 9 8,6
Lao động tự do 89 84,7
Nhận xét: Nam giới chiếm tỷ lệ cao
hơn rất nhiều đối tượng nghiên cứu là nữ,
tương ứng là 69,5% và 30,5% (gấp ≈ 2,3
lần), đối tượng trong độ tuổi 30-40 là cao
nhất chiếm tỷ lệ 55,2%. Đối tượng nghiên
cứu chủ yếu là học hết THCS (43,8%) và
THPT (41,8%) cao hơn rất nhiều so với các
đối tượng học đến cao đẳng và đại học
(8,6%). Đối tượng nghiên cứu là lao động
tự do chiếm tỷ lệ cao nhất 84,7%.
2.9
97.1
23.8
76.2
25.7
74.3
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Đăng ký tư vấn Đợi tư vấn Được tư vấn
Chưa hài lòng Hài lòng
Biểu đồ 1: Tỷ lệ sự hài lòng của khách hàng với thời gian tiếp cận dịch vụ tư vấn
Nhận xét: Sự hài lòng của khách hàng
với thời gian được tư vấn là thấp nhất
(74,3%) và với thời gian được đăng ký tư
vấn là cao nhất (97,1%).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
158
18.1
81.9
19
81
36.2
63.8
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Đăng ký khám Đợi được khám Được khám
Chưa hài lòng Hài lòng
Biểu đồ 2: Tỷ lệ sự hài lòng của khách hàng với thời gian tiếp cận dịch vụ khám bệnh
Nhận xét: Sự hài lòng của khách hàng
với thời gian được khám là thấp nhất chỉ
chiếm 63,8% và điểm trung bình sự hài
lòng là 3,64 thấp hơn điểm trung bình sự
hài lòng của khách hàng với thời gian chờ
đợi đăng ký khám là 4,31 và thời gian chờ
đợi để được khám là 4,3.
Bảng 2: Sự hài lòng của khách hàng với sự giao tiếp và giúp đỡ của nhân viên y tế
TT Nội dung/ Sự HL với N
Điểm
TB
Độ lệch
chuẩn
1 Thái độ của NVYT tại phòng đăng ký tư vấn 105 4,48 0,72
2 Sự hướng dẫn của NVYT tại phòng tư vấn 105 4,05 0,61
3 Thái độ của NVYT tại phòng đăng ký xét nghiệm 105 4,49 0,77
4
Sự hướng dẫn của NVYT tại phòng đăng ký xét
nghiệm
105 3,90 0,67
5 Thái độ của điều dưỡng tại phòng khám bệnh 105 3,66 0,47
6
Hướng dẫn các thủ tục của điều dưỡng tại phòng
KB
105 3,81 0,68
Nhận xét: Có 3 yếu tố có điểm trung
bình sự hài lòng của khách hàng lớn hơn 4
là “thái độ của nhân viên y tế tại phòng
đăng ký tư vấn” (4,48
đ
); “hướng dẫn của
nhân viên y tế tại phòng tư vấn” (4,05
đ
);
“thái độ của nhân viên y tế tại phòng đăng
ký xét nghiệm” (4,49
đ
).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
159
Bảng 3: Sự hài lòng của khách hàng với giao tiếp và giúp đỡ của bác sỹ.
TT Nội dung/ Sự HL với Mẫu
Điểm
TB
Độ lệch
chuẩn
1 Thái độ của BS tại PKNT 105 4,33 0,8
2 Cách thăm khám của BS 105 4,47 0,69
3 Sự giải thích tình trạng bệnh tật của BS 105 3,87 0,34
4 Sự hướng dẫn về chế độ điều trị của BS 105 4,58 0,61
5 Sự hướng dẫn về sử dụng thuốc của BS 105 4,44 0,72
6 Sự hướng dẫn của BS/ KTV trước khi làm XN, CĐHA 105 4,59 0,63
7 Sự giải thích về kết quả XN, CĐHA của BS 105 3,78 0,41
Nhận xét: Hai tiểu mục “Sự giải thích
tình trạng bệnh tật của bác sỹ” và “Sự giải
thích về kết quả xét nghiệm, chẩn đoán hình
ảnh của bác sỹ” có điểm trung bình hài
lòng < 4. Các tiểu mục khác đều có điểm
trung bình hài lòng > 4.
Bảng 4: Sự hài lòng của khách hàng về vật thể hữu hình
TT Nội dung/ Sự HL với N
Điểm
TB
Độ lệch
chuẩn
1 Sự sạch sẽ của CSVC tại PKNT 105 3,75 0,45
2 Sự sạch sẽ của TTB/ y dụng cụ tại PKNT 105 4,53 0,63
3 Sự sạch sẽ của CSVC tại phòng xét nghiệm 105 4,52 0,65
4 Sự sạch sẽ của TTB/ dụng cụ tại phòng xét nghiệm 105 4,5 0,63
5 Tình trạng nhà vệ sinh tại PKNT 105 3,5 0,62
6 Tính liên hoàn giữa các phòng TV-XN-KB 105 3,59 0,53
Môi trường chung của PKNT 105 3,69 0,54
Nhận xét: Có 3/6 tiểu mục có điểm
trung bình hài lòng dưới 4, trong đó thấp
nhất là tiểu mục “Tình trạng nhà vệ sinh”
và “Tính liên hoàn giữa các phòng”. Điểm
hài lòng về môi trường chung của khách
hàng là: 3,69 (dưới 4).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
160
Bảng 5: Sự hài lòng của khách hàng về kết quả chăm sóc sức khỏe
TT Nội dung/Sự HL với N
Điểm
TB
Độ lệch
chuẩn
1 Những nội dung tư vấn của bác sỹ 105 3,97 0,51
2 Kết quả khám của bác sĩ 105 4,48 0,65
3 Kết quả điều trị của bác sĩ 105 3,77 0,42
Nhận xét: Yếu tố kết quả chăm sóc sức khỏe bao gồm 3 tiểu mục trong đó có 2/3 tiểu
mục có điểm trung bình hài lòng < 4.
36.2
63.8
36.2
63.8
19
81
35.2
64.8
28.6
71.4
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Sự tiếp
cận dịch
vụ
Giao tiếp
và giúp đỡ
của NVYT
Giao tiếp
và giúp đỡ
của BS
Vật thể
hữu hình
Kết quả
CSSK
Chưa hài lòng Hài lòng
Biều đồ 3: Sự hài lòng của khách hàng với các yếu tố
Nhận xét: Kết quả phân tích cho thấy tỷ
lệ chưa hài lòng của khách với các yếu tố
“sự tiếp cận dịch vụ” (36,2%), “giao tiếp
và giúp đỡ của NVYT” (36,2%) và “vật thể
hữu hình” (35,2%) là thấp nhất; “giao tiếp
và giúp đỡ của bác sỹ” - yếu tố có tỷ lệ hài
lòng cao nhất: 81%.
20
80
Chưa hài lòng Hài lòng
Biểu đồ 4: Đánh giá chung về mức độ hài lòng của khách hàng
Nhận xét: Kết quả đánh giá chung cho
thấy 80% khách hàng hài lòng với tư vấn
và điều trị ARV ở đây và có 20% khách
hàng chưa hài lòng, không có trường hợp
khác. Điểm trung bình hài lòng chung của
khách hàng đạt 3,87 (dưới 4).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
161
4. BÀN LUẬN
Nghiên cứu được thực hiện qua 105
người hiện đang điều trị ARV tại TTYT
quận Đống Đa - Hà Nội năm 2009 với gần
70% là nam lớn hơn gấp 2 lần nữ giới. Độ
tuổi trung bình của các khách hàng là 33
tuổi, trong đó có 34,3% là những người
dưới 30 tuổi và có 34,3% là những người
chưa từng kết hôn. Có thể nói những khách
hàng điều trị ARV tại TTYT quận Đống Đa
là những người trong độ tuổi lao động
chính trong gia đình, đây là nhóm tuổi rất
quan trọng có nhiều cống hiến nhất cho xã
hội, nam giới đông hơn nữ giới. Có đến 1/3
trong số họ là những người trong độ tuổi
xây dựng gia đình nhưng chưa từng kết
hôn. Phải chăng khi biết mình nhiễm HIV
họ đã chủ động không kết hôn?
Sự hài lòng của khách hàng với sự tiếp
cận dịch vụ: Đánh giá chung cho thấy
khách hàng chưa hài lòng với thời gian
được tư vấn, thời gian được chăm sóc sức
khoẻ (có điểm trung bình hài lòng dưới 4).
Đây là thời gian khách hàng thực sự được
hưởng dịch vụ sau những thời gian chờ đợi,
họ là những người bệnh nhạy cảm và rất dễ
mắc nhiều bệnh nên họ mong muốn được
sử dụng các dịch vụ nhiều hơn đặc biệt là
tư vấn và khám bệnh.
Sự hài lòng của khách hàng với sự giao
tiếp và giúp đỡ của NVYT: Nói chung
khách hàng vẫn chưa thật sự hài lòng với
giao tiếp và giúp đỡ của nhân viên y tế ở
một số điểm đó là: sự hướng dẫn của
NVYT tại phòng đăng ký xét nghiệm, thái
độ và sự hướng dẫn của điều dưỡng về các
thủ tục tại phòng khám bệnh. Điểm trung
bình hài lòng của khách hàng đối với thái
độ của NVYT tại phòng xét nghiệm trong
nghiên cứu này (4,49) cao hơn với điểm
trung bình hài lòng của khách hàng đối với
thái độ của NVYT tại phòng xét nghiệm
trong nghiên cứu của Phạm Nhật Yên
(2008) [5] tại bệnh viện Bạch Mai (4,2) và
của Nguyễn Đức Thành (2006) [4] tại các
bệnh viện tình Hòa Bình (3,84). Kết quả
này gợi ý những can thiệp nâng cao chất
lượng CSSK trong tương lai cần chú trọng
tới việc đào tạo cho nhân viên y tế về chất
lượng phục vụ và kỹ năng giao tiếp với
người bệnh. Bên cạnh đó, cần phải tích cực
theo dõi và thu nhận thông tin từ phía
khách hàng để phát hiện và xử lý các hành
vi, thái độ không tốt của NVYT, đồng thời
khuyến khích, tuyên dương và khen thưởng
những NVYT tích cực.
Sự hài lòng của khách hàng với sự giao
tiếp và giúp đỡ của bác sỹ: khách hàng vẫn
chưa thực sự hài lòng với thái độ của bác
sỹ, do đó cũng tương tự như trên ngoài biện
pháp tăng cường đào tạo về giao tiếp thì
cũng cần tăng cường theo dõi và lắng nghe
sự phản hồi từ phía khách hàng để có sự
quản lý, điều chỉnh và xử lý cũng như
tuyên dương, khen thưởng một cách hợp lý.
Sự hài lòng của khách hàng với vật thể
hữu hình: Điểm trung bình hài lòng về các
yếu tố hữu hình trong nghiên cứu này đều
thấp hơn so với nghiên cứu của Phạm Nhật
Yên (2008), tuy nhiên lại cao hơn với một
số mục tương ứng trong nghiên cứu của
Nguyễn Đức Thành (2006) [4]. Nhà vệ sinh
tại các cơ sở khám chữa bệnh nói chung
còn là nơi để khách hàng lấy mẫu xét
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
162
nghiệm (như nước tiểu) do đó ở một khía
cạnh nào đó nó cũng là một phòng chức
năng nên nó là một trong những điều kiện
cần đảm bảo tốt để phục vụ khách hàng
Sự hài lòng của khách hàng với kết quả
CSSK: Có 2/3 mục mà điểm trung bình sự
hài lòng của khách hàng là thấp dưới 4, đó
là những nội dung tư vấn (3,97) và kết quả
điều trị của bác sỹ (3,77). Kết quả này cho
thấy, khách hàng cũng chưa thật sự hài
lòng với kết quả điều trị của bác sỹ. Tuy
nhiên ở một khía cạnh khách quan thì cũng
cho thấy việc tư vấn của bác sỹ là chưa
thực sự tốt đã làm ảnh hưởng đến sự hài
lòng của khách hàng đối với kết quả CSSK.
Sự hài lòng của khách hàng với các yếu
tố và mức độ hài lòng chung: Đánh giá theo
từng thành tố thì tỷ lệ hài lòng với “tiếp cận
dịch vụ” và “giao tiếp và giúp đỡ của
NVYT” là thấp nhất 63,8%; yếu tố “vật thể
hữu hình” có tỷ lệ hài lòng cao hơn một
chút 64,8%, tiếp đến là yếu tố “kết quả
CSSK” 71,4% và cao nhất là yếu tố “giao
tiếp và giúp đỡ của bác sỹ” 81%. Tuy
nhiên, tỷ lệ hài lòng với chất lượng CSSK
xét chung đạt tương đối cao 80%. Kết quả
này có khác về thứ tự xếp hạng sự hài lòng
với các yếu tố theo nghiên cứu của Phạm
Nhật Yên (2008) tại bệnh viện Bạch Mai,
theo Phạm Nhật Yên thứ tự từ thấp lên cao
là: “tiếp cận dịch vụ” - 30,1%; “vật thể hữu
hình” - 53,1%; “kết quả CSSK” - 69,8%;
“tương tác với bác sỹ” - 81,3%; “tương tác
với NVYT” - 83,7%; và tỷ lệ hài lòng
chung với chất lượng khám chữa bệnh đạt
rất cao 91,7% [5].
KẾT LUẬN: Tỷ lệ khách hàng chưa
thật sự hài lòng với chất lượng CSSK tại
TTYT quận Đống Đa - Hà Nội là 20%,
trong đó: Khía cạnh tiếp cận dịch vụ với
yếu tố thời gian chờ đợi, với 03 mục/biến
số có điểm trung bình hài lòng < 4 (từ 3,64
đến 3,87); Khía cạnh giao tiếp với nhân
viên, với 03 mục/biến số có điểm trung
bình hài lòng cao < 4 (từ 3,66 đến 3,9);
Khía cạnh giao tiếp với bác sỹ, với
02 mục/biến số có điểm trung bình hài lòng
< 4 (từ 3,78 đến 3,87); Khía cạnh các vật
thể hữu hình 04 mục/biến số có điểm trung
bình hài lòng < 4 (từ 3,50 đến 3,75), đây là
khía cạnh mà khách hàng không hài lòng
nhất; Khía cạnh kết quả chăm sóc sức khoẻ,
với 02/ 03 mục/biến số có điểm trung bình
hài lòng < 4 (từ 3,77 đến 3,97), cũng cho
thấy khách hàng chưa thật sự hài lòng. Cần
phải làm tốt hơn nữa công tác tư vấn, giải
thích cũng như khuyến khích khách hàng
đặc biệt là với những khách hàng dễ tổn
thương như những người bệnh nhiễm
HIV/AIDS.
5. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục phòng chống HIV/AIDS
(2009), Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS
quý 1/2009, Số 2955/BYT- AIDS, Hà Nội,
ngày 14 tháng 5 năm 2009.
2. Ngô Thị Ngoãn, Nguyễn Kim
Loan, Nguyễn Minh Hằng, Phạm Thu
Hà, Đào Thị Vui, Lê Thị Mão & CS
(2002), Kết quả nghiên cứu sự hài lòng của
người bệnh tại các khoa khám bệnh của 5
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
163
bệnh viện khu vực Hà Nội và các tỉnh, Kỷ
yếu các đề tài nghiên cứu khoa học điều
dưỡng, Hội nghị khoa học điều dưỡng toàn
quốc lần thứ nhất, tr. 20-2.
3. Vũ Văn Quốc & Cộng sự (2005),
Đánh giá sự hài lòng của gia đình người
bệnh tại bệnh viện Trẻ em - Hải Phòng, Kỷ
yếu các đề tài nghiên cứu khoa học điều
dưỡng toàn quốc lần thứ II, tr. 193-197.
4. Nguyễn Đức Thành (2006), Nghiên
cứu sự hài lòng của người bệnh nội trú về
chất lượng chăm sóc sức khỏe tại các bệnh
viện tỉnh Hòa Bình, Trường Đại học Y tế
Công cộng, Hà Nội.
5. Phạm Nhật Yên (2008), Đánh giá
sự hài lòng của người bệnh về chất
lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại khoa
Khám, chữa bệnh theo yêu cầu của Bệnh
viện Bạch Mai năm 2008, Luận văn
Thạc sĩ Y tế công cộng, Đại học Y tế
công cộng, Hà Nội.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
164
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA
ĐIỀU DƯỠNG, HỘ SINH VỚI NGƯỜI BỆNH TẠI CÁC BỆNH VIỆN
TRONG NGÀNH Y TẾ NINH BÌNH NĂM 2008-2009.
CN. Bùi Thị Thu Hà và cộng sự
Hội Điều dưỡng tỉnh Ninh Bình
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giao tiếp là nhu cầu không thể thiếu
được trong đời sống xã hội, là sự trao đổi,
tiếp xúc qua lại giữa những cá thể, nhờ giao
tiếp mà chúng ta thu thập được thông tin,
mang lại hiệu quả và sự thành công cho
mọi công việc.
Cán bộ y tế nói chung và Điều dưỡng -
Hộ sinh nói riêng, giao tiếp giúp chia sẻ
thông tin, mang lại hiệu quả rất lớn trong
cuộc sống và trong công tác. Tuy nhiên,
giao tiếp cũng là yếu tố ảnh hưởng không
nhỏ đến sự hài lòng của con người trong xã
hội cũng như người bệnh. Tại các cơ sở y
tế, kỹ thuật y học không thể thay thế được
giao tiếp nhưng nếu chất lượng giao tiếp tốt
sẽ tăng được sự hài lòng của người bệnh.
Khi người bệnh đến khám và điều trị
thì điều dưỡng là người tiếp xúc với người
bệnh từ khi tiếp đón đến khi ra viện, giao
tiếp khởi đầu cho mọi hoạt động chăm sóc,
là yếu tố cơ bản thiết lập quan hệ Điều
dưỡng-Người bệnh, góp phần vào hiệu quả
chăm sóc của người Điều dưỡng và thể
hiện văn hoá nghề nghiệp.
Vì vậy nâng cao kỹ năng giao tiếp, văn
hoá nghề nghiệp của nhân viên Y tế đang là
một vấn đề nhạy cảm và rất được quan tâm
trong ngành y tế. Tuy nhiên, trong quá trình
thực hiện, đôi lúc, đôi nơi còn một số
CBVC giao tiếp, ứng xử chưa tốt để lại sự
phàn nàn của xã hội, sự chưa hài lòng của
người bệnh, gia đình người bệnh mà chủ
yếu là thiếu sót về tinh thần thái độ phục
vụ, giao tiếp, ứng xử.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của giao
tiếp, ứng xử với người bệnh nên trong
những năm qua, đặc biệt là năm 2009, Sở
Y tế Ninh Bình đã đặc biệt quan tâm đến
công tác này và đã mở nhiều lớp tập huấn
để nâng cao nhận thức và kỹ năng giao tiếp
cho cán bộ công nhân viên trong toàn
ngành Y tế của tỉnh nói chung và của điều
dưỡng, hộ sinh nói riêng. Nghiên cứu này
nhằm đánh giá hiệu quả đào tạo về kỹ năng
giao tiếp sau đào tạo của Điều dưỡng - Hộ
sinh với người bệnh tại các bệnh viện trong
ngành y tế Ninh Bình.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Người bệnh nằm điều trị nội trú từ 05
ngày trở lên tại các bệnh viện, đồng ý tham
gia hợp tác.
- Điều dưỡng, hộ sinh trong biên chế
tại các bệnh viện trong ngành y tế Ninh
Bình và được tham gia đào tạo, tập huấn kỹ
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
165
năng giao tiếp.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu: tại các
bệnh viện trong ngành Y tế Ninh Bình
gồm: 03 Bệnh viện tuyến tỉnh và 07 Bệnh
viện tuyến huyện.
2.2.2. Thời gian nghiên cứu: từ tháng
3/2008 đến tháng 10/2009.
2.3. Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên
cứu can thiệp.
2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho
một tỷ lệ
- ( )
2
2
pq
n = Z 1- α / 2
d
- p = 0,5 (tỷ lệ Điều dưỡng - Hộ sinh
không đạt về KNGT với NB)
- q = 1-0,5 = 0,5
- Z(1-/2) = 1,96
- d = 0,05 (sai số chấp nhận được)
Thay số vào ÷ n = 384.
Trên thực tế chúng tôi đã phỏng vấn 400
người bệnh và 384 điều dưỡng, hộ sinh.
2.3.3. Công cụ thu thập số liệu
- Bộ câu hỏi phỏng vấn điều dưỡng, hộ
sinh gồm 10 mục, trong đó 04 mục là
thông tin về thái độ tiếp đón, giao tiếp; 06
mục là thông tin về sự quan tâm chia sẻ của
điều dưỡng, hộ sinh với người bệnh.
- Bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh
gồm 17 mục, trong đó có 01 mục là thông
tin về hành chính, 15 mục là thông tin về
vấn đề giao tiếp và thái độ phục vụ, 01 mục
là thông tin về ý kiến đóng góp của người
bệnh
2.3.4. Phương pháp thu thập số liệu
- Mỗi người bệnh chỉ tham gia phỏng
vấn một lần duy nhất.
- Phỏng vấn điều dưỡng, hộ sinh trước
và sau đào tạo.
2.3.5. Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập được làm sạch
(có một số phiếu bị loại vì thiếu thông tin)
và xử lý bằng chương trình EpiInfo 6.0.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Thực trạng giao tiếp của điều dưỡng với người bệnh
0
20
40
60
80
100
KS lÇn 1 KS lÇn 2
Chu ®¸o
niÒm në
B×nh th- êng
Thê ¬ l¹nh
lïng
81,75
17
1,25
90
9,74
0,26
Biểu đồ 1. Thái độ đón tiếp của ĐD khi người bệnh đến khám và điều trị.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
166
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
167
Biểu đồ 1 cho thấy thái độ của Điều
dưỡng khi tiếp đón người bệnh có sự
khác biệt tại 2 lần khảo sát: Chu đáo
niềm nở tăng 8,25%; thờ ơ lạnh lùng
giảm 0,99%.
Bảng 1. Tỷ lệ người bệnh được hướng dẫn những vấn đề cần thiết
Khảo sát lần 1 (n = 400) Khảo sát lần 2 (n = 390)
Nội dung
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Thủ tục hành chính 391 97,75 390 100
Sử dụng các thiết bị trong BB 336 84 357 91,54
Chế độ ăn uống 345 86,25 367 94,10
Công khai thuốc 394 98,5 390 100
Trước khi làm thủ thuật 387 96,75 390 100
Bảng 1 chỉ rõ vấn đề giải thích, hướng
dẫn một số nội dung cần thiết cho người
bệnh khi nằm điều trị tại bệnh viện có sự
thay đổi theo chiều hướng tích cực, các tiêu
chí so với lần khảo sát trước đào tạo (khảo
sát 1) đều tăng, đặc biệt về: thủ tục hành
chính, công khai thuốc và hướng dẫn cách
sử dụng thuốc, giải thích trước khi làm thủ
thuật trong lần khảo sát sau đào tạo (khảo
sát 2) đều đạt 100%.
0
20
40
60
80
100
KS lÇn 1 KS lÇn 2
tho¶ ®¸ng
kh«ng tho¶ ®¸ng
kh«ng tr¶ lêi
90
8
2
96,93
2,56
0,51
Biểu đồ 2. Đánh giá của người bệnh về mức độ trả lời của ĐD khi được hỏi.
Biểu đồ 2 cho thấy khi có những vấn
đề vướng mắc, người bệnh hỏi được
Điều dưỡng trả lời thoả đáng so với khảo
sát 1 tăng 6,93%; chỉ còn 0,51% người
bệnh cho rằng điều dưỡng không trả lời
khi họ hỏi.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
168
0
20
40
60
80
100
b¸c sü
®iÒu d- ìng
HS, SV
100 100
86
14,5
96,67
7,69
Biểu đồ 3. Giải thích cho người bệnh về bệnh tật
Biểu đồ 3 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng
giải thích, hướng dẫn, GDSK cho người
bệnh tăng 10,76% so với lần khảo sát 1.
Bảng 2. Tỷ lệ số lần tiếp xúc của điều dưỡng với người bệnh trong 1 ngày
Khảo sát lần 1 (n = 400) Khảo sát lần 2 (n = 384)
Nội dung
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Không lần nào 3 0,75 0 0
01 lần 22 5,5 7 1,82
02 lần 133 33,25 123 32,03
03 lần trở lên 242 60,5 254 66,15
Bảng 2 cho thấy thời gian điều
dưỡng/hộ sinh tiếp xúc với người bệnh
trong một ngày từ 3 lần trở lên tăng 5,65%;
không có bệnh nhân nào không được tiếp
xúc với điều dưỡng/hộ sinh.
78
80
82
84
86
88
90
92
94
96
98
100
C¶m th«ng BiÕt tªn §DCS ko g©y phiÒn hµ
KS lÇn 1
KS lÇn 2
86,5
94,41
93,5
98,46
88,25
96,67
Biểu đồ 4. Tỷ lệ người bệnh được điều dưỡng cảm thông chia sẻ về bệnh tật
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
169
Tỷ lệ người bệnh biết tên điều dưỡng chăm sóc mình và được cảm thông chia sẻ đều
tăng so với lần KS 1.
Bảng 3. Tỷ lệ nhân viên y tế gây phiền hà cho người bệnh
Khảo sát lần 1 (n = 400) Khảo sát lần 2 (n = 390)
Nội dung
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Bác sỹ 5 1,25 3 0,77
Điều dưỡng 20 5 4 1,03
Hộ lý 6 1,5 3 0,77
Học sinh, sinh viên 16 4 4 1,03
Bảng 3 cho thấy tại lần khảo sát 1 thì
điều dưỡng là người gây phiền hà cho
người bệnh nhất: 5%. Tại lần khảo sát 2 tuy
rằng tỷ lệ có giảm 3,96% nhưng điều
dưỡng và hộ lý vẫn là người gây phiền hà
cho người bệnh nhất.
0
10
20
30
40
50
60
rÊt hµi lßng hµi lßng b×nh th- êng ch- a hµi lßng
kh¶o s¸t lÇn 1
kh¶o s¸t lÇn 2
38,75
39
15,5
6,75
44,87
48,21
4,1
2,82
Biểu đồ 5. Mức độ hài lòng của NB khi nằm viện về thái độ ứng xử của ĐD
Biểu đồ 5 cho biết mức độ hài lòng của
người bệnh khi nằm viện có sự khác biệt
giữa KS lần 1 và KS lần 2: Rất hài lòng
tăng 9,21%; hài lòng tăng: 6,12% ; đặc biệt
tỷ lệ không hài lòng mặc dù giảm 3,93%
nhưng vẫn còn 2,82% người bệnh cho rằng
không hài lòng khi nằm viện.
Bảng 4. Nhận thức của Điều dưỡng, Hộ sinh trước và sau đào tạo KNGT (n=384)
Rất tốt Tốt Khá Trung bình
Nội dung Trước
(%)
Sau
(%)
Trước
(%)
Sau
(%)
Trước
(%)
Sau
(%)
Trước
(%)
Sau
(%)
1. Đón tiếp và hướng dẫn người bệnh
kịp thời, chu đáo.
127
(33)
165
(43)
144
(37,5)
200
(52)
67
(17,4)
19
(4,9)
46
(12)
0
2. Khi giao tiếp với người bệnh bắt
đầu với câu nói có chủ ngữ: thưa
Ông, Bà, Anh, Chị…
173
(45)
188
(49)
157
(40,9)
185
(48,1)
44
(11,5)
11
(2,9)
10
(2,6)
0
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
170
Rất tốt Tốt Khá Trung bình
Nội dung Trước
(%)
Sau
(%)
Trước
(%)
Sau
(%)
Trước
(%)
Sau
(%)
Trước
(%)
Sau
(%)
3. Sử dụng cụm từ phù hợp: Xin
mời, làm ơn, xin lỗi, cảm ơn… khi
giao tiếp.
78
(20)
127
(33)
116
(30)
244
(63,5)
124
(32,3)
13
(3,4)
65
(16,9)
0
4. Sẵn sàng giúp đỡ người bệnh với
tinh thần trách nhiệm cao.
134
(35)
149
(39)
211
(54,9)
224
(58,3)
27
(7)
11
(2,9)
12
(2,1)
0
5. Giải thích rõ ràng, có sự cảm
thông với người bệnh khi chăm sóc
và làm các thủ thuật.
193
(50,3)
233
(60,7)
133
(34,6)
140
(36,5)
45
(11,7)
11
(2,9)
13
(3,4)
0
6. Lắng nghe người bệnh nói, tỏ
thái độ, cử chỉ hành động quan tâm
để người bệnh tin tưởng và an tâm
điều trị
165
(43)
180
(46,9)
179
(46,6)
199
(51,8)
18
(4,7)
5
(1,3)
22
(5,7)
0
7. Trả lời người bệnh, người nhà với
thái độ nhẹ nhàng, đúng mực.
171
(44,5)
224
(58)
142
(37)
156
(40,6)
45
(11,7)
4
(1)
26
(6,8)
0
8. Không thờ ơ hay cáu gắt với người
bệnh trong bất kỳ tình huống nào.
188
(49)
234
(60,9)
100
(26)
131
(34,1)
84
(21,9)
11
(2,9)
12
(3,1)
8
(2)
9. Hướng dẫn đầy đủ chế độ ăn uống
cho người bệnh
125
(32,6)
163
(42,4)
109
(28)
133
(34,6)
81
(21,1)
65
(16,9)
69
(18)
23
(6)
10. Giới thiệu tên mình cho người bệnh,
người nhà người bệnh.
127
(33)
129
(33,6)
173
(45)
205
(53,4)
57
(14,8)
38
(9,9)
27
(7)
12
(3,1)
148 179 146 182 59,2 18,8 30 4,3
Trung bình
(38,6) (46,7) (38,1) (47,3) (15,4) (4,9) (7,86) (1,1)
Bảng 4 cho biết trước và sau đào tạo
các tiêu chí phỏng vấn điều dưỡng đánh giá
là tốt và rất tốt tăng đều tăng; các tiêu chí
đạt khá và trung bình đã giảm; không có
tiêu chí nào đạt loại yếu.
- Tiêu chí tăng cao nhất: Tiêu chí số 1, 3.
- Tuy nhiên đạt mức độ trung bình vẫn
còn khoảng 6% ở tiêu chí hướng dẫn đầy
đủ chế độ ăn cho người bệnh; 3,1% giới
thiệu tên của mình cho người bệnh và
người nhà người bệnh.
4. BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 790 người bệnh/người
nhà người bệnh và đánh giá 384 điều
dưỡng, hộ sinh về kiến thức về kỹ năng
giao tiếp với người bệnh trước và sau đào
tạo, có thể thấy rằng vấn đề đào tạo, tập
huấn về kỹ năng giao tiếp cho điều dưỡng,
hộ sinh đóng vai trò quan trọng vì đã nâng
cao được chất lượng giao tiếp của điều
dưỡng, hộ sinh tại các cơ sở khám chữa
bệnh trong ngành y tế Ninh Bình. Từ kết
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
171
quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết
luận sau:
1. Thực trạng về vấn đề giao tiếp của
điều dưỡng, hộ sinh với người bệnh tại các
bệnh viện trong ngành Y tế Ninh Bình nhìn
chung cơ bản là tốt, tuy nhiên vẫn còn có
6,75% người bệnh cho rằng chưa hài lòng.
Qua nghiên cứu chúng ta thấy rằng vấn đề
giao tiếp của điều dưỡng, hộ sinh nói riêng
là yếu tố hết sức quan trọng trong công tác
chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Nó
phản ánh đúng thực trạng những gì mà điều
dưỡng, hộ sinh đã và chưa làm được. Với
kết quả trên khẳng định rằng vấn đề giao
tiếp đang là nhu cầu thiết yếu đặt ra và phải
được duy trì thực hiện thường xuyên.
- Về tinh thần thái độ của điều dưỡng,
hộ sinh: chủ yếu người bệnh (81,75%)
người bệnh đánh giá là chu đáo, niềm nở.
Tuy nhiên vẫn còn 1,25% cho là thờ ơ, vô
cảm trước người bệnh.
- Người bệnh đã được giải thích, hướng
dẫn về thủ tục hành chính; nội quy bệnh
viện; chế độ ăn uống; công khai thuốc,
cách sử dụng thuốc và trước khi làm thủ
thuật. Các tiêu chí trên đều đạt từ 84-98,5%
như vậy người bệnh đã được sự quan tâm
và hướng dẫn những vấn đề cần thiết khi
nằm viện. Tuy nhiên vẫn còn có người
bệnh chưa được quan tâm đúng mức.
- Có 5% người bệnh cho rằng điều
dưỡng, hộ sinh gây phiền hà cho họ.
- Giao tiếp của điều dưỡng, hộ sinh đáp
ứng tương đối tốt với sự hài lòng, rất hài
lòng của người bệnh. Chỉ có 6,75% số
người bệnh được hỏi là không hài lòng. Như
vậy chúng ta cần phải có nỗ lực hơn nữa để
nâng cao tỷ lệ sự hài lòng của người bệnh.
2. Hiệu quả sau đào tạo tập huấn về
kỹ năng giao tiếp cho điều dưỡng, hộ
sinh với người bệnh
Kết quả khảo sát về tinh thần thái độ
với người bệnh và nhận thức, kiến thức về
kỹ năng giao tiếp của điều dưỡng, hộ sinh
sau khi được đào tạo về kỹ năng giao tiếp
cho thấy mọi tiêu chí đều có sự thay đổi
tích cực cụ thể:
- Kiến thức về kỹ năng giao tiếp của
điều dưỡng, hộ sinh có sự thay đổi đáng kể.
Sau đào tạo tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh tự
đánh giá với mức độ tốt và rất tốt đạt đạt
trên 94% tăng 17,3%; mức độ trung bình
giảm 6,6%.
+ Kết quả khảo sát lần 2 với 390 người
bệnh cho thấy:
+ Người bệnh được tiếp đón chu đáo
niềm nở hơn: đạt 90% chỉ còn 0,26% tỏ ra
thờ ơ, vô cảm với người bệnh.
+ Tỷ lệ người bệnh được giải thích,
hướng dẫn về thủ tục hành chính, công khai
thuốc và cách sử dụng; trước khi làm thủ
thuật đều đạt 100%.
+ Sự hài lòng, rất hài lòng của người
bệnh đã đạt tới 93,08%.
Qua đây cho chúng ta thấy rằng vấn đề
giao tiếp của điều dưỡng, hộ sinh là yếu tố
rất quan trọng. Giao tiếp tốt sẽ giúp chúng
ta thu thập thông tin từ phía người bệnh, nó
phản ánh được tâm tư, nguyện vọng chính
đáng của người bệnh khi họ đến khám và
điều trị tại bệnh viện, từ đó sẽ giúp cho việc
chẩn đoán, điều trị, chăm sóc được tốt hơn,
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
172
sẽ hình thành mối quan hệ mật thiết, gần
gũi giữa điều dưỡng, hộ sinh với người
bệnh. Họ cảm nhận được tôn trọng, được
quan tâm, được chia sẻ, được cảm thông …
đó chính là liều thuốc bổ quí giá nhất giúp
họ tin tưởng, yên tâm điều trị và nhanh
chóng hồi phục sức khoẻ. Vì vậy chúng ta
cần luôn phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện và
trau dồi kiến thức về chuyên môn cũng như
giao tiếp để thể hiện nét đẹp văn minh
trong giao tiếp, ứng xử nhằm đáp ứng tốt
hơn nữa sự hài lòng của người bệnh và
nâng cao chất lượng chăm sóc, tạo dựng uy
tín nghề nghiệp, sự cảm thông sâu sắc của
người bệnh, nhân dân đối với cán bộ y tế
nói chung và điều dưỡng nói riêng.
5. KHUYẾN NGHỊ
5.1. Đối với các cấp lãnh đạo
- Có giải pháp để giảm tải số lượng
người bệnh đến khám và điều trị vượt tuyến
tại các cơ sở y tế bằng cách tăng cường hoạt
động có chất lượng tại tuyến cơ sở.
- Bổ sung, tăng thêm biên chế kịp thời
để có đủ nhân lực làm việc cũng như trang
thiết bị phù hợp.
- Có đầu tư về kinh phí cho hoạt động
nâng cao kỹ năng giao tiếp của nhân viên y
tế: đào tạo tập huấn thường xuyên dưới
nhiều hình thức; tổ chức Hội thi về nét đẹp
trong giao tiếp ứng xử, văn hoá nghề
nghiệp tại các cơ sở khám chữa bệnh.
- Có đánh giá định kỳ về chất lượng
giao tiếp của nhân viên y tế nói chung, với
điều dưỡng, hộ sinh nói riêng để có những
biện pháp thích hợp nâng cao chất lượng
chăm sóc người bệnh.
5.2. Đối với nhân viên y tế nói chung
và điều dưỡng nói riêng
- Mỗi cán bộ y tế phải tích cực hơn nữa
để tự rèn luyện, tu dưỡng nâng cao phẩm
chất đạo đức, kỹ năng giao tiếp.
- Không ngừng học tập, nâng cao trình
độ chuyên môn, chuyên môn và kỹ năng
giao tiếp ứng xử để góp phần nâng cao chất
lượng chăm sóc người bệnh toàn diện.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quy định về chế độ giao tiếp trong
các cơ sở khám chữa bệnh kèm theo Quyết
định số 4031/2001/QĐ-BYT của Bộ trưởng
Bộ Y tế.
2. Quy tắc ứng xử của cán bộ, viên
chức trong các đơn vị sự nghiệp y tế (Ban
hành kèm theo Quyết định số 29/2008/QĐ-
BYT ngày 18 tháng 8 năm 2008 của Bộ
trưởng Bộ Y tế)
3. Tiêu chuẩn đạo đức của người làm
công tác y tế (12 Điều y đức-Ban hành kèm
theo Quyết định số 2088/QĐ-BYT ngày
06/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
4. TS. Ngô Toàn Định. Thông tin
Điều dưỡng số 26, 27 của Hội Điều
dưỡng Việt Nam.
5. Hoàng Hữu Toản (2005) “Đánh giá
thực trạng giao tiếp của điều dưỡng-triển
khai đề án nâng cao kỹ năng giao tiếp cho
điều dưỡng ngành y tế Lai Châu”
6. Hà Thị Kim Phượng (2007) “Đánh
giá hiệu quả chương trình nâng cao kỹ năng
giao tiếp cho điều dưỡng, kỹ thuật viên
bệnh viện Tâm Thần tỉnh Nam Định. Kỷ
yếu đề tài NCKH điều dưỡng tháng
10/2007 của Hội Điều dưỡng Việt Nam.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
173
CHĂM SÓC RĂNG MIỆNG CHO NGƯỜI BỆNH HỒI SỨC CẤP CỨU
CỦA ĐIỀU DƯỠNG CÁC BỆNH VIỆN Ở HÀ NỘI
ThS. Phạm Lê Hưng
Bệnh viện Việt Nam Cu Ba, Hà Nội
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc sức khoẻ răng miệng
(CSSKRM) là một khái niệm chỉ việc đảm
bảo chăm sóc và duy trì vệ sinh ở hệ thống
răng miệng nhằm tiến tới phòng bệnh
phòng chống những bệnh lý thông thường
hay gặp ở hệ thống răng miệng như sâu
răng và viêm quanh răng. Những bệnh lý
thông thường như sâu răng và viêm quanh
răng hoàn toàn có thể phòng ngừa được
bằng các biện pháp vệ sinh cá nhân, theo
như Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 53
năm 2000 đã nêu rõ.
Theo một số nghiên cứu trên thế giới
gần đây thì biến chứng và tác hại của bệnh
lý răng miệng còn ảnh hưởng đến một số
bệnh lý toàn thân, như bênh lý tim mạch,
đái tháo đường, bệnh hô hấp, trẻ sơ sinh
thiếu tháng, thiếu cân. Vì vậy CSSKRM là
một trong những nội dung chăm sóc cần
thiết đối với người bệnh nội trú.
Chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho
người bệnh nội trú ở Việt Nam chưa được
thực sự quan tâm dầy đủ ở các bệnh viện
một phần do thiếu những quy định cụ thể,
chi tiết về chăm sóc sức khoẻ răng miệng
trong các bệnh viện, mặc dù quy chế chăm
sóc người bệnh toàn diện đã được ban hành
từ năm 1997.
Trên địa bàn thành phố Hà Nội, chưa có
nghiên cứu nào đề cập tới vấn đề chăm sóc
sức khoẻ răng miệng từ các điều dưỡng viên
cho người bệnh nội trú ở các bệnh viện.
Mục đích của nghiên cứu này là bước đầu
khảo sát thực hành chăm sóc sức khoẻ răng
miệng (CSSKRM) của điều dưỡng cho
người bệnh nội trú. Kết quả nghiên cứu sẽ
góp phần vào việc tìm ra giải pháp nâng cao
chất lượng chăm sóc người bệnh toàn diện.
Nội dung thực hành CSKRM của điều
dưỡng cho người bệnh nội trú bao gồm làm
sạch các mảng bám, cặn thức ăn ở răng hay
hàm giả của người bệnh, loại bỏ dịch nhày
và giữ độ ẩm trong khoang miệng.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Đánh giá thực hành chăm sóc sức
khoẻ răng miệng của điều dưỡng cho
người bệnh nội trú tại 7 bệnh viện ở thành
phố Hà Nội.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến
thực hành chăm sóc sức khoẻ răng miệng
cho người bệnh nội trú tại 8 bệnh viện ở
thành phố Hà Nội.
3. Đề xuất một số giải pháp khả thi
để nâng cao chất lượng chăm sóc sức
khoẻ răng miệng cho người bệnh nội trú
ở Hà Nội.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
174
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu được tiến hành
tại 7 bệnh viện trên địa bàn thành phố Hà
Nội bao gồm: Bệnh viện Saint Paul, Bệnh
Viện Thanh Nhàn, Bệnh viện Phụ Sản Hà
Nội, Bệnh viện Tim Hà Nội, Bệnh viện
Bạch Mai, Bệnh viện Nội Tiết, Bệnh viện
Hữu Nghị.
- Tổng số 350 điều dưỡng đã được
phỏng vấn, trong đó có 300 phiếu phỏng
vấn hợp lệ được đưa vào phân tích kết quả.
- Các khoa lâm sàng được lựa chọn bao
gồm: tim mạch, nội tiết, ngoại khoa và
sản khoa.
2. Đối tượng nghiên cứu: Điều dưỡng
viên.
3. Công cụ nghiên cứu: phiếu phỏng
vấn cá nhân cho các điều dưỡng tại các
khoa phòng được lựa chọn phỏng vấn.
4. Xử lý và phân tích số liệu:
- Số liệu sau khi được làm sạch, mã
hoá, xử lý và phân tích bằng phần mềm
thống kê y học SPSS 11.5.
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Các đặc điểm nhân khẩu - xã hội học của các đối tượng được phỏng vấn
Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu - xã hội học của đối tượng được phỏng vấn
Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ (%)
Nam 26 8.7
Giới
Nữ 274 91.3
20-29 153 51.0
30-39 58 19.3
40-55 59 29.7
Tuổi
Mean = 33.3 SD = 9.7 Min = 21 Max = 55
Trung học 290 96.7
Cao đẳng 4 1.3 Trình độ chuyên môn
Cử nhân 6 2.0
Dưới 5 năm 146 48.6
6-15 năm 70 23.3
Trên 15 năm 84 28.0
Thâm niên công tác
Mean = 10.02 SD = 9.65 Min = 0.5 Max = 33
Tim Mạch 75 25.0
Nội tiết 65 21.6
Ngoại khoa 80 26.7
Khoa lâm sàng
Sản khoa 80 26.7
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
175
Nhận xét: đa số điều dưỡng được
phỏng vấn là nữ giới (91.3%) và phần lớn
đã tốt nghiệp hệ trung học (96.7%). Về
thâm niên công tác gần 50% số điều dưỡng
được phỏng vấn có thâm niên công tác
dưới 5 năm. Về độ tuổi, trên 50% số điều
dưỡng có độ tuổi dưới 30.
4.2. Kiến thức về CSSKRM của điều dưỡng
Bảng 2: Kiến thức CSSKRM của điều dưỡng
Tổng điểm kiến thức về CSSKRM Số lượng Tỷ lệ %
Tốt: > 80% (> 13 điểm) 163 54.3
Trung bình: 61-79% (10-12 điểm) 117 39.0
Kém < 60% (<9 điểm) 20 6.7
Mean + SD = 12.3 + 1.6; Min = 6; Max = 15
Bảng 2 cho thấy kiến thức về CSSKRM
trong nghiên cứu này bao gồm 15 câu hỏi và
được tính điểm là 1 với trả lời đúng và 0 là
trả lời sai. Tổng số điểm kiến thức của cả 15
câu hỏi được phân chia theo Benjamin
Bloom, trong đó tốt là từ 80% tổng số điểm
trở lên, Trung bình là từ 61 đến 79% và kém
là dưới 60%. Chi tiết về câu trả lời đúng
được liệt kê ở bảng dưới đây:
Bảng 3: Thống kê số phiếu trả lời đúng cho từng câu hỏi kiến thức
Câu hỏi Số phiếu trả lời đúng (%)
1. Phương pháp CSRM mà phụ nữ nên thực hiện 299 99.6
trước khi mang thai
2. Cách tốt nhất để phòng sâu răng 296 98.6
3. Triệu chứng thông thường của viêm lợi 295 98.3
4. Nguyên nhân chính của viêm quanh răng 291 97.0
5. Phương pháp VSRM tốt nhất mà người bệnh 282 94.0
có thể tự thực hiện được
6. Người bệnh tim mạch cần điều trị bệnh lý 281 93.6
răng miệng nào trước tiên
7. Nguyên nhân của bệnh sâu răng 276 92.0
8. Bệnh lý răng miệng cần điều trị ở người bệnh 258 86.0
đái tháo đường
9. Cách vệ sinh hàm giả tốt nhất 258 86.0
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
176
Câu hỏi Số phiếu trả lời đúng (%)
10. Biến chứng cuối cùng của bệnh sâu răng 254 84.6
11. Triệu chứng điển hình của bệnh sâu răng 248 82.6
12. Biến chứng nguy hiểm của bệnh quanh răng 225 75.0
13. Biện pháp CSSKRM cần thiết cho người bệnh 185 61.6
không tự phục vụ cho mình được
14. Dung dịch súc miệng nào tốt được sử dụng 163 54.3
cho phòng bệnh răng miệng
15. Số lần VSRM tối thiểu cho người bệnh hàng ngày 75 25.0
Bảng 3 chỉ ra trong số 15 câu hỏi, có
hai câu hỏi đạt tỷ lệ trả lời thấp do việc cập
nhật kiến thức về CSSKRM ở điều dưỡng
chưa được đầy đủ.
4.3. Thái độ đối với CSSKRM cho người bệnh của điều dưỡng
Việc tính điểm thái độ đối với
CSSKRM dựa trên cơ sở 15 câu hỏi. Mỗi
câu hỏi có 5 phương án trả lời được cho
điểm từ 1 đến 5 theo thang điểm Likert
Scale. Tổng số điểm thái độ được phân chia
làm 3 mức tốt, trung bình và kém trên cơ sở
mức % của tổng số điểm ở 3 mức tương
ứng với 66.7% (64 điểm) và 33.3 % (59.8
điểm) của tổng số điểm thái độ.
Bảng 4: Phân bố số điểm thái độ đối với CSSKRM
Tổng điểm thái độ đối với CSSKRM Số lượng Tỷ lệ %
Tốt ( > 64 điểm) 107 35.7
Trung bình ( 60 - 64 điểm) 101 33.7
Kém (< 60 điểm) 92 30.6
Mean + SD = 62.07 + 4.5; Min = 46; Max = 74
Bảng 4 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng có
thái độ tích cực đối với CSSKRM mới chỉ
đạt 35.7%, số còn lại về mặt thái độ đối với
CSSKRM chưa được tốt.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
177
4.4. Các yếu tố liên quan đến công tác đào tạo và giámsát chuyên môn ở điều dưỡng
Bảng 5: Thống kê về quá trình đào tạo kiến thức CSSKRM ở điều dưỡng
Đào tạo về CSSKRM Số lượng Tỷ lệ %
Đào tạo tại trường Trung học 251 87.3
Tập huấn trong một năm vừa qua 32 10.7
Hướng dẫn bởi bác sỹ RHM 16 5.3
Hội thảo về CSSKRM 12 4.0
Hướng dẫn bởi Điều dưỡng trưởng 147 49.0
Bảng 5 cho biết phần lớn điều dưỡng
được đào tạo về CSSKRM trong quá trình
học tại trường Trung học y tế, các loại hình
đào tạo khác còn rất ít được phổ biến trong
cộng đồng điều dưỡng.
Bảng 6: Lưu lượng người bệnh phục vụ hàng ngày bởi điều dưỡng
Số người bệnh Số lượng Tỷ lệ %
s 9 người bệnh 114 38.0
> 10 người bệnh 186 62.0
Bảng 6 chỉ rõ nhìn chung lưu lượng
người bệnh tại các bệnh viện còn tương
đối cao. Đặc biệt tại một số bệnh viện
chuyên khoa như tim mạch, sản khoa và đó là
yếu tố trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng
phục vụ, chăm sóc người bệnh.
Bảng 7: Giám sát công tác chuyên môn của điều dưỡng trong CSSKRM
Người giám sát Số lượng %
Bác sỹ RHM 17 5.7
Điều dưỡng trưởng 127 42.3
Bác sỹ điều trị 30 10.0
Không có giám sát 126 42.0
Bảng 7 cho cho thấy rằng tỷ lệ điều
dưỡng không được giám sát về chuyên môn
trong CSSKRM còn cao. Điều này có thể
được lý giải là công tác CSSKRM chưa
thực sự được chú trọng tại các bệnh viện.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
178
4.5. Thực hành CSSKRM của điều dưỡng cho người bệnh nội trú
Thực hành CSSKRM của điều dưỡng ở
nghiên cứu này được định nghĩa bao gồm
10 công việc và được tính điểm từ 0 đến 4.
Tổng số điểm thực hành được phân chia
làm 3 mức tốt, trung bình và kém trên cơ sở
mức % của tổng số điểm ở 3 mức tương
ứng với 66.7% (32 điểm) và 33.3 % (22
điểm) của tổng số điểm thực hành.
Bảng 8: Phân loại điểm thực hành CSSKRM
Điểm thực hành Số lượng Tỷ lệ %
Tốt ( > 32 điểm ) 95 31.7
Trung bình ( 22-32 điểm) 114 38.0
Kém ( < 22 điểm) 91 30.3
Mean = 26.4 Min = 0 Max = 40
Bảng 8 chỉ ra tỷ lệ thực hành CSSKRM ở điều dưỡng đạt tỷ lệ tốt là 31.7%, trong đó
tỷ lệ kém là 30.3%.
4.6. Liên quan giữa thực hành CSSKRM của điều dưỡng và các yếu tố liên quan
Thực hành CSSKRM và các yếu tố
liên quan được mã hoá ở dạng các biến
số phân loại. Khi xác định sự liên quan
giữa các yếu tố đó thì phương pháp kiểm
định χ² được áp dụng để xác định mối
liên quan giữa các yếu tố đó. Kết quả phân
tích mối liên quan giữa thực hành CSSKRM
với các yếu tố khác được tóm tắt trong bảng
dưới đây.
Bảng 9: Phân tích mối liên quan giữa thực hành CSSKRM và các yếu tố
Yếu tố có liên quan Giá trị χ² Giá trị p
Thái độ đối với CSSKRM 10.41 0.034
Đào tạo CSSKRM ở trường THYT 16.09 <0.001
Tập huấn trong thời gian làm việc 8.11 0.017
Hướng dẫn của điều dưỡng trưởng 19.44 <0.001
Lưu lượng người bệnh 7.07 0.029
Giám sát CSSKRM 25.40 <0.001
Kết quả phân tích ở bảng 9 cho thấy
thực hành CSSKRM của điều dưỡng có
liên quan chặt chẽ đến công tác dào tạo ở
trường THYT, sự giám sát và hướng dẫn
chuyên môn của Điều dưỡng trưởng và các
bác sỹ điều trị tại các khoa lâm sàng.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
179
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
- Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức tốt về
CSSKRM đạt 54.3%, tỷ lệ kiến thức kém là
6.7% với điểm trung bình là 12.3 điểm (tối
đa 15 điểm)
- Tỷ lệ điều dưỡng có thái độ tích cực
với CSSKRM là 35.7% và tỷ lệ thái độ
chưa tốt là 30.6% với điểm trung bình là
62.07 ( tối đa là 75 điểm)
- Tỷ lệ thực hành CSSKRM tốt là
31.7% và tỷ lệ thực hành kém là 30.3 % với
điểm trung bình là 26.4 (tối đa là 40 điểm)
- Thực hành CSSKRM của điều dưỡng
có liên quan chặt chẽ đến công tác đào tạo
ở trường THYT (p < 0.001), sự giám sát và
hướng dẫn chuyên môn của Điều dưỡng
trưởng và các bác sỹ điều trị tại các khoa
lâm sàng (p < 0.001).
5.2. Kiến nghị
- Các bệnh viện cần có quy định chi tiết
về CSSKRM cho người bệnh nội trú, trong
đó nêu rõ nhiệm vụ và chức trách của điều
dưỡng cũng như các bác sỹ điều trị và các
cấp quản lý.
- Tăng cường thêm nội dung thực hành
CSSKRMở các trường trung học y tế.
- Xây dựng nội dung tập huấn
CSSKRM cho điều dưỡng tại các bệnh
viện.
- Phát triển thêm các công cụ nghiên
cứu ở dạng phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
và trực tiếp quan sát để có được kết quả
khách quan và chính xác hơn.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
180
CHĂM SÓC BỆNH NHÂN TỤT HUYẾT ÁP
TRONG LỌC MÁU NHÂN TẠO
ĐD. Hoàng Văn Phượng
TS. Nguyễn Thị Kim Thủy
Khoa Lọc máu nhân tạo-BVTWQĐ 108
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Phát hiện triệu
chứng lâm sàng, tìm hiểu nguyên nhân của
tụt huyết áp trong quá trình lọc máu. Các
phương pháp xử trí tụt huyết áp trong quá
trình lọc máu nhân tạo. Phương pháp
nghiên cứu: Thực hiện ở 68 bệnh nhân lọc
máu nhân tạo (Nam: 54, nữ:14) tuổi dao
động (18 - 74 tuổi), tuổi trung bình (48,5 ±
11,9), tổng số lần lọc 3954 lần lọc. Kết
luận: Trong 3954 lần lọc máu, tụt huyết áp
988 lần chiếm tỷ lệ (24,98%). Các triệu
chứng lâm sàng gặp nhất mệt mỏi
(26,31%), đau đầu, buồn nôn (25,40%).
Nguyên nhân hay gặp là rút cân quá mức
(52,72%), uống các thuốc hạ huyết áp
trước khi lọc (17,27%). Nguyên tắc xử trí
tụt huyết áp bệnh nhân nằm đầu thấp
(100%), tăng conductivity, hạ nhiệt độ máy
xuống 35,5
0
(100%), bù dịch (75%), giảm
lưu lượng, tìm hiểu nguyên nhân gây tụt
huyết áp để điều trị.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình lọc máu nhân tạo, có
rất nhiều biến chứng xảy như tăng huyết áp
kịch phát, chảy máu, đau thắt ngực, suy hô
hấp... Tụt huyết áp là biến chứng thường
gặp nhất ở bệnh nhân nhân lọc máu nhân
tạo, do nhiều nguyên nhân gây ra và đòi hỏi
người điều dưỡng phải theo dõi người bệnh
chặt chẽ, nhanh chóng phát hiện triệu
chứng, xử trí cấp cứu kịp thời.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Phát hiện các triệu chứng lâm sàng và
tìm hiểu nguyên nhân của tụt huyết áp
trong quá trình lọc máu.
- Đề xuất các phương pháp xử trí tụt
huyết áp trong quá trình lọc máu nhân tạo
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: gồm 68
bệnh nhân lọc máu nhân tạo tại khoa A14-
BVTWQĐ 108 từ tháng 5/ 2007 - 11/2007
(Nam: 54, nữ:14) tuổi dao động (18 - 74
tuổi), tuổi trung bình (48,5 ± 11,9), tổng số
lần lọc 3954 lần..
2.2. Phương pháp nghiên cứu: tiến
cứu theo chiều dọc, phân tích triệu chứng
lâm sàng, tìm hiểu nguyên nhân và cách
xử trí khi tụt huyết áp ở bệnh nhân lọc
máu chu kỳ.
2.3. Xử lý số liệu: theo phương pháp
thống kê y học.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø III
181
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Tỷ lệ tụt huyết áp trong lọc máu
Tình trạng huyết áp Số lần lọc (n = 3954) Tỷ lệ %
Tụt HA 988 24,98
HA bình thường hoặc tăng 2966 75,02
Bảng 1 cho thấy số lần tụt huyết áp chiếm tỷ lệ 24,98% (988 lượt).
Bảng 2. Triệu chứng lâm sàng của tụt huyết áp
Triệu chứng
Số lần tụt HA
(n = 988)
Tỷ lệ %
Mệt mỏi 260 26,31
Đau đầu 170 17,21
Buồn nôn và nôn 251 25,40
Chuột rút 90 9,10
Vã mồ hôi 245 24,79
Tức ngực 90 9,10
Rét run 99 10,02
Bảng 2 chỉ ra triệu chứng hay gặp ở tụt huyết áp nhiều nhất là mệt mỏi (26,31%),
buồn nôn và nôn (25, 40%), vã mồ hôi (24,79%).
Bảng 3. Nguyên nhân gây tụt huyết áp
Nguyên nhân
Số lần tụt HA
(n = 988)
Tỷ lệ %
Dùng thuốc hạ áp trước lọc 171 17,30
Rút cân quá mức 521 52,73
Nồng độ muối trong dịch lọc thấp 54 5,46
Nhiệt độ máy cao 13 1,31
Tốc độ lọc quá nhanh 76 7,69
Rối loạn thần kinh thực vật 72 7,28
Dị ứng quả lọc lần đầu 49 4,95
Lọc thận bằng dịch acetat 36 3,64
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
182
Bảng 3 cho thấy nguyên nhân gây tụt huyết áp hay gặp là rút cân quá mức (52,73%),
dùng thuốc hạ áp trước lọc (17,30%).
Bảng 4. Các phương pháp xử trí khi tụt huyết áp
Phương pháp xử trí
Số lần tụt HA
(n= 988)
Tỷ lệ %
Nằm đầu thấp 988 100
Giảm nhiệt độ máy xuống 35,5
0
988 100
Tăng conductyvity 494 50
Truyền THM 0,9 % 494 50
Truyền THN 20% 247 25
Tiêm Depersolon 27 2,73
Thay quả lọc khác 13 1,31
Bảng 4 đưa ra các phương pháp xử trí tụt huyết áp hàng đầu là cho nằm đầu thấp
(100%), giảm nhiệt độ máy (100%) và bù dịch (75%).
4. BÀN LUẬN
Phân tích 68 bệnh nhân suy thận mạn
lọc máu chu kỳ (Nam: 54, nữ:14) tuổi
dao động (18- 74 tuổi), tuổi trung bình
(48,5 ± 11,9), tổng số lần lọc máu 3954,
trong thời gian 6 tháng từ tháng 5/2007 đến
tháng 11/2007 chúng tôi thấy:
- Tụt huyết áp xuất hiện 988 lần chiếm
tỷ lệ (24, 98%), tỷ lệ này thấp hơn của tác
giả Trần Thanh Sơn (34,43%) tương tự như
của Martin J: 18 - 34 %. Sự khác nhau có
thể giải thích do phương pháp nghiên cứu
khác nhau, chúng tôi xác định tụt huyết áp
khi bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng
và đo huyết áp tại thời điểm đó, còn tác giả
Trần Thanh Sơn dùng holter đo trong suốt
quá trình lọc máu nên độ nhậy cao hơn
phương pháp của chúng tôi.
- Triệu chứng lâm sàng của tụt huyết áp
rất đa dạng (bảng 2), hay gặp nhất là bệnh
nhân có cảm giác mệt mỏi (26,31%), buồn
nôn, có khi nôn vọt (25,40%), vã mồ hôi
(24,79%), đau đầu (17,21%), đôi khi lại
biểu hiện dưới dạng chuột rút...
- Các nguyên nhân gây tụt huyết áp trong
quá trình lọc rất khác nhau (bảng 3) đa số là
do rút cân quá mức (52,73%), do bệnh nhân
không nhớ kỹ cân khô của mình, do tâm lý
sợ chu kỳ dài ngày bị ứ nước và cuối cùng là
ngày hè nóng bức muốn uống nhiều nước,
nên thường tăng số lượng cân cần rút quá
mức. Một nguyên nhân nữa hay gặp ở bệnh
nhân cao huyết áp uống các thuốc hạ huyết
áp trước khi lọc máu gây tụt huyết áp lúc kết
hợp máy rút cân (17,30%), các nguyên nhân
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
183
khác hiếm gặp hơn là do kỹ thuật viên đặt
conductivity thấp dẫn đến nồng độ muối
trong dịch lọc thấp, nhiệt độ máy cao rối loạn
vận mạch gây tụt huyết áp, bệnh nhân suy
thận đái tháo đường hay có rối loạn thần kinh
thực vật giãn mạch tụt huyết áp (7,28%), tốc
độ siêu lọc quá nhanh (7,69%) ở những bệnh
nhân suy tim, loạn nhịp tim có tình trạng
huyết động không ổn định và một số nguyên
nhân hiếm gặp cần chú ý dị ứng quả lọc lần
đầu, lọc bằng dịch acetat.
- Xử trí tụt huyết áp trong lọc máu nhân
tạo (bảng 3) đòi hỏi người điều dưỡng viên
phải theo dõi bệnh nhân chặt chẽ đặc biệt
bệnh nhân nặng, tuổi cao có tình trạng huyết
động không ổn định, những bệnh nhân mới
chạy thận nhân tạo lần đầu và những bệnh
nhân mắc các bệnh lý tim mạch, đái tháo
đường kèm theo. Nguyên tắc xử trí tụt huyết
áp hàng đầu là điều dưỡng viên phải nhanh
chóng cho bệnh nhân nằm đầu thấp, nghiêng
đầu sang một bên để tránh nôn trào ngược
vào phổi (100%), hạ nhiệt độ máy xuống
35,5
0
(100%), tăng conductivity nâng nồng
độ muối (50%), giảm lưu lượng lọc để tránh
tình trạng rút cân quá nhanh, sau đó tìm hiểu
nguyên nhân gây tụt huyết áp, nếu do rút cân
quá mức báo cáo bác sỹ cho truyền các dung
dịch THM 0,9% (50%) hoặc THN 20%
(25%) bù lại lượng dịch mất, các nguyên
nhân khác như rối loạn thần kinh thực vật, rối
loạn nhịp tim … tuỳ theo từng trường hợp xử
trí. Đặc biệt có những bệnh nhân tụt huyết
áp, rét run do dị ứng quả lọc lần đầu thường
do quả lọc có cấu tạo màng polysunfone,
dùng các thuốc chống dị ứng như
Depersolon, chlopheniramin. Nếu không đỡ,
thay quả lọc có cấu tạo màng xenlulo tổng
hợp. Một số ít trường hợp tụt huyết áp do sử
dụng dịch lọc acetat, các trường hợp này
được thay bằng dịch lọc bicarbonat.
5. KẾT LUẬN
5.1. Tụt huyết áp là biến chứng rất hay
gặp ở lọc máu nhân tạo với tỷ lệ 24,98%.
Các triệu chứng lâm sàng thường rất đa dạng,
hay gặp nhất là bệnh nhân có cảm giác mệt
mỏi (26,31%), vã mồ hôi (24,79%), đau đầu,
buồn nôn (17,21%). Các nguyên nhân gây
tụt huyết áp trong quá trình lọc rất khác
nhau, đa số do rút cân quá mức (52,73%),
uống các thuốc hạ huyết áp trước khi lọc
(17,30%).
5.2. Nguyên tắc xử trí tụt huyết áp:
nhanh chóng cho bệnh nhân nằm đầu thấp
(100%), hạ nhiệt độ máy xuống 35,5
0
(100%), bù dịch (75%), tăng conductivity,
nâng nồng độ muối (50%), giảm lưu lượng
lọc để tránh tình trạng rút cân quá nhanh.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Thanh Sơn (2008): “Nghiên
cứu biến đổi huyết áp trong thời gian lọc
máu bằng đo huyết áp liên tục ở bệnh nhân
suy thận mạn lọc máu chu kỳ”, Luận văn
chuyên khoa cấp II
2. Nguyễn Văn Xang (2001),” Điều trị
thay thế thận suy bằng thận nhân tạo”
tr.274-281.
3. Martin J., Schreiber (2001) “Clinical
case- based approach to understanding
intradialytic hypotension”, Am J Kidney
Dis 38 (4): S 37-S 47
4. Harold. B., Johk .TD., Todd. SI
“Complication During Hemodialysis”
Handbook of Dialysis.pp 148-168.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
184
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH UNG THƯ
HẠ HỌNG - THANH QUẢN TẠI TRUNG TÂM UNG BƯỚU
BỆNH VIỆN TW HUẾ (TỪ 1/1/2009 - 30/6/2010)
CNĐD. Châu Thị Hoa
CNĐD. Nguyễn Thị Diệu Trang
Trung tâm Ung bướu BVĐKTW Huế
TÓM TẮT
Nghiên cứu mô tả về công tác chăm
sóc của điều dưỡng cho người bệnh bị ung
thư hạ họng-thanh quản được thực hiện
qua khảo sát người bệnh, kết hợp với lấy
số liệu từ hồ sơ bệnh án của 75 bệnh nhân
nhập viện điều trị tại trung tâm Ung bướu,
bệnh viện Trung ương Huế từ 01/01/2009
đến 31/06/2010. Kết quả: Phần lớn người
bệnh ở độ tuổi > 70 tuổi, ít gặp ở người
< 40 tuổi; nam giới chiếm tỷ lệ 90.7%;
thường gặp ở người bệnh có thói quen hút
thuốc lá và uống bia rượu (60%); lý do
nhập viện thường gặp là khàn tiếng
(29.3%); phát hiện bệnh thường ở giai
đoạn III, IV (84%); có biến chứng tia xạ
(100%); đa số bệnh nhân có tâm trạng lo
lắng về bệnh (84%). Tình hình chăm sóc:
90.7% người bệnh được điều dưỡng quan
tâm chăm sóc hỗ trợ tinh thần; 89.3%
người bệnh được hướng dẫn rõ ràng chế
độ ăn, nhưng chỉ 12% số người bệnh được
điều dưỡng hỗ trợ cho ăn uống; Chăm sóc
vệ sinh cá nhân chủ yếu do người nhà thực
hiện (68%); Các chăm sóc chuyên nghiệp
như đánh giá đau theo thang điểm 10,
chăm sóc đau, giảm nhẹ các biến chứng
được thực hiện khá tốt (từ 80% trở lên),
tuy nhiên chăm sóc theo dõi các dấu hiệu
sống thường quy chỉ đạt 66.7%; điều
dưỡng trực tiếp cho bệnh nhân uống thuốc
còn thấp (53.3%), hướng dẫn rõ ràng cụ
thể khi uống thuốc đạt 78.7%. Thực hiện y
lệnh của bác sĩ đầy đủ, đúng và an toàn
đạt 84%; Điều dưỡng chưa thực hiện chưa
tốt giao tiếp trước, trong và sau thủ thuật
chiếm tỷ lệ 14.7%. Kết luận và đề nghị:
Điều dưỡng đã thực hiện chăm sóc người
bệnh ung thư hạ họng thanh quản khá tốt
nhưng còn một số hạn chế nhất định do:
tình trạng bệnh nhân quá tải; trình độ
chuyên môn của điều dưỡng chưa đồng
đều; giao tiếp với người bệnh chưa được
quan tâm, kỹ năng giao tiếp chưa tốt... nên
công tác chăm sóc chưa đảm bảo yêu cầu
của quy chế chăm sóc người bệnh toàn
diện. Để nâng cao chất lượng chăm sóc
người bệnh tại trung tâm cần: (i) có giải
pháp hữu hiệu để chống quá tải như kê
thêm giường bệnh và bổ sung nhân lực
điều dưỡng; (ii) Bảo đảm cung cấp đủ
phương tiện dụng cụ chăm sóc và cung
cấp thuốc tại khoa điều trị; (iii) Nâng cao
năng lực cho điều dưỡng thông qua tập
huấn nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp;
(iv) Tăng cường kiểm tra giám sát công
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
185
tác chăm sóc người bệnh.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư hạ họng - thanh quản là loại
ung thư ít phổ biến trên thế giới. Ở Việt
Nam, ung thư hạ họng - thanh quản đứng
hàng thứ hai trong các ung thư đầu mặt cổ,
sau ung thư vòm và chiếm tỷ lệ 20%
trong các ung thư đường hô hấp, tiêu hóa
trên và đứng hàng thứ chín trong các ung
thư toàn thân.
Ung thư hạ họng-thanh quản phổ biến
ở nam giới, ít gặp ở tuổi dưới 40, có liên
quan đến uống rượu và hút thuốc lá, bệnh
thường được phát hiện ở giai đoạn muộn do
thanh quản có cấu trúc phức tạp và triệu
chứng ban đầu thường kín đáo. Phương
pháp điều trị kinh điển là phẫu thuật và xạ
trị, hoặc xạ trị đơn thuần ở giai đoạn sớm,
hoặc phối hợp hóa xạ trị ở giai đoạn muộn
đã thu được một số kết quả khả quan. Kết
quả của nhiều nghiên cứu và thực tế lâm
sàng cho thấy hầu hết người bệnh khi điều
trị ung thư đều bị các biến chứng do điều
trị, đặc biệt là biến chứng do xạ trị, hóa trị
với các mức độ khác nhau. Tỷ lệ biến
chứng do xạ trị ở da, niêm mạc, tuyến nước
bọt, hầu thực quản, thanh quản từ 85-100%
và các tác dụng phụ của hóa trị làm ảnh
hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân.
Vì vậy trong quá trình điều trị, người bệnh
phải được chăm sóc, hỗ trợ tích cực, động
viên an ủi về mặt tinh thần, giúp người bệnh
giảm bớt phần nào sự đau đớn về thể xác.
Chăm sóc người bệnh ung thư hạ
họng-thanh quản có vai trò hết sức quan
trọng, bởi chức năng sinh lý hạ họng - thanh
quản quyết định tính mạng và chất lượng
cuộc sống của người bệnh (duy trì chức
năng hô hấp, nuốt, nghe, phát âm của thanh
quản). Do đó công tác chăm sóc phải đáp
ứng được dựa trên nhu cầu của từng người
bệnh. Điều dưỡng là đội ngũ dành nhiều
thời gian tiếp xúc với bệnh nhân, trực tiếp
chăm sóc và phục vụ về chuyên môn và kỹ
thuật. Ngoài ra điều dưỡng còn phải quan
tâm chăm sóc về mặt tinh thần để người
bệnh yên tâm hợp tác điều trị.
Để đánh giá thực trạng công tác chăm
sóc người bệnh ung thư hạ họng - thanh
quản tại Trung tâm Ung bướu bệnh viện
Trung ương Huế chúng tôi đã tiến hành
nghiên cứu này với các mục tiêu:
- Mô tả các đặc điểm đặc trưng của
bệnh nhân ung thư hạ họng thanh quản.
- Đánh giá công tác chăm sóc người
bệnh ung thư hạ họng - thanh quản, qua đó
đề xuất một số biện pháp nhằm để nâng cao
chất lượng chăm sóc cho người bệnh ung
thư hạ họng - thanh quản tại Trung tâm ung
bướu Bệnh viện Trung ương Huế.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mô tả được thực hiện tại
Trung tâm Ung bướu bệnh viện trung ương
Huế trong thời gian từ tháng1/2009 đến
tháng 6/2010. Phương pháp thu thập số liệu
được sử dụng là phỏng vấn trực tiếp bằng
bộ câu hỏi và lấy số liệu từ hồ sơ bệnh án
của người bệnh được chọn vào nghiên cứu.
Tổng số có 75 người bệnh được chẩn đoán
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
186
là ung thư hạ họng - thanh quản điều trị nội
trú tại Trung tâm và đáp ứng các tiêu chuẩn
chọn vào nghiên cứu đã được phỏng vấn
trong nghiên cứu này.
Xử lý số liệu: Phương pháp thống kê
thông thường được sử dụng để xử lý số
liệu. Các biến số quan tâm được tính tần
suất và tỷ lệ phần trăm.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
3.1.1. Phân bố ung thư theo giới 3.1.2. Phân bố ung thư theo tuổi
Biểu đồ 1. Phân bố ung thư theo giới Biểu đồ 2. Phân bố ung thư theo tuổi
Nhận xét: tỷ lệ Nam/ Nữ là 9/1, Nhận xét: tuổi mắc ung thư phổ biến từ 50 - 59
ung thư gặp chủ yếu ở nam giới. và đặc biệt trên 70 tuổi có tỷ lệ mắc cao.
3.1.3. Thói quen sinh hoạt
Hút thuốc và uống rượu là các yếu tố nguy cơ gây ung thư; hút thuốc kèm uống rượu
làm tăng nguy cơ ung thư.
Biểu đồ 3. Phân bố các thói quen sinh hoạt của người bệnh
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
187
3.1.4. Các đặc điểm bệnh học và tình hình điều trị
Số liệu ở bảng 1 cho thấy khàn tiếng,
khó thở, và hạch cổ là những triệu chứng
thường gặp ở người bệnh. Người bệnh
thường đến bệnh viện khám ở giai đoạn
III, IV của ung thư. Biến chứng thường
gặp là xạm da, viêm niêm mạc miệng,
khàn tiếng, mất vị giác. Một số trường hợp có
biến chứng nặng như: suy gan thận (4%); giảm
bạch cầu (20%); hầu hết người bệnh đều bị nôn
và buồn nôn khi điều trị bằng hóa chất. Tất cả
người bệnh đều bị ảnh hưởng tâm lý nặng nề từ
rất lo lắng đến bi quan, chán nản.
Bảng 1. Các đặc điểm bệnh học và tình hình điều trị
Đặc điểm Số BN Tỷ lệ %
Khàn tiếng 22 29.3
Khó thở 15 20.0
Hạch cổ 13 17.3
Nuốt vướng 7 09.3
Mất tiếng 5 06.7
Nuốt đau 5 06.7
Nuốt nghẹn 2 02.7
Nuốt sặc 2 02.7
Đau họng lan lên tai 2 02.7
Lý do vào viện
Khạc ra máu 2 02.7
I 5 06.7
II 7 09.3
III 30 40.0
Chẩn đoán giai đoạn bệnh
IV 33 44.0
Xạm da 70 93.3
Viêm niêm mạc miệng 68 90.7
Khàn tiếng 54 72.0
Mất vị giác 60 80.0
Khó thở 29 38.7
Khít hàm 24 32.0
Xạ trị(n=75)
Khó thở mở khí quản 12 16.0
Giảm bạch cầu 5 20.0
Giảm huyết sắc tố 2 8.0
Suy gan, thận 1 4.0
Các biến chứng cấp
tính của điều trị
Hóa trị
(n=25)
Nôn, buồn nôn 23 92.0
Rất lo lắng 63 84.0 Trạng thái tâm lý người bệnh
Bi quan 12 16.0
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
188
3.2. Tình hình chăm sóc người bệnh
Kết quả khảo sát (bảng 2) cho thấy:
90,7% số người bệnh được điều dưỡng
quan tâm chăm sóc hỗ trợ tinh thần; Tỷ lệ
người bệnh được điều dưỡng hướng dẫn và
hỗ trợ cho ăn uống là 89,4% và 49,3%;
Chăm sóc vệ sinh cá nhân chủ yếu do
người nhà thực hiện (68%); Các chăm sóc
chuyên nghiệp như đánh giá đau, chăm sóc
đau, chăm sóc giảm nhẹ các biến chứng
được thực hiện khá tốt (từ 80% trở lên). Tuy
nhiên chăm sóc theo dõi các dấu hiệu sống
thường qui mới chỉ đạt 66,7%. Điều dưỡng trực
tiếp cho bệnh nhân uống thuốc còn thấp
(53,3%). Có tới 20% số người bệnh cho rằng
điều dưỡng chưa thực hiện giao tiếp trước,
trong và sau khi thực hiện các thủ thuật. Chỉ có
76,0% người bệnh được điều dưỡng quan tâm
tư vấn giáo dục sức khỏe.
Bảng 2: Các hoạt động chăm sóc người bệnh
STT Hoạt động chăm sóc
Số người bệnh
được đáp ứng/Số có
nhu cầu
Tỷ lệ
(%)
1 Hướng dẫn chế độ ăn rõ ràng 67/75 89.4
2 Hỗ trợ người bệnh ăn uống 37/75 49.3
3 Vệ sinh cá nhân 25/75 32.0
4 Chăm sóc giảm đau:
- Đánh giá đau theo thang điểm 10
- Dùng thuốc giảm đau theo y lệnh
68/75
69/75
90.7
92.0
5 Thực hiện chăm sóc, theo dõi dấu hiệu sống:
- Bệnh nhân có dấu hiệu nặng
- Thường quy
- Phiếu theo dõi dấu hiệu sống được ghi chép
đầy đủ
68/75
50/75
75/75
90.7
66.7
100
6 Cho bệnh nhân uống thuốc:
- Điều dưỡng thực hiện
- Điều dưỡng hướng dẫn rõ ràng, cụ thể
40/75
53/75
53.3
78.7
7 Giải thích và thực hiện đúng các bước của
quy trình truyền hóa chất
16/25 64.0
8 Giao tiếp trước, trong, và sau khi thực hiện
các thủ thuật
60/75 80.0
9 Chăm sóc hỗ trợ tinh thần, tình cảm, tâm lý 68/75 90.7
10 Chăm sóc, giáo dục sức khỏe phòng bệnh 57/75 76.0
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
189
4. BÀN LUẬN
Đặc điểm người bệnh
Theo kết quả khảo sát, ung thư hạ
họng - thanh quản ít gặp ở tuổi dưới 40,
độ tuổi có tỷ lệ mắc cao là trên 70 tuổi,
phù hợp với kết quả nghiên cứu của các
tác giả khác.
Tỷ lệ nam/nữ = 9/1. Ung thư chịu tác
động của các yếu tố nguy cơ trong đó hút
thuốc và uống rượu gặp rất phổ biến ở
nam giới.
Lý do nhập viện hay gặp là khàn tiếng
(29,3%), các triệu chứng khác thường bị
người bệnh bỏ qua, đây cũng là lý do khiến
người bệnh nhập viện muộn khi ung thư đã
ở giai đoạn xâm lấn (giai đoạn III và IV).
Các phương pháp điều trị chủ yếu: xạ
đơn thuần (58.7%), hóa - xạ đồng thời
(33.3%) và chăm sóc triệu chứng (chăm
sóc giảm nhẹ).
Theo kết quả nghiên cứu này cho thấy
tất cả người bệnh đều có biến chứng của
điều trị, đặc biệt là biến chứng tại chỗ do xạ
trị. Tỷ lệ biến chứng ở da, niêm mạc miệng,
tuyến nước bọt, hầu thực quản, thanh quản
đều cao .
Có 25 người bệnh ở giai đoạn muộn
với chỉ định điều trị hóa-xạ có các ảnh
hưởng về huyết học chủ yếu là hạ bạch cầu
(20%) và giảm huyết sắc tố (8%). Những
biến chứng này đòi hỏi cần nhiều thời gian
và công sức cho sự chăm sóc, theo dõi. Nếu
không xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tử vong
ngay sau đợt điều trị hóa chất.
Đa số người bệnh có tâm trạng rất lo
lắng về bệnh tật (84 %), số còn lại có tâm
trạng bi quan (16%). Người mắc bệnh ung
thư thường có cảm xúc, diễn biến tâm lý rất
phức tạp, vì họ biết rằng cuộc sống của họ
đang bị đe dọa cả về thời gian sống và chất
lượng sống. Do đó người bệnh thường bị
suy sụp về tinh thần và thường chịu tác
động của các vấn đề xã hội khác.
Chăm sóc người bệnh
Chế độ ăn uống hàng ngày của người
bệnh rất quan trọng trong điều trị và phục
hồi sức khỏe. Khi bị ung thư họng-thanh
quản, người bệnh không còn cảm giác ngon
miệng do đau miệng, thay đổi vị giác và
khứu giác. Việc chăm sóc hướng dẫn chế
độ ăn nhằm đảm bảo dinh dưỡng tốt đủ
năng lượng và protein để người bệnh không
bị sút cân, nhanh chóng phục hồi sức khoẻ
và giảm nhẹ các biến chứng. Người bệnh
ung thư hạ họng thanh quản thường ăn
uống khó khăn do khô miệng và nuốt đau,
do đó điều dưỡng phải hướng dẫn bệnh
nhân ăn thức ăn lỏng dễ tiêu hoá, giàu
vitamin tự nhiên và phải theo dõi số lượng
và chất lượng khẩu phần ăn trong ngày của
người bệnh. Khảo sát cho thấy điều dưỡng
đã thực hiện tốt vấn đề này (89,3%).
Việc chăm sóc vệ sinh cá nhân, hướng
dẫn vệ sinh răng miệng để ngăn ngừa bội
nhiễm cũng là rất cần thiết cho người bệnh
đặc biệt là người bệnh nặng, có tổn thương
hoặc nguy cơ tổn thương da vùng chiếu tia.
Tuy nhiên công việc vệ sinh cá nhân cho
người bệnh còn chủ yếu do người nhà
người bệnh thực hiện (68%), điều dưỡng
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
190
mới chỉ hỗ trợ một phần cho người bệnh.
Đau là triệu chứng thường gặp ở bệnh
nhân ung thư nói chung, ung thư hạ họng,
thanh quản nói riêng, hơn 2/3 bệnh nhân
ung thư giai đoạn muộn đều có đau.
Phương pháp điều trị chăm sóc giảm đau và
điều trị ung thư phải kết hợp chặt chẽ. Tôn
trọng những than phiền của người bệnh về
sự đau đớn của họ, không nên chỉ dựa vào
đánh giá chủ quan của nhân viên y tế hoặc
người chăm sóc. Điều dưỡng phải quan sát,
hỏi và lắng nghe mô tả cơn đau của bệnh
nhân, qua đó xác định vị trí đau, tính chất
đau, thời gian xuất hiện cơn đau và đánh
giá tình trạng đau theo thang điểm mức độ
đau 0-10. Áp dụng các biện pháp chăm sóc
khống chế đau như xoa bóp, chườm, sử
dụng các phương tiện giải trí như xem Tivi,
nghe đài, đọc báo, động viên tạo niềm phấn
khởi cho bệnh nhân...để giảm đau cho
người bệnh là những việc làm cần thiết.
Theo nghiên cứu này, sử dụng thuốc giảm
đau theo chỉ định là phương pháp điều trị
chính cho bệnh nhân ung thư hạ họng -
thanh quản (chiếm 92%), điều dưỡng có
đánh giá đau theo thang điểm đạt 90,7%.
Chăm sóc giảm nhẹ các biến chứng của
điều trị là điều cần phải được quan tâm vì
tất cả mọi người bệnh đều có biến chứng
tại chỗ do điều trị tia xạ với các mức độ
khác nhau. Trong khảo sát này 92% người
bệnh bị nôn và buồn nôn sau hóa trị liệu đã
được điều dưỡng chăm sóc. Chăm sóc
miệng, họng đối với người bệnh ung thư hạ
họng thanh quản rất cần thiết vì khi niêm
mạc miệng khô viêm loét, đau họng làm
người bệnh ăn uống khó khăn, mất dần cảm
giác ngon miệng. Do đó điều dưỡng hướng
dẫn người bệnh và gia đình chăm sóc, giữ
vệ sinh răng miệng. Kết quả nghiên cứu
của chúng tôi cho thấy hầu hết người bệnh
(90,7%) đều được chăm sóc, hướng dẫn
chăm sóc răng miệng. Da vùng chiếu tia xạ
thường bị tổn thương, sau 3 đến 4 tuần da
vùng chiếu tia bị xạm và viêm da khô nên
việc hướng dẫn chăm sóc vệ sinh vùng tia
là rất quan trọng trong thời gian này. Kết
quả khảo sát cho thấy hầu hết người bệnh
(85,3%) đều được điều dưỡng giải thích,
hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về chăm sóc da.
Theo dõi các dấu hiệu sống là rất quan
trọng nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu bất
thường để kịp thời xử lý. Tuy vậy nghiên
cứu của chúng tôi cho thấy chỉ có những
người bệnh có dấu hiệu nặng hoặc có bệnh
về tim mạch mới được theo dõi thường
xuyên. Theo dõi thường quy chỉ được thực
hiện ở 66,7% số người bệnh. Điều này cho
thấy dường như điều dưỡng còn xem nhẹ
công việc này.
Chăm sóc hướng dẫn người bệnh
uống thuốc và thực hiện y lệnh của bác sĩ.
Kết quả khảo sát cho thấy một tỷ lệ không
nhỏ điều dưỡng (21,3%) không hướng
dẫn hoặc hướng dẫn qua loa khi cho
người bệnh dùng thuốc. Tuy đa số điều
dưỡng (84%) thực hiện y lệnh của bác sĩ
với trách nhiệm cao, song thực hiện giao
tiếp chưa tốt. 20% trường hợp người bệnh
nói điều dưỡng không giao tiếp trước,
trong và sau thủ thuật.
Chăm sóc hỗ trợ về tinh thần, tình cảm,
tâm lý. Chăm sóc này đòi hỏi người điều
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
191
dưỡng phải có quan tâm, chia sẻ với người
bệnh, phải có kỹ năng giao tiếp và hiểu biết
về chuyên môn. Trong khảo sát của chúng
tôi điều dưỡng chưa thực hiện tốt công tác
này. Người bệnh được điều trị ung thư cần
phải được quản lý tốt bằng khám định kỳ
có sổ theo dõi kết quả. Đặc biệt cần quan
tâm đến việc phục hồi chức năng thở, nuốt
và nói. Theo khảo sát, số người bệnh được
giáo dục sức khỏe và phòng bệnh chỉ đạt tỷ
lệ 76,%.
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận: Từ kết quả nghiên cứu,
chúng tôi rút ra một số kêt luận sau:
- Bệnh gặp chủ yếu ở nam giới, lứa tuổi
trên 70, lý do nhập viện phổ biến là khàn
tiếng, thường được chẩn đoán ở giai đoạn
muộn III, IV. Đa số có tâm trạng lo lắng
về bệnh, phương pháp điều trị là xạ trị
đơn thuần, hóa - xạ đồng thời và chăm
sóc triệu chứng.
- Tất cả bệnh nhân đều có biến chứng
do xạ trị với mức độ khác nhau trong
đó biến chứng da, niêm mạc, tuyến nước
bọt, hầu thực quản chiếm tỷ lệ cao từ
85% - 100%. Biến chứng trong hóa-xạ
đồng thời là nôn, buồn nôn (92%), nặng và
nguy hiểm nhất là độc tính trên hệ tạo
huyết chủ yếu là hạ bạch cầu (20%), hạ
huyết sắc tố (10%). Chăm sóc triệu chứng
ở những bệnh nhân giai đoạn muộn phải
chú trọng nhất là chăm sóc đau.
- Điều dưỡng đã thực hiện chăm sóc
bệnh nhân ung thư hạ họng thanh quản khá
tốt. Tuy nhiên do tình trạng bệnh nhân quá
tải ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc,
trình độ chuyên môn của điều dưỡng chưa
đồng đều, kỹ năng giao tiếp còn hạn chế nên
công tác chăm sóc chưa đảm bảo yêu cầu
của quy chế chăm sóc người bệnh toàn diện.
2. Đề nghị: Để chăm sóc người bệnh bị
ung thư nói chung và ung thư hạ họng-
thanh quản nói riêng chúng tôi đề nghị:
2.1 Đối với điều dưỡng
- Cần nắm vững các nhu cầu của người
bệnh để đáp ứng kịp thời, tăng cường chăm
sóc dinh dưỡng, vệ sinh cá nhân.
- Lập kế hoạch chăm sóc một cách toàn
diện cả về thể chất lẫn tinh thần, bao gồm
chăm sóc cơ bản và chăm các triệu chứng
đặc hiệu, để đề phòng và phát hiện kịp thời
các biến chứng của xạ trị và hóa trị.
- Tuân thủ các bước trong các quy trình
kỹ thuật chăm sóc thực hiện trên người
bệnh đặc biệt là giao tiếp với người bệnh
trước, trong, sau các thủ thuật và tăng
cường tư vấn giáo dục sức khỏe cho người
bệnh và gia đình người bệnh.
2.2. Đối với bệnh viện và các phòng
chức năng
- Có biện pháp thích hợp để chống quá
tải như: kê thêm giường bệnh; bổ sung
thêm nhân lực điều dưỡng và thành lập các
đội tình nguyện về chăm sóc ung thư giai
đoạn cuối tại nhà cho người bệnh.
- Cung cấp đủ phương tiện dụng cụ
chăm sóc và phục vụ hậu cần tại chỗ (cấp
thuốc tại khoa).
- Tăng cường các biện pháp giáo dục
sức khỏe trong cộng đồng để mọi người
cần phải có ý thức bảo vệ sức khỏe, phát
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
192
hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời.
- Thường xuyên tập huấn nâng cao
trình độ cho điều dưỡng, đặc biệt kỹ năng
giao tiếp.
- Tăng cường kiểm tra giám sát thực
hiện chăm sóc toàn diện của điều dưỡng
đối với người bệnh.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu Hội thảo quốc gia về điều
trị đau và giảm nhẹ triệu chứng trong ung
thư của Bộ Y tế, tổ chức tại Thành phố
Huế - tháng 4/2001
2. Điều dưỡng ngoại khoa - Bộ môn
Ngoại Trường Đại học Y - Dược Huế.
3. Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ đối
với người bệnh ung thư và AIDS - NXB Y
học - Bộ Y tế năm 2006.
4. Giáo trình Điều dưỡng tai mũi
họng - Chủ Biên: PGS-TS Nguyễn Tư Thế
- Bộ môn tai mũi họng, Trường Đại học Y -
Dược Huế.
5. Tạp chí Ung thư học Việt Nam -
Hội thảo quốc gia phòng chống Ung
thư - tháng 9/2008 của Hội phòng chống
ung thư Việt Nam.
6. Tạp chí Y học Thành Phố Hồ Chí
Minh - Hội thảo phòng chống ung thư TP
HCM lần thứ 11 - Ngày 3 - 4/12/2009 của
Hội phòng chống ung thư TP HCM.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
193
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA
ỐNG THÔNG FOLEY VỚI CÁC KÍCH CỠ KHÁC NHAU
TRÊN BỆNH NHÂN ĐƯỢC PHẪU THUẬT Ổ BỤNG
CN. Hoàng Xuân Hương
1
, PGS, TS. Nguyễn Hữu Tú
2
1. Văn phòng Trung ương Hội Điều dưỡng Việt Nam,
2. Bộ môn GMHS, ĐHY Hà Nội
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá một số phiền nạn
và biến chứng do ống thông Foley với các
kích cỡ khác trong thời gian lưu và sau khi
rút sonde tại bệnh nhân sau phẫu thuật ổ
bụng. Phương pháp: nghiên cứu can thiệp,
tiến cứu, mù đơn trên 90 bệnh nhân phẫu
thật tiêu hóa tại bệnh viện Việt Đức, 90
bệnh nhân chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm
được đặt 1 cỡ sonde khác nhau (14F, 16F,
18F). Theo dõi và đánh giá tác dụng không
mong muốn trong 2 tuần sau mổ. Kết quả:
Sonde 14F ít gây phiền nạn và biến chứng
hơn sonde 16F và 18F (p < 0.05): bí tiểu
(6.7% sv. 23.3% và 30%); tiểu buốt theo
thang điểm VAS (5.8 ± 2.1 sv. 7.4 ± 1.0 và
8.33 ± 1.7); tiểu rắt (24.1% nhóm 14F sv.
50% nhóm 18F); số ngày đi tiểu buốt
(2.6 ±1.7 nhóm 14F sv. 5.2 ±2.8 nhóm 18F).
Kết luận: Đặt sonde 14F ít gây phiền nạn và
biến chứng hơn sonde 16F hoặc 18F.
ĐẶT VẦN ĐỀ
Sonde Foley là một loại ống thông
được đưa vào bàng quang qua niệu đạo để
dẫn lưu nước tiểu. Sonde được phát minh
bởi bác sỹ Fedric Foley (Mỹ) từ những năm
1930 khi ông còn là một sinh viên Y khoa.
Sonde Foley được sử dụng rộng rãi trong
nhiều chuyên khoa tại các bệnh viện với
nhiều mục đích khác nhưng chủ yếu là dẫn
lưu nước tiểu cho bệnh nhân.
Thực tế lâm sàng cho thấy, các điều
dưỡng viên (những người trực tiếp đặt
sonde cho bệnh nhân) chỉ coi việc tránh
biến chứng nhiễm khuẩn tiết niệu là quan
trọng nhất trong khi chăm sóc sonde. Việc
lựa chọn cỡ sonde cho bệnh nhân là dựa
vào cảm tính, bệnh nhân to cao thì đặt các
sonde có số to và ngược lại. Cỡ sonde được
sử dụng phổ biến là cỡ từ 14F đến 22F,
trong đó nhiều hơn cả là cỡ 14F và 16F
[4][5][6]. Vì vậy có thể nói, chọn một cỡ
sonde Foley hợp lý và ít gây khó chịu nhất
cho bệnh nhân chưa được quan tâm một
cách đúng mức. Hầu như chưa có tác giả
nào nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ
Điều dưỡng. Xuất phát từ thực tế đó, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá một số tác dụng không
mong muốn của sonde Foley ở các kích cỡ
khác nhau trên bệnh nhân được phẫu thuật
ổ bụng”
Với mục đích:
Đánh giá một số phiền nạn và biến
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
194
chứng do sonde Foley ở các kích cỡ 14F,
16F và 18F khi bơm cuff (bóng chèn) với
cùng thể tích 10ml trong thời gian lưu và sau
khi rút sonde ở bệnh nhân sau phẫu thuật.
2. §èi t- îng vµ ph- ¬ng ph¸p
nghiªn cøu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân tham gia phẫu thuật tiêu hóa
có kế hoạch tại BV Việt Đức từ 07/2008
đến 12/2008, có các tiêu chuẩn sau: nam;
18-65 tuổi; được gây mê nội khí quản, có
chỉ định đặt sonde bàng quang; không có
bệnh gây khó khăn tiểu tiện như: bệnh lý
tiền liệt tuyến, hẹp niệu đạo… hoặc các
bệnh tiết niệu sinh dục khác; tinh thần ổn
định, hợp tác tham gia nghiên cứu; không
dị ứng với latex.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu can thiệp, tiến cứu, mù đơn.
Mẫu nghiên cứu: 90 bệnh nhân được
chia thành 3 nhóm:
- Nhóm 14F: gồm 30 bệnh nhân được đặt
sonde cỡ 14F (nhóm chứng).
- Nhóm 16F: gồm 30 bệnh nhân được đặt
sonde cỡ 16F (nhóm đối chứng).
- Nhóm 18F: gồm 30 bệnh nhân được đặt
sonde cỡ 18F(nhóm đối chứng).
2.3. Cách thức tiến hành nghiên cứu
Tiến hành đặt sonde Foley tại phòng mổ
và rút sonde tiểu theo đúng quy trình đặt và
rút thông tiểu (Quy trình của Bộ Y tế).
Các chỉ tiêu nghiên cứu:
1) Đặc điểm bệnh nhân: tên, tuổi, cân
nặng, chiều cao, tiền sử tiết niệu.
2) Các chỉ tiêu nghiên cứu trong thời
gian bệnh nhân lưu sonde:
Thời gian lưu sonde tiểu (giờ): từ lúc
đặt sonde cho đến khi rút sonde.
- Đánh giá các chỉ tiêu sau cho đến khi
bệnh nhân được rút sonde: Sonde có bị tụt
ra ngoài hay không? Có rỉ nước tiểu ra
ngoài hay không? Tính chất nước tiểu:
trong, đục?
Mức độ đau tại Bàng quang, Dương vật,
Vết mổ khi rút sonde (theo thang điểm VAS).
3) Các chỉ tiêu nghiên cứu sau khi rút
sonde: Ngày thứ 1 (ngày bệnh nhân được
rút sonde): theo dõi tình trạng bí tiểu, tiểu
rắt, tiểu buốt trong lần đầu tiên đi tiểu. Các
ngày sau, theo dõi các chỉ tiêu: tiểu rắt,
tiểu buốt, bí tiểu.
2.4. Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý
bằng phương pháp thống kê y học theo
chương trình SPSS 16.0, được kiểm định
với test t - student và test χ² với p < 0.05
được coi là có ý nghĩa thống kê.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
195
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm bệnh nhân
Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân
Đặc điểm
14F
(n = 30)
16F
(n = 30)
18F
(n = 30)
Tuổi
47.6 ± 14.8
(18 - 65)
50.1 ± 10.7
(24 - 65)
51.2 ± 9.6
(33 - 65)
Chiều cao (m)
1.65 ± 0.06
(1.50 - 1.75)
1.63 ± 0.06
(1.50 - 1.75)
1.62 ± 0.06*
(1.48 - 1.72)
Cân nặng (kg)
52.4 ± 8.5
(40 - 79)
50.5 ± 7.8
(40 - 75)
52.2 ± 7.4
(42 - 65)
Thời gian lưu
sonde (giờ)
42.7 ± 20.8
(24 - 72)
34.5 ± 17.4
(24 - 72)
33.4 ± 16.4
(20 - 72)
* p < 0.05 so với nhóm 14F.
3.2. Các phiền nạn, biến chứng bệnh
nhân gặp phải trong thời gian lưu sonde
tiểu
Tỷ lệ bệnh nhân rỉ nước tiểu, tụt
sonde trong thời gian lưu sonde:
Có 6.7% bệnh nhân nhóm 14F rỉ nước
tiểu (tương đương 2 bệnh nhân), nhóm 16F
và 18F không có bệnh nhân nào (0%) p
>0.05. Không có bệnh nhân trong nghiên
cứu bị tụt sonde trong thời gian lưu (0%).
3.3. Các phiền nạn và biến chứng
sau khi rút sonde tiểu
3.3.1. Thời gian bệnh nhân tự đi tiểu
được sau khi rút sonde
Thời gian bệnh nhân tự đi tiểu được sau
rút sonde của nhóm 14F là 138.3 ± 12.5
phút, nhóm 16F là 184.8 ± 18.7 phút và của
nhóm 18F là 223.0 ± 22.5 phút. Khác biệt
có ý nghĩa giữa nhóm 18F so với 14F.
3.3.2. Tỷ lệ bệnh nhân bị bí tiểu
Bảng 2. Tỷ lệ bệnh nhân bị bí tiểu
Cỡ sonde
Bí tiểu
14F
(n = 30)
16F
(n = 30)
18F
(n = 30)
Không 28 (93.3%) 23 (76.7%) 21 (70%)
Phải can thiệp 1 (3.3%) 6 (20%)* 9 (30%)*
Phải đặt lại sonde 1 (3.3%) 1 (3.3%) 0
*: p < 0.05 so với nhóm 14F
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
196
3.3.3. Đánh giá mức độ tiểu buốt của
bệnh nhân trong lần đi tiểu đầu tiên sau
khi rút:
Mức độ tiểu buốt theo điểm VAS trong
lần đi tiểu đầu tiên của bệnh nhân nhóm
14F là 5.8 ± 2.1, nhóm 16F là 7.38 ± 1.02,
nhóm 18F là 8.33 ± 1.68. Sự khác biệt có ý
nghĩa giữa mức độ tiểu buốt của bệnh nhân
nhóm 16F so với 14F (p < 0.05) và đặc biệt
có ý nghĩa giữa nhóm 18F so với 14F
(p < 0.01).
3.3.4 Tỷ lệ bệnh nhân tiểu rắt trong
lần đi tiểu đầu tiên:
Nhóm 14F có 11 bệnh nhân (37,9%)
tiểu rắt trong lần đi tiểu đầu tiên, số lượng
này ở nhóm 16F là 20 (69%) và 18F là 19
(63.3%). Sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ
bệnh nhân tiểu rắt trong lần đi tiểu đầu tiên
giữa bệnh nhân nhóm 16F và 18F so với
nhóm 14F (p < 0.05).
3.3.5 Tỷ lệ bệnh nhân tiểu rắt trong 2
tuần đầu sau rút sonde:
Tỷ lệ bệnh nhân bị tiểu rắt sau rút ở
nhóm 14F là 24.1% (7 bệnh nhân), nhóm
16F là 37.9% (11 bệnh nhân) và nhóm 18F
là 50% (15 bệnh nhân). Sự khác biệt mang
ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ bệnh nhân bị
tiểu rắt sau rút giữa nhóm 18F và nhóm
14F (p < 0.05).
Thời gian đi tiểu dắt trung bình của
nhóm 14F là 0.6 ± 1.3 ngày, nhóm 16F là
0.8 ± 1.1 ngày và nhóm 18F là 1.3 ± 1.7
ngày. Số ngày đi tiểu dắt trung bình của
nhóm 18F nhiều hơn một cách có ý nghĩa
so với nhóm 14F (p < 0.05).
3.3.6 Tỷ lệ bệnh nhân tiểu buốt trong
2 tuần đầu sau rút sonde:
Tỷ lệ bệnh nhân tiểu buốt sau khi rút
sonde ở nhóm 14F là 89.7% (26 bệnh
nhân), nhóm 16F là 96.6% (27 bệnh nhân)
và nhóm 18F là 100% (30 bệnh nhân).
Thời gian tiểu buốt của nhóm 14F là
2.6 ± 1.7 ngày, nhóm 16F là 3.4 ± 1.9 và
nhóm 18F là 5.2 ± 2.8. Sự khác biệt mang
ý nghĩa giữa tỷ lệ bệnh nhân bị tiểu buốt và
thời gian đi tiểu buốt giữa nhóm 14F và
18F (p < 0.05) ; giữa nhóm 16F so với 18F
(p < 0.05).
4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm bệnh nhân
Từ kết quả bảng 3.1 cho thấy: nhìn
chung không có khác biệt về tuổi trung
bình, cân nặng và số ngày lưu sonde trung
bình giữa các nhóm trong nghiên cứu, p >
0.05. Khác biệt duy nhất tìm thấy là chiều
cao trung bình của nhóm 14F (1.65 ± 0.06
m) lớn hơn một cách có ý nghĩa so với
18F (1.62 ± 0.06), p < 0.05. Tuy nhiên
chúng tôi chưa tìm được tài liệu trong và
ngoài nước nào đề cập đến mối liên quan
giữa chiều cao và kích thước của đường
niệu đạo nam vì thực chất niệu đạo có tính
chất chun giãn, bình thường thì xẹp và chỉ
căng ra khi đi tiểu. Như vậy đặc điểm
bệnh nhân thuộc các nhóm nghiên cứu
tương đối đồng đều.
4.2. Các phiền nạn và biến chứng
trong khi lưu sonde
Tỷ lệ bệnh nhân rỉ nước tiểu, tụt sonde
trong thời gian lưu sonde:
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
197
Trong thời gian lưu sonde ở cả 3 nhóm
bệnh nhân không có bệnh nhân nào bị tụt
sonde. Kết quả nghiên cứu này là phù hợp
với thực tế lâm sàng ở các khoa phòng.
Kết quả tại phần 3.2.1 cho thấy chỉ có
6.7% bệnh nhân ở nhóm 14F có hiện tượng
rỉ nước tiểu trong thời gian lưu sonde, các
nhóm còn lại không có bệnh nhân nào. Sự
khác biệt này là không có ý nghĩa thống kê
(p > 0.05). Kết quả này cũng phù hợp với
thực tế lâm sàng ở Việt Nam và một số tài
liệu nước ngoài. Theo Wilde và Cameron
có khoảng 5% số bệnh nhân đặt sonde tiểu
có hiện tượng rỉ nước tiểu. Hiện tượng này
có thể khắc phục bằng việc đặt một sonde
khác có cỡ lớn hơn tuy nhiên điều này
không nên thực hiện ở những bệnh nhân
đặt sonde tiểu ngắn ngày (như trong nghiên
cứu của chúng tôi) vì sẽ làm tăng nguy cơ
gây nhiễm khuẩn tiết niệu và tổn thương
thêm niêm mạc niệu đạo [8].
4.3. Các phiền nạn và biến chứng sau
khi rút sonde
4.3.1 Thời gian bệnh nhân tự đi tiểu
được sau khi rút sonde
Kết quả ở phần 3.3.1 cho thấy nhóm
14F có thời gian tự đi tiểu sau khi rút
sonde là 138.3 ± 12.5 phút ngắn hơn so
với 2 nhóm còn lại. Nhóm 16F có thời
gian thời gian tự đi tiểu sau khi rút sonde
là 184.8 ± 18.7 phút. Nhóm 18F có gian
thời gian tự đi tiểu sau khi rút sonde dài
nhất trong 3 nhóm (223.0 ± 22.5 phút).
Như vậy, sonde càng lớn thì thời gian tự đi
tiểu được của bệnh nhân càng dài. Sự khác
biệt về thời gian đi tự đi tiểu lại của nhóm
bệnh nhân 14F và 18F là có ý nghĩa thống
kê p < 0.05. Nguyên nhân có thể do trong
nhóm 18F có đến 30% bệnh nhân bị bí tiểu
nhiều hơn nhóm 14F (chỉ có 6.7%).
4.3.2. Bí tiểu
Kết quả tại bảng 3.4 cho thấy phần
lớn bệnh nhân ở các nhóm không bị bí
tiểu, tỷ lệ bệnh nhân bí tiểu tăng theo kích
cỡ sonde: nhóm 14F (6.7%), nhóm 16F
(23.3%) và nhóm 18F (30%). Tỷ lệ bệnh
nhân bị bí tiểu phải dùng các biện pháp
can thiệp: khác biệt có ý nghĩa ở nhóm
18F và 16F so với 14F là có ý nghĩa
thống kê p < 0.05. Nguyên nhân là do cỡ
sonde càng to càng gây tổn thương, phù
nề, chít hẹp đường niệu đạo cản trở dòng
chảy gây nên bí tiểu. Kết quả này cũng
phù hợp với một số nghiên cứu trong và
ngoài nước. Theo Nguyễn Thị Mão
(2005) tỷ lệ bệnh nhân bí tiểu sau phẫu
thuật là 15% trong đó có 5% phải đặt lại
sonde [3]. Theo Giang Thị Kiều Anh
(2008) có 6.25% bệnh nhân sau khi rút
sonde tiểu có bí tiểu và phần lớn các bệnh
nhân bí tiểu đều là nam giới [2]. Theo tác
giả Toughill E (2005) cỡ sonde 18F làm
tăng nguy cơ gây bí tiểu ở bệnh nhân sau
khi rút [7]. Theo Gray M (2004) thì cỡ
sonde lớn 16F làm cản trở sự bài tiết
nước tiểu sau khi rút [4].
4.3.3 Tiểu buốt trong lần đi tiểu đầu
tiên
Kết quả ở phần 3.3.3 cho thấy, mức độ
tiểu buốt tỷ lệ thuận với kích thước của
sonde. Điểm VAS của các nhóm dao động
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
198
từ mức độ đau vừa (nhóm 14F) đến đau
nặng (nhóm 16F) và đau dữ dội (nhóm
18F). Sự khác biệt về mức độ tiểu buốt
trong lần đi tiểu đầu tiên giữa các nhóm là
rất có ý nghĩa thống kê p < 0.05. Điều này
cũng phù hợp với nghiên cứu của một số
tác giả nước ngoài, cỡ sonde càng lớn càng
gây nhiều tổn thương tại niệu đạo gây ra
tiểu buốt cho bệnh nhân[4][5].
4.3.4 Tiểu rắt trong lần đi tiểu đầu tiên
Kết quả ở phần 3.3.4 cho thấy có
37.9% bệnh nhân ở nhóm 14F đi tiểu rắt,
69% bệnh nhân ở nhóm 16F và 63.3% bệnh
nhân ở nhóm 18F đi tiểu rắt trong lần đi
tiểu đầu tiên. Sự khác biệt về số lượng bệnh
nhân đi tiểu rắt ở nhóm 16F và 18F so với
nhóm 14F là có ý nghĩa thống kê p < 0.05.
Nguyên nhân là do cỡ sonde 16F và 18F
gây tổn thương đường niệu đạo nhiều hơn
so với cỡ 14F khiến cho bệnh nhân đau đớn
khi đi tiểu nên bệnh nhân chỉ dám đi tiểu ít
một gây nên tiểu rắt.
4.3.5. Tiểu rắt trong thời gian 2 tuần
sau rút
Tình trạng tiểu rắt thường liên quan đến
tiểu buốt, do tiểu buốt bệnh nhân không
dám rặn tiểu. Tiểu rắt còn do bệnh lý tuyến
tiền liệt và hội chứng bàng quang bé. Trong
nghiên cứu này chúng tôi đã loại trừ các
bệnh nhân có bệnh lý về đường tiết niệu và
các bệnh nhân có rối loạn tiểu tiện. Tỷ lệ
bệnh nhân tiểu rắt tăng cao cùng kích cỡ
sonde 14F (24.1%), 16F (37.9%), 18F
(50%). Khác biệt có ý nghĩa ở nhóm 18F,
16F so với nhóm 14F, và khác biệt có ý
nghĩa ở nhóm 18F so với nhóm 16F với
p < 0.05.
Thời gian đi tiểu rắt trung bình tỷ lệ
thuận với độ lớn của sonde, nhóm 14F là
0.6 ± 1.3 ngày, nhóm 16F là 0.8 ± 1.1 ngày
và nhóm 18F là 1.3 ± 1.7 ngày. Số ngày
đi tiểu rắt trung bình của nhóm 18F nhiều
hơn một cách có ý nghĩa so với nhóm 14F
(p < 0.05).
4.3.6. Tiểu buốt trong thời gian 2 tuần
sau rút:
Kết quả tại phần 3.3.6 cho thấy sự khác
biệt về số ngày đi tiểu buốt của nhóm 18F
(5.2 ± 2.8) so với nhóm 14F (2.6 ± 1.7),
16F (3.4 ± 1.9) là rất ý nghĩa (p < 0.05). Tỷ
lệ bệnh nhân tiểu buốt sau khi rút sonde ở
nhóm 14F là 89.7% (26 bệnh nhân), nhóm
16F là 96.6% (27 bệnh nhân) và nhóm
18F là 100% (30 bệnh nhân). Tỷ lệ bệnh
nhân tiểu buốt của nhóm 18F nhiều hơn
một cách có ý nghĩa so với nhóm 14F
(p < 0.05). Kết quả nghiên cứu như vậy
cũng là phù hợp với các kết quả trong và
ngoài nước. Theo Dương Quang Trí (1996)
thì cỡ sonde 14F và 16F là không ảnh
hưởng đến niệu đạo vì đường kính ống
thông nhỏ hơn đường kính niệu đạo [1].
Theo Toughtill E (2005) người điều dưỡng
nên dùng sonde 14F và 16F cho bệnh nhân,
vì cỡ sonde từ 18F trở lên gây ra nhiều
phiền toái cho bệnh nhân hơn như tăng
nguy cơ gây nhiễm khuẩn tiết niệu, kích
thích làm đau rát và tốn thương đường niệu
đạo gây ra tiểu buốt[7].
5. KẾT LUẬN
Nghiên cứu trên 90 bệnh nhân về các
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
199
tác dụng không mong muốn của sonde
Foley ở 3 cỡ 14F, 16F, 18F chúng tôi rút ra
một số kết luận như sau:
Cỡ sonde 18F và 16F làm gây đau đớn
cho bệnh nhân hơn khi rút một cách có ý
nghĩa so với nhóm 14F, làm tăng tỷ lệ bệnh
nhân bị bí tiểu (30% và 20% so với 3.3%),
nặng thêm tình trạng tiểu buốt và tiểu rắt
sau khi rút sonde cũng như kéo dài thêm
thời gian đi tiểu buốt và tiểu rắt so với cỡ
sonde 14F.
Từ kết quả trên chúng tôi xin đưa ra
khuyến nghị:
- Khi đặt sonde tiểu cho bệnh nhân nên
đặt cỡ sonde 14F nếu không có chỉ định
đặc biệt.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Dương Quang Trí, (1996), “Điều trị
hẹp niệu đạo sau bằng phương pháp gắn
niệu đạo hành và niệu đạo tiền liệt tuyến”,
luận văn phó tiến sỹ y khoa; trang 57
Giang Thị Kiều Anh, (2008), “Đánh
giá tác dụng giảm đau của morphin tiêm
tĩnh mạch ngắt quãng ở bệnh nhên chấn
thương ngực”, luận văn tốt nghiệp thạc sỹ y
khoa;trang 49
Nguyễn Thị Mão, (2002), “Đánh giá
tác dụng giảm đau sau mổ bằng hỗn hợp
bupivacain và fentanyl bơm liên tục qua
catheter ngoài màng cứng”, luận văn tốt
nghiệp bác sỹ nội trú; trang 47
Gray M,(2004), “What nursing
interventions reduce the risk of the symptomatic
urinary tract infection in the patient with an
indwelling catheter”, JJWOCN; pp 31,3,13
Johnson J.R, (2003), “Safety of urinary
catheters”, Journal of the American Medical
Association 289(3); pp 300-301
Sartor C, Delchambre A, Pascal L,
Drancourt M, De Micco P, Sambuc R,
(2005),“Assessment of the value of repeated
point, prevalence surveys for analyzing the
trend in nosocomial infections, Infection
Control & Hospital Epidemiology; pp 73,369
Toughill E,(2005), “Indwelling
catheters:common mechanical and patheogenic
problem”, AJN; pp 105,5,35,37
Wilde, M.H and B.L.Cameron,
(2003), “Meaning and Practical Knowledge
of people with long,term Urinary Catheters,
Journal of Wound Ostomy Continence
Nursing 30(1); pp 33-43
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
200
SO SÁNH HIỆU QUẢ CÁCH SỔ RAU TÍCH CỰC VÀ THƯỜNG QUI
TẠI KHOA SẢN BỆNH VIỆN TỈNH KON TUM
(THÁNG 4 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 2009)
CNHS Lê Thị Nguyệt - NHS Ngô Thị Thu Hà
Khoa Sản, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Băng huyết sau sinh (BHSS) là nguyên
nhân gây mất máu nặng trong sản khoa và
cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong
mẹ, nhất là ở các nước đang phát triển.
Theo thống kê của Bộ Y tế nghiên cứu về
tỷ lệ tử vong mẹ ở Việt Nam, trong số các
nguyên nhân trực tiếp gây tử vong mẹ thì
nguyên nhân hàng đầu là băng huyết 41%,
sản giật 21,3%, nhiễm khuẩn 18,8% [1].
Theo UNICEF(1999) tỷ lệ tử vong mẹ xảy
ra trong 24 giờ đầu sau sinh là 50% trường
hợp, hàng năm có khoảng 14 triệu trường
hợp BHSS, trong số này có ít nhất 128.000
trường hợp tử vong trong 4 giờ đầu sau
sinh và chủ yếu xảy ra trong giai đoạn III
của cuộc chuyển dạ [2]. Giai đoạn III của
cuộc chuyển dạ hay còn gọi là giai đoạn sổ
nhau kéo dài từ khi sổ thai cho đến khi
bánh rau và màng rau được tống ra ngoài
hoàn toàn [3].
Hai nguyên nhân thông thường nhất
của băng huyết ngay tức thời sau sinh là
đờ tử cung và rách âm đạo, cổ tử cung.
Giai đoạn trước và sau tróc rau (giai đoạn
III của cuộc chuyển dạ) là thời điểm
thường xảy ra chảy máu dẫn đến mất máu
nặng nếu không được chẩn đoán và xử trí
kịp thời.
Một báo cáo về tử vong mẹ ở Anh
Quốc (1972) cho thấy rằng số tử vong mẹ
từ năm 1967-1969 là 16 ca do nguyên nhân
BHSS. Từ năm 1973-1975 vẫn còn 13 ca
tử vong do BHSS, báo cáo năm 1979 cho
thấy không có sự cải thiện hay cải thiện rất
ít. Nhưng từ khi áp dụng xử trí tích cực giai
đoạn III chuyển dạ thì tử vong mẹ giảm
đáng kể, chỉ có 3 ca tử vong do BHSS từ
1982-1984 (báo cáo năm 1989). Xử trí tích
cực giai đoạn III của chuyển dạ nhằm
phòng ngừa BHSS đã được Hiệp hội Sản
Phụ khoa quốc tế (FIGO) và Hiệp hội Nữ
Hộ Sinh quốc tế đề xuất từ tháng 11 năm
2003 [4].
Theo Abouzahr 1998, tỷ lệ BHSS ở các
nước đang phát triển cao là do việc áp dụng
xử trí tích cực giai đoạn III chuyển dạ chưa
đuợc phổ biến. Rất nhiều nghiên cứu đã
cho thấy rằng tỷ lệ BHSS (> 500 ml) ở
nhóm có xử trí tích cực giai đoạn III
chuyển dạ là 5% so với nhóm không áp
dụng là 13%; tỷ lệ BHSS (> 1000 ml) ở
nhóm có xử trí tích cực là 1% so với nhóm
không áp dụng là 3% [4].
Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo
nên thực hành xử trí tích cực giai đoạn III
của chuyển dạ, bằng cách làm tróc rau chủ
động, để rút ngắn thời gian giai đoạn III,
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
201
rút ngắn thời gian chảy máu, làm giảm
lượng máu mất, phát hiện sớm các nguyên
nhân chảy máu sau đẻ, dự phòng băng
huyết, giảm nguy cơ truyền máu sau sinh.
Tại Việt Nam, năm 2007 Bộ Y Tế cũng đã
có Chỉ thị khuyến cáo các cơ sở y tế, nơi đỡ
sinh nên thực hành kỹ thuật xử trí tích cực
giai đoạn III của chuyển dạ, và khuyến
khích các cơ sở y tế cũng nên có nhiều
nghiên cứu về chủ đề này nhằm minh
chứng cho hiệu quả dự phòng băng huyết
sau sinh khi thực hành kỹ thuật này. Hiện
nay, kỹ thuật xử trí tích cực giai đoạn III
chuyển dạ cũng đã được đưa vào Hướng
dẫn chuẩn quốc gia về làm mẹ an toàn và
được giảng dạy ở các trường y khoa và
trường đào tạo Nữ hộ sinh. Tuy nhiên việc
thực hiện kỹ thuật này ở các cơ sở y tế vẫn
chưa được đồng bộ, có nơi Nữ hộ sinh vẫn
còn chưa thực hiện.
Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài
nghiên cứu “So sánh hiệu quả cách sổ rau
tích cực và cách sổ rau thường qui” nhằm
mục tiêu:
Đánh giá lượng máu mất, thời gian sổ
nhau của giai đoạn III và các biến chứng
của 2 phương pháp sổ rau tích cực và
phương pháp sổ rau thường qui ở những
sản phụ sinh tại phòng sinh khoa sản Bệnh
viện đa khoa tỉnh Kon Tum.
2. PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI
TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm
lâm sàng ngẫu nhiên có so sánh.
Nghiên cứu được tiến hành tại phòng
sinh Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum
trong thời gian từ tháng 4-6/2009.
Đề cương nghiên cứu được Hội đồng
khoa học kỹ thuật Bệnh viện thông qua và
cho phép tiến hành nghiên cứu từ tháng
4-6/2009.
2.2. Đối tượng nghiên cứu: Các sản
phụ đến sinh tại khoa sản Bệnh viện đa
khoa tỉnh Kon Tum trong thời gian tháng
4-6/2009.
Cỡ mẫu nghiên cứu: n1= n2 = 100 với
n1 là số bà mẹ dùng phương pháp sổ rau
tích cực và n2 là số bà mẹ dùng phương sổ
rau thường quy.
2.3. Công cụ nghiên cứu
- Phiếu thu thập số liệu được soạn sẵn
các nội dung cần phân tích.
- Túi hứng và đo số lượng máu có chia
vạch tính bằng ml, túi bằng nhựa đã tiệt
khuẩn do công ty Đức Ân thành phố Hồ
Chí Minh cung cấp.
- Đồng hồ bấm giây hiệu SeilKo.
2.4. Phương pháp tiến hành
Lấy mẫu tuần tự:
Nhóm I (nhóm nghiên cứu): gồm các
sản phụ được áp dụng phương pháp sổ rau
tích cực (số thứ tự là số lẻ). Được tiến hành
theo Kỹ thuật xử trí tích cực giai đoạn III
của chuyển dạ theo hướng dẫn chuẩn Quốc
gia của Bộ Y tế ban hành năm 2007.
Nhóm II (nhóm chứng): gồm các sản
phụ được áp dụng phương pháp sổ rau
thường qui (số thứ tự là số chẵn).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
202
Tất cả các sản phụ cả 2 nhóm đều tiến
hành theo tình tự sau:
- Ghi nhận thời gian sổ rau: Thời gian
sổ rau được tính từ ngay sau khi sổ thai cho
đến khi rau sổ ra ngoài hoàn toàn, người
phụ dùng đồng hồ bấm giây để đánh giá
ghi nhận thời gian chính xác.
- Đo lường lượng máu mất:
Ngay sau khi sổ thai, người phụ lót
ngay túi hứng và đo máu dưới mông sản
phụ để máu có thể chảy vào và theo dõi số
lượng máu qua túi đo máu có vạch chia ml.
Sau khi rau sổ, Nữ hộ sinh ghi nhận
ngay số lượng máu mất chính xác được
tính bằng ml qua túi đo máu.
Tiếp tục theo dõi sản phụ sau đẻ tại
phòng sinh đến hết 01 giờ đầu và đánh giá
lại số lượng máu qua túi đo một lần nữa
trước khi chuyển về phòng hậu sản.
2.5 Xử lý số liệu: Bằng phần mềm
SPSS, và Excel 2003.
So sánh trung bình hai tổng thể và suy
đoán thống kê bằng test kiểm định (t.test)
So sánh tỷ lệ bằng test Chi bình
phương. Đánh giá:
p > 0,05: Sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê
p < 0,05: Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê
p < 0,01: Sự khác biệt rất có ý nghĩa
thống kê
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 Đặc điểm chung
Bảng 1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Nhóm sổ rau
tích cực
Nhóm sổ rau
thường qui
Yếu tố
n1 Tỷ lệ (%) n2 Tỷ lệ (%)
p
< 20 06 6,0 11 11,0 0,13
20-29 60 60,0 63 63,0 0,77
30-39 32 32,0 21 21,0 0,11
Tuổi
≥ 40 02 2,0 05 5,0 0,44
Thành thị 65 65,0 63 63,0 Vùng cư trú
Nông thôn 35 35,0 37 37,0
0,88
Kinh 79 79,0 72 72,0
Ba Na 14 14,0 15 15,0
Giẻ Triêng 02 2,0 04 4,0
Sơ Đăng 03 3,0 06 6,0
Dân tộc
Mường 02 2,0 03 3,0
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
203
Nhóm tuổi có tỷ lệ cao nhất của cả 2
nhóm nghiên cứu đều là 20-29 tuổi, nhóm
tích cực (60%), nhóm thường qui (63%).
Nhóm tuổi có tỷ lệ thấp nhất đều là ≥ 40
tuổi, nhóm tích cực (2%), nhóm thường qui
(5%). Tỷ lệ độ tuổi trong cả 2 phương pháp
không có sự khác biệt (p > 0,05).
Tỷ lệ phân bố theo vùng cư trú của cả
2 nhóm nghiên cứu gần như tương đương
nhau, nhóm tích cực sản phụ ở thành thị
là 65%, nông thôn là 35%, nhóm thường
qui sản phụ ở thành thị là 63%, nông thôn
là 37%.
Dân tộc có tỷ lệ cao nhất của của cả
2 nhóm nghiên cứu là dân tộc Kinh,
nhóm tích cực là 79%, nhóm thường qui
là 72%.
Tóm lại không có sự khác biệt về tỷ lệ
độ tuổi, vùng cư trú và thành phần dân tộc
giữa hai nhóm, đây là cơ sở để tập trung
vào nghiên cứu các vấn đề mà mục tiêu đã
đề ra trong một nghiên cứu có so sánh.
3.2 Đặc điểm tiền sử sản khoa
Bảng 2. Tiền sử sản khoa của sản phụ
Nhóm
xử trí tích cực
Nhóm
sổ rau thường qui Yếu tố
n1 Tỷ lệ (%) n2 Tỷ lệ (%)
Con so 59 59,0 61 61,0
Lần 2 32 32,0 33 33,0
Số lần sinh
> 3 lần 09 9,0 06 6,0
Sẩy thai 13 13,0 08 8,0
Sót rau 02 2,0 03 3,0
Nạo buồng
tử cung
02 2,0 03 3,0
Băng huyết
sau sinh
02 2,0 02 2,0
Tiền sử sản
khoa
Bình thường 81 81,0 84 84,0
Số lần sinh con so chiếm tỷ lệ cao
nhất của cả 2 nhóm nghiên cứu, nhóm
tích cực (59%), nhóm thường qui (61%).
Số sản phụ sinh con ≥ 3 lần chiếm tỷ lệ
thấp, nhóm tích cực có 9%, nhóm thường
qui với tỷ lệ là 6%.
Trong tiền sử sản khoa số lần sót rau, nạo
buồng tử cung, băng huyết sau sinh giữa 2 nhóm
nghiên cứu là tương đương nhau: nhóm tích cực
là 2%; nhóm thường qui, số lần sót rau, số lần
nạo buồng tử cung là 3%; sẩy thai của nhóm tích
cực là 13%, nhóm thường qui là 8%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
204
3.3 Đặc điểm lâm sàng
Bảng 3. Đặc điểm lâm sàng
Nhóm
xử trí tích cực
Nhóm
sổ rau thường qui Yếu tố
n1 Tỷ lệ (%) n2 Tỷ lệ (%)
< 38 06 6,0 09 9,0
38-41 91 91,0 88 88,0
Tuổi thai
(tuần)
> 41 03 3,0 03 3,0
< 2500 04 4,0 06 6,0
2500-3000 56 56,0 50 50,0
3001-3500 35 35,0 38 38,0
Cân nặng thai nhi
(g)
> 3500 05 5,0 06 6,0
Cả 2 nhóm đều có tuổi thai từ 38-41
tuần chiếm tỷ lệ cao nhất, nhóm tích cực
là 91%, nhóm thường qui là 88%. Tuổi
thai < 38 tuần có tỷ lệ thấp nhóm tích cực
là 6%, nhóm thường qui là 9%; tuổi thai >
41 tuần cả 2 nhóm có tỷ lệ rất thấp (3%).
Nhóm sổ rau tích cực: Tỷ lệ sản phụ
có cân nặng thai nhi từ 2500-3000g
chiếm tỷ lệ cao nhất (56%) và thấp nhất
là nhóm có cân nặng < 2500g (4%),
nhóm cân nặng thai nhi > 3500g là 5%. Sản
phụ có cân nặng thai nhi nhẹ nhất là 2200g và
nặng nhất là 3900g.
Nhóm sổ rau thường qui: Tỷ lệ sản phụ có
cân nặng thai nhi từ 2500-3000g chiếm tỷ lệ
cao nhất (50%) và thấp nhất là nhóm có cân
nặng < 2500g (6%), nhóm cân nặng thai nhi
> 3500g (6%). Sản phụ có cân nặng thai nhi
nhẹ nhất là 2100g và nặng nhất là 3800g.
Bảng 4. Thời gian sổ nhau (giai đoạn III của chuyển dạ)
Nhóm
xử trí tích cực
Nhóm
sổ rau thường qui
Thời gian sổ rau
(phút) n1
Tỷ lệ
(%)
n2 Tỷ lệ (%)
p
< 2 20 20,0 03 3,0 < 0,001
2-5 74 74,0 25 25,0 < 0,001
> 5-10 05 5,0 51 51,0 < 0,001
> 10-15 01 1,0 17 17,0 < 0,001
> 15 00 0 04 4,0 > 0,05
Tổng số 100 100 100 100
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
205
Nhóm xử trí tích cực thời gian sổ rau
chủ yếu từ 5 phút trở xuống chiếm 94% so
với nhóm thường qui chỉ có 28%. Trong khi
đó nhóm thường qui thời gian sổ rau chủ
yếu từ > 5-10 phút chiếm 51% thì ở nhóm
tích cực chỉ có 5%. Thời gian sổ rau từ
> 10-15 phút ở nhóm tích cực chỉ có 1%,
không có trường hợp nào kéo dài trên 15
phút. Nhưng ở nhóm thường qui thời gian
sổ rau từ > 10-15 phút là 17%, > 15 phút có
4%, cá biệt có 1 trường hợp kéo dài 20
phút, 1 trường hợp kéo dài đến 30 phút.
Như vậy kết quả nghiên cứu cho thấy
thời gian giai đoạn III của nhóm sổ rau
tích cực, ngắn hơn nhiều so với thời gian
giai đoạn III của nhóm sổ rau thường qui,
sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê
(p < 0,001). Điều này chứng tỏ hiệu quả
rõ ràng của phương pháp xử trí tích cực
giai đoạn III là rút ngắn đáng kể thời gian
sổ rau.
Bảng 5. Lượng máu mất trong giai đoạn III của chuyển dạ
Nhóm
xử trí tích cực
Nhóm
sổ rau thường qui
Lượng máu mất
(ml) n1
Tỷ lệ
(%)
n2 Tỷ lệ (%)
p
≤ 100 57 57,0 19 19,0 < 0,001
101-200 39 39,0 51 51,0 > 0,05
201-300 03 3,0 22 22,0 < 0,001
> 300 01 1,0 08 8,0 < 0,05
Tổng số 100 100 100 100
Nhóm xử trí tích cực lượng máu mất
chủ yếu là ≤ 100ml chiếm 57%, tỷ lệ này
cao hơn nhiều ở nhóm thường qui chỉ có
19%. Trong khi đó nhóm xử trí thường qui
có lượng máu mất chủ yếu trên 100ml
chiếm đến 81%, đặc biệt có 2 trường hợp
lượng máu mất đến 400ml, 01 trường hợp
600ml. Trong khi đó nhóm xử trí tích cực
lượng máu mất trên 100ml chỉ có 43%,
trong đó máu mất từ 201- 300ml có 3%,
trên 300ml có 1%. Tất cả sự khác biệt về tỷ
lệ lượng máu mất giữa 2 phương pháp này
đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).
Với lượng máu mất đo được càng ít thì
tỷ lệ sản phụ trong nhóm xử trí tích cực cao
hơn trong nhóm thường qui, và ngược lại
chúng tôi ghi nhận rằng nhóm mất máu
nhiều thì chủ yếu các đối tượng được xử trí
theo phương pháp thường qui. Điều này rõ
ràng phương pháp sổ rau tích cực là làm
giảm đáng kể lượng máu mất so với
phương pháp thường qui.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
206
Bảng 6. Lượng máu mất trong 1 giờ đầu sau đẻ
Nhóm
xử trí tích cực
Nhóm
sổ rau thường qui
Lượng máu mất
(ml) n1
Tỷ lệ
(%)
n2
Tỷ lệ
(%)
p
≤ 100 22 22,0 02 2,0 < 0,001
101-200 52 52,0 64 64,0 > 0,05
201-300 21 21,0 24 24,0 > 0,05
> 300 05 5,0 10 10,0 > 0,05
Tổng số 100 100 100 100
Lượng máu mất ≤ 100ml ở nhóm xử
trí tích cực có tỷ lệ là 22% cao hơn nhiều
so với nhóm thường qui chỉ có 2%.
Lượng máu mất 101-200ml cả 2 nhóm
đều chiếm tỷ lệ cao, nhóm tích cực là
52% và nhóm thường qui 64%. Lượng
máu mất 201- 300ml ở nhóm nhóm tích
cực 21%, thường qui 24%. Lượng máu
mất > 300ml ở nhóm tích cực chỉ có 5%
nhưng ở nhóm thường qui là 10%. Đặc
biệt ở nhóm thường qui có 3 trường hợp
lượng máu mất đến 500ml, 01 trường hợp
600ml, 01 trường hợp 800ml, nhóm tích cực
không có trường hợp nào mất máu từ 500ml
trở lên. Điều này chứng tỏ thêm rằng phương
pháp xử trí tích cực giai đoạn III của chuyển
dạ không những làm giảm đáng kể lượng máu
trong giai đoạn III mà còn làm giảm lượng
máu mất trong cả giờ đầu sau đẻ so với
phương pháp thường qui.
3.4 Kết quả sau giai đoạn III của chuyển dạ
Bảng 7. Kết quả và các tai biến
Nhóm
xử trí tích cực
Nhóm
sổ rau thường qui
Kết quả
n1
Tỷ lệ
(%)
n2 Tỷ lệ (%)
p
Không tai biến 97 97,0 81 81,0 < 0,001
Sót rau 01 1,0 07 7,0 > 0,05
Băng huyết 01 1,0 08 8,0 < 0,05
Đờ tử cung 01 1,0 04 4,0 > 0,05
Rau cầm tù 0 0 0 0
Lộn tử cung 0 0 0 0
Đứt cuốn rốn 0 0 0 0
Tổng số 100 100 100 100
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
207
So sánh kết quả của 2 nhóm nghiên
cứu, ta thấy:
- Tỷ lệ đạt kết quả tốt không có tai
biến trong phương pháp xử trí tích cực
cao hơn phương pháp thường qui (97% so
với 81% của phương pháp sổ rau thường
qui. Sự khác biệt về tỷ lệ tai biến của 2
phương pháp có ý nghĩa thống kê
p < 0,001).
- Vấn đề tai biến của hai phương
pháp: Nhóm xử trí tích cực chỉ có 3% tai
biến (1% băng huyết, 1% đờ tử cung, 1%
sót rau), nhưng ở nhóm thường qui tỷ lệ
có tai biến là 19% (có 7% sót rau, 8%
băng huyết sau sinh, 4% đờ tử cung) tỷ lệ
tai biến này là rất cao.
Cả 2 nhóm đều không có các trường
hợp tai biến như: rau cầm tù, lộn tử cung,
đứt cuống rốn…
Như vậy phương pháp xử trí tích cực
không những làm cho thời gian sổ rau
nhanh hơn, lượng máu mất ít hơn mà còn
hạn chế được các biến chứng so với
phương pháp thường qui.
Bảng 8. Các thủ thuật can thiệp sau giai đoạn III
Nhóm
xử trí tích cực
Nhóm
sổ rau thường qui
Các thủ thuật
n1
Tỷ lệ
(%)
n2
Tỷ lệ
(%)
Không can thiệp 94 94,0 84 84,0
Soát tử cung bằng tay 05 5,0 13 13,0
Nạo tử cung 01 1,0 02 2,0
Bóc rau bằng tay 00 0,0 01 1,0
Tổng số 100 100 100 100
So sánh các thủ thuật của 2 nhóm
nghiên cứu, nhóm xử trí tích cực có tỷ lệ
cần can thiệp thủ thuật là 6% (soát tử cung
bằng tay 5%, nạo tử cung bằng dụng cụ
1%, không có trường hợp nào bóc rau bằng
tay). Nhóm sổ rau thường qui có tỷ lệ cần
can thiệp thủ thuật là 16% (soát tử cung
bằng tay 13%, nạo tử cung bằng dụng cụ
2%, bóc rau bằng tay 1%).
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận
Qua nghiên cứu 200 trường hợp sinh
thường qua đường âm đạo, được chọn ngẫu
nhiên thành 2 nhóm, so sánh nhóm xử trí
tích cực giai đoạn III của chuyển dạ với
nhóm sổ rau thường qui, chúng tôi rút ra
một số kết luận như sau:
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
208
1. Lượng máu mất trong giai đoạn III
của nhóm xử trí tích cực ít hơn so với
nhóm sổ rau thường qui; ở nhóm xử trí tích
cực ≤ 100ml chiếm 57%, so với 19% ở
nhóm sổ rau thường qui (p < 0,001).
2. Lượng máu mất trong 1 giờ đầu sau
đẻ của nhóm xử trí tích cực cũng giảm hơn
so với nhóm sổ rau thường qui.
- Lượng máu mất ≤ 100ml ở nhóm xử
trí tích cực là 22% so với nhóm thường qui
chỉ có 2%, (p < 0,001).
- Lượng máu mất trên 200ml ở nhóm
xử trí tích cực chỉ có 26%, so với 34% ở
nhóm thường qui.
3. Thời gian giai đoạn III của chuyển
dạ ở nhóm xử trí tích cực ngắn hơn nhiều
so với nhóm sổ rau thường qui rất có ý
nghĩa thống kê.
- Nhóm xử trí tích cực thời gian giai
đoạn III chủ yếu từ 5 phút trở xuống chiếm
94% so với nhóm thường qui chỉ có 28%
(p < 0,001).
- Thời gian giai đoạn III từ > 10-15 phút
ở nhóm tích cực chỉ có 1%, so với nhóm
thường qui thời gian giai đoạn III từ
> 10-15 phút là 17%, > 15 phút có 4%.
4. Phương pháp xử trí tích cực không
những làm cho thời gian sổ rau nhanh
hơn, lượng máu mất ít hơn mà còn hạn
chế được các biến chứng so với phương
pháp thường qui.
Tỷ lệ tai biến ở nhóm xử trí tích cực
chỉ có 3% so với nhóm thường qui là 19%
(p < 0,001).
Đề nghị
Cần thực hiện đo lượng máu sau sinh
tại phòng sinh, để đánh giá và chẩn đoán
băng huyết sau sinh chính xác, từ đó ta có
thể nhận định về băng huyết sau sinh đúng
mức hơn.
5. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế: Văn kiện chương trình
“Giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh
hướng tới mục tiêu thiên niên kỷ 2006-
2010”.
2. Đề tài nghiên cứu của tác giả Cao
Văn Nhựt - Huỳnh Nguyễn Khánh Trang,
Hội nghị Việt - Pháp Châu Á - Thái Bình
Dương Năm 2007.
3. Chuẩn quốc gia về sức khoẻ sinh sản
của Bộ Y tế năm 2007 tr 11.
4. Tài liệu Hội thảo khoa học kỹ thuật
(khu vực đồng bằng sông Cửu Long), chủ
đề: “Băng huyết sau sinh những quan điểm
mới trong phòng ngừa, điều trị và xử trí”,
trang 52, tr 27.
5. Bài giảng Sản - Phụ khoa (2004) tập
I, Đại học Y - Dược TP. Hồ Chí Minh, sổ
nhau bình thường tr 269-271.
6. Bài giảng Sản - Phụ khoa (2004) tập
I, Đại học Y - Dược TP. Hồ Chí Minh,
băng huyết sau sinh, tr 444.
7. Phương pháp nghiên cứu Điều dưỡng
- ThS Phạm Đức Mục - NXB Y học Hà Nội.
8. Thực hành Sản - Phụ khoa, Đại học
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
209
Y - Dược TP.Hồ Chí Minh của PGS.TS. Trần Thị Lợi.
TÌM HIỂU CẢM XÚC VÀ NHU CẦU CHĂM SÓC VỀ MẶT TINH THẦN CỦA
NGƯỜI BỆNH Ở BỆNH VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
CN. Nguyễn Trường Sơn
Khoa Điều dưỡng, Trường Đại học Y - Dược Huế.
TÓM TẮT
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực
tiếp và điều tra bằng bộ câu hỏi để tìm hiểu
cảm xúc và nhu cầu chăm sóc về mặt tinh
thần của người bệnh ở Bệnh viện Trường
Đại học Y - Dược Huế.
Kết quả ghi nhận có 55.7% cảm thấy sợ,
42.6% cảm thấy lúng túng khi vào khám và
chữa bệnh. Đa số bệnh nhân vào khám và
chữa bệnh đều có nhu cầu chăm sóc về mặt
tinh thần 86.5%. Đối tượng mà người bệnh
chọn để chia sẻ: Bác sỹ (BS): 65.1%, Điều
dưỡng (ĐD): 28.7%, Hộ lý (HL): 4%, Khác
là 2.2%. Đối tượng mà người bệnh chọn để
tư vấn BS: 65%, ĐD: 27.2%, HL: 2.6%.
Khác 5.2%. Tâm lý bệnh nhân thường
không ổn định do vậy sự nâng đỡ, chăm
sóc về mặt tinh thần của điều dưỡng vô
cùng quan trọng. Người điều dưỡng cần có
kiến thức về bệnh lý cũng như kỹ năng tư
vấn, giao tiếp với bệnh nhân. Sự chăm sóc
hỗ trợ về mặt tinh thần cho bệnh nhân
khám và chữa bệnh giúp họ vơi đi nỗi đau
đớn do bệnh tật gây nên, góp phần nâng
cao chất lượng sống cho bệnh nhân trong
thời gian khám cũng như điều trị bệnh.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc sức khỏe của người dân là
nhiệm vụ chính của những cán bộ thuộc
ngành y tế. Đối với người điều dưỡng, đây
không những là vai trò mà còn là chức
năng chính và quan trọng nhất.
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế
giới: “Sức khỏe không chỉ có nghĩa là
không có bệnh tật mà là một trạng thái
hoàn toàn thoải mái cả về mặt thể chất, tâm
thần và xã hội”. Vì vậy công tác chăm sóc
của điều dưỡng phải bao gồm chăm sóc
toàn diện các mặt trên. Tuy nhiên, cho đến
nay chúng ta chỉ mới chú trọng chăm sóc
về mặt thể chất mà chưa chú ý đến cảm xúc
và nhu cầu chăm sóc về mặt tinh thần của
người bệnh cũng như những yếu tố xã hội
có liên quan. Vì thế, việc chăm sóc bệnh
nhân chưa đạt đến hiệu quả cao nhất.
Bệnh viện trường Đại Học Y - Dược
Huế là một bệnh viện thực hành có trên 300
giường bệnh. Lưu lượng bệnh nhân ra vào
khá đông trong đó có rất nhiều bệnh nhân
đến điều trị theo yêu cầu. Việc nâng cao
chất lượng phục vụ, chăm sóc người bệnh
luôn là mối quan tâm hàng đầu của Ban
lãnh đạo Bệnh viện cũng như đội ngũ nhân
viên y tế. Việc tìm hiểu cảm xúc và nhu
cầu chăm sóc về mặt tinh thần của bệnh
nhân là một công việc cần thiết đối với điều
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
210
dưỡng để phục vụ cho công tác chăm sóc
và điều trị bệnh tốt hơn.
Xuất phát từ các lý do đó, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu cảm
xúc và nhu cầu chăm sóc về mặt tinh thần
của người bệnh ở Bệnh viện Trường Đại
học Y - Dược Huế” với các mục tiêu sau:
1. Tìm hiểu cảm xúc của người bệnh
đến điều trị tại Bệnh viện trường Đại học
Y - Dược Huế.
2. Tìm hiểu nhu cầu chăm sóc về mặt
tinh thần của người bệnh, từ đó đề xuất
một số biện pháp nâng cao chất lượng
chăm sóc phục vụ người bệnh ở Bệnh
viện trường.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh > 18 tuổi đến điều trị tại
Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế.
Tiêu chuẩn loại trừ: người bệnh bị các bệnh
lý tâm thần kinh, câm, điếc và những người
không đồng ý trả lời phỏng vấn.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Từ ngày 01/09/2007 đến ngày 31/12/2007
tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược
Huế.
2.3. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu ngang, mô tả.
- Các bước tiến hành nghiên cứu:
- Chọn ngẫu nhiên các bệnh nhân đến
điều trị nội và ngoại trú tại Bệnh viện
Trường Đại học Y - Dược Huế phù hợp với
tiêu chuẩn nghiên cứu.
- Tiếp xúc trực tiếp, phỏng vấn đối
tượng với phiếu điều tra thiết kế sẵn.
2.4 Thu thập và xử lý số liệu: Thống
kê và xử lý số liệu theo phương pháp thống
kê y học thông thường.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu:
Có 230 bệnh nhân được phỏng vấn, trong đó số bệnh nhân nội trú là 98 (42.6%),
ngoại trú là 132 (57.4%).
Bảng 1. Phân bố tỷ lệ giới tính của mẫu nghiên cứu
Nội trú Ngoại trú Tổng cộng
Giới tính
Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ %
Nam 36 36.7 60 45.5 96 41.7
Nữ 62 63.3 72 54.5 134 58.3
Tổng cộng 98 100 132 100 230 100
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
211
Nhận xét: Nam chiếm tỷ lệ là 41,7%, nữ chiếm tỷ lệ 58.3% .
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
212
Bảng 2. Phân bố tuổi của mẫu nghiên cứu
Nội trú Ngoại trú Tổng cộng
Tuổi
Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ %
< 20 19 19.4 33 25 52 22.6
21-30 22 22.4 48 36.4 70 30.4
31-40 20 20.4 18 13.6 38 16.5
41-50 14 14.3 14 10.6 28 12.2
51-60 15 15.3 8 6.1 23 10
> 60 8 8.2 11 8.3 19 8.3
Tổng cộng 98 100 132 100 230 100
Nhận xét: Độ tuổi 21-30 chiếm tỷ lệ cao nhất 30,4%, chiếm tỷ lệ ít nhất độ tuổi > 60
là 8,3%.
Bảng 3. Phân bố trình độ học vấn
Nội trú Ngoại trú Tổng cộng
Trình độ
Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ %
Tiểu học 7 7.1 14 10.6 21 9.2
PTCS 17 17.3 24 18.2 41 17.8
PTTH 30 30.6 22 16.7 52 22.6
CĐ/ĐH 43 44 71 53.8 114 49.5
Sau ĐH 1 1.0 1 0.7 2 0.9
Tổng cộng 98 100 132 100 230 100
Nhận xét: Trình độ văn hoá chủ yếu là CĐ/ĐH (49,6%) và PTTH (22,6%).
Bảng 4. Phân bố nghề nghiệp của các đối tượng tham gia phỏng vấn
Nội trú Ngoại trú Tổng cộng
Nghề nghiệp
Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ %
CBCNV 34 34.7 36 28.8 70 30.5
HS/SV 19 19.4 58 43.9 77 33.5
Buôn bán 28 28.5 7 5.3 35 15.2
Nông dân 13 13.3 20 15.2 33 14.3
Khác 4 4.1 11 8.4 15 6.5
Tổng cộng 98 100 132 100 230 100
Nhận xét: Đa số người bệnh là HS/SV và CBCNV (64%)
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
213
Bảng 5. Phân bố nơi cư trú của các đối tượng tham gia phỏng vấn
Nội Trú Ngoại Trú Tổng Cộng
Địa Chỉ
Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ %
Ngoại tỉnh 71 72.4 28 21.2 99 43
Huế 27 27.6 104 78.8 131 57
Tổng Cộng 98 100 132 100 230 100
Nhận xét: Đa số đối tượng người bệnh nơi cư trú là ở Huế 57%. Các nơi khác là 43%.
(p > 0.05).
3.2 Tìm hiểu cảm xúc của người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện trường
Đại học Y-Dược Huế
Bảng 6. Tỷ lệ bệnh nhân sợ khi vào viện, khám và chữa bệnh.
Có sợ
Sợ nhân viên y tế
Tỷ lệ bệnh nhân
sợ khi vào viện,
khám và chữa
bệnh
Không
sợ
Không
hiểu biết
bệnh tật
Sợ
đau
Sợ
tàn
tật
Sợ
chết
Sợ

lập
xh
BS ĐD HL
55
11 Số BN 48
23 28 9 6 3
4 3 4
51.0
20
Nội
trú
Tỷ lệ % 49
41.8 50.9 16.4 11 5.5
36.4 27.3 36.4
73
8 Số BN 59
36 31 10 6 0
2 2 4
53.3
11
Ngoại
trú
Tỷ lệ % 44.7
49.3 42.5 13.7 8.2 0
25 25 50
123
19 Số BN 107
59 59 19 12 3
5 6 8
53.5
15.4
Tổng
cộng
Tỷ lệ % 46.5
47.9 47.9 15.4 9.7 2.3
4.9 4 6.5
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
214
Nhận xét: Trong đó sợ do không
hiểu biết về bệnh tật của mình là 47,9%,
sợ đau 47,9 %, sợ tàn tật 15,4%, sợ chết
9,7%, sợ nhân viên y tế 15,4% (sợ BS: 4,9%,
ĐD: 4%, Hộ lý: 6,5%).
Bảng 7. Tỷ lệ bệnh nhân cảm thấy lo lắng khi vào viện
Nội trú Ngoại trú Tổng cộng
Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ %
Không lo lắng 40 40.8 38 28.8 78 33.9
Nghề nghiệp 29 50.0 25 26.6 54 35.5
Viện phí 26 44.8 52 55.3 78 51.3
Gia đình 25 43.1 51 54.3 76 50
Lo
lắng
Lý do khác 4
58
12.1
59.2
4
94
11.7
71.2
8
152
5.3
66.1
Tổng cộng 98 100 132 100 230 100
Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân cảm thấy
lo lắng khi nhập viện là 66,1% (152/230
người) bao gồm lo lắng sẽ ảnh hưởng đến
nghề nghiệp là: 35,5%, không đủ chi phí để
điều trị 51,3%, ảnh hưởng gia đình là 50%.
Bảng 8. Tỷ lệ bệnh nhân cảm thấy lúng túng khi vào viện
Nội trú Ngoại trú Tổng cộng
Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ %
Không lúng túng 71 72.4 61 46.2 132 57.4
Do quy định BV 16 59.3 11 15.5 27 27.6
Do không hiểu
bệnh tật
13 48.1 49 69.0 58 59.2
Do điều trị & cs 5 18.5 8 11.3 10 10.2
Lúng
túng
Các lý do khác 4
27
14.8
27.6
3
71
4.2
53.8
3
98
7.1
42.6
Tổng cộng 98 100 132 100 230 100
Nhận xét: Có 98/230 người (42,6%)
cảm thấy lúng túng khi vào viện, trong đó
lúng túng do không hiểu biết các quy định
của bệnh viện là 27,6%, không hiểu về bệnh tật
của mình là 59,2%, không hiểu biết về quy
trình điều trị và chăm sóc ở bệnh viện là 10,2%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
215
3.3 Tìm hiểu nhu cầu chăm sóc về mặt tinh thần của người bệnh ở Bệnh viện
Trường Đại học Y - Dược Huế.
Bảng 9. Tỷ lệ bệnh nhân có nhu cầu chăm sóc về mặt tinh thần.
Nội trú Ngoại trú Tổng cộng
Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ %
Không có nhu cầu 11 11.2 20 15.2 31 13.5
Lắng nghe & chia sẻ 58 66.7 51 45.5 109 54.8
Giải trí 23 26.4 59 52.7 82 41.2
Tư vấn bệnh tật 56 64.4 49 43.75 105 53.3
Tv.quá trình Đ.trị &
Cs
44 50.6 63 56.25 107 52.8
Phòng bệnh 41 47.1 34 30.4 75 37.7

nhu
cầu
Khác 1
87
1.1
88.8
32
112
28.6
84.8
33
199
16.6
86.5
Tổng cộng 98 100 132 100 230 100
Nhận xét: Nhu cầu chăm sóc về mặt tinh thần, có 199/230 người có nhu cầu được
chăm sóc về mặt tinh thần, chiếm tỷ lệ 86,5%.
Bảng 10. Tìm hiểu nhu cầu chia sẻ của bệnh nhân.
Nội trú Ngoại trú Tổng cộng
Đối tượng
Số ý kiến Tỷ lệ % Số ý kiến Tỷ lệ % Số ý kiến Tỷ lệ %
Bác sỹ 33 57.0 31 60.8 64 58.7
Điều dưỡng 17 29.0 20 39.2 37 33.6
Hộ lý 2 3.4 0 0 2 2.5
Khác 6 10.6 0 0 6 5.2
Tổng cộng 58 100 51 100 109 100
Nhận xét: Đối tượng mà người
bệnh muốn lắng nghe và chia sẽ các
mối băn khoăn, lo lắng của họ gồm có:
BS (58,7%), ĐD (33,6%), hộ lý (2,5%),
khác (bạn bè, người bệnh điều trị cùng
phòng) là 5,1%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
216
Bảng 11. Tìm hiểu về nhu cầu tư vấn của bệnh nhân.
Nội trú Ngoại trú Tổng cộng
Tư vấn bởi
Số ý kiến Tỷ lệ % Số ý kiến Tỷ lệ % Số ý kiến Tỷ lệ %
Bác sỹ 35 62.5 37 75.5 72 68.3
Điều dưỡng 19 33.9 12 24.5 31 30.2
Hộ lý 2 3.6 0 0 2 1.5
Tổng cộng 56 100 49 100 105 100
Nhận xét: Đối tượng mà người bệnh muốn được tư vấn là BS: 68,3%, ĐD: 30,2%, Hộ
lý: 1,5%.
4. BÀN LUẬN
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 230
người bệnh (ngoại trú 132 người, nội trú
98 người) trong đó nam giới 96 người
(41.7%), nữ giới 134 người (58.3%). Đa
số người bệnh là HS/SV và CBCNV
(64.8%), trình độ văn hóa chủ yếu là
CĐ/ĐH (49.6%), và PTTH (22.6%). Đặc
điểm này phù hợp với đối tượng mà bệnh
viện phục vụ, chủ yếu là các đối tượng
khám chữa bệnh theo yêu cầu và bảo hiểm
y tế của các đơn vị trường học và khối cơ
quan nhà nước.
Về cảm xúc của người bệnh khi vào
viện điều trị có 128/230 người (55.7%) cảm
thấy sợ khi đến bệnh viện. Trong đó sợ do
không hiểu biết về bệnh tật của mình là
46.1%, sợ đau 46.1%, sợ tàn tật 14.8%,sợ
chết 4.7%, sợ cô lập xã hội 2.3%, sợ nhân
viên y tế 14.8% (sợ BS 31.6%, sợ ĐD
26.3%, sợ HL 42.1%). Sợ hãi là cảm xúc tự
nhiên tất yếu của con người khi phải đối
diện với các vấn đề sức khỏe của bản thân.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, bên cạnh
các nỗi sợ đau, sợ tàn tật, sợ chết thì tỷ lệ
sợ do không hiểu biết về bênh tật của mình
là khá cao (46.1%). Điều này cho thấy mặc
dù đã có sự tiến bộ trong việc truyền thông
giáo dục sức khỏe, song khả năng tiếp cận
của người dân đối với thông tin sức khỏe
vẫn còn hạn chế. Tỷ lệ sợ nhân viên y tế
tuy không cao nhưng vẫn là một tỷ lệ đáng
quan tâm, có thể là do thành kiến đã ăn sâu
vào người dân khi hằng ngày trên phương
tiện truyền thông đại chúng có nhiều thông
tin không hay về đạo đức, y đức của ngành
chúng ta. Nâng cao y đức, cải thiện quan hệ
và kỹ năng giao tiếp với người bệnh là một
biện pháp giúp họ xóa bỏ nỗi sợ này.
Có 98/230 người(42.6%) cảm thấy lúng
túng khi vào viện, trong đó lúng túng do
không hiểu biết các quy định bệnh viện là
63.3%, không hiểu biết về bệnh tật của
mình là 27.6%, không hiểu biết về quy
trình điều trị và chăm sóc ở bệnh viện là
13.3%. Tỷ lệ bệnh nhân cảm thấy lo lắng
khi nhập viện là 66% (152/230 người) bao
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
217
gồm lo lắng sẽ ảnh hưởng đến nghề nghiệp
là 28.9%, không đủ chi phí để điều trị là
51.3%, ảnh hưởng gia đình 50%. Trên thực
tế, thông tin trong quá trình khám chữa
bệnh là một vấn đề hết sức quan trọng, sự
hiểu biết về quy định của bệnh viện, về
bệnh tật mà mình mắc phải, và ngay cả các
thủ thuật điều trị chăm sóc mà mình sẽ tiếp
nhận sẽ giúp cho người bệnh giảm rất nhiều
lúng túng và lo lắng. Riêng vấn đề kinh phí
khám chữa bệnh thì đây là một vấn đề lớn,
mà để có thể làm giảm sự lo lắng cho người
bệnh cần có các chính sách đồng bộ và sự
phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, đặc
biệt là mở rộng bảo hiểm y tế tự nguyện
cho các đối tượng ngoài xã hội.
Về nhu cầu chăm sóc tinh thần, có
199/230 người chiếm tỷ lệ 86.5%, đây là
một tỷ lệ rất lớn chứng tỏ vấn đề chăm sóc
về mặt tinh thần hết sức quan trọng, có thể
nâng cao hiệu quả của việc chăm sóc và
điều trị bệnh. Trong các nhu cầu về tinh
thần, nhu cầu được lắng nghe chia sẻ các
mối băn khoăn chiếm tỷ 54.8%, tư vấn về
bệnh tật mắc phải 52.8%, tư vấn về điều trị,
chăm sóc bệnh mắc phải là 53.8%, tư vấn
về kiến thức phòng bệnh là 37.7% và được
giải trí thư giãn trong thời gian nằm viện là
41.2%. Đối tượng mà người bệnh muốn
lắng nghe và chia sẻ các mối băn khoăn, lo
lắng của họ gồm có: BS: 65.1%, ĐD:
28.7%, HL: 4%, Khác (bạn bè, người bệnh
cùng phòng) là 2.2%. Nếu cần tư vấn, thì
các đối tượng mà người bệnh muốn được
tư vấn là BS: 65%, ĐD: 27.2%, HL: 2.6%.
Khác (bạn bè, người bệnh cùng phòng)
5.2%. Qua kết quả này, chúng tôi nhận thấy
vai trò của người điều dưỡng ở bệnh viện
trường Đại học Y - Dược Huế ngày càng
được nâng cao là một cơ sở đào tạo điều
dưỡng bậc đại học cho nên tỷ lệ điều dưỡng
có trình độ chuyên môn cao của bệnh viện
trường gia tăng đáng kể trong những năm
qua. Điều này đã ảnh hưởng tốt đến chất
lượng chăm sóc, qua đó làm thay đổi suy
nghĩ và nhận thức về điều dưỡng của người
bệnh. Vì thế điều dưỡng cũng là một đối
tượng quan trọng để người bệnh chia sẻ các
lo âu về bệnh tật cũng như tham vấn các
vấn đề sức khỏe. Điều này rất quan trọng vì
một trong những vai trò chính của người
điều dưỡng, bên cạnh vai trò là người chăm
sóc, chính là tư vấn và giáo dục sức khỏe.
Các kết quả trên không có sự khác
biệt giữa bệnh nhân nội và ngoại trú với
p > 0.05.
5. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 230 bệnh nhân nội và
ngoại trú, chúng tôi rút ra một số kết luận
như sau:
- Đa số người bệnh là học sinh, sinh viên
và CBCNV (64.8%), trình độ văn hóa chủ
yếu là CĐ/ĐH (49.6%), và PTTH (22.6%).
- Có 128/230 người (55.7%) cảm thấy
sợ khi đến bệnh viện: do không hiểu biết về
bệnh tật của mình là 46.1%, sợ đau 46.1%,
sợ tàn tật 14.8%, sợ chết 4.7%, sợ cô lập xã
hội 2.3%, sợ nhân viên y tế 14.8%.
- Có 98/230 người(42.6%) cảm thấy
lúng túng khi vào viện: do không hiểu biết
các quy định bệnh viện là 63.3%, không
hiểu biết về bệnh tật của mình là 27.6%,
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
218
không hiểu biết về quy trình điều trị và
chăm sóc ở bệnh viện là 13.3%.
- 86.5% người bệnh có nhu cầu chăm
sóc về tinh thần: nhu cầu lắng nghe chia sẻ
54.8%, tư vấn về bệnh tật mắc phải 52.8%,
tư vấn về điều trị, chăm sóc 53.8%, tư vấn
về kiến thức phòng bệnh là 37.7%; Giải trí
thư giãn 41.2%.
- Đối tượng mà người bệnh chọn để
chia sẻ: BS: 65.1%, ĐD: 28.7%, HL:
4%, Khác (bạn bè, người bệnh cùng phòng)
là 2.2%.
- Đối tượng mà người bệnh chọn để tư
vấn BS: 65%, ĐD: 27.2%, HL: 2.6%. Khác
(bạn bè, người bệnh cùng phòng) 5.2%.
Tóm lại, việc quan tâm tìm hiểu rõ cảm
xúc và nhu cầu chăm sóc về mặt tinh thần
của bệnh nhân là một việc làm hết sức cần
thiết, đặc biệt đối với chức năng và nhiệm
vụ của người điều dưỡng, để góp phần
nâng cao hiệu quả chăm sóc và điều trị
bệnh, đem lại dịch vụ chăm sóc y tế chất
lượng cao mà người dân mong muốn.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Khoa Điều dưỡng trường Đại học Y -
Dược Huế. Điều dưỡng cơ bản. Giáo trình
năm 2007.
2. Ruth F. Caven. Fundamentals of
Nursing. Second edition. Lipponcott, 1996.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
219
ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ THỰC HÀNH CHĂM SÓC BÀN CHÂN
CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI KHOA NỘI TIẾT
LÃO KHOA BỆNH VIỆN C ĐÀ NẴNG
CNĐD Phạm Thị Thanh Thủy
Khoa Nội tiết Lão khoa, Bệnh viện C Đà Nẵng
TÓM TẮT
Mục tiêu: Chăm sóc bàn chân của
người bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) Việt
Nam chưa được quan tâm và đánh giá đầy
đủ. Một khảo sát tại bệnh viện C Đà Nẵng
nhằm tìm hiểu kiến thức, thái độ thực hành
chăm sóc bàn chân và nhu cầu cung cấp
thông tin của người bệnh ĐTĐ. Có thể là
cơ sở để đưa ra những giải pháp can thiệp
phù hợp.
Phương pháp: Phỏng vấn trực tiếp
nhiều trường hợp ĐTĐ đến điều trị tại
bệnh viện C từ 03/2009 đến 10/2009. Bảng
câu hỏi bán cấu trúc được xây dựng để
đánh giá.
Kết quả: 105 người bệnh ĐTĐ típ 2
tham gia với tuổi trung bình là 61 và thời
gian phát hiện bệnh ĐTĐ ở nhóm 5-10 năm
chiếm nhiều nhất. Hầu hết đều sống tại
thành phố Đà Nẵng (84, 80%) thuộc thành
phần cán bộ hưu (89, 84,8%). Chỉ có
(34,2%) được giáo dục tư vấn về chăm sóc
bàn chân từ nhân viên y tế. 20% có thói
quen đi chân trần trong nhà, 34,3% không
mang giày, dép mềm đúng kích cỡ. Không
biết các dấu hiệu bệnh bàn chân cần đi
khám Bác sĩ biểu hiện qua việc không khám
khi: bị trầy xước, có vết loét hoặc cục chai
(25.7%), tím đỏ phần dưới của ngón chân
(39%), tê rần, mất cảm giác ở hai bên chân
(60%). 67,6% không chăm sóc bàn chân
đúng cách thông qua việc không cắt móng
chân ngang (67,6%), không tự khám bàn
chân (42,9%), tự cắt nhọt, cục chai, rứt da
(39%), ngâm chân trong nước muối, nước
ấm nóng, hơ nóng (33,3%), không giữ sạch
sẽ bàn chân (11,4%). 85,7% biết tập luyện
bàn chân bằng xoa bóp và 100% người
bệnh ĐTĐ có nhu cầu cung cấp thông tin
về giáo dục chăm sóc bàn chân.
Kết luận: Kiến thức chung về chăm sóc
bàn chân còn hạn chế, thiếu sự tư vấn giáo
dục từ nhân viên y tế, thực hành chăm sóc
bàn chân kém. Do vậy vấn đề đặt ra tại
khoa nội tiết Bệnh viện C chúng tôi là tăng
cường tập huấn và tư vấn giáo dục chăm
sóc bàn chân cho người bệnh ĐTĐ.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh
mạn tính thường gặp. Những biến chứng
cấp, mạn tính của bệnh đái tháo đường ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống.
Một trong những biến chứng nặng nề dẫn
đến tỷ lệ tàn tật cao là bệnh bàn chân ĐTĐ.
Chăm sóc bàn chân là phần quan trọng
trong chăm sóc sức khoẻ người bệnh ĐTĐ.
Mục tiêu chăm sóc bàn chân là dự phòng
biến chứng loét bàn chân, giảm tỷ lệ loét và
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
220
đoạn chi. Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ
không chăm sóc bàn chân là yếu tố nguy cơ
loét chân ở người ĐTĐ [3,4]. Khảo sát này
tiến hành để có được số liệu ban đầu về
kiến thức, thái độ thực hành chăm sóc bàn
chân và nhu cầu cung cấp thông tin của
người bệnh ĐTĐ tại Bệnh viện C. Có thể là
cơ sở để đưa những giải pháp giúp người
bệnh ĐTĐ nâng cao kiến thức và biết cách
tự chăm sóc cho đôi bàn chân của mình.
Chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm các
mục tiêu:
1. Tìm hiểu kiến thức của người bênh
đái tháo đường về chăm sóc bàn chân và
nhu cầu cung cấp thông tin.
2. Đánh giá thái độ thực hành chăm sóc
bàn chân của người bệnh đái tháo đường.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
105 người bệnh đã được chẩn đoán xác
định Đái tháo đường típ 2 đang nằm điều
trị tại khoa Nội tiết - Lão khoa Bệnh viện C
Đà Nẵng từ tháng 03/2009 đến 10/2009.
Tiêu chuẩn chọn bệnh:
Đối tượng nghiên cứu là những người
bệnh ĐTĐ típ 2, có hoặc không có nhiễm
trùng bàn chân. Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ
theo Tổ chức y tế thế giới năm 1999.
Tiêu chuẩn loại trừ:
Người bệnh có rối loạn ý thức hoặc
mắc các bệnh có liên quan đến rối loạn ý
thức mà không thể trả lời được phỏng
vấn,những người bệnh không hợp tác.
Tiêu chuẩn đánh giá:
Tiêu chuẩn đánh giá thực hành chăm sóc
bàn chân: dựa theo hướng dẫn chăm sóc bàn
chân của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (2004) [3]
và của Liên đoàn ĐTĐ thế giới (International
Diabetes Federation) (2005) [4].
Bảng 1. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chăm sóc bàn chân
Thực hành Có Không
1. Giữ chân sạch sẽ và khô ráo 1 0
2. Cắt móng chân ngang, không cắt khoé móng 1 0
3. Không hơ (nhiệt), không ngâm chân trong nước (nước bình
thường, nước lạnh, nước ấm, nước muối), không cắt lễ và không
đắp các bài thuốc dân gian lên bàn chân.
1 0
4. Tự khám bàn chân thường xuyên (> 1 lần/ tuần) 1 0
5. Không tự ý mổ xẻ mụt nhọt, chích bóng nước (trong trường hợp
đã bị loét, bóng nước)
1 0
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
221
Không biết chăm sóc bàn chân khi có
bất kỳ điểm 0 nào. Đối với người không
loét bàn chân, biết tự chăm sóc đúng khi có
đủ 4 điểm. Trường hợp có loét bàn chân,
biết tự chăm sóc khi đủ 5 điểm.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
- Phương tiện nghiên cứu: phiếu điều
tra đã được thiết kế trước
- Cách tiến hành nghiên cứu:
Người bệnh được khảo sát các thông
tin cần nghiên cứu theo từng phiếu điều tra.
Phỏng vấn người bệnh về sự hiểu biết
của họ:
- Kiến thức về chăm sóc bàn chân.
- Dấu hiệu của bệnh bàn chân ĐTĐ cần
đi khám Bác sĩ.
- Thái độ thực hành chăm sóc bàn chân
ĐTĐ.
- Nhu cầu cung cấp thông tin.
2.3. Xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phương pháp thống
kê y học thông thường.
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng
nghiên cứu
Khảo sát 105 người bệnh ĐTĐ típ 2
gồm 61 nữ và 44 nam, trong đó có 16 người
loét bàn chân và 89 người không loét bàn
chân. Tuổi trung bình 61, có 84 người
(80%) cư dân thành phố Đà Nẵng, 21 người
(20%) đến từ Quảng Nam. Nghề nghiệp của
đối tượng nghiên cứu bao gồm cán bộ hưu
89 (84.8%), nhân viên văn phòng và công
nhân kỹ thuật 16 (15,2%). Thời gian phát
hiện bệnh 7 năm (trung vị), nhiều nhất ở
nhóm từ 5-10 năm.
Bảng 2. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm n (%) Đặc điểm n (%)
Nữ: Nam 61: 44 Thời gian phát hiện ĐTĐ X (đlc) 7.1 (5.5)
Tuổi X (đlc) 61(9.6) TP Đà Nẵng: Tỉnh Quảng Nam 84:21
3.2. Kiến thức của người bệnh Đái tháo đường về chăm sóc bàn chân
3.2.1. Hiểu biết của người bệnh về sử dụng giày, dép đi chân
Bảng 3. Hiểu biết của người bệnh về sử dụng giày dép đi chân
Có Không
Hiểu biết về sử dụng giày dép đi chân
n % n %
Mang giày hoặc dép mềm đúng kích cỡ 69 65.7 36 34.3
Đi chân trần 21 20.0 84 80.0
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
222
Có (80%) không đi chân trần,
(65.7%) mang giày hoặc dép mềm đúng
kích cỡ. Tuy nhiên vẫn còn (20%) có
thói quen đi chân trần nhất là trong nhà,
so sánh với kết quả của các tác giả
Nguyễn Thy Khuê và cộng sự (60%) có
thói quen đi chân trần thì kết quả của
chúng tôi thấp hơn rõ. Do đặc điểm của
bệnh viện C đa số ĐTNC là cán bộ công
chức và cán bộ hưu trí nên sử dụng giày,
dép đi chân là hầu hết, có thể do thói
quen sinh hoạt vẫn còn (20%) đi chân
trần trong nhà. Đi chân trần làm gia tăng
nguy cơ chấn thương như giẫm đạp
ngoại vật. Cần chú ý giáo dục người
bệnh nên luôn mang giày hoặc dép, nhất
là giày dép mềm đúng kích cỡ.
3.2.2. Hiểu biết các dấu hiệu bệnh bàn
chân ĐTĐ cần đi khám Bác sĩ
Số liệu ở bảng 4 cho thấy có (60%)
người bệnh ĐTĐ không biết các dấu hiệu
tê rần, mất cảm giác ở hai bên bàn chân
là cảnh báo bệnh bàn chân ĐTĐ cần
khám BS. Người bệnh cho rằng cần đi
khám bàn chân khi đã có những tổn
thương thật sự như: Tím đỏ ở phần dưới
của ngón chân (61%), khi bị teo cơ
(66.7%), bị trầy xước, có vết loét ở chân
(74.3%). Và điều đáng nói ở đây là có
(25.7%) người bệnh bị trầy xước, có vết
loét nhưng không khám để được chăm
sóc và điều trị kịp thời. Đây cũng là
nguyên nhân dể đưa đến nhiễm trùng bàn
chân và đoạn chi. Điều này cho thấy kiến
thức của người bệnh về bệnh bàn chân
ĐTĐ và cách phòng ngừa, chăm sóc bàn
chân là chưa cao. Do đó, đòi hỏi điều
dưỡng cần phải tích cực hơn, hướng dẫn
cho người bệnh bằng cách đưa ra những
thông tin, hình ảnh có tính thuyết phục
để người bệnh thấy được, biết được sự
nguy hiểm của biến chứng có biện pháp
tự phòng ngừa.
Bảng 4. Hiểu biết các dấu hiệu bệnh bàn chân cần đi khám Bác sĩ
Có biết Không biết
Hiểu biết dấu hiệu bệnh bàn chân
n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
Tê rần, mất cảm giác ở hai bên chân 42 40.0 63 60.0
Khi thấy nóng ran, ngứa, đau chân 69 65.7 36 34.3
Đau chân khi đi bộ hoặc khi nằm 53 50.5 52 49.5
Có tím đỏ phần dưới của ngón chân 64 61.0 41 39.0
Khi bị teo cơ hoặc sờ chân thấy lạnh 70 66.7 35 33.3
Bị trầy xước, có vết loét hoặc cục chai 78 74.3 27 25.7
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
223
3.3. Đánh giá thái độ thực hành chăm sóc bàn chân của người bệnh ĐTĐ
3.3.1. Cách tự chăm sóc bàn chân của người bệnh ĐTĐ
Bảng 5. Kỹ năng chăm sóc bàn chân của người bệnh ĐTĐ
Có Không
Kỹ năng chăm sóc bàn chân
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Giữ bàn chân sạch sẽ, khô ráo 93 88.6 12 11.4
Cắt móng chân ngang 34 32.4 71 67.6
Không hơ, ngâm chân (nóng, lạnh) 70 66.7 35 33.3
Tự khám bàn chân thường xuyên 60 57.1 45 42.9
Không tự cắt nhọt, cục chai, tước
hoặc rứt da, chích bóng nước
64 61.0 41 39.0
Có (88.6%) người bệnh biết cách giữ
bàn chân sạch sẽ, khô ráo, (66.7.%) không
hơ, ngâm chân, và (61%) không tự cắt
nhọt, cục chai, tước hoặc rứt da. Tuy nhiên
vẫn còn (67.6%) không biết cắt móng chân
ngang, (33.3%) hơ, ngâm chân (nóng, lạnh)
và (42.9%) không tự khám bàn chân
thường xuyên.
Đánh giá thực hành chăm sóc bàn chân
ở đối tượng nghiên cứu.
Thực hành Số lượng Tỷ lệ %
Chăm sóc bàn chân đúng 34 32.4
Chăm sóc bàn chân sai 71 67.6
Qua nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chăm
sóc bàn chân sai ở ĐTNC quá cao (67.6%),
32.4% còn lại chăm sóc bàn chân đúng. Kết
quả này tương tự kết quả của tác giả
Nguyễn Thy Khuê và cộng sự là tỷ lệ chăm
sóc bàn chân sai (67%) và (33%) chăm sóc
bàn chân đúng. Cắt móng chân ngang là
một trong những biện pháp đơn giản làm
hạn chế biến chứng nhiễm trùng bàn chân
nhưng có (67.6%) không biết làm, (33.3%)
hơ, ngâm chân và (42.9%) không tự khám
bàn chân thường xuyên.
Vì vậy, trong công tác chăm sóc toàn
diện chúng ta phải hướng dẫn cho người
bệnh nhiều hơn nữa cách cắt móng chân
ngang, không lấy khoé, và thường xuyên tự
khám bàn chân. Không ít người trong
ĐTNC ngâm nóng chân và hơ đắp ấm bàn
chân đã gây phồng rộp và nhiễm trùng bàn
chân sau vài ngày, tự ý rạch chích da hoặc
tước da gây ra loét bàn chân. Trong công
tác giáo dục cần nhấn mạnh hành vi không
được hơ đắp nóng, tự ý chích rạch da và
đắp thuốc dân gian lên bàn chân.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
224
3.3.2. Cách tập luyện bàn chân
Bảng 6. Kỹ năng tập luyện bàn chân
Có Không
Cách tập luyện bàn chân
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Xoa bóp bàn chân và các ngón chân 90 85.7 15 14.2
Co duỗi các ngón chân 33 31.4 72 68.6
Lăn chân trên bóng hoặc dụng cụ
khác khi ngồi lâu
24 22.9 81 77.1
Có 85.7% người bệnh tập luyện bàn
chân bằng xoa bóp. Đây là tỷ lệ khá cao,
cho thấy đa phần người bệnh biết được
cách tập luyện bàn chân và tầm quan
trọng của việc xoa bóp. Cần khuyến
khích người bệnh xoa bóp bàn chân và co
duỗi các ngón chân hằng ngày. Tuy nhiên có
77.1% không biết khi ngồi lâu cần lăn chân
trên bóng hoặc các dụng cụ khác. Do đó Điều
dưỡng tăng cường hướng dẫn và lưu ý trong
những trường hợp có vết loét ở lòng bàn chân
thì không nên lăn trên bóng.
3.4 Nhu cầu cung cấp thông tin
3.4.1 Nguồn thông tin cung cấp kiến thức về chăm sóc bàn chân ĐTĐ
Tỷ lệ %
34.2
65.8
Nhân viên Ytế
Các nguồn khác
Biểu đồ 1. Tỷ lệ % các nguồn cung cấp thông tin cho người bệnh
Nhận xét: 34.2% nguồn cung cấp thông tin từ cán bộ y tế về giáo dục chăm sóc bàn chân.
Đây là điều mà nhân viên y tế phải tự
nhìn lại trách nhiệm tư vấn giáo dục để
giúp người bệnh ĐTĐ biết cách tự chăm sóc và
ngăn ngừa những biến chứng bệnh bàn chân.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
225
3.4.2. Nhu cầu cung cấp thông tin
Bảng 7. Nhu cầu cung cấp thông tin của người bệnh về chăm sóc bàn chân
Nhu cầu cung cấp thông tin Số lượng Tỷ lệ %
Sinh hoạt câu lạc bộ bệnh nhân ĐTĐ 105 100
Tham gia các lớp tập huấn về chăm sóc bàn chân 105 100
100% số người bệnh có nhu cầu được
tham gia các lớp tập huấn về chăm sóc bàn
chân và sinh hoạt câu lạc bộ người bệnh
ĐTĐ. Đây là trách nhiệm không nhỏ đối
với BS và ĐD khoa Nội tiết lão khoa, để
giúp người bệnh nâng cao kiến thức và biết
cách tự chăm sóc bàn chân của mình.
4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kiến thức chung về chăm sóc bàn chân
còn hạn chế, thiếu sự tư vấn giáo dục từ
nhân viên y tế, thực hành chăm sóc bàn
chân kém. Do vậy vấn đề đặt ra tại khoa
nội tiết Bệnh viện C chúng tôi là tăng
cường tập huấn và tư vấn giáo dục chăm
sóc bàn chân cho người bệnh ĐTĐ. Để
chăm sóc tốt hơn người bệnh đái tháo
đường nói chung, người bệnh đái tháo
đường có loét bàn chân nói riêng, chúng tôi
đề nghị:
- Khoa phối hợp cùng với bệnh viện định
kỳ tổ chức các lớp tập huấn chăm sóc bàn
chân và sinh hoạt câu lạc bộ người bệnh ĐTĐ.
- Các BS trong khoa phối hợp cùng với
ĐD nâng cao kiến thức và kỹ năng trong
việc tư vấn giáo dục chăm sóc bàn chân
cho người bệnh ĐTĐ
5. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tạ Văn Bình (2003), “Bệnh lý bàn
chân Đái tháo đường” Thực hành quản lý
và điều trị bệnh Đái tháo đường, tr 23-27.
2. Phòng và quản lý bệnh Đái tháo
đường tại Việt Nam, “Các vần đề về bàn
chân ở người bệnh đái tháo đường” tr 25-27.
3. American Diabetes Association (2004),
“Standards of medical care in diabetes”,
Diabetes Care 27 (1): S27-S28.
4. Lê Tuyết Hoa, Nguyễn Thy Khuê
(2008), “Yếu tố nguy cơ loét bàn chân trên
người đái tháo đường”, Luận án Tiến sĩ Y
học, Đại học Y - Dược TP. Hồ Chí Minh.
5. Nguyễn Thy Khuê, Lê Tuyết Hoa,
Trần Thế Trung (2008 ) “Khảo sát chất
lượng chăm sóc bàn chân ở người bệnh Đái
tháo đường điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy”,
Y học thực hành số: 673-674 tr 164-167.
6. Nguyễn Huy Cường, Cẩm nang
dành cho bệnh nhân Đái tháo đường Bệnh
viện Nội tiết Trung ương, tr 13-17.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
226
THĂM DÒ HIỂU BIẾT VÀ RA QUYẾT ĐỊNH
CỦA THÂN NHÂN NGƯỜI BỆNH CAO TUỔI BỊ ĐỘT QUỴ LẦN ĐẦU
ThS. Phạm Thị Thu Hương
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
TÓM TẮT
Nguy cơ đột quỵ gia tăng theo tuổi tác
nên vấn đề đặt ra là cần phải làm thế nào
để giảm nguy cơ đột quỵ ở mức thấp nhất
cũng như cải thiện mức độ tàn phế một
cách hiệu quả nhất nếu không may bị đột
quỵ. Mục tiêu: mô tả những trải nghiệm và
phản ứng của người nhà người bệnh tại
thời điểm nghi ngờ người đó bị đột quỵ và
đánh giá kiến thức của họ về đột quỵ. Đối
tượng và phương pháp: nghiên cứu định
tính phỏng vấn 20 người nhà của người
bệnh bị đột quỵ tại khoa Nội Tim mạch,
bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh Nam
Định. Kết quả: Ít nhất một triệu chứng của
đột quỵ đã được nhận ra và huyết áp cao
được nhiều người tham gia chú ý là một
nguy cơ của đột quỵ. Tuy nhiên, phần lớn
trong số họ không hiểu chính xác đột quỵ
là gì. Kết luận và đề nghị: kết luận rút ra
từ nghiên cứu là sự thiếu hiểu biết về đột
quỵ và sự hạn chế trong việc nhận biết các
dấu hiệu cũng như các yếu tố nguy cơ của
đột quỵ. Để giảm tỷ lệ tử vong và sự ảnh
hưởng lâu dài của đột quỵ cần nâng cao
hiểu biết của cộng đồng và đào tạo cấp cứu
ban đầu cho các tuyến cơ sở.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế
giới (WHO) (2009), đột quỵ hay tai biến
mạch máu não xảy ra khi sự cung cấp máu
cho não bị rối loạn (do mạch máu trong não
bị vỡ hay bị tắc bởi cục máu đông) dẫn đến
tổn thương hoặc chết tế bào não (3). Có rất
nhiều yếu tố nguy cơ có thể dẫn tới đột quỵ
bao gồm yếu tố nguy cơ không thể can thiệp
được như tuổi, giới tính, tiền sử đột quỵ…;
bên cạnh đó, đột quỵ có thể dự phòng được
nhờ việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ như
huyết áp cao, hút thuốc lá… Trên thế giới,
đột quỵ được biết đến như một nguyên nhân
gây tử vong đứng hàng thứ 3 sau bệnh tim
và ung thư, đứng hàng đầu về tàn phế của
người trưởng thành như liệt, rối loạn ngôn
ngữ, rối loạn hành vi... Bên cạnh đó, đột quỵ
còn là gánh nặng về kinh tế cho mỗi quốc
gia. Theo báo cáo của trung tâm lưu trữ Anh
(2005), mỗi năm quốc gia này phải chi 2,8
tỷ bảng Anh cho việc điều trị và 1,8 tỷ cho
sự tổn thất về kinh tế mà hậu quả của đột
quỵ gây ra như sự tàn phế. Theo đánh giá
của WHO, năm 2005, đột quỵ là một trong
mười nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại
Việt Nam (1).
Tại bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh
Nam Định, một tỷ lệ không nhỏ những
người cao tuổi bị đột quỵ được đưa đến
viện trong tình trạng nặng và tương đối
muộn để có thể nhận được những điều trị
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
227
có hiệu quả. Và tình trạng sức khoẻ của họ
nhanh chóng xấu đi bởi những biến chứng
như nhiễm trùng tiết niệu hay viêm phổi.
Theo truyền thống, trong mỗi gia đình Việt
Nam, có từ hai, ba thậm chí bốn thế hệ
sống chung dưới một mái nhà và con cái có
nghĩa vụ chăm sóc cho cha mẹ. Ngày nay,
khi mà các dịch vụ chăm sóc y tế cộng
đồng chưa đủ đáp ứng được yêu cầu của
người dân thì vai trò của người thân trong
việc nhận ra các dấu hiệu hay triệu chứng
của đột quỵ và nhanh chóng đưa người
bệnh đến bệnh viện, để hạn chế tối thiểu
các biến chứng lâu dài của đột quỵ, càng
trở nên quan trọng
Trên thế giới, có rất nhiều nghiên cứu
đã được tiến hành để tìm hiểu kiến thức của
người bệnh bị đột quỵ về các triệu chứng,
các yếu tố nguy cơ cũng như các phản ứng
đối với đột quỵ (4,5), nhưng tại Việt Nam,
những nghiên cứu như thế thì chưa có
nhiều. Chính vì lý do trên, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phát hiện
nhận thức và những quyết định của thân
nhân người bệnh cao tuổi bị đột quỵ lần
đầu” với mục tiêu:
“Mô tả những trải nghiệm và phản
ứng của người nhà người bệnh tại thời
điểm nghi ngờ người đó bị đột quỵ và đánh
giá kiến thức của họ về đột quỵ”.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu động (Action research)
được tiến hành từ tháng 01-02/2010 tại
khoa nội Tim mạch Bệnh viện Đa khoa
trung tâm tỉnh Nam Định.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu động (8) là một phương
pháp được sử dụng nhiều trong nghiên cứu
thực hành y học và ít khi nó được sử dụng
để giải quyết một vấn đề đơn chu kỳ. Chu
kỳ của Nghiên cứu động được nhấn mạnh
như là một sự phát triển hơn nữa về việc
phản ánh thực hành y học. Khác biệt với
các nghiên cứu khác, với việc sử dụng chu
trình nghiên cứu động vào nghiên cứu,
trong đó mục tiêu là tập trung vào việc phát
triển thông tin cho Điều dưỡng, cuối cùng
việc thực hành của Điều dưỡng sẽ thay đổi
khi họ bắt đầu sử dụng những thông tin này
để cung cấp cho người bệnh và gia đình khi
nghi ngờ người bệnh bị đột quỵ. Chính vì
thế nghiên cứu được coi là chu kỳ đầu tiên
của cả một chu trình được thiết kế để mang
lại sự thay đổi trong thực hành đặc biệt là
thực hành điều dưỡng.
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được lựa chọn
bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện do
hạn chế về thời gian nghiên cứu và kinh
nghiệm của người tiến hành nghiên cứu.
Mẫu nghiên cứu gồm 20 người có quan hệ
gần gũi với người bệnh, những người tham
gia vào quá trình chăm sóc khi người bệnh
bị đột quỵ lần đầu được điều trị tại khoa.
Một tiêu chuẩn lựa chọn nữa là người tham
gia là người chứng kiến đột quỵ xảy ra
hoặc là người quyết định đưa người bệnh
đến viện.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
228
2.4 Kỹ thuật thu thập và xử lý số liệu
Kỹ thuật thu thập thông tin là phỏng
vấn sâu dựa vào bảng hướng dẫn phỏng
vấn sâu được thiết kế dựa trên các tài liệu
hướng dẫn của WHO và đóng góp ý kiến
của các chuyên gia Tim mạch. Bộ câu hỏi
gồm ba phần: thông tin chung, phản ứng
của người tham gia khi chứng kiến người
bệnh bị đột quỵ và kiến thức về đột quỵ.
Sau khi thảo luận về mục đích của
nghiên cứu, nhận được sự đồng ý của
người tham gia, cuộc phỏng vấn được thực
hiện trong thời gian từ 15 đến 20 phút. Các
buổi phỏng vấn sâu đều được người nghiên
cứu ghi chép, ghi âm và thông tin được giải
băng đúng chính xác từng từ một ngay sau
phỏng vấn với sự hỗ trợ của phần mềm F4.
Để đánh giá sự phù hợp của bộ câu hỏi, hai
cuộc phỏng vấn thử nghiệm đã được tiến
hành và việc chỉnh sửa bộ câu hỏi được sự
hỗ trợ của một bác sỹ chuyên khoa và một
thạc sỹ chuyên ngành tim mạch của Việt
Nam. Sau phỏng vấn, hai bản giải băng
được nhà nghiên cứu kiểm tra tính chính
xác bằng sự xác nhận nội dung của chính
hai người tham gia phỏng vấn.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung
Đối tượng nghiên cứu là những người
thân của người bệnh bị đột quỵ đang tham
gia trực tiếp vào chăm sóc hay là người
quyết định về mặt tài chính, nhưng trong đó
25% đối tượng có độ tuổi trên 60 và 50% là
nông dân, hai đối tượng không có việc làm
ổn định. Đa số người bệnh xuất thân từ nông
thôn và trong số 20 người bệnh thì có 8
người không có bảo hiểm y tế hay bảo hiểm
dành cho người nghèo. Phần lớn đối tượng
tham gia nghiên cứu chỉ có trình độ tiểu học.
Sự quan tâm đến tình hình bệnh tật của
người bệnh là hạn chế vì những lý do quá
bận rộn với công việc hay không để ý, như
tình trạng không biết người bệnh có uống
thuốc hay không mặc dù họ biết người thân
của mình bị huyết áp cao (9 người).
Bảng 1. Tỷ lệ về độ tuổi (n = 20)
Độ tuổi Số lượng Tần suất
< 50 13 13/20
50-60 2 2/20
> 60 5 5/20
Nhận xét: Phần đông (13/20) người
thân của người bệnh bị đột quỵ, những
người có ra quyết định đưa người bệnh đi
viện hay đang tham gia trực tiếp chăm
sóc người bệnh là dưới 50 tuổi (độ tuổi
lao động)
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
229
Bảng 2. Tình trạng nghề nghiệp hiện tại
Nghề nghiệp N (n=20) Tần suất
Công nhân 4 1/5
Nông dân 10 1/2
Nghỉ hưu 4 1/5
Thất nghiệp 2 1/10
Nhận xét: một nửa số người được phỏng vấn trong nghiên cứu là nông dân, 1/5 số
người đã nghỉ hưu và có 10% người tham gia không có việc làm ổn định.
3.2 Trải nghiệm và phản ứng với đột quỵ
Dấu hiệu cảnh báo của đột quỵ dễ dàng
bị bỏ qua nếu chúng ta không có kiến thức
về nó. Để tìm hiểu điều này, một số gợi ý
đã được đưa ra cho người tham gia như
việc nhận thấy những dấu hiệu khác thường
trong một vài ngày trước khi đột quỵ xảy
ra. Chỉ một vài trong số họ có thể nhớ “tay
bị tê, cầm cái gì là rơi cái ấy, nhưng nó
chỉ một chốc một lát thôi, lúc sau lại hết -
PVS
16
”. Đối với người đã được chứng kiến
một cơn nhồi máu thoáng qua cách đây 2
năm thì việc nhận ra những dấu hiệu này có
vẻ dễ dàng hơn “tôi thấy mặt ông cứ đần
đần. Hôm trước trời lạnh, tay chân ông tê
cứng - PVS
9
”. một số khác cho rằng sự
mệt mỏi, đau đầu là do thay đổi của thời
tiết hay sự biến đổi tâm trạng của một bà cụ
nhớ con cháu khi năm hết tết đến.
Khi đột quỵ xảy ra, sự đột ngột của nó
làm những người thân trong gia đình bối
rối, họ không biết điều gì đang xảy ra với
cha/ mẹ mình và không biết cần làm gì.
“Miệng ông bị méo và mắt thì bị mờ.
Khi tôi giơ tay ông lên thì nó bị rơi ngay
xuống, nửa người bên phải của ông bị yếu
hẳn đi. Ông đi tiểu mà không biết gì. Tôi
không biết điều gì đang xảy ra với ba
tôi - PVS
4

Đôi khi người bệnh cũng có những dự
cảm trước như “ông nói ông thấy tê chân
tay hơn bình thường - PVS
20
”. Thật khó để
nhận ra đó là những dấu hiệu của đột quỵ
nếu như không có kiến thức về nó. Và khi
đột quỵ xảy ra lúc nửa đêm, buổi sáng dậy
những người thân trong gia đình chỉ biết
“giọng nói của ông thay đổi, rồi ông không
nói được nữa - PVS
14
”.
Chứng kiến những bất thường xảy ra
với người thân, một người bày tỏ “thần
kinh không điều chỉnh được nữa, đầu gục
xuống bàn-PVS
1
” và sau đó “cả người cả
ghế đổ xuống nhà-PVS
1
”. Một số khác cho
rằng nên để người bệnh ngồi tại chỗ cho an
toàn và “xoa dầu cao-PVS
6
” hay dùng
“rượu gừng-PVS
8
” để đánh gió vì theo
dân gian thì đó là dấu hiệu của “trúng gió -
PVS
17
”. Một vài người cho rằng mình có
kinh nghiệm trong việc sử dụng thuốc “tôi
thấy mặt ông ấy đỏ, chắc là huyết áp lên.
Tôi cho ông uống một viên hạ áp màu đo
đỏ - PVS
19
”.
Trong những lúc khó khăn này thì sự
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
230
hỗ trợ của những người xung quanh là rất
cần thiết. Nếu có “một người làm trong
ngành - PVS
8
” sẽ có hiểu biết và đưa ra
quyết định đúng “cô ấy khuyên nên đưa
ông đi viện -PVS
8
”. Nhưng đôi khi sự
tranh cãi xảy ra “có đi viện cũng không
khá hơn được… - PVS
8
”, và điều này đã
trì hoãn việc cấp cứu người bệnh khi
những người thân trong gia đình không thể
đưa ra quyết định.
Tìm hỗ trợ từ nhân viên y tế là phản
ứng của nhiều người tham gia, họ cho rằng
chỉ bác sỹ mới biết bệnh gì và cho chỉ dẫn
chính xác. Sau khi kiểm tra tình trạng của
người bệnh, một vài nhân viên y tế cho
rằng nên để ở nhà điều trị, một số khác
khuyên nên đi viện sau khi cho uống thuốc
hạ áp hay chờ đến khi huyết áp ổn định.
Vận chuyển người bệnh cũng là một
vấn đề cần bàn. Có lẽ do không ý thức
được mức độ nguy hiểm của bệnh hay do
thiếu phương tiện, một số người bệnh được
chuyển đến viện bằng xe máy. Phần lớn
người bệnh được chuyển đi bằng taxi và
hai ý kiến cho rằng dịch vụ 115 không đảm
bảo, “tôi gọi 115 nhưng chờ mãi mà không
thấy - PVS
14
”, thậm chí có người cho rằng
họ “chưa nghe nói về dịch vụ 115 - PVS
9”
Ngoài khó khăn về phương tiện,
khoảng cách quãng đường cũng là một vấn
đề. Để đưa người bệnh lên viện tỉnh, nơi có
“máy móc và trang thiết bị hiện đại hơn -
PVS
3
” thì người tham gia phỏng vấn
thứ 15 phải đi taxi 32 cây số. Hơn nữa, khi
người bệnh không có bảo hiểm y tế thì việc
chi trả nằm viện cũng là một nguyên nhân
để trì hoãn nhập viện “bà lo nhà không có
tiền - PVS
18
”.
Không chỉ bị trì hoãn ngoài bệnh viện,
sự chậm trễ khi điều trị cho người bệnh còn
xảy ra trong bệnh viện. Dù người nhà có
giải thích người bệnh chỉ uống một chén
rượu nhỏ trong bữa cơm chiều và dấu hiệu
của đột quỵ khá rõ ràng nhưng nhân viên
y tế vẫn cho rằng nguyên nhân do rượu
(PVS
1
). Một trường hợp đang tiếc hơn là
sự nhầm lẫn từ trung tâm y tế xã, bệnh viện
huyện, lên viện Mắt tỉnh, người bệnh bị
chậm trễ hai ngày với chẩn đoán bệnh về
mắt khi người bệnh nôn nhiều lần trong
ngày (PVS
10
) .
3.3 Kiến thức về đột quỵ
Kiến thức về đột quỵ của các đối tượng
tham gia nghiên cứu chủ yếu qua truyền
miệng hay những nhìn nhận chủ quan và
một số người trước đây chưa từng chứng
kiến đột quỵ xảy ra. Khi được hỏi đột quỵ
là gì, có nhiều cách trả lời như “máu không
lưu thông lên não - PVS
1
”, “tắc nghẽn
mạch máu não, xuất huyết não, dân gian
gọi đột quỵ- PVS
14
” hay “bệnh lý thần kinh
- PVS
5
”. Nhìn chung các câu trả lời chỉ ra
rằng đột quỵ là ảnh hưởng ở não nhưng ba
phần tư trong số những người được phỏng
vấn không biết chính xác đột quỵ là gì.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
231
Bảng 3. Kiến thức về đột quỵ
Dấu hiệu của đột quỵ
Vận động (liệt, yếu vận động hay không thể cử động được)
Ngôn ngữ
Khả năng nhìn
Cảm giác
Khác (nôn, méo mặt, không tỉnh táo-hôn mê)
Tử vong
n = 20
15
5
1
5
6
1
Các yếu tố nguy cơ
Rượu
Áp lực tâm lý
Huyết áp cao
Tiểu đường
Rối loạn mỡ máu
Bệnh lý tim mạch
Tuổi
4
1
9
1
1
1
1
Bạn sẽ đưa ra khuyến cáo gì khi đột quỵ xảy ra?
Sơ cứu trước khi đưa đến viện
Nhanh chóng liên lạc với nhân viên y tế
Nhanh chóng đưa đi viện
Không biết
9
2
5
4
Nhận xét: trong tổng số 20 người tham
gia phỏng vấn, liệt, yếu vận động hay
không thể cử động được đề cập đến như
một triệu chứng điển hình khi đột quỵ xảy
ra với tần suất 13/20. Tuy nhiên, các triệu
chứng khác của đột quỵ như khó khăn về
nhìn hay đau đầu chỉ được hai người tham
gia chú ý (PVS
13,15
). Kết quả phân tích cho
thấy có 5 trường hợp nêu được 1 triệu
chứng; 9 người chỉ ra 2 triệu chứng và chỉ
có 2 người liệt kê đựợc 3 trong 5 triệu
chứng của đột quỵ. Huyết áp cao (9/20),
rượu (4/20) là nhưng yếu tố nguy cơ của
đột quỵ được đề cập đến nhiều trong quá
trình trả lời phỏng vấn.
Một ý kiến được cho là có những hiểu
biết nhất định về nguyên nhân của đột quỵ
“Huyết áp cao, máu nhiễm mỡ, tắc
mạch máu, chèn mạch máu, tuổi già hay xơ
cứng động mạch - PVS
16
”.
Nhưng cũng có suy nghĩ không chính
xác như:
“Va chạm mạnh (ngã hay đập đầu vào
đâu đó), thậm chí đến chỗ đông người hay nói
quá nhiều cũng có nguy cơ bị đột quỵ - PVS
3
.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
232
Ngay tại thời điểm phỏng vấn, khi mà
các đối tượng tham gia nghiên cứu đã được
chứng kiến đột quỵ xảy ra vào ngày thứ 2-3
của bệnh thì một câu hỏi đặt ra là liệu họ sẽ
làm gì khi đột quỵ xảy ra một lần nữa. Lựa
chọn giải pháp khi đột quỵ xảy ra, 9 người
tham gia lựa chọn các giải pháp sơ cứu
người bệnh như “giữ ngồi tại chỗ cho an
toàn-PVS
1,3,11,13,16,20
”, “xoa bóp-PVS
15
” hay
“xoa dầu cao-PVS
1
” trước khi đưa người
bệnh đến viện. Dựa vào kinh nghiệm của
đông y Trung Quốc, một người nói “nên
đặt khăn mát lên trán, dùng kim đâm vào
đầu ngón tay và nặn máu ra cho đến khi
người bệnh tỉnh-PVS
11
”. Một lựa chọn
khác khi sơ cứu người bệnh bị đột quỵ có
nghi ngờ tăng huyết áp là “cho uống thuốc
hạ huyết áp-PVS
3,5
”. Chỉ có 1/4 người
tham gia chọn cách gọi taxi hay cấp cứu
115 đưa người bệnh đến viện ngay. Và một
số người cho rằng nên gọi nhân viên y tế ở
gần nhà đến vì: “đó là một bác sỹ giỏi và
đã xử lý nhiều trường hợp như thế-PVS
13

Tìm hiểu các nguồn thông tin về đột
quỵ, chỉ có ba người nói rằng họ đã được
biết về các triệu chứng hay các yếu tố nguy
cơ của đột quỵ. Một vài cá nhân lại có lý
do “tôi quá bận để xem tivi-PVS
1,3
”, thậm
chí “cả năm tôi cũng không đến trung tâm
y tế lần nào-PVS
10
”. Kết quả nghiên cứu
cho thấy chỉ có 5/20 người tham gia phỏng
vấn (tần suất ¼) có thông tin về đột quỵ từ
các phương tiện thông tin đại chúng như
nghe qua đài hay xem qua tivi. Điều đáng
chú ý là không ai trong 20 người tham gia
nhận được thông tin về đột quỵ từ nhân
viên y tế.
4. BÀN LUẬN
4.1 Phản ứng với đột quỵ
Nghiên cứu chỉ ra vai trò quan trọng
của những người thân trong gia đình khi
đột quỵ xảy ra. Sự hạn chế trong kiến thức
cũng như thiếu thông tin từ các phương tiện
thông tin đại chúng hay từ nhân viên y tế
trong việc phản ứng với đột quỵ mà những
người tham gia đã có những quyết định
không phù hợp. Khi đột quỵ xảy ra, họ lại
cho rằng đó là “trúng gió” và xoa dầu cao
(6). Việc nhìn nhận đột quỵ không nguy
hiểm của các đối tượng tham gia nghiên
cứu của Shah và cộng sự lên tới 29% (7),
một kết quả tương tự trong nghiên cứu là
không ít người đã muốn hay được khuyên
để người bệnh chăm sóc tại nhà. Những
nhân viên y tế thôn xóm cũng thiếu kiến
thức trong xử lý đột quỵ. Khi được mời
đến, nhận thấy tình trạng của người bệnh
họ đã cho người bệnh uống thuốc hạ áp
thay vì đưa người bệnh đi viện ngay. Thậm
chí việc tìm một nhân viên y tế đến cũng
không phải là giải pháp tối ưu vì không có
đủ phương tiện cấp cứu cần thiết.
Ngoài ra, những đóng góp ý kiến của
những người xung quanh vừa có ý kiến tích
cực trong cứu chữa người bệnh, mặt khác,
lại có ý kiến phản đối đưa người bệnh đi
viện đã làm nặng thêm tình trạng bệnh.
Có rất nhiều yếu tố đóng góp vào sự trì
hoãn khi đưa ra quyết định là không có tiền
sử đột quỵ, thiếu nhận thức về những điều
họ đang được chứng kiến là các dấu hiệu
của một cơn đột quỵ, kiến thức về các loại
đột quỵ, cơn đột quỵ xảy ra vào đêm,
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
233
không sử dụng dịch vụ 115, sống ở những
vùng sâu hay liên lạc với nhân viên y tế
trước khi đưa người bệnh đến viện. Đôi khi
không dễ dàng để chỉ ra cho gia đình người
bệnh biết họ nên làm gì ở lần đột quỵ đầu
khi mà huyết áp của người bệnh tăng cao,
khoảng cách từ nhà đến viện quá xa và
không có phương tiện vận chuyển.
4.2 Kiến thức về đột quỵ
Gần 3/4 số người tham gia phỏng vấn
nêu ra một triệu chứng của đột quỵ như yếu
vận động hay liệt, ngoài ra phần lớn trong
số họ không biết triệu chứng nào khác hay
họ không biết nguyên nhân của tình trạng
liệt của người bệnh là gì. Trên thực tế
không phải lúc nào đột quỵ cũng xảy ra với
triệu chứng liệt hay khó khăn về vận động.
Theo khuyến cáo của tổ chức Đột quỵ thì
đột quỵ xảy ra khi người bệnh có dấu hiệu
của một trong năm triệu chứng (2). Nhiều
đối tượng nghiên cứu không biết đến các
nguyên nhân dẫn đến đột quỵ. Một số
người nghe từ người khác thì biết tăng
huyết áp là một nguyên nhân của đột quỵ
nhưng hơn một nửa trong số 20 người bệnh
không dùng thuốc điều trị huyết áp thường
xuyên. Một điều đáng chú ý là toàn bộ
người bệnh và một nửa trong số những
người tham gia phỏng vấn là người cao tuổi
nhưng họ không biết rằng tuổi cao cũng là
một nguyên nhân của đột quỵ
Với kiến thức về nhận biết các dấu hiệu
và cách phòng tránh đột quỵ, sự không
quan tâm, hay không đến trung tâm y tế,
không xem các phương tiện thông tin đại
chúng có phải là nguyên nhân của sự hạn
chế này. Nhưng một lý do có thể nhận thấy
với những người nông dân nghèo ở những
vùng nông thôn, nơi còn khó khăn về
phương tiện đi lại và thiếu trang thiết bị thì
khó tránh khỏi việc hạn chế thông tin. Mặt
khác, khi người bệnh đã vào viện điều trị
ngày thứ 2-3, thì trách nhiệm của điều
dưỡng là phải thông tin cho người bệnh và
gia đình về tình trạng bệnh và các vấn đề
liên quan. Có thể so sánh với một nghiên
cứu khác, chỉ có 1/4 trong số những người
được hỏi xác định thông tin họ nhận được
là từ điều dưỡng (7).
5. KẾT LUẬN
Khi đột quỵ xảy ra người tham gia
không biết điều gì đang xảy ra với người
thân của họ và họ không nhận thức được
mức độ nguy hiểm của nó khi đưa ra những
quyết định không phù hợp như giữ người
bệnh ở nhà chăm sóc hay đưa đến viện
bằng xe máy.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết
định đưa bệnh đến các cơ sở y tế kịp thời
như thiếu nhận thức về những điều họ đang
được chứng kiến là các dấu hiệu của một
cơn đột quỵ, cơn đột quỵ xảy ra vào đêm,
không sử dụng dịch vụ 115 hay thiếu
phương tiện vận chuyển.
Kiến thức của những người thân trong
gia đình, những người chứng kiến đột quỵ
xảy ra và đóng vai trò quyết định tìm kiếm
sự giúp đỡ y tế, lại rất hạn chế. Không ai
trong số 20 người tham gia trả lời chính xác
đột quỵ là gì và chỉ có 1/10 nêu ra 3 trong
số 5 dấu hiệu của đột quỵ. Mặc dù huyết áp
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
234
cao được nhắc đến nhiều như một yếu tố
nguy cơ của đột quỵ nhưng 1/2 trong số
những người tham gia không ý thức được
sự cần thiết của việc điều trì huyết áp
thường xuyên.
6. ĐỀ NGHỊ
Tăng cường giáo dục sức khoẻ cho
người dân tại cộng đồng, đặc biệt là những
kiến thức về nhận biết các dấu hiệu của đột
quỵ và cách phản ứng với đột quỵ. Tổ chức
những buổi nói chuyện tại cộng đồng và
cần có các bộ câu hỏi để kiểm tra hiệu quả
của việc trao đổi thông tin đó. Những kiến
thức về cấp cứu ban đầu và xử lý đột quỵ
cho các nhân viên y tế tuyến cơ sở cũng
cần được cung cấp một cách hệ thống hơn.
Hiện nay tỷ lệ người cao tuổi tại nông
thôn hay vùng sâu không có bảo hiểm y tế
là rất lớn. Có nên chăng chính sách bảo
hiểm y tế hay bảo hiểm dành cho người
nghèo quan tâm hơn nữa tới người cao tuổi,
những người có nguy cơ cao về các bệnh
tim mạch hay đột quỵ.
Sau khi đưa ra một số thông tin về đột
quỵ, nguồn tài liệu nhỏ để điều dưỡng có
thể sử dụng để cung cấp cho gia đình và
người bệnh đang điều trị tại khoa Tim
mạch, tôi muốn đề xuất một nghiên cứu để
đánh giá hiệu quả của quá trình này để tiếp
tục các chu kỳ của Action research.
7. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. World Health Organization. Vietnam
- Environmental Health Country Profile.
(March 10, 2005).
2. What is the stroke (2008). The
Stroke Association.
http://www.stroke.org.uk/information/i
ndex.html
3. Cerebrovascular Accident (2009).
WHO.
http://www.who.int/topics/cerebrovasc
ular_accident/en/
4. Dearborn, J. L., & McCullough, L.
D. (2009). Perception of Risk and
Knowledge of Risk Factors in Women at
High Risk for Stroke. Stroke, 40(4), 1181-
1186.
5. Derex L, Adeleine P, Niqhoqhossian
N, Honnorat J, & Trouillas P. (2004).
Knowledge about stroke in patients
admitted in a French Stroke Unit. Rev
Neurol Paris, 160(3), 331-337.
6. Pandian, J. D., Jaison, A., Deepak, S.
S., Kalra, G., Shamsher, S., Lincoln, D. J.,
et al. (2005). Public Awareness of Warning
Symptoms, Risk Factors, and Treatment of
Stroke in Northwest India. Stroke, 36(3),
644-648.
7. Shah, M., Makinde, K. A., &
Thomas, P. (2007). Cognitive and
Behavioral Aspects Affecting Early
Referral of Acute Stroke Patients to
Hospital. [doi: DOI: 10.1016/j.
jstrokecerebrovasdis. 2006.11.004]. Journal
of Stroke and Cerebrovascular Diseases,
16(2), 71-76.
8. Tripp, D. (2003). Action Inquiry,
Action Research e-Reports. 017. Retrieved
from
www.fhs.usyd.edu.au/arow/arer/017.htm
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
235
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG HÔ HẤP
SAU PHẪU THUẬT PHỔI TẠI KHOA NGOẠI LỒNG NGỰC
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP HẢI PHÒNG NĂM 2009
CNĐD. Ngô Thị Vân,
Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp, Hải Phòng
TÓM TẮT
Tập phục hồi chức năng phổi là một
khâu rất quan trọng sau phẫu thuật phổi.
Tác giả đã tiến hành phương pháp nghiên
cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu bệnh án của
60 người bệnh sau phẫu thuật phổi được áp
dụng phương pháp phục hồi chức năng
phổi tại khoa ngoại Lồng ngực Bệnh viện
Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng từ tháng
04/2009-08/2009. Các bệnh nhân sau phẫu
thuật phổi được tập phục hồi chức năng
phổi bằng vỗ rung phổi, thổi bóng và ho.
Bệnh nhân nghiên cứu được phân loại
thành hai nhóm, nhóm phục hồi chức năng
phổi thường xuyên và nhóm không thường
xuyên. Các kết quả nghiên cứu cho thấy:
Bệnh lý phổi mắc nhiều ở lứa tuổi từ 18-60
tuổi (68,33%); bệnh thường gặp ở nam giới
(85%); bệnh tràn khí, tràn dịch màng phổi
tự phát chiếm tỷ lệ cao (48,32%); tràn khí,
tràn máu do chấn thương (36,66%). Nhóm
người bệnh tập luyện thường xuyên có
nồng độ bão hòa oxy trong máu khi người
bệnh ra viện cao hơn so với nhóm luyện tập
không thường xuyên (99,14 % và 96,92%);
thời gian rút ống dẫn lưu phổi sau 2-4 ngày
phẫu thuật ở nhóm tập luyện thường xuyên
cao hơn nhiều so với nhóm tập luyện không
thường xuyên (87,5% và 25%); kết quả
chụp X quang phổi nở tốt trong nhóm tập
luyện thường xuyên cao hơn nhiều so với
nhóm tập không thường xuyên (95,9% và
58,3%). Tương tự 98% người bệnh thuộc
nhóm có tập luyện thường xuyên ra viện
sau 7-10 ngày nằm viện, trong khi đó chỉ
có 58% người bệnh ở nhóm không tập
luyện thường xuyên được ra viện sau 10
ngày điều trị; từ kết quả nghiên cứu trên,
tác giả khuyến cáo:
- Tăng cường công tác giáo dục sức
khỏe bằng cách hướng dẫn và theo dõi sát
sao người bệnh, in thành tờ rơi các quy
trình tập luyện và lợi ích của việc tập phục
hồi chức năng để phát cho người bệnh và
người chăm sóc để họ có thể tự đọc và tập
phục hồi chức năng ngay cả sau khi ra viện.
- Nâng cao và chuẩn hóa công tác tập
phục hồi chức năng bằng cách thay bóng
Vessie bằng ống thổi có đo dung tích thở
của nước ngoài (spirometry) để người bệnh
tự đánh giá kết quả giữa các lần tập một
cách hiệu quả hơn.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phổi là cơ quan có chức năng quan
trọng trong việc trao đổi khí O
2
và khí
CO
2
giữa cơ thể với môi trường bên
ngoài. Những năm gần đây tỷ lệ các bệnh
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
236
phổi có xu hướng gia tăng, trong đó có
các bệnh lý về phổi cần can thiệp ngoại
khoa như: tràn khí màng phổi, tràn dịch
màng phổi, kén khí phổi, u phổi… Mỗi
năm khoa ngoại Lồng ngực Bệnh viện
Hữu nghị Việt Tiệp đã thực hiện khoảng
300 ca phẫu thuật phổi.
Trong các bệnh lý về phổi, phẫu
thuật ngoại khoa nhằm giải quyết căn
nguyên, giải phóng khoang màng phổi và
thiết lập lại sinh lý hô hấp. Tuy nhiên sau
phẫu thuật người bệnh nếu không được
hướng dẫn tập phục hồi chức năng phổi một
cách thường xuyên sẽ thường gặp các biến
chứng như xẹp phổi, dày dính màng phổi,
khoang cặn màng phổi…. gây kéo dài thời
gian nằm viện, giảm sức khỏe và chất lượng
cuộc sống của người bệnh sau này. Do đó
công tác phục hồi chức năng cho phổi sau
phẫu thuật là vấn đề quan trọng được khoa
Ngoại Lồng ngực đặt ưu tiên số một. Những
năm gần đây, tại khoa Ngoại lồng ngực
Bệnh viện Việt Tiệp, chúng tôi đã áp dụng
một số biện pháp phục hồi chức năng cho
phổi sau phẫu thuật và đem lại những thành
công nhất định. Tuy nhiên, tại Hải Phòng
vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào nhằm
đánh giá kết quả của công tác phục hồi chức
năng phổi sau phẫu thuật phổi.
Để phục vụ cho công tác chăm sóc,
phục hồi chức năng phổi chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả
phục hồi chức năng hô hấp sau phẫu thuật
phổi tại khoa Ngoại Lồng ngực Bệnh viện
Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng năm 2009"
nhằm 2 mục tiêu:
- Mô tả một số đặc điểm chung của các
bệnh lý phổi được phẫu thuật tại khoa
Ngoại Lồng ngực.
- Đánh giá kết quả phục hồi chức năng
hô hấp sau phẫu thuật phổi tại khoa Ngoại
Lồng ngực Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp
Hải Phòng.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Bệnh nhân được phẫu thuật phổi tại
Khoa Ngoại Lồng ngực Bệnh viện Việt
Tiệp từ tháng 04 năm 2009 đến tháng 08
năm 2009 trừ những bệnh nhân có tổn
thương phối hợp (chấn thương cột sống, sọ
não, người bệnh nặng có hỗ trợ thở máy, vỡ
tạng trong ổ bụng).
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Phương
pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu
bệnh án.
2.3.2 Thu thập số liệu: Lấy toàn bộ
người bệnh đủ tiêu chuẩn trong thời gian
nghiên cứu.
- Người bệnh trong diện nghiên cứu
chia làm 2 nhóm:
+ Nhóm 1: Phối hợp tốt với điều
dưỡng, tập phục hồi chức năng phổi thường
xuyên theo hướng dẫn của Điều dưỡng.
+ Nhóm 2: Không phối hợp với điều
dưỡng, không tập phục hồi chức năng phổi
hoặc tập không thường xuyên.
2.3.3 Chỉ tiêu đánh giá
Sử dụng bệnh án mẫu thu thập các
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
237
thông số nghiên cứu hàng ngày:
+ Triệu chứng cơ năng của cơ quan hô
hấp: Đau ngực, khó thở, ho khạc đờm.
+ Nồng độ bão hòa oxy máu: Đo qua
SpO
2
qua máy Monitoring.
+ Thời gian rút ống dẫn lưu phổi.
+ Kết quả chụp X-quang phổi khi ra viện.
+ Thời gian nằm viện.
2.4 Xử lý số liệu
Thu thập số liệu theo biểu mẫu thống
nhất từ bệnh án lưu. Số liệu nghiên cứu
được nhập liệu và xử lý bằng chương trình
thống kê SPSS 13.0. Các biến định lượng
được so sánh kiểm định bằng test t-student,
các biến định tính được kiểm định bằng test
khi bình phương. Các biến không kiểm
định được trình bày dưới dạng tần số và tỷ
lệ. Khác biệt được coi là có ý nghĩa thống
kê khi p < 0,05.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm người bệnh nghiên cứu.
Giới tính của người bệnh: Trong số
người bệnh chọn vào nghiên cứu có 51 nam
và 9 nữ.
Phân bố tuổi của người bệnh:
Bảng 1. Tuổi người bệnh
Nhóm tuổi Số lượng người bệnh Tỷ lệ %
≤ 18 Tuổi 3 5%
19-39 19 31,67%
40-60 22 36,66%
> 60 16 26,67%
Cộng 60 100%
Nhận xét: Số người bệnh từ 18-60 chiếm tỷ lệ cao 68,33%.
Phân bố nghề nghiệp của người bệnh:
Bảng 2. Nghề nghiệp người bệnh
Nghề nghiệp Số lượng người bệnh Tỷ lệ %
Cán bộ công chức, sinh viên, học sinh 31 51,7%
Làm ruộng, nghề tự do 29 48,3%
Tổng 60 100%
Nhận xét: Sự phân bố nghề nghiệp tương đối đồng đều.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
238
Bảng 3. Mối liên quan giữa tuổi và bệnh của người bệnh
Bệnh
Tuổi
Tràn khí,
tràn dịch
màng phổi
tự phát
Tràn khí,
tràn máu do
chấn
thương
Tràn khí do
COPD
U phổi, cắt
phổi
Tỷ lệ chung
%
≤ 18 Tuổi 3 (5%) 0 0
5%
Từ 19 đến
39 tuổi
10 (16,7%) 9 (15%) 0 0
31,7%
Từ 40 đến
60 tuổi
11 (18,3%) 7 (11,7%) 2 (3,3%) 2 (3,3%)
36,7%
> 60 tuổi 8 (13,3%) 3 (5%) 2 (3,3%) 3 (5%)
26,7%
Tổng 29 (48,3%) 22 (36,7%) 4 (6,7%) 5 (8,3%) 100%
Nhận xét: Người bệnh tràn khí, tràn dịch màng phổi ở lứa tuổi từ 18-60 tuổi (lứa
tuổi lao động) chiếm tỷ lệ cao.
Bảng 4. Mối liên quan giữa nghề nghiệp và việc phối hợp tập luyện.
Cán bộ
công chức,
học sinh,
sinh viên
Làm ruộng,
nghề tự do
Nghề
nghiệp
Phối
hợp tập
BN Tỷ lệ BN Tỷ lệ
Tổng
Phối hợp tập thường xuyên 28 90,3% 20 68,9% 48
Phối hợp tập không thường xuyên 3 9,7% 9 31,1% 12
Tổng 31 100% 29 100% 60
Nhận xét: Nhóm người bệnh có nghề
nghiệp là cán bộ công chức, học sinh, sinh viên
thường phối hợp với điều dưỡng viên tập phục
hồi chức năng thường xuyên hơn (90,32%).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
239
3.2 Kết quả nghiên cứu tác dụng của phương pháp luyện tập phục hồi chức
năng phổi
3.2.1 Kết quả lâm sàng
Bảng 5. Thời gian bắt đầu thực hiện phương pháp phục hồi chức năng phổi
Bệnh
T/g tập
Tràn khí,
tràn máu
màng phổi
tự phát
Tràn khí,
tràn máu do
chấn thương
Tràn khí do
COPD
U phổi,
cắt phổi
Tỷ lệ %
3
h
đến 12
h
20 (33,3%) 12 (20,0%) 0 0 32 (53,3%)
12
h
đến 24
h
9 (15%) 10 (16,7%) 0 0 19 (31,7%)
Sau 24
h
0 0 4 (6,7%) 5 (8,3%) 9 (15,0%)
Nhận xét: Người bệnh sau phẫu thuật
tràn máu, tràn khí màng phổi tự phát và
chấn thương phổi thời gian áp dụng
phương pháp phục hồi chức năng phổi sớm
hơn. 3h-12h giờ là 53,33%.
Bảng 6. Triệu chứng cơ năng của cơ quan hô hấp
Trước tập Sau tập
Đặc điểm
Số người bệnh Tỷ lệ Số người bệnh Tỷ lệ
Đau ngực nhiều 40 66,66% 15 25 %
Khó thở nhẹ 20 50% 0 0%
Ho, khạc đờm 35 58,33% 5 8,33%
Nhận xét: Sau phẫu thuật phổi khi
chưa áp dụng phương pháp phục hồi
các chức năng các triệu chứng rối
loạn cơ năng phổi: ho, đau ngực và
khạc đờm còn xuất hiện nhiều. Sau áp
dụng phương pháp phục hồi chức năng
các triệu chứng rối loạn cơ năng phổi
giảm hẳn.
3.2.2 Kết quả cận lâm sàng
Bảng 7: Nồng độ bão hòa oxy trong máu
Sau phẫu thuật Khi ra viện
Chỉ số
Tập thường
xuyên
(n = 48)
Tập không
thường xuyên
(n = 12)
Tập thường
xuyên
(n = 48)
Tập không
thường xuyên
(n = 12)
Bão hoà
oxy máu
94,6% + 3,76 94,8% + 4,02 99,14% + 0,95 96,92 + 1,44
p < 0,05 < 0,05
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
240
Nhận xét: Ngay sau phẫu thuật nồng
độ bão hòa oxy trong máu của cả 2 nhóm
đều thấp. Khi ra viện nhóm phục hồi
chức năng thường xuyên có nồng độ bão hòa
oxy cao hơn hẳn (99,14 + 0,95).
Bảng 8. Thời gian rút ống dẫn lưu phổi
Tập thường xuyên Tập không thường xuyên
Đặc điểm
Người bệnh
(n = 48)
Tỷ lệ (%)
Người bệnh
(n = 12)
Tỷ lệ (%)
p
Từ 2-4 ngày 42 87,5 3 25
> 4 ngày 6 12,5 9 75
Tổng 48 100 12 100 p < 0,05
Nhận xét: Hầu hết người bệnh trong nhóm tập thường xuyên đều được rút ống dẫn lưu
phổi sớm trong vòng từ 2- 4 ngày (87,5%).
Bảng 9. Kết quả chụp X-quang phổi khi ra viện
Tập thường xuyên Tập không thường xuyên
Đặc điểm
Người bệnh
(n = 48)
Tỷ lệ
(%)
Người bệnh
(n = 12)
Tỷ lệ (%)
p
Phổi nở tốt 46
95,9
7 58,33
Phổi nở chưa tốt,
dầy dính màng
phổi, ứ đọng đờm
rãi ở phế quản
2 4,1 5 41,67
p < 0,05
Nhận xét: Người bệnh trong nhóm phối hợp tập phục hồi chức năng phổi thường
xuyên, khi ra viện cho kết quả chụp X quang rất tốt, phổi nở sát thành ngực (95,9%).
Bảng 10. Thời gian nằm viện
Tập thường xuyên Tập không thường xuyên
Thời gian
nằm viện
Người bệnh
(n = 48)
Tỷ lệ (%)
Người bệnh
(n = 12)
Tỷ lệ (%)
< 7ngày 16 33,4 0 0
7-10 ngày 31 64,6 7 58,3
> 10 ngày 1 2,0 5 41,7
Tổng 48 100 12 100
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
241
Nhận xét: Hầu hết người bệnh trong
nhóm nghiên cứu tập sớm và thường xuyên
(98 %) đều được ra viện sớm trước 10 ngày,
trong đó có 33,42% ra viện trước 7 ngày.
Trong khi đó nhóm Người bệnh tập phục
hồi chức năng chưa thường xuyên không có
trường hợp nào ra viện trước 7 ngày.
4. BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu
4.1.1 Tuổi và giới
Bệnh phổi là một bệnh thường gặp.
Trong đó số người bệnh cần phải can thiệp
phẫu thuật chiếm khoảng 62%. Phần lớn
các bệnh nhân là nam giới (85%) và đang ở
trong độ tuổi lao động 18-60 tuổi (68,33%).
Đây là lực lượng lao động chính của xã hội
cũng như trong mỗi gia đình. Nếu không
tập phục hồi chức năng sau phẫu thuật phổi
tốt sẽ để lại di chứng cho phổi, trực tiếp
gây ảnh hưởng đến sức khỏe, đến chất
lượng cuộc sống, năng suất lao động của
người bệnh, gián tiếp ảnh hưởng đến gia
đình và cơ quan đoàn thể nơi người bệnh
làm việc. Do đó công tác phục hồi chức
năng cho các người bệnh sau phẫu thuật
phổi, giúp họ nhanh chóng hồi phục và trở
lại lao động bình thường là một vấn đề cần
thiết và mang tính chất mấu chốt trong
quá trình điều trị bệnh phổi.
4.1.2 Mối liên quan giữa nghề nghiệp
và phối hợp tập phục hồi chức năng phổi
Người bệnh là cán bộ công chức, sinh
viên thường phối hợp với điều dưỡng trong
việc tập phục hồi chức năng tích cực hơn
(90,32%). Có điều này là do các cán bộ,
sinh viên có kiến thức hơn về sức khỏe và
bệnh tật, do đó khi được giải thích cụ thể
về tình hình bệnh tật và lợi ích của việc tập
phục hồi chức năng, họ nhận thức được tầm
quan trọng của việc tập phục hồi chức năng
và tuân thủ chặt chẽ quy trình tập luyện mà
điều dưỡng hướng dẫn. Từ đó cho thấy
công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh
là rất quan trọng, là khâu không thể thiếu
trong sự thành công của công tác phục hồi
chức năng.
4.2 Đánh giá kết quả phục hồi chức
năng phổi
4.2.1 Tập phục hồi chức năng phổi cải
thiện triệu chứng cơ năng của hô hấp
Sau phẫu thuật phổi, các triệu chứng rối
loạn cơ năng phổi: ho, đau ngực và khạc
đờm còn xuất hiện nhiều, sau khi tập phục
hồi chức năng phổi các triệu chứng rối loạn
cơ năng phổi giảm hẳn, không có người
bệnh nào còn khó thở nhẹ khi ra viện. Tuy
nhiên triệu chứng đau ngực còn kéo dài dai
dẳng ở 25% người bệnh sau khi ra viện do
trong chấn thương ngực gãy xương sườn
thường gây đau kéo dài. Trong các phẫu
thuật phổi lớn cũng phải cắt nhiều cơ thành
ngực gây đau dai dẳng cho người bệnh.
Nếu không được tập phục hồi chức năng
thường xuyên sau khi ra viện, người bệnh
vẫn có nguy cơ xẹp phổi, tràn dịch màng
phổi tái phát. Do đó người bệnh phẫu thuật
phổi cần phải tập phục hồi chức năng tốt
ngay cả sau khi ra viện. Muốn có được điều
này điều dưỡng phải tích cực trong công
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
242
tác giáo dục sức khoẻ cho người bệnh và cả
người chăm sóc-những người đóng vai trò
quan trọng trong phục hồi chức năng cho
người bệnh khi đã ra viện. Tuy nhiên điều
này còn khó khăn do người chăm sóc cho
người bệnh thay đổi hàng ngày.
4.2.2 Sử dụng phương pháp phục hồi
chức năng phổi cải thiện kết quả cận lâm
sàng của cơ quan hô hấp
Qua các bảng trên chúng ta thấy: Nồng
độ bão hòa ô xy trong máu thể hiện chức
năng thông khí của phổi có tốt hay không.
Ngay sau phẫu thuật nồng độ bão hòa oxy
trong máu của cả 2 nhóm bệnh nhân đều
tương đối thấp. Khi ra viện, nồng độ bão
hòa oxy của người bệnh được cải thiện rõ
rệt, trong nhóm người bệnh tập phục hồi
chức năng phổi thường xuyên có nồng độ
bão hòa oxy cao hơn hẳn. Tuy nhiên chưa
đánh giá được mức độ cải thiện về dung
tích thở của người bệnh do chưa có thiết bị
đo dung tích thở như ở nước ngoài [7].
Người bệnh phối hợp tập thường
xuyên khi ra viện kết quả chụp X-quang
tốt, phổi nở sát thành ngực (95,9%). Còn
người bệnh không phối hợp tập luyện
thường xuyên khi ra viện thường gặp biến
chứng được nhận biết qua phim X-quang
phối: dày dính màng phổi, còn có ít dịch
hoặc khí màng phổi.
4.2.3 Thời gian rút dẫn lưu và thời
gian nằm viện
Hầu hết người bệnh trong nhóm
nghiên cứu tập sớm và thường xuyên rút
ống dẫn lưu màng phổi từ 2-4 ngày
(87,5%) đều được ra viện sớm trước 10
ngày, trong đó có 33,42% ra viện trước 7
ngày do có kết quả điều trị về lâm sàng và
cận lâm sàng tốt. Trong khi đó nhóm bệnh
nhân tập phục hồi chức năng chưa thường
xuyên thời gian rút ống từ 2-4 ngày chỉ đạt
(25%), không có trường hợp nào ra viện
trước 7 ngày.
5. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 60 người bệnh sau
phẫu thuật phổi tại khoa Ngoại Lồng ngực
bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng
có áp dụng phương pháp phục hồi chức
năng phổi gồm kỹ thuật: vỗ rung phổi, tập
thổi bóng và ho chúng tôi rút ra những kết
luận như sau:
1. Bệnh lý phổi mắc nhiều ở lứa tuổi
lao động và thường gặp ở nam giới, lực
lượng lao động chính của xã hội. Bệnh tràn
khí, tràn dịch phổi gặp chủ yếu (chiếm
48,32%).
2. Nhận thức của người bệnh về bệnh
tật và lợi ích của việc tập phục hồi chức
năng ảnh hưởng trực tiếp đến việc phối hợp
tập phục hồi chức năng. Nên tập phục hồi
chức năng ngay cả sau khi ra viện. Do đó
nâng cao công tác giáo dục sức khoẻ cho
người bệnh là cần thiết.
3. Tập luyện phục hồi chức năng phổi
thường xuyên giúp người bệnh cải thiện
triệu chứng cơ năng, cải thiện nồng độ bão
hòa oxy trong máu (đạt tỷ lệ cao chiếm
99,14%), kết quả chụp X-quang tốt (95,9%),
được rút ống dẫn lưu phổi sớm hơn và ra
viện sớm hơn.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
243
6. ĐỀ NGHỊ
1. Tăng cường công tác giáo dục sức
khoẻ bằng cách hướng dẫn và theo dõi sát
sao người bệnh, in thành tờ rơi các quy
trình tập luyện và lợi ích của việc tập phục
hồi chức năng để phát cho người bệnh và
người chăm sóc để họ có thể tự đọc và tập
phục hồi chức năng ngay cả sau khi ra viện.
2. Nâng cao và chuẩn hóa công tác tập
phục hồi chức năng bằng cách thay bóng
Vessie bằng ống thổi có đo dung tích thở
của nước ngoài (spirometry) để người bệnh
tự đánh giá kết quả giữa các lần tập một
cách hiệu quả hơn.
7. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bệnh học và chăm sóc ngoại khoa
Nhà xuất bản Y học -1995.
2. Hướng dẫn qui trình chăm sóc
người bệnh (tập II) Nhà xuất bản Y học -
Hà Nội 2004.
3. Nghiên cứu điều dưỡng Nhà xuất
bản Y học - Hà Nội 2007.
4. Nguyễn Quang Quyền (1997), “Atlas
giải phẫu ngực - phổi - màng phổi”,
Nhà xuất bản Y học, 183-219.
5. Nguyễn Văn Tường (1990), “Sinh lí
học hô hấp”, Bài giảng sinh lí học, Nhà
xuất bản Y học, 78-92.
6. Incentive spirometry following
thoracic surgery: what should we be doing?
Paula Agostini, Sally Singh. Physiotherapy-
June 2009 (Vol. 95, Issue 2, Pages 76-
82,DOI:10.1016/j.physio.2008.11.003.
7. Linda Denehy, Physiotherapy and
thoracic surgery: thinking beyond usual
practice, Physiotherapy Research International,
13, 2, 69-74, 2008, John Wiley &Sons, Ltd.
8. Reeve J, Denehy L, Stiller K. The
physiotherapy management of patients
undergoing thoracic surgery: a survey of
current practice in Australia and New Zealand.
Physiotherapy Research International. 2007;
12:5971. doi: 10.1002/pri.354.
9. Zehr K, Dawson P, Yang S, Heitmiller
R. Standardized clinical care pathways for
major thoracic cases reduce hospital costs.
Annals of Thoracic Surgery. 1998;66:914919.
10. Varela G, Ballesteros E, Jimnez M,
Novoa N, Aranda J. Cost-effectiveness analysis
of prophylactic respiratory physiotherapy in
pulmonary lobectomy. European Journal of
Cardio-Thoracic Surgery. 2006; 29:216220.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø iV
244
ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG KHỚP VAI CỦA TRẺ XƠ
HOÁ CƠ DELTA TỪ 6-18 TUỔI SAU CAN THIỆP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TẠI
HUYỆN HOÀI ĐỨC - HÀ NỘI, NĂM 2008
ThS. Nguyễn Hữu Chút
Khoa Phục hồi chức năng - Bệnh viện Nhi trung ương
TÓM TẮT
Nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau
không có nhóm chứng, được tiến hành trên
72 cha/mẹ và trẻ từ 6-18 tuổi bị xơ hoá cơ
Delta không có chỉ định phẫu thuật tại
huyện Hoài Đức - TP Hà Nội từ tháng
3 -2008 đến tháng 9-2008, chúng tôi thu
được kết quả sau:
Hơn 2/3 số trẻ có tiến bộ về chức năng
vận động khớp vai sau can thiệp. Điểm trung
bình chức năng vận động khớp vai tăng từ
78,79 lên 88,78 điểm. Chức năng vận động
tốt và khá tăng từ 26,4% lên 44,4%.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Xơ hóa cơ Delta là tình trạng bệnh lý
khi một phần hoặc toàn bộ cơ Delta bị xơ
hoá gây ảnh hưởng đến chức năng vận
động cơ. Xơ hoá cơ Delta có thể do bẩm
sinh hoặc mắc phải [5].
Trên thực tế xơ hoá cơ Delta là bệnh
tiến triển cần phải điều trị lâu dài và không
thể chỉ dựa vào phục hồi chức năng tại các
cơ sở chuyên khoa để giải quyết hết sự hạn
chế chức năng vận động khớp vai ở trẻ vì
cần rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc...
Phục hồi chức năng tại cộng đồng là
phương pháp phù hợp trong điều kiện hiện
nay, với việc tổ chức chuyển giao kiến thức
và kỹ năng phục hồi đến tận gia đình trẻ xơ
hoá cơ Delta và thành viên cộng đồng. Từ
đó trẻ sẽ tự tập luyện và các thành viên
trong gia đình sẽ là người giám sát trực
tiếp. Phương pháp phục hồi chức năng này
giải quyết được đa số các trường hợp xơ
hoá cơ Delta và còn lôi kéo được sự tham
gia chủ động, tích cực của cộng đồng tạo
cơ hội cho trẻ xơ hoá cơ Delta được phục
hồi nhiều hơn.
Để góp phần cung cấp những cơ sở thực
tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
phục hồi chức năng xơ hoá cơ Delta tại cộng
đồng chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá
tác sự thay đổi chức năng vận động khớp
vai của trẻ xơ hoá cơ Delta từ 6-18 tuổi sau
can thiệp phục hồi chức năng tại huyện
Hoài Đức - Hà Nội, năm 2008”.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ cha/mẹ và trẻ từ 6 đến 18 tuổi
được chẩn đoán xác định là xơ hoá cơ
Delta, nhưng không có chỉ định phẫu thuật
tại huyện Hoài Đức - TP Hà Nội trong thời
gian từ tháng 3 năm 2008 đến tháng 09
năm 2008.
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
245
Thiết kế nghiên cứu can thiệp so sánh
trước sau không có nhóm chứng.
2.3 Xử lý và phân tích số liệu
Chức năng vận động khớp vai được
tính bằng 3 chỉ số: chức năng sinh hoạt
hằng ngày, tầm vận động khớp vai và cơ
lực của các nhóm cơ vùng vai. Trường hợp
trẻ bị xơ hóa cả 2 vai mà chức năng vận
động của 2 vai không đều thì chúng tôi sẽ
lấy mức độ của vai nặng hơn làm chỉ số
phân mức độ chung cho cả 2 vai.
Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata
3.1; phân tích bằng phần mềm SPSS 12.0.
3. KẾT QUẢ
3.1. Thông tin chung về đối tượng
nghiên cứu.
Nhóm tuổi từ 6-11 chiếm tỷ lệ cao nhất
47,2%, thấp nhất là nhóm tuổi 15-18 tuổi
chỉ có 11,1%. Tỷ lệ trẻ nam chiếm đa số
54,2%.
Trong tổng số 72 trẻ bị xơ hóa cơ Delta
thì số trẻ bị xơ hóa hai vai chiếm đa số
41,7%, xơ hóa vai trái là 37,5%, vai phải
20,8%. Trẻ bị xơ hóa độ 1 chiếm 84,7%.
3.2 Phân bố tỷ lệ mức tiến bộ chức
năng vận động chung của khớp vai
23,6%
37,5%
34,7%
4,2%
0
5
10
15
20
25
30
Tien bo rat
tot
Tien bo tot Tien bo TB Khong tien
bo
Biểu đồ 1
Mức tiến bộ trung bình của chức năng vận động chung so với trước can thiệp có tỷ lệ
cao nhất 37,5%, mức tiến bộ rất tốt có tỷ lệ thấp nhất 4,2%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø iV
246
3.3. Tiến bộ điểm trung bình về chức năng vận động khớp vai sau can thiệp phục
hồi chức năng
Bảng 1. Đánh giá chức năng sinh hoạt trước và sau can thiệp
Trước can thiệp Sau can thiệp
Lĩnh vực đánh giá Trung
bình
Độ lệch
chuẩn
Trung
bình
Độ lệch
chuẩn
Chức năng sinh hoạt 28,49 4,71 32,01 4,69
t
71
= 9,79; p = 0,000; Trung bình khác biệt = 3,53 với CI 95% [2,81- 4,25]
Tầm vận động 24,71 6,82 27,64 6,62
t
71
= 8,93; p = 0,000; Trung bình khác biệt = 2,93 với CI 95% [2,28- 3,59]
Cơ lực 25,59 6,17 28,75 6,69
t
71
= 9,82; p = 0,000; Trung bình khác biệt = 3,15 với CI 95% [2,51- 3,79]
Chức năng vận động 78,79 14,30 88,78 15,28
t
71
= 11,74; p = 0,000; Trung bình khác biệt = 9,99 với CI 95% [8,29- 11,68]
Trung bình điểm chức năng vận động khớp vai tăng 9,99 điểm sau can thiệp. Kết quả
này có ý nghĩa thống kê (t
71
= 11,740, p < 0,001).
3.4. Tiến bộ chức năng vận động khớp vai theo 4 mức độ
Bảng 2. Đánh giá chức năng vận động khớp vai theo 4 mức độ trước và sau can thiệp
Trước can thiệp Sau can thiệp Lĩnh vực
đánh giá
Mức độ
số lượng tỷ lệ % số lượng tỷ lệ %
Tốt 13 18,1 26 36,1
Khá 24 33,3 33 45,8
Trung bình 35 48,6 13 18,1
Kém 0 0 0 0
Chức năng sinh
hoạt
Tổng 72 100 72 100
Tốt 10 13,9 20 27,8
Khá 16 22,2 17 23,6
Trung bình 22 30,6 31 43,1
Kém 24 33,3 4 5,6
Tầm vận động
Tổng 72 100 72 100
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
247
Tốt 12 16,7 21 29,2
Khá 16 22,2 18 25,0
Trung bình 23 31,9 28 38,9
Kém 21 29,2 5 6,9
Cơ lực
Tổng 72 100 72 100
Tốt 1 1,4 9 12,5
Khá 18 25,0 23 31,9
Trung bình 33 45,8 37 51,4
Kém 20 27,8 3 4,2
Chức năng vận
động chung
Tổng 72 100 72 100
Tỷ lệ trẻ có chức năng vận động chung ở mức độ tốt trước can thiệp là 1,4% sau can
thiệp là 12,5%.
3.5.Tiến bộ chức năng vận động khớp vai theo 2 mức độ
Bảng 3. Đánh giá chức năng vận động khớp vai theo 2 mức độ trước và sau can thiệp
Trước can thiệp Sau can thiệp
Lĩnh vực
đánh giá
Mức độ
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
p
Tốt và khá 37 51,4 59 81,9
Trung bình và kém 35 48,6 13 18,1
Chức năng
sinh hoạt
Tổng 72 100 72 100
<0,001
Tốt và khá 26 36,1 37 51,4
Trung bình và kém 46 63,9 35 48,6
Tầm vận
động
Tổng 72 100 72 100
<0,001
Tốt và khá 28 38,9 39 54,2
Trung bình và kém 44 61,1 33 45,8 Cơ lực
Tổng 72 100 72 100
<0,001
Tốt và khá 19 26,4 32 44,4
Trung bình và kém 53 73,6 40 55,6
Chức năng
vận động
khớp vai
Tổng 72 100 72 100
<0,001
Chức năng vận động có tỷ lệ tốt và khá trước can thiệp 26,4%, sau can thiệp tăng lên
44,4%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
248
4. BÀN LUẬN
Trong số 72 bệnh nhân xơ hóa cơ Delta
thì nhóm tuổi gặp nhiều nhất là từ 6-11 tuổi
chiếm 47,2%. Trong nghiên cứu của
Chatterjee trên 17 người bệnh cho thấy
người bệnh gặp từ 6-14 tuổi [6]. Nghiên
cứu của Nguyễn Thanh Liêm & cs cho thấy
lứa tuổi gặp nhiều nhất từ 11 đến 15 tuổi
[3, 4]. Nghiên cứu của Trịnh Quang Dũng
cũng cho kết quả nhóm tuổi gặp nhiều nhất
là 11-15 [1]. Sự khác biệt có thể do các
nghiên cứu trên được tiến hành tại bệnh
viện và cộng đồng nhưng ở thời kỳ mới
phát hiện xơ hoá cơ Delta cho nên số trẻ bị
xơ hoá cơ Delta gồm cả những trẻ không có
chỉ định phẫu thuật và những trẻ có chỉ
định phẫu thuật.
Trẻ nam được chẩn đoán là xơ hóa cơ
Delta có tỷ lệ là 54,2%. Tỷ lệ giới này
tương tự như tỷ lệ giới trong nghiên cứu
khác [1,3,4].
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy số
người bệnh bị cả 2 bên là 30 người bệnh
chiếm 41,7%, tỷ lệ vai phải 15 (20,8%), vai
trái 27 (37,5%) thấp hơn tỷ lệ của Trịnh
Quang Dũng, Nguyễn Thanh Liêm và
Chatterjee [1,3,4,6],
Chức năng sinh hoạt sau can thiệp:
Trong nghiên cứu của chúng tôi điểm trung
bình chức năng sinh hoạt tăng lên đáng kể
là 3,53 điểm. Sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê với p < 0,001. Thấp hơn trong
nghiên cứu của Trần Trọng Hải và cộng sự,
điểm trung bình chức năng sinh hoạt sau
can thiệp tăng lên 8,09 điểm [2]. Tỷ lệ trẻ
có chức năng sinh hoạt tốt và khá trước can
thiệp là 51,4% sau can thiệp phục hồi chức
năng đã tăng lên 81,9%. Sự khác biệt này có
ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Việc phục
hôì chức năng sinh hoạt phụ thuộc vào một
số yếu tố như mức độ xơ hoá, tình trạng vận
động khớp trước khi can thiệp, tập đúng, gia
đình để cho trẻ tự thực hiện các chức năng
sinh hoạt như tự tắm, gội đầu...càng nhiều
càng tốt đồng thời cũng khuyến khích trẻ tập
những động tác phối hợp khó thực hiện như
gập khép xoay trong, duỗi khép xoay trong.
Tầm vận động sau can thiệp: Điểm
trung bình tầm vận động tăng 2,93 điểm.
Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với
p < 0,001. Thấp hơn trong nghiên cứu của
Trần Trọng Hải & cộng sự, điểm trung bình
tầm vận động sau can thiệp tăng lên 10,62
điểm [2]. Tỷ lệ trẻ có tầm vận động ở mức
độ tốt và khá từ 36,1% trước can thiệp tăng
lên 51,4% sau can thiệp. Sự khác biệt hai tỷ
lệ này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Điều này chứng tỏ nếu được tập luyện phục
hồi chức năng đúng thì tầm vận động của trẻ
bị xơ hoá cơ Delta có được cải thiện một
cách đáng kể.
Cơ lực sau can thiệp: Điểm trung bình
của cơ lực từ 25,59 trước can thiệp tăng lên
28,75 sau can thiệp. Sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê với p < 0,001. Thấp hơn
trong nghiên cứu của Trần Trọng Hải &
cộng sự [2]. Tỷ lệ cơ lực của các nhóm cơ
quanh khớp vai mức độ tốt và khá tăng từ
38,9% trước can thiệp lên 54,2% sau can
thiệp. Sự khác biệt giữa hai tỷ lệ có ý nghĩa
thống kê với p < 0,001. Để đạt được kết quả
trên thì bên cạnh việc hướng dẫn tập luyện
kéo dài cơ bị co rút kết hợp với bài tập duy
trì tầm vận động đã đạt được do việc kéo
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
249
dãn cơ thì trẻ còn được hướng dẫn các bài
tập mạnh các nhóm cơ bị yếu để lấy lại
thăng băng giữa các nhóm cơ bằng các bài
tập có sức đề kháng.
Chức năng vận động khớp vai sau can
thiệp: Mức độ tiến bộ chức năng vận động
khớp vai có tỷ lệ cao nhất là mức độ tiến bộ
trung bình 37,5%. Mức tiến bộ rất tốt
chiếm 4,2%. Trung bình điểm chức năng
vận động tăng 9,99 điểm. Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p < 0,001. Kết quả này
thấp hơn trong nghiên cứu của Trần Trọng
Hải & cộng sự [2].
Tỷ lệ chức năng vận động tốt và khá
trước can thiệp 26,4% tăng lên 44,4% sau
can thiệp. Sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê với p < 0,001.
Kết quả này cho thấy rõ vai trò của phục
hồi chức năng trong điều trị người bệnh xơ
hoá cơ delta không có chỉ định phẫu thuật
(mức độ 1 và mức độ 2) tại cộng đồng.
5. KẾT LUẬN
- Hơn 2/3 số trẻ có tiến bộ về chức
năng vận động khớp vai sau can thiệp.
- Mức tiến bộ trung bình chiếm tỷ lệ
cao nhất 37,5%.
- Điểm trung bình chức năng vận động
khớp vai tăng từ 78,79 lên 88,78 điểm.
- Chức năng vận động tốt và khá tăng
từ 26,4% lên 44,4%.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Trịnh Quang Dũng (2007), “Đánh
giá kết quả phục hồi chức năng bệnh nhân
xơ hoá cơ Delta sau phẫu thuật”, Luận văn
tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp II,
Trường Đại học Y Hà Nội.
2. Trần Trọng Hải, Trịnh Quang Dũng,
Nguyễn Hữu Chút (2008), “Đánh giá kết
quả phục hồi chức năng cho bệnh nhân xơ
hoá cơ Delta không phẫu thuật”, Bệnh
viện Nhi trung ương, Hà Nội.
3. Nguyễn Thanh Liêm (2006), “Đặc
điểm lâm, cận lâm sàng và kết quả điều trị
xơ hoá cơ Delta ở trẻ em”, Nghiên cứu
phối hợp giữa bệnh viện nhi trung ương với
đơn vị nghiên cứu lâm sàng đại học
Oxford.
4. Nguyễn Thanh Liêm (2006), “Đặc
điểm lâm sàng mô bệnh học và một số yếu
tố liên quan của tình trạng xơ hoá cơ Delta
ở huyện Nghi Xuân- Hà Tĩnh”, Bệnh viện
Nhi trung ương, Hà Nội.
Tiếng Anh
5. Brodersen MD (2005), Mayo Medical
School. In: Detoid fibro, 09/6/6005 [trích dẫn
ngày 22/10/2007] Lấy từ: URL:
http://www.emedicine.com/orthoped/topic48
1.htm
6. Chatterjee, P. & Gupta, S. K. (1983),
Deltoid contracture in children of central
Calcutta, J Pediatr Orthop, 3(3), p. 380-3.
7. Chen, S. S., Chien, C. H. & Yu,
H. S. (1988), Syndrome of deltoid and/or
gluteal fibrotic contracture: an injection
myopathy, Acta Neurol Scand, 78(3), p.
167-76.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
250
THỰC HÀNH THEO DÕI, CUNG CẤP Ô XY CỦA ĐIỀU DƯỠNG
ĐỐI VỚI BỆNH LÝ VÕNG MẠC TRẺ NON THÁNG TẠI KHOA HỒI SỨC SƠ
SINH-BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG I THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1. ĐD. Đặng Lê Ánh Châu, 2. ĐD. Nguyễn Thị Ngọc Linh,
3. ThS, Bs. Cam Ngọc Phượng
Khoa Hồi sức sơ sinh, bệnh viện Nhi Đồng I, thành phố Hồ Chí Minh
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả việc huấn
luyện kiến thức và kỹ năng thực hành lâm
sàng của điều dưỡng về việc theo dõi và
cung cấp Oxy cho trẻ non tháng.
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt
ngang 2 giai đoạn trước và sau huấn luyện
Kết quả: 60 sơ sinh non tháng vào lô
nghiên cứu trong đó có 49 trẻ sống cho đến
thời điểm xuất, trong đó tỷ lệ tử vong ở đợt
1 cao hơn giai đoạn 2 (26,6% & 10,0%).
Về điều dưỡng có kiến thức đúng ở giai
đoạn 1 thấp hơn giai đọan 2 (73,3% &
100%). Điều dưỡng có cài đặt báo động
máy & duy trì SpO2 đúng ở giai đọan 1 ít
hơn giai đọan 2 (23,3% & 86,6%). Tỷ lệ
bệnh lý võng mạc ở trẻ non tháng (ROP),
nhóm sau huấn luyện giảm so với nhóm
trước huấn luyện (3,7% so với 13,6%).
Kết luận: Tỷ lệ ROP có liên quan
với sự thay đổi trong thực hành lâm
sàng, sự khác biệt trong theo dõi cung
cấp Oxy đúng.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỷ lệ bệnh lý võng mạc ở trẻ đẻ non là
chỉ số chất lượng chung của việc chăm sóc
trẻ sơ sinh đẻ non.
Oxy là “thuốc” phổ biến nhất mà chúng
ta thường dùng cho trẻ đẻ non. Chúng ta
nên thận trọng với liều lượng Oxy giống
như khi chúng ta dùng bất kỳ loại thuốc
nào khác, nồng độ Oxy quá cao hay quá
thấp đều có thể gây hại, có thể làm cho trẻ
đẻ non khỏe mạnh thành ra bị mù do dùng
quá nhiều Oxy không cần thiết.
Với sự tiến bộ của HSSS trong những
năm vừa qua có nhiều trẻ đẻ non nhẹ cân
được cứu sống, tỷ lệ bệnh ROP lại gia tăng.
Trên thế giới tỷ lệ bệnh lý võng mạc trẻ
đẻ non (ROP) dao động 4% tùy trung tâm,
theo công trình nghiên cứu tại TPHCM tỷ
lệ ROP các tỉnh phía nam 16% tỷ lệ này
cao hơn so với các nước đang phát triển.
Chúng ta có thể hạ thấp tỷ lệ này thông qua
việc chăm sóc trẻ tốt hơn.
Vì vậy một qui trình cải thiện chất
lượng liên tục bao gồm chương trình huấn
luyện và chiến lược mới trong quản lý cung
cấp và theo dõi Oxy là một vấn đề hết sức
cần thiết.
Do đó mục tiêu nghiên cứu này đánh
giá hiệu quả của việc huấn luyện kiến thức
và kỹ năng thực hành lâm sàng của điều
dưỡng về việc theo dõi và cung cấp Oxy
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
251
cho trẻ đẻ non nhẹ cân, nhằm góp phần
giảm tỷ lệ ROP ở trẻ sanh non nhẹ cân.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá hiệu quả của việc huấn luyện
kiến thức và kỹ năng thực hành lâm sàng
của điều dưỡng về việc theo dõi và cung
cấp Oxy cho trẻ đẻ non nhẹ cân, tại khoa
Hồi sức sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng I từ
1/12/2007 đến 30/4/2008.
2.1. Mục tiêu chuyên biệt
1. Xác định tỷ lệ kiến thức đúng của
điều dưỡng về việc theo dõi và cung cấp
Oxy cho trẻ đẻ non trước và sau huấn luyện.
2. Xác định tỷ lệ duy trì SpO
2
đúng ở
trẻ non tháng trước và sau huấn luyện.
3. Xác định tỷ lệ trẻ đẻ non nhẹ cân bị
ROP vào lúc 1 tháng tuổi trước và sau
huấn luyện.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Chúng tôi nghiên cứu mô tả tất cả các
trường hợp bệnh nhân đẻ non nhẹ cân có hổ
trợ hô hấp với FiO
2
>21% tại khoa Hồi Sức
Sơ sinh BV Nhi Đồng I vào 2 giai đoạn.
Giai đoạn 1 từ 1/12/2007 đến
1/02/2008 chúng tôi chọn mẫu không xác
suất 30 trẻ đẻ non nhẹ cân < 2500gr cần
hổ trợ hô hấp với FiO
2
> 21% và ghi nhận
tên điều dưỡng theo dõi SpO
2
cho trẻ, ba
thời điểm trong ngày, 9giờ sáng, 15giờ
chiều và 22 giờ đêm.
Chúng tôi khảo sát kiến thức cung cấp
oxy cho trẻ non tháng của điều dưỡng bằng
bài pre-test gồm 10 câu trắc nghiệm, kết
quả là đạt khi điều dưỡng đánh đúng ≥ 8
câu và không đạt nếu < 8 câu.
Sau đó chúng tôi tiến hành huấn luyện
cho tất cả điều dưỡng trong khoa về chiến
lược theo dõi và cung cấp Oxygen ở trẻ đẻ
non nhẹ cân.
Nội dung bài huấn luyện là theo dõi độ
bão hòa Oxygen, chúng tôi nhấn mạnh đến
vấn đề theo dõi và cung cấp Oxy cho trẻ
non tháng thế nào là đúng và đủ nhằm
tránh tình trạng tăng Oxygen và giảm Oxy
lặp đi lặp lại ở trẻ đẻ non. Chúng tôi tránh
cung cấp Oxygen không cần thiết, tránh
không để SpO
2
của trẻ tăng trên 95%. Giá
trị SpO
2
chấp nhận trong khoảng từ 85%
đến 95% cho nhóm trẻ > 32 tuần tuổi thai
và 85% đến 93% cho nhóm trẻ ≤ 32 tuần
tuổi thai. Khi SpO
2
> 95%, giảm FiO
2
mỗi
lần không quá 5%-10% để tránh tăng oxy
máu kéo dài, đồng thời giảm nguy cơ thiếu
Oxy máu sau đó. Trong trường hợp cần
tăng FiO
2
> 10%, điều dưỡng cần báo ngay
cho bác sĩ.
Kết hợp với huấn luyện, cung cấp kiến
thức, chúng tôi phát động phong trào chăm
sóc đẻ non với biểu tượng “OWL-Oxygen
With Love” cung cấp oxy với tình yêu
thương (Hình 1), đồng thời điều dưỡng
trưởng khoa thường xuyên nhắc nhở và
giám sát việc theo dõi cung cấp Oxygen.
Giai đoạn 2 từ 1/02/2008 đến 30/04/2008
chúng tôi tiếp tục chọn mẫu không xác suất
30 trẻ đẻ non nhẹ cân cần hổ trợ hô hấp và
ghi nhận SpO
2
duy trì trong ngày, song
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø iV
252
song chúng tôi khảo sát kiến thức của điều
dưỡng bằng bài trắc nghiệm post-test giống
bài pre-test.
Tất cả các trẻ trong lô nghiên cứu ở hai
đợt đều được tái khám lúc 3-4 tuần tuổi để
tầm soát bệnh lý võng mạc sơ sinh, do bác
sĩ chuyên khoa mắt thực hiện. Chúng tôi
ghi nhận những trường hợp có tái khám, có
bệnh lý ROP và có phẫu thuật laser.
Hình 1. Biểu tượng OWL tạo sự chú ý cho ĐD khi chăm sóc trẻ đẻ non
4. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Tổng cộng nghiên cứu chúng tôi có 60
trẻ sơ sinh non tháng với cân nặng từ 800gr
đến 2500gr tại khoa Hồi sức sơ sinh bệnh
viện nhi đồng I từ 1/12/2007 đến 30/4/2008.
Trong nghiên cứu chúng tôi có 49 trẻ
sống cho đến thời điểm xuất viện, chiếm tỷ
lệ 81%. Có 11 ca tử vong chiếm 18,3% đây
là nhóm trẻ có những bệnh lý nặng như
nhiễm trùng huyết, bệnh màng trong đẻ non
28 tuần, HP bất sản hậu môn. Trong đó tỷ
lệ tử vong ở đợt 1 là 26,6%, ở giai đọan 2
là 10,0%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
253
Bảng 1. Đặc điểm dân số nghiên cứu
Khảo sát về kiến thức, hành vi điều dưỡng về cung cấp, theo dõi Oxygen giai đoạn 1
ghi nhận 73,3% điều dưỡng có kiến thức đúng.
Bảng 2. Lượng giá kiến thức điều dưỡng trong theo dõi và cung cấp Oxy
Kiến thức
Lượng giá ĐD (30)
Đạt (%) Không (%)
Trước huấn luyện 22 (73,3) 8 (26,7)
Sau huấn luyện 30 (100) 0 (0)
Tuy nhiên, có đến 83,3% trường hợp
trẻ đẻ non suy hô hấp chưa được hành vi
đúng khi chăm sóc, cụ thể như cài đặt trị
số báo động giới hạn trên SpO
2
quá cao
(83,3%), chưa có thói quen điều chỉnh
cài đặt báo động và 76,7% trẻ được duy
trì SpO
2
cao so với giới hạn cho phép
(> 95%).
Bảng 3. Lượng giá thực hành của điều dưỡng trong theo dõi và cung cấp Oxy
Duy trì
SpO2 đúng
Cài đặt giới hạn SpO2
đúng
Thực hành
Lượng giá
ĐD (30)
Đạt Không Đạt Không Đạt KHࢀNG
Trước
huấn
luyện
7
(23,3)
23
(76,7)
5
(16,7)
25
(83,3)
5
(16,7)
25
(83,3)
Sau huấn
luyện
26
(86,6)
4
(13,4)
23
(76,7)
7
(23,3)
26
(86,6)
4
(13,4)
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Cân nặng
(gr) Số ca Sống (%) Tử (%) Số ca Sống (%) Tử (%)
< 1000
1 0
(0)
1
(100,0)
2 1
(50,0)
1
(50,0)
1000-1249
10 7
(70,0)
3
(30,0)
11 11
(100,0)
0
(0)
1250-1500
10 9
(90,0 )
1
(10,0)
10 9
(90,0)
1
(10,0)
1500-2500
9 6
(66,7)
3
(33,3)
7 6
(85,7)
1
(14,3)
Tổng
30 22
(73,3)
8
(26,6)
30 27
(90,0)
3
(10,0)
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
254
Như vậy, chúng tôi nhận thấy trước
huấn luyện, dù đa số điều dưỡng có kiến
thức tương đối về sự theo dõi và cung cấp
Oxygen cho trẻ non tháng, tuy nhiên, trong
quá trình chăm sóc bệnh nhân thì chưa thực
hiện đúng vấn đề này.
Sau huấn luyện, chúng tôi nhận thấy
100% điều dưỡng có kiến thức đúng về
theo dõi và cung cấp oxy cho trẻ đẻ non,
86,6% trẻ trong giai đọan 2 được chăm sóc
đúng, trong đó 86,6% được duy trì SpO
2
trong giới hạn cho phép và 76,7% được cài
giới hạn máy theo dõi SpO
2
đúng.
Từ đó cho ta thấy việc huấn luyện, giám
sát thường xuyên rất quan trọng trong cải
thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhi sinh non.
Giảm tỷ lệ bệnh ROP phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, bao gồm ý thức thay đổi thói
quen sai của điều dưỡng và việc thống nhất
xử trí cung cấp Oxygen ở tất cả các tua trực
điều dưỡng. Điều này đòi hỏi sự tuân thủ
theo chiến lược cung cấp Oxygen của toàn
bộ nhân viên điều dưỡng trong khoa, thông
qua quá trình huấn luyện, kiểm tra, nhắc nhở
liên tục. Nhờ vậy, khoảng cách từ kiến thức
đến hành vi thực hành được rút ngắn lại.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ
bệnh lý võng mạc ở trẻ đẻ non ở nhóm sau
huấn luyện giảm so với nhóm trước huấn
luyện (3,7% so với 13,6%). Đây là tỷ lệ
tính trên tổng số bệnh nhân sống xuất viện.
Theo các nghiên cứu đa trung tâm của
phẫu thuật laser quang đông, khoảng 30%
trẻ đã phẫu thuật mắt vẫn không thể nhìn
thấy khi tái khám lúc 3 tháng, và kết quả
tương tự lúc 1tuổi, 5tuổi và 10 tuổi. Mặc
dù phẫu thuật laser quang đông là điều trị
được chấp nhận, nhưng giảm tỷ lệ ROP
nặng vẫn là mục tiêu chính của điều trị để
tránh dự hậu xấu trên thị lực. Tác giả Tin
và cộng sự báo cáo ở nhóm trẻ mà SpO
2
trong thời gian nằm viện trong khoảng từ
88% đến 98% có tỷ lệ ROP cần phẫu thuật
gấp 4 lần nhóm trẻ có SpO
2
trong khoảng
từ 70% đến 90% [2].
Như vậy, tỷ lệ bệnh lý ROP ở nhóm trẻ
sống vào lúc 3-4 tuần tuổi của giai đọan 2
sau huấn luyện được giảm so với nhóm trẻ
giai đọan 1 trước huấn luyện có thể do có
sự tăng tỷ lệ hành vi đúng trong theo dõi và
cung cấp oxy cho trẻ đẻ non.
Tuy nhiên, do cỡ mẫu tương đối nhỏ,
cần có những nghiên cứu khác với cỡ mẫu
và thiết kế mạnh hơn để có kết luận mạnh
về nguyên nhân và mối liên hệ giữa huấn
luyện, sự thay đổi trong thực hành lâm sàng
và tỷ lệ ROP.
Bảng 4. Tỷ lệ trẻ sanh non nhẹ cân bị ROP cần phẫu thuật
CÂN NẶNG
(gr)
TRƯỚC HUẤN
LUYỆN (%)
SAU HUẤN
LUYỆN (%)
Sống 0 1 < 1000
ROP có chỉ định phẫu thuật 0 (0) 0 (0)
1000-1249 Sống 7 11
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
255
ROP có chỉ định phẫu thuật 1 (14,3) 0 (0)
Sống 9 9 1250-1500
ROP có chỉ định phẫu thuật 2 (22,2) 1 (11,1)
Sống 6 6
1500-2500
ROP có chỉ định phẫu thuật 0 (0) 0 (0)
Sống 22 27
Tổng
ROP có chỉ định phẫu thuật 3 (13,6) 1 (3,7)
Như vậy chiến lược theo dõi và cung
cấp Oxygen thích hợp đã góp phần giảm tỷ
lệ bênh lý võng mạc ở trẻ đẻ non từ 13,6%
xuống còn 3,7% cho những trẻ đẻ non suy
hô hấp có thời gian thở máy và thở oxygen
kéo dài .
4. KẾT LUẬN
Mặc dù có những hạn chế về cỡ mẫu,
kết quả chúng tôi cho thấy tỷ lệ bệnh ROP
nặng, cần phẫu thuật laser có giảm kèm với
việc áp dụng chặt chẽ chiến lược cung cấp
và theo dõi Oxygen ở trẻ đẻ non. Bên cạnh
đó việc giám sát, nhắc nhở thường xuyên
và dùng biểu tượng “OWL” tạo sự chú ý
cho điều dưỡng khi chăm sóc trẻ đẻ non
nhẹ cân cũng không kém phần quan trọng.
Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ ROP có
liên quan với sự thay đổi trong thực hành
lâm sàng, sự khác biệt trong theo dõi cung
cấp Oxygen liên tục. Chúng tôi đề nghị cần
chú ý áp dụng chiến lược cung cấp và theo
dõi Oxygen tại các đơn vị chăm sóc ở trẻ
đẻ non.
5. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lili C. Chow. Can changes in
clinical practice decrease the incidence of
severe retinopathy of prematurity in very low
birth weight infants?. Padiatrics. 2003; 111:
339-345
2. Cryotherapy for Retinopathy of
Prematurity Cooperative Group. Multicenter
trial of cryotherapy for retinopathy of
prematurity. Ophthalmological outcomes at 10
years. Arch Ophthalmol. 2001;119:1110-1118
3. Cynthia H. Cole. Neonatal Oxygen
Management: Effect on Neonatal Outcomes.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø iV
256
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ RÚT THUỐC KHÁNG SINH TIÊM
TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG ĐỒNG NAI NĂM 2008
ĐD Đoàn Thị Kim Liên
ĐD Lê Thị Hà
Hướng dẫn: ThS, BS. Chu Văn Thiện
Khoa HSCC Bệnh viện Nhi Đồng-Đồng Nai
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêm thuốc có vai trò rất quan trọng
trong việc chữa bệnh tại các cơ sở y tế, nhất
là các bệnh viện, đặc biệt là những nơi có
bệnh nhân nặng. Do đó, hưởng ứng cuộc
vận động “Tiêm an toàn” là chủ trương rất
đúng đắn của Hội Điều dưỡng Việt Nam,
vừa mang tính khoa học vừa mang tính
nhân đạo sâu sắc.
“Tiêm an toàn” được diễn ra liên tục
trong từng kỹ thuật của người điều dưỡng:
từ lúc nhận thuốc đến khâu sát khuẩn, pha
thuốc, tiêm thuốc. Mục đích là đưa thuốc
vào tận cơ thể người bệnh qua đường máu,
đường mao mạch một cách an toàn, chính
xác và hiệu quả nhất đồng thời không để
xảy ra bất kỳ nguy cơ rủi ro cho người
bệnh, cho nhân viên y tế.
Có nhiều công trình nghiên cứu của
điều dưỡng trong nước về “Tiêm an toàn” ở
các góc độ khác nhau rất thiết thực, bổ ích,
nhưng chưa đề cập đến thực trạng rút thuốc
trước khi tiêm của điều dưỡng. Đây không
còn là vấn đề đơn giản như đọng lại một
vài giọt thuốc trong lọ hay một vài tia
thuốc bắn ra mà là mối quan tâm đến chất
lượng trong công tác chăm sóc người bệnh,
là y đức của người điều dưỡng. Câu hỏi
hàng ngày người bệnh có nhận đủ, đúng số
lượng thuốc theo chỉ định của thầy thuốc
hay chưa, những lãng phí do nhân viên y tế
gây nên cho người bệnh là bao nhiêu, và
những yếu tố làm ảnh hưởng đến kết quả
điều trị, thời gian điều trị, tình trạng sức
khỏe người bệnh thì không thể đo hết được
bằng con số mà đo chính bằng đạo đức
nghề nghiệp và nhận thức của người điều
dưỡng. Xác định được tầm quan trọng này,
chúng tôi đã tiến hành khảo sát việc rút
thuốc kháng sinh tiêm của điều dưỡng tại
bệnh viện Nhi đồng Đồng Nai để có những
biện pháp chấn chỉnh kịp thời trong quy
trình thực hiện “Tiêm an toàn”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu tổng quát
Xác định hiệu suất rút thuốc kháng
sinh tiêm không đạt yêu cầu tại các khoa
lâm sàng bệnh viện Nhi đồng Đồng Nai.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định tỷ lệ lọ thuốc kháng sinh
tiêm rút không đạt yêu cầu giai đoạn I
(chưa chấn chỉnh).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
257
- Xác định tỷ lệ lọ thuốc kháng sinh
tiêm rút không đạt yêu cầu giai đoạn II
(được chấn chỉnh).
- Xác định thể tích lượng thuốc trung
bình còn sót trong mỗi lọ thuốc đã qua sử
dụng theo từng loại, theo từng khoa.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các lọ thuốc kháng sinh có nắp đậy đã
qua sử dụng tại các khoa lâm sàng.
 Tiêu chuẩn loại trừ:
- Các lọ kháng sinh tiêm được ngưng
chỉ định cho bệnh nhân và các thuốc này
không có bệnh nhân khác cùng được
chỉ định.
- Các lọ kháng sinh tiêm không nắp đậy
3.1.2. Thời gian nghiên cứu
- Giai đoạn I: ngẫu nhiên, từ ngày
15/6/2008-30/6/2008.
- Giai đoạn II: là giai đoạn có tác động
bằng kiểm tra, chấn chỉnh về ý thức, về kỹ
thuật, trao đổi kinh nghiệm qua buổi sinh
hoạt điều dưỡng, qua buổi giao ban hàng
ngày, từ ngày 18/8/2008-29/8/2008
3.1.3. Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện
Nhi Đồng-Đồng Nai.
3.1.4. Cỡ mẫu nghiên cứu: lấy trọn
(n × số khoa)
Được tính theo công thức
( )
2
1 - α/2
2
p 1 - p
n = Z
d
Z = 1,96 có hàm phân phối 1-o/2
p = 0,5
d = 0,05 sai số biên của ước lượng
khoảng tin cậy
 cỡ mẫu cần thiết: n = 245 cho mỗi
khoa, số khoa = 8
Giai đoạn I: 1960
Giai đoạn II: 1960
Trong đề tài cỡ mẫu có được là 3920.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Phương pháp nghiên cứu: mô
tả cắt ngang.
3.2.2. Kỹ thuật tiến hành
- Kiểm tra số thuốc từng khoa mỗi ngày.
- Kiểm tra các lọ kháng sinh tiêm có
nắp đậy sau khi đã dùng xong từng khoa
mỗi ngày.
 Dùng ống tiêm 1cc để rút thuốc
kiểm tra.
 Tính thể tích (ml) thuốc còn sót lại
trong từng lọ thuốc kháng sinh đối
với các lọ thuốc có thể tích thuốc
> 0,05ml.
- Ghi vào bảng thu thập.
3.2.3. Thống kê
- Nhập số liệu bằng phần mềm EpiData
3.0.
- Phân tích số liệu bằng phần mềm
Stata 8.0.
- So sánh các tỷ lệ theo phép kiểm chi
bình phương.
- So sánh các số trung bình theo phép
kiểm Studen với phương sai đồng nhất và
không đồng nhất.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø iV
258
3.3. Định nghĩa biến số
Lọ thuốc kháng sinh rút đạt yêu cầu: là
sau khi rút thuốc chứa thể tích thuốc
s 0,05 ml.
4. KẾT QUẢ
Thời gian nghiên cứu từ ngày
15/6/2008 đến 29/8/2008, được chia làm 2
giai đoạn:
- Giai đoạn I từ 15/6/2008 - 30/6/2008:
khảo sát ngẫu nhiên.
- Giai đoạn II từ 18/8/2008 - 29/8/2008:
có tác động bằng kiểm tra, chấn chỉnh.
- Mỗi khoa chọn 245 lọ thuốc kháng
sinh của mỗi giai đoạn.
Chúng tôi khảo sát 3920 lọ thuốc
kháng sinh tiêm đã qua sử dụng của 8 khoa
lâm sàng chúng tôi có kết quả như sau:
Bảng 1. Tỷ lệ lọ thuốc rút thuốc chưa đạt yêu cầu theo các khoa lâm sàng
Giai đoạn I Giai đoạn II p
Tên khoa n (%) n (%)
Tiêu Hóa (n = 245) 234 (95,51) 143 (58,37) < 0,05
Dịch vụ (n = 245) 240 (97,95) 128 (52,24) < 0,05
Hô Hấp (n = 245) 235 (95,91) 123 (50,20) < 0,05
Tim Thận (n = 245) 226 (92,24) 99 (40,41) < 0,05
Ngoại (n = 245) 218 (88,97) 106 (43,26) < 0,05
Sơ Sinh (n = 245) 216 (88,16) 106 (43,26) < 0,05
Hồi sức PT (n = 245) 187 (76,32) 90 (36,37) < 0,05
Hồi sức cấp cứu (n = 245) 142 (57,95) 67 (27,35) < 0,05
Chung (n = 1960) 1698 (86,63) 862 (43,98) < 0,05
Nhận xét
- Giai đoạn I: tỷ lệ lọ thuốc rút chưa
đạt yêu cầu của các khoa đều cao trung
bình 86,63%, khoa Dịch vụ, khoa Hô
hấp, khoa Tiêu hóa > 95%.
- Giai đoạn II: có sự tác động bằng
kiểm tra chấn chỉnh đã mang lại hiệu quả tỷ lệ
rút thuốc chưa đạt yêu cầu giảm còn 43,98%,
cao nhất là khoa Tiêu hóa còn 48,73%, thấp nhất
là khoa Hồi sức cấp cứu là 27,35%. Sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
259
Bảng 2. Tỷ lệ lọ thuốc rút chưa đạt yêu cầu theo từng loại thuốc
Giai đoạn I Giai đoạn II
Khoa
Tổng số
Thuốc không
đạt - n (%)
Tổng số
Thuốc không
đạt - n (%)
Cefotaxim 936 816 (87,18) 985 480 (48,73)
Tirotax 554 490 (88,44) 155 95 (61,29)
Codaxim 0 0 471 215 (45,65)
Claforan 203 200 (98,52) 0 0
Ampicilin 95 91(95,79) 81 40 (49,38)
Netromycin 69 26 (37,68) 97 0
Bristopen 50 45 (90,00) 89 17 (19,10)
Fortum 29 15 (51,72) 54 6 (11,11)
Ceftriaxon 9 6 (66,66) 21 9 (42,86)
Vancomycin 12 9 (75.00) 7 0
Maxipim 3 0 0 0
Nhận xét:
- Cả 2 giai đoạn các khoa chủ yếu sử
dụng thuốc Tirotax, Cefotaxim, riêng 2
khoa Dịch vụ sử dụng Claforan và khoa
Sơ sinh sử dụng Ampiciline.
- Ở giai đoạn II: do bệnh viện không còn
thuốc Tirotax nên các khoa sử dụng thuốc
Codaxim, thuốc Netromycin điều dưỡng rút
thuốc đạt 100%.
Bảng 3. So sánh thể tích thuốc còn lại khi rút thuốc chưa đạt yêu cầu
theo các giai đoạn tại các khoa lâm sàng
Khoa Giai đoạn I Giai đoạn II p
Dịch vụ: - Trung bình
- Giới hạn
0,21 ± 0,08
(0,06 - 0,4)
0,12 ± 0,04
(0,06 - 0,25)
0,0000
Hô Hấp: - Trung bình
- Giới hạn
0,20 ± 0,07
(0,06 - 0,45)
0,11 ± 0,04
(0,06 - 0,25)
0,0000
Tiêu Hóa: - Trung bình
- Giới hạn
0,20 ± 0,09
(0,06 - 0,42)
0,13 ± 0,05
(0,06 - 0,25)
0,0000
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø iV
260
Tim Thận: - Trung bình
- Giới hạn
0,18 ± 0,08
(0,06 - 0,4)
0,10 ± 0,04
(0,06 - 0,25)
0,0000
Ngoại: - Trung bình
- Giới hạn
0,20 ± 0,08
(0,06 - 0.4)
0,09 ± 0,03
(0,06 - 0,25)
0,0000
Sơ Sinh: - Trung bình
- Giới hạn
0,17 ± 0,07
(0,06 - 0,45)
0,11 ± 0,04
(0,06 - 0,22)
0,0000
HSPT: - Trung bình
- Giới hạn
0,17 ± 0,08
(0,06 - 0,40)
0,11 ± 0,05
(0,06 - 0,25)
0,0000
HSCC: - Trung bình
- Giới hạn
0,11 ± 0,04
(0,06 - 0,30)
0,09 ± 0,03
(0,06 - 0,20)
0,0452
Chung - Trung bình
- Giới hạn
0,18 ± 0,08
(0,06 - 0,45)
0,11 ± 0,04
(0,06 - 0,25)
0,0000
Nhận xét:
- Giai đoạn I: Số ml thuốc còn lại
trong mỗi lọ thuốc điều dưỡng rút chưa
đạt yêu cầu trung bình 0,18 ± 0,08
(0,06 - 0,45), 4 khoa có số ml thuốc
trung bình 0,2ml là khoa Dịch vụ, Hô
Hấp, Tiêu Hóa, Ngoại.
- Giai đoạn II: Số ml thuốc còn lại trong
mỗi lọ thuốc điều dưỡng rút chưa đạt yêu cầu
trung bình 0,11 ± 0,04 (0,06 - 0,25), các khoa
đều giảm so với giai đoạn I. Khoa Ngoại
giảm nhiều từ trung bình 0,19ml/lọ còn trung
bình 0,09ml/lọ. Sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê (p = 0.000).
Bảng 4. So sánh tỷ lệ % thuốc còn lại khi rút thuốc chưa đạt yêu cầu
theo các giai đoạn tại các khoa lâm sàng
Khoa Giai đoạn I Giai đoạn II
p
Dịch vụ: - Trung bình
- Giới hạn
0,072 ± 0,027
(0,020 - 0,133)
0,041 ± 0,015
(0,020 - 0,083)
0,0000
Hô Hấp: - Trung bình
- Giới hạn
0,068 ± 0,025
(0,020 - 0,183)
0,038 ± 0,016
(0,020 - 0,083)
0,0000
Tiêu Hóa: - Trung bình
- Giới hạn
0,068 ± 0,031
(0,020 - 0,140)
0,027 ± 0,012
(0,012 - 0,100)
0,0000
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
261
Tim Thận: - Trung bình
- Giới hạn
0,037 ± 0,018
(0,012-0,080)
0,021 ± 0,009
(0,001- 0,050)
0,0000
Ngoại: - Trung bình
- Giới hạn
0,040 ± 0,017
(0,012 - 0,100)
0,018 ± 0,007
(0,002 - 0,050)
0,0000
Sơ Sinh - Trung bình
- Giới hạn
0,018 ± 0,009
(0,006 - 0,050)
0,011 ± 0,004
(0,006 - 0,022)
0,0000
HSPT: - Trung bình
- Giới hạn
0,019 ± 0,009
(0,006 - 0,050)
0,011 ± 0,005
(0,006 - 0,025)
0,0000
HSCC: - Trung bình
- Giới hạn
0,011 ± 0,005
(0,006 - 0,035)
0,009 ± 0,038
(0,006 - 0,020)
0,0034
Chung - Trung bình
- Giới hạn
0,044 ± 0,031
(0,006 - 0,133)
0,024 ± 0,015
(0,001 - 0,100)
0,0000
Nhận xét:
- Giai đoạn I: Tỷ lệ thuốc còn lại
trong mỗi lọ thuốc điều dưỡng rút chưa
đạt yêu cầu trung bình 0,044 ± 0,031
(0,006-0,133), khoa Dịch vụ, Hô
Hấp, Tiêu Hóa, có tỷ lệ thuốc còn từ
0,068-0,072.
- Giai đoạn II: Tỷ lệ thuốc còn lại trong
mỗi lọ thuốc điều dưỡng rút chưa đạt yêu cầu
trung bình 0,024 ± 0,015 (0,001-0,100), các
khoa có tỷ lệ thuốc đều giảm so với giai đoạn
I, khoa HSCC, HSPT, Sơ Sinh có tỷ lệ thuốc
dưới 0,002 (2%). Sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê (p = 0,0000).
Bảng 5 Thể tích thuốc Tirotax còn lại sau khi rút chưa đạt yêu cầu
theo các khoa lâm sàng
Giai đoạn I Giai đoạn II
Khoa
Số ml thuốc
còn lại/lọ
Tỷ lệ thuốc
còn lại/lọ
Số tiền
thất thu
Số ml thuốc
còn lại/lọ
Tỷ lệ thuốc
còn lại/lọ
Số tiền
thất thu
HSCC
- Trung bình
- Giới hạn
n = 100
0,11 ± 0,04
(0,06-0,30)
0,011 ± 0,004
(0,06-0,030)
393đ
n = 51
0,09 ± 0,03
(0,01- 0,20)
0,009 ± 0,003
(0,001-0,020)
104đ
HSPT
- Trung bình
- Giới hạn
n = 60
0,18 ± 0,07
(0,08-0,40)
0,018 ± 0,007
(0,008-0,040)
635 đ
n = 42
0,10 ± 0,04
(0,06-0,25)
0,010 ± 0,004
(0,006-0,025)
111 đ
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø iV
262
Giai đoạn I Giai đoạn II
Khoa
Số ml thuốc
còn lại/lọ
Tỷ lệ thuốc
còn lại/lọ
Số tiền
thất thu
Số ml thuốc
còn lại/lọ
Tỷ lệ thuốc
còn lại/lọ
Số tiền
thất thu
Sơ Sinh
- Trung bình
- Giới hạn
n = 91
0,17 ± 0,06
(0,07- 0,40)
0,017 ± 0,006
(0,007- 0,040)
586 đ
n = 59
0,11 ± 0,04
(0,06-0,22)
0,011 ± 0,004
(0,006-0,022)
123 đ
Hô Hấp
- Trung bình
- Giới hạn
N = 71
0,22 ± 0,06
(0,08 - 0,40)
0,075± 0,022
(0,026 - 0,133)
2557 đ
n = 8
0,13 ± 0,05
(0,06 - 0,20)
0,046± 0,017
(0,020 - 0,66)
508 đ
Tim Thận
- Trung bình
- Giới hạn
n = 60
0,18 ± 0,08
(0,07 - 0,40)
0,038 ± 0,017
(0,014 - 0,080)
1295 đ
n = 17
0,10 ± 0,04
(0,06 - 0,25)
0,020 ± 0,010
(0,012 - 0,050)
225đ
Ngoại
- Trung bình
- Giới hạn
n = 52
0,23 ± 0,09
(0,08 - 0,40)
0,046 ± 0,018
(0,016 - 0,080)
1590 đ
n = 16
0,07 ± 0,02
(0,06 - 0,12)
0,014 ± 0,005
(0,002 - 0,024)
155 đ
Tiêu Hóa
- Trung bình
- Giới hạn
n = 41
0,22 ± 0,10
(0,07- 0,40)
0,074 ± 0,034
(0,023 - 0,133)
2532 đ
n = 21
0,09 ± 0,03
(0,06 - 0,20)
0,019 ± 0,006
(0,012 - 0,040)
212 đ
Dịch Vụ
- Trung bình
- Giới hạn
n = 15
0,26 ± 0,09
(0,12 - 0,40)
0,087 ± 0,030
(0,040 - 0,133)
2984 đ
n = 1
0,06
(0,06 - 0,06)
0,02
(0,02 - 0,02)
220 đ
Chung
- Trung bình
- Giới hạn
n = 490
0,18 ± 0,08
(0,06 - 0,40)
0,037 ± 0,030
(0,006 - 0,133)
1268đ
n = 215
0,10 ± 0,04
(0,01- 0,25)
0,013 ± 0,009
(0,001 - 0,066)
150 đ
Nhận xét:
- Giai đoạn I: Số ml thuốc còn lại
trong mỗi lọ thuốc điều dưỡng rút chưa
đạt yêu cầu trung bình 0,18 ± 0,08
(0,06-0,40) và tỷ lệ thuốc còn lại trung
bình 0,037 ± 0,030 (0,006 - 0,133) , cao
nhất là khoa Dịch vụ trung bình 0,26ml
và thấp nhất là khoa Hồi sức cấp cứu
trung bình 0,11ml.
- Giai đoạn II: Số ml thuốc còn lại trong
mỗi lọ thuốc điều dưỡng rút chưa đạt yêu cầu
trung bình 0,10 ± 0,04 (0,01 - 0,25) và tỷ
lệ thuốc còn lại trung bình 0,013 ± 0,009
(0,001 - 0,066), các khoa đều giảm, giảm
mạnh nhất là khoa Ngoại trung bình còn
0,07ml/lọ
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
263
Bảng 6. Thể tích thuốc Cefotaxim còn lại sau khi rút chưa đạt yêu cầu
theo các khoa lâm sàng
Giai đoạn I Giai đoạn II
Khoa
Số ml thuốc
còn lại/lọ
Tỷ lệ thuốc
còn lại/lọ
Số tiền
thất thu
Số ml thuốc
còn lại/lọ
Tỷ lệ thuốc
còn lại/lọ
Số tiền
thất thu
HSCC
- Trung bình
- Giới hạn
n = 28
0,10 ± 0,04
(0,06 - 0,30)
0,010 ± 0,004
(0,060 - 0,020)
150đ
n = 10
0,11 ± 0,04
(0,06 - 0,20)
0,011 ± 0,004
(0,006 - 0,020)
166đ
HSPT
- Trung bình
- Giới hạn
n = 113
0,18 ± 0,09
(0,06 - 0,40)
0,018 ± 0,009
(0,006 - 0,040)
258 đ
n = 49
0,12 ± 0,05
(0,06 - 0,25)
0,012 ± 0,005
(0,006 - 0,025)
168 đ
Tiêu Hóa
- Trung bình
- Giới hạn
n = 192
0,19 ± 0,09
(0,06 - 0,42)
0,066 ± 0,030
(0,020 - 0,140)
933 đ
n = 120
0,14 ± 0,05
(0,06 - 0,25)
0,029 ± 0,012
(0,012-0,100)
413đ
Dịch Vụ
- Trung bình
- Giới hạn
n = 20
0,29 ± 0,08
(0,06 - 0,34)
0,065 ± 0,026
(0,020 - 0,133)
912 đ
n = 29
0,12 ± 0,04
(0,06 - 0,22)
0,042 ± 0,014
(0,020 - 0,0730)
594đ
Hô Hấp
- Trung bình
- Giới hạn
n = 162
0,20 ± 0,07
(0,08 - 0,45)
0,066 ± 0,026
(0,026 - 0,133)
934 đ
n = 115
0,11 ± 0,48
(0,06 - 0,25)
0,037± 0,016
(0,020 - 0,083)
524 đ
Tim Thận
- Trung bình
- Giới hạn
n = 161
0,18 ± 0,09
(0,06-0,40)
0,036 ± 0,018
(0,012-0,080)
518 đ
n = 67
0,10 ± 0,04
(0,06 - 0,25)
0,021 ± 0,009
(0,012 - 0,050)
302đ
Ngoại
- Trung bình
- Giới hạn
n = 140
0,19 ± 0,08
(0,06-0,40)
0,038 ± 0,017
(0,012-0,080)
544 đ
n = 90
0,09 ± 0,03
(0,06 - 0,25)
0,019 ± 0,007
(0,012 - 0,050)
276 đ
Chung
- Trung bình
- Giới hạn
n = 816
0,19 ± 0,08
(0,06 - 0,45)
0,047 ± 0,029
(0,060 - 0,133)
644đ
n = 480
0,11 ± 0,05
(0,06 - 0,25)
0,027 ± 0,015
(0,006 - 0,100)
379 đ
5. BÀN LUẬN
Tiêm thuốc là một kỹ thuật cơ bản mà
người điều dưỡng thực hiện hầu như
thường xuyên mỗi ngày và có vai trò rất
quan trọng trong việc chữa bệnh tại các cơ
sở y tế, nhất là các bệnh viện, Vì vậy người
điều dưỡng luôn luôn phải thực hiện đúng
quy trình kỹ thuật rút thuốc đúng, không để
sai sót ảnh hưởng đến chất lượng điều trị
bệnh nhân.
Trong thời gian giai đoạn I từ 15/6/2008
- 30/6/2008 và giai đoạn II từ 18/8/2008 -
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø iV
264
29/8/2008 nghiên cứu 3920 lọ thuốc kháng
sinh tiêm đã qua sử dụng của 8 khoa lâm
sàng chúng tôi ghi nhận: giai đoạn I khảo
sát ngẫu nhiên, tỷ lệ lọ thuốc rút chưa đạt
yêu cầu của điều dưỡng tại các khoa đều
cao trung bình 86,63%, đặc biệt khoa Dịch
vụ, khoa Hô hấp, khoa Tiêu hóa > 95%.
Điều này nói lên kỹ thuật rút thuốc của các
điều dưỡng còn thiếu sót. Ở giai đoạn II khi
tiến hành có tác động bằng kiểm tra, chấn
chỉnh về ý thức, về kỹ thuật, trao đổi kinh
nghiệm đã mang lại hiệu quả tỷ lệ rút thuốc
chưa đạt yêu cầu của điều dưỡng giảm còn
43,98%. (bảng 4.1). Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p = < 0,05).
Qua nghiên cứu này, chúng tôi ghi
nhận có một số thuốc dung dịch trong suốt,
không màu như: Ampicilin, Netromycin,
Bristopen, Vancomycin..khi rút thuốc điều
dưỡng chủ quan không quan sát rất dễ bỏ
sót. Vì vậy điều dưỡng cần phải thường
xuyên học tập kinh nghiệm, nhất là các
điều dưỡng mới, phải đảm bảo đúng quy
trình kỹ thuật rút thuốc, đồng thời luôn
nâng cao nhận thức, y đức nghề nghiệp
trong công tác, đảm bảo 100% lượng thuốc
tiêm vào tận cơ thể bệnh nhân.
Với nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận
số ml thuốc còn lại trong mỗi lọ thuốc điều
dưỡng rút chưa đạt yêu cầu của các khoa
giai đoạn I trung bình 0,18 ± 0,08 ml, ít
nhất 0,06ml, nhiều nhất là 0,45 ml và số ml
thuốc còn lại trong mỗi lọ thuốc rút chưa
đạt yêu cầu của các khoa ở giai đoạn II
trung bình 0,11 ± 0,04 ít nhất 0,06ml, nhiều
nhất là 0,25 ml. Các khoa Dịch vụ, khoa
Tiêu hóa, khoa Hô hấp, khoa Ngoại giai
đoạn I số ml thuốc còn tồn lại trong mỗi lọ
thuốc rút chưa đạt yêu cầu trung bình là
0,2ml, lượng thuốc ít nhất là 0,06, nhiều
nhất 0,45ml nhưng ở giai đoạn II thuốc còn
tồn lại trong mỗi lọ thuốc rút chưa đạt yêu
cầu của 8 khoa đều giảm rõ rệt nhờ tác
động kiểm tra chấn chỉnh, từ trung bình
0,18ml/lọ giảm còn 0,11ml/lọ và lượng
thuốc còn lại nhiều nhất từ 0,45 giảm còn
0,25m/lọ. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p = < 0,0000). Bệnh viện Nhi đồng Đồng
Nai điều trị cho bệnh nhi, liều lượng thuốc
được tính theo cân nặng của trẻ, nên lượng
thuốc sử dụng 1 lần có thể rất nhỏ. Lọ
thuốc sau khi sử dụng xong ở các khoa còn
sót lại thể tích như nhau thì tỷ lệ % thuốc
sẽ khác nhau tùy theo cách pha loãng, nếu
thể tích dịch pha càng ít thì số lượng thuốc
còn lại càng tăng. Ở bảng 4.4 tỷ lệ thuốc
còn lại trong mỗi lọ thuốc điều dưỡng rút
chưa đạt yêu cầu giai đoạn I trung bình
0,044 ± 0,031 % và tỷ lệ thuốc còn lại trong
mỗi lọ thuốc rút chưa đạt yêu cầu ở giai
đoạn II trung bình 0,024 ± 0,015%. Sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p = < 0,0000).
Khảo sát 3920 lọ thuốc sau khi điều
dưỡng rút chưa đạt yêu cầu, chủ yếu các
khoa dùng Cefotaxim, Tirotax, riêng khoa
Dịch vụ sử dụng Claforan và khoa Sơ
sinh dùng Ampiciline. Cả 2 giai đoạn
chúng tôi ghi nhận điều dưỡng rút thuốc
kháng sinh Cefotaxim, Tirotax tương tự
như nhau, số ml thuốc và tỷ lệ thuốc rút
còn lại ở giai đoạn II giảm 50% so với rút
thuốc ở giai đoạn I.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
265
Qua nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận
điều dưỡng rút thuốc chưa đạt yêu cầu gây
lãng phí 2.474.716 đồng.
- Giai đoạn I trung bình 1230 đồng/1 lọ
thuốc × 1698 lọ.
- Giai đoạn II trung bình 448 đồng/1 lọ
thuốc × 862 lọ.
Nếu chỉ tính một loại thuốc Cefotaxim
các khoa thường dùng (bảng 4.6), ở nghiên
cứu này gây lãng phí 707.424 đồng.
- Giai đoạn I: trung bình 644đồng/1 lọ
thuốc × 816 lọ.
- Giai đoạn II: trung bình 379 đồng/1
lọ thuốc × 480 lọ.
Theo đề tài này, chúng tôi ước tính thuốc
Cefotaxim bệnh viện sử dụng trong 1 tháng:
- Giai đoạn I: 5545 lọ, rút thuốc không
đạt chiếm 87% có 4824 lọ × 644 đồng.
- Giai đoạn II 8264 lọ, rút thuốc không
đạt chiếm 44% có 4049 lọ × 379 đồng.
Gây lãng phí khoảng 4.641.227 đồng.
Tuy tỷ lệ lọ thuốc rút chưa đạt giảm
đáng kể nhưng vẫn còn khoảng 44%, vì vậy
lãnh đạo khoa, điều dưỡng trưởng khoa cần
có những nghiên cứu sâu hơn để biết ngoài
yếu tố tác động trên, khoa còn có thể bị chi
phối do nhiều nguyên nhân khác như nhân
lực, áp lực công việc một cách khoa học và
thuyết phục hơn. Có kế hoạch chấn chỉnh
tốt hơn để giảm tỷ lệ lọ rút thuốc chưa đạt
xuống dần bằng 0%. Chúng tôi xin đưa ra 1
số kinh nghiệm để điều dưỡng khi thực
hiện kỹ thuật rút thuốc có hiệu quả:
Kinh nghiệm khi điều dưỡng rút
thuốc tiêm trong lọ
 Trước khi rút thuốc bơm lượng
không khí tương ứng với lượng thuốc rút
ra để tạo áp lực âm đẩy thuốc ra ngoài.
 Khi rút thuốc mặt vát kim luôn áp
vào thành lọ thuốc, nghiêng một góc 30-
45
o
, không cần để kim thẳng đứng và kéo
lùi dần đến miệng lọ thuốc.
 Các thuốc không màu cần chú ý
kiểm tra để tránh sót thuốc do chủ quan.
Không rút thuốc ngay khi thuốc chưa hòa
tan, thuốc còn nhiều bọt.
 Lọ thuốc cần được ghi rõ họ, tên,
tuổi bệnh nhân, ngày giờ pha, dung dịch
và lượng dịch pha trước khi sử dụng.
6. KẾT LUẬN
Trong thời gian 3 tháng giai đoạn I từ
15/6/2008-30/6/2008 và giai đoạn II từ
18/8/2008-29/8/2008 nghiên cứu 3920 lọ
thuốc kháng sinh tiêm đã qua sử dụng của 8
khoa lâm sàng chúng tôi ghi nhận:
- Giai đoạn I: khảo sát ngẫu nhiên:
 Tỷ lệ lọ thuốc rút chưa đạt yêu
cầu đều cao trung bình 86,63%.
 Số ml thuốc còn lại trong mỗi lọ
trung bình 0,18.
 Tỷ lệ thuốc còn lại trung bình là
0,044.
 Gây lãng phí về kinh tế trung
bình 1230 đồng/lọ thuốc.
- Ở giai đoạn II: tiến hành có tác động
bằng kiểm tra, chấn chỉnh về ý thức, về kỹ
thuật, trao đổi kinh nghiệm đã mang lại
hiệu quả tỷ lệ rút thuốc chưa đạt yêu cầu
của điều dưỡng giảm còn 43,98%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø iV
266
 Số ml thuốc còn lại trong mỗi lọ
thuốc trung bình 0,11.
 Tỷ lệ thuốc còn lại trung bình là
0,024.
 Gây lãng phí về kinh tế trung
bình 448 đồng/lọ thuốc.
- Nghiên cứu cho thấy yếu tố tác động
(chấn chỉnh kịp thời) rất có ý nghĩa trong
công tác, điều dưỡng đã làm giảm tỷ lệ lọ
thuốc rút chưa đạt yêu cầu.
7. KIẾN NGHỊ
Qua kết quả thu được, chúng tôi có
những kiến nghị sau:
 Duy trì yếu tố tác động của lãnh đạo
khoa, nhất là điều dưỡng trưởng bằng
kiểm tra chấn chỉnh thường xuyên
 Điều dưỡng phải đảm bảo đúng quy
trình kỹ thuật rút thuốc.
 Ban chủ nhiệm khoa có kế hoạch
huấn luyện điều dưỡng về quy trình sử
dụng thuốc an toàn hợp lý cho bệnh nhân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 Hội Điều dưỡng Việt Nam (2001)-
Thông tin điều dưỡng số 12/2001
 Bệnh viện nhi đồng I (2007) - Cách
pha thuốc. Kỹ thuật điều dưỡng nhi khoa.
Trang 54-55. Nhà xuất bản Y học chi
nhánh thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
267
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
TRIỆU CHỨNG SAU MỔ TRÊN BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT Ổ BỤNG
ThS. Nguyễn Hoàng Long
Khoa Điều dưỡng, Trường Đại học Thăng Long
TÓM TẮT
Nghiên cứu này tìm hiểu các triệu
chứng và một một số yếu tố liên quan trong
3 ngày đầu sau phẫu thuật ổ bụng. Kết quả
ghi nhận 7 triệu chứng bao gồm đau, mệt
mỏi, mất ngủ, chướng bụng, bí tiểu, lo lắng
và chóng mặt. Nhìn chung, các triệu chứng
giảm dần từng ngày. Đau, mệt mỏi và mất
ngủ có liên quan chặt chẽ với nhau; đây
cũng đồng thời là 3 triệu chứng nặng nhất
sau mổ. Các triệu chứng hậu phẫu liên
quan với độ dài cuộc mổ (r = 0.61,
p < 0.01), chiều dài vết mổ (r = 0.31,
p < 0.01) và tuổi (r = -0.24, p < 0.01).
Không có mối liên quan có ý nghĩa thống
kê nào giữa mức độ lo lắng trước mổ, giới
và hỗ trợ từ gia đình - nhân viên y tế với
các triệu chứng hậu phẫu.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Các triệu chứng khó chịu như đau, mệt
mỏi, lo lắng, hay bí tiểu… xảy ra rất phổ
biến trong thời kỳ hậu phẫu.
1,2
Đáng chú ý,
nhiều nghiên cứu cho thấy các triệu chứng
này xảy ra ra nặng hơn ở bệnh nhân phẫu
thuật bụng so với các phẫu thuật khác.
3-5
Một số tác giả thậm chí khẳng định phẫu
thuật bụng là loại can thiệp ngoại khoa gây
đau nhất.
1,6
Các kết luận này thực sự đáng
quan tâm khi phẫu thuật liên quan đến ổ
bụng được tiến hành khá phổ biến tại các
bệnh viện. Sự xuất hiện của triệu chứng
khó chịu sau mổ làm tăng nguy cơ xảy ra
biến chứng, kéo dài thời gian hồi phục,
đồng thời làm giảm mức độ hài lòng của
người bệnh với dịch vụ y tế; nếu để kéo
dài, các triệu chứng này có thể trở thành
mạn tính gây giảm sút chất lượng cuộc
sống của người bệnh.
2,4,8
Do đó, để nâng
cao chất lượng chăm sóc người bệnh, cần
có sự tìm hiểu thích đáng về triệu chứng
cũng như các yếu tố liên quan. Khác với
Bác sỹ, hiểu biết về triệu chứng đối với
Điều dưỡng không phục vụ cho mục đích
chẩn đoán và điều trị bệnh. Kiến thức về
triệu chứng tạo điều kiện cho Điều dưỡng
chăm sóc hiệu quả, giúp người bệnh thoải
mái hơn sau mổ, giảm nhẹ ảnh hưởng tiêu
cực của các triệu chứng, góp phần sớm trả
lại cuộc sống bình thường cho người bệnh.
Về mặt lý thuyết, các triệu chứng khó
chịu có thể xảy ra riêng lẻ hoặc đồng thời.
Triệu chứng này có thể là tiền đề cho triệu
chứng khác phát triển. Đáng chú ý là tác
động cộng hưởng của nhiều triệu chứng
đến người bệnh nặng hơn nhiều so với tác
động của từng triệu chứng riêng lẻ. Bên
cạnh đó, triệu chứng bị ảnh hưởng bởi rất
nhiều yếu tố cả chủ quan lẫn khách quan
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø iV
268
đối với người bệnh. Các yếu tố này được
chia làm ba loại, bao gồm thể chất, tâm lý
và điều kiện bên ngoài.
8
Tuy vậy, các kết
quả nghiên cứu đã công bố cho tới nay vẫn
còn nhiều tranh cãi, thậm chí đưa ra những
kết luận trái ngược về mối liên quan giữa
một số yếu tố như tuổi, giới, mức độ lo
lắng trước mổ hay thời gian cuộc mổ đối
với các triệu chứng xảy ra sau phẫu
thuật.
3,6,8,9,10
Như đã trình bày ở trên, triệu chứng bị
ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố cả chủ quan
lẫn khách quan của người bệnh. Vì vậy,
triệu chứng và các yếu tố liên quan cần
phải được xem xét trong từng hoàn cảnh
cũng như từng đối tượng cụ thể. Đáng tiếc
hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu
về triệu chứng sau phẫu thuật được công bố
ở Việt Nam. Xuất phát từ cơ sở đó, nghiên
cứu này được tiến hành nhằm:
1. Đánh giá các triệu chứng khó chịu xảy
ra trong ba ngày đầu sau phẫu thuật bụng.
2. Tìm hiểu mối liên quan giữa một số
yếu tố (tuổi, giới, chiều dài vết mổ, độ dài
cuộc mổ, mức độ lo lắng trước mổ, hỗ trợ
từ gia đình-nhân viên y tế) với các triệu
chứng xảy ra trong ba ngày sau mổ.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này sử dụng thiết kế tiến
cứu mô tả. Đối tượng nghiên cứu là các
bệnh nhân phẫu thuật bụng. Số liệu được
thu thập tại 3 bệnh viện trong khu vực Hà
Nội là Việt Đức, Bạch Mai và Xanh Pôn.
Nghiên cứu được tiến hành trong hai giai
đoạn. Giai đoạn một nghiên cứu thăm dò
30 đối tượng nhằm đánh giá chất lượng các
bộ công cụ. Giai đoạn hai là nghiên cứu
chính thức với 147 bệnh nhân. Cỡ mẫu
được ước tính bằng phân tích Power
(Power analysis) với hệ số ảnh hưởng
(effect size) ở mức nhỏ (0.23). Đối tượng
tham gia nghiên cứu được lựa chọn theo
phương pháp chọn mẫu thuận tiện
(convenience sampling method). Tất cả các
bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn
(mổ phiên và mổ mở, không có bất kỳ biến
chứng nào trong và 3 ngày sau phẫu thuật)
đều được mời tham gia nghiên cứu. Mỗi
bệnh nhân được phỏng vấn bốn lần: một
ngày trước mổ để đánh giá mức độ lo lắng,
ba lần sau vào ba ngày sau mổ để đánh giá
các triệu chứng khó chịu của người bệnh.
Trong ngày thứ ba, bệnh nhân đồng thời
được phỏng vấn để đánh giá về hỗ trợ từ gia
đình và nhân viên y tế.
Các bộ công cụ được sử dụng: bên
cạnh bộ câu hỏi về các thông tin cơ bản của
người bệnh (tuổi, giới, nghề nghiệp, chẩn
đoán...) được nghiên cứu viên thiết kế,
nghiên cứu này sử dụng 3 bộ công cụ được
dịch từ bản gốc tiếng Anh sang tiếng Việt.
1. Bộ đo mức độ lo lắng: được dịch từ
bộ Hospital Axiety and Depression Scale,
11
bao gồm 7 câu hỏi.
2. Bộ đo hỗ trợ từ gia đình và nhân
viên y tế: được dịch từ bộ câu hỏi Multi-
dimensional Support Scale.
12
Công cụ này
bao gồm 11 câu hỏi, trong đó 6 câu hỏi về
hỗ trợ từ gia đình và 5 câu hỏi về hỗ trợ từ
nhân viên y tế.
3. Bộ đánh giá triệu chứng của người
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
269
bệnh: được dịch và sửa từ bộ câu hỏi
Memorial Symptoms Assessment Scale.
13
Công cụ này cho phép người bệnh đánh giá
mức độ thường xuyên, mức độ nặng, và
mức độ gây cảm giác khó chịu của triệu
chứng xảy ra với mình. Điểm tối đa cho
mỗi triệu chứng là 12, tối thiểu là 0 (không
có triệu chứng). Điểm số càng cao nghĩa là
triệu chứng càng nghiêm trọng.
Kết quả nghiên cứu thăm dò cho thấy
các bộ công cụ đều đảm bảo chất lượng và
phù hợp để sử dụng đối với đối tượng
nghiên cứu là người Việt Nam.
3. KẾT QUẢ
Kết quả cho thấy có 7 triệu chứng xảy
ra trong 3 ngày sau mổ, đó là đau, mệt mỏi,
mất ngủ, chướng bụng, chóng mặt, bí tiểu
và lo lắng (bảng 1). Đáng chú ý, đau, mệt
mỏi và mất ngủ xảy ra với mọi bệnh nhân
trong cả 3 ngày. Bên cạnh đó, trong khi hầu
hết các triệu chứng giảm dần từng ngày,
chóng mặt tăng liên tục trong 3 ngày; lo
lắng tăng trong ngày thứ hai rồi giảm trong
ngày thứ ba.
Nhằm đánh giá sâu hơn về mối quan
hệ giữa các triệu chứng, phân tích cụm
(cluster analysis) được tiến hành. Kết quả
cho thấy đau, mất ngủ, mệt mỏi có mối
liên quan mật thiết và có thể được coi như
một hội chứng (symptom cluster) xảy ra
sau mổ.
Bảng 1. Triệu chứng xảy ra trong ba ngày sau mổ (n = 147).
Ngày 1 Ngày 2 Ngày 3
n (%) Khoảng x n (%) Khoảng x n (%) Khoảng x
Tổng điểm 29-51 40.5 18-38 26.3 12-29 19.2
Đau
147
(100%)
7-11 9.1 147 (100%) 5-9 7.2
147
(100%)
2-6 4.6
Mệt mỏi
147
(100%)
4-11 8.8 147 (100%) 4-9 6.6
147
(100%)
2-8 4.9
Mất ngủ
147
(100%)
6-12 9.2 147 (100%) 4-8 6.2
147
(100%)
2-7 4.7
Chướng
bụng
147
(100%)
2-12 5.9
47
(32%)
0-4 0.8 0 0 0
Bí tiểu
132
(89.8%)
0-9 5.6 44 (29.9%) 0-5 0.9 0 0 0
Lo lắng
79
(53.7%)
0-5 1.8
111
(75.5%)
0-6 2.9
63
(42.2%)
0-6 1.6
Chóng mặt
2
(1.4%)
0-3 0.03
104
(70.7%)
0-4 1.8
128
(87.1%)
0-8 3.5
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø iV
270
Ghi chú: n (%): số bệnh nhân được ghi nhận có triệu chứng.
Bảng 2 chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các triệu chứng sau mổ với độ
dài cuộc mổ (r = 0.61, p < 0.01), chiều dài vết mổ (r = 0.31, p < 0.01), và tuổi (r = - 0.24,
p < 0.01). Ba biến còn lại không có mối liên quan nào với triệu chứng.
Bảng 2. Mối liên quan giữa triệu chứng sau mổ và các yếu tố (n = 147)
Ghi chú: * r có ý nghĩa thống kê, p < 0.01.
4. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy ngày đầu
tiên sau mổ là ngày khó khăn nhất đối với
người bệnh khi hầu hết các triệu chứng đều
xảy ra rất nghiêm trọng. Không chỉ ở Việt
Nam, các bệnh nhân ngoại khoa tại một
số quốc gia khác cũng gặp phải vấn đề
tương tự.
6,10
Đặc biệt, đau là một trong ba
triệu chứng nghiêm trọng nhất trong
nghiên cứu này. Giảm đau sau mổ vẫn là
một thách thức đối với điều dưỡng trong
nhiều thập kỷ qua dù đã có rất nhiều biện
pháp giảm đau, cả dùng thuốc lẫn không
dùng thuốc được phát triển.
6
Tuy vậy,
mức độ đau của các bệnh nhân trong
nghiên cứu này thực sự đáng lo ngại.
Điểm trung bình của đau ở ngày đầu sau
mổ là 9.1 trong khi điểm tối đa có thể là
12. Điều này cho thấy Điều dưỡng cần
quan tâm thích đáng đến các triệu chứng
khó chịu của người bệnh, đặc biệt là đau
trong ngày đầu tiên sau phẫu thuật.
Khái niệm hội chứng hay nhóm triệu
chứng (symptom cluster) trong chăm sóc
mới được đưa ra trong vòng 10 năm trở lại
đây. Nghiên cứu này chỉ ra một nhóm triệu
chứng bao gồm đau, mất ngủ và mệt mỏi.
Đáng tiếc các nghiên cứu về nhóm triệu
chứng hiện nay trên thế giới mới chỉ tập
trung trên bệnh nhân ung thư. Tuy vậy một
số tác giả giải thích rằng đau làm người
bệnh khó bắt đầu giấc ngủ, đau tăng lên khi
người bệnh thay đổi tư thế trên giường và
gây thức giấc nhiều lần về đêm dẫn đến
tình trạng thiếu ngủ. Ngược lại, thiếu ngủ
làm giảm khả năng chịu đau của người
bệnh đồng thời dẫn đến tình trạng mệt mỏi.
Khi mệt mỏi, bệnh nhân giảm khả năng
chịu đựng đối với các triệu chứng, đặc biệt
là đau.
14
Từ đó, chúng tôi khuyến cáo Điều
dưỡng một mặt nên áp dụng các biện pháp
Tuổi Giới
Độ dài
cuộc
mổ
Chiều
dài vết
mổ
Mức độ
lo lắng
trước
mổ
Hỗ trợ
từ gia
đình-
nhân
viên y tế
Triệu chứng hậu phẫu - 0.24* 0.03 0.61* 0.31* 0.05 0.02
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
271
giảm đau trước khi ngủ cho người bệnh.
Mặt khác, vì các triệu chứng có liên quan
chặt chẽ đến nhau, các can thiệp điều
dưỡng nên giải quyết các nhóm triệu chứng
hơn là chỉ tập trung vào từng triệu chứng
riêng lẻ.
Mặc dù các nghiên cứu trước đây chỉ ra
rằng chóng mặt tăng trong ngày thứ hai sau
mổ rồi giảm dần
2
, nghiên cứu này cho thấy
chóng mặt tăng liên tục từ ngày thứ nhất
đến ngày thứ ba. Chúng tôi nhận thấy mặc
dù đã được khuyên vận động sớm sau mổ,
bệnh nhân vẫn hạn chế cử động vì đau và
sợ bục vết mổ. Do đó người bệnh thường
bắt đầu cử động mạnh dần vào ngày thứ ba
sau mổ. Chóng mặt liên quan rất nhiều đến
vận động do hiện tượng hạ huyết áp tư thế,
hậu quả là bệnh nhân thấy chóng mặt tăng
dần từng ngày.
Nghiên cứu này cũng cho thấy bệnh
nhân lo lắng nhiều hơn vào ngày thứ hai
sau mổ. Có lẽ vào ngày đầu tiên sau mổ
bệnh nhân tập trung nhiều hơn vào các
triệu chứng như đau, mất ngủ, bí tiểu...
Sang ngày thứ hai, các triệu chứng này đã
giảm nhưng vẫn còn khá nặng, bệnh nhân
cảm thấy lo lắng hơn về quá trình hồi phục.
Vì vậy, điểm lo lắng tăng hơn so với ngày
đầu tiên.
Kết quả cho thấy tuổi liên quan nghịch
biến với các triệu chứng sau mổ (r =-0.24,
p < 0.01). Có thể giải thích rằng quá trình
lão hóa làm các phản ứng của cơ thể chậm
hơn và kém mạnh mẽ hơn, dẫn đến các
triệu chứng xảy ra nhẹ hơn. Bên cạnh đó,
các bệnh nhân cao tuổi thường ngại thể
hiện các triệu chứng cho người xung
quanh, kể cả nhân viên y tế.
6
Vì vậy,
nghiên cứu này ghi nhận các triệu chứng ít
nghiêm trọng hơn ở những bệnh nhân cao
tuổi. Tuy vậy, kết quả đó không có nghĩa
rằng Điều dưỡng có thể xem nhẹ triệu
chứng ở đối tượng này. Chúng tôi cho rằng
Điều dưỡng cần phải thận trọng hơn khi
đánh giá bệnh nhân cao tuổi vì các triệu
chứng rất dễ bị bỏ qua.
Hai biến số có mối liên quan khá chặt
chẽ đến triệu chứng sau phẫu thuật là chiều
dài vết mổ (r = 0.31, p < 0.01) và độ dài
cuộc mổ (r = 0.61, p < 0.01). Về mặt lý
thuyết, hai yếu tố này thể hiện mức độ nặng
của cuộc phẫu thuật. Phẫu thuật càng khó
khăn và nhiều can thiệp thì triệu chứng hậu
phẫu càng nghiêm trọng. Dù không thể thay
đổi những yếu tố này, Điều dưỡng nên sử
dụng chúng để dự đoán bệnh nhân nào sẽ có
nhiều triệu chứng nặng sau mổ. Nhờ đó, các
can thiệp sẽ kịp thời và phù hợp hơn.
Mặc dù nhiều nghiên cứu trước đây đã
khẳng định vai trò của giới, lo lắng trước
mổ và hỗ trợ từ gia đình-nhân viên y tế,
6, 15
nghiên cứu này không tìm thấy bất kỳ mối
tương quan nào giữa các yếu tố đó với triệu
chứng sau mổ. Kết quả khác biệt này cho
thấy sự phức tạp trong việc khẳng định yếu
tố nào thực sự có liên quan đến triệu chứng
nói chung và triệu chứng hậu phẫu nói
riêng. Những mối tương quan này cần được
tìm hiểu kỹ hơn ở các nghiên cứu tiếp theo.
5. KẾT LUẬN
Khá nhiều triệu chứng khó chịu xảy ra
trong ba ngày sau phẫu thuật bụng bao gồm
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø iV
272
đau, mất ngủ, mệt mỏi, bí tiểu, chướng
bụng, chóng mặt và lo lắng. Trong số 6 yếu
tố được nghiên cứu, tuổi, độ dài cuộc mổ
và chiều dài vết mổ có mối liên quan có ý
nghĩa thống kê với triệu chứng sau mổ.
Nghiên cứu này khuyến cáo Điều dưỡng
cần quan tâm đúng mức đến các triệu
chứng hậu phẫu đặc biệt là nhóm triệu
chứng bao gồm đau, mất ngủ và mệt mỏi.
Đồng thời, Điều dưỡng nên dựa vào các
yếu tố liên quan đã được xác định để nhận
định sớm những bệnh nhân sẽ có triệu
chứng nặng hơn sau mổ nhằm có các biện
pháp chăm sóc kịp thời và phù hợp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giuffre M. Acute and post-operative
pain panagement. Paper presented at the
meeting of the Taiwan Nursing Association
on Acute Pain Management, April 1991,
Taichung, Taiwan.
2. Rosén, H., Clabo, L., Matensson, L.
Symptoms following day surgery: A review
of the literature. Journal of Advanced
Perioperative Care.2009;4(1):7-18.
3. Carr, E., Brockbank, K., Allen, S., et
al. Patterns and frequency of anxiety in women
undergoing gynaecological surgery. Journal
of Clinical Nursing. 2005;15:341-352.
4. Rubin, G., Hardy, R., Hotopf, M. A
systematic review and meta-analysis of the
incidence and severity of postoperative
fatigue. Journal of Psychosomatic Research.
2004;57:317-326.
5. Vallano, A., Aguilera, C., Arnau, J.,
et al. Management of postoperative pain in
abdominal surgery in Spain. A multicentre
drug utilization study. Br J Clin Pharmacol.
1999; 47:667-673.
6. Kalkman, C., Visser, K., Moen, J., et
al. Preoperative prediction of severe
postoperative pain. Pain. 2003; 105:415-423.
7. Mace, L. An audit of postoperative
nausea and vomiting, following cardiac
surgery: Scope of the problem. Nursing in
Critical Care. 2003; 8(5):187-196.
8. Lenz, E., Pugh, L., Milligan, R., et al.
The middle range theory of Unpleasant
Symptoms: An update. Adv Nurs Sci. 1997;
19(3):14-27.
9. Carroll, K., Atkins, P., Herold, G., et
al. Pain assessment and management in
critically ill postoperative and trauma patients:
A multisite study. American Journal of
Critical Care.1999;8(2):105-117.
10. Feeney, S. The relationship between
pain and negative affect in older adults:
Anxiety as a predictors of pain. Anxiety
Disorder.2004; 18:733-744.
11. Zigmond, A., Snaith, R. The
Hospital Anxiety and Depression Scale.
Acta Psychiatr Scand. 1983;67:361-370.
12. Winefield, H., Winefield, A.,
Tiggemann, M. Social support and
psychological well - being in young adults:
The Multi - Dimensional Support Scale.
Journal of Personality Assessment.1992;
58(1):198-210.
13. Portenoy, R., Thaler, H., Kornblith,
A., et al. The Memorial Symptom Assessment
Scale: An instrument for the evaluation of
symptom prevalence, characteristics and
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
273
distress. European Journal of Cancer.
1994;30(90):1326-1336.
14. Closs, J., Briggs, M., & Everitt, V.
Night-time pain, sleep and anxiety in
postoperative orthopaedic patients. Journal
of Orthopaedic Nursing. 1997;1:59-66.
15. Mitchinson, A., Kim, H., Geisser,
M., et al. Social connectedness and patient
recovery after major operation. J Am Coll
Surg. 2008;206:292-300.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
274
NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ
TẠI KHOA NGOẠI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM
ĐD. Lê Thị Anh Đào và cộng sự
Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
TÓM TẮT
Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là biến
chứng thường gặp. Khoa Ngoại Tổng hợp
Bệnh viện Đại học Y Dược gồm có nhiều
chuyên khoa, bệnh viện lúc nào cũng quá
tải và đang được sửa chữa. Chúng tôi thực
hiện nghiên cứu này nhằm mục đích: Xác
định tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ. Đối tượng
nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân được mổ
chương trình (mổ sạch và sạch nhiễm) và
được theo dõi tối thiểu là 30 ngày sau mổ.
Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu, mô tả
cắt ngang. Kết quả: Trong thời gian 3
tháng có 270 bệnh nhân phù hợp tiêu
chuẩn chọn bệnh, được đưa vào nghiên cứu
và cho kết quả như sau: tỷ lệ NKVM chung
là 3%. Có sự khác biệt về NKVM: tỷ lệ
NKVM của mổ mở là 6%, mổ nội soi là
1%; của bệnh nhân tiểu đường là 21%, cơ
địa khác là 2%; người bệnh được chăm sóc
vết mổ tại bệnh viện là 1%, tại TTYT là
10%, tại y tế phường là 0,6%, điều dưỡng
đến nhà chăm sóc là 11%; ở bệnh nhân sử
dụng gạc vô trùng là 6%, sử dụng Urgo
steril là 0%. Kết luận: Tỷ lệ nhiễm khuẩn
vết mổ chung tại khoa Ngoại Tổng hợp là
3%. Nhiễm khuẩn vết mổ có thể có liên hệ
với: mổ mở hay mổ nội soi, cơ địa tiểu
đường, phẫu thuật sạch nhiễm, sử dụng gạc
hay Urgo steril. Tỷ lệ NKVM của các phân
khoa lần lượt là: Niệu (7%), Thần kinh
(6%), Tiêu hóa (4%), Lồng ngực - Mạch
máu (3%), Xương khớp (2%).
Từ khóa: nhiễm trùng vết mổ, tiểu
đường, mổ mở, mổ nội soi.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
NKVM là biến chứng thường gặp, là
vấn đề được quan tâm hàng đầu tại mọi cơ
sở y tế. Bên cạnh đặc tính bệnh, phẫu thuật
và cơ địa, các yếu tố từ bệnh viện như: cơ
sở vật chất, trang thiết bị, nhân viên y tế,
môi trường cũng là nguyên nhân ảnh
hưởng quan trọng đến tình trạng nhiễm
khuẩn vết mổ.
Nhiễm khuẩn vết mổ ảnh hưởng nhiều
đến tinh thần người bệnh, kéo dài thời
gian nằm viện gây ảnh hưởng đến kinh tế
người bệnh, gia tăng viện phí, khả năng
hồi phục kém…
Gần đây, Cơ sở 1 Bệnh viện Đại học Y -
Dược đang trong thời kỳ sửa chữa, xây
dựng mới từng khu vực. Điều này làm cho
môi trường bệnh viện ít nhiều bị ảnh hưởng
nhất là phòng mổ và các khoa ngoại, làm
tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ.
Hàng tháng khoa kiểm soát nhiễm
khuẩn khảo sát định kỳ để đánh giá chung
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
275
tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện, trong đó
có nhiễm khuẩn vết mổ. Báo cáo của khoa
kiểm soát nhiễm khuẩn mang tính tổng
quát, chưa khảo sát được tỷ lệ nhiễm khuẩn
vết mổ theo từng nhóm bệnh, từng nhóm
nguy cơ.
Với thực trạng trên, Khoa Ngoại Tổng
hợp Bệnh viện Đại học Y - Dược gồm năm
phân khoa: ngoại Lồng ngực-Mạch máu,
Thần kinh, Tiết niệu, Xương khớp, Tổng
quát, số lượng bệnh nhân nhiều thuộc nhiều
loại phẫu thuật: từ phẫu thuật sạch đến sạch
nhiễm hay nhiễm. Khoa chưa khảo sát chi
tiết tình hình nhiễm khuẩn vết mổ của bệnh
nhân tại khoa. Chúng tôi thực hiện nghiên
cứu này nhằm mục đích: xác định tỷ lệ
nhiễm khuẩn vết mổ theo các nhóm bệnh.
2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Tất cả bệnh nhân được mổ chương
trình (mổ sạch và sạch nhiễm). Bệnh nhân
được theo dõi tối thiểu là 30 ngày sau mổ.
Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: những bệnh nhi
dưới 14 tuổi.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tiền cứu, mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu:
.
.
Với P là tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ,
được tính là 5%.
Thời gian: tháng 5/2009 đến tháng
7/2009.
Địa điểm: Bệnh viện Đại học Y - Dược
TP. Hồ Chí Minh.
Được gọi là có NKVM trong trường
hợp có chảy dịch qua vết mổ ra ngoài,
dịch có thể là mủ hay không. Nếu không
phải là mủ, NKVM được xếp vào nhóm
NKVM nhẹ.
4. KẾT QUẢ
Trong thời gian từ tháng 5/2009 đến
7/2009 có 1463 ca phẫu thuật tại Khoa
Ngoại Tổng hợp, có 270 ca được đưa vào
nhóm nghiên cứu theo tiêu chuẩn chọn
bệnh đã trình bày ở trên.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
276
Bảng 1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu.
Đặc tính Số ca Tỉ lệ %
Giới tính:
Nam
Nữ
126
144
47
53
Nhóm tuổi:
≤ 60
> 60
218
52
81
19
Chuyên khoa:
Niệu
Thần kinh
Xương khớp
Lồng ngực
Tổng quát
45
16
65
63
81
17
6
24
23
30
Tiền sử:
Tiểu đường
Không tiểu đường
14
256
5
95
Phẫu thuật:
Nội soi
Mổ mở
134
136
49
51
Nhận xét: Với 270 ca khảo sát, tỷ
lệ người bệnh nam giới là 47%, nữ
giới là 53%, gần tương đương như
nhau. Đa số người bệnh ở độ tuổi ≤ 60
(81%). Số lượng bệnh nhân của các
chuyên khoa gần tương đương (13%-
24%), bệnh nhân của Ngoại thần kinh thấp
nhất: 6%. Đa số bệnh nhân không có bệnh
kèm theo, tỉ lệ người bệnh tiểu đường
chiếm 5%. Số lượng bệnh nhân được mổ
mở và mổ nội soi tương đương nhau
(51%, 49%).
Bảng 2. Tỷ lệ chung nhiễm khuẩn vết mổ.
Tình trạng vết mổ Số ca Tỉ lệ %
Không nhiễm khuẩn 261 97
Nhiễm khuẩn 9 3
Tổng số 270 100
Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ chung là 3%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
277
Bảng 3. Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ theo các nội dung
Tình trạng vết mổ
Nội dung
Không nhiễm khuẩn
Số ca (%)
Nhiễm khuẩn
Số ca (%)
p
Giới tính:
- Nam
- Nữ
121(96)
140 (97)
4(4)
5 (3)
0.738
Tuổi:
≤ 60
> 60
212 (97)
49 (94)
6 (3)
3 (6)
0.381
Hình thức mổ:
- Mổ mở
- Mổ nội soi
128(94)
133 (99)
8(6)
1(1)
0.036
Chuyên khoa:
- Niệu
- Thần kinh
- Tổng quát
- Xương khớp
- Lồng ngực
42(93)
15(94)
79(97)
64(98)
61(97)
3(7)
1(6)
2(3)
1(2)
2(3)
0.45
Cơ địa:
- Tiểu đường
- Khác
11(79)
250(98)
3(21)
6(2)
0.008
Nơi chăm sóc vết mổ:
- Bệnh viện
- TTYT
- ĐD đến nhà thay băng
- Phòng mạch
- Y tế phường
- Tự chăm sóc
- Không thay băng
268(99)
36(92)
8(89)
4(100)
180(99)
29(94)
4(100)
2(1)
3(8)
1(11)
0(0)
1(1)
2(6)
0(0)
0.001
Loại băng gạc:
Gạc vô trùng
Urgo steril
132(94)
129(100)
9(6)
0(0)
0.004
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
278
Bảng 4. Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ theo loại phẫu thuật
Phẫu thuật sạch
Số ca (%)
Phẫu thuật sạch nhiễm
Số ca (%)
Tình trạng vết mổ
Mổ mở Mổ NS Mổ mở Mổ NS
Không nhiễm khuẩn 103(97) 82(100) 25(83) 51(98)
Nhiễm khuẩn 3(3) 0(0) 5(17) 1(2)
Tổng số 106 82 30 52
Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm trùng ở người bệnh được mổ mở luôn luôn cao dù đó là phẫu
thuật sạch hay sạch nhiễm.
5. BÀN LUẬN
Qua khảo sát 270 người bệnh điều nội
trú tại Khoa Ngoại Tổng hợp Bệnh viện
Đại học Y Dược chúng tôi nhận thấy tỷ lệ
chung NKVM tại khoa Ngoại là 3%, trong
đó NKVM của người bệnh được mổ nội soi
là 1%; người bệnh được mổ mở là 6%.
Người bệnh tiểu đường có tỷ lệ NKVM là
21%; người bệnh không tiểu đường là 2%,
người bệnh sử dụng gạc vô trùng có tỷ lệ
NKVM là 6%, người bệnh sử dụng Urgo
steril là 0%
Trong công thức tính toán cỡ mẫu của
chúng tôi, P được chọn là 5%, do đó số
bệnh nhân cần cho nghiên cứu tối thiểu
phải là 202. Kết quả nghiên cứu xác định
được giá trị P là 3%, cỡ mẫu cần cho
nghiên cứu nếu P = 3% là 124. Như vậy số
bệnh nhân mà chúng tôi đã khảo sát là 270
người, thỏa mãn yêu cầu tối thiểu theo
công thức tính cỡ mẫu.Trong 3 tháng tổng
số ca mổ là 1463 ca, nhưng thực tế chỉ
chọn 270 ca vào nghiên cứu. Cách chọn
như sau: khi ĐD nhận bệnh tại khoa Ngoại
nhận hồ sơ từ khoa Hậu phẫu sẽ đánh dấu
số thự tự vào hồ sơ bệnh án, những hồ sơ
có số thứ tự 5, 10, 15…sẽ được đưa vào
nghiên cứu, kết quả có 293 ca nhưng chỉ
270 ca phù hợp với tiêu chí chọn bệnh.
Trong phương pháp đánh giá NKVM,
bệnh nhân không đến bệnh viện sẽ được
chúng tôi phỏng vấn qua điện thoại. Những
trường hợp đến bệnh viện hay nhập viện,
chúng tôi sẽ trực tiếp đánh giá hay căn cứ
vào hồ sơ bệnh nhân. Phương pháp đánh
giá này là khả thi cho chúng tôi vì hơn 70%
bệnh nhân có hộ khẩu tại địa phương, việc
tập trung tái khám vào thời điểm 30 ngày
sau mổ gây nhiều khó khăn cho người
bệnh. Đa số bệnh nhân NKVM của chúng
tôi được xếp vào nhóm nhẹ hay trung bình
nên bệnh nhân có thể chỉ cần săn sóc tại địa
phương hay ngoại trú.
Theo báo cáo của bệnh viện Việt Đức
tỷ lệ này là 13% đến 19% vào năm 1991
(0)
.
Cùng năm 2006, tại thành phố Hồ Chí
Minh tỷ lệ NKVM của 23 bệnh viện trong
thành phố được tính chung là 10%
(0)
và tại
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
279
Nam Định, tỷ lệ NKVM là 7%
(0)
. Tỷ lệ
NKVM của bệnh nhân điều trị tại khoa
Ngoại tổng hợp là chấp nhận được so với
kết quả nghiên cứu của những báo cáo
trong thời gian gần đây. Tỷ lệ nhiễm khuẩn
vết mổ ở mỗi cơ sở y tế khác nhau phụ
thuộc vào điều kiện khử khuẩn môi trường,
dụng cụ, trang thiết bị, cơ cấu bệnh tật…
Như vậy, Khoa Ngoại Tổng hợp Bệnh viện
Đại học Y Dược thuộc nhóm bệnh viện có
tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ thấp tại Thành
Phố Hồ Chí Minh. Với số lượng bệnh nhân
được mổ trung bình mỗi ngày trong một
phòng mổ vào khoảng 6-10 bệnh nhân,
công tác chống nhiễm khuẩn và các quy
trình liên quan đến việc bảo vệ vết mổ tại
bệnh viện chúng tôi được đánh giá là có
hiệu quả.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chưa
cho thấy có sự khác biệt về tỷ lệ NKVM ở
người bệnh của các phân khoa. Tỷ lệ
NKVM của các phân khoa lần lượt là: Niệu
(7%), Thần kinh (6%), Tiêu hóa (4%),
Lồng ngực-Mạch máu (3%), Xương khớp
(2%). Ngoại tổng quát (0%). Có thể phản
ánh cơ cấu bệnh tật của các chuyên khoa đa
số thuộc nhóm phẫu thuật sạch và sạch
nhiễm. Những số liệu này có giá trị tham
khảo, làm cơ sở để có biện pháp can thiệp
giảm tỷ lệ NKVM trong tương lai.
Tỷ lệ NKVM ở người bệnh mổ mở là
6%, mổ nội soi là 1%, điều này phù hợp
với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước.
Kết quả nghiên của chúng tôi không cho
phép so sánh tỉ số chênh về NKVM của mổ
mở và mổ nội soi.
Tỷ lệ NKVM trên người bệnh có cơ địa
tiểu đường (21%), cao hơn một cách có ý
nghĩa so với người bệnh không bị tiểu
đường (2%) vì tiểu đường là yếu tố làm
chậm lành vết mổ, giảm sức đề kháng. Như
vậy, chúng ta phải chuẩn bị trước mổ một
cách đầy đủ và chăm sóc sau mổ một cách
tích cực để giảm biến chứng này cho nhóm
bệnh nhân bị tiểu đường.
Qua khảo sát chúng tôi thấy tỷ lệ
NKVM phân bố khác nhau tùy nơi chăm
sóc. Đa số người bệnh được chăm sóc vết
mổ tại y tế địa phương có tỷ lệ nhiễm
khuẩn vết mổ thấp. Khi người bệnh xuất
viện, đối với những vết mổ sạch như vết
mổ sỏi túi mật, bướu giáp, đổ mồ hôi tay…
điều dưỡng thường hướng dẫn cách tự
chăm sóc tại nhà hoặc tại trạm y tế. Với vết
mổ có nguy cơ nhiễm khuẩn cao điều
dưỡng thường hướng dẫn người bệnh đến
Trung tâm y tế, Bệnh viện Huyện, hoặc
điều dưỡng bệnh viện đến nhà thay băng và
theo dõi, vì vậy tỷ lệ nhiễm khuẩn người
bệnh ở nhóm này cao hơn so với nhóm
bệnh nhân tự chăm sóc tại nhà hoặc tại
trạm y tế. Tỷ lệ NKVM ở người bệnh sử
dụng băng gạc vô khuẩn là 6%, trong khi tỉ
lệ NKVM vết mổ ở người bệnh sử dụng
Urgo steril là 0%. Đây là nhận định ban
đầu, nghiên cứu này chưa cho phép kết
luận gì về sự vai trò của gạc vô trùng hay
Urgo steril đến tỷ lệ NKVM.
6. KẾT LUẬN
Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ chung tại
khoa Ngoại Tổng hợp là 3%. Nhiễm khuẩn
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
280
vết mổ có thể có liên hệ với: mổ mở hay mổ
nội soi, cơ địa tiểu đường, phẫu thuật sạch
nhiễm, sử dụng gạc hay Urgo steril. Tỷ lệ
NKVM của các phân khoa lần lượt là: Niệu
(7%), Thần kinh (6%), Tiêu hóa (4%), Lồng
ngực - Mạch máu (3%), Xương khớp (2%).
7. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Mạnh Nhâm. Tình hình nhiễm
khuẩn vết mổ tại Bệnh viện Việt Đức, Ngoại
khoa (1992), tập 22, số: 1: trang 4-9.
2. Tống Vĩnh Phú. Đánh giá thực trạng
và căn nguyên gây nhiễm khuẩn vết mổ tại
khoa ngoại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam
Định. Kỷ yếu nghiên cứu khoa học Điều
dưỡng (2007): trang 270 - 276.
3. Trần Thị Châu. Dịch tễ học nhiễm
khuẩn bệnh viện tại 23 bệnh viện, Thành
Phố Hồ Chí Minh. Kỷ yếu nghiên cứu khoa
học Điều dưỡng (2007): trang 78 - 84.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
281
NGUY CƠ NHIỄM TRÙNG VẾT MỔ TẠI KHOA NGOẠI
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ThS. Trương Quang Trung
1,2
, CNĐD. Nguyễn Thị Ánh Tuyết
1
1
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
2
Giảng viên, Khoa Điều dưỡng-Hộ sinh, trường Đại học Y Hà Nội
Mục tiêu: (1) Mô tả nguy cơ nhiễm
trùng vết mổ tại khoa Ngoại - bệnh viện
Đại học Y Hà Nội. (2) Tìm hiểu một số yếu
tố liên quan đến nguy cơ nhiễm trùng và
chăm sóc hậu phẫu. Phương pháp: Mô tả
tiến cứu. Đối tượng: bệnh nhân sau mổ
tại khoa ngoại bệnh viện Đại học Y Hà
Nội trong thời gian từ 5/11/2009 đến
30/1/2010. Kết quả: 233 bệnh nhân trong
nghiên cứu (79.8% ca mổ phiên và 20.2%
ca mổ cấp cứu), có 84 bệnh nhân có nguy
cơ nhiễm trùng vết mổ thấp (NNIS = 0
điểm) chiếm 36.5% và 6 bệnh nhân
(2.58%) có nguy cơ nhiễm trùng cao
(NNIS = 3 điểm). Có 17 trường hợ
p(7.29%) NTVM tương đương trong đó 15
ca NTVM nông-88.24% và 2 ca NTVM sâ
u- 11.76%. Chỉ số nguy cơ NTVM có mối
tương quan với tỷ lệ NTVM (tỷ lệ NTVM
tăng dần theo chỉ số nguy cơ NTVM theo
thứ tự điểm từ 0-3 là: 3.57%: 7.62:
10.53%: 33.33%). Kết luận: Chỉ số nguy
cơ NTVM có mối tương quan với tỷ lệ
NTVM, có mối tương quan với tiền sử
bệnh lý kèm theo, phân loại phẫu thuật,
cách thức phẫu thuật, thời gian phẫu
thuật, tình trạng đặt dẫn lưu sau mổ.
Từ khóa: Nguy cơ nhiễm trùng vết mổ,
Nhiễm trùng vết mổ
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm trùng vết mổ là một trong
những nguy cơ người bệnh phải đối mặt
trong thời gian nằm viện. Tại các nước phát
triển tỷ lệ NTVM chiếm từ 2-5% các phẫu
thuật
[2]
. Ở Việt Nam, nhiễm trùng vết mổ
(NTVM) đứng thứ 2 trong các nhiễm trùng
bệnh viện
[6]
. Tại Bệnh viện Việt Đức năm
1991 tỷ lệ NTVM là 22.6%
[9]
, 2008 là
8.5%
[11]
. Tại Hoa Kỳ, nhiễm trùng vết mổ
gây kéo dài thời gian nằm viện, tăng nguy
cơ tử vong cao lên 2-11 lần, tăng chi phí
điều trị lên tới 10 tỷ USD mỗi năm.
Giám sát nhiễm trùng vết mổ có thể
làm giảm tỷ lệ NTVM từ 14% xuống còn
9%
[2]
. Chính vì vậy kiểm soát nhiễm trùng
bệnh viện (NTBV) và NTVM có vai trò
quan trọng trong công tác chăm sóc người
bệnh và là một yêu cầu cấp thiết đối với bất
kỳ bệnh viện nào.
Căn cứ vào nhu cầu thực tiễn tại khoa
ngoại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, đã và
đang triển khai một số kỹ thuật, phương
pháp điều trị tiên tiến, chăm sóc người
bệnh toàn diện với số ca phẫu thuật ngày
càng tăng. Công tác chăm sóc sau mổ, kiểm
soát NTVM phải được quan tâm một cách
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
282
đầy đủ và toàn diện hơn. Nghiên cứu này
được thực hiện với mục tiêu
1. Mô tả nguy cơ nhiễm trùng tại khoa
Ngoại bệnh viện Đại học Hà Nội.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến
nguy cơ nhiễm trùng vết mổ và chăm sóc
hậu phẫu.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả
tiến cứu.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Tất cả những bệnh nhân được phẫu
thuật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong
thời gian từ 5/11/2009 đến 30/1/2010.
- Tình nguyện tham gia vào nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Các trường hợp bệnh nhân được phẫu
thuật các chuyên khoa lẻ tại bệnh viện Đại
học Y Hà Nội, ví dụ như chuyên khoa Tai
Mũi Họng, chuyên khoa Mắt…
2.3. Thu thập số liệu và công cụ
Bệnh nhân được thu thập thông tin theo
phiếu thu thập số liệu gồm tuổi, giới, số
dẫn lưu, tình trạng ASA, BMI, tình trạng
vết thương, thời gian mổ.
Những tiêu chuẩn đánh giá bệnh
nhân trong nghiên cứu
- Đánh giá nguy cơ nhiễm trùng sử dụng
thang điểm đánh giá của NNIS (National
Nosocomial Infections Surveillance System),
thay đổi từ 0 đến 3, là tổng số điểm của các
yếu tố nguy cơ sau với mỗi yếu tố có mặt
là một điểm:
+ Bệnh nhân có thang điểm ASA
(American Society of Anesthesiologists)
trước mổ lớn hơn 2.
+ Phẫu thuật thuộc loại nhiễm hoặc bẩn
theo phân loại kinh điển.
+ Thời gian mổ kéo dài quá 75 % T giờ.
Trong đó, điểm 0 tức là nguy cơ nhiễm
trùng vết mổ là rất thấp và 3 điểm là nguy
cơ nhiễm trùng vết mổ là rất cao.
- Đánh giá nhiễm trùng vết mổ: Theo
tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn vết mổ
theo CDC (Nhiễm trùng vết mổ nông,
nhiễm trùng vết mổ sâu, nhiễm trùng cơ
quan hoặc khoang).
2.4. Xử lý số liệu
Các số liệu được kiểm tra, làm sạch,
phân tích bằng các thuật toán thống kê, sử
dụng phần mềm SPSS 11.5. Một số kiểm
định thống kê: test Chi _ square hoặc test
Fisher’s Exact, Kendall tau_b để thực hiện
phân tích mối tương quan của kết quả chăm
sóc sau mổ và các yếu tố nguy cơ được
đánh giá riêng lẻ. Với p < 0.05 là có ý
nghĩa thống kê.
2.5. Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được sự chấp thuận của
Hội đồng chấm luận văn của Khoa Điều
dưỡng - Hộ sinh, trường Đại học Y Hà Nội.
Trước khi tham gia vào nghiên cứu, tất cả
các đối tượng nghiên cứu sẽ được cung cấp
thông tin rõ ràng liên quan đến mục tiêu và
nội dung nghiên cứu. Tất cả những thông
tin thu thập được từ các đối tượng nghiên
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
283
cứu sẽ được giữ bí mật.
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đặc điểm chung của người bệnh
233 bệnh nhân thoả mãn tiêu chuẩn
chọn mẫu và được theo dõi trong đó có
131 (56.2%) bệnh nhân nữ, 106 (43.8%)
bệnh nhân nam. Tuổi trung bình của người
bệnh trong nghiên cứu này là 46 tuổi,
trong đó người bệnh trẻ nhất là 1 tuổi và
nhiều tuổi nhất là 86 tuổi và đa phần bệnh
nhân tham gia vào nghiên cứu trong độ
tuổi lao động (72.1%).
Thời gian nằm điều trị sau mổ được
tính kể từ ngày mổ đến ngày ra viện của
người bệnh. Trong 233 bệnh nhân nghiên
cứu, thời gian nằm điều trị sau mổ trung
bình là 7.74 ngày (SD = 0.159), thời gian
ngắn nhất là 1 ngày, thời gian dài nhất là
24 ngày.
Đánh giá tình trạng thể lực của người
bằng chỉ số BMI (Body Mass Index). 33
(14.2%) bệnh nhân có thể trạng gầy/ suy
kiệt (BMI < 18), 192 (82.4%) bệnh nhân có
thể trạng bình thường (18 ≤ BMI ≤ 25),
8 (3.4%) bệnh nhân có thể trạng béo
(BMI ≥ 25). Như vậy trong nghiên cứu
này, nhóm bệnh nhân có thể trạng trung
bình chiếm đa số (82.4%), bệnh nhân thể
trạng gầy/ suy kiệt và béo chiếm 17.6%.
Tỷ lệ bệnh nhân có tiền sử bệnh lý
kèm theo khi vào viện và không có tiền sử
bệnh lý kèm theo khi vào viện là tương
đương nhau. 124 (53.2%) bệnh nhân
không có tiền sử bệnh lý kèm theo, 109
(46.8%) bệnh nhân có tiền sử bệnh lý mắc
bệnh lý kèm theo.
133 bệnh nhân (57.1%) có tình trạng
sức khoẻ bình thường là, 73 (31.3%), bệnh
nhân có bệnh hệ thống nhẹ , có 25 (10.7%)
bệnh nhân có bệnh hệ thống nặng kém
kiểm soát và 2 bệnh nhân có bệnh hệ thống
đe doạ tính mạng (0.9%).
3.2. Nguy cơ nhiễm trùng vết mổ
(NNIS)
84 (36.1 %) bệnh nhân có nguy cơ
nhiễm trùng rất thấp (NNIS = 0 điểm), 6
(2.6 %) bệnh nhân có nguy cơ nhiễm
trùng cao (NNIS = 3 điểm). Kết quả của
nghiên cứu này khá tương đồng với các
kết quả của nhiều nghiên cứu khác trên
thế giới (Bảng 1).
Bảng 1. Nguy cơ nhiễm trùng sau mổ (NNIS)
Chỉ số nguy cơ hệ thống NNIS N Tỷ lệ %
0 84 36.05
1 105 45.06
2 38 16.31
3 6 2.58
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
284
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
285
3.3. Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ
Bảng 2. Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ
Nhiễm trùng vết mổ Số lượng Tỷ lệ (%)
Không nhiễm trùng 216 92.61
Có nhiễm trùng vết mổ 17 7.29
Phân loại các mức độ nhiễm trùng vết mổ
NTVM nông 15 88.24
NTVM sâu 2 11.76
NTVM khoang/cơ quan 0 0
216 (92.61%) bệnh nhân không có biểu
hiện của nhiễm trùng vết mổ. Chỉ có 17
(7.29%) bệnh nhân có biểu hiện nhiễm
trùng ở các mức độ khác nhau. Trong đó có
15 (88.24%) trường hợp có nhiễm trùng vết
mổ nông, 2 (11.76%) trường hợp nhiễm
trùng vết mổ sâu, không có trường hợp nào
có nhiễm trùng khoang/ cơ quan (Bảng 2).
Tỷ lệ NTVM trong nghiên cứu này
thấp hơn so với các nghiên cứu trước
đây
[8], [10], [14]
. Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ
thấp hơn các nghiên cứu trước đây có thể là
do vấn đề sử dụng kháng sinh dự phòng,
chăm sóc hậu phẫu tích cực, bệnh viện mới
đưa vào hoạt động. Và tỷ lệ này là phù hợp
với kết quả của nhiều nghiên cứu khác về
tỷ lệ NTVM tại bệnh viện Việt Đức năm
2008 là 8,5%
[10]
. Mặc dù vây, tỷ lệ NTVM
trong nghiên cứu này cao hơn một số nước
trong khu vực Đông Nam Á. Tỷ lệ NTVM
ở bệnh viện Songklanagarind (Thái Lan)
năm 1988 là 6.5%, năm 2009 là 1,7%. Tỷ
lệ NTVM ở Mỹ trong khoảng thời gian từ
1986-1996 là khoảng 2.6%
[13]
, tại một
bệnh viện ở Đông Bắc Brazil là 5.1%
[1]

thấp hơn kết quả nghiên cứu này và nguyên
nhân có thể là một số yếu tố (kĩ thuật vô
khuẩn, kĩ thuật chăm sóc...) ở các nước
đang phát triển vẫn chưa được kiểm soát tốt
so với các nước phát triển.
Trong 17 ca mổ được phát hiện có dấu
hiệu nhiễm trùng vết mổ, toàn bộ số ca
nhiễm trùng vết mổ xuất hiện từ ngày thứ 3
sau mổ, trong đó chủ yếu vào ngày thứ 3
(6 ca) và ngày thứ 4 sau mổ (6 ca), đều
chiếm tỷ lệ là 35.29% (Bảng 3).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
286
Bảng 3. Phân bố thời gian phát hiện nhiễm trùng vết mổ.
Ngày thứ 2 3 4 5 6 7
Số ca mắc 0 6 6 2 1 2
3.4. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến nhiễm trùng vết mổ
Bảng 4. Thời gian mổ, tình trạng dẫn lưu sau mổ,
hình thức mổ và cách thức phẫu thuật
N % M ± SD
> 60
(phút)
135 57.9
Thời gian mổ
s 60
(phút)
98 42.1
85.53 ± 50.465
(20-300)
Các yếu tố nguy cơ phẫu thuật N %
Có 43 18.5
Tình trạng dẫn lưu sau mổ
Không 190 81.5
Phiên 186 79.8
Hình thức mổ
Cấp cứu 47 20.2
Mở 162 69.5
Cách thức phẫu thuật
Nội soi 71 30.5
Thời gian mổ: Trong 233 ca mổ cả mổ mở và mổ nội soi, mổ cấp cứu và mổ phiên
thời gian mổ trung bình là 85.53 ± 50.465 phút. Thời gian mổ ngắn nhất là 20 phút, nhiều
nhất là 200 phút. Số ca mổ trên 60 phút là 135 ca (57.9%), số ca mổ từ 60 phút trở xuống
là 98 ca (42. 1%).
Tình trạng dẫn lưu: Trong 233 ca mổ có 190 bệnh nhân không đặt dẫn lưu sau mổ
(81.5%) và 43 bệnh nhân có đặt dẫn lưu sau mổ (18.5%).
Hình thức mổ: Hình thức mổ trong nghiên cứu được định nghĩa là mổ cấp cứu và mổ
phiên, liên quan đến công tác chuẩn bị trước mổ. Trong 233 ca mổ có 186 ca mổ phiên
chiếm tỷ lệ 79.8% và 47 ca mổ cấp cứu chiếm tỷ lệ 20.2%.
Cách thức phẫu thuật: là việc sử dụng phương pháp mổ mở hoặc mổ nội soi. Các
trường hợp có kết hợp mổ nội soi và mổ mở được xác định thành mổ mở. Trong 233 ca
mổ, có 162 ca mổ mở chiếm 69.5%, 71 ca ca mổ nội soi chiếm 30.5%.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
287
3.5. Mối tương quan giữa các yếu tố trong nghiên cứu
3.5.1. Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ và nguy cơ hệ thống NNIS.
Tỷ lệ NTVM tăng dần theo chỉ số nguy cơ theo chỉ số NNIS. Thấp nhất là nhóm bệnh
nhân có chỉ số nguy cơ là 0 (3.57%), tiếp theo là nhóm bệnh nhân có chỉ số nguy cơ là 1
(7.62 %), nhóm bệnh nhân có chỉ số nguy cơ là 2 (10.53%), và cao nhất là nhóm bệnh
nhân có chỉ số nguy cơ là 3 (33.33 %). Với p < 0.05 mối tương quan giữa chỉ số NNIS và
tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ có ý nghĩa thống kê. Bệnh nhân có chỉ số nguy cơ cao thì tỷ lệ
NTVM cao (Bảng 5).
Bảng 5. Mối liên quan giữa nguy cơ NNIS và kết quả chăm sóc sau mổ
Kết quả chăm sóc sau mổ
Nguy cơ NNIS Có NTVM
N (%)
Không có NTVM
N (%)
Tổng
N (%)
r
(p)
0 3 (3.57) 81 (96.43) 84 (100)
1 8 (7.62) 97 (92.38) 105 (100)
2 4 (10.53) 34 (89.47) 38 (100)
3 2 (33.33) 4 (66.67) 6 (100)
Tổng 17(7.3) 216 (92.7) 233 (100)
0.14
(0.032)
Kết qủa này cũng tương đồng với kết quả
của nghiên cứu do Culver và cộng sự (1991)
với khả năng NTVM tăng từ 1.5% đến 13%
khi chỉ số nguy cơ NNIS tăng từ một số điểm
là 0-3. Do đó đối với những người bệnh có
chỉ số NNIS cao cần thiết nhận được những
chăm sóc tích cực hơn so với những bệnh
nhân được đánh giá có chỉ số nguy cơ thấp.
Đặc biệt là với những bệnh nhân có nguy cơ
NTVM rất cao (3 điểm).
3.5.2. Mối tương quan giữa chỉ số
nguy cơ NTVM (NNIS) và một số yếu tố
liên quan.
Chỉ số nguy cơ NNIS này có mối tương
quan với tuổi của người bệnh, tiền sử bệnh
lý kèm theo, tình trạng đặt dẫn lưu, cách
thức phẫu thuật, hình thức phẫu thuật, thời
gian nằm điều trị sau mổ. Với p ≤ 0.05 sự
khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê.
Một số biến khác cũng được kiểm tra
mối tương quan với chỉ số nguy cơ NNIS
nhưng không có ý nghĩa thống kê, Giới
(r = -0.03, p = 0.644); BMI (r = 0.0044,
p = 0.946).
Chỉ số nguy cơ nhiễm trùng vết mổ có
mối tương quan tiền sử bệnh lý kèm theo
(như có tiền sử phẫu thuật trước đó, tiền sử
tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch…)
những bệnh này thường góp phần làm tăng
nguy cơ nhiễm trùng vết mổ, một số bệnh
đã được đánh giá riêng lẻ trong nhiều
nghiên cứu như bệnh tiểu đường đã được
chứng minh là yếu tố nguy cơ độc lập làm
tăng tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ của bệnh
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
288
nhân trải qua ghép động mạch vành
[3]
.
Nghiên cứu là cần thiết để đánh giá công
tác chuẩn bị bệnh nhân trước mổ. Kiểm
soát các bệnh lý kèm theo trước mổ là một
biện pháp đề phòng NTVM.
Chỉ số nguy cơ nhiễm trùng vết mổ còn
có mối tương quan với hình thức phẫu
thuật, cách thức phẫu thuật, tình trạng đặt
dẫn lưu sau mổ, phân loại tình trạng sức
khỏe ASA, phân loại vết thương phẫu
thuật, thời gian phẫu thuật. những yếu tố
này khó có thể can thiệp để làm giảm nguy
cơ nhiễm trùng vết mổ. Biện pháp đề
phòng và kiểm soát NTVM đặt ra ở đây là
vấn đề chăm sóc sau mổ cần phải được
thực hiện tốt hơn nữa đối với những bệnh
nhân có đặt dẫn lưu sau mổ, với hình thức
mổ là mổ mở và mổ cấp cứu, điểm ASA
cao, phân loại vết thương phẫu thuật nhiễm
hoặc bẩn, thời gian phẫu thuật kéo dài
Những yếu tố này rất khó để đánh giá
hay kiểm soát nhưng có thể sử dụng để
đánh giá kết hợp với chỉ số nguy cơ nhiễm
trùng vết mổ từ đó đưa ra những biện pháp
dự phòng và kiểm soát nhiễm trùng vết mổ
cao nhất đối với từng bệnh nhân. Giải pháp
có thể được thực hiện là vấn đề giám sát
nhiễm trùng vết mổ sau khi bệnh nhân mổ
cũng như khi bệnh nhân ra viện. Vấn đề
này có thể sẽ gặp nhiều khó khăn vì hầu hết
các bệnh viện không có đủ nguồn lực để
giám sát tất cả các bệnh nhân phẫu thuật ở
tất cả cả các thời gian, cũng không có khả
năng có một cường độ cần thiết để giám sát
cho tất cả các ca mổ nhất định có nguy cơ
thấp. Thay vào đó, bệnh viện có thể tăng
cường giám sát hướng tới các đối tượng có
nguy cơ cao trong quá trình phẫu thuật hay
chăm sóc sau mổ.
Bảng 6. Mối tương quan nguy cơ NNIS với một số yếu tố
Ghi chú: * p s 0.05; ** p s 0.01; ***p s 0.001
Nguy cơ NTVM (NNIS) r p
Tuổi 0.159 0.015*
ASA 0.352 < 0.001***
Phân loại phẫu thuật 0.544 <0.001
Thời gian phẫu thuật 0.435 <0.001
Tiền sử bệnh lý kèm theo 0.211 0.0012**
Cách thức phẫu thuật 0.121 0.05*
Hình thức phẫu thuật 0.14 0.03 *
Tình trạng đặt dẫn lưu 0.146 0.026*
Thời gian nằm điều trị sau mổ 0.185 < 0.001
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
289
3.5.3. Mối tương quan giữa nhiễm
trùng vết mổ và một số yếu tố
Tình trạng nhiễm trùng vết mổ và một
số yếu tố được đánh giá tương quan thông
chỉ số RR (relative risk), được tóm tắt trong
bảng 7.
Tình trạng nhiễm trùng sau mổ được
phân tích mối tương quan với một số yếu tố
trong nghiên cứu. Kết quả chăm sóc sau mổ
có mối tương quan với một số yếu tố và có
ý nghĩa thống kê p < 0.05 như: tiền sử bệnh
lý kèm theo, cách thức phẫu thuật, thời gian
phẫu thuật, đặt dẫn lưu sau mổ.
Tỷ lệ NTVM tăng theo mức độ phân
loại vết thương phẫu thuật, thấp nhất là
nhóm phẫu thuật sạch (1.5%), tiếp theo là
nhóm phẫu thuật sạch nhiễm (6.45%),
phẫu thuật nhiễm (14%), và cao nhất là
nhóm phẫu thuật bẩn (15%). Do ở nhóm
phẫu thuật sạch (như mổ sọ não…)
thường chỉ gặp tác nhân gây bệnh trên da
bệnh nhân (như tụ cầu vàng), nguồn lây
có thể kiểm soát được như rút ngắn thời
gian nằm viện trước mổ, công tác chuẩn
bị bệnh nhân trước mổ tốt,… cũng làm
giảm nguồn lây này. Bên cạnh đó, nhóm
phẫu thuật bẩn (vỡ hỗng tràng, áp xe
trong ổ bụng…) thường phối hợp với
nhiều loại vi khuẩn có độc lực cao như
E.coli sinh nội độc tố… Do đó tỷ lệ phẫu
thuật ở nhóm phẫu thuật nhiễm và bẩn có
nguy cơ nhiễm trùng vết mổ cao hơn.
Bảng 7. Tương quan giữa nhiễm trùng vết mổ và một số yếu tố liên quan
Kết quả chăm sóc
Yếu tố nguy cơ Kết quả
Có NTVM
Không
NTVM
p
(RR)
Có 4 120
Tiền sử bệnh lý kèm
theo
Không 13 96
0.01
(12.86)
Sạch 1 69
Sạch-Nhiễm 6 87
Nhiễm 7 43
Phân loại vết thương
phẫu thuật
Bẩn 3 17
0.033
s 7 3 98
Thời gian điều trị sau
mổ
> 7 14 118
0.021
(13.875)
Mổ mở 17 171
Cách thức phẫu thuật
Mổ nội soi 0 45
0.005
s 60 phút 3 96
Thời gian phẫu thuật
> 60 phút 14 120
0.006
(26.88)
Có 10 33
Dẫn lưu
Không 7 183
<0.001
(22.292)
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
290
Tương quan giữa nhiễm trùng vết mổ và phân loại vết thương phẫu thuật
Bảng 8. Tương quan giữa nhiễm trùng vết mổ và phân loại vết thương.
Phân loại vết thương phẫu thuật (n)
Nhiễm trùng vết mổ
I II III IV
;2
(p)
Có NTVM 1 6 7 3
Không có NTVM 69 87 43 17
;2 = 8.738
p = 0.033
Ghi chú: I: phẫu thuật sạch, II: phẫu thuật sạch - nhiễm, III: phẫu thuật nhiễm,
IV: phẫu thuật bẩn.
Tỷ lệ mắc phải NTVM có sự khác
biệt trong phân loại phẫu thuật vết mổ. Vết
mổ có phân loại nhiễm hoặc bẩn có nguy cơ
nhiễm trùng vết mổ cao hơn vết mổ có
phân loại sạch hoặc sạch nhiễm. Một số
biến khác cũng được kiểm tra mối tương
quan với nhiễm trùng vết mổ như tuổi
(r = 0.11, p = 0.844), BMI (r= 0.032,
p = 0.621), giới (; = 0.395, p = 0.821) và
hình thức phẫu thuật (; = 0.972; p = 0.324)
nhưng không có ý nghĩa thống kê với
p < 0.05.
Tương quan giữa Nhiễm trùng vết mổ và thời gian nằm điều trị
Bảng 9. Nhiễm trùng vết mổ và thời gian nằm điều trị
Thời gian nằm điều trị sau mổ
Biến nghiên cứu
M ± SD Skewness
Có NTVM 11.35 ± 4.6 1.245
Không có NTVM 8.51 ± 4.043 1.119
Z=-2.722, p=0.06
Toàn bộ nghiên cứu 8.72 ± 4.143 1.118
Thời gian nằm điều trị sau mổ của nhóm có nhiễm trùng vết mổ dài hơn hẳn nhóm không
có nhiễm trùng vết mổ Manwhitney U Test (Z = -2.722, p = 0.06).
Bảng 10. Loại phẫu thuật, nguy cơ và nhiễm trùng vết mổ
Nguy cơ Nhiễm trùng
Loại phẫu thuật
0 1 2 3
Chi-
square
Có Không
Chi-square
Bụng-sản 25 16 3 0 14 118
sọ não-cột sống 15 21 1 0 1 43
Xương 18 49 30 6 2 35
Khác 6 10 4 0
;
2
= 57.1
p < 0.001
0 20
;
2
= 5.596
p = 0.136
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
291
Nhóm phẫu thuật ổ bụng - sản có tỷ lệ
nhiễm trùng cao nhất, 10.61%, tiếp theo là
nhóm phẫu thuật xương, 2/37 (5.41%), tiếp
theo nhà phẫu thuật sọ não-cột sống, 1/42
(2.33%). Nhóm phẫu thuật khác, gồm phẫu
thuật thoát vị bẹn, tuyến giáp… chưa có ca
nào nhiễm trùng vết mổ. Nhiều nghiên cứu
cũng đã chứng minh được rằng nguy cơ
nhiễm trùng vết mổ tăng từ 0-50% tùy vào
từng loại phẫu thuật. Và NTVM có tỷ lệ từ
0-15% tùy từng loại phẫu thuật, vị trí phẫu
thuật….
[5]
Nghiên cứu trong nước cũng cho
thấy các NTVM có thể từ 3-20% tùy theo
loại phẫu thuật và cơ sở
[9]
. Tỷ lệ nhiễm
trùng trong nhóm phẫu thuật ổ bụng
(10.61%) là cao nhất trong nghiên cứu này.
Kết quả này cũng phù hợp so với kết quả
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Mạnh
Nhâm(1999) tỷ lệ NKVM tại bệnh viện
Việt Đức năm 1999 tại khoa cấp cứu bụng
là 10-12% . Nhóm phẫu thuật xương và
phẫu thuật sọ não - cột sống trong nghiên
cứu này có tỷ lệ thấp hơn (5.41% và
2.33%). Và nhóm phẫu thuật khác không
có ca nhiễm trùng vết mổ nào. Điều này
cũng có thể do, số lượng bệnh nhân trong
nghiên cứu này chưa nhiều (233), thực hiện
trong thời gian ngắn (khoảng 3 tháng).
Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong thời
gian ngắn, và tại khoảng thời điểm nhất
định, nên có thể chưa đánh giá được hết
những ca nhiễm trùng vết mổ đối với
những bệnh nhân ra viện sớm hoặc những
bệnh nhân được chuyển viện/ chuyển khoa
ngay sau khi mổ.
4. KẾT LUẬN
- Nguy cơ nhiễm trùng vết mổ được
đánh giá theo chỉ số nguy cơ NNIS từ 0-3,
cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ tăng dần
theo chỉ số nguy cơ nhiễm trùng vết mổ.
- Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ trong thời
gian từ 5/11/2009 đến 30/1/2010 tại khoa
Ngoại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội là
7.29%. Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ nông là
(88,24%), tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ sâu là
(11.76%) và không có bệnh nhân nào có
nhiễm trùng các khoang/ cơ quan. Tỷ lệ
này không khác biệt theo giới, tuổi, BMI và
hình thức phẫu thuật. Tỷ lệ nhiễm trùng vết
mổ cao nhất trong các nhóm bệnh nhân có
phẫu thuật liên quan đến ổ bụng và sản
(10.61%)), thấp nhất trong nhóm sọ não
(2.33%).
- Chỉ số nguy cơ NTVM và tỷ lệ NTVM
đều có mối tương quan với tiền sử bệnh lý
kèm theo, phân loại phẫu thuật, cách thức
phẫu thuật, thời gian phẫu thuật, tình trạng
đặt dẫn lưu sau mổ, ngoài ra chỉ số nguy cơ
NTVM còn có mối tương quan với tuổi,
phân loại ASA, hình thức phẫu thuật.
- Thời gian nằm điều trị sau mổ của
nhóm bệnh nhân có nhiễm trùng vết mổ
(11.35 ± 4.6 ngày) dài hơn hẳn nhóm
bệnh nhân không có nhiễm trùng vết mổ
(8.51 ± 4.043 ngày).
5. ĐỀ NGHỊ
- Những bệnh nhân có nguy cơ nhiễm
trùng vết mổ cao (NNIS từ 2 đến 3 điểm)
cần phải nhận được những chăm sóc tích
cực hơn trong suốt quá trình chăm sóc và
điều trị
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
292
- Việc triển khai đánh giá nguy cơ
nhiễm trùng vết mổ và kiểm soát nhiễm
trùng vết mổ, nhiễm trùng bệnh viện là rất
cần thiết. Đồng thời cũng cần được thực
hiện một cách hệ thống và liên tục.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Aldo Cunha Medeiros, Tertuliano
Aires-Neto, George Dantas Azevedo
(2005). Surgical site infection in a
university hospital in northeast Bzazil.
Brazilian Journal of Infectious Diseases
vol.9, no.4, Aug. 2005
2. Deverick J. Anderson, Keith S.Kaye,
David Classen, Kathleen M. Arias, et al.
Strategies to prevent surgical site infections in
acute care hospitals. Infection control and
hospital epidemiology 2008; 29: S51-S61.
http://www.journals.uchicago.edu/doi/full/10.
1086/591064
3. Gordon SM, Serkey JM, Barr C,
Cosgrove D, Potts W. The relationship
between glycosylated hemoglobin (HgA1c)
levels and postoperative infections in
patiens undergoing primary coronary artery
bypass surgery (CABG) [abstract]. Infect
Control Hosp Epidemiol 1997; 18(No. 5,
Part 2):20-5.
4. Haley RW, Culver DH, White JW et
al (1985). The efficacy of infection surveillance
and control programs in preventing nosocomial
infections in US hospitals. Am J Epidemiol
1985; 121(2):182-205
5. Hannes Wacha (2008). The Role of
the General Sugeon and Outcomes Research.
Surgical Infection, Volume 9, Number 1,
2008; 7-14.
6. Horan T, Gaynes R, Culver D,
National Nosocomial Infections
Surveillance (NNIS) System, CDC.
Development of predictive risk factors for
nosocomial surgical site infections (SSI).
Infect Control Hosp Epidemiol 1994;
15(Suppl): P46 (M72).
7. Horan TC et al. 1992. CDC
definitions of nosocomial surgical site
infections, 1992: A modification of CDC
definitions of surgical wound infections.
Infect Control Hosp Epidemiol 13(10):
606-608
8. Nguyễn Đức Chính và cs (1995).
Tình hình nhiễm khuẩn vết mổ trong 1 năm
tại Bệnh viện Việt Đức từ 8/1992-7/1993.
Ngoại khoa 9/1995. 254-59
9. Nguyễn Mạnh Nhâm (1999).
Nhiễm khuẩn vết mổ, các giải pháp tổng
hợp để giảm thấp tỷ lệ nhiễm khuẩn vết
mổ tại bệnh viện Việt Đức. Báo cáo tổng
kết đề tài khoa học công nghệ cấp bộ -
12/1999; 1-5.
10. Nguyễn Mạnh Nhâm và CS
(2001). Nghiên cứu đánh giá các giải pháp
tổng hợp để giảm thấp tỷ lệ Nhiểm khuẩn
vết mổ ở bệnh viện Việt Đức. Kỷ yếu các
công trình nghiên cứu khoa học Bệnh viện
Việt Đức, tập 2, 2001, 78-82.
11. Nguyễn Thị Thanh Hà (2005).
Nhiễm khuẩn bệnh viện - tỷ lệ hiện mắc,
yếu tố nguy cơ tại 6 bệnh viện phía Nam.
Tạp chí Y học Thực hành 2005:81-7.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
293
12. Nguyễn Tiến Quyết, Nguyễn Đức
Chính, Minoru Akiyama và cộng sự
(2008). Nhiễm khuẩn vết mổ tại bệnh viện
Việt Đức qua nghiên cứu cắt ngang tháng 2
đến 4 năm 2008. Báo cáo tổng kết các đề
tài khoa học công nghệ cấp bộ, 2008.
13. SHEA, APIC, CDC and SIS
(1990). Consensus paper on the
surveillance of surgical wound infections.
Infect Control Hosp Epidemiol 18(5): 599-
605.
14. Thu LT, Dibley Mj, Ewald B,
Tien NP, Lam LD (2005). Incidence of
surgical sire infections and accompanying
risk factors in Vietnamese
orthopaedicpatientsj Hosp Infect.
2005;60:360-7.
15. Wilson. RF và cộng sự (1996),
Antibiotic therapy for surgery related
infection. Ed. Michigan, 1996, 33-37.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
294
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SỰ CHÁN NẢN CÔNG VIỆC
CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC
CỦA CÁC BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đặng Trần Ngọc Thanh
*
, Arrerut Khumyu
**
, Julaluk Baramee
***
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát các yếu tố liên quan
đến sự chán nản của điều dưỡng (ĐD) tại
khoa chăm sóc tích cực (ICU) của các bệnh
viện đa khoa cấp 1, Thành phố Hồ Chí Minh
(Tp.HCM). Phương pháp: Mô tả cắt ngang.
124 ĐD làm việc tại các khoa ICU của 7
Bệnh viện đa khoa tại Tp.HCM được chọn 1
cách ngẫu nhiên vào nghiên cứu. Công cụ
thu thập dữ liệu là bộ câu hỏi bao gồm 5
phần: thông tin cá nhân, công cụ đo lường
sự chán nản công việc của Pines, sự quá tải
trong công việc, sự mâu thuẫn nơi làm việc,
và sự hỗ trợ của xã hội. Học thuyết về hệ
thống của Neuman là cơ sở hướng dẫn cho
nghiên cứu này. Thống kê mô tả và hệ
số tương quan Pearson được sử dụng để
phân tích số liệu. Kết quả: Kết quả cho thấy
rằng sự mâu thuẫn nơi làm việc, công việc
quá tải có mối tương quan trung bình thuận
chiều với sự chán nản của ĐD (r =.46, r =.50,
p < .001). Tuổi và sự hỗ trợ của đồng
nghiệp có mối tương quan ngược chiều với
sự chán nản của ĐD (r = -.35, p < .001,
r = -.30, p < .01). Số năm làm việc tại ICU
có mối tương quan với sự chán nản ở mức độ
thấp và ngược chiều (r = -.27, p < .01). Tuy
nhiên, nghiên cứu phát hiện ra rằng không
có mối liên hệ nào giữa số giờ làm việc
trong 1 tuần tại ICU, sự hỗ trợ của cấp trên
và sự chán nản của ĐD (r = -.17, r = -.12,
p > .0.5). Kết luận: Các yếu tố liên quan
đến sự chán nản của điều dưỡng tại ICU là
công việc quá tải, mâu thuẫn nơi làm việc,
tuổi và số năm làm việc tại ICU và sự hỗ
trợ của đồng nghiệp. Tuy nhiên, sự hỗ trợ
của cấp trên và số giờ làm việc trong tuần
tại ICU không liên quan đến sự chán nản
của ĐD. Kết quả này góp phần đưa ra
những đề xuất quan trọng cho ĐD thực
hành và quản lý.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chán nản (Burnout) là 1 tình trạng
phản hồi lại với những áp lực trong công
việc, do dó nhân viên y tế, đặc biệt là điều
dưỡng (ĐD) là đối tượng có nguy cơ cao
nhất (Caldwell, Gill, Fitzgerald, Sclafani,
& Grandison, 2006; Greco, Laschinger, &
Wong, 2006; Vimantaite & Seskevicius,
2006). Kết quả của nhiều nghiên cứu cho
thấy rằng, ĐD không nên có sự chán nản
trong công việc vì nó sẽ ảnh hưởng đến sức
khỏe của bản thân ĐD (Meltzer &
Huckabay, 2004), đồng nghiệp (Jenkins, &
Elliott, 2004), chất lượng chăm sóc
(Shanafelt, Bradley, Wipf, & Back, 2002),
sự không hài lòng cho bệnh nhân (BN)
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
295
(Vahey, Aiken, Sloane, Clarke, & Vargas,
2004), uy tín của bệnh viện (BV) (Rafferty,
Friend, & Landsbergis, 2007), uy tín của
nghề ĐD (Bagan, & Yehudit, 2005) và sự
nghỉ việc của ĐD (Shimizu, Feng &
Nagata, 2005).
Rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành
ở các nước phương Tây để tìm ra những
nguyên nhân dẫn đến sự chán nản của ĐD
(Cilliers, 2003, Demir, Ulusoy, & Ulusoy,
2003; Worrall-Carter & Snell, 2003). 2 yếu
tố chính được tìm thấy bao gồm yếu tố môi
trường (sự quá tải, mâu thuẫn trong vai trò
và trách nhiệm, thiếu trang thiết bị...vv (
Maslach, Schaufeli, & Leiter, 2001;
Garrosa, Jimenez, Liang, & Gonzalez,
2006) và yếu tố cá nhân (tuổi, tình trạng
hôn nhân, kinh nghiệm làm việc, con
cái…vv )(Garrosa et al., 2006; Alimoglu,
& Donmez, 2005). Tuy nhiên, chỉ 1 phần
rất nhỏ các nghiên cứu về sự chán nản của
ĐD ở khoa ICU được tiến hành. Khoa ICU
được xem là 1 môi trường có rất nhiều áp
lực cho ĐD vì họ phải làm việc rất vất vả,
chăm sóc cho BN trong tình trạng nguy
kịch với 1 tốc độ khẩn trương và đòi hỏi sự
chính xác trong khi quyền hạn của ĐD thì
bị giới hạn (Donchin, & Seagull, 2002;
Erlen & Sereika, 1997). Poncet và các
đồng nghiệp năm 2007 phát hiện 1/3 ĐD
tại ICU có các dấu hiệu của sự chán nản ở
mức độ cao. Sự giao tiếp và mối quan hệ
giữa các cá nhân ĐD và các nhân viên y tế
là những nguyên nhân chính dẫn đến sự
chán nản tại ICU (Embriaco, Papazian,
Kentish-Barnes, Pochard, & Azoulay,
2007). Ngoài ra, Meltzer và Huckabay
(2004) tìm thấy rằng ĐD tại ICU càng trẻ
tuổi càng dễ bị chán nản.
Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) là
thành phố lớn nhất trong cả nước về kinh
tế, kỹ thuật và dịch vụ y tế. Do đó, các cơ
sở y tế tại Tp.HCM có nhiệm vụ chăm sóc
sức khỏe cho các BN cư trú ở Tp.HCM
cũng như ở các vùng lân cận. 6 tháng đầu
năm 2007, gần 15 triệu lượt người khám
chữa bệnh đã vượt quá chỉ tiêu kế hoạch
dẫn đến tình trạng quá tải tại các BV
(Thống kê y tế, 2000-2007). Duquette và
đồng nghiệp (1994) tổng kết y văn từ 36
nghiên cứu và xác định rằng công việc quá
tải là một trong những nhân tố liên quan
đến sự quá tải của ĐD.Ngoài ra, Tp.HCM
hiện cũng gặp phải vấn đề thiếu hụt đội ngũ
ĐD. Năm 2007, chỉ có 8.322 ĐD và nữ hộ
sinh chăm sóc cho 6,387,100 dân (Thống
kê y tế, 2000-2007). Tuy nhiên, theo hướng
dẫn của Tổ chức y tế thế giới, ít nhất nên
đạt tỷ lệ 2 ĐD/1000 dân, điều này có
nghĩa là Tp.HCM đang thiếu hơn 6000 ĐD.
Theo Aiken và đồng nghiệp (2001), vấn đề
thiếu hụt ĐD sẽ làm trầm trọng thêm sự
chán nản cuả ĐD.
Sự chán nản của ĐD là 1 vấn đề thu hút
sự quan tâm của ĐD và các nhà quản lý y
tế trên toàn thế giới và đã xác định được 1
số yếu tố ảnh hưởng đến sự chán nản của
ĐD. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại
chưa có một nghiên cứu nào được tiến hành
ở VN về sự chán nản cuả ĐD, đặc biệt là
ĐD làm việc ở khoa ICU. Hệ thống quản lý
y tế và tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
cuả Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
296
với các nước, do đó, các yếu tố liên quan
đến sự chán nản cuả ĐD cũng có thể khác
biệt. Chính vì thế, đo lường được mức độ
chán nản và các yếu tố liên quan đến sự
chán nản cuả ĐD là thật sự quan trọng vì
sự khỏe mạnh về thể chất, tinh thần, và cảm
xúc cuả ĐD sẽ góp phần dẫn đến sự ổn
định và bền vững cuả đội ngũ cán bộ y tế
và chất lượng chăm sóc cho BN.
Sơ đồ nghiên cứu
Học thuyết về hệ thống của Neuman
(2002) là cơ sở nền tảng hướng dẫn cho
nghiên cứu này. Học thuyết Neuman cho
rằng con người là 1 hệ thống mở có thể ảnh
hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi các tác nhân
kích thích từ môi trường. Và các tác nhân
kích thích này theo Nemman vừa có có thể
xảy ra bên trong, hoặc tương tác giữa các
cá thể, hoặc bên ngoài 1 cá thể. Các tác
nhân kích thích có thể gây ra sự căng thẳng
hoặc áp lực dẫn đến sự phản ứng của cá thể.
Sự chán nản (biến phụ thuộc trong nghiên
cứu này) là 1 trong những phản ứng không
hiệu quả của ĐD đối với các tác nhân kích
thích. Trong nghiên cứu này, tuổi và số năm
làm việc tại ICU được xem là các tác nhân
bên trong người ĐD (intrapersonal factors),
trong khi đó sự mâu thuẫn trong công việc
và sự hỗ trợ của xã hội là các tác nhân
mang tính chất tương tác giữa ĐD và các
cá nhân khác tại ICU (interpersonal
factors). Khối lượng công việc là đại diện
cho tác nhân kích thích bên ngoài
(extrapersonal factor).
Biến độc lập
Tuổi
Số năm làm việc tại ICU
Hỗ trợ của xã hội
- Sự hỗ trợ của cấp trên
- Sự hỗ trợ của đồng nghiệp
Sự mâu thuẩn trong công việc
Sự chán nản
Biến phụ thuộc
Khối lượng công việc
- Số giờ làm việc tại ICU/tuần
- Sự quá tải trong công việc
Hình 1: Sơ đồ nghiên cứu
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
297
Mục đích nghiên cứu
Khảo sát các yếu tố liên quan đến sự
chán nản của ĐD tại khoa ICU của 7 BV đa
khoa hạng I tại Tp.HCM.
Câu hỏi nghiên cứu
1. Mức độ chán nản, khối lượng công
việc, mức độ mâu thuẫn trong công việc, và
sự hỗ trợ của xã hội dành cho ĐD tại khoa
ICU của 7 BV đa khoa cấp 1 tại Tp.HCM
như thế nào?
2. Có mối liên hệ nào giữa tuổi, số năm
làm việc tại ICU, khối lượng công việc,
mâu thuẫn trong công việc, sự hỗ trợ của xã
hội và sự chán nản của ĐD tại khoa ICU
của 7 BV đa khoa cấp 1 tại Tp.HCM hay
không?
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến
hành từ tháng 1 - tháng 3/2008.
Nơi tiến hành nghiên cứu
7 khoa ICU của 7 BV đa khoa cấp I tại
Tp.HCM bao gồm BV Nhân Dân 115,
Nguyễn Trãi, Trưng Vương, Nguyễn Tri
Phương, An Bình, Sài Gòn, Gia Định. Các
BV này có trên 600 giường và trực thuộc
Sở y tế Tp.HCM.
Đối tượng nghiên cứu: 184 ĐD đang
làm việc tại khoa ICU tại 7 BV đa khoa.
Cỡ mẫu: Dựa theo công thức của Taro
Yamane (1967) với 95% độ tin cậy.
( )
2
1 e N
N
n
+
=
với
n = kích cỡ mẫu
N = kích cỡ dân số
e = mức độ sai số
( )
2
05 . 0 184 1
184
+
= n
Do dó, n = 124
Tiêu chí chọn mẫu
(1) ĐD hiện đang công tác tại khoa
ICU. (2) Là nhân viên hợp đồng hoặc dài
hạn > 6 tháng. (3) Đang chăm sóc trực tiếp
cho BN. (4) Sẵn sàng và tự nguyện tham
gia vào nghiên cứu.
Công cụ thu thập dữ liệu: Gồm 5
phần:
Thông tin cá nhân: bao gồm tuổi, tình
trạng hôn nhân gia đình, số năm công tác
trong ngành ĐD, số năm công tác trong
khoa ICU, số giờ làm việc tại khoa ICU
trong 1 tuần, và tổng số bệnh nhân 1 ĐD
chăm sóc trong 1 ca trực.
Bộ câu hỏi đo lường sự chán nản
(The Burnout Measure, BM): dựa trên công
cụ đo lường của Pines và Aronson (1988)
gồm 21 câu, 7 cách lựa chọn từ (1) = không
bao giờ đến (7) = luôn luôn. Tuy nhiên, sau
khi kiểm tra độ chuẩn của BM bởi 3
chuyên gia tại trường ĐH Burapha, cuối
cùng BM có 22 câu với 18 câu với nghĩa
tiêu cực (1, 2, 4, 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13,
14, 15, 16, 17, 18, 21, 22) và 4 câu với
nghĩa tích cực (3, 6, 19, 20). Bộ câu hỏi
đánh giá mức độ chán nản của ĐD trên các
phương diện thể chất, tinh thần, và cảm
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
298
xúc. Cronbach’s alpha dao động từ .85-.90
trong các nghiên cứu trước (Pines &
Aronson, 1988). Trong nghiên cứu này,
Cronbach’s alpha là .89. Phiên bản BM đã
được dịch và nghiên cứu trên nhiều nước
như Mỹ, Đức, Nhật, Mexico…
Bộ câu hỏi đo lường sự quá tải trong
công việc (Quantitative Workload Inventory,
QWI) được phát triển dựa trên công cụ đo
lường của Spector và Jex, (1998). QWI
gồm 5 câu với 5 lựa chọn để trả lời (ít hơn
1 lần/tháng hoặc không bao giờ =1,
1-2 lần/1 tháng = 2, 1-2 lần/1 tuần = 3, 1-2
lần/1 ngày = 4, nhiều lần/1 ngày = 5).
Cronbach’s alpha trung bình trong 15
nghiên cứu trước là .82 (Spector và Jex,
1998). Trong nghiên cứu này, Cronbach’s
alpha là .89.
Bộ câu hỏi đo lường mâu thuẫn
trong công việc (Interpersonal Conflict at
Work Scale, ICAWS) được phát triển dựa
trên trên công cụ đo lường của Spector và
Jex (1998). ICAWS gồm 4 câu hỏi với 5
cách trả lời (ít hơn 1 lần/tháng hoặc không
bao giờ
= 1 đến nhiều lần/1 ngày = 5).
Cronbach’s alpha trung bình trong 13
nghiên cứu trước.74 (Spector và Jex,
1998). Trong nghiên cứu này, Cronbach’s
alpha là .80
Bộ câu hỏi đo lường sự hỗ trợ của xã
hội (Social Support Scale) được phát triển
dựa theo Caplan, Cobb, French, Harrison
và Pinneau (1975). ĐD sẽ đánh giá mức độ
hỗ trợ của cấp trên và đồng nghiệp dựa trên
thang điểm 5 Likert (1= không có ai,
2 = không chút nào, 3 = rất ít, 4 = 1 chút,
5 = rất nhiều). Cronbach’s alpha trên 1
nghiên cứu với cỡ mẩu gồm 106 người
chăm sóc tại nhà là .87 (sự hỗ trợ của cấp
trên) và .80 (sự hỗ trợ của đồng nghiệp)
(Fujiwara et al., ,2003) Trong nghiên cứu
này, Cronbach’s alpha là .81 cho phần câu
hỏi sự hỗ trợ của cấp trên và .83 cho phần
sự hỗ trợ của đồng nghiệp.
Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu được tiến hành thông qua
Hội đồng đạo đức của khoa sau đại học
trường Burapha, Thailand. Sau đó, được
sự giới thiệu của Hiệu trưởng trường ĐH
Y Khoa Phạm Ngọc Thạch đến các giám
đốc BV đa khoa hạng I tại Tp.HCM, tác
giả đã được 7 BV đồng ý cho phép thu
thập dữ liệu. Tác giả liên hệ với các ĐD
trưởng và phòng kế hoạch tổng hợp BV
để nắm thông tin và tên của các ĐD tại
khoa ICU. Sau đó, các ĐD sẽ được chọn
ngẫu nhiên tham gia vào nghiên cứu bằng
phương pháp chọn mẫu đơn giản. Tác giả
tiếp xúc với ĐD trưởng khoa ICU và trình
bày về mục tiêu nghiên cứu. Bộ câu hỏi
được phát trực tiếp cho các ĐD tại khoa
ICU bởi tác giả hoặc các ĐD trưởng
khoa. Tính bảo mật về cách trả lời của
ĐD tham gia nghiên cứu được đảm
bảo.Tác giả thu thập dữ liệu sau 2 tuần.
Phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS 13.0. Thống
kê mô tả (phân phối chuẩn, %, trung bình,
độ lệch chuẩn) được sử dụng để đánh giá
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
299
phần đặc tính cá nhân, mức độ chán nản, sự
quá tải trong công việc, mâu thuẫn trong
công việc, sự hỗ trợ xã hội. Hệ số tương
quan Pearson được sử dụng để phân tích
các yêu tố liên quan đến sự chán nản trong
công việc của ĐD tại ICU.
3. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Tuổi trung bình của ĐD là 31.38 (từ
22- 58 tuổi). Hầu hết ĐD có bằng Trung
học ĐD (99.20%). 68 đối tượng còn độc
thân (54.80 %). Kinh nghiệm làm công
việc ĐD là 8.48 năm trong khi kinh nghiệm
làm việc tại ICU là 7.40 năm. Tổng số BN
mà ĐD phải chăm sóc trong 1 ca trực trung
bình là 3.88 (Bảng 1)
Bảng 1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Biến số N %
X
Độ lệch
chuẩn
Dao động
Trình độ chuyên môn
Trung học
Cử nhân
Tình trạng hôn nhân
Độc thân
Đã lập gia đình
Ly dị/chia tay/ở góa
Tuổi
Số năm làm công việc ĐD
Số năm làm việc tại ICU
Tổng số BN/1 ca trực
123
1
68
54
2
99.20
0.80
54.90
43.50
1.60
31.38
8.48
7.40
3.88
8.59
8.68
7.80
1.02
22-58
1-38
1-38
2-7
3.2. Mức độ chán nản, khối lượng công việc, mâu thuẫn cá nhân trong công việc,
và hỗ trợ của xã hội dành cho ĐD tại khoa ICU của 7 BV
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các
ĐD làm việc tại khoa ICU đánh giá mức độ
chán nản của họ ở mức độ trung bình ( X =
4.01, SD = 0.65). Sự mâu thuẫn giữa ĐD với
các cá nhân khác trong công việc rất thấp ( X
= 1.83, SD = 0.87). Đặc biệt, các ĐD cho biết
họ nhận được nhiều sự hỗ trợ của xã hội
trong công việc ( X = 3.96, SD = 0.70). Tuy
nhiên, các ĐD cảm nhận công việc của họ rất
quá tải ( X = 3.70, SD = 1.10) với số giờ làm
việc trung bình trong tuần tại khoa ICU là
49.09 (dao động từ 37 - 60 giờ) (Bảng 2).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
300
Bảng 2: Trung bình, độ lệch chuẩn, mức độ chán nản, khối lượng công việc,
sự mâu thuẫn trong công việc, và hỗ trợ của xã hội dành cho ĐD (n =124).
Công cụ đo lường
Trung
bình
Độ lệch
chuẩn(SD)
Thang
điểm
Mức độ
Sự chán nản 4.01 0.65 1-7 Trung bình
Sự mâu thuẫn trong công việc 1.83 0.87 1-5 Thấp ( ít)
Hỗ trợ của xã hội 3.96 0.70 1-5 Nhiều
Sự quá tải trong công việc 3.70 1.10 1-5 Cao
Số giờ làm việc tại khoa ICU/tuần 49.09 5.68 37-60
3.3. Mối liên hệ giữa các yếu tố liên quan đến cá nhân và môi trường làm việc và
sự chán nản của ĐD tai ICU
Bảng 3: Các yếu tố liên quan đến sự chán nản của ĐD tại ICU ( = 124).
Biến độc lập Biến phụ thuộc (sự chán nản) (r)
Tuổi
Số năm làm việc tại ICU
Hỗ trợ của xã hội
Hỗ trợ của cấp trên
Hỗ trợ của đồng nghiệp
Sự mâu thuẫn trong công việc
Sự quá tải trong công việc
Số giờ làm việc tại khoa ICU/tuần
-.35
***
-.27
**
-. 24
**
-.17
-.30
**
.46
***
.50
***
-.12
** p<.01, *** p<.001
Kết quả cho thấy rằng sự mâu thuẫn và
sự quá tải trong công việc có mối liên hệ
tương quan trung bình thuận chiều với sự
chán nản của ĐD (r = .46, p< .001, r = .50,
p < .001). Tuổi và sự hỗ trợ của đồng
nghiệp có mối quan hệ tương quan ngược
chiều với sự chán nản của ĐD (r =-.35,
p < .001, r =-.30, p < .01). Số năm làm việc
tại ICU có mối tương quan với sự chán nản
ở mức độ thấp và ngược chiều (r =-.27,
p < .01). Tuy nhiên, nghiên cứu phát hiện
ra rằng không có mối liên hệ nào giữa số
giờ làm việc trong 1 tuần tại ICU, sự hỗ trợ
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
301
của cấp trên và sự chán nản của ĐD (r =-.17,
r =-.12, p > .0.5). (Bảng 3).
4. BÀN LUẬN
Tuổi và số năm làm việc tại ICU có
mối liên quan nghịch chiều với sự chán nản
của ĐD. Kết quả này phù hợp với những
nghiên cứu trước. ĐD trẻ và ít kinh nghiệp
sẽ dễ dàng bị chán nản hơn những ĐD đã
có kinh nghiệm (Cabrera et al, 2005,
Meltzer & Huckabay, 2004). Pearlman và
Hartman (1982) giải thích về 4 giai đoạn
phát triển từ stress sang chán nản cho thấy
rằng ở giai đoạn đầu tiên, thông thường con
người chưa phát triển đầy đủ các khả năng
và kỹ năng để thích nghi 1 cách hiệu quả
với những áp lực trong công việc. Tuy
nhiên, trong nghiên cứu này, ĐD trung bình
có độ tuổi là 31 và có khoảng 7 năm làm
việc tại ICU. Do đó, với 7 năm làm việc và
chăm sóc BN tại ICU, ĐD có thể đã thích
nghi với môi trường đầy áp lực hoặc có thể
đã sử dụng hiệu quả 1 số biện pháp để thích
nghi. Tuy nhiên, nghiên cứu này đã không
khảo sát các biện pháp này, do đó nghiên
cứu kế tiếp nên khảo sát làm thế nào ĐD có
thể thích nghi với những áp lực và căng
thẳng tại ICU.
Số giờ làm việc tại ICU trong 1 tuần
không liên quan đến sự chán nản của ĐD.
Kết quả này trái ngược với những nghiên
cứu trước (Evers, Tomic & Brouwers, 2002,
Imai et al., 2004). Trong nghiên cứu này,
thật ngạc nhiên là số giờ làm việc trong 1
tuần tại ICU là 49 nhưng ĐD không cảm
thấy đó là 1 gánh nặng và có thể dẫn đến sự
chán nản và kiệt sức về thể chất, tinh thần
và cảm xúc. Lí do có thể sự mâu thuẫn cá
nhân nơi làm việc rất thấp và ngược lại họ
nhận được nhiều sự hỗ trợ của xã hội. Ngoài
ra, 1 trong những nguyên nhân khác có thể
họ làm việc thêm ngoài giờ qui định nhưng
vì họ có thể hài lòng với sự chi trả của BV,
nên họ không cảm thấy chán nản. Tuy
nhiên, nghiên cứu này không khảo sát thu
nhập bình quân của ĐD, do đó nhiên cứu kế
tiếp nên khảo sát thêm vấn đề tài chính và
chi trả cua BV cho ĐD.
Sự quá tải trong công việc có thể dẫn
đến sự chán nản của ĐD. Kết quả này cũng
tương tự các kết quả của những nghiên cứu
trước (Garrosa et al., 2006). Khi ĐD làm
việc tại ICU, họ phải làm việc thật nhanh,
căng thẳng và vất vả. Ngoài ra, phần lớn
BN đều nặng hoặc hôn mê lại không có
người thân trực tiếp chăm sóc nên tất cả
công việc từ theo dõi các dấu hiệu sống,
cho BN dùng thuốc, tới nuôi ăn, vệ sinh
người bệnh đều do ĐD đảm nhận… do đó
ĐD dễ dàng có tâm trạng chán nản trong
công việc.
Có sự liên quan nghịch chiều giữa sự
chán nản của ĐD tại ICU và sự hỗ trợ của
đồng nghiệp trong khi không tìm thấy sự
liên quan với sự hỗ trợ của cấp trên. Đồng
nghiệp là 1 nguồn hỗ trợ quan trọng bởi vì
các ĐD và đồng nghiệp có cơ hội trao đổi,
chia sẻ cảm xúc với nhau trong công việc,
khi nghỉ ngơi, cũng như sau những giờ làm
việc căng thẳng (Cooper & Cartwright,
1997, Jenkins & Elliott, 2004). Tuy nhiên,
sự hỗ trợ của cấp trên không liên quan đến
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
302
sự chán nản của ĐD là kết quả trái ngược
với nhiều nghiên cứu trước (Lee &
Ashforth, 1996; Kazuyo, 2005).
Mức độ mâu thuẫn cá nhân tại nơi làm
việc mặc dù rất thấp tuy nhiên vẫn có mối
liên hệ khăn khít với sự chán nản của ĐD
tại ICU. Nghiên cứu này ủng hộ cho kết quả
của những nghiên cứu trước rằng sự mâu
thuẫn cá nhân tại nơi làm việc là một trong
những nguyên gây ra sự chán nản thường
hay gặp nhất (Maslach, Schaufeli, & Leiter,
2001, Pines, Aronson, & Kafry, 1981).
Hạn chế của nghiên cứu
1. Mặc dù đã nỗ lực để thu thập dữ liệu
trên đối tượng nghiên cứu có đặc tính gần
giống nhau, tuy nhiên kết quả này cũng chỉ
có thể suy rộng cho các ĐD làm việc tại
khoa ICU của các BV đa khoa cấp 1 tại
Tp.HCM. Cách quản lý của các BV phía
Bắc, Trung có thể khác so với phía Nam.
Do đó, đề xuất cho nghiên cứu trong tương
lai nên thu thập thêm ĐD ở nhiều khu vực,
đa cấp, và đa khoa.
2. Nghiên cứu cắt ngang không thể cho
phép kết luận mối quan hệ nhân giữa các
biến. Vì thế, bước kế tiếp có thể tiến hành
nghiên cứu trong 1 thời gian dài để tìm mối
quan hệ giữa các yếu tố môi trường làm
việc và sứ chán nản của ĐD.
3. Số liệu được thu thập bằng công cụ
tự lượng giá. Do đó, ĐD có thể đánh giá
thấp hơn hoặc cao hơn so với mức độ thực
tế. Các nghiên cứu kế tiếp nên đo lường
dựa vào công cụ định lượng.
5. ĐỀ XUẤT
ĐD cảm nhận công việc tại ICU rất quá
tải, tuy nhiên sự chán nản của họ chỉ ở mức
độ trung bình. Điều đó có nghĩa là các nhà
quản lý cần xem xét lại số lượng công việc
cuả ĐD tại ICU. Giảm bớt khối lượng công
việc cho ĐD là điều cần thiết. Các hội thảo
hoặc các lớp tập huấn về các kỹ năng quản
lý stress, các hoạt động dã ngoại, nghỉ mát
trong năm là những biện pháp can thiệp
hữu ích làm giảm bớt sự chán nản của ĐD
Nhìn chung, các ĐD cho biết sự chán
nản của họ có liên quan đến sự hỗ trợ của
xã hội nhưng 1 điều rất thú vị là chỉ liên
quan đến hỗ trợ của đồng nghiệp chứ
không phải là từ cấp trên. Do đó, ĐD quản
lý cần quan tâm và động viên các ĐD và
đồng nghiệp tiếp tục duy trì và phát triển
mối tương trợ trong công việc. Hơn thế
nữa, các cán bộ quản lý cũng cần tìm ra các
giải phát để làm gia tăng kỹ năng quản lý
và lãnh đạo của các ĐD trưởng khoa cũng
như các BS trưởng khoa. Các ĐD cần được
hỗ trợ thông qua phương tiện làm việc đầy
đủ, chia sẽ kinh nghiệm kiến thức cũng như
những khó khăn, hoặc nhìn nhận và tạo cơ
hội để ĐD đóng góp vào các kế hoạch của
cơ quan là những biện pháp cần thiết.
Các ĐD trẻ với ít kinh nghiệm làm việc
rất dễ bị chán nản với công việc tại khoa
ICU. Do đó, các ĐD trưởng BV và trưởng
khoa nên chọn những ĐD đã có kinh
nghiệm ở các khoa khác và luân chuyển họ
vào làm việc tại ICU. Ngoài ra, cần phải
huấn luyện cho ĐD trẻ, ít kinh nghiệm
những kỹ năng quản lý stress, quản lý mâu
thuẫn, các kiến thức về làm việc theo
nhóm, cũng như kỹ năng sử dụng các trang
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
303
thiết bị hiện đại để họ có thể làm việc và
thích nghi 1 cách hiệu quả với môi trường
làm việc đầy áp lực tại ICU.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Aiken, L. H., Clarke, S. P., Sloane, D.
M., Sochalski, J. A., Busse, R., Clarke, H., &
etal. (2001). Nurses’ reports on hospital care
in five countries. Health Affairs, 20(3), 43-53
2. Alimoglu, M. K., & Donmez, L.
(2005). Daylight exposure and the other
predictors of burnout among nurses in a
university hospital. International Journal of
nursing Studies, (5), 549-555.
3. Bagan, Y., & Kedem, Y. (2005).
Burnout and absenteeism among nurses in
health care magement. Journal of Academy
of Business and economics.
http://www.highbeam.com/doc/1G1-
149213873.html.
4. Cabrera, G. L. S., López, R. P.,
Salinas, T. S., Ochoa, T. J. G., Marín, C. I.
A., & Haro, L. (2005). Burnout syndrome
among Mexican hospital nursery staff.
Revista médical Instituto Mexicano del
Seguro Social, 43(1), 11-5.
5. Caldwell, B. A., Gill, K. J., Fitzgerald,
E., Sclafani, M., & Grandison, P. (2006). The
sociation of ward atmosphere with burnout
and attitudes of treatment team members a
state psychiatric hospital. American Journal
of Psychiatric Rehabilitation, 9(2), 1-129.
6. Cilliers, F. (2003). Burnout and
salutogenic functioning of nurses.
Curationis, 26(1), 62-74.
7. Cooper, C. L., & Cartwright. (1997).
An intervention strategy for workplace stress.
8. Journal of Psychosomatic Research.
43, 7-16.
Demir, A., Ulusoy, M., & Ulusoy, M. F.
(2003). Investigation of factors influencing
burnout levels in the professional and private
lives of nurses. International
Journal of Nursing Studies, 40, 807-827.
9. Donchin, Y., & Seagull, F. J. (2002).
The hostile environment of the intensive care
unit. Current Opinion Critical Care, 8, 316-
320.
10. Duquette, Kérouac, Sandhu, &
Beaudet. (1994). Factors related to nursing
burnout: A review of empirical knowledge.
Issues Mental Health Nursing, 15(4), 337-58
11. Embriaco, N., Papazian, L., Kentish-
Barnes, N., Pochard, F., & Azoulay, E.
(2007).
Burnout syndrome among critical care
healthcare workers. Current Opinion in
Critical Care, 3(5), 482-8.
12. Evers, W., Tomic, W., & Brouwers,
A. (2002). Aggressive behaviour and burnout
among staff of homes for the elderly.
International Journal of Mental Health
nursing, 11(1), 2-9.
13. Fujiwara, K., Tsukishima, E.,
Tsutsumi, A., Kawakami, N., & Kishi,
R. (2003).
Interpersonal conflict, social support, and
burnout among home care workers in Japan.
Journal of Occupational Health, 45(5),
313-20.
14. Garrosa, E., Jimenez, B. M.,
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
304
Liang,Y., & Gonzalez, J. L. (2006). The
relationship between sosio- demographic
variables, job stressors, burnout, and hardy
personality in nurses: An exploratory study.
International Journal of nursing Studies.
Doi: 10.1016/j.ijnurstu.2006.09.2003.
15. Greco, P., Laschinger, H., & Wong,
C. (2006). Leader empowering behaviours,
staff nurse empowerment and work
engagement/burnout. Canadian Journal of
Nursing Leadership,19(4), 41-56.
16. Health statistic (2000-2007). Medical
Human resource during 2000-2007.
Retrieved 2007, from
http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn/ti
ntuc/news_detail.asp?period_id=1&cat_id=2
85&news_id=6368#content.
17. Health statistic (2000-2007).Number
of patients to check up health. Retrieved
2007, from
http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn/d
ata/news/2009/4/6367/khamchuabenh.htm.
18. Imai, H., Nakano., Tsuchiya, M.,
Kuroda, Y., & Katoh, T. (2004). Burnout and
work environments of public health nurses
involved in mental health care.
Occupational Evironment Medicine, 61,
764-768.
19. Jenkins, R., & Elliott, P. (2004).
Stressors, burnout and social support: Nurses
in acute mental health settings. Journal of
Advanced Nursing, 48(6), 622-31.
20. Kazuyo, H., Yuko, M., Katsuyuki,
M., Muneko, N., Masaji, T., Masao, I., &
Hideaki, N. (1999). Burnout and related
factors among hospital nurses. Journal of
Occupational Health, 41, 215-224.
21. Lee, R. T., & Ashforth, B. E. (1996).
A meta-analytic examination of the
correlates of the three dimensions of job
burnout. Journal of Applied Psychology, 81,
123-133.
22. Maslach, C., Schaufeli, W. B., &
Leiter, M. P. (2001). Job burnout. Annual
Review of Psychology, 52, 397-422
23. Meltzer, L. S., & Huckabay, L. M.
(2004). Critical care nurses' perceptions of
futile care and its effect on burnout.
American Journal of Critical Care, 13,
202-207
24. Meltzer, L. S., & Huckabay, L. M.
(2004). Critical care nurses' perceptions of
futile care and its effect on burnout.
American Journal of Critical Care, 13,
202-207.
25. Neuman (2002). The Neuman
Systems Model (4
th
ed.). Prentice Hall
26. Perlman, B., & Hartman, E. A.
(1982). Burnout: Summary and future
research. Human Relations, 35(4), 283-305.
27. Pines, A., & Aronson, E. (1988).
Career burnout: causes and cures. New York:
Free Pines, A., Aronson, E., & Kafiy, D.
(1981). Burnout: From Tedium to Personal
Growth. New York: The Free Press.
28. Poncet, M. C., Toullic, P., Papazian,
L., Kentish-Barnes, N., Timsit, J. F.,
Pochard, F.,
Chevret, S., Schlemmer, B., & Azoulay, E.
(2007) Burnout syndrome in critical care
nursing staff. American Journal of Respiratory
and Critical Care Medicine, 175(7).
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
305
29. Rafferty, Y., Friend, R., Landsbergis,
P. A. (2001). The association between job
skill discretion, decision authority and
burnout. Work & Stress, 15(1), 73-85.
30. Shanafelt, T. D., Bradley, K. A.,
Wipf, J. E., & Back, A. L. (2002). Burnout
and self- reported patient care in an internal
medicine residency program. Annual of
Internal Medicine, 136, 358-367
31. Shimizu, T., Feng, Q., & Nagata, S.
(2005). Relationship between turnover and
burnout among Japanese hospital nurses.
Journal of Occupational Health, 47(4), 334-6.
32. Spector, P. E., & Jex, S. M. (1998).
Development of four self-report measures of
job stressors and strain: Interpersonal conflict
at work scale, organizational constraints
scale, quantitative workload, and physical
symptoms inventory. Journal of Occupational
Health Psychology, 3(4), 356-367.
33. Vahey, D. C., Aiken, L. H., Sloane,
D. M., Clarke, S. P., & Vargas, D. (2004).
Nurse burnout and patient satisfaction.
Medicine Care, 42(2), I57-66.
34. Vimantaite, R., & Seskevicius, A.
(2006). The burnout syndrome among nurses
working in Lithuanian cardiac surgery centers.
Medicina(Kaunas, Lithuania),42(7),600- 5.
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
306
MỤC LỤC
Trang
- Thực trạng nhân lực điều dưỡng trưởng toàn quốc năm 2010 ......................................5
- Đánh giá các đề tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng thực hiện tại Việt Nam,
giai đoạn 2004 - 2009 ..................................................................................................15
- Điều tra thực trạng nguồn nhân lực điều dưỡng trong bệnh viện công lập
ngành y tế Nghệ An năm 2009 ....................................................................................29
- Hiểu biết nghề nghiệp và lòng yêu nghề của sinh viên điều dưỡng ............................37
- Khảo sát những lợi ích và trở ngại khi điều dưỡng trung cấp học nâng cao trình
độ lên cử nhân ..............................................................................................................47
- Nghiên cứu năng lực thực hành của sinh viên tốt nghiệp làm việc tại các cơ sở
y tế và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Cao đẳng
Y tế Nghệ An ...............................................................................................................56
- Phân tích tác động của việc thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP đến nguồn
nhân lực điều dưỡng tại 7 khoa lâm sàng của Bệnh viện Bạch Mai năm 2010 ..........65
- Khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc y tế tại nhà của nhân dân trên địa
bàn Thành phố Hải Dương năm 2009 ..........................................................................78
- Báo cáo kết quả thực hiện dự án tiêm an toàn tại 13 bệnh viện lựa chọn - dự
án hợp tác giữa hội ĐDVN & PI .................................................................................85
- Đánh giá thực trạng tiêm an toàn tại Bệnh viện Trung ương Huế ..............................92
- Đánh giá kiến thức của bà mẹ nuôi con mắc bệnh tiêu chảy tại khoa Nhi
BVĐKKV Bồng Sơn từ 07-2008 đến 06 -2009 .........................................................102
- Đánh giá việc giáo dục sức khỏe cho người bệnh đái tháo đường tại Bệnh viện
đa khoa tỉnh Hà Tĩnh ..................................................................................................109
- Các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện ở người bệnh điều trị tại khoa
Hồi sức - chống độc, bệnh viện Quảng Ngãi .............................................................116
- Đánh giá hiệu quả của khí ozone trong khử khuẩn không khí phòng tiêm, thay băng ......122
- Đánh giá nhận thức, thái độ của điều dưỡng đối với việc thu gom, phân loại
chất thải y tế tại 6 bệnh viện trong khu vực thành phố Nam Định ............................127
- Đánh giá nhận thức, thực hành và chi phí cho công tác quản lý chất thải y tế
rắn tại Bệnh viện 105 .................................................................................................134
Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d- ìng toµn quèc lÇn thø IV
307
- Kỹ thuật thu gom chất thải cuả người bệnh sốc giảm thể tích do tiêu chảy cấp
nguy hiểm trên cáng cải tiến ......................................................................................144
- Đánh giá hiệu quả đào tạo về kỹ năng giao tiếp của điều dưỡng, hộ sinh với
người bệnh tại các bệnh viện trong ngành y tế Ninh Bình năm 2008-2009. ............164
- Chăm sóc răng miệng cho người bệnh hồi sức cấp cứu của điều dưỡng các
bệnh viện ở Hà Nội ....................................................................................................172
- Chăm sóc bệnh nhân tụt huyết áp trong lọc máu nhân tạo .......................................179
- Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh ung thư hạ họng - thanh quản tại
Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Trung ương Huế (từ 1/1/2009-30/6/2010) ............183
- Đánh giá một số tác dụng không mong muốn của ống thông Foley với các kích
cỡ khác nhau trên bệnh nhân được phẫu thuật ổ bụng ..............................................192
- So sánh hiệu quả cách sổ rau tích cực và thường qui tại khoa Sản Bệnh viện
tỉnh Kon Tum (tháng 4 đến tháng 6 năm 2009) .........................................................199
- Tìm hiểu cảm xúc và nhu cầu chăm sóc về mặt tinh thần của người bệnh ở
Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế................................................................. 208
- Đánh giá kiến thức, thái độ thực hành chăm sóc bàn chân của người bệnh đái
tháo đường tại khoa Nội tiết lão khoa Bệnh viện C Đà Nẵng ...................................217
- Thăm dò hiểu biết và ra quyết định của thân nhân người bệnh cao tuổi bị đột
quỵ lần đầu .................................................................................................................224
- Đánh giá kết quả phục hồi chức năng hô hấp sau phẫu thuật phổi tại khoa
Ngoại lồng ngực Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng năm 2009 ....................233
- Đánh giá sự thay đổi chức năng vận động khớp vai của trẻ xơ hoá cơ Delta từ 6-18
tuổi sau can thiệp phục hồi chức năng tại huyện Hoài Đức - Hà Nội, năm 2008 ............ 242
- Thực hành theo dõi, cung cấp ô xy của điều dưỡng đối với bệnh lý võng mạc trẻ
non tháng tại khoa Hồi sức sơ sinh-Bệnh viện Nhi đồng I Thành phố Hồ Chí Minh ........ 248
- Đánh giá hiệu quả rút thuốc kháng sinh tiêm tại Bệnh viện Nhi đồng Đồng Nai
năm 2008 ....................................................................................................................254
- Đánh giá một số yếu tố liên quan đến triệu chứng sau mổ trên bệnh nhân phẫu
thuật ổ bụng ...............................................................................................................265
- Nghiên cứu tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ tại khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện
Đại học Y - Dược TP.HCM .......................................................................................272
- Nguy cơ nhiễm trùng vết mổ tại khoa Ngoại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội .............279
- Các yếu tố liên quan đến sự chán nản công việc của điều dưỡng tại khoa Hồi
sức tích cực của các bệnh viện đa khoa Thành phố Hồ Chí Minh ............................291

2

Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV

HỘI ĐIỀU DƯỠNG VIỆT NAM
CHỦ BIÊN Bà Vi Nguyệt Hồ ThS. Phạm Đức Mục, ThS. Nguyễn Bích Lưu, BAN BIÊN TẬP TS. Trần Quang Huy, ThS. Trần Thị Thuận, ThS. Phạm Thu Hà, ThS. Thái Thị Kim Nga, ThS. Nguyễn Thị Thanh Thủy, ThS. Vũ Hồng Ngọc, ThS. Nguyễn Thị Như Tú, ThS. Đào Thành, BAN THƯ KÝ ThS. Ngô Đức Thọ, CN. Nguyễn Thị Hồng Anh, CN. Hà Thị Kim Phượng CN. Hoàng Xuân Hương, CN. Đinh Thị Thúy Hà, Ủy viên Ban chấp hành Văn Phòng TƯ Hội Điều dưỡng Việt Nam Chuyên viên Phòng Điều dưỡng - Tiết chế, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh Bộ Y tế Văn Phòng TƯ Hội Điều dưỡng Việt Nam Nhân viên dự án Phòng Điều dưỡng-Tiết chế, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh-Bộ Y tế Ủy viên Thường vụ, Trưởng ban nghiên cứu khoa học Ủy viên Thường vụ, Trưởng ban Đào tạo Ủy viên Thường vụ Ủy viên Thường Vụ, Phó trưởng ban nghiên cứu khoa học Ủy viên Ban chấp hành Ủy viên Ban chấp hành Ủy viên Ban chấp hành Ủy viên Ban chấp hành Chủ tịch Hội Điều dưỡng Việt Nam Phó Chủ tịch thường trực Phó Chủ tịch

Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV

3

LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực điều dưỡng ở nước ta đã và đang phát triển mạnh, ngày càng nhận được sự hưởng ứng nhiệt thành của Điều dưỡng, Hộ sinh trong toàn quốc, trở thành yêu cầu không thể thiếu trong thực hành điều dưỡng và đã được Bộ Y tế chính thức đưa vào là một trong các nội dung quan trọng của công tác Điều dưỡng. Hội nghị Khoa học Điều dưỡng toàn quốc đã được tổ chức lần đầu tiên năm 2002, lần thứ hai năm 2005, lần thứ 3 năm 2007 với nhiều đề tài nghiên cứu điều dưỡng có giá trị, được áp dụng trong công tác điều trị và chăm sóc người bệnh tại các cơ sở y tế, góp phần tăng cường chất lượng chăm sóc cũng như đem lại sự hài lòng cho người bệnh. Hội nghị Khoa học Điều dưỡng toàn quốc lần thú IV được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 25 và 26 tháng 10 năm 2010, Ban Tổ chức đã nhận được hơn 125 đề tài báo cáo khoa học của Điều dưỡng, Hộ sinh từ mọi miền tổ quốc gửi về với những nội dung rất phong phú, khẳng định tiềm năng to lớn của Điều dưỡng trong nghiên cứu và áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Đó là minh chứng về sự phát triển mạnh mẽ của ngành Điều dưỡng Việt Nam.

Ban Tổ chức xin cảm ơn tất cả các tác giả đã gửi bài tham gia báo cáo trong Hội nghị Khoa học Điều dưỡng toàn quốc lần IV. Với thời lượng tổ chức Hội nghị có hạn nên Ban Tổ chức xin được trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc những đề tài nghiên cứu điều dưỡng tiêu biểu được báo cáo trong Hội nghị để các bạn đồng nghiệp tham khảo và áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc người bệnh. Rất mong sự quan tâm và góp ý của Quý độc giả để công tác nghiên cứu điều dưỡng ngày càng phát triển. Trân trọng cảm ơn. BAN BIÊN TẬP

4

Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV

TÀI LIỆU PHỤC VỤ HỘI NGHỊ

In 700 cuốn khổ 19 x 27cm tại Nhà xuất bản GTVT. Đăng ký KHXB số: 148-2010/CXB/26-05/GTVT Quyết định xuất bản số: 163/QĐ-XBGT ngày 15/10/2010.

Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV

5

THỰC TRẠNG NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG TRƯỞNG TOÀN QUỐC NĂM 2010
Phòng Điều dưỡng-Tiết chế, Cục Quản lý KCB

1. ĐẶT VẤN ĐỀ Chăm sóc điều dưỡng là hoạt động nghề nghiệp của người điều dưỡng, đòi hỏi người điều dưỡng phải có kiến thức chuyên môn, kỹ năng thành thạo và đạo đức nghề nghiệp, năng lực của mỗi điều dưỡng thể hiện qua ba nội dung trên. Điều dưỡng trưởng không chỉ là người điều dưỡng thạo tay nghề, mà còn cần có năng lực quản lý, vì vậy họ là đối tượng cần ưu tiên phát triển trong lực lượng điều dưỡng viên. Có thể ví một người điều dưỡng trưởng là một quản gia trong gia đình đông người với đủ lứa tuổi, thành phần, trình độ, tính cách khác nhau. Sự bình yên, sung túc và thành đạt của một gia đình lớn có phần nhờ tài quản lý của người quản gia. Do vậy, các nước trên thế giới đã xây dựng và thực hiện một chương trình đào tạo về Quản lý điều dưỡng trong nhiều năm nay và họ ưu tiên phát triển đội ngũ này. Ở nước ta, chức danh Y tá trưởng (nay là Điều dưỡng trưởng) được ra đời trong các bệnh viện từ năm 1965. Tuy nhiên, 25 năm sau, Phòng Y tá bệnh viện mới có tên trong tổ chức bệnh viện sau khi Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quyết định số 570/QĐBYT ngày 14/7/1990. Tiếp đó, Phòng Y tá trong Vụ Quản lý sức khoẻ của Bộ Y tế được thành lập tại Quyết định số 356/QĐ-

BYT ngày 14/3/1992. Năm 1997, sau 7 năm Phòng Y tá các bệnh viện và 5 năm sau khi Phòng Y tá thuộc Vụ Quản lý sức khoẻ ra đời, với những đóng góp của các Điều dưỡng trưởng Bệnh viện, Phòng Y tá -Bộ Y tế đã đề xuất với Bộ trưởng Bộ Y tế xem xét ký Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19/9/1997 ban hành Quy chế bệnh viện trong đó có quy định Phòng Y tá (Điều dưỡng) là một trong những phòng chức năng và nghiệp vụ của bệnh viện. Tính đến tháng 7/2010, sau 13 năm thực hiện Quy chế bệnh viện, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đã tiến hành một khảo sát nhanh, kết quả cho thấy: 100% bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế, 72% bệnh viện tuyến tỉnh và 64,6% bệnh viện tuyến huyện đã thành lập Phòng hoặc tổ điều dưỡng trưởng theo quy chế bệnh viện. Tuy nhiên, vẫn còn 28% bệnh viện tuyến tỉnh và 35,4% bệnh viện tuyến quận, huyện chưa thành lập Phòng Điều dưỡng mà bổ nhiệm điều dưỡng trưởng thuộc Phòng Kế hoạch tổng hợp nên công tác điều dưỡng tại các bệnh viện này hạn chế hơn so với các bệnh viện đã thành lập Phòng Điều dưỡng. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong công tác quản lý điều dưỡng, ngày 2/7/1999, Bộ trưởng Bộ Y tế ra Quyết định số 1936/1999/QĐ-BYT quy định chức

6

Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV

năng, nhiệm vụ của Điều dưỡng trưởng thuộc Sở Y tế các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương. Tính đến tháng 7/2010, sau 11 năm thực hiện Quyết định 1936/1999/QĐBYT đã có 74% (47/63) các Sở Y tế đã bổ nhiệm Điều dưỡng trưởng Sở; 36,5% (23/63) Sở Y tế bổ nhiệm Điều dưỡng trưởng Sở Y tế làm Phó trưởng phòng nghiệp Vụ Y, 25,4% (16/63) Sở Y tế chưa bổ nhiệm điều dưỡng trưởng Sở Y tế (kết quả khảo sát của phòng Điều dưỡng-Cục QLKCB). Ngày 03/8/2010, Bộ Y tế đã ban hành công văn số 5134/BYT-KCB gửi tới các Sở Y tế và các Bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế yêu cầu các Sở Y tế và các bệnh viện tiếp tục củng cố hệ thống điều dưỡng trưởng. Có thể nói, từ khi được tổ chức theo hệ thống nghề nghiệp, đội ngũ điều dưỡng trưởng đã khẳng định được vai trò và vị trí của mình trong toàn ngành y tế, có những đóng góp quan trọng vào việc tăng cường chất lượng khám, chữa bệnh, quản lý các nguồn lực của các cơ sở y tế và nâng cao trình độ cho điều dưỡng, hộ sinh viên. Họ đã thực sự trở thành những cán bộ chủ chốt trong các đơn vị. Một số người đã được bổ nhiệm chức vụ cao từ trung ương đến địa phương như: Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; Giám đốc, Phó giám đốc một số bệnh viện; Phó Giám đốc Chi cục dân số tỉnh; Lãnh đạo một số trường, khoa đào tạo điều dưỡng. Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng cao, sự phát triển khoa học y tế ngày càng nhanh,

cơ chế tự chủ và xã hội hóa trong các bệnh viện ngày càng đòi hỏi trình độ quản lý của các bác sĩ, điều dưỡng thì người điều dưỡng trưởng càng đứng trước thách thức lớn hơn về năng lực quản lý. Bên cạnh đó, xu hướng thiếu nhân lực điều dưỡng toàn cầu và sự di cư nhân lực điều dưỡng giữa các nước, các vùng, các miền trong một nước đang là thách thức với các nhà quản lý y tế, không chỉ ở Việt Nam. Thách thức lớn đối với Việt Nam là thiếu điều dưỡng có trình độ chuyên môn cao và thiếu người quản lý điều dưỡng giỏi. Để có bức tranh tổng thể về nguồn nhân lực điều dưỡng làm cơ sở xây dựng kế hoạch hành động quốc gia tăng cường công tác điều dưỡng-hộ sinh giai đoạn 20112015, Phòng Điều dưỡng-Tiết chế, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh thực hiện một khảo sát về thực trạng nhân lực điều dưỡng trưởng năm 2010 với 3 mục tiêu sau đây: 1. Mô tả thực trạng về số lượng, trình độ chuyên môn, trình độ quản lý của đội ngũ Điều dưỡng trưởng Sở Y tế. 2. Mô tả thực trạng nhân lực Điều dưỡng trưởng trong hệ thống bệnh viện: số lượng, trình độ chuyên môn, trình độ quản lý và phụ cấp trách nhiệm được hưởng. 3. Đề xuất giải pháp tăng cường năng lực của đội ngũ điều dưỡng trưởng các cấp. 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu mô tả cắt ngang với đối

một số thông tin được kiểm định để đảm bảo độ chính xác. tuy nhiên chúng tôi vẫn có đủ thông tin cá nhân của các điều dưỡng trưởng Sở Y tế và Trưởng phòng Điều dưỡng bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế từ những lần khảo sát trước. Bảng 1.4 74 45 26.6 4863 .Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 7 tượng khảo sát là điều dưỡng trưởng Sở Y tế của các Sở Y tế tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương.6 6.0.0 1232 662 Tổng 690 100.4 101 31 19. Công cụ thu thập số liệu gồm 2 phiếu khảo sát: (1) danh sách trích ngang cán bộ phụ trách công tác điều dưỡng tại Sở Y tế (Điều dưỡng trưởng SYT) và Trưởng phòng Điều dưỡng bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế (2) Báo cáo nhân lực quản lý điều dưỡng tại các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế và các bệnh viện thuộc Sở Y tế của các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương. Điều dưỡng trưởng khối.9 16. Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 16. KẾT QUẢ Các kết quả dưới đây thu thập được từ 57/63 Sở Y tế và 36 Bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế. 3.8 98 63 28.2 2 0.7 18.1 4 0. Tổng số có 57 Sở Y tế và 36 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế gửi báo cáo về. Trong quá trình làm sạch số liệu.0 342 100.4 15.6 377 73. Trình độ chuyên môn của Điều dưỡng trưởng Sở Y tế và bệnh viện.0 275 100.6 179 52.3 153 55. Phiếu khảo sát được thu thập trong thời gian từ 15/8-5/10/2010 qua đường bưu điện hoặc qua hộp thư điện tử.6 3 1. 3.1. các bệnh viện trực thuộc các Sở Y tế.0 6758 Trung cấp 300 43.8 1 Trình độ Đại học Cao đẳng 273 109 39. Điều dưỡng trưởng bệnh viện.0 513 100. Phân bố trình độ chuyên môn của Điều dưỡng trưởng các bệnh viện Chức danh Trưởng phòng Phó phòng ĐDT khối Cán bộ phòng ĐDT ĐDT khoa Số lượng Số lượng tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng > ĐH 8 1. cán bộ của Phòng Điều dưỡng bệnh viện và điều dưỡng trưởng khoa của các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế.

3 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Ghi chú: * 8 người đang làm nhiệm vụ như điều dưỡng trưởng nhưng chưa được bổ nhiệm chức danh.8 Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV Tỷ lệ % 100. ** Bác sĩ được cử kiêm nhiệm công tác điều dưỡng.1% ở cấp khoa.6% ở cấp trưởng có trình độ cử nhân điều dưỡng Trưởng phòng).2%) có trình khối và 18. 3.3 3 0 0 0 0 0 0 3 6.3 41 4.9 2 50.2.0 1 50.2 2 4.8 36* 50.0 1 50.8 71.4 4.0 3** 41 85. Tất cả . 26. Phân bố theo nghề và trình độ chuyên môn của điều dưỡng trưởng Sở Y tế và chuyên viên phụ trách Trình độ chuyên môn (n = 47) Nghề nghiệp của điều dưỡng trưởng Sở Y tế Tổng/ tỷ lệ (%) Sau đại học Đại học Cao đẳng Trung cấp Điều dưỡng Hộ sinh Kỹ thuật viên Bác sĩ Tổng số/tỷ lệ chung Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tổng số Tỷ lệ % 85.7 10.9 Số lượng 8578 18 1778 910 5872 Tổng Tỷ lệ % 100 0.5% học điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao ở cấp (5872) có trình độ trung học.1 9.6 68.7% có trình độ đại học tỷ lệ Điều dưỡng trưởng có trình độ trung và 10.2%) Sở Y tế bổ và cử chuyên viên phụ trách kiêm nhiệm nhiệm chức danh điều dưỡng trưởng SYT công tác điều dưỡng của Sở Y tế.572 39. Thực trạng nhân lực Điều dưỡng trưởng Sở Y tế và chuyên viên phụ trách Bảng 2. Trong khi đó độ trên đại học.9% ở cấp điều bảng 1 cũng cho thấy tỷ lệ điều dưỡng dưỡng trưởng khoa xuống 43. Nhận xét: Có 48 (76.0 18.9% ở cấp người.4% ở cấp trưởng phòng.2 7. Số liệu ở quản lý khoa phòng (71.6% ở trình độ cao đẳng và 68.2 2 6.3 3 48 76.0 1 100.0 1 0 0 4 8. 20.2 20. trong đó 18 người (0.5 giảm dần từ cấp phòng đến khoa: từ Nhận xét: Tổng số điều dưỡng trưởng ở các bệnh viện được khảo sát là 8.0 0.3 87.

7% 33.0 2 0 0 0 Nhận xét: Có 26 Sở Y tế đã bổ nhiệm Điều dưỡng trưởng làm Phó trưởng phòng Nghiệp Vụ Y.lượng/ tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Tổng số/ tỷ lệ 32 91.0% 2 0 100. 85.0 26 0 0 3 0 0 21 2 100. Có 3 người là bác sĩ (Cần Thơ.1% 0 0 .4% có trình độ đại học. chỉ có một người ở trình độ cao đẳng.7% Điều dưỡng trưởng Sở Y tế và cán bộ chuyên trách công tác điều dưỡng tại Sở Y tế có chứng chỉ quản lý điều dưỡng. Bảng 3. 6. hộ sinh và kỹ thuật viên Y. Phân bổ theo trình độ và nghề nghiệp của Trưởng phòng điều dưỡng bệnh viện trực thuộc Bộ Nghề nghiệp Điều dưỡng Hộ Sinh S.5 83.3% 100% Nhận xét: Có 66.9% 2 5.3 4. An Giang. Số lượng và tỷ lệ điều dưỡng trưởng Sở Y tế có chứng chỉ quản lý điều dưỡng Chứng chỉ quản lý điều dưỡng Có Không Tổng số Số lượng 32 16 48 Tỷ lệ % 66.8% 3. Phân bổ điều dưỡng trưởng Sở Y tế được bổ nhiệm làm Phó trưởng phòng nghiệp vụ Y theo nghề và trình độ Trình độ chuyên môn Nghề nghiệp Điều dưỡng Sau đại Cao Trung Số lượng/ Đại học trưởng học đẳng cấp tỷ lệ (%) Số lượng 24 3 21 1 0 Điều dưỡng Tỷ lệ % 92. 3.4% Sau đại học 4 12.Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 9 trong số họ có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên. Hầu hết các Phó trưởng phòng nghiệp vụ phụ trách điều dưỡng có trình độ đại học điều dưỡng (92.0%) và ba người trong số họ có trình độ thạc sĩ.2 0 Hộ sinh -KTV Số lượng Tỷ lệ % Tổng 2 8.3% có trình độ cao học.1% 0 0 Trình độ Đại Cao học đẳng 25 1 78. Thanh Hóa) và số còn lại là điều dưỡng.0 0 Trung học 2 6.3. Thực trạng Điều dưỡng trưởng ở các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế Bảng 5.0 12. Bảng 4.

7%).3%).6 Trung cấp 2 5.9 277 43.0 16 69. 0 Bảng 6. cán bộ quản lý điều dưỡng tại các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế Loại Trưởng phòng (n = 35) Hưởng phụ cấp trách nhiệm Số lượng Tỷ lệ % 35 100 . Có 4 trưởng phòng ở trình độ thạc sĩ (Chợ Rẫy. Phân bổ theo trình độ chuyên môn của điều dưỡng trưởng trong bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế Chức vụ T.0 1 0.0 0 0 0 % 4 28 1 2 phòng Điều dưỡng còn ở trình độ trung học điều dưỡng (Bệnh viện C Đà Nẵng và Phong Da Liễu Quỳnh Lập).0 13 28.4% tổng số điều dưỡng trưởng. Bảng 7. Tỷ lệ điều dưỡng trưởng có trình độ trung học điều dưỡng chiếm 39.4 Nhận xét: Tổng số điều dưỡng trưởng và cán bộ phòng Điều dưỡng của 36 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế là 783 người.9 3 13. số lượng điều dưỡng trưởng có trình độ thạc sĩ còn rất thấp (1.8 99 12.0 8 17.6 21 46.7% Cộng 35 Nhận xét: Có 35/36 Bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế đã bổ nhiệm chức danh trưởng phòng Điều dưỡng trừ bệnh viện Tâm Thần TƯ II (mới bổ nhiệm Phó trưởng phòng).8 3 13.3 1 4.7 20 51. Tình hình hưởng phụ cấp trách nhiệm của các chức danh điều dưỡng trưởng.2 9 1.9 14 35. Hai trong số 35 trưởng 1 0 0 100.10 Số lượng Bác sỹ Tỷ lệ % Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 1 2.7 Cao đẳng 1 2.0 783 100.0 23 100.7 0 0.8 5 12.2 309 39.0 39 100.0 Trên Thạc sĩ 4 12.4 3 6. Nhi TW.0 641 100.8 366 46.3 Đại học 28 80.8 82 12.0 45 100. gần nửa trong số họ có trình độ đại học (46.phòng Phó phòng ĐDT khối Cán bộ phòng ĐD ĐDT khoa Tổng số Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Trình độ Tổng 35 100. Tai Mũi Họng TW và Phong Da Liễu Quy Hòa).3 281 43.

Trình độ chuyên môn của các điều dưỡng trưởng công tác trong các bệnh viện thuộc Sở y tế các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương Số lượng Chức danh Số lượng tỷ lệ Trưởng phòng Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Phó phòng ĐDT khối Cán bộ phòng Điều dưỡng ĐDT khoa Cộng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Tổng/ tỷ lệ (%) 655 8. Phó phòng Điều dưỡng và 98.4.0 4 0.4 tiếp đó là đại học (18.5 811 Thạc sĩ Trình độ Đại học Cao đẳng Trung cấp 298 45. Thực trạng Điều dưỡng trưởng trong các bệnh viện trực thuộc các Sở Y tế tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương Bảng 8.3 0 0.0 5563 Nhận xét: Số liệu từ 57/63 Sở Y tế cho thấy tổng số điều dưỡng trưởng và cán bộ phòng của các phòng Điều dưỡng thuộc 57 tỉnh là 7795 người.0 951 15.Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 11 Phó phòng (n = 23) ĐD trưởng khối (n = 45) Nhân viên phòng ĐD trưởng (n = 39) ĐD trưởng khoa (n = 641) Nhận xét: 100% Trưởng.7 53 23.5 580 9.2 10.5 176 55.1 18.4 4 10. phần lớn có trình độ chuyên môn là trung cấp (71.1 26 5. cao đẳng 10. 0.4%).4 82 25.4% và 10.3% và tỷ lệ thấp nhất là thạc sĩ (0.7 4586 75.5 1412 108 16.0 4 0.2 140 60.3 71.4 319 3. Cũng giống như thực trạng chung về .0 6117 78.8 0 0.6 230 3.8 37 16.9% điều dưỡng trưởng khoa được hưởng phụ cấp trách nhiệm.9 363 76. Số 23 100 38 84.0 474 6.3 634 98.0 9 245 37.5 60 18.6 1 0.5 7795 100.3% cán bộ phòng điều dưỡng được hưởng phụ cấp trách nhiệm. 3.2%).0 81 17.9 điều dưỡng trưởng khối là 84.1%).

Trình độ chuyên môn của điều dưỡng trưởng Sở Y tế có sự tiến bộ nhiều. Bảng 9. mới có 48 (76.7 15. nhưng tới nay. Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với kết quả khảo sát năm 2007 (25. Bảng này cũng chỉ ra rằng trình độ chuyên môn của điều dưỡng trưởng tỷ lệ thuận với vị trí công tác của họ.3%).9 92. Tỷ lệ này cao hơn kết quả khảo sát năm 2007 của Hội Điều dưỡng Việt Nam (56.3% có trình độ thạc sĩ.5 45.5%). 66. có nghĩa là ở vị trí điều dưỡng trưởng cấp cao thì càng đòi hỏi người đó có trình độ chuyên môn cao hơn.2 Nhận xét: Bảng 9 cho thấy 92. sau 11 năm thực hiện.7% điều dưỡng trưởng Sở Y tế đã được đào tạo về quản lý điều dưỡng. tỷ lệ điều dưỡng trưởng Sở Y tế có trình độ chuyên môn từ cử nhân mới là 69. Tỷ lệ này tương đương với kết quả khảo sát năm 2007. Một trong những lý do mà tỷ lệ này không thay đổi là do một số người ở vị trí này đã nghỉ hưu nhưng chưa có người thay thế. Nhân lực Điều dưỡng Trưởng Sở Y tế họ đã được bổ nhiệm làm Phó trưởng phòng nghiệp vụ Y.7% điều dưỡng trưởng Sở Y tế có trình độ cao đẳng trở lên và 6. Quyết định số 1936/1999/QĐ-BYT do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành từ năm 1999 yêu cầu các Sở Y tế bổ nhiệm chức danh Điều dưỡng trưởng Sở Y tế và chức danh phó phòng nghiệp vụ y phụ trách công tác điều dưỡng. KẾT LUẬN VÀ BÀN LUẬN 4. Trên 50% điều dưỡng trưởng khối và trên 80% cán bộ của Phòng Điều dưỡng chưa được hưởng phụ cấp chức vụ.9 92.5% và không ai trong số họ có trình độ thạc sĩ. 4. Hiện nay đã có 36 Sở Y tế bổ nhiệm chức danh điều dưỡng trưởng và 26 người trong số . Tình hình hưởng phụ cấp trách nhiệm của cán bộ quản lý điều dưỡng tại các bệnh viện tuyến tỉnh Chức danh Trưởng phòng (n=655) Phó phòng (n=319) ĐD trưởng khối (n=230) Nhân viên (n=474) ĐD trưởng khoa (n=6117) Hưởng phụ cấp trách nhiệm Số lượng 622 295 105 76 5637 Tỷ lệ % 94.1. So với khảo sát năm 2007.12 Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV trình độ chuyên môn của điều dưỡng trưởng được trình bày trong bảng 1.2%) Sở Y tế bổ nhiệm Điều dưỡng trưởng Sở Y tế hoặc cử cán bộ chuyên trách công tác điều dưỡng của Sở.2% Trưởng. Phó phòng Điều dưỡng và điều dưỡng trưởng khoa được hưởng phụ cấp chức vụ. 91.

Phó trưởng phòng (1 người). do trong phiếu khảo sát đối tượng này không đưa nội dung thông tin này vì vậy không có số liệu.4%). Hầu hết các trưởng phòng là điều dưỡng (92%) và 92. Nhân lực quản lý Điều dưỡng tại các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế 35/36 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế được khảo sát đã bổ nhiệm trưởng phòng Điều dưỡng. Phần lớn các điều dưỡng trưởng ở các bệnh viện này có trình độ chuyên môn ở bậc trung học (71.2%).2. Số liệu này cho thấy đã có sự tiến bộ nhưng không nhiều về trình độ chuyên môn của điều dưỡng trưởng so với kết quả khảo sát năm 2007. Trên 50% điều dưỡng trưởng khối và trên 80% cán bộ của Phòng Điều dưỡng chưa được hưởng phụ cấp chức vụ. bổ nhiệm ở các bệnh viện tuyến tỉnh/huyện. trong khi kết quả khảo sát năm 2007 chưa có trưởng phòng nào có trình độ thạc sĩ. một số trường đã tổ chức đào tạo quản lý điều dưỡng. Các tỷ lệ về trình độ chuyên môn của điều dưỡng trưởng năm 2007 theo tuần tự Trung học (73.7%). Cục QLKCB thì tỷ lệ này là sấp sỉ 50% so với kết quả năm 2007 cho thấy 54% điều dưỡng trưởng được đào tạo về quản lý điều dưỡng. So với kết quả khảo sát năm 2007.6% và cao đẳng là 10. Phó phòng Điều dưỡng và điều dưỡng trưởng khoa được hưởng phụ cấp chức vụ.3% có trình độ từ đại học trở lên và 4 người trong số họ đã tốt nghiệp thạc sĩ. Bởi trong 3 năm trở lại đây. nhưng số lượng này không nhiều. Điều này cho thấy vị trí điều dưỡng trưởng khối chưa được quan tâm. tỷ lệ điều dưỡng trưởng được hưởng phụ cấp chức vụ có được cải thiện chút ít (năm 2007. ở kết quả khảo sát năm nay đã có 0.7%.6%). 4.5% (6117 người) và Trưởng phòng Điều dưỡng chiếm 8. tỷ lệ được hưởng phụ cấp là 86. Tuy nhiên. cao đẳng 10. nhân lực điều dưỡng lại biến động. có một bệnh viện bổ nhiệm Trưởng phòng là bác sĩ. tiếp đó là đại học (18. Nhân lực quản lý Điều dưỡng tại các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương Kết quả tổng hợp báo cáo nhân lực điều dưỡng trưởng của 57 Sở Y tế cho thấy tổng số điều dưỡng trưởng có 7791 người.4% (655 người). 2 Trưởng phòng còn ở trình độ trung học điều dưỡng. kết quả khảo sát cho thấy trên 90% Trưởng. đại học 15. điều dưỡng trưởng khối chỉ chiếm 3% (230 người) và tập trung ở các bệnh viện tỉnh/thành phố. tuy nhiên theo số liệu khảo sát năm 2009 của phòng Điều dưỡng.1% trình độ thạc sỹ.3. Tuy nhiên. Liên quan đến phụ cấp chức vụ của đội ngũ này.Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 13 4. cán bộ công tác tại phòng Điều dưỡng (4 người). 100% các trưởng phòng Điều dưỡng được hưởng phụ cấp trách nhiệm theo chế độ hiện hành. có những điều dưỡng . Trong khi đó một số bệnh viện có cán bộ điều dưỡng công tác tại Phòng Điều dưỡng nhưng không bổ nhiệm Điều dưỡng trưởng khối (6%).1% (9 người) điều dưỡng trưởng ở các tuyến này có trình độ thạc sĩ. Số thạc sĩ được phân bổ ở các vị trí điều dưỡng trưởng từ Trưởng phòng (4 người).3% và có 0. Về chứng chỉ quản lý điều dưỡng. trong đó tỷ lệ điều dưỡng trưởng khoa chiếm tỷ lệ cao nhất 78.

5.5. . 2. Hội Điều dưỡng Việt Nam. Bản thân mỗi Điều dưỡng trưởng cần xác định vai trò và trách nhiệm của mình ở vị trí quản lý. 5. lãnh đạo điều dưỡng để tự rèn luyện.2. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Kết quả khảo sát nhanh về nhân lực điều dưỡng của Cục QLKCB. Hội Điều dưỡng Việt Nam. 5. 6. 3. Kết quả khảo sát về nhân lực Điều dưỡng trưởng năm 2007. ĐỀ NGHỊ 5. đặc biệt là Điều dưỡng trưởng bằng tạo điều kiện cho điều dưỡng trưởng tham gia các khóa đào tạo nâng cao. Cao đẳng và trung học y tế nên đánh giá nhu cầu đào tạo quản lý điều dưỡng của các đơn vị khám chữa bệnh trên địa bàn để tổ chức nhiều khóa đào tạo quản lý cho điều dưỡng của địa phương. Các Sở Y tế và các bệnh viện cần thực hiện chỉ đạo của Bộ Y tế theo tinh thần công văn số 5134/BYT-KCB ngày 3/8/2010 của Bộ Y tế yêu cầu các Sở Y tế và các bệnh viện tiếp tục duy trì và phát triển đội ngũ điều dưỡng trưởng.14 Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV trưởng được đào tạo xong lại chuyển công tác hoặc nghỉ hưu.1. 1999. Vụ khoa học Đào tạo nên tổ chức các khóa đào tạo Giảng viên giảng dạy chương trình đào tạo quản lý điều dưỡng cho Điều dưỡng trưởng cấp Sở Y tế và cấp bệnh viện.3. 5. Các Sở Y tế và bệnh viện cần đầu tư năng lực chuyên môn và quản lý cho cán bộ chủ chốt. Các trường Đại học. Vụ Tổ chức cán bộ và Cục Quản lý khám chữa bệnh nên xem xét chức danh Điều dưỡng trưởng khối ở những bệnh viện hạng đặc biệt và hạng I để có phụ cấp chính thức cho đối tượng này đồng thời đáp ứng được khối lượng công tác quản lý điều dưỡng trong bệnh viện. nâng cao trình độ chuyên môn cũng như trình độ quản lý chuyên ngành. Bộ Y tế. 5.4. Kết quả khảo sát về nhân lực Điều dưỡng tại các cơ sở khám chữa bệnh.

Thiết kế nghiên cứu của các đề tải chủ yếu là nghiên cứu mô tả (66. khá.8%. Đề tài thuộc chuyên ngành Điều dưỡng chiếm 78. 34. phương pháp phân tích số liệu và khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu. CN. 5. ThS. Bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí TÓM TẮT Nghiên cứu hồi cứu mô tả được tiến hành năm 2010 để đánh giá 170 đề tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng thực hiện trong giai đoạn 2004-2009. Phạm Thu Hà3.9%). rất ít các đề tài thuộc lĩnh vực đào tạo (2. CN. ThS. ThS. Hà Thị Kim Phượng1. Nguyễn Thị Thúy6 1. đạt yêu cầu và đạt yêu cầu nhưng còn hạn chế. Lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu là thực hành (51. trong khi tuyến huyện chỉ chiếm 4. Đánh giá dựa trên 10 tiêu chí và thang điểm do nhóm nghiên cứu xây dựng với số điểm tối đa là 68. Bệnh viện Trung ương Huế. Bệnh viện Chợ Rẫy. Số đề tài có tính cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn chiếm 52.7%.8%. (ii) . tuy nhiên số đề tài có giá trị khoa học chỉ chiếm 14.1%. Văn phòng Trung ương Hội Điều dưỡng Việt Nam. Phan Cảnh Chương4. GIAI ĐOẠN 2004-2009 Nhóm nghiên cứu: TS. bàn luận và kết luận của các đề tài chưa đạt yêu cầu hoặc chưa được đề cập trong báo cáo. Nhiều tiêu chí trong trình bày kết quả. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa xếp loại đề tài với một số biến số quan tâm như cấp độ của đề tài.4% số đề tài được xếp từ loại khá trở lên. Đa số các báo cáo đề tài chưa nêu cách chọn mẫu. Trần Quang Huy1. giỏi. phương pháp khống chế sai số. Nguyễn Thị Hồng Anh2. Đinh Thị Thúy Hà1. CN. 4. phân tuyến của cơ quan chủ trì đề tài và học vị của tác giả thứ nhất. CN.5%) với phương pháp thu thập số liệu là phỏng vấn cấu trúc hoặc quan sát dùng bảng kiểm (73. Phần bàn luận của các báo cáo thường là sơ sài. chữa bệnh. ThS. 42. cũng có một số ít đề tài sử dụng phương pháp thảo luận nhóm hoặc phỏng vấn sâu. Đề tài cấp cơ sở chiếm 81. Vũ Hồng Ngọc1.7%. Kết luận: (i) Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực điều dưỡng đã có nhiều tiến bộ cả về lượng và chất. 2. ThS. Thái Thị Kim Nga5. Phạm Đức Mục1. Nguyễn Bích Lưu1. Bệnh viện Nhi Trung ương.Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 15 ĐÁNH GIÁ CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐIỀU DƯỠNG THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM.2%). 3. Cục Quản lý Khám.7% số đề tài đạt yêu cầu nhưng còn một số mặt hạn chế.5 (đạt 65% điểm tối đa). 6. có một số báo cáo không có phần bàn luận. Kết quả: Số điểm trung bình của các đề tài là 44. điểm các đề tài được phân 5 loại: Xuất sắc.6%). Các báo cáo chủ yếu là liệt kê tài liệu tham khảo chứ chưa được trích dẫn theo quy định. Đề tài do cơ quan chủ trì thuộc tuyến Trung ương chiếm 48. CN.9% và 40%.

hiểu rõ hơn về vấn đề quan tâm. là một ngành khoa học riêng biệt (1). phát triển nghề điều dưỡng. (iii) Còn một số hạn chế nhất định của các đề tài đó là: phân bổ lĩnh vực nghiên cứu chưa đồng đều. bệnh viện Nhi Trung ương. 1.5). Thông qua nghiên cứu khoa học. ít hộ sinh viên và kỹ thuật viên tham gia nghiên cứu khoa học. ĐẶT VẤN ĐỀ Điều dưỡng là một nghề.16 Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV Một số đề tài có chất lượng tốt. một số nội dung của báo cáo đề tài chưa đạt yêu cầu theo các tiêu chí đánh giá. các hộ sinh viên và kỹ thuật viên thực hiện các đề tài nghiên cứu. bệnh viện đa khoa Trung ương Huế. tăng cường hình ảnh và vị thế người điều dưỡng trong xã hội đồng thời mở rộng phạm vi hợp tác với điều dưỡng Quốc tế (6). và một số cơ sở hội khác. (ii) Khuyến khích các giáo viên điều dưỡng. Cũng như những ngành nghề khác. . nghiên cứu khoa học đóng một vai trò quan trọng và không thể thiếu (3). nhưng đến nay chúng ta đã có nhiều điều dưỡng trực tiếp tham gia nghiên cứu khoa học với hàng nghìn đề tài ở các cấp khác nhau. các đề tài chủ yếu là nghiên cứu mô tả. công tác Điều dưỡng đã có những tiến bộ vượt bậc trong đó có hoạt động Nghiên cứu khoa học điều dưỡng (7). trong đó có nhiều đề tài được đánh giá cao về ý nghĩa khoa học và thực tiễn… Trung ương Hội Điều dưỡng Việt Nam đã tổ chức nhiều lớp tập huấn về phương pháp nghiên cứu khoa học và đã tổ chức ba hội nghị khoa học điều dưỡng toàn quốc (8). Đề nghị: (i) Trung ương Hội Điều dưỡng Việt Nam và các Tỉnh/thành hội nên tổ chức nhiều lớp tập huấn và hội nghị khoa học để tăng cường năng lực nghiên cứu điều dưỡng đặc biệt là tuyến huyện. Kể từ khi Hội Điều dưỡng Việt Nam được thành lập (26 tháng 10 năm 1990) cho đến nay. phát hiện và xác định đúng vấn đề. Hơn thế nữa Nghiên cứu khoa học điều dưỡng còn góp phần thể chế hóa chuyên ngành điều dưỡng. để nâng cao chất lượng dịch vụ điều dưỡng. (iii) Các Tỉnh/thành. khoa học và thực tiễn cao và có ý nghĩa có bằng chứng về thực trạng để can thiệp và đánh giá hiệu quả của những giải pháp can thiệp từ đó rút kinh nghiệm triển khai trên một phạm vi rộng hơn góp phần cải tiến nâng cao chất lượng công tác chăm sóc người bệnh (4. Nhiều tỉnh/thành hội và chi hội điều dưỡng bệnh viện đã thường xuyên tổ chức hội nghị khoa học như hội Điều dưỡng Hà Nội. Trước đây hoạt động nghiên cứu khoa học đối với người điều dưỡng rất hạn chế. ít đề tài được thực hiện ở tuyến huyện. khẳng định tính chuyên nghiệp. chi hội và hội viên nên tham khảo kết quả nghiên cứu này làm bài học kinh nghiệm để cải thiện chất lượng các đề tài nghiên cứu trong thời gian tới. chúng ta khám phá ra những điều mới giúp cho thực hành dựa vào bằng chứng. Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới thì dịch vụ điều dưỡng là một trong các trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế (2). có tính đối với công tác thực hành.

khu vực hoặc hội nghị chuyên ngành. thiếu chặt chẽ về phương pháp nghiên cứu. Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho các nghiên cứu điều tra quần thể với các dữ kiện: cỡ quần thể. Điều này dẫn đến số lượng đề tài NCKH còn khiêm tốn.05) và mức độ tin cậy là 95%. chưa tuân thủ những quy định trong trình bày một báo cáo khoa học. trên thực tế đã tiến hành đánh giá 170 đề tài nghiên cứu khoa học đảm bảo các tiêu chuẩn chọn vào đánh giá.Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 17 Tuy nhiên. Tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu: (i) đề tài được thực hiện trong giai đoạn 2004 đến 2009. 2. Để đánh giá thực trạng tình hình các đề tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng chúng thực hiện nghiên cứu: “Đánh giá các đề tài nghiên cứu Điều dưỡng được thực hiện tại Việt Nam giai đoạn 20042009” với mục đích: Đánh giá thực trạng các đề tài nghiên cứu khoa học Điều dưỡng của Việt Nam được thực hiện trong 5 năm từ 2004-2009 để rút kinh nghiệm và đưa ra những đề xuất nhằm thúc đẩy. 2007). tác giả nghiên cứu. . hộ sinh và kỹ thuật viên tham gia NCKH chưa nhiều. Theo tính toán cần cỡ mẫu là 168. năng lực nghiên cứu của điều dưỡng còn yếu do thiếu lý luận và kinh nghiệm về nghiên cứu khoa học. Mục tiêu cụ thể của đề tài: 1) Mô tả sự phân bổ các đề tài NCKH về: cơ quan chủ trì. 2) Đánh giá và chấm điểm nội dung báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học theo các tiêu chí thống nhất. Cỡ mẫu: trong tổng số hơn 300 đề tài nghiên cứu được đăng trong Kỷ yếu hội nghị khoa học điều dưỡng toàn quốc lần thứ hai và lần thứ ba (2005. hoạt động nghiên cứu khoa học điều dưỡng còn tồn tại một số hạn chế: lực lượng điều dưỡng. tần xuất kỳ vọng (p = 0. (ii) được đăng trong kỷ yếu công trình NCKH của các hội nghị khoa học điều dưỡng toàn quốc. Kỷ yếu hội nghị khoa học điều dưỡng Nhi khoa toàn quốc lần thứ nhất đến lần thứ sáu (2005-2010) và hội nghị khoa học Điều dưỡng khu vực miền Trung mở rộng lần thứ nhất đến lần thứ ba (2008-2010). ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2010 bằng phương pháp nghiên cứu là mô tả hồi cứu với đối tượng nghiên cứu là các báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học của điều dưỡng. Phổ biến chia sẻ kết quả nghiên cứu với đồng nghiệp còn nhiều hạn chế do ít có cơ hội được trình bày tại các hội thảo. lĩnh vực nghiên cứu. đăng tải trên các tạp chí. sai số cao nhất chấp nhận được (d = 0. Nội dung báo cáo các đề tài nghiên cứu nhiều khi còn sơ sài. nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học điều dưỡng.5). 3) Đánh giá tổng quát các đề tài về: tính cần thiết. các website để tiếp cận độc giả. ý nghĩa thực tiễn và xếp loại đề tài theo số điểm mà đề tài đạt được.

Khía cạnh đạo đức của đề tài: Đề tài nghiên cứu này không thực hiện trên đối tượng nghiên cứu là con người nên không có nguy cơ gây tổn thương.8 38.9 Cấp Bộ/Tỉnh Cấp cơ sở 81. Phân bổ theo cấp độ của đề tài .8% và 38.0 và Epi-Info 6. 3. cấp độ đề tài. Nhóm nghiên cứu thực hiện đánh giá theo các tiêu chí và cho điểm dựa trên bảng điểm đã được nhóm nghiên cứu xây dựng và thống nhất.1 Đặc điểm chung của các đề tài 3.7 7. Quy trình đánh giá: mỗi phân nhóm gồm 2 thành viên của nhóm nghiên cứu đánh giá và cho điểm độc lập một số đề tài được phân công.8%.8 Biểu đồ 1.1 Phân tuyến của cơ quan chủ trì và cấp độ của đề tài Trong tổng số 170 đề tài được chọn vào đánh giá.1. không làm ảnh hưởng đến lợi ích của đối tượng nghiên cứu. sau đó ghép điểm.9%) thuộc cấp Bộ hoặc Tỉnh (biểu đồ 2).1%) thuộc cấp cơ sở. Xếp loại đề tài được phân tích tìm mối liên quan với một số tính chất cơ bản của đề tài (cơ quan chủ trì. Cán bộ tham gia đánh giá được tập huấn trước khi tiến hành đánh giá. Các tiêu chí (biến số) đánh giá đề tài được tính tần xuất.02. các đề tài do các cơ sở thuộc tuyến Trung ương và tuyến tỉnh chủ trì chiếm tỷ lệ là 48. Phân tích số liệu: Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 13. Phân bổ đề tài theo tuyến của cơ quan chủ trì Đánh giá theo cấp độ đề tài cho thấy có 138 đề tài (81. các thông tin liên quan đến cá nhân các tác giả của đề tài nghiên cứu được bảo mật.1 Biểu đồ 2. số còn lại là các đề tài có cơ quan chủ trì thuộc tuyến huyện hoặc các cơ sở y tế ngành (biểu đồ 1). 60 50 40 30 20 10 0 Trung ương Tỉnh Huyện Y tế ngành 4.7 48. 18. Tất cả các số liệu thu thập được chỉ sử dụng vào mục đích khoa học. 32 đề tài (18. KẾT QUẢ 3.18 Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV Phương pháp thu thập số liệu: Các đề tài NCKH đảm bảo đủ tiêu chuẩn chọn vào đánh giá được tập hợp. tỷ lệ. Kỹ thuật khống chế sai số: Các tiêu chí và thang điểm đánh giá được nhóm nghiên cứu xây dựng và thống nhất sau đó đánh giá thử và hoàn thiện. trình độ của tác giả thứ nhất của đề tài) và được kiểm định bằng test χ² với p≤ 0.05 là có ý nghĩa thống kê.

8%).Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 19 3.8 20.9 61.5 2 Lĩnh vực nghiên cứu 3 Loại nghiên cứu .1%). 12. Lĩnh vực nghiên cứu của các đề tài chủ yếu thuộc về thực hành điều dưỡng. Có rất ít các đề tài thuộc lĩnh vực đào tạo và đánh giá sự hài lòng của nhân viên (2.9% số đề tài sử dụng phương pháp can thiệp. số còn lại thuộc các chuyên ngành khác như Phục hồi chức năng. hộ sinh hoặc xét nghiệm (51. Các đề tài chủ yếu thuộc nghiên cứu định lượng (61.9% và 1.4 1.8 7..1 51. Các đặc điểm chính của các đề tài nghiên cứu TT 1 Chuyên ngành nghiên cứu Các đặc điểm Điều dưỡng Hộ sinh Cận lâm sàng Khác Thực hành ĐD/HS/XN Truyền thông. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp mô tả (66. Bảng 1.1 10. Số đề tài nghiên cứu định tính chiếm 20. trong khi các đề tài thuộc chuyên ngành Hộ sinh và Cận lâm sàng chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (2.5%).6%).2 Một số đặc điểm của các đề tài nghiên cứu Số liệu ở bảng 1 cho thấy phần lớn các đề tài nghiên cứu được thực hiện thuộc chuyên ngành Điều dưỡng (78.1.9 1.8 12.7 2.8 17.7%).0%).8%). quản lý và kiểm soát nhiễm khuẩn (8.6 8. 14.8%).. GDSK Quản lý Kiểm soát nhiễm khuẩn Hài lòng người bệnh Đào tạo Hài lòng nhân viên Khác Định lượng Định tính Kết hợp Không có số liệu* Số lượng (n=170) 134 4 3 29 87 18 15 12 8 5 3 22 105 34 25 6 Tỷ lệ (%) 78.2%).7 2.4% và 1.8% và 7. số còn lại sử dụng các phương pháp phân tích.0 14. tiếp theo là truyền thông-giáo dục sức khỏe (10. Gây mê hồi sức.7% đề tài kết hợp cả định lượng và định tính.7 3. thăm dò hoặc can thiệp.(chiếm 17.0%.0 4.

3 12. số tác giả có trình độ trung cấp rất ít (2. Số liệu bảng 2 cho thấy Điều dưỡng viên tham gia làm nghiên cứu là chủ yếu (58.8 10.6 1.5%) vì không được ghi trong báo cáo.5 2.2 36.8 5.2 41.2%).9%) đề tài không xác định được giới tính của tác giả thứ nhất.2% tác giả thứ nhất là nữ.4 21. Cũng có một số ít bác sĩ tham gia làm nghiên cứu về điều dưỡng (1. Bảng 2.8% các trường hợp không xác định được trình độ của tác giả vì không được ghi trong báo cáo đề tài.1. Tỷ lệ hộ sinh và kỹ thuật viên tham gia nghiên cứu là không đáng kể. Một số ít (2.9 15.3 2.5 32.2 2. Tuy nhiên có nhiều trường hợp không xác định được chức danh của tác giả (36.8 5.2%).9%.2 1.4%). Một số thông tin cá nhân của tác giả thứ nhất TT 1 Chức danh Tiêu chí đánh giá Điều dưỡng Hộ sinh KTV Y Bác sĩ Không xác định Sau đại học Đại học/cao đẳng Trung học Không xác định Số lượng (n=170) 99 2 5 2 62 11 55 4 100 Tỷ lệ (%) 58.4 58. tuy nhiên có tới 58. Nam giới chiếm tỷ lệ 25.5 6.3 Đặc điểm cá nhân của tác giả thứ nhất của các đề tài Kết quả đánh giá cho thấy 71.3%.9 2.20 Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 4 Phương pháp nghiên cứu 5 Phương pháp thu thập thông tin Mô tả Phân tích Can thiệp Khác Không có số liệu* Phỏng vấn cấu trúc Bộ câu hỏi tự điền Quan sát Thảo luận nhóm Phỏng vấn sâu Khác Không xác định 113 4 22 27 4 36 71 18 3 10 22 10 66.9 12.9 3.9 1. Tác giả các đề tài có trình độ từ đại học/cao đẳng trở lên chiếm 32.8 2 Học vị .

Chỉ có 16. kết quả được trình bày rõ ràng và có kết hợp biểu.1%) và có bàn luận về phương pháp nghiên cứu (22. Kết quả các tiêu chí chính đánh giá đề tài Các tiêu chí đánh giá Tóm tắt Giới thiệu Phương pháp 1 Cấu trúc báo cáo Kết quả Bàn luận Kết luận Đề nghị Tài liệu tham khảo Mục đích/mục tiêu 2 Đạt yêu cầu (theo các tiêu chí Đạt nhưng còn hạn chế đánh giá mục tiêu) Không đạt Số lượng (n=170) 68 170 170 170 159 162 130 138 92 72 5 Tỷ lệ (%) 40.Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 21 3.5 95. trong đó chủ yếu là có dưới 5 tài liệu tham khảo và chỉ có 32. Tỷ lệ các báo cáo đề tài có nêu và mô tả phương pháp phân tích số liệu. Phần lớn số báo cáo đề tài đã trình bày kết quả theo mục tiêu nghiên cứu. Chỉ có 81.2 Cấu trúc nội dung của các đề tài Số liệu ở bảng 3 cho thấy 60% các báo cáo đề tài không có phần tóm tắt.3 76.5% số báo cáo có đề cập đến vấn đề đạo đức trong nghiên cứu. một số ít các báo cáo không có phần bàn luận hoặc kết luận. Có 58.5 81. Bảng 3.8%).8% số báo cáo có đề nghị hợp lý dựa trên kết quả và mục tiêu nghiên cứu.4 2.9 TT .4% số báo cáo có trích dẫn tài liệu tham khảo theo quy định. biện pháp khống chế sai số là khá thấp (28. số còn lại chỉ liệt kê danh sách các tài liệu tham khảo. bảng và hình ảnh để trình bày.2%.2% số báo cáo có tài liệu tham khảo. minh họa kết quả.4%).0 100 100 100 93.1 42. Có ít báo cáo có so sánh kết quả với kết quả của các nghiên cứu khác (14.2 54.2 số báo cáo đề tài có kết luận phù hợp với kết quả nghiên cứu và 41.2% và 8. Phần bàn luận kết quả trong báo cáo đề tài có nhấn mạnh kết quả quan trọng của nghiên cứu và bàn luận về những kết quả đó chiếm tỷ lệ là 51.

7%).8 28.1 24.3 Đánh giá chung về chất lượng của các đề tài Kết quả đánh giá (bảng 4) cho thấy số đề tài có tính cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn chiếm 52.4 28.5 8.4 16.4 58. thống nhất và gần 70% số báo cáo đề tài có văn phong lưu loát.8 69.2 47.2 14.9% và 40%. số đề tài có giá trị khoa học còn thấp (14. dễ hiểu. 57.8 74. .1 22.8 3 4 5 6 7 8 Bàn luận kết quả 9 Kết luận phù hợp với kết quả Kết luận và khuyến Đề nghị phù hợp với kết quả và cáo mục tiêu 3.8 21.22 TT Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV Các tiêu chí đánh giá Đạt yêu cầu Cỡ mẫu và chọn Đạt nhưng có hạn chế mẫu Không đạt Đạt yêu cầu Phương pháp phân Đạt nhưng còn hạn chế tích số liệu Không đạt Đạt yêu cầu Biện pháp khống Đạt nhưng còn hạn chế chế sai số Không đạt Đạt yêu cầu Nêu vấn đề đạo đức Đạt nhưng còn hạn chế trong nghiên cứu Không nêu Theo mục tiêu Trình bày kết quả Trình bày rõ ràng Kết hợp biểu.7 64. bảng Nhấn mạnh kết quả quan trọng và phân tích những kết quả đó So sánh với kết quả nghiên cứu khác và phân tích Bàn luận phương pháp Số lượng (n=170) 55 49 66 48 80 41 15 37 118 28 15 127 110 117 103 87 24 38 99 71 Tỷ lệ (%) 32.1% số báo cáo đề tài có đề mục rõ ràng.1 8.8 38.7 68.2 41. ngắn gọn.6 51.8 60.

dễ hiểu Số lượng (n=170) 90 68 Tỷ lệ (%) 52. Kết quả xếp loại các báo cáo đề tài được thể hiện ở biều đồ 3. Kết quả đánh giá cho thấy điểm trung bình của các đề tài là 44.9 Đạt Còn hạn chế 22. Đạt yêu cầu nhưng còn hạn chế (< 60% số điểm). đúng ngữ pháp. Đạt yêu cầu (từ 60-69% số điểm). Khá (từ 70-79% số điểm). thống nhất Văn phong của báo cáo lưu loát.4 Xếp loại đề tài Với số điểm tối đa mà một báo cáo đề tài có thể đạt được là 68 điểm và được chia thành 5 loại: Xuất sắc (≥ 90% số điểm).1 68.9 Biểu đồ 2. [phạm vi khoảng: (22-64).4 Xuất sắc Tốt Khá 25. ngắn gọn. điểm phổ biến (mode) là 40].9 40.0 TT 1 25 97 117 14.1 34.7 12. Đánh giá tổng quát chất lượng đề tài Các tiêu chí đánh giá Đáng giá tổng quát Sự cần thiết của nghiên cứu Có đóng góp cho công tác chăm sóc điều dưỡng và phát triển ngành Điều dưỡng Tính khoa học Tổng quan 2 báo cáo Các đề mục rõ ràng. 4.Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 23 Bảng 4.5% số điểm cao nhất có thể đạt được. Xếp loại các báo cáo đề tài theo số điểm đạt .8 3.5 = 65.7 57. Tốt (từ 80-89% số điểm).

24 Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 3.8 60.5 Liên quan giữa xếp loại đề tài và một số biến số quan tâm Kết quả bảng 5 cho thấy tỷ lệ các đề tài xếp loại khá trở lên có cơ quan chủ trì thuộc tuyến trung ương thấp hơn so với tuyến địa phương và ngành.05 Giá trị p 3 4.4 36. Đặc biệt không có đề tài nào do các cơ sở y tế tuyến xã thực hiện. Thực tế này có thể do nhiều nguyên nhân như môi trường làm việc thiếu động lực phấn đấu trong khi năng lực thực hiện nghiên cứu của điều dưỡng ở tuyến dưới còn hạn chế.2 39.6 63.05 >0. So với tổng số các bệnh viện trong cả nước thì các bệnh viện tuyến Trung ương chỉ chiếm khoảng 5% (9). điều dưỡng.1 31.05 >0.5 >0.9 60.9 68. Bảng 5. Mặc dù trong cả nước có tới hơn 600 bệnh viện tuyến huyện (9) nhưng số đề tài được thực hiện ở tuyến huyện là rất ít. hộ sinh và kỹ thuật viên nói riêng ít tham gia nghiên cứu khoa học.1 39. BÀN LUẬN Kết quả nghiên cứu cho thấy: chưa có đề tài nào cấp Nhà nước trong số 170 đề tài được chọn vào đánh giá nhưng cũng đã có tới gần 20% số đề tài thuộc cấp bộ và tỉnh.5 n 53 53 22 84 40 66 Đạt % 64. cấp độ đề tài và học vị của tác giả thứ nhất với xếp loại đề tài Xếp loại đề tài TT Biến số quan tâm n 1 2 Cơ quan chủ trì Cấp đề tài Học vị tác giả thứ nhất Trung ương Địa phương + ngành Bộ/tỉnh Cở sở Cao đẳng + Trung học và không xác định 30 34 10 54 26 38 Khá + % 36.0 39. .0 60. nhưng các đề tài NCKH được thực hiện ở tuyến này chiếm tới gần 50%. Đề tài có tác giả thứ nhất có học vị cao đẳng trở lên được xếp loại khá trở lên nhiều hơn so với đối tượng trung học và không xác định.05. Mối liên quan của một số yếu tố: cơ quan chủ trì. đây là điều rất đáng khích lệ. Tuy nhiên tất cả những sự khác biệt này đều không có ý nghĩa thống kê với p > 0. Các đề tài cấp tỉnh hoặc cấp bộ có tỷ lệ xếp loại khá trở lên cao hơn so với đề tài ở cấp cơ sở. Phần lớn các đề tài được thực hiện ở các cơ sở thuộc tuyến Trung ương và tuyến tỉnh. Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ ra sự phân bổ không đều các đề tài NCKH theo tuyến của cơ quan chủ trì đề tài. Điều này cũng phản ánh một thực trạng chung đó là cán bộ y tế ở tuyến dưới nói chung.

điều này là không tương xứng với phạm vi. Vì vậy những phương pháp này được sử dụng nhiều trong nghiên cứu điều dưỡng (14). phương pháp khống chế sai số và phân tích số liệu. để nâng cao chất lượng trong đào tạo điều dưỡng rất cần có những nghiên cứu về lĩnh vực này. Phần lớn các tác giả sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả với phương pháp thu thập số liệu là phỏng vấn trực tiếp hoặc tự điền bộ câu hỏi cấu trúc hoặc quan sát dựa trên bảng kiểm. Đây là phương pháp thu thập thông tin có độ tin cậy và chính xác không cao (10-12). Mục tiêu của nhiều đề tài chưa được viết theo đúng tiêu chí. mức độ công việc cũng như tỷ lệ phân bổ của các đối tượng này so với tổng số nhân lực thuộc khối điều dưỡng. Phải chăng hiện nay hầu hết các giáo viên dạy điều dưỡng còn là các bác sĩ nên họ chưa thật sự quan tâm đến nghiên cứu điều dưỡng? Kết quả đánh giá chi tiết nội dung các đề tài thể hiện những điều còn hạn chế trong thực hành nghiên cứu. trong khi các đề tài thuộc chuyên ngành hộ sinh. Điều này chứng tỏ nghiên cứu về đào tạo trong điều dưỡng chưa được chú trọng. số đề tài thuộc lĩnh vực đào tạo chiếm một tỷ lệ còn rất ít (2. Cũng như bất kỳ một ngành nghề nào khác. tuy nghiên cứu đó không . Qua nghiên cứu của chúng tôi. Với những phương pháp này nhiều khi số liệu thu thập được không phản ánh đúng thực trạng tình hình nghiên cứu vì khi có mặt nghiên cứu viên quan sát một hành vi hoặc thao tác kỹ thuật thì người bị quan sát sẽ cố gắng thể hiện hành vi hoặc thực hiện các bước thao tác kỹ thuật một cách chuẩn mực nhất (13). Ít đề tài NCKH thuộc lĩnh vực đào tạo chắc chắn sẽ không thể cung cấp được các số liệu thực chứng cần tìm hiểu như vậy sẽ ảnh hưởng đến công tác quản lý.Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 25 Đánh giá này cũng cho thấy phần lớn các đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành Điều dưỡng.9%). đào tạo đóng một vai trò quan trọng. nhiều mục tiêu nghiên cứu không cụ thể. Đây là điều rất đáng khích lệ nhất là trong nghiên cứu điều dưỡng vì những phương pháp này cho phép nghiên cứu viên tìm hiểu chi tiết và giải thích thấu đáo hơn vấn đề được nghiên cứu. nâng cao chất lượng cũng như quy hoạch trong lĩnh vực này. cận lâm sàng và do tác giả thứ nhất là hộ sinh hoặc kỹ thuật viên thực hiện chiếm một tỷ lệ không đáng kể. hộ sinh và kỹ thuật viên trong hệ thống y tế (9). Nghiên cứu này còn bộc lộ một số yếu điểm khác của các báo cáo NCKH điều dưỡng trong phương pháp nghiên cứu: không mô tả phương pháp chọn mẫu. Tuy nhiên cũng đã có một số đề tài đã sử dụng phương pháp tiếp cận định tính như dùng phương pháp thảo luận nhóm hoặc phỏng vấn sâu để thu thập số liệu. Đặc biệt có rất ít đề tài đề cập đến khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu. Số liệu này cũng thể hiện sự bất tương xứng so với tiềm năng thực hiện nghiên cứu khoa học của đội ngũ giáo viên điều dưỡng.

hoặc tốt (đạt từ 80% số điểm chuẩn tối đa trở lên) cũng còn một số đề tài có số điểm đạt còn thấp cho thấy chất lượng thực hiện nghiên cứu chưa đồng đều. Bảng đánh giá đề tài đã được các nghiên cứu viên thảo luận. cho điểm thấp hơn. có tính khoa học và có ý nghĩa đối với công tác thực hành và phát triển nghề điều dưỡng.4%) đây là một kết quả rất đáng khích lệ. (iii) Vì điều kiện thời gian có hạn nên nhóm nghiên cứu chưa thực hiện đánh giá ngẫu nhiên lại một tỷ lệ nhất định các đề tài đã được đánh giá để xác định tính chính xác của kết quả đánh giá. nhóm nghiên cứu rút ra một số kết luận sau: (i) Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực điều dưỡng đã có nhiều tiến bộ cả về lượng và chất. Bên cạnh đó một số báo cáo có những kết luận không bám sát kết quả và nhiều kiến nghị mang tính chủ quan của người nghiên cứu. 5. phân bổ lĩnh vực nghiên . Đánh giá chung chất lượng đề tài cho thấy số đề tài đạt loại khá trở lên chiếm tỷ lệ khá cao (42. Một số báo cáo không có phần bàn luận hoặc phần bàn luận được viết rất sơ sài. thậm chí một số báo cáo không có tài liệu tham khảo. một số báo cáo vừa dùng bảng vừa dùng biểu đồ để trình bày cùng một số liệu kết quả hoặc sử dụng quá nhiều bảng và biểu đồ. phân công hai người cùng đánh giá một số đề tài để tăng tính thống nhất. KẾT LUẬN Với kết quả thu được từ đánh giá 170 đề tài NCKH điều dưỡng được thực hiện trong giai đoạn 2004-2009 trên phạm vi toàn quốc. Trình bày kết quả và bàn luận cũng còn những hạn chế. thống nhất và được đánh giá thử trước khi hoàn thiện và chính thức sử dụng. (ii) Tuy nhiên các đề tài cũng còn một số hạn chế nhất định: ít đề tài được thực hiện ở tuyến huyện. phong phú. Tuy nhiên nghiên cứu này cũng còn một số hạn chế đó là: (i) Số người tham gia đánh giá nhiều dễ dẫn đến sai số trong đánh giá giữa những người đánh giá. Một số đề tài có chất lượng tốt. Tuy nhiên bên cạnh một số đề tài đạt kết quả xuất sắc. chưa tuân thủ những khuôn mẫu quy định. Nhóm nghiên cứu cũng đã cố gắng hạn chế các sai số như tập huấn đánh giá. (ii) Kết quả đánh giá có thể bị tác động bởi một số yếu tố chủ quan như: người đánh giá có học vị cao có thể thường khắt khe hơn khi nhận xét một đề tài nghiên cứu khoa học nên có thể dẫn đến đánh giá đề tài thấp hơn. Điều này cũng phù hợp với kết quả đánh giá số đề tài có tính khoa học chưa cao trong nghiên cứu này. Chủ yếu các báo cáo liệt kê tài liệu tham khảo chứ không trích dẫn theo quy định. Đây là một nghiên cứu hồi cứu với sự tham gia đánh giá của 11 nghiên cứu viên.26 Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV phải là những nghiên cứu can thiệp hay thử nghiệm lâm sàng nhưng đối tượng tham gia nghiên cứu có quyền được thông báo và tự nguyện tham gia. các đề tài nghiên cứu đa dạng.

nhóm nghiên cứu đề nghị: (i) Trung ương Hội Điều dưỡng Việt Nam và các Tỉnh/thành hội cần tổ chức nhiều lớp tập huấn và hội nghị khoa học để tăng cường năng lực nghiên cứu điều dưỡng đặc biệt là tuyến huyện. Flemming. Evidence Based Nursing. một số nội dung của báo cáo đề tài chưa đạt yêu cầu theo các tiêu chí đánh giá. 5. Hội Điều dưỡng Canada đã nhiệt tình hỗ trợ để thực hiện nghiên cứu này. hộ sinh 2011-2015 và tầm nhìn 2020 (Hội Điều dưỡng Việt Nam). 4.B. C. (1995). (iii) Các Tỉnh/thành.P.A & Perry A. Philadelphia: J. ĐỀ NGHỊ Dựa trên kết quả nghiên cứu này. 7. Lời cám ơn: Nhóm nghiên cứu xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Trung ương Hội Điều dưỡng Việt Nam. Ph¹m §øc Môc (2005). Nursing. Ph-¬ng ph¸p nghiªn cøu §iÒu d-ìng-Nhµ xuÊt b¶n Y häc. Polit D. research. Niên giám thống kê y tế 2008. Boston: Allyn & Bacon. Bộ Y tế. BMJ. 5th Ed. các hộ sinh viên và kỹ thuật viên thực hiện các đề tài nghiên cứu. . (2005). 1: 4-6. Pope. 11. Fundamentals of Nursing. 7. Dự thảo chiến lược quốc gia công tác điều dưỡng. K. Nursing research. A (1998). WHO annual report 2002. Berg B. (ii) Khuyến khích các giáo viên điều dưỡng. 2. Asking answerable questions. Đây là những yếu điểm cần khắc phục thông qua tăng cường đào tạo về nghiên cứu khoa học và tổ chức hội thảo khoa học chia sẻ kinh nghiệm để nâng cao năng lực nghiên cứu và kỹ năng viết báo cáo khoa học cho điều dưỡng viên.Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 27 cứu chưa đồng đều. Geneva: World Health Organization. Mosby Publisher. (1995). (1998). 311: 42-45. (2001). Potter P. Báo cáo tổng kết của ban chấp hành Trung ương Hội Điều dưỡng Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V. Evidence Based Nursing. năm 2007. "Qualitative research methods for social sciences". 10. 9. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. số hộ sinh viên và kỹ thuật viên tham gia làm nghiên cứu khoa học chưa nhiều. 3. chi hội và hội viên nên tham khảo kết quả nghiên cứu này làm bài học kinh nghiệm để cải thiện chất lượng các đề tài nghiên cứu trong thời gian tới. and the evidence. hộ sinh viên và kỹ thuật viên. 5th Ed.G. Qualitative Research: Reaching the parts other methods cannot reach: an introduction to qualitative methods in health and health services research. Hà Nội.F & Hungler B. 6. 6. các đề tài chủ yếu là nghiên cứu mô tả. 8. 1: 36-37. Principles and methods. Lipponcott Company. Mulhall.

Epidemeology of Public Health Science. (1984). 14. London: SAGE Publication. Patton. Winkvist (2004). Umea University. 2nd Ed (1990). 13. "Qualitative methodology for International Public Health" Umea International School of Public Health. . M. 2nd Ed. Morse J. London: Chapman and Hall. Dahlgren L. Qualitative evaluation and research methods. "Nursing research: the application of qualitative approaches". Department of Public Health and Clinical Medicine. and A. and Field P.28 Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 12.

Hội Điều dưỡng Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về nguồn nhân lực Điều dưỡng trong toàn quốc[4]. ĐẶT VẤN ĐỀ Công tác điều dưỡng là hoạt động quan trọng trong công tác chăm sóc sức khoẻ cho người bệnh tại bệnh viện và chăm sóc sức khoẻ trong cộng đồng. Đội ngũ Điều dưỡng đa khoa (ĐD)-Điều dưỡng phụ sản (HS) có mặt ở mọi lĩnh vực của hệ thống chăm sóc sức khoẻ và còn là trụ cột chính của hệ thống cung cấp dịch vụ y tế. một mắt xích quan trọng và là phần nửa của công tác chăm sóc sức khoẻ”. muốn nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ thì phải chú ý công tác điều dưỡng” và xem “Điều dưỡng là một nghề. chất lượng chăm sóc phải đạt ngang tầm với các nước trong khu vực và từng bước hội nhập với các nước trên thế giới[1]. ngày 19/9/1997 bộ Y tế đã có quyết định số: 1895/1997/BYT-QĐ về ban hành Quy chế Bệnh viện. Hội đồng Y tế thế giới đã ra nghị quyết số 54. cần chú ý phát triển nguồn nhân lực ĐD-HS về cả số lượng và chất lượng. Tại Nghệ An.12 ngày 21/5/2001 về chiến lược tăng cường dịch vụ Tại Việt Nam ngày 3/5/2002 Bộ y tế đã có Quyết định số 1613/2002/QĐ-BYT phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường công tác điều dưỡng. Trong đó có đánh giá nguồn nhân lực và đưa ra các chỉ tiêu phát triển nguồn nhân lực ĐDHS. Để đáp ứng nhu cầu đó. so với kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường công tác Điều dưỡng-Hộ sinh mà Bộ Y tế . mở rộng dịch vụ chăm sóc đến các gia đình và cộng đồng. Mặt khác để tăng cường chất lượng dịch vụ chăm sóc người bệnh. ngày 14/7/1990 Bộ Y tế đã có quyết định số: 570/BYT-QĐ về việc thành lập phòng điều dưỡng trong các bệnh viện [2].Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 29 ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG TRONG BỆNH VIỆN CÔNG LẬP NGÀNH Y TẾ NGHỆ AN NĂM 2009 CN. Trước sự khủng hoảng về thiếu nguồn nhân lực ĐD-HS trên toàn thế giới. quản lý nguồn nhân lực của bệnh viện và nâng cao trình độ cho đội ngũ điều dưỡng viên. Mục tiêu của Bộ Y tế đến năm 2010 là đảm bảo cho người bệnh được chăm sóc toàn diện tại các cơ sở y tế. Hội nghị khoa học Điều dưỡng Nghệ An lần thứ nhất năm 2006 đã có 2 đề tài nghiên cứu về nguồn nhân lực Điều dưỡng và Thực trạng Điều dưỡng trưởng[3] nhưng cho đến nay. Điều dưỡng trưởng các cấp hiện nay đã trở thành nguồn cán bộ chủ chốt trong các cơ sở y tế. Tổ chức y tế thế giới đã khuyến cáo: “Ở bất kỳ quốc gia nào.Hộ sinh” [2]. Sở Y tế đã xây dựng đề án phát triển công tác điều dưỡng giai đoạn 2001-2005. Lê Thị Hồng Sơn Sở Y tế Nghệ An 1.

tổ Điều dưỡng. 2. Điều dưỡng trưởng khoa 26 Bệnh viện công lập của tỉnh Nghệ An. Thời gian: Từ tháng 17/2009 2.1. nhiệm vụ của một số Điều dưỡng trưởng còn hạn chế đặc biệt là năng lực điều hành. Xử lý số liệu: Bằng bảng tính Exel.Tổ chức mạng lưới phòng Điều dưỡng Bảng 1: Hệ thống tổ chức Phòng Điều dưỡng/ĐDT bệnh viện Tổ chức Có phòng Điều dưỡng Chỉ có 1 ĐDT trong phòng KHTH Chưa có quyết định ĐDT Số lượng (n =26) 18 7 1 Tỷ lệ (%) 69.3. Điều dưỡng trưởng bệnh viện.Hộ sinh trong các bệnh viện. hộ sinh tại 26 bệnh viện công lập của tỉnh Nghệ An. Phương pháp thu thập số liệu: Phiếu điều tra gửi về các Bệnh viện công lập trực thuộc Sở Y tế qua đường bưu điện. 2. . ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. 3. .Nguồn nhân lực Điều dưỡng. Công cụ thu thập số liệu: 02 bộ phiếu điều tra: . Mặc dù Ngành Điều dưỡng Nghệ An đã có những cố gắng đáng khích lệ nhưng thực tế số lượng và chất lượng nguồn nhân lực Điều dưỡng chưa đáp ứng được nhu cầu.Điều dưỡng. quản lý và nghiên cứu khoa học. Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV đề ra còn ở mức khiêm tốn.8 . chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Điều tra thực trạng hệ thống và năng lực nguồn nhân lực điều dưỡng trong bệnh viện công lập ngành y tế Nghệ An năm 2009” nhằm mục tiêu: 1.30 ĐD -HS toàn cầu[1].4.1.5. 2. Thực hiện chủ trương của ngành y tế tỉnh.Phòng. vai trò khả năng thực hiện chức năng. Đề xuất các giải pháp nhằm củng cố hệ thống và nâng cao năng lực cho đội ngũ điều dưỡng. 2. 2. Đối tượng nghiên cứu . 2. KẾT QUẢ 3. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.2 27 3. Mô tả tổ chức mạng lưới phòng Điều dưỡng tại các bệnh viện công lập ngành y tế tỉnh. Mô tả thực trạng và nguồn nhân lực Điều dưỡng-Hộ sinh-Kỹ thuật viên trong các bệnh viện công lập ngành y tế tỉnh.6. Đa số các bệnh viện đã có quyết định thành lập phòng điều dưỡng nhưng số phòng Điều dưỡng hoạt động độc lập thực hiện đầy đủ chức năng nhiệm vụ theo quy chế bệnh viện rất ít.Phòng điều dưỡng. Điều dưỡng trưởng các bệnh viện. 3.2. phần lớn đang hoạt động như tổ Điều dưỡng.

còn 27% bệnh viện chỉ có Điều dưỡng trưởng bệnh viện.6 56.7 100 Nhận xét: Chỉ có 33.8%). Bảng 4. Bảng 5.9 17.3 66. vẫn còn 42.3 42.5 19.4 43.6%).7% cán bộ phòng chưa được hưởng phụ cấp chức vụ.7 16 29 90 Không SL % 61. Nội dung Phòng ĐD hoạt động theo Quy chế BV Phòng ĐD hoạt động như tổ ĐD Tổng Số lượng 6 12 18 Tỷ lệ % 33. vẫn còn 1 bệnh viện chưa có hệ thống điều dưỡng trưởng (3. Bệnh viện đã có phụ cấp trách nhiệm cho phòng/ĐDT Hưởng phụ cấp chức vụ .Có .7%).3% số phòng Điều dưỡng hoạt động độc lập theo đúng chức năng nhiệm vụ. Bảng 3.3 Nhận xét: Số cán bộ chưa học quản lý điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao.5% chưa học quản lý. Trình độ chuyên môn của cán bộ ở phòng Điều dưỡng /ĐDT BV Trình độ chuyên môn Đại học Cao đẳng Trung học Số lượng 2 12 54 Tỷ lệ (%) 2. số còn lại hoạt động như tổ điều dưỡng (66.7 100 Nhận xét: Mới chỉ có 53.6 79.2%).Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 31 100 Tổng 26 Nhận xét: Số bệnh viện có phòng điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao (69. Bảng 2: Hoạt động của phòng Điều dưỡng.không Tổng Số lượng 39 29 68 Tỷ lệ (%) 57. Trình độ quản lý của Điều dưỡng trưởng Đối tượng TP Điều dưỡng hoặc ĐDT BV Điều dưỡng trưởng khối Điều dưỡng trưởng khoa Có SL 10 7 70 % 38. nhiều nhất là điều dưỡng trưởng khối (80.7% cán bộ phòng được hưởng phụ cấp chức vụ.5 .5 80. ĐDT bệnh viện còn 61.

Trình độ ngoại ngữ Trình độ ngoại ngữ Anh A Số lượng (n=1735) 121 Tỷ lệ (%) 6.35 100 Tỷ lệ % 0. nhóm tuổi. Nhóm tuổi >50 tuổi chiếm tỷ lệ cao hơn trong các độ tuổi (28. .5%).3 Nhận xét: Đội ngũ ĐD-HS đa số là nữ (84.6%). cao đẳng 8.0 19 27.5 1464 87 Tỷ lệ % 1.Điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tổng số (85.2 2.5 84. Còn lại là trình độ cao đẳng 17.32 Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV Tổng 68 100 Nhận xét: Chủ yếu là trình độ trung học 79.9%). chủ yếu là trình độ trung học (88.7 1265 88. trình độ đại học 1.8 1. Nguồn nhân lực điều dưỡng. Phân loại ĐD-HS theo giới tính.Hộ sinh chiếm 14.35% trong tổng số. Bảng 8.2%. Bảng 7.5%.9%. hộ sinh các bệnh viện công lập trong ngành Bảng 6.6 0 1.7 28.6%. Số lượng (n=1735) Giới tính Nam Nữ Nhóm tuổi <30 tuổi 30-40 tuổi 41-50 tuổi >50 tuổi 268 1467 434 330 482 489 Tỷ lệ (%) 15.65 14.6 ĐH 13 3 16 SH 25 0 25 Nhận xét: .65%).97 . Phân loại ĐD-HS theo trình độ chuyên môn Chuyên Tổng ngành số ĐD HS Tổng 1486 249 1735 Tỷ lệ % 85.8%.Vẫn còn ĐD sơ học làm việc ở bệnh viện (1.7%.2. trung học 86%. Trình độ Đại học 0. 3.5 25. trình độ đại học thấp 2.9 32 12.3%).8%. cao đẳng 12.0 Trình độ chuyên môn Tỷ lệ Tỷ lệ CĐ TH % % 130 8.8 199 86 162 21.

8% trong tổng số.7% số phòng đang hoạt động như tổ Điều dưỡng. .45 Nhận xét: Tỷ lệ ĐD-HS/GBKH: 1/0.Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV 33 4. BÀN LUẬN 4. 4.1 12.78 Tỷ lệ (%) 0. Phân bổ tỷ lệ Điều dưỡng-Hộ sinh/Bác sỹ Điều dưỡng-Hộ sinh Tổng số 1735 Bác sỹ 774 Tỷ lệ ĐD-HS/BS 2.25% trên tổng số.3.7 24.2 Nhận xét: Tỷ lệ ĐD-HS/ BS: 2. bằng A và B gần tương đương nhau. Phân bổ tỷ lệ Điều dưỡng-Hộ sinh so với Bác sỹ và giường bệnh. Tổ chức mạng lưới phòng Điều dưỡng . Bảng 10.25 Anh B Trình độ ngoại ngữ Anh C Pháp B Tổng số 83 Số lượng (n=1735) 7 2 212 Nhận xét: Trình độ ngoại ngữ chỉ đạt 12. bằng B tiếng pháp có 2 người đạt 0. 3.45.Trong tổng số 26 bệnh viện hạng III trở lên.2/1.4 0.8 Nhận xét: Trình độ tin học đạt 24. Trình độ tin học Trình độ tin học Tin A Tin B Tổng Số lượng (n=1735) 210 221 431 Tỷ lệ (%) 12.1%.Mặc dù đã có quyết định thành lập Phòng Điều dưỡng nhưng 66. Bảng 11. chủ yếu là bằng A tiếng anh.1 12. Phân bổ Điều dưỡng-Hộ sinh theo giường bệnh Điều dưỡng-Hộ sinh Tổng số 1735 Giường bệnh KH 3795 Tỷ lệ ĐD -HS/GB 0. Bảng 9. trưởng phòng làm việc và sinh . mới chỉ có 18 bệnh viện có quyết định thành lập phòng Vẫn còn 8 BV chưa thành lập phòng Điều dưỡng theo quy định của Quy chế bệnh viện [5].1.

5%). so với năm 2006 (5.7%) .34 Nghiªn cøu khoa häc ®iÒu d-ìng toµn quèc lÇn thø IV Điều dưỡng (đạt lệ 69. Nguồn nhân lực ĐD-HS các bệnh viện công lập trong ngành . hộ sinh trong toàn ngành là: 1735 chủ yếu là nữ (84.Còn 12/18 bệnh viện có quyết định Phòng Điều dưỡng (66%) nhưng hoạt động như tổ điều dưỡng.7% so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân giáo viên trường cao đẳng Y tế Nghệ an năm 2006 là 1. Trong khi đó một số nước năm 2007 như: Thái lan là: 8/1.5% cán bộ phòng Điều dưỡng trình độ trung học.5% cán bộ trưởng phòng/ĐDT BV. đây cũng là đặc thù của nghề nghiệp với đa số là cán bộ nữ. .7%. so với kế hoạch hành động của Bộ Y tế đến năm 2010: 0. chủ yếu là bệnh viện tuyến tỉnh. 56. Việc thực hiện nhiệm vụ tham gia nghiên cứu khoa học chưa được chú trọng.3% ĐDT khoa chưa được học quản lý điều dưỡng theo chương trình của Bộ Y tế. . Đại học và cao đẳng chỉ chiếm 20. đa số chưa được đào tạo về quản lý điều dưỡng. 4.5%[5].83% trên tổng số (năm 2006:10. 4. đây là kết quả của sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo các cấp và sự cố gắng vươn lên của đội ngũ điều dưỡng nhưng so với kế hoạch hành động của Bộ Y tế đến năm 2010 là: 40%[1] thì không đạt được.Tỷ lệ đại học. Tổ chức mạng lưới Phòng điều dưỡng chưa đồng bộ/cán bộ phòng Điều dưỡng còn hạn chế về trình độ. .2%).5%.Đội ngũ điều dưỡng. 5.Trình độ tin học đạt 24. .83%) thì đội ngũ điều dưỡng đã có sự cố gắng nhưng còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa khi đất nước đang trong thời kỳ hội nhập. Một trường hợp điều dưỡng trưởng bệnh viện tuyến tỉnh đã đảm nhận công việc 3 năm những vẫn chưa được hưởng phụ cấp chức vụ.45). nhiều nhất là điều dưỡng trưởng khối.Số bệnh viện hạng III trở lên chưa có quyết định thành lập Phòng điều dưỡng còn 8/26 Bệnh viện (30.5%)[3].25% trên tổng số.6% ĐDT khối. Trung bình số cán bộ của phòng là 3 ± 1 người.3. . .2/1 so với kế hoạch hành động của Bộ Y tế đến năm 2010 là 3/1 thì còn thiếu 587 Điều dưỡng nữa. . Phân bổ tỷ lệ điều dưỡng-hộ sinh so với bác sỹ và giường bệnh .Có 79. cao đẳng là 11.Cán bộ phòng Điều dưỡng chưa được hưởng phụ cấp chức vụ vẫn còn 42. Nhật bản: 4/1 [4] -Tỷ lệ ĐD-HS/GBKH còn cao (1/0. 80.Trình độ ngoại ngữ đạt 12. các bệnh viện miền núi tỷ lệ này thấp. chưa thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của phòng theo quy chế Bệnh viện. Trong khi đó một số nước như Thái Lan đang phổ cập điều dưỡng ở trình độ đại hoạt với phòng KHTH hoặc phòng khác.2. KẾT LUẬN 1. các thành viên còn lại làm việc và sinh hoạt tại khoa lâm sàng.Tỷ lệ ĐD-HS/BS thấp 2. .Vẫn còn 61.5 [1] thì còn thiếu 162 điều dưỡng.

45 là chưa đạt theo yêu cầu. Tin học đạt 14. 15% cao học [1] là quá thấp. .Trình độ chuyên môn: Chủ yếu là trình độ trung học (88. . cao đẳng. . .25% trong tổng số (tiếng Anh. . Vẫn còn trình độ sơ học làm việc tại bệnh viện (1.Có kế hoạch tuyển dụng nhân lực ĐD-HS có trình độ trung học.6%). .2%). B). Các giải pháp . 6. 2.Một số phòng Điều dưỡng thực hiện chức năng nhiệm vụ chưa đầy đủ theo quy