P. 1
Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình

Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình

|Views: 7,921|Likes:
Được xuất bản bởiLê Tuấn

More info:

Published by: Lê Tuấn on Jul 31, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF or read online from Scribd
See more
See less

12/27/2012

pdf

0

LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn giáo sƣ, tiến sĩ khoa học Phan Đăng Nhật đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ trong quá trình tác giả nghiên cứu, hoàn thành công trình này. Tác giả cũng chân thành cảm ơn các nhà khoa học đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tác giả hoàn thiện công trình: - GS. TS Lê Chí Quế - PGS.TS Trần Đức Ngôn - GS. TS Nguyễn Xuân Kính - PGS.TS Vũ Anh Tuấn - PGS.TS Nguyễn Chí Bền - TS. Nguyễn Hữu Thức - TS. Nguyễn Thị Huế. Tác giả xin chân thành cảm ơn trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn và Trung tâm Công nghệ thông tin (Văn phòng Bộ Văn hoá Thông tin, nay là Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch) đã giúp dỡ tận tình tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu, công bố công trình này. Phạm Việt Long

1

ĐIỀU TÂM ĐẮC VỀ PHƢƠNG PHÁP TIẾP CẬN VĂN HOÁ DÂN TỘC (Thay Lời giới thiệu) GS. TSKH. Phan Đăng Nhật Tôi không có dự định viết giới thiệu cuốn sách Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình của TS. Phạm Việt Long. Vì thế e rằng sẽ nhắc lại trong vài trang, một cách sơ lƣợc, thiếu thốn cả một cuốn sách hơn 300 trang và do vậy làm lãng phí thì giờ bạn đọc. Tôi chỉ dám phát biểu một điều tâm đắc: phƣơng pháp tiếp cận văn hoá để tìm ra bản sắc văn hoá dân tộc. Điều này do phạm vi đề tài hạn chế,- tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình,- nên tác giả không có điều kiện trình bày đầy đủ và trực diện. Nhƣng chính những phƣơng pháp tiếp cận này, một mặt đem đến những phát hiện mới mà có sức thuyết phục trong phạm vi đề tài của mình; mặt khác gợi mở cho việc tìm hiểu bản sắc văn hoá nói chung. * 1.Từ lâu một số nhà khoa học trong và ngoài nƣớc với mức độ khác nhau và biểu hiện khác nhau, đã phủ định bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Tiêu biểu cho xu hƣớng này là “Bài tổng kết của trƣờng Viễn đông Bác cổ Pháp từ buổi đầu cho đến năm 1920”: “Ấn Độ – Chi na (là tên gọi các nƣớc Đông Dƣơng, trong đó có Việt Nam, do ngƣời Pháp dùng, tiếng Pháp là Indochine là từ ghép tên hai nƣớc Ấn Độ và Trung Hoa- P.Đ.N), là khu vực ở Châu Á mà hai nền văn minh lớn của bộ phận này của thế giới, văn minh Ấn Độ và văn minh Trung Hoa, đụng độ với nhau và ít nhiều hoà lẫn vào nhau và là nơi mà các chủng tộc cƣ trú ở lục địa và hải đảo ở phía đông châu Á kéo đến pha trộn vào nhau. Cho nên ngƣời ta không thể thấy ở đấy, nhƣ ở nƣớc Trung Hoa hay ở nƣớcẤn Độ của ngƣời Arirăng (Aryen), một chủng tộc riêng biệt và một nền văn minh độc đáo xứng đáng đƣợc tìm hiểu vì bản thân chúng, một chủng tộc và một nền văn minh chỉ nhờ vả rất ít vào ảnh hƣởng bên ngoài, mà hoàn toàn ngƣợc lại chỉ thấy ở đó sự pha trộn khác thƣờng nhất của các nền văn minh và các chủng tộc linh tinh (P.Đ.N.nhấn mạnh), không một nền văn minh nào- hình nhƣ thế lại có nguồn gốc hoặc trung tâm ở đấy, ngay tại bản thân Ấn Độ- Chi na”1 Phân tích trên đây của bản tổng kết trang trọng này có mấy điểm chính: - Các nƣớc Đông Dƣơng(trong đó có Việt Nam ), không có nền văn hoá văn minh. Những lý do trên, không đáng nghiên cứu các nền văn hoá ở đây.

Trƣờng Viễn đông bác cổ Pháp từ buổi đầu cho đến 1920, //Tập san của Trƣờng Viễn đông bác cổ Pháp, tập XXI, 1920,tr.4.
1

2

Lời kết án trên là của cơ quan học thuật có quyền lực nhất đƣơng thời của ngƣời Pháp, đã xoá sạch bản sắc văn hoá Việt Nam và các nƣớc lân cận. Đƣơng thời nó ảnh hƣởng sâu sắc đối với thế giới và cả một số ngƣời Việt. Về sau, dần dần quan niệm trên đây đƣợc điều chỉnh từng bƣớc. Một số học giả Phƣơng Tây nhận thấy văn hoá “các cƣ dân của bán đảo Đông Dƣơng” không phải là một sự pha trộn linh tinh nữa mà có thể nhận diện đƣợc và họ goị là “Các quốc gia Ấn độ hoá” (G.Coedes). Có ngƣời còn khái quát đƣợc bản chất văn hoá của vùng này, hơn nữa còn chỉ ra rằng một số triết lý của Trung Hoa đã đƣợc tổng kết từ thực tế của văn hoá phƣơng Nam nhƣ lý thuyết về âm dƣơng (Eveline Porée Maspéro). Nếu chỉ có thế thì không cần nhắc lại ở đây, cái gì hoàn toàn thuộc về lịch sử trả về cho quá khứ. Nhƣng không nhƣ vậy, gần đây, (1972), Arnold Toynbee, mặc dầu đã công nhận Việt Nam có một nền văn minh riêng nhƣng là sự “mô phỏng văn minh Trung Hoa”, là “nền văn minh riêng văn minh Trung Quốc. Leon Vandermeeersch (1986) coi văn minh Việt Nam (cũng nhƣ Triều Tiên, Nhật Bản) là “văn minh Trung Hoa hoá”, nói cách khác là sự đồng hoá theo văn minh Trung Hoa.2 Về bản chất trên đây là tƣ tƣởng trung tâm văn minh nƣớc lớn, đến thời kỳ hậu thực dân, nó không còn tính chất miệt thị nƣớc nhỏ của chủ nghĩa thực dân cũ nữa, nhƣng có nhiều biến dạng, mà thế giới vẫn đang còn tiếp tục tranh luận với chúng: nếu ở thế giới, đó là chủ nghĩa trung tâm Âu châu, đƣợc gọi là eurocentrisme, européocentrisme, thì ở châu Á là chủ nghĩa trung tâm Trung Hoa, có thể tạm gọi la sinocentrisme. Ở trên có nhắc đến tƣ tƣởng trung tâm Trung Hoa của thời kỳ hậu thực dân của một số tác giả nƣớc ngoài, riêng ở Việt Nam tƣ tƣởng đó vẫn tồn tại không ít. Trong bối cảnh nhƣ vậy tác phẩm của Phạm Việt Long xử lý vấn đề nhƣ thế nào? 2. Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình tự giới hạn trong một phạm vi nhỏ của văn hoá, quan hệ gia đình, trong đó có quan hệ vợ chồng, cha mẹ con cái, anh em họ hàng… Nhƣ trên đã nói, chúng tôi không giới thiệu toàn diện nên chỉ nêu mối quan hệ vợ chồng để xét về phƣơng pháp tiếp cận. Về quan hệ vợ chồng trong ca dao Việt Nam, nhiều ngƣời cho rằng, đã ảnh hƣởng sâu sắc đạo cƣờng thƣờng của Nho giáo, xuất giá tòng phu. Các tác giả Thi ca bình dân Việt Nam viết về ý thức xuất giá tòng phu nhƣ sau: “Đây là một quy luật bắt buộc ngƣời đàn bà. Chữ “tòng” đây không chỉ có nghĩa là đi theo mà còn phải tuân theo mệnh lệnh của ngƣời chồng nữa. Ý thức này ăn sâu vào dân gian… Bởi vậy, ngƣời đàn bà sống trong chế độ Tam tòng thƣờng có tƣ tƣởng yếu đuối, cầu an. Họ chỉ còn biết làm sao cho chồng thƣơng

Tham khảo GS Đinh Gia Khánh: Mục đích nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu //Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hoá Đông Nam Á, NXB KHXH. H,1993.
2

3

để nhờ vào sự che chở của ngƣời chồng… Xem thế, ngƣời đàn bà đối với chồng chỉ có nhẫn nhục và chiều chuộng”3 Nhƣ vậy các tác giả Thi ca bình dân Việt Nam coi ngƣời phụ nữ Việt Nam “sống trong chế độ Tam tòng” của Nho giáo, tuân theo đạo tam tòng nghiêm khắc này. Phạm Việt Long có nhận định khác. Ông cho rằng: “Qua ca dao, chúng ta thấy không phải chỉ có phụ nữ mới theo chồng, mà có cả đàn ông theo vợ, và quan trọng hơn là họ theo nhau, “phu phụ tƣơng tòng”… Cách thức theo chồng của ngƣời phụ nữ Việt thời phong kiến đa dạng, phong phú, với nhiều ý nghĩa tích cực, thể hiện sự chủ động của ngƣời phụ nữ trong việc lựa chọn và xây đắp hạnh phúc cho mình. Trong sự chủ động ấy, ngƣời phụ nữ sẵn sàng gánh vác việc khó khăn, nặng nhọc, sẵn sàng chịu đựng mọi éo le của cuộc sống miễn là làm cho vợ chồng đƣợc gắn bó. Từ khái niệm tòng phu của Nho giáo, các tác giả đã chuyển hoá thành khái niệm theo nhau-“tƣơng tòng”, là biểu tƣợng cho sự gắn bó vợ chồng ngƣời Việt trong xã hội phong kiến” 4 Kết luận nhƣ vậy có tính uyển chuyển, nhƣng quan trọng là bằng con đƣờng nào, bằng phƣơng pháp nào để đi đến kết luận trên. Trƣớc hết, tác giả không tự định ra trong đầu mình một tƣ tƣởng, rồi tìm những đơn vị ca dao thích ứng để minh hoạ cho nó. Ông bao quát một kho tàng ca dao đồ sộ khá đầy đủ 5, chứa đựng 11.825 đơn vị ca dao. Từ kho tàng đó, ông chọn ra 1.179 đơn vị nói về đề tài gia đình, chiếm 9,97% tổng số. Từ đó, để khảo sát vấn đề quan hệ vợ chồng, ông chọn đƣợc 690 đơn vị có đề tài này, chiếm 58,52% đơn vị ca dao nói về gia đình (ngoài quan hệ vợ chồng còn có các quan hệ cha mẹ- con cái, anh chị em…) Từ toàn bộ các đơn vị ca dao nói về quan hệ vợ chồng đƣợc rút ra từ Kho tàng ca dao, gồm 11.825 câu, tác giả bằng thống kê, chỉ ra có 3 kiểu phục tòng (nôm na là theo): Vợ theo chồng. “Lấy chồng theo thói nhà chồng”, “Có chồng thì phải theo chồng, Đắng cay cũng chịu, mặn nồng cũng vui”... Trong quan hệ này, tác giả cũng rút ra những trƣờng hợp ngƣợc lại, nghĩa là vợ không theo chồng, số lƣợng không đáng kể, ví nhƣ: “ăn cam ngồi gốc cây cam, Lấy anh thì lấy về Nam không về” “ăn chanh ngồi gốc cây chanh, Lấy anh thì lấy về Thanh không về”. Chồng theo vợ. “Vợ mà biết ở ắt chồng phải theo”, “Mình về anh cũng về theo, Sum vầy phu phụ hiểm nghèo có nhau”… Cả hai theo nhau. “Theo nhau cho chọn lời vàng đá”, “Quyết theo nhau cho trọn đạo”… (Xin xem các trang 65,66- vi tính, ở đó có đầy đủ dẫn chứng)

Nguyễn Tấn Long, Phan Canh (1998), Thi ca bình dân Việt Nam (Tập 1), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.198, 194. 4 Phạm Việt Long, sách đã dẫn, tr.66 (vi tính). 5 Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên và các cộng sự: Kho tàng ca dao ngƣời Việt, NXB Văn hoáThông tin, H, năm 1995.
3

4

Trên cơ sở khảo sát, thống kê một cách khách quan, thận trọng, khối tƣ liệu to lớn, phong phú và đa dạng nói trên, tác giả mới đi đến nhận định: “Nhƣ vậy, qua ca dao, chúng ta thấy không phải chỉ có phụ nữ mới theo chồng…” (đã trích ở trên). Tác giả cũng khảo sát quá trình từ tiếp thu vỏ ngôn ngữ tòng phu đến sự chuyển hoá thành theo chồng, chồng phục tòng vợ và phu phụ tƣơng tòng. Nhƣ vậy, quan hệ vợ chồng trong văn hoá Việt Nam theo nguyên lý Gắn bó (Vợ chồng là nghĩa keo sơn), Thuận hoà (Thuận vợ thuận chồng bể Đông tát cạn). Nhƣ vậy, theo đạo lý Việt Nam, mà tục ngữ ca dao là sự ghi nhận trung thành, ngƣời phụ nữ Việt Nam không “sống trong chế độ Tam tòng” “yếu đuối, cầu an”, không “chỉ biết làm sao cho chồng thƣơng để nhờ vào sự che chở của ngƣời chồng”. Và càng không thích hợp khi kết luận “Xem thế, ngƣời đàn bà Việt Nam đối với chồng chỉ có nhẫn nhục và chiều chuộng”. Trên đây là bàn về những kết luận qua việc khảo sát ca dao coi nó nhƣ một tấm gƣơng phản chiếu, hơn nữa, một tài liệu để điều tra xã hội học về xã hội Việt Nam truyền thống. Trong quan hệ gia đình, ngoài quan hệ vợ chồng nhƣ đã nói trên, sách TNCDVQHG còn đề cập đến các mặt khác nhƣ quan hệ cha mẹ- con cái, quan hệ anh em- chị em, quan hệ dâu rể. Cách tiến hành, phƣơng pháp nghiên cứu đều nhƣ trên. Và các kết luận cũng có đóng góp mới và có tính thuyết phục. Cuối cùng tác giả kết luận: “Qua tục ngữ, ca dao, ngƣời nghiên cứu thấy rõ tính chất dân chủ, bình đẳng, khoan hoà, nhân văn là tính chất “trội” của quan hệ gia đình ngƣời Việt….(xem thêm ở tr.129- vi tính của sách TNCDVQHG)”. 3. Cho đến nay, đối với các hiện tƣợng khác của văn hoá Việt Nam vẫn tồn tại những nhận định khác nhau. Ví dụ nhƣ có ngƣời cho tục thờ Thành hoàng là sản phẩm của Trung Hoa. Trong lúc đó, GS Nguyễn Duy Hinh, với một công trình nghiên cứu công phu, hơn 500 trang, chƣa kể phụ lục, đã khẳng định: “Thành hoàng làng là tập đại thành văn hoá mà ngƣời nông dân Việt Nam đã sáng tạo qua bao nhiêu thể nghiệm, của bao nhiêu thế hệ” 6 Tục thờ cúng tổ tiên cũng vậy, GS Đinh Gia Khánh không cho là đặc thù phƣơng Bắc mà là đặc thù của nền văn hoá Đông Nam Á: “Còn tục thờ cúng tổ tiên thì lại là một trong những nét đặc thù của vùng văn hoá Đông Nam Á” 7 Sở dĩ có sự nhận định khác nhau đối với một nền văn hoá, và bản chất các hiện tƣợng văn hoá, chủ yếu là do khác nhau về phƣơng pháp. Chúng ta coi trọng quy luật giao lƣu văn hoá, nhƣng nhiều khi trong quá trình giao lƣu đó diễn ra sự tiếp biến văn hoá lâu dài, khiến cho nội hàm của hiện tƣợng, khái niệm đã thay đổi mà chỉ còn lƣu lại cái vỏ ngôn ngữ. GS Từ Chi cũng chia sẻ với ý kiến này: “Trong không ít trƣờng hợp, những yếu tố mà tổ tiên ngƣời Việt hiện nay đã lần
Nguyễn Duy Hinh: Tín ngƣỡng thành hoàng Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, H, 1996, tr, 410. Đinh Gia Khánh: Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hoá Đông Nam Á, NXB Khoa học xã hội, H, 1993, tr. 43.
6 7

5

lƣợt tiếp thu từ nền văn minh Trung Hoa qua một thiên niên kỷ Bắc thuộc, và cả về sau nữa, khi đƣợc tích hợp vào cuộc sống hàng ngày của ngƣời bản địa, chỉ còn giữ đƣợc ở nơi xuất phát có cái vỏ hình thức nữa thôi (thƣờng là tên gọi) trong khi nội hàm của khái niệm tiếp thu đã biến đổi hẳn” 8 Tóm lại, tác giả Phạm Việt Long trong sách Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình đã nghiêm túc tiếp thu ngƣời đi trƣớc về phƣơng pháp tiếp cận văn hoá, đó là nguyên nhân quan trọng đem đến những đóng góp mới trong công trình nghiên cứu của ông và đây cũng là kinh nghiệm cho những ai quan tâm đến việc tìm hiểu bản sắc văn hoá Việt Nam./. P.Đ.N.

Nguyễn Từ Chi: Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc ngƣời, NXB Văn hoá - Thông tin, Tạp chí văn hoá nghệ thuật, H, 1996, tr.240.
8

6

MỞ ĐẦU Nhiều nƣớc, nhiều tổ chức trên thế giới đã nhận thức đƣợc tầm quan trọng của gia đình đối với sự phát triển của xã hội loài ngƣời nên đã có nhiều hành động nhằm xây dựng và củng cố gia đình. "Ngày 8 tháng 12 năm 1989 Đại Hội đồng Liên hợp quốc tuyên bố năm 1994 là năm quốc tế về Gia đình (IYF) với chủ đề "Gia đình, các nguồn lực, và các trách nhiệm trong thế giới đang thay đổi" và biểu tƣợng một mái nhà ấp ủ những trái tim. Tƣ tƣởng chủ đạo của năm quốc tế về gia đình là: sự thay đổi của thế giới phải tạo nên sự tiến bộ và tăng cƣờng các phúc lợi cho cá nhân cũng nhƣ sự phát triển ổn định của gia đình. Năm quốc tế về gia đình nhấn mạnh đến việc đảm bảo các quyền cơ bản của con ngƣời, đặc biệt chú ý đến quyền của phụ nữ và trẻ em, kêu gọi các chính phủ, các tổ chức xã hội quan tâm giúp đỡ các gia đình làm tròn trách nhiệm đối với các thành viên và là hạt nhân của sự phát triển tiến bộ các cộng đồng, dân tộc, quốc gia."[96:3]. Đảng và Nhà nƣớc ta cũng đã sớm có sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề gia đình và có các biện pháp thiết thực chăm lo cho gia đình. Bên cạnh các điều luật trong bộ Luật dân sự, ngày 29 tháng 12 năm 1986, Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật hôn nhân và gia đình, trong đó khẳng định: "Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt; Trong gia đình xã hội chủ nghĩa, vợ chồng bình đẳng, thƣơng yêu, giúp đỡ nhau tiến bộ, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội;". [75:94]. Nhƣ vậy, gia đình là vấn đề đƣợc sự quan tâm đặc biệt của tất cả các tổ chức đảng, chính quyền, từ trong nƣớc đến toàn thế giới. Để xây dựng gia đình hạnh phúc, cần có cả một hệ thống phƣơng hƣớng, biện pháp, trong đó có việc quay trở về tìm hiểu những giá trị truyền thống của cha ông, tìm ra trong đó những mẫu hình và kinh nghiệm tốt đẹp để áp dụng và nhận biết những mặt tiêu cực để tránh.

7

Văn học dân gian, trong đó có tục ngữ, ca dao, là kho tàng văn học quý giá của đất nƣớc, đã vƣợt qua mọi thử thách của thời gian, trở thành một thành tố quan trọng trong gia tài văn hoá nƣớc ta. Thông qua nghệ thuật ngôn từ, tục ngữ, ca dao đúc kết trí tuệ, tình cảm của nhân dân và phản ánh nhiều mặt của xã hội, trong đó có phong tục, tập quán, có các mối quan hệ trong gia đình. Việc đi sâu nghiên cứu tục ngữ, ca dao đã phát hiện ngày càng nhiều những giá trị tiềm ẩn trong đó, giúp cho con ngƣời của xã hội đƣơng đại có cơ sở để thực hiện đạo lý uống nƣớc nhớ nguồn, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc. Trong qúa trình nghiên cứu, sƣu tầm văn học dân gian, với khối lƣợng lớn tục ngữ, ca dao đã đƣợc sƣu tầm, cần có các công trình nghiên cứu theo chuyên đề, đi thật sâu vào những nội dung chủ yếu của tục ngữ, ca dao, qua đó làm cho ngƣời đƣơng thời hiểu sâu hơn tục ngữ, ca dao, để có cách thức ứng xử phù hợp với kho tàng văn hoá quý giá này của dân tộc và để rút ra những bài học bổ ích cho cuộc sống hiện tại. Việt Nam đang bƣớc vào giai đoạn phát triển toàn diện, hƣớng tới mục tiêu dân giàu nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Phù hợp với xu hƣớng của thời đại, Đảng cộng sản Việt Nam coi văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển. Trong quá trình mở rộng cơ chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, hội nhập với thế giới, bên cạnh những yếu tố tích cực, một vấn đề nóng bỏng hiện nay là sự hấp thụ thiếu chọn lọc những biểu hiện văn hóa ngoại lai, xa rời những tiêu chuẩn đạo lý dân tộc từng tồn tại hàng nghìn đời nay. Nhiều mặt tiêu cực của xã hội hiện đại đã tác động vào gia đình, tạo ra nguy cơ phá vỡ sự bình yên của gia đình. Trong điều kiện đó, gia đình trong xã hội hiện đại đang là một vấn đề đƣợc quan tâm. Quay trở về những giá trị truyền thống, trong đó có quan hệ gia đình, đã trở thành xu hƣớng của thời đại. Việc nghiên cứu những giá trị trong gia đình truyền thống thể hiện qua tục ngữ, ca dao là một cách thức đóng góp vào việc định hƣớng xây dựng gia đình trong xã hội ngày nay. Trong bối cảnh trên, việc làm sáng tỏ vấn đề phong tục, tập quán trong quan hệ gia đình qua tục ngữ, ca dao, chọn lựa và đề cao những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, tìm ra và loại bỏ những hủ tục, sẽ góp phần đáng kể vào việc làm rõ nội hàm của khái niệm "Truyền thống văn hóa Việt Nam", chống lại lối sống thực dụng, xa rời những chuẩn mực đạo đức, giáo dục, nâng cao trình độ văn hóa, củng cố gia đình, ổn định xã hội, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phục vụ sự nghiệp cách mạng hiện nay cũng nhƣ lâu dài.

8

Với những lý do nhƣ đã trình bầy, chúng tôi căn cứ vào tục ngữ, ca dao của ngƣời Việt đã đƣợc sƣu tầm và in thành sách để khảo sát về quan hệ gia đình ngƣời Việt truyền thống. Sở dĩ chúng tôi chọn hai thể loại này vì chúng gần gũi với nhau trong phƣơng thức hình thành, lƣu truyền cũng nhƣ trong nội dung và nghệ thuật. Tục ngữ thiên về lý trí, ca dao thiên về tình cảm, hai thể loại này sẽ bổ trợ cho nhau để chúng ta có thể nhìn nhận vấn đề gia đình từ cả hai góc độ lý trí và tình cảm. Thực hiện phƣơng châm kế thừa có chọn lọc di sản văn hoá của dân tộc, chúng tôi đã tìm hiểu khá kỹ công trình nghiên cứu về tục ngữ, ca dao của những bậc tiền bối và thấy nhƣ sau: Việc sƣu tầm, chú giải tục ngữ, ca dao nói chung đã đƣợc tiến hành từ nửa cuối thế kỷ thứ XVIII, nhƣng chƣa có công trình nào đi sâu nghiên cứu riêng về phong tục tập quán trong quan hệ gia đình ngƣời Việt mà chỉ có một số tác phẩm đề cập đến vấn đề này trong một số chƣơng, mục. Năm 1940, qua Kinh thi Việt Nam, Nguyễn Bách Khoa (Trƣơng Tửu) nói về Gia tộc phụ hệ và Chống nam quyền để phân tích về gia đình Việt Nam thể hiện qua ca dao. Năm 1960, ở tác phẩm Chống hôn nhân gia đình phong kiến trong ca dao Việt Nam, Hằng Phƣơng nêu lên những nội dung có tính chất chống đối trong ca dao. Từ năm 1956 đến năm 1978, qua việc phân tích ca dao, Vũ Ngọc Phan nêu lên sự đối xử bất công đối với ngƣời phụ nữ, mâu thuẫn mẹ chồng - nàng dâu, chế độ đa thê, cảnh khổ lẽ mọn, đạo tam tòng trói buộc ngƣời phụ nữ. Từ những năm 90 đến nay, các nhà nghiên cứu đã chú ý nghiên cứu về tục ngữ, ca dao theo chuyên đề. Có những công trình đƣợc xuất bản hoặc tái bản đáng chú ý nhƣ: Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính, Ca dao tục ngữ với khoa học nông nghiệp của Bùi Huy Đáp, Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam của Phan Thị Đào, Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việt của Triều Nguyên, Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc và thi pháp của Nguyễn Thái Hòa, Tiếp cận ca dao bằng phương thức xâu chuỗi theo mô hình cấu trúc của Triều Nguyên... Có hai tác phẩm đi sâu vào nội dung tục ngữ, ca dao, đặc biệt là khảo sát khá kỹ các mối quan hệ của con ngƣời trong xã hội, đó là Thi ca bình dân Việt Nam của Nguyễn Tấn Long, Phan Canh và Đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Dân. Nghiên cứu về phong tục, tập quán trong gia đình ngƣời Việt, các công trình ngiên cứu khoa học trên góc độ xã hội học, văn hoá học, và đặc biệt là dân tộc học, đã có những tác phẩm chuyên sâu hoặc đã có những chuyên mục chuyên sâu.

9

PGS. Nguyễn Từ Chi trong Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người có Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ và Nhận xét bƣớc đầu về gia đình của ngƣời Việt đã đi sâu nghiên cứu về cơ cấu tổ chức của làng xã, gia đình cổ truyền, đồng thời cũng chú ý đến một số mối quan hệ trong gia đình, đến vai trò ngƣời phụ nữ trong gia đình ấy. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục có phần khảo sát riêng về Phong tục trong gia tộc. Đáng chú ý là trong khi giới thiệu phong tục tập quán, tác giả thƣờng dẫn tục ngữ để minh chứng. Trong Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình, tác giả Toan Ánh đi sâu vào đời sống gia đình, trong đó nêu lên khái niệm về gia đình theo Từ điển phổ thông và theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh. Tác giả giới thiệu tóm tắt nhƣng khá sáng rõ về thành phần gia đình Việt Nam. Phó giáo sƣ Trần Đình Hƣợu dành hai chuyên mục trong tác phẩm Đến hiện đại từ truyền thống để bàn luận về gia đình Việt Nam. Đó là Gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hƣởng của Nho giáo, và Đổi mới cách quan niệm giải phóng phụ nữ - Nhìn lại gia đình truyền thống để chuẩn bị thiết thực cho các thiếu nữ vào đời. Điểm qua các công trình, chuyên mục nhƣ trên, chúng ta thấy một khoảng trống về nghiên cứu có thể bổ khuyết là khảo sát xem phong tục tập quán trong quan hệ gia đình ngƣời Việt đƣợc phản ánh qua tục ngữ, ca dao nhƣ thế nào? Cần nghiên cứu một cách tổng thể vấn đề này trong một công trình chuyên biệt để có cái nhìn toàn diện hơn, qua đó làm cho việc hiểu về gia đình ngƣời Việt cũng nhƣ tục ngữ, ca dao ngƣời Việt đƣợc sâu sắc hơn. Trong công trình này, chúng tôi vận dụng kết hợp nhiều phƣơng pháp nghiên cứu: phƣơng pháp nghiên cứu của các ngành văn học dân gian, xã hội học văn hóa, văn hóa học, phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành (văn hoá dân gian, văn học, xã hội học, dân tộc học…), phƣơng pháp thống kê, quy nạp, phƣơng pháp hệ thống. Vận dụng phƣơng pháp hệ thống, chúng tôi quan niệm rằng tục ngữ, ca dao nằm trong hệ thống văn học dân gian, đồng thời mỗi thể loại là một hệ thống riêng, và đi sâu hơn nữa, mỗi chủ đề lại là một hệ thống con, có cấu trúc với những nhân tố nội tại, tạo nên những chất tích hợp của chúng... Nghiên cứu tục ngữ, ca dao, bên cạnh việc tìm hiểu nội dung của từng đơn vị, chúng tôi cố gắng tìm ra những chất tích hợp từ hệ thống các chủ đề và chất tích hợp của toàn bộ hệ thống tục ngữ, ca dao.

10

Vận dụng phƣơng pháp thống kê, chúng tôi kết hợp giữa thao tác định tính là thao tác thông thƣờng của ngành nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, với thao tác định lƣợng là thao tác thông thƣờng của ngành nghiên cứu khoa học tự nhiên, để cố gắng đạt đƣợc sự chính xác trong nhận định, đánh giá đối tƣợng nghiên cứu. Phƣơng pháp thống kê ở đây phù hợp với đối tƣợng nghiên cứu, vì thƣờng tục ngữ, ca dao là những đơn vị nhỏ, hầu hết có cùng một kiểu cấu trúc. Chúng tôi đã ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện phƣơng pháp thống kê đƣợc triệt để, chính xác. Đây là phƣơng pháp hiện đại, yêu cầu ngƣời sử dụng phải có một số kiến thức tối thiểu về tin học, đồng thời phải cộng tác với những nhà chuyên môn về tin học để xây dựng hai phần mềm chuyên biệt về tục ngữ, ca dao. Hai phần mềm này quản lý cơ sở dữ liệu về tục ngữ, ca dao theo nhiều tiêu chí do ngƣời nghiên cứu quy định, trong đó quan trọng nhất là các tiêu chí về thể loại, chủ đề, nội dung và ghi chú. Phần ghi chú hết sức quan trọng, ghi đậm dấu ấn của ngƣời nghiên cứu, giúp ngƣời nghiên cứu phân loại chi tiết hơn tục ngữ, ca dao theo nhiều yêu cầu (nhƣ về nội dung, về thi pháp…) để rồi có thể tổng hợp nhanh chóng các câu tục ngữ, ca dao cùng một tiêu chí, làm cho việc thống kê về số lƣợng và việc nhìn nhận về chất lƣợng nội dung tục ngữ, ca dao đƣợc nhanh chóng và chính xác. Đối với văn hóa dân gian nhƣ tục ngữ, ca dao, dân ca, cổ tích... lâu nay chúng ta thƣờng vận dụng các phƣơng pháp có tính ƣớc lƣợng theo dự kiến sẵn có từ ngƣời nghiên cứu. Trong giới thiệu, nghiên cứu về tục ngữ, ca dao, mô hình chung thƣờng làm là đƣa ra một nhận định, lấy một vài đơn vị để chứng minh rồi phân tích đơn vị đƣợc dẫn và đi đến kết luận (thực ra kết luận đã có trƣớc khi khảo sát tƣ liệu, đây là một thao tác ngƣợc). Có thể mô hình hoá phƣơng pháp đó nhƣ sau:
Kết luận (theo hƣớng đã nhận định)

Nhận định

Dẫn chứng

Phân tích dẫn chứng

Ví dụ : Khi nhận định rằng ngƣời Việt bao dung, dễ tha thứ, có thể dẫn câu: "Ơn ai một chút chớ quên, oán ai một chút để bên dạ dày." Nhƣng nếu nhận định rằng ngƣời Việt ơn oán rạch ròi, có thể dẫn câu: "Ơn đền ơn, oán trả oán." Phải thống kê, so sánh giữa những câu nói lên sự bao dung và sự rạch ròi, thì mới có thể rút ra kết luận khách quan, chính xác. Có tác giả khẳng định "...ca dao Việt Nam đã chứng tỏ rằng trong quần chúng nhân dân, tƣ tƣởng

11

chống đối giai cấp phong kiến vẫn là tƣ tƣởng chủ đạo". [99:322]. Ý kiến trên có thể đúng hoặc không đúng. Tuy nhiên không có tƣ liệu số liệu để chứng minh. Trong khi đó, dùng phƣơng pháp thống kê trong hệ thống, với số liệu 5.682 câu ca dao nói về giao duyên nam nữ trong tổng số 11.825 câu ca dao đƣợc sƣu tầm, chiếm tỷ lệ 48%, thì có thể nói chắc chắn rằng giao duyên nam nữ là chủ đề chiếm ƣu thế trong ca dao. Văn hóa dân gian ở dạng nguyên hợp, đôi khi phức tạp, không thể nhặt ra một vài đơn vị theo sự lựa chọn của riêng ngƣời nghiên cứu mà nhận định rằng đó là những biểu hiện tiêu biểu cho tính dân tộc, tính Việt Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu thích hợp là tổng hợp từ một kho tàng văn hóa dân gian tƣơng đối đầy đủ, bằng thống kê, so sánh, thực hành thao tác định lƣợng cùng với thao tác định tính để rút ra những kết luận khách quan, khoa học. Trong mọi vấn đề, mọi chủ đề, để rút ra nhận xét và kết luận, chúng tôi đều dựa trên toàn thể các câu tục ngữ, ca dao thuộc chủ đề đó. Các ý kiến khác nhau hoặc đối lập nhau (phản ánh trong tục ngữ, ca dao), chúng tôi đều ghi nhận để xem xét, không đƣa ra những định kiến trƣớc. Nếu có ý kiến đối lập (phản ánh trong tục ngữ, ca dao), để xem ý kiến nào là chủ đạo, chúng tôi tính số lƣợng và tỷ lệ phần trăm. Để làm rõ hơn các nội dung giống nhau và khác nhau, chúng tôi đƣa ra các bảng thống kê, so sánh. Để chỉ tính chất của các hiện tƣợng thể hiện trong tục ngữ, ca dao, thay cho những loại từ chỉ mức độ nhƣ: rất, vô cùng, tƣơng đối, phần nào, ít, ít ỏi, hiếm thấy... chúng tôi diễn đạt bằng con số (trị số tuyệt đối và tỷ lệ). Chúng tôi không dừng ở con số, bảng, biểu... vì nhận thức rằng chúng tuy cụ thể nhƣng nhiều khi khô cứng, không phản ánh đầy đủ các khía cạnh của cuộc sống, nhất là cuộc sống tinh thần, tƣ tƣởng, tình cảm. Do đó, chúng tôi cũng rất coi trọng sự nhận xét, bàn luận bằng ngôn ngữ (định tính). Phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ trên rất phù hợp với loại hình tục ngữ, ca dao, là loại hình có các thành tố có cấu trúc tƣơng đối giống nhau, sự trùng hợp của các thành tố ấy có tần xuất tƣơng đối lớn. Điều này đã đƣợc các nhà nghiên cứu đi trƣớc chỉ ra nhƣ sau: "Công trình Hình thái học truyện cổ tích (xuất bản lần đầu năm 1928) của Prốp là một thể nghiệm thành công của việc áp dụng những phƣơng pháp nghiên cứu chính xác vào các khoa học nhân văn, vào việc giải mã các tác phẩm văn chƣơng nghệ thuật. Mặc dù biết khả năng to lớn của việc sử dụng các phƣơng pháp chính xác, Prốp vẫn thấy

12

rõ những giới hạn của chúng. Theo ông, những phƣơng pháp này "chỉ có thể đƣợc sử dụng và đem lại kết quả ở những nơi mà sự lặp lại có trong một phạm vi lớn. Điều này chúng ta có ở trong ngôn ngữ, điều này chúng ta có ở trong văn học dân gian" [Dẫn theo 151:138]. Chúng tôi đã khai thác một phần trong phần mềm Tục ngữ Việt Nam, Ca dao Việt Nam mà chúng tôi mới xây dựng để làm tƣ liệu cho công trình nghiên cứu này. Với khả năng quản lý tốt tƣ liệu, giúp phân loại, tra cứu nhanh và chính xác nhiều loại chủ đề và nội dung theo yêu cầu phức tạp của ngƣời nghiên cứu, phần mềm này sẽ là công cụ có ích cho việc nghiên cứu tục ngữ, ca dao với các đề tài còn lại. Lần đầu tiên tục ngữ, ca dao ngƣời Việt đƣợc nghiên cứu một cách hệ thống trên bình diện phong tục tập quán về gia đình với khối lƣợng khá lớn. Qua tục ngữ, ca dao, công trình làm nổi rõ tính chất dân chủ, bình đẳng, khoan hòa, nhân văn trong quan hệ gia đình ngƣời Việt. Tuy vậy, với khối lƣợng khá lớn tƣ liệu, với tính chất phức tạp của vấn đề nghiên cứu, chắc chắn rằng công trình không tránh khỏi những khiếm khuyết, mong bạn đọc lƣợng thứ.

13

CHƢƠNG MỘT TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ GIA ĐÌNH ĐƢỢC PHẢN ÁNH QUA TỄC NGỮ, CA DAO 1. NHỮNG QUAN NIỆM CHÍNH VỀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 1.1. Khái niệm gia đình Gia đình là một thực thể vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội, gắn bó với nhau thông qua quan hệ hôn nhân, thân tình và dòng máu để đáp ứng nhu cầu về tình cảm, bảo tồn nòi giống, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của cộng đồng và tộc ngƣời, góp phần nuôi dƣỡng nhân cách con ngƣời, phát triển kinh tế - xã hội, phản ánh sự vận động của cộng đồng và quốc gia trong tiến trình lịch sử. 1.2. Gia đình Việt Nam truyền thống Gia đình là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa Việt Nam. Mỗi tác giả tìm cách tiếp cận khác nhau về gia đình. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục khảo sát gia đình thông qua phong tục trong gia tộc, gồm các mục: Cha mẹ với con, anh em, chị em, thân thuộc, phụng sự tổ tông, đạo làm con, thƣợng thọ, sinh nhật, thần hoàng, tang ma, cải táng, kỵ nhựt, tứ thời tiết lập, giá thú, vợ chồng, vợ lẽ, cầu tự, nuôi nghĩa tử. Đáng chú ý là trong khi giới thiệu phong tục tập quán, tác giả thƣờng dẫn tục ngữ để minh chứng. Phan Kế Bính đã đƣa ra nhận xét nhƣ sau: trong quan hệ gia đình ngƣời Việt, hòa mục là điều hết sức quan trọng, đạo làm con phải trọng chữ hiếu, vợ chồng phải giữ chữ tiết nghĩa với nhau. Ông cũng phê phán một số biểu hiện tiêu cực đã thành tập tục trong quan hệ gia đình nhƣ trọng nam khinh nữ, đa thê... Trong Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình, tác giả Toan Ánh đi sâu vào đời sống gia đình, theo cách hiểu của học giả Đào Duy Anh: Gia đình chỉ "những ngƣời thân thuộc trong một nhà." [3:8]. Ông giới thiệu tóm tắt về thành phần gia đình Việt Nam và viết: "Qua các thành phần trên cho thấy rằng gia đình Việt Nam bao quát rất rộng, và mọi ngƣời đều có tình thân thuộc với nhau qua mọi thế hệ, không kể bởi họ nội, ngoại, nhiều khi bởi cả hai bên nội ngoại." [3:24-25]. Ở góc độ tiếp cận khác, Phó giáo sƣ Trần Đình Hƣợu đã xem xét Gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng Nho giáo và viết:

14

"Gia đình truyền thống Việt Nam chịu ảnh hƣởng Nho giáo sâu sắc, nhƣng tìm ảnh hƣởng đó không nên chỉ căn cứ vào lý thuyết Nho giáo, mà nên nhìn gia đình trong thể chế chính trị - kinh tế - xã hội tổ chức và quản lý theo Nho giáo, bị điều kiện hoá trong thể chế đó mà vận động phát triển. Theo chúng tôi, những điều kiện đó là: - Chế độ chuyên chế với quyền vƣơng hữu, quyền thần dân hoá toàn thể với nền kinh tế cống nạp. - Trật tự trên dƣới theo phân vị. - Tổ chức làng - họ. - Cuộc sống nông thôn và cung đình. - Sự giáo hoá sâu rộng về trách nhiệm với vua với nƣớc, về tình nghĩa gia đình, họ hàng, về lí tƣởng sống êm ấm, trên kính dƣới nhƣờng, về quyền ngƣời đàn ông, ngƣời cha, ngƣời chồng". [57:314] "Ảnh hƣởng Nho giáo đến gia đình truyền thống Việt Nam là lâu dài và liên tục cho đến khi Việt Nam thành thuộc địa cuả Pháp và xã hội Việt Nam bắt đầu Âu hoá. Nhƣng ảnh hƣởng đó cũng có khác nhau tuỳ từng thời kỳ, từng vùng và từng loại gia đình. Trong việc nghiên cứu gia đình truyền thống và ảnh hƣởng Nho giáo trong đó, cũng chỉ một vài loại gia đình thực sự có ý nghĩa". [57:315] Tác giả đã phân tích các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của nƣớc ta trƣớc đây để chỉ ra có bốn hạng ngƣời trong dân là sĩ, nông, công, thƣơng, nhƣng quan trọng nhất là nông và sĩ. Từ đó, ông "Phân biệt gia đình truyền thống Việt Nam thành hai loại lớn: quan hộ và dân hộ."[48:320]. Tác giả viết: "Trong xã hội trƣớc đây, nông dân và nhà nho có vai trò xã hội lớn nhất, gia đình nông dân và gia đình nhà nho cũng là tiêu biểu nhất. Gia đình nông dân, đặc biệt là gia đình trung nông, tiêu biểu cho cách tổ chức làm ăn sản xuất nông nghiệp nhằm tự túc và đóng góp cho làng nƣớc. Gia đình nhà nho tiêu biểu cho cách dùng lễ nghĩa xây dựng nền nếp trong nhà và ăn ở với họ hàng làng xóm." [57:320]. PGS. Nguyễn Từ Chi nghiên cứu sâu vào cơ cấu tổ chức làng xóm và nhận xét bƣớc đầu về gia đình ngƣời Việt, mà địa bàn chủ yếu là vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Với gia đình ngƣời Việt cổ truyền, Nguyễn Từ Chi nhấn mạnh đến loại mô hình gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân: “Gia tộc Việt, từ nông thôn đến thành thị, ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, cả trên khắp đất nƣớc, từ lâu cũng đã giải thể đến mức gia đình nhỏ rồi, thậm chí trong tuyệt

15

đại đa số các trƣờng hợp, là gia đình hạt nhân.”[15:181. Ông nhìn sâu vào tính chất của gia đình Việt cổ truyền nhƣ sau: “Tính chất phụ quyền của gia tộc Việt là điều đã đƣợc nhiều lần nhấn mạnh, với các nguyên lý chính làm khung cho nó: quyền uy tối cao của ngƣời cha với con cái, của ngƣời chồng đối với ngƣời vợ, đặc quyền thừa kế của con trai, đặc biệt của con trai trƣởng, vai trò quán triệt, có khi hầu nhƣ độc tôn của đàn ông chủ hộ trong mọi tổ chức ngoại gia đình... Tính chất phụ quyền ấy còn đƣợc tô đậm bởi nhiều thế kỷ giáo dục nhà Nho. Trên bình diện sinh hoạt cộng đồng của làng – xã, sự vắng mặt quá “lộ liễu” của phụ nữ trong cơ cấu tổ chức càng nói lên thế lép vế của họ. Tuy nhiên, nguyên lý, nhiều khi chỉ là nguyên lý, chỉ là biểu hiện của “cấu trúc hữu thức” cộng đồng. Xét lại vấn đề dƣới góc độ thực tế hơn của nền kinh tế tiểu gia đình, thì số phận ngƣời phụ nữ Việt đâu có hẩm hiu nhƣ thế.. Không phải chỉ vì họ là ngƣời tiếp tay đắc lực và không thể thiếu cho cha, cho chồng, trong lao động nông nghiệp nặng nhọc, mà còn (và chủ yếu?) bởi vì “luồng tiểu thƣơng rất phát đạt trong vùng châu thổ [và trung du Bắc Bộ – TT], thực ra là nằm trong tay phụ nữ. Nhƣ vậy, chính ngƣời phụ nữ mang về cho gia đình một phần thu nhập không phải không đáng kể, dƣới dạng tiền mặt, còn nông phẩm lại thể hiện khía cạnht tự cấp tự túc của nền kinh tế nông thôn.[192] Những tác phẩm đƣợc dẫn ra trên đây giúp chúng ta hình dung về tổ chức và tính chất gia đình Việt Nam truyền thống để có thể so sánh với các hình mẫu gia đình đƣợc tục ngữ, ca dao phản ánh. Xã hội Việt Nam cổ truyền có hai loại gia đình cơ bản: gia đình nông dân và gia đình nhà nho. Gia đình nông dân là một đơn vị sản xuất theo kiểu chồng cầy, vợ cấy, con trâu đi bừa. Gia đình nhà nho là gia đình theo kiểu bên anh đọc sách bên nàng quay tơ. Năm 1991, công trình Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam ( NXB Khoa học xã hội - Hà Nội- 1991) đã công bố 12 bài nghiên cứu về gia đình, cho chúng ta hình dung về sự biến đổi sâu sắc của gia đình truyền thống Việt Nam trong thời kỳ mới của lịch sử Việt Nam có chủ trƣơng đổi mới của Đảng ( năm 1986). Chúng ta biết rằng vào đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tăng cƣờng khai thác thuộc địa Việt Nam, xã hội Việt Nam phân tầng sâu sắc, quá trình Âu hoá diễn ra nhanh chóng ở các đô thị và có ảnh hƣởng nhất định vào nông thôn Việt Nam. Triều đình Huế đã chấm dứt việc thi cử bằng chữ Hán, Hán học bị

16

thất thế, Vũ Đình Liên với bài thơ Ông Đồ chia sẻ tâm trạng của cả xã hội Việt Nam đối với tầng lớp Nho sĩ thất thế. Xã hội Việt Nam xuất hiện nhiều giai tầng mới, trong đó có viên chức và công nhân. Ngày nay, từ kết quả của các công trình nghiên cứu về Nho giáo, chúng ta không phủ nhận ảnh hƣởng của hệ tƣ tƣởng Nho giáo đối với văn hóa gia đình ở Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế và xã hội cho nên mẫu hình truyền thống của gia đình Việt Nam có những nét rất khác với gia đình truyền thống ở Trung Quốc. Cũng vì vậy, tƣ tƣởng về gia đình của Nho giáo đã bị khúc xạ trong gia đình truyền thống ở Việt Nam. Ví dụ gia đình truyền thống của Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của họ tộc và thƣờng gia đình phát triển theo hƣớng gia đình nhỏ thành đại tộc. Trong xƣng hô, ngƣời Trung Quốc đƣa họ lên vị trí chủ yếu (Lƣu tiên sinh, Trần đại nhân...), tên ngƣời là phụ. Trong khi đó, ở Việt Nam, gia đình thƣờng ở quy mô nhỏ, cách xƣng hô thân mật hơn, nhấn mạnh tên ngƣời, đề cao tính cộng đồng “tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa mua láng giềng gần” chứ không đề cao tuyệt đối tộc họ, coi đó nhƣ là một đẳng cấp phân biệt trong xã hội. Những đặc tính nói trên đƣợc phản ánh rõ trong các mối quan hệ trong gia đình mà chúng tôi sẽ phân tích ở các chƣơng sau qua tục ngữ, ca dao. 2. KHÁI NIỆM TỤC NGỮ, CA DAO, PHONG TỤC, TẬP QUÁN Đã có nhiều nhà nghiên cứu đƣa ra các khái niệm về tục ngữ, ca dao, phong tục tập quán. Tuỳ từng góc độ chuyên môn, mỗi nhà nghiên cứu quan tâm đến những đặc tính này hay đặc tính khác của đối tƣợng để định nghĩa khái niệm, nhƣng nói chung đã tƣơng đối thống nhất ở những điểm cơ bản. Kế thừa quan niệm của các nhà khoa học đi trƣớc, chúng tôi nêu lên những khái niệm sát với hƣớng nghiên cứu của chúng tôi nhƣ sau: 2.1. Khái niệm tục ngữ Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian, đƣợc hình thành và sử dụng trong lời nói hàng ngày, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống, thƣờng ngắn gọn, có vần điệu, thành câu hoàn chỉnh, có chức năng thông báo, đƣợc phổ biến rộng rãi trong nhân dân. 2.2. Khái niệm ca dao Ca dao là một thể loại văn học dân gian, có tính trữ tình, có vần điệu (phần lớn là thể lục bát hoặc lục bát biến thể) do nhân dân sáng tạo và lƣu truyền qua nhiều thế hệ, dùng để miêu tả, tự sự, ngụ ý và chủ yếu diễn đạt tình cảm. Nhiều câu ca dao vốn là lời của những bài dân ca. Vào giai đoạn muộn về sau, ca dao cũng đƣợc sáng tác độc lập.

17

Cần nói thêm rằng giữa tục ngữ và ca dao có sự giao thoa nhất định. Có những trƣờng hợp tục ngữ dƣợc trình bầy dƣới hình thức ca dao (thể thơ lục bát); có những trƣờng hợp khó phân biệt là tục ngữ hay ca dao. 2.3. Khái niệm phong tục, tập quán trong quan hệ gia đình Phong tục, tập quán trong quan hệ gia đình là những thói quen đã thành nếp lâu đời, đƣợc lan truyền rộng rãi, ăn sâu trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình cũng nhƣ xã hội. Phong tục và tập quán khác nhau ở chỗ: Tập quán là thói quen hình thành trong các sinh hoạt mà con ngƣời tiếp thu đƣợc và tự giác thực hiện hành vi của mình. Phong tục là quy định bất thành văn mà cộng đồng ngƣời quy ƣớc với nhau có tính bắt buộc mọi ngƣời phải theo. Vì thế tục ngữ có câu "Nhập gia tùy tục". Ai làm trái quy ƣớc đó sẽ bị dƣ luận chê bai và ngƣời có quyền uy nhắc nhở. Ví nhƣ trong các cuộc giỗ họ, những ngƣời có thứ bậc ngang nhau đƣợc ăn cùng mâm. Một số làng đặt ra hƣơng ƣớc - đây là cách thức văn bản hoá phong tục để yêu cầu mọi ngƣời tuân thủ. Vì thế mới có câu "Phép vua thua lệ làng". 2.4. Mối quan hệ giữa tục ngữ, ca dao và phong tục tập quán Giữa tục ngữ, ca dao và phong tục tập quán có mối quan hệ hữu cơ, tƣơng hỗ. Phong tục, tập quán là cái đƣợc phản ánh, còn tục ngữ, ca dao là hình thức phản ánh của cái đƣợc phản ánh. Tục ngữ, ca dao xuất phát từ cuộc sống, phản ánh phong tục, tập quán, đúc kết thành kinh nghiệm và biểu bộ tình cảm theo quan niệm dân gian và trở lại tác động vào cuộc sống, góp phần phổ biến những phong tục tập quán tốt đẹp, phê phán những thói hƣ tật xấu trong xã hội. 3. NHỮNG Ý KIẾN CHÍNH XUNG QUANH CÁC MỐI QUAN HỆ TRONG GIA ĐÌNH NGƢỜI VIỆT ĐƢỢC PHẢN ÁNH QUA TỤC NGỮ, CA DAO Những nhà nghiên cứu đi trƣớc ít nhiều đã nghiên cứu về nội dung tục ngữ, ca dao theo các góc tiếp cận khác nhau. Đóng góp của họ là rất lớn, đã thúc đẩy ngành nghiên cứu văn học dân gian phát triển. Tuy vậy, việc phân tích sâu chủ đề phong tục tập quán về gia đình trong tục ngữ, ca dao chiếm tỉ trọng còn thấp trong những công trình khảo cứu về tục ngữ, ca dao nói chung. Từ năm 1969 đến năm 1971 và năm 2000 có hai công trình đi sâu vào nội dung tục ngữ, ca dao, đặc biệt là khảo sát khá kỹ các mối quan hệ của con ngƣời trong xã hội, đó là Thi ca bình dân Việt Nam (1969 - 1971) của Nguyễn

18

Tấn Long, Phan Canh và Đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt Nam (2000) của Nguyễn Nghĩa Dân. Chúng tôi xin lƣợc trích một số công trình nghiên cứu về tục ngữ, ca dao có liên quan đến chủ đề gia đình nhƣ sau: Trong Ca dao - dân ca- tục ngữ - vè, Hoàng Nhƣ Mai có bài Tình yêu và hạnh phúc gia đình trong thơ ca dân gian, Anh Biên có bài Quan niệm về con người trong tục ngữ, Lê Anh Hiền có bài Tục ngữ và ca dao Việt Nam với tình mẫu tử, trong đó các tác giả trình bày những biểu hiện tốt đẹp trong quan hệ gia đình đƣợc tục ngữ, ca dao phản ánh, nhấn mạnh đến vấn đề đáng quan tâm nhất là sự hoà thuận trong gia đình ngƣời Việt. Các soạn giả Thi ca bình dân Việt Nam (tập 2) đã khảo sát 6 vấn đề đặt ra: - Phong tục Việt Nam xuyên qua ca dao. - Quan niệm về chế độ gia đình. - Những vui buồn trong mƣu sinh. - Biến thái của tình cảm con ngƣời đối với sinh hoạt xã hội. - Tình yêu quê hƣơng dân tộc. - Ý thức đấu tranh của ngƣời bình dân qua các chế độ thống trị. Khái quát các nội dung trên, các tác giả nêu nhận định: "… dân chúng Việt Nam bị ách đô hộ ngƣời Tàu thống trị, nền tảng của triết thuyết Nho giáo ăn sâu vào xã hội Việt Nam, ảnh hƣởng vào mọi gia đình Việt Nam đến tận gốc rễ. Vậy sự chống đối của ngƣời bình dân đối với chế độ gia đình là sự chống đối giữa quan niệm ngƣời bình dân trƣớc mọi ảnh hƣởng ngoại lai của lý thuyết Khổng Mạnh." [73:161-162]. Vào năm 1940, Kinh Thi Việt Nam của Nguyễn Bách Khoa (Trƣơng Tửu) nói về quan hệ gia đình, về Chống nam quyền nhƣ sau: "Luân lý phụ quyền đặt ngƣời đàn ông lên địa vị chủ tể. Phụ nữ Việt Nam đã mỉa mai, giày đạp cái oai quyền ấy. Họ tìm đủ tính xấu của đàn ông đem ra trào phúng, để chứng rằng địa vị ƣu thắng của đàn ông không đƣợc họ công nhận." [52.103]. Qua ca dao, ông rút ra những tính xấu của đàn ông bị phụ nữ mỉa mai là: hoang đàng, đĩ thoã, phụ tình, và nhận định rằng ngƣời đàn bà đã nổi loạn, cố đạp đổ cái hình tƣợng đàn ông. Nguyễn Bách Khoa dành hai chƣơng Gia tộc phụ hệ và Chống nam quyền để phân tích về gia đình Việt Nam thể hiện qua ca dao:

19

"Đứa con không là gì hết, ngƣời đàn bà không là gì hết, con ngƣời không là gì hết. Cha là tất cả, chồng là tất cả, đàn ông là tất cả. Đó là chân lý phụ quyền của Nho giáo, mà giai cấp sĩ phu vẫn muốn dùng làm luân lý nền tảng của xã hội Việt Nam cũ, bởi nó rất thích hợp với chế độ quân quyền và kinh tế nông nghiệp, hai nguồn quyền lợi của giai cấp ấy. Nhƣng chế độ quân quyền với trạng thái nông nghiệp ở xứ ta cũng mang một hình thức đặc biệt không giống xã hội Trung Quốc. Cho nên chế độ gia tộc Việt Nam chỉ tiến đƣợc đến khuôn khổ phụ hệ là ngừng lại, không đủ điều kiện chuyển sang khuôn khổ phụ quyền tuyệt đối nhƣ ở Trung Hoa. Vì thế mà ở trong dân gian luôn luôn lƣu hành một sức chống nam quyền, chống phụ quyền, chống Nho giáo rất là mạnh mẽ." [63:102]. Trong tác phẩm Chống hôn nhân gia đình phong kiến trong ca dao Việt Nam (1960), Hằng Phƣơng viết: "Dƣới chế độ phong kiến, mặc dầu bị đàn áp thậm tệ, bị luân lý phong kiến mê hoặc, nhồi sọ, nhƣng những tƣ tƣởng chống đối vẫn nẩy nở và phổ biến rộng rãi trong câu ca tiếng hát dân gian." [122:1]. Tác giả nêu lên những nội dung có tính chất chống đối trong ca dao là: - Những nỗi lo âu và đau khổ của nam nữ thanh niên thời xƣa. - Cƣỡng ép hôn nhân. - Tảo hôn. - Đa thê - Cảnh góa bụa. - Mẹ chồng nàng dâu, mẹ ghẻ con chồng. - Không dân chủ trong gia đình. Vào năm 1960, viết nhƣ trong tiểu luận thể hiện một tinh thần chống đối phong kiến đáng trân trọng. Công trình nghiên cứu tuy còn sơ lƣợc nhƣng cũng đã nêu lên diện mạo phía trái của gia đình Việt Nam; tuy nhiên, nếu không nhìn sang phía phải, thì e rằng sẽ không tìm ra những truyền thống quý báu trong quan hệ gia đình ngƣời Việt để gìn giữ và phát huy. Nguyễn Nghĩa Dân chia tục ngữ, ca dao về đạo làm ngƣời thành hai loại: một loại về lao động, học tập, tu dƣỡng rèn luyện bản thân, và loại về đạo làm ngƣời trong quan hệ gia đình. Tác giả viết: "Tục ngữ, ca dao nêu bật truyền thống hiếu thảo của con đối với cha mẹ,"… "Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu đƣợc xem nhƣ một chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con ngƣời."[19:56].

20

"Tục ngữ, ca dao cũng không quên phê phán những hiện tƣợng bất hiếu đƣợc lƣu truyền nhƣ kinh nghiệm xấu..." "Cùng với quan hệ cha mẹ con cái là quan hệ anh chị em, gần gũi và tình nghĩa. Quan hệ ruột thịt thắt chặt mối quan hệ này..." [21:57]. "Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu và hòa thuận." [21:58]. Phần gia đình chỉ là một điểm (6 trang) trong chuyên luận trên bẩy chục trang, do đó chỉ nêu đƣợc những ý chính mang tính nhận định khái quát, không đi sâu phân tích, chứng minh. Trong khi phân tích, dẫn chứng, tác giả cũng trích dẫn tục ngữ, ca dao. Vũ Ngọc Phan viết: "Trong chế độ phong kiến, việc quy định tài sản đối với phụ nữ rất là khe khắt. Việc quy định ấy chủ yếu làm cho phụ nữ không bao giờ đƣợc độc lập về kinh tế, dù chính phụ nữ đã góp phần xây dựng kinh tế gia đình: Hỡi cô cắt cỏ đồng mầu! Chăn trâu cho khéo làm giầu cho cha. - Giàu thì chia bảy chia ba, Phận em là gái đƣợc là bao nhiêu! Trong 24 huấn điều của Lê Hiến Tông (1500) huấn điều thứ tám và thứ chín đã quy định về phụ nữ: "Khi chồng chết, phải thƣơng yêu con vợ trƣớc hoặc con vợ lẽ của chồng, nếu có gia tài, không đƣợc chiếm đoạt làm của riêng mình.", "Khi chồng chết mà mình chƣa có con, thì phải ở lại nhà chồng, giữ việc tang lễ, không đƣợc giấu giếm chuyển vận tài sản nhà chồng đem về nhà mình". [99:338]. "Nhƣng ca dao Việt Nam đã chứng tỏ rằng trong quần chúng nhân dân, tƣ tƣởng chống đối giai cấp phong kiến vẫn là tƣ tƣởng chủ đạo. Cho nên trong hôn nhân khi họ đã không ƣng thuận, thì họ cũng không kể gì giàu sang phú quý, và cũng không tin gì ở số mệnh:" [114:339]. Vũ Ngọc Phan còn đề cập đến những vấn đề khác trong quan hệ gia đình nhƣ: mâu thuẫn mẹ chồng - nàng dâu, chế độ đa thê, cảnh khổ lẽ mọn, đạo tam tòng trói buộc ngƣời phụ nữ. Giáo sƣ Đinh Gia Khánh viết: “Điều 307 Lê triều hình luật quy định rằng ngƣời chồng xa cách vợ năm tháng, không thăm hỏi đi lại thì có thể bị mất vợ. Đã có con với nhau rồi thì gia hạn từ năm tháng lên một năm. Nếu vì công sai (đi việc công) thì bất luật (tức là có thể vắng nhà lâu, không bàn tới kỳ hạn).

21

Nhƣ vậy là quyền lợi và hạnh phúc ngƣời phụ nữ đƣợc coi trọng và đƣợc bảo vệ, trái hẳn với quan niệm nam tôn nữ ty của Nho giáo. Điều lệ thi hành từ năm Hồng Đức thú hai (1471) quy định rất rõ quyền lợi của phụ nữ trong việc thừa kế gia sản.” …“Nhƣ vậy là trong gia đình, con gái cũng đƣợc coi bình đẳng nhƣ con trai. Thật là trái với quan niệm “nữ nhân ngoại tộc”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” theo lễ giáo của nho gia.” [61: 285]. Nguyễn Tấn Long và Phan Canh nhấn mạnh đến luật pháp của phong tục, nó khiến cho chế độ cai trị phải tôn trọng lề thói của địa phƣơng. Các tác giả liên hệ: ''Trong thi ca bình dân, những tầng lớp phụ nữ đã nối tiếp nhau qua nhiều thế hệ, nói lên ý thức chống đối của họ, cho nên, ngoài sự phát triển mức sống của hệ thống kinh tế, sự chống đối giữa ý thức cai trị và ý thức tục lệ chính là mầm mống phân chia trong hệ thống chính trị." [61:81]. Phân tích quan niệm về chế độ gia đình, các tác giả nêu ra 11 vấn đề là: - Ảnh hƣởng của chế độ phụ hệ. - Ý thức bất mãn trong chế độ phụ hệ. - Nỗi khổ cực trong sinh hoạt gia đình bình dân. - Ý thức bảo vệ và xây dựng gia đình. - Ý thức về giáo dục gia đình. - Những khắc khoải của tình yêu qua phong tục lễ giáo. - Hiếu đạo với ông bà, cha mẹ. - Tình anh em. - Tình vợ chồng. - Tình thân thuộc. - Tình làng xóm. Trong quá trình phân tích, các tác giả đã nêu lên ảnh hƣởng của chế độ phụ quyền vào gia đình ngƣời Việt, thể hiện ở ý thức của con ngƣời theo quan điểm Nho giáo: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, nghĩa là: ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con (trai). Trong Thi ca bình dân Việt Nam, các tác giả cũng phân tích theo ba nội dung của giáo lý tam tòng: “Theo phân tích trên, chúng ta căn cứ vào tục ngữ, ca dao Việt Nam để nhận xét, thì ngƣời Việt Nam không chống chế độ phụ hệ, mà chống chế độ phụ quyền." ... "Ngƣời đàn bà Việt Nam thƣơng chồng và theo chồng trên căn bản, không phải bị áp bức, bắt buộc, mà phát xuất từ tình thƣơng, ở

22

lòng mong mỏi xây dựng gia đình. Bởi vậy, chúng ta thấy trong tâm tƣ họ có cái gì tha thiết, nhƣ: Vai mang khăn gói theo chồng Đắng cay thiếp chịu, mặn nồng thiếp cam." [72:197-198]. Các tác giả nhận xét rằng ngƣời đàn bà bình dân đã chống lại chế độ phụ quyền bằng cách lật đổ hình tƣợng ngƣời đàn ông, chỉ rõ những thứ xấu xa của ngƣời đàn ông, phủ nhận ý thức tôn thờ ngƣời đàn ông: "Cho nên, nếu ngƣời đàn ông đem giá trị ngƣời đàn bà hạ nhục để khống trị9, thì ngƣời đàn bà cũng đem giá trị ngƣời đàn ông hạ nhục để chống lại. Trạng thái ấy phản ứng rất rõ rệt trong ca dao Việt Nam, ..." [72:203]. "Sự khinh miệt giữa ngƣời đàn ông và ngƣời đàn bà chứng tỏ ý thức chống đối mãnh liệt. Trong lúc chế độ phụ quyền bắt buộc ngƣời đàn bà phải sống theo đạo tam tòng, mà ngƣời đàn bà lại đem những thói hƣ, tật xấu của ngƣời đàn ông ra châm biếm, khác nào họ dùng những mũi tên độc bắn thẳng vào nền phong kiến, đập vỡ những áp bức, bất công mà gia đình Việt Nam đã chịu ảnh hƣởng xã hội Trung Quốc.” ... "Tình thƣơng của họ đã đặt lên trên quyền điều khiển của mẹ cha. Thực ra, không phải họ bất hiếu, hay quên ơn cha mẹ, mà chính vì họ cảm thấy chế độ phụ quyền đem đến cho đời sống họ những bất công, những thảm trạng mà chính họ phải gánh chịu hậu quả." [72:205]. ..."Tóm lại, giáo lý "tam tòng" của Khổng Mạnh đã bị đổ nát. Dòng lịch sử đấu tranh chống phụ quyền của ngƣời đàn bà chiến thắng, phá vỡ hoàn toàn cái hình tƣợng tôn thờ đàn ông. Trong khi chống phụ quyền, họ đã tỏ ra một thái độ cƣơng quyết cực đoan, trắng trợn. Họ đòi bình quyền với đàn ông về mọi phƣơng diện. Nhƣng, cƣơng quyết và cực đoan chƣa phải là lợi khí mầu nhiệm trong lịch sử đấu tranh của họ. Điều thành công là họ đã khéo lôi cuốn đàn ông, lớp ngƣời tân tiến, cùng đứng chung trong ý thức chống đối của họ để tạo thành một phong trào giải phóng phụ nữ." [72:220-221]. Nhận định trên đây có nét cực đoan, đã đối lập tuyệt đối ngƣời đàn ông với ngƣời đàn bà. Về phƣơng pháp tiếp cận nội dung ca dao, không nên coi những nội dung chống lại ngƣời đàn ông là của riêng ngƣời đàn bà, vì đó, chính xác hơn, là ý thức phê phán của cả cộng đồng đối với những thói hƣ tật
9

Tác giả dùng khống trị chứ không phải là thống trị.

23

xấu trong xã hội. Mặt khác, chống phụ quyền không phải bằng cách bêu xấu ngƣời đàn ông, cũng không phải bêu xấu ngƣời đàn ông là nhằm chống phụ quyền. Đúng ra, đó là sự nhìn nhận khách quan của các tác giả dân gian, không bị ràng buộc bởi ý thức phụ quyền cực đoan, đã phê phán đúng những biểu hiện xấu xa của một số ngƣời đàn ông trong xã hội. Về mặt thi pháp, không nên phân tích nhân vật và hình tƣợng trong tục ngữ, ca dao theo cách phân tích của văn học thành văn, bởi vì văn học thành văn là sản phẩm của một cá nhân, mỗi tác phẩm là một sản phẩm riêng biệt, nhân vật, hình tƣợng trong đó mang tính độc lập tƣơng đối, có thể đƣợc nhìn nhận một cách độc lập; trong khi đó tục ngữ, ca dao là tác phẩm của tập thể, thể hiện ý thức của cả một cộng đồng, không những thế lại đƣợc hình thành và hoàn thiện trong cả một quá trình lịch sử, cũng vì vậy, từng đơn vị tục ngữ, ca dao dù có khả năng đứng độc lập vẫn có mối quan hệ mật thiết với nhau, muốn nhìn nhận chính xác những vấn đề mà nó đề cập thì phải nghiên cứu một cách tổng thể theo hệ thống. Cho nên cách phân tích nhân vật ngƣời đàn bà nhƣ trên là không phù hợp. Về ý thức bảo vệ, xây dựng gia đình, các tác giả của Thi ca bình dân Việt Nam viết rằng dân tộc Á Đông coi trách nhiệm đối với gia đình là bổn phận thiêng liêng, ý thức ấy đƣợc thể hiện mạnh mẽ trong ca dao: "Về ý thức gia đình họ (tức ngƣời bình dân) không cho yếu tố tài năng là căn bản, mà cho yếu tố hòa thuận là quan trọng thì đó chính là một triết lý sâu xa mà chúng ta không thể xem thƣờng." "Muốn tạo hòa khí gia đình, vợ chồng thƣờng lấy sự nhịn nhục làm đầu." ..."Tuy nhiên, thời xƣa dƣới chế độ phụ quyền của nền móng phong kiến, ngƣời đàn bà bị lắm điều áp chế, thành thử ý thức nhịn nhục chỉ có trong ngƣời vợ." [72:283]. Về những khắc khoải của tình yêu qua tập tục lễ giáo, có những ý chính nhƣ sau: "Quyền cha mẹ định đoạt số phận yêu đƣơng của con chính là nguyên nhân phát sinh những tâm hồn khắc khoải của nam nữ thanh niên thời bấy giờ." [72:336]. "Tóm lại, đối với phong tục lễ giáo, ngƣời bình dân bao giờ cũng cố sức bảo vệ và duy trì. Chính nhờ sự bảo vệ và duy trì ấy mà ngày nay nƣớc Việt Nam ta còn đƣợc những mầu sắc dân tộc.” [72:342-343]. Về tình vợ chồng, các tác giả viết: "Trƣớc nhất, chúng ta thƣờng thấy trong ca dao Việt Nam, ngƣời bình dân quan niệm sự sống chung giữa vợ chồng là một cái "đạo". [72:491]. Các tác giả đã phân tích khá tỷ mỉ các mối

24

quan hệ của tình vợ chồng khi gần gũi, khi sóng gió, khi xa cách, rồi đi đến kết luận: "Tóm lại, đối với tình vợ chồng, ngƣời bình dân gọi là cái đạo. Cái đạo theo quan niệm của họ là bình đẳng, tƣơng thân và chung thủy, khác với đạo "tam tòng" của Khổng Mạnh. Trong lúc đạo "tam tòng" tƣớc đoạt hết quyền của ngƣời đàn bà, bắt ngƣời đàn bà phải sống lệ thuộc vào đàn ông, tạo trong gia đình quý tộc sự bất bình đẳng, thì đạo vợ chồng của ngƣời bình dân ngƣợc lại dùng ý thức sinh hoạt làm nghĩa vụ, khiến cho nền tảng bình đẳng đƣợc bảo vệ và duy trì. Và ý thức dân chủ cũng chính là ý thức của gia đình bình dân thuở xƣa." [72:418]. Nói về gia đình nhà nho, Phó giáo sƣ Trần Đình Hƣợu đã nhận xét: "Tuy thế, trong những gia đình gia thế, tay hòm chìa khoá lại là ở ngƣời đàn bà, ngƣời chồng giao hết tiền nong cho vợ và không bao giờ kiểm soát sự chi tiêu của vợ. Ngƣời đàn bà đƣợc coi là nội tƣớng, chủ phụ, tuy về danh nghĩa là nghe theo lời chồng, giúp chồng, nhƣng thực tế thì là ngƣời chủ trì việc nhà."[57:330-331], "Nhƣng quan hệ giữa nam nữ phải hình dung theo quan hệ giữa âm và dƣơng, có chủ có tùng, không thể thiếu nhau và phải dựa vào nhau. Một bên sinh một bên dƣỡng, một bên bắt đầu, khởi xƣớng, một bên hoàn thành, hỗ trợ cho nhau. Cho nên trong nhà đàn ông là chủ, đàn bà phải thuận tùng, nhƣng đàn ông phải yêu thƣơng kính nể vợ."[57:331]. Nhà giáo Nguyễn Nghĩa Dân nghiên cứu một cách tổng thể tục ngữ, ca dao theo phƣơng pháp nghiên cứu văn học dân gian, và đặc biệt là phƣơng pháp quy nạp, để luận bàn về đạo làm ngƣời đƣợc thể hiện qua tục ngữ, ca dao: "Kinh tế nƣớc ta chủ yếu là nông nghiệp, gia đình vừa là đơn vị lao động vừa là tế bào của tổ chức xã hội, lại đề cao phụ quyền nên ở gia đình có nhiều "công thức" về đạo làm ngƣời do giai cấp phong kiến thống trị áp đặt nhƣ phụ: từ, tử: hiếu, phu: xƣớng, phụ: tùy, tam tòng, tứ đức; trọng nam, khinh nữ. Trong gia đình cũng có những thành kiến về "bà gia10 nàng dâu", về "dì ghẻ con chồng", về "anh em rể, chị em dâu", về "ông chú mụ o"... làm cho quan hệ gia đình thêm phức tạp. Gia đình rồi dòng họ trở thành cơ sở vững chắc ở nông thôn, từ đó có những quan hệ hẹp hòi "Một giọt máu đào hơn ao nƣớc lã", "Chín đời họ mẹ còn hơn ngƣời dƣng". Tục ngữ về đạo làm ngƣời một mặt làm nhiệm
10

Từ bà gia do tác giả viết theo phƣơng ngữ, có nghĩa là mẹ chồng.

25

vụ phản ánh, mặt khác đấu tranh chống lại những tập tục thành kiến nói trên" [21:24]. Nói đến giai đoạn thế kỷ XV, tác giả nhận định: “Chính trong thời kỳ này, tục ngữ về đạo làm ngƣời chịu ảnh hƣởng tƣ tƣởng nhân văn của Nho giáo và Phật giáo có thể thẩm thấu từ trên xuống hoặc hoặc từ ngoài vào do trí thức Nho hoặc Phật (kể cả nho sĩ bình dân) làm chức năng sáng tác, đúc kết hoặc truyền đạt." [21:25]. "Cho nên, trƣớc kia cũng nhƣ hiện nay, trong đạo làm ngƣời của Việt Nam vẫn tồn tại những tƣ tƣởng nhân văn của đạo đức Á Đông nhƣng điều cần xác định là qua tục ngữ hoặc ca dao về đạo làm ngƣời, những tƣ tƣởng đó đã đƣợc Việt hóa, hòa vào bản sắc dân tộc, vào tinh hoa văn hóa chung về dựng nƣớc và giữ nƣớc hình thành từ hàng nghìn năm qua." [21:26]. "Tục ngữ, ca dao Việt Nam về đạo làm ngƣời thể hiện không chỉ tƣ tƣởng, đạo đức mà còn thể hiện đậm nét lối sống trong đó nổi lên nếp sống cộng đồng, tình nghĩa của dân tộc với tinh thần khoan dung, gắn bó đoàn kết, tạo nên sức mạnh to lớn để dựng nƣớc và giữ nƣớc." [21:27]. "Nếp sống cộng đồng, tình nghĩa nói trên của dân tộc ta bắt nguồn từ những điều kiện kinh tế nông nghiệp lâu đời, đồng thời cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội thƣờng xuyên phải đối phó với thiên tai và ngoại xâm". [21:28]. "Quan hệ dọc trong gia đình là chữ hiếu, quan hệ ngang là chữ đễ, quan hệ vợ chồng là chữ thuận, quan hệ con cháu đối với ông bà tổ tiên là thờ kính, "Uống nƣớc nhớ nguồn"... "Cách xử lý trong gia đình bắt nguồn từ sự thƣơng yêu, hòa hợp." [21:29]. "...trong quan hệ nếp sống cộng đồng ta cũng có những hạn chế nhƣ gia trƣởng, cục bộ địa phƣơng, hủ tục, mê tín dị đoan... là những nhƣợc điểm cần loại trừ khỏi đời sống hiện nay." [21:32]. Tác giả chia tục ngữ, ca dao về đạo làm ngƣời thành hai loại: một loại về lao động, học tập, tu dƣỡng rèn luyện bản thân và loại về đạo làm ngƣời trong quan hệ gia đình. Tác giả viết: "Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu đƣợc xem nhƣ một chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con ngƣời." [21:56]. "Tục ngữ, ca dao cũng không quên phê phán những hiện tƣợng bất hiếu đƣợc lƣu truyền nhƣ kinh nghiệm xấu..."

26

"Cùng với quan hệ cha mẹ con cái là quan hệ anh chị em, gần gũi và tình nghĩa. Quan hệ ruột thịt thắt chặt mối quan hệ này..." [21:57]. "Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu và hòa thuận." [21:58]. Nhìn chung, phần gia đình chỉ là một điểm (6 trang) trong công trình khảo luận trên bẩy chục trang, do đó chỉ nêu đƣợc những ý chính mang tính nhận định khái quát. Tác phẩm còn có phần sƣu tập, lựa chọn, giải thích tục ngữ, ca dao Việt Nam về đạo làm ngƣời theo 4 chuyên mục, trong đó có chuyên mục thứ hai là Tục ngữ, ca dao về đạo làm ngƣời trong quan hệ gia đình. Trong Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua một số ca dao - tục ngữ, Trần Thúy Anh đề cập đến thế ứng xử theo một tuyến mở rộng từ gia đình, qua họ hàng – làng xóm – vùng miền - đất nƣớc. Theo định hƣớng “tiếp cận văn học dân gian từ ngả đƣờng văn hoá học”, tác giả rút ra mấy thế ứng xử: có một tinh thần nhân văn dân gian, sự ứng biến, tính dung hợp – hoà hợp – khoa học, thế ứng xử nƣớc đôi, lƣỡng tri, đa tri, hành vi tình nghĩa, ứng xử bằng tình nghĩa. Điểm lại nhƣ trên và so sánh, chúng tôi nhận thấy giữa các nhà nghiên cứu có sự không thống nhất trong nhận định về sự kiềm tỏa của Nho giáo trong đời sống xã hội (một bên coi sự ảnh hƣởng của Nho giáo vào xã hội Việt Nam là sâu và rộng, tới tận gốc rễ, một bên coi sự ảnh hƣởng ấy bị hạn chế nhiều). Theo chúng tôi, không thể nói nhƣ các tác giả Thi ca bình dân Việt Nam: "...nền tảng của triết thuyết Nho giáo ăn sâu vào xã hội Việt Nam, ảnh hƣởng vào mọi gia đình Việt Nam đến tận gốc rễ." [73:197]. Chúng tôi đồng tình với nhận định của Quang Đạm và Phó giáo sƣ Trần Đình Hƣợu: Quang Đạm nói rằng sự kiềm tỏa của Nho giáo bị hạn chế khi đi sâu xuống các cơ tầng xã hội ở bên dƣới. Phó giáo sƣ Trần Đình Hƣợu cũng đã viết: "Nho giáo ảnh hƣởng sâu đến loại gia đình nhà nho, nhƣng cũng thấm vào toàn bộ xã hội, tức là ảnh hƣởng đến cả gia đình nông dân ở một số mặt. Cả hai loại gia đình đó cho ta thấy hình ảnh chung của gia đình truyền thống Việt Nam." Với những cách chia nhóm phân loại, lƣợc giải trên đây, chúng tôi thấy có hai điểm nổi bật là: - Thứ nhất, về phong tục tập quán Các tác giả nêu những ý chính là: Chế độ phụ quyền rộng rãi. Trọng nam khinh nữ, quyền ngƣời chồng bao giờ cũng nặng hơn quyền ngƣời vợ. Tục vợ lẽ cũng là một tục trái với văn minh đời nay. Thích con trai. Trên kính dƣới nhƣờng, ở cho trong ấm ngoài êm, lấy hoà mục làm đầu. Dựng gia tộc là một việc làm đƣợc chú trọng. Nhƣng gia đình quây quần với nhau thì nghĩa khí

27

hẹp, kiến thức hẹp hòi, không bằng đƣợc ngƣời có giao tiếp rộng rãi. Phụng sự tổ tiên rất thành kính. Đạo làm con: hiếu thảo - biết kính trọng, thƣơng mến, biết vâng lời, biết phụng dƣỡng cha mẹ. Sự báo hiếu cho cha mẹ ở nghi lễ tang ma lạc hậu phiền quá thể, ăn uống theo kiểu trả nợ miệng, làm cho nhiều ngƣời khổ vì hủ tục. Đạo vợ chồng cƣ xử với nhau, trọng nhất là hai chữ hoà thuận. Ngƣời chồng trọng nhất là phải giữ nghĩa với vợ, mà vợ thì phải giữ tiết hạnh với chồng. Phụ nữ phải đủ tứ đức mới gọi là hiền, lại có nghĩa tam tòng nữa. Nghĩa vụ của ngƣời chồng đối với vợ thì chỉ ăn ở cho đúng đắn, biết thƣơng yêu, quý trọng vợ, nhất là có tài trí, khiến cho vợ đƣợc nƣơng nhờ. Vợ chồng đồng tâm hiệp lực. Gia đình là nền tảng của xã hội, có gia đình mới có xã hội. Ở Việt Nam, gia đình là một nền tảng vững chắc của xã hội. Gia đình Việt Nam bao quát rất rộng, mọi ngƣời đều có tình thân thuộc với nhau qua mọi thế hệ, không kể bởi họ nội, ngoại, nhiều khi bởi cả hai bên nội ngoại. Nhìn tổng quát, tuy chƣa đi sâu theo chuyên đề gia đình, nhƣng những tác phẩm đƣợc dẫn trên đây đều đã nêu lên những đặc trƣng chính của gia đình ngƣời Việt. - Thứ hai, về nội dung tục ngữ, ca dao Thông qua việc khảo sát tục ngữ, ca dao, các tác giả phân tích về quan niệm, cách ứng xử, những biểu hiện trong phong tục tập quán của ngƣời Việt xung quanh vấn đề gia đình trên những nội dung lớn là ảnh hƣởng của chế độ phụ hệ, phụ quyền và triết thuyết Khổng Mạnh vào gia đình Việt Nam, sự chống lại triết thuyết ấy, những nội dung chung về gia đình, quan hệ cha mẹ con, quan hệ vợ chồng, quan hệ anh chị em. Các tác giả nhận định chế độ phụ quyền có ảnh hƣởng đến gia đình Việt Nam, đã tạo điều kiện cho ý thức tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử thâm nhập. Những biểu hiện chính của thái độ chống lại triết thuyết Khổng Mạnh, theo các tác giả, là: + Ngƣời phụ nữ chống lại chế độ phụ quyền rất mạnh mẽ, họ mỉa mai, nổi loạn, đạp đổ oai quyền đàn ông. Đem thói hƣ tật xấu của ngƣời đàn ông ra châm biếm, đó cũng là cách tấn công vào chế độ phong kiến. + Tình thƣơng của ngƣời phụ nữ đặt lên trên quyền điều khiển của mẹ cha, nhƣng sự chống đối về ý thức “tại gia tòng phụ” không quyết liệt lắm. + Lôi kéo đàn ông, tạo thành phong trào giải phóng phụ nữ. Về những đặc tính của gia đình ngƣời Việt, các tác giả nêu:

28

+ Những nét chung nhất là: Tƣơng thân tƣơng ái. Muốn tạo hoà khí gia đình thì cách ứng xử phổ biến là nhịn nhục, nhƣng chỉ có phụ nữ nhịn nhục. Không lấy tình yêu trai gái làm yếu tố chính cho tình cảm gia đình, mà lấy tình cảm sinh hoạt làm căn bản. Gia đình là cơ sở giáo dục con ngƣời. Ngƣời dân Việt đã bảo vệ phong tục lễ giáo, nhờ thế mà ngày nay ta còn đƣợc những mầu sắc dân tộc. Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu đƣợc xem nhƣ một chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con ngƣời. Ngày nay, đạo thờ cúng tổ tiên còn đƣợc duy trì và tồn tại chính là nhờ ý thức hiếu đạo của ngƣời bình dân. Gia đình rồi dòng họ trở thành cơ sở vững chắc ở nông thôn, từ đó có những quan hệ hẹp hòi. Trong đạo làm ngƣời của Việt Nam vẫn lƣu giữ những tƣ tƣởng nhân văn của đạo đức Á Đông nhƣng điều cần xác định là qua tục ngữ, ca dao, những tƣ tƣởng đó đã đƣợc Việt hóa, hòa vào bản sắc dân tộc, góp phần tạo ra tinh hoa văn hóa chung từ thời dựng nƣớc, trải qua hàng nghìn năm hình thành và phát triển. Tục ngữ, ca dao Việt Nam thể hiện không chỉ tƣ tƣởng, đạo đức mà còn thể hiện đậm nét lối sống, trong đó nổi lên nếp sống cộng đồng, tình nghĩa của dân tộc với tinh thần khoan dung, gắn bó đoàn kết, tạo nên sức mạnh to lớn để dựng nƣớc và giữ nƣớc. Quan hệ dọc trong gia đình là chữ hiếu, quan hệ ngang là chữ đễ, quan hệ vợ chồng là chữ thuận, quan hệ con cháu đối với ông bà tổ tiên là thờ kính, "Uống nƣớc nhớ nguồn”. Cách xử lý trong gia đình bắt nguồn từ sự thƣơng yêu, hòa hợp. Tình nghĩa là chất keo sơn gắn bó mọi thành viên trong một gia đình, một địa phƣơng và trong cả nƣớc, tạo nên sự cố kết vững chắc. "Nghĩa" là một giá trị đạo đức có trong luân lý Khổng Mạnh nhƣng "nghĩa tình" lại là sáng tạo mang bản sắc dân tộc Việt. Tình nghĩa làm cho quan hệ giữa ngƣời với ngƣời Việt Nam bền chặt trong từng cộng đồng, từ gia đình đến xã hội. Nếp sống cộng đồng, tình nghĩa nói trên của dân tộc ta bắt nguồn từ những điều kiện kinh tế nông nghiệp lâu đời, đồng thời cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội thƣờng xuyên phải đối phó với thiên tai và ngoại xâm. Trong quan hệ nếp sống cộng đồng Việt cũng có những hạn chế nhƣ gia trƣởng, cục bộ địa phƣơng, hủ tục, mê tín dị đoan... Cùng với xu hƣớng phản phong của văn học dân gian Việt Nam, tục ngữ, ca dao về đạo làm ngƣời chống lại những thói hƣ tật xấu, những hành vi vô đạo đức, phê phán những hiện tƣợng bất hiếu đƣợc lƣu truyền nhƣ kinh nghiệm xấu, cần phải khắc phục... + Về mối quan hệ cha mẹ con: Tục ngữ, ca dao nhấn mạnh quan hệ mẹ con, ghi lại thiên chức và tình cảm của ngƣời mẹ. Tục ngữ, ca dao cũng nêu đƣợc truyền thống hiếu thảo của con đối với cha mẹ. Có tác giả khẳng định rằng qua tục ngữ, ca dao thấy quyền cha mẹ định đoạt số phận yêu đƣơng của

29

con. Tục ngữ, ca dao phê phán những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ của con đối với mẹ. + Về mối quan hệ vợ chồng: Tục ngữ, ca dao cho ta thấy rằng trong quan niệm của ngƣời Việt, chung sống vợ chồng là một đạo lý. Vì vậy quyền hạn giữa ngƣời chồng và ngƣời vợ không phải chỉ có một chiều mà phải đặt trên tính chất tƣơng ứng và bình đẳng. Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu và hòa thuận. Ngƣời phụ nữ Việt theo chồng, nhƣng không theo kiểu “tòng phu” của Nho giáo, không phải theo để hầu hạ, mà để chia sẻ niềm vui, là nghĩa vụ tƣơng thân tƣơng ái và bình đẳng xây dựng trên ý thức đồng lao cộng lực, chung thủy, khác với đạo "tam tòng" của Khổng Mạnh. Ngƣời phụ nữ Việt Nam thƣơng chồng và theo chồng trên căn bản, không phải bị áp bức, bắt buộc, mà phát xuất từ tình thƣơng, từ lòng mong mỏi xây dựng gia đình. Trong luật lệ của triều đình phong kiến, có một số trƣờng hợp, nhƣ Lê triều hình luật có những điều khoản tỏ ra coi trọng phụ nữ. + Về mối quan hệ anh chị em: Trong tục ngữ, ca dao, tình anh em đƣợc nói tới ít, nhƣng cũng thiết tha. Quan hệ anh em có khi bị ý thức tƣ hữu chi phối, nhƣng tình huyết thống vẫn giữ một vai trò thiêng liêng. 4. NHÂN TỐ TÁC GIẢ CỦA TỤC NGỮ, CA DAO VỀ QUAN HỆ GIA ĐÌNH. Tác giả của tục ngữ, ca dao chủ yếu là nông dân. Xã hội Việt Nam trƣớc tháng 8 năm 1945 có tới 95% dân chúng mù chữ. Ngƣời đƣợc học chữ Hán hay chữ quốc ngữ thời ấy không nhiều, hay nói đúng là quá ít ở nông thôn Việt Nam. Phƣơng thức sáng tác ngẫu hứng, truyền miệng trong môi trƣờng sinh hoạt dân dã sản sinh những câu ca dao chan chứa tình cảm và hàm chứa nhiều tâm sự. Phƣơng thức canh tác nông nghiệp cổ truyền, những luật tục của họ tộc, làng quê trong một xã hội tiến triển chậm chạp là môi trƣờng nẩy sinh những câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm của con ngƣời đối với tự nhiên, xã hội và gia đình để truyền lại các các thế hệ kế tiếp. Tuy nhiên, nếu khảo sát hàng nghìn câu ca dao, tục ngữ còn lƣu giữ đến hôm nay, chúng ta dễ dàng nhận ra vai trò của những nhà nho trong việc sáng tác và phổ biến những câu ca dao, tục ngữ. Cũng cần nói thêm rằng ở một số bài viết về tác giả của tục ngữ và ca dao, một số nhà nghiên cứu đã minh chứng về sự hiện diện của tầng lớp nho sĩ trong các cuộc hát ví phƣờng vải, những bài diễn ca tế thần, hát trống quân... Cũng không là ngoại lệ trong số 730 câu tục ngữ và 1.179 câu ca dao nói về gia đình có ghi dấu ấn của nhà nho. Điều này thể hiện ở chỗ họ đã đƣa những câu tục ngữ, thành ngữ của Trung Quốc, những châm ngôn của Nho

30

giáo thành tục ngữ, ca dao của ngƣời Việt. Nhƣ "phu xƣớng, phụ tuỳ", "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử", "phu quí, vợ vinh", "Trai làm nên năm thê bảy thiếp, gái làm nên thủ tiết thờ chồng", "Hổ phụ sinh hổ tử", "Hiếu thuận hoàn sinh hiếu thuận tử, ngỗ nghịch hoàn sinh ngỗ nghịch nhi", "Anh thuận em hòa là nhà có phúc", "Quyền huynh thế phụ",... Dấu ấn của nhà nho còn in đậm trong những câu ca dao nói về sinh hoạt gia đình, mà đặc biệt là những gia đình nhà nho lấy việc học hành, thi cử làm trọng: - Ai đi đợi với tôi cùng Tôi còn sắp sửa cho chồng đi thi Chồng tôi quyết đỗ khoa này Chữ tốt nhƣ rắn, văn hay nhƣ rồng Bõ khi xắn váy quai cồng Cơm niêu nƣớc lọ nuôi chồng đi thi. - Một chữ kinh mẹ, một chữ thờ cha Dẫu mà trăng xế, bóng anh qua cũng đành. Nhƣ vậy, rõ ràng là với tƣ cách tác giả dân gian, nhà nho đã dân gian hóa Nho giáo. Trong số các nhà nho, chúng ta cần chú ý đến các nhà nho cấp thấp, họ là hàn nho, những ngƣời đèn sách theo nghiệp thi cử nhƣng không đỗ đạt đành phải quay về làng, sống với làng. Do có chữ nghĩa nên đƣợc dân làng kính trọng và họ tham gia vào các sinh hoạt văn hóa của gia đình, làng xóm, thực hành phổ biến tƣ tƣởng Nho giáo, cả cái tích cực và tiêu cực của tƣ tƣởng đó. Phó Giáo Sƣ Nguyễn Từ Chi đã nêu lên những nhận xét xác đáng về tầng lớp Nho sĩ ở nông thôn nhƣ sau: Các nhà Nho mà kiến thức sách vở tạo ra một uy thế lớn trƣớc một dân chúng gồm những nông dân hầu đều mù chữ tự tập họp thành một tầng lớp xã hội riêng, có trẻ cũng từ thế kỷ XVII. Về mặt kinh tế, tầng lớp ấy không tách lhỏi nông dân, trái lại, rất gắn bó với nông dân. Quả vậy, trừ một số ít nhờ thi đỗ mà ra làm quan, đại đa số các nhà Nho vẫn tiếp tục sống tại làng mình cuộc sống khổ ải của ngƣời nông dân thƣờng lấy nghề dạy học làm lẽ sống. ẤY thế mà chính cái đa số vô danh đó, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, đã du nhập sâu vào nông thôn, vào từng xóm, từng nhà một, không chỉ mô hình Nho giáo, mà cả nền đạo lý hàng ngày thoát thai từ những lời dạy của Khổng Tử. [329]

31

Vì thế, khi tiếp cận tục ngữ, ca dao nói về quan hệ gia đình, chúng ta dễ dàng tìm ra nhiều câu truyền bá tƣ tƣởng Nho giáo bên cạnh những câu phản kháng. Từ đó chúng ta hiểu rõ thêm tính hai mặt của triết lý sống dân gian. TIỂU KẾT Chúng tôi đã nêu lên những định nghĩa khái niệm về gia đình, tục ngữ, ca dao, phong tục tập quán trong quan hệ gia đình để thống nhất hƣớng lựa chọn tƣ liệu, hƣớng tiếp cận nội dung và phƣơng pháp phản ánh của tục ngữ, ca dao. Chúng tôi phân tích một số công trình chính trong nƣớc có đề cập đến gia đình truyền thống Việt Nam để làm chỗ dựa cho sự so sánh sau này khi khảo cứu tục ngữ, ca dao ngƣời Việt về gia đình. Với quan niệm tục ngữ, ca dao, cũng nhƣ văn học nói chung, là tấm gƣơng phản chiếu hiện thực, cho nên thông qua tục ngữ, ca dao, chúng tôi tìm ra những nét đặc trƣng của gia đình ngƣời Việt truyền thống, qua đó góp phần tìm hiểu bản sắc dân tộc Việt. Khảo sát những tác phẩm đã viết về tục ngữ, ca dao xoay quanh chủ đề gia đình, chúng tôi chia ra hai loại ý kiến chính: - Loại ý kiến thứ nhất nhận định: trong xã hội phong kiến, do ảnh hƣởng sâu sắc đến tận gốc rễ của Nho giáo, và sự kiềm toả nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến, các mối quan hệ trong gia đình, đặc biệt là quan hệ vợ chồng, hết sức căng thẳng, hôn nhân trong xã hội phong kiến không mang lại hạnh phúc gia đình. Chống lại chế độ hà khắc ấy, ngƣời đàn bà đã nổi loạn, đạp đổ hình tƣợng ngƣời đàn ông. - Loại ý kiến thứ hai nhận định: sự ảnh hƣởng của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam tuy sâu sắc nhƣng cũng bị hạn chế, nhất là đối với gia đình nông dân, cho nên trong quan hệ gia đình ngƣời Việt có nhiều yếu tố dân chủ, bình đẳng. Cuối cùng, chúng tôi đƣa ra một vài kiến giải về vai trò của nhà nho bị thất thế sống ở làng quê trong việc sáng tác các câu tục ngữ, ca dao phản ánh phong tục, tập quán trong quan hệ gia đình của ngƣời Việt, và nội dung của những câu này bị ảnh hƣởng nhất định của tƣ tƣởng Nho giáo.

32

CHƢƠNG HAI NHỮNG QUAN HỆ CHÍNH TRONG GIA ĐÌNH NGƢỜI VIỆT THỂ HIỆN QUA TỤC NGỮ Sau khi thu thập và nhập 7.040 câu tục ngữ vào phần mềm, chúng tôi tiến hành đánh dấu theo tiêu chí thể loại, nội dung, ghi chú những câu tục ngữ nói về gia đình, trong đó có các quan hệ: Vợ chồng, Cha mẹ con, Anh chị em ruột, dâu rể. Trong việc khảo sát, phần mềm về tục ngữ đã giúp chúng tôi thống kê, tổng hợp nhanh chóng các câu có cùng một tiêu chí. Chúng tôi đã đếm đƣợc số câu về gia đình là 730 câu, bằng 10,36% tổng số câu tục ngữ. Đây là một tỷ lệ khá cao, chứng tỏ ngƣời Việt rất quan tâm đến vấn đề gia đình. (Có thể lấy một trƣờng hợp để so sánh: Nói về vấn đề thƣơng nghiệp, tục ngữ chỉ có 239 câu, bằng 3,39% tổng số câu tục ngữ, hoặc bằng 32,73% số câu nói về gia đình). 1. Chiếm số lƣợng cao nhất là số câu nói về vợ chồng - gồm 285 câu, chiếm 39,17% số câu nói về gia đình, có 229 câu về quan hệ cha mẹ con, tiếp đến là anh chị em (40 câu), dâu rể (39 câu). Nhìn qua số lƣợng, có thể nhận thấy rằng đối với ngƣời Việt, trong gia đình, đáng quan tâm nhất là quan hệ vợ chồng, tiếp đó là quan hệ cha mẹ con, anh chị em, cuối cùng là dâu rể. Đó là lối định giá trị rất thực tế, bởi vì suy cho cùng thì phải có vợ chồng mới có thể hình thành nên các quan hệ khác trong gia đình, vợ chồng là trụ cột của một gia đình. Cách định giá trị này rất phù hợp với gia đình cổ truyền ngƣời Việt, một gia đình mà theo PGS. Nguyễn Từ Chi, “trong đại đa số các trƣờng hợp, chung quy là gia đình hạt nhân: một cặp vợ chồng và con cái chƣa vợ chƣa chồng của họ.” [330] Sau đây là phần đi sâu khảo sát từng loại quan hệ trong gia đình qua tục ngữ. 1. QUAN HỆ VỢ CHỒNG Phân loại 285 câu tục ngữ nói về quan hệ vợ chồng theo nội dung, thấy nhƣ sau: - 31 câu nói lên sự gắn bó vợ chồng, 4 câu ngƣợc lại. - 93 câu về mối quan hệ vợ - chồng, 46 câu về mối quan hệ chồng - vợ. - 20 câu về cách thức ứng xử trong quan hệ vợ chồng. - 87 câu về các tình huống tạo sự cân bằng trong quan hệ vợ chồng.

33

- 3 câu về vợ chồng trong mối quan hệ với cha mẹ. - 2 câu về vợ chồng trong mối quan hệ với làng nƣớc. - 44 câu về những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng. (Xin lƣu ý: có những câu tục ngữ mang nhiều ý nghĩa nên nhiều trƣờng hợp một câu đƣợc thống kê ở 2, 3 tình huống khác nhau, do đó tổng số câu tục ngữ trên đây không trùng hợp với tổng số câu tục ngữ đƣợc thống kê). Thống kê trên cho thấy ngƣời Việt xƣa quan tâm nhìn nhận quan hệ vợ chồng ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó đặc biệt quan tâm đến quan hệ ứng xử giữa vợ và chồng, giữa vợ chồng với các thành viên trong gia đình và với hàng xóm láng giềng. 1.1.Tình cảm vợ chồng Nét đặc trƣng của ngƣời Việt là thủy chung, gắn bó với nhau. Điều này đƣợc thể hiện nhất quán trong ca dao, dân ca, truyện cổ tích. Khi khảo sát tục ngữ, chúng tôi cũng có kết quả tƣơng tự. Về số lƣợng, số câu tục ngữ phản ánh sự gắn bó vợ chồng nhiều gấp 5,25 lần số câu có nội dung ngƣợc lại (31/4). Tuy mang đặc tính là thiên về lý trí, nhƣng khi đúc kết về sự gắn bó, chung thủy trong quan hệ vợ chồng, tục ngữ lại biểu hiện đƣợc chiều sâu tình cảm của ngƣời Việt xƣa. Có 10 cách thức thể hiện sự gắn bó, thủy chung. Cụ thể nhƣ sau: - Gắn bó trên phương diện vật chất: "Đói bụng chồng, hồng má vợ", "Đói bụng chồng, đau lòng vợ", "Đói no một vợ một chồng, chia niêu sẻ đấu đau lòng nát gan". - Gắn bó trong sự hoà quyện thân thể và tinh thần: "Vợ chồng đầu gối tay ấp", "Vợ chồng chăn chiếu chẳng rời.", "Vợ chồng đồng tịch đồng sàng, đồng sinh đồng tử cƣu mang đồng lần", "Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi", "Vợ giống tính chồng, ngƣời ở giống tông chủ nhà", "Vợ chồng biết tính nhau", "Làm quan hay quân, làm chồng hay vợ", "Làm tƣớng hay quân, làm chồng hay vợ". - Gắn bó trong sự tương hợp, hỗ trợ nhau: "Chồng nhƣ đó, vợ nhƣ hom", "Chồng nhƣ giỏ, vợ nhƣ hom", "Vợ có chồng nhƣ rồng có vây, chồng có vợ nhƣ cây có rừng", "Vợ chồng nhƣ đũa có đôi", "Xấu chàng hổ ai, xấu thiếp hổ chàng". - Gắn bó trong sự sở hữu: "Nhƣờng cơm nhƣờng áo không ai nhƣờng chồng", "Đổi quần đổi áo thời hay, đổi chồng đổi vợ xƣa nay chẳng lành". - Gắn bó như một sự tất yếu: "Bà phải có ông, chồng phải có vợ", "Triều đình có văn có vũ, trong nhà có mụ có ông".

34

- Gắn bó trong sự an phận: "Ngu si cũng thể chồng ta, dẫu rằng khôn khéo cũng ra chồng ngƣời". - Gắn bó bằng nhân nghĩa: "Tôi tớ xét công, vợ chồng xét nhân nghĩa","Vợ chồng là nghĩa già đời", "Vợ chồng là nghĩa trả đời, ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn". - Gắn bó bằng tình thương: "Thƣơng ai cho bằng thƣơng chồng". "Thƣơng ai ví bằng gái son nhớ chồng", "Thƣơng chồng nên phải gắng công", "Thƣơng chồng nên phải lầm than", "Thƣơng chồng phải bồng con ghẻ", "Thƣơng chồng phải khóc mụ gia", "Chồng em áo rách em thƣơng, chồng ngƣời áo gấm xông hƣơng mặc ngƣời", "Gái thƣơng chồng đang đông buổi chợ, trai thƣơng vợ nắng quái chiều hôm", "Chồng ta áo rách ta thƣơng". - Gắn bó trọn đời: "Vợ chồng là nghĩa già đời", "Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông", "Vợ chồng sống gửi thịt, chết gửi xƣơng", "Sống quê cha, ma quê chồng." - Gắn bó tạo nên sức mạnh: "Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn". Tóm lại, sự thuỷ chung, gắn bó vợ chồng mà tục ngữ đúc kết thành quy luật đƣợc biểu hiện cả trên phƣơng diện vật chất và phƣơng diện tinh thần, cả ở góc độ đạo lý và góc độ tình cảm, cả ở trong sự hành xử và trong kết quả của sự hành xử ấy. Về mặt đạo lý, các tác giả dân gian đã nhìn ra sự tất yếu của việc gắn bó vợ chồng: đã là vợ chồng thì phải gắn bó, đã có chồng thì phải có vợ; chính sự gắn bó ấy làm cho cuộc sống đƣợc cân bằng và phát triển. Mối quan hệ tƣơng hỗ giữa hai vợ chồng cũng đã đƣợc chỉ ra: phẩm chất, hành động của ngƣời này bao giờ cũng tác động sang ngƣời kia, cả vinh và nhục, cả thành công và thất bại; qua sự đúc kết này, tục ngữ gián tiếp khuyên răn các cặp vợ chồng trƣớc khi hành động phải suy xét cho kỹ tác động của việc mình làm đến ngƣời kia thế nào, và nói chung là hãy sống có trách nhiệm với nhau. Về phƣơng diện vật chất, tục ngữ nhìn nhận quan hệ vợ chồng trên hai yếu tố cơ bản nhất của cuộc sống là ăn và mặc, biểu hiện qua hai cặp trạng thái đói no, lành - rách, thể hiện cách sống đạm bạc của ngƣời nông dân, cũng thể hiện nhu cầu khá đơn giản của ngƣời nông dân về vật chất; mặt khác nói lên một phẩm chất đáng quý của vợ chồng ngƣời Việt là do thủy chung, gắn bó, càng khốn khó, họ càng thƣơng yêu nhau. Mặc dù bị quan niệm phong kiến đè nặng, coi việc nói về chuyện chăn gối là điều cấm kỵ, thế nhƣng các tác giả dân gian vẫn mạnh dạn chỉ ra rằng không những vợ chồng cần gần gũi với nhau về tình cảm, mà còn phải gần gũi về thân thể - ấy là không những "quen hơi", "biết tính" mà còn phải "chăn chiếu chẳng rời", là "đầu gối tay ấp". Tuy vậy, đậm đà

35

nhất trong quan hệ vợ chồng vẫn là tình cảm. Đáng lƣu ý là trong số 285 câu tục ngữ nói về vợ chồng, chỉ có một câu có từ yêu, còn chiếm ƣu thế là các từ thƣơng, nghĩa (10 câu có từ thƣơng, 3 câu có từ nghĩa). Có lẽ, đây cũng là một biểu hiện của đặc trƣng thể loại - tục ngữ thiên về lý trí, đòi hỏi trách nhiệm cao trong quan hệ vợ chồng: trọng nhân nghĩa, giàu tình thƣơng. Suy nghĩ sâu hơn, có thể thấy từ thƣơng có nghĩa rộng hơn từ yêu, trong thƣơng đã bao hàm cả yêu, và có thƣơng, có nhân nghĩa là có sự bảo đảm cho một quan hệ lâu bền giữa vợ chồng. Cùng với năm tháng, tình yêu có thể phai nhạt, nhƣng trong quan hệ vợ chồng của ngƣời Việt, thì tình nghĩa lại ngày một đậm đà hơn. Vì có tình thƣơng, có nhân nghĩa, nên cách ứng xử trong quan hệ vợ chồng ngƣời Việt dù có nhiều sắc thái nhƣng rất nhất quán: nếu may mà vợ chồng hòa hợp thì "giữ" nhau, không "nhƣờng" cho ngƣời khác, nhƣng rủi mà vợ chồng không cân xứng, ngƣời ta vẫn cam chịu, không "thay". Chính vì thế, tục ngữ đã khẳng định một tất yếu là vợ chồng phải gắn bó đến già, gắn bó trọn đời, không những vậy còn gắn bó với nhau khi đã sang thế giới bên kia. Sự gắn bó ấy tạo nên sức mạnh giúp gia đình vƣợt qua mọi sóng gió cuộc đời, làm nên đƣợc nghiệp lớn, mà câu tục ngữ tiêu biểu là "tát biển Đông cũng cạn". Cuộc sống vốn phong phú, đa dạng, đa phƣơng. Xuất phát từ cuộc sống, đúc kết kinh nghiệm sống, tục ngữ cũng có những câu mang nội dung trái ngƣợc nhau. Trong 285 câu nói về vợ chồng, có 4 câu ngƣợc lại với sự gắn bó: "Vợ chồng nhƣ áo cởi ngay nên lìa", "Vợ với chồng nhƣ hồng với cốm, nào ngờ nhƣ chó đốm mèo khoang", "Trai chê vợ mất của tay không, gái chê chồng một đồng trả bốn.", "Chồng ăn chả, vợ ăn nem." Sự không gắn bó còn thể hiện ở chỗ mâu thuẫn vợ chồng có thể nẩy sinh khi làm ăn thất bát: "Lúa tháng bảy vợ chồng rẫy nhau.", "Lúa trỗ thập thòi, vợ chồng đánh nhau lòi mắt.", "Cấy tháng bảy, vợ chồng rẫy nhau." Xem ra, sự không gắn bó đƣợc thể hiện một cách khá gay gắt, tới mức chia lìa lứa đôi. Tuy vậy, cần chú ý trong cách thức diễn đạt của tục ngữ: thƣờng một câu có hai vế, trong đó một vế mang tính chất tạo cớ để dẫn đến vế thứ hai mang tính đúc kết, nghĩa là nội dung đƣợc thể hiện ở một vế, còn vế kia chỉ là cái cớ để giúp khẳng định nội dung mà thôi. Thƣờng thì, với lối nói thậm xƣng và đƣa đẩy của dân gian, vế tạo cớ mang nội dung khá cực đoan (nói ngoa), không nên coi đó là nội dung đích thực của câu tục ngữ. Ví dụ trong câu "Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn", thì vế đầu chỉ mang tính tạo cớ đƣa đến ý cần đúc kết trong vế thứ hai nhằm khẳng định tầm quan trọng của việc làm cỏ cho lúa, chứ không phải nhằm phủ định công cấy. Do chƣa nắm vững đặc tính đƣa đẩy của lối nói dân gian, đã có ngƣời chữa câu tục ngữ trên thành "Công cấy là công nhỏ, công

36

làm cỏ là công lớn", làm giảm hẳn cái hay của câu tục ngữ. Trở lại câu tục ngữ về mâu thuẫn vợ chồng nói trên, thì vế "Vợ chồng rẫy nhau" là vế có lối nói thậm xƣng, chỉ để dẫn dắt, nội dung đích thực nằm ở vế "Cấy tháng bẩy", có nghĩa là cấy sai thời vụ thì sẽ gặp tai họa. Nhìn chung, về số lƣợng, sự gắn bó, chung thuỷ trong quan hệ vợ chồng chiếm ƣu thế tuyệt đối so với sự bội phản đƣợc thể hiện qua tục ngữ. Điều đó thể hiện tâm thức dân gian Việt hƣớng mạnh về sự chung thuỷ, nhân ái, coi trọng nghĩa tình trong quan hệ vợ chồng. Tuy vậy, về nội dung, câu tục ngữ về sự bội phản và mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng cũng khá gay gắt, chứng tỏ đó là một thực tế trong xã hội xƣa, các tác giả dân gian đã phản ánh một cách khách quan. Điều này lại nói lên cách thức ứng xử của ngƣời Việt trong quan hệ vợ chồng là rành mạch, dứt khoát, không thích mập mờ, dây dƣa (trong ca dao, ngƣời Việt cũng thể hiện cách cƣ xử dứt khoát nhƣ vậy: Có yêu thì nói rằng yêu Không yêu thì nói một điều cho xong). 1.2. Vợ trong mối quan hệ với chồng Các tác giả dân gian rất tinh tế, phản ánh mối quan hệ vợ chồng trên nhiều phƣơng diện, từ tinh thần tới vật chất, từ cảnh có chồng đến cảnh không chồng: - Xúc cảm của vợ xuất phát từ chồng: "Đói bụng chồng, đau lòng vợ". - Vợ được nhờ chồng, phải dựa vào chồng: ""Có ông chồng siêng, nhƣ có ông tiên nho nhỏ","Gái mạnh về chồng", "Lấy chồng nhờ hồng phúc nhà chồng", "Phận gái theo chồng", "Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng" - Trong hôn nhân, người phụ nữ phải chịu may rủi: "Tốt duyên lấy đƣợc chồng hiền", "Tốt mối lấy đƣợc chồng sang", "Vô duyên lấy phải chồng đần", "Chê chồng trƣớc đánh đau, gặp chồng sau mau đánh" - Giá trị, phẩm chất của người vợ được quy định bởi người chồng: "Chồng yêu cái tóc nên dài, cái duyên nên đẹp, cái tài nên khôn.", "Phu quý, phụ vinh", "Chồng sang vợ đƣợc đi giầy, vợ ngoan chồng đƣợc tối ngày cậy trông.", "Vợ hƣ bởi tại thằng chồng cả nghe", "Vợ quá chiều ngoen ngoẻn nhƣ chó con liếm mặt, vợ phải rẫy tiu ngỉu nhƣ mèo lành mất tai." Nhƣ vậy, trong quan hệ với ngƣời chồng, thì ngƣời vợ đóng vai trò bị động nhiều hơn, là ngƣời phải chịu đựng, phải hy sinh. Sự bị động của ngƣời vợ thể hiện ở những yếu tố sau: Bƣớc vào hôn nhân là chịu sự may rủi - may thì lấy đƣợc chồng hiền, chồng sang, không may thì lấy phải chồng đần, chồng vũ phu; nhiều khi muốn trốn tránh cũng không đƣợc, vì số phận đã định đoạt rồi. Về ở với chồng, ngƣời vợ phải dựa vào

37

chồng, nhờ chồng mà có phúc, có sức mạnh, đƣợc nhờ vả trong việc nhà, vì vậy cứ phải theo chồng. Nhiều khi, giá trị riêng của ngƣời phụ nữ không còn phụ thuộc vào bản thân họ nữa, mà bị thay đổi theo cách nhìn, cách ứng xử, vị thế của chồng - chồng yêu thì mọi điều ở ngƣời vợ đều tốt đẹp, chồng chiều thì vênh vang, chồng rẫy thì tiu nghỉu, chồng giàu sang thì vợ cũng phú quý. Chồng cũng là nguồn cảm xúc của vợ - sắc thái tình cảm của ngƣời vợ biểu hiện theo tình trạng của chồng, nhƣng không thấy một câu tục ngữ nào nói đến những xúc cảm vui mà chỉ có xúc cảm buồn, ấy là khi chồng khốn khó thì vợ đau lòng. Trên đây là những biểu hiện tiêu biểu cho chế độ phụ hệ. Sống với chồng bị phụ thuộc, chịu hy sinh nhƣ vậy, nhƣng giữa có chồng và không có chồng thì đằng nào hơn? Các tác giả dân gian đã phản ánh sinh động cả hai cảnh huống để ngày nay chúng ta có thể so sánh nhƣ sau: - Có chồng thì: * Gò bó: "Có chồng chẳng đƣợc đi đâu, có con chẳng đƣợc đứng lâu một giờ", "Có chồng nhƣ ngựa có cƣơng", "Gái có chồng nhƣ gông đeo cổ" * Trách nhiệm nặng nề: "Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng". * Phải chịu đựng: "Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay". * Có môi trƣờng tốt: "Vợ có chồng nhƣ rồng có mây." * Đƣợc hạnh phúc: "Có chồng thƣơng kẻ nằm không một mình". - Không có chồng thì: * Thiếu sức sống, chông chênh: "Gái không chồng nhƣ cối xay chết ngõng", "Gái không chồng nhƣ phản gỗ long đanh", "Gái không chồng nhƣ thuyền không lái", "Voi trên rừng không bành không tróc, gái không chồng nhƣ cóc cụt đuôi". So sánh, có thể thấy nhƣ sau: Nếu có chồng, cái mất của ngƣời phụ nữ là mất tự do, gánh trách nhiệm nặng nề với nhà chồng, phải âm thầm chịu đựng những điều đắng cay, còn cái đƣợc không đƣợc nói ra cụ thể, tuy thế cũng có thể hiểu là đƣợc nhiều, vì thế mới thƣơng kẻ không chồng. Nếu không chồng, thì chỉ mất chứ không đƣợc gì: mất động lực, mất chỗ dựa. Từ sự so sánh ấy, tục ngữ dẫn đến một kết luận tất yếu là có chồng vẫn hơn. 1.3. Chồng trong mối quan hệ với vợ Giống nhƣ trong mối quan hệ vợ - chồng, tuy số lƣợng không nhiều bằng, mối quan hệ chồng - vợ đƣợc xem xét ở nhiều góc độ, và tục ngữ cũng phản ánh cả hai tình trạng có vợ, không có vợ. Trong mối quan hệ với vợ, thì ngƣời chồng:

38

- Được nhờ cậy: "Nhà khó cậy vợ hiền, nƣớc loạn nhờ tƣớng giỏi", "Chồng sang vì bởi vợ ngoan", "Làm ruộng phải có trâu, làm giầu phải có vợ", "Gái ngoan làm quan cho chồng", "Giầu về bạn, sang về vợ" - Chịu vất vả: "Trâu đẻ tháng sáu, vợ đẻ tháng mƣời" - Tổn hại sức khoẻ: "Trai phải hơi vợ nhƣ cò bợ gặp trời mƣa", "Vợ đẹp kém ngủ", "Vợ đẹp mặt, chồng đau lƣng" - Chịu rủi ro: "Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn", "Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ nhì nhà dột, thứ ba nợ đòi", "Có phúc lấy đƣợc vợ già, sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh". - Chịu gánh nặng của cuộc sống: "Một là vợ, hai là nợ", "Một vợ không khố mà mang, hai vợ bỏ làng mà đi", "Con là nợ, vợ là oan gia". - Có lúc yếu thế: "Tay không chẳng thèm nhờ vợ". - Bị vợ chi phối: "Lệnh ông không bằng cồng bà". Xem nhƣ trên, thấy rằng trong mối quan hệ với vợ, nếu là vợ tốt, ngƣời chồng đƣợc nhờ cậy trong việc lo kinh tế cho gia đình, đƣợc tiếng tốt, đƣợc đóng góp trong công việc nhà nƣớc, nhƣng nếu ngƣời vợ không tốt, ngƣời chồng cũng phải chịu đựng rất nhiều. Ngƣời chồng cũng chịu sự rủi ro - nếu lấy phải vợ dại cũng đành chịu, còn muốn đƣợc chăm chiều lại phải lấy vợ già. Chồng còn phải gánh vác công việc khi vợ đẻ, chẳng may vào vụ mùa thì càng vất vả. Trong quan hệ với vợ, nếu thái quá, chồng bị tổn hại sức khỏe. Trong công việc chung, có khi chồng bị vợ lấn át. Tuy vậy, những điều mà ngƣời chồng phải chịu đựng không đƣợc tổng kết cụ thể bằng ngƣời vợ, trong khi đó, những kết luận khái quát lại rất nghiêm trọng: vợ là gánh nặng, là tai vạ oan của cuộc đời. Xem xét hai cảnh huống mà tục ngữ phản ánh, thấy nhƣ sau: - Có vợ thì: * Gò bó: "Trai có vợ nhƣ rợ buộc chân" * Chỉn chu: "Trai có vợ nhƣ giỏ có hom", "Trai có vợ nhƣ lỗ tiền chôn" * Lo việc nhà: "Trai có vợ tề gia nội trợ", "Đàn ông học sẩy học sàng, đến cơn vợ đẻ phải làm mà ăn." * Có môi trƣờng tốt: "Chồng có vợ nhƣ cây có rừng." - Không có vợ thì: * Thiếu kỷ luật: "Voi không nài nhƣ trai không vợ". * Bơ vơ: "Không vợ đứng ở lề đƣờng".

39

Nhƣ thế, có vợ thì ngƣời đàn ông mất tự do, phải lo việc nhà, ngƣời đàn ông đƣợc ngƣời vợ thu vén, giữ của cho; không có vợ thì ngƣời đàn ông thiếu kỷ luật (lại đƣợc tự do) và bơ vơ. Nhìn tổng quát mối quan hệ vợ - chồng, chồng - vợ, thấy nhƣ sau:
CÓ CHỒNG Chẳng đƣợc đi đâu Nhƣ ngựa có cƣơng Nhƣ gông đeo cổ Gánh giang sơn nhà chồng Nhƣ rồng có mây Ngậm bồ hòn đắng cay Thƣơng kẻ nằm không KHÔNG CÓ CHỒNG Nhƣ cối xay chết ngõng Nhƣ phản gỗ long đanh Nhƣ thuyền không lái Nhƣ cóc cụt đuôi Hƣ Nhƣ rác nhƣ rơm CÓ VỢ Nhƣ rợ buộc chân Nhƣ giỏ có hom Nhƣ lỗ tiền chôn Tề gia nội chợ Nhƣ cây có rừng

KHÔNG CÓ VỢ Nhƣ voi không nài Đứng ở lề đƣờng

-Những điểm tương đồng giữa hai vợ chồng trong hôn nhân: * Nƣơng dựa lẫn nhau. * Mất tự do, phải vào khuôn phép. * Chịu vất vả, lo toan cho cuộc sống chung. * Chịu sự may rủi. - Những điểm khác biệt giữa hai vợ chồng trong hôn nhân: * Khi không có chồng, ngƣời phụ nữ chịu thiệt thòi, thậm chí mất động lực sống, còn khi không có vợ, ngƣời đàn ông chỉ mất sự ràng buộc hoặc cùng lắm là chịu bơ vơ. * Có chồng, ngƣời phụ nữ đƣợc hạnh phúc. Trong khi đó, tục ngữ chỉ nói đến việc có vợ thì chồng đƣợc môi trƣờng phù hợp, nhƣng bị tổn hại sức khỏe, không nói gì về việc có hạnh phúc hay không, * Ngƣời vợ phải có trách nhiệm nặng nề với nhà chồng, còn ngƣời chồng thì không có trách nhiệm gì với nhà vợ.

40

* Khi không hài lòng đối với cuộc sống vợ chồng, thì thái độ của ngƣời vợ là âm thầm chịu đựng, còn thái độ của ngƣời chồng thì bung phá, phủ định. 1.4. Cách thức ứng xử trong quan hệ vợ chồng Các tình huống ứng xử trong quan hệ vợ chồng:
CHỒNG Phải làm VỢ Phải làm Không được làm Bớt lời Làm lành Lui Lui Bắt nạt Hoà thuận Thuận Ăn nem Bắt nạt Nuôi Chiều Lấy vợ hai cho chồng Thƣơng Bị phê phán Hạnh phúc

Trạng thái Giận

Không được làm

Trạng thái

Nếu làm

Hệ quả

Không bị chê

Giận Tới Hiền Hoà thuận Hoà Ăn chả Bình thƣờng

Bị hành hung

Có con Khôn

-Chờ - Gắng công - Lầm than - Bồng con ghẻ - Khóc mụ gia Nối dối

Theo

41

Chờ chồng

Nhƣờng chồng Đổi vợ Chẳng lành đổi chồng

Chấp nhặt Cãi nhau

Chấp nhặt Cãi nhau Chê chồng

Êm ấm Chồng chê

Nhiều vợ Đói

Một chồng Thƣơng xót Hƣởng thụ Cãi nhau Cam chịu Thuận Không phụ Có công Ăn ngon Có sức mạnh Bị loại trừ

Cãi nhau Ngu si Thuận

Qua bảng trên ta thấy: - Chồng trong 12 trạng thái thì vợ có 16 cách phải làm, 6 cách không đƣợc làm, 4 cách nếu làm sẽ tạo hệ quả xấu, 2 trạng thái tƣơng ứng, các tình huống này tạo ra 16 hệ quả khác nhau. - Vợ trong 1 trạng thái thì chồng có 1 cách đáp ứng, có 1 cách phải làm và 1 cách không đƣợc làm. Xem xét đơn thuần về số lƣợng đã thấy qua tục ngữ, ngƣời Việt quan tâm hơn đến trạng thái của ngƣời chồng để đòi hỏi ngƣời vợ phải đáp ứng, trong khi đó hầu nhƣ không quan tâm đến trạng thái của ngƣời vợ để đòi hỏi ngƣời chồng đáp ứng. Quan niệm này là biểu hiện của chế độ phụ hệ ở mức độ cao. Xem xét vào nội dung của cách thức ứng xử, có thể rút ra mô hình là: Chồng có biểu hiện A thì vợ phải có cách ứng xử B dẫn đến kết quả C

42

- A gồm các trạng thái của chồng là bình thƣờng, giận giữ, lấn lƣớt, hiền, hòa thuận, đói, ngu. đa thê. - B gồm các cách ứng xử của vợ là nhƣờng nhịn, hòa thuận, nuôi, chiều, cam chịu, thƣơng, theo, chờ, chung thủy. - C là hệ quả của các cách ứng xử của vợ chồng, gồm phải hy sinh, đƣợc hạnh phúc, êm ấm, có sức mạnh. Nghiên cứu sâu vào từng câu tục ngữ trong 20 câu nói về cách ứng xử trong quan hệ vợ chồng, có thể rút ra 6 kiểu ứng xử nhƣ sau: - Vợ phải biết điều, nhường nhịn: "Đừng thấy chồng hiền xỏ chân lỗ mũi", "Cơm sôi bớt lửa, chồng giận bớt lời", ''Chê chồng chẳng bõ chồng chê", "Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê", "Chồng giận thì vợ làm lành", "Chồng giận thì vợ phải lui, chồng giận vợ giận thì dùi nó quăng", "Gái bắt nạt chồng, em chẳng có ngoan" - Vợ phải cam chịu: "Có khôn thì lấy vợ hai cho chồng", "Ngu si cũng thể chồng ta, dẫu rằng khôn khéo cũng ra chồng ngƣời" - Vợ phải biết thương chồng: "Thƣơng ai cho bằng thƣơng chồng", "Thƣơng ai ví bằng gái son chờ chồng", "Thƣơng chồng nên phải gắng công", "Thƣơng chồng nên phải lầm than", "Thƣơng chồng phải bồng con ghẻ", "Thƣơng chồng phải khóc mụ gia","Chồng em áo rách em thƣơng, chồng ngƣời áo gấm xông hƣơng mặc ngƣời.", "Chồng ta áo rách, ta thƣơng.", "Thƣơng ai cho bằng thƣơng chồng.", "Mẹ kêu mặc mẹ, thƣơng chồng phải theo." - Vợ phải chiều chồng: "Chiều ngƣời lấy của, chiều chồng lấy con", "Chiều ngƣời lấy việc, chiều chồng lấy con". - Vợ phải chung thuỷ: "Trai làm nên năm thê bảy thiếp, gái làm nên thủ tiết chờ chồng.", "Trai tân gái goá thì chơi, tránh nơi có vợ, xa nơi có chồng.", "Gái chính chuyên chẳng lấy hai chồng." - Vợ phải cống hiến, chồng phải công bằng: "Gái có công chồng không phụ" Từ 6 cách thức ứng xử trong quan hệ vợ chồng, có thể rút ra nhận xét nhƣ sau: Tục ngữ hƣớng vào việc yêu cầu ngƣời phụ nữ phải có cách ứng xử thích hợp với các trạng thái của chồng. Dù chồng ở trạng thái nào, ứng xử cụ thể thế nào, thì ngƣời phụ nữ cũng theo cái tình chứ không theo cái lý. Cái tình dẫn dắt khiến ngƣời phụ nữ bỏ qua mọi tiêu chí về một ngƣời đàn ông, chỉ cần ngƣời đó là chồng mình cũng đủ để mình tôn thờ. Theo cái tình, ngƣời phụ nữ phải chịu mọi éo le của cuộc đời, từ việc phải gắng công, phải chịu lầm than, tới việc phải làm cái điều phi lý là lấy vợ lẽ cho chồng, bồng con riêng của

43

chồng, phải chung thủy, trong khi chồng năm thê bảy thiếp. Theo cái tình, có lúc ngƣời vợ mù quáng theo chồng, vi phạm đạo làm con. Chỉ có một tình huống trong đó ngƣời vợ đóng vai trò chủ động là có công thì thái độ của ngƣời chồng phải là không phụ - cách đáp ứng này không tƣơng xứng với hành động của ngƣời vợ, tục ngữ đòi hỏi ngƣời đàn ông quá ít. Duy có một câu mang sắc thái phản ứng tiêu cực của ngƣời phụ nữ là làm việc xấu để đáp lại việc xấu của chồng (ăn chả - ăn nem), có thể thấy đó là khi ngƣời phụ nữ đã bị đẩy đến tột cùng của sự chịu đựng nên phải phản ứng ngầm nhƣ vậy. Qua phần khảo sát về tục ngữ về quan hệ vợ chồng trên đây, chúng tôi có nhận xét nhƣ sau: Trong quan hệ vợ chồng, sự hòa thuận là quan trọng nhất. Muốn có sự hòa thuận, thì phụ nữ phải nhƣờng nhịn, hy sinh - phụ nữ đóng vai trò điều tiết quan hệ gia đình. Nhƣ thế, sống trong gia đình phụ hệ, nhƣng ngƣời phụ nữ Việt không bị lệ thuộc hoàn toàn vào ngƣời chồng mà vẫn có vai trò trong gia đình, với cách thức ứng xử mềm mại, uyển chuyển, trọng tình nghĩa. 1.5. Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng Tục ngữ có lúc phản ánh trực tiếp, nhƣng phần lớn là nói gián tiếp về những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng, với số lƣợng không ít - 44 câu, bằng 15,43% tổng số câu tục ngữ nói về quan hệ vợ chồng. Đúc rút lại, thấy có 6 loại tiêu cực nhƣ sau: - Đa thê: "Lấy chồng làm lẽ khỏi lo, cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi", "Lấy chồng làm lẽ khỏi lo, lƣơng vua khỏi đóng, áo chồng khỏi may", "Một vợ nằm giƣờng lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chuồng heo", "Trai làm nên năm thê bảy thiếp, gái làm nên thủ tiết thờ chồng", "Lắm con lắm nợ, lắm vợ nhiều cái oan gia", "Lắm duyên nhiều nợ, lắm vợ nhiều cái oan gia". - Vũ phu: "Chê chồng trƣớc đánh đau, gặp chồng sau mau đánh.". - Mất dân chủ: "Muốn nói không, làm chồng mà nói." - Cờ bạc, rượu chè: "Bởi chồng cờ bạc nên lòng chẳng thƣơng", "Lấy chồng cờ bạc nhƣ voi phá nhà", "Lấy chồng cờ bạc là tiên, Lấy chồng chè rƣợu là duyên nợ nần", "Lấy chồng chè rƣợu là tiên, lấy chồng cờ bạc là duyên nợ nần" - Phụ bạc: "Giầu đổi bạn, sang đổi vợ", "Phụ vợ, không gặp vợ", "Chồng ăn chả, vợ ăn nem". - Độc ác: "Tay tiêm thuốc cống, miệng mời lang quân.", "Gái giết chồng chứ đàn ông không ai giết vợ." Đề cập đến 6 loại tiêu cực nói trên, thái độ của các tác giả dân gian không gay gắt. Nói đến chế độ đa thê, tục ngữ không phê phán trực tiếp, mà chỉ châm

44

biếm nhẹ nhàng, thậm chí châm biếm ngƣợc đối tƣợng - châm biếm chính ngƣời phụ nữ. Điều này có thể giải thích đƣợc vì trong chế độ phong kiến, đa thê đƣợc thừa nhận chứ không bị coi là vi phạm pháp luật nhƣ hiện nay. Đến thói vũ phu, tục ngữ cũng chỉ phản ánh gián tiếp, coi nó nhƣ một cách thử thách sự khôn ngoan của ngƣời vợ. Tệ cờ bạc bị phê phán khá nghiêm khắc, nhƣng trong mối quan hệ vợ chồng, thói hƣ này cũng chỉ đƣợc nói gián tiếp, nhẹ nhàng. Điều này cho thấy tục ngữ phản ánh khá nhất quán thái độ ứng xử của ngƣời vợ đối với chồng - ứng xử theo tình chứ không theo lý. Chồng cờ bạc thì vợ chỉ không thƣơng, chứ cũng không dùng lý lẽ để phê phán. Có một kết luận bất ngờ mà tục ngữ nêu ra khi nói về ngƣời phụ nữ là giết chồng, không những vậy, mà còn khẳng định chỉ phụ nữ mới giết chồng, còn đàn ông không ai giết vợ! Điều này có hai mặt: một mặt phản ánh rằng trong thực tế có hiện tƣợng phụ nữ giết chồng, mặt khác phản ánh sự khắt khe quá đáng của dƣ luận đối với tội lỗi của ngƣời phụ nữ. Thực ra, trong cuộc sống, các vụ án giết vợ không phải là không có, nhƣng chỉ những vụ án giết chồng mới bị xã hội lúc đó coi là nghiêm trọng, trái với lẽ ứng xử thông thƣờng của ngƣời phụ nữ. Chúng tôi nghĩ đây là câu tổng kết sai lầm nhất của các tác giả dân gian, thể hiện sự bất bình đẳng trong đối xử với phụ nữ, quá nghiệt ngã trong xem xét phụ nữ, cũng là biểu hiện của tƣ tƣởng trọng nam khinh nữ của chế độ phụ quyền. Tuy nhiên, cách tổng kết sai lầm nhƣ thế chỉ xảy ra trong một trƣờng hợp, cho thấy ảnh hƣởng của Nho giáo vào xã hội Việt Nam tuy có mạnh nhƣng không đều khắp, không có sức chi phối toàn bộ nhận thức dân gian. Qua tục ngữ thấy rõ đặc tính nổi bật của ngƣời phụ nữ Việt xƣa là nhƣờng nhịn, giàu tình thƣơng, hy sinh, và tuy bị đối xử rất khắt khe vẫn có vai trò quan trọng trong đời sống gia đình, do chính sự phấn đấu vƣơn lên của ngƣời phụ nữ và do ngƣời Việt vẫn giữ đƣợc truyền thống của dân tộc là trọng mẫu. 1.6. Những tình huống tạo sự cân bằng trong quan hệ vợ chồng Tuy trong đa số tình huống, đa số cách ứng xử, ngƣời phụ nữ đều ở thế bị động, phải nhún nhƣờng, chịu nhiều thiệt thòi, nhƣng tục ngữ cũng nêu lên những tình huống nói về sự bình đẳng, vai trò chủ động của ngƣời vợ, lấy lại sự cân bằng trong quan hệ vợ chồng. - Vợ tốt là mơ ước của đàn ông: "Vợ hiền hoà, nhà hƣớng Nam." - Vợ chồng bình đẳng: * Bình đẳng trong hành động: "Chồng chèo thì vợ cũng chèo", "Chồng cần vợ kiệm là tiên; ngông nghênh nhăng nhít là tiền bỏ đi.", "Chồng ăn chả, vợ ăn nem.", "Bát còn có lúc xô xát, huống chi vợ chồng.", "Cơm chẳng lành

45

canh chẳng ngon, chín đụn mƣời con cũng lìa.", "Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn","Chồng hoà, vợ thuận." * Bình đẳng trong sự đánh giá: "Gái có công, chồng chẳng phụ.", "Tôi tớ xét công, vợ chồng xét nhân nghĩa", "Chồng sang vợ đƣợc đi giầy, vợ ngoan chồng đƣợc tối ngày cậy trông.", "Của chồng công vợ.", "Vợ chồng là nghĩa trả đời, ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn.", "Vợ có chồng nhƣ rồng có mây, chồng có vợ nhƣ cây có rừng.", "Vợ chồng nhƣ đũa có đôi." * Bình đẳng trong tâm lý, tình cảm: "Trai nhớ vợ cũ, gái nhớ chồng xƣa", "Vợ chồng biết tính nhau.". - Vợ có vai trò chủ động, có quyền lựa chọn, có giá trị, đòi hỏi giá trị tương ứng: "Đừng thấy chồng hiền, xỏ chân lỗ mũi.","Củi mục khó đun, chồng lành dễ khiến, chồng khôn dễ chiều.", "Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài.", "Nồi đồng dễ nấu, chồng xấu dễ sai.", "Gái bắt nạt chồng, em chẳng có ngoan.", "Lấy chồng cho đáng bù nhìn giữ dƣa.", "Lấy chồng cho đáng hình dong con ngƣời.", "Lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công trang điểm má hồng răng đen.", "Chẳng tham nhà ngói ba toà, tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành.", "Chẳng tham nhà ngói rung rinh, tham về một nỗi anh xinh miệng cƣời.", "Chẳng tham vựa lúa anh đầy, tham năm ba chữ cho tày thế gian.", "Lấy vợ chọn tông, lấy chồng chọn giống.", "Lấy chồng hơn ở goá.", "Trai khôn kén vợ chợ đông, gái khôn kén chồng giữa đám ba quân." - Vợ có vai trò quan trọng trong cuộc sống gia đình: "Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng","Giàu về bạn, sang về vợ.", "Chồng sang vì bởi vợ ngoan.", "Gái khôn thì chồng con nhờ, gái đần đơm đó thả lờ trôi sông.", "Làm ruộng phải có trâu, làm giàu phải có vợ.", "Xấu thiếp, hổ chàng." - Vợ được đối xử công bằng: "Làm ruộng có trâu, làm dâu có chồng." chống lại tƣ tƣởng phong kiến "thủ tiết thờ chồng", trói buộc phụ nữ trong gia đình chồng, mặc dù không còn chồng nữa, chống lại quy định của chế độ phong kiến: "Trong 24 huấn điều của Lê Hiến Tông (1500) huấn điều thứ tám và thứ chín đã quy định nhƣ sau về phụ nữ: "Khi chồng chết, phải thƣơng yêu con vợ trƣớc hoặc con vợ lẽ của chồng, nếu có gia tài, không đƣợc chiếm đoạt làm của riêng mình.", "Khi chồng chết mà mình chƣa có con, thì phải ở lại nhà chồng, giữ việc tang lễ, không đƣợc giấu giếm chuyển vận tài sản nhà chồng đem về nhà mình". [Dẫn theo 99:332]. Câu tục ngữ này nêu lên hƣớng ứng xử phù hợp với quy luật xã hội: ngƣời phụ nữ chỉ làm dâu khi có chồng, đã gián tiếp chống lại quy định của nhà nƣớc phong kiến muốn trói buộc ngƣời phụ nữ với nhà chồng, kể cả những trƣờng hợp không còn chồng (nhƣ chồng chết).

46

- Vợ điều tiết quan hệ gia đình: "Cơm sôi bớt lửa, chồng giận bớt lời.", "Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê.", "Chồng giận thì vợ làm lành.", "Chồng tới vợ lui, chồng hoà vợ thuận." - Vợ chi phối chồng: "Lệnh ông không bằng cồng bà.", "Nhất vợ nhì trời." - Vợ điều tiết cuộc sống của chồng: "Trai có vợ nhƣ giỏ có hom", "Trai có vợ nhƣ rợ buộc chân.", "Trai có vợ nhƣ lỗ tiền chôn.", "Trai có vợ tề gia nội trợ." - Chồng cùng lo việc nhà: "Có ông chồng siêng nhƣ có ông tiên nho nhỏ.", "Đàn ông học sẩy học sàng, đến khi vợ đẻ thì làm mà ăn." - Chồng có lúc yếu thế: "Tay không chẳng thèm nhờ vợ.", có lúc phải trả giá: "Phụ vợ, không gặp vợ." - Vợ chồng đều phải chịu sự may rủi: "Vợ chồng may rủi là duyên, vợ chồng hoà thuận là tiên trên đời." * Chồng thì: "Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ hai nhà dột, thứ ba rựa cùn.", "Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ nhì nhà dột, thứ ba nợ đòi", "Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn." * Vợ thì: "Chồng dại, luống tổn công phu nhọc mình.", "Chồng ăn giò vợ co chân chạy, chồng ăn mày mạy vợ lạy vợ về.", "Vô duyên lấy phải chồng đần.", "Tốt duyên lấy đƣợc chồng hiền.", "Chồng tốt ai chẳng muốn lấy, biết giá chồng đáng mấy mà mua." - Vợ chồng chê nhau: "Chê chồng chẳng bõ chồng chê.", "Chê thằng một chai, lấy thằng hai nậm." - Vợ chồng có nghĩa vụ với nhau: "Trai nuôi vợ đẻ gầy mòn, gái nuôi chồng ốm béo tròn cối xay." - Vợ chồng có thể giáo dục lẫn nhau: "Mài gƣơm dạy vợ, giết chó khuyên chồng", "Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ lúc bơ vơ mới về.", "Con hƣ bởi tại cha dung, vợ hƣ bởi tại anh chồng cả nghe.", "Vợ hƣ bởi tại thằng chồng cả nghe." (Tuy nhiên, mức độ giáo dục có khác nhau, vợ chỉ khuyên, còn chồng thì đƣợc dạy.) - Chấp nhận một sự tương đối: "Đƣợc cả đôi, Thiên Lôi đánh một.", "Thế gian đƣợc vợ hỏng chồng, có đâu lại đƣợc cả ông lẫn bà.", "Thế gian đƣợc vợ hỏng chồng, có đâu vợ chồng mà đƣợc cả đôi."

47

Từ những tình huống thể hiện sự cân bằng trong quan hệ vợ chồng, có thể lập một bảng nhƣ sau:
CHỒNG 1. Chèo 2. Cần 3. Sang 4. Ăn chả 5. Có của 6. Hòa 7. Chê vợ 8. Không phụ 9. Thuận 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. Chèo Kiệm Sang Ăn nem Có công Thuận Chê chồng Có công Thuận VỢ

10. Nhớ vợ cũ 11. Nuôi vợ 12. Đánh bạc 13. Sang 14. Cậy trông

10. Nhớ chồng xƣa 11. Nuôi chồng 12. Đánh bài 13. Sung sƣớng 14. Ngoan 15. Sai khiến chồng 16. Bắt nạt chồng 17. Ngủ tùy chồng
18. Lấy chồng cho đáng (với mình)

Bảng trên cho thấy: - Vợ chồng có 14 cặp tình huống thể hiện sự cân bằng trong quan hệ. - Riêng vợ còn có thêm 4 tình huống thể hiện vai trò chủ động của mình so với chồng. Những tình huống cân bằng giữa hai vợ chồng: Đũa có đôi, Nhân nghĩa, Biết tính nhau, Chịu may rủi, Hòa thuận, Có lúc xô xát, Mâu thuẫn thì chia lìa, Sức mạnh đoàn kết, Nghĩa trả đời.

48

Cả nam và nữ đều góp phần làm hài hòa hoặc không hài hòa quan hệ vợ chồng:
HÀI HÒA CHỒNG Đẹp Cần Già Khôn (6) Lành (2) Lớn Sang (4) VỢ Đẹp Kiệm Trẻ Ngoan (2) Bé KHÔNG HÀI HÒA CHỒNG Bé Dại Trẻ Dữ Ngu Bé Hèn Thấp VỢ Lớn

Già

Lớn Cao Rẻ Chửa hoang Bắt nạt chồng Dại Bị chồng rẫy Hay ăn ngon

Tốt Có mẹ cha hiền lành Tƣơi tắn Hiền Có học Con tông nhà nòi Con dòng Trƣởng nam (3) Khôn (3) Làm quan Nhà ở giữa làng (4)

Là học trò Đần Cờ bạc Rƣợu chè

Chê chồng Con một Cùng tuổi với vợ Hòa thuận Cùng tuổi với chồng Hòa thuận

Bị chồng chê Con một

Từ những tình huống trên đây, có thể rút ra một số nhận xét nhƣ sau:

49

- Khi lựa chọn "đối tƣợng", ngƣời đàn bà đòi hỏi ở ngƣời đàn ông nhiều nhất là vị thế xã hội (làm quan, trƣởng nam, sang), ngƣời đàn ông đòi hỏi ở ngƣời đàn bà nhiều nhất là về tính nết: hiền hòa, đức hạnh. Các tác giả dân gian quan tâm nhiều hơn về tiêu chuẩn của ngƣời chồng so với ngƣời vợ (9 câu so với 5 câu), chứng tỏ để đi tới hôn nhân, ngƣời phụ nữ băn khoăn nhiều hơn đến giá trị của ngƣời chồng tƣơng lai, điều này có thể đƣợc chứng minh thêm ở câu: "Chọn dâu thì dễ, chọn rể thì khó." - Khi đã thành gia thất, tiêu chuẩn của một ngƣời chồng, quan trọng nhất là về trí (tiêu chuẩn khôn xuất hiện nhiều nhất, 6 lần), tiếp đó là sang, nhà ở giữa làng (đều 4 lần) - thực ra hai từ này đều thể hiện một nghĩa là vị thế xã hội của ngƣời chồng; trong cơ cấu làng ở nông thôn Việt Nam xƣa, có dân bản quán và dân ngụ cƣ, dân chính cƣ là dân gốc, thƣờng ở giữa làng, đƣợc coi trọng, còn dân ngụ cƣ là dân nơi khác đến, thƣờng ở rìa làng, hay bị xem thƣờng. Về ngƣời vợ, tiêu chuẩn cũng là trí tuệ (khôn - 3 lần), có đức tính tốt (hiền, ngoan). Những điều đƣợc coi là không tốt ở ngƣời chồng cũng thuộc về trí tuệ (đần, dại, ngu), về phẩm chất (dữ, hèn, cờ bạc, rƣợu chè), còn ở ngƣời vợ cũng là về trí tuệ (dại), về phẩm chất (chửa hoang, bị chồng rẫy, hay ăn ngon, bắt nạt chồng). So sánh với nhận định của các tác giả Thi ca bình dân Việt Nam, trong đó viết rằng về ý thức gia đình thể hiện qua tục ngữ, ca dao, ngƣời bình dân không coi tài năng là căn bản, thấy rằng đó là nhận định thiếu chính xác. Thực ra, ngƣời bình dân rất coi trọng tài năng, trí tuệ vì biết rằng đó cũng là một yếu tố đảm bảo cho cuộc sống gia đình có đƣợc hạnh phúc. Nhƣ vậy, trong khi nhìn nhận quan hệ vợ chồng, nhân dân lấy các tiêu chí về tinh thần chứ không căn cứ vào tiêu chí vật chất, thể hiện quan niệm rất đúng đắn về hạnh phúc lứa đôi - đƣợc quyết định ở những giá trị tinh thần chứ không phải do vật chất. Nhìn chung, có 16 cách thức tạo sự cân bằng trong quan hệ vợ chồng, trong đó vai trò của ngƣời phụ nữ đƣợc đề cao. Qua các cách thức này, hình ảnh ngƣời phụ nữ đƣợc hiện lên tƣơng xứng với nam giới, bằng những hành động bình đẳng với nam giới và đƣợc đánh giá ngang hàng với nam giới. 1.7. Vợ chồng trong mối quan hệ với cha mẹ Tục ngữ ít xem xét vợ chồng trong mối quan hệ với cha mẹ, và sự tổng kết có những kết luận trái ngƣợc nhau:

50

- Nhìn chung, cha mẹ quan trọng hơn: "Mất mẹ mất cha thật là khó kiếm, chớ đạo vợ chồng chẳng hiếm gì nơi" - Ngƣời chồng coi trọng cha mẹ hơn: "Bình phong cẩn ốc xà cừ, vợ hƣ rầy vợ, đừng từ mẹ cha". - Có lúc ngƣời vợ coi nhẹ mẹ: "Mẹ kêu mặc mẹ, thƣơng chồng phải theo". Một lần nữa, chúng ta thấy ngƣời phụ nữ thƣờng ứng xử bằng tình chứ ít bằng lý, có khi vì tình lớn quá mà bỏ qua cả đạo lý làm con. Mặt khác, sự không thống nhất trong quan niệm đƣợc nêu ở những câu tục ngữ khác nhau là chuyện bình thƣờng, bởi vì tục ngữ là sản phẩm của tập thể, diễn ra trong một không gian rộng và thời gian dài, không phải chỉ thể hiện quan niệm của một ngƣời hay một loại ngƣời, mà thể hiện quan niệm của rất nhiều ngƣời, rất nhiều loại ngƣời khác nhau trong xã hội, từ đó có những câu tục ngữ đem đến những nhận thức trái ngƣợc nhau. 1.8. Vợ chồng trong mối quan hệ với xã hội Nông thôn Việt Nam xƣa bị phân chia thành nhiều làng, với cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ, có phần cô lập với xã hội nói chung. Theo tài liệu Nông thôn Việt Nam của nhóm Nghiên nông thôn công bố ở Sài Gòn tháng 11 năm 1974 (in rô nê ô), thì tại nông thôn Việt Nam xƣa,"- Làng là một đơn vị kinh tế tự túc và gần nhƣ biệt lập, làng này với làng kia ít liên lạc với nhau, làng cũng ít liên lạc với thành phố, làng nào cũng có sản xuất lúa gạo, rau trái, hoa quả, gà vịt, heo, bò... - Đơn vị sinh hoạt trong làng là gia đình: Gia đình là một định chế chi phối về mọi lãnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục. Mọi sinh hoạt của cá nhân đặt trực tiếp dƣới quyền điều khiển của một cá nhân là chủ gia đình" [70: 34]. Trong điều kiện kết cấu xã hội nhƣ vậy, tƣ tƣởng cục bộ là một đặc trƣng của ngƣời nông dân xƣa. Tƣ tƣởng này đƣợc thể hiện đậm nét trong quan niệm về hôn nhân của ngƣời Việt thông qua tục ngữ. Ngƣời ta muốn mọi việc trên đời đều khép kín trong lũy tre làng, ngay cả việc xây dựng gia đình cũng vậy: "Chồng khó giữa làng hơn chồng sang thiên hạ", "Lấy chồng khó giữa làng hơn lấy chồng sang thiên hạ" - tiêu chí đảm bảo cho sự cục bộ lớn hơn hẳn tiêu chí về phẩm chất của ngƣời chồng. Tuy vậy, khi nhấn mạnh cái tình trong quan hệ vợ chồng, tục ngữ đã mở rộng không gian: "Giàu trong làng trái duyên khôn ép, khó nƣớc ngƣời phải kiếp cũng theo." Một lần nữa, chúng ta thấy lối nói thậm xƣng của dân gian:

51

mở rộng vô cùng về không gian nhƣng không nhằm đƣa đến kết luận về không gian, mà chỉ nhằm nói cho cùng cái cần coi trọng là tình duyên. 2. QUAN HỆ CHA MẸ CON Số câu tục ngữ nói về quan hệ cha mẹ với con là 226 câu, chiếm 30,95% số câu nói về gia đình, trong đó có thể chia làm 4 mối quan hệ: quan hệ chung cha mẹ con, quan hệ con - cha mẹ, quan hệ mẹ con, quan hệ cha - con. 2.1. Quan hệ chung cha mẹ với con Qua 108 câu tục ngữ, các tác giả dân gian nêu lên khá đầy đủ các mối quan hệ giữa cha mẹ với con. - Cha mẹ bị động: "Cha mẹ sinh con trời sinh tính.", "Sinh con ai nỡ sinh lòng, mua dƣa ai biết trong lòng quả dƣa.", "Sinh con ai nỡ sinh lòng, sinh con ai chẳng vun trồng cho con." - Cha mẹ là chỗ dựa cho con: "Bé thì nhờ mẹ nhờ cha, lớn lên nhờ vợ, lúc già nhờ con.", "Cha sinh mẹ dƣỡng." - Cha mẹ vất vả vì con: "Có con phải khổ vì con.", "Có con tội sống, không có con tội chết.", "Cha lừa, mẹ ngựa.", "Hai vợ chồng son, đẻ một con hoá bốn.", "Con là nợ, vợ là oan gia." - Cha mẹ tốn kém vì con: "Của mòn, con lớn." - Cha mẹ mất tỉnh táo vì con: "Mấy ai biết lúa gon, mấy ai biết con ác." - Cha mẹ phải điều tiết quan hệ gia đình để đảm bảo quyền lợi cho con: "Yêu con cậu, mới đậu con mình." - Cha mẹ dựa vào con: "Giàu lúc còn son, giàu lúc con lớn.", "Bé thì nhờ mẹ nhờ cha, lớn lên nhờ vợ, lúc già nhờ con." - Cha mẹ ứng xử với con: * Phải dạy dỗ: "Có con không dạy để vậy mà nuôi", "Nuôi con chẳng dạy chẳng răn, thà rằng nuôi lợn mà ăn lấy lòng.", "Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.", "Uốn cây từ thuở còn non, dạy con từ thuở con còn ngây thơ.", "Dạy con từ thủa còn thơ, dạy vợ từ lúc bơ vơ mới về." * Phải chăm lo về vật chất: "Có của để cho con, không có để nợ cho con." * Phải hy sinh: - Nuôi con ai nỡ kể tiền cơm.", "Nuôi con không phép kể tiền cơm." * Phải gần gũi: "Con đâu cha mẹ đấy." * Phải có trách nhiệm với con: "Đói lòng con héo hon cha mẹ", "Sinh con ai chẳng vun trồng cho con".

52

* Có lúc bất công với con: "Con dòng thì bỏ xuống đất, con vật thì cất lên sàn." Qua các nội dung trên đây, thấy tục ngữ phản ánh đầy đủ quá trình từ khi cha mẹ chƣa sinh con, đến lúc nuôi con khôn lớn rồi về già nhờ con, cách thức ứng xử với con. Tục ngữ đúc kết quan hệ cha mẹ con theo nhiều chiều, từ tinh thần tới vật chất, từ chiều tích cực đến chiều tiêu cực. Tình trạng "sinh con trời sinh tính", "ai nỡ sinh lòng" thể hiện sự bị động của cha mẹ khi sinh con - ai cũng mong sinh đƣợc con tốt tính, nhƣng nhiều khi lại sinh con trái tính. Có ý kiến phê phán hai câu này mang tính duy tâm, phủ nhận vai trò của con ngƣời. Nhƣng cần hiểu rằng, trong quan niệm dân gian, con ngƣời bên cạnh tính có nết - "Cái nết đánh chết cái đẹp"... Vậy cái tính là do tự nhiên sinh ra, hoặc nói theo sinh học là do di truyền, còn nết thì do rèn mà nên. Chính vì vậy, tục ngữ coi trọng vai trò của giáo dục, việc dạy dỗ con đƣợc nêu lên hàng đầu trong trách nhiệm của cha mẹ với con - 4 câu tục ngữ nói về điều này - không những vậy, phải giáo dục từ rất sớm - "dạy con từ thủa con còn ngây thơ", "dạy con từ thủa còn thơ", bởi vì nếu không chịu giáo dục, cứ ''để vậy mà nuôi", chắc chắn con sẽ chẳng nên ngƣời. Tục ngữ cũng đã khẳng định công lao to lớn của cha mẹ đối với con, nhìn chung, đó là sự hy sinh về tinh thần và vật chất, sự hy sinh vô tƣ, để may lắm khi già đƣợc "dựa vào con". Đáng chú ý nhất là tục ngữ tổng kết 6 cách thức ứng xử của cha mẹ với con thì 5 cách thể hiện trách nhiệm cao với con, chỉ có 1 cách thể hiện sự bất công của cha mẹ trong ứng xử giữa con này với con khác. Căn cứ vào số lƣợng và nội dung của các câu tục ngữ, có thể thấy các tác giả dân gian đề cao nhất là trách nhiệm của cha mẹ đối với việc hình thành nhân cách của con, cũng là thể hiện trách nhiệm với gia tộc, với đời sau. Đây là cách mà nhân dân đã vận dụng khéo léo mặt tích cực của Nho giáo vào việc xây dựng gia đình Việt, làm cho nó trở thành yếu tố tích cực trong truyền thống của dân tộc, hiện nay đang đƣợc kế thừa và phát huy. Từ quan hệ cha mẹ con, tục ngữ chiếu qua quan hệ với đất nƣớc, với một trách nhiệm tự giác: "Bé thì con mẹ con cha, lớn thì con vua con chúa." (trong xã hội phong kiến, thì vua chúa đại diện cho đất nƣớc). Chính nhờ ý thức trách nhiệm cao với đất nƣớc nhƣ vậy, ngƣời Việt có tình yêu mạnh mẽ và dám xả thân cho đất nƣớc, làm nên lịch sử vẻ vang của dân tộc từ thời dựng nƣớc đến nay. 2.2. Quan hệ con với cha mẹ Mối quan hệ giữa con với cha mẹ đƣợc tục ngữ đề cập đến ít hơn mối quan hệ giữa cha mẹ và con, với nội dung không phong phú bằng.

53

- Con dựa vào cha mẹ: "Có cha có mẹ thì hơn, không cha không mẹ nhƣ đờn không dây." - Con lợi dụng cha mẹ: "Con gái là cái bòn." - Con không thống nhất với cha mẹ: "Đẹp duyên nhƣng chẳng đẹp lòng mẹ cha." - Coi trọng công mẹ hơn công cha: "Cha sinh không bằng mẹ dƣỡng." - Coi cha có giá trị hơn: "Cha vàng, mẹ bạc, bác đồng đen." - Con ứng xử với cha mẹ: * Biết điều hoà quan hệ với vợ: "Bình phong cẩn ốc xà cừ, vợ hƣ rầy vợ đừng từ mẹ cha.", "Mất mẹ mất cha thật là khó kiếm, chớ đạo vợ chồng chẳng hiếm gì nơi." * Biết ơn cha mẹ: "Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.", "Lên non mới biết non cao, nuôi con mới biết công lao mẫu từ.", "Ơn cha là ba ngàn bảy, nghĩa mẹ là bảy ngàn ba." * Quý trọng cha mẹ: "Nhất mẹ nhì cha, thứ ba bà ngoại." Nội dung chủ yếu mà tục ngữ tổng kết về mối quan hệ giữa con với cha mẹ là lòng kính yêu, biết ơn; cả 3 cách thức ứng xử của con với cha mẹ đều hƣớng vào sự gắn bó, biết ơn, quý trọng của con với cha mẹ. Trong rất nhiều mối quan hệ trong gia đình, tục ngữ chỉ tổng kết về mâu thuẫn trong quan hệ giữa con-cha mẹ với vợ, và khẳng định rằng nếu phải lựa chọn giữa vợ và cha mẹ thì phải chọn cha mẹ. Nhƣ vậy, theo quan niệm dân gian, trong gia đình, yếu tố đe dọa quan hệ cha mẹ con chính là nàng dâu. Điều này mâu thuẫn với quan niệm phổ biến mà chính tục ngữ tổng kết về quan hệ giữa mẹ chồng nàng dâu, đó là mối quan hệ khá tốt đẹp. Tuy vậy, nếu vận dụng quan niệm về hai vế trong tục ngữ, trong đó có vế tạo cớ thƣờng chỉ để dẫn dắt, thì có thể thấy tục ngữ không có ý đối lập giữa cha mẹ và vợ, mà chỉ dùng khái niệm vợ nhƣ một công cụ về hình tƣợng để dẫn dắt đến ý cần đúc kết là con không đƣợc từ cha mẹ. Quan niệm này cũng phù hợp với quan niệm của Nho giáo là trọng cha mẹ. 2.3. Quan hệ mẹ con Số câu tục ngữ nói về quan hệ mẹ con gồm 72 câu, nhiều hơn nói về cha con 23 câu. Điều đó nói lên vị trí, vai trò của ngƣời mẹ đối với việc chăm sóc và nuôi dạy con cái, đồng thời cũng phản ánh đứa con có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc đời ngƣời mẹ. Mối quan hệ mẹ con biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Càng cụ thể hoá các mối quan hệ, tục ngữ, nhƣ tấm gƣơng phản chiếu cuộc sống, càng tôn vinh hình ảnh cao cả của ngƣời mẹ hy sinh tất cả vì con.

54

Những biểu hiện tiêu cực không phải dòng chảy chính của mối quan hệ này. Các nội dung của quan hệ mẹ con đƣợc biểu hiện nhƣ sau: - Có trách nhiệm với con, hy sinh cho con, vất vả vì con: "Ngƣời chửa cửa mả", "Sinh đƣợc một con, mất một hòn máu.", "Có chồng chẳng đƣợc đi đâu, có con chẳng đƣợc đứng lâu một giờ.", "Có con phải khổ vì con, có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.", "Chỗ ƣớt mẹ nằm, ráo xê con lại.", "Con biết nói, mẹ hói đầu.", "Con biết ngồi, mẹ rời tay.", "Con lên ba, mẹ sa xƣơng sƣờn.", "Con lên ba mới ra lòng mẹ.", "Một con so bằng ba con đẻ.", "Một con so bằng ba con dạ.", "Một mẹ già bằng ba đứa ở." - Mẹ có trách nhiệm về phẩm chất của con: "Con hƣ tại mẹ, cháu hƣ tại bà.", "Mẹ ngoảnh đi con dại, mẹ ngoảnh lại con khôn.", "Con dại cái mang." - Con phải dựa vào mẹ: "Đầu măng ngã gục vào tre, nƣơng nhờ vào mẹ kẻo e bão gào.", "Con có mạ nhƣ thiên hạ có vua.", "Con có mẹ nhƣ măng ấp bẹ.", "Con ấp vú mẹ". - Con phụ thuộc mẹ: "Mẹ ăn cơm chả, con lả bụng.", "Canh suông khéo nấu thì ngon, mẹ già khéo nói thì con đắt chồng.", "Con có (hoặc không) khóc, mẹ mới (hoặc chẳng) cho bú." - Mẹ không muốn dựa vào con: "Ăn của chồng thì ngon, ăn của con thì nhục.", "Cơm mẹ thì ngon, cơm con thì đắng". - Mẹ dựa vào con: "Bé nhờ cha, lớn nhờ chồng, già nhờ con." - Sắc thái tinh thần phụ thuộc vào con: "Đẻ con khôn mát nhƣ nƣớc, đẻ con dại thì rát nhƣ hơ." - Thích nhiều con: "Nhiều con giòn mẹ." - Không có con thì cô đơn: "Có chồng mà chẳng có con, khác nào hoa nở trên non một mình." - Chịu ảnh hưởng của đạo Nho: "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử." - Con coi trọng chồng hơn mẹ: "Mẹ kêu mặc mẹ, thƣơng chồng phải theo." - Mẹ con thắm thiết: "Ngầm ngập nhƣ mẹ gặp con, lon son nhƣ con gặp mẹ.", "Mẹ con một lần da đến ruột.", "Nhất mẹ nhì con.", "Sành sẹ nhƣ mẹ với con, lon ton nhƣ con với mẹ.", "Máu loãng còn hơn nƣớc lã, chín đời họ mẹ còn hơn ngƣời dƣng." - Mẹ chịu sự khó khăn, vất vả vì con: ”Một mẹ nuôi đƣợc mƣời con, mƣời con không nuôi đƣợc một mẹ.", "Mẹ sớm chiều ngƣợc xuôi tất tƣởi, con đầy ngày đám dƣới đám trên.", "Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi mẹ con kể từng ngày.", "Mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể

55

ngày.", "Mẹ nuôi con dùng dùng nén nén, con nuôi mẹ không đƣợc một nẹn trong tay.", "Mẹ lá rau lá má, con đầy rá đầy mâm.", "Ngày sau con tế ba bò, sao bằng lúc sống con cho lấy chồng." - Tiêu cực trong quan hệ mẹ con: "Mẹ em tham giàu bắt chạch đằng đuôi.", "Mẹ lừa ƣa con ngọng." Trong thị trƣờng, mẹ con cũng cạnh tranh: "Đƣợc mối hàng, mẹ chẳng nhƣờng con.", "Mẹ với con lúa non cũng lấy." Những tình huống dẫn ra trên đây cho thấy trong quan hệ mẹ con, tục ngữ theo sát cuộc sống của ngƣời mẹ, từ lúc mang thai, đẻ con, tới khi con lớn, mẹ về già, mẹ goá chồng. Sự quan tâm của dân gian đối với ngƣời mẹ thể hiện tinh thần trọng mẫu của ngƣời Việt. - Không can dự vào việc người khác: "Đình đám ngƣời, mẹ con ta." - Quan hệ nhân quả: "Mẹ ăn con trả." - ẢNH hưởng của mẹ tới con: "Mẹ đần lại đẻ con đần, gạo chiêm đem giã mấy lần vẫn chiêm.", "Mẹ nào con ấy." - Con không chịu ảnh hưởng của mẹ: "Mẹ cú con tiên, mẹ hiền con xục xạc.", "Mẹ tròn con méo.", "Vợ dại đẻ con khôn.", "Mẹ sống bằng hai bàn tay, con ăn mày bằng hai đầu gối." - Mẹ con đồng cảnh: "Con lở ghẻ, mẹ hắc lào." - Không có mẹ thì phải tự lo: "Không mẹ lẹ chân tay." - Cục bộ, mẹ chỉ biết con hoặc con chỉ biết mẹ: "Bà khen con bà tốt, một chạp bà biết con bà.", "Ở nhà nhất mẹ nhì con, ra đƣờng lắm kẻ còn đẹp còn giòn hơn ta.", "Con mẹ, mẹ xót, xót gì con dâu.", "Mẹ hát con khen hay.", "Mẹ hát con khen, ai chen vô lọt." - Hạn chế trong cuộc sống với mẹ: "Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn." Nhìn tổng quát, ta thấy: Theo quan niệm dân gian, sinh con là một tất yếu, đem lại hạnh phúc cho ngƣời mẹ, nếu không có con, cuộc sống ngƣời phụ nữ trở nên cô đơn, thiếu niềm vui. Có con, ngƣời phụ nữ phải chịu trách nhiệm nặng nề, phải hy sinh, vất vả vì con, đây là đặc trƣng cơ bản nhất trong quan hệ mẹ con mà tục ngữ tổng kết (với 18 câu trong tổng số 64 câu, bằng 28,12%). Tuy vậy, sự hy sinh không đƣợc hoặc không đòi hỏi đƣợc đền đáp xứng đáng. 2.4. Quan hệ cha con Số câu tục ngữ nói về quan hệ cha con là 49, với các nội dung chính nhƣ sau: - Cha là chỗ dựa cho con: "Bé nhờ cha, lớn nhờ chồng, già nhờ con.", "Con có cha nhƣ nhà có nóc, con không cha nhƣ nòng nọc đứt đuôi.", "Còn

56

cha ăn cơm với cá.", "Trẻ cậy cha, già cậy con.", "Một bát cơm cha bằng ba bát cơm rể.", "Còn cha gót đỏ nhƣ son, Một mai cha thác, gót con nhƣ chì". - Cha có trách nhiệm về phẩm chất của con: "Con hƣ bởi tại cha dung." - Cha con giữ truyền thống: "Cha truyền, con nối." - Con không cha thì cuộc sống khó khăn: "Con không cha thì con trễ, cây không rễ thì cây hƣ.", "Con không cha nhƣ nòng nọc đứt đuôi.", "Thứ nhất thì chết mất cha, thứ nhì buôn vã, thứ ba ngƣợc đò.", "Thứ nhất thì mồ côi cha, thứ nhì gánh vã, thứ ba buôn thuyền." - Trách nhiệm của cha: "Cha muốn cho con hay, thầy mong cho con khá." - Quan hệ nhân quả: "Đời cha đắp nấm, đời con ấm mồ.", "Đời cha trồng cây, đời con ăn qủa.", "Đời cha ăn mặn, đời con khát nƣớc.", "Một đời cha, ba đời con.", "Phụ trái tử hoàn, tử trái phụ bất can." (Cha mắc nợ thì con phải trả, con mắc nợ thì cha khỏi trả.) - Tình nghĩa: "Phụ tử tình thâm." - Phép tắc: "Con có cha, nhà có chủ" - Thể hiện quan điểm phát triển: "Con hơn cha là nhà có phúc." - Con xứng đáng với cha: "Cha anh hùng, con hảo hán.", "Hổ phụ sinh hổ tử." - Cha con làm điều xấu: "Cha đào ngạch, con xách nồi." - Con dối cha: "Đi dối cha, về nhà dối chú." - Tiêu cực trong quan hệ cha con: * Phá truyền thống: "Đời cha vo tròn, đời con bóp bẹp.", "Cha hổ mang đẻ con liu điu.", "Hổ phụ sinh cẩu tử.", "Cha bòn con phá". * Nghịch cảnh: "Cha trở ra trở vào, con ngồi cao gọi với.", "Cha để nhà cho trƣởng, cha ngất ngƣởng đi ăn mày.", "Cha thƣơng con út, con út đái lụt chân giƣờng.", "Cha bƣng mâm, con ngồi cỗ nhất." * Cái khó làm mất tình cha con: "Khó thì hết thảo, hết ngay, công cha cũng bỏ, nghĩa thầy cũng quên." - Thể hiện phong tục: "Mồng một tết cha, mồng ba tết thầy.'' - Cục bộ: "Cha hát, con khen, ai chen vô lọt." - Tình cảnh đáng ái ngại: "Cha già con cọc.", "Cha già, con mọn." - ẢNH hưởng Nho giáo: "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử." - Con bênh vực cha: "Chú đánh cha tôi, tôi tha gì chú.", "Con giữ cha, gà giữ ổ." - Coi trọng việc con gái giống cha: "Con gái giống cha giàu ba đụn."

57

- Con không thể thay thế mẹ trong việc chăm sóc cha: "Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông." Từ các nội dung trên đây, thấy nổi lên hai vấn đề là: vai trò quan trọng của ngƣời cha đối với con, những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ cha con. Về vai trò của ngƣời cha, tục ngữ khẳng định đó là vai trò trên những khía cạnh quan trọng nhất của cuộc sống: toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của con, phẩm chất của con, tƣơng lai của con, truyền thống gia đình. Những tiêu cực trong quan hệ cha con, tục ngữ khẳng định tác nhân là con: cả 14 câu tục ngữ thể hiện 4 kiểu biểu hiện của sự tiêu cực thì con đều đóng vai trò chủ thể, trong đó, nổi bật là sự cƣ xử bất hiếu và phá vỡ truyền thống, phá hoại thành quả do cha xây đắp nên. So sánh giữa quan hệ cha con và quan hệ mẹ con, thấy có nhiều điểm giống nhau nhƣng cũng có những điểm khác nhau nhƣ sau: - Giống nhau: * Có trách nhiệm nặng nề với con, hy sinh cho con. Riêng trách nhiệm về phẩm chất của con, vai trò của ngƣời mẹ đƣợc nhấn mạnh hơn: về số lƣợng, số câu tục ngữ nói về trách nhiệm của mẹ khi con hƣ nhiều gấp 3 lần số câu tƣơng tự đối với ngƣời cha, về nội dung, trách nhiệm của ngƣời mẹ đƣợc khẳng định ở nhiều khía cạnh hơn (con hƣ tại mẹ, mẹ ngoảnh đi con dại, mẹ phải gánh chịu hoàn toàn trách nhiệm khi con dại, còn đối với ngƣời cha, tục ngữ không quy trách nhiệm, mà chỉ tìm ra nguyên nhân (con hƣ là do cha dung). Điều này cho thấy, trong việc dạy con, ngƣời cha chỉ "cầm cƣơng", còn ngƣời mẹ thì "chi tiết hoá". * Bị con đối xử không tốt. Điều này cho thấy, trong truyền thống của ngƣời Việt, yếu tố tiêu cực đã chi phối quan hệ cha mẹ con, trong đó sự bất hiếu của con đối với cha mẹ thể hiện khá phổ biến, trên khá nhiều phƣơng diện - từ ăn uống, vui chơi con giành phần hơn, đùn đẩy việc nặng nhọc cho cha mẹ, tới việc thiếu trách nhiệm phụng dƣỡng cha mẹ khi cha mẹ về già, thậm chí còn ngăn cản việc đi bƣớc nữa tìm hạnh phúc của mẹ góa. Hiểu rõ điều này, chúng ta nên có cách nhìn biện chứng hơn đối với tình trạng ngƣợc đãi cha mẹ hiện nay đang phát triển trong xã hội, không nên đổ tại quá nhiều vào nền kinh tế thị trƣờng. Nền kinh tế thị trƣờng chỉ là điều kiện thuận lợi cho việc bộc lộ và phát triển sự bất hiếu của con đối với cha mẹ chứ không phải là nguyên nhân của tình trạng này. Để khắc phục tình trạng này, bên cạnh biện pháp giáo dục, cần điều chỉnh cách ứng xử: không nên hy sinh một cách thái quá, có khi mù quáng, theo kiểu truyền thống, mà phải có trách nhiệm với con

58

theo những điều kiện nhất định, phải phát huy tính tự lực, trách nhiệm của con đối với cuộc sống bản thân và gia đình. * Dựa vào con: Sẽ phải dựa vào con khi về già, nhƣng không muốn dựa vào con. * Cục bộ: Từ quan hệ máu thịt dễ nảy sinh tƣ tƣởng cục bộ, kìm hãm phát triển. Đây là phát hiện quan trọng của tục ngữ, chứng tỏ từ xƣa, ngƣời Việt đã nhìn ra sự hạn chế của lối quan hệ khép kín, thiếu cởi mở của kiểu gia đình tiểu nông và mong muốn có sự mở rộng quan hệ ra ngoài xã hội, khách quan hơn, có điều kiện để phát triển. - Khác nhau: * Cha có vai trò quan trọng về truyền thống gia đình, truyền lại cho con. * Quan hệ mẹ con thắm thiết, thiên về tình cảm. * Trong những biểu hiện tiêu cực, thì với quan hệ cha con, con luôn đóng vai trò tác nhân, còn trong quan hệ với mẹ, thì đa số trƣờng hợp, con đóng vai trò tác nhân, nhƣng cũng có trƣờng hợp mẹ đóng vai trò này. Có một điều đáng ngạc nhiên là mặc dù quan tâm sâu sắc đến ngƣời mẹ, nhƣng tục ngữ chỉ có một câu nói về trạng thái của con khi không có mẹ - đó là phải "lẹ chân tay", tức là phải năng động hơn trong cuộc sống, trong khi đó có tới 5 câu về trạng thái của con khi không có cha, nói chung đó là sự khốn khó, cùng cực. Phải chăng, các tác giả dân gian coi nhẹ vai trò của ngƣời mẹ trong việc là chỗ dựa cho con? Hoặc giả, tục ngữ thiên về lý trí, cho nên ở góc độ này, về mặt lý trí, thì ngƣời cha có vai trò quan trọng hơn ngƣời mẹ. Mặt khác, ngƣời cha có vai trò quan trọng hơn đối với số phận của ngƣời con, nhƣng về tình cảm thì tình mẫu tử lại mạnh hơn. 3. QUAN HỆ ANH EM, CHỊ EM RUỘT. Nói khái quát về quan hệ anh chị em, tục ngữ coi trọng tinh thần đoàn kết: "Khôn ngoan đá đáp ngƣời ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau." Tục ngữ đúc kết về anh em nhiều hơn so với về chị em (26/16 câu). 3.1. Quan hệ anh em - Gắn bó: "Anh em hạt máu sẻ đôi.", "Anh em nhƣ chân tay.", "Anh em trai ở với nhau mãn đại, chị em gái ở với nhau một thời." - Coi trọng sự hoà thuận: "Anh em chém nhau đằng dọng, không chém đằng lƣỡi.", "Anh em trong nhà, đóng cửa bảo nhau.", "Anh thuận em hoà là nhà có phúc.", "Em thuận, anh hoà là nhà có phúc."

59

- Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ anh em: * Bị vật chất chi phối: "Anh em hiền thậm là hiền, bởi một đồng tiền nên mất lòng nhau.", "Anh em gạo, đạo ngãi tiền.", "Nghèo thì giỗ tết, giàu hết anh em." * Mâu thuẫn nhau: "Anh em nhƣ chông, nhƣ mác." * Em chịu thiệt thòi: "Phận đàn em ăn thèm vác nặng." - Trách nhiệm của anh: * Thay thế cha: "Quyền huynh thế phụ." * Chịu vất vả: "Làm chị phải lành, làm anh phải khó." * Bao bọc em: "Của anh nhƣ của chú." * Bất công: "Anh ngủ, em thức; em chực, anh đi nằm." - Quan hệ thân tộc: * Anh em trai gắn bó hơn: "Con cô con cậu thì xa, con chú con bác thật là anh em." * Họ hàng giúp gắn bó anh em: "Đi việc làng giữ lấy họ, đi việc họ giữ lấy anh em." - Ứng xử giữa anh em: * Anh em phải nghiêm khắc hơn ngƣời ngoài: "Anh em khinh trƣớc, làng nƣớc khinh sau." * Phải thận trọng khi giải quyết công việc: "Anh em xem mặt cho vay." - Anh em trong quan hệ với hàng xóm: "Bán anh em xa, mua láng giềng gần." - Dùng anh em để nói lên cách ứng xử chung: "Khôn với vợ, dại với anh em." (giống nhƣ "Khôn nhà dại chợ.") 3.2. Quan hệ chị em - Quan hệ anh em trai lâu bền hơn chị em gái: "Anh em trai ở với nhau mãn đại, chị em gái ở với nhau một thời." (thể hiện phong tục: gái theo chồng). - Gắn bó: "Cắt dây bầu, dây bí, chẳng ai cắt dây chị, dây em.", "Yêu nhau chị em gái, rái nhau chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu là anh em rể." - Quan hệ tương hỗ, giúp nhau: "Chị dại đã có em khôn.", "Chị ngã em nâng.", "Con chị dắt con em." - Tiêu cực trong quan hệ chị em: *Bị đồng tiền chi phối: "Chị em hiền thật là hiền, lâm đến đồng tiền mất cả chị em.", "Chị em nắm nem ba đồng, muốn ăn thì trả sáu đồng mà ăn." *Xa cách: "Chị em không thèm đến ngõ."

60

- Cách thức ứng xử: * Giữ nền nếp: - Chị em trên kính dƣới nhƣờng, là nhà có phúc mọi đƣờng yên vui." * Chị chịu thiệt thòi: "Con chị cõng con em, con em lèn con chị.", "Em ngã thì chị phải nâng, đến khi chị ngã em bƣng miệng cƣời.", "Làm chị phải lành, làm anh phải khó.", "Tiền lĩnh quần chị không bằng tiền chỉ quần em." * Coi thƣờng em: "Chẳng khôn thể chị lâu ngày, chị đái ra váy cũng tày em khôn.", "Em khôn cũng là em chị, chị dại cũng là chị em." (Thể hiện lối sống theo kinh nghiệm, "sống lâu lên lão làng".) Khảo sát quan hệ anh - em, chị - em, thấy có những nét đáng chú ý nhƣ sau: Tục ngữ khẳng định sự gắn bó máu thịt giữa anh em, chị em. Để giữ tình máu mủ, quan trọng nhất trong quan hệ anh chị em là hòa thuận. Một lần nữa, chúng ta thấy trong truyền thống, ngƣời Việt hết sức coi trọng sự hòa thuận. Trong trách nhiệm của anh, chị với em, thì anh thiên về trách nhiệm mang tính lý trí, chị thiên về tình cảm: Anh có thể thay thế cha, chị đỡ đần, nâng giấc em. Tuy cùng có trách nhiệm với em, nhƣng anh đƣợc coi trọng hơn chị. Điều này thêm một lần nữa khẳng định gia đình ngƣời Việt xƣa là gia đình theo kiểu phụ quyền. Trong những biểu hiện tiêu cực của quan hệ anh chị em, đáng chú ý nhất là bị vật chất chi phối. Cả anh, chị và em đều bị đồng tiền, hạt gạo làm biến dạng quan hệ. Nhƣ vậy, không đợi đến cơ chế thị trƣờng ngày nay, những ngƣời trong gia đình mới bạc tình bạc nghĩa với nhau - nó đã đƣợc biểu hiện khá sớm, là mặt trái ẩn sâu trong truyền thống gia đình - do vậy, một lần nữa tục ngữ cho thấy chúng ta không nên quy kết mọi trách nhiệm về vấn đề đạo đức xuống cấp cho cơ chế thị trƣờng, từ đó có giải pháp đúng đắn, nhƣ giáo dục đạo đức, lối sống, đồng thời có các biện pháp hạn chế sự chi phối trái chiều của vật chất đối với quan hệ gia đình nói riêng và quan hệ xã hội nói chung. 4. QUAN HỆ DÂU RỂ VỚI GIA ĐÌNH Với 39 câu tục ngữ, các tác giả dân gian phản ánh khá sâu sắc quan hệ của gia đình đối với con dâu, con rể, trong đó nói nhiều hơn về quan hệ với con dâu. - Tinh thần dân chủ, rộng lượng: "Dâu dâu rể rể cũng kể là con.", "Dâu hiền hơn con gái, rể hiền hơn con trai.", "Dâu hiền nên gái, rể hiền nên trai.". - Con dâu gắn bó với gia đình hơn con rể: "Dâu là con, rể là khách.".

61

- Chọn con dâu khó khăn, nhưng chọn con rể phải kỹ hơn: "Lựa đƣợc con dâu, sâu con mắt.", "Kén dâu thì dễ, kén rể thì khó." - Con dâu gần gũi hơn: "Nuôi dâu thì dễ, nuôi rể thì khó." (Phù hợp với quan niệm “rể là khách”). - Gia đình chịu may rủi khi có con dâu: "Có phúc lấy đƣợc dâu hiền, vô duyên lấy phải dâu dại.", "Có phúc là dâu, vô phúc là bâu là báo", "Có phúc là nàng dâu, vô phúc là cái báo.", "Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng." Điều này cũng chứng tỏ con dâu có tác động quan trọng đến cuộc sống gia đình. - Tiêu cực trong quan hệ với con dâu, con rể: + Bất công với con dâu, con rể: "Con dâu thì dại, con gái thì không.", "Con mẹ, mẹ xót, xót gì con dâu.", "Con dâu mới về đan bồ chịu chửi.", "Bố chồng là lông con phƣợng, mẹ chồng là tƣợng mới tô, nàng dâu là bồ nghe chửi.", "Của mình thì để, của rể thì bòn.", "Thƣơng con mà dễ, thƣơng rể mà khó." + Mâu thuẫn mẹ chồng - con dâu là phổ biến: "Ƣa nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng.", "Chê mẹ chồng trƣớc đánh đau, phải mẹ chồng sau mau đánh.", "Mẹ chồng không ai nói tốt nàng dâu, nàng dâu đâu có nói tốt mẹ chồng.", "Mẹ chồng nàng dâu, chủ nhà ngƣời ở yêu nhau bao giờ.", "Thật thà cũng thể lái trâu, yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng." + Mẹ chồng dữ tính: "Chồng dữ thì lo, mẹ chồng dữ đánh co mà vào.", "Mẹ chồng dữ mẹ chồng chết, nàng dâu có nết nàng dâu chừa.", "Mẹ chồng mà dữ mổ bò ăn khao." Đây cũng là cách nói ngƣợc của dân gian để thể hiện một ý khác với vỏ ngôn ngữ đƣợc dùng ("ăn khao" không có nghĩa là mừng). + Con dâu đối xử không tốt: "Rau muống tháng chín, nàng dâu nhịn cho mẹ chồng ăn.", "Mẹ chồng vai gồng vai gánh, cƣới dâu về để thánh lên thờ." - Anh em rể không gắn bó: "Anh em rể đánh nhau sể đùi.", "Yêu nhau chị em gái, rái nhau chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu là anh em rể." - Anh em rể cư xử với nhau theo nghi lễ, con trai trưởng có vai trò quan trọng, uy quyền: "Anh em rể đúng lệ mà theo, sợ cái mắt nheo của ông con trƣởng." Nhìn chung, ngƣời Việt xƣa có quan niệm khá công bằng về con dâu, con rể. Điều này có cơ sở xã hội - xƣa kia, trong công xã nông thôn, với lũy tre làng bao bọc, quan hệ giữa các thành viên trong làng khá mật thiết, mà việc lấy vợ lấy chồng thƣờng khép kín trong lũy tre làng, do đó, dâu rể không phải là những ngƣời xa lạ và việc họ trở thành thành viên chính thức trong gia đình là

62

điều dễ chấp nhận. Tuy cùng là thành viên mới của gia đình sau khi thành hôn, nhƣng ngƣời đàn ông không gắn bó với gia đình vợ bằng ngƣời đàn bà gắn bó với gia đình chồng - dâu là con, nuôi dễ, rể là khách, nuôi khó. Điều này cũng chứng minh cho chế độ phụ quyền của xã hội Việt Nam xƣa, trong đó, khi đã thành gia thất, thì ngƣời phụ nữ phải trao thân gửi phận cho gia đình chồng. Tuy vậy, ngƣời phụ nữ không phải là kẻ phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình chồng, ngƣợc lại, vẫn có vai trò điều tiết quan hệ của gia đình chồng, bởi vì tục ngữ đã chỉ ra rằng lấy đƣợc dâu hiền là nhà có phúc, còn lấy phải dâu dại thì nhà thật vô duyên. Bên cạnh mặt tích cực nói trên, trong quan hệ dâu, rể, những biểu hiện tiêu cực cũng khá phổ biến: về số lƣợng, số câu tục ngữ nói về tiêu cực là 16, bằng 41,25% số câu nói về con dâu, con rể. Về nội dung, tính chất tiêu cực khá nghiêm trọng, trong đó quan hệ mẹ chồng - nàng dâu có nhiều tiêu cực nhất, tới mức là phổ biến và không thể điều tiết đƣợc. TIỂU KẾT Qua khảo sát tục ngữ, chúng tôi đã tìm hiểu phong tục tập quán của ngƣời Việt trong quan hệ gia đình ở những mối quan hệ cơ bản là vợ chồng, cha mẹ con, dâu rể và anh chị em ruột. Về quan hệ vợ chồng: Nổi bật là sự thuỷ chung, gắn bó. Ngƣời Việt coi trọng sự hoà thuận, êm ấm. Ngƣời vợ thƣờng đóng vai trò điều tiết quan hệ vợ chồng, mà biện pháp chính là khuyên bảo, nhƣờng nhịn chồng. Trong quan hệ với ngƣời chồng, thì ngƣời vợ đóng vai trò bị động nhiều hơn, là ngƣời phải chịu đựng, phải hy sinh. Trong quan hệ với ngƣời vợ, ngƣời chồng đóng vai trò chủ động nhiều hơn, tuy vậy, không phải là sự chủ động của một vị thống soái, mang ý nghĩa tuyệt đối. Qua tục ngữ, ngƣời Việt đã tổng kết về cách thức ứng xử trong quan hệ vợ chồng là: Vợ phải biết điều, nhƣờng nhịn, thƣơng chồng, chiều chồng, chung thuỷ. Vợ phải cống hiến, chồng phải công bằng. Về quan hệ cha mẹ con: Tục ngữ ngƣời Việt khẳng định cha mẹ là chỗ dựa cho con, phải vất vả, tốn kém vì con. Trách nhiệm chính của cha mẹ đối với con là nuôi nấng, dạy dỗ con thành ngƣời có ích cho xã hội. Sống trong chế độ phụ quyền, trong gia đình ngƣời Việt, ngƣời cha có vai trò quan trọng đối với con trên những khía cạnh quan trọng nhất của cuộc sống, ngƣời mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc con trong đời thƣờng, tác động của ngƣời mẹ đến con chủ yếu là về tình cảm. Sự hy sinh của cha mẹ, đặc biệt là mẹ, với con là vô bờ bến. Con cái phải kính trọng và biết ơn cha mẹ. Điều cần phê phán là con cái đối xử không tốt với cha mẹ, có nhiều trƣờng hợp phá vỡ truyền thống tốt đẹp của gia đình.

63

Về quan hệ anh chị em ruột: Tục ngữ khẳng định sự gắn bó máu thịt giữa anh em, chị em. Để giữ tình máu mủ, quan trọng nhất trong quan hệ anh chị em là hòa thuận. Có một số trƣờng hợp, do tranh giành kinh tế mà quan hệ anh chị em bị sứt mẻ. Cách thức giải quyết mâu thuẫn chủ yếu là “đóng cửa bảo nhau”. Về quan hệ dâu rể: Tục ngữ phản ánh quan hệ dâu rể với gia đình bên chồng hoặc vợ không nhiều, nhƣng có nhiều sắc thái. Quan niệm về dâu rể của ngƣời Việt khá dân chủ, trọng tình nghĩa, nhƣng trong hành xử, nổi bật là mâu thuẫn triền miên giữa con dâu và mẹ chồng. Nhìn tổng quát về quan hệ gia đình người Việt, ngoài mối quan hệ có phần căng thẳng giữa nàng dâu - mẹ chồng, còn lại các mối quan hệ khác đƣợc tục ngữ phản ánh với cái nhìn ấm áp, làm nổi bật sự gắn bó, hoà thuận, có trách nhiệm, coi đó là tiêu chí để xây dựng gia đình êm ấm và bền vững. Chính nhờ vậy, dòng chảy chính trong các câu tục ngữ về gia đình đã tạo nên âm hƣởng của chủ nghĩa nhân đạo, cổ vũ cho tình yêu thƣơng, gắn bó giữa những con ngƣời với nhau.

64

CHƢƠNG BA NHỮNG QUAN HỆ CHÍNH TRONG GIA ĐÌNH NGƢỜI VIỆT THỂ HIỆN QUA CA DAO Trong phần khảo cứu này, chúng tôi dựa vào Kho tàng ca dao người Việt do Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên. Theo các tác giả, số câu ca dao có trong sách là 11.825 đơn vị. Qua cách chọn lựa của chúng tôi theo tiêu chí gia đình thì trong 11.825 đơn vị này có 1.179 câu ca dao nói về gia đình, chiếm tỷ lệ 9,97% (gần bằng tỷ lệ này trong tục ngữ). Phần mềm về ca dao cũng đã giúp chúng tôi thống kê nhanh chóng và chính xác những câu ca dao theo những tiêu chí phù hợp với yêu cầu nghiên cứu về phong tục tập quán thể hiện trong quan hệ gia đình, tuy chúng tôi mới chọn nhập vào phần mềm này 6.995 đơn vị ca dao về gia đình và có liên quan đến gia đình. Số câu ca dao về gia đình có những nội dung chính nhƣ sau: - Phản ánh các mối quan hệ trong gia đình: Trong tổng số 1.179 câu ca dao nói về gia đình, chúng tôi thống kê đƣợc nhƣ sau:  Quan hệ vợ chồng: 690 câu, chiếm 58,52% tổng số câu ca dao về gia đình.  Quan hệ cha mẹ con: 446 câu (37,79%).  Anh chị em: 27 câu (2,29%).  Dâu, rể: 87 câu (7,37%). - Phản ánh tính chất của các mối quan hệ trong gia đình:  Gắn bó: 291 câu (vợ chồng: 261 câu. Cha mẹ con: 45 câu).  Lỏng lẻo: 128 câu (Vợ chồng: 107 câu. Cha mẹ con : 14 câu). - Phản ánh vấn đề hôn nhân: 170 câu. Từ số lƣợng các câu ca dao theo nội dung đƣợc thể hiện, chúng tôi lựa chọn những vấn đề sau để khảo cứu:  Quan hệ vợ chồng.  Quan hệ cha mẹ con.  Quan hệ nàng dâu mẹ chồng.  Vấn đề hôn nhân.

65

1. QUAN HỆ VỢ CHỒNG Nhƣ đã thống kê trên đây, trong Kho tàng ca dao người Việt, chủ đề gia đình có 1.179 câu ca dao, trong đó quan hệ vợ chồng chiếm số lƣợng nhiều nhất với 690 câu. Những nội dung chính trong quan hệ gia đình đƣợc phản ánh qua ca dao nhƣ cách thức ứng xử, những biểu hiện tích cực hoặc tiêu cực, sự gắn bó hay không gắn bó… cũng đƣợc phản ánh thông qua mối quan hệ vợ chồng là chính. Trong mục này, chúng tôi khảo sát quan hệ gia đình thông qua quan hệ vợ chồng đƣợc phản ánh trong 690 câu ca dao nói trên. 1.1. Những nét đặc trƣng trong quan hệ vợ chồng thể hiện qua ca dao Nhƣ đã nói ở phần mở đầu, số công trình nghiên cứu tục ngữ, ca dao về gia đình không có nhiều, phần lớn là những ý hoặc mục trong một công trình; chƣa có một công trình độc lập nào nghiên cứu về chủ đề này. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu nêu lên đặc trƣng của quan hệ vợ chồng ngƣời Việt thể hiện qua ca dao là hoà thuận và gắn bó. Tuy vậy, cũng có một số tác giả chỉ phân tích sâu về những nỗi bất hạnh trong quan hệ vợ chồng, quy kết đó là hậu quả của quan niệm và cách thức ứng xử theo kiểu chế độ phong kiến, chịu sự áp chế của chế độ phụ quyền, vì thế, trong quan hệ vợ chồng, ngƣời phụ nữ luôn luôn bị thiệt thòi, cay đắng. Học giả Nguyễn Bách Khoa đã đối lập ngƣời đàn ông với ngƣời đàn bà, nhìn nhận họ trong mâu thuẫn không thể điều hoà đƣợc. Trong Kinh thi Việt Nam, Nguyễn Bách Khoa viết: "Luân lý phụ quyền đặt ngƣời đàn ông lên địa vị chủ tể. Phụ nữ Việt Nam đã mỉa mai, giày đạp cái oai quyền ấy. Họ tìm đủ tính xấu của đàn ông đem ra trào phúng, để chứng rằng địa vị ƣu thắng của đàn ông không đƣợc họ công nhận. Cái tính xấu thứ nhất mà họ chê bai ở đàn ông là tính hoang toàng, đĩ thoã, phụ tình: Khi thì là một cậu lính khinh bạc vợ: Bông bông nẩy lộc ra hoa Một đàn vợ lính trẩy ra thăm chồng Trẩy ra gánh gánh gồng gồng Trẩy ra thăm chồng bẩy bị còn ba "Nào ai nhắn nhủ mi ra Mi ngồi mi kể con cà con kê? Muốn tốt quẩy bị mà về Việc quan tao chịu một bề cho xong Xƣa kia tao ở trong phòng Bây giờ tao đã vào trong hàng quyền"

66

Hai tay bƣng đĩa giầu lên Trƣớc lạy hàng quyền sau lạy cậu cai |Chồng tôi tham sắc tham tài Một chĩnh đôi gáo, tôi ngồi sao yên Tôi xin chiếc đũa đồng tiền Anh đi lấy vợ, tôi xin lấy chồng Anh đi lấy vợ cách sông Tôi về lấy chồng giữa ngõ anh ra."[63:103-104]. Sau đó, Nguyễn Bách khoa dẫn ra các câu ca dao để chứng minh cho nhận định của mình về sự châm chọc của phụ nữ trƣớc những thói xấu của đàn ông: đàng điếm, không đứng đắn, cờ bạc hoang toàng, tham ăn, ham sắc phụ tình, rồi phân tích: "Hạng ngƣời nhƣ thế mà bắt đàn bà phải phục tòng, trung thành, trinh khiết, đức hạnh, cần kiệm, cam chịu thì thật là một sự tối ƣ vô lý. Nghĩ thế nên đàn bà họ tƣởng có quyền đối lại cái ích kỷ của đàn ông bằng một thái độ ích kỷ chẳng kém. Họ chống lại từng lời nói, từng ý kiến, từng hành vi của đàn ông. Trƣớc hết, họ đem cái địa vị "chồng" của đàn ông ra giễu cợt: Bồng bồng cõng chồng đi chơi Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng Chị em ơi! Cho tôi mƣợn cái gầu sòng Để tôi tát nƣớc múc chồng tôi lên." [63:107]. Tiếp đó, Nguyễn Bách Khoa nhận định, dẫn chứng và phân tích nhƣ sau: "Nhiều khi họ lại trâng tráo hơn thế nữa: Hỡi cô mặc yếm hoa tằm Chồng cô đi lính cô nằm với ai? Cô đẻ thằng bé con giai Chồng về chồng hỏi: con ai thế này? Con tôi đi kiếm về đây Có cho nó gọi bằng thầy thì cho. Thật là một mũi tên thuốc độc bắn trúng tim luân lý phụ quyền. Sự đi ăn nằm với ngƣời khác mà đƣợc thú nhận một cách táo tợn nhƣ thế tỏ ra rằng ngƣời đàn bà cũng đã hiểu cái độ lƣợng thuỷ chung của chồng lắm lắm." [63:108]. Sau nhiều đoạn nhận định, dẫn chứng và phân tích dẫn chứng theo mô hình trên đây, Nguyễn Bách Khoa đi đến kết luận:

67

"Ngƣời đàn bà đã nổi loạn. Họ đã chống lại triết lý phụ quyền. Họ đã cố đạp đổ cái hình tƣợng "Đàn ông". Trong khi chống phụ quyền, họ đã tỏ ra một thái độ cƣơng quyết, cực đoan trắng trợn. Họ đòi sự bình quyền với đàn ông ở các phƣơng diện." [63:114]. Nguyễn Bách Khoa viết Kinh Thi Việt Nam trong bối cảnh xã hội đang chống phong kiến mạnh mẽ, cho nên về mặt tâm lý, dễ dẫn đến lối phê phán mạnh mẽ nhƣ trên, cũng là điều dễ hiểu. Tuy vậy, ngay trong phƣơng pháp, tác giả đã có những sai lầm, cho nên dẫn đến sự cực đoan về mặt khoa học. Cần lƣu ý rằng, cùng trong một bối cảnh xã hội, nhƣng với phƣơng pháp nghiên cứu khoa học, khách quan hơn, nhiều tác giả đã không mắc phải sai lầm nhƣ Nguyễn Bách Khoa. Nguyễn Bách Khoa đã không nhìn nhận vấn đề thái độ của phụ nữ đối với chồng trong hệ thống các biểu hiện, để thấy toàn diện cả hai mặt tích cực và tiêu cực, mà chỉ dựa trên liên tƣởng chủ quan của mình, kết hợp với phƣơng pháp lựa tìm chứng cứ theo hƣớng chủ quan, phiến diện, do đó đã dẫn đến kết luận thiếu toàn diện, không chính xác. Thực ra, theo thống kê và so sánh trong hệ thống mà chúng tôi đã sử dụng ở các chƣơng trên, có thể thấy thái độ chủ đạo của phụ nữ đối với chồng là thƣơng yêu và quý trọng chứ không phải là khinh mạn nhƣ nhận định của Nguyễn Bách Khoa. Nghiên cứu tục ngữ, chúng tôi đã rút ra kết luận rằng đặc trƣng của quan hệ vợ chồng ngƣời Việt là gắn bó trong hoà thuận, nhƣờng nhịn và thƣơng yêu nhau, trong đó ngƣời phụ nữ thƣờng đóng vai trò điều tiết. Khi khảo sát ca dao, chúng tôi cũng thu đƣợc kết quả tƣơng tự. Về lƣợng, số câu ca dao thể hiện sự gắn bó vợ chồng là 258, nhiều gấp 2,4 lần số câu thể hiện sự không gắn bó (107 câu), và bằng 37,68% so với tổng số câu ca dao về quan hệ vợ chồng. Qua ca dao, các tình huống thể hiện sự gắn bó vợ chồng chiếm ƣu thế, hay nói cách khác, sự gắn bó là một đặc trƣng trong quan hệ vợ chồng ngƣời Việt. Ca dao ngƣời Việt phản ánh sự gắn bó nhƣ sau: - Về phía người vợ: Không nghe lời tán tỉnh của ngƣời khác, Nguyện ở với chồng đến già, Đi theo chồng khắp nơi, Chăm nom chồng, Thƣơng chồng, Nhịn lúc chồng nóng giận, Nhớ chồng, Lao động thay chồng, Chờ chồng, Chung thuỷ, Vƣợt mọi khó khăn, gian khổ, Gánh vác việc nhà, Làm chỗ dựa cho chồng, Vui buồn cùng chồng, Giữ nền nếp, Cam chịu, Nghe lời chồng, Thờ cha kính mẹ chồng, Trả công nợ, Khuyên chồng, Giữ duyên cho chồng, Chịu đựng, Biết tính chồng, Nhƣờng vật chất cho chồng, Gắng công vì chồng, Chịu lầm than. Một số câu tiêu biểu là:

68

1. Chàng ơi, chớ bực sầu tƣ Khi xƣa có mẹ, bây chừ có em. 2. Có chồng thì phải theo chồng Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo Có chồng thì phải theo chồng Đắng cay cũng chịu, mặn nồng cũng vui. 3. Chim xa bầy thƣơng cây nhớ cội Vợ xa chồng đạo nghĩa nào sai Vàng ròng cả lửa chẳng phai Ở cho chung thuỷ có ngày gặp nhau. 4. Đi đò tát nƣớc cho chuyên Lấy chồng thì phải giữ duyên cho chồng. 5. Em là con gái có chồng Mồ cha những đứa đem lòng nọ kia. Ca dao cho ta hình tƣợng về một ngƣời vợ lo toan, đảm đang công việc, sẵn sàng hy sinh cho chồng, làm đẹp lòng chồng. Ở một chừng mực nào đó, phẩm chất của ngƣời vợ do bị ảnh hƣởng của tƣ tƣởng Nho giáo với "tứ đức, tam tòng" mà lại trở nên sáng lạn trong một số câu ca dao. Điều đó cũng dễ hiểu, vì ngƣời phụ nữ Việt đã biết tiếp thu những yếu tố tích cực của đạo đức Nho giáo, xây dựng nên tình nghĩa vợ chồng theo một số khuôn mẫu mang tính lý tƣởng của Nho giáo, nhƣng có biến cải đi ít nhiều cho đơn giản và gần gũi đời thƣờng hơn. - Về phía người chồng: Không tham giầu mà chuộng tính nết vợ, Lao động nuôi con, Đón đƣa vợ, Nhớ vợ, Bỏ qua khuyết tật của vợ, Không vong vợ, Thƣơng yêu mẹ vợ, Cùng hƣởng vinh hoa, Chịu khổ, không chịu chia lìa, Chăm sóc vợ. Một số câu tiêu biểu là: 1. Đôi bên bác mẹ tƣ tề Anh đi làm rể em về làm dâu Chẳng tham nhà gỗ xoan đâu Tham vì một nỗi em mau miệng cƣời Trăm quan mua một miệng cƣời Trăm quan không tiếc, tiếc ngƣời hồng nhan. 2. Làm trai giữ trọn ba giềng Thảo thân, ngay chúa, vợ hiền chớ vong. 3. Mẹ nàng khác thể mẹ ta Phận dù đói rách, thiệt thà anh thƣơng.

69

4. Ngọn lau lên khỏi bờ Ngọn lúa trổ đòng đòng Em đừng than đừng thở, để anh phải tủi lòng khóc theo Hai tay anh bụm bọt phá bèo Xƣa kia khắp chốn không ai nghèo nhƣ anh Ban ngày anh đốn củi rừng xanh Tối về chỉ một tấm tranh che đầu Mƣa sa nhỏ giọt nhƣ dầu Khổ thời anh chịu khổ, chứ lìa nhau anh không lìa. 5. Trời hè lắm trận mƣa rào Gặt sớm phơi sớm liệu sao cho vừa Khuyên em chớ ngại nắng mƣa Của chồng công vợ, bao giờ quên nhau. Hình tƣợng ngƣời chồng thật bình dị, không giầu sang, oai phong mà gần gũi, đồng cảnh với ngƣời vợ. Điều đáng quý của ngƣời chồng mà ca dao phản ánh là siêng năng, cần mẫn, biết yêu thƣơng vợ con, cảm thông cho hoàn cảnh của nhau, tôn trọng những thành quả do hai ngƣời vun đắp nên. Cả hai vợ chồng: Cùng lao động và chịu cảnh nghèo, Không thay lòng đổi dạ, Theo nhau không kể giầu nghèo, Ngàn năm không quên, Thƣơng nhau, Hài lòng trong cuộc sống vợ chồng, Vƣợt qua sự phân biệt tôn giáo, Hoà thuận, Cùng chung vinh, nhục, thảm nghèo, Một vợ một chồng, Không rời nhau, Sống với nhau suốt đời, Không thể dứt nhau, Chờ đợi nhau, Thuỷ chung. Một điều dễ nhận thấy là ca dao về gia đình có rất nhiều câu rất hay, nói về cảnh sinh hoạt vợ chồng, nhƣ: Trên đồng cạn, dƣới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa. Một bức tranh thuỷ mạc về vợ chồng ngƣời nông dân tuy lao động cực nhọc nhƣng quấn quýt bên nhau trong khung cảnh yên bình. Hình ảnh con trâu tham gia vào công việc nhà nông của họ làm cho bức tranh quê càng thêm sinh động. Cùng với chồng và vợ, con trâu đã khắc hoạ đậm nét hình ảnh loại gia đình Việt tiêu biểu – gia đình hạt nhân, với hai lao động chính. Ngƣời ta cảm thấy một sự yên phận, không màng công danh, phú quý, vui với cái nghèo, miễn là khuya sớm vợ chồng thuận hoà bên nhau. Điều ấy không phải là yếm thế, tiêu cực. Trong cuộc sống bon chen, lọc lừa và nhiều bất trắc, thì ƣớc mơ bình dị vợ chồng gắn bó, hoà thuận với nhau lại là tiếng nói tích cực, đầy nhân bản.

70

Một số câu tiêu biểu là: 1. Đôi ta vợ cấy chồng cày Chồng nay sƣơng sớm vợ nay sƣơng chiều Ta nghèo vui phận ta nghèo Quản chi sƣơng sớm, sƣơng chiều, hỡi anh! 2. Đêm hè gió mát trăng thanh Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp thừng Lạt chẳng mỏng, sao thừng đƣợc tốt? Duyên đôi ta đã trót cùng nhau Trăm năm thề những bạc đầu Chớ tham phú quí, đi cầu trăng hoa. 3. Đạo vợ chồng hôm ấp mai ôm Phải đâu cua cá với tôm Khi đòi mớ nọ khi chồm mớ kia. 4. Bên lƣơng bên giáo, bên đạo cũng nhƣ bên ta Về đây ta kết nghĩa giao hoà Phải duyên phải kiếp, áo Chúa Bà ta mặc chung. 5. Công danh theo đuổi mà chi Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông Sớm khuya có vợ có chồng Cầy sâu bừa kỹ mà mong đƣợc mùa. 6. Đói no một vợ một chồng Một niêu cơm tấm, dầu lòng ăn chơi. Từ ba góc nhìn trên đây, chúng tôi nhận thấy các tác giả dân gian rất nhất quán khi phản ánh sự gắn bó trong quan hệ vợ chồng của ngƣời Việt xƣa: dù nhìn từ phía vợ hay phía chồng, hoặc từ phía cả hai vợ chồng, thì nét đặc trƣng cơ bản vẫn là sự gắn bó bằng tình cảm nồng thắm. Ngƣời Việt xây dựng quan hệ vợ chồng trên cơ sở yêu thƣơng nhau ở tính nết, và tình yêu ấy đƣợc thử thách qua việc họ cùng nhau chịu cảnh nghèo, cùng nhau lao động, tôn trọng cha mẹ của nhau, sống chung thuỷ với nhau. Để hiểu sâu hơn sự gắn bó trong quan hệ vợ chồng ngƣời Việt, cần chú ý đến một số đặc điểm là: theo nhau là biểu hiện của sự gắn bó, càng xa cách càng gắn bó, gắn bó trong lao động. 1.1.1. Sự chuyển đổi ý nghĩa từ khái niệm ''tòng phu” sang khái niệm “theo nhau” Một số nhà nghiên cứu đi trƣớc nhận định rằng, do ảnh hƣởng của Nho giáo, mà ngƣời phụ nữ Việt Nam phải tòng phu (theo chồng), và chính vì phải

71

theo chồng nhƣ vậy nên ngƣời vợ luôn luôn phải chịu mọi áp bức, đắng cay, thiệt thòi… Các tác giả Thi ca bình dân Việt Nam viết về ý thức tại gia tòng phụ nhƣ sau: "- Đây là một quy luật bắt buộc ngƣời đàn bà. Chữ “tòng” đây không chỉ có nghĩa là đi theo mà còn phải tuân theo mệnh lệnh của ngƣời chồng nữa. Ý thức này ăn sâu vào dân gian đến nỗi trong ca dao đã có những câu nhƣ: Con vua ƣng thằng đốt than Nó lên trên ngàn cũng phải đi theo…” “… Bởi vậy, ngƣời đàn bà sống trong chế độ Tam tòng thƣờng có tƣ tƣởng yếu đuối, cầu an. Họ chỉ còn biết làm sao cho chồng thƣơng để nhờ vào sự che chở của ngƣời chồng.” [72:189]. “Xem thế, ngƣời đàn bà đối với chồng chỉ có nhẫn nhục và chiều chuộng.” [72:194]. “Ngƣời đàn bà Việt Nam thƣơng chồng và theo chồng, trên căn bản, không bị áp bức, bắt buộc, mà phát xuất ở tình thƣơng, ở lòng mong mỏi xây dựng gia đình.” [72:198]. “Theo chồng với ý nghĩa của họ không phải nhƣ chế độ tòng phu của Khổng Mạnh, mà chính là để xây dựng tình thƣơng, xây dựng cuộc sống theo khái niệm xã hội tƣ hữu và thuỷ chung. Cho nên, trong ý thức theo chồng của họ, chúng ta lại thấy phảng phất sự cân nhắc về cách biệt gia đình cha mẹ. Khi trong tâm tƣ con ngƣời đã có sự so sánh giữa bổn phận theo chồng và bổn phận nuôi cha mẹ, tất nhiên đạo tòng phu không còn là một quy luật tuyệt đối trong chế độ Khổng Mạnh nữa.” [72:198]. “Trong ca dao Việt Nam chúng ta thấy trƣớc mắt ngƣời đàn bà, ngƣời đàn ông không phải là những thần tƣợng để tôn thờ nhƣ giáo lý Khổng Mạnh đã lừa phỉnh họ. Vì vậy, tuy mến ngƣời đàn ông, nhƣng họ vẫn phủ nhận ý thức tôn thờ ấy. Họ tìm cách mỉa mai, châm biếm, đem thực tế ra chứng minh để tỏ rằng địa vị ngƣời đàn ông không đƣợc họ công nhận và đáng tôn thờ.” [72:198-199]. “Cho nên, nếu ngƣời đàn ông đem giá trị ngƣời đàn bà hạ nhục để khống trị, thì chính ngƣời đàn bà cũng đem giá trị ngƣời đàn ông hạ nhục để chống lại. Trạng thái ấy phản ứng rất rõ rệt trong ca dao Việt Nam…” [72:203]. Các tác giả nói trên đã mâu thuẫn với chính mình khi phân tích về ngƣời phụ nữ trong xã hội phụ quyền: trong khi khẳng định rằng ý thức tại gia tòng

72

phụ đã ăn sâu vào dân gian, làm cho ngƣời vợ chỉ biết nhẫn nhục, chiều chuộng chồng, thì lại cũng khẳng định rằng ngƣời phụ nữ theo chồng là do tự nguyện, ngƣời đàn bà đã phủ nhận ý thức tôn thờ ngƣời đàn ông, đem giá trị ngƣời đàn ông ra để hạ nhục. Chúng tôi cho rằng, trong khi phê phán những thói hƣ tật xấu của ngƣời đàn ông cũng nhƣ ngƣời đàn bà, các tác giả dân gian không nhằm hạ nhục cả một giới, mà chỉ nhằm chống lại những biểu hiện tiêu cực cụ thể trong xã hội mà thôi. Mặt khác, không nên ngộ nhận rằng Nho giáo đã lừa phỉnh ngƣời đàn bà khi khuyên họ tôn thờ ngƣời đàn ông. Trong quan hệ vợ chồng, Nho giáo chủ trƣơng ngƣời vợ phải tôn kính ngƣời chồng. Trong thực tế, nếu ngƣời chồng đáng tôn kính thì việc tôn kính chồng sẽ càng làm cho quan hệ vợ chồng thêm gắn bó, có gì là trái lẽ thƣờng đâu! Trở lại việc theo nhau của vợ chồng ngƣời Việt, chúng tôi thống kê đƣợc nhƣ sau: Có 44 câu ca dao sử dụng từ theo, nhƣng không phải chỉ với nghĩa vợ theo chồng, mà còn với nghĩa chồng theo vợ, và vợ chồng theo nhau. Nội dung của việc theo chồng cũng không đơn thuần thể hiện tính phục tòng, lệ thuộc của ngƣời vợ đối với ngƣời chồng, mà chủ yếu là biểu hiện tình cảm thắm thiết giữa hai vợ chồng. Có thể thấy rõ điều này qua các câu ca dao trích dẫn nhƣ sau: - Cả hai theo nhau: “Dẫu làm nên võng giá, rủi ăn mày cũng theo nhau”, “Phải duyên phải kiếp thì theo”, “Theo nhau cho trọn kiếp”, “Quyết theo nhau cho trọn đạo”, “Theo nhau cho trọn lời vàng đá”, "Theo nhau cho trọn, tử sinh cũng đành”, “Theo đôi, theo lứa mới thành thất gia.”. - Vợ cheo chồng: “Làm thân con gái phải đi theo chồng”, “Lấy chồng, theo thói nhà chồng”, “Võng anh đi trƣớc, võng nàng theo sau”, “Theo sau, em có võng vàng đƣa chân”, “Chàng về thiếp cũng về theo/Mấy sông mấy cụm, cũng trèo cũng qua”, “Chàng lên non, thiếp cũng lên non/Chàng lên trời, vƣợt biển, thiếp cũng bồng con theo chàng.”, “Chàng về cho thiếp theo cùng/Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam”, “Có chồng thì phải theo chồng/Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo.”, “Có chồng thì phải theo chồng/ Đắng cay cũng chịu, mặn nồng cũng vui.”, “Tôi ngỡ anh khá tôi theo anh về”, “Duyên ƣa phận đẹp thì nƣờng cũng theo.”, “Khó mà xứ ruộng em theo.”, “Phải duyên em nhất định theo”, “Phải duyên phải kiếp thì theo”, “Thƣơng chồng phải theo”, “Thiếp thƣơng chồng, thiếp phải chạy theo”. (Tuy vậy, cũng có lúc ngƣời phụ nữ không theo chồng, ví nhƣ: “Ăn cam ngồi gốc cây cam/Lấy anh thì lấy về Nam không về.”, “Ăn chanh ngồi gốc cây chanh/Lấy anh thì lấy về Thanh không về.”)

73

- Chồng theo vợ: “Vợ mà biết ở ắt chồng phải theo.”, “Phải duyên phải kiếp thì theo/ Khuyên em đừng nghĩ đói nghèo làm chi”, “Giận chồng xách gói ra đi/ Chồng theo năn nỉ tù ti trở về.”, “Mình về tôi cũng đi theo/ Sum vầy phu phụ, hiểm nghèo có nhau”. Nhƣ vậy, qua ca dao, chúng ta thấy không phải chỉ có phụ nữ mới theo chồng, mà còn có cả đàn ông theo vợ, và quan trọng hơn là họ theo nhau. Tất nhiên, sống trong một chế độ xã hội, con ngƣời không thể không chịu ảnh hƣởng của chế độ xã hội ấy, cho nên, ngƣời phụ nữ sống trong chế độ phong kiến, tất phải chịu ảnh hƣởng của chế độ phong kiến, kể cả trong quan hệ vợ chồng. Chính vì vậy mà qua ca dao, chúng ta thấy ngƣời phụ nữ hay nói đến chữ theo chồng, không những thế mà còn theo cả thói nhà chồng, và họ coi đó là sự tất yếu, nhiều khi không quan tâm đến cái nghĩa theo là thế nào. Liên hệ đến yêu cầu của Khổng Khâu cốt làm cho dân theo giáo lý của mình chứ không cốt làm cho dân hiểu nó, thì thấy rằng Nho giáo đã gặt hái đƣợc những thành công nhất định trong việc truyền bá quan niệm tòng phu vào xã hội Việt Nam, làm cho khái niệm này trở thành câu nói cửa miệng của dân gian. Mặt khác, vợ theo chồng cũng là lẽ thƣờng tình, nếu nhƣ việc theo đó là để xây dựng hạnh phúc lứa đôi. Tuy vậy, khi sử dụng cái vỏ ngôn ngữ tòng phu, ngƣời Việt cũng khá mơ hồ trong việc hiểu nội dung của nó, họ không nói rõ tòng phu là thế nào, đã vậy họ còn Việt hoá cả cái vỏ ngôn ngữ ấy thành theo chồng, mở rộng ra thành vợ chồng theo nhau. Thế rồi, khái niệm theo chồng đã chứa đựng những nội dung rất cụ thể và dung dị nhƣ chính cuộc sống của ngƣời dân quê: theo là vì hợp duyên, vì thƣơng chồng, và quan trọng hơn là để chung nhau gánh vác công việc, chung nhau thụ hƣởng niềm vinh quang hay chia sẻ sự thống khổ, cũng có khi để dựa vào ngƣời chồng. Nhƣng, nổi bật là ngƣời phụ nữ theo chồng với chí hƣớng cùng chồng xây đắp cuộc sống chung hạnh phúc. Chính vì vậy mà ngƣời vợ xác định rõ theo chồng thì dù đi đến nơi khó khăn hóc hiểm nhƣ hang rắn, hang rồng, hoặc nơi xa xôi sóng gió lên trời, vƣợt biển, dù đắng cay hay mặn nồng, thì họ cũng theo, miễn là phải duyên, phải kiếp. Cũng có khi, lỡ chọn phải chồng không phù hợp, ngƣời phụ nữ cũng dám chủ động làm lại cuộc đời “Tôi trốn tôi tránh tôi về nhà tôi.”. Độc đáo hơn nữa, theo chồng mà ngƣời phụ nữ không tự ti trong vị thế của một ngƣời phải phục tòng, mà đầy tự tin ở vai trò của mình, vai trò làm chỗ dựa cho chồng, bởi vậy, ngƣời vợ mới dám khuyên chồng: “Chàng ơi, chớ bực sầu tƣ/ Khi xƣa có mẹ, bây chừ có em.” Tóm lại, cách thức theo chồng của ngƣời phụ nữ Việt thời phong kiến đa dạng, phong phú, với nhiều ý nghĩa tích cực, thể hiện sự chủ động của ngƣời

74

phụ nữ trong việc lựa chọn và xây đắp hạnh phúc cho mình. Trong sự chủ động ấy, ngƣời phụ nữ sẵn sàng gánh vác việc khó khăn, nặng nhọc, sẵn sàng chịu đựng mọi éo le của cuộc sống miễn là làm cho vợ chồng đƣợc gắn bó. Từ khái niệm tòng phu của Nho giáo, các tác giả dân gian đã chuyển hoá thành khái niệm theo nhau, là biểu tƣợng cho sự gắn bó vợ chồng ngƣời Việt trong xã hội phong kiến. Cách thức chuyển hoá nội hàm khái niệm nhƣ vậy đƣợc diễn ra một cách lặng lẽ trong cuộc sống đời thƣờng, nhƣng lại phù hợp với quy luật của tiếp biến văn hoá nói chung của dân tộc ta, mà PGS Nguyễn Từ Chi đã khái quát nhƣ sau: “Trong không ít trƣờng hợp, những yếu tố mà tổ tiên của ngƣời Việt hiện nay đã lần lƣợt tiếp thu từ nền văn minh Trung Hoa qua một thiên niên kỷ Bắc thuộc, và cả về sau nữa, khi đƣợc tích hợp vào cuộc sống hàng ngày của ngƣời bản địa, chỉ còn giữ đƣợc của nơi xuất phát có cải vỏ hình thức nữa thôi (thƣờng là tên gọi) trong khi nội hàm của khái niệm tiếp thu đã biến đổi hẳn”.[240]. 1.1.2. Vợ chồng trong lao động Có 35 câu ca dao trực tiếp mô tả khung cảnh lao động, trong đó cho thấy vợ chồng đồng tâm hiệp lực nhằm tạo dựng một cuộc sống no đủ, hạnh phúc. Chúng tôi xin thống kê các tình huống nhƣ sau: Việc do người vợ làm: Cày, Đạp xe nƣớc, Trồng hoa, Trồng khoai, Trồng cà, Gieo mạ, Gặt hái, Quảy cơm, Dệt, Quay tơ, Xay thóc giã gạo, Chẻ lạt, ủ phân, Nuôi lợn, Bắt cua, Chăm lo cha mẹ, Đứng mũi (thuyền), Làm thuê làm mƣớn, Buôn bán. Việc do người chồng làm: Làm ruộng, Cày, Gặt, Cuốc, Phát, Đốn củi, Xúc giậm, Làm thầy, Làm thợ, Chịu sào (thuyền), Gánh muối, Gánh chè, Chắp thừng, Đi lính, Vẽ, Viết, Đi học, Đọc sách. Việc do cả hai cùng làm: Cày bừa, Làm mạ, Trồng khoai, Trồng cà, Gặt hái, Hái rau, Mót khoai, đỗ, Đốn củi, Buôn bè. Thái độ trong lao động: Vui phận nghèo, Tự giác, Tin vào thành công, Kiên nhẫn, Không quản ngại, Lạc quan, Coi trọng công lao của nhau. Có thể dẫn ra rất nhiều câu ca dao phản ánh khung cảnh gia đình êm ấm, chồng hoà vợ thuận trong lao động và tình yêu thƣơng thắm thiết, kiểu nhƣ : 1. Rủ nhau đi cấy đi cày Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lƣu Trên đồng cạn, dƣới đồng sâu Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa. 2. Sáng trăng trải chiếu hai hàng Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ.

75

3. Trời hè lắm trận mƣa rào Gặt sớm phơi sớm liệu sao cho vừa Khuyên em chớ ngại nắng mƣa Của chồng công vợ, bao giờ quên nhau. 4. Đôi ta vợ cấy chồng cày Chồng nay sƣơng sớm vợ nay sƣơng chiều Ta nghèo vui phận ta nghèo Quản chi sƣơng sớm, sƣơng chiều, hỡi anh! 5. Bao giờ lúa trỗ vàng vàng Cho anh đi gặt cho nàng quảy cơm. 6. Cơm chiên ăn với cá ve Thiếp đây chàng đấy, buôn bè ra khơi. 7. Kể chi trời rét đồng sâu Có chồng có vợ rủ nhau cày bừa Bây giờ trƣa đã hồ trƣa Chồng vác lấy bừa, vợ dắt con trâu Một đoàn chồng trƣớc vợ sau Trời rét mặc rét, đồng sâu mặc đồng. Nhìn chung, qua ca dao, chúng ta thấy về mặt lao động, vợ chồng có sự phân công hợp lý và khá bình đẳng, việc mà ngƣời chồng làm thì ngƣời vợ cũng làm, chỉ trừ việc đi học; thƣờng thì công việc đƣợc mô tả theo cặp đôi tƣơng xứng - chồng việc này thì vợ việc nọ - A việc a thì B việc b (Chồng càyvợ cấy, Chồng sƣơng sớm- vợ sƣơng chiều, Anh đi gặt- nàng quảy cơm, Chồng vác bừa - vợ dắt trâu, Em chẻ lạt - Anh chắp thừng, Thiếp đây - chàng đấy, Em đững mũi - anh chịu sào, Chàng bòn - thiếp mót); về mặt thi pháp, có thể thấy đây là "mô típ sóng đôi" độc đáo của văn học dân gian ngƣời Việt. Mô típ này chỉ có thể xuất hiện trong một xã hội có nền dân chủ và bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới. Ngoài làm việc tại nhà, ngƣời phụ nữ cũng có dịp đi lao động ngoài xã hội giống nhƣ nam giới, nhƣ đi buôn, đi làm mƣớn, đi bè… chứ không phải chỉ quanh quẩn trong nhà. Nội dung nói trên xuất phát từ thực tế lao động ở nông thôn, trong đó việc canh tác là cơ bản, sự phân biệt về khả năng lao động trên lĩnh vực này chƣa nhiều, đó là lao động khá đơn giản và nhiều khi cần sự hợp sức của cả hai vợ chồng. Có khác chăng là ở chỗ chồng có thể làm việc nặng hơn, vợ có thể đƣợc làm việc nhẹ, yêu cầu sự khéo léo hơn, chứ không khác ở sự phân công lao động trong một xã hội có nền kinh tế phát triển, trong đó ngành nghề đƣợc phân chia rạch ròi và đòi hỏi sự đào tạo nhất định về nghề nghiệp. Không những thế, trong xã hội mà ngành thƣong

76

mại chƣa phát triển, ngƣời phụ nữ còn gần nhƣ độc chiếm nghề tiểu thƣơng kiểu buôn đầu chợ bán cuối chợ, hoặc bán nông sản do gia đình làm ra tại các chợ quê, tuy vốn và lãi không nhiều nhặn gì, nhƣng cũng đủ đem về gia đình một khoản tiền mặt dùng cho chi tiêu hàng ngày, một giá trị kinh tế quan trọng đối với gia đình nông dân. Chính điều kiện lao động nông nghiệp đơn giản, sự phân công lao động chƣa rành mạch và khả năng làm kinh tế tiểu thƣơng của ngƣời phụ nữ đã tạo điều kiện cho tính dân chủ, bình đẳng giữa hai vợ chồng đƣợc xác lập, cho nên công lao của ngƣời phụ nữ đƣợc đánh giá ngang bằng với công lao của ngƣời chồng “của chồng công vợ”. Tuy vậy, do ảnh hƣởng của Nho giáo, ngƣời nông dân cũng hƣớng đến sự vinh thân qua con đƣờng học hành, khoa cử. Chính vì vậy, trong các việc làm của ngƣời chồng, có việc đi học, với 28 câu ca dao phản ánh công việc này. Với những gia đình nhà nho, thì ảnh hƣởng của giáo lý Khổng Mạnh tất yếu mạnh hơn các gia đình khác, và tƣ tƣởng dƣơng danh, hiển nhân cũng chi phối suy nghĩ của họ. Các câu ca dao nói về việc đi học, đi thi của ngƣời đàn ông phần lớn thông qua lời nói của ngƣời vợ, qua đó bộc lộ rõ rệt mục đích của việc học là đỗ đạt, làm quan, đem vinh hiển về cho gia đình, vợ con (nhƣ: "Bảng vàng choi chói bia đề tên anh", "Ngựa anh đi trƣớc, võng nàng theo sau", "Chàng đi ngựa thắm, thiếp nay võng đào", "Anh cƣỡi ngựa vua ban, em ngồi trên võng vàng", "Trƣớc là vinh thiếp, sau mình vinh thân"). Có thể nói, tình trạng vợ chồng cùng nhau chăm bẵm vào con đƣờng khoa cử nhằm vinh hiển, trong đó ngƣời chồng dấn bƣớc vào khoa trƣờng, còn ngƣời vợ thì tần tảo nuôi chồng ăn học, chính là biểu hiện rõ rệt nhất của sự ảnh hƣởng của Nho giáo vào gia đình ngƣời Việt, mà cụ thể ở đây là loại gia đình nhà nho; sự ảnh hƣởng ấy cũng thấm cả vào ca dao. Điều này có một lý do là một bộ phận của tục ngữ, ca dao do tầng lớp nho sĩ sáng tác. Câu ca dao "Sáng trăng trải chiếu hai hàng/Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ" vẽ nên bức tranh đặc trƣng về sinh hoạt của gia đình nhà nho, trong đó nhiệm vụ của ngƣời đàn ông là đọc sách, học hành, ngƣời đàn bà làm lao động nhƣng không phải là làm nghề nông đơn thuần mà là làm nghề phụ, đỡ cực nhọc hơn và có khả năng thu nhập cao hơn. Xác định rõ mục đích, phân công công việc rõ ràng (anh đi học, em lo việc nhà), hai vợ chồng đều tự giác chăm lo công việc của mình, nhƣng ngƣời vợ bao giờ cũng vừa làm vừa hƣớng tâm tƣởng của mình về phía chồng, chăm lo chồng chu đáo, và do vậy, quan hệ giữa hai vợ chồng càng gắn bó. Mặt khác, qua ca dao, cũng cần ghi nhận ảnh hƣởng tích cực của Nho giáo vào xã hội Việt Nam là góp phần tạo nên truyền thống hiếu học, một yếu tố hết sức cần thiết để đào tạo con ngƣời cho xã hội hiện đại. Và thật thú vị, cái điểm “rất Nho” này lại tạo điều kiện cho, hoặc làm

77

bộc lộ ra khả năng “giải Nho” trong quan hệ vợ chồng: anh chồng, từ vị trí ngƣời chủ gia đình mà ngƣời vợ luôn luôn phải phục tòng theo quan điểm Nho giáo, khi chăm bẵm theo con đƣờng khoa cử, trở thành anh “học trò dài lƣng tốn vải ăn no lại nằm”, trông chờ ngƣời vợ lo toan cho cuộc sống, đã giảm dần vai trò gia chủ, và nhờ thế, vai trò của ngƣời vợ ngày một trở nên quan trọng hơn, tạo ra thế bình đẳng giữa hai vợ chồng. Có nhiều câu ca dao phản ánh tình trạng này, ví nhƣ: Ai đi đợi với tôi cùng Tôi còn sắp sửa cho chồng đi thi Chồng tôi quyết đỗ khoa này Chữ tốt nhƣ rắn, văn hay nhƣ rồng Bõ khi xắn váy quai cồng Cơm niêu nƣớc lọ nuôi chồng đi thi. Một khi ngƣời phụ nữ đã nuôi đƣợc chồng, thì cũng có nghĩa là vai trò của họ không bị lệ thuộc ngƣời chồng theo lễ giáo phong kiến nữa, mà nhƣ PGS Nguyễn Từ Chi đã viết: “Một khi đã là vợ, là mẹ, là bà chủ một gia đình nhỏ, với chìa khoá hòm trong tay, ngƣời nữ nông dân Việt, đặc biệt là ở Bắc Bộ, nơi mà luồng buôn bán nhỏ trong nông thôn sinh động hơn nhiều, so với ở Trung Bộ và Nam Bộ trƣớc kia, tất có tiếng nói quan trọng, nhiều khi quyết định, trong nền kinh tế gia đình, xứng với danh hiệu “nội tƣớng” mà các ông chồng sính chữ Nho thƣờng gán cho họ’’.[192] Điểm hạn chế là trong cái nhìn của các tác giả dân gian, phụ nữ không thuộc loại cần đƣợc đi học, đó là sự bất công với phụ nữ mà ngày nay tuy chúng ta đã khắc phục, nhƣng không phải không còn rơi rớt ở nông thôn, khiến cho nhiều gia đình chỉ cho con trai đi học và bắt con gái ở nhà giúp việc gia đình. Ngoại trừ hạn chế về tƣ tƣởng tìm cách đƣợc ăn trên ngồi trốc qua con đƣờng khoa cử của giai cấp thống trị, nhìn chung lao động của gia đình ngƣời Việt có mục đích đơn giản và chân chính, đó là tạo dựng một cuộc sống no đủ, êm ấm. Cũng có lúc ngƣời nông dân phê phán lối học hành thoát nông, khẳng định con đƣờng lao động ở nông thôn là đáng coi trọng: Công danh theo đuổi mà chi Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông Sớm khuya có vợ có chồng Cầy sâu bừa kỹ mà mong đƣợc mùa. Gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên và lao động, quan hệ vợ chồng ngƣời Việt trở nên thơ mộng, đầy tính lãng mạn, do đó đã để lại cho kho tàng ca dao

78

những bức tranh vô cùng đẹp đẽ. Cái cảnh “Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”, hay “Bao giờ lúa trỗ vàng vàng/Cho anh đi gặt cho nàng quảy cơm” vừa là bức tranh hiện thực về cuộc sống lao động nặng nhọc của ngƣời nông dân, vừa là bài ca lãng mạn bay bổng thể hiện sự lạc quan trƣớc cuộc sống, là bản tình ca dung dị về hạnh phúc vợ chồng ngƣời Việt. 1.1.3. Vợ chồng trong sự xa cách Có 118 câu ca dao nói về sự xa cách vợ chồng, thì 33 câu thể hiện sự gắn bó, chỉ có 4 câu thể hiện sự lỏng lẻo trong quan hệ vợ chồng. Nếu quả nhƣ nhận định của một số nhà nghiên cứu trƣớc đây, với ý chung là hôn nhân trong xã hội phong kiến, do sự áp đặt của lễ giáo phong kiến, của chế độ phụ quyền, nên ngƣời phụ nữ không có hạnh phúc, thì việc xa cách chồng chính là điều kiện thuận lợi để giải phóng ngƣời vợ, và ngƣời vợ phải thể hiện sự mừng vui khi xa cách chồng. Thế nhƣng, ngƣợc lại, qua ca dao, chúng ta thấy càng xa cách chồng, ngƣời vợ càng thể hiện sự gắn bó với chồng, vợ chồng càng xa cách càng gắn bó với nhau. Trong 118 câu ca dao thể hiện sự xa cách vợ chồng, hầu hết là nói lên sự nhớ thƣơng day dứt của ngƣời vợ hoặc ngƣời chồng. Nguyên nhân của sự xa cách này là do đi lính hoặc do chiến tranh (24 trƣờng hợp), chồng đi học (9 trƣờng hợp), chồng đi làm ăn (6 trƣờng hợp), vì các công việc khác (55 trƣờng hợp). Nhiều khi ngƣời chồng đi mà không nói lý do (9 trƣờng hợp), khiến ngƣời vợ khắc khoải, luôn tự hỏi “Anh đi đâu…”, “Đi mô…”, "Đi mô mà chẳng thấy về”, “Đi đâu để nhện giăng mùng/Năm canh thiếp chịu lạnh lùng cả năm.”, “Anh đi đâu ba bốn năm tròn/Để em giã gạo chày con một mình.” Và cũng nhiều khi sự xa cách chồng đem lại nỗi thất vọng chua cay cho ngƣời vợ, làm cho ngƣời vợ phải “Khóc nỉ non”, không “biết lấy ai than cùng”, khắc khoải “Một ngày đằng đẵng xem bằng ba thu”, đến nỗi phải tự dằn vặt “Chẳng qua thân mẹ nhƣ đời thờn bơn”. Vì vậy, có khi ngƣời phụ nữ thể hiện thái độ gay gắt, không thiết tiền bạc, chỉ cần gần nhau: “Chàng Nam thiếp Bắc làm giàu ai ăn.” Trong các tình huống khiến cho vợ chồng xa cách, đáng chú ý là các tình huống thuộc về chiến tranh: ngƣời chồng phải đi lính. Có rất nhiều cách thức trong ca dao diễn tả thái độ của ngƣời vợ trƣớc cảnh chồng đi lính: ngăn không cho đi (“Anh ơi anh ở lại nhà”, “Anh đòi đi lính Tây bang/Em e anh bỏ mạng bãi hoang đất ngƣời.”), đành phải cho đi (“Phải lính thì đi”), hứa hẹn làm tốt việc nhà (“Cửa nhà đơn chiếc đã thì có tôi.”), lo lắng, thƣơng xót ngƣời chồng ngoài trận mạc (“Hòn tên mũi đạn, dạ em càng không yên”, “Lo chàng lao khổ, chớ sá gì mẹ con tôi.”), oán trách sự bất công của xã hội (“lấy chồng lính thiệt thua trăm đƣờng”), lên án chiến tranh (“Trời ơi sinh giặc làm chi/Bỏ nhà

79

bỏ cửa mà đi chiến trƣờng.”), lo lắng cho cuộc sống gia đình (“Lấy chi nuôi thầy với mẹ quanh năm/Đêm năm canh nằm nghĩ lại, ruột tằm héo hon.”), trách chồng (“Tây bang anh đi lính/Sao anh không tính việc nhà.”, “Anh đi lính mộ, đƣợc gì đâu na?”), sẵn sàng gánh vác việc nƣớc cho chồng (“Thiếp đi lính thế cho chàng ít năm.”). Dù ngƣời chồng đi đâu, vì lý do gì, thì ngƣời phụ nữ vẫn luôn luôn chờ đợi. Có tới 62 câu với 3 loại từ diễn tả trạng thái đợi chờ của ngƣời phụ nữ trong 102 trƣờng hợp xa cách chồng thể hiện qua ca dao, gồm: đợi (16 câu, nhƣ “Sáng chiều đăm đắm trông chừng đợi anh.”, “Thắp đèn em đợi, dựa kề năm canh.”), chờ (30 câu, nhƣ “Con thơ vợ dại trông chờ từ đây.”), trông (16 câu, nhƣ: “Vợ trông chồng lên núi đứng vọng phu”.) Phản ánh cách thức ứng xử trong điều kiện xa cách vợ chồng, ca dao ít đứng từ góc độ ngƣời chồng (chỉ có 19 trƣờng hợp), nhƣng cũng cho thấy trách nhiệm và lòng khao khát sum họp gia đình của ngƣời đàn ông. Tình cảm của ngƣời chồng đƣợc phản ánh trong khung cảnh xa vợ là thƣơng vợ, cứng rắn vƣợt qua hoàn cảnh, tin tƣởng giao việc nhà cho vợ, nhớ nhung, xót xa, an ủi vợ, than thân trách phận, đau đớn, lo lắng trƣớc hoàn cảnh của vợ, chờ đợi, tin tƣởng sẽ đạt mục đích; cũng có trƣờng hợp, dù là hiếm hoi, ngƣời chồng cảm thấy đƣợc giải phóng, tự do (1 trƣờng hợp) hoặc cũng có khi bội bạc, lấy vợ hai (1 trƣờng hợp). Tuy vậy, thái độ chung nổi bật của ngƣời chồng là trách nhiệm và tình cảm thắm thiết với vợ con, mà câu ca dao tiêu biểu là “Dù lên nguồn xuống bể anh cũng trở về với em.” Qua sự thể hiện tình cảm của ngƣời vợ trƣớc cảnh xa cách chồng, chúng ta thấy rõ ngƣời phụ nữ Việt luôn luôn lo lắng cho chồng, sẵn sàng gánh vác công việc cho chồng, kể cả việc đi lính, sẵn sàng chăm lo việc nhà, mặc dù chất chồng lên bản thân mình là những khó khăn, sự hẫng hụt khi trong nhà mất đi ngƣời đàn ông. Điều này là tự giác, là biểu hiện của sự gắn bó vợ chồng. Trong khi đó, vì công việc hoặc vì hoàn cảnh bắt buộc, ngƣời đàn ông phải từ biệt gia đình sống cuộc sống tha hƣơng, nhƣng họ vẫn dành cho gia đình tình cảm gắn bó, thƣơng yêu. Cho nên, phản ánh tình cảnh xa cách của vợ chồng, ca dao đã chứng minh một cách đầy thuyết phục sự gắn bó của vợ chồng, một sự gắn bó từ cả hai phía vợ và chồng, dựa trên tình thƣơng yêu và trách nhiệm đối với nhau. 1.2. Đạo nghĩa vợ chồng theo quan niệm dân gian Khảo cứu ca dao, chúng tôi nhận thấy khái niệm đạo nghĩa thƣờng đƣợc các tác giả dân gian dùng để nói về quan hệ vợ chồng. Trong học thuyết Nho giáo, thì chữ đạo cũng hay đƣợc sử dụng để nói về quan hệ gia đình, đó là đạo

80

tam tòng. Khảo cứu kỹ những câu ca dao có dùng từ đạo nghĩa (hoặc đạo, hoặc nghĩa), gồm 39 câu, chúng tôi thấy rằng trong khi sử dụng vỏ ngôn ngữ đạo nghĩa của Nho giáo, các tác giả dân gian đã chuyển tải những nội dung gần gũi với nhận thức, tình cảm và lối sống của dân tộc. Theo các tác giả dân gian, đạo nghĩa vợ chồng rất nặng, rất sâu, rất khó, với nội dung là: Hôm ấp mai ôm, Ăn mày cũng theo nhau, Ngàn dặm khôn quên, Giận rồi lại thƣơng, Thƣơng, Chịu khó chịu khổ, Xa nhau vẫn nhớ, Đá vàng trăm năm, Nhớ hoài không quên, Chăm nom chồng, Hoà hợp, thuận hoà, Không ngại xa gần, Không vong vợ, Bền chặt, Không rời nhau, Không cần biết đói no, Đợi chờ chồng, Chung thuỷ, Không tham sang giàu, Già đời, Sinh tử có nhau, Cậy nhờ nhau. Sau đây là một số câu ca dao tiêu biểu: 1. Đạo cƣơng thƣờng khó lắm bạn ơi Chẳng dễ nhƣ ong bƣớm đậu rồi lại bay Đạo cƣơng thƣờng khá dễ đổi thay Dầu làm nên võng giá, rủi ăn mày cũng theo nhau. 2. Đốn cây ai nỡ dứt chồi Đạo chồng nghĩa vợ, giận rồi lại thƣơng. 3. Chữ rằng: quân tử tạo đoan Vợ chồng là nghĩa đá vàng trăm năm. 4. Lấy nhau cho trọn đạo Trời Đổ chùa Thiên Mụ mới rời nhau ra. 5. Xét ra trong đạo vợ chồng Cùng nhau tƣơng cậy đề phòng nắng mƣa. Các từ thể hiện đạo nghĩa ở đây thƣờng đƣợc dùng là Đạo vợ chồng, Đạo vợ nghĩa chồng, Tình chồng nghĩa vợ. Qua ca dao nói về đạo nghĩa vợ chồng, có thể thấy các tác giả dân gian cũng nêu lên một số quy luật bao quát thể hiện nguyên tắc sống của vợ chồng, nhƣ chung thuỷ trọn đời (thƣờng biểu hiện qua từ trăm năm, nhƣ “Vợ chồng là nghĩa đá vàng trăm năm”, “Trăm năm gối phƣợng má đào bên em”, “Đạo vợ chồng trăm năm không phải một ngày”). Quy luật này là phổ biến, từ trong đời thƣờng mà ra, chứ không phải là theo triết thuyết Khổng Mạnh, bởi vì từ khi chƣa có Nho giáo, thì con ngƣời đã có khái niệm vợ chồng, và thực tế cuộc sống lao động cũng nhƣ tình cảm đã khiến cho sự chung thuỷ trọn đời là yêu cầu tất yếu của quan hệ vợ chồng. Nội dung chính trong ca dao về đạo nghĩa vợ chồng là những cách thức ứng xử thắm thiết tình cảm giữa hai vợ chồng trong hoàn cảnh sống gắn với

81

thiên nhiên, lao động. Đạo nghĩa vợ chồng giản dị và thuần phác, có khi thể hiện ở nắm lá xông: Tai em nghe anh đau đầu chƣa khá Em băng đồng chỉ sá, đi bẻ nắm lá nọ về xông Ở làm gì đây cho trọn nghĩa vợ chồng Đổ mồ hôi ra em chặm, ngọn gió lồng em che. Quan niệm về nghĩa nhƣ trên cho thấy lối sống chất phác, tình cảm chân thật và thực tế của ngƣời nông dân thuộc xã hội nông nghiệp, một xã hội mà trong đó, con ngƣời sống gắn bó và hoà đồng với thiên nhiên. Có một trƣờng hợp độc đáo, là trong khi sử dụng khái niệm Đạo của Nho giáo, các tác giả dân gian lại chuyển tải một nội dung trái ngƣợc với Nho giáo. Qua ca dao, ngƣời nông dân Việt khẳng định: "Đạo cƣơng thƣờng khá dễ đổi thay/Dẫu làm nên võng giá, rủi ăn mày cũng theo nhau”. Đây là một quan niệm rất nhân ái của ngƣời Việt, đối lập với quan niệm Nho giáo đòi hỏi ngƣời chồng phải dƣơng danh, hiển nhân. Thảm trạng của ngƣời đàn ông không làm cho ngƣời đàn bà khinh ghét, ruồng rẫy mà càng làm sâu sắc thêm tình chồng nghĩa vợ, đó là nét tâm lý độc đáo của ngƣời nông dân Việt. Nhƣ vậy, khái niệm đạo nghĩa đƣợc dùng trong ca dao có nội dung khá rộng, bao hàm cả ý nghĩa vật chất và ý nghĩa tinh thần. Về ý nghĩa vật chất, các tác giả dân gian quan niệm rằng muốn làm tròn đạo nghĩa, vợ chồng cần thể hiện sự âu yếm nhau, chịu đựng thiếu thốn, không phụ thuộc vào của cải. Về ý nghĩa tinh thần, đạo nghĩa bao hàm cả tình cảm và ý chí, vợ chồng phải thƣơng yêu, tƣơng trợ nhau, hoà thuận, chung thuỷ, không bị chi phối bởi không gian và thời gian. Quan niệm nhƣ thế hoàn toàn phù hợp với cuộc sống bình dị, không phải là những triết lý cao siêu. 1.3. Quan niệm dân gian về ông Tơ bà Nguyệt Một số nhà nghiên cứu cho rằng, trong xã hội phong kiến, do không tìm đƣợc hạnh phúc trong tình yêu và hôn nhân, mà ngƣời ta hay trông chờ hoặc đổ lỗi cho ông Tơ bà Nguyệt. Trong Kinh thi ViệtNam, Nguyễn Bách Khoa viết: "Cha mẹ đặt đâu, họ phải ngồi đấy. Bao nhiêu tƣ tƣởng cá nhân của họ đều nép mình dƣới cái uy lực tối thƣợng của gia đình. Họ chỉ còn biết nhắm mắt đƣa chân trông cậy cả vào may rủi, vào ông Tơ bà Nguyệt" [52:99]. Thực ra trong ca dao nói về gia đình, chỉ có 5 câu trực tiếp nhắc đến ông Tơ bà Nguyệt, chỉ có ca dao về chủ đề giao duyên nam nữ mới nhắc nhiều đến hai từ này. Vì sự giao duyên có liên quan trực tiếp đến hôn nhân, cho nên chúng tôi cũng mở rộng tƣ liệu ra loại chủ đề giao duyên để khảo cứu. Theo phân loại của chúng tôi, có 5.862 câu ca dao thuộc chủ đề giao duyên nam nữ,

82

cùng với 1.179 câu ca dao thuộc chủ đề gia đình, trong đó từ ông Tơ, bà Nguyệt xuất hiện 164 lần trong 88 câu ca dao (dƣới nhiều tên gọi khác nhau: ông Tơ bà Nguyệt, ông Tơ, bà Nguyệt, Nguyệt lão, bà Nguyệt lão, ông Nguyệt lão). Các đôi nam nữ nói đến ông Tơ bà Nguyệt trong các trƣờng hợp sau đây: + Phản ánh tình trạng chƣa bén duyên nhau (30 câu), thí dụ: “Ông Tơ bà Nguyệt chƣa xe”, “Đôi ta nhƣ vợ với chồng/Chỉ hiềm một nỗi ông Tơ Hồng chƣa xe.”, “Tuổi anh đang độ thơ đào/Ông tơ chƣa định nơi nào xe duyên.” Ông Tơ bà Nguyệt ở đây chỉ nhƣ một cái cớ mà các đôi trai gái mƣợn để nói lên tâm trạng “lửng lơ” chƣa định nơi chốn của mình. + Trách không xe duyên (13 câu), thí dụ: “Bắt ông Tơ mà đánh ba hèo/Duyên ngƣời xe cả, phận em đói nghèo không xe.”, “Quyết lên trời kiện đến ông Tơ”,” Ông vụng xe, xe phải vợ già/Tôi thì đốt cửa đốt nhà ông lên!”. Thái độ của ngƣời nói ở đây khá trịch thƣợng, coi thƣờng ông Tơ, bà Nguyệt, thƣờng dùng từ bắt.” (Ví dụ : “Bắt ông Tơ mà cho ba đấm/Bắt bà Nguyệt, đánh bốn mƣơi chín cái hèo/Duyên ngƣời ta xe buổi sớm duyên em buổi chiều mới xe.”). Tuy nói là trách ông Tơ, thực ra con ngƣời trách cho sự chậm duyên, vô duyên của mình chứ không nhằm đổ lỗi cho đấng siêu nhiên. + Thể hiện vai trò chủ động của con ngƣời trong tình duyên, không phụ thuộc ông Tơ bà Nguyệt (17 câu), ví dụ: “Vừa đôi ta định, ông Tơ sá gì!”, “Kết phức đi đây vợ đó chồng/Dù ông trời chƣa định, dù ông Tơ Hồng chƣa xe.”, ”Sáng trăng suông sáng cả bờ sông/Ta đƣợc cô ấy ta bồng ta chơi/Ta bồng ta tếch lên trời/Hỏi ông Nguyệt Lão tốt đôi chăng là?”, “Phụ anh, tội lắm bớ nàng!/Ông Tơ xe sợi chỉ vàng còn săn”, "Phải duyên thì lấy, tơ hồng nào se". Qua các câu ca dao thuộc loại này, chúng ta thấy dù nhân duyên đã thành hay bại, thì ông Tơ, bà Nguyệt cũng không có vai trò quyết định, mà vai trò ấy là ở con ngƣời. Khi đã yêu, ngƣời ta cứ việc gắn bó với nhau, có hỏi đến ông Tơ cũng chỉ là để cho vui, khi sự việc đã an bài. Còn khi trắc trở, ngƣời ta đem ông Tơ bà Nguyệt ra hỗ trợ cho mình nhằm níu kéo ngƣời tình. + Cầu xin cho đƣợc xe duyên (5 câu), thí dụ: “Vái ông Tơ một đĩa bánh bò bông/Cùng bà Nguyệt lão gắng công xe giùm.”, “Vái ông Tơ đôi ba chầu hát/Vái bà Nguyệt năm bảy đêm kinh/Xui cho đôi lứa tôi thuận một tâm tình/Dầu ăn hột muối, nằm đình cũng ƣng.” Trong trƣờng hợp này, con ngƣời tỏ lòng thành kính trƣớc vai trò xe duyên của ông Tơ bà Nguyệt, nhƣng cũng có khi chỉ là cách nói mà thôi. Số câu ca dao thuộc loại này chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ bằng 7,46% số câu ca dao có nói đến ông Tơ bà Nguyệt, chứng tỏ trong tâm thức dân gian, sự tin tƣởng vào vai trò của ông Tơ bà Nguyệt trong xe duyên chỉ rất mờ nhạt.

83

Với các nội dung đƣợc phân loại cùng những dẫn chứng nhƣ trên, có thể thấy rằng trong ca dao, các tác giả dân gian chỉ mƣợn ông Tơ bà Nguyệt để nói về tâm trạng của con ngƣời hoặc để làm cớ nói về tình cảm của con ngƣời, chứ chủ yếu không phải coi ông Tơ bà Nguyệt nhƣ đấng thần linh quyết định hạnh phúc lứa đôi. Điều này cho thấy, về mặt phƣơng pháp luận, khi nghiên cứu văn học dân gian, trong đó có ca dao, cần chú ý đến cách sử dụng khái niệm của các tác giả dân gian, nhiều khi sử dụng cái vỏ ngôn ngữ này để chuyển tải nội dung khác. 1.4. Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng Phản ánh các hiện tƣợng tiêu cực trong quan hệ gia đình ngƣời Việt có 150 câu ca dao, trong đó thuộc về quan hệ cha mẹ con có 37 câu, vợ chồng có 88 câu, anh chị em có 2 câu, còn lại là trong quan hệ dâu rể, họ hàng. Khảo cứu loại ca dao phản ánh các hiện tƣợng tiêu cực trong quan hệ vợ chồng, chúng tôi rút ra bảng sau:
BIỂU HIệN Tảo hôn Phụ bạc Cờ bạc Chồng vừa chết đã ngóng trai Bóc lột Nợ nần (2 đơn vị) Rƣợu chè Cờ Bạc (2) Cờ bạc (10) Phụ bạc Phụ bạc Đa thê (9) Đa thê (3) Đa thê (5) Bỏ chồng, ngóng trai Tảo hôn (2) Bạc bẽo (7) Bạc bẽo (2) NGUYÊN NHÂN Tham giầu Vợ già đi TÁC NHÂN Nữ Nam Nam PHẢN ỨNG Phê phán Trách Xa lánh Không nói rõ Trách Không nói rõ Không nói rõ Không nói rõ Trách, khinh Không nói rõ Trách Phản đối Chấp nhận Phê phán Không nói rõ Trách Không nói rõ

Nhà giầu Cờ bạc

Nhà chồng Nam Nam Nữ Nam Nữ Cả nam, nữ Nam Nam Nữ Nữ

Nam Nam

84

Bạc bẽo Bạc bẽo Chồng không thƣơng Đánh vợ (6) Đánh vợ Dữ tính Đàng điếm (10) Nghiện hút Bỏ chồng Vợ hƣ Vợ hƣ Con hƣ Khổ Chê chồng (2) Nghèo khổ Bắt nạt chồng Tồi (2) Đánh chồng (2) Chồng ngu Bỏ chồng Ghen chồng Không bênh vợ Xung khắc

Nam Nam Nam Nam Nam Nam Nữ Nam Nữ Nam Chồng Nam Nữ Nhà chồng Nữ Nam Nữ Nữ Nữ Nam Nam và nữ

Phản đối kịch liệt Cầu xin Buồn Nhắc nhở Không nói rõ Lo Dè bỉu Dè bỉu Quy trách nhiệm Quy lỗi Quy trách nhiệm Oán trách Oán cha mẹ Oán trách Phê phán Than vãn Không nói rõ Bực Không nói rõ Trách Trách

Vợ lẳng lơ

Công nợ Cả nghe Cha dong Lấy chồng giầu Chồng già, kém Lấy chồng

Bị gả bán

Bị ép gả

Một số câu ca dao tiêu biểu là: 1. Gió đƣa bụi chuối sau hè Anh về vợ bé bỏ bè con thơ. 2. Vì đứt dây, nên gỗ mới chìm Bởi anh ở bạc nên em phải tìm nơi xa. 3. Anh đi ghe nổi chín chèo Bởi anh thua bạc nên nghèo nợ treo - Nợ treo mặc kệ nợ treo Em bán bánh bèo trả nợ cho anh. 4. Cái cò là cái cò quăm Mày hay đánh vợ, mày nằm với ai?

85

Có đánh thì đánh sớm mai Chớ đánh chập tối, chả ai cho nằm. 5. Chữ trinh đáng giá nghìn vàng Từ anh chồng cũ đến chàng là năm Còn nhƣ yêu vụng dấu thầm Họp chợ trên bụng đến trăm con ngƣời! 6. ớt nào là ớt chẳng cay Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng? Nói ra đau đớn trong lòng ẤY cái nợ nần, có phải chồng đâu. Từ các câu ca dao về những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng, chúng tôi thống kê đƣợc 40 tình huống, trong đó loại tiêu cực đƣợc nói đến nhiều nhất là Đa thê (15 câu), Nghiện hút, cờ bạc (13 câu), Phụ bạc nhau (12 câu), Lẳng lơ, đàng điếm (12 câu), Đánh vợ (7 câu). Khi phản ánh các hiện tƣợng tiêu cực trong quan hệ vợ chồng, các tác giả dân gian thể hiện nhiều thái độ khác nhau, nhƣng nhìn chung là không gay gắt lắm. Các loại biểu hiện tiêu cực nhƣ nghiện hút, cờ bạc, đánh vợ… đều không bị phê phán trực diện. Đối với hiện tƣợng đa thê, thái độ của ngƣời phụ nữ cũng đa chiều: khi thì chấp nhận ("Có ai lấy lẽ chú tôi thì vào/Thím tôi chả bảo làm sao,/ Nói lên vài tiếng, lào nhào mấy câu.”), khi thì phản đối ("Chồng chung thì đừng"), và lúc lại trách móc (“Anh lấy vợ lẽ phụ tình thiếp chăng?”), trong đó chủ yếu là trách móc. Điều này cho thấy ngƣời Việt chịu ảnh hƣởng của Nho giáo, của chế độ phụ quyền, trong đó cho phép ngƣời đàn ông có quyền năm thê bảy thiếp, đồng thời thể hiện cách sống hồn nhiên chân chất của cƣ dân nông nghiệp. Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, thì việc xuất hiện tần số cao nhất: 15 lần nhắc đến đa thê trong các câu ca dao nói về tiêu cực vợ chồng, cho ta thấy lối ứng xử cam chịu của ngƣời phụ nữ, đồng thời cũng là vấn đề nhức nhối hằn sâu trong tâm tƣ của ngƣời phụ nữ. Sự bất công ấy phải chăng là nguyên nhân của việc không ai khác, mà chính ngƣời phụ nữ, đã cất cao tiếng nói hạ bệ thần tƣợng của chữ "trinh" để có những câu ca dao phản ánh thái độ bất cần của họ nhƣ một thói xấu trêu ngƣơi các chàng trai, đó là tính lẳng lơ. Từ tình trạng này, dẫn đến một hệ quả là trong ca dao, khuyết điểm bị nhắc đến nhiều nhất của phụ nữ là tính lẳng lơ, đàng điếm, với thái độ dè bỉu khinh khi. Các tác giả dân gian theo dõi từng trạng thái của ngƣời phụ nữ trong những cảnh huống khác nhau để lột tả sinh động những thói xấu của ngƣời phụ nữ: khi ở với chồng thì dành “quả ngọt” cho “trai", đang sống với chồng cũng “nom chồng ngƣời.”, khi xa chồng - "Nhớ chồng thì ít, nhớ trai thời nhiều.”, tới mức “Loạn trôn từ

86

thuở vắng chồng đến nay”, bị chồng đánh vì “ve ông lái mành”, ngông cuồng tới mức “Họp chợ trên bụng đến trăm con ngƣời!”, "Có chồng càng dễ chơi ngang/Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai?”, đến khi chồng chết cũng không thờ chồng đƣợc ở mức tối thiểu: “Chồng tôi mới đƣợc ba ngày/Ai ơi có đợi tôi rày hay không?" Những biểu hiện này cho thấy trong xã hội phong kiến, không phải là phụ nữ không dám bung phá, sống theo sở ý riêng, mặt khác cũng cho thấy dƣ luận hết sức quan tâm và khắt khe đối với phụ nữ. Điều này vừa biểu hiện cho sự áp chế của lễ giáo phong kiến đối với ngƣời phụ nữ, vừa thể hiện sự chống đối của ngƣời phụ nữ đối với lễ giáo ấy. Nƣơng nhẹ cho những khuyết điểm của đàn ông, trong đó có những thói xấu mang tính phổ biến trong xã hội nhƣ đa thê, cờ bạc, rƣợu chè, đánh vợ, đồng thời lại ngặt nghèo đối với những khuyết điểm của phụ nữ, ca dao đã cho thấy rằng trong tâm thức dân gian, ý thức phụ quyền đã có sự chi phối ở mức độ nhất định đến cách nhìn nhận, đánh giá của nhân dân về cách thức ứng xử trong quan hệ vợ chồng. 2. QUAN HỆ CHA MẸ CON 2.1. Quan niệm dân gian về chữ Hiếu Hiếu là một khái niệm hết sức quan trọng trong Nho giáo. Trong Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới, Phan Ngọc viết: “Không đạo lý nào nói đến chữ hiếu nhiều hơn Khổng giáo. Và dù cho chữ hiếu có đƣợc nhắc đến bởi Khổng Tử, Tăng Tử và vô số học giả thì chung quy chỉ là bổn phận của đứa con đối với cha mẹ mình. Và chấm dứt.” [81:112[. Trong Nho giáo xưa và nay, Quang Đạm viết: "Hiếu tất nhiên là biết yêu thƣơng cha mẹ, biết vào thƣa gửi, đi báo cáo về trình diện, biết quạt nồng ấm lạnh, sớm hỏi chiều thăm, biết lập thành gia thất có con nối dõi tông đƣờng, tránh đƣợc tội lớn "vô hậu".v.v. Có thể nói rằng đó là những việc quen thuộc mà ngƣời ta hay nói đến trong xã hội cũ trải qua mấy chục thế kỷ rồi. Nhƣng Khổng Mạnh chủ yếu nhấn mạnh vào những điều có ý nghĩa cao sâu hơn về mặt đạo lý triết học. Ngay đến việc nuôi nấng cha mẹ, Khổng Khâu cũng dụng ý phê phán gay gắt một quan niệm đƣơng thời là cứ có nuôi nấng là đƣợc. Lời phê phán nhƣ sau: "Ngày nay, nói ngƣời có hiếu là nói biết nuôi nấng. Đến nhƣ con chó con ngựa cũng đều có nuôi nấng cả. Không có lòng tôn kính thì có gì phân biệt." [30:177].

87

Rất sợ hậu sinh không giữ đúng đạo của cha ông, thầy trò Khổng Khâu nhiều lần nêu rõ những yêu cầu "kế", "thuật", "và "vô cải" (nghĩa là nối tiếp, làm theo và không thay đổi)...[30:180]. “Dƣơng danh, hiển nhân, cách báo hiếu tốt nhất. Rất sợ "hậu sinh' "đổi khác", Nho giáo tìm đủ mọi cách làm cho con cháu cứ đi đúng theo cái đạo của cha ông, cứ "thiện kế", "thiện thuật'' mà làm nên nghiệp lớn, vƣơn lên cao mãi. Con hơn cha nhƣ vậy nhà càng có phúc. [30:180]. Trong ca dao, nhân dân ta cũng hay nói đến chữ Hiếu. Trong số 446 câu ca dao nói về quan hệ cha mẹ con, thì có 100 câu phản ánh tình trạng có hiếu hoặc bất hiếu, còn trong 1.179 câu ca dao nói về gia đình, có 25 câu ca dao có dùng trực tiếp từ hiếu. Khảo cứu ca dao nói về đạo hiếu trong gia đình Việt Nam, chúng tôi thống kê nhƣ sau: - Tổng số câu ca dao đề cập đến đạo hiếu: 100 câu (21 câu có dùng trực tiếp chữ hiếu, hoặc hiếu trung), còn lại là nói gián tiếp. - Số câu thể hiện sự có hiếu là 89 câu, sự bất hiếu là 11 câu. Nội dung có hiếu đối với cha mẹ đƣợc ca dao phản ánh là: Đền ơn nuôi dƣỡng, Chăm nom về vật chất, Thờ cha kính mẹ, Biết ơn cha mẹ, Chịu nhục, Biết sợ, Chịu cúi luồn, Lo lắng cho cha mẹ, Thờ cúng chu tất (hơn với chồng), Gắng học để thành danh, Coi cha mẹ hơn chồng, Coi trọng đền ơn hơn nhân duyên, Nhớ thƣơng, Phụng dƣỡng mẹ cha, Trọng công cha nhƣ nghĩa thầy, Mong cha mẹ sống lâu, Lao động làm giầu cho cha, Không đƣợc cãi cha mẹ, Hầu mẹ cha, Vợ chồng thờ chung cha mẹ, Trong thời gian để tang cha mẹ không nghĩ đến nhân duyên, Nối nghiệp cha ông. Nội dung bất hiếu đối với cha mẹ đƣợc ca dao phản ánh là: Kể công nuôi cha mẹ, Ăn chơi phung phí của cha mẹ, Sao nhãng thăm nom, Hƣởng riêng sang giầu, để mặc cha mẹ nghèo, Hỗn láo với cha mẹ, Quên ơn cha mẹ. Nói chung, những nội dung về chữ hiếu mà ca dao ngƣời Việt phản ánh nhƣ đã dẫn trên đây đều đƣợc Nho giáo đề cập đến, chứng tỏ trên bình diện gia đình, chữ hiếu của Nho giáo đã đƣợc chuyển tải và thâm nhập khá sâu, rộng vào xã hội Việt Nam thời phong kiến. Tuy vậy, trong nội dung của chữ hiếu mà ca dao chuyển tải, thƣờng hƣớng vào cách ứng xử thông thƣờng trong cuộc sống, gần gũi với nếp sống, nếp nghĩ bình dị của ngƣời dân, còn những triết lý, yêu cầu cao siêu hoặc ngặt nghèo của Nho giáo thì không đƣợc đề cập.

88

Về đối tƣợng của chữ hiếu, Nho giáo quy định nhƣ sau: “Hiếu đạo là nghĩa với cha mẹ, đồng thời cũng có thể là nghĩa đối với các thế hệ bề trên trong gia đình.”, “Con ngƣời hiếu đễ bao giờ cũng làm vui lòng cha anh" [30:175]. “Ba mối nhân luân trong gia đình là cha con, anh em và vợ chồng.” [30:183]. Nhƣ vậy, đối tƣợng của chữ hiếu chính là cha mẹ, ngƣời bề trên, nhƣng Nho giáo nhấn mạnh đến cha anh, đến mối quan hệ cha - con. Khi nói về hiếu, ca dao ngƣời Việt cũng chỉ rõ đối tƣợng là cha mẹ: với cha mẹ nói chung (88 câu), trong đó nói đến cả cha và mẹ trong cùng một câu ca dao là 59 câu, nói riêng về cha là 4 câu, riêng về mẹ là 26 câu, số câu có nhắc trực tiếp đến từ cha (hoặc thầy, thày) là 50 câu, mẹ (hoặc má) là 67 câu, nói về công cha là 11 câu, về nghĩa mẹ là 20 câu. Có nghĩa là, đối tƣợng của chữ hiếu đƣợc ca dao ngƣời Việt quan tâm hơn cả là cha mẹ nói chung, tiếp đó là ngƣời mẹ. Trong mọi trƣờng hợp, ngƣời cha đều đƣợc nói đến ít hơn ngƣời mẹ. Điều này cho thấy, khi sử dụng khái niệm hiếu, phản ánh tình trạng có hiếu hoặc bất hiếu, ca dao thiên về lối ứng xử thông thƣờng và nặng về tình chứ không phải nặng về giáo lý, và ngƣời mẹ bao giờ cũng chiếm vị trí quan trọng hơn ngƣời cha. Điều này cũng chứng tỏ rằng, khi nói về chữ hiếu, ngƣời Việt giới hạn nó trong phạm vi gia đình là chính, không đồng nhất với quan niệm của Nho giáo, tức là chỉ khuôn chữ hiếu vào việc làm sao cho con sống có tình có nghĩa với cha mẹ là chính, chứ không phải hƣớng con ngƣời theo cách báo hiếu mang tính giáo lý của Khổng Mạnh là phải xây dựng đƣợc nghiệp lớn, biến nhà mình thành đại gia, có thế lực trong xã hội. Quan niệm của Khổng giáo không có con trai là bất hiếu cũng không hề có mặt trong các câu ca dao nói về đạo hiếu của ngƣời Việt, càng cho chúng ta thấy rõ khái niệm hiếu của Nho giáo tuy đã thâm nhập sâu vào xã hội, gia đình Việt Nam nhƣng nội dung đã mờ nhạt. 2.2. Trách nhiệm của cha mẹ đối với con Có 18 câu ca dao thể hiện trách nhiệm của cha mẹ với con. Đó là: Nuôi nấng, Chăm chút, Dạy dỗ, Dựng vợ gả chồng, Tạo dựng nhà cửa, Cho học hành. Trong các trách nhiệm nói trên, việc chăm lo cho con học hành đƣợc nói đến nhiều hơn cả (5 câu), với mục đích rõ ràng là thành danh, hiển thân. Điều này cho thấy, về mặt giáo dục, ngƣời Việt đã chịu ảnh hƣởng rõ rệt của Nho giáo, và đây là ảnh hƣởng tích cực.

89

Một số câu ca dao tiêu biểu là: 1. Cơm cha áo mẹ chữ thầy Gắng công mà học có ngày thành danh. 2. Con ơi muốn nên thân ngƣời Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha Gái thời dệt gấm thêu hoa Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa Trai thời đọc sách ngâm nga Dùi mài kinh sử để chờ đại khoa Nữa mai nối đặng nghiệp nhà Trƣớc là mát mặt sau là hiển thân. 3. Con cò bay bổng bay la Bay từ cửa miếu bay ra cánh đồng Cha sinh mẹ đẻ tay không Cho nên bay khắp tây đông kiếm mồi Trƣớc là nuôi cái thân tôi Sau nuôi đàn trẻ, nuôi đời cò con. 4. Nuôi con cho đƣợc vuông tròn Mẹ thầy dầu dãi, xƣơng mòn gối long Con ơi, cho trọn hiếu trung Thảo ngay một dạ, kẻo luống công mẹ thầy. Đáng lƣu ý là, tuy nói ít về trách nhiệm của cha mẹ đối với con, nhƣng ca dao của ngƣời Việt lại nói nhiều đến công lao của cha mẹ, răn dạy con phải báo đáp. Sở dĩ nhƣ vậy vì ca dao thiên về tình cảm, các tác giả dân gian không chủ tâm đúc rút giáo lý trong quan hệ cha mẹ con, mà chủ yếu phản ánh tình cảm đƣợc bộc lộ qua mối quan hệ ấy. Qua những câu ca dao nói lên công lao của cha mẹ đối với con, lại thấy nổi lên trách nhiệm của cha mẹ rất lớn, thiên về việc nuôi nấng, chăm chút, hy sinh cho con, mong con nên ngƣời, kể cả học hành để thành danh, hiển thân.

90

2.3. Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ cha mẹ con Chúng tôi thống kê đƣợc 37 câu ca dao nói lên những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ cha mẹ con. Một số câu ca dao tiêu biểu là: 1. Cha mẹ nuôi con nhƣ biển hồ lai láng Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày. 2. Mẹ già hết gạo treo niêu Mà anh khăn đỏ, khăn điều vắt vai. Về các biểu hiện tiêu cực trong quan hệ cha mẹ con, trong phần Hôn nhân, chúng tôi sẽ có dịp nói đến khía cạnh ép duyên, mà chủ yếu là do yếu tố kinh tế - cha mẹ tham tiền, tham giầu mà ép duyên con. Trong phần này, chúng tôi xem xét khía cạnh con đối xử không tốt với cha mẹ. Có 7 câu ca dao nói về hành động tiêu cực của con đối với cha mẹ là: Cãi cha mẹ, Kể công nuôi cha mẹ, Để cho mẹ khổ trong khi mình giầu sang. Hai loại tiêu cực đầu mang yếu tố tinh thần, loại tiêu cực sau mang yếu tố vật chất. Thái độ của các tác giả dân gian trƣớc các hành vi sai trái của con đối với cha mẹ không đƣợc bộc lộ rõ ràng, chỉ có một trƣờng hợp nói thẳng rằng "con cãi cha mẹ" là "con hƣ". Trong các trƣờng hợp này, ca dao phản ánh một cách khách quan là chính, để ngƣời nghe tự rút ra kết luận và tỏ thái độ. 3. QUAN HỆ NÀNG DÂU VÀ GIA ĐÌNH CHỒNG Chúng tôi thống kê đƣợc 63 câu ca dao nói về quan hệ của nàng dâu đối với gia đình nhà chồng, thì có tới 33 câu thể hiện những biểu hiện tiêu cực, chỉ có 14 câu biểu hiện sự tích cực (chủ yếu là đối vơí mẹ chồng). Tức là có 52% số câu ca dao về quan hệ nàng dâu - nhà chồng phản ánh tính tiêu cực, và số câu ca dao nói về các hiện tƣợng tiêu cực trong quan hệ nàng dâu - nhà chồng nhiều gấp 2,35 lần số câu nói về các hiện tƣợng tích cực. Tỷ lệ này là cao, đồng thời với nội dung của các câu ca dao nói lên những tiêu cực trong quan hệ nàng dâu với nhà chồng cho thấy từ trong truyền thống, đây là mối quan hệ mang nhiều nỗi nhức nhối thuộc gia đình ngƣời Việt. Nói cách khác, mâu thuẫn nàng dâu - nhà chồng là điểm yếu nhất trong quan hệ gia đình của ngƣời Việt. Qua các câu ca dao nói về quan hệ nàng dâu - nhà chồng, chúng tôi rút ra bảng thống kê nhƣ sau: Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ nàng dâu - nhà chồng
HIỆN TƢỢNG Làm việc vất vả vẫn bị chê Đay nghiến NGUYÊN NHÂN TÁC NHÂN Nhà chồng Mẹ chồng

91

Doạ khâu miệng mẹ chồng Mong mẹ chồng chết Khôn khéo vẫn bị chê (4 câu) Bị chồng đánh, bị xui đánh thêm Mong mẹ chồng ốm để cho thuốc độc Khóc than Bỏ về nhà mẹ đẻ Khóc Muốn bỏ đi Ăn không ngon Nghèo đi Tàn tạ đi Rầu Rủa mẹ chồng Không khen nhau Không dám về với chồng Nhờ chồng lạy mẹ Nhịn nhục, nhịn ăn mặc Bị hành hạ Không yêu nhau Xui chồng chống mẹ Chí nguyện vẫn bị chê Bị đối xử bất công Cực nhọc, đói khổ, rách rƣới

Bị đay nghiến Bị đay nghiến

Bị ngƣợc đãi Bị hành hạ Mẹ chồng ác nghiệt Bị chửi Bị hành hạ, chê nghèo Thấy mẹ chồng Lấy chồng Bị đánh mắng Bị coi rẻ Quan hệ không bình đẳng Sợ bị chê nghèo Bị đánh Mẹ chồng ác Lấy chồng giầu Vì là nàng dâu mẹ chồng Bị đòn Là con dâu Là con dâu

Con dâu Con dâu Mẹ chồng Mẹ chồng Con dâu Mẹ chồng Mẹ chồng Mẹ chồng Mẹ chồng

Mẹ chồng Mẹ chồng Con dâu Mẹ chồng Cha mẹ chồng Mẹ chồng Mẹ chồng Mẹ chồng

Mẹ chồng Mẹ chồng Mẹ chồng Mẹ chồng

Các tình huống tiêu cực trong quan hệ nàng dâu mẹ chồng đƣợc thống kê ở bảng trên cho thấy sự mâu thuẫn gay gắt của hai đối tƣợng này. Sự phản ứng quyết liệt, những lời nói nặng nề, hành vi không khoan nhƣợng giữa mẹ chồng - nàng dâu trong gia đình dƣới chế độ phong kiến ở Việt Nam cho thấy mặc dù đề cao phụ quyền nhƣng vai trò của ngƣời cha cũng chƣa đủ mạnh để tạo dựng nên những quan hệ tốt đẹp và chƣa đủ uy để trấn áp các hành động gây bất hoà giữa các thành viên trong gia đình. Điều này khác với gia đình phụ quyền ở

92

Trung Quốc, trong đó ngƣời con dâu chịu lép một bề, cúi đầu tuân phục mọi phép tắc của nhà chồng. Một số câu ca dao tiêu biểu là: 1. Mẹ chồng nàng dâu Chúa nhà ngƣời ở, khen nhau bao giờ. 2. Thật thà cũng thể lái trâu Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng. 3. Bà kia bận áo xanh xanh Ngồi trong đám hẹ nói hành con dâu Bà ơi! Tôi không sợ bà đâu Tôi xe sợi chỉ, tôi khâu miệng bà Chừng nào bà chết ra ma Trong chay ngoài hội, hết ba chục đồng Không khóc thì sợ lòng chồng Có khóc cũng chẳng mặn nồng chi đâu. 4. Chàng nhìn thiếp rƣng rƣng hột luỵ Thiếp nhìn chàng lã chã hột châu Mẹ cha hành hạ thân dâu Anh đau lòng phải chịu, biết làm sao bây giờ? 5. Cô kia đội áo đi đâu? - Tôi là phận gái làm dâu mới về Mẹ chồng ác nghiệt đã ghê Tôi ở chẳng đƣợc tôi về nhà tôi. Những biểu hiện tích cực trong quan hệ nhà chồng - nàng dâu.
HIỆN TƢỢNG Coi nhƣ con đẻ Cùng lao động Thƣơng mẹ chồng Chăm mẹ chồng Coi bình đẳng nhƣ con Kính trọng mẹ cha chồng Nuôi mẹ thay chồng NGUYÊN NHÂN Dâu hiền TÁC NHÂN Gia đình chồng Con dâu Con dâu Nhà chồng Con dâu Con dâu

Một số câu ca dao tiêu biểu là: 1. Năm trai, năm gái là mƣời Năm dâu, năm rể là đôi mƣơi tròn. 3. Xin anh đi học cho ngoan

93

Để em dệt cửi kiếm quan tiền dài Quan tiền dài em ngắt làm đôi Nửa thì giấy bút nửa nuôi mẹ già Mẹ già là mẹ già anh Một ngày hai bữa cơm canh mẹ già Bát cơm em nấu nhƣ hoa Bát canh em nấu nhƣ là mật ong Nƣớc mắt em lọc cho trong Mâm cơm em dọn tựa dòng cơm quan . Từ các tình huống thể hiện tính chất tích cực và tiêu cực trong quan hệ nàng dâu - nhà chồng, chúng tôi có mấy nhận xét nhƣ sau: - Thứ nhất, mâu thuẫn chủ yếu trong gia đình là mâu thuẫn giữa nàng dâu và mẹ chồng mà tác nhân chính là mẹ chồng. Nói cách khác, mẹ chồng là ngƣời chủ yếu tạo nên các mâu thuẫn với nàng dâu. - Thứ hai, khi làm dâu, ngƣời con gái chịu đủ mọi nỗi khổ, cả về vật chất và tinh thần, nhƣng không đƣợc biết rõ nguyên nhân thực sự làm cho mình bị ngƣợc đãi. Có nghĩa là, qua ca dao, chúng ta thấy ở một bộ phận xã hội, làm dâu đồng nghĩa với phải cam chịu cảnh sống tôi đòi. Đặc biệt, ca dao đã nhiều lần khẳng định làm dâu nhà giầu thì chỉ có khổ. - Thứ ba, các phản ứng tiêu cực của nàng dâu đều hƣớng vào mẹ chồng. Sự phản ứng của nàng dâu có nhiều mức độ khác nhau, tuỳ thuộc ở sự ngƣợc đãi đối với mình, trong đó nhiều trƣờng hợp đã phản ứng gay gắt, tới mức đối kháng. - Thứ tƣ, những biểu hiện tích cực trong quan hệ nàng dâu - nhà chồng chủ yếu do nàng dâu tạo nên, hoặc do nhà cha mẹ chồng tạo nên, không có trƣờng hợp nào do mẹ chồng tạo nên. Trong các trƣờng hợp biểu hiện tính tích cực trong quan hệ nàng dâu - mẹ chồng do cha mẹ chồng tạo nên, thể hiện tính dân chủ, bình đẳng, nhƣng chỉ bộc lộ qua nhận thức chứ không phải là những ứng xử cụ thể: nếu dâu mà hiền thì đƣợc coi nhƣ con, khi tính lƣợng ngƣời trong nhà, con dâu con rể cũng đƣợc tính ngang hàng với con trai con gái. Những nhận xét trên đây dẫn đến kết luận là ca dao đã phản ánh mâu thuẫn trong gia đình ngƣời Việt trong xã hội phong kiến, chủ yếu bộc lộ qua mâu thuẫn nàng dâu - mẹ chồng. Mâu thuẫn này đƣợc thể hiện trên nhiều bình diện của cuộc sống, từ vật chất tới tinh thần, với nhiều mức độ, mà cao nhất là có thể dẫn đến hành động loại trừ nhau. Tìm hiểu hoàn cảnh kinh tế - xã hội thời phong kiến, chúng ta có thể thấy đƣợc nguyên nhân sâu sa của mâu thuẫn ấy. Nhƣ chúng ta đã biết, trong chế độ

94

phong kiến, lao động của ngƣời nông dân phần lớn mang tính đơn giản, năng suất thấp, đòi hỏi nhiều sức lao động. Sống ở nông thôn mà nhà neo ngƣời thì gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, các gia đình ở nông thôn rất cần nhân lực. Theo chế độ phụ hệ, ngƣời phụ nữ khi lấy chồng phải theo chồng. Khi về nhà chồng, ngƣời phụ nữ là một nhân lực đƣợc bổ sung, do vậy bao giờ nhà chồng cũng tìm cách khai thác tối đa khả năng lao động mới ấy. Vì thế, đã hình thành trong tâm lý cƣ dân nông thôn thói quen tận dụng sức lao động của ngƣời làm dâu. Điều này đƣợc thể hiện qua nhiều câu ca dao, trong đó có những câu nói rõ làm dâu nhà giầu thì khổ - chính là vì nhà giầu ở nông thôn thƣờng là những gia đình bóc lột, và thói quen bóc lột ấy đã khiến những gia đình này càng áp chế, tận dụng sức lao động của nàng dâu hơn các gia đình khác (nói về hôn nhân, có 14 câu ca dao có từ tham). Để thấy rõ hơn đặc điểm về việc tận dụng sức lao động của nàng dâu trong gia đình nông dân thời phong kiến, chúng ta có thể liên hệ qua số phận của những anh chàng gửi rể, nhƣ: Trời mƣa cho ƣớt lá khoai Công anh làm rể đã hai năm ròng Nhà em lắm ruộng ngoài đồng Bắt anh tát nƣớc, cực lòng anh thay Tháng chín mƣa bụi gió may Cất lấy gàu nƣớc, hai tay rụng rời. Có nghĩa là, ngay cả nam giới, khi đem thân ở nhà ngƣời khác (bố mẹ vợ) thì cũng bị tận dụng sức lao động, cũng chịu cảnh sống tôi đòi chứ không riêng gì nàng dâu. Mặt khác, về tâm lý, tình cảm, dù sao nàng dâu cũng chỉ là ngƣời dƣng, về chung sống với gia đình nhà chồng đã "chiếm mất" ngƣời con trai của gia đình, làm cho anh ta không còn tập trung tình cảm cho mẹ nhƣ trƣớc, rất dễ trở thành đối tƣợng ghen ghét của mẹ chồng. Cộng vào đó là cuộc sống cực nhọc, thiếu thốn, gò bó khiến các thành viên gia đình phải xoay tròn trong một vòng sống có nhiều va chạm, thì mâu thuẫn nảy sinh là khó tránh khỏi. Còn một nguyên nhân nữa, theo quan niệm Nho giáo, con dâu về nhà phải "theo thói nhà chồng", nhà chồng cần dạy bảo cho nàng dâu cách sống thật sự thích hợp với yêu cầu của gia đình mình, do vậy rất nghiêm khắc, thậm chí đối xử nghiệt ngã với nàng dâu. Dựa vào sự dẫn chứng, phân tích trên đây, chúng tôi thấy rằng nguyên nhân thuộc về yếu tố kinh tế và tâm lý, tình cảm, cùng với ảnh hƣởng của Nho giáo đã làm nảy sinh những tiêu cực nặng nề trong quan hệ nàng dâu nhà chồng. Trong xã hội ngày nay, di chứng này còn ảnh hƣởng tới cuộc sống gia đình hiện đại, tuy đã giảm bớt mức độ gay gắt.

95

Về những biểu hiện mang tính dân chủ trong quan hệ nhà chồng nàng dâu, cũng chủ yếu xuất phát từ điều kiện xã hội nông thôn mà có. Đó là vì ngƣời nông dân xƣa sống trong làng là chính, mà làng lại hình thành từ các nhóm gia đình, gần gũi và thân thiết nhau. Với cơ cấu đặc biệt xóm, ngõ, giáp, làng Việt là nơi cố kết các gia đình với nhau. Qua quá trình gây dựng quê hƣơng, tình làng nghĩa xóm ngày càng bền chặt. Cũng do các điều kiện kinh tế - xã hội thời phong kiến, ngƣời nông dân thƣờng lấy vợ lấy chồng trong làng trong xã, thế là những cô dâu, chú rể dù có trở thành thành viên của gia đình khác, thì cũng có sự gần gũi của tình làng nghĩa xóm. Tóm lại, quan hệ nàng dâu - nhà chồng dù là mang tính tích cực hay mang tính tiêu cực, thì cũng đƣợc quy định bởi nhiều yếu tố kết hợp, gồm yếu tố kinh tế - xã hội, yếu tố tâm lý, tình cảm, và yếu tố Nho giáo (ở một mức độ nhất định). 4. QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN Tình yêu và hôn nhân là chủ đề muôn thủa của văn học. Qua các câu chuyện về hôn nhân trong chế độ phong kiến, các tác giả đã phản ánh đƣợc thực trạng cũng nhƣ quan niệm của xã hội về hôn nhân, trong đó phần lớn lên án sự hà khắc của lễ giáo phong kiến, thứ lễ giáo đã làm thui chột tình yêu chân chính của con ngƣời, dìm con ngƣời trong biển khổ của sự chia cắt nhân duyên. Ca dao ngƣời Việt phản ánh khá sinh động tình trạng hôn nhân trong xã hội phong kiến. Đã có một số nhà nghiên cứu đã đào sâu vào kho tàng ca dao để tìm ra những vấn đề mang tính bản chất của hôn nhân trong xã hội phong kiến. Trong Kinh thi Việt Nam, Nguyễn Bách Khoa viết: "Cái tình yêu khăng khít, cái tƣơng tƣ nồng nàn, cái gắn bó keo sơn của họ, rút cục, thƣờng chỉ đƣa đến một thất vọng chua cay. Nguyên nhân của sự thất vọng là quyền áp chế của cha mẹ. Theo luân lý phụ quyền thì cha mẹ có quyền tuyệt đối trong việc định hôn nhân cho các con, vì hôn nhân không phải là công việc thụ hƣởng ái tình mà chỉ là một khí cụ để nối truyền gia thống nên cha mẹ không để ý đến cái yêu đƣơng của con trẻ." [63:125]. Trong Thi ca bình dân Việt Nam các tác giả phân tích quan niệm về gia đình của ngƣời Việt Nam trong xã hội phong kiến nhƣ sau: "Đối với ngƣời con gái, ý thức tại gia tòng phụ đƣợc thể hiện rõ rệt nhất trong ca dao về phƣơng diện hôn nhân. Vì cho mình không có

96

quyền hạn gì trong việc lựa chọn, nên họ đã đem số phận tƣơng lai uỷ thác vào quyết định của cha mẹ. [72:186]. "Dù trai gái có thƣơng yêu nhau đến đâu, họ cũng không dám nghĩ đến vƣợt quyền quyết định của mẹ cha!… Quyền định đoạt của cha mẹ đối với con một cách độc đoán nhƣ vậy đã nảy sinh trong gia đình Việt Nam, nhất là đối với việc hôn nhân, không biết bao nhiêu đổ vỡ, mà kẻ chịu thảm nạn là ngƣời con gái, lớp ngƣời mà chế độ “tại gia tòng phụ” của Khổng Mạnh đã dành sẵn cho họ.… Dù trai gái có thƣơng yêu nhau đến đâu, họ cũng không dám nghĩ đến vƣợt quyền quyết định của mẹ cha!... Hễ cha mẹ không bằng lòng thì hôn nhân của đôi lứa phải tan vỡ, dù trai gái đã thƣơng nhau đến bực nào. Ngƣợc lại, khi cha mẹ bằng lòng, dù trai gái không thƣơng nhau cũng phải lấy nhau. [72:187]. Trong Chống hôn nhân gia đình phong kiến trong ca dao Việt Nam, Hằng Phƣơng viết: "... ở nƣớc ta, dƣới chế độ phong kiến, việc hôn nhân của con đều do cha mẹ quyết định: cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy.” [122:2]. “Thời phong kiến hầu hết cha mẹ thƣờng quan niệm mình có toàn quyền lo liệu hôn nhân cho con. Không đếm xỉa đến những nguyện vọng mơ ƣớc của tuổi trẻ và hạnh phúc gia đình con sau này.’’ [122:7]. Tác giả đã trích dẫn ca dao để khái quát thành 7 vấn đề lớn nói lên những mặt tiêu cực trong hôn nhân, gia đình dƣới chế độ phong kiến là: Những nỗi lo âu và đau khổ của nam nữ thanh niên thời xƣa, Cƣỡng ép hôn nhân, Tảo hôn, Đa thê, Cảnh goá bụa, Mẹ chồng nàng dâu, Mẹ ghẻ con chồng, Không dân chủ trong gia đình. Trong Tục cưới hỏi, các tác giả Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thảo viết: "Trong xã hội cũ, cha mẹ đóng vai trò quan trọng, quyết định cuộc đời của các đôi nam nữ thanh niên. Với những gia đình nền nếp, có gia giáo thì '’cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy", và gia đình hai bên phải "môn đăng hộ đối" [79:5]. Trong Tục ngữ, ca dao Việt Nam, Mã Giang Lân viết: "Trong xã hội cũ, tình yêu của nhân dân lao động đƣợc thể hiện bằng những tình cảm tự nhiên, lành mạnh. Giai cấp phong kiến muốn bóp chết những tình cảm hồn nhiên, lành mạnh ấy. Vì vậy trong ca dao, bên cạnh tiếng hát ƣớc mơ về một cuộc sống hạnh phúc, là những tiếng kêu đau khổ xót xa về những trắc trở trong tình yêu. Tình yêu tan vỡ do nhiều nguyên nhân, có phần chủ quan trai gái không hợp tính nết nhau

97

hoặc ngập ngừng e ngại, nhƣng phần lớn là do những nguyên nhân xã hội do xã hội phong kiến gây ra.… Và cũng dễ hiểu, trong ca dao có nhiều bài phản ánh tinh thần đấu tranh để bảo vệ tình yêu chân chính của những “chàng trai” và “cô gái”. "Những câu ca dao về chủ đề hôn nhân và gia đình biểu hiện các mối quan hệ đẹp đẽ giữa tình cảm vợ chồng, cha con, mẹ con, anh em, họ hàng… Cho nên lời than thở của ngƣời phụ nữ về số phận của mình dƣới chế độ phong kiến là âm điệu chủ yếu của mảng ca dao này." [70:7]. Vũ Ngọc Phan viết: "Nhƣng ca dao Việt Nam đã chứng tỏ rằng trong quần chúng nhân dân, tƣ tƣởng chống đối giai cấp phong kiến vẫn là tƣ tƣởng chủ đạo. Cho nên trong hôn nhân khi họ đã không ƣng thuận, thì họ cũng không kể gì giàu sang phú quý, và cũng không tin gì ở số mệnh." [114:339]. Qua một số ý kiến dẫn ra trên đây, chúng tôi thấy có hai cách đánh giá khác nhau: cách thứ nhất nhận định trai gái nƣớc ta hoàn toàn chịu phục tùng lễ giáo phong kiến trong hôn nhân, cách thứ hai nhận định có sự đấu tranh chống lại lễ giáo phong kiến. Qua khảo sát ca dao về hôn nhân, chúng tôi thấy rằng ngƣời Việt có cách thức ứng xử nhiều chiều, có khi tuân phục lễ giáo phong kiến, có khi bung phá, cũng có khi lƣỡng lự suy xét để hành động theo lẽ thƣờng tình của quan hệ gia tộc. Sau đây là một số điểm cần chú ý về số lƣợng: Tổng số câu ca dao nói về hôn nhân: 171 câu. Trong đó: + Thể hiên sự cam chịu: 38 câu + Thể hiện sự trách móc: 34 câu + Thể hiện quyền của cha mẹ: 5 câu + Thể hiện sự phản kháng: 17 câu + Thể hiện sự chủ động: 35 câu + Thể hiện sự lƣỡng lự: 21 câu + Thể hiện sự tự giác: 18 câu Tổng hợp lại, có thể chia thành 4 loại thái độ: + Chịu sự đè nén của lễ giáo phong kiến: 76 câu + Chống lại sự đè nén của lễ giáo phong kiến: 53 câu + Giữ đúng bổn phận làm con theo lẽ thƣơng tình: 36 câu. + Thể hiện sự dân chủ trong hôn nhân: 6 câu.

98

Nhƣ vậy, số câu thể hiện sự áp đặt của lễ giáo phong kiến về hôn nhân và con phải chấp nhận là 76, số câu thể hiện ngƣợc lại hoặc khác với sự áp đặt là 95 câu. Nhìn vào số lƣợng các câu ca dao “trái chiều” nhau, cho thấy nhận định rằng qua ca dao thấy rõ con hoàn toàn chịu sự áp chế của cha mẹ là không đúng. Sau đây, chúng ta tìm hiểu chi tiết hơn các tình huống ứng xử về hôn nhân trong gia đình ngƣời Việt thể hiện qua ca dao. 4.1. Hôn nhân chịu sự chi phối của lễ giáo phong kiến Qua 76 câu ca dao thể hiện sự cam chịu của con trƣớc sự áp đặt của cha mẹ trong hôn nhân, chúng tôi rút ra các tình huống nhƣ sau:
TÌNH HUỐNG 1.Đƣợc hỏi làm vợ 2.Bị gả bán (2 câu) 3.Đƣợc tỏ tình 4.Bị phụ tình (2) 5.Yêu nhau 6.Muốn gặp nhau 7.Đang gặp nhau 8.Yêu nhau 9.Phải lòng nhau 10. Yêu nhau 11. Yêu nhau 12. Quen nhau 13. Bị gả bán (3) 14. Yêu 15. 16. 17. 18. Yêu 19. Yêu nhau CHA MẸ Chê bai CON Bảo đem lễ về Trách chồng Không đồng tình ép gả Không đồng tình Không dám cãi Ham quyền quý Thất ƣớc Sợ mẹ cha Sợ mẹ cha Khóc rồi về Không làm quen Cầu xin Khóc ít đến HẬU QUẢ

Đau lòng

Lìa nhau Lấy chồng xa Không gặp Bảo về Quên nhau Sầu, than Khổ Nhạt tình Bực Tiếc công Quên nhau

Không cho Rình Không đồng tình Không đồng tình Nghiêm khắc Thách cƣới Khuôn phép Tham việc công Gả chồng Ngăn cấm Ngăn cấm

Mặc tình Không lai vãng tiếc Không lo lấy chồng Không phản ứng Sầu Đăm chiêu Sầu Nghe theo

99

20. Yêu nhau 21. Hỏi vợ 22. 23. Yêu nhau (2) 24. Yêu nhau 25. Yêu nhau 26. Yêu nhau 27. Bị ép gả 28. 29. Yêu nhau 30. Xa nhau 31. Bị ép duyên 32. Bị gả bán 33. Xa nhau 34. 35. Lấy chồng miền biển 36. Xứng đôi 37. Xa nhau 38. Yêu nhau 39. Cách phân 40. Bị ép gả 41. Bị ép gả 42. Bị ép gả 43. Lỡ thì 44. Chồng già 45. 46. Mới bén duyên 47. Bị cắt duyên 48. Chồng thấp vợ cao 49. Chồng thấp, trẻ con (2)

Ngăn cấm Không ƣa Không chiều Không lo cho Ngăn cấm Chọn nhầm Quá lời ÉP, dỗ dành Kén rể Không rõ thái độ Nghĩ không sâu Tham vàng Tham giầu Gả không đúng chỗ Ham ăn ngon Nói không Theo hủ tục Xui khiến ÉP vào Tham giàu Lƣỡng lự Chấp nhận Trách Trách Trách Trách Trách Trách Xót xa

Không nhau

lấy

đƣợc

Xa nhau Xa nhau Bỏ rời Vợ chồng xung khắc Lâu duyên con Sầu, nhớ Sầu Sầu Trở về Xa quê Rời duyên

Chờ đợi Trách Trách Trách

Không bén duyên Gắn bó Đau đớn

Tham tiền Bội ƣớc Cầm duyên

Oán Trách

Tủi

Tham lam Tham lam Trách Tủi

100

50. Bị gả về giồng 51. Bị đòn 52. Bị chồng đòn 53. Hợp đôi 54. Bị ép duyên 55. Bị ép duyên 56. Bị cầm duyên 57. 58.

Than phận Tham lam Tham lam Không tính Tham lam Tham, thách cƣới Tham giầu Trách Đắng cay Chờ đợi Trách Bực

Không kham đƣợc gánh gồng

Bị làm lẽ Bị giảm giá trị Bị gả đi xa Ra đất ngƣời

76 câu ca dao với 58 tình huống thể hiện sự cam chịu của con cái trƣớc sự áp đặt của cha mẹ về hôn nhân chứng tỏ vai trò của cha mẹ đối với con cái trong các gia đình nông dân dƣới thời phong kiến rất quan trọng. Bố mẹ đƣợc sự hỗ trợ của tƣ tƣởng phong kiến đã tạo ra đƣợc uy quyền chi phối hôn nhân của con cái. Xem các tình huống cam chịu đƣợc kê ở bảng trên, chúng ta cần chú ý rằng số tình huống cha mẹ tham của cải, tham gả con cho nhà giầu chiếm tỷ lệ cao. Điều đó nói lên vật chất ở thời phong kiến đã là thứ đặt cƣợc cho hạnh phúc của gái trai. Sau đây là một số câu ca dao tiêu biểu: 1. Ai bƣng bầu rƣợu đến đó Chịu khó bƣng về Em thƣơng anh thảm thiết trăm bề Heo vay cau tạm áo mƣợn võng thuê Thầy mẹ em nay nhún mai trề Dạ không nỡ dạ, em không dám chê anh nghèo. 2. Em thƣơng anh, cha mẹ không cho Tìm nơi khuất tịch, khóc no rồi về. 3. Mẹ cha nghiêm khắc cùng mình Nên tôi ít lai vãng, mới nhạt tình đôi ta. 4. Thƣơng nhau chẳng lấy đƣợc nhau Mẹ cha trồng sậy, trông lau ngăn rào. 5. Ba tàn ba heó vì cây Con sầu vì mẹ vì thầy ép duyên. 6. Bác mẹ em vội tham vàng

101

Hang hùm lại ngỡ hang vàng gả con Trƣớc thời thẹn với nƣớc non Sau thời cay đắng lòng con đêm ngày Khi vui có bác mẹ thầy Cơn sầu em chịu đắng cay một mình Mang thơ ra dán cột đình Kẻ xuôi ngƣời ngƣợc thấu tình em chăng? Phong ba nổi giữa đất bằng Một dây một buộc ai dằng cho ra! Thiết gì một cảnh vƣờn hoa Mà đem đầy đoạ thân ta thế này? Thấu chăng hỡi bác mẹ thầy Ngỡ rằng gả bán, hoá đầy thân con! 7. Anh đi về đi, kẻo thầy em dứt, kẻo mẹ em la Trận đòn oan em chịu, anh ở xa biết gì! 8. Hà Nội ba mƣơi sáu phố phƣờng Hàng Mật, Hàng Đƣờng, Hàng Muối trắng tinh Từ ngày ta phải lòng mình Bác mẹ đi rình đã mấy mƣơi phen Làm quen chẳng đƣợc làm quen Làm bạn mất bạn ta liền quên nhau. Tình huống phổ biến là các đôi trai gái yêu nhau (26 trong 58 tình huống) và bị cha mẹ ngăn cấm hoặc không đồng tình, do đó họ phải rời xa nhau, để rồi buồn thảm, than khóc. Tuy vậy, trạng thái của các tình huống này không căng thẳng lắm, không thể hiện sự áp chế gay gắt. Cách thức phản ứng của các đôi trai gái trong các tình huống này mang tính buông xuôi. Nhƣ vậy, hậu quả mà họ gánh chịu có phần do họ chứ không phải hoàn toàn do bị áp chế. Trong 8 câu ca dao dẫn ra trên đây, chúng ta thấy rằng trƣớc tình yêu của những đôi trai gái, cha mẹ họ không tỏ thái độ quá gay gắt, mà chỉ ở mức vừa phải (nay nhún mai trề, không cho, nghiêm khắc, ngăn rào) mà họ đã buông xuôi (không nỡ, khóc, ít lai vãng), không vƣợt lên khỏi hoàn cảnh để đi đến với nhau. Trong những trƣờng hợp này, chúng ta có thể quy trách nhiệm cho lễ giáo phong kiến quá hà khắc, khiến con cái phải hy sinh tình yêu để giữ tròn chữ hiếu với cha mẹ, cũng do điều kiện khá cô biệt của làng khiến các đôi trai gái bị ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ với gia tộc, xóm giềng, bị sức mạnh của dƣ luận đè nén, không dễ gì bung phá để đến với nhau, nhƣng cũng có thể nhận xét rằng tình yêu trong các trƣờng hợp này chƣa đủ mạnh tạo nên sự

102

bung phá cho các đôi uyên ƣơng. Sự căng thẳng diễn ra qua 16 tình huống mà trong đó cha mẹ gả bán, cầm duyên, ép buộc cũng nhận đƣợc phản ứng không mấy mạnh mẽ (sầu, cay đắng). Những điều dẫn ra trên đây hoàn toàn trái ngƣợc với các tình huống dẫn ra trong mục sau thể hiện tình yêu mãnh liệt của trai gái, khiến họ bất chấp tất cả để bảo vệ tình yêu của mình. Về quyền cha mẹ trong hôn nhân, có bốn câu ca dao nói trực tiếp, trong đó có hai câu thể hiện cách thức sử dụng quyền ấy nhƣ sau: 1. Con ta gả bán cho ngƣời Cờ ai nấy phất chứ chơi đâu mà. 2. Nuôi con những tƣởng về sau Trao duyên phải lứa, gieo cầu phải nơi Mực đen vô giấy khó chùi Vợ chồng, chồng vợ việc đời trăm năm. Đó là hai lối suy nghĩ trái ngƣợc nhau, một là theo lối gia trƣởng, áp đặt hôn nhân, hai là theo lối dân chủ có trách nhiệm với hạnh phúc của con. Nhƣ vậy, ngay trong quan niệm của dân gian về quyền của cha mẹ trong hôn nhân cũng có sự đa dạng, không phải là một chiều theo lễ giáo phong kiến. 4.2. Nam nữ chống lại sự đè nén của lễ giáo phong kiến Qua 53 câu ca dao thể hiện sự chống lại của nam nữ đối với lễ giáo phong kiến, chúng tôi rút ra 47 tình huống nhƣ sau:
TÌNH HUỐNG 1.Yêu nhau 2.Chƣa chồng 3.Yêu nhau 4.Bị gả bán 5.Yêu nhau 6.Yêu nhau 7.Bị ép gả 8.Yêu nhau (3 câu) 9.Yêu nhau 10. Yêu nhau 11. Bị ép gả 12. Yêu nhau 13. Yêu nhau 14. Bị ép gả CHA MẸ Không bằng lòng Đánh đập Đánh, ngăn Đánh, ngầy Đánh Doạ thả trôi bè Chia rẽ Gả bừa Chửi mắng Đánh, chê CON Vẫn yêu Tự liệu Quyết lấy nhau Xin hoãn Không xa nhau Vẫn đi Tìm cách thoát Vẫn yêu Không sợ Mặc Liều mình Không sợ Không nghe Đòi tự vẫn KẾT QUẢ Kịp duyên

Gặp nhau

Lôi nhau về Giữ lời nguyền Thoát Càng yêu Quyết lấy

103

15. Yêu nhau 16. Đi lấy chồng (2) 17. Yêu nhau 18. Yêu nhau 19. Yêu nhau 20. Yêu nhau 21. Yêu nhau 22. Yêu nhau 23. Yêu nhau 24. Lấy chồng

Đánh, đày

Không thƣơng

Vẫn sắm sửa Xin vốn làm ăn riêng 25. Yêu nhau Nghe theo Không chê nghèo 26. Yêu nhau Kén Không ngại 27. Cấm đoán Sắm sửa 28. Cấm đoán Xin đừng cấm 29. Yêu nhau Nói Mặc 30. Yêu nhau Tin rằng cha mẹ cũng ƣng 31. Lấy chồng Để mẹ cho anh trai 32. Yêu nhau Bỏ mẹ ra đi 33. Yêu nhau Dấu cha mẹ 34. Yêu nhau La rầy Không bỏ 35. Yêu nhau Thƣơng hay không Vẫn lấy nhau 36. Yêu nhau Vấn vƣơng 37. Thƣơng chồng Lạy mẹ 38. Thờ cha kính mẹ Theo đôi lứa 39. Lấy chồng Để mẹ cho em 40. Lấy chồng 41. Yêu nhau 42. Yêu nhau 43. Yêu nhau 44. Yêu nhau Để mẹ cho con trai Cắp nhau đi Dối mẹ Thƣơng chàng hơn Than thở

Xe ít Không thƣơng Phải theo Cấm đoán Răn dạy

Thà chịu chết Thuỷ chung Lạy cha mẹ, xin của Giấu cha mẹ Lạy. Nhờ hàng xóm Quên công cha mẹ Theo nhau Xe nhiều. Nhờ xe Vẫn đợi Đi lấy chồng

Đi lấy chồng Thƣơng lâu dài

Theo chồng Thất hiếu Đƣa anh về

Lỗi đạo Theo chồng Thành thất gia Không sai chữ tòng Gắn bó với chồng Đền công cha mẹ sau

Ngồi không yên

104

45. Lấy chồng 46. Yêu nhau 47. Yêu nhau

Kêu Đánh mắng

Lạy. Thƣơng chồng Theo chồng Không sợ Tung chiếu ra đi Lấy nhau

47 tình huống nam nữ chống lại sự đè nén của lễ giáo phong kiến nêu trên phản ánh tính chất quyết liệt của hai xu hƣớng - xu hƣớng tự do hôn nhân, và xu hƣớng ép hôn nhân vào trật tự của lễ giáo phong kiến. 47 tình huống ấy đƣợc thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau. Sau đây là một số câu ca dao tiêu biểu: 1. Con lạy cha hai lạy một quỳ Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng Mẹ sắm cho con yếm nhuộm nhất phẩm hồng Thắt lƣng đũi tím, bộ nhẫn đồng con đeo tay. 2. Dầu thầy mẹ không thƣơng Đôi ta trải chiếu, lạy từ ngoài đƣờng lạy vô Lạy cùng ông bác bà cô Lạy cùng làng xóm, nói vô tôi nhờ Lạy cùng bà Nguyệt, ông Tơ Xe sao cho trọn, một giờ bén duyên. 3. Đôi ta nhƣ chỉ xe ba Thầy mẹ xe ít thì ta xe nhiều Đôi ta nhƣ chỉ xe năm Thầy mẹ xe ít ta cầm ta xe Đôi ta nhƣ chỉ xe mƣời Thầy mẹ xe ít, mƣợn ngƣời ta xe. 4. Em thƣơng anh cha mẹ cũng phải theo Chiếc tàu buồm kia đang chạy, quăng neo cũng ngừng. 5. Thƣơng nhau cắp quách nhau đi Công cha nghĩa mẹ sau thì hãy hay. 6. Thờ cha, kính mẹ đã đành Theo đôi, theo lứa mới thành thất gia. 7. Rƣợu ngon một chén cũng ngon Thầy mẹ thƣơng con cũng gả, không thƣơng con cũng gả Con thiên lí mã, con vạn lí vân Biết rằng hai họ giao lân Bốn sui gia ngồi lại, thiếp gửi thân cho chàng. 8. Tay đeo khăn gói qua sông

105

Mẹ ôi lạy mẹ thƣơng chồng phải theo. 9. Vai mang khăn gói theo chồng Mẹ kêu con dạ, trở vào lạy mẹ cùng cha Xƣa kia con ở nội gia Bây giờ con xuất giá tùng phu, nội gia tùng phụ Sách có chữ: tam cƣơng thƣờng ngũ Ngoài bìa có chữ phu phụ đạo đông Thƣơng cha, nhớ mẹ, đạo thƣơng chồng phải theo. 10. Nơi mô em hãy chí quyết một nơi Mẹ già không há dễ sống đời nuôi con. Thống kê qua bảng trên cho thấy có 31 trƣờng hợp thể hiện rõ tình yêu qua 47 tình huống ứng xử, và thái độ của cha mẹ cũng rất cứng rắn: ngăn cấm, doạ nạt, đánh đập, doạ thả bè trôi sông, gả bừa. Đáp lại, thái độ của con vừa khôn khéo vừa quyết liệt: lúc thì cầu xin, lúc thì vận động cả họ hàng giúp đỡ, lúc thì mặc kệ, bỏ qua mọi rào cản để đến với nhau, dẫn đến kết quả là đạt đƣợc ƣớc nguyện tình duyên. Qua 10 câu ca dao dẫn ra trên đây, thấy khi yêu nhau mãnh liệt, các đôi trai gái đã vận dụng mọi biện pháp để đạt đƣợc nguyện vọng của mình. Trong họ, giáo lý Khổng Mạnh và những quy định quản lý nghiệt ngã ở làng xã không có tác dụng khống chế hoặc dẫn dắt hƣớng ứng xử, mà chỉ có tiếng gọi của tình yêu (mặc dù có khi giáo lý này đƣợc gọi tên ra). Và cũng chính tình yêu đã dẫn đến hôn nhân - ngƣời con gái “lạy mẹ” để đi “lấy chồng”, không những lạy cha mẹ, mà họ còn lạy chú bác, họ hàng, làng xóm, họ nhờ bất cứ ai có thể nhờ đƣợc trong việc xe duyên cho họ, cho đến khi cha mẹ “cũng phải theo”, còn không thì họ “cắp quách nhau đi”, (và quyết liệt hơn, trong Kho tàng ca dao xứ Nghệ còn có câu: "Cha mẹ dù có chặt chân chặt tay/Khoét mặt, khoét mày cũng trốn theo anh.") Không những thế, họ còn nêu lên triết lý là “Theo đôi, theo lứa mới thành thất gia.” Đây là cách lập luận mang tính duy vật, phù hợp với quy luật của tự nhiên, của xã hội, là một đòn tấn công vào lễ giáo phong kiến bắt con ngƣời phải thành thất gia mà không cần biết có thƣơng yêu nhau hay không. Cũng vì dựa trên lập luận vững chắc nhƣ thế, những đôi trai gái Việt xƣa đã đi đến đƣợc hôn nhân trong tình yêu, và ngƣời phụ nữ đƣợc theo chồng (có 23 trƣờng hợp nói rõ kết quả của tốt đẹp ấy, nhƣ đi lấy chồng, cắp nhau đi, gửi thân cho nhau, theo chồng, lôi nhau về). Đáng lƣu ý là khái niệm theo chồng cuả dân gian không trùng khớp khái niệm tòng phu của triết thuyết Nho giáo - theo chồng vì thƣơng, vì đạo nghĩa là chính chứ không phải vì phục tòng (nội dung Đạo thƣơng chồng, Tình và nghĩa vợ chồng đã đƣợc đề cập trong mục Quan

106

hệ vợ chồng). Nhƣ thế, nhận định của Nguyễn Bách Khoa về hôn nhân trong chế độ phong kiến Việt Nam thể hiện qua ca dao: "Đã trót yêu nhau mà gặp sự ngăn trở của cha mẹ thì chỉ còn một cách là lìa nhau cho tròn chữ hiếu. Ở những trƣờng hợp ấy thì trai gái đều phải phục tòng gia đình, nhƣng trong lòng họ hậm hực lắm." [53:126] là nhận định không chính xác. 4.3. Nam nữ cƣ xử theo lẽ thƣờng tình. Qua 36 câu ca dao phản anh về hôn nhân thể hiện cách cƣ xử theo lẽ thƣờng tình, không bị trói buộc bởi triết thuyết, lễ giáo nào, chúng tôi thống kê thành 29 tình huống nhƣ sau:
TÌNH HUỐNG CHA MẸ 1. Yêu nhau Chƣa rõ 2. Yêu nhau 3. Muốn trao duyên 4. Lựa chọn tình hiếu 5. Lựa chọn Chƣa rõ chồng 6. Muốn làm quen 7. Yêu nhau Chƣa rõ 8. Yêu nhau 9. Lựa chọn 10. Lựa chọn 11. Lấy chồng 12. Lựa chọn (2) 13. Gả chồng 14. Lựa chọn 15. Yêu nhau Ngăn cấm Chƣa rõ CON Ngại ngùng Đợi quyền cha mẹ Sợ lòng mẹ cha Lƣỡng lự Hỏi mẹ cha Sợ bác mẹ Sợ mẹ thầy Hỏi có nghĩ đến cha mẹ mình không Lƣỡng lự Lƣỡng lự Nghĩ cách đền ơn Thƣơng cha mẹ, lo duyên Lo xa nhà Băn khoăn Băn khoăn Nghe cả hai Nghĩ đến hiếu trung Nghĩ đến cha mẹ KẾT CỤC Chờ ý cha mẹ

Day dứt Day dứt Day dứt

Chƣa rõ

16. Lựa chọn Kêu gọi 17. Đƣợc hỏi làm vợ 18. Có ngƣời tỏ

Chờ ý cha mẹ Bỏ đi theo chồng Dùng dằng Bảo về Không tự tình

107

tình (3) 19. Chờ đợi 20. Chờ đợi 21. Có ngƣời tỏ tình 22. Bị thách cƣới 23. Đƣợc tỏ tình 24. Yêu nhau 25. Chƣa chồng 26. Yêu nhau 27. Có ngƣời tỏ tình 28. Có ngƣời tỏ tình 29. Để tang cha mẹ

Nuôi phụ mẫu Đền hiếu trung Dò ý cha mẹ Thách cƣới Đáp ứng Chờ ý cha mẹ Nhớ công ơn cha mẹ Nhớ công ơn cha mẹ Chờ lệnh mẹ cha Để tang cha mẹ Nhớ nghĩa vụ với cha mẹ Hỏi có chờ không

Không sợ già Bảo chờ

Bảo chờ Cúi luồn cha mẹ ở vậy lo phận con Cùng chờ Không đáp lại Không sợ lỡ duyên

Sau đây là một số câu ca dao tiêu biểu: 1. Ơn hoài thai nhƣ biển Ngãi dƣỡng dục, tợ sông Em nguyền ở vậy phòng không Lo đàng cha mẹ cho hết lòng phận con. 2. Ơn thầy bằng núi, nghĩa mẹ tày non Hai ta là đạo làm con Muốn duyên vừa ý đẹp phải cúi luồn mẹ cha. 3. Chớ lo nốc nát, ván hà Gắng thân nuôi phụ mẫu, duyên già có anh. 4. Phụ mẫu sơ sanh, hãy để ngƣời định Trong việc vợ chồng, phải chờ lịnh mẹ cha - Đợi lịnh mẹ cha, anh đây cũng biết vậy Nhƣng em phải hứa chắc một lời, anh sẽ cậy mai dong. 5.. Thuyền em lựa bến cắm sào Em chờ phụ mẫu định nơi nào sẽ hay. 6. Lênh đênh nửa nƣớc nửa dầu Nửa thƣơng cha mẹ nửa sầu căn duyên.

108

Điều đáng quan tâm là trong loại tình huống thể hiện sự cƣ xử theo lẽ thƣờng tình của con trƣớc việc hôn nhân, là trạng thái yêu có tần số thấp hơn các loại tình huống nói ở các mục trên - có 28 tình huống thì chỉ có 7 tình huống thể hiện tình yêu đã nảy nở giữa các đôi trai gái, còn đa số thể hiện tình trạng mới chớm nở của tình yêu (21 trƣờng hợp phản ánh tình trạng mới làm quen, mới đƣợc tỏ tình, đang lựa chọn đối tƣợng…), còn thái độ của cha mẹ hầu hết trong các trƣờng hợp là chƣa rõ (26 trong tổng số 29 tình huống). Ngƣời bộc lộ suy nghĩ trong các tình huống nói trên chủ yếu là con - họ nghĩ về sự phản ứng của cha mẹ nếu biết đƣợc ý định tiến tới hôn nhân của họ. Nhìn chung, họ sợ cha mẹ không đồng tình thì ít (4 trƣờng hợp) mà đợi ý mẹ cha thì nhiều (7 trƣờng hợp), hơn nữa, họ nghĩ đến trách nhiệm của con đối với cha mẹ là nhiều hơn cả (11 trƣờng hợp). Trong 6 câu ca dao trích dẫn trên đây, thấy nổi bật là trách nhiệm của con đối với cha mẹ, trong đó, con lo đến việc đền đáp công ơn cha mẹ và chờ ý kiến cha mẹ rồi mới tính đến hôn nhân. Đặc biệt trong câu thứ ba, đã nói lên một cách mộc mạc mà sâu sắc sự tự giác, thấu tình đạt lý của ngƣời nông dân về quan hệ giữa tình và hiếu: cứ lo cho cha mẹ, dù “duyên già” thì đã "có anh". Đó là cách thức ứng xử phù hợp với truyền thống kính trọng mẹ cha của dân tộc. Trong trƣờng hợp bị chi phối bởi bên tình bên hiếu, các đôi trai gái dùng dằng, lƣỡng lự. Điều đó cũng cho thấy họ sống theo lẽ thƣờng tình, không bị chi phối quá mạnh mẽ bởi học thuyết Nho giáo, bởi vì Nho giáo quy định rằng con phải nghe lời cha, cha bảo chết mà không chết là bất hiếu. Sự dùng dằng, lƣỡng lự “nửa thƣơng cha mẹ, nửa sầu căn duyên”, “Mẹ kêu khốn tới, thƣơng chồng khốn lui” cho thấy rằng cái có sức chi phối họ chủ yếu là cái tình chứ không phải là cái lý. 4.4. Tính dân chủ trong hôn nhân. Giá trị đích thực của hôn nhân phải đƣợc xuất phát từ tình yêu gái trai, không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, sang giầu, tôn giáo, cũng nhƣ thành phần xuất thân. Tiến tới hôn nhân là quyền lựa chọn của đôi trai gái. Một khía cạnh của dân chủ trong hôn nhân đƣợc biểu hiện ở sự lựa chọn đó. Ca dao là tâm tƣ tình cảm của ngƣời lao động, mà dƣới thời phong kiến chủ yếu là ngƣời nông dân. Môi trƣờng lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội của những con ngƣời đồng cảnh đã nuôi dƣỡng tinh thần dân chủ. Tuy nhiên, ý thức hệ của giai cấp thống trị đã ảnh hƣởng mạnh vào cơ tầng xã hội và ý thức của ngƣời nông dân. Một mặt, họ muốn sống nhƣ cuộc sống vốn có của họ, mặt khác, họ lại muốn lấy mô thức của giai cấp thống trị họ làm cái đích để hƣớng tới. Do vậy, ca dao có cả mặt tiêu cực và tích cực của ý thức hệ thống trị và bị trị. Có điều, liều lƣợng của hai loại này ẩn chứa trong đó là bao

109

nhiêu, khó có thể đo đếm đƣợc. Ta thử xem tính dân chủ trong hôn nhân đƣợc thể hiện qua 6 câu ca dao dƣới đây: 1. Đôi ta nhƣ ngọn nhang trần Không cha không mẹ muôn phần cậy ai? 2. Mỗi năm mỗi thắp đèn trời Cầu cho cha mẹ sống đời với con Ngƣời còn thì của cũng còn Để ngƣời ban bảo vuông tròn nhân duyên. 3. Sông Thanh nƣớc chảy lờ đờ Con đi lấy chồng, mẹ biết nhờ ai? 4. Xiết bao bú mớm bù chì Đến khi con lớn con đi lấy chồng Có con đỡ gánh đỡ gồng Con đi lấy chồng, vai gánh tay mang! 5. Khi đi mẹ đã dặn rồi Đi thì đi một về đôi mẹ mừng. 6. Trách cha, trách mẹ em lầm Cho nên em phải khóc thầm hôm mai Trách chàng chẳng dám trách ai Trách chàng chê nụ hoa nhài không thơm. Câu ca dao thứ nhất và thứ hai cho thấy rằng trong quan niệm của ngƣời Việt xƣa, không phải lúc nào cha mẹ cũng là rào cản của con trong chuyện hôn nhân. Rõ ràng, cha mẹ là chỗ để con nhờ cậy, nhờ cha mẹ ban bảo thì nhân duyên mới đƣợc vuông tròn, có nghĩa là chính cha mẹ không những là ngƣời nuôi dạy mà còn là ngƣời tác thành cho đôi lứa. Câu ca dao thứ ba và tƣ cho thấy sự hẫng hụt của cha mẹ khi con đi lấy chồng, và lúc này, ngƣời phải cam chịu là cha mẹ chứ không phải là con. Ngƣời mẹ ngẩn ngơ nhìn con theo chồng, chỉ còn than thở “biết ở với ai!”, và xác định ngay cách sống phù hợp là tự lực nuôi sống bản thân “vai gánh, tay mang”. Đến câu thứ năm, tính dân chủ trong quan niệm về hôn nhân của ngƣời Việt xƣa đã thể hiện rất rõ. Câu ca dao này gợi nên hình ảnh một ngƣời mẹ nhân từ, khi thấy con đi xa về vẫn không cùng ai, đã mỉm cƣời hiền hậu mà trách nhẹ về sự không về đôi cuả con. Nhƣ vậy là, ngay trong lòng chế độ phong kiến, ngƣời nông dân đã có quan niệm tự do lựa chọn hôn nhân, sự lựa chọn ấy thuộc về con, trái ngƣợc hẳn với quan niệm của lễ giáo phong kiến cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Quyền tự do hôn nhân có trƣờng hợp đƣợc mở đến vô cùng! Câu ca dao cuối cùng thoạt nghe tƣởng rằng cha mẹ đã can thiệp thô bạo vào chuyện tình duyên cuả

110

con, nhƣng đọc kỹ mới thấy rằng chính ngƣời con trai đã mƣợn thành kiến về vai trò của cha mẹ trong chế độ phong kiến để đổ lỗi cho cha mẹ, khi chính bản thân mình mới là ngƣời phụ tình. Anh chàng láu lỉnh ấy mặc dù đã đem bức bình phong của lễ giáo phong kiến ra che chắn, vẫn không qua đƣợc đôi mắt tinh tƣờng của ngƣời con gái để rồi đƣợc vạch mặt một cách tinh tế: anh mới là ngƣời chê hoa nhài không thơm, anh mới là ngƣời tự chặt đứt duyên tình! Chúng ta có thể đặt câu hỏi vì sao ngay trong lòng xã hội phong kiến với những giáo lý khắt khe, quan niệm và cách ứng xử trên bình diện hôn nhân thể hiện qua ca dao lại đa chiều, trong đó có những yếu tố dân chủ nhƣ vậy? Có thể tìm thấy câu trả lời khi xem xét hoàn cảnh xã hội mà trong đó ca dao ra đời và đƣợc lƣu truyền đến ngày nay. Nho giáo hay lễ giáo phong kiến dù có hàng ngàn năm thống trị, vẫn không thể lan toả vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, trong đó, nông thôn là địa hạt còn bị bỏ ngỏ nhiều. Đó là vì nông thôn Việt Nam có một cơ cấu xã hội đặc thù, một cơ cấu mà trong đó làng tồn tại có tính độc lập tƣơng đối, có phong tục tập quán đƣợc lƣu truyền từ lâu đời, là tấm rào cản làm giảm bớt sự thâm nhập của những triết thuyết và lối sống ngoại lai (nhƣ Nho giáo từ phƣơng Bắc sang). Trong thời phong kiến ở Việt Nam, giao thông kém phát triển, phƣơng tiện vận tải cũng nhƣ phƣơng tiện truyền thông còn thô sơ, cho nên giao tiếp với thành thị thì khó, mà giao tiếp trong nội bộ làng quê lại thật dễ dàng. Đàn ông, đàn bà không bị phân biệt sâu sắc về phân công lao động, về các nguyên tắc của lễ giáo phong kiến, cho nên nguyên tắc thụ thụ bất thân khó mà vận hành đƣợc ở đây. Họ cùng lao động, đặc biệt là lao động trong một môi trƣờng phóng khoáng là đồng ruộng, thì sự gặp gỡ, giao duyên để đi tới tình yêu và hôn nhân là điều không khó. Cộng vào đó, các sinh hoạt hội hè, đình đám, các đêm xem diễn chèo ở đình làng... đều là điều kiện thuận lợi cho nam nữ gặp gỡ, giao duyên. Ca dao chủ yếu phát sinh từ nông thôn, cho nên phản ánh chân thật về tình yêu, hôn nhân theo cái phóng khoáng của thôn quê cũng là lẽ tất yếu. Thật vậy, theo chúng tôi thống kê, trong số 11.825 đơn vị ca dao, có tới 5.682 đơn vị nói về giao duyên nam nữ. Họ giao duyên trong môi trƣờng rộng mở của đồng ruộng, của bờ sông, bãi dâu, của giếng nƣớc, đầu đình… Thống kê qua 6.862 đơn vị ca dao về giao duyên nam nữ và về gia đình, chúng tôi thấy có 4.383 lƣợt đơn vị có chứa các từ chỉ khung cảnh nông thôn bình yên với những cánh cò, đàn chim, cây đa, bến nƣớc, con đò, cây, hoa lá… (94 đơn vị có từ ruộng, đồng, 123 đơn vị có từ vƣờn, 653 đơn vị có từ thuyền, đò, bến, 494 đơn vị có từ sông, 93 đơn vị có từ đình, chùa, 36 đơn vị có từ cây đa,

111

1.452 đơn vị có từ lá, cây, cành, hoa, quả, tre, trúc, 385 đơn vị có từ trầu, cau, 74 đơn vị có từ lúa, thóc, 387 đơn vị có từ chim, cò, 82 đơn vị có từ trâu, bò, 320 đơn vị có từ cá). Có nghĩa là khung cảnh phổ biến mà trong đó nảy nở duyên tình, dẫn đến hôn nhân của các đôi trai gái đƣợc phản ánh trong ca dao là thiên nhiên, một thiên nhiên thuần khiết của nông thôn, không bị chi phối bởi những triết thuyết hoặc lễ giáo khắt khe nào, nó tạo điều kiện cho con ngƣời sống cởi mở, chân thành với tình cảm dào dạt. Số lƣợng từ khá lớn về thiên nhiên nói trên cũng đồng thời cho ta thấy cuộc sống của ngƣời Việt xƣa chính là một cuộc sống nông nghiệp trồng lúa nƣớc gắn với sông nƣớc, đồng ruộng. Có điều, trong khi sử dụng nhữug từ “thuần nông” nhƣ trên để diễn tả tình yêu lứa đôi, các tác giả dân gian đã thi vị hoá và phi vật chất hoá nghĩa của chúng, khiến chúng vừa gần gũi với cuộc sống của ngƣời nông dân, vừa bay bổng lên trong tình yêu và khát vọng hạnh phúc của con ngƣời. Chẳng hạn, từ cá, đƣợc xuất hiện tới 320 lần, nhƣng hầu nhƣ không lần nào mang ý nghĩa vật chất, diễn tả một thứ thức ăn phổ biến của ngƣời nông dân vùng sông nƣớc, mà chủ yếu là phƣơng tiện biểu đạt cho tình cảm con ngƣời. Có thể nhặt ra bất cứ câu ca dao nào trong số 320 câu vừa nói trên để chứng minh điều này, ví dụ nhƣ: 1. Công anh xe chỉ uốn cần Vì chƣng trời động con cá lần ra khơi. 2. Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai? Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ Đêm đêm hƣớng dải Ngân Hà Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn Đá mòn nhƣng dạ chẳng mòn Tào Khê nƣớc chảy vẫn còn trơ trơ. 3. Trèo lên cây bƣởi hái hoa Bƣớc xuống vƣờn cà hái nụ tầm xuân Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng rồi anh tiếc em thay Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không? Bây giờ em đã có chồng

112

Nhƣ chim vào lồng nhƣ cá mắc câu Cá mắc câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thuở nào ra. 4. Ai làm cá bống đi tu Cá thu nó khóc, cá lóc nó rầu Luỵ rơi hột hột, cơ cầu lắm bớ em! 5. Anh đừng thấy cá phụ canh Thấy toà nhà ngói, phụ tranh rừng già. Qua 5 câu ca dao trên đây, đã đủ thấy cách sử dụng từ cá (cũng nhƣ các từ chỉ vật chất khác) linh hoạt và uyển chuyển nhƣ thế nào - lúc thì tƣợng trƣng cho ngƣời con gái vừa tuột khỏi tầm tay ngƣời con trai, lúc lại tƣợng trƣng cho nỗi buồn man mác của một ngƣời đang yêu mà phải xa ngƣời yêu, lúc lại là biểu tƣợng cho sự chung thuỷ, không thay lòng đổi dạ… Mặt khác, cách thức diễn đạt xuất phát từ trực quan sinh động ấy cũng biểu hiện cho lối tƣ duy thuần phác của ngƣời nông dân, thứ tƣ duy không bị trói buộc bởi những triết thuyết hoặc lễ giáo khắt khe trong xã hội phong kiến mà xuất phát từ thực tiễn sinh động trong cuộc sống hàng ngày ở nông thôn. Đứng về mặt tác giả của những ca dao nói chung và ca dao về hôn nhân nói riêng, chúng ta thấy cũng có sự đa dạng. Tuy nhìn chung thì đó là tác giả tập thể, thế nhƣng nếu tìm về ngọn nguồn thì thấy từng câu ca dao đều phải đƣợc sáng tác và phát ngôn bởi một ngƣời cụ thể, trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó. Ca dao chủ yếu phát nguồn từ nông thôn, trong khung cảnh giao duyên nam nữ và khung cảnh lao động hoặc hội hè là chính, với tác giả chủ yếu là những ngƣời sống tại nông thôn. Trong số họ, có ngƣời là nông dân, có ngƣời là nhà nho (đang học để đi thi, thi không đỗ, cáo quan về “vƣờn”, thầy đồ hƣơng sƣ). Chính những nhà nho này góp phần quan trọng chuyển tải tƣ tƣởng Nho giáo về nông thôn, phổ biến nó trong học sinh, và khi họ tham gia sáng tạo ca dao thì họ cũng chuyển tải quan điểm Nho giáo vào nội dung ca dao. Tuy vậy, do ký thác cả cuộc sống trong làng quê, các nhà nho sống ở nông thôn vừa chịu ảnh hƣởng của Nho giáo, vừa có cái nhìn thực tế, cho nên, trong ca dao về hôn nhân, gia đình mới có sự đa chiều về quan niệm nhƣ vậy, mà chiếm ƣu thế là chiều đi theo tiếng gọi mạnh mẽ của tình yêu chân chính nảy sinh trong lao động, trong môi trƣờng thiên nhiên trong lành của ngƣời Việt. Qua ca dao, thấy rõ rằng trong cuộc sống của ngƣời Việt xƣa, tình yêu làm cơ sở cho hôn nhân, tạo lập gia đình hạnh phúc.

113

TIỂU KẾT Chúng tôi đã khảo cứu ca dao về gia đình trên những quan hệ chính là vợ chồng, cha mẹ con, nàng dâu - nhà chồng. Do ca dao phản ánh ít về quan hệ anh chị em cho nên chúng tôi không khảo cứu nội dung này. Mặt khác, qua các mối quan hệ, ca dao đã phản ánh một cách sinh động quan niệm dân gian trên một số vấn đề nhƣ đạo hiếu, đạo nghĩa, ông Tơ bà Nguyệt, hôn nhân, cho nên chúng tôi đi sâu khảo cứu những vấn đề này, tìm ra đƣợc một số nét đặc trƣng trong nhận thức và cách thức ứng xử của ngƣời Việt trong cuộc sống gia đình. Về quan hệ vợ chồng: Đặc trƣng cơ bản của quan hệ vợ chồng ngƣời Việt thể hiện qua ca dao là gắn bó, với những biểu hiện chính là: theo nhau, gắn bó trong lao động, càng xa cách càng gắn bó. Nét đặc thù của sự gắn bó vợ chồng ngƣời Việt là theo nhau. Khái niệm tòng phu của Nho giáo ở Việt Nam không đƣợc hiểu một cách bó hẹp, cứng nhắc, mà đƣợc mở rộng, mềm mại, chuyển hoá thành vợ chồng theo nhau. Chính sự theo nhau của vợ chồng ngƣời Việt thể hiện quan niệm và cách thức ứng xử dân chủ, mềm mại của ngƣời nông dân thuần phác, chứng minh rằng gia đình ngƣời Việt tuy sống trong chế độ phụ quyền, chịu ảnh hƣởng của Nho giáo, nhƣng không rập khuôn theo đạo lý phong kiến, mà đa dạng, phong phú, mang tính dân chủ và tính nhân văn sâu sắc. Về các khái niệm của Nho giáo đƣợc vận dụng trong ca dao về gia đình: Các từ đạo nghĩa, ông Tơ bà Nguyệt có tần số xuất hiện khá cao trong ca dao chứng tỏ Nho giáo đã có ảnh hƣởng khá rộng trong dân gian. Tuy vậy, nội dung của các khái niệm này đƣợc thể hiện qua ca dao lại không gần gũi với nội hàm nguyên gốc Hán, mà chứa đựng những ý nghĩa phù hợp với tâm thức dân tộc, một dân tộc có truyền thống nhân ái, coi trọng nghĩa tình, gắn bó với nhau trong lao động, gần gũi và hoà đồng với thiên nhiên. Điều đó chứng tỏ trong cách tiếp thu Nho giáo, ngƣời Việt đã chuyển hoá nội dung cho phù hợp với điều kiện sống và tập tục của dân tộc, có nhiều trƣờng hợp chỉ còn dùng vỏ ngôn ngữ của các khái niệm thuộc giáo lý nhà Nho để chuyển tải những nội dung gần gũi với cuộc sống bình thƣờng ở nông thôn. Về quan hệ cha mẹ con: Ca dao nói nhiều đến đạo hiếu, với những nội dung gần với những nội dung mà Nho giáo đề cập. Tuy vậy, đó không phải là những giáo lí khô cứng, cao siêu theo triết thuyết Nho giáo mà gắn với đời sống thƣờng ngày, đề cao cách thức ứng xử hƣớng về cội nguồn, tôn trọng và kính yêu cha mẹ theo truyền thống của cƣ dân vùng Đông Nam Á vốn coi trọng tổ tiên. Ảnh hƣởng rõ nhất của Nho giáo vào gia đình ngƣời Việt là coi trọng việc học hành, nhằm dƣơng danh hiển thân. Qua ca dao thấy rõ điều này:

114

cha mẹ coi trọng việc cho con theo học, đi thi và đỗ đạt. Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ cha mẹ con mà ca dao phản ánh và phê phán là con đối xử không tốt đối với cha mẹ. Về quan hệ nàng dâu và gia đình chồng: Số lƣợng câu ca dao nói về những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ nàng dâu - nhà chồng nhiều gấp 2,35 lần số câu nói về những biểu hiện tích cực, cho thấy đây là mâu thuẫn đáng quan tâm khắc phục nhất trong gia đình ngƣời Việt. Nói cách khác, mâu thuẫn nàng dâu - nhà chồng là điểm yếu nhất trong quan hệ gia đình của ngƣời Việt. Mâu thuẫn nàng dâu - mẹ chồng diễn ra gay gắt trên nhiều bình diện, mà nguyên nhân chính thuộc về yếu tố kinh tế và yếu tố tâm lý, đồng thời có yếu tố Nho giáo. Quan niệm về hôn nhân: Ngƣời Việt có quan niệm đa chiều về hôn nhân, trong đó có chiều tiêu cực là chịu sự ràng buộc thái quá của lễ giáo phong kiến, nhƣng chiều nổi bật, tích cực là quan niệm dân chủ, nhân văn. Chính vì thế, vƣợt qua mọi sự áp chế của chế độ phong kiến, ngƣời Việt đã tìm thấy hạnh phúc trong hôn nhân, từ đó xây dựng đƣợc một mẫu hình gia đình gắn bó, hoà thuận trong lao động, trong môi trƣờng nông thôn thanh bình tuy lao động nặng nhọc và vật chất thiếu thốn. Nguyên nhân của tình hình này là ngƣời Việt sống trong môi trƣờng nông thôn có một thiết chế tƣơng đối khép kín là làng, với phong tục tập quán đƣợc lƣu truyền từ lâu đời, là tấm rào cản làm giảm bớt sự thâm nhập của những triết thuyết và lối sống ngoại lai. Mặt khác, tình yêu nảy nở trong khung cảnh thiên nhiên hiền hoà, trong các dịp lễ hội thắm tình làng nghĩa xóm, trong lao động trên đồng ruộng phóng khoáng, trong sinh hoạt hội hè đình đám mang tính dân chủ làng xã là điều kiện khiến cho các đôi trai gái nông thôn tiến tới hôn nhân một cách hồn nhiên và mộc mạc, từ đó xây dựng đƣợc gia đình trên một cái nền vững chắc của làng quê với những phong tục tập quán tốt đẹp. Chúng tôi nhận thấy ý kiến nói rằng trong xã hội phong kiến, hôn nhân chỉ là kết quả của sự cƣỡng ép của cha mẹ đối với con, hôn nhân không đem lại hạnh phúc cho con ngƣời là thiếu toàn diện. Từ các mối quan hệ trong gia đình và cách thức ứng xử của các đôi trai gái trƣớc tình yêu và hôn nhân, giữa bên tình và bên hiếu, thấy nổi bật lên vấn đề số phận cá nhân trong mối tƣơng quan với gia đình và trách nhiệm của từng cá nhân trong gia đình của mình. Bao trùm, là trách nhiệm cao của từng cá nhân với tƣ cách thành viên của gia đình với gia đình. Mỗi cá nhân đều phải ý thức rõ vai trò của mình trong gia đình và thực hiện tốt vai trò ấy. Cha mẹ phải ăn ở có đức, phải hy sinh, nuôi dƣỡng và giáo dục con cái. Con cái phải biết ơn

115

và có trách nhiệm với cha mẹ. Vợ phải theo chồng, gánh vác giang sơn nhà chồng. Chồng phải biết đến công lao của vợ, phải chung lƣng đấu cật với vợ. Nhƣ thế, ý thức về gia đình mang ý nghĩa bao trùm, chi phối mọi hành động của từng cá nhân trong gia đình. Khi xảy ra mâu thuẫn, từng cá nhân, nhất là ngƣời ở bậc dƣới, phải chịu hy sinh hoặc nhƣờng nhịn, ngƣời ở bậc trên phải bao dung, khoan hoà. Tuy vậy, sự nhƣờng nhịn hay hy sinh ấy không bao trùm toàn bộ cuộc sống gia đình, không thủ tiêu hết vai trò cá nhân, làm cho từng cá thể tan biến trong gia đình. Thực ra, mỗi cá thể vẫn tồn tại tƣơng đối độc lập trong gia đình, và một khi quyền lợi của cá nhân bị đe doạ hay một khi khát vọng hạnh phúc cá nhân đã cháy bỏng, thì cá nhân ấy sẵn sàng phá bung mọi lễ giáo, mọi mối ràng buộc để xây dựng hạnh phúc cho riêng mình. Tiêu biểu cho tình trạng này là sự bung phá của con cái khi tình yêu và hôn nhân bị đe doạ. Lúc này, con ngƣời cá nhân đã thắng thế, tự mình thoát khỏi mọi mối ràng buộc của lễ giáo nhằm thoả mãn khát vọng hạnh phúc của mình, để rồi khi đạt đƣợc ƣớc nguyện, họ lại trở về với cuộc sống bình yên trong gia đình. Con ngƣời cá nhân trong văn học dân gian ngƣời Việt không nổi loạn, không đạp đổ toàn bộ các mối ràng buộc để khẳng định một cách tuyệt đối cá nhân mình nhƣ kiểu con ngƣời cá nhân trong văn học phƣơng Tây, mà biết tự điều tiết ở một mức độ vừa phải, đủ để đem lại hạnh phúc cho mình mà không làm tan vỡ các mối quan hệ khác.

116

CHƢƠNG BỐN SO SÁNH SỰ PHẢN ÁNH PHONG TỤC TẬP QUÁN GIỮA TỤC NGỮ VÀ CA DAO 1. NHỮNG ĐIỂM CHUNG 1.1. Tục ngữ, ca dao đều là một trong những nguồn tài liệu cần thiết cho việc nghiên cứu con ngƣời và xã hội Việt Nam trƣớc đây Muốn nhận thức ngày càng đầy đủ và chính xác về con ngƣời và xã hội Việt Nam thủa trƣớc, cần thiết phải sử dụng nhiều nguồn tài liệu. Trƣớc đây, chúng ta hay sử dụng sử liệu và những trƣớc tác khác của các nhà văn hoá bác học. Đó là một cách làm quen thuộc và có cơ sở của sự đúng đắn. Về sau, bên cạnh nguồn sử liệu chính thống, những trƣớc tác của các tác giả trong nƣớc, chúng ta đã chú ý tới các ghi chép của các tác giả nƣớc ngoài (ngƣời Trung Quốc, ngƣời Pháp...). Cách tiếp cận này cũng đã đem lại những kết quả nhất định. Ngƣời ta cũng tìm hiểu con ngƣời và xã hội Việt Nam trƣớc kia qua những áng văn chƣơng của các tác giả thời ấy, nhƣ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... Bên cạnh các nguồn tài liệu kể trên, văn học dân gian nói chung, tục ngữ, ca dao nói riêng, cũng là một nguồn tài liệu cần thiết giúp ngƣời sau nhận biết về quá khứ của cha ông. Lời ca dao sau: Trời mƣa Thái Tổ Thái Tông Con bế con dắt con bồng con mang Bò đen húc lẫn bò vàng Húc quấy húc quá húc quàng xuống sông. phản ánh một sự thật lịch sử vào thế kỷ XV. Giặc Minh xâm lƣợc nƣớc ta, thực hiện triệt để âm mƣu đồng hoá, hòng biến đất nƣớc ta thành một quận huyện của đế chế Trung Hoa. Chúng tàn phá các công trình về lịch sử văn hoá, đốt phá sách vở, cƣỡng bức đàn bà phụ nữ, bắt nhiều ngƣời tài giỏi của ta đƣa sang Trung Quốc, không ít đàn ông Việt bị thiến, nhiều ngƣời sợ quá phải trốn vào nơi rừng rú. Sau cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi, vua Lê Thái Tổ và tiếp sau là vua Lê Thái Tông đã khôi phục sản xuất trong nƣớc, khuyến khích nhân dân tăng gia sản xuất, chăn nuôi trâu bò lợn gà. Nhiều ngƣời dân lƣu tán đã trở về xây dựng cuộc sống gia đình, trẻ em mỗi ngày một nhiều. Sự thật lịch sử đó đã đƣợc bài ca dao chỉ gồm bốn dòng ghi lại khá sinh động, cụ thể.

117

Hoặc nhƣ qua 25 câu ca dao nói về tình cảnh xa cách vợ chồng bởi chồng đi lính, ngƣời đời sau thấy rõ một sự thật lịch sử là trong chế độ phong kiến, việc bắt lính đã gây nên nhiều nỗi đau khổ cho nhân dân, nhƣ: Anh ơi phải lính thì đi Cửa nhà đơn chiếc anh thì cậy ai? Tháng chạp cày đất trồng khoai Tháng giêng trồng đậu tháng hai trồng cà Tháng ba cày vỡ ruộng ra Trời thời mƣa gió, nƣớc sa đầy đồng Ngƣời ta có vợ có chồng Chồng cày vợ cấy ngoài đồng có đôi Nhà anh chỉ có mình tôi Cày rồi lại cuốc, cuốc thôi lại bừa Cho nên tôi phải về trƣa Gẫy đôi vai bừa, ai kẻ chêm cho! Ai về nhắn nhủ các cô Đừng lấy chồng lính thiệt thua trăm đƣờng. Chúng ta biết rằng pháp luật của Nhà nƣớc phong kiến từ những điều luật đƣợc ban bố cho đến việc thực thi bao giờ cũng có một khoảng cách. Theo Quốc triều hình luật (một bộ luật nhà Lê), nếu ngƣời vợ mà tố cáo chồng thì sẽ phạm vào một trong mƣời tội thập ác. Nếu ngƣời đời sau chỉ nghiên cứu các văn bản luật pháp thì có thể nghĩ rằng dƣới triều nhà Lê, quyền sống của ngƣời phụ nữ nói chung, của ngƣời vợ nói riêng, bị bóp nghẹt, bị chà đạp đến mức không thể làm theo công lý. Thế nhƣng, trên thực tế, ngƣời vợ vẫn có thể tố cáo chồng. Khi thi đỗ năm 1757, ông Phạm Công Tiến đã lấy con gái một nhà giàu làm vợ lẽ. Trong đám rƣớc vinh quy từ kinh đô về làng, ông đã tranh cãi với bà vợ nhiều lần về quyền ƣu tiên của ngƣời vợ lẽ. Ngƣời vợ cả đã đƣa việc này đi kiện và kết quả ông Phạm Công Tiến không đƣợc bổ nhiệm làm quan. Hoặc nhƣ trong 24 huấn điều của Lê Hiến Tông (1500) huấn điều thứ chín đã quy định về phụ nữ: "Khi chồng chết mà mình chƣa có con, thì phải ở lại nhà chồng, giữ việc tang lễ, không đƣợc giấu giếm chuyển vận tài sản nhà chồng đem về nhà mình". [Dẫn theo 99:338]. Thế nhƣng, tục ngữ lại có câu: "Làm ruộng phải có trâu, làm dâu phải có chồng", chứng tỏ nhân dân không thực hiện huấn điều ấy, mà thực hiện một lẽ phải thông thƣờng là chỉ ở lại nhà chồng khi còn chồng. Nhƣ vậy, phải bằng nhiều nguồn tƣ liệu, có phân tích, đối chứng thì chúng ta mới có thể đi tới những nhận xét toàn diện và gần với sự thật lịch sử.

118

Chỉ riêng trong lĩnh vực gia đình, nghiên cứu tục ngữ và ca dao, chúng ta cũng có thể thấy đƣợc gia đình ngƣời Việt trƣớc kia không đến nỗi ngột ngạt nhƣ một vài nhận định phiến diện đã công bố đây đó mà chúng tôi dã phân tích trong các chƣơng trên. Bên cạnh những nét son tốt đẹp, gia đình truyền thống cũng có những mảng tối. Nhƣ đã phân tích ở các chƣơng trƣớc, rõ ràng quan hệ nàng dâu mẹ chồng trong xã hội cũ là quan hệ không mấy tốt đẹp: 1. Thật thà cũng thể lái trâu Yêu nhau cũng thể nàng dâu, mẹ chồng. 2. Thƣơng chồng phải khóc mụ gia Ngẫm tôi với mụ có bà con chi. Vì vậy, bên cạnh việc nghiên cứu luật pháp trong thời phong kiến và giáo lý Nho gia, chúng ta cần tìm hiểu ca dao, tục ngữ. Bởi vì, luật lệ của chế độ phong kiến, giáo lý đạo Nho nhiều khi chỉ nằm trong trang sách chứ không vận hành đƣợc trong đời sống. Nói đến Nho giáo, ngƣời ta nghĩ ngay đến tam cƣơng, ngũ thƣờng, nhƣng thật sai lầm khi nhìn nhận rằng xã hội Việt Nam, do ảnh hƣởng sâu sắc của Nho giáo, mà đã tạo nên nền nếp theo đúng tam cƣơng ngũ thƣờng. Sở dĩ nhƣ vậy, vì khi du nhập vào Việt Nam, trƣớc những biến động của đời sống, Nho giáo đã trở nên không thuần nhất và "sắc thái Nho giáo của nó không nguyên vẹn mà đậm nhạt khác nhau" [57:28]. Nhƣ thế, giữa giáo lý Nho giáo và thực tế vận hành giáo lý ấy ở Việt Nam có khoảng cách nhất định và có những sắc thái khác nhau. Nói cụ thể vào một điểm để dễ nhận biết, có thể thấy nhƣ sau: Nho giáo đề cao vai trò của ngƣời thầy, nhân dân ta đã tiếp thu tinh thần tôn sƣ trọng đạo ấy cho nên mới có câu "Không thầy đố mày làm nên"; nhƣng không phải chỉ có vậy, với tinh thần dân chủ rộng mở, nhân dân còn coi trọng các hình thức học khác, cho nên mới có câu "Học thầy không tầy học bạn". Có thể đối chiếu rất nhiều điều trong giáo lý nữa với thực tế, và chúng ta sẽ bắt gặp sự không trùng khớp là phổ biến. Nếu chỉ căn cứ vào giáo lý thì sẽ thấy cuộc sống khô cứng và đơn điệu. Ngƣợc lại, khi khảo sát tục ngữ, ca dao, không những thấy đƣợc thực tế cuộc sống đƣơng thời, mà còn có thể thấy đƣợc hình bóng của luật pháp, của giáo lý. Chẳng hạn, khi đọc câu ca dao: Tháng sáu có chiếu vua ra Cấm quần không đáy ngƣời ta hãi hùng Không đi thì chợ không đông Đi thì phải mƣợn quần chồng sao đang

119

chúng ta có thể biết đƣợc rằng vào thời điểm câu ca dao ra đời, nhà vua đã ra chiếu cấm phụ nữ mặc váy, đồng thời hiểu rằng lệnh ấy không hợp lòng dân, bị dân phản ứng. Cũng từ hiện tƣợng này, có thể thấy hình bóng lịch sử tƣ tƣởng của dân tộc in khá đậm nét trong tục ngữ, ca dao và đó là cứ liệu đáng tin cậy cho việc nghiên cứu xã hội. Nhƣ thế, tục ngữ, ca dao là nguồn tài liệu đáng tin cậy cho việc nghiên cứu xã hội. 1.2. Về nội dung, cả tục ngữ và ca dao đều phản ánh quan hệ gia đình ở mức độ đáng kể Là sản phẩm của dân gian, tục ngữ và ca dao đều chứa đựng nhận thức, tình cảm của dân gian, đó là điểm chung lớn nhất giữa hai thể loại. Từ điểm chung ấy, tục ngữ và ca dao có nhiều điểm tƣơng đồng trong việc phản ánh hiện thực. Tục ngữ và ca dao đều quan tâm ở mức độ đáng kể đến quan hệ gia đình. Qua thống kê, chúng tôi nhận thấy trong kho tàng tục ngữ, ca dao, hai thể loại này có tỷ lệ tƣơng đƣơng nhau về chủ đề gia đình (10,36% trong tục ngữ, 9,97% trong ca dao). Tục ngữ, ca dao đã khắc hoạ một cách sinh động những mặt mang tính bản chất của gia đình ngƣời Việt. Nếu nói rằng nhân dân Việt Nam đã có khát vọng khôn nguôi về độc lập, tự do và đã đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập, tự do, thì cũng cần nói rằng ngƣời Việt có khát vọng khôn nguôi về hạnh phúc gia đình và đã sống theo định hƣớng đúng đắn để đạt đƣợc hạnh phúc gia đình. Không nên nhận xét một cách cực đoan rằng, trong xã hội phong kiến, dƣới sự đè nén khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến, trong hôn nhân, ngƣời nông dân Việt Nam hoàn toàn không có tình yêu, và vì vậy mà gia đình là nơi ngục tù của phụ nữ! Nếu vì để nhấn mạnh những mặt tiêu cực, lạc hậu của xã hội phong kiến, mà bảo rằng trong xã hội ấy, ngƣời nông dân chỉ sống trong tối tăm, khốn khổ, không có chút hạnh phúc nào, thì vô tình đã phủ nhận tinh thần đấu tranh và tình cảm nồng thắm của ngƣời nông dân, biến họ trở thành những kẻ bất lực, thụ động và cam chịu. Ngƣời nông dân dù có cực khổ, dù có bị áp bức bóc lột, vẫn là những con ngƣời có ý chí, có tình cảm, và họ đã vƣợt lên khỏi hoàn cảnh, xây dựng đƣợc cuộc sống hạnh phúc. Mặt khác, dù sống trong bất kỳ chế độ xã hội nào, thì con ngƣời cũng cần tuân thủ những khuôn phép nhất định, để đảm bảo một trật tự tối thiểu cho xã hội ấy. Do vậy, trong xã hội phong kiến, tình yêu trai gái có bị ràng buộc bởi nhiều giáo lý, trong đó có những điều quá khắt khe, cần phải tháo gỡ, thì cũng có những điều cần thiết phải tuân thủ - chúng nhƣ những điều kiện bảo hiểm cho

120

quan hệ hôn nhân đƣợc bền chặt. Liên hệ đến cuộc sống thời hiện đại, nhiều khi con ngƣời hƣớng tới sự tự do vô bờ bến, đã dẫn đến hậu quả là hôn nhân chỉ là sợi chỉ mỏng manh cột hờ hai số phận, dễ dàng bị bung đứt, làm cho gia đình tan vỡ, thì thấy rằng tôn trọng những luân lý phù hợp trong quan hệ gia đình là điều cần thiết. Tục ngữ, ca dao về gia đình đã cho thấy rằng ngay trong lòng chế độ phong kiến, ngƣời nông dân không tuân phục một chiều lễ giáo phong kiến, mà có quan niệm và cách thức ứng xử linh hoạt, nhiều chiều, theo hƣớng nhân văn, tôn trọng quyền hôn nhân chính đáng dựa trên tình yêu và coi trọng các thành viên của gia đình, chứ không phải là theo hƣớng phi nhân bản, phủ nhận tình yêu trong hôn nhân, chỉ coi hôn nhân là biện pháp truyền gia thống, coi các thành viên khác trong gia đình chỉ là nô lệ cho một ngƣời chủ gia đình. Cũng vì vậy, trong xã hội phong kiến, ngƣời nông dân vẫn xây dựng đƣợc tổ ấm gia đình dựa trên tình yêu thƣơng. Nếu nhƣ không có tình yêu trong hôn nhân, thì làm sao có đƣợc sự gắn bó đến nhƣ thế? Nếu vợ chồng chỉ là sự ép uổng, sự gán ghép thô thiển do cha mẹ định đoạt, thì làm sao họ tự nguyện cột chặt số phận vào nhau nhƣ vậy? Có tìm thấy hạnh phúc thật sự trong hôn nhân, trong cuộc sống gia đình, thì ngƣời nông dân xƣa mới để lại cho chúng ta kho tàng ca dao lãng mạn, bay bổng đồng thời cũng rất hiện thực mà chúng ta có hôm nay. Ngƣời Việt trải qua cả ngàn năm đô hộ của phong kiến phƣơng Bắc đã không bị thôn tính, vẫn giữ đƣợc bản sắc, giữ đƣợc truyền thống văn hoá của mình, thì dù có bị ảnh hƣởng sâu sắc đến đâu của Nho giáo, vẫn không đánh mất cái cốt cách dân tộc trong gia đình mình, và chính vì vậy mà trong gia đình, ngƣời Việt đã xây dựng đƣợc những quan hệ dân chủ, nhân ái, khoan dung, là một phần của bản sắc dân tộc Việt Nam. Nhìn từ góc độ văn hoá, có thể thấy rằng trong xã hội phong kiến, bên cạnh dòng văn hoá chính thống của giai cấp thống trị toả rộng ảnh hƣờng trong xã hội, tục ngữ, ca dao về phong tục tập quán của ngƣời Việt là một bộ phận của dòng văn hoá dân chủ của giai cấp bị trị luôn luôn có sức sống dồi dào, luồn lỏi vào mọi ngõ ngách đời sống thƣờng ngày, vừa phản ánh, vừa ảnh hƣởng mạnh mẽ đến tƣ tƣởng, tình cảm, lối sống của những ngƣời lao động, góp phần tạo nên sắc thái đa dạng của nền văn hoá Việt Nam. Tục ngữ, ca dao đều đề cập đến những quan hệ chính trong gia đình, với những nội dung chính dƣới đây:

121

-Thứ nhất: Quan hệ vợ chồng Quan hệ vợ chồng là mối quan hệ rƣờng cột của gia đình.Vợ chồng, cha mẹ có thƣơng yêu nhau, có gắn bó, thuận hoà thì gia đình mới thực sự hạnh phúc, con cái mới đƣợc chăm sóc dạy bảo chu đáo. Nhiều gia đình mâu thuẫn đi đến chia lìa, khiến con cái phải gánh chịu những hậu quả nặng nề. Nhận biết vai trò của quan hệ vợ chồng trong gia đình và cả xã hội, tục ngữ, ca dao nói nhiều về vấn đề này. Tục ngữ, ca dao ngƣời Việt tuy phản ánh một xã hội phụ hệ ở mức độ cao, có tính chất phụ quyền, nhƣng đó không phải là một xã hội theo quy tắc miệt thị ngƣời phụ nữ. Ngƣời Việt (qua tục ngữ, ca dao) đề cao sự gắn bó, thủy chung, sự hòa thuận giữa vợ và chồng. Quan hệ này có những yếu tố dân chủ, có nhiều trƣờng hợp đề cao ngƣời phụ nữ; có khi quyền phụ nữ chi phối nam quyền "Lệnh ông không bằng cồng bà". Đây là dấu vết còn lại của chế độ mẫu hệ, đồng thời là sự bảo lƣu truyền thống dân chủ đơn sơ của cha ông chúng ta. Mặt khác, đây cũng là hệ quả của hoạt động của ngƣời phụ nữ trong nền kinh tế tiểu nông gắn với thiểu thƣơng, trong đó phụ nữ đóng vai trò ngang bằng với nam giới trong lao động, thậm chí có chút ƣu việt nhờ hoạt động tiểu thƣơng. Trong các khái niệm đạo, nghĩa, tình thuộc mối quan hệ vợ chồng thì qua tục ngữ, ca dao, đạo đƣợc nhắc đến ít nhất, nghĩa, tình đƣợc nhắc đến nhiều nhất. Đáng chú ý là trong khi sử dụng khái niệm đạo, các tác giả dân gian không tiếp thu rập khuôn ý nghĩa do Nho giáo quy định, mà xây dựng những nội dung đơn giản hơn, thiết thực hơn, gần gũi với cuộc sống vợ chồng ngƣời Việt, một cuộc sống của cƣ dân nông nghiệp trồng lúa nƣớc, lao động cực nhọc, giản đơn và gần gũi thiên nhiên, đời sống tình cảm mộc mạc, chân chất. Quan hệ vợ chồng ngƣời Việt phản ánh trong tục ngữ, ca dao là quan hệ nặng về tình nghĩa thủy chung, mang tính chất công bằng, dân chủ, nhân ái. Nhân dân xây dựng một hình mẫu quan hệ gắn bó lâu bền "Vợ chồng là nghĩa già đời", "sống gửi thịt, chết gửi xƣơng"... Sự gắn bó này không dựa trên sự phục tùng tuyệt đối nhƣ tôi tớ của vợ đối với chồng, mà là dựa trên sự tƣơng hợp nhƣ "giỏ" với "hom", nhƣ "rồng với mây", nhƣ "cây với rừng", nhƣ "đũa có đôi"... Đây là kiểu quan hệ bình đẳng, không phải một ngƣời xƣớng một ngƣời tuân theo. Đóng vai trò điều tiết quan hệ, tạo nên sự êm ấm, thuận hòa trong gia đình là ngƣời phụ nữ, điều tiết bằng tình thƣơng, sự nhƣờng nhịn theo lẽ phải là chính chứ không phải là sự phục tùng tuyệt đối theo khuôn phép cứng nhắc của chế độ phong kiến.

122

Chƣa kể là khi đất nƣớc lâm nguy, phụ nữ phải xung trận "giặc đến nhà đàn bà phải đánh". Đây là một kiểu mẫu phụ nữ khác hẳn ngƣời đàn bà phải theo tục bó chân để chỉ quanh quẩn bếp núc hầu hạ chồng. Nếu gói gọn quan hệ vợ chồng ngƣời Việt trong một vài cụm từ mà tục ngữ, ca dao đã phản ánh, thì không phải "nam tôn nữ ty ", "phu xƣớng phụ tuỳ" mà là "tình nghĩa thuỷ chung", "chồng hòa vợ thuận". Những điều tục ngữ, ca dao phản ánh phù hợp với thực tế lịch sử. Giáo sƣ Yu Insun (Lƣu Nhân Thiện) ngƣời Hàn Quốc, trong một cuốn sách rất công phu Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ 17 - 18 đã khẳng định tính chất dân chủ trong quan hệ vợ chồng Việt Nam: "Theo nhƣ chúng tôi hình dung, ở Việt Nam, ngƣời chồng không phải là nhân vật thống trị trong gia đình, ngƣời vợ gần nhƣ bình quyền với chồng, và do đó hôn nhân không đƣợc xem nhƣ sự chuyển giao hoàn toàn cô gái từ gia đình bên nội của mình sang nhà chồng" [139:126]. -Thứ hai: Quan hệ cha mẹ con Trong quan hệ cha mẹ con, ngƣời ta hay nói đến đạo hiếu. Tuy vậy, với tục ngữ, ca dao, trong cái vỏ ngôn ngữ này, nội dung chữ Hiếu của Nho giáo đã biến đổi khá nhiều. Quan hệ cha mẹ con không phải chỉ là quan hệ một chiều từ trên dội xuống, mà là quan hệ qua lại hai chiều đan xen chặt chẽ. Cha mẹ phải dạy dỗ nuôi nấng con, hy sinh, vất vả, tốn kém vì con, cha mẹ chịu trách nhiệm về phẩm chất của con "Con hƣ bởi tại cha dung", "Con hƣ tại mẹ, cháu hƣ tại bà". Cha mẹ không những có trách nhiệm dạy bảo nuôi nấng con khi họ còn sống, mà còn phải sống lƣơng thiện, tu nhân tích đức để phúc cho con "Đời cha đắp nấm, đời con ấm mồ", "Đời cha trồng cây, đời con ăn quả", tránh tình trạng "Đời cha ăn mặn, đời con khát nƣớc". Con cái thì coi trọng công lao của cha mẹ nhƣ núi nhƣ sông, bằng trời bằng biển "Công cha nhƣ núi Thái Sơn, nghĩa mẹ nhƣ nƣớc trong nguồn chảy ra". Càng từng trải con cái càng thấm thía công lao cha mẹ "Trèo non mới biết non cao, nuôi con mới biết công lao mẹ thầy". Rõ ràng là quan hệ cha mẹ con ở đây đƣợc xây dựng trên tình thƣơng yêu, lòng biết ơn, sự lo toan đến nhau. Nếu dùng khái niệm chữ hiếu thì đây là đặc điểm chữ hiếu Việt Nam, khác với chữ hiếu khô cứng, mệnh lệnh và khắc nghiệt theo kiểu Cha bảo con chết con phải chết mới là hiếu, cha bảo con chết con không chết là bất hiếu.

123

Tuy vậy, qua tục ngữ, ca dao, những biểu hiện bất hiếu đã đƣợc phản ánh và phê phán. Điều này khiến chúng ta có cách nhìn biện chứng và khách quan đối với tình trạng bất hiếu đang phát triển trong xã hội hiện đại, để có biện pháp giáo dục con cái và có cách ứng xử thích ứng, không đòi hỏi cha mẹ hy sinh tất cả, hy sinh mù quáng cho con cái, đồng thời đòi hỏi con cái phải coi trọng cha mẹ, có trách nhiệm với cha mẹ. -Thứ ba: Quan hệ anh em, chị em Tình cảm ruột thịt là nền tảng của mối quan hệ anh chị em "Anh em nhƣ chân với tay". Trên cơ sở đó, nguyên tắc ứng xử của họ chủ yếu dựa trên sự đoàn kết hoà thuận "Khôn ngoan đá đáp ngƣời ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau", "Anh thuận em hoà là nhà có phúc". Khi có mâu thuẫn thì tự dàn xếp nội bộ là chính "Anh em trong nhà đóng cửa bảo nhau". Tiếp cận vấn đề gia đình qua tục ngữ và ca dao, chúng tôi không có tham vọng nhìn nhận đƣợc thấu đáo và toàn diện mọi mặt của gia đình ngƣời Việt. Tuy vậy, tục ngữ, ca dao có một chiều dài lịch sử và chiều rộng xã hội khá lớn nên chúng là một trong những tài liệu đáng tin cậy, giúp chúng ta nhận ra định hƣớng ứng xử trong các quan hệ của gia đình, từ đó thấy đƣợc truyền thống của dân tộc và nhờ vậy có thể hiểu đƣợc phần nào bản sắc văn hoá Việt Nam. Nói nhƣ các tác giả trong Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì: “Bản sắc văn hoá Việt Nam chính là ở chỗ nền văn hoá đó luôn luôn lấy sứ mệnh của dân tộc - vì độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội làm sứ mệnh của mình; là ở chỗ nền văn hoá đó luôn lấy sự bao dung và hoà đồng làm cơ sở để xem xét những hiện tƣợng tự nhiên, xã hội và con ngƣời, để đề ra các giải pháp sáng tạo văn hoá; là chủ nghĩa nhân bản đƣợc tích hợp từ những tƣ tƣởng truyền thống và tƣ tƣởng hiện đại; là nền văn hoá mở trong không gian (giao tiếp văn hoá qua các kinh tuyến và vĩ tuyến), trong thời gian (tiếp tục nắm bắt cái đã qua, nhạy cảm với cái sắp tới) và biến đổi theo quá trình điều chỉnh xã hội (nó tồn tại ngay trong những thiết chế chính trị trái ngƣợc bản chất của nó); là nền văn hoá giàu sức chuyển hoá (cái bi trong cái hài, cái hài trong cái bi, duy lý trong nhân bản - nhân bản trong duy lý) giàu sự tƣơng phản đăng đối (trong cú pháp, trong sắc màu); là nền văn hoá giàu tính nhân dân, tính cộng đồng." [30:35-41].

124

1.3. Tục ngữ và ca dao đều phản ánh quan hệ gia đình trong một "diện tích nghệ thuật" nhỏ hơn các thể loại khác Văn học dân gian ngƣời Việt có nhiều thể loại: truyện cổ tích, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn, truyện cƣời, vè, ca dao, tục ngữ v.v.. Phản ánh quan hệ gia đình không chỉ có tục ngữ và ca dao. Các thể loại khác nhƣ đã nêu trên đây cũng đề cập đến quan hệ này. Có điều, các tác phẩm tục ngữ, ca dao ngắn gọn hơn nhiều so với các tác phẩm thuộc loại truyện cổ tích, truyện cƣời. Thí dụ: Cùng nói về quan hệ anh em bị chi phối tiêu cực bởi lợi ích vật chất, thì: - Tục ngữ nói ngắn gọn: Anh em gạo, đạo ngãi tiền (7 tiếng). - Ca dao nói dài hơn một chút: Anh em hiền thật là hiền Chỉ vì đồng tiền sinh mất lòng nhau (14 tiếng). - Truyện cổ tích lại thông qua một câu chuyện dài, nhƣ Cây khế : Các tác giả dân gian đã kể chi tiết quan hệ anh em, với nhiều tình tiết, qua đó cho thấy ngƣời em hiền lành, chăm chỉ, thực thà, còn ngƣời anh thì giầu có nhƣng tham lam và độc ác, luôn luôn tìm cách chiếm đoạt của cải, công sức của ngƣời em, cuối cùng, do chính lòng tham vô đáy mà ngƣời anh bị mất mạng. Câu chuyện này đƣợc tuyển vào Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, in tới 4 trang giấy, gồm trên 1.600 tiếng. Ta có thể khảo sát thêm một ví dụ nữa để thấy do ngắn gọn, tục ngữ, ca dao có cách diễn đạt riêng của mình. Để khẳng định tình máu mủ hơn tình bạn bè, trong truyện cổ tích có câu chuyện Giết chó khuyên chồng (trong Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam ghi là Dạy chồng). Qua rất nhiều tình tiết, từ việc ngƣời anh giầu có nhƣng không quan tâm đến em mà chỉ bù khú với những ngƣời bạn hay lợi dụng, ngƣời vợ khuyên bảo không đƣợc, mới giết một con chó, nói dối chồng là mình giết phải thằng bé ăn mày, rồi thử nhờ những ngƣời bạn mà chồng coi là thân thiết giúp chôn cất, kết quả là những ngƣời bạn đó không những không giúp mà còn tìm cách tống tiền, còn ngƣời em thì giúp một cách vô tƣ, từ đó, ngƣời chồng mới nhận ra rõ ràng là tình anh em ruột thịt vẫn hơn những ngƣời bạn cơ hội (Câu chuyện này in ra 3 trang sách với hơn 1.300 tiếng). Cùng ý nghĩa trên, ca dao miêu tả bằng 4 dòng (28 tiếng): Ơn cha mẹ trời cao khôn thấu Nghĩa anh em xƣơng cốt ruột rà

125

Muốn cho trên thuận dƣới hoà Chẳng thà chịu nhục, hơn là rẽ nhau. Trong khi đó, tục ngữ khẳng định bằng 8 tiếng: "Một giọt máu đào hơn ao nƣớc lã". Có thể hình dung rằng, khi đi vào vƣờn văn học dân gian, thì truyện cổ tích cho ta một cây với đầy đủ hoa, quả, lá, cành, ca dao cho ta một chùm trái ngọt, còn tục ngữ thì cho ta một trái đậm đà nhất. Hình tƣợng nghệ thuật của tục ngữ, ca dao mang tính đặc thù - không đƣợc hình thành trong từng tác phẩm đơn lẻ, mà qua một hệ thống tác phẩm. Phải hệ thống hoá các nhân vật của tục ngữ hay ca dao, mới nhận ra hình tƣợng mà chúng thể hiện. Thí dụ, trong ca dao, nhân vật con cò đƣợc thể hiện trong nhiều tác phẩm khác nhau, trong nhiều tình huống khác nhau, với các cách ứng xử khác nhau, nếu xâu kết các nhân vật con cò ấy vào một hệ thống, sẽ thấy hiện lên hình tƣợng về ngƣời phụ nữ nông thôn tần tảo sớm hôm, lặn lội kiếm ăn nuôi chồng nuôi con, vất vả hy sinh cho chồng cho con. Điều này dẫn đến một vấn đề có tính phƣơng pháp luận: Muốn hiểu thấu đáo tục ngữ, ca dao, phải nghiên cứu chúng trong hệ thống, phải biết xâu kết các yếu tố tƣơng đồng và so sánh các yếu tố khác biệt trong hệ thống, từ đó mới có thể rút ra những kết luận khả dĩ xác đáng. 1.4. Tục ngữ, ca dao đều nói ít về quan hệ gia tộc, quan hệ gia đình với làng xóm Thống kê chi tiết ở tục ngữ và ca dao, đều thấy rất ít đơn vị đề cập tới quan hệ gia tộc, quan hệ gia đình với làng xóm. Do giới hạn của đề tài nghiên cứu, chúng tôi chƣa đi sâu lý giải nguyên nhân của hiện tƣợng này. 1.5. Tục ngữ, ca dao đều có giá trị đối với cuộc sống đƣơng đại Cho dù là sản phẩm của xã hội phong kiến, nhƣng tục ngữ, ca dao chứa đựng tâm tƣ, tình cảm, lý trí của nhân dân ta qua nhiều thế hệ, dạy cho con ngƣời cách sống nhân ái, hoà hợp để tạo dựng hạnh phúc. Những bài học đó có sức sống vƣợt thời gian, hết sức bổ ích đối với cuộc sống ngừy nay. 2. NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU 2.1. Tục ngữ thiên về lí trí, ca dao thiên về tình cảm Tục ngữ thiên về lý trí, cho nên khi phản ánh các quan hệ trong gia đình, tục ngữ thƣờng đúc kết những kinh nghiệm hoặc những yêu cầu ứng xử, ít biểu lộ tình cảm. Ca dao là thể loại trữ tình, cho nên ca dao phản ánh quan hệ gia đình trong chiều sâu tình cảm nhiều hơn. Chính vì vậy, tuy cùng quan tâm đến gia đình, nhƣng tục ngữ và ca dao phản ánh các mối quan hệ trong gia đình từ những góc tiếp cận và hình thức phản ánh khác nhau. Do quan hệ vợ chồng có

126

nhiều sắc thái tình cảm, cho nên ca dao phản ánh nhiều hơn, còn quan hệ anh chị em, sắc thái tình cảm nghèo nàn hơn, cho nên ca dao đề cập tới ít hơn tục ngữ (so với chủ đề chung về gia đình, thì ở ca dao, chủ đề vợ chồng có 690 câu, chiếm 58,64%, còn ở tục ngữ có 285 câu, chiếm 39%). Rõ ràng, vợ chồng là quan hệ nặng về tình nghĩa, và ca dao là thể loại thích hợp cho việc phản ánh quan hệ ấy. Mặt khác, tuy cùng nói về quan hệ vợ chồng, nhƣng tục ngữ thiên về phản ánh những biểu hiện mang tính luân lý, còn ca dao thì đi sâu vào tình cảm của con ngƣời. Chẳng hạn, cùng nói về cách thức ứng xử trong quan hệ vợ chồng, tục ngữ rút ra 6 kiểu ứng xử khác nhau (nhƣ đã phân tích ở chƣơng 2), các câu tục ngữ không cho biết trạng thái tình cảm của con ngƣời, mà chỉ nêu lên những yêu cầu của xã hội. Trong khi đó, ca dao phản ánh sinh động các cách thức ứng xử thể hiện tình nghĩa vợ chồng, mà đậm đà là tình yêu thƣơng, sự chăm nom săn sóc của ngƣời vợ với ngƣời chồng (trong 465 câu ca dao về cách thức ứng xử vợ chồng có 66 câu ca dao chứa đựng hai chữ thƣơng, yêu). Chúng tôi nêu một số ví dụ để so sánh nhƣ sau: - Về cách thức ứng xử, tục ngữ nói: "Chồng giận thì vợ làm lành", ca dao nói: "Chồng giận thì vợ làm lành/Miệng cƣời hớn hở rằng: Anh giận gì?". Rõ ràng, ca dao không những nêu lên yêu cầu ứng xử giống nhƣ tục ngữ nêu, mà còn miêu tả thái độ của ngƣời vợ đối với chồng, một thái độ vui vẻ nhẹ nhõm, biểu hiện tình cảm thắm thiết của ngƣời vợ. - Về tình trạng đa thê, tục ngữ nói một cách lạnh lùng: "Một vợ nằm giƣờng lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chuồng heo", ca dao nói nhƣ một sự bộc bạch tâm can: Viết thƣ sang hỏi thăm chàng Còn không hay đã đá vàng nơi nao? Hay là mắc phải con nào Bùa yêu bả lú phải làm sao cho tỏ tƣờng Vắng chàng tôi những nhớ thƣơng Vì chàng mê gái tìm đƣờng phụ tôi Tôi làm cho lứa quên đôi

127

Tôi làm cho rã cho rời nhau ra Làm cho tan nát biệt xa Cho chim lìa tổ cho hoa lìa cành Tôi làm cho nó lìa anh Cho ngƣời ta biết anh tình phụ tôi. Qua câu ca dao trên, ta thấy hiển hiện lên hình ảnh một ngƣời vợ yêu chồng tha thiết nhƣng cũng khá đáo để, có thái độ cứng rắn, kiên quyết giành lại chồng từ tay tình địch. Ngƣợc lại, quan hệ anh chị em lại đƣợc ca dao nói tới ít hơn tục ngữ (tục ngữ có 40 câu, ca dao chỉ có 27 câu). Điều này phản ánh một sự thật là quan hệ anh chị em dù có mật thiết đến đâu, thì cũng không thể có những sắc thái tình cảm tinh tế và đằm thắm nhƣ quan hệ vợ chồng. Không những thế, với quan niệm anh em mỗi ngƣời một thân một phận, hoặc bán anh em xa mua láng giềng gần, thì cùng với thời gian trong đó chứa đựng những xung đột, mâu thuẫn, quan hệ anh chị em luôn luôn có khả năng giảm thiểu chất kết dính tình cảm. Cũng do vậy, nhân dân phải bổ sung một loại chất kết dính khác, đó là những yêu cầu về luân lý. Đây chính là mảnh đất phù hợp cho tục ngữ toả ảnh hƣởng: khi thì nhắc nhở tình máu mủ giữa anh em: "Anh em hạt máu sẻ đôi", "Anh em nhƣ chân nhƣ tay", khi thì nêu lên phƣơng cách ứng xử: "Anh em trong nhà đóng cửa bảo nhau", "Làm chị phải lành, làm anh phải khó", lúc lại yêu cầu sự gắn bó: "Cắt dây bầu dây bí, chẳng ai cắt dây chị dây em". Về quan hệ nàng dâu - mẹ chồng, cả tục ngữ và ca dao đều cho thấy đây là điểm yếu nhất trong quan hệ gia đình ngƣời Việt. Tuy vậy, chỉ có ca dao mới phản ánh đƣợc nỗi cay đắng, tâm trạng uất ức của nàng dâu, nhƣ: "Ai ơi, phải nghĩ trƣớc sau Đừng tham lắm của nhà giàu làm chi Làm thì xem chẳng ra gì

128

Làm tất làm tả nói thì điếc tai Đi ngủ thời hết canh hai Thức khuya dậy sớm mình ai dãi dầu Sớm ngày đi cắt cỏ trâu Trƣa về lại bảo: ngồi đâu, không đầy! Hết mẹ rồi lại đến thầy Gánh cỏ có đầy, vẫn nói rằng vơi Nói thì nói thật là dai Lắm câu chua cạnh, đắng cay trăm chiều Phận em là gái nhà nghèo Lấy phải chồng giàu, ai thấu cho chăng Nói ra đau đớn trong lòng Chịu khổ, chịu nhục suốt trong một đời". Đó là một bức tranh hiện thực về cảnh làm dâu, là khúc ca bi thƣơng của ngƣời phụ nữ trƣớc những nỗi khổ mà mình phải gánh chịu. Trong khi đó tục ngữ hƣớng tới cách ứng xử cần phải có, cho nên qua tục ngữ, thấy quan hệ nàng dâu - nhà chồng bớt căng thẳng hơn, không những thế lại còn có cái vẻ ấm áp và thân tình, nhƣ: "Dâu hiền nên gái, rể hiền nên trai", "Dâu dâu rể rể cũng kể là con". Qua tục ngữ, ca dao, ta càng thấy rõ mối quan hệ khăng khít giữa nội dung và hình thức của văn học: tục ngữ chứa đựng những nội dung mang tính lý trí, ca dao chứa đựng những nội dung mang tính tình cảm. Để phản ánh chân thực và sinh động cuộc sống, các tác giả dân gian đã thực hành một nguyên lý sáng tác mà ngày nay chúng ta đang vận dụng, đó là hình thức phải phù hợp với nội dung, nội dung nào, hình thức ấy.

129

2.2. Tục ngữ ngắn gọn hơn ca dao Ca dao ít nhất có 2 dòng với 14 tiếng, rất hiếm trƣờng hợp có số lƣợng ít hơn. Trong khi đó, với tục ngữ, đa số là một câu. Có khi một câu tục ngữ chỉ gồm 3 tiếng (nhƣ "Chó cắn quanh", "Lành nhƣ bụt") và không ít trƣờng hợp chỉ gồm 4 tiếng (nhƣ "ÁC giả ác báo", "Ăn lắm trả nhiều"). Trong Tục ngữ phong dao, Ôn nhƣ Nguyễn Văn Ngọc đã ghi ra ở phần một mà theo tác giả là gồm phƣơng ngôn, tục ngữ, có tới 1.171 câu thuộc loại chỉ gồm 4 tiếng. Nhƣ vậy, về mặt dung lƣợng, ca dao lớn hơn tục ngữ. Cũng với đặc trƣng ngắn gọn nhƣ vậy, tục ngữ thƣờng ở thể khẳng định tổng thể, mang tính khái quát, còn ca dao thƣờng ở thể phản ánh hiện tƣợng, miêu tả chi tiết. Thí dụ: Cũng nói về sự gắn bó vợ chồng, tục ngữ khẳng định "Vợ chồng đầu gối tay ấp", trong khi đó ca dao miêu tả khá tỷ mỷ: Cái quạt mƣời tám cái nan Ở giữa phất giấy, hai nan hai đầu Quạt này anh để che đầu Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này Ƣớc gì chung mẹ chung thầy Để em giữ cái quạt này làm thân Rồi ta chung gối chung chăn Chung quần chung áo, chung khăn đội đầu Nằm thời chung cái giƣờng Tàu Dậy thời chung cả hộp trầu ống vôi Ăn thời chung cả một nồi Gội đầu chung cả dầu hồi nƣớc hoa Chải đầu chung cái lƣợc ngà Soi gƣơng chung cả nhành hoa giắt đầu. 2.3. Trong việc sử dụng biện pháp nghệ thuật đối, thì tục ngữ dùng nhiều hơn ca dao 2.3.1. Đối ở tục ngữ đƣợc thể hiện ở hai bộ phận của câu, tạo ra hai ý khác nhau hoặc dẫn dắt, đƣa đẩy nhau. Ví dụ : Anh em trai ở với nhau mãn đại (a), Chị em gái ở với nhau một thời (b). Trong câu tục ngữ này, có đối cục bộ và đối tổng thể. Đối cục bộ: - Anh em trai đối với chị em gái - Mãn đại đối với một thời

130

Đối tổng thể: vế (a) đối với vế (b). Đối cục bộ và đối tổng thể hợp với nhau, đƣa đến ý nghĩa khái quát là trong quan hệ gia đình, thì anh em trai gắn bó lâu dài hơn chị em gái. Các thí dụ: "Bán anh em xa mua láng giềng gần" hay "Cha muốn cho con hay, thầy mong cho con khá" cũng có cách đối tƣơng tự. 2.3.2. Nhiều câu ca dao không có đối. Nếu có đối, ở ca dao thƣờng mang tính cục bộ, xảy ra giữa hai bộ phận của một dòng của tác phẩm, chứ ít xảy ra giữa hai dòng. Thí dụ, câu ca dao sau không có đối: Ai kêu ai hú bên sông Tôi đang nấu nƣớng cho chồng tôi ăn. Những câu ca dao sau có đối cục bộ: 1. Bao giờ lúa trỗ vàng vàng Cho anh đi gặt cho nàng quảy cơm 2. Cơm chiên ăn với cá ve Thiếp đây chàng đấy, buôn bè ra khơi. 3. Củ lang Đống Ngỗ Đỗ phụng Đồng Đinh Chàng bòn thiếp mót Để chung một gùi. 4. Đôi ta vợ cấy chồng cày Chồng nay sƣơng sớm vợ nay sƣơng chiều Ta nghèo vui phận ta nghèo Quản chi sƣơng sớm, sƣơng chiều, hỡi anh! Trong các câu ca dao trên thì chỉ một bộ phận của câu có đối, cụ thể là "Anh đi gặt" đối với "nàng quẩy cơm", "Thiếp đây" đối với "chàng đấy", "chàng bòn" đối với "thiếp mót", "Chồng sƣơng sớm" đối với "vợ sƣơng chiều" nhƣng không tạo ra sự đối lập, ngƣợc lại, tạo ra sự cân bằng, hoà quyện, nói lên tình gắn bó vợ chồng. 2.4. Tục ngữ và ca dao khác nhau ở việc sử dụng ngôn từ Trong tục ngữ, tác giả dân gian không sử dụng các đại từ nhân xƣng nhƣ anh, chị, tôi, ta, mà dùng câu trần thuật để đúc kết một quy luật ("Dâu dâu rể rể cũng kể là con") hoặc câu cầu khiến ((Phải) "Dạy con từ thủa còn thơ"). Trong ca dao, vì là tiếng hát trữ tình, tiếng hát nội tâm, cần biểu đạt "cái tôi", cho nên những đại từ ấy đƣợc sử dụng thƣờng xuyên, không những vậy mà biến hoá linh hoạt, tạo nên những sắc thái biểu cảm độc đáo. Đặc biệt là đại từ "Ai", đã đƣợc các tác giả ca dao sử dụng nhƣ một công cụ biểu cảm sắc bén. Trong 730 câu ca dao về gia đình đã có tới 148 lƣợt đại từ "Ai" đƣợc sử dụng. Trong

131

tiếng Việt, thì từ "Ai" vốn là một đại từ nghi vấn, dùng để hỏi, nhƣng khi đƣợc sử dụng trong ca dao, nó có nhiều chức năng hơn. Có trƣờng hợp, "ai" chỉ ngƣời đối thoại: 1. Ai về anh dặn lời này Phƣợng hoàng chỉ quyết đậu cây ngô đồng 2. Anh đi đƣờng ấy xa xa Để em ôm bóng trăng tà năm canh Nƣớc non một gánh chung tình Nhớ ai ai có nhớ mình hay chăng. Rất nhiều trƣờng hợp "ai" chỉ ngƣời thứ ba không xác định: 1. Mặc ai lên võng xuống dù Em đây đứng dƣới giàn bù vẫn vui. 2. Canh cải mà nấu với gừng Không ăn thời chớ xin đừng mỉa mai Khuyên chàng đừng ở đơn sai Vắng mặt chàng sẽ yêu ai mặc lòng. Các đại từ ta, mình cũng thƣờng đƣợc dùng, tạo không khí thân tình cho văn cảnh: Ăn mít bỏ xơ Ăn cá bỏ lờ, mình chớ hay quên Mình quên ta chả cho quên Mình nhớ, ta nhớ mới nên vợ chồng. Không những thế, các tác giả dân gian còn dùng rất nhiều danh từ chỉ các loài thực vật thay cho đại từ nhân xƣng, khiến cho ca dao có hình ảnh, gần gũi với thiên nhiên, nhƣ các danh từ trúc, mai, mận, đào... Thí dụ: 1. Bây giờ mận mới hỏi đào Vƣờn hồng đã có ai vào hay chƣa? Mận hỏi thời đào xin thƣa Vƣờn hồng có lối nhƣng chƣa ai vào. 2. Ra về nhớ trúc nhớ mai Nhớ đào nhớ liễu nhớ ai kết nguyền. Lối dùng từ gắn với cỏ cây hoa lá nhƣ trên phản ánh cuộc sống của cƣ dân nông nghiệp trồng lúa nƣớc. Các loài thảo mộc gắn bó với con ngƣời tới mức ăn sâu vào tiềm thức, bật ra thành những thành tố sinh động của tục ngữ, ca dao. Trong Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua một số ca dao – tục ngữ, Trần Thuý Anh cũng đã có nhận xét rằng ngƣời nông dân thƣờng lấy hình ảnh trồng cây để làm khuôn mẫu.

132

Ca dao còn là tiếng nói giao duyên, cho nên có rất nhiều bài có các đoạn đối thoại, mà tục ngữ thì không có nhƣ vậy. Thí dụ: Ai về đƣờng ấy hôm nay Ngựa hồng ai cƣỡi, dù tay ai cầm - Ngựa hồng đã có tri âm Dù tay đã có ngƣời cầm thì thôi. Một nét phân biệt giữa tục ngữ và ca dao nữa, là trong ca dao có rất nhiều thán từ, còn trong tục ngữ thì hầu nhƣ không có. Thán từ hỡi ơi, chỉ thấy xuất hiện trong ca dao: 1. Mấy đời chỉ trắng bằng vôi Ai thƣơng ai nhớ bằng đôi đứa mình Bạn ơi! thức ngủ làm thinh Dậy đây anh kể sự tình cho nghe Ai làm chén nọ xa ve Mùa thu đón đợi, mùa hè ngóng trông Tam tứ bề yến bắc nhạn đông Làm sao cho cá chậu xa chim lồng, hỡi ơi! 2. Hỡi ơi chú tiểu trên chùa Chú tu sao chú bỏ bùa cho tôi. Thống kê trong 730 câu tục ngữ về gia đình, không gặp một từ ơi nào, trong khi đó qua 1.179 câu ca dao về gia đình có tới 43 từ ơi, mà phổ biến là Ai ơi, Mẹ ơi, Bà ơi, Chàng ơi, Nàng ơi... nhƣ: 1. Cơm sôi bớt lửa kẻo trào Mẹ ơi khoan bán, má đào đang non. 2. Ai ơi đợi với tôi cùng Tôi còn gỡ mối tơ hồng chƣa ra. Rõ ràng là, để bộc lộ tâm tƣ, tình cảm, các tác giả dân gian đã sử dụng thành công biện pháp tu từ, làm cho các con chữ trở nên có hồn. Một lần nữa chúng ta thấy các tác giả dân gian là bậc thầy về sử dụng ngôn từ. TIỂU KẾT 1. Tục ngữ và ca dao là hai thể loại văn học dân gian, chúng có nhiều điểm giống nhau dƣới đây: - Phản ánh chân thực và sinh động cuộc sống, tục ngữ, ca dao là một trong những tƣ liệu đáng tin cậy để nghiên cứu về lịch sử, xã hội, tâm lý của một đất nƣớc, một dân tộc. - Tục ngữ và ca dao đều quan tâm đến việc phản ánh các mối quan hệ trong gia đình, dành tỷ lệ trên dƣới 10% cho chủ đề này. Đây là tỷ lệ khá cao,

133

khác với một số thể loại khác. Tục ngữ, ca dao về gia đình là một bộ phận của dòng văn hoá dân chủ của giai cấp bị trị, có nhiều nét khác biệt, có khi đối lập so với dòng văn hoá của giai cấp thống trị, đi sâu vào đời sống thƣờng ngày, vừa phản ánh, vừa ảnh hƣởng mạnh mẽ đến tƣ tƣởng, tình cảm, phƣơng cách ứng xử của ngƣời lao động, góp phần tạo nên sắc thái đa dạng của nền văn hoá Việt Nam. - Tục ngữ, ca dao là thể loại có hình thức ngắn gọn, nội dung cô đọng hơn các thể loại khác nhƣ truyện cổ tích, truyện cƣời... - Do tục ngữ, ca dao quá ngắn gọn, cho nên khi nghiên cứu hình tƣợng hay nội dung, không nên xem xét một cách đơn lẻ từng đơn vị mà cần xem xét một cách tổng thể trong hệ thống. 2. Tục ngữ và ca dao có những điểm khác nhau dƣới đây: - Tục ngữ thiên về lý trí, cho nên khi phản ánh các quan hệ trong gia đình, tục ngữ thƣờng đúc kết những kinh nghiệm hoặc những yêu cầu ứng xử. Ca dao là thể loại trữ tình, cho nên ca dao phản ánh quan hệ gia đình trong chiều sâu tình cảm nhiều hơn. - Nói về chủ đề quan hệ vợ chồng, ca dao dành tỷ lệ cao hơn tục ngữ (so với chủ đề chung về gia đình, thì chủ đề vợ chồng chiếm 59% trong ca dao và 39% trong tục ngữ). - Tục ngữ và ca dao có những nét khác biệt trong việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật nhƣ đối, tu từ... Ca dao thiên về xây dựng hình ảnh, hình tƣợng, còn tục ngữ thiên về xử lí từ ngữ.

134

KẾT LUẬN 1. Tục ngữ, ca dao ngƣời Việt đã phản ánh sinh động, đa dạng và sâu sắc các mối quan hệ chính của gia đình ngƣời Việt. Dựa vào phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc gọi là "toán học hoá ngôn ngữ" của khoa học xã hội, với bộ công cụ là Phần mềm về tục ngữ, Phần mềm về ca dao, từ việc định tính kết hợp với định lƣợng đối tƣợng nghiên cứu, công trình đã tiến hành khảo sát một cách chi tiết, tổng thể việc phản ánh phong tục tập quán của ngƣời Việt (trong quan hệ gia đình) thể hiện qua tục ngữ, ca dao. Kết quả phân tích cho thấy: nội dung về các mối quan hệ trong gia đình chiếm tỷ lệ khá cao so với các nội dung khác của tục ngữ, ca dao. Điều đó chứng tỏ từ xa xƣa, ngƣời Việt đã rất coi trọng gia đình và bằng văn học dân gian, họ đã bộc lộ suy nghĩ, tình cảm của mình về các mối quan hệ đa dạng của gia đình, truyền kinh nghiệm của mình lại cho muôn đời sau. Gia đình có một hệ thống quan hệ chằng chịt chi phối lẫn nhau: cha mẹ-con cái, vợ-chồng, anh chị-em, cha mẹ vợ-con rể, cha mẹ chồng-nàng dâu, ông bà-con cháu. Các quan hệ đó có tính nhiều chiều và mỗi ngƣời thƣờng đóng hai ba vai khác nhau, phải luôn điều chỉnh trong các vị thế đó để tạo sự hài hoà. Công trình đã chứng minh đƣợc rằng tục ngữ, ca dao vừa phản ánh, vừa quy định sự điều chỉnh này, làm cho các quan hệ gia đình không bị đứt ở một mối quan hệ nào, gây nguy cơ phá vỡ toàn bộ hệ thống quan hệ. 2. Qua tục ngữ, ca dao, công trình đã cho thấy phong tục tập quán ngƣời Việt trong quan hệ gia đình có những nét riêng độc đáo mang tính truyền thống bền vững bên cạnh những nét chung của cƣ dân vùng Đông Nam Á chịu ảnh hƣởng của nhiều luồng tƣ tƣởng, trong đó đáng kể nhất là tƣ tƣởng Nho giáo và Phật giáo. 3. Qua tục ngữ, ca dao, ngƣời nghiên cứu thấy rõ tính chất dân chủ, bình đẳng, khoan hòa, nhân văn là tính chất "trội" của quan hệ gia đình ngƣời Việt. Ở đây sự thƣơng yêu, nhƣờng nhịn, hợp lực với nhau "chồng cày vợ cấy", "thuận vợ thuận chồng" là nguyên tắc cơ bản, nhằm cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Với bản tính ôn hoà, gắn bó với cộng đồng, hoà đồng với thiên nhiên, ngƣời Việt xây dựng gia đình trên nền tảng coi trọng tổ tiên, coi trọng tình nghĩa, coi trọng sự hoà thuận, xa lạ với lối sống gây hiềm khích, ƣa hung bạo.

135

4. Trên cơ sở nhận thức rằng cấu trúc của văn hóa Việt Nam là một tổng thể có hai tầng bậc chính: văn hoá bác học và văn hoá dân gian, công trình đã đi sâu vào tầng bậc văn hoá dân gian, có đối chiếu với tầng bậc văn hoá bác học. Văn hóa bác học ảnh hƣởng chủ yếu đến tầng lớp trên - vua quan, nhà giàu, nho sĩ bậc cao... và văn hóa dân gian ảnh hƣởng chủ yếu đến tầng lớp dƣới nông dân, ngƣời buôn bán, ngƣời thợ thủ công, nho sĩ nghèo... Hai tầng văn hóa đó vừa có tính riêng biệt vừa thƣờng xuyên ảnh hƣởng lẫn nhau. 5. Công trình đã thực hành một quan điểm tìm hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam qua văn hóa dân gian, cụ thể là qua hệ thống tục ngữ, ca dao, bằng thao tác tiếp cận tổng thể trong hệ thống, trong mối quan hệ với văn hóa bác học, do đó đem đến những kết quả có phần phong phú, có sức thuyết phục hơn so với kết luận của một số tác giả đi trƣớc. 6. Ông cha chúng ta đã để lại một kho tàng tục ngữ, ca dao phong phú, trong đó chứa đựng một mô hình gia đình cùng với những mối quan hệ tốt đẹp thuộc về bản sắc văn hoá Việt Nam. Công trình cho thấy tục ngữ, ca dao cũng đã cung cấp cho chúng ta kinh nghiệm ứng xử, giáo dục gia đình sinh động và khả thi. Với những giá trị lớn nhƣ đã phân tích trên đây, tục ngữ, ca dao vẫn đƣợc đánh giá cao và có tác dụng tích cực làm giầu nhận thức, làm đẹp tâm hồn của con ngƣời trong xã hội hiện đại, đặc biệt là có giá trị thiết thực giúp con ngƣời giữ gìn và phát huy truyền thống của dân tộc, xây dựng gia đình hạnh phúc. Nhƣ vậy, tục ngữ, ca dao không những là vốn quý về văn học nghệ thuật, mà còn là vốn quý về kinh nghiệm sống, về cách thức ứng xử để giữ yên tổ ấm gia đình, về cách nghĩ, cách diễn đạt của nhân dân mà chúng ta cần nghiên cứu, thấm nhuần để vận dụng vào công việc hàng ngày. 7. Công trình cũng đã nêu lên những khiếm khuyết cần khắc phục trong quan hệ của gia đình ngƣời Việt đƣợc phản ánh qua tục ngữ, ca dao. Những khiếm khuyết chính là cách đối xử nghiệt ngã, bất công của không ít gia đình nhà chồng với nàng dâu, là sự đối xử không tốt của một số con cái đối với cha mẹ, là sự chi phối của vật chất vào các quan hệ gia đình mà tục ngữ, ca dao đã phản ánh và phê phán. Đó còn là sự chi phối tiêu cực của lễ giáo phong kiến, của Nho giáo, là tƣ tƣởng cục bộ trong một số phƣơng cách ứng xử. Những khiếm khuyết ấy còn tồn tại đến ngày nay, và chúng ta cần nhận thức đúng để khắc phục.

136

8. Kết quả nghiên cứu của công trình cho thấy công nghệ thông tin có khả năng giúp cho việc khảo sát tƣ liệu đƣợc chính xác, nhanh chóng, từ đó dẫn tới những kết luận mang tính khách quan, khoa học. Cần mở rộng phạm vi ứng dụng của công nghệ thông tin, trong đó có việc xây dựng những phần mềm chuyên dụng vào việc nghiên cứu văn học dân gian nói riêng, khoa học xã hội và nhân văn nói chung. Bộ công cụ sử dụng để khảo cứu công trình (Phần mềm về tục ngữ, Phần mềm về ca dao) có thể đƣợc phổ biến rộng rãi để khai thác tiếp những nội dung khác của tục ngữ, ca dao, đồng thời có thể coi là mô hình cho việc xây dựng các phần mềm chuyên dụng khác dùng để khảo cứu văn học dân gian nói riêng cũng nhƣ khoa học xã hội và nhân văn nói chung. Công trình đã bƣớc đầu thực hiện đƣợc nhiệm vụ nghiên cứu tục ngữ, ca dao của ngƣời Việt ở chủ đề phản ánh quan hệ gia đình. Để góp phần tiến tới nhận thức, hiểu biết toàn diện hơn về con ngƣời Việt Nam, dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hoá Việt Nam, chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu tục ngữ, ca dao theo các chủ đề khác nữa, và cần có những công trình nghiên cứu tục ngữ, ca dao của các dân tộc khác trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam ./.

137

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trần Thuý Anh (2000), Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua một số ca dao – tục ngữ. NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội. 2. Toan Ánh (1999), Làng xóm Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh. 3. Toan Ánh (2000), Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh. 4. Ăng-ghen (1961), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước, NXB Sự thật, Hà Nội. 5. Nguyễn Văn Bảo (1998), Thành ngữ - cách ngôn gốc Hán, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội. 6. Nguyễn Thị Bảy (1997), Văn hóa Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc bộ, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 7. Nguyễn Bình (1999), Tục ngữ - ca dao cười (Hài hước trẻ 2), NXB Thanh niên, Hà Nội. 8. Nguyễn Viết Bình (1997), Gia đình, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 2, tr.69-70. 9. Phan Kế Bính (1990) (tái bản), Việt Nam phong tục, NXB Tổng hợp Đồng Tháp, Đồng Tháp. 10. Nguyễn Văn Bổn (1983), Văn nghệ dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Nam - Đà Nẵng, Đà Nẵng. 11. Nguyễn Văn Bổn (2001), Văn học dân gian Quảng Nam, Sở Văn hoá Thông tin Quảng Nam, Quảng Nam,. 12. Trần Đức Các (1995), Tục ngữ với một số thể loại văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 13. Bùi Hạnh Cẩn - Bích Hằng - Việt Anh (2000), Thành ngữ - tục ngữ Việt Nam, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 14. Nguyễn Đổng Chi - Ninh Viết Giao - Võ Văn Trực (chủ biên) (1996), Kho tàng ca dao xứ Nghệ, NXB Nghệ An, Nghệ An. 15. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb Văn hóa Thông tin, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội. 16. Đoàn Văn Chúc (1997) (tái bản), Văn hóa học, NXB Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội.

138

17. Việt Chƣơng (1998) (tái bản), Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam (Quyển thƣợng), NXB Đồng Nai, Đồng Nai,. 18. Việt Chƣơng (1998) (tái bản), Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam (Quyển hạ), NXB Đồng Nai, Đồng Nai. 19. Bùi Văn Cƣờng (1987), Phương ngôn, tục ngữ - ca dao, Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 20. Nguyễn Nghĩa Dân (1977), Ca dao Việt Nam (1945 - 1975), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 21. Nguyễn Nghĩa Dân (2000), Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam, NXB Thanh niên. 22. Chu Xuân Diên - Lƣơng Văn Đang - Phƣơng Tri (1975), Tục ngữ Việt Nam, NXB Khoa học Xã Hội, Hà Nội. 23. Phan Đại Doãn (1992), Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế - xã hội, NXB Khoa học xã hội, NXB Mũi Cà Mau. 24. Phan Đại Doãn (1998), Về dòng họ ở nông thôn hiện nay, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 10, tr.9-10. 25. Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào (1995), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt nam, NXB Văn hóa, Hà Nội. 26. Phạm Đức Duật (chủ biên) (1981), Văn học dân gian Thái Bình, Ty Văn hóa Thông tin Thái Bình, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 27. Phạm Vũ Dũng (1998), Gia đình và sự nhập thân văn hóa của trẻ em, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 1, tr45-49. 28. Phạm Vũ Dũng (1999), Văn hóa ứng xử của người phụ nữ qua "Kho tàng ca dao người Việt" (Luận văn Thạc sĩ), Viện nghiên cứu văn hóa dân gian, Hà Nội. 29. Vũ Cao Đàm (1997), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội. 30. Quang Đạm (1999), Nho giáo xưa và nay, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 31. Phan Thị Đào (1999), Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam, NXB Thuận Hóa, Huế. 32. Bùi Huy Đáp (1999), Ca dao tục ngữ về khoa học nông nghiệp, NXB Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội, Đà Nẵng. 33. Nhàn Vân Đình (1999), Câu cửa miệng, NXB Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Hà Nội.

139

34. Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) (2001) Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 35. Cao Huy Đỉnh (1998), Bộ ba tác phẩm nhận giải thưởng Hồ Chí Minh, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 36. Lê Gia (1995), Tâm hồn mẹ Việt Nam - Tục ngữ, ca dao (Quyển 10), NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 37. Lê Gia (1995), Tâm hồn mẹ Việt Nam - Tục ngữ, ca dao (Quyển 11), NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 38. Lê Gia (1995), Tâm hồn mẹ Việt Nam - Tục ngữ, ca dao (Quyển 12), NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 39. Lê Giang - Lƣ Nhất Vũ - Nguyễn Văn Hòa - Minh Luân (1986), Dân ca Hậu Giang, Sở Văn hóa - Thông tin Hậu Giang, Cần Thơ. 40. Phi Hà và Thanh Bình (1960), Để xây dựng một chế độ hôn nhân và gia đình kiểu mới, NXB Thanh Niên, Hà Nội. 41. Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 42. Mai Văn Hai - Phan Đại Doãn (2000), Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 43. Hoàng Văn Hành (chủ biên) (1999) (tái bản), Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 44. Nguyễn Văn Hằng (1999), Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 45. Võ Nhƣ Hầu (2000), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam = Vietnamese prverbs folk poems and folk songs (Song ngữ Việt - Anh), NXB Đồng Nai, Đồng Nai. 46. Vƣơng Trung Hiếu (1996), Tục ngữ Việt Nam chọn lọc, NXB Văn nghệ, thành phố Hồ Chí Minh. 47. Lê Nhƣ Hoa (chủ biên) (1996), Phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 48. Nguyễn Thái Hoà (1997), Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc và thi pháp, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,. 49. Nguyễn Huy Hoàng (2000), Văn hóa trong nhận thức duy vật lịch sử của C.Mác, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 50. Lê Văn Hòe (1952), Tục ngữ lược giải, NXB Quốc học thƣ xã, Hà Nội.

140

51. Đào Văn Hội (1971), Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao, Sống mới, Sài Gòn. 52. Đỗ Huy, Trƣờng Lƣu (1993), Sự chuyển đổi các giá trị trong Văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 53. Đỗ Huy (1997), Xây dựng văn hóa gia đình trong văn hóa cơ sở, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 7, tr.34-37,40. 54. Đỗ Huy (1998), Văn hóa gia đình trong nền văn hóa truyền thống ở nước ta, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 3, tr.64-67. 55. Nguyễn Văn Huyên (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 56. Phùng Hƣng (1996), Phụ nữ và văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 57. Trần Đình Hƣợu (1996, in lần 2), Đến hiện đại từ truyền thống, NXB Văn hoá. 58. Trần Đình Hƣợu (2001), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội. 59. Châu Nhiên Khanh (2000), Ca dao Việt Nam: Tác phẩm. Những bài nhận định, phê bình tiêu biểu, NXB Đồng Nai, Đồng Nai. 60. Đinh Gia Khánh - Chu Xuân Diên (1973), Văn học dân gian Việt Nam, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội. 61. ĐINH Gia Khánh (1993), Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 62. Nguyễn Văn Khang (chủ biên) (1998), Từ điển thành ngữ - tục ngữ Hoa - Việt, NXB Khoa học xã hội. 63. Nguyễn Bách Khoa (2000) (tái bản), Kinh thi Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 64. Nguyễn Văn Kiêu (1982), Bàn về xây dựng gia đình xã hội chủ nghĩa, NXB Sự thật, Hà Nội. 65. Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 66. Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật chủ biên (1995), Kho tàng ca dao người Việt (tập 1), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 67. Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật chủ biên (1995), Kho tàng ca dao người Việt (tập 2), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 68. Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật chủ biên (1995), Kho tàng ca dao người Việt (tập 3), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

141

69. Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật chủ biên (1995), Kho tàng ca dao người Việt (tập 4), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 70. Mã Giang Lân (1998), Tục ngữ - ca dao Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội. 71. Võ Thị Hồng Loan (1998), Nhân cách văn hóa và ảnh hưởng của gia đình, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 6, tr.76-77. 72. Nguyễn Tấn Long, Phan Canh (1998), Thi ca bình dân Việt Nam (Tập 1), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội. 73. Nguyễn Tấn Long, Phan Canh (1998), Thi ca bình dân Việt Nam (Tập 2), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội. 74. Luật Hôn nhân và gia đình và những văn bản có liên quan (1996), (Tài liệu), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 75. Một số giá trị văn hóa truyền thống với đời sống văn hóa ở cơ sở nông thôn hiện nay (1998), NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 76. Hồ Chí Minh (1962), Hồ Chủ Tịch bàn về giáo dục, NXB Giáo dục, Hà nội. 77. Hồ Chí Minh (1995), Về xây dựng con người mới, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 78. Lê Minh (chủ biên) (1994), Những tình huống ứng xử trong gia đình, NXB Lao Động. 79. Bùi Xuân Mỹ - Phan Minh Thảo (1995), Tục cưới hỏi, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 80. Sơn Nam (1997), Truyền thống gia đình Nam Bộ, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 5, tr.73-74. 81. Phan Ngọc (1994), Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 82. Ôn nhƣ Nguyễn Văn Ngọc (tái bản) (1957), Tục ngữ - phong dao, NXB Minh Đức. 83. Phạm Thế Ngũ (tái bản) (1996), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (tập 1), NXB Đồng Tháp. 84. Triều Nguyên (1999), Tiếp cận ca dao bằng phương thức xâu chuỗi theo mô hình cấu trúc, NXB Thuận Hóa, Huế. 85. Triều Nguyên (2000), Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việt, NXB Thuận Hóa, Huế. 86. Triều Nguyên (2001), Bình giải ca dao, NXB Thuận Hóa, Huế. 87. Hồ Quốc Nhạc (chủ biên) (2000), Ca dao Việt Nam (tập 1), NXB Đồng Nai, Đồng Nai.

142

88. Hồ Quốc Nhạc (chủ biên) (2000), Ca dao Việt Nam (tập 2), NXB Đồng Nai, Đồng Nai. 89. Nguyễn Tá Nhí (2000), Làng mỹ tục Hà Tây, Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây, Hà Tây. 90. Nhiều tác giả (1976), Xây dựng gia đình, xây dựng cuộc sống văn minh, hạnh phúc, NXB Phụ nữ, Hà Nội. 91. Nhiều tác giả (1991), Nhận diện gia đình Việt Nam hiện nay, Kỷ yếu hội nghị. Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu khoa học về phụ nữ, Hà Nội. 92. Nhiều tác giả (1991), Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 93. Nhiều tác giả (1992), Một trăm câu ca dân gian Quảng Ngãi, Sở Văn hóa - Thông tin và Thể thao Quảng Ngãi, Quảng Ngãi. 94. Nhiều tác giả (1992), Văn học dân gian Quảng Trị, Sở Văn hóa Thông tin Thể thao, Thƣ Viện Quảng Trị, Quảng Trị. 95. Nhiều tác giả (1993), Tục ngữ - ca dao - dân ca Hà Tây, Sở Văn hóa Thông Tin Thể thao Hà Tây, Hà Tây, 1993. 96. Nhiều tác giả (1995), Gia đình Việt Nam, các trách nhiệm, các nguồn lực trong sự đổi mới của đất nước, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 97. Nhiều tác giả (1995), Gia đình và địa vị người phụ nữ trong xã hội, cách nhìn từ Việt Nam và Hoa Kỳ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 98. Nhiều tác giả (1996), Ca dao dân ca trên vùng đất Phú Yên, Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trƣờng, Hội Văn nghệ dân gian và văn hóa các dân tộc tỉnh Phú Yên, Tuy Hòa. 99. Nhiều tác giả (tái bản) (1997), Phê bình, bình luận văn học (Ca dao dân ca - Tục ngữ - vè), NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 100.Nhiều tác giả (1998), Đại việt sử ký toàn thư (tập 1), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 101.Nhiều tác giả (1998), Đại việt sử ký toàn thư (tập 2), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 102.Nhiều tác giả (1998), Đại việt sử ký toàn thư (tập 3), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 103.Nhiều tác giả (1998), Đại việt sử ký toàn thư (tập 4), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 104.Nhiều tác giả (1999), Tết năm mới ở Việt Nam, Viện Văn hóa - NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

143

105.Nhiều tác giả (1999), Văn hóa dòng họ ở Thái Bình, Sở văn hóa Thông tin Thái Bình và Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian, Thái Bình. 106.Nhiều tác giả (1999), Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam (Tập IV, Quyển 1), NXB Giáo dục, Hà Nội. 107.Nhiều tác giả (2000), Tâm lý người Việt Nam nhìn từ nhiều góc độ, +NXB Tp Hồ Chí Minh. 108.Nhiều tác giả (2001), Tuyển tập tục ngữ ca dao Việt Nam, NXB Văn học. 109.Nhiều tác giả (2001), Ca dao Việt Nam - những lời bình, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 110.Nhiều tác giả (không rõ năm ), Quốc hội Việt Nam với Luật Hôn nhân gia đình, NXB Phụ nữ, Hà Nội. 111.Nhóm nghiên cứu nông thôn (1974), Nông thôn Việt Nam (tài liệu in rô nê ô), Sài gòn. 112.Lƣơng Ninh (chủ biên) (2000), Lịch sử Việt Nam giản yếu, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 113. Những văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình (1994) (tài liệu), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 114. Vũ Ngọc Phan (in lần thứ 12) (1999), Tục ngữ - ca dao - dân ca Việt Nam, NXB Khoa học xã hội. 115.Hoàng Phê (chủ biên) (1992), Từ điển tiếng Việt, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội. 116.Chúc Phong (ngày 15 tháng 9 năm 1999), Có thể gọi đây là những gia đình được không?, Văn hóa thứ tƣ, Hà Nội. 117.Đông Phong (1998), Về nguồn văn hóa cổ truyền Việt Nam, NXB Mũi Cà Mau, Cà Mau. 118.Thuần Phong (1057), Tính giao kết trong câu hò miền Nam, Tạp chí Bách khoa số 9, Sài Gòn. 119.Thuần Phong (1957), Đạo nghĩa vợ chồng trong câu hò miền Nam, Tạp chí Bách khoa số 13, Sài Gòn. 120.Lê Chân Phƣơng (1960), Luật Hôn nhân gia đình triệt để giải phóng phụ nữ, NXB Phụ Nữ, Hà Nội. 121.Đạm Phƣơng nữ sử (2000), Tuyển tập Đạm Phương nữ sử, NXB Văn học, Hà Nội. 122.Hằng Phƣơng (1960), Chống hôn nhân gia đình phong kiến trong ca dao Việt Nam, NXB Phụ Nữ, Hà Nội.

144

123.Đỗ Lan Phƣơng (1997), Về quan hệ gia đình và xã hội ở nông thôn Bắc Bộ hiện nay (qua khảo sát làng Mẫn Xá - Văn Môn - Yên Phong - Bắc Ninh), Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 9, tr.73-76, số 10, tr.78-80. 124.Đỗ Lan Phƣơng (1996), Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong văn hóa nghệ thuật truyền thống, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 12, tr.64-65, 72. 125.Tam Phƣơng (1958), Giải thích vài tục ngữ về trồng lúa, NXB Nông Thôn, Hà Nội. 126.Lê Chí Quế (chủ biên) (1998), Văn học dân gian Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 127.Lê Quốc, Ý đẹp lời hay (1999), NXB Văn hóa - Thông tin,. 128.Vũ Tiến Quỳnh (2000), Ca dao tình yêu, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh. 129.Anh Sơn (1998), Trao đổi về công, dung, ngôn, hạnh ở Huế hiện nay, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 9, tr.78-81. 130.Phạm Côn Sơn (1998), Nền nếp gia phong, NXB Tổng hợp Đồng Tháp, Đồng Tháp. 131.Từ Sơn (1998), Giữ gìn và phát huy thuần phong mỹ tục, một phương diện của chiến lược văn hóa giáo dục lòng yêu nước, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 2, tr.4-7, số 3, tr.6-8. 132.Nguyễn Quốc Tăng (2000), Tục ngữ ca dao Việt Nam, NXB Thuận Hóa, Huế. 133.Đỗ Văn Tân (chủ biên) (1984), Ca dao đồng Tháp Mười, Sở Văn hóa Thông tin Đồng Tháp, Đồng Tháp. 134.Tạ Văn Thành (1998), Xây dựng gia đình văn hóa trong bối cảnh của lối sống đô thị, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 7, tr.73-74. 135.Nguyễn Phƣơng Thảo (1994), Văn hóa dân gian Nam Bộ, những phác thảo, NXB Giáo dục, Hà Nội. 136.Lê Ngọc Thắng (chủ biên) (1990), Bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 137.Lê Thi (Chủ biên) (1996), Gia đình Việt Nam ngày nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 138.Trƣơng Thìn (chủ biên) (1996), Văn hóa phi vật thể xứ Huế, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 139.Lƣu Nhân Thiện (1994), Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ 17 – 18, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

145

140.Ngô Đức Thịnh (1997), Văn hóa dòng họ ở Nghệ An trong sự nghiệp thực hiện chiến lược con người Việt Nam đầu thế kỷ XXI (Tổng thuật hội thảo), Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 4, tr.61-64. 141.Lê Viết Thọ (1997), Gia đình Việt Nam truyền thống và việc xây dựng gia đình văn hóa hiện nay, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 7, tr.43-46. 142.Nguyễn Hữu Thức (1996), Văn học dân gian Hà Tây và việc chấn hưng văn hóa địa phương (Luận văn Phó tiến sĩ khoa học ngữ văn), Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội. 143.Lê Đức Tiết (1998), Về hương ước lệ làng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 144.Trọng Toàn (1999), Hương hoa đất nước (tập 1), NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh. 145.Trọng Toàn (1999), Hương hoa đất nước (tập 2), NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh. 146.Tổ Biên tập văn học dân gian Tiền Giang, Văn học dân gian Tiền Giang (1985) Sở Văn hóa - Thông tin Tiền Giang, Mỹ Tho. 147.Hà Huy Tú (1997), Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên với việc hình thành văn hóa gia đình, Tham luận Hội thảo khoa học Văn hóa gia đình với chiến lƣợc dân số và phát triển, Bộ Văn hoá Thông tn, Hà Nội. 148.Hoàng Tiến Tựu, Bình giảng ca dao (2000) (tái bản lần thứ 5), NXB Giáo dục, Hà Nội 149.Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996), Tài liệu, Bộ Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 150.Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1998) Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 151.Viện Văn hoá dân gian (1990), Văn hoá dân gian những phương pháp nghiên cứu, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 152.Huỳnh Khái Vinh (2000), Những vấn đề văn hoá Việt Nam đương đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 153.Lƣ Nhất Vũ - Lê Giang (2000), Dân ca Bến tre, Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre, Bến Tre. 154.Trần Ngọc Vƣơng (1995), Loại hình học tác giả văn học Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội. 155.Trần Quốc Vƣợng (1996), Nguyên lý Mẹ của nền văn hóa Việt Nam, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 12, tr.43-44. 156.Trần Quốc Vƣợng (chủ biên) (2001), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.

146

157. Nguyễn Khắc Xuyên (1998), Những tác phẩm ca dao - tục ngữ được xuất bản trước đây một thế kỷ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 158.Nguyễn Khắc Xƣơng (1994), Tục ngữ - ca dao - dân ca Vĩnh Phú, Sở Văn hóa - Thông tin - Thể thao Vĩnh Phú, Phú Thọ. 159.Phạm Thu Yến (1998), Những thế giới nghệ thuật ca dao, NXB Giáo dục, Hà Nội. TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG PHÁP 1. Balmir, Guy-Claude (1982), Essai de littérature sur le chant et la poésie populaire de Noirs Americains, Payot, Paris. 2. Mori, Toshiko (1987), Folklore et théatre au Japon, Publ. Orientaliste de Paris, Paris. 3. Ri Il Bok (1989), Kim Djeung IL une grande personnalité, Youn Sang Hyeun-Pyongyang, Corée.

147

MỤC LỤC PHẦN PHỤ LỤC 1. Tục ngữ 1.1. Mối quan hệ vợ chồng 1.2. Tình cảm vợ chồng - gắn bó 1.3. Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng 1.4. Quan hệ cha mẹ con 1.5. quan hệ anh chị em 1.6. quan hệ con dâu, con rể 2. Ca dao 2.1. quan hệ vợ chồng - gắn bó 2.2. đạo nghĩa vợ chông 2.3. ông tơ bà nguyệt 2.4. Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng 2.5. Quan hệ cha mẹ con - về đạo hiếu 2.6. Quan hệ cha mẹ con - trách nhiệm 2.7. quan hệ cha mẹ con - Những biểu hiện tiêu cực 2.8. Quan hệ nàng dâu và gia đình chồng 2.9. Hôn nhân - cam chịu 2.10. Hôn nhân - trách móc 2.11. Hôn nhân - quyền cha mẹ 2.12. Hôn nhân - chống lại lễ giáo phong kiến 2.13. Hôn nhân - lƣỡng lự 2.14. Hôn nhân - tự giác 2.15. Con cá trong ca dao về tình yêu, hôn nhân và gia đình Trang 151

148

1. TỤC NGỮ 1.1. MỐI QUAN HỆ VỢ CHỒNG STT 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 11. 12. 13. 14. 15. 16. 17. 18. 19. 20. 21. 22. 23. 24. 25. 26. 27. 28. 29. 30. 31. 32. NỘI DUNG Ai mà nói dối cùng chồng, thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao. Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại. Ăn của chồng thì ngon, ăn của con thì nhục. Bà phải có ông, chồng phải có vợ. Bát còn có lúc xô xát, huống chi vợ chồng. Bé nhờ cha, lớn nhờ chồng, già nhờ con. Bình phong cẩn ốc xà cừ, vợ hƣ rầy vợ đừng từ mẹ cha. Bởi chồng cờ bạc, nên lòng chẳng thƣơng. Cá dƣới sông, vợ chồng thuyền chài đánh nhau. Cả sông đông chợ, lắm vợ nhiều con. Chẳng tham nhà ngói ba toà, tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành. Chẳng tham nhà ngói rung rinh, tham về một mối anh xinh miệng cƣời. Chẳng tham vựa lúa anh đầy, tham năm ba chữ cho tày thế gian. Chê chồng chẳng bõ chồng chê. Chê chồng trƣớc đánh đau, gặp chồng sau mau đánh. Chê thằng một chai, lấy thằng hai nậm. Chết trẻ còn hơn lấy lẽ chồng ngƣời. Chết trẻ còn hơn lấy lẽ. Chiếu hoa, nệm gấm không chồng cũng hƣ. Chiều ngƣời lấy của, chiều chồng lấy con. - Chiều ngƣời lấy việc, chiều chồng lấy con. Chồng ăn chả, vợ ăn nem. Chồng ăn giò vợ co chân chạy, chồng ăn mày mạy vợ lạy vợ về. Chồng bé vợ lớn ra tình chị em. Chồng cần vợ kiệm là tiên; ngông nghênh nhăng nhít là tiền bỏ đi. Chồng chèo thì vợ cũng chèo. Chồng chết chƣa héo cỏ đã bỏ đi lấy chồng. Chồng còng lấy vợ cũng còng, nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa. Chồng dại, luống tổn công phu nhọc mình. Chồng đánh bạc, vợ đánh bài. Chồng đôi vợ ba. Chồng đông, vợ đoài. Chồng dữ thì lo, mẹ chồng dữ đánh co mà vào. - Chồng dữ thì em mới lo.

149

33. 34. 35. 36. 37. 38. 39. 40. 41. 42. 43. 44. 45. 46. 47. 48. 49. 50. 51. 52. 53. 54. 55. 56. 57. 58. 59. 60. 61. 62. 63. 64.

- Chồng dữ thì em mới sầu. Chồng đƣờng, vợ sá. Chồng em áo rách em thƣơng, chồng ngƣời áo gấm xông hƣơng mặc ngƣời. Chồng ghét thì ra, mụ gia ghét thì vào. Chồng già vợ trẻ là tiên, vợ già chồng trẻ là duyên nợ nần. - Chồng già, vợ trẻ là tiên. Chồng già vợ trẻ nâng niu, chồng trẻ vợ già nhiều điều đắng cay. Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê. - Chồng giận thì vợ bớt lời. Chồng giận thì vợ làm lành. Chồng giận thì vợ phải lui, chồng giận vợ giận thì dùi nó quăng. Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng. Chồng hen lại lấy vợ hen, đêm nằm cò cử nhƣ kèn thổi đôi. Chồng hoà, vợ thuận. Chồng học trò, vợ con hát. Chồng khó giữa làng còn hơn chồng sang thiên hạ. Chồng khôn vợ ngoan, chồng quan vợ bợm. - Chồng khôn vợ ngoan. Chồng khôn thì nổi cơ đồ, chồng dại luống cổ công phu nặng mình. - Chồng khôn thì nổi cơ đồ. Chồng lành dễ khiến, chồng khôn khó chiều. Chồng loan, vợ phƣợng. Chồng lớn vợ bé thì xinh, chồng bé vợ lớn ra tình chị em. Chồng ma, vợ quỉ. Chồng nào vợ nấy. Chồng ngƣời chẳng mƣợn đƣợc lâu. Chồng nhƣ đó, vợ nhƣ hom. - Chồng nhƣ giỏ, vợ nhƣ hom. Chồng què lấy vợ kiễng chân, nuôi đƣợc đứa ở đứt chân cũng què. Chồng sang đi võng đầu rồng, chồng hèn gánh nặng đè còng cả lƣng. Chồng sang vì bởi vợ ngoan. Chồng sang vợ đƣợc đi giầy, vợ ngoan chồng đƣợc tối ngày cậy trông. Chồng ta áo rách, ta thƣơng. Chồng tới vợ lui, chồng hoà vợ thuận. Chồng tốt ai chẳng muốn lấy, biết giá chồng đáng mấy mà mua. Chồng thấp mà lấy vợ cao, nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa. Chồng thấp vợ cao nhƣ đôi đũa lệch biết bao giờ bằng. Chồng yêu cái tóc nên dài, cái duyên nên đẹp, cái tài nên khôn.

150

65. Chƣa chồng đi dọc đi ngang, có chồng cứ thẳng một đàng mà đi. 66. Có chồng chẳng đƣợc đi đâu, có con chẳng đƣợc đứng lâu một giờ. - Có chồng chẳng đƣợc đi đâu. 67. Có chồng nhƣ ngựa có cƣơng. 68. Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng. 69. Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay. 70. Có chồng thƣơng kẻ nằm không một mình. 71. Có con phải khổ vì con, có chồng phải gánh giang sn nhà chồng. - Có con phi khổ vì con. 72. Có khôn thì lấy vợ hai cho chồng. 73. Có ông chồng siêng nhƣ có ông tiên nho nhỏ. 74. Có phúc lấy đƣợc vợ già, sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh. 75. Có tiền vợ vợ chồng chồng, hết tiền chồng đông vợ đoài. 76. Có vợ có chồng nhƣ đũa có đôi. 77. Coi vợ già nhƣ chó nằm nhà gác. 78. Cơm chẳng lành canh chẳng ngon, chín đụn mƣời con cũng lìa. 79. Cơm sôi bớt lửa, chồng giận bớt lời. 80. Cơm trắng ăn với chả chim, chồng đẹp vợ đẹp những nhìn mà no. 81. Còn duyên đóng cửa kén chồng. 82. Còn duyên kén những trai tơ. 83. Con giai ở nhà vợ, nhƣ chó nằm gầm chạn. 84. Con hƣ bởi tại cha dung, vợ hƣ bởi tại anh chồng cả nghe. 85. Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông. 86. Của chồng công vợ. 87. Của ngƣời thì đứng mà trông, của chồng thì cất lấy mà ăn. 88. Của rẻ của ôi, tôi rẻ tôi trốn, vợ rẻ vợ lộn. 89. Củi mục cành đun, chồng lành dễ khiến, chồng khôn khó chiều. 90. Củi mục khó đun, chồng lành dễ khiến, chồng khôn dễ chiều. 91. Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài. 92. Đàn bà mà lấy đàn ông thiệt gì. 93. Đàn ông vƣợt bể có chúng có bạn, đàn bà vƣợt cạn chỉ có một mình. 94. Đói bụng chồng, hồng má vợ. 95. Đau đẻ, ngứa ghẻ, đòn ghen. 96. Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng, chăn loan gối phƣợng không chồng cũng hƣ. 97. Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ lúc bơ vơ mới về. 98. Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về. 99. Đói bụng chồng, đau lòng vợ. 100. Đói no có vợ có chồng, chia niêu sẻ đấu đau lòng nát gan. 101. Đói no một vợ, một chồng.

151

102. Đổi quần đổi áo thời hay, đổi chồng, đổi vợ xƣa nay chẳng lành. 103. Đừng thấy chồng hiền, xỏ chân lỗ mũi. 104. Đƣợc cả đôi, Thiên Lôi đánh một. 105. Gái bắt nạt chồng, em chẳng có ngoan. 106. Gái chính chuyên chẳng lấy hai chồng. 107. Gái có chồng nhƣ chông nhƣ mác, gái không chồng nhƣ rác nhƣ rơm. 108. Gái có chồng nhƣ gông đeo cổ, gái không chồng nhƣ phản gỗ long đanh. 109. Gái có chồng nhƣ rồng có vây, gái không chồng nhƣ cối xay chết ngõng. 110. Gái có công, chồng chẳng phụ. 111. Gái giết chồng, đàn ông ai nỡ giết vợ. - Gái giết chồng, chứ đàn ông không ai giết vợ. 112. Gái khôn thì chồng con nhờ, gái đần đơm đó thả lờ trôi sông. 113. Gái không chồng nhƣ thuyền không lái. 114. Gái kia chồng rẫy khoe tài chi em. 115. Gái mạnh về chồng. 116. Gái năm con ở chƣa hết lòng chồng. 117. Gái ngoan làm quan cho chồng. 118. Gái rẫy chồng mƣời lăm quan quí, trai rẫy vợ tiền phí xuống sông. 119. Gái trồng rẫy không phải chứng nọ, thì tật kia. 120. Gái thƣơng chồng đang đông buổi chợ, trai thƣơng vợ nắng quái chiều hôm. 121. Ghe bầu chở lái về đông, làm thân con gái thờ chồng nuôi con. 122. Giàu đổi bạn, sang đổi vợ. 123. Giàu trong làng trái duyên khôn ép, khó nƣớc ngƣời phải kiếp cũng theo. 124. Giàu về bạn, sang về vợ. 125. Hẩm duyên lấy phải chồng đần, có trăm mẫu ruộng bán dần mà ăn. 126. Hay ăn miếng ngon chồng con trả ngƣời. 127. Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng. 128. Khó giữa làng, còn hơn chồng sang thiên hạ. 129. Khôn đi làm lẽ, khoẻ đi ở mùa. 130. Khôn với vợ, dại với anh em. 131. Không vợ đứng ở lề đƣờng. 132. Lắm con, lắm nợ, lắm vợ nhiều cái oan gia. 133. Lắm duyên nhiều nợ, lắm vợ nhiều oan gia. 134. Làm quan đã có cơm vua, lấy chồng đã có cơm mua của chồng. 135. Làm quan hay quân, làm chồng hay vợ. 136. Làm ruộng có trâu, làm dâu có chồng.

152

137. Làm ruộng phải có trâu, làm giàu phải có vợ. 138. Làm trai lấy vợ bé, nhà giàu tậu nghé hoa. 139. Làm tƣớng hay quân, làm chồng hay vợ. 140. Làm tuỳ chủ, ngủ tuỳ chồng. 141. Làm thân con gái thờ chồng, nuôi con. 142. Lấy chồng ăn mày chồng. 143. Lấy chồng bắt thói nhà chồng, đừng giữ thói cũ ở cùng mẹ cha. 144. Lấy chồng chè rƣợu là duyên nợ nần. 145. Lấy chồng chè rƣợu là tiên, lấy chồng cờ bạc là duyên nợ nần. 146. Lấy chồng cho đáng bù nhìn giữ dƣa. 147. Lấy chồng cho đáng hình dong con ngƣời. 148. Lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công trang điểm má hồng răng đen. 149. Lấy chồng cho đáng tấm chồng. 150. Lấy chồng cho đáng việc vua, việc làng. 151. Lấy chồng cờ bạc là tiên. 152. Lấy chồng cũng phải gọi chồng bằng anh. 153. Lấy chồng đánh bạc nhƣ voi phá nhà. 154. Lấy chồng hay chữ nhƣ soi gƣơng vàng. 155. Lấy chồng hơn ở goá. 156. Lấy chồng khó giữa làng, hơn lấy chồng sang thiên hạ. 157. Lấy chồng làm lẽ khỏi lo, cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi. 158. Lấy chồng làm lẽ khỏi lo, lƣơng vua khỏi đóng, áo chồng khỏi may. 159. Lấy chồng nhờ hồng phúc nhà chồng. 160. Lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi. 161. Lấy chồng thì chọn trƣởng nam cho giàu. 162. Lấy chồng thì phải theo chồng, thôi đừng theo thói cha ông nhà mình. 163. Lấy chồng thì phải theo chồng. 164. Lấy con xem nạ, lấy gái hoá xem đời chồng xƣa. 165. Lấy kẻ chê chồng, chớ lấy kẻ chồng chê. 166. Lấy vợ chọn tông, lấy chồng chọn giống. 167. Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống. 168. Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng. 169. Lệnh ông không bằng cồng bà. 170. Lúa trỗ thập thòi, vợ chồng đánh nhau lòi mắt. 171. Mất mẹ mất cha thật là khó kiếm, chớ đạo vợ chồng chẳng thiếu gì nơi. 172. Mẹ kêu mặc mẹ, thƣơng chồng phải theo. 173. Mảnh chồng quan bằng đàn chồng dân. 174. Một chồng rẫy là bảy chồng chờ.

153

175. Một là vợ, hai là nợ. 176. Một vợ không khố mà mang, hai vợ bỏ làng mà đi. 177. Một vợ nằm giƣờng lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chuồng heo. 178. Mua cam thì chọn giống cam, lấy chồng thì chọn trƣởng nam cho giàu. 179. Mua heo chọn nái, mua gái chọn dòng. 180. Mua thịt thì chọn miếng mông, lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi. 181. Muôn nghìn chớ lấy học trò, dài lƣng tốn vải ăn no lại nằm. 182. Muốn nói không, làm chồng mà nói. 183. Ngu si cũng thể chồng ta, dẫu rằng khôn khéo cũng ra chồng ngƣời. 184. Ngƣời ba bốn vợ, ngƣời không vợ nào. 185. Nhà khó cậy vợ hiền, nƣớc loạn nhờ tƣớng giỏi. 186. Nhất vợ nhì trời. 187. Nhƣờng cơm nhƣờng áo, không ai nhƣờng chồng. 188. Nhứt củ khoai đầu vồng, nhì có chồng trƣởng nam. 189. Nồi đồng dễ nấu, chồng xấu dễ sai. 190. Ở goá ba đông, lấy chồng hay ngủ. 191. Phận gái theo chồng. 192. Phu quí, vợ vinh. 193. Phụ vợ, không gặp vợ. 194. Phu xƣớng, phụ tòng. 195. Phúc nhà vợ chẳng bằng nợ nhà chồng. 196. Quen nhà mạ, lạ nhà chồng. 197. Quen việc nhà mạ, lạ việc nhà chồng. 198. Ruộng đầu chợ, vợ đầu làng. 199. Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng. 200. San sát nhƣ hai gái lấy một chồng. 201. Sống quê cha, ma quê chồng. 202. Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. 203. Tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng. 204. Tạm vợ, vợ già; tạm nhà, nhà nát. 205. Tay không chẳng thèm nhờ vợ. 206. Tay tiêm thuốc cống, miệng mời lang quân. 207. Thà rằng làm lẽ thứ mƣời, còn hơn chính thất những ngƣời đần ngu. 208. Thế gian một vợ một chồng, chẳng nhƣ vua bếp hai ông một bà. 209. Thế gian vợ giống tính chồng, đời nào đầy tớ giống ông chủ nhà. 210. Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi. 211. Thứ nhất đau đẻ, thứ hai ngứa ghẻ, đòn ghen. 212. Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ hai nhà dột, thứ ba rựa cùn.

154

213. Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ nhì nhà dột, thứ ba nợ đòi. 214. Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn. 215. Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn 216. Thƣơng chồng nên phải lầm than. 217. Thƣơng ai cho bằng thƣơng chồng. 218. Thƣơng ai ví bằng gái son nhớ chồng. 219. Thƣơng chồng nên phải gắng công. 220. Thƣơng chồng phải bồng con ghẻ. 221. Thƣơng chồng phải khóc mụ gia. 222. Thuyền không lái nhƣ gái không chồng. 223. Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng. 224. Thuyền theo lái, gái theo chồng. 225. Tôi tớ xét công, vợ chồng xét nhân nghĩa 226. Tốt duyên lấy đƣợc chồng chung. 227. Tốt duyên lấy đƣợc chồng hiền. 228. Tốt mối lấy đƣợc chồng sang. 229. Trai chê vợ mất của tay không, gái chê chồng một đồng trả bốn. 230. Trai bao nhiêu vợ cũng chƣa bằng lòng. 231. Trai có vợ nhƣ giỏ có hom. 232. Trai có vợ nhƣ lỗ tiền chôn. 233. Trai có vợ nhƣ rợ buộc chân. 234. Trai có vợ tề gia nội trợ. 235. Trai con một thì lấy, gái con một thì đừng. 236. Trai hơn vua đƣợc lúc đua thuyền, gái hơn chồng đƣợc lúc bồng con. 237. Trai làm nên năm thê, bảy thiếp, gái làm nên thủ tiết thờ chồng. 238. Trai ơn Vua lúc đua thuyền rồng, gái ơn chồng lúc bồng con thơ. 239. Trai ơn Vua ngồi võng đòn rồng, gái ơn chồng ngồi võng ru con. 240. Trai nhớ vợ cũ, gái nhớ chồng xƣa. 241. Trai nuôi vợ đẻ gầy mòn, gái nuôi chồng ốm béo tròn cối xay. 242. Trai phải hơi vợ nhƣ cò bợ gặp trời mƣa. 243. Trai tay không chẳng thèm nhờ vợ, gái ruộng đợ phải ăn mày chồng. 244. Trai tay không chẳng thèm nhờ vợ, trăm mẫu ruộng đợ cũng tiếng nhờ chồng. 245. Trâu đẻ tháng sáu, vợ đẻ tháng mƣời. 246. Triều đình có văn có vũ, nhƣ trong nhà có mụ, có ông. 247. Túi ông xã, quả nhà hàng. 248. Vợ ba con ở chƣa hết lòng chồng. 249. Vợ bắt thói chồng, đứa ở giống tông chúa nhà. 250. Vợ cái con cột, vợ lẽ con thêm. 251. Vợ chồng biết tính nhau.

155

252. Vợ chồng chăn chiếu chẳng rời; bán buôn là nghĩa ở đời với nhau. 253. Vợ chồng chớ cãi nhau hoài, sao cho trong ấm thì ngòai mới êm. 254. Vợ chồng cùng một tuổi, nằm duỗi ra mà ăn. 255. Vợ chồng đầu gối tay ấp. 256. Vợ chồng đồng tịch đồng sàng, đồng sinh đồng tử cƣu mang đồng lần. 257. Vợ chồng khi nồng khi nhạt. 258. Vợ chồng là nghĩa già đời. 259. Vợ chồng là nghĩa trả đời, ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn. 260. Vợ chồng may rủi là duyên, vợ chồng hoà thuận là duyên trên đời. 261. Vợ chồng nhƣ đũa có đôi. 262. Vợ chồng phận đẹp duyên ƣa. 263. Vợ chồng sống gửi thịt, chết gửi xƣng. 264. Vợ có chồng nhƣ rồng có mây, chồng có vợ nhƣ cây có rừng. 265. Vợ có khách nợ đến nhà, chồng có quan toà gửi trát. 266. Vợ dại đẻ con khôn. 267. Vợ dại không hại bằng đũa vênh. 268. Vợ đẹp càng tổ đau lƣng. 269. Vợ đẹp kém ngủ. 270. Vợ đẹp mặt, chồng đau lƣng. 271. Vô duyên lấy phải chồng đần. 272. Vợ già, chồng trẻ là duyên nợ nần. 273. Vợ giống tính chồng, ngƣời ở giống tông chủ nhà. 274. Vợ hiền hoà, nhà hƣớng Nam. 275. Vợ hƣ bởi tại thằng chồng cả nghe. 276. Vợ không cheo nhƣ cù nèo không móc. 277. Vợ quá chiều ngoen ngỏen nhƣ chó con liếm mặt, vợ phải rẫy tiu nghỉu nhƣ mèo lành mất tai. 278. Vợ yên, nhƣng tiền chƣa có. 279. Vợ thì muốn lấy, chồng e mất tiền. 280. Voi không nài nhƣ trai không vợ. 281. Voi trên rừng không bành không tróc, gái không chồng nhƣ cóc cụt đuôi. 282. Vợ chồng nhƣ áo cởi ngay nên lìa. 283. Vợ với chồng nhƣ hồng với cốm, nào ngờ nhƣ chó đốm mèo khoang. 284. Xấu chàng, hổ ai. 285. Xấu thiếp, hổ chàng. 1.2. TÌNH CẢM VỢ CHỒNG - GẮN BÓ

156

STT 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 11. 12. 13. 14. 15. 16. 17. 18. 19. 20. 21. 22. 23. 24. 25. 26. 27. 28. 29. 30. 31.

NỘI DUNG Bà phải có ông, chồng phải có vợ. Chồng nhƣ đó, vợ nhƣ hom. - Chồng nhƣ giỏ, vợ nhƣ hom. Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông. Đói bụng chồng, đau lòng vợ. Đói bụng chồng, hồng má vợ. Đói no có vợ có chồng, chia niêu sẻ đấu đau lòng nát gan. Đói no một vợ, một chồng. Đổi quần đổi áo thời hay, đổi chồng, đổi vợ xƣa nay chẳng lành. Ngu si cũng thể chồng ta, dẫu rằng khôn khéo cũng ra chồng ngƣời. Nhƣờng cơm nhƣờng áo, không ai nhƣờng chồng. Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi. Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn Thƣơng chồng nên phải lầm than. Thƣơng ai cho bằng thƣơng chồng. Thƣơng ai ví bằng gái son nhớ chồng. Thƣơng chồng nên phải gắng công. Thƣơng chồng phải bồng con ghẻ. Thƣơng chồng phải khóc mụ gia. Tôi tớ xét công, vợ chồng xét nhân nghĩa Triều đình có văn có vũ, nhƣ trong nhà có mụ, có ông. Vợ chồng biết tính nhau. Vợ chồng chăn chiếu chẳng rời; bán buôn là nghĩa ở đời với nhau. Vợ chồng đầu gối tay ấp. Vợ chồng đồng tịch đồng sàng, đồng sinh đồng tử cƣu mang đồng lần. Vợ chồng là nghĩa già đời. Vợ chồng là nghĩa trả đời, ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn. Vợ chồng nhƣ đũa có đôi. Vợ chồng sống gửi thịt, chết gửi xƣơng. Vợ có chồng nhƣ rồng có mây, chồng có vợ nhƣ cây có rừng. Xấu chàng, hổ ai. Xấu thiếp, hổ chàng.

1.3. NHỮNG BIỂU HIỆN TIÊU CỰC TRONG QUAN HỆ VỢ CHỒNG STT 1. 2. NỘI DUNG ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại. Bởi chồng cờ bạc, nên lòng chẳng thƣơng.

157

3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 11. 12. 13. 14. 15. 16. 17. 18. 19. 20. 21. 22. 23. 24. 25. 26. 27. 28. 29. 30. 31. 32. 33. 34. 35. 36. 37. 38. 39.

Cả sông đông chợ, lắm vợ nhiều con. Chê chồng trƣớc đánh đau, gặp chồng sau mau đánh. Chê thằng một chai, lấy thằng hai nậm. Chồng ăn chả, vợ ăn nem. Chồng bé vợ lớn ra tình chị em. Chồng đánh bạc, vợ đánh bài. Chồng đôi vợ ba. Chồng dữ thì lo, mẹ chồng dữ đánh co mà vào. - Chồng dữ thì em mới lo. - Chồng dữ thì em mới sầu. Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng. Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay. Có khôn thì lấy vợ hai cho chồng. Có tiền vợ vợ chồng chồng, hết tiền chồng đông vợ đoài. Con giai ở nhà vợ, nhƣ chó nằm gầm chạn. Đàn ông vƣợt bể có chúng có bạn, đàn bà vƣợt cạn chỉ có một mình. Đói bụng chồng, hồng má vợ. Đau đẻ, ngứa ghẻ, đòn ghen. Đƣợc cả đôi, Thiên Lôi đánh một. Gái giết chồng, đàn ông ai nỡ giết vợ. - Gái giết chồng, chứ đàn ông không ai giết vợ. Giàu đổi bạn, sang đổi vợ. Làm trai lấy vợ bé, nhà giàu tậu nghé hoa. Lấy chồng chè rƣợu là duyên nợ nần. Lấy chồng chè rƣợu là tiên, lấy chồng cờ bạc là duyên nợ nần. Lấy chồng cờ bạc là tiên. Lấy chồng làm lẽ khỏi lo, cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi. Lấy chồng làm lẽ khỏi lo, lƣơng vua khỏi đóng, áo chồng khỏi may. Mảnh chồng quan bằng đàn chồng dân. Một vợ không khố mà mang, hai vợ bỏ làng mà đi. Một vợ nằm giƣờng lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chuồng heo. Ngƣời ba bốn vợ, ngƣời không vợ nào. San sát nhƣ hai gái lấy một chồng. Tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng. Tay tiêm thuốc cống, miệng mời lang quân. Thứ nhất đau đẻ, thứ hai ngứa ghẻ, đòn ghen. Tốt duyên lấy đƣợc chồng chung. Trai bao nhiêu vợ cũng chƣa bằng lòng. Trai làm nên năm thê, bảy thiếp, gái làm nên thủ tiết thờ chồng. Trai tay không chẳng thèm nhờ vợ, trăm mẫu ruộng đợ cũng tiếng

158

40. 41. 42.

nhờ chồng. Vợ cái con cột, vợ lẽ con thêm. Vợ chồng nhƣ áo cởi ngay nên lìa. Vợ với chồng nhƣ hồng với cốm, nào ngờ nhƣ chó đốm mèo khoang. 1.4. QUAN HỆ CHA MẸ CON

STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32

NỘI DUNG Ăn của chồng thì ngon, ăn của con thì nhục. Ơn cha là ba ngàn bảy, nghĩa mẹ là bảy ngàn ba. Đình đám ngƣời, mẹ con ta. Đói lòng con, héo hon cha mẹ. Đầu măng ngã gục vào tre, nƣơng nhờ vào mẹ kẻo e bão gào. Đời cha ăn mặn, đời con khát nƣớc. Đời cha đắp nấm, đời con ấm mồ. Đời cha trồng cây, đời con ăn qủa. Đời cha vo tròn, đời con bóp bẹp. Đẻ con khôn mát nhƣ nƣớc, đẻ con dại thì rát nhƣ hơ. Đi dối cha, về nhà dối chú. Đƣợc mối hàng, mẹ chẳng nhƣờng con. Đẹp đôi ta mẹ cha không đẹp; đẹp gia nghiệp, lại lép duyên hài. Đẹp duyên nhƣng chẳng đẹp lòng mẹ cha. Đuổi con vào đám giỗ. Bà khen con bà tốt, một chạp bà biết con bà. Bà khoe con bà tốt, đến tháng mƣời một bà biết con bà. Bé nhờ cha, lớn nhờ chồng, già nhờ con. Bé thì con mẹ con cha, lớn thì con vua con chúa. Cá không ăn muối cá ƣơn, con cãi cha mẹ trăm đƣờng con hƣ. Cô cũng nhƣ cha, gì cũng nhƣ mẹ. Công cha nghĩa mẹ. Cây xanh thì lá cũng xanh, cha mẹ hiền lành để đức cho con. Cơm mẹ thì ngon, cơm con thì đắng. Có cha có mẹ thì hơn, không cha không mẹ nhƣ đờn không dây. Có chồng chẳng đƣợc đi đâu, có con chẳng đƣợc đứng lâu một giờ. Có chồng chẳng đƣợc đi đâu. Có chồng mà chẳng có con, khác nào hoa nở trên non một mình. Có của để cho con, không có để nợ cho con. Có con chẳng đƣợc đứng lâu một giờ. Có con không dậy để vậy mà nuôi. Có con nhờ con, có của nhờ của.

159

33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70 71

Có con phải khổ vì con, có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng. Có con phải khổ vì con. Có con tội sống, hai con tội chết, ba con hết tội. Có con tội sống, không có con tội chết. Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ. Có phúc đẻ con hay lội, có tội đẻ con hay trèo. Có vàng, vàng chẳng hay phô, có con, con nói trầm trồ mẹ nghe. Canh suông khéo nấu thì ngon, mẹ già khéo nói thì con đắt chồng. Cha "vặt, riệt", con đánh tiệt chõ xôi. Cha đào ngạch, con xách nồi. Cha để nhà cho trƣởng, cha ngất ngƣởng đi ăn mày. Cha anh hùng, con hảo hán. Cha bƣng mâm, con ngồi cỗ nhất. Cha bòn con phá. Cha cầm khoáng, con bẻ măng. Cha già đi nuôi con mƣợn Cha hổ mang đẻ con liu điu. Cha làm thầy, con bán sách. Cha mẹ giàu con có, cha mẹ khó con không. Cha mẹ hiền lành để phúc cho con Cha mẹ ngoảnh đi con dại, cha mẹ ngoảnh lại con khôn. Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi cha mẹ con kể từng ngày. Cha mẹ trông đi thì con dại, cha mẹ trông lại thì con khôn. Cha muốn cho con hay, thầy mong cho con khá. Cha sinh chẳng bằng mẹ dƣỡng. Cha sinh mẹ dƣỡng. Cha thƣơng con út, con út đái lụt chân giƣờng. Cha thắt khố dài, con cài thiết lĩnh. Cha trở ra trở vào, con ngồi cao gọi với. Cha truyền, con nối. Chỗ ƣớt mẹ nằm, ráo xê con lại. Chó cắn thì chìa con ra. Chim trời ai nỡ đếm lông, nuôi con ai nỡ kể công tháng ngày. Chú đánh cha tôi, tôi tha gì chú. Của mòn, con lớn. Cú đói ăn con. Con đâu cha mẹ đấy. Con đóng khố, bố cởi truồng. Con đẹn con sài, chớ hoài bỏ đi.

160

72 73 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 100 101 102 103 104 105 106 107 108

Con ai cha mẹ ấy. Con ai ngƣời ấy xót. Con biết nói, mẹ hói đầu. Con biết ngồi, mẹ rời tay. Con cái khôn ngoan vẻ vang cha mẹ. Con cãi cha mẹ trăm đƣờng con hƣ. Con có khóc, mẹ mới cho bú. - Con không khóc mẹ chẳng cho bú. Con có cha nhƣ nhà có nóc, con không cha nhƣ nòng nọc đứt đuôi. Con có cha nhƣ nhà có nóc. Con có cha, nhà có chủ. Con có mạ nhƣ thiên hạ có vua. Con có mẹ nhƣ măng ấp bẹ. Con chẳng chê cha mẹ khó, chó chẳng chê nhà chủ nghèo. Con cha, gà giống. Con dại cái mang. Con dòng thì bỏ xuống đất, con vật thì cất lên sàn. Con ấp vú mẹ. Con gái giống cha giàu ba đụn. Con gái giống cha giàu ba mƣơi đụn, con trai giống mẹ khó lụn tận xƣơng. Con gái mƣời bảy chớ ngủ với cha, con trai mƣời ba đừng nằm với mẹ. Con giữ cha, gà giữ ổ. Con giàu một bó, con khó một nén. Con hƣ bởi tại cha dung, vợ hƣ bởi tại anh chồng cả nghe. Con hƣ bởi tại cha dung. Con hƣ tại mẹ, cháu hƣ tại bà. Con hơn cha là nhà có phúc. Con học, thóc vay. Con khôn nở mặt mẹ cha. Con không cha nhƣ nòng nọc đứt đuôi. Con không cha thì con trễ, cây không rễ thì cây hƣ. Con khó có lòng. Con lên ba mới ra lòng mẹ. Con lên ba, mẹ sa xƣơng sƣờn. Con lở ghẻ, mẹ hắc lào. Con liền với ruột. Con mẹ, mẹ xót, xót gì con dâu. Con ngƣời ỉa đầu đƣờng thì thối, con mình ỉa đầu gối thì thơm.

161

109 110 111 112 113 114 115 116 117 118 119 120 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 131 132 133 134 135 136 137 138 139 140 141 142 143 144 145 146

Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông. Con thì mạ, cá thì nƣớc. Con voi, voi dấu; con châu chấu, châu chấu yêu. Con vua tốt, vua dấu, con tôi xấu tôi yêu. Con vua, vua dấu; con chúa, chúa yêu. Còn cha ăn cơm với cá. Còn cha gót đỏ nhƣ son, một mai cha thác gót con nhƣ chì. Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ lúc bơ vơ mới về. Dạy con tử thuở còn thơ. Ở nhà nhất mẹ nhì con, ra đƣờng lắm kẻ còn đẹp còn giòn hơn ta. Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn. Gái có con nhƣ bồ hòn có rễ. Gái chậm chồng, mẹ cha khắc khoải. Gái khôn thì chồng con nhờ, gái đần đơm đó thả lờ trôi sông. Gái làm chi, trai làm chi, sinh ra có nghĩa, có nghì là hơn. Ghe bầu chở lái về đông, làm thân con gái thờ chồng nuôi con. Giàu bán chó, khó bán con. Giàu lúc còn son, giàu lúc con lớn. Giầu bán ló (lúa), khó bán con. Hổ phụ sinh hổ tử. Hổ phụ sinh khuyển tử. Hai vợ chồng son, đẻ một con hoá bốn. Hồn rằng hồn thác ban ngày, thƣơng cha, nhớ mẹ, hồn rày thác đêm. Hay ăn miếng ngon chồng con trả ngƣời. Hay đi chợ để nợ cho con. Hiếu thuận hoàn sinh hiếu thuận tử, ngỗ nghịch hoàn sinh ngỗ nghịch nhi. Không cha, không mẹ, nhƣ đờn không dây Không con héo hon một đời. Không con, chó ỉa mả. Không mẹ lẹ chân tay. Khó thì hết thảo, hết ngay, công cha cũng bỏ, nghĩa thầy cũng quên. Làm thân con gái thờ chồng, nuôi con. Lên non mới biết non cao, nuôi con mới biết công lao mẫu từ. Liệu cơm gắp mắm, liệu con gả chồng. Máu loãng còn hơn nƣớc lã, chín đời họ mẹ còn hơn ngƣời dƣng. Mài mực dạy con, mài son đánh giặc. Mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ liếm lá đầu chợ (đƣờng). Mồ cha không khóc, khóc đống mối, mồ mẹ không khóc, khóc bối bòng bong.

162

147 148 149 150 151 152 153 154 155 156 157 158 159 160 161 162 163 164 165 166 167 168 169 170 171 172 173 174 175 176 177 178 179 180 181 182 183 184

Mồng một tết cha, mồng ba tết thầy. Một con so bằng ba con đẻ. Một con so bằng ba con dạ. Một con tội sống, hai con tội chết, ba con hết tội. Một mẹ già bằng ba đứa ở. Mất mẹ mất cha thật là khó kiếm, chớ đạo vợ chồng chẳng thiếu gì nơi. Một mẹ nuôi đƣợc mƣời con, mƣời con không nuôi đƣợc một mẹ. Một sào lúa non nuôi con nửa ngày. Mấy ai biết lúa gon, mấy ai biết con ác. Mấy ai biết lúa von, mấy ai biết con hƣ. Mẹ ăn cơm chả, con lả bụng. Mẹ ăn con trả. Mẹ đánh một trăm không bằng cha ngăm một tiếng. Mẹ đần lại đẻ con đần, gạo chiêm đem giã mấy lần vẫn chiêm. Mẹ cú con tiên, mẹ hiền con xục xạc. Mẹ con một lần da đến ruột. Mẹ dạy thì con khéo, bố dạy thì con khôn. Mẹ em tham giàu bắt chạch đằng đuôi. Mẹ già thì sâu nƣớc ăn. Mẹ hát con khen hay. Mẹ hát con khen, ai chen vô lọt. Mẹ kêu mặc mẹ, thƣơng chồng phải theo. Mẹ lá rau lá má, con đầy rá đầy mâm. Mẹ lừa ƣa con ngọng. Mẹ nào con ấy. Mẹ ngoảnh đi con dại, mẹ ngoảnh lại con khôn. Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi mẹ con kể từng ngày. Mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày. Mẹ nuôi con dùng dùng nén nén, con nuôi mẹ không đƣợc một nẹn trong tay Mẹ sống bằng hai bàn tay, con ăn mày bằng hai đầu gối. Mẹ sớm chiều ngƣợc xuôi tất tƣởi, con đầy ngày đám dƣới đám trên. Mẹ tròn con méo. Mẹ với con lúa non cũng lấy. Muốn đánh thì đẻ con ra, muốn ăn thì thổi cơm nhà mà ăn. Muốn đánh thì đẻ con ra. Muốn con hay chữ thời yêu lấy thầy. Muốn nói ngoa làm mẹ cha mà nói. Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.

163

185 186 187 188 189 190 191 192 193 194 195 196 197 198 199 200 201 202 203 204 205 206 207 208 209 210 211 212 213 214 215 216 217 218 219 220 221 222 223 224

Ngày sau con tế ba bò, sao bằng lúc sống con cho lấy chồng. Ngầm ngập nhƣ mẹ gặp con, lon son nhƣ con gặp mẹ. Ngƣời ăn thì còn, con ăn thì mất. Nghe con lon xon mắng láng giềng. Nhà gần chợ, để nợ cho con. Nhà khó đẻ con khôn. Nhất mẹ nhì con. Nhớn vú bụ con. Nhiều con giòn mẹ. Nuôi con ai nỡ kể tiền cơm. Nuôi con chẳng dạy chẳng răn, thà rằng nuôi lợn mà ăn lấy lòng. Nuôi con không phép kể tiền cơm. Nuôi con thì tốn tiền quà, nuôi gà thì tốn tiền thóc. Nuôi con trống dạ, đổ vạ ông vải. Nuôi con trong dạ đổ vạ cho ông vải. Nuôi con trong dạ mang vạ vào thân. Phụ tử tình thâm. Phụ trái tử hoàn, tử trái phụ bất can. Sành sẹ nhƣ mẹ với con, lon ton nhƣ con với mẹ. Sẩy cha ăn cơm với cá, sẩy mẹ lót lá mà nằm. Sẩy cha có chú, sẩy mẹ bú dì.. Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ ấp vú dì. Sinh đƣợc một con, mất một hòn máu. Sinh con ai chẳng vun trồng cho con Sinh con ai nỡ sinh lòng, mua dƣa ai biết trong lòng quả dƣa. Sinh con ai nỡ sinh lòng, sinh con ai chẳng vun trồng cho con. Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Thƣơng ai ví bằng thƣơng con. Thƣơng con bằng roi, thƣơng con đòi thì thƣơng bằng rơm. Thƣơng con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi. Thƣơng con mà dễ, thƣơng rể mà khó. Thƣơng con ngon rau. Thƣơng con ngon rể, vác ghế đi tìm. Thƣơng con thì cho ăn quà, nuôi gà phải tốn thóc. Thờ cha kính mẹ đã đành, theo đôi theo lứa mới thành thất gia. Thứ nhất thì chết mất cha, thứ nhì buôn vã, thứ ba ngƣợc đò. Thứ nhất thì mồ côi cha, thứ nhì gánh vã, thứ ba buôn thuyền. Trẻ cậy cha, già cậy con. Uốn cây từ thuở còn non, dạy con từ thuở con còn ngây thơ. Vợ dại đẻ con khôn.

164

225 226 227

Yêu con cậu, mới đậu con mình. Yêu con ngƣời, mát con ta. Yêu con, ngon của. 1.5. QUAN HỆ ANH CHỊ EM

TT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33

NỘI DUNG Đi việc làng giữ lấy họ, đi việc họ giữ lấy anh em. Anh em chém nhau đằng dọng, không chém đằng lƣỡi. Anh em gạo, đạo ngãi tiền. Anh em hạt máu sẻ đôi Anh em hiền thậm là hiền, bởi một đồng tiền nên mất lòng nhau. Anh em khinh trƣớc, làng nƣớc khinh sau. Anh em nhƣ chân tay. Anh em nhƣ chông, nhƣ mác. Anh em rể đúng lệ mà theo, sợ cái mắt nheo của ông con trƣởng. Anh em trai ở với nhau mãn đại, chị em gái ở với nhau một thời. Anh em trong nhà, đóng cửa bảo nhau. Anh em xem mặt cho vay. Anh ngủ, em thức; em chực, anh đi nằm. Anh thuận em hoà là nhà có phúc Có chú chê anh hèn, không chú rèn lấy anh. Cắt dây bầu, dây bí, chẳng ai cắt dây chị, dây em. Chẳng khôn thể chị lâu ngày, chị đái ra váy cũng tày em khôn. Chị dại đã có em khôn. Chị em hiền thật là hiền, lâm đến đồng tiền mất cả chị em. Chị em không thèm đến ngõ. Chị em nắm nem ba đồng. Chị em trên kính dƣới nhƣờng, là nhà có phúc mọi đƣờng yên vui. Chị ngã em nâng. Của anh nhƣ của chú. Con chị cõng con em, con em lèn con chị. Con chị dắt con em. Em khôn cũng là em chị, chị dại cũng là chị em. Em ngã thì chị phải nâng, đến khi chị ngã em bƣng miệng cƣời. Em thuận, anh hoà là nhà có phúc. Huynh đệ nhƣ thủ túc. Khôn ngoan đá đáp ngƣời ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. Khôn với vợ, dại với anh em. Làm chị phải lành, làm anh phải khó.

165

34 35 36 37 38 39 40

Nghèo thì giỗ tết, giàu hết anh em. Phận đàn em ăn thèm vác nặng. Quyền huynh thế phụ. Tiền lĩnh quần chị không bằng tiền chỉ quần em. Tiền lĩnh quần chị, bằng tiền chỉ quần em. Yêu con cậu, mới đậu con mình. Yêu nhau chị em gái, rái nhau chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu là anh em rể. 1.6. QUAN HỆ CON DÂU, CON RỂ NỘI DUNG Ƣa nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng. Bình phong cẩn ốc xà cừ, vợ hƣ rầy vợ đừng từ mẹ cha. Bắt chấy cho mẹ chồng, thấy bồ nông dƣới biển. Bố chồng là ông lợn bạch, mẹ chồng là đách lợn lang, Bố chồng là lông con phƣợng, mẹ chồng là tƣợng mới tô, nàng dâu là bồ nghe chửi. Bố chồng nhƣ lông con phƣợng, mẹ chồng nhƣ tƣợng mới tô. Bố vợ là vớ cọc chèo, mẹ vợ là bèo trôi sông, chàng rể là ông Ba vì. Có phúc là dâu, vô phúc là bâu là báo. Có phúc là nàng dâu, vô phúc là cái báo. Chăn tằm rồi mới ƣơm tơ, làm dâu rồi mới đƣợc nhƣ mẹ chồng. Chƣa học làm dâu đã hay đâu làm mẹ chồng. Chê mẹ chồng trƣớc đánh đau, phải mẹ chồng sau mau đánh. Chồng dữ thì lo, mẹ chồng dữ đánh co mà vào. Của mình để, của rể thì bòn. Con dâu mới về đan bồ chịu chửi. Con mẹ, mẹ xót, xót gì con dâu. Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng. Dâu dâu rể rể cũng kể là con. Dâu hiền hơn con gái, rể hiền hơn con trai. Dâu hiền nên gái, rể hiền nên trai. Dâu là con, rể là khách. Làm dâu vụng kho, chồng không bắt bẻ mụ o nhún trề. Làm rể chớ xáo thịt trâu, làm dâu chớ đồ xôi lại. Làm rể nhà giàu vừa đƣợc cơm no, vừa đƣợc bò cƣỡi.

STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24

166

25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39

Lựa đƣợc con dâu, sâu con mắt. Một bát cơm cha bằng ba bát cơm rể. Mẹ chồng dữ mẹ chồng chết, nàng dâu có nết nàng dâu chừa. Mẹ chồng không ai nói tốt nàng dâu, nàng dâu đâu có nói tốt mẹ chồng. Mẹ chồng mà dữ mổ bò ăn khao. Mẹ chồng nàng dâu, chủ nhà ngƣời ở yêu nhau bao giờ. Mẹ chồng vai gồng vai gánh, cƣới dâu về để thánh lên thờ. Nàng dâu mới về là bà hoàng hậu. Nàng dâu mới về là hoàng thái hậu. Nuôi dâu thì dễ, nuôi rể thì khó. Rau muống tháng chín, nàng dâu nhịn cho mẹ chồng ăn. Rể hiền hơn con trai. Thƣơng con mà dễ, thƣơng rể mà khó. Thật thà cũng thể lái trâu, yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng. Trƣớc làm nàng dâu, sau mới làm mẹ chồng.

2. CA DAO 2.1. QUAN HỆ VỢ CHỒNG - GẮN BÓ STT 1. 2. 3. NỘI DUNG Ai chèo ghe bí qua sông Đạo vợ nghĩa chồng nặng lắm anh ơi! Ai đi bờ đắp một mình Phất phơ chéo áo giống hình phu quân. Ai đi đợi với tôi cùng Tôi còn sắp sửa cho chồng đi thi Chồng tôi quyết đỗ khoa này Chữ tốt nhƣ rắn, văn hay nhƣ rồng Bõ khi xắn váy quai cồng Cơm niêu nƣớc lọ nuôi chồng đi thi. Ai kêu ai hú bên sông Tôi đang nấu nƣớng cho chồng tôi ăn. Ai kêu léo nhéo bên sông Tôi đƣơng vá áo cho chồng tôi đây. BK a- Ai kêu veo véo bên sông

4. 5.

167

6.

7. 8. 9. 10.

11.

12. 13. 14.

- Ai kêu xeo xéo bên sông b- Tôi đƣơng sắm thuốc cho chồng tôi đây - Tôi đƣơng bắt ốc cho chồng tôi đây - Tôi đang vá áo cho chồng tôi đây - Tôi còn vá áo cho chồng tôi đây. Ai kêu, ai hú bên sông? Tôi đang sắm sửa cho chồng xuống ghe Chồng xuống ghe, quạt che tay ngoắt Cất mái chèo ruột thắt từng cơn... Ai kia một mạn thuyền bồng Kẻ loan ngƣời phƣợng, mặc lòng ngƣợc xuôi. Ai về bên ấy bây giờ Cho tôi gởi một bức thƣ thăm chồng. Ai về Cầu Ngói, Gia Lê Cho em về với, thăm quê bên chồng. Ai về Phú Lộc(1) gửi lời Thƣ này một bức nhắn ngƣời tri âm Mối tơ chín khúc ruột tằm Khi tháng, tháng đợi mà năm, năm chờ Vì tình, ai lẽ làm ngơ Cắm sào chỉ quyết đợi chờ nƣớc xuân Ƣớc sao chỉ Tấn tơ Tần Sắt cầm hảo hợp lựa vần quan thƣ Đôi bên ý hợp lòng ƣa Mới phu công thiếp mới vừa lòng anh Thiếp thời tần tảo cửi canh Chàng thời nấu sử sôi kinh kịp thì Một mai chiếm bảng xuân vi ấy là đề diệp tinh kỳ từ đây Ai ơi nghe thiếp lời này. (1) Phú Lộc: thuộc huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Ai xui anh lấy đƣợc mình Để anh vun xới ruộng tình cho xanh Ai xui mình lấy đƣợc anh Bõ công bác mẹ sinh thành ra em. Ăn cà ngồi cạnh vại cà Lấy anh thì lấy đến già mới thôi. Ăn cam ngồi gốc cây cam Lấy anh về Bắc về Nam cũng về. Anh ơi! phải lính thì đi Cửa nhà đơn chiếc đã thì có tôi

168

15.

16.

17. 18. 19.

20.

21. 22.

23.

Tháng chạp là tiết trồng khoai Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà Tháng ba cày bở ruộng ra Tháng tƣ gieo mạ thuận hoà mọi nơi Tháng năm gặt hái vừa rồi Trời đổ mƣa xuống, nƣớc trôi đầy đồng Anh ơi, giữ lấy việc công Để em cày cấy mặc lòng em đây. Anh đi chơi nhởn đâu đây? Phải cơn mƣa này ƣớt áo lấm chân Chậu nƣớc em để ngoài sân Em chờ anh rửa xong chân, anh vào nhà Vào nhà em hỏi tình ta Trăm năm duyên ngãi mặn mà hay không? Anh đi làm mƣớn nuôi ai Cho áo anh rách, cho vai anh mòn? - Anh đi làm mƣớn nuôi con áo rách mặc áo, vai mòn mặc vai. Anh em cốt nhục đồng bào Vợ chồng là nghĩa lẽ nào chẳng thƣơng? Anh lanh cƣới vợ cho lanh Đến khi có khách đỡ anh trăm bề. Anh ra đi, em lập kiểng trồng hoa Anh về hoa đã đƣợc ba trăm nhành Một nhành đã chín búp xanh Bán ba đồng một để dành có nơi Bây giờ đến lúc thảnh thơi Cậy anh tính thử vốn lời bao nhiêu. Anh tới nhà em, anh ăn cơm với cá Em tới nhà anh, em ăn rau má với cua đồng Khó em chịu khó, đạo vợ chồng em vẫn thƣơng. áo vá vai, vợ ai không biết áo vá quàng, chí quyết vợ anh. Ba năm sƣơng tuyết lạnh lùng Một giờ ôm ấp thoả lòng ƣớc ao Nắng lâu gặp trận mƣa rào Bõ công chờ đợi dầu hao bấc tàn. Bao giờ lúa trỗ vàng vàng Cho anh đi gặt cho nàng quảy cơm. BK - Mong sao cho lúa vàng vàng

169

24.

25.

Cho anh đi gặt cho nàng đem cơm. - Trông sao cho lúa vàng vàng Cho anh đi gặt cho nàng đem cơm. - Trời mƣa cho lúa chín vàng Cho anh đi gặt cho nàng quảy cơm. - Trăng chƣa cho lúa vàng vang Cho anh đi cắt cho nàng quảy cơm. - Bao giờ cho lúa vàng vàng Cho anh đi cắt cho nàng bới cơm. - Trời mƣa cho lúa chín vàng Cho anh đi gặt cho nàng đem cơm. Bên đây sông bắc cầu mƣời tấm ván Bên kia sông lập cái quán mƣời hai từng Bán buôn nuôi mẹ cầm chừng Sáng chiều đăm đắm trông chừng đợi anh. Bên lƣơng bên giáo, bên đạo cũng nhƣ bên ta Về đây ta kết nghĩa giao hoà Phải duyên phải kiếp, áo Chúa Bà ta mặc chung. Bông bống bồng bồng Trai ơn vua chầu chực sân rồng Gái ơn chồng ngồi võng ru con Ơn vua xem trọng bằng non Ơn chồng, nhờ phúc tổ tông dõi truyền Làm trai lấy đƣợc vợ hiền Nhƣ cầm đồng tiền mua đƣợc của ngon Phận gái lấy đƣợc chồng khôn Xem bằng cá vƣợt Vũ Môn(1) hoá rồng Bông bống bồng bồng Bồng bống bồng bông. (1) Cá vƣợt Vũ Môn hoá rồng, Cửa Vũ, Cửa Võ: cũng gọi là Long Môn, ở thƣợng lƣu sông Hoàng Hà, giữa huyện Hà Tân, tỉnh Sơn Tây và huyện Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc). Nơi đây có mỏm đá nhƣ hình cái cửa. Truyền thuyết kể rằng thời thƣợng cổ, vua Vũ nhà Hạ trị thuỷ đã đục phá mỏm đá này cho rộng thêm ra, nên gọi là Vũ Môn (cửa vua Vũ). Theo Tam Tân ký và Thuỷ kinh chú thì Vũ Môn có sóng dữ, hàng năm vào tiết tháng ba, cá chép tập trung đến đây thi vƣợt qua Vũ Môn. Con nào vƣợt qua đƣợc chỉ trốn trƣờng thi và việc thi đỗ đƣợc gọi là vƣợt qua cửa Vũ. Theo Đại Nam nhất thống chí, ở nƣớc ta cũng có Vũ Môn ở dãy núi Khai Trƣớng (núi Giăng Màn) thuộc

26.

170

27. 28.

29.

30. 31.

huyện Hƣơng Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là một con suối lớn có ba bậc. Truyền thuyết kể rằng hàng năm đến tháng tƣ mƣa to, cá chép ngƣợc dòng nhảy qua Vũ Môn để hoá rồng. Cơm chiên ăn với cá ve Thiếp đây chàng đấy, buôn bè ra khơi. Cơm không lành, canh không ngọt Tôi với mình đã trót lấy nhau Thề cam tâm mà chịu, chớ để nhau sao đành. Cái bống là cái bống bình Thổi cơm nấu nƣớc một mình mồ hôi Rạng ngày có khách đến chơi Cơm ăn rƣợu uống cho vui lòng chồng Rạng ngày ăn uống vừa xong Tay nhấc mâm đồng, tay trải chiếu hoa Nhịn miệng đãi khách đàng xa ấy là của gửi chồng ta ăn đàng. Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đƣa chồng tiếng khóc nỉ non. Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo cho chồng tiếng khóc nỉ non Nàng về nuôi cái cùng con Cho anh đi chẩy nƣớc non Cau Bằng. BK (a) Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đƣa chồng tiếng khóc nỉ non - Nàng về nuôi cái cùng con Để anh đi trẩy nƣớc non Cao Bằng Ở nhà có nhớ anh chăng? Để anh kể nỗi Cao Bằng mà nghe. (b) Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đƣa chồng tiếng khóc nỉ non Nàng ơi trở lại cùng con Để anh đi trẩy nƣớc non kịp ngƣời Cho kịp chân ngựa, chân voi Cho kịp chân ngƣời kẻo thiếu việc quan. (c) Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đƣa chồng nƣớc mắt nỉ non Nàng bay trở lại cùng con Để anh đi trẩy nƣớc non Cao Bằng Chân đi đá lại dùng dằng Nửa nhớ Cao Bằng, nửa nhớ vợ con

171

32.

33.

34.

Đi thời nhớ vợ cùng con Khi về nhớ củ khoai môn trên rừng. (d) Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đƣa chồng tiếng khóc nỉ non Nàng về nuôi cái cùng con Cho anh đi trẩy nƣớc non Cao Bằng Ngày đi trúc chửa mọc măng Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre Ngày đi lúa chửa chia vè Ngày về lúa đã đỏ hoe đầy đồng Ngày đi em chửa có chồng Ngày về em đã tay bồng tay mang Con thì chẻ nứa đan giƣờng Con thì vặn dây đan võng cho nàng ru con. Cái gì anh đổ vào bồ? Cái gì róc vỏ phơi khô để dành? Cái gì anh thả vào xanh? Cái gì lắt lẻo trên cành tốt tƣơi? Cái gì đi chín về mƣời? Cái gì sống đủ trên đời đƣợc tám trăm năm? Cái gì chung chiếu chung chăn? Cái gì chung bóng ông trăng trên trời? - Lúa khô anh đổ vào bồ Cau thì róc vỏ phơi khô để dành Con cá anh bỏ vào xanh Bông hoa lắt lẻo trên cành tốt tƣơi Mặt Trăng kia đi chín về mƣời Ông Bành Tổ (1) sống đủ trên đời đƣợc tám trăm năm Vợ chồng chung chiếu chung chăn Đôi ta chung bóng ông trăng trên trời. (1) Bành Tổ: Nhân vật thần thoại Trung Quốc, bề tôi của vua Nghiêu, đƣợc phong ở đất Bành Thành, tƣơng truyền thọ tám trăm tuổi. Cái ngủ mày ngủ cho lâu Mẹ mày đi cấy đồng sâu chƣa về. Bắt đƣợc con giếc con trê Cầm cổ lôi về bắc nƣớc làm lông Miếng nạc thời để phần chồng Miếng xƣơng mẹ gặm, miếng lòng con ăn. Cái quạt mƣới tám cái nan Ở giữa phất giấy, hai nan hai đầu

172

35.

36. 37.

38.

39.

40. 41.

42.

Quạt này anh để che đầu Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này Ƣớc gì chung mẹ chung thầy Để em giữ cái quạt này làm thân Rồi ta chung gối chung chăn Chung quần chung áo, chung khăn đội đầu Nằm thời chung cái giƣờng tàu Dậy thời chung cả hộp trầu ống vôi Ăn thời chung cả một nồi Gội đầu chung cả dầu hồi nƣớc hoa Chải đầu chung cái lƣợc ngà Soi gƣơng chung cả ngành hoa giắt đầu. Cái số tôi giàu Số nghèo chín đụn, mƣời trâu cũng nghèo Phải duyên phải kiếp thì theo Lấy tôi chớ quản khó nghèo làm chi Chúng tôi đây quân tử nhất thì Đẹp duyên cứ lấy lo gì mà lo Đôi ta đã trót hẹn hò Đẹp duyên cứ lấy chớ lo bạc tiền. Canh ba trống điểm trên lầu Phần thƣơng cho vợ, phần sầu cho con. Canh cải mà nấu với gừng Không ăn thời chớ xin đừng mỉa mai Khuyên chàng đừng ở đơn sai Vắng mặt chàng sẽ yêu ai mặc lòng. Câu lƣơng duyên thề nguyền giao ƣớc Nghĩa sắt cầm giữ vẹn trƣớc cũng nhƣ sau Anh chớ có thấy sang mà bỏ bạn cựu Chớ có phụ khó tham giàu mà bỏ em. Cầu mô cao bằng cầu danh vọng Nghĩa mô nặng bằng nghĩa chồng con Ví dầu nƣớc chảy đá mòn Xa nhau nghìn dặm lòng còn nhớ thƣơng. Cây đa bến cũ năm xƣa Chữ tình ta cũng đón đƣa cho trọn đời. Cây trăm nhánh cùng về một cội Nƣớc nghìn sông chảy hội một dòng Ai dầu lánh đục tìm trong Đây em vẫn giữ một lòng với anh. Chân trời lính mộ chàng ra đi

173

43. 44.

45.

46.

47.

48. 49.

50.

51. 52. 53. 54.

Lo chàng lao khổ, chớ sá gì mẹ con tôi. Chàng ơi, chớ bực sầu tƣ Khi xƣa có mẹ, bây chừ có em. Chẳng ai đẹp bằng anh chồng tôi Cái miệng cái môi, nhắm nha nhắm nhẩy Hay vẽ, hay viết, hay cuốc hay phát Làm thầy, làm thợ, việc làng việc xã, đủ cả mọi điều. Chàng đề phú, thiếp đề thơ Tƣởng nhân duyên ấy bao giờ cho quên Khuyên chàng giữ việc bút nghiên Đừng tham nhan sắc mà quên học hành. Chàng đừng trời tối trông sao Cho cực lòng thiếp cho đau lòng chàng Đêm qua nằm cạnh nhà ngang Lầu suông gió lọt, thƣơng chàng biết bao. Chẳng giậm thì thuyền chẳng đi Giậm ra ván nát thuyền thì long đanh Đôi ta lên thác xuống ghềnh Em ra đứng mũi để anh chịu sào Sông Bờ, sông Mã, sông Thao Ba ngọn sông ấy đổ vào sông Gâm. Chàng lên non, thiếp cũng lên non Chàng lên trời, vƣợt biển, thiếp cũng bồng con theo chàng. Chàng về thiếp cũng về theo Qua truông, rồi lại lên đèo Mấy sông mấy cụm, cũng trèo cũng qua. Chàng thốt ra, thiếp đây luỵ sa không ráo Thốt ra chi mà thảm não rứa chàng Giàu ngƣời ta mâm thau, đũa trắc, chén ngọc bịt vàng Khó đôi đứa mình đọi dá mâm nan Thế mô thế ni theo nhau cho trọn, thiếp không phàn nàn mà chàng lo. Chè Ô Long nấu nƣớc ấm đồng Để vô bình tích thuỷ đãi đằng lang quân. Chi ngon bằng gỏi cá nhồng Chi vui bằng đƣợc tin chồng vinh qui. Chim chuyền nhành ớt, rớt xuống nhành mai Vợ chồng xa cách, lâm ai cũng buồn. Chim đa đa đậu nhánh đa đa Mãn mùa đa nhảy qua cây khế Em đang còn tang chế khó lắm anh ơi!

174

55. 56.

57.

58.

59. 60. 61.

62. 63.

64. 65. 66. 67.

Bao giờ chế mãn tang hồi Em ra tạ từ phần mộ, khi nớ mới trao lời nợ duyên. Chim quyên ăn trái nhãn lồng Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi. Chim quyên ăn trái ổi tàu Thƣơng nhau bất luận khó giàu mà chi Chữ rằng chi tử vu qui Làm thân con gái phải đi theo chồng. Chim xa bầy thƣơng cây nhớ cội Vợ xa chồng đạo nghĩa nào sai Vàng ròng cả lửa chẳng phai Ở cho chúng thuỷ có ngày gặp nhau. Chồng già vợ trẻ mới xinh Vợ già chồng trẻ nhƣ hình chị em Vợ chồng may rủi là duyên Vợ chồng hoà thuận là tiên trên đời. Chồng giận thì vợ bớt lời Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê. Chồng giận thì vợ làm lành Miệng cƣời hớn hở rằng: Anh giận gì? Chồng giận thì vợ làm lành Miệng cƣời chúm chím: Thƣa anh giận gì? Thƣa anh, anh giận em chi Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho. Chồng sang vợ đƣợc đi giầy Vợ sang chồng đƣợc ghe ngày cậy trông. Chồng ta áo rách ta thƣơng Chồng ngƣời áo gấm xông hƣơng mặc ngƣời. BK Chồng ngƣời áo gấm xênh xang mặc ngƣời. Chồng tôi đi đã ba đông Hẹn về năm ngoái sao không thấy về ? Chữ rằng: chi tử vu qui Làm thân con gái phải đi theo chồng. Chữ rằng: quân tử tạo đoan Vợ chồng là nghĩa đá vàng trăm năm. Có ai những bận cùng ai Vắng ai gƣờng rộng chiếu dài đễ lăn Vì chàng thiếp phải mua mâm Những nhƣ mình thiếp bốc ngầm cũng xong Vì chàng thiếp phải long đong

175

68.

69. 70. 71.

72.

73. 74. 75. 76. 77. 78. 79.

80.

Những nhƣ mình thiếp là xong đôi bờ. Có chàng, nói một cƣời hai Vắng chàng em biết lấy ai than cùng? Trời ơi; có thấu tình chăng Một ngày đằng đẵng xem bằng ba thu. Có chồng kẻ đón ngƣời đƣa Không chồng đi sớm về trƣa mặc lòng. Có chồng nhƣ ngựa có yên Anh đây lẻ bạn nhƣ chim quyên lạc bầy. Có chồng ông nọ bà kia Không chồng nhƣ thúng nhƣ nia bung vành -Không chồng bạn nói rằng hƣ Có chồng biết bỏ mẫu từ cho ai? Có chồng thì phải theo chồng Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo Có chồng thì phải theo chồng Đắng cay cũng chịu, mặn nồng cũng vui. Có chồng thì phải theo chồng Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo. Có chồng thì phải theo chồng Đắng cay phải chịu, mặn nồng phải theo. Có chồng thủ phận thủ duyên Trăm con bƣớm đậu cửa quyền xin lui. Có con gây dựng cho con Có chồng gánh vác nƣớc non nhà chồng. Có con phải khổ vì con Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng. Có con rễ bấn, rễ bàng Không con thiếp ở với chàng không công. Con chim nho nhỏ Lông đuôi nó đỏ Cái mỏ nó vàng Nó đậu cành bàng Nó kêu, bớ Tiết Đinh Sơn! Bớ chàng Ninh Sĩ! Em có chồng rồi, em không thể nghĩ đến anh. Con cuốc kêu khắc khoải mùa hè Làm thân con gái phải nghe lời chồng Sách có chữ rằng: phu xƣớng phụ tòng Làm thân con gái lấy chồng xuất gia Lấy em về thờ mẹ, kính cha Thờ cha, kính mẹ ấy là ngƣời ngoan.

176

81.

82.

83.

84.

Con gái thì đà nên con gái Cái áo em mặc chải chải hoa hồng Trong yếm đại hồng chuỗi xe con toán Cái quai thao chàm em đội trên đầu Cái nhôi thao dập dìu đỏ chói Lỗ miệng em nói có đôi đồng tiền Nhƣ cánh hoa sen giữa ngày mới nở Mẹ em đi chợ có kẻ gánh gồng Anh đứng anh trông má hồng đỏ thắm Anh đứng anh ngắm đẹp đẽ làm sao Con cháu ông nào chân đi đẹp đẽ Anh có vợ rồi chẳng lẽ anh theo. BK Con gái đƣơng thời đã nên con gái Cái áo mặc chải chải hoa hồng Trong yếm đại hồng, chuỗi xe con toán Cái quai dâu chạm đội trên đầu Cái nhôi dâu gấp, quấn vào đỏ chói Lỗ miệng em nói có hai đồng tiền Nhƣ cánh hoa sen giữa ngày mới nở Khi em đi chợ có kẻ gánh gồng Anh đứng anh trông má hồng đỏ thắm Anh đứng anh ngắm đẹp dẽ làm sao! Lấy anh, anh sắm sửa cho Sắm ăn sắm mặc, sắm cho chơi bời Khuyên em có bấy nhiêu lời Thuỷ chung nhƣ nhất là ngƣời phải nghe Mùa đông lụa lụa the the Mùa hè bán bạc hoa xoè sắm khăn Sắm gƣơng sắm lƣợc sắm khăn đựng trầu Sắm cho em lƣợc chải đầu Cái ống đựng sáp vuốt đầu cho xinh. Con xa mẹ thèm ăn khát bú Vợ xa chồng, đi thú biệt li Đêm nằm ấp lấy hài nhi Con hời con hỡi, cha con phƣơng nào. Công danh theo đuổi mà chi Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông Sớm khuya có vợ có chồng Cầy sâu bừa kỹ mà mong đƣợc mùa. Công nợ thiếp trả cho chàng

177

85.

86.

87.

88. 89.

90. 91.

92.

93. 94. 95.

Xin đừng lên thác, xuống hàn (1) nắng mƣa. (1) Hàn: chỗ nƣớc chảy mạnh dƣới có lƣờn đá ngầm. Củ lang Đống Ngỗ Đỗ phụng Đồng Đinh Chàng bòn thiếp mót Để chung một gùi. Cùng nguyền một tấm lòng son Anh dầu có phụ keo sơn có trời Sống dƣơng gian hai đứa đôi nơi Thác xuống âm phủ cũng nhớ lời thề xƣa. Dạ ai hoài dù cho xa ngái Em xin chàng chớ ngại đừng nghi Để cho em lên Đợi xuống Tuy (1) Đắt làm thuê, ế làm mƣớn đỡ khi đói nghèo. (1) Lên Đợi xuống Tuy, lên Đại Phong xuống Tuy lộc; hai địa điểm trên thuộc huyện Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình. Đã rằng là nghĩa vợ chồng Dầu cho nghiêng núi, cạn sông chẳng rời. Đang khi chồng giận mình đi Hết khi nóng giận đến khi vui vầy Ngãi nhân nhƣ bát nƣớc đầy Bƣng đi mà đổ hốt rày đặng đâu. Dang tay đánh thiếp sao đành Tấm rách ai vá, tấm lành ai mang? Đạo cang thƣờng khó lắm bạn ơi Chẳng dễ nhƣ ong bƣớm đậu rồi lại bay Đạo cang thƣờng khá dễ đổi thay Dầu làm nên võng giá, rủi ăn mày cũng theo nhau. Đạo vợ chồng hôm ấp mai ôm Phải đâu cua cá với tôm Khi đòi mớ nọ khi chồm mớ kia. Đạp xe nƣớc chảy lên đồng Bao nhiêu nƣớc chảy, thƣơng chồng bấy nhiêu. Dầu ai áo rách nón xơ Quyết theo nhau cho trọn đạo, ông Tơ đã đề. Đầu đội chúa, vai mang cốt mẹ Tay dìu dắt cha già Gặp mặt đây nƣớc mắt nhỏ sa Thò tay trong túi bà ba Lấy cái khăn mu soa anh chặm Đạo vợ chồng ngàn dặm không quên.

178

96. 97.

98.

99. 100. 101.

102. 103. 104.

Dầu xa nhau năm bảy ngày đƣờng Duyên ƣa phận đẹp thì nƣờng cũng theo. Dãy dọc toà ngang, giàu sang có số Kim Long(1), Nam Phổ(2), nƣớc đổ về sình(3) Đôi đứa mình chút nghĩa ba sinh Có làm răng đi nữa cũng không đành bỏ nhau. BK a- Nhƣ đôi lứa mình chút nghĩa ba sinh b- Có làm răng đi nữa đôi lứa mình không bỏ nhau! (1) Kim Long: một làng bên bờ sông Hƣơng, trên con đƣờng từ Huế đi thiên Mụ. (2) Nam Phổ: còn gọi là nam Phố, nằm trên con đƣờng từ Huế đi Thuận An. (3) Sình: địa điểm thuộc Huế. Đêm hè gió mát trăng thanh Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp thừng Lạt chẳng mỏng, sao thừng đƣợc tốt? Duyên đôi ta đã trót cùng nhau Trăm năm thề những bạc đầu Chớ tham phú quí, đi cầu trăng hoa. Đèn lồng khi xách khi treo Vợ chồng khi thảm, khi nghèo có nhau. Đi đâu có anh có tôi Ngƣời ta mới biết rằng đôi vợ chồng. Đi đâu có anh có tôi Ngƣời ta mới biết có đôi vợ chồng Đi đâu cho thiếp đi cùng Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam. Đi đò tát nƣớc cho chuyên Lấy chồng thì phải giữ duyên cho chồng. Đi thời nhớ vợ nhớ con Về thời nhớ củ khoai môn trên rừng. Đôi bên bác mẹ cùng già Lấy anh hay chữ để mà cậy trông Mùa hè cho chí mùa đông Mùa nào thức ấy cho chồng ra đi Hết gạo thiếp lại gánh đi Hỏi thăm chàng học ở thì nơi nao? Hỏi thăm đến ngõ thì vào Tay đặt gánh xuống, miệng chào: thƣa anh! BK

179

105.

106. 107.

108.

109. 110.

(a) Cây cao gió đƣợm la đà Thấy anh hay chữ em đà cậy trông Mùa hè cho chí mùa đông Mùa nào áo nấy cho chồng đi thi Hết gạo em lại gánh đi Hỏi thăm trƣờng học ở thì nơi nao Hỏi thăm chỗ đến liền vào Vai thì đặt gánh, miệng chào: thƣa anh! (b) Trèo lên cây khế nửa ngày Ai làm chua xót lòng này khế ơi! Khế chết đi, khế lại mọc chồi Cây sung có nhị, cây hành có hoa Đôi bên bác mẹ thì già Lấy anh hay chữ để mà cậy trông Mùa hè cho chí mùa đông Mùa nào áo ấy cho chồng đi thi Hết gạo em gánh gạo đi Hỏi thăm trƣờng học vậy thì nơi nao? Hỏi thăm đến ngõ mà vào Tay cất gánh gạo miệng chào: thƣa anh. Đôi bên bác mẹ tƣ tề Anh đi làm rể em về làm dâu Chẳng tham nhà gỗ xoan đâu Tham vì một nỗi em mau miệng cƣời Trăm quan mua một miệng cƣời Trăm quan không tiếc, tiếc ngƣời hồng nhan. Đói no một vợ một chồng Một niêu cơm tấm, dầu lòng ăn chơi. Đôi ta nhƣ cánh hoa đào Vợ đây chồng đây ai nào kém ai? Đôi ta nhƣ bông hoa nhài Vợ đây chồng đấy kém ai trên đời? Đôi ta vợ cấy chồng cày Chồng nay sƣơng sớm vợ nay sƣơng chiều Ta nghèo vui phận ta nghèo Quản chi sƣơng sớm, sƣơng chiều, hỡi anh! Đốn cây ai nỡ dứt chồi Đạo chồng nghĩa vợ, giận rồi lại thƣơng. Đốt than nƣớng cá cho vàng Đem tiền mua rƣợu cho chàng uống chơi Phòng khi có khách đến chơi

180

111. 112. 113.

114.

115. 116.

117.

118.

119.

120.

Cơm ăn, rƣợu uống cho vui lòng chàng. Ở sao nhƣ lụa đừng phai Tình chồng nghĩa vợ nhớ hoài không quên. Em có chồng rồi nhƣ ngựa có cƣơng Ngõ em em đứng, đƣờng trƣờng anh đi. Em đã thuận lấy anh chƣa Để anh đốn gỗ rừng Nƣa(1) đóng thuyền? Con thuyền mang đôi chữ nhân duyên Chồng chèo vợ chống, thuyền quyên chẳng vời. Em đƣa anh lên ga Thuận Lí(1) Ba giờ chiều vô nghỉ Đông Hà(2) Phần thời anh thƣơng mẹ nhớ cha Phần thời thƣơng con nhớ vợ xót xa trong lòng. (1) Thuận Lí: Một địa điểm ở Quảng Bình (2) Đông Hà: Một địa điển ở Quảng Trị, cách Đồng Hới 92km về phía Nam, ở trên sông Cam Lộ, đầu đƣờng số 9 đi Lao Bảo sang Lào. Em là con gái có chồng Mồ cha những đứa đem lòng nọ kia. Em là con gái Phụng Thiên(1) Bán rau mua bút mua nghiên cho chồng Nữa mai chồng chiếm bảng rồng Bõ công tắm tƣới vun trồng cho rau. (1) Phụng Thiên: thuộc địa phận của ba mƣơi sáu phố phƣờng Hà Nội cũ, trƣớc là phủ Trung Đô, năm 1469 đời Lê Thánh Tông đƣợc đổi là phủ Phụng Thiên. Em nghe anh tỏ lời này Em đòi để bỏ nhƣ vầy sao nên Tao khang nghĩa ở cho bền Liễu mai hoà hợp, đôi bên thuận hoà. Em ngồi dệt cửi trên khung Anh đến ngồi học cùng chung một đèn Lấy chồng nhƣ trống cặp kèn Nhƣ dao cặp thớt, nhƣ đèn cặp khâu Lấy chồng chẳng đƣợc đi đâu Nhƣ trống cặp chầu, nhƣ ngựa cặp quân. Em thời canh cửi trong nhà Nuôi anh đi học đăng khoa bảng vàng Trƣớc là vinh hiển tổ đƣờng Bõ công đèn sách, lƣu phƣơng đời đời. Em thì canh cửi việc nhà Chàng thì đi học, đỗ ba khoa liền

181

121.

122. 123.

124. 125.

Khoa trƣớc thì đỗ giải nguyên Khoa sau tiến sĩ, đỗ liền ba khoa Vinh qui bái tổ về nhà Để thiếp trông thấy thiếp hoà mừng thay Công thiếp lo liệu bấy chầy Chàng đi ngựa thắm, thiếp nay võng đào Thiếp sắm cho chàng một chiếc nhà cao Bằng chín mẫu đất, bằng ba quãng đồng Cột cái thăm thẳm vẽ rồng Mƣợn ba vạn thợ trả công đề huề Thiếp đánh hòn đá xây hè Thiếp cho xẻ núi Ba Vì về xây Trên thềm ngựa chạy bảy ngày Chung quanh lát ván cột tày gỗ thông Gỗ mun đóng chiếc thuyền rồng Cửa ngõ bằng đồng sáng lộn nhƣ gƣơng Gai trong bụi ai vót mà nhọn Đạo vợ chồng ai chọn mà cân Trên trời đã định xây vần Xây cho gấp gấp trong lần năm nay. Gan khô ruột thắt chín từng Em náu nƣơng phụ mẫu cầm chừng đợi anh. Gởi thơ một bức Đêm nằm thổn thức, dạ những luống trông Biết làm sao cho vợ gặp chồng Cho én hiệp nhạn Gan teo từng đoạn, ruột thắt chín từng Anh với em nhƣ quế với gừng Dẫu xa nhân ngãi, xin đừng tiếng chi. BK. Sao hỡi sao! Sao chừng này chƣa mọc Sao mọc bên bắc, nƣớc mắt bên đông Làm sao cho vợ gặp chồng Cho én gặp nhạn, ruột đau từng đoạn, gan thắt chín từng Đôi ta nhƣ quế với gừng Dầu xa nhân ngãi, xin đừng tiếng tăm. Giận chồng xách gói ra đi Chồng theo năn nỉ tù ti trở về. Giàu nhƣ ngƣời ta lƣơng điền vạn khoảnh Khó nhƣ hai đứa mình bá nghệ tuỳ thân Sớm hái rau, chiều đốn củi đỡ đần nuôi nhau.

182

126. Gió đƣa bụi mía lùm tum Chồng tôi vừa đi khỏi, ông trùm tới chi? 127. Gió đƣa cây cửu li hƣơng Hai ngƣời hai họ mà thƣơng nhau cùng. 128. Gió lùa bụi chuối sau hè Anh mê vợ bé, bỏ bè con thơ Gió đƣa bụi trúc ngả quì Thƣơng cha phải chịu luỵ dì, dì ơi! 129. Giƣờng dọc mà trải chiếu ngang Chàng ngồi một góc Thiếp ngồi một góc Chàng than, thiếp khóc Thiếp khóc, chàng than Khung cửi bắc ngang, thoi nàng biếng dệt Em vắng anh một ngày, mỏi mệt chân tay BK Giƣờng dọc mà trải chiếu ngang Chàng ngồi một góc, thiếp ngồi một góc Chàng than thiếp khóc, thiếp khóc chàng than Huơ chao! cây úa lá vàng Nƣớc đâu mà tƣới cho hoàn nhƣ xƣa. 130. Hai nách những lông xồm xồm Chồng yêu chồng bảo mối tơ hồng trời cho Đêm ngủ thì ngáy o o Chồng yêu chồng bảo lái đò cầm canh Ăn vụng bụng to tày thùng Chồng yêu chồng bảo cái giành đựng cơm! 131. Kể chi trời rét đồng sâu Có chồng có vợ rủ nhàu cày bừa Bây giờ trƣa đã hồ trƣa Chồng vác lấy bừa, vợ dắt con trâu Một đoàn chồng trƣớc vợ sau Trời rét mặc rét, đồng sâu mặc đồng. 132. Kể từ lính mộ ra đi Ở nhà nhiều nỗi sầu bi thất tình Việc này là việc trào đình Đêm nằm nghĩ lại phận mình gian nan Rủ nhau ra tới ngoài Hàn Thấy đang tập lính dƣ ngàn dƣ trăm Thƣơng chàng thiếp phải ra thăm Chàng qua nƣớc bên ấy, biết mấy năm chàng về?

183

133. Khi em chƣa có chồng, anh nỏ dốc lòng gắn bó Giờ em có chồng rồi, anh đón ngõ trao thƣ Ngãi nhân nhân ngãi chi giừ Gái có chồng nhƣ đạo bùa trừ đeo tay. BK Lúc xuân xanh anh không gắn bó Em có chồng rồi, anh đón ngõ trao thƣ Thôi thôi nhân ngãi xin từ Em có chồng nhƣ đạo bùa trừ đeo tay. 134. Không ai tin tức, gởi bức thơ về Trong thơ viếng mẹ, ngoài lề thăm thiếp Anh mắc nghề nghiệp anh không đi đặng Em nhớ em trông Mắc ngồi khung cửi lựa bông Mồ hôi nhỏ đƣợm, nƣớc mắt hồng tuôn rơi. 135. Khuyên anh chăm chỉ nghề nho Thức khuya dậy sớm sao cho kịp ngƣời Ngƣời ta đƣợc một, em muốn đƣợc mƣời Học cho hơn ngƣời: tiến sĩ, trạng nguyên Anh về cƣỡi ngựa vua ban Nhờ anh em sẽ ngồi trên võng vàng Cờ quạt hai hàng Đẹp mặt mẹ cha. BK a - Học sớm học tối, học cho kịp ngƣời b - Theo sau, em có võng vàng đƣa chân. 136. Khuyên anh đi học em vâng Việc trong gia thất, việc đồng mặc em Bút nghiên giấy má đã mua rồi Khuyên anh đi học, em thời cửi canh Nữa mai gia thất đƣợc thành Bõ công anh học, bõ lòng em khuyên. 137. Khuyên anh đọc sách ngâm thơ Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu. 138. Làm ngƣời phải biết cƣơng thƣờng Xem trong ngũ đẳng, quân vƣơng ở đầu Thờ cha, kính mẹ trƣớc sau Anh em hoà thuận mới hầu làm nên Vợ chồng đạo nghĩa cho bền Bạn bè cho thực, dƣới trên đứng thƣờng. 139. Làm trai giữ trọn ba giềng

184

140. 141.

142.

143. 144. 145. 146. 147.

148. 149. 150.

151.

Thảo thân, ngay chúa, vợ hiền chớ vong. Lạnh lùng thiếp đắp chiếu cho Giận ai nên nỗi giày vò chiếu đi. Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh Bánh nào trắng bằng bánh bò bông Đạo nào sâu bằng đạo vợ chồng Đêm nằm nghĩ lại, nƣớc mắt hồng tuôn rơi. Lấy anh thì sƣớng hơn vua Anh đi xúc giậm, đƣợc cua kềnh càng Đem về nấu nấu rang rang Chồng chan vợ húp lại càng hơn vua. Lấy chồng theo thói nhà chồng Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng đi. Lấy nhau cho trọn đạo Trời Đổ chùa Thiên Mụ mới rời nhau ra. Luỵ sa đƣa chàng xuống huyệt Mai táng chàng rồi li biệt ngàn năm. Mặc ai một dạ đôi lòng Em đây thủ tiết loan phòng chờ anh. Mây giăng trên ngọn non Vồng (1) Em nhớ thƣơng chồng đứng bến Châu Giang(2) Bến Châu Giang thuyền ngang sóng ngƣợc Đỉnh non vồng mây trƣớc mây sau Ai về có nhớ lời nhau...? (1) Non Vồng: ngọn núi cao phía bắc xã Thị Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Nam Hà. (2) Châu Giang: con sông lớn của tỉnh Nam Hà (cũ). Bến Châu Giang có lẽ ngã ba Đạm. thuộc xã Phù Vân, huyện Kim Bảng, nơi sông Đáy gặp sông Châu Giang. Mẹ già là mẹ già chung Anh lo thang thuốc, em giùm cháo cơm. Mẹ nàng khác thể mẹ ta Phận dù đói rách, thiệt thà anh thƣơng. Mình đƣa bâu áo tui viết tháo vài hàng Trƣớc thăm phụ mẫu, sau thăm mình đôi câu Đạo vợ chồng thăm thẳm giếng sâu Ngày sau cũng gặp, mất đi đâu bạn phiền. Mình đừng sầu muộn ốm đau Bây giờ cách mặt, ngày sau vợ chồng Ngôn phản ngôn hà lí cội đồng Cang thƣờng li biệt, đạo vợ chồng còn thƣơng.

185

152. Mình về tôi cũng đi theo Sum vầy phu phụ, hiểm nghèo có nhau Chẳng thà đĩa muối chén rau Thuỷ chung sống ở, sang giàu mƣợc ai. 153. Mình về tôi cũng về theo Sum vầy phu phụ, giàu nghèo có nhau. 154. Mồ hôi gió đƣợm Thiếp thƣơng chồng, thiếp phải chạy theo Con ơi! Mẹ dắt lên đèo Chim kêu bên nọ, vƣờn trèo bên kia. 155. Một thƣơng, hai thƣơng Ba thƣơng, bốn nhớ Đạo chồng, nghĩa vợ Là đức cù lao Nhớ khi trăng gió, mƣa rào Trăm năm gối phƣợng má đào bên em. 156. Một thƣơng, hai thƣơng, ba thƣơng, bốn nhớ Tình chồng nghĩa vợ là đức cù lao Sông sâu ai dám tới đào Bạn về nhà bạn, nƣớc mắt ào nhƣ mƣa. 157. Mƣa rơi gió tạt vô thành Đôi ta chồng vợ, ai dỗ dành đừng xiêu. 158. Mủng sứt vành không bƣng khó bợ Đồng tiền điếu vỡ, ai nỡ bán buôn Anh đi làm thợ trên nguồn No cơm ấm áo, luông tuồng bỏ em Đồng tiền điếu vỡ, anh đúc lại thành chuông Đem lên chùa Nam Định khắc muôn chữ vàng Mủng sứt vành, anh lận lại thành tàn Đƣa lên Nam Định hai hàng lọng che Sớm mai anh lên gánh muối Chiều anh xuống gánh chè Tai nghe em than thở, te te anh trở về Trời làm cực khổ trăm bề Dù lên nguồn xuống biển, anh cũng trở về với em. 159. Muốn cho no vợ đủ chồng Để mà kết tóc trông mong ở đời. 160. Nàng ơi! Thử nghĩ mà xem Vợ chồng phận cải duyên kim ở đời Khi nên Trời cũng chiều ngƣời Có công đèn sách ắt thời làm nên

186

Bởi lòng cha mẹ thảo hiền Cho nên ta mới đậu liền khôi khoa Cũng đà sắp đến không xa Nàng ơi! Sắm sửa cho ta thế nào? Dù ta có đậu quan cao áo gấm ta mặc, võng đào nàng đi Thế là phận gái nữ nhi Ơn chồng lại đƣợc vinh qui với chồng Thế là nàng thoả tấm lòng Bõ công đóng cửa kén chồng bấy lâu. 161. Nay mai anh lại sang Tây(1) Anh khuyên lời này giữ lấy cho anh Không đi thì sợ không lành Đi ra mang tiếng rằng anh tham tiền Em ở nhà bình yên buôn bán Chớ bao giờ chểnh mảng tình nhau Anh đi chỉ dặn mấy câu Em về cố giữ lấy màu cho xinh Nhờ em mọi việc gia đình Tứ thân phụ mẫu một mình em lo Em đã là con nhà gia giáo Ở sao cho hiếu thảo vẹn tuyền Anh đi vì lệnh quan trên Nhờ Trời hai chữ bình yên anh về Bấy giờ sum họp đề huề Nghĩa trăm năm lại mọi bề yên vui Đạo vợ chồng giờ xui ra thế Anh nói câu này em để trong tai Bấy kì thứ bảy, thứ hai Anh đi em tiễn ra ngoài la ga Gửi lời thăm hỏi ông bà Em ở Hà Nội, anh ra Hải Phòng Còn đây một chút bế bồng Thức khuya dậy sớm trông mong giữ gìn Xa anh lấy đó làm tin Cũng là bớt nỗi ƣu phiền chia li Anh đành gạt lệ ra đi Thƣơng anh chẳng biết nói gì nửa đâu. (1) Vào thời kì Đại chiến thế giới lần thứ Nhất(1914 - 1918) thực dân Pháp đã dùng danh nghĩa "mộ lính" để bắt nhân dân ta đi lính sang Pháp.

187

162. Nghĩa tao khang ai đà vội dứt Đêm nằm tấm tức, luỵ nhỏ tuôn rơi Mấy lâu ni mang tiếng chịu lời Xa nhau ngàn dặm đời vẫn nhớ nhau. 163. Ngồi buồn thƣơng mẹ nhớ cha Gối loan ai đỡ, kỉ trà ai nƣng - Mẹ già trao lại anh trai Phận em là gái một hai theo chồng. 164. Ngọn lau lên khỏi bờ Ngọn lúa trổ đòng đòng Em đừng than đừng thở, để anh phải tủi lòng khóc theo Hai tay anh bụm bọt phá bèo Xƣa kia khắp chốn không ai nghèo nhƣ anh Ban ngày anh đốn củi rừng xanh Tối về chỉ một tấm tranh che đầu Mƣa sa nhỏ giọt nhƣ dầu Khổ thời anh chịu khổ, chứ lìa nhau anh không lìa. 165. Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng Đêm xuân ai dễ cầm lòng đƣợc mơ Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu. 166. Nhà em có bụi trầu cay Nhà anh có khách sang vay lá vàng. Cau xiến ngang, trầu vàng ngắt ngọn Thời buổi này kén chọn làm chi Yêu nhau lấy quách nhau đi Ở trong giá thú luận cho hoá tài Đƣờng còn dài, trông sao cho xiết Đạo vợ chồng ai biết đói no Quí hồ thầy mẹ gả cho. 167. Nhiễu điều phủ lấy giá gƣơng Ngƣời trong một nƣớc thì thƣơng nhau cùng Phu thê trong nghĩa tƣơng phùng Chăn loan gối quế rấp lòng chờ ai Tấm đá hoa ghi tạc để đời. 168. Nhởn nhơ cô gái cửa Đông (1) Quần là áo lƣợt nhƣng lòng không ƣa Tao khang là vợ ngày xƣa Khăn thâm, áo vải sớm trƣa vui cùng. (1) Cửa Đông: tức cửa Đông thành Thăng Long cũ, ở cuối phố Cửa Đông hiện nay.

188

169. Những khi vai gánh tay đèo Đi về lấy quách chồng nghèo cho xong Ngày ngày quang thúng đi đong Chày gạo, cối lúa không xong có chồng Nhỡ khi đi gánh về gồng Trời mƣa, trời gió dặn chồng gánh đƣa Nhỡ khi đi sớm về trƣa Ta ngồi nghỉ mát đò đa thanh nhàn Không ai đo đếm ruột gan Vợ chồng ta sẽ thở than ta làm Mai sau đã có phận Trời Khi nào lại khổ suốt đời mà lo. 170. Nợ chồng lắm lắm anh ơi Bao giờ cho hết mà chơi kẻo già. 171. Nói ra sợ chị em cƣời Lấy chồng tháng chín tháng mƣời có con Có con tôi năn nỉ cùng con Có chồng tôi phải gánh lấy giang sơn nhà chồng. 172. Nuôi con những tƣởng về sau Trao duyên phải lứa, gieo cầu phải nơi Mực đen vô giấy khó chùi Vợ chồng, chồng vợ việc đời trăm năm. 173. Phải căn duyên cái áo rách cũng mang Trái duyên cái áo lót bộ nút vàng, anh không ham. 174. Phải duyên em nhất định theo Nào ai có quản khó nghèo chi đâu Đời này ai muốn chuốc lấy thảm sầu Cầu dừa mà vững nhịp, còn bằng vạn cầu Bông Miêu. 175. Phải duyên phải kiếp thì theo Cám còn ăn đƣợc, nữa bèo hử anh. 176. Phận bạc khôn nƣơng nhà bạc Thân hèn đâu dám gác cửa không! Dứt đƣợc sao cái nợ vợ chồng Nƣớc nhành dƣơng rửa sao đƣợc bụi hồng, bớ anh! 177. Phụ hề sanh, mẫu hề dƣỡng Đạo mạc trọng ƣ cƣơng thƣờng (1) Thấy anh chàng ràng đôi ngả ba phƣơng Em đây cứ ôm duyên thủ tiết giữa chốn sông Hƣơng đợi chờ. (1) Phú hề sanh, mẫu hề dƣờng, đạo mạc trọng ƣ cƣơng thƣờng: Cha mẹ có sông sinh ra và nuôi dƣỡng, đạo lý đối với cha mẹ phải

189

178.

179.

180.

181. 182.

coi trọng cƣơng thƣờng (các mối quan hệ và các nguyên tắc ứng xử truyền thống). Phụ mẫu tình thâm Phu thê nhân ngãi trọng Một mai anh có xa em rồi, em thờ vọng mẹ cha. Phụ tuỳ phu xƣớng(1), ấy là lẽ thƣờng Anh bảo sao em nghe vậy, cho vẹn đƣờng ái ân - Nắm tay bạn, xót thƣơng vô hạn Nhớ đến việc chia phôi én nhạn Lòng anh đây dứt đoạn can tràng. (1) Phụ tuỳ phu xƣớng: chồng xƣớng vợ theo, tức là vợ chồng hoà hảo (theo quan niệm cũ). Phƣợng chắp cánh lòng còn đợi gió Rồng chờ trăng còn đậu trên mây Đạo vợ chồng trăm năm không phải một ngày Chàng ôm cầm không lựa khúc, để lên dây cho vừa. Phƣơng ngôn câu ví để đời Nhƣờng cơm nhƣờng áo, dễ ai nhƣờng chồng. Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa Tiền gạo thì của mẹ cha Cái nghiên cái bút thật là của em. BK a- Trái cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa Anh lấy em từ thuở mƣời ba Đến năm mƣời tám thiếp đà năm con Ra đƣờng ngƣời ngỡ còn son Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng Con cả đi học xa đàng Con thứ hai dệt cửa nó càng xinh ghê Con thứ ba buôn bán trăm nghề Còn hai đứa bé nó thì ăn chơi. b- Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai lại học xa Lấy anh từ thuở mƣời ba Đến năm mƣời tám thiếp đà năm con Ra đƣờng ngƣời tƣởng còn son Về nhà thiếp đã năm con với chàng. c- Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa

190

183. 184. 185.

186.

Anh lấy em từ thuở mƣời ba Đến năm mƣời tám em đà năm con Ra đƣờng ngƣời nghĩ còn son Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng Cái cả đã biết dọn hàng Cái hai đi học về tràng khoa thi Cái ba buôn bán trăm nghề Còn hai con nhỏ trở về ăn chơi Chơi cho nƣớc Hán sang Hồ Nƣớc Tần sang Sở nƣớc Ngô sang Lào Chơi cho sấm động mƣa rào Một trăm cái núi lọt vào trôn kim Chơi cho bong bóng thì chìm Hòn đá thì nổi, gỗ lim bập bềnh. d- Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa Anh lấy em từ thuở mƣời ba Đến năm mƣời tám thiếp đà năm con Ra ngoài thiếp hãy còn son Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng Con cả thì bắn cung múa kiếm ngang tàng Con thứ hai đã biết cắp sách vào tràng đi thi Con thứ ba buôn bán trăm nghề Còn hai đứa bé ở nhà ăn chơi Ăn chơi may túi đựng trời Đan phên chặn gió giết voi xem giò Chơi cho sấm động mƣa rào Mƣời hai cửa bể đút vào trôn kim Chơi cho bong bóng phải chìm Đá vàng thả nổi gỗ lim mập mờ. Qua đây ghé nón thăm đồng Đồng bao nhiêu lúa, thƣơng chồng bấy nhiêu. Râu tôm nấu với ruột vầu Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon.. Rủ nhau đi cấy đi cày Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lƣu Trên đồng cạn, dƣới đồng sâu Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa. Sạch con thì lắm ngƣời bồng Xinh chồng thì lắm ngƣời thƣơng Tin chàng lòng dạ nhƣ gƣơng

191

187. 188. 189. 190. 191. 192.

193. 194.

195.

196. 197.

Không quên nghĩa thiếp, ngƣời thƣơng mặc ngƣời. Sáng trăng trải chiếu hai hàng Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ. Sập vàng mà trải chiếu hoa Không bằng áo thiếp đắp qua dạ chàng. Sớm khuya có vợ có chồng Cày sâu bừa kĩ mà mong đƣợc mùa. Sông dài cá lội biệt tăm Phải duyên chồng vợ, ngàn năm cũng chờ. Sóng xao mình vịt ƣớt lông Rùa kêu đá nổi thiếp không bỏ chàng. Tai em nghe anh đau đầu chƣa khá Em băng đồng chỉ sá, đi bẻ nắm lá nọ về xông Ở làm gì đây cho trọn nghĩa vợ chồng Đổ mồ hôi ra em chặm, ngọn gió lồng em che. BK Tai em nghe anh đau đầu chƣa khá Em băng đồng vƣợt sá, bẻ nạm lá anh xông Có làm vậy mới trọn đạo vợ chồng Đổ mồ hôi em chặm, sẩy ngọn gió lồng em che. Tai nghe trống điểm trên lầu Nửa thƣơng phần vợ, nửa rầu phần con. Tay anh cầm bút ngọc hoà châu(1) Đề vô trong áo bậu, bốn câu ân tình Một câu phân với nữ trinh Ơn cha nghĩa mẹ cho trọn tình hiếu trung Hai câu ta phân với anh hùng Đào sâu cuốc chín ăn chung ở đời Ba câu anh nói, em phải nghe lời Đừng nghe lời thá sự (2) đổi lời duyên ta Bốn câu nuôi chút mẹ già Tình chồng nghĩa vợ, mẹ với cha đền bồi. (1) Hoà châu: hoà nƣớc mắt. (2) Thá sự: nói chệch từ thế sự, nghĩa là việc đời. Tay bƣng đĩa muối chấm gừng Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau Tay bƣng đĩa muối sàng rau Muối ra có nghĩa, sang giàu đừng ham. Tay cầm đĩa muối sàng rau Thuỷ chung nhƣ nhất sang giàu mặc ai. Tay mang khăn gói sang sông

192

198.

199. 200. 201.

202.

203.

204.

Bồ hôi nó đẫm thƣơng chồng phải theo. Tay anh nắm con dao sắc Cắt chín lát gừng bỏ vô thang thuốc sắc lại bảy phân Tay mặt anh bƣng chén thuốc, tay trái anh khoát màn Cúc Hoa (1) ơi, em uống chén thuốc này cho nạn khỏi tai qua Kẻo con mồ côi mẹ, lấy ai cá vẽ cơm và mà nuôi con. (1) Cúc Hoa: nhân vật chính của truyện Tống Trân Cúc Hoa. Tép đồng ăn với rau mƣng Chồng ăn vợ nhịn xin đừng bỏ nhau. Thà lăn xuống giếng mà chết cả đôi Không thể loan xa phƣợng, anh thác để em ngồi chịu tang. Tháng chạp là tháng trồng khoai Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà Tháng ba cày vỡ ruộng ra Tháng tƣ làm mạ mƣa sa đầy đồng Ai ai cũng vợ cũng chồng Chồng cày vợ cấy trong lòng vui thay Tháng năm gặt hái đã xong Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy Năm nong đầu em xay em giã Trấu ủ phân cám bã nuôi heo Sang năm lúa tốt tiền nhiều Em đem đóng thuế đóng sƣu cho chồng Đói no có thiếp có chàng Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình. Tháng hai cho chí tháng mƣời Năm mƣời hai tháng em ngồi em suy Vụ chiêm em cấy lúa di Vụ mùa lúa dé, sớm thì ba trăng Thú quê rau cá đã từng Gạo thơm cơm trắng chi bằng tám xoan Việc nhà em liệu lo toan Khuyên chàng học tập cho ngoan kẻo mà. Thang mô cao bằng thang danh vọng Nghĩa mô trọng bằng nghĩa chồng con? Trăm năm nƣớc chảy đá mòn Xa nhau ngàn dặm dạ còn nhớ thƣơng. Thấy anh em cũng muốn theo Em sợ anh nghèo, anh bán em đi Lấy anh em biết ăn gì? Lộc sắn thì chát, lộc si thì già

193

205.

206.

207.

208.

209.

210.

211.

212.

- Nghèo thì bán khố, bán khăn Có ai bán vợ mà ăn bao giờ. Theo anh em cũng muốn theo Em sợ anh nghèo, anh bán mất em. - Nghèo thời bán cột bán kèo Nào ai có bán vợ theo bao giờ! Thiếp gặp chàng nhƣ Ngƣu Lang gặp hội Chàng gặp thiếp nhƣ hạc đỗ lƣng qui Cứ lời anh dặn em ri Giàu sang mặc họ, khó khăn chi cũng vợ chồng. Thiếp vì chàng, thiếp mới lênh đênh nơi biển ái Chàng vì thiếp mới lỗi đạo tâm can Em đây thủ tiết buồng lan Dẫu hồn về chín suối, hãy còn mang tƣợng chồng. Thiếp với chàng vƣơng mang câu tình tự Trên thời núi Ngự dƣới có sông Hƣơng Trăm năm thiếp quyết bó buộc hai chữ can thƣờng Sợ là sợ cho chàng ham vui cảnh khác, lại bỏ duyên tơ hƣờng khổ em. Thứ nhất vợ dại trong nhà Thứ hai trâu chậm thứ ba dao cùn - Trâu chậm thời anh bán đi Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao Vợ dại thời đẻ con khôn Trâu chậm chắc bƣớc dao cùn dễ băm. Thƣơng chồng nấu cháo le le Nấu canh bông lí, nấu chè hạt sen. BK Thƣơng chàng nấu cháo le le Nấu canh hoa lí, nấu chè hạt sen. Thƣơng nhau vì nết, chẳng hết chi ngƣời Anh không tin dạ, anh sợ đổi đời Em xin cắt tóc thề có đất trời chứng minh - Nghe em phân cạn, vô hạn thƣơng tâm Vợ chồng nghĩa nặng tình thâm Em thề không thuyền khác ôm cầm Anh nhìn mái tóc phải tuôn dầm lệ châu. Thƣơng ai bằng nỗi thƣơng con Nhớ ai bằng nỗi gái son nhớ chồng. BK - Thƣơng ai ví bằng thƣơng con

194

213.

214.

215.

216. 217. 218. 219.

220. 221. 222.

Thƣơng ai ví bằng gái son nhớ chồng. - Thƣơng ai ví bằng thƣơng con Thƣơng ai ví thể gái son nhớ chồng. Thƣơng ai cho bằng thƣơng chồng Bởi chồng cờ bạc nên lòng chẳng thƣơng. BK Yêu ai cho bằng yêu chồng Bởi chồng cờ bạc, nên lòng không yêu. Thƣơng ai cho bằng thƣơng chồng Bởi chồng cờ bạc nên lòng chẳng thƣơng Khuyên chàng cờ bạc thì chừa Rƣợu chè trai gái say sƣa mặc lòng. Thƣơng cha thƣơng mẹ có hồi Thƣơng anh nhƣ đọi nƣớc sôi đổ đầy. BK Thƣơng cha thƣơng mẹ có khi Thƣơng em lúc đứng, lúc đi lúc ngồi Thƣơng cha thƣơng mẹ có hồi Thƣơng em lúc đứng, lúc ngồi cũng thƣơng. Thƣơng chồng nên phải gắng công Nào ai xƣơng sắt da đồng chi đây. Thƣơng chồng nên phải lầm than Xƣa nay ai bắt việc quan đàn bà. Thƣơng chồng phải khóc mụ gia Gẫm tôi với mụ có bà con chi. Thuyền bầu trở lái về đông Con đi theo chồng để mẹ cho ai? Mẹ già đã có con trai Con là phận gái dám sai chữ tòng? Chỉ thề nƣớc biếc non xanh Theo nhau cho trọn tử sinh cũng đành Trời cao bể rộng mông mệnh Ở sao cho trọn tấm tình phu thê Trót đà ngọc ƣớc vàng thề Dầu mà cách trở giang khê cũng liều. Tôi đà biết tính chồng tôi Cơm no thì nƣớc, nƣớc thôi thì trầu. Trăm năm ai chớ bỏ ai Nghĩa trong vàng đá, tình ngoài nƣớc mây. Trăm năm ai chớ bỏ ai Chỉ thêu nên gấm sắt mài thành kim.

195

223. Trăm năm cũng bạn với ta Gặp nơi long ẩn thuỷ ba cũng đừng. 224. Trăm năm đã nát vàng phai Ngã thì lại dậy, kén ai trên đời Trăm năm đã nát vàng mƣời Ngã thì lại dậy, ai cƣời mặc ai. 225. Trăm năm dạ ở đinh ninh Nào ai phụ ngãi, quên tình mặc ai! 226. Trăm năm lòng gắn dạ ghi Nào ai thay nút, đổi khuy cũng đừng. 227. Trăm năm lòng gắn dạ ghi Dầu ai đem bạc đổi chì mặc ai 228. Trăm năm tạc đá bia vàng Đá thời thành gạch ngãi chàng không quên. 229. Trăm năm tạc một chữ đồng Dù ai thêu phụng vẽ rồng cũng không. 230. Trăm năm trăm tuổi may rủi một chồng Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai. 231. Trăm năm ƣớc bạn chung tình Trên trời dƣới đất có mình với ta. 232. Trăng lên vành vạnh trăng tròn Trƣớc răng sau rứa đừng còn đổi thay. 233. Trăng tròn chỉ có đêm rằm Tình ta tháng tháng, năm năm vẫn tròn. 234. Trời hè lắm trận mƣa rào Gặt sớm phơi sớm liệu sao cho vừa Khuyên em chớ ngại nắng mƣa Của chồng công vợ, bao giờ quên nhau. 235. Trời xanh nƣớc biếc một màu Em cƣời là khóc, em sầu là tƣơi Nỗi lòng cực lắm anh ơi Dâu con ăn ở đôi nơi song toàn Ai ngờ chỉ thắm dây oan Ai ngờ Tần Tấn mà nên Việt Hồ Một thân năm liệu bảy lo Chiều chồng, đôi họ, mẹ cha cũng chiều. 236. Trót lời hẹn với lang quân Dẫu rằng gió Sở mƣa Tần cũng đi. 237. Trót lời hẹn với lang quân Dẫu rằng mƣa Sở gió Tần cũng đi Yêu nhau sớm đợi tối chờ

196

238.

239.

240. 241.

242. 243. 244.

245.

246. 247. 248.

Dẫu rằng dãi gió dầu mƣa mặc lòng. Vì chàng thiếp phải bắt cua Những nhƣ thân thiếp, thiếp mua ba đồng Vì chàng thiếp phải long đong Những nhƣ thân thiếp cũng xong một bề. Vì chàng thiếp phải bắt cua Những nhƣ thân thiếp, thiếp mua ba đồng Vì chàng nên phải mua mâm Những nhƣ thân thiếp, bốc ngầm cũng xong Vì chàng thiếp phải long đong Những nhƣ thân thiếp cũng xong một bề. Vì chàng thiếp phải long đong Những nhƣ thân thiếp cũng xong một bề. Vì chàng thiếp phải ngả mâm Những nhƣ mình thiếp bốc ngầm trong niêu Vì chàng những thuế cùng sƣu Những nhƣ mình thiếp một niêu cũng thừa. Vì chàng thiếp phải ngủ ngồi Nghĩ nhƣ thân thiếp tìm nơi mà nằm. Vợ chồng là nghĩa già đời Ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn. Vợ chồng là nghĩa phu thê Tay ấp má kề, sinh tử có nhau Chẳng tham của sẵn anh đâu Tham vì nhân ngãi năm đầu ngón tay Bao giờ cho đặng sum vầy Giao ca đôi mặt, dạ này mới vui. Vợ chồng là nghĩa tao khang Chồng hoà vợ thuận nhà thƣờng yên vui Sinh con mới ra thân ngƣời Làm ăn thịnh vƣợng đời đời ấm no. BK Vợ chồng là nghĩa tao khang Chồng hoà vợ kính nhà thƣờng yên vui Sinh con mới ra mặt ngƣời Làm ăn thanh thản đời đời không lo. Vợ chồng là nghĩa tao khang Chồng hoà vợ huận gia đƣờng yên vui. Vì tằm em phải chạy dâu Vì chồng em phải qua cầu đắng cay. Vợ chồng đầu gối, má kề

197

249.

250. 251. 252. 253. 254. 255.

256.

257.

258.

Lòng nào mà bỏ, mà về cho đang Hồ về, chân lại đá ngang Về sao cho đứt cho đang mà về. Vợ chồng kết tóc trên trời Đói no ta sẽ lấy lời bảo nhau Ăn thƣờng cơm muối canh rau Hàn vi thuở trƣớc, thuở sau thanh nhàn. Vợ chồng nhƣ đôi cu cu Chồng thì đi trƣớc, vợ gật gù theo sau. Vợ chồng nhƣ nút với khuy Sao anh không than vãn lời gì cho em nghe? Vợ nên rồng, chồng nên Tiên Quí lại gặp quí, bạn hiền gặp nhau. Xấu xa cũng thể chồng ta Dẫu rằng tốt đẹp cũng ra chồng ngƣời. Xét ra trong đạo vợ chồng Cùng nhau tƣơng cậy đề phòng nắng mƣa. Xin anh đi học cho ngoan Để em dệt cửi kiếm quan tiền dài Quan tiền dài em ngắt làm đôi Nửa thì giấy bút nửa nuôi mẹ già Mẹ già là mẹ già anh Một ngày hai bữa cơm canh mẹ già Bát cơm em nấu nhƣ hoa Bát canh em nấu nhƣ là mật ong Nƣớc mắt em lọc cho trong Mâm cơm em dọn tựa dòng cơm quan. Xin chàng giữ lấy bút nghiên Đừng tham nhan sắc chớ quên học hành Nữa mai đƣợc chiếm khoa danh Trƣớc là vinh thiếp sau mình vinh thân. Xin chàng kinh sử học hành Để em cày cấy, cửi canh kịp ngƣời Mai sau xiêm áo thảnh thơi Ơn Trời lộc nƣớc đời đời hiển vinh. Yêu nhau cho mặn cho mà Chồng vợ thuận hoà trong ấm ngoài êm. 2.2. ®¹O NGHÜA Vî chỒng

STT

NÉI DUNG

198

1. 2. 3.

4.

5. 6.

7.

8.

9. 10. 11. 12.

13.

Ai chÌo ghe bÝ qua s«ng §¹o vî nghÜa chång nÆng l¾m anh ¬i! Anh em cèt nhôc ®ång bµo Vî chång lµ nghÜa lÏ nµo ch¼ng th-¬ng? Anh tíi nhµ em, anh ¨n c¬m víi c¸ Em tíi nhµ anh, em ¨n rau m¸ víi cua ®ång Khã em chÞu khã, ®¹o vî chång em vÉn th-¬ng. CÇu m« cao b»ng cÇu danh väng NghÜa m« nÆng b»ng nghÜa chång con VÝ dÇu n-íc ch¶y ®¸ mßn Xa nhau ngh×n dÆm lßng cßn nhí th-¬ng. Ch÷ r»ng: qu©n tö t¹o ®oan Vî chång lµ nghÜa ®¸ vµng tr¨m n¨m. §¹o cang th-êng khã l¾m b¹n ¬i Ch¼ng dÔ nh- ong b-ím ®Ëu råi l¹i bay §¹o cang th-êng kh¸ dÔ ®æi thay DÇu lµm nªn vâng gi¸, rñi ¨n mµy còng theo nhau. BK - Ch¼ng nh- ong b-ím ®Ëu råi l¹i bay . §¹o vî chång h«m Êp mai «m Ph¶i ®©u cua c¸ víi t«m Khi ®ßi mí nä khi chåm mí kia. §Çu ®éi chóa, vai mang cèt mÑ Tay d×u d¾t cha giµ GÆp mÆt ®©y n-íc m¾t nhá sa Thß tay trong tói bµ ba LÊy c¸i kh¨n mu soa anh chÆm §¹o vî chång ngµn dÆm kh«ng quªn. §èn c©y ai nì døt chåi §¹o chång nghÜa vî, giËn råi l¹i th-¬ng. ë lµm ri ®©u cho trän nghÜa vî chång §æ må h«i em chÆm, ngän giã lång em che. ở sao nhƣ lụa đừng phai Tình chồng nghĩa vợ nhớ hoài không quên. Em nghe anh tỏ lời này Em đòi để bỏ nhƣ vầy sao nên Tao khang nghĩa ở cho bền Liễu mai hoà hợp, đôi bên thuận hoà. Gai trong bụi ai vót mà nhọn Đạo vợ chồng ai chọn mà cân Trên trời đã định xây vần

199

14.

15.

16.

17. 18.

19.

20.

21.

Xây cho gấp gấp trong lần năm nay. Hữu bằng tự viễn phƣơng lai(1) Lạc hồ quân tử(2) lấy ai bạn cùng Chữ hiếu, là thầy với mẹ Chữ nhân, chữ nghĩa là ái với ân Yêu nhau bao quản xa gần. (1) và (2) Hữu bằng tự viễn phƣơng lai, lạc hồ quân tử: nguyên nhân là một câu trong thiên "Học nhi" của sách "Luận ngữ". Trọn câu là: "Hữu bằng tự viễn phƣơng lai, bất diệc lạc hồ". Có thể hiểu câu đó một cách đơn giản nhất là: có ngƣời bạn từ phƣơng xa đến khá lại không vui mừng ƣ. Làm ngƣời phải biết cƣơng thƣờng Xem trong ngũ đẳng, quân vƣơng ở đầu Thờ cha, kính mẹ trƣớc sau Anh em hoà thuận mới hầu làm nên Vợ chồng đạo nghĩa cho bền Bạn bè cho thực, dƣới trên đứng thƣờng. Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh Bánh nào trắng bằng bánh bò bông Đạo nào sâu bằng đạo vợ chồng Đêm nằm nghĩ lại, nƣớc mắt hồng tuôn rơi. Lấy nhau cho trọn đạo Trời Đổ chùa Thiên Mụ mới rời nhau ra. Mình đƣa bâu áo tui viết tháo vài hàng Trƣớc thăm phụ mẫu, sau thăm mình đôi câu Đạo vợ chồng thăm thẳm giếng sâu Ngày sau cũng gặp, mất đi đâu bạn phiền. Mình đừng sầu muộn ốm đau Bây giờ cách mặt, ngày sau vợ chồng Ngôn phản ngôn hà lí cội đồng Cang thƣờng li biệt, đạo vợ chồng còn thƣơng. Một thƣơng, hai thƣơng Ba thƣơng, bốn nhớ Đạo chồng, nghĩa vợ Là đức cù lao Nhớ khi trăng gió, mƣa rào Trăm năm gối phƣợng má đào bên em. Một thƣơng, hai thƣơng, ba thƣơng, bốn nhớ Tình chồng nghĩa vợ là đức cù lao Sông sâu ai dám tới đào Bạn về nhà bạn, nƣớc mắt ào nhƣ mƣa.

200

22.

23.

24.

Nay mai anh lại sang Tây(1) Anh khuyên lời này giữ lấy cho anh Không đi thì sợ không lành Đi ra mang tiếng rằng anh tham tiền Em ở nhà bình yên buôn bán Chớ bao giờ chểnh mảng tình nhau Anh đi chỉ dặn mấy câu Em về cố giữ lấy màu cho xinh Nhờ em mọi việc gia đình Tứ thân phụ mẫu một mình em lo Em đã là con nhà gia giáo Ở sao cho hiếu thảo vẹn tuyền Anh đi vì lệnh quan trên Nhờ Trời hai chữ bình yên anh về Bấy giờ sum họp đề huề Nghĩa trăm năm lại mọi bề yên vui Đạo vợ chồng giờ xui ra thế Anh nói câu này em để trong tai Bấy kì thứ bảy, thứ hai Anh đi em tiễn ra ngoài la ga Gửi lời thăm hỏi ông bà Em ở Hà Nội, anh ra Hải Phòng Còn đây một chút bế bồng Thức khuya dậy sớm trông mong giữ gìn Xa anh lấy đó làm tin Cũng là bớt nỗi ƣu phiền chia li Anh đành gạt lệ ra đi Thƣơng anh chẳng biết nói gì nữaa đâu. (1)Thời kì Đại chiến thế giới lần thứ Nhất(1914-1918) thực dân Pháp dùng danh nghĩa "mộ lính" để bắt nhân dân ta đi lính sang Pháp. Nghĩa tao khang ai đà vội dứt Đêm nằm tấm tức, luỵ nhỏ tuôn rơi Mấy lâu ni mang tiếng chịu lời Xa nhau ngàn dặm đời vẫn nhớ nhau. Nhà em có bụi trầu cay Nhà anh có khách sang vay lá vàng. Cau xiến ngang, trầu vàng ngắt ngọn Thời buổi này kén chọn làm chi Yêu nhau lấy quách nhau đi Ở trong giá thú luận cho hoá tài Đƣờng còn dài, trông sao cho xiết

201

25.

26.

27.

28.

29.

30.

Đạo vợ chồng ai biết đói no Quí hồ thầy mẹ gả cho. Nhiễu điều phủ lấy giá gƣơng Ngƣời trong một nƣớc thì thƣơng nhau cùng Phu thê trong nghĩa tƣơng phùng Chăn loan gối quế rấp lòng chờ ai Tấm đá hoa ghi tạc để đời. Phụ hề sanh, mẫu hề dƣỡng Đạo mạc trọng ƣ cƣơng thƣờng (1) Thấy anh chàng ràng đôi ngả ba phƣơng Em đây cứ ôm duyên thủ tiết giữa chốn sông Hƣơng đợi chờ. (1) Phú hề sanh, mẫu hề dƣờng, đạo mạc trọng ƣ cƣơng thƣờng: Cha mẹ có sông sinh ra và nuôi dƣỡng, đạo lý đối với cha mẹ phải coi trọng cƣơng thƣờng (các mối quan hệ và các nguyên tắc ứng xử truyền thống). Phƣợng chắp cánh lòng còn đợi gió Rồng chờ trăng còn đậu trên mây Đạo vợ chồng trăm năm không phải một ngày Chàng ôm cầm không lựa khúc, để lên dây cho vừa. Sạch con thì lắm ngƣời bồng Xinh chồng thì lắm ngƣời thƣơng Tin chàng lòng dạ nhƣ gƣơng Không quên nghĩa thiếp, ngƣời thƣơng mặc ngƣời. Tai em nghe anh đau đầu chƣa khá Em băng đồng chỉ sá, đi bẻ nạm lá anh xông Ở làm gì đây cho trọn nghĩa vợ chồng Đổ mồ hôi ra em chặm, ngọn gió lồng em che. BK Tai em nghe anh đau đầu chƣa khá Em băng đồng vƣợt sá, bẻ nạm lá anh xông Có làm gì vậy mới trọn đạo vợ chồng Đổ mồ hôi em chặm, sẩy ngọn gió lồng em che. Tay anh cầm bút ngọc hoà châu(1) Đề vô trong áo bậu, bốn câu ân tình Một câu phân với nữ trinh Ơn cha nghĩa mẹ cho trọn tình hiếu trung Hai câu ta phân với anh hùng Đào sâu cuốc chín ăn chung ở đời Ba câu anh nói, em phải nghe lời Đừng nghe lời thá sự, (2) đổi lời duyên ta

202

31.

32.

33.

34. 35.

36. 37.

38.

Bốn câu nuôi chút mẹ già Tình chồng nghĩa vợ, mẹ với cha đền bồi. (1) Hoà châu: hoà ngƣời mắt. (2) Thá sự: nói chệch từ thế sự, nghĩa là việc đời. Tay bƣng đĩa muối chấm gừng Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau Tay bƣng đĩa muối sàng rau Muối ra có nghĩa, sang giàu đừng ham. Thang mô cao bằng thang danh vọng Nghĩa mô trọng bằng nghĩa chồng con? Trăm năm nƣớc chảy đá mòn Xa nhau ngàn dặm dạ còn nhớ thƣơng. Thƣơng nhau vì nết, chẳng hết chi ngƣời Anh không tin dạ, anh sợ đổi đời Em xin cắt tóc thề có đất trời chứng minh - Nghe em phân cạn, vô hạn thƣơng tâm Vợ chồng nghĩa nặng tình thâm Em thề không thuyền khác ôm cầm Anh nhìn mái tóc phải tuôn dầm lệ châu. Vợ chồng là nghĩa già đời Ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn. Vợ chồng là nghĩa phu thê Tay ấp má kề, sinh tử có nhau Chẳng tham của sẵn anh đâu Tham vì nhân ngãi năm đầu ngón tay Bao giờ cho đặng sum vầy Giao ca đôi mặt, dạ này mới vui. Vợ chồng là nghia tao khang Chồng hoà vợ huận gia đƣờng yên vui. Vợ chồng là nghia tao khang Chồng hoà vợ thuận nhà thƣờng yên vui Sinh con mới ra thân ngƣời Làm ăn thịnh vƣợng đời đời ấm no. BK Vợ chồng là nghĩa tao khang Chồng hoà vợ kính nhà thƣờng yên vui Sinh con mới ra mặt ngƣời Làm ăn thanh thản đời đời không lo. Xét ra trong đạo vợ chồng Cùng nhau tƣơng cậy đề phòng nắng mƣa.

203

2.3. ÔNG TƠ BÀ NGUYỆT STT 1. NỘI DUNG Ông Nguyệt Lão (1) ngồi rồi xe chỉ thắm Xe bốn tôi vào làm bạn với tiên cung Lòng ƣớc ao sánh với nhau cùng Đây với đấy duyên phận phải chiều Tơ hồng vấn vít, chỉ điều xe săn Cầm tay, giao mặt rõ ràng Chỉ thề nƣớc biếc nhà hằng dám quên Bốn tôi lên miếu xuống đền Lên đền, xuống miếu dám quên đâu là Canh ba nghe vẳng tiếng gà Gà đƣơng gáy giục, dạ đà tƣơng tƣ Canh tƣ chuông khắc trên lầu Trên lầu chuông khắc, đã rầu chiêu đăm Bây giờ sang trống canh năm Tâm hồn chuyển động, giục xuân bồi hồi Nhớ ai hết đứng lại ngồi Hết nằm lại chỗi, hết ngồi lại đi Phải khi sóng gió bất kỳ Tƣởng chi đến nguyệt, tiếc gì đến xuân Đã sinh ra số phong trần. Ông Tơ bà Nguyệt đi đâu? Không về mà gỡ mối sầu cho ta Ông Tơ bà Nguyệt ở nhà Không đi mà gỡ cho ra mối sầu. Ông Tơ hồng ơi! Sao ông đành dạ đành lòng Đôi lứa tôi nhƣ sợi chỉ lộn vòng ông không xe lại, để lòng nhớ thƣơng. Ông Tơ xe chi nghe đà oan khổ Xe anh lúc còn ở lổ (1) Xe em thuở chƣa mặc quần Anh thƣơng em từ thuở lọt lòng Ông Tơ xe sao đƣợc tơ hồng mà xe. (1) Ở lô: ở truồng. Đôi chúng ta duyên phận phải chiều Dây tơ hồng đang xe vấn vít Cái sợi chỉ điều bà Nguyệt khéo xe Đôi chúng ta duyên phận phải chiều. Đôi chúng ta duyên phận phải chiều

2.

3.

4.

5.

6.

204

Dây tơ hồng đang xe vấn vít Cái sợi chỉ điều bà Nguyệt(1) khéo xe Đôi chúng ta duyên phận phải chiều. 7. Đôi ta nhƣ vợ với chồng Chỉ hiềm một nỗi ông Tơ Hồng chƣa xe. 8. Đã thành gia thất hay chƣa Mà anh ƣớc những mây mƣa cùng ngƣời? - Tuổi anh đang độ thơ đào Ông tơ chƣa định nơi nào xe duyên. 9. Đêm nằm đặt lƣng xuống chiếu Nghe mấy lời thiết yếu em than Mau mau trỗi dậy ruột gan đau từ hồi Canh khuya anh thở vắn than dài Vái xin Nguyệt Lão trúc mai một nhà Chữ cận là gần Chữ viễn là xa Anh với em cách trở tại mẹ cha không đành Ngãi nhân nay đã gần thành Mình về thƣa lại phụ mẫu đành tôi ƣng. 10. Đêm ngắn, tình dài Tƣơng tƣ bao nhạt, bao phai hỡi tình! Bỗng đâu mắc mối xích thằng Khăng khăng ngƣời buộc, ai giằng cho ra Lên tận trăng già Hỏi ông Nguyệt Lão có nhà hay không. 11. Đêm qua bƣớc chân lên trời Lạc đƣờng lạ ngõ gặp ngƣời cung Tiên Ƣớc chi duyên sẽ bén duyên Cho duyên cõi thọ, thành duyên cõi trần Dạ buồn chân bƣớc phân vân Trời xui anh thẳng tới sân tơ hồng - Ông Tơ, ông có nhà không Ông ra xua chó cho tôi cùng với nao! Tơ duyên ông cất nơi nao Cất trong chum quả, hay vào ao sen? Ngƣời nào trái kiếp lỡ duyên Thì ông xe lại cho liền một đôi Còn nhƣ ông ấy với tôi Thì ông xe thẳng làm đôi vợ chồng. 12. Đêm qua nguyệt đổi sao dời Tiếc công gắn bó, tiếc lời giao đoan Lời thề xƣa đã lỗi muôn vàn

205

13.

14.

15.

16.

17.

18.

Mảnh gƣơng còn đó, phím đàn còn đây Ông Tơ Hồng bà Nguyệt Lão sao khéo xe dây Xe cho các cô mình ấy lấy chúng anh đây cũng vừa. Đồn đây có gái má đào Các Đằng đƣa lại, anh hào tới đây Trƣớc nhờ Nguyệt Lão xe dây Sắt cầm đƣa lại đó đây một nhà. Đấy với đây chẳng duyên thì nợ Đây với đấy chẳng vợ thì chồng Dây tơ hồng chƣa xe đã mắc Rƣợu quỳnh tƣơng chƣa nhắp đã say Chẳng nhè chẳng chén sao say Chẳng thƣơng chẳng nhớ sao hay đi tìm? Tìm em nhƣ thể tìm chim Chim ăn bể Bắc, đi tìm bể Đông. Đợi chàng chẳng thấy chàng đâu Bóng trăng đủng đỉnh ra màu khơi trêu. Ớ ông Tơ! ông để vƣơng đâu sợi chỉ điều Ai ơi đợi mấy tôi cùng Tôi còn gỡ mỗi tơ hồng(1) chƣa xong Tơ hồng hồ gỡ đã xong Ai đem cái bối bòng bong buộc vào. (1) Tơ hồng, ông Tơ, Nguyệt lão: Theo tục u quái lục, Vi Cố, ngƣời đời Đƣờng, nhân qua chơi Tống Thành, gặp một ông già ngồi dƣới bóng trăng đang kiếm sổ sách (Nguyệt Lão) trong túi có một cuộn dây đỏ. Vi Cố hỏi chuyện ông già cho biết: "Cuốn sách là sổ hôn nhân và cuộn dây đỏ dùng để buộc nam nữ lại với nhau. Dầu cho hai bên có thù hằn với nhau hoặc dù ở cách xa nhau, đã lấy dây đỏ buộc đôi nam nữ lại thì tất sẽ thành vợ chồng". Do điển này mà những từ Xích thằng, Tơ Hồng, chỉ hồng, chỉ thắm v.v... đều chỉ tình vợ chồng, và Nguyệt lão, Trăng Già, Ông Tơ... Đều chỉ ngƣời làm mai mối trong việc hôn nhân. Ai ơi đợi với tôi cùng Tôi còn dở mối tơ hồng chƣa xe. BK Anh ơi đợi với tôi cùng Tôi còn gỡ mối tơ hồng chƣa xong. Ai đi đợi với tôi cùng Tôi còn dở mối tơ hồng chửa xe Có nghe nín lặng mà nghe Những lời anh nói nhƣ xe vào lòng.

206

19. Ai xinh thì mặc ai xinh Ông Tơ chỉ quyết xe mình với ta. 20. Anh về sao đƣợc mà về Dây giăng tứ phía tính bề gặp anh Dây giăng mặc kệ dây giăng Ông Tơ bà Nguyệt đón ngăn cùng về. 21. Bây giờ tác hiệp nhân duyên Ngƣời hiền gặp đƣợc bạn Tiên từ rày Xin ngài đừng ngại đấy đây Để cho Nguyệt Lão xe dây muôn đời Xin nàng đừng ngại gần xa Để cho chén ngọc đũa ngà có đôi. 22. Bây giờ ta lại gặp ta Sẽ xin Nguyệt lão, Trăng già xe dây Xe vào nhƣ gió nhƣ mây Nhƣ chim loan phƣợng đỗ cây ngô đồng Thuyền quyên sánh với anh hùng Những ngƣời thục nữ sánh cùng văn nhân Tình xa nhƣng ngãi còn gần Tràng An quận Bắc giao lân thế nào? 23. Bắc thang lên đến tận trời Tìm ông Nguyệt Lão đánh mƣời cẳng tay Đánh rồi lại trói vào cây Hỏi ông Nguyệt Lão: nào dây tơ hồng? Nào dây xe bắc xe đông Nào dây xe vợ xe chồng ngƣời ta? Ông vụng xe, xe phải vợ già Tôi thì đốt cửa đốt nhà ông lên! BK Bắc thang lên đến tận trời Bắt ông Nguyệt Lão đánh mƣời cẳng tay Đánh thôi lại trói vào đây Hỏi ông Nguyệt Lão: Nào dây tơ hồng. 24. Bắt ông Tơ mà cho ba đấm Bắt bà Nguyệt, đánh bốn mƣơi chín cái hèo Duyên ngƣời ta xe buổi sớm duyên em buổi chiều mới xe. 25. Bắt tay ông Tơ mà bơ mà bớp Bắt lấy bà Nguyệt mà cột cội cau Cứ xe khắp thiên hạ đâu đâu Bỏ hai đứa mình lận đận ruột héo gan sầu không xe. 26. Ba năm chẳng xứng duyên hài

207

27.

28.

29. 30.

Nằm lăn xuống bệ lạy dài ông Tơ. Bớ thảm ơi! Bớ thiết ơi! Bớ bạn tình nhân ơi! Thân em nhƣ cái quả xoài trên cây Gió đông, gió tây, gió nam, gió bắc Nó đánh lúc la lúc lắc, trên cành Một mai vô tình rụng xuống biết vào tay ai? Kìa khóm trúc, nọ khóm mai Ông Tơ bà Nguyệt xe hoài chẳng thƣơng Một lần chờ, hai lần chờ Sớm lần nhớ, chớ lần thƣơng Anh thƣơng em nhƣng bác mẹ họ hàng chẳng thƣơng. BK Bớ thảm bớ thiết ơi Bớ bạn tình nhân ơi Thân em nhƣ cái trái xoài trên cây Gió đông gió tây gió nam gió bắc Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành Một mai vô tình nó rớt xuống biết vào tay ai? Bực mình lên tận tiên cung Đem ông Nguyệt Lão xuống hỏi thăm vài lời Nữ lòng trêu ghẹo chi tôi Lênh đênh bèo nổi, mây trôi một thì Biết ngƣời biết mặt nhau chi Để đêm em tƣởng, ngày thì em thƣơng Bắc Ninh cho đến Phủ Từ Qua cầu sông Nhị(1), ngẩn ngơ tìm ngƣời Tìm ngƣời chẳng biết mấy nơi Tìm ba mƣơi sáu phố thấy ngƣời ở đây. (2) Nhị sông: còn gọi là Nhị Hà hay Nhĩ Hà, khúc sông Hồng chảy gần Hà Nội. Căn duyên này, ai phá cho rời Ông Tơ ông buộc, ông Trời biểu không. Công anh lên rừng đốn trúc Đem về đoạn khúc, chuốt cái cần dài Lấy thép ra mài, uốn câu nhồi gọ Đêm hôm lọ mọ xe sợi chỉ săn Buộc chặt vào cần, móc mồi thơm phức Vội ra ngoài bực, lựa chỗ anh ngồi Thả câu xuống rồi miệng anh thầm vái Đây cần câu nhân, cần câu ngãi

208

Đây cần câu phải cần câu khôn Vái ông Nguyệt lão xe sợi chỉ hồng Đuổi con cá anh đạp đó, cho nó chạy dồn ăn câu - Con cá anh đạp nó đã có cặp Dẫu anh thả hoài chẳng gặp nó đâu Anh về sửa lại lƣỡi câu Tìm sang chốn khác duyên hầu nên chăng? 31. Cây cao bóng cả duyên mòn Ƣớc gì tôi đƣợc chồng con với ngƣời Có anh nhƣ đũa có đôi Vắng anh em vẫn ngậm ngùi nhớ thƣơng Khối tơ vƣơng, ruột tằm vấn vít Bởi ông Tơ bà Nguyệt chƣa xe Quan tƣớng nghe hiệu lệnh thì về Chữ dục đã vậy chữ tuỳ làm sao ? Muốn cho đông liễu tây đào Cảnh sầu bể thảm, lẽ nào thiếp mang Phòng khi lỡ bƣớc theo chàng Lấy ai chầu chực thành hoàng quốc gia Phòng khi thiếp ở lại nhà Một mình thân thiếp biết là làm sao? 32. Cổ tay vừa trắng vừa tròn Mó vào mát lạnh nhƣ hòn tuyết đông Đôi ta đã xứng vợ chồng Duyên trời đã định tơ hồng đã xe. 33. Chăn đơn nửa đắp nửa hong Cạn sông, lở núi, ta đừng quên nhau Từ ngày ăn phải miếng trầu Miệng ăn, môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu Biết rằng thuốc dấu hay là bùa yêu Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa Làm cho quên mẹ quên cha, quên cửa quên nhà Làm cho quên cả đƣờng ra lối vào Làm cho quên cá dƣới ao Quên sông tắm mát quên sao trên trời Đất Bụt mà ném chim trời Ông Tơ bà Nguyệt xe dây, xe nhợ nửa vời ra đâu! Cho nên cá chẳng bén câu Lƣợc chẳng bén đầu, chỉ chẳng bén kim Thƣơng nhau nên phải đi tìm Nhớ nhau một lúc nhƣ chim lạc đàn.

209

34. Cha mẹ hồi trƣớc có xem Ông Tơ đã định em với anh vợ chồng. 35. Con dao be bé sắc thay Chuôi sừng bịt bạc về tay ai cầm Lòng tôi yêu vụng nhớ thầm Trách ông Nguyệt Lão xe nhầm duyên ai! Duyên tôi còn thắm chƣa phai Hay là ngƣời đã nghe ai dỗ dành? 36. Dầu thầy mẹ không thƣơng Đôi ta trải chiếu, lạy từ ngoài đƣờng lạy vô Lạy cùng ông bác bà cô Lạy cùng làng xóm, nói vô tôi nhờ Lạy cùng bà Nguyệt, ông Tơ Xe sao cho trọn, một giờ bén duyên. 37. Ở đây ai có sẵn tiền Cho tôi mƣợn năm quan tiền, tôi quá giang ra ngoài Bắc Tôi mua một trăm cái đục, một chục cái chàng, mƣời tám cái khoan Tôi đóng cái thang một trăm ba mƣơi hai nấc Tôi bắc thấu ông Trời vàng Hỏi thăm Nguyệt Lão chớ duyên nàng về đâu? 38. Ở đây lắm kẻ gièm pha Nói vào thì ít, nói ra thì nhiều Thƣơng anh, thƣơng đủ mọi điều Gió quanh em sẽ lựa chiều em che Ai nói chi chàng chớ có nghe Ông Tơ bà Nguyệt đã xe ta rồi Dù ai khuyên đứng, dỗ ngồi Thì chàng cũng cứ đãi bôi qua lần. 39. Em là con út nhất nhà Lời ăn tiếng nói thật thà khoan thai Miệng em cƣời nhƣ cánh hoa nhài Nhƣ nụ hoa quế nhƣ tai hoa hồng Ƣớc gì anh đƣợc làm chồng Để em làm vợ, tơ hồng trời xe. 40. Em phải gặp ông Tơ hỏi sao cho biết Gặp bà Nguyệt gạn thiệt cho rành Vì đâu hoa nọ lìa cành Nợ duyên sao sớm dứt tình cho đang. 41. Gặp đây anh nắm cổ tay Buông ra, em nói lời này thở than Châu Trần chớ vội bắc ngang

210

42.

43. 44.

45. 46.

Xa xôi vƣợt mấy ngày đàng nên quen Tơ hồng chỉ thắm là duyên Dẫu bao giờ gặp thì nên bấy giờ. Hôm nay anh đi chợ trời Thấy ông Nguyệt Lão đang ngồi ở trên Tay thì cầm bút cầm nghiên Tay cầm tờ giấy đang biên rành rành Biên ta rồi lại biên mình Biên đây lấy đấy, biên mình lấy ta Chẳng tin lên hỏi trăng già Trăng già cũng bảo rằng ta lấy mình Chẳng tin lên hỏi thiên đình Thiên đình cũng bảo rằng mình lấy ta Quyết liều một trận phong ba Để cho thiên hạ ngƣời ta trông vào Quyết liều một trận mƣa rào Để cho thiên hạ trông vào đôi ta. Hỡi ngƣời đi ở bên bờ Phen này ắt hẳn ông Tơ xe vào. Hẹn với nƣớc non Kim xe mũi chỉ, cho tròn vuông tơ Nguồn ân, bể ái hẹn hò Dẫu xa nghìn dặm, hồ đồ vẫn không Nguồn ân một mảnh trăng trong Có nơi xếp để tơ hồng kíp xe Đa đoan một mảnh trăng già Xe đâu, xe hẳn một nhà vui chung Xe đâu, xe hẳn cho xong. BK Trót lời hẹn với nƣớc non Tơ xe nên để cho tròn duyên tơ Nguồn ân, bể ái hẹn hò Dẫu xa nghìn dặm hồ đồ(?) giao thông Lạnh lùng một cảnh trăng trong Bốn tôi khấn nguyện ông tơ hồng kíp xe Đa đoan lắm mấy ông trăng già Xe đâu xe hẳn một nhà vui chung Nên chăng hãy quyết cho xong. Kìa khóm trúc, nọ khóm mai Ông Tơ, bà Nguyệt, xe hoài chẳng thƣơng. Kìa khóm trúc, nọ khóm mai

211

47.

48.

49.

50.

Ông Tơ, bà Nguyệt xe hoài chẳng thƣơng Một lần chờ, hai lần đợi Ba lần nhớ, bốn lần thƣơng Anh thƣơng em, nhƣng phụ mẫu với họ hàng chẳng thƣơng. Khi xƣa em ở ngoài biển anh ở trốn lâm trung Đến nay đôi ta hội ngộ tƣơng phùng Trời kia đã định, mối tơ hồng phải xe. Kẻ về, ngƣời ở trông theo Ngựa Hồ chim Việt đôi điều ái ân Một mình tựa án tần ngần Năm canh khúc ruột nhƣ dần cả năm Vắng mình ta vẫn hỏi thăm Chốn ăn đã vậy, chốn nằm làm sao? Bấy lâu nay những khát khao Mong chƣa thấy mặt lòng nào đã quên Nghĩ rằng cùng bạn thiếu niên Vì ai xui giục cho nên nỗi này Trách ông Tơ ra tay hờ hững Lúc xe dây sao chẳng lựa ngày Bây giờ hai ngả đông, tây Trƣớc sao xe mối tơ này làm chi? Chửa biết nhau sao không nói trƣớc Biết nhau rồi kẻ ngƣợc ngƣời xuôi Bao giờ cho đƣợc đủ đôi Nhƣ sen tịnh đế một chồi hai hoa. Kết phức đi đây duyên đó nợ Kết phức đi đây vợ đó chồng Dù ông trời chƣa định, dù ông Tơ Hồng chƣa xe. Lá ngọc cành vàng Lan huệ tốt tƣơi Ngƣời có đôi, nhƣ đũa có đôi Vắng tôi quan tƣớng ngẫm, quan tƣớng nghĩ, bùi ngùi nhớ trông Lệch sai ngọc nữ kim đồng Rẽ mây mà xuống đánh đồng giúp tôi Gió hiu hiu ngồi chốn năm canh Quan tƣớng đi, quan tƣớng ngẫm, quan tƣớng nghĩ cái chữ chung tình vân vi Thƣơng ngƣời nhƣ lá đài bi Ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sƣơng Bối tơ vƣơng cái ruột con tằm Bối rối, ông trăng già, bà Nguyệt khéo xe

212

Quan tƣớng nghe hiệu lệnh thì về Chữ đúc đã vậy vì làm sao? 51. Lại đây anh hỏi cho rành Cửa nhà gia thất em thành hay chƣa? Má hồng hƣơng thoảng gió đƣa Hỏi nàng có chốn hay chƣa hỡi nàng? - Khoan khoan anh hãy xe ra Để em biết hết chuyện nhà anh hay Phủ Hà(1) quê quán xƣa nay Cha mẹ đã định những ngày còn thơ Bởi vì duyên kiếp hững hờ Số mình đã lỗi ông Tơ lại lầm Thuyền son đậu phải vũng đầm Tại trâu mà gảy đàn cầm biết chi! Vậy nên em phải ra đi Đến đâu, ai kẻ thƣơng vì hãy hay. (1) Phủ Hà Trung: xƣa gồm bốn huyện ở phía đông Thanh Hoá là: Hoằng Hoá, Phong Lộc, Nga Sơn, Tống Sơn. 52. Lửng lơ vừng quế soi thềm Chuông đƣa bát ngát càng thêm bận lòng Dao vàng bỏ đãy kim nhung Biết rằng quân tử có dùng ta chăng Đèn tàn thấp thoáng bóng trăng Ai đem ngƣời ngọc thung thăng chốn này Ở đây gần bạn gần thầy Có công mài sắc có ngày nên kim. BK (a) Lửng lơ vầng quế soi thềm Hƣơng đƣa thơm ngát càng thêm bận lòng Dao vàng bỏ đãy kim nhung Biết rằng quân tử có dùng ta chăng Đèn tà thấp thoáng bóng trăng Ai đem ngƣời ngọc thung thăng chốn này? (b) Lửng lơ vừng quế dọi thềm Chuông đƣa bát ngát càng thêm bận lòng Dao vàng bỏ đãy kim nhung Biết rằng quân tử có dùng ta chăng Đèn tàn thấp thoáng bóng trăng Ai đem ngƣời ngọc thung thăng trốn này. (c) Lửng lơ bóng quế dãi thềm Nhang đƣa bát ngát càng thêm bận lòng

213

Dao vàng bỏ đãy kim nhung Biết rằng quân tử có dùng ta chăng? Thấp thoáng cái bóng ông Trăng Ai đem ngƣời ngọc thung thăng chốn này Rồng vàng lên đổ cạn giƣờng vây Biết rằng đây đấy sum vày gần xa Xăm xăm bƣớc tới gốc mai già Hỏi thăm ông Nguyệt Lão có nhà hay không? Xăm xăm tới gốc cây thông Cô Đôi xin nhớ ra lòng ngẩn ngơ. (d) Lửng lơ bóng quế dãi thềm Nhang đƣa bát ngát càng thêm bận lòng Dao vàng bỏ đãy kim nhung Biết rằng quân tử có dùng cho chăng? Thấp thoán cái bóng ông Trăng Ai đem ngƣời ngọc thung thăng chốn này Rồng vàng lên bể cạn giƣơng vây Biết rằng đây đấy sum vầy gần xa. (đ) Lẳng lơ vừng quế dọi thềm Chuông đƣa bát ngát càng thêm bận lòng Dao vàng để đãy kim nhung Biết ngƣời quân tử có dùng ta chăng? 53. Mây bay xao xác gặp rồng Tình cờ gặp bạn tơ hồng ta xe. 54. Một đời đƣợc mấy anh hùng? Một nƣớc đƣợc mấy ông trị vì? Anh đừng cợt diễu em chi a Em đang chắp chỉ chọn ngày cài hoa Tin lên thiên thƣơng Hằng Nga Cậy ông Nguyệt lão với bà Tơ vƣơng Chăn loan, gối phƣợng sẵn sàng Màn đào rủ dọc, trƣớng hồng trải ngang Còn đang chọn đá thử vàng Ngọc lành ai quảy ra đàng bán rao Quan quan bốn tiếng thƣ cƣu Mong ngƣời quân tử hảo cầu kết duyên Phấn son cho phỉ tấm nguyền Anh hùng sánh với thuyền quyên mới tình Phạt kia thơ ấy rành rành, Phỉ môi bất đắc xin anh liệu lƣờng. 55. Một mình thiếp giữ lời thề

214

Hai tình chớ đợi đêm khuya lạnh lùng Ba tình gánh cát bể Đông Bốn tình chờ đợi tơ hồng khéo xe Năm tình một hội hai hè Sáu tình chỉ quyết xe tơ đá vàng Bảy tình bia tạc chứ vàng Tám tình em quyết lấy chàng, chàng ơi! Chín tình nhớ mãi không nguôi Mƣời tình, tính chẳng sang chơi với tình Tình còn vƣơng nợ ba sinh Tính ơi, có gỡ cho tình đắp mùa đông áo tình, tính mặc cho xong mùa hè Tay tình, tính vốn ngồi kề Chân tình, tính đội cũng vừa Ông Tơ bà Nguyệt khéo lừa đôi ta. 56. Mấy năm trời qua tƣởng xa em Hay đâu Trời định anh với em lại cang thƣờng Ông Tơ xe sợi chỉ hƣờng Đố em có biết điệu cang thƣờng của ai Đêm cách bức, ngày chẳng vãng lai Ông Tơ xe mối chỉ cho hai đứa mình Chỉ tơ đứt mói thình lình Bậu ơi, thƣơng chƣa phải dạ mà tình đã khiến xa. 57. Năm Thìn trời bão thình lình Kẻ trôi ngƣời nổi, hai đứa mình còn đây Tơ hồng nay đã về tay Bà Nguyệt ở lại xe dây hai đứa mình Điệu phu thê mình giữ trọn tình Để phụ mẫu hay đặng đánh mình đau tôi. 58. Năm voi anh đúc năm chuông Năm cô anh đóng năm giƣờng bình phong Còn một cô bé chửa chồng Lại đây anh kén cho bằng lòng cô Một là ông Cống, ông Đồ Hai là ông Bát, ông Cửu, ông Đô cũng vừa Giả ơn bà Nguyệt, ông Tơ Sớm đi cầu Thƣớc, tối mơ mộng hùng Cho mau cửa lại treo cung Để cho cô bế cô bồng cô ru Cô ru rằng: Con ăn, con bú, con nô

215

59.

60. 61. 62. 63.

64.

65.

66.

Con lẫy, con bò, con chững, con đi Ngày sau con cả lớn khôn Con học, con thi, nhảy ba tầng sóng kinh kì khai nhan. Nằm đêm nghĩ lại trách thầm Ông Tơ sao cắc cớ(1) Nhớ ai, rứt xé ruột tằm Mơ hình tƣởng bóng, luỵ dầm thấm bâu. (1) Cắc cớ: oái oăm, ngƣợc đời. Nào em phụ nghĩa bỏ chồng Bởi chƣng Nguyệt Lão mối chỉ tơ hồng xe lơi. Ngày nay Nguyệt Lão vấn vƣơng Trăm năm quyết giữ tao khƣơng một đời. Ngồi buồn trách mẹ trách cha Trách ông Nguyệt Lão, trách bà xe dây. Ngậm ngùi chả dám nói ra Những lời ngào ngạt chật nhà năm gian Ông Tơ sao khéo đa đoan Một lời lan huệ, đá vàng thuỷ chung. Nghĩa non sông há dễ thờ ơ Hay là tình tự đợi chờ đã lâu Vẻ chi từ giã cùng nhau Điều chi nói thực kẻo sầu ai mang Ông Tơ sao khéo đa đoan Đang vui xao nỡ để đàn ngang cung Cùng nhau gắn bó thuỷ chung Trăm năm tạc dạ ghi lòng dám sai Đã đành hợp tác bởi Trời Bởi Trời nhƣng cũng có ngƣời mới nên Một lời đây đó là duyên Chớ nên chểnh mảng để phiền cho nhau. Nhác trông em cái áo vá vai Thầy mẹ em vá hay tài vá nên Cái mụn vá em trông cũng có duyên. BK Nhác trông tấm áo vá vai Thầy mẹ anh vá hay tài vá nên? Nhác trông tấm áo có duyên Miệng cƣời hoa nở, càng nhìn càng ƣa áo anh, em mặc cũng vừa Ông Tơ bà Nguyệt khéo lừa đôi ta. Nhân bất tri nhi bất uẩn

216

67.

68.

69.

70. 71. 72. 73.

Bất diệc quân tử hồ? Anh thƣơng em ruột héo gan khô Trách ai phân rẽ Hán Hồ đôi nơi Cánh bèo mặt nƣớc nổi trôi Thƣơng nhau phải nhớ những lời sớm trƣa Lạc bầy chim nhạn bơ vơ Đôi ta không nợ ông Tơ bỏ liều Sao trên trời bao nhiêu Qua thƣơng bậu bấy nhiêu Ngày đêm qua nhớ bậu, những trăm chiều quặn đau. Nhờ ai lên đến cung mây Hỏi ông Nguyệt Lão nào dây tơ hồng Nào dây xe bắc xe đông Nào dây xe vợ xe chồng ở đâu. Nƣớc chảy đã vẫn chƣa mòn Ƣớc gì kết ngãi nƣớc non với chàng Ƣớc gì tạc đá ghi vàng Ƣớc gì em sánh với chàng từ đây Ƣớc gì Nguyệt Lão xe dây Xe cho mình đấy ra đây một nhà. Phải em gặp ông Tơ, hỏi sơ cho biết Gặp bà Nguyệt gạn thiệt cho rành Vì đâu hoa nọ lìa nhành Nợ duyên sao sớm dứt cho đành dạ em? BK Phải gặp ông Tơ hỏi sơ cho biết Phải gặp bà Nguyệt, gạn thiệt cho rành Vì đâu hoa nọ lìa nhành Nợ duyên sớm dứt cho đành dạ em? Phụ anh, tội lắm bớ nàng! Ông Tơ xe sợi chỉ vàng còn săn. Quyết lên trời kiện đến ông Tơ Nơi thƣơng không vấn, vấn vơ nơi nào. Rồi đây ta kiện ông Tơ Nơi thƣơng không vấn, vấn vơ nơi nào. Rủ nhau đi gánh nƣớc thuyền Đứt quãng vỡ sải nƣớc liền ra sông Nhất chờ, nhị đợi, tam mong Tứ thƣơng, ngũ nhớ, lục mong, thất bát cửu chờ Mặt trời đã xế về nam Trách ông Tơ Hồng cùng bà Nguyệt Lão đa đoan nửa chừng!

217

Cây muốn lặng, gió chẳng muốn dừng. 74. Sáng trăng suông sáng cả bờ sông Ta đƣợc cô ấy ta bồng ta chơi Ta bồng ta tếch lên trời Hỏi ông Nguyệt Lão tốt đôi chăng là? 75. Tôi rằng: Lâm Tri (1) chút ngãi đèo bòng Hỏi ngƣời còn nhớ hay lòng đã quên Chữ chung tình gánh nặng đôi bên Dƣới dòng nƣớc chảy đôi bên có cầu Có lòng hạ cố đến nhau Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã nhiều Những là đắp nhớ đổi sầu Tuyết sƣơng nhuộm nửa mái đầu huê râm Ngày thì luống những âm thầm Đêm nằm ít cũng tám, chín mƣời lần chiêm bao Tối qua lên tận trên mây Tôi bẩm là mây Hôm nay mới đƣợc đến đây hầu ngƣời Thấy ông Nguyệt Lão xe dây tơ hồng Dây nào tam phủ, địa phủ cộng đồng Dây nào xe vợ xe chồng ngƣời ta Dây nào xe phố Thanh Hoa Thì ông xe lại cho liền lỡ duyên Thì ông xe lại ngƣời ta cho liền Dây nào trái kiếp lỡ duyên Thì ông xe lại cho liền ông ơi! Dây nào xe bốn chúng tôi Xe chín lần kép, xe mƣời lần đơn. (1) Lâm Tri: địa danh dùng trong truyện Kiều của Nguyễn Du, nguyên là tên huyện thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. 76. Tối qua lên tận trên mây Hôm nay mới đƣợc đén đây hầu ngƣời thấy ông Nguyệt Lão xe dây tơ hồng Dây nào tam phủ, địa phủ cộng đồng Dây nào xe vợ, xe chồng ngƣời ta Dây nào xe phố thành hoa Thì ông xe lại ngƣời ta cho liền Dây nào trái kiếp lỡ duyên Thì ông xe lại cho liền ông ơi! Dây nào xe bốn chúng tôi

218

77.

78. 79. 80.

81. 82. 83.

84.

85.

86. 87.

88.

Xe chín lần kép, xe mƣời lần đơn. Thẩn thơ tới gốc mai già Hỏi thăm ông Nguyệt Lão có nhà hay chăng? Ngọn đèn thấp hoáng dƣới bóng ông trăng Ai đem ngƣời ngọc thung thăng chốn này. Thuyền quyên gặp kẻ anh hùng Tay mang nguyệt lão, tay bồng càn khôn. Trách ông Tơ cùng bà Nguyệt Lão Xe dây vào lại đảo dây ra. Trách ông tơ xe lơi mối chỉ Trách bà Nguyệt để lỗi đạo tao khang Vì ai phân rẽ đôi đàng Dù cho đó dặng chốn giàu sang Phải nhớ mấy câu ân tình thuở trƣớc chớ có phụ phàng duyên em. Trách ông Tơ ba bảy mƣơi phần Dây xe chƣa chắc đã lần dây ra. Trách ông tơ giận với bà Tơ Nơi khẩn cầu không mộ, nơi thờ ơ buộc vào. Trời đã vẹn toàn Công em lặn suối qua ngàn trèo non Em thấy ngƣời đôi đã đáng đôi Nhân duyên cũng bởi ông Trời chả xe Mảnh tơ tình ai xẻ làm hai Để em chờ đợi mấy ngƣời đáng đôi. bk a-Giời đã vẹn toàn b-Nhân duyên cũng bởi ông Tơ Hồng chả xe. Vái ông Tơ vài ve rƣợu thiệt Vái bà Nguyệt dăm bảy con gà Xui cho đôi lứa hiệp hoà Nếu mà đặng vậy, sau trả lễ ông bà chẳng sai. Vái ông Tơ đôi ba chầu hát Vái bà Nguyệt năm bảy đêm kinh Xui cho đôi lứa tôi thuận một tâm tình Dầu ăn hột muối, nằm đình cũng ƣng. Vái ông Tơ một đĩa bánh bò bông Cùng bà Nguyệt lão gắng công xe giùm. Vì ông Tơ ham đánh bài xẹp Vì bà Nguyệt ham đánh bài linh Xe dây không rành mối, nên duyên nợ đôi đứa mình lửng lơ. Xăm xăm tới gốc mai già Hỏi thăm ông Nguyệt Lão có nhà hay không ?

219

Bạn loan nay đã có chồng Hay còn ở ngã ba Bông lững lời? 2.4. NHỮNG BIỂU HIỆN TIÊU CỰC TRONG QUAN HỆ VỢ CHỒNG STT 1. NỘI DUNG Ai ơi đợi mấy tôi cùng Tôi còn đốt mã cho chồng tôi đây Chồng tôi mới đƣợc ba ngày Ai ơi có đợi tôi rày hay không . Ai ơi, phải nghĩ trƣớc sau Đừng tham lắm của nhà giàu làm chi Làm thì xem chẳng ra gì Làm tất làm tả nói thì điếc tai Đi ngủ thời hết canh hai Thức khuya dậy sớm mình ai dãi dầu Sớm ngày đi cắt cỏ trâu Trƣa về lại bảo: ngồi đâu, không đầy! Hết mẹ rồi lại đến thầy Gánh cỏ có đầy, vẫn nói rằng vơi Nói thì nói thật là dai Lắm câu chua cạnh, đắng cay trăm chiều Phận em là gái nhà nghèo Lấy phải chồng giàu, ai thấu cho chăng Nói ra đau đớn trong lòng Chịu khổ, chịu nhục suốt trong một đời. Anh đi ghe nổi chín chèo Bởi anh thua bạc nên nghèo nợ treo - Nợ treo mặc kệ nợ treo Em bán bánh bèo trả nợ cho anh. Anh ham xóc đĩa cò quay Máu mê cờ bạc, lại hay rƣợu chè Eo sèo công nợ tứ bề Kẻ lôi ngƣời kéo, ê chề lắm thay! Nợ nần em trả, chàng vay Kiếp em là kiếp kéo cày đứt hơi! Anh về rẫy vợ anh ra Công nợ em trả, mẹ già em nuôi Bây giờ anh rẫy vợ rồi Công nợ anh trả, anh nuôi mẹ già.

2.

3.

4.

5.

220

6.

7.

8. 9.

10. 11.

12.

13.

14. 15.

Anh thua chi, thua dại thua khờ Nhà cửa anh thua hết, đồ thờ anh cũng thua Nay chừ em còn cái quần lãnh mới mua Anh năn năn nỉ nỉ, anh đem thua cho rồi Con anh đứa đặt đứa ngồi Em than em khóc, chồng ơi là chồng! ấu nào ấu lại tròn, bồ hòn nào bồ hòn lại méo Anh mở lời nói khéo, em nghe trắc tréo khó trông Đời thuở nhà ai hai gái lấy một chồng Tiếc công chờ đợi, lại băng suối vƣợt đồng đến đây. Bớ cô chít khăn lòm lòm Chồng cô, cô bỏ, cô nom chồng ngƣời. Bồng bồng cõng chồng đi chơi Cõng qua chỗ lội đánh rơi mất chồng Chị em ơi cho tôi mƣợn cái gàu sòng Để tôi tát nƣớc cho chồng tôi lên. Buồn từ trong dạ buồn ra Buồn anh ở bạc, buồn cha mẹ nghèo. Buồn về một nỗi phu quân Thà rằng tát cạn cấy cần cho xanh Phu quân sao chả thƣơng tình Cho nên sông lở mà thành cũng xiêu Lòng tôi áy náy trăm chiều Phu quân có biết những điều ấy cho. Cái bống cõng chồng đi chơi Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng Chú lại ơi, tôi mƣợn chú cái cỗ gàu sòng Tôi tát, tôi múc cho chồng tôi lên. BK a- Chú lái ơi cho tôi mƣợn cỗ gàu sòng b- Tôi tát nƣớc cạn cho chồng tôi lên - Để tôi tát nƣớc múc chồng tôi lên. Cái cầu ba mƣơi sáu nhịp Em chẳng kịp nhắn vội với chàng Nghĩa tao khang sao chàng vội dứt Đêm nằm thao thức tƣởng bức thƣ anh? Bấy lâu nay em mang tiếng chịu lời Bây giờ anh ở bạc, ông Trời nào để anh. Cái cò là cái cò quăm Mày hay đánh vợ tối nằm với ai. Cái cò là cái cò quăm

221

16.

17.

18.

19. 20. 21. 22.

23. 24.

Mày hay đánh vợ, mày nằm với ai? Có đánh thì đánh sớm mai Chớ đánh chập tối, chả ai cho nằm. Cái cuốc là cái cuốc đen Đôi vợ chồng trẻ đốt đèn ăn cơm Ăn hết xới xới đơm đơm Ăn cho sạch sẽ lấy rơm mà chùi Chồng giận chồng đánh ba dùi Mẹ chồng chẳng chữa lại xui đánh què Đánh cho què quặt chân tay Hễ nó có khóc thời mày bỏ tro Bao giờ mẹ chồng ốm ho Nàng dâu lấy thuốc đem cho mẹ chồng Lấy những lông cú, lông cáo, lông công Lấy cà độc dƣợc cùng lông con mèo. Chàng nhìn thiếp rƣng rƣng hột luỵ Thiếp nhìn chàng lã chã hột châu Mẹ cha hành hạ thân dâu Anh đau lòng phải chịu, biết làm sao bây giờ? Chiều chiều ra đứng bờ sông Hỏi thăm chú lái, nào chồng em đâu? - Chồng em đang ở Khuê Cầu Đánh thua quay đất những đầu tháng giêng Cầm khăn, bán áo, cổ kiềng Bán nón quai lụa, bán chiêng cố nồi Bây giờ túng lắm em ơi! Có tiền riêng giấu mẹ mà nuôi lấy chồng. Chồng đánh bạc, vợ đánh bài Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng. Chồng dữ thì em mời rầu Mẹ chồng mà dữ, giết trâu ăn mừng. Chồng dữ thì em mới lo Mẹ chồng mà dữ mổ bò ăn khao. Chữ trinh đáng giá nghìn vàng Từ anh chồng cũ đến chàng là năm Còn nhƣ yêu vụng dấu thầm Họp chợ trên bụng đến trăm con ngƣời! Có chồng càng dễ chơi ngang Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai? Có chồng càng dễ chơi ngang Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai?

222

25. 26. 27.

28.

29. 30. 31. 32.

33.

34.

Vắng hôm thời đã có mai Chồng khi đi vắng đã ai ở nhà. Có chồng thì mặc có chồng Còn đi chơi trộm kiếm đồng mua rau. Có thằng chồng nghiền nhƣ ông Tiên nho nhỏ Tối lại vô mùng đèn đỏ tợ sao. Con cóc mà ngóc ao bèo Tôi ngỡ anh khá tôi theo anh về Ai ngờ công nợ rề rề Tôi trốn tôi tránh tôi về nhà tôi Nƣớc nóng để miệng bình vôi Tôi ngồi tôi nghĩ thân tôi tôi buồn. Con cú ăn trầu đỏ môi Có ai lấy lẽ chú tôi thì vào Thím tôi chả bảo làm sao Nói lên vài tiếng, lào nhào mấy câu. Con hƣ bởi tại cha dong Vợ hƣ bởi tại thằng chồng cả nghe. Đánh vợ thời đánh sáng mai Chớ đánh chiều tối không ai nằm cùng. Đêm nằm nghĩ lại mà coi Lấy chồng đánh bạc nhƣ voi phá nhà. Dù chàng năm thiếp bảy thê Cũng không tránh khỏi gái sề này đâu. BK - Chàng cũng chẳng bỏ nái sề này đâu. - Chẳng qua đƣợc cái gái sề này đâu - Thì chàng chẳng khỏi nái sề này đâu. Em là con gái Phủ Từ(1) Lộn chồng chồng trả, theo sƣ chùa Viềng Nó ăn thịt chó nấu giềng Bán rau mảnh bát lấy tiền nộp cheo Dù còn thiếu thốn bao nhiêu Xin chàng đừng có cắm nêu ruộng chùa. (1) Phủ Từ: Phủ Từ Sơn, nay thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc. Em tham giàu lấy thằng bé tí tị tì ti Làng trên xã dƣới thiếu gì con trai to Em đem thân đi cho thằng bé nó giày vò Mùa đông tháng rét nó nằm co trong lòng. Tƣởng đến cơn em bồng đức ông chồng lên Nó còn niên thiếu chẳng nên cơm cháo gì

223

35.

36. 37.

38. 39.

40.

Nó cứ ngủ, đêm nó ngáy khì khì Để nó lên bụng, nó thì rằng: thôi! BK (a)Em tham giàu em lấy thằng bé tí ti Làng trên xã dƣới thiếu gì trai to Em đem thân cho thằng bé nó giày vò Mùa đông tháng rét nó nằm co trong lòng Cũng mang là gái có chồng Chín đêm chực tiết nằm không cả mƣời Nói ra sợ chị em cƣời Má hồng bỏ quá thiệt đời xuân xanh Em cũng liều thân về thằng bé trẻ ranh Đêm nằm sờ mó lần quanh cho nó đỡ buồn Buồn mình em bế nó lên Nó còn bé dại đã nên cơm cháo gì? Nó ngủ nó ngáy khì khì Một giấc đến sáng còn gì là xuân Chị em ơi! Hoa nở mấy lần. Gà tơ xào với mƣớp già Vợ hai mƣơi mốt, chồng đà sáu mƣơi Ra đƣờng chị giễu em cƣời Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng Đêm nằm tƣởng cái gối bông Giật mình gối phải râu chồng nằm bên Sụt sùi tủi phận hờn duyên Oán cha, trách mẹ tham tiền bán con. Gió đƣa bụi chuối sau hè Anh về vợ bé bỏ bè con thơ. Gió lùa bụi chuối sau hè Anh mê vợ bé, bỏ bè con thơ Gió đƣa bụi trúc ngả quì Thƣơng cha phải chịu luỵ dì, dì ơi! Hai tay cầm hai quả bòng Quả đắng phần chồng, quả ngọt phần trai. Hai tay cầm hai quả hồng Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai Nằm đêm vuốt bụng thở dài Thƣơng chồng thì ít nhớ trai thì nhiều. Hồi nào lấy em, anh nói với em một rằng thƣơng hai rằng thƣơng Đến nay anh ở ra dạ điếm đàng Trời cao có mắt, anh có trốn lên ngàn chẳng yên.

224

41.

42.

43.

44.

45. 46. 47.

48.

49.

Khi anh mặt bủng da chì Tay bƣng bát thuốc, tay thì bát canh Bây giờ anh đẹp anh xinh Anh lấy vợ lẽ phụ tình thiếp chăng? Khi xƣa anh ở cùng ai Bây giờ đặng chiếc thuyền hai, phụ đò Khi xƣa anh ở cùng đò Bây giờ đò lủng anh mò thuyền quyên. Khi xƣa em ở với mẹ với cha Một năm chín yếm xót xa trong lòng Từ khi em về nhà chồng Chín năm một yếm, em lộn lần trong ra ngoài. Khi xƣa thiếp sáng ràng rạng nhƣ gƣơng Thiếp liều mình trao thƣơng cho chàng Nay chừ huệ héo lan tàn Thầy mẹ đánh mắng, dạ chàng khiến vong. Không thƣơng để thiếp lui ra Tội gì một ổ để đôi gà ấp chung. Làm gì những thói đƣa đong Gái bắt nạt chồng, em chẳng có ngoan. Làm tài trai ăn chơi cho đủ mùi Khi uống thuốc phiện, khi vui chè tàu Suốt năm canh năm vợ ngồi hầu Vợ cả têm thuốc, têm trầu vợ hai Vợ thứ ba trải chiếu chia bài Vợ thứ tƣ coi sóc nhà ngoài nhà trong Vợ thứ năm sửa chốn loan phòng. Lấy anh anh sắm sửa cho Dùi đục cho sẵn anh ghè đầu xƣơng Khi vui anh gối đầu giƣờng Khi buồn anh cứ đầu xƣơng anh ghè. Lấy chồng gặp phải kẻ tồi Cho nên lòng những bồi hồi đắng cay Cả ngày chỉ rƣợu với say Khi nay thuốc phiện, khi mai tài bàn Nói ra mang tiếng phủ phàng Nín đi thì não can tràng xiết bao! Cũng thì phận gái má đào Ngƣời thì gặp đƣợc anh hào đảm đang Mình thì cũng dự phấn hƣơng Gặp nơi lều lổng, chẳng thƣơng chút nào!

225

50.

51.

52. 53. 54. 55.

56.

57. 58. 59.

Mật ngọt rót xuống thau đồng Những lời anh nói cho lòng em say Một trâu anh sắm đôi cày Một chàng đôi thiếp có ngày oan gia. Chàng ơi! Chàng cho em ra Lẽ đâu một ổ đôi gà ấp chung! Mẹ em tham thúng xôi rền Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hƣng Em đã bảo mẹ rằng đừng Mẹ giấm mẹ giúi mẹ bƣng vào nhà Bây giờ tôi bán oan gia Nó đánh trong nhà, nó quật ngoài sân Mẹ ngồi mẹ nghĩ tần ngần Mẹ bán táo rụng, gỡ dần con ra. Mới hay của trọng hơn ngƣời Giàu sang đổi bạn, khổ đời đổi duyên. Một chàng hai thiếp khó phân Anh về lƣờng lại để cầm cân cho thăng bằng. Nào em phụ nghĩa bỏ chồng Bởi chƣng Nguyệt Lão mối chỉ tơ hồng xe lơi. Nào khi hai đứa mình kê chung một gối Bởi vì ai lỡ hội ra ri? Trách ai quên ngãi bỏ nghì Đồng đen chê nhẹ, than chì vụng suy. Ngày xƣa ta chửa lấy mày Thời ta trải chiếu bàn tay cho ngồi Bây giờ ta lấy đƣợc rồi Chiếu chả cho ngồi, đất lại thả chông. Ngồi buồn vuốt bụng thở dài Nhớ chồng thì ít, nhớ trai thời nhiều. Ngọn roi mẹ uốn trăm chiều Anh vô lạy mẹ bốn lạy, kẻo mẹ đánh nhiều thì em đau. Nhà anh có ruộng giữa đồng Để em tát nƣớc cực lòng em thay Trời làm mƣa bấc gió may Để em tát nƣớc giơ tay vái Trời Tháng tám anh đi dạm lời Tháng chín ăn cƣới tháng mƣời làm dâu Từ ngày em về làm dâu Thì anh dặn trƣớc, dặn sau nghe lời Mẹ già ác lắm anh ơi!

226

60.

61.

62.

63.

64. 65.

Nhịn ăn nhịn mặc, nghe lời mẹ cha Nhịn cho nên cửa, nên nhà Nhịn cho nên cột, xà nhà bằng bông Nhịn cho nên vợ, nên chồng Để em chỉ thiết một lòng lấy anh. Nhà rƣờng mái lợp tranh mây Thân anh hai vợ nhƣ cây cột dòng. BK a - Nhà rƣờng mà lợp tranh mây b - Thân anh hai vợ nhƣ dây buộc mình. Nƣớc đục mà đựng chậu thau Cái mâm chữ triện đựng rau thài lài Tiếc thay con ngƣời da trắng tóc dài Bác mẹ gả bán cho ngƣời đần ngu Rồng vàng tắm nƣớc ao tù Ngƣời khôn ở với ngƣời ngu bực mình. BK (a) Bát nƣớc lắng mà đựng chậu thau Cái mâm triện tự đựng rau thài lài Anh tiếc cho con ngƣời da trẳng tóc dài Mẹ cha ép gả cho ngƣời đần ngu. (b) Tiếc thay nƣớc đục mà đựng chậu thau Cái mâm chữ triện đựng rau thìa lài Tiếc ngƣời da trắng tóc dài Đƣơng xuân cha mẹ ép nài lấy lão sáu mƣơi. Nƣớc nguồn chảy xuống soi dâu(1) Thấy anh đánh bạc lùa trâu đi cầm Cầm trâu, cầm áo, cầm khăn Cầm dây lƣng lụa, xin đừng cầm tay em! (1) Soi dâu: doi nhỏ, dài trồng dâu. Nƣớc sông đổ lẫn nƣớc ngòi Con gái Linh Xá cầm roi đánh chồng Nƣớc sông đổ lẫn nƣớc đồng Con gái Linh Xá dạy chồng bằng dao. Nƣớc sông pha lẫn nƣớc đồng Con gái Phú Thọ đánh chồng cả đêm. Ở đời nên phải chiều đời Chồng thời nhƣ cú, vợ thời nhƣ Tiên Bởi chƣng bố mẹ em tham bạc, tham tiền Cho nên cú ở với Tiên cùn đời Bao giờ mãn kiếp, con cú kia ơi?

227

66.

67.

68. 69. 70. 71.

72.

Thì Tiên với cú mới rời đƣợc nhau! ớt nào là ớt chẳng cay Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng? Nói ra đau đớn trong lòng ấy cái nợ nần, có phải chồng đâu. Rừng xanh con cọp nó gầm Hỡi cô chồng đánh la rầm xóm kia Đầu đuôi bởi tại chuyện chi Hay là bởi chuyện cô mi ve ông lái mành. Rƣợu chè cờ bạc lu bù Hết tiền, đã có mẹ cu bán hàng. Thân em đi lấy chồng chung Khác nào nhƣ cái bung xung chịu đòn! Thân em làm tốt làm lành Lấy chồng làm lẽ nhƣ giành thủng trôn. Thân em mƣời sáu tuổi đầu Cha mẹ ép gả làm dâu nhà ngƣời Nói ra sợ chị em cƣời Năm ba chuyện thảm chín mƣời chuyện cay Tôi về đã mấy năm nay Buồn riêng thì có vui vầy thì không Ngày thì vất vả ngoài đồng Tối về thời lại nằm không một mình Có đêm thức suốt năm canh Rau héo cháo chó loanh quanh đủ trò Ai về nhắn mẹ cùng cha Lấy chồng nhà có, khổ ba bảy đƣờng Đêm nằm lƣng nỏ bén giƣờng Mụ gia đã xốc vô buồng kéo ra Bảo lo con lợn con gà Lo xong cối lúa, quét nhà nấu cơm ốm đau thì mụ nỏ thƣơng Mụ hành mụ hạ, đủ đƣờng khốn thân Tối về bƣng bát cơm ăn Mụ cầm cái đọi, mụ quăng vô ngƣời Lấy chồng giàu, khổ lắm, chị ơi! Thân thiếp nhƣ cánh hoa đào Đang tƣơi đang tốt thiếp trao cho chàng Bây giờ nhuỵ rữa, hoa tàn Vƣờn xuân nó kém, sao chàng lại chê? Chàng cho đôi chữ thiếp về

228

73. 74. 75.

Dầu chàng năm thiếp, mƣời thê, mặc chàng Lắm quân quan nhộn nhà hàng Lắm nơi lịch sự, hỡi chàng, chàng ơi! Chàng ngồi chàng nghĩ mà coi Sao chàng chẳng nghĩ những hồi ngày xƣa Nào khi cờ bạc chàng thua Nào quần, nào áo, thiếp mua cho chàng Nào khi công nợ nhà hàng Thiếp tháo nhẫn bạc nhẫn vàng trao cho Nào khi trai gái nhà trò Một mình thân thiếp chàng vò mấy phen Bay giờ chàng ăn ở ra dạ bạc đen Có bóng trăng, tình phụ bóng đèn thoảng qua Chàng từ, thiếp cũng xin thôi Bể hồ tát cạn, ai hôi mặc lòng. BK Thiếp xƣa nhƣ cánh hoa nhài Đƣơng tƣơi đƣơng tốt, trao tay cho chàng Thiếp nay nhuỵ rữa, hoa tàn Hồng nhan thiếp kém, duyên chàng lại chê Thiếp xin hai chữ thiếp về Dù chàng năm thiếp bảy thê mặc chàng Nƣớc sông Lèn vẫn chảy đò lại sang ngang Nhiều ngƣời lịch sự hơn chàng chàng ơi! Chàng ngồi ngẫm nghĩ mà coi Sao chàng chẳng nhớ khi cờ bạc chàng thua Ruộng nƣơng thiếp bán, thiếp đƣa cho chàng Khi công nợ lúc lại nhà hàng Thiếp tháo nhẫn bạc, vòng vàng trao cho Khi trai gái lúc lại nhà trò Phận thiếp là gái tò vò mấy phen Bây giờ lấy mực làm đen Lấy vôi làm trắng lấy phèn làm trong. Thằng chồng em là đứa vô nghì Tổ tôm xóc đĩa việc gì cũng ngoan. Thầy mẹ đập thiếp, chàng đứng chàng coi Sao chàng không vào cƣớp lấy ngọn roi cho thiếp nhờ? Thƣơng ai cho bằng thƣơng chồng Bởi chồng cờ bạc nên lòng chẳng thƣơng. BK Yêu ai cho bằng yêu chồng

229

76.

77. 78.

79.

80.

81.

Bởi chồng cờ bạc, nên lòng không yêu. Thƣơng ai cho bằng thƣơng chồng Bởi chồng cờ bạc nên lòng chẳng thƣơng Khuyên chàng cờ bạc thì chừa Rƣợu chè trai gái say sƣa mặc lòng. Tiếc thay con ngƣời da trắng, tóc dài Bác mẹ gả bán cho ngƣời đần ngu. Trách chàng ăn ở chấp chênh Em nhƣ thuyền thúng lênh đênh giữa dòng May ra trời lặng nƣớc trong Chẳng may bão táp cực lòng thiếp thay Công thiếp vò võ đêm ngày Mà chàng ăn ở thế này, chàng ôi! Thiếp nhƣ hoa đã nở rồi Xin chàng che lấy mặt trời cho tƣơi. Trách duyên, lại giận trăng già Xe tơ lầm lỗi hoá ra chỉ mành Biết ai than thở sự tình? Chẳng qua mình lại biết mình mà thôi! Lấy chồng gặp phải kẻ tồi Cho nên lòng những bồi hồi đắng cay Cả ngày chỉ rƣợu sƣa say Khi nay thuốc phiện, khi nay tài bàn Nói ra mang tiếng phũ phàng Nín đi thì não can tràng xiết bao! Cũng thì phận gái má đào Ngƣời thì gặp đƣợc anh hào dảm đang Mình thì cũng dự phấn hƣơng Gặp nơi lêu lổng, chẳng thƣơng chút nào! Trách thân mà lại giận Trời Trách chàng quân tử ở ra ngƣời thờ ơ! Phòng không để thiếp đợi chờ Năm canh vò võ những là thở than Nào khi họp mặt chén vàng Non nguyền biển hẹn, tƣởng chàng chẳng quên. Ai ngờ ra bạc đen Say bên nhan sắc bỏ bên ngãi tình Để cho em vò võ một mình Tƣơng tƣ khắc khoải bệnh thất tình đầy vơi Trách thân mà lại giận Trời... Trăm khúc sông khúc lở, khúc bồi

230

82.

83.

Miệng chàng nói thế, chàng ngồi chàng trông Gió bên đông xin chàng gỡ giúp Ngón tay tháp bút mà chấm chậu lan Dù ai nói ngang, chàng đừng ngao ngán Trƣớc thì là bạn, sau nên vợ chồng Em còn trong tròng xin chàng thong thả Em quyết trận này trả của lấy cho anh Em hai mƣơi tuổi xuân xanh Thầy mẹ ép uổng dỗ dành vào cửa ngƣời ta Cho nên duyên chẳng thuận hoà Vợ chồng xung khắc, xót xa nhiều bề. Trời sinh ra ông tƣớng tài Cờ bạc, xóc đĩa dông dài cả đêm Canh trƣớc tƣớng hãy còn tiền Canh sau cố áo ngồi bên lọ hồ Cái ngảnh đi, thò tay móc lọ Cái ngảnh lại, phì phò chén say Còn tiền, đánh cái cũng hay Hết tiền đi ngủ lại hay giật mình Tƣởng sự tình bạc này hai sấp Chẳng ai ngờ nó lại sấp ba Bấy giờ quan tƣớng thua ra áo quần cố hết trơ ra về trần Về giữa sân vạch quần bắt rận Vợ trong nhà vợ giận chẳng nấu cơm Bấy giờ tƣớng chúi ổ rơm Chẳng dám hạch nƣớc, hạch cơm, hạch trầu Vợ thƣơng chồng ra màu rét mƣớt Đem tiền đi chuộc lấy áo về Từ rày tƣớng hẳn xin thề Đã đi cờ bạc xóc đĩa còn về chi đây. Từ khi em về làm dâu Anh thì dặn trƣớc, bảo sau mọi lời Mẹ già dữ lắm em ơi! Nhịn ăn nhịn mặc, nhịn lời mẹ cha Nhịn cho nên cửa nên nhà Nên kèo, nên cột, nên xà tầm vông Nhịn cho nên vợ nên chồng Thời em coi sóc lấy trong cửa nhà Đi chợ thời chớ ăn quà Đi chợ thời chớ rề rà ở trƣa

231

84. 85.

86. 87. 88.

Dù ai bảo đợi, bảo chờ Thời em nói dối con thơ em về. Vì đứt dây, nên gỗ mới chìm Bởi anh ở bạc nên em phải tìm nơi xa. Viết thƣ sang hỏi thăm chàng Còn không hay đã đá vàng nơi nao? Hay là mắc phải con nào Bùa yêu bả lú(1) phải làm sao cho tỏ tƣờng Vắng chàng tôi những nhớ thƣơng Vì chàng mê gái tìm đƣờng phụ tôi Tôi làm cho lứa quên đôi Tôi làm cho rã cho rời nhau ra Làm cho tan nát biệt xa Cho chim lìa tổ cho hoa lìa cành Tôi làm cho nó lìa anh Cho ngƣời ta biết anh tình phụ tôi. (1) Bả lú: đánh bả làm cho ngƣời ta lú lấp, say mê. Vợ đôi, chồng một, ra gì Mỗi ngƣời mỗi bụng ở thì sao nên. Xống thâm vắt ngọn cành hồng Loạn trôn từ thuở vắng chồng đến nay. Yêu vợ đƣợc lúc bấy giờ Rồi ra đến lúc con thơ mặc lòng.

2.5. QUAN HỆ CHA MẸ CON - VỀ ĐẠO HIẾU STT 1. NỘI DUNG Ai bƣng bầu rƣợu đến đó Phải chịu khó bƣng về Em đang ở hầu thày mẹ cho trọn bề hiếu trung. BK (a) Ai bƣng bầu rƣợu tới đó thì chịu khó bƣng về Kẻo em đây đang còn theo chân thày mẹ cho trọn bề hiếu trung. (b) Ông mai ơi! Ông xách bầu rƣợu tới đó Ông hãy chịu khó ông xách trở về Tôi còn ở nuôi phụ mẫu, cho trọn bề hiếu trung.

232

2. 3.

4. 5.

6. 7.

8. 9. 10.

11.

12.

(c) Ai bƣng trầu rƣợu tới đó Chịu khó bƣng về Em đây thiệt vẫn không chê Ở làm ri nuôi thầy mẹ, cho trọn bề hiếu trung. Ai về tôi gửi buồng cau Buồng trƣớc kính mẹ, buồng sau kính thầy. Ai về tôi gửi buồng cau Buồng trƣớc kính mẹ buồng sau kính thầy Ai về tôi gửi đôi giày Phòng khi mƣa nắng cho thày mẹ đi. Ai về tôi gửi đôi giày Phòng khi mƣa gió để thày mẹ đi. Ai vô Quảng Nam cho tôi gửi mua đôi ba lƣợng quế Ai ra ngoài Nghệ cho tôi gởi mua tám chín lƣợng sâm Đem về nuôi dƣỡng phụ thân Hai ta đền đáp công ơn sinh thành. Ân cha nặng lắm cha ơi Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cƣu mang. Anh đi vắng cửa vắng nhà Giƣờng loan gối quế, mẹ già ai nuôi? - Cá rô anh chặt bỏ đuôi Tôm càng bóc vỏ, anh nuôi mẹ già. Anh lấy em về thờ mẹ kính cha Rồi sau coi sóc cửa nhà cho anh. Ba tiền một khứa cá buôi Cũng mua cho đƣợc mà nuôi mẹ già. Bao giờ cá lí hoá long Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xƣa. BK Một mai con cá hoá rồng Đền ơn cha mẹ bõ công sinh thành. Bên đây sông bắc cầu mƣời tấm ván Bên kia sông lập cái quán mƣời hai từng Bán buôn nuôi mẹ cầm chừng Sáng chiều đăm đắm trông chừng đợi anh. BK Bên này sông, bắc cây cầu mƣời tấm ván Bên kia sông, lập cái quán mƣời hai từng Bán buôn nuôi mẹ cầm chừng đợi anh. Cơm cha áo mẹ chữ thầy Gắng công mà học có ngày thành danh.

233

13.

14.

15. 16.

17. 18.

19. 20.

21.

22.

Cha mẹ tóc bạc da mồi Ơn thâm em đền bồi không phỉ Nên em giãi thân hèn, kim chỉ nuôi thân - Ơn cha rộng thinh thinh nhƣ biển Nghĩa mẹ sâu thăm thẳm tợ sông Thƣơng cho thân em là gái chƣa chồng Mà lắm điều cực nhọc, não lòng thế ni - Công sanh dục, bằng công tạo hoá Có cha mẹ sau mới có chồng Em nhớ khi dìu dắt ẵm bồng Cho nên ngày nay, dẫu thiên lao vạn khổ, em cũng vui lòng chẳng than. Chàng ơi, ơn thày ba năm cúc dục Nghĩa mẹ chín tháng cù lao Ai đền ơn cho thiếp mà nhủ thiếp trao ân tình? Chẳng lo thân bậu với qua Lo chút mẹ già đầu bạc tuổi cao. Chết ba năm sống lại một giờ Để coi ngƣời nghĩa phụng thờ ra sao? - Thờ chàng đĩa muối đĩa rau Thờ cha cúng mẹ mâm cao cỗ đầy. Chiều chiều xách giỏ hái rau Ngó lên mả mẹ ruột đau nhƣ dần. Chim còn mến cội mến cành Anh cũng biết cho em còn mến nghĩa sanh thành mẹ cha. BK Anh đây cũng biết nghĩa sinh thành công lao. Chim kêu dƣới suối ao đàng Em còn chút mẹ, cậy chàng viếng thăm. Công ơn thầy mẹ em không đền đƣợc Giao cho anh đến thế Ra Thanh bổ quế Vào Nghệ bổ sâm Lên non ngậm ngải tìm trầm Đền công ơn phụ mẫu đã lao tâm sinh thành. Công cha ba năm sinh thành tạo hoá Nghĩa mẹ chín tháng cực khổ cƣu mang Hai đứa mình lấy chi đền nghĩa báo ân Lên non gánh đá, xuống xây lăng phụng thờ. Công cha nghĩa mẹ ai đền Mà em ôm áo, ôm mền theo anh.

234

23.

24.

25.

26.

27. 28. 29. 30. 31. 32.

33.

Công cha nhƣ núi Thái Sơn Nghĩa mẹ nhƣ nƣớc trong nguồn chảy ra. BK -Công mẹ nhƣ nƣớc suối nguồn chảy ra -Sữa mẹ nhƣ nƣớc suối nguồn chảy ra. Công cha nhƣ núi Thái Sơn Nghĩa mẹ nhƣ nƣớc trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Công sinh dục bằng công tạo hoá Có cha mẹ, sau mới có chồng Em nhớ khi dìu dắt ẵm bồng Nay em lao khổ não nùng, không than. Dầu mà không lấy đƣợc em anh về đóng cửa, cài rèm đi tu - Tu mô cho em tu cùng May ra thành Phật thờ chung một chùa - Tu mô cho bằng tu nhà Thờ cha kính mẹ cũng là đi tu. Độc bình chƣng trƣớc tam sơn Đôi ta quì xuống đền ơn mẫu tử. Đói lòng ăn hạt chà là Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng. Đói lòng ăn trái ổi non Nhịn cơm nuôi mẹ, cho tròn nghĩa xƣa. Đồi mô cao bằng đồi danh vọng Nghĩa mô trọng bằng nghĩa mẹ cha. Đôi ta nhƣ bộ con cờ Trƣớc ơn cha mẹ, sau nhờ phận duyên. Em đƣa anh lên ga Thuận Lí(1) Ba giờ chiều vô nghỉ Đông Hà(2) Phần thời anh thƣơng mẹ nhớ cha Phần thời thƣơng con nhớ vợ xót xa trong lòng. (1) Thuận Lí: Một địa điểm ở Quảng Bình (2) Đông Hà: Một địa điển ở Quảng Trị, cách Đồng Hới 92km về phía Nam, ở trên sông Cam Lộ, đầu đƣờng số 9 đi Lao Bảo sang Lào. Em thì đi cấy ruộng bông Anh thì cắt lúa để chung một nhà Đem về phụng dƣỡng mẹ cha Muôn đời tiếng hiếu ngƣời ta còn truyền.

235

34.

35.

36.

37. 38. 39. 40.

BK - Để anh đi gặt lúa chung một nhà. Giàu ngƣời ba phủ Thanh Hoa Mẹ ngƣời về chợ thì ta không mừng Mẹ ta đói rách não nùng Mẹ ta về chợ ta mừng mẹ ta. Gió đƣa cây cửu li hƣơng Giờ xa cha mẹ thất thƣờng bữa ăn Sầu riêng bữa chẳng muốn ăn Đã bƣng lấy bát lại dằn xuống mâm. Gƣơm vàng rớt xuống Hồ Tây Công cha cũng trọng, nghĩa thầy cũng sâu. BK Gƣơm vàng rớt xuống Hồ Tây Công cha cũng nặng, nghĩa thầy cũng sâu. Khó nghèo đòn gánh liền vai Bán buôn nuôi mẹ giàu ai mặc giàu. Khó nghèo xé vạt vá vai Làm thuê nuôi mẹ không quản ai chê cƣời. Khoan khoan chờ đợi em cùng Em còn hai chữ hiếu trung chƣa đền. Làm ngƣời trƣớc liệu hiếu thân Cảm ơn cha mẹ ân cần nuôi con Trăm năm mấy buổi thần hôn Một mai mấy buổi liệu đƣờng kính lên Sao cho trọn chữ tri niên Sao cho trọn chữ chung thiên với ngƣời Kể từ mẹ mới thụ thai Biết bao khí huyết mẹ bù cho con Đến ngày hình thể vẹn tròn Ví nhƣ vƣợt biển trèo non nặng nề Kiêng ăn kiêng ngủ ê chề Đã e chín tháng còn e mƣời ngày Kể từ hoa nở liền tay Bao giờ mẹ đó con đây mới mừng Lòng yêu con mấy cho bằng Nâng chừng nhƣ trứng, hứng chừng nhƣ hoa Phải con hay khóc hay la Bao đêm quên ngủ, ngày đà quên ăn Tháng hè đƣa võng liền chân Tháng đông ƣớt áo, dậy trần quản chi

236

41. 42.

43. 44. 45.

46.

47. 48.

Đầy năm biết đứng biết đi Dắt tay từng bƣớc phòng khi lỡ làng Miếng ngon cũng nhịn cùng nhƣờng Ba năm bú mớm, mẹ gầy dƣờng xác ve Nghĩ đã ơn mẹ nhiều bề Kìa nhƣ dạy dỗ lại về ơn cha. Lâm râm khấn vái Phật, Trời Xin cho cha mẹ sống đời nuôi con. Làm trai nết đủ trăm đƣờng Trƣớc tiên điều hiếu đạo thƣờng xƣa nay Công cha đức mẹ cao dày Cƣu mang trứng nƣớc những ngày ngây thơ Nuôi con khó nhọc đến giờ Trƣởng thành con phải biết thờ hai thân Thức khuya dậy sớm cho cần Quạt nồng ấm lạnh giữ phần đạo con. Lấy chi đền ngãi mẹ chừ Cƣu mang chín tháng với dƣ mƣời ngày. Lên chùa thấy Phật muốn tu Về nhà thấy mẹ, công phu chƣa đền. Lên non mới biết non cao Nuôi con mới biết công lao mẫu từ. BK - Có con mới biết công lao mẫu từ. - Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy. Má ơi đừng đánh con đau Để con bắt ốc hái rau má nhờ Má ơi đừng đánh con đau Để con hát bội làm đào má coi Má ơi đừng đánh con hoài Để con câu cá nấu xoài má ăn. BK Má ơi đừng đánh con đau Để con hát bội làm đào má coi Má ơi đừng đánh con đau Để con bắt cá nấu xoài má ăn. Mất mẹ với cha thiệt là khó kiếm Chớ điệu vợ chồng không hiếm gì nơi. Mặt trời đã xế ngang đầu Em còn ở lại làm giàu cho cha. BK

237

49.

50.

51.

52. 53. 54. 55.

56. 57. 58. 59. 60.

61. 62.

Tua rua đã xế ngang đầu Em còn đứng lại làm giàu cho cha. Mẹ ơi đừng đánh con đau Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ. BK a - Mẹ ơi chớ đánh con đau - Má ơi đừng đánh con đau b - Để con bắt ốc hái rau má nhờ. Mẹ ơi! đừng đánh con đau Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ Mẹ ơi! đừng đánh con khờ Để con thả lờ bắt cá mẹ ăn. Mẹ ơi, từ mấy tháng nay Con vắng tin mẹ, lâu ngày nhớ thƣơng Xƣa rày con bận việc quân vƣơng Cho nên con với mẹ đôi đƣờng cách xa. Mẹ cha là biển là trời Nói sao hay vậy, đâu dám cãi lời mẹ cha. Mẹ cha trƣợng quá ngọc vàng Đền bồi sao xiết muôn vàn công ơn? Mẹ già đầu bạc nhƣ tơ Lƣng đau con đỡ, mắt lờ con nuôi. Mẹ già ở chốn lều tranh Sớm thăm tối viếng cho đành lòng em Lòng son dạ sắt càng thêm Lòng đà trăng gió ai tìm thấy ai. Mẹ già là mẹ già chung Anh lo thang thuốc, em giùm cháo cơm. Mẹ già nhƣ quả đò ho Dẫu rằng héo hắt thơm tho đủ mùi. Miếng trầu em têm bỏ đĩa con rồng Trƣờc mời thầy mẹ, sau vợ chồng ta ăn. Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời Cầu cho cha mẹ sống đời với con. Mỗi năm mỗi thắp đèn trời Cầu cho cha mẹ sống đời với con Ngƣời còn thì của cũng còn Để ngƣời ban bảo vuông tròn nhân duyên. Ngày đêm em may vá kiếm tiền Trƣớc nuôi cha mẹ, sau tuyền đạo con. Ngày nào em bé cỏn con

238

63. 64.

65. 66.

67.

68. 69.

70. 71.

72.

73.

Bây giờ đã lớn khôn thế này Cơm cha, áo mẹ, công thầy Nghĩ sao cho bõ những ngày ƣớc ao. Ngó lên dàng dạng da trời Thƣơng cha nhớ mẹ biết đời nào nguôi. Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng(1) Thƣơng cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi! - Thƣơng cha nhớ mẹ thì về Nhƣợc bằng thƣơng kiểng nhớ quê thì đừng. (1) Hòn Kẽm, Đá Dừng: thuộc Quảng Nam. Ngó lên ngó xuống thì vui Ngó về quê mẹ ngậm ngùi nhớ thƣơng. Ngó lên trên trời thấy cặp cu đƣơng đá Ngó ra ngoài biển thấy cặp cá đƣơng đua Biểu em về lập chùa thờ cha. BK Ngó lên trời thấy cặp cu đƣơng đá Ngó xuông biển cặp cá đƣơng đua Anh về lập miếu thờ vua Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha. Ngó lên trời, trời cao lồng lộng Ngó xuống đất, đất rộng mênh mông Biết rằng chừ cá gáy hoá rồng Đền ơn thầy mẹ ẵm bồng ngày xƣa. Ngọc còn ẩn bóng cây ngâu Em đang tùng phụ mẫu dám đâu tự tình? Nhất đẹp là gái làng Cầu (1) Khéo ăn khéo mặc, khéo hầu mẹ cha. (1) Làng Cầu: tức làng Lam Cầu, thuộc huyện Duy tiên, tỉnh Hà Nam Nuôi con mới biết sự tình Thảm thƣơng cha mẹ nuôi mình khi xƣa. Ơn cha mẹ ba năm cúc dục Nghĩa mẹ chín tháng cƣu mang Ơn cha đền bạc, nghĩa mẹ đền vàng Em đền chƣa nổi, huống chi chàng ngƣời dƣng. Ơn cha mẹ trời cao khôn thấu Nghĩa anh em xƣơng cốt ruột rà Muốn cho trên thuận dƣới hoà Chẳng thà chịu nhục, hơn là rẽ nhau. Ơn cha nhƣ biển, nghĩa mẹ nhƣ trời

239

74.

75.

76. 77. 78.

79. 80.

81.

82.

83.

84.

Thƣơng mừng ghét sợ, không dám trao lời thở than. Ơn hoài thai nhƣ biển Ngãi dƣỡng dục, tợ sông Em nguyền ở vậy phòng không Lo đàng cha mẹ cho hết lòng phận con. Ơn thầy bằng núi, nghĩa mẹ tày non Hai ta là đạo làm con Muốn duyên vừa ý đẹp phải cúi luồn mẹ cha. Phụ mẫu bên anh cũng nhƣ phụ mẫu bên nàng Lẽ thƣờng anh cũng phải tạc đá bia vàng để thờ chung. Phụ mẫu thiếp cũng nhƣ phụ mẫu chàng Hai bên phụ mẫu tạc bốn chữ vàng thờ chung. Thờ cha mẹ, ở hết lòng ấy là chữ hiếu dạy trong luân thƣờng Chữ đễ nghĩa là nhƣờng Nhƣờng anh nhƣờng chị, lại nhƣờng ngƣời trên Ghi lòng tạc dạ chớ quên Con em phải giữ lấy nền con em. Thƣơng mẹ nhớ cha nhƣ kim châm vào dạ Nghĩ đến chừng nào, luỵ hạ tuôn rơi. Tiếc cây mía tốt có sâu Tiếc ngƣời lịch sự trên đầu có tang Tang chồng thì bỏ tang đi Tang cha tang mẹ, ta thì tang chung - Tang cha, tang mẹ trên đầu Lẽ nào em dám bán sầu mua vui. Tôm càng lột vỏ để đuôi Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già. BK Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi Gạo nhe giã trắng mà nuôi mẹ già. Trời cho cày cấy đầy đồng Xứ nào xứ ấy trong lòng vui ghê Một mai gặt lúa đem về Thờ cha kính mẹ nhiều bề hiếu trung. Trông lên thấy đạo cha già Lòng con tƣởng nhớ xót xa rầu rầu Xa cha lòng những quặn đau Biết ngày nào mới cùng nhau quây quần. Trứng rồng lại nở ra rồng Hạt thông lại nở cây thông rƣờm rà

240

85. 86. 87.

88.

89.

90. 91. 92. 93.

94. 95.

Có cha sinh mới ra ta Làm nên thì bởi mẹ cha vun trồng Khôn ngoan nhờ ấm cha ông Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ Đạo làm con chớ có hững hờ Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm. Tu đâu cho bằng tu nhà Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu. Vẳng nghe chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau. Vẳng nghe chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau Thƣơng thay chín chữ cù lao(1) Tam niên nhũ bộ biết bao nhiêu tình. (1) Cù lao: công nuôi nấng vất vả của cha mẹ, lấy từ cụm từ "cù lao dƣỡng dục". Xin ngƣời hiếu tử lắng khuyên Kịp thì nuôi nấng cho toàn đạo con Kẻo khi sông cạn, đá mòn Phú nga phú uỷ có còn ra chi. Cơm cha, áo mẹ, ai ơi Chẳng ăn cũng thiệt, chẳng chơi cũng hoài. BK - Chẳng ăn cũng thiệt, chẳng chơi cũng già. Cha mẹ nuôi con nhƣ biển hồ lai láng Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày. Đƣờng đi không tới nửa ngày Nói về thăm mẹ, hẹn rày hẹn mai. Mẹ già hết gạo treo niêu Mà anh khăn đỏ, khăn điều vắt vai... Mẹ già ở chốn lều tranh Đói no chẳng biết, rách lành chẳng hay. BK a - Mẹ già ở tấm lều tranh b - Đói no không biết rách lành nỏ hay. - Đói no không biết rách lành không hay. Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể Con nuôi mẹ con kể công tháng ngày. Mẹ nuôi con biển hồ lại láng Con nuôi mẹ kể tháng kể ngày. BK

241

- Con nuôi mẹ tính tháng tính ngày. 96. Một mẹ nuôi đƣợc mƣời con Mƣời con bỏ mẹ trong ngàn xót xa Trai cả uống rƣợu la đà Tối tăm chả tiếc cửa nhà là đâu Nào con, nào rể, nào dâu Trai thì sợ vợ, gái âu nể chồng. 97. Nhớ hồi mẹ đẻ thiếp ra Nhai cơm sún(1) nƣớc, lớn mà chừng ni Nghe lời chàng, bỏ mẹ ra đi Thất hiếu với phụ mẫu có hề chi không, huớ chàng? (1) Sún: mớm. 98. Những ngƣời chửi mẹ mắng cha Chết xuống âm phủ leo qua cầu vồng. 99. Sống thì con chẳng cho ăn Chết thì xôi thịt làm văn tế ruồi. BK a-Lúc sống thời chả cho ăn b-Đến khi ngƣời chết làm văn tế ruồi. - Để đến lúc chết làm văn tế ruồi. - Chết rồi xôi thịt làm văn tế ruồi. 100. Trách ai đặng cá quên nơm Đặng chim bẻ ná, quên ơn sinh thành. 2.6. QUAN HỆ CHA MẸ CON - TRÁCH NHIỆM STT 1. 2. 3. 4. NỘI DUNG Cơm cha áo mẹ chữ thầy Khuyên con lo học cho tày ngƣời ta. Cơm cha áo mẹ chữ thầy Gắng công mà học có ngày thành danh. Có con nỏ muốn ai bồng Nỏ thuê ai ẵm, hai vợ chồng đổi nhau. Cha sinh mẹ dƣỡng ra con Cũng nhƣ trời đất nƣớc non không cùng Vẫn là một khí huyết chung Chia riêng mày mặt trong lòng sinh ra Bào thai chín tháng mang ta Kiêng khem tật bệnh ai hoà chịu chung Vƣợt bể Đông có bè có bạn Mẹ sinh ta vƣợt cạn một mình

242

5. 6.

7.

Sinh ta mát mẻ yên lành Từ nay mẹ mới nhẹ mình không lo Chốn lạnh ƣớt để cho mẹ ngủ Nơi ấm êm mẹ ủ con nằm Năm canh con khóc cả năm Ôm con mẹ chịu khổ tâm lo phiền Khi con ốm sốt chẳng yên Con phiền có một, mẹ phiền bằng hai Ngọn đèn chong bóng canh dài Nghĩ thua nghĩ đƣợc có ai ngỏ cùng Con rày đã yên lành mát mẻ Mẹ mới lòng yên vui vẻ không lo Dành riêng quà bánh nhƣờng cho Sắm riêng quần áo mới đồ chiều con Trông con nằm ngủ ăn ngon Sợ con thất ý lại còn hờn lâu Hai ba tuổi độ hầu học nói Tập dạy cho thƣa nói dần dần Đến chừng biết mặc áo quần Nuôi thầy dạy học tập văn tập bài Kể với ai cửa nhà nghèo đói Trông cho con theo dõi ngƣời ta Đến ngày con bƣớc đi ra Mẹ cha biết mấy thịt da tiêu mòn Đến khi con mƣời lăm mƣời tám Lấy vợ cho lại sắm cửa nhà Sinh ta rồi lại nuôi ta Cũng nhƣ trời đất sinh ra giống ngƣời. Con tài lo láo lo kiêu Con ngu thì lại lo sao kịp ngƣời. Con ơi muốn nên thân ngƣời Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha Gái thời dệt gấm thêu hoa Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa Trai thời đọc sách ngâm nga Dùi mài kinh sử để chờ đại khoa Nữa mai nối đặng nghiệp nhà Trƣớc là mát mặt sau là hiển thân. Con cò bay bổng bay la Bay từ cửa miếu bay ra cánh đồng Cha sinh mẹ đẻ tay không

243

8.

9. 10.

11.

Cho nên bay khắp tây đông kiếm mồi Trƣớc là nuôi cái thân tôi Sau nuôi đàn trẻ, nuôi đời cò con. Dạy con từ thuở hài đề(1) Dạy vợ từ thuở mới về làm dâu. (1) Thuở hài đề: lúc trẻ con đang ở thời kì con bú mớm. Dạy con từ thuở còn thơ Dạy vợ dạy thuở bơ vơ mới về. Làm trai nết đủ trăm đƣờng Trƣớc tiên điều hiếu đạo thƣờng xƣa nay Công cha đức mẹ cao dày Cƣu mang trứng nƣớc những ngày ngây thơ Nuôi con khó nhọc đến giờ Trƣởng thành con phải biết thờ hai thân Thức khuya dậy sớm cho cần Quạt nồng ấm lạnh giữ phần đạo con. Lắng tai nghe mẹ giãi bày Cha sinh mẹ dƣỡng sánh tày bể Đông Lấy gì trả nghĩa đền công Ở sao cho xứng tấm lòng mẹ cha Nuôi con tƣơi tốt nhƣ hoa Phòng khi cha già mẹ yếu cậy con Bữa ăn không biết mùi ngon Đắng cay mẹ chịu vì con đêm ngày Cha mẹ mong tháng mong ngày Nặng nề chín tháng mƣời ngày cƣu mang Công cha xiết kể bằng ngàn (1) Nghĩa mẹ nhƣ nƣớc trong nguồn chảy ra Cha mẹ một tuổi một già Cù lao dƣỡng dục con nhà dám quên Mẹ cha nuôi nấng dƣỡng sinh Bù trì khó nhọc sinh thành ra con Sớm khuya định tỉnh thần hôn Mong cho con chóng lớn khôn kịp ngƣời Mẹ cha vất vả mấy mƣơi Cái giƣờng cái chiếu, cái nôi con nằm Vui khi con ngủ con ăn Buồn khi khó ở, nhọc nhằn không yên Chốn ráo con nằm đã êm Cha mẹ thắp đèn, thức giấc thấu đêm Công cha nghĩa mẹ đừng quên

244

12.

13. 14. 15.

16.

17.

Con nên báo đáp trả đền hẳn hoi Dù cho vật đổi sao dời Có biết công cha mẹ mới phải ngƣời hiếu trung. (1) Ngàn: ngàn đây là núi non. Lúc em bƣớc chân ra Má ở nhà có dặn Công sanh thành là nặng Điều tình ái là khinh Hãy đừng tham sắc đắm tình Lánh xa tiểu điểm trà đình chớ vô. Muốn sang thời bắc cầu Ô Muốn con hay chữ cƣới cô cho thày. Muốn sang thì bắc cầu kiều Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy. Nuôi con những tƣởng về sau Trao duyên phải lứa, gieo cầu phải nơi Mực đen vô giấy khó chùi Vợ chồng, chồng vợ việc đời trăm năm. Nuôi con cho đƣợc vuông tròn Mẹ thầy dầu dãi, xƣơng mòn gối long Con ơi, cho trọn hiếu trung Thảo ngay một dạ, kẻo luống công mẹ thầy. Riêng than đất chín, trời mƣời Cây khô há dễ mọc chồi đâm bông Một cây khô mộc đợi trông Hai cây khô mộc đợi trông Gió đánh trắt tra, trắt tréo, trặt trà trặt trẹo Trên ngọn cành tùng chơ vơ Sách có chữ rằng: Nam đáo nữ phòng, nam tắc loạn Nữ đáo nam phòng, nữ tắc dâm Sinh tử, mạc sinh tâm(1) Sinh con ai nỡ sinh lòng Sinh con ai chẳng vun trồng cho con Mạc đạo xà vô giác Trƣớc long dã vị tri (2) BK Riêng than đất chín trời mƣời Cây khô há dễ nẩy chồi đơm bông Trên cây kiều mộc dợi trông Dƣới cây kiều mộc cũng đợi trông

245

18.

Gió đƣa lắt la lắt lẻo, ngọn cây tùng xơ rơ Có câu: Nam đáo nữ phòng, nam tắc loạn Nữ đáo nam phòng nữ tắc dâm Dầu lòng sinh tử, bất sinh tâm(1) Sinh con há dễ sinh lòng chỉn khôn Ai tầng con cù nó mọc sừng Đến khi nó hoá cái gạc, vẫy vùng làm mƣa Biết đà có khỏi nhau chƣa Đặt tay lên dạ lại lừa tay đi. (1) Nam đáo nữ phòng, nam tắc loạn, nữ đáo nam phòng, nữ tắc dâm, sinh tử, mạc sinh tâm: Con trai đến phòng con gái thì sinh loạn, con gái đến phòng con trai là có ý dâm, sinh con không thể sinh lòng. (2) Mạc dạo xà vô giác, thành long dã vị tri: chớ nói rắn không có sừng, chƣa biết chừng rắn thành rồng (có thể có sừng). Trên trời có cái cầu vồng Kẻ Chợ cầu Muống, cửa Đông cầu Rền Vua trên đền, cầu vàng cầu bạc Các lái buôn cầu nƣớc, cầu non Đôi ta cầu của cầu non Con đẹp giống mẹ, con giòn giống cha Con gái dệt cửi trong nhà Con trai đi học đỗ ba khoa liền Con lớn thì đỗ Trạng nguyên Hai con tiến sĩ đỗ liền cả ba Vinh qui bái tổ về nhà Bõ công đèn sách mẹ cha nuôi thầy. BK Trên trời có cái cầu vồng Kẻ Chợ, Cầu Muống(1), Cầu Đông(2), Cầu Giền Việc trên đền cầu vàng cầu bạc Các lái buôn cầu nƣớc cầu non Đôi ta cầu của cầu con Con đẹp giống mẹ, con giòn giống cha Con gái dệt cửi trong nhà Con trai đi học khôi khoa hơn ngƣời . (1) Cầu Muống: ở địa phận làng Trung Phụng, Đống Đa, hà Nội hiện nay. (2) Cầu Đông: chỉ chiếc cầu bắc qua sông Tô ở phía đông thành Đại La cũ, trên bản đồ cũ ghi ở Ô Thịnh Yên nay là ngã tƣ giữa các Phố Huế. Bạch Mai đƣờng Đại Cồ Việt và đƣờng Trần Khát

246

Chân. 2.7. QUAN HỆ CHA MẸ CON - NHỮNG BIỂU HIỆN TIÊU CỰC STT 1. NỘI DUNG áo rách vai, vá hoài vá huỷ Mẹ có chồng không nghĩ đến con Trái bầu trái bì còn non Cầm dao cắt ruột, bỏ con sao đành. Ba tàn ba héo vì cây Con sầu vì mẹ vì thầy ép duyên. Bác mẹ em vội tham vàng Hang hùm lại ngỡ hang vàng gả con Trƣớc thời thẹn với nƣớc non Sau thời cay đắng lòng con đêm ngày Khi vui có bác mẹ thầy Cơn sầu em chịu đắng cay một mình Mang thơ ra dán cột đình Kẻ xuôi ngƣời ngƣợc thấu tình em chăng? Phong ba nổi giữa đất bằng Một dây một buộc ai dằng cho ra! Thiết gì một cảnh vƣờn hoa Mà đem đầy đoạ thân ta thế này? Thấu chăng hỡi bác mẹ thầy Ngỡ rằng gả bán, hoá đầy thân con! Cá chẳng ăn muối cá ƣơn Con cãi cha mẹ trăm đƣờng con hƣ. BK a- Cá không ăn muối cá ƣơn b- Không nghe cha mẹ trăm đƣờng con hƣ. - Con cƣỡng cha mẹ trăm đƣờng con hƣ. Cái bống là cái bống bang Con đi lấy sàng cho mẹ đổ khoai Con ăn một, mẹ ăn hai Con đi bốc muối thời khoai chẳng còn Con ngồi con khóc nỉ non Mẹ giận mẹ đạp, con bon đầu hè Có đánh thì đánh vọt tre Chớ đánh vọt nứa nữa què chân con. BK Tích tịch tình tang Mẹ đi tìm sàng cho con đổ đỗ

2. 3.

4.

5.

247

6.

7.

8. 9.

10. 11.

12.

13.

Con đi tìm rổ Cho mẹ đổ khoai Con ăn một, mẹ ăn hai Con đi bốc muối thì khoai chẳng còn Con ngồi con khóc nỉ non Mẹ đi lấy vọt con ton đầu hè Có đánh thì đánh vọt tre Chớ đánh vọt nứa mà què chân con. Cây oằn vì bởi gió nam Xa mình là bởi mẹ cha ham chỗ giàu. BK Xa mình vì bởi phụ mẫu ham chỗ giầu. Cha già con muộn vơi vơi Gần đất xa trời con chịu mồ côi Mồ côi cực lắm bớ Trời Mẹ ruột cha ghẻ nhiều lời đắng cay. Cha mẹ nuôi con nhƣ biển hồ lai láng Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày. Con gái là con ngƣời ta Con dâu mới thật mẹ cha mua về. BK - Nàng dâu mới thực mẹ cha mua về. Con hƣ bởi tại cha dong Vợ hƣ bởi tại thằng chồng cả nghe. Đá cheo leo, trâu trèo trâu trƣợt Ngựa trèo ngựa đỏ Tiếc công anh lao khổ Tự cổ chí kim Mất em đi anh khó kiếm khó tìm Cũng giả tỉ nhƣ cây kim mà lòn sợi chỉ Sao em không biết nghĩ biết suy Em ham nơi quyền quí, em không có nghĩ gì đến anh Hoa kia gió thổi lìa cành Mẹ cha ép gả, em đành chịu sao? Đƣờng đi những lách cùng lau Cha mẹ tham giầu, ép uổng duyên con. BK - Cha mẹ tham giàu ép gả duyên con. Gà tơ xào với mƣớp già Vợ hai mƣơi mốt, chồng đà sáu mƣơi Ra đƣờng chị giễu em cƣời

248

14. 15.

16.

17. 18.

19.

20. 21.

22.

Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng Đêm nằm tƣởng cái gối bông Giật mình gối phải râu chồng nằm bên Sụt sùi tủi phận hờn duyên Oán cha, trách mẹ tham tiền bán con. Gió đƣa bụi chuối sau hè Anh về vợ bé bỏ bè con thơ. Gió lùa bụi chuối sau hè Anh mê vợ bé, bỏ bè con thơ Gió đƣa bụi trúc ngả quì Thƣơng cha phải chịu luỵ dì, dì ơi! Khi con thƣơng thầy mẹ không thƣơng Nay chừ công bất thành, danh bất toại, Thầy với mẹ đẩy vại con vô Liều mình con muốn vọt xuống hồ Măng non làm bạn với tre không cực lòng. Không trách mẹ, cũng chẳng hờn cha Chỉ trách mẹ bội ƣớc, nên sinh ra thế này. Mẹ em tham gạo tham gà Bắt em để bán cho nhà cao sang Chồng em thì thấp một gang Vắt mũi chƣa sạch ra đàng đánh nhau Nghĩ mình càng tủi càng đau Trách cha trách mẹ tham giàu tham sang. Mẹ em tham gạo tham gà Bắt em để bán cho nhà cao sang Chồng em thì thấp một gang Vắt mũi chƣa sạch ra đàng đánh nhau Nghĩ mình càng tủi càng đau Trách cha trách mẹ tham giàu tham sang. Mẹ em tham việc tiếc công Cầm duyên em lại, tiết thu đông muộn màng. Mẹ em tham thúng xôi rền Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hƣng Em đã bảo mẹ rằng đừng Mẹ giấm mẹ giúi mẹ bƣng vào nhà Bây giờ tôi bán oan gia Nó đánh trong nhà, nó quật ngoài sân Mẹ ngồi mẹ nghĩ tần ngần Mẹ bán táo rụng, gỡ dần con ra. Mẹ em tham thúng xôi rền

249

23.

24. 25. 26.

27.

28. 29.

30. 31.

Tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hƣng Tôi đã bảo mẹ răng đừng Mẹ hấm, mẹ hứ mẹ bƣng ngày vào Bây giờ kẻ thấp,ngƣời cao Nhƣ đôi đũa lệch so sao cho bằng? Mẹ em tham thúng xôi rền Tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hƣng Mẹ em tham thúng bánh chƣng Tham con lợn béo, lƣng em chịu đòn. Mẹ già chặt đũa từ em Không cho ve rƣợu gói nem mặn nồng. Mẹ già hết gạo treo niêu Mà anh khăn đỏ, khăn điều vắt vai... Mẹ già ở chốn lều tranh Đói no chẳng biết, rách lành chẳng hay. BK a - Mẹ già ở tấm lều tranh b - Đói no không biết, rách lành nỏ hay. - Đói no không biết rách lành không hay. Mẹ mong con đẹp lứa đôi Con xin đƣợc tỏ đôi lời đục trong: Lấy nhau lòng hiểu đƣợc lòng Tình kia mới đƣợc đƣợm nồng dài lâu Vì chƣng mẹ trót nhận trầu Bắt con ngậm miệng cúi đầu vâng theo Lấy ngƣời chẳng biết, chẳng yêu Sống sao cho mãn bóng chiều trăm năm Dù nay muốn dứt tơ tằm Mẹ thƣơng thì sự lỡ lầm đã qua. Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể Con nuôi mẹ con kể công tháng ngày. Mẹ nuôi con biển hồ lại láng Con nuôi mẹ kể tháng kể ngày. BK - Con nuôi mẹ tính tháng tính ngày. Mẹ ơi trái bí còn non Mẹ cầm dao cắt duyên con sao đành? Một mẹ nuôi đƣợc mƣời con Mƣời con bỏ mẹ trong ngàn xót xa Trai cả uống rƣợu la đà Tối tăm chả tiếc cửa nhà là đâu

250

32.

33. 34.

35. 36.

37.

Nào con, nào rể, nào dâu Trai thì sợ vợ, gái âu nể chồng. Nƣớc đục mà đựng chậu thau Cái mâm chữ triện đựng rau thài lài Tiếc thay con ngƣời da trắng tóc dài Bác mẹ gả bán cho ngƣời đần ngu Rồng vàng tắm nƣớc ao tù Ngƣời khôn ở với ngƣời ngu bực mình. BK (a) Bát nƣớc lắng mà đựng chậu thau Cái mâm triện tự đựng rau thài lài Anh tiếc cho con ngƣời da trẳng tóc dài Mẹ cha ép gả cho ngƣời đần ngu. (b) Tiếc thay nƣớc đục mà đựng chậu thau Cái mâm chữ triện đựng rau thìa lài Tiếc ngƣời da trắng tóc dài Đƣơng xuân cha mẹ ép nài lấy lão sáu mƣơi. Tham giàu thầy mẹ ép gả em ra Tƣởng là mẹ chính, hoá ra mụ hầu. Thầy mẹ em tham ruộng đầu cầu Tham nhà con một, tham trâu đầy chuồng Thầy mẹ em tham bạc tham tiền Tham con lợn béo, cầm duyên em già Để đến nay anh cƣới em nửa con gà Dăm ba sợi bún, một và hột xôi. Tiếc thay con ngƣời da trắng, tóc dài Bác mẹ gả bán cho ngƣời đần ngu. Trăm khúc sông khúc lở, khúc bồi Miệng chàng nói thế, chàng ngồi chàng trông Gió bên đông xin chàng gỡ giúp Ngón tay tháp bút mà chấm chậu lan Dù ai nói ngang, chàng đừng ngao ngán Trƣớc thì là bạn, sau nên vợ chồng Em còn trong tròng xin chàng thong thả Em quyết trận này trả của lấy cho anh Em hai mƣơi tuổi xuân xanh Thầy mẹ ép uổng dỗ dành vào cửa ngƣời ta Cho nên duyên chẳng thuận hoà Vợ chồng xung khắc, xót xa nhiều bề. Vì chàng nên chi thiếp chịu đòn oan Thầy đập mẹ mắng, thế gian chê cƣời

251

- Thầy mẹ đập em anh đau thấu tận xƣơng Xóm làng ơi, mau mau cứu ngƣời thƣơng tôi cùng! - Thầy mẹ đập thiếp bò lăn bò lóc Có khúc có đận (vết) Nhờ bên tiếp cận Chàng vô bóp muối thoa chanh Chàng nay là phận rể không há dễ vô giành ngọn roi. 2.8. QUAN HỆ NÀNG DÂU VÀ GIA ĐÌNH CHỒNG STT 1. NỘI DUNG Ai ơi, phải nghĩ trƣớc sau Đừng tham lắm của nhà giàu làm chi Làm thì xem chẳng ra gì Làm tất làm tả nói thì điếc tai Đi ngủ thời hết canh hai Thức khuya dậy sớm mình ai dãi dầu Sớm ngày đi cắt cỏ trâu Trƣa về lại bảo: ngồi đâu, không đầy! Hết mẹ rồi lại đến thầy Gánh cỏ có đầy, vẫn nói rằng vơi Nói thì nói thật là dai Lắm câu chua cạnh, đắng cay trăm chiều Phận em là gái nhà nghèo Lấy phải chồng giàu, ai thấu cho chăng Nói ra đau đớn trong lòng Chịu khổ, chịu nhục suốt trong một đời. Ai về nhắn với bà cai Giã gạo cho trắng, đến mai dâu về Dâu về dâu chẳng về không Ngựa ô đi trƣớc, ngựa hồng đi sau Ngựa ô đi tới vƣờn cau Ngựa hồng chậm rãi đi sau vƣờn dừa. Bà kia bận áo xanh xanh Ngồi trong đám hẹ nói hành con dâu Bà ơi! Tôi không sợ bà đâu Tôi xe sợi chỉ, tôi khâu miệng bà Chừng nào bà chết ra ma Trong chay ngoài hội, hết ba chục đồng Không khóc thì sợ lòng chồng Có khóc cũng chẳng mặn nồng chi đâu.

2.

3.

252

4. 5.

6. 7.

8. 9.

10. 11. 12.

13.

Bình phong cẩn ốc xa cừ Vợ hƣ để vợ, đừng từ mẹ cha. Cái cuốc là cái cuốc đen Đôi vợ chồng trẻ đốt đèn ăn cơm Ăn hết xới xới đơm đơm Ăn cho sạch sẽ lấy rơm mà chùi Chồng giận chồng đánh ba dùi Mẹ chồng chẳng chữa lại xui đánh què Đánh cho què quặt chân tay Hễ nó có khóc thời mày bỏ tro Bao giờ mẹ chồng ốm ho Nàng dâu lấy thuốc đem cho mẹ chồng Lấy những lông cú, lông cáo, lông công Lấy cà độc dƣợc cùng lông con mèo. Cây khô chết đứng giữa đồng Nàng dâu khôn khéo, mẹ chồng cũng chê. Cha chài mẹ lƣới con câu Chàng rể đi tát, con dâu đi mò. BK - Thằng rể đóng đáy, con dâu ngồi nò. - Con trai tát nƣớc, nàng dâu đi mò. Chăn tằm rồi lại ƣơm tơ Làm dâu rồi mới đƣợc nhƣ mẹ chồng. Chàng nhìn thiếp rƣng rƣng hột luỵ Thiếp nhìn chàng lã chã hột châu Mẹ cha hành hạ thân dâu Anh đau lòng phải chịu, biết làm sao bây giờ? Chẳng tham nhà ngói ba toà Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành. Chồng dữ thì em mời rầu Mẹ chồng mà dữ, giết trâu ăn mừng. Chồng dữ thì em mới lo Mẹ chồng mà dữ mổ bò ăn khao. BK a- Ai ơi chồng dữ thì lo b- Mẹ chồng mà dữ mổ bò mà ăn. - Mẹ chồng mà dữ giết bò khao quân. Chữ dâu hiền, con gái Câu rể thảo, con trai Bậu dầu đôi lứa trúc mai Bớ bậu ơi!

253

14.

15.

16. 17. 18.

19.

20.

21.

Qua kính thờ song nhạc dễ nài công lao. Cô kia đội áo đi đâu? - Tôi là phận gái làm dâu mới về Mẹ chồng ác nghiệt đã ghê Tôi ở chẳng đƣợc tôi về nhà tôi. Con cuốc kêu khắc khoải mùa hè Làm thân con gái phải nghe lời chồng Sách có chữ rằng; phu xƣớng phụ tòng Làm thân con gái lấy chồng xuất gia Lấy em về thờ mẹ, kính cha Thờ cha, kính mẹ ấy là ngƣời ngoan. Con gái là con ngƣời ta Con dâu mới thật mẹ cha mua về. Con mẹ có thƣơng mẹ đâu Để cho chàng rể, nàng dâu thƣơng cùng. Con mèo mà trèo cây táo Bà già lơ láo, mắng chƣởi nàng dâu Dâu nằm dâu khóc tỉ ti: Thà phu Gia Định, cu li Sài Gòn. Của rẻ thật là của ôi Lấy phải dâu dại khốn tôi trăm đƣờng. BK a- Của rẻ thật là của hôi - Của rẻ ấy là của ôi b- Lấy phải chồng dại khốn tôi trăm đƣờng - Lấy phải vợ dại khốn tôi trăm đƣờng. Đêm nằm tôi nghĩ tôi sầu Làm dâu thật khổ từ đầu chí đuôi Ra thân tối mặt vùi đầu Các chị sung sƣớng, riêng dâu mẹ hành Chê tôi khờ dại không lành Mẹ đào mẹ chƣởi, mẹ hành xót xa Công trình cha mẹ tôi, sanh đẻ tôi ra Gả cho con mẹ còn bù của thêm Phải thời chồng vợ trọn niềm Sui gia đi lại ấm êm ở đời Không nên mỗi đứa một nơi Tôi ra khỏi cửa để mẹ kiếm nơi sang giầu Ở chi đây mẹ mắng trƣớc, chƣởi sau Ngày nào mẹ cũng cứ nghèo giàu mẹ đay. Đói thì ăn khế ăn sung

254

22.

23. 24.

25.

26. 27.

28.

29. 30. 31.

Trông thấy mẹ chồng thì nuốt chẳng trôi. Em ở nhà với mẹ với cha Cái nón tiền rƣỡi quai ba mƣơi đồng Đến khi bƣớc về nhà chồng Cái nón mƣời đồng quai lại bằng mo. BK a - Từ ngày tôi ở cùng cha Cái nón chín rƣỡi, thao ba mƣơi đồng Đến khi tôi về nhà chồng Cái nón sáu đồng mà buộc quai mo. b - Từ ngày tôi ở với cha Cái nón chín rƣỡi thao ba mƣơi đồng Đến khi tôi về nhà chồng Cái nón sáu đồng mà buộc quai mo. Em về làm dâu ba với má, giả nhƣ gió nọ làm dƣa Ba bốn năm trời, ba với má còn bó buộc đi thƣa về trình. Khi xƣa em ở với mẹ với cha Một năm chín yếm xót xa trong lòng Từ khi em về nhà chồng Chín năm một yếm, em lộn lần trong ra ngoài. Khi xƣa thiếp sáng ràng rạng nhƣ gƣơng Thiếp liều mình trao thƣơng cho chàng Nay chừ huệ héo lan tàn Thầy mẹ đánh mắng, dạ chàng khiến vong. Làm dâu vụng nấu vụng kho Chồng không bắt bẻ, mụ o nhún trề. Lúc bé con mẹ con cha Lấy chồng con gái hoá ra dâu ngƣời Gái khôn, gái phải nghe lời Thờ chung bác mẹ ắt thời chở che. Mẹ anh năm lọc bảy lừa Mua cam phải quít, mua dƣa phải bầu Mua kim mua phải lƣỡi câu Mua mật phải dầu, cực lắm anh ơi! Mẹ chồng là mẹ chồng tôi Cái tôm bóc nõn tôi nuôi mẹ chồng. Mẹ chồng là mẹ chồng tôi Năm bảy cái quạ nó lôi mẹ chồng. Mẹ chồng nàng dâu Chúa nhà ngƣời ở, khen nhau bao giờ BK

255

32.

33. 34.

35.

36. 37. 38.

- Chúa nhà ngƣời ở yêu nhau bao giờ. Một nhà có ba bốn dâu Dâu cả buôn bán ra màu sân sau Dâu hai có ý mĩ miều Tiền tiền, thóc thóc bao nhiêu chẳng về Dâu ba chum chúm râu trê Nhờ ơn bác mẹ đi về tỉnh Nam Dâu tƣ có tính tham lam Chăn trâu cắt cỏ nhôm nhoam ngoài đồng. Mụ già là mụ già còng Ăn ngày ba bữa lòng thòng chuyện dâu. Muốn lấy con tao Bắc cầu qua bể Làm rể cho lâu Nuôi lợn mƣời năm Chăn tằm mỏi gối Nhà ngói năm gian Bức bàn cho rộng Ông Cống, ông Nghè Dù che ngựa cƣỡi Dâu về nhắn nhủ: "Các cô hàng xóm láng giềng Quét sân dọn cỏ, tháng giêng dâu về Dâu về dâu chả về không Ngựa bạch tới trƣớc, rƣợu nồng tới sau". Muốn theo anh về bến cho liền Sợ cha với mẹ nói coi dâu không tiền,(1) dâu hƣ. (1) Có lẽ "con dâu không hiền" thì đúng hơn(Nhbs). Năm trai, năm gái là mƣời Năm dâu, năm rể là đôi mƣơi tròn. Ngọn roi mẹ uốn trăm chiều Anh vô lạy mẹ bốn lạy, kẻo mẹ đánh nhiều thì em đau. Nhà anh có ruộng giữa đồng Để em tát nƣớc cực lòng em thay Trời làm mƣa bấc gió may Để em tát nƣớc giơ tay vái Trời Tháng tám anh đi dạm lời Tháng chín ăn cƣới tháng mƣời làm dâu Từ ngày em về làm dâu Thì anh dặn trƣớc, dặn sau nghe lời Mẹ già ác lắm anh ơi!

256

39. 40.

41. 42.

43. 44.

45.

46.

Nhịn ăn nhịn mặc, nghe lời mẹ cha Nhịn cho nên cửa, nên nhà Nhịn cho nên cột, xà nhà bằng bông Nhịn cho nên vợ, nên chồng Để em chỉ thiết một lòng lấy anh. Nhà này có quỉ hay ma Mà dâu chẳng ở dâu ra dâu về. Nhất ngon là mía Lan Điền Dâu ngoan ngồi đấy, rể hiền ngồi đâu? BK a-Nhất ngon là mía Lam Điền b-Dâu ngoan ngồi đấy, rể hiền ngồi đây. Phụ mẫu bên anh cũng nhƣ phụ mẫu bên nàng Lẽ thƣờng anh cũng phải tạc đá bia vàng để thờ chung. Phụ mẫu tình thâm Phu thê nhân ngãi trọng Một mai anh có xa em rồi, em thờ vọng mẹ cha. Phụ mẫu thiếp cũng nhƣ phụ mẫu chàng Hai bên phụ mẫu tạc bốn chữ vàng thờ chung. Song thân bên thiếp cũng nhƣ phụ mẫu bên chàng Đồng tình bốn chữ cƣu mang Lẽ thời ta đâu khảm phết vàng thờ chung. Tay em cầm một nạm gạo lƣơng Đem đi đổi lấy một nạm gạo già Để về nấu cháo cho ông nhạc mụ gia Kẻo anh đi qua bên nƣớc Lang Sa(1) lâu về. (1) Lang Sa: phiên âm tiếng Pháp, France, nƣớc Pháp. Thân em mƣời sáu tuổi đầu Cha mẹ ép gả làm dâu nhà ngƣời Nói ra sợ chị em cƣời Năm ba chuyện thảm chín mƣời chuyện cay Tôi về đã mấy năm nay Buồn riêng thì có vui vầy thì không Ngày thì vất vả ngoài đồng Tối về thời lại nằm không một mình Có đêm thức suốt năm canh Rau héo cháo chó loanh quanh đủ trò Ai về nhắn mẹ cùng cha Lấy chồng nhà có, khổ ba bảy đƣờng Đêm nằm lƣng nỏ bén giƣờng Mụ gia đã xốc vô buồng kéo ra

257

47.

48. 49. 50. 51. 52.

53.

54.

Bảo lo con lợn con gà Lo xong cối lúa, quét nhà nấu cơm ốm đau thì mụ nỏ thƣơng Mụ hành mụ hạ, đủ đƣờng khốn thân Tối về bƣng bát cơm ăn Mụ cầm cái đọi, mụ quăng vô ngƣời Lấy chồng giàu, khổ lắm, chị ơi! Thật thà cũng thê lái trâu Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng. BK - Hiền lành cũng thể nàng dâu mẹ chồng. - Yêu thƣơng cũng thể nàng dâu mẹ chồng. - Hẳn hoi cũng thể nàng dâu mẹ chồng. Thầy mẹ đập thiếp, chàng đứng chàng coi Sao chàng không vào cƣớp lấy ngọn roi cho thiếp nhờ? Thầy mẹ không thƣơng con dâu mới, hồ dễ thƣơng ai Em nói ra chi những chuyện ai hoài tình thâm. Theo không chẳng tốn một đồng Làm dâu chí nguyện, mẹ chồng còn chê. Tiếc tiền mua lóng mía sâu Tiếc bạn đi cƣới con dâu ăn hàng. - Tiếng anh ăn học cựu trào Chị dâu té giếng, anh biết chỗ nào kéo lên - Nắm đầu chị, sợ tội Trời Nắm ngay khúc giữa lại sợ lỗi thế gian - Giếng sâu anh phải thông thang Kéo chị dâu lên đƣợc kẻo chết oan linh hồn. Tới nơi đây lỡ chợ, lỡ đò Xẻo cẳng tay nuôi mẹ, giã thịt bò mẹ xơi Mẹ thƣơng con sa rơi nƣớc mắt Nghĩ tới dâu hiền ruột thắt tận da Thôi hỡi con ơi, cháo rau cho qua bữa, thịt với thà làm chi. Tôm rằn lột vỏ bỏ đuôi Gạo nhƣ An Cựu (1) mà nuôi mẹ già Mẹ già là mẹ già anh Em vô bảo dƣỡng cá canh cho thƣờng Mẹ già nhƣ chuối bà hƣơng Nhƣ xôi nếp một, nhƣ đƣờng mía lau. (1) An Cựu: có nơi ghi "Gạo de An Cựu", một thứ gạo thơm ngon xƣa đƣợc dâng lên vua, đƣợc gọi là gạo tiến, chuyên trồng ở cánh

258

55.

56. 57.

58.

đồng An Cựu, phía nam của Huế. Trách cha, trách mẹ nhà chàng Cầm cân chẳng biết rằng vàng hay thau Thực vàng chẳng phải thau đâu Đừng đem thử lửa mà đau lòng vàng. BK (a) Trách cha trách mẹ nhà nàng Cầm cân chả biết là vàng hay thau Vàng đây chẳng phải thau đâu Đừng đem thử lửa thử than Ngƣời khôn thử tiếng ngƣời ngoan thử lời. (b) Trách cha trách mẹ nhà chàng Cầm cân chẳng biết là vàng hay thau Thật vàng chẳng phải thau đâu Đừng đem thử lửa mà đau lòng vàng Tham vàng bỏ ngãi chàng ơi! Vàng ăn thì hết ngãi tôi hãy còn. Trời mƣa nƣớc chảy vân vi Mẹ thƣơng con mẹ, chứ thƣơng gì nàng dâu. Trời mƣa ƣớt lá đài bi Con mẹ mẹ xót, thƣơng gì con dâu. BK - Con mẹ mẹ xót, xót gì con dâu. Trời che đất chở rộng thênh Lò âm dƣơng đốt nên hình ngƣời ra Chữ tài sánh lại là ba Gồm no thiên tính khác xa vật tình Kẻ tài là bậc tinh anh Sinh tri lọ phải học hành mới hay Vua tôi sẵn có nghĩa dày Cha con thân lắm đáng ngƣời nên trông Khi ấp lạnh lúc quạt nồng Bữa dâng ngon ngọt bữa dùng sớm trƣa Ở cho thoả chí ngƣời xƣa Đền ơn trả nghĩa thuở xƣa bế bồng Nhất hiếu lập vạn thiện tòng(1) Ông gồng cháu cháu lại nên ông Hoàng thiên chẳng phụ tấm lòng hiếu đâu Đàn bà phận gái làm dâu Làm dâu ắt muốn mai sau mẹ chồng Phải nhằm bƣớc trƣớc cho xong

259

59.

60.

Bƣớc sau theo lối ông ông bà bà Chữ rằng tích thiện chi gia(2) Đƣờng kia lối nọ chẳng qua nợ lần ấy là khuyến hiếu ở thân Lại còn một nỗi ái ân bạn bầu Anh em cốt nhục đồng bào Kẻ sau ngƣời trƣớc phải hầu cho vui Lọ là ăn thịt ăn xôi Quí hồ ở nết tới lui bằng lòng Chớ bề tranh cạnh hành hung Chớ nên khinh dị dốc lòng yêu đƣơng Cứ trong nghĩa lí luân thƣờng Làm ngƣời phải giữ kỉ cƣơng mới màu Đừng cậy khoẻ, chớ khoe giàu Trời kia còn ở trên đầu còn kinh. (1) Nhất hiếu lập, vạn thiện tòng: Làm đƣợc một việc hiếu thì vạn điều tốt đi theo. (2) Tích thiện chi gia: gia đình làm đƣợc nhiều điều lành. Từ khi em về làm dâu Anh thì dặn trƣớc, bảo sau mọi lời Mẹ già dữ lắm em ơi! Nhịn ăn nhịn mặc, nhịn lời mẹ cha Nhịn cho nên cửa nên nhà Nên kèo, nên cột, nên xà tầm vông Nhịn cho nên vợ nên chồng Thời em coi sóc lấy trong cửa nhà Đi chợ thời chớ ăn quà Đi chợ thời chớ rề rà ở trƣa Dù ai bảo đợi, bảo chờ Thời em nói dối con thơ em về. BK a- Thì anh dặn bảo trƣớc sau mọi lời b- Nhịn ăn bớt ngủ mà nuôi mẹ già - Khoan ăn bớt ngủ mà nuôi mẹ già c- Về chợ thì chớ rề rà ở trƣa. - Đi chợ thì chớ dần dà ở trƣa. Tuổi em hai tám tuổi đầu Cha mẹ đã định làm dâu nhà ngƣời Nói ra sợ chị em cƣời Năm ba trận chở, chín mƣời trận đay Việc làm chẳng kịp trở tay

260

61. 62.

63.

Mẹ chồng mắng mỏ, la rầy gay go Cơm ăn trong bụng chẳng no Tấm quần, tấm áo, không cho mặc lành Đêm thì thức đủ năm canh Rau heo, cháo chó, loanh quanh đủ trò. Uổng tiền mua giống mía sâu Để dành đi cƣới con dâu mà nhờ. Xin anh đi học cho ngoan Để em dệt cửi kiếm quan tiền dài Quan tiền dài em ngắt làm đôi Nửa thì giấy bút nửa nuôi mẹ già Mẹ già là mẹ già anh Một ngày hai bữa cơm canh mẹ già Bát cơm em nấu nhƣ hoa Bát canh em nấu nhƣ là mật ong Nƣớc mắt em lọc cho trong Mâm cơm em dọn tựa dòng cơm quan . Xƣa kia tôi ở với mẹ cha Chƣa từng xách mủng(1), đi ra ngoài đồng Bây giờ về với mẹ chồng Cay đắng mặn nồng, ra chuyện tây riêng Khi xƣa tôi ở với mẹ cha Tôi bận cái yếm thêu hoa rồng Bây giờ tôi ở với mẹ chồng Tôi bận cái yếm bề trong ra ngoài Xƣa kia nón Quảng quan hai Bây giờ nón rách lại gài khuy mo. (1) Mủng: Một thứ thúng nhỏ, đan dày kín.

2.9. HÔN NHÂN - CAM CHỊU STT 1. NỘI DUNG Ai bƣng trầu rƣợu tới đó Chịu khó bƣng về Em thƣơng anh thảm thiết trăm bề Heo vay cau tạm áo mƣợn võng thuê Thầy mẹ bên em nay nhún mai trề

261

2.

3.

4. 5.

6.

7.

Dạ không nỡ dạ, em không dám chê anh nghèo. Ăn chanh ngồi gốc cây chanh Thầy mẹ gả bán cho anh thật thà Bây giờ chê xấu chê xa Chê cửa, chê nhà, chê khó, chê khăn Ơ đâu yểu điệu thanh tân Sao anh chẳng chịu cầm cân đi lừa? Ăn chanh ngồi gốc cây chanh Thầy mẹ gả bán cho anh thật thà Anh còn chê xấu chê xa Chê vụng, chê dại, cửa nhà khó khăn Tìm nơi yểu điệu thanh tân Mẹ anh lại gác đồng cân đi lừa Đây em vàng bảy chả mua Vác cân đi lừa lại phải vàng năm Vàng năm lại phải vàng mƣời Rắn nằm cuộn khúc tƣởng nơi rồng vàng Mẹ anh ngồi quán bán hàng Sao anh chẳng biết rằng vàng hay thau Thực vàng chẳng phải thau đâu Đừng đem thử lửa cho đau lòng vàng. Anh đi về đi, kẻo thầy em dứt, kẻo mẹ em la Trận đòn oan em chịu, anh ở xa biết gì! Chim thằng chài có ngày mắc bẫy Em cho hay rằng anh hãy lánh xa Mẹ cha không thể chịu hoà Em đâu dám cãi vậy mà theo anh. Đá cheo leo, trâu trèo trâu trƣợt Ngựa trèo ngựa đỏ Tiếc công anh lao khổ Tự cổ chí kim Mất em đi anh khó kiếm khó tìm Cũng giả tỉ nhƣ cây kim mà lòn sợi chỉ Sao em không biết nghĩ biết suy Em ham nơi quyền quí, em không có nghĩ gì đến anh Hoa kia gió thổi lìa cành Mẹ cha ép gả, em đành chịu sao? Đêm trăng thắp ngọn đèn lồng Mình về có nhớ ta không, hỡi mình? Chiếc thuyền nan anh giậm thình thình Anh thì cầm lái, cô mình phách ba

262

8.

9. 10.

11.

12.

13. 14.

Có thƣơng anh, em bẻ mái chèo ra Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời. Đèn chong giữa gió, khi tỏ khi mờ Bạn thƣơng đứng đó, biết cơ vạn sầu Bởi anh thất ƣớc bƣớc đầu Phải nhƣ anh bỏ miếng trầu đã xong Vì ai thiếp phải long đong Một thân thiếp đã tính xong một bề Làm trai thấy gái đừng mê Cây cao bóng cả dựa kề đừng xiêu Anh yêu cha mẹ chẳng yêu Lụa kia em muốn nhúng, chỉ điều không ăn Tiếc thay áo chẳng đặng khăn Em đã có chồng xa xứ, anh đừng đón ngăn làm gì. Em thƣơng anh, cha mẹ không cho Tìm nơi khuất tịch khóc no rồi về. Hà Nội ba mƣơi sáu phố phƣờng Hàng Mật, Hàng Đƣờng, Hàng Muối trắng tinh Từ ngày ta phải lòng mình Bác mẹ đi rình đã mấy mƣơi phen Làm quen chẳng đƣợc làm quen Làm bạn mất bạn ta liền quên nhau. BK a - Làm quen chả đƣợc làm quen b - Làm bạn mất bạn ai đền công cho Kiến bò vành chậu sáng trƣng Thấy em có nghĩa, lòng ƣng dạ đành Anh đành, cha mẹ không đành Mẹ ơi! Đừng dứt duyên lành tội con Tai nghe trống điểm lầu son Anh sầu một nỗi, héo hon đoạn trƣờng Than cho thấu dạ ngƣời thƣơng Bữa ăn rớt đũa, đêm trƣờng chiêm bao! Mái tóc tơ không bao giờ phân rẽ Dạ thƣơng, thầy mẹ khiến đừng Hai hàng nƣớc mắt rƣng rƣng Khổ cam trong dạ biết chừng nào phai. Mẹ cha nghiêm khắc cùng mình Nên tôi ít lai vãng, mới nhạt tình đôi ta. Nƣớc đục mà đựng chậu thau Cái mâm chữ triện đựng rau thài lài

263

15.

16. 17.

Tiếc thay con ngƣời da trắng tóc dài Bác mẹ gả bán cho ngƣời đần ngu Rồng vàng tắm nƣớc ao tù Ngƣời khôn ở với ngƣời ngu bực mình. BK (a) Bát nƣớc lắng mà đựng chậu thau Cái mâm triện tự đựng rau thài lài Anh tiếc cho con ngƣời da trẳng tóc dài Mẹ cha ép gả cho ngƣời đần ngu. (b) Tiếc thay nƣớc đục mà đựng chậu thau Cái mâm chữ triện đựng rau thìa lài Tiếc ngƣời da trắng tóc dài Đƣơng xuân cha mẹ ép nài lấy lão sáu mƣơi. Nƣớc đứng mà đựng chậu thau Tiếc mâm sơn tử đơm rau thài lài Tiếc em da trắng tóc dài Cha mẹ ép gả cho ngƣời phàm phu Mình vàng xuống tắm ao tù Ngƣời khôn ở với đứa ngu bực mình Qua đình nghiêng nón trông đình Đình bao nhiêu gói thƣơng mình bấy nhiêu Khi nào nƣớc đục cơm thiu Chồng con chƣa mấy, bỏ liều cho ta Trông em chẳng thấy em ra Anh ngồi anh đợi sƣơng sa lạnh lùng Đêm nằm cởi áo đắp chung Sao em không đắp lại vùng áo đi Thƣơng em kịp thuở thì xuân xanh Bữa cơm có cá có canh Sao không mát dạ, vƣơng anh làm gì. Nƣớc ngâm mà đậu chƣa chà Lòng em thì muốn, mẹ cha chƣa ừ. Ở nhà anh đã khiến sang Nghe thầy mẹ nói dở dang nhiều điều Đôi ta mến yêu Những điều trung hiếu Tình kia dan đíu Nhạn én bay qua Vịt lội Ngân Hà Bây chừ dang dở Thấy mẹ úp mở

264

18. 19.

20.

21.

Cho lỡ chiếu giƣờng Thấy mẹ không thƣơng Sao ban đầu không nói? Anh sang anh hỏi Mẹ nói rằng: ừ! Đi sang cƣới chừ Trăm điều thách lại Này yếm thêu hoa cả dải Vòng xuyến dăm đôi Này khăn nhiễu tàu Mƣơi vuông cho đủ Bỏ quả sơn son Này rƣợu cho ngon Năm bảy vò đầy ắp Này mƣơi gánh nếp Thết đãi họ hàng Nhà anh khó khăn Lấy đâu đồ sính lễ Mẹ cha chẳng nghĩ Em cũng mặc tình Bỏ lời nguyện với ba sinh Tiếc con rồng vàng bỏ đám mây xanh ngậm ngùi. Phụ mẫu mình khuôn phép luật hình Tôi không từng lai vãng nên mình quên tôi. Ra đƣờng gặp khách cung mây Chẳng dây nào rối bằng dây tơ vò Thầy mẹ ngƣời vụng liệu vụng lo Đôi mƣơi, mƣời tám chẳng lo lấy chồng Thầy mẹ ngƣời tham việc tiếc công. Sách Luận ngữ có hai chữ thị hồ (1) Sách Tăng tử có hai chữ ta hồ (2) Dầu thầy mẹ có gả thiếp đi mô Thiếp cƣu sầu (3) trong dạ ruột khô gan vàng. (1) Thị hồ: phải thế chăng, thƣờng đi đôi với phủ hồ là không phải thế chăng? (2) Ta hồ: than ôi! (3) Cƣu sầu: mang sầu Sáng ngày cắp nón đón đò Gặp thầy, gặp mẹ chả cho xuống đò Lạy thầy, lạy mẹ xin chừa Từ rày chả dám đò đƣa với chàng

265

22. 23.

24.

25. 26. 27.

28. 29.

30.

Chốn sơn lâm lá cỗi thông vàng Cây bao nhiêu lá thƣơng chàng bấy nhiêu Bởi chƣng bác mẹ nhiều điều Cho nên tôi phải đăm chiêu với chàng Ruột tôi héo, gan tôi vàng Nào ai có biết đoạn tràng này không ? Tại mẹ cha dứt tình tơ nguyệt Khuyên em đừng chực tiết uổng công. Thiếp đứng gần chàng nhƣ vàng mƣời nén Chàng đứng gần thiếp nhƣ chén trà tiên Anh thƣơng em, em chẳng dám thị thiền ẩn cây nấp bóng, đợi quyền mẹ cha. Thôi thôi buông áo em ra Để em đi bán kẻo hoa em tàn - Hoa tàn vì bởi mẹ cha Khi búp không bán để tàn ai mua? Thƣơng nhau chẳng lấy đƣợc nhau Mẹ cha trồng sậy trồng lau ngăn rào. Thuyền em lựa bến cắm sào Em chờ phụ mẫu định nơi nào sẽ hay. Tiếc công anh lau đĩa chùi bình Cậy ông mai tới nói, cha mẹ nhìn bà con Trời mƣa, nhà chiếc dột hom Cha mẹ không thƣơng thì nói vậy, chớ bà con đâu nhìn. BK Tiếc công anh lau đĩa chùi bình Cậy mai dong tới nói phụ mẫu nhìn bà con Trời mƣa nhà thiếc dột bon bon Phụ mẫu không thƣơng nói vậy, chớ bà con đâu mà nhìn. Tiếc thay con ngƣời da trắng, tóc dài Bác mẹ gả bán cho ngƣời đần ngu. Trách hồng nhan vô duyên bạc chẳng phải hận Duyên nợ ở gần sao không đặng xứng đôi Để chàng với thiếp xa xôi Oán cha trách mẹ chẳng lo việc đứng ngồi cho con. Trách ai lấp nẻo sông ngân Làm cho đôi lứa cố nhân bặt đƣờng Thƣơng nhau dòng luỵ chảy tuôn Trách cha mẹ gắt chẳng thƣơng chút tình Anh về em nhớ dạng nhớ hình Ngàn năm li biệt đôi đứa mình phải xa

266

31. 32.

33.

34. 35.

36. 37.

38.

Vái Trời cho đặng chữ hiệp hoà Lâu lâu thăm viếng kẻo mà đợi trông Xin thƣơng cho chút má hồng Chớ đừng bạc nghĩa vong ân đoạn tình. Trách cha trách mẹ muôn phần Ngồi trốc đống bạc mà cân lấy chì. Trách cha trách mẹ quá lời Cho nên anh phải bỏ rời bấy lâu Bây giờ lòng mới sở cầu Có chăng nói lại với nhau vài lời. Trách hồng nhan vô duyên bạc phận Duyên nợ ở gần sao không đặng xứng đôi Để chàng với thiếp xa xôi Oán cha trách mẹ chẳng lo việc đứng ngồi cho con. Trách Trời sao lại hiu hiu Trách lòng cha mẹ không chiều lòng em. Trăm khúc sông khúc lở, khúc bồi Miệng chàng nói thế, chàng ngồi chàng trông Gió bên đông xin chàng gỡ giúp Ngón tay tháp bút mà chấm chậu lan Dù ai nói ngang, chàng đừng ngao ngán Trƣớc thì là bạn, sau nên vợ chồng Em còn trong tròng xin chàng thong thả Em quyết trận này trả của lấy cho anh Em hai mƣơi tuổi xuân xanh Thầy mẹ ép uổng dỗ dành vào cửa ngƣời ta Cho nên duyên chẳng thuận hoà Vợ chồng xung khắc, xót xa nhiều bề. Trăng khuyết rồi trăng lại tròn Mụ già kén rể, con còn hoá lâu. Trèo đèo Cổ Mã Ngó xuống Vạn Giả, Tu Bông(1) Biết là phụ mẫu đành không Chàng chờ thiếp đợi, uổng công hai đàng (1) Vạn Giả, Tu Bông: các địa danh thuộc tỉnh Phú Yên. Vì chàng nên chi thiếp chịu đòn oan Thầy đập mẹ mắng, thế gian chê cƣời - Thầy mẹ đập em anh đau thấu tận xƣơng Xóm làng ơi, mau mau cứu ngƣời thƣơng tôi cùng! - Thầy mẹ đập thiếp bò lăn bò lóc Có khúc có đận (vết)

267

Nhờ bên tiếp cận Chàng vô bóp muối thoa chanh Chàng nay là phận rể không há dễ vô giành ngọn roi. 2.10. HÔN NHÂN - TRÁCH MÓC STT 1 NỘI DUNG Ai làm cho bến xa thuyền Cho Trăng xa Cuội(1), bạn hiền xa nhau Cha mẹ sao nghĩ chẳng sâu Để thƣơng để nhớ để sầu cho cả hai ta. Ba tàn ba héo vì cây Con sầu vì mẹ vì thầy ép duyên. Bác mẹ em vội tham vàng Hang hùm lại ngỡ hang vàng gả con Trƣớc thời thẹn với nƣớc non Sau thời cay đắng lòng con đêm ngày Khi vui có bác mẹ thầy Cơn sầu em chịu đắng cay một mình Mang thơ ra dán cột đình Kẻ xuôi ngƣời ngƣợc thấu tình em chăng? Phong ba nổi giữa đất bằng Một dây một buộc ai dằng cho ra! Thiết gì một cảnh vƣờn hoa Mà đem đầy đoạ thân ta thế này? Thấu chăng hỡi bác mẹ thầy Ngỡ rằng gả bán, hoá đầy thân con! Cây oằn vì bởi gió nam Xa mình là bởi mẹ cha ham chỗ giàu. BK a- xa mình vì bởi phụ mẫu ham chỗ giầu. Cha mẹ đòi ăn cá thu Gả con xuống biển mù mù tăm tăm. Cha mẹ em cho em sang chiếc đò nghiêng Đò trùng triềng đôi mạn em ôm duyên trở về. Chim bay về núi Sơn Trà Chồng nam vợ bắc, ai mà muốn xa Sự này cũng tại mẹ cha Cho nên đũa ngọc mới xa mâm vàng. Chim xanh ăn trái xoài xanh Ăn no tắm mát lên nhành rỉa lông

2 3

4

5 6 7

8

268

9

10

11

12

13 14

15 16

Đôi ta xứng vợ xứng chồng Cực vì cha mẹ nói không xƣa rày Bữa nay tỏ thiệt bạn hay Kiếm nơi mô thì bạn kiếm, chớ duyên rày rời duyên. Đôi ta mặt nguyệt hôm rằm Bởi chƣng mƣa dầm nhìn chẳng thấy sao Bởi chƣng cha mẹ ép vào Làm cho khốn khổ đời nào cho ra Thác đi sợ tiếng gièm pha Thiệt thân mà miệng ngƣời ta chê cƣời Chơi trăng không thẹn với trời Chơi gƣơng không thẹn với ngƣời trong gƣơng Hỡi ngƣời em nhớ em thƣơng Sống còn em nguyện cùng chàng trăm năm. Dòng nƣớc chảy xuôi, con cá buôi lội ngƣợc Dòng nƣớc chảy ngƣợc, ông Nƣợc rƣợt theo Hai đứa ta chẳng quản giàu nghèo Ngặt vì cha mẹ cứ theo cựu truyền. Đứng bên ni sông cách ba tay sáo Nghe giọng em hò vắt áo ra đi Tai nghe thầy mẹ ở nhà bán gả em đi Bằng ai giơ dao cắt ruột anh đi cho rồi. Duyên kia chƣa bén, tình nọ chƣa nồng Xốn xang bứt rứt trong lòng Hay là Trời khiến vợ chồng cách phân? - Em đừng đem dạ sầu tây Gây nên cơn cớ sự này Bởi chƣng cha mẹ xui rày mới xa. Em là con gái lỡ thì Thầy mẹ nỏ gả để làm chi trong nhà? Gà tơ xào với mƣớp già Vợ hai mƣơi mốt, chồng đà sáu mƣơi Ra đƣờng chị giễu em cƣời Rằng hai ông cháu kết đôi vợ chồng Đêm nằm tƣởng cái gối bông Giật mình gối phải râu chồng nằm bên Sụt sùi tủi phận hờn duyên Oán cha, trách mẹ tham tiền bán con. Không trách mẹ, cũng chẳng hờn cha Chỉ trách mẹ bội ƣớc, nên sinh ra thế này. Lửa nhen vừa mới bén trầm

269

17

18

19 20

21

22

23

Trách lòng cha mẹ nỡ cầm duyên con. Mẹ em tham gạo tham gà Bắt em để bán cho nhà cao sang Chồng em thì thấp một gang Vắt mũi chƣa sạch ra đàng đánh nhau Nghĩ mình càng tủi càng đau Trách cha trách mẹ tham giàu tham sang. Mẹ em tham gạo tham gà Bắt em để bán cho nhà cao sang Chồng em thì thấp một gang Vắt mũi chƣa sạch ra đàng đánh nhau Nghĩ mình càng tủi càng đau Trách cha trách mẹ tham giàu tham sang. Mẹ em tham việc tiếc công Cầm duyên em lại, tiết thu đông muộn màng. Mẹ em tham thúng xôi rền Tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hƣng Tôi đã bảo mẹ răng đừng Mẹ hấm, mẹ hứ mẹ bƣng ngày vào Bây giờ kẻ thấp,ngƣời cao Nhƣ đôi đũa lệch so sao cho bằng? BK a - Mẹ tôi tham thúng xôi rền b - Em đã bảo mẹ rằng đừng c - Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bƣng mâm vào d - Bây giờ chồng thấp, vợ cao Mẹ em tham thúng xôi rền Tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hƣng Mẹ em tham thúng bánh chƣng Tham con lợn béo,lƣng em chịu đòn. Mẹ em tham thúng xôi rền Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hƣng Em đã bảo mẹ rằng đừng Mẹ giấm mẹ giúi mẹ bƣng vào nhà Bây giờ tôi bán oan gia Nó đánh trong nhà, nó quật ngoài sân Mẹ ngồi mẹ nghĩ tần ngần Mẹ bán táo rụng, gỡ dần con ra. Mẹ mong con đẹp lứa đôi Con xin đƣợc tỏ đôi lời đục trong: Lấy nhau lòng hiểu đƣợc lòng

270

24 25 26

27

28 29

30

Tình kia mới đƣợc đƣợm nồng dài lâu Vì chƣng mẹ trót nhận trầu Bắt con ngậm miệng cúi đầu vâng theo Lấy ngƣời chẳng biết, chẳng yêu Sống sao cho mãn bóng chiều trăm năm Dù nay muốn dứt tơ tằm Mẹ thƣơng thì sự lỡ lầm đã qua. Mẹ mong gả thiếp về giồng Thiếp than phận thiếp gánh gồng chẳng kham. Mẹ ơi trái bí còn non Mẹ cầm dao cắt duyên con sao đành? Sự tình trọng đại, đây chẳng phải buồn chi Buồn thời một phận sầu bi Trai tài gái sắc, thầy mẹ không tính hƣơng chi con nhờ. Tay gắp miếng mỡ Tay đỡ miếng quay Sửa mặt, sửa mày Quần hồ áo cánh Thầy mẹ sứm sanh Sao anh không mặc? Cái phận anh cực Cái phận anh sầu Ruột cắt không đau Bằng duyên ép cƣỡng Có hơn sào ruộng Lúa bán hơn ngƣời Nuôi ăn nuôi chơi Thầy mẹ không gả Nuôi uổng thân con Đắng cay nhƣ quả bồ hòn Khác nào nhƣ thể hồng non ngậm vào. Tham giàu thầy mẹ ép gả em ra Tƣởng là mẹ chính, hoá ra mụ hầu. Thầy mẹ em tham ruộng đầu cầu Tham nhà con một, tham trâu đầy chuồng Thầy mẹ em tham bạc tham tiền Tham con lợn béo, cầm duyên em già Để đến nay anh cƣới em nửa con gà Dăm ba sợi bún, một và hột xôi. Trách cha mẹ nàng ăn ở đảo điên Để trai anh hùng chịu thảm, gái thuyền quyên chịu sầu.

271

31

32

Trách cha, trách mẹ muôn phần Ngồi trốc đống bạc mà cân phải chì Trách cha trách mẹ vụng suy Sinh chi cho luống công trình Để cho chúng bạn đồng tình mỉa mai. Trách mẹ với cha chớ anh đây không trách bậu Cha mẹ tham giàu gả bậu đi xa. 2.11. HÔN NHÂN - QUYỀN CHA MẸ

STT 1.

NỘI DUNG Có con mà gả chồng gần Có bát canh cần nó cũng đem cho Hoài con mà gả chồng xa Trƣớc là mất giỗ sau là mất con. BK (a)Có con mà gả chồng gần Nửa đêm đốt đuốc mang phần cho cha Hoài con mà gả chồng xa Ba sào ruộng chéo chẳng ma nào cày. (b)Có con mà gả chồng xa trƣớc là mất gỗ, sau là mất con Có con mà gả chồng gần Có bát canh cần nó cũng đem cho. Con ta gả bán cho ngƣời Cờ ai nấy phất chứ chơi đâu mà. Mẹ mong gả thiếp về vƣờn Ăn bông bí luộc dƣa hƣờng nấu canh. BK Mẹ mong gả thiếp về giồng Ăn bông bí luộc, dƣa hồng nấu canh. Nuôi con những tƣởng về sau Trao duyên phải lứa, gieo cầu phải nơi Mực đen vô giấy khó chùi Vợ chồng, chồng vợ việc đời trăm năm. Trèo lên cây gạo con con Muốn lấy vợ giòn phải nặng tiền cheo Nặng là bao nhiêu? Ba mƣơi quan quí Mẹ anh có ý mới lấy đƣợc nàng Mai mẹ anh sang, mẹ nàng thách cƣới

2. 3.

4.

5.

272

Bạc thì trăm rƣởi, tiền chín mƣơi chum Lụa thì chín tấm cho dày Trâu bò chín chục đuổi ngay vào làng Anh sắm đƣợc, anh mới hỏi nàng Nếu không sắm đủ, chớ vào làng làm chi. BK Trèo lên cây gạo son son Muốn lấy vợ giòn phải nặng tiền cheo Ba mƣơi quan quí Mẹ anh có ý mới lấy đƣợc nàng Anh về bảo mẹ anh sang Mẹ nàng thách cƣới: - Tiền thì trăm rƣởi Bạc chín mƣơi thoi Cƣới em mƣời chín con trâu Mƣời hai con lợn thì dâu mới về Dâu về trƣớc ngựa hồng theo sau. 2.12. HÔN NHÂN - CHỐNG LẠI LỄ GIÁO PHONG KIẾN STT 1. NỘI DUNG Cơm ăn hai bát, bát ăn bát để Đũa so hai đôi, đôi đứng đôi nằm Dầu mà thầy mẹ đập chín chục một trăm Đập rồi lại dậy quyết nhất tâm lấy chàng. Cơm sôi bớt lửa kẻo trào Mẹ ơi khoan bán, má đào đang non. Cá lƣỡi trâu dầm trong nƣớc mắm Qua với nàng duyên thắm mấy trăng Mẹ cha tuy chẳng bằng lòng Đôi ta cố giữ chữ đồng trăm năm. Chƣa chồng thì liệu đi nghe Để bác mẹ liệu thì huê em tàn Có thì liệu lấy mới ngoan Để bác mẹ liệu thế gian đã đành. Đêm nằm đắp chiếu bịt bùng Tai nghe tiếng hát dậy vùng ra đi Con rồng nằm bãi cát bày vi Vì chƣng thƣơng bạn, nên ra đi làm vầy

2. 3.

4.

5.

273

6. 7.

8.

9.

10.

11.

12.

13. 14.

Ra đi, cha đánh, mẹ ngầy Không đi, bạn ở ngoài này bạn trông! Dù cho cha đánh ngõ đình Mẹ ngăn ngõ chợ, đôi đứa mình đừng xa. Em còn bé dại thơ ngây Thầy mẹ ép uổng những ngày còn thơ Bây giờ duyên số chả vừa Có thƣơng thì gỡ cho nhau ra cùng Em còn mắc míu trong tròng Mƣợn dao lá trúc cắt tròng em ra Bao giờ em ra khỏi tròng Giã ơn dao trúc, giã lòng ngƣời thƣơng Bao giờ em ra khỏi chiếu, khỏi giƣờng Để thiếp với chàng lồng áo đắp chung. Em ngủ dậy sớm mai Em xúc hai chén cơm So hai đôi đũa Đôi đứng đôi nằm Dầu thầy mẹ có đánh chín chục, một trăm Đánh rồi em dậy, em cũng chí lăm thƣơng chàng. Em thƣơng anh dầu cha mẹ có quấn tóc kèo nhà Đánh bằng roi sắt, xa mà không xa Chừng nào roi sắt trổ hoa Cây khô nở nhuỵ, đôi đứa ta mới lìa. Em thƣơng anh thầy mẹ ngăm nghe Cậu, cô, chú, bác, đòi đậu bè thả trôi Thả trôi răng đặng mà thả trôi Anh Hồ em Hán cũng lôi nhau về. Hai hàng nƣớc mắt tuôn rơi Khóc lên thì sợ bạn cƣời đôi ta Việc này tại mẹ cùng cha Tại chú cùng bác ông bà anh em Mặc ai chia rẽ phận duyên Đôi ta cứ giữ lời nguyền sắt son. Khi con thƣơng thầy mẹ không thƣơng Nay chừ công bất thành, danh bất toại, thầy với mẹ đẩy vại con vô Liều mình con muốn vọt xuống hồ Măng non làm bạn với tre không cực lòng. Mặc dầu cha đánh mẹ treo Đứt dây té xuống cũng theo chung tình. Mình ơi! tôi nhớ thƣơng mình

274

15.

16.

17.

Mẹ cha chửi mắng chữ tình nặng thêm. Rau răm ngắt ngọn còn tƣơi Rƣợu ngon chuốc chén đợi ngƣời tri âm Đôi đũa em đã toan cầm Chàng lấy một chiếc cho lòng em mê Về nhà cha đánh, mẹ chê Nhƣng em chỉ quyết một bề lấy anh Cây xanh thì lá cũng xanh Đã trót vin cành thì phải hái hoa. Thiếp đây không phải con ngƣời lòng chim dạ cá Trách tấm lòng thầy mẹ bán gả đôi nơi Trăm năm thề thốt nặng lời Thiếp xin lấy con dao vàng tự vẫn giữa trời phen ni. Từ khi gặp mặt giữa đàng Thiếp quyết thƣơng chàng, cha mẹ nào hay Có hay thì nhất đánh, nhì đày Hai lẽ mà thôi Thuỷ chung em giữ trọn mấy lời Chết thời chịu chết, lìa đôi em không lìa! (b) Từ khi gặp mặt giữa đàng Thiếp quyết thƣơng chàng, cha mẹ nào hay Có hay thì nhất đánh nhì đày Thuỷ chung giữ trọn, chết thà chịu chết lìa đây không lìa. 2.13. HÔN NHÂN - LƢỠNG LỰ

STT NỘI DUNG 1. Ai về anh dặn lời này Phƣợng hoàng chỉ quyết đậu cây ngô đồng Song le còn chút ngại ngùng Biết rằng thầy mẹ thƣơng cùng cho chăng? Nẻo xa thấp thoáng bóng trăng Cũng mong nhờ gió cát đằng(1) dƣa dây Để cho duyên hiệp đấy đây cho gần. (1) Cát đằng: loài dây leo phải bám vào những cây to khác. Trong văn học cổ thƣờng dùng cát đằng để chỉ sự phụ thuộc, lẽ mọn. (2) Quảng Hàn: nghĩa gốc là rộng và lạnh lẽo, theo Long thành lục, vua Đƣờng Minh Hoàng, nhân đêm rằm tháng tám, đƣợc nhà thuật sỹ làm phép lạ đƣa lên mặt trăng chơi, thấy cửa vào cung trăng có biển đề "Quảng hàn thanh hƣ chi phủ" (cái phủ trống rỗng, trong suốt, lạnh và rộng) do đó Quảng Hàn, Cung Quảng Hàn, Cung

275

2.

3.

4. 5. 6.

7. 8. 9. 10. 11. 12. 13. 14.

Quảng, Cung Hàn v.v đều dùng để chỉ mặt trăng. Chim manh manh bay quanh vòng cỏ Qua với nàng hiểu rõ mấy năm Tình yêu vẫn giữ âm thầm Đợi quyền cha mẹ sắt cầm định phân. Công anh gánh đá tạc bia Công em trò chuyện sớm khuya với chàng Bây giờ bác mẹ bàn ngang Công em trò chuyền với chàng mất không Ai ngờ chuối trổ mùa đông Biết rằng có chắc hay không mà chờ Chờ anh chờ ngẩn, chờ ngơ Chờ hết mùa mận, mùa mơ, mùa hồng Cắm sào em đợi nƣớc trong Nƣớc nguồn chảy xuống còn mong nỗi gì Đêm khuya trăng lệch trời trong Muốn trao duyên với bạn sợ lòng mẹ cha. Đƣợc hoặc chữ trung mất dùng chữ hiếu Đƣợc chữ tam tùng lỗi đạo mẹ cha. Em về em hỏi mẹ cha Có cho em lấy chồng xa hay gần? Có con mà gả chồng xa Một là mất giỗ, hai là mất con Có con mà gả chồng gần Có bát canh cần nó cũng đem cho. Em thấy anh em cũng mong chào Sợ lòng bác mẹ cây cao lá dài. Em thƣơng còn bụng mẹ thầy Đèn treo trƣớc gió biết xây ngả nào. Gặp anh đây em hỏi giao hoà Thƣơng em anh có nghĩ đến mẹ già em không? Không nghe anh thì lỗi đạo tam tùng Nghe anh thì thất hứa thất trung với mẹ thầy. Không theo anh thì đêm tƣởng ngày trông Theo anh thì thầy mẹ vẽ vòng uốn roi. Lăm le muốn nhảy qua mƣơng Nhảy thời đặng đó, còn thƣơng mẹ già. Lấy chi trả thảo cho cha Đền ơn cho mẹ, con ra lấy chồng. Lênh đênh nửa nƣớc nửa dầu Nửa thƣơng cha mẹ, nửa sầu căn duyên.

276

15.

16. 17.

18. 19. 20.

21.

Lƣỡi câu anh đã uốn vừa Sợ lòng bác mẹ lọc lừa nơi nao Bắc thang lên hỏi thiên tào Rằng cô bán cá rẽ vào duyên ai(1) (1) Rẽ vào duyên ai: ngƣời ấy sẽ lấy ai? Lƣu li nửa nƣớc, nửa dầu Nửa thƣơng cha mẹ, nửa sầu căn duyên. Mẹ em tham con lợn béo mùi Để anh chểnh mảng nhƣ nồi canh rau Bắt tay qua trán mà nghĩ trƣớc sau Thịt lợn chóng chán, canh rau mát lòng. Mẹ mong gả thiếp về vƣờn Thiếp lo một nỗi đƣờng trƣờng xa xôi. Một nghiên năm bảy bút giao kề Biết lòng thày mẹ chấm phê bút nào. Ông Trời năng mƣa, năng vận chuyển Đất cát ngoài biển, năng lở năng bồi Đôi ta yêu lỡ nhau rồi Chàng than thiếp thở, phụ mẫu ngồi sao yên? Vai mang khăn gói sang sông Mẹ kêu khốn tới, thƣơng chồng khốn lui. 2.14. HÔN NHÂN - TỰ GIÁC

STT 1.

NỘI DUNG Ai bƣng bầu rƣợu đến đó Phải chịu khó bƣng về Em đang ở hầu thày mẹ cho trọn bề hiếu trung. BK (a)Ai bƣng bầu rƣợu tới đó thì chịu khó bƣng về Kẻo em đây đang còn theo chân thày mẹ cho trọn bề hiếu trung. (b)Ông mai ơi! Ông xách bầu rƣợu tới đó Ông hãy chịu khó ông xách trở về Tôi còn ở nuôi phụ mẫu, cho trọn bề hiếu trung. (c) Ai bƣng trầu rƣợu tới đó Chịu khó bƣng về Em đây thiệt vẫn không chê Ở làm ri nuôi thầy mẹ, cho trọn bề hiếu trung. Bông ngâu rụng xuống cội ngâu Em còn phụ mẫu dám đâu tƣ tình.

2.

277

3. 4. 5. 6. 7.

8.

9.

10. 11.

12.

13.

14. 15.

Chỉ còn đƣơng nối trong cuồng Em còn phụ mẫu, luông tuồng sao nên. Chớ lo nốc nát, ván hà Gắng thân nuôi phụ mẫu, duyên già có anh. Khoan khoan bƣớc tới thềm vàng Để em thƣa với thầy mẹ, biết có thƣơng chàng hay không? Khoan khoan chờ đợi em cùng Em còn hai chữ hiếu trung chƣa đền. Mẹ em muốn ăn cá thu Bắt anh ra biển mù mù tăm tăm Mẹ em thách cƣới một trăm Anh đi chín chục, mƣời lăm quan ngoài. Mẹ em thách cƣới một trăm Anh đi chín chục mƣời lăm quan ngoài Mẹ em thách cƣới hoa tai Anh ra thợ bạc đánh hai đôi liền. Ngại vì một nỗi xa đàng Bác mẹ chƣa biết họ hàng chƣa hay Anh có lòng thƣơng chờ đợi ít ngày Đƣợc phép mẹ thầy, anh hãy vãng lai Trƣớc răng sau rứa không sai! Ngọc còn ẩn bóng cây ngâu Em đang tùng phụ mẫu dám đâu tự tình? Ơn hoài thai nhƣ biển Ngãi dƣỡng dục, tợ sông Em nguyền ở vậy phòng không Lo đàng cha mẹ cho hết lòng phận con. Ơn thầy bằng núi, nghĩa mẹ tày non Hai ta là đạo làm con Muốn duyên vừa ý đẹp phải cúi luồn mẹ cha. Phụ mẫu sơ sanh, hãy để ngƣời định Trong việc vợ chồng, phải chờ lịnh mẹ cha - Đợi lịnh mẹ cha, anh đây cũng biết vậy Nhƣng em phải hứa chắc một lời, anh sẽ cậy mai dong. Thuyền em lựa bến cắm sào Em chờ phụ mẫu định nơi nào sẽ hay. Tiếc cây mía tốt có sâu Tiếc ngƣời lịch sự trên đầu có tang Tang chồng thì bỏ tang đi Tang cha tang mẹ, ta thì tang chung - Tang cha, tang mẹ trên đầu

278

16.

17.

Lẽ nào em dám bán sầu mua vui. Tiếng đồn anh con nhà nhân gia tử đệ Anh ơi! Anh thiếu chi kẻ thƣơng yêu Cớ làm sao anh lại để đứng bóng xế chiều hỡi anh? - Em ơi, em thốt ra anh cũng phải Nhƣng cho anh trả lại mần ri Chốn mô nghiêm trang bằng chốn bến Ngự? (1) Chỗ mô lịch sự bằng chợ Đông Ba (2) Anh không bôn theo đƣờng con vợ Mà nhớ đến hai chữ thất gia Một chữ kính mẹ, một chữ thờ cha Dẫu mà trăng xế, bóng qua anh cũng đành. (1) Bên ngự: địa điểm trên sông An Cựu (một nhánh của sông hƣơng) gần ga Huế. (2) Đông Ba: xem chú thích ở Ch 406. Trăng lên khỏi núi trăng sáng Bởi vì mây ám nên trăng mờ Anh mắc đƣờng hiếu sự, em đợi chờ có đặng không? 2.15. CON CÁ TRONG CA DAO VỀ TÌNH YÊU, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

STT 1. 2.

NỘI DUNG Ai làm bát bể cơm rơi Đĩa nghiêng cá đổ, rã rời đôi ta. Ai làm cá bống đi tu Cá thu nó khóc, cá lóc nó rầu Luỵ rơi hột hột, cơ cầu lắm bớ em! Ai làm cho cải tôi ngồng Cho dƣa tôi khú, cho chồng tôi chê Chồng chê thì mặc chồng chê Dƣa khú nấu với cá trê ngọt lừ. Ai lên nhắn nhủ hàng bông Có muốn lấy chồng thì xuống Nguyệt Viên(1) Nguyệt Viên lắm lúa nhiều tiền Lại có sông tiền tắm mát nghỉ ngơi Chiều chiều ba dãy cá tƣơi Chẳng ăn thời thiệt, chẳng chơi thời hèn. (1) Nguyệt Viên: một địa điểm thuộc xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Ai ơi, trẻ mãi ru mà

3.

4.

5.

279

6.

7.

8.

9.

10.

Càng so sánh lắm, càng già mất duyên Còn duyên nhƣ tƣợng tô vàng Hết duyên nhƣ tổ ong tàn ngày mƣa Còn duyên đóng cửa kén chồng Hết duyên ngồi gốc cây hồng lƣợm hoa Còn duyên kén cá chọn canh Hết duyên củ ráy dƣa hành cũng trôi Còn duyên kén những trai tơ Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng Còn duyên đóng cửa kén chồng Hết duyên bán quán ngồi trông bộ hành. Ai về nhắn nhủ ông câu Cá ăn thì giật để lâu mất mồi Mất mồi này ta câu mồi khác Cá biển hồ sao xác thiếu chi. Ăn mít bỏ xơ Ăn cá bỏ lờ, mình chớ hay quên Mình quên ta chả cho quên Mình nhớ, ta nhớ mới nên vợ chồng. Ăn trầu ngƣời nhƣ chim mắc nhợ Uống rƣợu ngƣời nhƣ cá mắc câu Thƣơng em chẳng nói khi đầu Để cho bác mẹ ăn trầu khác kơi Đau lòng em lắm anh ơi! Riêng em cứ quyết đợi ngƣời đấy thôi Sông kia khi lở khi bồi Thƣơng em lúc đứng lúc ngồi cũng thƣơng. Anh ăn cơm cũng thấy nghẹn Uống nƣớc cũng thấy nghẹn Nghe lời em bậu hẹn, ra bãi đứng trông Biển xanh bát ngát, nhìn không thấy ngƣời Mênh mông sông nƣớc xa vời Biết rằng còn nhớ những lời thể xƣa Trông ai nhƣ cá trông mƣa Ngày đêm tƣởng nhớ, nhƣ đò đƣa trông nồm Bậu ơi! bậu có nhớ không ? Anh trông ngóng bậu, nhƣ rồng ngóng mƣa. Anh Ba yêu đến tôi chăng? Gió đƣa trăng là trăng đƣa gió Thung thăng cá vƣợt qua đăng Xin đừng lắm chốn, nhiều nơi nhỡ nhàng.

280

11.

12.

13.

14. 15.

16. 17. 18.

19. 20.

21.

Anh bứt cỏ ngựa(1) ngôi đầu cửa ngọ Kẻ bắn con nây(2) ngồi cội cây non Chàng mà đối đƣợc thiếp trao tròn một quan? - Con cá đối(3) nằm trên cối đá Con mèo cụt(4) nằm trên mút kèo Trai thanh tân đã đối đƣợc, tiền cheo mô mà? (1) (2) (3) (4): Đây là cách nói lái của miền Trung khác với cách nói lái miền Bắc. Anh đi phe cá mũi Son Bắt em sàng gạo cho mòn móng tay Móng tay, móng vắn, móng dài Trồng một cây xoài trái chín trái chua. Anh đi vắng cửa vắng nhà Giƣờng loan gối quế, mẹ già ai nuôi? - Cá rô anh chặt bỏ đuôi Tôm càng bóc vỏ, anh nuôi mẹ già. Anh đừng thấy cá phụ canh Thấy toà nhà ngói, phụ tranh rừng già. Anh mong bắt cá chuồn chuồn Khi vui nó lội khi buồn nó bay Chim trời cá nƣớc chi đây Các lội đằng cá, chuồn bay đằng chuồn. Anh mong gởi cá cho chim Chim bay ngàn dặm cá chìm biển Đông. Anh muốn câu con cá gáy bốn đòn Con cá sơn, con cá móm anh ngồi bòn cũng ra. Anh ngó lên trời thấy đám mây bạch Anh ngó xuống lòng lạch thấy con cá chạch đỏ đuôi Nƣớc chảy xuôi con cá buôi lội ngƣợc Anh mảng thƣơng nàng biết đƣợc hay không ? Anh ngồi bậc lở anh câu Khen ai khéo mách, cá sầu chẳng ăn. Anh ngồi trƣớc mũi ghe lê Chớ em chi đặng ngồi kề một bên. BK Anh ngồi vực lở quăng câu Khen ai xui giục con cá sầu không ăn Con cá không ăn câu anh con cá dại Con cá ăn câu anh thì có ngãi có nhân. Anh tiếc ao cá nƣớc trong Để cho bèo tấm, bèo ong dạt vào Anh tiếc cái thuyền thúng mà chở đò ngang

281

22.

23. 24. 25.

26.

27.

28. 29. 30.

Để cho thuyền ván nghênh ngang giữa dòng. Anh tới đây đất nƣớc lạ lùng Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kiêng Tới đây đầu lạ sau quen Bóng trăng là nghĩa, ngọn đèn là duyên. Anh trông em nhƣ cá trông mƣa Ngày trông đêm tƣởng nhƣ đò đƣa trông nồm. Anh trông em nhƣ cá trông mƣa Nhƣ con trông mẹ chợ trƣa chƣa về. Anh trông xuống sông Buồm rung gió thổi Kẻ lặn ngƣời lội Kẻ chắn ngƣời đăng Nƣớc bạc lăn tăn Phao chìm chuyển động Giật lên mau chóng Kẻo cá nhả ra... Mình lấy đƣợc ta Bõ công ao ƣớc Ta lấy đƣợc mình Thoả dạ ƣớc ao Bõ công anh đốn cần, xe nhợ, buộc phao, mắc mồi. Anh về đi ngủ kẻo khuya Xấu chuôm, cá chẳng vào đìa anh đâu! - Xấu chuôm tốt cá, em ơi Tốt chuôm mà nỏ có nơi cá nằm. Anh về tìm vảy cá trê Tìm gan tim thú tìm mề con lƣơn Tìm cho con bún có xƣơng Tìm dây tơ hồng có rễ em mà theo không ? - Em về đánh kiểng la làng Tới đây anh chỉ vảy cá trên vàng anh coi Em đừng nói dại, nói khờ Bún làm bằng bột ê hề xƣơng đâu. Anh về xứ Đế thành Đô Nhƣ cá Biển Hồ, bao thuở gặp nhau. Ba tiền một khứa cá buôi Cũng mua cho đƣợc mà nuôi mẹ già. BK (a)Bao giờ cá lí hoá long Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xƣa.

282

31. 32.

33.

34.

35.

36. 37.

38.

(b)Một mai con cá hoá rồng Đền ơn cha mẹ bõ công sinh thành. Bây giờ ta gặp nhau đây Nhƣ con cá cạn gặp ngày trời mƣa. Bấy lâu lên ngọn sông Tân Muốn tìm cá nƣớc phải lần trời mƣa Tiếc công anh đắp đập coi bờ Để ai quảy đó, đem lờ đến đơm. Bèo than phận bèo khi trôi khi nổi Bí than phận bí, ngắt ngọn nấu canh Anh than phận anh, vợ con chƣa có Nay chọc ngƣời nọ, mai ghẹo ngƣời kia Mắt nhìn em nhƣ súng nhìn bia Bấy lâu con cá cựu ở đìa Bao giờ con cá cựu trở về ao sâu? BK Bèo than phận bèo ở trên mặt nƣớc Bí than phận bí, xắt nhỏ nấu canh Anh than phận anh, vợ con chƣa có Không ai coi đầu nọ, không ai ngó đầu kia Anh chờ em nhƣ súng chờ bia Tƣởng là cá nọ men đìa Hay đâu cá nọ dứt lìa ao sâu. Biển rộng thênh thang, con cá nằm ngƣợc Cây cao chót vót điểu nọ nằm ngang Tiếc vì xa xã ngái làng Em muốn phân nhân ngãi sợ làng khó phân. Biển sâu cá lội mất tăm Dầu chờ dầu ngóng trăm năm cũng chờ Sông sâu cá lƣợn lờ đờ Dầu trông dầu đợi cho chí chờ trăm năm. Biết thuở nào con cá nhào khỏi vực Biết thuở nào hết cực thân em. Bởi vì say thƣa nên chi sáo bổ Cơ chi say dày, dông tố quản chi Buồn tình cá bỏ cá đi Ai ra đón ngăn cá lại, giữa chốn vọng trì khen cho. Bông bống bồng bồng Trai ơn vua chầu chực sân rồng Gái ơn chồng ngồi võng ru con Ơn vua xem trọng bằng non

283

39.

40.

41. 42.

43. 44.

Ơn chồng, nhờ phúc tổ tông dõi truyền Làm trai lấy đƣợc vợ hiền Nhƣ cầm đồng tiền mua đƣợc của ngon Phận gái lấy đƣợc chồng khôn Xem bằng cá vƣợt Vũ Môn hoa rồng Bông bống bồng bồng Bồng bống bồng bông. BK (a)Bông bống bồng bông Trai ơn vua chầu chực sân rồng Gái ơn chồng ngồi võng nuôi con Ơn vua xem trọng bằng non Ơn chồng nhƣ đức tổ tôn ghi truyền Làm trai lấy đƣợc vợ hiền Nhƣ cầm đồng tiền, mua đƣợc của ngon Phận gái lấy đƣợc chồng khôn Xem bằng cá vƣợt Vũ Môn hóa rồng. (b)Làm trai lấy đƣợc vợ hiền Bằng cầm đồng tiền mua đƣợc miếng ngon Làm gái lấy đƣợc chồng khôn Cầm bằng cá vƣợt Vũ Môn hoá rồng. Bữa ăn có cá cùng canh Anh chƣa mát dạ bằng anh thấy nàng. BK Bữa cơm có cá với canh Anh không mát dạ bằng anh thấy nàng. Buổi chợ đông, con cá hồng anh chê lạt Buổi chợ tan rồi, con tép bạc cũng phải mua. BK Buổi chợ đông con cá hồng em chê lạt Buổi chợ tan rồi con tép bạc em khen ngon. Cơm chiên ăn với cá ve Thiếp đây chàng đấy, buôn bè ra khơi. Cơm trắng ăn với chả chim Chồng đẹp vợ đẹp, những nhìn mà no. Cơm hẩm ăn với cá kho Chồng xấu, vợ xấu, những lo mà gầy. Cá bã trầu ăn bọt thia thia Đôi ta thƣơng chắc, phận chia tại trời. Cá bống đi tu Cá thu nó khóc

284

45.

46.

47.

48.

49. 50. 51.

52.

Cá lóc nó rầu Phải chi ngoài biển có cầu Anh ra đến đó giải đoạn sầu cho em. Cá buồn cá chạy thung thăng Ngƣời buồn ngƣời biết than rằng cùng ai? BK (a)Cá buồn cá vƣợt qua đăng Em buồn em biết than rằng cùng ai? (b)Cá buồn cá lội tung tăng Em buồn em biết đãi đằng cùng ai? Cá buồn cá lội thung thăng Ngƣời buồn ngƣời biết đãi đằng cùng ai? Phƣơng đông chƣa rạng sao Mai Đồng hồ chƣa cạn, biết lấy ai bạn cùng! Cá buồn cá vọt qua đăng Em buồn em biết than rằng cùng ai! Than rằng cùng trúc, cùng mai Cùng cây gỗ táu, cùng cây ngô đồng Xót xa nhƣ muối đổ vào lòng Đắng cay nhƣ ngậm bồ hòn vẫn phải gƣợng vui. Cá buồn cá vƣợt qua đò Em buồn em biết hẹn hò cùng ai? Hẹn hòn ông Nón(1) hôm mai Sao cho em gặp chàng trai tốt hò. (1) Hòn ông Nón: hòn đá lớn giữa sông, giống hình cái nón úp. Hòn đá này ở quãng sông thuộc xã Quý Lƣơng, huyện Bá thƣớc, Thanh Hoá. Cá buồn cá vƣợt qua đò Em buồn em biết chuyện trò cùng ai? Cá chẳng ăn muối cá ƣơn Con cãi cha mẹ trăm đƣờng con hƣ. Cá đáy nƣớc, nhạn lƣng trời Nhạn bay còn bắn đặng Cá lặn còn dễ câu Ngƣời đứng một bên, ai nào thấu nỗi lòng E sau lòng lại đổi lòng Ngƣời đời tham bƣởi bỏ lòng nhiều thay. Cá không ăn câu là con cá dại Câu anh này, câu ngãi câu nhơn! Cái cần câu trúc Cái ống câu trắc

285

53.

54.

55.

56.

57.

58. 59.

Cái lƣỡi câu vàng Cái đàn chỉ tơ Sáng trăng anh câu nhởi ai ngờ bén duyên. Cá lên khỏi nƣớc cá khô Thƣơng em thì chớ loã lồ tiếng tăm Vắng mặt qua lại hỏi thăm Ghét nhau chi đó, mấy năm giân hờn? - Chàng giận em lại cƣời luôn Bớt giận, bớt hờn, xắm rắm với nhau Thƣơng nhau ăn một trái cau Giấu cha, giấu mẹ, ăn sau bóng đèn. Cá lí ngƣ sầu tƣ biếng lội Chim phụng hoàng vì cội biếng bay Anh thƣơng em đừng vội nắm tay Miệng thế gian ngôn dực(1), phụ mẫu hay rầy rà Nếu mà thƣơng bữa lại qua Thấu tai phụ mẫu đôi ta chia lìa Anh với em nhƣ khoá với chìa Nhƣ chìa với khoá không lìa mới hay Nếu để mà cha mẹ em hay Thời nghĩa nhân hai đứa phải càng ngày ắt xa. (1) Ngôn dực: từ nhóm từ "ngôn dực trƣờng phi" nghĩa là lời nói nhƣ có cánh có thể bay xa. Cá lí ngƣ sầu tƣ biếng lội Chim phụng hoàng sầu cội biếng bay. BK Con cá ngƣ sàu tƣ biếng lội Con chim trên nhành sầu cội biếng bay. Cá lƣỡi trâu dầm trong nƣớc mắm Qua với nàng duyên thắm mấy trăng Mẹ cha tuy chẳng bằng lòng Đôi ta cố giữ chữ đồng trăm năm. Cá sầu ai cá chẳng quạt đuôi Nhƣ lan sầu huệ, nhƣ tui sầu mình Tử sanh, sanh tử tận tình Dù ai ngăn đón, tui cứ mình tui thƣơng. Cá sầu ai chẳng quật đuôi Nhƣ lan sầu huệ, nhƣ tôi sầu chồng. Cá vàng lơ lửng giếng xanh Thong dong chốn ấy một mình thảnh thơi Ai ngờ cá lại ham mồi

286

60. 61.

62.

63.

64. 65. 66. 67.

Bỏ nơi mát mẻ, tìm nơi lạnh lùng. Cá về biển Bắc hết trông Em vào trong nớ, bỏ chồng cho ai? Cái bống còn ở trong hang Cái rau tập tàng còn ở nƣơng dâu Ta về ta sắm cần câu Câu lấy cá bống nấu rau tập tàng. Cái cần câu trúc, anh đem bịt bạc Cái chạc thật chắc, quăng sang bể bắc, câu con cá nƣớc Tề Anh chộ em thân thiết nhiều bề Ƣớc khi mô cho đƣợc nằm kề lƣng em. BK Cái cần câu bạc Cai chạc câu chắc Quăng sang bể Bắc Câu con cá núi Tê Anh chộ em thân thiết nhiều bề Ƣớc khi nào, cho đƣợc nằm kề lƣng em. Cái gì anh đổ vào bồ? Cái gì róc vỏ phơi khô để dành? Cái gì anh thả vào xanh? Cái gì lắt lẻo trên cành tốt tƣơi? Cái gì đi chín về mƣời? Cái gì sống đủ trên đời đƣợc tám trăm năm? Cái gì chung chiếu chung chăn? Cái gì chung bóng ông trăng trên trời? - Lúa khô anh đổ vào bồ Cau thì róc vỏ phơi khô để dành Con cá anh bỏ vào xanh Bông hoa lắt lẻo trên cành tốt tƣơi Mặt Trăng kia đi chín về mƣời Ông Bành Tổ sống đủ trên đời đƣợc tám trăm năm Vợ chồng chung chiếu chung chăn Đôi ta chung bóng ông trăng trên trời. Cầm chài mà vãi cá căng Cá đi đƣờng cá chài phăng đƣờng chài. Cầm chài mã vãi lỗ tre Cá không thấy cá, lại nghe rách chài. Cần trắc, ống trúc, chỉ bạc, tơ tàu Sao không câu con cá rô biển, lại câu con cá rô bàu làm chi? Canh một cho chí canh hai Có ai vui thay nhƣ cá nƣớc, bạn xa nhau rồi bạn không nói trƣớc cho em hay

287

68.

69.

70. 71.

72.

73.

Qua chuyến đò đầy nhớ nghĩa đó thay Huống chi đôi đứa mình ơn trung nghĩa trọng ba bốn tháng rày nhớ thƣơng. Cây chi trên rừng không có lá Cá chi dƣới biển không có sƣơng Liễu mà thƣơng đƣợc thì thƣơng Để chi chúng bạn, thế thƣờng cƣời chê. Cây chi trên rừng không lá? Con cá chi dƣới biển không xƣơng? Trai nam nhân đối đặng thiếp kết nghĩa tào khƣơng với cùng - Cây xƣơng rồng trên rừng không lá Con sứa dƣới biển không xƣơng Anh đà đối đặng phải kết nghĩa cƣơng thƣờng với anh. Cha mẹ đòi ăn cá thu Gả con xuống biển mù mù tăm tăm. Chăn đơn nửa đắp nửa hong Cạn sông, lở núi, ta đừng quên nhau Từ ngày ăn phải miếng trầu Miệng ăn, môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu Biết rằng thuốc dấu hay là bùa yêu Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa Làm cho quên mẹ quên cha, quên cửa quên nhà Làm cho quên cả đƣờng ra lối vào Làm cho quên cá dƣới ao Quên sông tắm mát quên sao trên trời Đất Bụt mà ném chim trời Ông Tơ bà Nguyệt xe dây, xe nhợ nửa vời ra đâu! Cho nên cá chẳng bén câu Lƣợc chẳng bén đàu, chỉ chẳng bén kim Thƣơng nhau nên phải đi tìm Nhớ nhau một lúc nhƣ chim lạc đàn. Chàng về đƣờng trúc ngõ trắc Khác chi biển bắc xa khơi Thiếp đây khác thể chim trời Chàng nhƣ cá nƣớc biết mấy đời gặp nhau! Chẳng tham vựa lúa anh đầy Tham năm ba chữ cho tày thế gian. BK a- Chẳng tham vựa cá anh đầy - Chẳng tham bồ lúa anh đầy b- Tham ba hàng chữ cho tày thế gian.

288

74. 75.

76. 77. 78. 79. 80.

81.

82. 83.

84. 85. 86.

87.

Chi ngon bằng gỏi cá nhồng Chi vui bằng đƣợc tin chồng vinh qui. Chị Xuân đi chợ mùa hè Mua cá thu về chợ hãy còn đông Anh Hƣơu đi chợ Đồng Nai Bƣớc qua bến Nghé, ngóng ai đận đà. Chiều nay ngƣời nghĩa xa anh Chim sa cá lặn, kiểng đƣơng xanh vội tàn. Chim bay cá lội chăn văn Bao giờ đèn hiệp với trăng một nhà. Chim bay về núi túi rồi Em không lo liệu còn ngồi chi đây. Chim bay về rú, về non Cá kia về vực, anh còn đợi em. Chim buồn chim bay vào núi Cá buồn cá chúi xuống sông Anh buồn uống chén rƣợu nồng Em buồn em ăn một miếng trầu không giải buồn. Chim chuyền bụi sậy Cá quậy bụi sậy Cá quậy bụi tùng Anh thƣơng em thắm thiết vô cùng Đĩa nghiên mài mực, tàm cùng bức thƣ. Chim nhàn bắt cá lòng khơi Thấy anh chàng chấu nhiều nơi em buồn. Chim quyên ăn trái nhãn lồng Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi BK Cá thia quen chậu vợ chồng quen hơi. Có chà cá mới ở ao Có em, anh mới ra vào chốn ni. Có chuôm cá mới ở đìa Có em anh mới sớm khuya chốn này. Cô Xuân mà đi chợ Hạ Mua một con cá thu về chợ hãy còn đông Trai nam nhi đối đặng thiếp theo không chàng về - Trai thanh nam ngồi hàng thuốc bắc Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây Hai ta tình nặng nghĩa dầy Đối ra đáp đƣợc lúc này tính sao. Con cá bống cát, nằm trên bãi cát

289

88.

89.

90.

91. 92. 93. 94.

Con chim chài đậu chiếc thuyền chài Anh với em nỏ thành gia thất vì ai? Xƣa kia trúc đà làm bạn với mai một cành. Con cá đối nằm trên cối đá Con chim đa đậu nhánh đa đa Chồng gần bậu không lấy, bậu lấy chồng xa Mai sau cha yếu mẹ già Chén cơm, bát nƣớc, bọ kỉ trà ai bƣng? Con cá đối nằm trên cối đá Mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo Anh mà đối đƣợc, dẫu nghèo em cũng ƣng Con mỏ kiến, đậu trong miếng cỏ Chim vàng lông đáp dựa vồng lang Đây anh đối đƣợc e nàng chẳng ƣng. BK Con cá đối nằm trên cối đá Mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo Anh mà đối đặng, dẫu anh nghèo em cũng ƣng Con chim mỏ kiến đậu trên miếng cỏ Chim vàng lông đáp tại vồng lang Anh đã đối đặng, e nàng vong ngôn. Con cá hồng trừng ngoài biển Bắc Con chim nhạn liệng tít mây xanh Anh thƣơng em lâu cũng phải thành Nhƣ chị Thôi Lƣợng lúc trƣơcƣ gặp anh Châu Kì. Con cá rô thia nấp bụi rêu rong Anh quăng cái mồi ngọc, con cá động lòng phải ăn. Con cá thia lia, nó núp vũng chân bò Em có chồng về bên nớ, ốm o gầy mòn. Còn cha cơm trắng cá ngon Ăn rồi lại giở bàn son con ngà. Con chim đa mà đỗ cành đa Cất tiếng gáy đa đa ích thiện (1) Con cá ốc nằm dƣới vũng úc Vãy đuôi lên úc úc hồ văn (2) Rằng chàng là đấng văn nhân Chàng mà đối đƣợc thiếp theo chân chàng về Con muông mang ăn bụi chuối mang Xuống uống nƣớc mang mang đại hải (3) Con rắn lục leo cây liễu lục Lên khỏi khoe lục lục kì công (4)

290

95.

96.

97.

98.

99.

100.

Ta nay là đấng anh hùng Theo ta ta cũng rộng lòng bao dung. (1) Đa đa ích thiện: nhiều bao nhiều tốt bấy nhiêu. (2) úc úc hồ văn: lời văn ngào ngạt, chữ dùng để khem nền văn hoá của nhà Chu. (3) Mang mang đại hải; mênh mông biển cả. (4) Lục lục kì công: công lao to tát thần kì. Con chim phƣợng hoàng đậu hòn núi bạc Con cá ngƣ ông móng nƣớc ngoài khơi Gặp nhau đây phân giải đôi lời Kẻo mai tê con cá kia trở về sông Vịnh, con chim nọ đổi đời non xanh. Con chim sa sả đậu trên cây sả Con cá thia lia nấp bụi cỏ thia Trách ai làm cho khoá rã chìa Khi thƣơng tận, khi lìa lìa xa. Con chim trên rừng kêu thánh tha thánh thót Mẹ thƣơng con cắt ruột xẻ hai Gái thƣơng trai đứng đƣờng đứng ngõ Trai thƣơng gái tối mấy cũng đi Con cá trƣơng vi vì hồ nƣớc chảy Cần câu không gãy bởi ống tre cong Mƣợn ngƣời mối lái cái sự cho xong Để đem em về tề gia nội trợ coi trong coi ngoài. Con chim trong lồng khôn bay lỡ nhảy Con cá trong chậu khôn liếc lỡ trừng Ngày xƣa kia em bảo anh đừng Thƣơng làm chi đặng đó, nữa chừng lại thôi. Con chim trong rừng, con chim đừng múa mỏ Con cá dƣới vực, con cá chớ có phùng mang Anh muốn nơi má ngọc mình vàng Đây em than cho một tiếng con chim phƣợng hoàng cũng phải sa. Con cò đậu cọc cầu ao Ăn sung sung chát, ăn đào đào chua Sớm mai ra đứng cổng chùa Trông ra Hà Nội thấy vua đúc tiền Ngọn sông Điền vừa sâu vừa chảy Anh đi kén vợ mƣời bảy năm nay Tình cờ bắt gặp em đây Nhƣ cá gặp nƣớc nhƣ mây gặp rồng Mây gặp rồng, cơn dông cơn tố

291

101. 102. 103.

104.

Cá gặp nƣớc, cơn ngƣợc cơn xuôi Chồng nam vợ bắc em ơi! Đố em lấy đƣợc một ngƣời nhƣ anh. BK (a)Ruộng tƣ điền không ai cày cấy Liệu cô mình ở vậy đƣợc chăng? Mƣời hai cửa biển, anh cũng cắm đăng Cửa nào lắm cá, anh quăng chài vào Anh đi gáh nƣớc sông Đào vừa cao vừa chảy Anh đi kén vợ mƣời bảy năm nay tình cờ bắt gặp em đây Nhƣ cá gặp nƣớc, nhƣ mây gặp rồng Mây gặp rồng, cơn giông cơn tố Cá gặp nƣớc, cơn ngƣợc cơn xuôi chồng Nam vợ Bắc em ơi! Đố em lấy đƣợc một ngƣời nhƣ anh. (b) Con cò đậu cọc bờ ao Ăn sung sung chát, ăn đào đào chua Sớm mai ra đứng cổng chùa Trông ra Hà Nội thấy vua đúc tiền Ruộng tƣ điền không ai cầy cấy Liệu cô mình đứng vậy đƣợc chăng? Mƣời hai cửa bể anh đã cắm đăng Cửa nào lắm cá thì quăng chài vào. Còn duyên kén cá chọn canh Hết duyên dầu rễ dƣa hành cũng xơi. Còn duyên kén cá chọn canh Hết duyên rốc đực, cua kềnh cũng vơ. Con gà cồ lại mổ bông kê Ngựa nọ ăn cồn Mã, rồng về Cảnh Long Dƣơng đi dê lại có vòng Cá lên khỏi nƣớc cá hòng ngất ngƣ Trai nam nhơn anh đà đối đƣợc, hỏi thiếp có giữ lời trƣớc không? Con nƣớc chảy, bèo nọ có tua Gặp ai tôi hỏi, hơn thua đôi lời Ăn cơm sao đặng mà mời Nƣớc mắt tra lai láng rã rời hột cơm Mình ơi, đừng đặng cá quên cơm Đôi ta gá ngãi danh thơm ở đời Cóc nghiến răng còn động lòng Trời Sao mình chẳng tƣởng mấy lời tôi thở than.

292

105.

106.

107.

108.

109.

110.

111.

Công anh làm rể ba năm Ăn những cơm hớt với hàm cá trê Ba năm anh trở ra về Cơm hớt phần chó, hàm trê phần mèo. Công anh lên rừng đốn trúc Đem về đoạn khúc, chuốt cái cần dài Lấy thép ra mài, uốn câu nhồi gọ Đêm hôm lọ mọ xe sợi chỉ săn Buộc chặt vào cần, móc mồi thơm phức Vội ra ngoài bực, lựa chỗ anh ngồi Thả câu xuống rồi miệng anh thầm vái Đây cần câu nhân, cần câu ngãi Đây cần câu phải cần câu khôn Vái ông Nguyệt lão xe sợi chỉ hồng Đuổi con cá anh đạp đó, cho nó chạy dồn ăn câu - Con cá anh đạp nó đã có cặp Dẫu anh thả hoài chẳng gặp nó đâu Anh về sửa lại lƣỡi câu Tìm sang chốn khác duyên hầu nên chăng? Công anh xe chỉ uốn cần Vì chƣng trời động con cá lần ra khơi. BK Ngồi buồn xe chỉ uốn cần Chỉ xe chƣa đặng cá lần ra khơi. Cồng cộc bắt cá dƣới bàu Cha mẹ mày giàu, đám giỗ đầu heo Cồng cộc bắt cá dƣới sông Mấy đời cháu ngoại giỗ ông bao giờ. Đàn ai khéo gảy tính tinh Một đàn con cá nƣớc lặn ghềnh nó nghe Con cá nó lội so le Một đàn con cá lớn nó đè con cá con Con cá nó vƣợt Vũ môn Con chim nó ngậm mồi về tổ Nó mớm con trên ngành Ai về tin tức thăm oanh. Đạn đâu mà bắn chim trời Lƣới đâu mà thả những nơi cá thần Một mai thiên hạ xoay vần Con chim trời anh cũng bắt, con cá thần anh cũng câu. Đào lí một cành, tơ trúc phiếm loan

293

112.

113.

114.

115.

Ban tối hôm qua, nguyệt lặn, bóng ông sao tàn Đêm khuya thanh vắng khách hồng nhan lửng lờ Cây xanh thì lá cũng xanh Đã trót vin ngành thì hái lấy hoa Cung đàn tỳ bà ai khéo gảy tang tình, tính tang long ngâm hổ đối, cá cống xang hồ, cái hồ xang Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầu sƣơng. Đạo vợ chồng hôm ấp mai ôm Phải đâu cua cá với tôm Khi đòi mớ nọ khi chồm mớ kia. Đắp đập thì có be bờ Sóng gió chả có, sao lờ tôi trôi? Con cá nó ở trong lờ Nƣớc thì mặc nƣớc, đợi chờ lấy nhau. Đất Lam Kiều (1) ngỡ ngàng khó bƣớc Động Đào Nguyên (2) lạch nƣớc quanh co Trách mình không đắn nỏ đo Rã rời duyên nợ, oan chƣa, hỡi trời! (1) Lam Kiều, cầu Lam: Lam Kiều, tên một chiếc cầu thuộc huyện Lam Diễn, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Theo Truyền Kỳ, dẫn trong Thái bình quan kí. Bùi Hàng, ngƣời đời Đƣờng, gặp nàng Vân Kiều và đƣợc nàng tặng một bài thơ trong đó có ý: Lam Kiều chính là nơi động tiên. Bùi Hàng đi đến Lam Kiều gặp ngƣời đẹp và Vân Anh (em Vân Kiều), hai ngƣời kết duyên và sau đó lên cõi tiên. do điểm này. Lam Kiều cầu Lam đƣợc dùng để chỉ nơi ngƣời đẹp ở hoặc để nói việc nhân duyên, việc trai gái gặp gỡ nhau mà sau nên vợ nên chồng. (2) Đào Động Nguyên: tên ngọn núi ở phía Tây Nam huyện Đào Nguyên tỉnh Hồ Nam. Trung Quốc. Dƣới núi có động Đào Nguyên. Về động này, trong bài Đào hoa Nguyên kí, Đào tiêm có kể rằng: "Một ngƣời đánh cá ở Vũ Lăng bơi thuyền ngƣợc dòng suối. Hai bên đầy hoa đào. Đi mãi, ngƣời đấy đến một nơi có dân cƣ ăn mặc theo phục đời Tần. Hỏi thăm mới biết họ tránh chế độ hà khắc của Tần Thuỷ Hoàng đến đó ở đã nhiều đời rồi và sống ở đó rất sung sƣớng hạnh phúc. Ngƣời đánh cá về thuật chuyện lại với mọi ngƣời, về sau mấy lần muốn vào lại Đào Nguyên nhƣng tìm đƣợc lối vào cửa động". Văn học cổ dùng Đào Nguyên để chỉ nơi có cảnh đẹp, ngƣời đẹp, cuộc sống hạnh phúc, hoặc hoặc chỉ cõi tiên. Đêm hôm qua nằm chốn nhà ngang Rèm thƣa gió lọt dạ càng xót xa

294

116. 117.

118.

119.

120.

Em thƣơng nhà anh không có đàn bà Phòng khi có khách ai hoà đỡ anh Anh cho em ghé lƣng vào Phòng khi có khách em chào đỡ anh Khách vào đánh cá nấu canh Chanh kia muối nọ để dành chàng xơi Em bƣng ra cái miệng em cƣời Trƣớc đƣợc lòng khách, sau vui lòng chàng. Đêm khuya thắp ngọn đèn chai Quen o nốc đáy ăn hoài cá tƣơi. Đêm qua bóc uốn (1) một mình Nghe hơi sƣơng xuống nhớ tình nhân xƣa Tình nhân xƣa bây giờ xa vắng Nỗi mong chờ cay đắng riêng em than ôi tăm cá bóng chim Biết đâu đƣờng lối mà tìm hỡi ai! (1) Bóc uốn: từ của nghề làm giấy. Đêm qua khi lạnh khi lùng Khi đắp áo ngắn, khi chung áo dài Bây giờ mình đã nghe ai áo ngắn chẳng đáp, áo dài chẳng chung BK Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng Đêm đắp áo ngắn đêm chung áo dài Bây giờ chàng đã nghe ai áo ngắn chàng đắp áo dài không chung Bây giờ sự đã nhạt nhùng Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua Cá lên mặt nƣớc cá khô Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm. Đêm qua mới thật là đêm Ruột xót nhƣ muối, dạ mềm nhƣ dƣa Mong chàng nhƣ cá mong mƣa Nhớ chàng nhƣ bữa cơm trƣa đói lòng. Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai? Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ Đêm đêm hƣớng dải Ngân Hà

295

121.

122. 123. 124.

125.

126. 127.

128. 129.

130.

Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn Đá mòn nhƣng dạ chẳng mòn Tào Khê nƣớc chảy vẫn còn trơ trơ. Đến đây cận thuỷ xa ngƣ Hỏi rằng cá đã vào lừ ai chƣa? - Con cá đợi gió chờ mƣa Trời chƣa phong vũ, cá chƣa vào lừ. Đến đây hỏi bạn một lời Ai đào sông cho cá lội, ai trổ trời cho chim bay? Đến đây nƣớc thẳm non cao Chim đôi cá lứa, lẽ nào chẳng vui. Đèn nào cao bằng đèn Châu đốc Đất nào dốc bằng đất Nam Vang Một tiếng anh than Hai hàng luỵ nhỏ Anh có một mẹ già biết bỏ ai nuôi? Nƣớc chảy xuôi, cá buôi lội ngƣợc Anh muốn thƣơng nàng biết đƣợc hay chăng? Đi ngang lên mũi xa kì Ngó ra lao Ré xiết chi nỗi sầu Kể sao cho xiết thƣơng âu Ông bà ta trƣớc bây giờ ở đây Cũng vì mƣa tạt gió này Cho nên xiêu bạt chỗ này, chỗ kia Thân ta nhƣ cá trong đìa Việc quan chƣa thấu sớm khuya cũng buồn. Đi qua nghe tiếng em đàn Cá mƣời khe đứng lại, chim trên ngàn đậu im. Đố ai tìm vảy con cá trê vàng Tìm gan co tép bạc, thời nàng theo không - Chừng nào đá nổi vông chìm Muối chua chanh mặn, thì tìm lấy anh. Đó đây xa lạ chi nhau Một sông cá lội một bàu chim ăn. Đôi ta gặp nhau giữa đồng Ngƣời dƣng ai biết vợ chồng ai hay Bây giờ ta gặp nhau đây Thuỷ chung ta ngỏ, lời nay trao lời Kìa kìa cá cũng tốt đôi Lúa kia con gái, cũng đến thời đâm bông. Đôi ta nhƣ cá lờn mơn

296

131. 132.

133. 134.

135.

136.

137.

138. 139.

Ở trên mặt nƣớc chờ cơn mƣa rào. Đồn anh đi nghề đã tinh Cá chi dƣới nƣớc một mình bốn tên? Đón ngăn đƣờng sắt Tôi hỏi gắt chung tình Điểu xa mai, mai xa điểu Tôi xa mình tại ai? Cá sầu ai cá lại quạt đuôi Nhƣ lan sầu huệ, nhƣ tôi sầu mình Ngày sầu duyên, tối lại sầu tình Nƣớc mắt ra lai láng nhƣ bình nƣớc nghiêng Trách ai làm duyên phận đảo điên Mình ơi! Trai anh hùng chịu thảm, gái thuyền quyên chịu sầu. Đồn rằng cá uốn thân cây Đồn em hay hát, hát hay anh tìm. Dòng nƣớc chảy xuôi, con cá buôi lội ngƣợc Dòng nƣớc chảy ngƣợc, ông Nƣợc rƣợt theo Hai đứa ta chẳng quản giàu nghèo Ngặt vì cha mẹ cứ theo cựu truyền. Đốt than nƣớng cá cho vàng Đem tiền mua rƣợu cho chàng uống chơi Phòng khi có khách đến chơi Cơm ăn, rƣợu uống cho vui lòng chàng. Đũa vàng đầu bịt đầu sơn Mấy lời bạn nói cảm ơn quá chừng Đó xa nhân ngãi đó mừng Đây xa nhân ngãi nhƣ gừng xát gan Ngồi buồn nhớ bạn thở than Kiểng xanh sao héo hỏi nàng tại ai? Cá nằm trong chậu sè đuôi Mình về ở bển cho tôi theo cùng. Em có chồng còn nhỏ, nhƣ ngọn cỏ còn non Loan phòng kia chƣa nhập, dạ còn nhƣ xƣa - Đƣờng đi không lỡ cũng mòn Lẽ đâu có lẽ hoa còn duyên tƣơi Em nói ra sợ chúng bạn cƣời Cá đôi ba buổi chợ, còn khoe tƣơi nỗi gì. Em là con gái đến thì Nhƣ con cá rô thia ăn vực, có khi hoá rồng. Em là con gái nữ nhi

297

140.

141.

Sợi gai, mắt lƣới, chẳng bì cùng ai Đôi bên bác mẹ thì già Kiếm tí rùng rách để mà kéo tôm Giêng, hai, ti tí giông nồm Rùng đi ra bể, lại ồn lẩm doan(1) Tháng ba anh xuống lƣới quàng Cá xủ, cá xác, cá han, cá thiều. Tháng tƣ anh mới xuống theo Em rung lặng gió, ruốc kheo vào bờ Đôi ta kết chỉ xe tơ Ruốc ràm ngƣời đánh đổ bờ chan chan Tháng năm te chạy hết ngàn Cá trà(2) cũng lắm khơi đàng vào ra Tháng sáu gõ đánh cá hoa Cá bẹ, cá trắng cùng là thu lanh Tháng bảy là tháng hiền lành Lƣới khoai(3) đánh những lành canh, cá thè Tháng tám nùng nục, tôm he Lƣới dở(4) ra xuống Mả Nghè(5) cũng đông Tháng chín là tháng giã sung Bằng chặng, láo mắt cùng là láo tây(6) Hồng hoa, cá ruối thiếu gì Kể giống cá quí, kể chi cá chuồn Tháng mƣời anh mới kể luôn Câu bè ngƣời đánh những tuồng cá dƣa Quí hồ phận đẹp duyên ƣa Kìa nhƣ tôm sắt gặp dƣa tháng mƣời Tháng một là tháng không vừa Rủ nhau mua cá câu dƣa để dành Tháng chạp văng kéo lùng quanh Cá cồi, cá nụ để dành tháng giêng. (1) và (6): tên các loại cá. (2) cá Trà: còn gọi là chim. (3) Lƣới khoai: lƣới mắt nhỏ. (4) lƣới dở: lƣới mắt vừa. (5) Mả Nghè: ở gần bải biển Sầm Sơn, Thanh Hoá. Em nhớ ngày nào bên ao cá lội Anh chỉ, anh thề không lỗi nghĩa keo sơn Mà giờ đây anh đã sang giàu Anh quên đi lời hứa buổi ban đầu cùng em. Em nhƣ cá lẹp rút xƣơng Gặp ngƣời quân tử giữa đƣờng hỏi mua.

298

142.

143. 144. 145.

146. 147.

148. 149. 150.

151. 152.

153.

Em nhƣ cá lƣợn đầu cầu Anh về lấy lƣới, ngƣời câu mất rồi Nƣớc trong cá chẳng cắn mồi Càng câu càng mất, càng ngồi càng khuya. Em nhƣ cây cá giữa vời Ai lanh tay đƣợc, ai chậm lời thì thôi. Em nhƣ chim nọ đang bay Anh nhƣ cá mắc rày lƣới giăng. Em nhƣ con cá rô kia lóc vũng trâu đằm Ngƣời mong thả lƣới, ngƣời nhằm buông câu Em nhƣ con cá rô kia lóc vũng chân trâu Ba bảy hăm mốt cái cần câu châu vào. Em trông anh nhƣ cá trông sao Nhƣ lệ trông lựu, nhƣ đào trông mƣa. Gái đƣơng xuân đi chợ hạ mua con cá thu về chợ hãy còn đông Ai nói với anh rằng em đã có chồng Mà tức mình đổ cá xuống sông anh về? - Gái nƣớc Nam buôn hàng thuốc bắc Trai Đông sàng cảm động niềm tây Tai anh nghe có đôi ba chốn xe dây Anh tức mình đổ cá thử mẹ thầy ăn chi? Gặp anh hỏi thiệt đôi lời Ai đào sông cho cá lội, ai bẻ mạng chống trời cho chim bay. Gặp em nhƣ cá gặp mồi Đặng, không, anh cũng giỡn một hồi cùng em. Giàn hoa bể cạn nƣớc đầy Cá vàng hoá bạc chàng rày đối chi? - Thuyền tình sao vắn sông sâu Tầu đồng neo sắt gái đâu dám chèo. Giếng sâu gàu xuống bấm boong Đặng con cá trích phụ con cá sòng. Giếng sâu thì phải thừng dài Có khôn thì chịu khó ngồi cho lâu Em chần chừ cũng chẳng đƣợc đâu Sắm mồi mắc nhợ anh câu con cá này. Hỡi cô cắt cỏ bên sông Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây Sang đây anh nắm cổ tay Hỏi rằng duyên ấy tình này làm sao? Cái gì là mận là đào Cái gì là nghĩa tƣơng giao hỡi nàng

299

154.

155.

156.

157.

158.

159. 160.

Phận gái lấy đƣợc chồng khôn Xem bằng cá vƣợt Vũ Môn hoá rồng. Hỡi cô thắt lƣng bao xanh Có về Vĩnh Đặng với anh thì về Vĩnh đặng có gốc bồ đề Có ao thả cá có nghề khâu ren. Hồm nay lan huệ sánh bày Đào đông ƣớm hỏi liễu tây một lời Lạ lùng ƣớm hỏi nhau chơi Một mai cá nƣớc chim trời gặp nhau. Kẻ bứt cỏ ngựa ngồi đầu cửa ngọ Ngƣời bắn con nây(1)ngồi cậy cây non Chàng mà đối đƣợc thiếp trao tròn một quan. Con cá có đối nằm trên mút kèo Trai thanh tân đã đối đƣợc, tiền cheo mô nà? (1) Con nây: con nai. Khi đầu thiếp tính đi về Bây giờ thiếp phải liệu bề ra đi Khi hồi thiếp tính đi ra Bây giờ thiếp phải liệu bề đi lui Kêu chi ai hỡi là ai! Thân này dạ chịu lạc loài thì thôi Khen ai miệng mật khéo dồi Cắt lìa ân ái nhƣ mài lƣỡi gƣơm Trách ai đặng cá quên nơm Đặng chim quên ná, mai hôm khác lòng Giận ai chƣa thoát khỏi vòng Đem dây thối địt lại tròng vào lƣng Thƣơng ai công khó nửa chừng Trăm năm rơi luỵ, tang thƣơng một giờ. Lá thắm đã trôi về bến khác Tơ đào này buộc lạc nhau rồi! Khuyên ai đừng có nhiều lời Em nhƣ cá đã mắc mồi rồi đâu! Làm chi cao cách rứa bạn mồ Thiếu chi nơi cho én đậu, thiếu chi hồ cho cá ăn. Lắng nghe nàng nói nhƣ màu Tháng chạp rùng kéo cá rầu, lành canh Bẹ dày cho chí thu lanh Cá lẹp, tôm sắt lại dành hố đao Hố rồng, hố hột(1) nhiều sao

300

161.

Đắt thì anh bán, rẻ vào thùng khoang Bổng nay gặp đƣợc cô nàng Con nhà thảo thuận trong làng xƣa nay Chƣa ai kết ngãi xƣớng tuỳ Hay là bác mẹ nay thì cấm ngăn Hay là ông Nguyệt dùng dằng Mà xe anh lại chơi trăng trƣớc nhà? Nàng về thƣa với ông bà Để anh kiếm lễ lên nhà vấn danh. BK Lắng nghe nàng nói cũng xinh Một chạp gõ lại giao đanh ca mòi. Ai ơi, đứng lại mà coi Thợ chèo, bạn ngoáy ngoài khơi cũng tình Khen thay chút nỗi cô mình Thuyền kia mỏng lái, lênh đênh giữa vời Thợ tài, bạn mạnh, mình ơi Thƣơng em là gái nắng nôi dãi dầu. Lấy anh ăn cháo hột đào Uống chè Tiên tử nằm võng đào màn the Qua đông rồi lại sang hè Rồi anh lại sắm nhiều the cho nàng Thoạt tiên anh sắm một cái nhà ngói năm gian Tứ vi bít đốc cửa bàn, nàng ơi! Gian giữa anh để thờ Trời Hai gian để khách vãng lai ra vào Một gian cung cấm động Đào Một gian để lối đi vào Thiên Thai Vƣờn anh những trúc cùng mai Quít cam cùng bƣởi lại hai cây hồng Hoa thiên lí, giàn trầu không Cá vàng thả bể, em trông cho tƣờng Sắm lƣợc anh lại sắm gƣơng Ông vôi bình phấn, khăn vuông bịt đầu Dao chuôi ngà em lấy bổ cau Xà cừ khảm tráp đựng trầu đi chơi Tràng kỉ anh sắm một đôi Chấn song con tiện hành ngơi trong nhà Đồng hồ treo cột giữa nhà Mâm son, bát bít, đũa ngà thiếu chi Sắm cho em sập đá chân quì án thƣ dàn mặt, em thì ngồi chơi

301

162.

163. 164.

165.

166.

167. 168. 169.

Lại nuôi mấy đứa ở bồi Sớm trƣa cơm nƣớc hầu tôi với nàng. Lấy chồng Trịnh Mễ(1) làm chi? Đồng sâu ruộng hiếm, lội khe trèo rừng Ở đây cơm chạu(2) cá chƣng (3) Tha hồ chả phải cầm chừng mà lo. CDTH 4 (1) Trịnh Mễ: một làng ở chân núi Nƣa, Thanh Hoá. (2) Cơm chạu: là cơm gạo chạu, một thứ gạo nhƣ gạo dự, gạo chăm. (3) Cá chƣng: cá xắt khúc kho kĩ. Lỗi lầm vì cá trích ve Bát đầy thì ít, bát vơi thì nhiều. Lòng riêng nhớ mẹ thƣơng cha Bóng chim tăm cá biết là tìm đâu Trong vòng binh lửa dãi dầu Bơ vơ lƣu lạc bạn bầu cùng ai. Lƣỡi câu anh đã uốn vừa Sợ lòng bác mẹ lọc lừa nơi nao Bắc thang lên hỏi thiên tào Rằng cô bán cá rẽ vào duyên ai(1) (1) Rẽ vào duyên ai: ngƣời ấy sẽ lấy ai? Má ơi đừng đánh con đau Để con bắt ốc hái rau má nhờ Má ơi đừng đánh con đau Để con hát bội làm đào má coi Má ơi đừng đánh con hoài Để con câu cá nấu xoài má ăn. BK Má ơi đừng đánh con đau Để con hát bội làm đào má coi Má ơi đừng đánh con đau Để con bắt cá nấu xoài má ăn. Má ơi, đừng đánh con hoài Để con đi câu cá nấu xoài má ăn. Mắm ngon chấm cá liệt Em có chồng rồi bảo thiệt anh hay. Mấy đời chỉ trắng bằng vôi Ai thƣơng ai nhớ bằng đôi đứa mình Bạn ơi! thức ngủ làm thinh Dậy đây anh kể sự tình cho nghe

302

170. 171. 172.

173.

174. 175.

176. 177.

178. 179. 180.

Ai làm chén nọ xa ve Mùa thu đón đợi, mùa hè ngóng trông Tam tứ bề yến bắc nhạn đông Làm sao cho cá chậu xa chim lồng, hỡi ơi! Mấy khi nam nữ đua đờn Cá vui với nƣớc, sóng dờn với mây. Mấy lâu cách trở giang biên Cá sầu không lội, chim phiền không bay. Mẹ ơi! đừng đánh con đau Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ Mẹ ơi! đừng đánh con khờ Để con thả lờ bắt cá mẹ ăn. Mẹ em muốn ăn cá thu Bắt anh ra biển mù mù tăm tăm Mẹ em thách cƣới một trăm Anh đi chín chục, mƣời lăm quan ngoài. Mình buồn tôi dễ chẳng buồn Cá sông biếng lội, chim trên nguồn biếng bay. Mình đừng đặng cá quên nơm Đôi ta gá nghĩa danh thơm ở đời Cóc nghiến răng còn động lòng Trời Sao mình chẳng tƣởng mấy lời tôi than? Đờn tranh dây xế, dây xang Anh còn thƣơng bạn, bạn khoan lấy chồng. Mình em nhƣ cá giữa rào Kẻ chài ngƣời lái biết vào tay ai. Mình em nhƣ cá hoá long Chín tầng mây phủ ở trong da trời - Anh đây lục trí thần thông Vạch mây đón gió bắt rồng cỡi chơi. Mình em nhƣ con cá giữa vời Ai mau tay thì đƣợc ai chậm lời thì thôi. Mình em nhƣ con cá trong thùng Ai khéo nơm thì đƣợc, ai vẫy vùng thì bƣơng. Mình rằng mình quyết lấy ta Để ta hẹn cƣới hăm ba tháng này Hăm ba nay đã đến ngày Ta hẹn mình rày cho đến tháng giêng Tháng giêng năm mới chƣa nên Ta hẹn mình liền cho đến tháng hai Tháng hai có đỗ có khoai

303

181. 182.

183.

184.

Ta lại vật nài cho đến tháng tƣ Tháng tƣ ngày chẵn tháng dƣ Ta lại chần chừ cho đến tháng năm Tháng năm là tháng trâu đằm Ta hẹn mình rằm tháng sáu mình lên Tháng sau lo chửa kịp tiền Bƣớc sang tháng bảy lại liền mƣa Ngây Tháng bảy là tháng mƣa Ngâu Bƣớc sang tháng tám là đầu trăng thu Bƣớc sang tháng chín mù mù mƣa rƣơi Tháng chín là tháng mƣa rƣơi Bƣớc sang tháng mƣời đã đến mùa đông Quanh đi quẩn lại em đã có chồng Nhƣ chim trong lồng, nhƣ cá cắn câu. Mồ côi cha đốn cây bần Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm. Mù u nhỏ rễ ăn bàn Sợ mình nói gạt, qua đàng đó thôi Phụng hoàng chắp cánh bay xuôi Liệu bề thƣơng đặng mình ơi tôi chờ Nƣớc lên khỏi bực tràn bờ Thƣơng thì thƣơng vậy, biết chờ đặng không? Đặng không, tôi cũng gắng công Đợi bao con cá hoá rồng sẽ bay Gặp mình thôi may quá là may Trông mong cho trời tối để bắt tay đặng về. Mƣa dông nắng đất, cá cất len đồng Chị em ngƣời ta có chồng lả rả Mình không lấy chồng còn đợi ai chăng? Tối trời đom đom chớp giăng Xa em một bữa mấy cái khăn ƣớt dầm. Mƣa từ Ba Dội(1) mƣa ra Mƣa khắp thiên hạ, mƣa qua Đồn Vàng(2) Gió đƣa quanh đƣa về Hùng Nhĩ(2) Bây giờ đây anh nghĩ làm sao? Trận này rồng cá kết giao. (1) Ba Dội: đèo Ba Dội thuộc tỉnh Ninh Bình, giáp với Thanh Hoá. (2) Đồn Vàng: Đồn của Pháp lập ra, trƣớc đây ở huyện lị Thanh Sơn, tỉnh Vĩnh Phú, nay là nông trƣờng Phú Sơn (3) Hùng Nhĩ: xƣa là Hùng Nhĩ thuộc huyện Thanh Sơn, thƣờng kết nghĩa với xã Bảo Vệ, huyện Tam Nông(cũ), Vĩnh Phú. Nhƣng

304

185.

186.

187.

188. 189. 190.

191.

xã này xƣa kia thƣờng năm nào cũng tổ chức hát ghẹo với nhau. Mùa xuân nói với mùa thu Đứa khôn nói với đứa ngu cực lòng Tƣởng là bột lọc nấu với nƣớc lạnh trong Hay đâu bột lọc nấu với rau rong ngoài đìa Chén bịt lại dọn bằng nia Độc bình khay cẩn dọn rìa chõng tre Tiếc con chim phƣợng hoàng ở lộn với le le Chiếu bông để tạm ngoài hè khó coi Bột sam nấu với măng vòi Bún tàu lại nấu với cá mòi nhãi ranh Tiếc duyên nàng gặp đến anh Gặp chị không xứng, thất thanh thiên hạ cƣời. Mừng chàng nho sĩ đến chơi Vũ Môn cá nƣớc thảnh thơi đua tài - Mừng nàng chân giậm tay đƣa Miệng cƣời mắt liếc, tình tơ tơ tình - Mừng chàng bƣớc tới Kim Liên(1) Bạch liên trắng bạch, hồng liên đổ hồng - Mừng nàng dựa áng xuân tiêu Thanh tiêu xanh biếc, tử tiêu tía vàng. (1) Kim Liên: một làng ở Nam Đàn, trƣớc đây có bàu Đầm trồng rất nhiều sen. Mƣời giờ cửa bể, cô nàng! Cửa nào lắm cá anh quăng chài vào Mƣời hai cửa bể, nàng ơi! Gửi thƣ thƣ mất, gửi lời lời bay. Muốn ăn cơm trắng cá chim Thì về thụt bễ, đi rèn với anh. Muốn ăn cơm trắng cá kho Trốn cha chốn mẹ xuống đò cùng anh. Muốn ăn cơm trắng cá thèn Thì về Đa Bút(1) đi rèn với anh Một ngày ba bữa cơm canh Tối về quạt mát cho anh ngồi rèn. (1) Đa Bút: một thôn ở phía đông nam huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá. Trƣớc đây Tống Duy Tân khởi nghĩa chống Pháp lấy Đa Bút làm một cứ điểm. Có ngƣời cho Đa Bút ở Hậu Lộc, Thanh Hoá. Nàng đứng ở đó làm chi Nàng về bể mà đi kéo rùng Nhà tôi nghề giã, nghề sông

305

192. 193.

194.

195.

196.

197.

198.

Lặng thì tôm cá đầy trong, đầy ngoài Cá trắng cho chí cá khoai Còn nhƣ cá lẹp, cá mai cũng nhiều Quí hồ nàng có lòng yêu Cái đƣờng đi lại còn nhiều khi ta Nàng về thƣa với ông bà Có cho nàng lấy chồng xa hay đừng? Nàng nhƣ chim nọ đang bay Anh nhƣ con cá mắc rày lƣới giăng. Nào khi thiếp một đàng, chàng một ngả Bầng khuâng nhƣ con cá hiệp vầy Thiếp gặp đặng chàng giữa hội trời mây Trƣớc là họi ngộ sau kết nghĩa sum vầy nợ duyên. Ngày ngày ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao, sao mờ Trông ngƣời, ngƣời vẫn làm ngơ Trông sao, sao mờ, em biết trông ai! Răng đen còn có khi phai Má hồng khi nhạt, tóc dài khi thƣa Ở đây lấy đấy đƣơng vừa Ngƣời còn kén chọn hay lừa nơi nao? Nghe tin anh buôn bán tài tình Đố anh đếm đƣợc con cá kình mấy xƣơng? - Em về đếm mạ trỉa nƣơng Thì đây anh đếm đƣợc mấy xƣơng con cá kình. Nghe tin anh hay hát hay hò Đố anh đếm đƣợc cổ cò mấy lông - Em về đếm cá dƣới sông Anh đây sẽ đếm đƣợc lông cổ cò. Nghĩ con cá lí ngƣ nó cũng không nhƣ thân thiếp Chờ cho mãn kiếp tu đƣợc hoá rồng Thôi anh đừng mong vợ mong chồng Để cho em xa lánh bụi hồng gió trăng. Ngó lên trên trời thấy cặp cu đƣơng đá Ngó ra ngoài biển thấy cặp cá đƣơng đua Biểu em về lập chùa thờ cha. BK Ngó lên trời thấy cặp cu đƣơng đá Ngó xuông biển cặp cá đƣơng đua Anh về lập miếu thờ vua Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.

306

199.

200.

201.

202.

203.

204. 205.

Ngó lên trời thấy một đám mây bạch Ngó xuống lòng lạch thấy con cá chạch đỏ đuôi Nƣớc chảy xuôi, cá buôi lội ngƣợc Anh mảng thƣơng nàng biết đƣợc hay không? Ngó lên trời thấy sao, trăng tứ viện Ngó ra ngoài biển thấy chim liệng, cá đua Em thề với anh cho biết miễu, hết chùa Ai cho em uống một thang thuốc bùa mà em mê? Ngó lên trời, trời cao lồng lộng Ngó xuống đất, đất rộng mênh mông Biết rằng chừ cá gáy hoá rồng Đền ơn thầy mẹ ẵm bồng ngày xƣa. Ngó ra ngoài biển mù mù Thấy anh câu đục, câu đù(1) mà thƣơng. (1) Đục, đù: 2 loại cá nhỏ, rẻ tiền. Ngó ra ngoài biển mù mù Ngồi buồn xe chỉ, chạm dù cánh dơi Bƣớm bay mỏi cánh bƣớm rơi Cá đua hết nƣớc tìm nơi vũng chà Hồi nào em thề nguyện với qua Bây giờ em dứt nghĩa, em ra lấy chồng. Ngồi buồn bắt cá câu chình Suy qua nghĩ lại chạnh tình ngƣời xƣa. Ngồi buồn chặt thép uốn câu Đốn cần, xe nhợ, buộc phao, mắc mồi Trải chiếu ra ngồi Bờ sông đủng đỉnh Là chốn thanh nhàn Là chốn ngao du Cá vƣợc cá thu Nghe mồi tìm lại Cá ở dƣới bãi Cá trắng nhƣ bông Anh trông xuống sông Buồm rung gió thổi Kẻ lặn ngƣời lội Kẻ chắn ngƣời đăng Nƣớc bạc lăn tăn Phao chìm chuyển động Giật lên mau chóng Kẻo cá nhả ra

307

206.

207.

208. 209. 210.

211. 212.

213.

Mình lấy đƣợc ta Bõ công ao ƣớc Ta lấy đƣợc mình Thoả dạ ƣớc ao Bõ công anh đốn cần, xe nhợ, buộc phao, mắc mồi. Ngồi buồn chặt thép uốn câu Chặt cần, xe chỉ, buộc phao, mắc mồi Trải chiếu ra ngồi bờ sông bến mát Anh ngồi trên bến, cát trắng nhƣ bông Anh mang xuống sông, buồm rung gió thổi Kẻ lặn ngƣời lội, kẻ chắn ngƣời đăng Nƣớc đục băng lăng, phao chìm cần động Giật lên mau chóng, kẻo cá nhả mồi Mình lấy đƣợc ta, bõ công ao ƣớc Ta lấy đƣợc mình, khỏi ƣớc không ao. Ngồi buồn giở sách ra coi Tuổi anh tuổi Ngọ, tuổi tôi tuổi Mùi Hai ta tốt lứa đẹp đôi Rồng mây cá nƣớc duyên Trời đã xe. Ngồi buồn nhớ mẹ ta xƣa Miệng nhai cơm búng, lƣỡi lừa cá xƣơng. Ngồi buồn xe chỉ uốn câu Chỉ xe chƣa đặng, cá lần ra khơi. Ngồi rồi chăn chiếu trải êm Chiếu trải nằm thềm, muỗi cắn tứ tung Yêu nhau thì bảo nhau cùng Tôi nhắn lời nọ, ngƣời dùng lời kia Vì chuôm cho cá bén chà Vì ngƣời tôi đƣợc vào ra chốn này. Ngồi trên hòn đá buông câu Bởi vì ai xui giục, cá sầu không ăn. Ngóng lên rừng thấy con chim chiền chiện Ngóng xuống bể thấy cá liệng tứ bề Ƣớc sao đặng chữ phu thê Anh chồng em vợ đi về đôi ta. BK Ngó lên rừng thấy con chiền chiện Ngó xuống biển thấy cá liệng tứ bề Mong sao trọn nghĩa phu thê Anh chồng em vợ đi về có nhau. Ngƣời ngoan lên bãi hái chè

308

214. 215.

216. 217.

Hái dăm ba lá xuống khe ta ngồi Chim khôn chết mệt vì mồi Ngƣời khôn chết mệt vì lời nhỏ to Chim khôn tránh lƣới mắc dò Cá khôn tránh mãi, lững lờ mắc đăng Ngƣời ngoan yêu đến tôi chăng? Ngƣời ta chọn cá nấu canh Em đây chỉ chọn một anh tƣợng đồng. Nhà ngƣời có bụi chuối non Tôi xin đánh tỉa trăm con về trồng Nhà ngƣời những trúc cùng thông Hoa lan, hoa huệ, hoa hồng nở ra Nhà ngƣời ở gần hay xa? Cách tổng, cách xã, hay là cách sông? Xa xôi cách mấy quãng đồng? Để tôi bỏ việc, bỏ công đi tìm Tìm ngƣời nhƣ thể tìm chim Chim ăn bể bắc, tôi tìm bể đông. BK - Sau dòng này, có nơi hát thêm: Tìm ngƣời nhƣ vợ tìm chồng Bây giờ cá nƣớc chim lồng gặp nhau. Nhạn lạc bầy hai ngả kêu sƣơng Cá ao hồ trông nguyệt, đêm trƣờng qua trông em. Nhiều ngƣời một mặt hai lòng Nói thì nói vậy, chớ không giữ lời - Em đừng nghi ngại em ơi! Lòng em chứng có đất trời thấu tri - Chớ thề chớ thốt làm chi Miễn là lời hứa nhớ ghi cho bền - Chứng cùng thiên hạ địa đôi bên Nỡ nào ở bạc mà quên cho đành - Thƣơng sao thƣơng mặt, thƣơng đành Hay là căn nợ để dành cho tôi - Phụ mẫu già để lại tôi nuôi Bấy lâu cam chịu cui côi một mình - Vô duyên thác trƣớc cho trọn tình Phụ mẫu rằng:"Bởi sầu mình thác oan" - Mình sầu còn chỗ thở than Tôi sầu chẳng khác nhang tàn đêm khuya - Cá bã trầu ăn bọt thia thia Đôi ta thƣơng chắc, phân chia tại trời

309

218. 219.

220.

221.

222. 223.

224.

225.

226.

- Đêm khuya thơ thẩn mình tôi Ruột bầm gan tím vì lời mình than - Đàn kêu cống xự hồ xang Lòng tôi thƣơng bạn, biết chăng bạn vàng?... Nhìn nàng nƣớc mắt thấm bâu Nhạn bay cao bắn với, cá ở ao sâu câu ngầm. Nhìn nàng nƣớc mắt thấm bâu Nhạn bay bắn với, cá ở ao sâu câu ngầm Bởi nghe ai dối trá mắc lầm Vàng rơi khó kiếm, chân trầm khôn theo. Nói mà chơi vậy chớ, gió thổi hiu hiu Lục bình trôi riu ríu Anh đừng bận bịu bớ điệu chung tình Con nhạn ba cao khó bắn Mà con cá ở ao huỳnh cũng khó câu. Núi kia ai đắp nên cao Sông kia bể nọ ai đắp mà sâu? Vì ai cá chẳng bén câu Lƣợc chẳng bén đầu, chỉ chẳng bén kim Muốn ăn mơ nổi mận chìm Anh cũng lặn lội đi tìm về cho Thế gian thấy bán thì mua Biết rằng mặn nhạt chát chua nhƣờng nào. Nƣớc chảy re re, con cá he nó xoè đuôi phụng Anh xa em rồi, trong bụng còn thƣơng. Nƣớc chảy xuôi con cá buộc lội ngƣợc Nƣớc chảy con cá vƣợc lội ngang Hẩm hiu thiếp chẳng gặp chàng Thôi thì coi nhau nhƣ Lƣu Bình Dƣơng Lễ, cho trọn vẹn cả hai đàng đó anh. Nƣớc chảy xuôi con cá buôi lội ngƣợc Nƣớc chảy ngƣợc con cá vƣợc lội xuôi Anh với em xa cách ngậm ngùi Mong cho gặp mặt xác vùi cũng ƣng. Nƣớc chảy xuôi con cá buôi lội ngƣợc Nƣớc chảy ngƣợc, con cá vƣợc sang ngang Thuyền em vào bến Lại Giang(1) Sao thuyền anh lại ngƣợc đàng Quảng Nam Hay là anh đã ra dạ phụ phàng? (1) Lại Giang: bến sông ở Bình Định. Nƣớc chảy xuôi con cá buôi lội ngƣợc

310

227.

228.

229.

Nƣớc chảy ngƣợc con cá vƣợc lội ngang Thuyền em cập bến Thuận An Thuyền anh lại vƣợt lên ngàn đó anh ơi! Nƣớc đứng mà đựng chậu thau Tiếc mâm sơn tử đơm rau thài lài Tiếc em da trắng tóc dài Cha mẹ ép gả cho ngƣời phàm phu Mình vàng xuống tắm ao tù Ngƣời khôn ở với đứa ngu bực mình Qua đình nghiêng nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thƣơng mình bấy nhiêu Khi nào nƣớc đục cơm thiu Chồng con chƣa mấy, bỏ liều cho ta Trông em chẳng thấy em ra Anh ngồi anh đợi sƣơng sa lạnh lùng Đêm nằm cởi áo đắp chung Sao em không đắp lại vùng áo đi Thƣơng em kịp thuở thì xuân xanh Bữa cơm có cá có canh Sao không mát dạ, vƣơng anh làm gì. Nƣớc không chân sao rằng nƣớc đứng Cá không giò sao gọi cá leo Anh mà đáp trúng, em thả chèo đợi anh - Ghe không tay, sao kêu ghe vạch Bánh không cẳng, sao gọi bánh bò Anh đã đáp trúng nói ngay giờ em nghe. Nƣớc lên bè anh xuôi Một đàn cá gáy(1) vẫy đuôi hồng hồng Gái em chƣa chồng Là hoa dâm bụt Trai anh chƣa vợ Là búp măng tơ Anh đánh bàn cờ(2) Bên nam bên nữ Trong sách có chữ: Chữ hiếu chữ trung Ngồi giữa đình trung Bao lơn con tiện(3) Chiếu anh chiếu miến(4) Võng anh võng đào Làng nƣớc trông vào

311

Con nhà phú quí Con tốt con sĩ Kéo ra hai hàng Pháo mã dàn ngang Cho xe lội nƣớc(5) Rƣớc xe về thành(6) Ai về quê cũ với anh thì về? Có sập để kề Có võng mắc ngang Giƣờng trên phản dƣới Cây cam rƣời rƣợi(7) Trƣớc cửa anh ra Của bác mẹ ta Với lại của anh tƣơng tậu(8) Đôi bên giƣờng dạo(9) Trong sáo ngoài màn Muốn lấy chồng quan Lên voi xuống ngựa Muốn lấy chồng chúa? Quạt đỏ tàn xanh Em thuận lấy anh Dầm mƣa dãi nắng Nắng đổ lên đầu Mồ hôi đổ xuống Thƣờng an em luống Ra ngẩn vào ngơ Lênh đênh duyên hững phận hờ Bè xuôi nƣớc ngƣợc bao giờ gặp nhau! (1) Cá gáy: cá chép. (2) Đánh bàn cờ: có nghĩa là chơi cờ. (3) Bao lơn: lan can, can tiện, những chấn song tiện bằng gỗ, đóng vào bao lơn. (4) Chiếu miến: một loai chiếu tốt, làm bằng cói nhỏ và trắng, dệt rất công phu. (5) Xe lội nƣớc: cho con xe(tên một quân cờ) sang hà (ranh giới giữa 2 thế trận trong bàn cờ). (6) Thành: vì trí và đƣờng đi của tƣớng sĩ trong bàn cờ. (7) Rƣời rƣợi: xanh tốt và rƣờm rà. (8) Tƣơng tậu: mua sắm. (9) Giƣờng dạo: chỉ chung giƣờng chiếu; từ dạo dùng nhƣ một từ đệm.

312

230.

231.

232.

233.

Nƣớc lên cho bóng lên theo Anh giàu có của, em nghèo có công. BK Nƣớc lên cho cá lên theo Nƣớc lên con cá đối theo lên Nƣớc rặc(1), con cá đối nằm trên miệng bờ Thƣơng con cá kia khỏi nƣớc chịu khô Thƣờng cho anh những trông chờ uổng công. (1) Rặc: cạn khô Nƣớc lên đầu cống chảy xuôi Có con cá gáy đỏ đuôi hồng hồng Gái em chƣa chồng, còn mong đi chợ Trai anh chƣa vợ, mong mỏi làm sao Miếng trầu anh trao Lòng em chƣa mộ Giàu duyên, giàu số Giàu mẹ, giàu cha Giàu đâu đến ta Mà ta lƣỡng lự Mƣời lăm mƣời bảy Làm chả nên giàu Nói có trƣớc sau Cho chị em biết Vâng thì ăn hết Nghĩa ở đang còn Ra đàng hỏi con Nào ai hỏi của Hỏi thật em rày Mấy gái mấy trai Lời nói thƣa ngài: Trai năm gái bảy Trai thời học chữ Gái giữ nghề buôn Lấy đâu dâu khôn Xem bằng con gái Chàng rể có ngãi Xem bằng con trai Em tham giàu để khó cho ai? Nƣớc lên khỏi bậc tràn bờ Thƣơng thì nói vậy, biết chờ đặng không? Đặng không tôi cũng gắng công

313

234. 235. 236.

237.

238.

239. 240. 241. 242. 243. 244. 245. 246. 247.

Chừng nào ao cá hoá rồng sẽ hay. Nƣớc mắm ngon chấm con cá liệt Em có chồng rồi nói thiệt anh hay. Nƣớc mắm ngon dầm con cá đối Nhắn với nàng đợi tối anh qua. Nƣớc ngƣợc, con cá vƣợc(1) cũng hồi đầu(2) Lòng em nhƣ đá tảng(3), khiến anh sầu lắm thay Chốn này nƣớc nƣớc, mây mây Chim đàn cá lũ, anh chẳng khuây chút nào. (1) Cá vƣợc: một loại cá khoẻ, dữ ở nƣớc ngọt. (2) Hồi đầu: quay đầu trở lại. (3) Đá tảng: phiến đá vuông kê dƣới chân cột nhà cho vững. Lòng nhƣ đá tảng ý nói vững vàng, khăng khăng không lay chuyển đƣợc. Nƣớc sông còn đỏ nhƣ vang Nhiều nơi lịch sự hơn nàng, nàng ơi Nƣớc sông cuồn cuộn chảy xuôi Có con cá giếc đỏ đuôi theo mồi. Nƣớc sông cuồn cuộn chảy xuôi Có con cá giếc đỏ đuôi theo mồi Gặp em, thấy khéo miệng cƣời Thấy xinh con mắt, thấy tƣơi má hồng. Nƣớc trong cá chẳng ăn mồi Đừng câu mà mệt, đừng ngồi mà trƣa. Nƣớc trong cá lội thấy vi Anh câu không đƣợc cũng vì sóng xao. Nƣớc trong cá lội, thấy kì Thấy em ăn nói ngoan nghì anh thƣơng. Nƣớc trong cá lƣợn bên bờ Hỏi em mấy tuổi mà chƣa lấy chồng? Nƣớc trong giếng đá, cá lội thấy hình Thấy em có nghĩa, động tình anh thƣơng. Nƣớc trong xanh thả con cá vàng Nào ai đánh đục cho chàng ngẩn ngơ. Nƣớc trong thấy cát mờ nờ Bủa câu đã lỡ, cá chờ mồi ai? Nƣớc trong thấy đá, cá lội thấy hình Có đôi cũng vậy, một mình cũng xong. Nƣớc xanh xanh chảy quanh cồn cát trắng Con chim phƣợng hoàng rày vắng tiếng kêu Ơi ngƣời thƣơng ôi! Ta nhắn một đôi điều Dẫu mà mai quán, chiều lều, cũng ƣng

314

248. 249.

250.

251.

252. 253.

Con cá thia lia giỡn bóng lăng xăng trong hồ. Ớ em ơi! Tới đây cận thuỷ xa ngƣ Chừ hỏi thăm con cá nó đã vào lừ mô chƣa. Ra về én bắc, nhạn đông Đôi bên đôi ngả, lệ hồng tuôn rơi Lắng tai nghe tiếng bạn cƣời Lòng còn bát ngát Nghe tiếng bạn hát Ngƣớc mắt trông lên Ông Bụt thờ trên Gió đƣa mát lạnh Dạ em thƣơng ai Trong chừng dƣới bến Đƣa thƣ cho đến Gửi bức thƣ trầm Mƣợn cá hỏi thăm Cá lững lờ dƣới nƣớc Em ngồi em ƣớc Nhân ngãi tới đây Cơn sầu đã khuây Cơn buồn đã hết Anh đừng tham tiếc Vui cảnh non bồng Lâu về kẻ nhớ ngƣời mong. Rộng đồng mặc sức chim bay Biển hồ lai láng, cá bầy đua bơi Bao giờ cho đặng thảnh thơi Tay bƣng chén cúc, miệng mời phu quân. Sớm mai anh ngủ dậy Anh súc miệng, anh rửa mặt Anh xách cái rựa quéo Anh lên hòn núi quẹo Anh đốn cây củi còng queo Anh than với em, cha anh khó mẹ anh nghèo Đôi đũa tre yếu ớt, không dám quèo con mắm nhum(1). (1) Con mắm nhum: cá làm mắm. Sông dài cá lội biệt tăm Phải duyên chồng vợ, ngàn năm cũng chờ. Sông sâu cá lặn mất tăm Chín tháng cũng đợi, một năm cũng chờ Sông sâu cá lặn vào bờ

315

254. 255. 256. 257.

258. 259. 260. 261. 262. 263.

264.

265.

266.

Lấy ai thì lấy đợi chờ ta chi. Sông sâu cá lặn vào bờ Lấy ai thì lấy đợi chờ nhau chi. Sông sâu cá lội lờ mờ Biết anh mấy tuổi mà chờ đợi anh. Sông sâu cá lội mất tăm Chín tháng cũng đợi, mƣời năm cũng chờ. Sông sâu cá lội mất tăm Chín tháng cũng đợi, một năm cũng chờ Chờ anh chờ ngẩn chờ ngơ Chờ hết mùa mạn, mùa mơ mùa đào Chờ anh cho tuổi em cao Cho duyên em muộn má đào em phai. Sông sâu cá lội ngù ngờ Biết em có đợi mà chờ uổng công. Sông sâu cá lƣợn mất tăm Dẫu em bé nhỏ cũng chờ trăm năm. Sông Tiền Đƣờng cá lội giao đuôi Kiều thƣơng Kim Trọng giả nhƣ tui thƣơng mình. Tay anh cầm cần câu trúc, sợi nhợ thau Anh câu con cá biển, chớ cá bèo anh không câu. Tay anh cầm cần câu trúc, sợi nhợ thau Anh câu con cá biển, chớ cá bèo anh không câu. Tay cầm cái dát nắm nan Vừa đi vừa hát, vừa đan cái lờ Rách ai ăn mít bỏ xơ Ăn cá bỏ lờ, ở dạ bạc đen Ngồi buồn rọc lá gói nem Cô chị trốn mất, cô em tôi hò Ngồi buồn rọc lá gói giò Cô chị trốn mất, tôi hò cô em. Tay cầm dao mác Tay vác nắm nan Lên chùa thanh vắng tôi đan cái lờ Hỡi ngƣời ăn mít bỏ xơ Ăn cá bỏ lờ có nhớ tôi chăng? Tay cầm dao mác nắm nan Lên chùa Tiên Tích mà đan cái lờ Bây giờ đƣợc cá quên lờ Đƣợc ngƣời thì chẳng đợi chờ đến ai. Tay lại bắt tay luỵ rơi ngang má

316

267.

268.

269.

270.

271.

272.

273.

Mặt lại nhìn mặt thảm quá Trời ơi! Mấy lâu ni chim lƣợn, cá khơi Bắt tay mà hỏi đôi lời đặng không? Tay anh nắm con dao sắc Cắt chín lát gừng bỏ vô thang thuốc sắc lại bảy phân Tay mặt anh bƣng chén thuốc, tay trái anh khoát màn Cúc Hoa (1) ơi, em uống chén thuốc này cho nạn khỏi tai qua Kẻo con mồ côi mẹ, lấy ai cá vẽ cơm và mà nuôi con. (1) Cúc Hoa: nhân vật chính của truyện Tống Trân Cúc Hoa. Thà rằng chẳng biết cho đừng Biết ra dan díu nửa chừng lại thôi Con sông bên lở bên bồi Một con cá lội mấy ngƣời buông câu! Thân em nhƣ cá lội tranh mồi Em tìm nơi sông lớn, vịnh bồi ẩn thân. - Anh đây nhƣ thể lão chài Vực sâu anh thả lƣới, bãi lài (1) anh buông câu. (1) Lài: có độ dốc thoai thoai. Tháng hai cho chí tháng mƣời Năm mƣời hai tháng em ngồi em suy Vụ chiêm em cấy lúa di Vụ mùa lúa dé, sớm thì ba trăng Thú quê rau cá đã từng Gạo thơm cơm trắng chi bằng tám xoan Việc nhà em liệu lo toan Khuyên chàng học tập cho ngoan kẻo mà. - Thầy anh hay chữ hỏi thử đôi lời Cây cỏ chi không lá, con cá gì không xƣơng? - Thầy em hỏi tức anh nói phứt cho rồi Cây cỏ năn không lá con cá hoạ không xƣơng - Thầy anh hay chữ hỏi thử đôi hàn Tiết Đinh San sao dám gƣơng giàng bắn cha? - Tử Nhơn Quí nằm dƣới gốc đa Hoá hình cọp bạc, Tiết Đinh San bắn lầm. Thấy em đẹp nói đẹp cƣời Đẹp ngƣời đẹp nết lại tƣơi răng vàng Chân em đi dép quai ngang Mặt vuông chữ điền liền vành cá trôi Ta thƣơng mình lắm mình ôi Cá chết về mồi khốn nạn đôi ta. Theo nhau cho trọn lời vàng đá

317

274.

275. 276. 277. 278.

279.

280. 281. 282.

283.

284.

Không hay chừ kẻ Á, ngƣời Âu Gối loan chẳng đặng giao đầu Con chim bơ vơ núi Ngự, con cá thảm sầu sông Hƣơng.. Thiếp nhƣ cá ở Biển Đông Chờ khi nƣớc cạn, hoá rồng lên mây - Phải chi anh có phép thần thông Ngăn mây đón gió, bắt rồng cƣỡi chơi. Thiếp trông chàng nhƣ cá hạn trông mƣa Nhƣ con trông mẹ chợ trƣa chƣa về. Thôi thôi đừng nói mà buồn Cá lui về biển, chim ngƣợc nguồn kiếm đôi. Thôi thôi từ tạ biển vàng Cá lui về sông Vịnh, chim ngƣợc ngàn kiếm đôi. Thuốc nam thuốc bắc, thuốc xắt cho nhỏ Địa liền gừng gió vị nọ vị kia Dầu mà trời đất phân chia Đôi ta nhƣ cá dƣới đìa đừng xa. Thƣơng ai em nói khi đầu Để cho thầy mẹ ăn trầu một nơi Ăn trầu ngƣời ta nhƣ chim mắc nhợ Uống rƣợu ngƣời ta nhƣ cá mắc câu. Thƣơng em ruột nát da vàng Cá dƣới sông ngơ ngẩn, cây trên ngàn héo hon. Thƣơng mình lắm lắm mình ơi! Cá chết vì mồi, khốn nạn thân anh. Thuỷ để ngƣ, thiên biên nhạn Cao khả xa hề, để khả điếu Chỉ xích nhân tâm bất khả phòng(1) E sau lòng lại đổi lòng Nhiều tay tham bƣởi chê bòng lắm anh. (1) Thuỷ đê ngƣ, thiên biên nhạn, Cao khả xa hề, đê kha điếu, Chỉ xích nhân tâm bất khả phòng: cá dƣới đáy nƣớc, chim bên chân trời, cao có thể bắn, thấp có thể câu, lòng ngƣời đâu chỉ trong gang tấc cũng không thể đề phòng. Thuyền dời bến khác Tơ hồng buộc nơi rồi Anh đừng than thở i ôi! Em đà nhƣ cá no mồi khó câu. Thƣ một bức gửi ngƣời thục nữ Bức thƣ tình nhắn gửi chim Thƣ gửi cá còn e dạ cá

318

285.

286.

287. 288. 289. 290.

291.

292. 293.

Thƣ gửi chim còn sợ lòng chim Anh nói với ngƣời có lạ chi không ? Nàng nhƣ hoa quế hoa thông Anh nhƣ hoa cúc, hoa lí sánh cùng lứa đôi Đừng thấy vắng mặt mà nguôi tấm lòng Miếng trầu nên đạo vợ chồng Đem nằm mơ tƣởng thấy cùng ở bên Hỏi làng, hỏi họ hỏi tên Hỏi thăm ông bà trƣờng mạnh mời lên xơi trầu. Thuyền thúng là thuyền thúng ơi! Có về Đặng Xá cho tôi về nhờ Chèo đò lên bãi Dƣơng Khê Thuyền nan chắp cánh gió đƣa đằng đằng Tôi chèo thuyền lên bãi bắt con cá lăng. Tiếc cho con tôm rằn nấu với ngọn rau má Tiếc cho con cá bống thệ đem nấu với ngọn lá cỏ hôi Tiếc công ơn thầy với mẹ trau điểm phấn dồi Em ra đi lấy chồng không đặng hai chữ cân đôi với chồng. Tiếc công anh chẻ nứa đan lờ Để cho cá vƣợt lờ nó đi. Tiếc công anh xe sợ nhợ uống cây cần Xe rồi sợ nhợ, con cá lần ra khơi. Tiếc công lao đào ao thả cá Ba bốn năm trời ngƣời lạ tới câu. Tìm duyên mà chẳng thấy duyên Mất niêu cơm trắng chín tiền cá rô. BK - Một niêu cơm tám chín tiền cá rô. Tình cờ anh gặp nàng đây Nhƣ cá gặp nƣớc, nhƣ mây gặp rồng Rồng gặp mây, bán vân bán vũ Cá gặp nƣớc, con ngƣợc, con xuôi Chồng nam vợ bắc anh ơi! Sao anh chẳng lấy một ngƣời nhƣ em? Tình cờ gặp đƣợc nàng đây Nhƣ cá gặp nƣớc nhƣ mây gặp rồng. Tối qua cửa phƣợng loan phòng Một mình vò võ, trăng tàn, sao khuya Tôi xin kết ngãi đi về Nên chăng ngƣời nói, chớ hề ngó ngang Tôi xin kết ngãi lan vàng

319

294.

295.

296.

297.

Bõ công vàng sắt, bõ lòng chắt chiu Bõ công vàng đá nâng niu đêm ngày Đƣơng còn ngọc đúc doi doi Má tô phấn điểm sóng bày trên ngai Anh bƣớc chân ra cá nhảy nhạn sa Chim bay về, nhan sắc anh đáng lạng vàng Miệng tiếng anh cƣời nở cánh hoa sen Tôi xin kết ngãi Châu Trần Kìa nhƣ con nhện mấy lần chăng tơ. Tôm rằn lột vỏ bỏ đuôi Gạo nhƣ An Cựu (1) mà nuôi mẹ già Mẹ già là mẹ già anh Em vô bảo dƣỡng cá canh cho thƣờng Mẹ già nhƣ chuối bà hƣơng Nhƣ xôi nếp một, nhƣ đƣờng mía lau. (1) An Cựu: có nơi ghi "Gạo de An Cựu", một thứ gạo thơm ngon xƣa đƣợc dâng lên vua, đƣợc gọi là gạo tiến, chuyên trồng ở cánh đồng An Cựu, phía nam của Huế. Trách ai đặng cá quên nơm Đặng chim bẻ ná, quên ơn sinh thành. BK -Đựng chim bẻ ná, quên ơn vội thù. Trăm thức hoa đua nở về tiết tháng giêng Có bông hoa cải nở riêng tháng mƣời Trăm cành hoa cƣời, trăm nụ bông hoa nở mùa xuân sang Đàn con yến trắng, dập dìu đàng ong Con chim kia sao khéo não nùng Cuốc kêu gióng giả, nhƣ nung dạ sầu Gió nam hây hây lúc ban chiều Một đàn bƣớm trắng dập đìu trên non Đêm đông trƣờng nghe vƣợn ru con Vƣợn hót ru con, cá khe lẩn bóng, chim luồn cỗi cây Con ve kêu ong anh tiếng chày Kìa quân tử trúc dạ này bâng khuâng Em nhƣ hoa thơm mà mọc góc rừng Thơm cay ai biết, ngát lừng ai hay. Trăng lên đến đó rồi tề Nói răng thì nói anh về kẻo khuya - Anh về đi ngủ kẻo khuya Xấu chuôm thì mặc xấu chuôm Trời làm một trộ cá tuôn vô bờ.

320

298.

299.

300.

301.

302.

303.

Trên có trăng, dƣới có nƣớc, anh giao ƣớc một lời Dẫu trăng lờ nƣớc cạn, trọn đời anh chẳng quên em - Nƣớc có khi trong khi đục Ngƣời có kẻ tục kẻ thanh Hễ con cá khôn lựa vịnh, con chim khôn lựa nhành Mặc ai nay đỗ mai dành, bền lòng chờ ngóng chẳng đành bỏ anh. Trên rừng có cây bông kiểng Dƣới biển có cá hoá long Anh đi lục tỉnh giáp vòng Tới đây Trời khiến đem lòng thƣơng em Nhớ em tƣởng bóng ngày đêm Nhớ răng em trắng má em đỏ hồng Nhớ em vắng vẻ cô phòng Một mình vò võ đem đông lạnh lùng Nhớ em luỵ nhỏ ròng ròng Xe duyên chửa đặng đau lòng Trời ơi Chỉ còn đêm nữa mà thôi Giã từ em ở lại, anh hồi cố hƣơng. Trên sơn dƣới thuỷ, anh thấy em con cá lí ngƣ Anh móc mồi cây quăng xuống hàng cừ(1) Để coi bạn ngọc bây chừ về ai. (1) Hàng cừ: hàng cọc cắm ngăn ở hồ, ao sông, ngòi thành từng khoảng để thả lƣới, đánh cá. Trên trời có sao Tua rua Ở dƣới Hà Nội có vua đúc tiền Ruộng tƣ điền không ai cày cấy Hỏi cô mình ở vậy đƣợc chăng? Mƣời hai cửa bể anh đã cắm đăng Cửa nào lắm cá anh quăng chài vào. Trên trời có đám mây xanh Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng Ƣớc gì anh lấy đƣợc nàng Để anh mua gạch Bát Tràng về xây Xay dọc rồi lại xây ngang Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân Có rửa thì rửa chân tay Chớ rửa lông mày, chết cá ao anh. Trèo lên cây bƣởi hái hoa Bƣớc xuống vƣờn cà hái nụ tầm xuân Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng rồi anh tiếc em thay

321

304.

305.

306.

307. 308. 309.

Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không? Bây giờ em đã có chồng Nhƣ chim vào lồng nhƣ cá mắc câu Cá mắc câu biết dâu mà gỡ Chim vào lồng biết thuở nào ra. Trời đất một vùng Bắc, nam đôi ngả Phận hồng nhan buồn bã thiếp lo Sầu từ bể Sở, sông Ngô Lấy ai săn sóc sớm khuya việc chƣờng Ai làm nam bắc đôi đƣờng Chiếu chăn tếch lác(1), buồng hƣơng lạnh lùng Trời ơi, có tháu tình chăng Một ngày thiếp bén duyên chàng Bƣớm ong sum họp, phƣợng hoàng bƣa đôi Tƣởng rằng trên thẳm dƣới khơi Phòng khi lở đất long trời có nhau Ai ngờ chim lƣới, cá câu Chơ vơ ai biết ai đâu mà tìm. (1) Tếch lác: quăng bỏ bừa bãi. Trời xanh đất đỏ mây vàng Anh đi thơ thẩn gặp nàng thẩn thơ Bấy lâu loan đợi phƣợng chờ Loan sầu phƣợng ủ biết cơ hội nào! May chờ rồng cá kết giao Thề nguyền đông liễu, tây đào phòng chung Bây giờ kể đã mấy đông Thuyền quyên sầu một, anh hùng sầu hai Còn non, còn nƣớc, còn dài Còn vè còn nhớ tới ngƣời hôm nay. Trời xanh dƣới nƣớc cũng xanh Trên non gió thổi dƣới gành sóng xao Bấy lâu cách liễu trở đào Chim trong lồng chim thảm, cá dƣới ao cá sầu. Trông anh nhƣ bấc trông dầu Nhƣ con cá cạn trông chầu trời mƣa. Trông anh nhƣ cá trông sao Ngày trông đêm tƣởng chiêm bao mơ màng. Trông mây thấy cặp rồng xanh Thƣơng mình thao thức năm canh khóc ròng

322

310.

311.

312.

313. 314.

Thỏ giỡn trăng thỏ lại mắc vòng Mình có lâm nơi sinh tử chốn loan phòng có tôi Sông Tiền Đƣờng(1) cá lội giao đuôi Kiều thƣơng Kim Trọng giả nhƣ tôi thƣơng mình. Trƣớc không thảo sau nào có thảo Thuyền không ngay, bẻ lái khó ngay Em đây suy cạn lẽ này Thà em ở vá hơn buổi rày lấy anh - Bậu chƣa nghĩ kĩ, bậu ti hƣ vầy Chim uyên ƣơng còn biết kết bầy Cá bi nục còn vầy đôi bạn Chẳng qua bởi vận hạn qua mới xa nàng Chớ ai mà có muốn dứt đàng ngãi nhân. Trƣớc mừng chàng nhƣ cây có cội Sau vui thay duyên hiệp đạo ngƣời Hai ta xin gá tiếng trao lời Dƣới sông con cá lội, trên trời con chim bay. Từ ngày gặp gỡ giữa đƣờng Nghe lời bạn nói nhớ thƣơng vô chừng Tƣởng là thành cơm thành cháo mà mừng Hay đâu cá dời về biển, chim rừng xa bay. Từ ngày thiếp bén duyên chàng Dạ nhƣ con cá trích mắc vào lƣới xƣa. Vào rừng chẳng biết lối ra Thấy cây núc nác ngỡ la vàng tâm Anh trông em anh cũng yêu thầm Sợ mẹ bằng bể, sợ cha bằng trời Thấy em đẹp nói đẹp cƣời Đẹp quần đẹp áo lại tƣơi răng vàng Chân em đi dép quai ngang Mặt vuông chữ điền liền vành cá trôi Ta thƣơng mình lắm mình ơi Cá chết về mối, khốn nạn đôi ta Ngồi buồn trách mẹ cùng cha Trách anh thầy bói rẽ ra đôi đƣờng Ở đây đồng đất phố phƣờng Để anh mua cốm, mua hồng sang sêu Sêu em mối lái làm đều Để cốm anh mốc, để hồng long tai Hồng long tai nhƣ quạt long nhài Cầu Ô long nhịp, cửa cài long then

323

315.

316. 317. 318.

319.

Anh tiếc cô mình má phấn, răng đen Để cốm anh mốc để hồng nứt ra Bao giờ cho đến tháng ba Gió thu lại thổi xuân ra cõi ngoài. Vào vƣờn trảy quả cau non Anh thấy em giòn, muốn kết nhân duyên Hai má có hai đồng tiền Càng nom càng đẹp, càng nhìn càng ƣa - Anh đã có vợ con chƣa Mà anh ăn nói gió đƣa ngọt ngào Mẹ già anh để nơi nao Để em tìm vào hầu hạ thay anh Chả tham nhà ngói rung rinh Tham về một nỗi anh xinh miệng cƣời Miệng cƣời anh đáng mấy mƣơi Chân đi đáng nén, miệng cƣời đáng trăm - Tờ giấy hồng anh phong chữ thọ Anh gửi thƣ này cả họ bình yên Đầu rồng mà gối tay Tiên Ƣớc gì tay ấy gối lên đầu này Nhƣ chim loan phƣợng ấp cây ngô đồng Một mai nên vợ nên chồng Nhƣ cá gặp nƣớc nhƣ rồng gặp mây. Vì ai cách trở giang biên Cá sầu không lội, chim phiền không bay. Vì chuôm cho cá bén đăng Vì tình nên phải đi trăng về mờ. Vì mây cho núi lên trời Vì cơn gió thổi, hoa cƣời với trăng Vì chuôm cho cá bén đăng Vì tình nên phải đi trăng về mờ. Xƣa rày biệt tích âm hao Hỏi cá chẳng thấy, tin sao vắng trùng Xốn xang dạ ngọc bâng khuâng Ngày thì sầu não, đêm rƣng luỵ tràn Nhân nay lặn lội băng ngàn Muốn đi lãnh Bắc, lại sang non Tần Than rằng, ngọc hỡi tình nhân Tôi đi tìm bạn, bạn vàng ở đâu? Yên Thái có giếng trong xanh

320.

324

Có đôi cá sấu ngồi canh đầu làng Ai qua nhắn nhủ cô nàng Yêu nhau xin chớ phũ phàng đổi thay.

Hà Nội, năm 2003 Điều chỉnh khi tái bản: tháng6 - 2009 TS. Phạm Việt Long

325

TS. Phạm Việt Long Sinh ngày: 1 tháng 7 năm 1946 Tại: Ngô Khê, Bắc Quang, Hà Giang Nguyên Quán: Ninh Bình Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Tác phẩm chính: - B. trọc - Du khảo Hoa kỳ sau thảm hoạ 11 tháng 9 - Âm bản - Ngờ vực - Mố số giá trị văn hoá truyền thống với việc xây dựng đời sống văn hoá ở đồng bằng Bắc Bộ - Khía cạnh văn hoá trong thƣơng mại điện tử

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->