P. 1
10.BS HOANG -FNA TUYEN GIAP

10.BS HOANG -FNA TUYEN GIAP

|Views: 647|Likes:
Được xuất bản bởivanhau24

More info:

Published by: vanhau24 on Aug 09, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

07/27/2013

pdf

text

original

ĐỐI CHIẾU LÂM SÀNG, TẾ BÀO HỌC VÀ GIẢI PHẪU BỆNH TRÊN BỆNH NHÂN BƯỚU GIÁP NHÂN

Lâm Văn Hoàng1 - Nguyễn Thy Khuê2 TÓM TẮT MỤC TIÊU: Đánh giá giá trị tiên đoán ác tính của các triệu chứng lâm sàng, siêu âm và chọc hút kim nhỏ (FNA) tuyến giáp trên bệnh nhân có bướu giáp nhân. PHƯƠNG PHÁP: Nghiên cứu hồi cứu 95 trường hợp bệnh nhân bướu giáp nhân đã được phẫu thuật, ghi nhận những dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán tế bào học bằng chọc hút kim nhỏ và giải phẫu bệnh sau mổ. Kết quả giải phẫu bệnh được dùng làm “tiêu chuẩn vàng” để đánh giá các triệu chứng khác. KẾT QUẢ: Có 75 bệnh nhân nữ và 20 bệnh nhân nam. Tuổi trung bình 43.9 (±14.6). 25 bệnh nhân (26.3%) có bướu ác tính, trong đó 19 ung thư giáp dạng nhú, 3 ung thư giáp dạng nang, 1 ung thư tế bào tủy, 2 ung thư tế bào Hurthle. 70 bệnh nhân (73.7%) có bướu lành tính, trong đó 66 nhân lành tính và 4 viêm giáp. Triệu chứng khàn giọng chỉ gặp trong 4 trường hợp bướu ác tính. Cả 25 trường hợp ác tính đều có tính chất siêu âm kém hoặc hỗn hợp, trong khi ở nhóm lành tính có 49 (70%) trường hợp. Tế bào học FNA chẩn đoán ác tính trong 18 trường hợp, nghi ngờ 11 trường hợp. Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ của 11 trường hợp này gồm 3 ung thư và 8 phình giáp. Giá trị chẩn đoán của FNA: độ nhạy 84%, độ chuyên 87,6%, tỷ lệ dương tính giả 12,8%, tỷ lệ âm tính giả 1,64%, giá trị chẩn đoán dương 70%.

RELATIONSHIP BETWEEN CLINICAL FINDINGS, CYTOLOGICAL AND HISTOLOGICAL RESULTS IN PATIENTS WITH THYROID NODULE
Lâm Văn Hoàng1 - Nguyễn Thy Khuê2 ABSTRACT OBJECTIVE: To assess the malignancy predicting of clinical signs, ultrasound findings and FNA cytology of thyroid nodule. METHOD: Retrospective cohort study enrolled 95 patients with thyroid nodule undergone surgery. Clinical signs, ultrasound findings, cytological diagnosis by FNA and post operated pathological results were recorded. Pathological result was the gold standard to compare with the others RESULTS: There were 75 women and 20 men. Mean age was 43.9 years (SD=14.6). 25 cases (26.3%) were thyroid carcinoma, of which 19 cases were papillary carcinoma, 3 cases were follicular carcinoma, 1 case was medullary carcinoma and 2 cases were Hurthle’s cell carcinoma. Of the remaining cases, 66 were benign thyroid nodule and 4 were Hashimoto’s thyroiditis. Hoarseness was presented in only 4 cases with carcinoma. Echogenicity were poor or mixed in all 25 malignant cases and in 49 benign cases (70%). FNA results were malignant in 18 cases and suspected in 11 cases. In
1 2

Khoa Nội tiết Bệnh viện Chợ Rẫy Bộ môn Nội tiết Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

1

KẾT LUẬN: Triệu chứng khàn giọng ít gặp, tuy nhiên là dấu hiệu rất có giá trị tiên đoán ác tính. Hầu hết các trường hợp ác tính đều có đặc điểm siêu âm kém hoặc hỗn hợp. Phương CONCLUSION: pháp tế bào học bằng FNA có giá Hoarseness was an uncommon symptom but it trị chẩn đoán ác tính cao. strongly suggested thyroid cancer. Most of the malignant nodules had poor or mixed echogenicity. FNA was a fairly good diagnostic test of thyroid cancer. the latter group, post-op pathological result was 3 carcinoma and 8 benign goiters. FNA had a sensitivity of 84%, specificity of 87.6%, false positive of 12.8%, false negative of 1.6% and positive predictive value of 70%.

1 . ĐẶT VẤN ĐỀ: Bệnh bướu giáp nhân là bệnh thường gặp trong nhóm bệnh nội tiết. Ghi nhận riêng ở Mỹ mỗi năm khoảng 275 000 bệnh nhân bướu giáp nhân mới được phát hiện. Tỷ lệ bệnh nhân có bướu giáp nhân là ung thư có thay đổi theo nhiều nghiên cứu của các tác giả khác nhau. chiếm 4- 5%, trong đó tỷ lệ ung thư giáp dạng nhú chiếm lớn hơn 80% trường hợp. Để xác định chắc chắn tính chất của bướu giáp nhân cũng như một số bệnh lý khác, tiêu chuẩn vàng vẫn là chẩn đoán mô học, và chỉ được thực hiện sau khi bệnh nhân phẫu thuật bướu giáp, do đó để thuận lợi hơn, việc tìm hiểu bản chất của bướu nhân giáp qua sử dụng phương pháp sinh thiết bằng kim để chọc hút tế bào tuyến giáp (FNA) đã được nhiều chuyên gia giải phẫu bệnh, cũng như các nhà lâm sàng nội tiết thực hiện trong nhiều thập kỷ qua, Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh như Nguyễn Sào Trung, Hứa Thị Ngọc Hà[1][2], vv… các tác giả này ghi nhận hồi cứu đối chiếu kết quả tế bào học và mô học cho thấy độ nhạy, độ chuyên của xét nghiệm này cũng khá cao và phù hợp như nhiều công trình đã báo cáo trên thế giới. Tuy nhiên những nghiên cứu này mới chỉ mới xét yếu tố mô học và tế bào học của bướu giáp nhân chứ không đề cập đến khía cạnh lâm sàng. Do đó với mục đích tìm hiểu mối liên quan giữa những yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng trên bệnh nhân bướu giáp nhân, và qua đó chúng ta có thể tìm thấy các yếu tố có giá trị tiên đoán trong chẩn đoán ung thư giáp trên bệnh nhân có bướu giáp nhân. chúng tôi thực hiện nghiên cứu này. 2. ĐỐI TƯỢNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Dân số nghiên cứu: 95 Bệnh nhân có bướu giáp nhân được khám và phẫu thuật tại khoa ngoại tổng quát Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 6 năm 2003 đến tháng 6 năm 2004. 2.2 Tiêu chuẩn chọïn bệnh Tất cả bệnh nhân bướu giáp nhân, đơn nhân, đa nhân được phẫu thuật được làm đầy đủ xét nghiệm hormon tuyến giáp, siêu âm, chẩn đoán tế bào học, mô học tuyến giáp và phẫu thuật tuyến giáp.

2

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ Tất cả những trường hợp không đầy đủ số liệu. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu hồi cứu mô tả. 3. XỬ LÝ THỐNG KÊ Nhập và xử lý số liệu theo phần mềm Epi info 2003. Đánh giá những yếu tố biến độc lập và phụ thuộc. Đánh giá các yếu tố tương quan, kiểm định bằng các phép kiểm phi tham số. Đánh giá độ nhạy, độ chuyên giá trị tiên đoán của các xét nghiệm. KẾT QUẢ & NHẬN XÉT. Hồi cứu trên 95 bệnh nhân đã được phẫu thuật tại bệïnh viện Chợ Rẫy Từ tháng 6 năm 2003 đến tháng 6 năm 2004 đủ tiêu chuẩn nghiên cứu.
95 beänh nhaân

25 ung thö giaùp 26.3%

70 laønh tính 73.7%

19 ung thö daïng nhuù

66 tröôøng hôïp phình giaùp

3 ung thö daïng nang 4 tröôøng hôïp vieâm giaùp

1 ung thö daïng tuûy

2 u teá baøo Hurthle

1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu: 1.1 Tuổi: Bảng 1 : Phân bố tần suất tuổi và kết quả chẩn đoán mô học. Tuổi Phình giáp n=(66) < 20 n=3 20-40 n=35 2 (3%) 26 (39.4%) dạng nhú 1(5.2%) 5(26.3%) 13(68.5%) Ung thư giáp (n=25) dạng nang 0 1(33.3%) 2(66.7%) dạng tủy 0 0 1(100%) Hurthle 0 1(50%) 1(50%) Viêm giáp (n=4) 0 2(50%) 2(50%)

> 40 38 (57.6%) n=57

3

70 60 50
phaà traê n m

68

40 30 20 10 0
<20tuoå i 20-40 tuoå i > 40tuoå i

28 4

Biểu đồ 1 : Phân bố nhóm tuổi trong bệnh nhân ung thư giáp. Trong 95 trường hợp bệnh nhân được phẫu thuật tuyến giáp, tuổi trung bình 43 tuổi ± 14.6. Trong bệnh nhân ung thư giáp, tỷ lệ bệnh nhân có tuổi lớn hơn 40 chiếm 68%. - Không thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi và ung thư giáp với ( R = 0,1, P = 0,458 < 0.05 ). Kết quả của chúng tôi không phù hợp so với một số tác giả, các tác giả thấy rằng có mối tương quan giữa yếu tố tuổi với ung thư tuyến giáp, khi tuổi càng nhỏ hay càng lớn, thì nguy cơ ung thư càng cao. Theo nghiên cứu của Hamburger [6] ghi nhận nguy cơ ung thư giáp trên bệnh nhân bướu giáp nhân ở trẻ em cao hơn nhiều so với người lớn, trẻ em 14 – 40% trong khi người lớn chỉ chiếm 5%. Tác giả Walsh RM đưa ra những yếu tố nguy cơ ác tính thường ở nhóm tuổi lớn hơn 20, và nhỏ hơn 40. 1.2 Phái * Kết quả tỷ lệ 2 nhóm ung thư và không ung thư phân bố theo phái Nam: 20 trường hợp (21%), trong đó 7 trường hợp là ung thư giáp Nữ : 75 trường hợp (79%) trong đó 18 trường hợp ghi nhận ung thư Bảng 2: Phân bố tần xuất giới tính theo chẩn đoán mô học Phái Phình giáp (n=66) Ung thư giáp (n=25) dạng nhú 5(26.3%) 14(73.7%) dạng nang 1(33.3%) 2(66.7%) dạng tủy 0 (0%) 1(100%) Hurthle 1(50%) 1(50%) Viêm giáp (n=4)

Nam Nữ

13(19.7%) 53(80.3%)

0 (0%) 4(100%)

Tỷ lệ bệnh nhân nam so với nũ là 3/1.(21% / 79%). Riêng trong nhóm bệnh nhân ung thư giáp tỷ lệ: Nam 7/25 trường hợp (tỷ lệ 28%), nữ 18/25 (tỷ lệ 72%), so sánh tỷ lệ nữ/ nam ghi nhận nữ 72/ 28 gấp khoảng 2.5 lần. Xét về tương quan giữa yếu tố giới tính với kết quả là ung thư giáp, chúng tôi ghi nhận sự tương quan không có ý nghĩa thống kê với R= 0.1, P= 0.3. So với 4

tác giả Kuma H [8], ghi nhận trên 1005 bệnh nhân nam và nữ. Bệnh nhân nam bị bướu nhân giáp có khả năng ác tính cao hơn so với nữ . 2. Ghi nhận theo dấu hiệu lâm sàng Bảng 2.1: Dấu hiệu lâm sàng phân bố theo kết quả 2 nhóm bệnh nhân Ung thư giáp (n=25) Đau (+) Nuốt vướng (+) Khàn giọng (+) 6/25 (24%) 17/25 (68%) 4/25 (16%) Không ung thư giáp (n=70) 9/70 (12.8%) 45/70 (64.2%) 0

Bảng 2.2 : Đánh giá các yếu tố tương quan về lâm sàng và kết quả . Đau Hệ số tương quan P 0.4 0.19 Khàn giọng R : 0.3 0.00004 Nuốt vướng R 0.00 0.77

* Đau & nuốt vứớng là 2 triệu chứng chủ quan xuất hiện trong cả 2 nhóm bệnh nhân * Triệu chứng khàn giọng: Chúng tôi ghi nhận yếu tố khàn giọng có tương quan với ung thư giáp, hệ số tương quan R = 0.34, với phép kiểm Fisher P = 0.0004 có ý nghĩa thống kê, dù cho mối tương quan thuận này là một mối tương quan yếu với R< 0.7, nhưng đây cũng là triệu chứng quan trọng gợi ý sự xâm lấn của ung thư giáp 3. Kết quả siêu âm: Bảng3.1 : Số lượng nhân trên siêu âm phân bố theo 2 nhóm bệnh nhân Ung thư giáp (n=25) Đơn nhân Đa nhân Tính chất siêu âm Bình thường (n=7) Dày (n=14) Kém ( n=49) Hỗn hợp (n=25) 22/25 (88%) 3 ( 12%) Ung thư giáp (n=25) 0 (0%) 0 (0%) 22 (44.9%) 3 (12%) Ung thư giáp (n=25) 5 Không ung thư giáp (n=70) 50/70 (71.4%) 20/70 (18.6%) Không ung thư giáp (n=70) 7 (100%) 14 (100%) 27 (51.1%) 22 (88%) Không ung thư giáp (n=70)

Bảng 3.2 : Tính chất siêu âm phân bố theo 2 nhóm bệnh nhân

Bảng 3.3. Dấu hiệu vôi hóa và hạch phát hiện trên siêu âm theo 2 nhóm bệnh nhân.

Vôi hóa (+) (n=19) Hạch (+) (n=6)

6/25 (24%) 6/25 (24%) Ung thư giáp

13/70 (17.3%) 0 ( 0%) Không ung thư giáp 28.2 ± 17.03 33.22 ± 14.4 2 nhóm 1 (1.15) 72 (75.8%) 22 ( 23.5%) Echo kém R: 0.4 P 0.007

Bảng 3.4: Thể tích và trung bình đường kính nhân qua siêu âm theo 2 nhóm bệnh nhân. Thể tich trung bình Đường kính nhân trung bình 30.14 ± 20.34 32.92 ± 13.27

Bảng 3.5: Đường kính nhân theo kết quả 2 nhóm bệnh nhân ung thư và không ung thư Ung thư giáp <10 mm 10-39 mm > 40 mm 0 17 (17.8%) 8 (8.4%) Vôi hóa Hệ số tương quan P value Đăëc điểm siêu âm * Số lượng nhân Trong nhóm ung thư giáp, tỷ lệâ bướu giáp đơn nhân chiếm khá cao 88%, đa nhân 12%, phù hợp về mặt lý thuyết cũng như trong nghiên cứu của tác giả Kumar.H [8] và các tác giả khác, tỷ lệ ác tính thường gặp ở bướu đơn nhân hơn là ở bướu giáp đa nhân và lan tỏa. * Thể tích trung bình tuyến giáp nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận sự khác biệt về thể tích giữa các nhóm kết quả P = 0.3065. * Đường kính tuyến giáp: Tỷ lệ bệnh nhân có bướu giáp kích thước lớn hơn 40mm chiếm 23.5% trong nhóm nghiên cứu, riêng trong nhóm ung thư chiếm 8/25 trường hợp (32%). Kích thước bướu giáp nhân không có sự khác biệt trong tất cả các nhóm kết quả. kích thước lớn 40 mm không tương quan với ung thư giáp, điều này khác biệt về mặt lý thuyết cho rằng kích thước lớn hơn 40mm là yếu tố tiên đoán ác tính, cũng như Theo tác giả Gideon Bahar ghi nhận kích thước của bướu giáp là yếu tố độc lập tương quan với chẩn đoán ác tính [5], * Tính chất siêu âm của nhân giáp: chúng tôi chỉ ghi nhận tính chất giảm âm có ý nghĩa thống kê với P = 0.007, hệ số tương quan R= 0,4, hệ số tương quan này là tương quan thuận. Đây là dấu hiệu khá quan trọng vấn đề tiên lượng bệnh nhân bị ung thư giáp. So sánh với tác giả Corias và cộng sự ghi nhận trên 85 bệnh nhân tỷ lệ Echo kém xuất hiện trong cả 2 nhóm lành tính và ác tính, tỷ lệ ác tính chiếm 57%, lành tính chiếm 26%. Do đó có sự giới hạn của tính chất này để tiên đoán tính chất lành và ác tính của bướu nhân, và theo báo cáo của Corias và cộng sự là tính chất tăng âm không loại trừ được ác tính [4]. * Vôi hóa trong nhân được ghi nhận 19/95 (20%) trong các nhóm chẩn đoán, dấu hiệu này chúng tôi cũng thấy trong cả 2 nhóm ung thư giáp và không ung thư giáp. Tuy nhiên riêng 6 R= 0.00 0.5651 Không ung thư giáp 1 55 (58%) 14 (15.%) Kich thước R = 0.14 0.1285

Bảng 3.6: Đánh giá các yếu tương quan về siêu âm và kết quả

trong nhóm ung thư giáp chiếm 6/25 (24%) và chỉ xuất hiện trong nhóm ung thư giáp dạng nhú. Nghiên cứu của tác giả Khoo Ml [7] trên 361 bệnh nhân phẫu thuật tuyến giáp tỷ lệ bướu nhân có dấu hiệu vôi hóa 49/361 ( 13.6%), kết quả 29/49 bệnh nhân là ung thư giáp với kết luận dấu hiệu vôi hóa trong bướu giáp nhân là dấu hiện tiên lượng nguy cơ ác tính khá cao. *Hạch: trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ ghi nhận trong nhóm bệnh nhân ung thư giáp với tỷ lệ 6/25 ( 24%). Xuất hiện trong cả 2 nhóm bệnh nhân ung thư giáp dạng nhú, và dạng nangTính chất hạch tương quan thuận với hệ số tương quan R=0.43, P= 0.00001, cho dù tính tương quan này vẫn là tương quan yếu, nhưng có giá trị trong chẩn đoán ung thư giáp. So sánh với tác giả Nam-Goong và cộng sự nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân ung thư giáp tại Đại học Ulsan Hàn quốc. Trong 36 bệnh nhân ung thư giáp thấy tỷ lệ số bệnh nhân có kèm theo hạch 18/36 (50%) bệnh nhân. Tỷ lệ này khá cao so với nghiên cứu của chúng tôi, nhưng tất cả những điều này cảnh báo cho chúng ta nên khám xét các nhóm hạch cẩn thận khi bệnh nhân có nhiều yếu tố nghi ngờ ung thư giáp, và hơn nữa khi phát hiện có xuất hiện hạch là dấu hiệu góp phần tăng khả năng nghi ngờ ung thư giáp trên bệnh nhân. 4. Đối chiếu tế bào học và mô học. Kết quả tế bào học (95BN) Không chẩn đoán Nghi ngờ Phình giáp K giáp dạng nhú K giáp dạng nang K giáp tế bào tủy Kém biệt hóa Hurthle cell Viêm giáp 6 lấy mẫu lại 11 61 18 1 0 1 1 2 66 19 3 1 0 2 4 Kết quả mô học(95BN)

Biểu đồ 4.1: Đối chiếu kết quả tế bào học và mô học

7

63 BN Tế bào học lành tính

21 BN Tế bào học ác tính

61

70 BN lành tính Chẩn đoán mô 8 11 BN nghi ngờ Chẩn đoán tế bào 3

1

2

25 BN ác tính Chẩn đoán mô

20

Bảng 4.2 : Phân phối tần suất 2x2 chẩn đoán FNA và kết quả mô học Ung thư giáp Kết quả (+) Kết quả (-) Tổng số 21 4 25 Không ung thư giáp 9 61 70 Tổng số 30 65 95

Độ nhạy của xét nghiệm = dương thật / dương thật + âm giả = 84% Độ chuyên = âm thật / âm thật + dương giả = 87.2% Giá trị tiên đoán dương = dương thật / dương thật + dương giả = 70% Giá trị tiên đoán âm = âm thật / âm thật + âm giả = 93.8% Tỷ lệ dương tính giả: 12.8% Tỷ lệ âm tính giả: 1.6% - 6 trường hợp thất bại do mẫu tiêu bản không đầy đủ, Điều này cũng thường ghi nhận như trong một vài nghiên cứu của các tác giả khác. Theo Hossein Gharib [8] nghiên cứu cùng cộng sự hơn 18.000 mẫu bệnh phẩm kết quả 25% không chẩn đoán và 10% với chẩn đoán nghi ngờ. -11/95 bệnh nhân (11.5%) trường hợp nghi ngờ phần lớn được chẩn đoán là tổn thương dạng nang, nhóm bệnh nhân này sau phẫu thuật 8/95 (8%) trường hợp là phình giáp, 3/95 ( 3.1%) trường hợp là ung thư giáp, trong đó 1 trường hợp là ung thư dạng nhú, 1 ung thư dạng nang, và 1 trường hợp là ung thư tế bào Hurthle. Trong những trường hợp nghi ngờ chúng ta rất khó phân biệt giữa các dạng tổn thương dạng nang. Về phương diện giải phẫu bệnh có 4 thể sau: phình giáp tuyến ( adenomatous hyperplasia). U tân sinh dạng nang lành tính (follicular adenoma), Ung thư tuyến giáp dạng nang ( follicular carcinoma), ung thư dạng nhú biến thể nang (follicular variant of papillary thyroid carcinoma).Với những trường hợp khó chẩn đoán này, rất dễ lầm lẫn, thường theo kinh nghiệm của nhiều chuyên gia giải phẫu bệnh chúng ta nên làm lại sinh thiết và nên phẫu thuật tuyến giáp. trong quá trình phẫu thuật có thể thực hiện phương pháp sinh thiết lạnh, từ

8

đó có kết quả nhanh và chính xác giúp đỡ cho phẫu thuật viên quyết định phương pháp mổ thích hợp cho bệnh nhân. * Kết quả âm tính giả: trong nghiên cứu của chúng tôi có 2 trường hợp (1.6%). Chẩn đoán ban đầu là bướu nhân lành tính, sau phẫu thuật chẩn đoán là ung thư giáp dạng nhú, điều này có thể do một số yếu tố sau: - Lấy mẫu có thể không đúng vị trí của khối ung thư. - Trên tiêu bản mẫu có thể nhiều hồng cầu. - Kỹ thuật phết tiêu bản chưa chuẩn, làm cho tiêu bản quá dày tế bào, do đó khi đọc kết quả có thể sai lầm trong chẩn đoán. Theo Hamburger [6] đề nghị mẫu tiêu bản tiêu chuẩn phải thật sự đúng.Trong lô nghiên cứu của tác giả có 21% lấy không đúng bệnh phẩm, nhiều trường hợp viêm giáp Hashimoto dễ chẩn đoán lầm với bướu lympho tuyến giáp, ung thư giáp dạng nang dễ lầm lẫn với bướu giáp dạng nang. U tế bào Hurthle lành tính phân biệt với ung thư tế bào Huthle. Trong trường hợp như vậy cần sự kết hợp của lâm sàng và nhiều yếu khác. Và Hamburger cũng cho rằng tỷ lệ âm tính giả chấp nhận được đến 10%. Trong những trường hợp nghi ngờ chúng ta nên sinh thiết lại tế bào từ 6 tháng đến một năm. Nghiên cứu của Hamburger theo dõi 198 bệnh nhân có kết quả tế bào là lành tính, sau đó 3% là ung thư giáp trong làm xét nghiệm lần sau. Do đó để hạn chế những kết quả âm tính giả Hamburger đề nghị bằng phương pháp loại trừ, chẩn đoán bướu lành tính khi có bằng chứng đầy đủ là có ít nhất 2 tiêu bản ở 2 lần chọc khác nhau, mỗi tiêu bản có đầy đủ 6 chuỗi tế bào lành tính [6]. * Kếát quả dương tính giả theo nghiên cứu của chúng tôi chiếm 12.6%, tỷ lệ này chúng tôi tính bao gồm cả nhóm bệnh nhân nghi ngờ phải phẫu thuật. do đó tỷ lệ của chúng tôi cao hơn nhiều so với một số tác giả trong nước. Một trường hợp đặc biệt bệnh nhân được chẩn đoán tế bào học là ung thư dạng kém biệt hóa, sau phẫu thuật chẩn đoán kết quả mô học là viêm giáp Hashimoto, đây là trường hợp khó phân biệt cũng như nhiều tác giả đã ghi nhận viêm giáp Hashimoto thường phổ biến gây chẩn đoán sai về tế bào học do hình ảnh tế bào dễ lầm lẫn, Cũng như trong chẩn đoán bướu giáp dạng nang và tế bào Huthle dễ lầm lẫn với ung thư dạng nhú . Hamburger ghi nhận tỷ lệ dương tính giả này 2-3%, nếu có kinh nghiệm. Số lần thực hiện càng nhiều sẽ càng giảm tỷ lệ này. * Theo thống kê của các tác giả tỷ lệ phát hiện ung thư khi sinh thiết tế bào trên bệnh nhân bướu giáp nhân thay đổi từ 8-12%. Hamburger 8%, Gharid H 28/170 trường hợp ( 9%) cũng như các tác giả trong nước, kết quả của chúng tôi 22.2% cao hơn so với kết quả của các tác giả khác, điều này cũng có thể là trong nhóm nghiên cứu này bệnh nhân phẫu thuật thường không mang tính ngẫu nhiên mà có tính định hướng như nghi ngờ ác tính mới phẫu thuật, như kích thước lớn, khàn giọng, hạch v.v.. do đó làm cho tỷ lệ kết quả này tăng cao.

KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu này chúng tôi rút ra một số kết luận sau: 1.Tỷ lệ bệnh nhân ung thư giáp trong nhóm phẫu thuật chiếm 26.3%, trong đó ung thư giáp dạng nhú chiếm phần lớn 76%. 2. Các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng có giá trị trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp: * Khàn giọng và hạch * Siêu âm echo kém .

9

3. Tuổi và giới: không tương quan với ung thư giáp 4. Xét nghiệm chọc hút tế bào tuyến giáp bằng kim nhỏ : Độ nhạy: 84%. Độ chuyên: 87.2%. Giá trị tiên đoán dương: 70%. Giá trị tiên đoán âm: 93.8%. Tỷ lệ dương tính giả : 12.8% Tỷ lệ âm tính giả : 1.6%.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Hứa Thị Ngọc Hà, Lê Văn Quang (2002), “Giá trị xét nghiệm tế bào học qua chọc hút kim nhỏ trong chẩn đoán sớm các bướu nhân giáp”, Hội nghị khoa học Hội Đái Tháo Đường & Nội Tiết toàn quốc lần II, Nhà xuất bản y học, trang 83-390 Nguyễn Sào Trung (2001), "Phương pháp chọc hút kim nhỏ để chẩn đoán tế bào học " Y hoc tp Hồ Chí Minh,chuyên đề giải phẫu bệnh, tập 5, số 1, trang 14-19, số 2 trang 74-80 Trần Văn Thiệp.& cộng sự (2003) “Đánh giá và xử trí hạt giáp ”. Y hoc Tp HCM, chuyên đề giải phẫu bệnh, tập 7(4), trang 110-117 Corias.A, Eunaudi. S, Chiorboli.E (2003), “Accuracy of fine needle aspiration biopsy of thyroid nodule in detecting malignancy in childhood: comparison with conventional clinical, laboratory, and imaging approaches”. The journal of clinical Endocrinology & Metabolism, 86 (10): 4644- 4648 Gideon Bahar, MD, Diana Braslasky, MD,( 2003). “The cytological and clinical value of the thyroid " Follicular lesion", American Journal of otolaryngology; Vol 24; (4): 217-220 Hamburger MD .(2000) “Diagnosis of thyroid nodules by fine needle Biopsy: use ang abuse”. Journal of clinical endocrinology and Metabolism. Vol 79. (2) : 335-339 Khoo ML. Asa SL, Witterick IJ . (Jul-2002) “ Thyroid calcification and its association with thyroid carcinoma ” Head Neck, 24(7) 651-5 KumaH, DaykinJ, Holder R, Warkinson JC, Sheppand MC, Franklyn JA (1999). “Gender clinical findings, and serum thyrotropin measurement in the prediction of thyroid neoplasia in 1005 patients presenting with thyroid enlargement and investigated by fine needle aspiration cytology.” PMID: 10595459 Pubmed Hussein Gharib, MD., FACE.(2003) “Fine needle biopsy of the thyroid gland”. Thyroid fuction Tests, 8: 400-412

2 3 4

5

6 7 8

9

10

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->