P. 1
Sang Kien Kinh Nghiem Tich Hop Giao Duc Moi Truongtrong Giang Day Vat Li

Sang Kien Kinh Nghiem Tich Hop Giao Duc Moi Truongtrong Giang Day Vat Li

|Views: 3,927|Likes:
Được xuất bản bởicanhtranphu

More info:

Categories:Types, School Work
Published by: canhtranphu on Sep 07, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

02/05/2014

pdf

text

original

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN ĐÔNG HOÀ TRƯỜNG :THCS TÔN ĐỨC THẮNG TỔ: LÍ – CÔNG NGHỆ --- –¯ — ---

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY VẬT LÍ

HỌ VÀ TÊN GIÁO VIÊN

: NGUYỄN THỊ NGỌC THỦY

Hòa Thành, tháng4, năm 2010

GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy

1

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN ĐÔNG HOÀ TRƯỜNG :THCS TÔN ĐỨC THẮNG TỔ: LÍ – CÔNG NGHỆ --- –¯— ---

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY VẬT LÍ

HỌ VÀ TÊN GIÁO VIÊN

: NGUYỄN THỊ NGỌC THỦY

Hòa Thành,tháng 4, năm 2010

GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy

2

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

MỤC LỤC

I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 2. Mục đích nghiên cứu 3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu 6. Nội dung đề tài II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI Chương I: Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Cơ sở pháp lý 2. Cơ sở lý luận 3. Cơ sở thực tiễn Chương II: Thực trạng của đề tài nghiên cứu 1. Khái quát phạm vi 2. Thực trạng của đề tài nghiên cứu 3. Nguyên nhân Chương III: Giải pháp chủ yếu để thực hiện đề tài 1. Cơ sở đề xuất các giải pháp 2. Các giải pháp chủ yếu 3. Tổ chức thực hiện III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận 2. Kiến nghị IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4 4 4 5 5 5 5 6 6 6 6 7 7 7 7 8 8 8 9 10 16 16 16 18

GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy

3

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY VẬT LÍ
I. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài: Không ai có thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của môi trường đối với đời sống con người. Bởi môi trường không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển mà còn là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên, các chất thải của đời sống và sản xuất, đồng thời là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Nhưng môi trường hiện nay đang xuống cấp, nhiều nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng. Vì vậy, môi trường cần được bảo vệ, bảo vệ môi trường hiện nay đang là vấn đề mang tính toàn cầu. Ở nước ta, đó cũng là vấn đề được quan tâm sâu sắc của tất cả các ngành, các cấp. Năm 2005, ngành giáo dục đã có Chỉ thị về việc tăng cường giáo dục bảo vệ môi trường, trong đó nhiệm vụ trọng tâm là trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng về môi trường và bảo vệ môi trường bằng nhiều hình thức phù hợp như thông qua các môn học và hoạt động ngoại khoá... Vì vậy, để đáp ứng những yêu cầu đề ra, cùng với các môn học khác, trong quá trình giảng dạy Vật lí việc lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường là vấn đề không thể thiếu. 2. Mục đích nghiên cứu: Việc giáo dục bảo vệ môi trường trong giảng dạy Vật lí nhằm mục đích để tất cả các em hiểu được bản chất của các vấn đề về môi trường như tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, tính hữu hạn của tài nguyên, thiên nhiên và khả năng chịu tải của môi trường, quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển. Bên cạnh đó nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của các vấn đề về môi trường như một nguồn

GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy

4

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

lực để sinh sống, lao động và phát triển. Từ đó có thái độ, có ý thức trách nhiệm, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường. 3. Đối tượng viết đề tài và phạm vi nghiên cứu: Đề tài “Phương pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường đối với bộ môn Vật lí” được nghiên cứu và viết dựa vào đặc điểm tâm sinh lí của các đối tượng học sinh các khối lớp 6,7,8,9 THCS và dựa vào hoạt động dạy của thầy và học của học sinh THCS.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:

Qua đề tài “Phương pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường đối với bộ môn Vật lí” sẽ giúp học sinh có ý thức tự giác, có tinh thần trách nhiệm, có kĩ năng nhận thức, có cách ứng xử đúng đắn, tích cực với các vấn đề môi trường nảy sinh. Đồng thời sẽ có hành động cụ thể để bảo vệ môi trường, tuyên truyền, vận động bảo vệ môi trường trong gia đình, nhà trường và cộng đồng.
5. Phương pháp nghiên cứu:

- Dựa vào thực tế giảng dạy, dự giờ, trao đổi kinh nghiệm của các đồng nghiệp, thông qua tham khảo sách báo, các thông tin đại chúng. - Dựa vào công tác điều tra, khảo sát, tham quan, nghiên cứu tình hình môi trường ở địa phương, thảo luận phương án xử lí. - Dựa vào kinh nghiệm thực tế, các hoạt động thực tiễn, từ đó phân tích, tổng hợp để đưa ra các giải pháp giáo dục bảo vệ môi trường. 6. Nội dung của đề tài:

PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY VẬT LÝ”

“PHƯƠNG

GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy

5

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI: Chương I: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Cơ sở pháp lí: - Căn cứ vào chủ trương của Đảng và Nhà nước, của ngành Giáo dục và Đào tạo về công tác giáo dục bảo vệ môi trường. Căn cứ vào Luật bảo vệ môi trường 2005. Căn cứ quyết định1363/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”. Căn cứ quyết định 256/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến 2020, xác định BVMT là bộ phận cấu thành không thể tách rời của chiến lược kinh tế - xã hội, là cơ sở quan trọng đảm bảo phát triển bền vững đất nước. - Căn cứ chỉ thị số 32/ 2006/ CT- BGD & ĐT ngày 01-8-2006 về nhiệm vụ trọng tâm giáo dục phổ thông. Chỉ thị 40-CT/TW của ban bí thư về việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục. - Căn cứ vào các văn bản chỉ đạo của Sở Giáo dục & đào tạo tỉnh Phú Yên, của phòng Giáo dục và đào tạo huyện Đông Hoà, của trường THCS Tôn Đức Thắng năm học 2008-2009. 2. Cơ sở lí luận: Sự phát triển nhanh chóng về Kinh tế- xã hội trong những năm qua đã làm đổi mới XHVN, chỉ số kinh tế không ngừng nâng cao. Tuy nhiên sự phát triển kinh tế chưa đảm bảo cân bằng với việc bảo vệ môi trường, những hiểm họa suy thoái môi trường ngày càng đe dọa cuộc sống của loài người. Chính vì vậy bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại và của mỗi quốc gia. Việc tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường đối với bộ môn Vật lí là việc làm cần thiết giúp học sinh hiểu biết được mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và vai trò của con người trong đó. Từ đó sẽ có thái độ thân thiện với môi
GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy 6

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

trường, yêu quý tôn trọng thiên nhiên, tôn trọng di sản văn hóa và ý thức được hành động trước vấn đề môi trường nảy sinh. 3. Cơ sở thực tiễn: Hiện nay con người đã khai thác quá mức và sử dụng không hợp lí các nguồn tài nguyên, dẫn đến mất cân bằng sinh thái, môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng và đang đe dọa đến cuộc sống con người như: Ô nhiễm không khí, hiệu ứng nhà kính, nguồn nước bị ô nhiễm, rừng bị suy giảm…. Vì thế, việc lựa chọn địa chỉ, nội dung, để tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong giảng dạy Vật lí là vấn đề quan trọng và cần thiết nhằm trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức đầy đủ về môi trường và kĩ năng bảo vệ môi trường phù hợp với tâm lí lứa tuổi. Bên cạnh đó tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường. Chương II: Thực trạng của đề tài đang nghiên cứu
1. Khái quát phạm vi nghiên cứu:

Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi và trình độ nhận thức kiến thức bộ môn Vật lí của học sinh THCS. Qua thực tế giảng dạy, dự giờ, trao đổi các đồng nghiệp, qua công tác điều tra, khảo sát, tham quan, nghiên cứu tình hình môi trường ở địa phương. Nhận thấy rằng việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường đối với bộ môn Vật lí là một biện pháp tốt nhất nhằm giúp các em có ý thức, trách nhiệm giữ gìn môi trường xung quanh ngày càng xanh, sạch, đẹp.
2. Thực trạng của đề tài nghiên cứu:

Bảo vệ môi trường hiện nay đang là nhiệm vụ của toàn xã hội, trong đó có học sinh. Tuy nhiên, rất nhiều học sinh không mấy quan tâm, thậm chí thờ ơ đối với việc bảo vệ môi trường. Vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên cần giáo dục học sinh biết cách bảo vệ môi trường, trước hết là môi trường sống xung quanh các em.
GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy 7

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

Trong quá trình dạy học Vật lí, tôi chắc rằng các giáo viên đã đề cập đến các biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường. Tuy nhiên việc làm này còn chưa thường xuyên, đôi khi còn mang tính sách vở, thiếu sự gần gũi với đời sống thực tế học sinh. Trong khi đó, Vật lí là môn khoa học mang tính thực tiễn cao, chúng ta hoàn toàn có thể vừa đưa ra các biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường liên quan đến từng nội dung trong các bài học cụ thể lại vừa gần gũi với sự hiểu biết của học sinh. Chính điều này sẽ có tác dụng kích thích óc tò mò, sáng tạo, hứng thú học tập, mở rộng sự hiểu biết của học sinh, đặc biệt là hướng sự quan tâm của các em tới môi trường để từ đó biết cách bảo vệ môi trường. 3. Nguyên nhân: - Thời lượng của một tiết học còn hạn chế (45ph) do đó giáo viên giảng dạy ngại đi sâu vào việc tích hợp nội dung bảo vệ môi trường. - Do điều kiện phục vụ dạy học, cơ sở vật chất trang thiết bị còn thiếu, tài liệu, sách báo cho GV và HS tham khảo chưa được phong phú, chưa đáp ứng được nhu cầu và hấp dẫn học sinh. - Kĩ năng sử dụng các phương tiện phục vụ việc dạy học hiện đại của giáo viên còn hạn chế. Như việc sử dụng máy vi tính để chuẩn bị bài, cập nhật lưu trữ thông tin; sử dụng máy chiếu projecter để giảng dạy, sưu tầm các tư liệu điện tử, tranh ảnh, phim liên quan đến môi trường ... Chương III: Giải pháp chủ yếu để tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong giảng dạy Vật lí. 1. Cơ sở đề xuất giải pháp: Hiện nay chúng ta đang đứng trước tình trạng môi trường bị suy thoái nghiêm trọng. Nguyên nhân do sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp đã thải ra môi trường một lượng khí thải rất lớn, làm ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường sống. Tuy nhiên việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường như trên sẽ
GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy 8

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

không đem lại hiệu quả, học sinh sẽ không hiểu biết về tác động của môi trường đối với loài người, như thế sẽ làm môi trường ngày càng mất cân bằng về sinh thái, đe dọa nghiêm trọng đến cuộc sống con người. Để cho nội dung tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường có hiệu quả tôi mạnh dạn trình bày một số phương pháp tích hợp. 2. Các giải pháp chủ yếu: 2.1. Xây dựng nội dung tích hợp phù hợp với nội dung bài học Để học sinh nhận thức đúng về vai trò của môi trường đối với cuộc sống, từ đó có những hành động cụ thể phù hợp thì trước hết cần đưa học sinh đến những vấn đề gần gũi hoặc phù hợp với nhận thức của các em. Đối với bộ môn Vật lí, việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh cần thông qua các nội dung của từng bài học cụ thể trong chương trình học. 2.2. Thu thập tài liệu sinh động và có sức thuyết phục. - Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc tìm kiếm bất cứ tư liệu nào trên mạng internet cũng trở nên dễ dàng. Đây là một điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và việc tích hợp bảo vệ môi trường nói riêng. - Sau khi xây dựng được nội dung tích hợp giáo viên tìm và lựa chọn những hình ảnh sinh động, ấn tượng phù hợp với yêu cầu để đưa vào bài giảng. 2.3. Sử dụng máy chiếu projecter để dạy nội dung tích hợp. Việc sử dụng máy vi tính kết hợp với máy chiếu để dạy học sẽ phát huy cao tính trực quan của bài dạy. Đặc biệt phần tích hợp bảo vệ môi trường đòi hỏi không chỉ cung cấp kiến thức, kĩ năng mà quan trọng là hình thành ở học sinh thái độ trước các vấn đề về môi trường, điều này sẽ đạt được hiệu quả cao khi các em

GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy

9

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

được chứng kiến những hình ảnh về thực trạng cũng như hậu quả của ô nhiễm môi trường.

3. Tổ chức triển khai thực hiện: 3.1. Chuẩn bị nội dung trước mỗi bài dạy Trước hết giáo viên tìm hiểu vấn đề cần tích hợp, chọn lựa chủ đề thật gần gũi, thiết thực và sát với nội dung bài học. Ví dụ: Trong bài “Năng suất toả nhiệt của nhiên liệu - Vật lí 8”. Giáo viên chọn chủ đề khai thác, sử dụng nguồn nhiên liệu hoá thạch dẫn đến những thảm hoạ về môi trường và những biện pháp khắc phục. * Đối với mỗi nội dung cần tích hợp, giáo viên có thể yêu cầu học sinh:  Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường.  Học sinh tự đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường hoặc giáo viên đưa ra để học sinh tìm hiểu.  Giải thích một số hiện tượng thường gặp trong cuộc sống của các em. 3.2. Thu thập thông tin và hình ảnh trên mạng internet Cách thông dụng nhất để tìm kiếm hình ảnh trên mạng là vào trang web www.google.com.vn , gõ từ khoá liên quan đến chủ đề ta đang cần tìm. Khi chọn được hình ảnh thích hợp nên lưu lại trong một tập tin với định dạng cỡ ảnh to nhất (khi đưa vào giáo án điện tử hình ảnh sẽ đạt chất lượng cao hơn) 3.3. Lựa chọn thời điểm thích hợp trong tiến trình giảng dạy để tích hợp
GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy 10

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

Việc lựa chọn thời điểm và nội dung để tích hợp hết sức quan trọng. Một mặt nó làm cho bài dạy trở nên sinh động và có ý nghĩa, mặt khác nếu lựa chọn không phù hợp sẽ làm cho bài dạy bị đứt quãng và xa rời trọng tâm kiến thức. Ý thức được điều này giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng các phương án tích hợp để vừa đảm bảo dạy đúng, dạy đủ vừa đạt được mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường.

* Ví dụ: Khi dạy bài: Bài 20: yên? - Vật lí 8

Nguyên tử, phân tử chuyển động hay đứng

Vị trí tích hợp: Sau khi học sinh nắm được khái niệm hiện tượng khuếch tán. Hiện tượng khuếch tán là hiện tượng các chất tự hoà lẫn vào nhau. Hiện tượng khuếch tán có thể xảy ra ở chất lỏng, chất khí, giữa chất lỏng và chất khí, thậm chí còn xảy ra ở chất rắn. Mặc dù không khí nhẹ hơn nước biển nhưng ở trong nước biển vẫn có không khí. Nếu thiếu không khí, các loài sinh vật trong lòng đại dương không thể sống được. Có nhiều tàu chở dầu bị tai nạn làm dầu loang rộng trên mặt biển (Chẳng hạn: Tàu Prestige chở hơn 77000 tấn dầu chìm ngoài khơi vùng biển Tây Ban Nha làm tràn dầu trên biển trở thành sự cố tràn dầu nguy hại nhất từ trước đến nay; Tàu chở cần trục đâm phải tàu chở dầu ngoài khơi phía Tây Hàn Quốc khiến 66000 thùng dầu thô bị tràn ra biển...) làm cho không khí không thể khuếch tán vào nước làm chết rất nhiều sinh vật sống trong lòng đại dương, đồng thời cũng ảnh hưởng đến nhiều loài sinh vật biển khác nữa. * Biện pháp khắc phục: Các ngành chức năng cần kiểm tra tàu chở dầu trước khi lưu thông trên biển và cần đảm bảo các quy tắc an toàn trong suốt quá trình lưu thông. Các tàu thường xuyên liên lạc với trung tâm cũng như với các tàu khác trong khu vực lưu thông, tránh các vụ tai nạn đáng tiếc xảy ra, không những gây

GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy

11

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

thiệt hại cho người và tài sản mà còn làm ô nhiễm môi trường, rất lâu sau mới có thể khắc phục được.

Vệt dầu loang để lại trên biển sau vụ va chạm ở Hàn Quốc * Ví dụ: Khi dạy bài: Bài 21: Đối lưu - Bức xạ nhiệt

Vị trí tích hợp: Sau khi học sinh đã làm các bài tập vận dụng phần đối lưu * Đối lưu là sự truyền nhiệt năng bằng các dòng chất lỏng hoặc chất khí. Đó là hình thức truyền nhiệt chủ yếu của chất lỏng và chất khí.  Trong phòng ngủ kín không có đối lưu không khí sẽ rất ngột ngạt, khó chịu. Biện pháp khắc phục: Nên mở cửa sổ trước khi đi ngủ khoảng 15 phút để không khí lưu thông dễ dàng, giúp giấc ngủ ngon hơn, sâu hơn.  Trong bếp lò hay các lò cao ở các xí nghiệp, nhà máy khi không khí trong lò bị đốt nóng sẽ rất ngột ngạt. *Biện pháp khắc phục: Người ta dùng những ống khói rất cao để thông gió (tạo ra lực hút khí) khi đó không khí trong lò bị đốt nóng theo ống khói bay lên đồng thời không khí lạnh ở bên ngoài lùa vào cửa lò. Nhờ đó luôn có đủ không khí để đốt cháy nhiên liệu. Mặt khác ống khói cao làm cho khói thải ra bay lên cao, chống ô nhiễm môi trường.  Khi dùng rơm, trấu, mạt cưa để nấu bếp, ta thấy có rất nhiều bụi làm không gian bếp ngột ngạt. *Biện pháp khắc phục: Người ta đã chế tạo loại bếp có ống khói để khói bụi có thể thoát lên cao.

GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy

12

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

* Ví dụ: Khi dạy bài: Bài 26: về nhiên liệu thường gặp.

Năng suất toả nhiệt của nhiên liệu

Vị trí tích hợp: Sau khi học sinh đã tìm hiểu nhiên liệu là gì và lấy các ví dụ Hiện nay, than đá, dầu mỏ, khí đốt đang là các nhiên liệu chủ yếu của con người. Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng các nhiên liệu này đã và đang gây những hậu quả vô cùng nghiêm trọng ảnh hưởng đến môi trường sống của con người: Hạn hán, lũ lụt, bão, sóng thần, khí thải từ nhà máy, xe cộ làm ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất gây mưa axít, thủng tầng ôzôn...

GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy

13

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

Hậu quả của việc khai thác và sử dụng năng lượng hoá thạch

Hậu quả của việc khai thác và sử dụng năng lượng hoá thạch

Vậy con người cần làm gì để bảo vệ môi trường? Chúng ta biết rằng, các nguồn năng lượng nói trên không phải vô tận mà chỉ trong vòng khoảng năm mươi năm nữa các nguồn nhiên liệu này sẽ cạn kiệt. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ vô cùng cấp bách của con người là phải tiết kiệm các nhiên liệu sẵn có, đồng thời phải nghiên cứu tìm ra các nhiên liệu mới thay thế. Hiện nay con người đã tìm ra nhiều nguồn năng lượng sạch, dồi dào phục vụ cho sản xuất và cuộc sống:  Năng lượng từ đại dương (nước biển): phong phú nhất là các quốc gia có biển lớn. Sóng và thuỷ triều làm quay tuabin máy phát điện.  Năng lượng Mặt Trời: Dùng chạy pin Mặt Trời Bắt chước quá trình quang hợp của thực vật, hiện nay các nhà khoa học đang nghiên cứu tìm cách biến đổi năng lượng của ánh nắng (nguồn nguyên liệu vô tận) thành nguồn nhiên liệu sạch và thân thiện với môi trường.  Năng lượng gió: Sử dụng sức gió để quay tuabin máy phát điện. Đây là nguồn năng lượng dồi dào, có ở mọi nơi.  Dầu thực vật dùng để chạy xe, chẳng hạn cải dầu.  Năng lượng từ sự lên men sinh học: Được tạo từ sự lên men sinh học của đồ phế thải sinh hoạt nhằm tạo khí mêtan.
GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy 14

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

* Một trong những nhiên liệu có triển vọng thay thế cho dầu và khí đốt là hiđrô, vì: - Hiđrô có năng suất tỏa nhiệt cao hơn dầu và khí đốt. Đây là khí có nhiệt cháy cao nhất trong tất cả các nhiên liệu có trong thiên nhiên, đã được sử dụng làm nhiên liệu phóng các tàu vũ trụ.

- Hiđrô được điều chế bằng cách dùng năng lượng Mặt Trời để điện phân nước biển. Như vậy, nguồn nguyên liệu để điều chế hiđrô có thể coi là vô tận. - Hiđrô lỏng có thể vận chuyển dễ dàng bằng các bình chứa hoặc ống dẫn. - Hiđrô khi bị đốt cháy không toả ra các khí độc như các nhiên liệu khác. * Ví dụ: Khi dạy bài: Bài 28: Động cơ nhiệt

Vị trí tích hợp: Sau khi học sinh trả lời C5 phần vận dụng Động cơ nhiệt được sử dụng rất rộng rãi trong cuộc sống. Tuy nhiên, động cơ nhiệt lại gây ra những tác hại rất lớn đối với môi trường sống của chúng ta: - Gây ra tiếng ồn - Xả vào môi trường sống các khí độc sinh ra từ việc đốt cháy nhiên liệu. *Biện pháp khắc phục:  Hạn chế sử dụng động cơ nhiệt.  Cải tiến động cơ nhiệt thân thiện với môi trường.
GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy 15

Trường THCS Tôn Đức Thắng Sáng kiến kinh nghiệm  Nghiên cứu, thử nghiệm để đưa vào sử dụng rộng rãi loại xăng

ethanol, đây là loại nhiên liệu tiết kiệm và giảm bớt khí thải CO2 ra môi trường. Hiện ở Việt Nam mới thử nghiệm cho xe Taxi.  Thay thế động cơ nhiệt bằng những động cơ khác không làm hoặc ít làm ô nhiễm môi trường: Vừa qua hãng GM và Segway đã phối hợp sản xuất thành công loại ôtô 2 bánh đầu tiên trên thế giới với 2 chỗ ngồi. Loại xe này sử dụng một bộ pin để hoạt động, vì vậy rất thân thiện với môi trường. Loại xe này có thể chạy với vận tốc 56km/h. Chỉ cần mất vài phút cho một lần sạc pin, chiếc xe có thể chạy được tới 56km. * Qua quá trình tổ chức triển khai thực hiện chuyên đề trên tôi nhận thấy rằng học sinh yêu thích môn học hơn, chất lượng bộ môn tăng lên rõ rệt, số học sinh khá giỏi tăng. Cụ thể học kì I năm học 2009-2010 chất lượng bộ môn Vật lí tăng hơn so với cùng kì là 8,6%, học sinh yếu kém giảm. Tuy nhiên việc quan trọng nhất là hầu hết tất cả các học sinh đều có ý thức tự giác bảo vệ môi trường xung quanh, làm cho khuông viên trường THCS Tôn Đức Thắng trở nên xanh, sạch, đẹp. III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận: Trong quá trình dạy học, tôi rất chú trọng tới việc giáo dục cho học sinh các biện pháp bảo vệ môi trường. Tôi nhận thấy, việc học sinh được tiếp cận với những vấn đề hết sức gần gũi trong cuộc sống đã làm cho các em học tập sôi nổi, chủ động và tích cực hơn. Các em rất hứng thú trong việc tìm hiểu, đưa ra nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, đồng thời đưa ra các biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường và một điều quan trọng mà tôi nhận thấy là các em đã biết quan tâm đến môi trường nhiều hơn, có ý thức tham gia bảo vệ môi trường tốt hơn. 2. Kiến nghị: - Các cấp lãnh đạo có kế hoạch cấp thêm cho trường đầu chiếu projecter để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên giảng dạy bằng giáo án điện tử. - Sở Giáo dục và Đào tạo cần tổ chức học tập chuyên đề “Phương pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường” và chuyên đề “Sử dụng tiết kiệm năng lượng có hiệu quả” đối với bộ môn Vật lí.
GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy 16

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

Hòa Thành, ngày 8 tháng 4 năm 2010 Người viết Nguyễn Thị Ngọc Thủy

ĐÁNH GIÁ
1. Đánh giá của Hội đồng khoa học nhà trường Hội đồng khoa học trường THCS Tôn Đức Thắng thống nhất xếp loại:____ Chủ tịch Hội đồng khoa học trường Hiệu trưởng

2. Đánh giá của Hội đồng khoa học ngành Hội đồng khoa học huyện Đông Hòa thống nhất xếp loại:____ Chủ tịch Hội đồng khoa học ngành Trưởng phòng

GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy

17

Trường THCS Tôn Đức Thắng

Sáng kiến kinh nghiệm

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục ( Nhà xuất bản giáo dục ) 2. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dụcTHCS môn vật lí (Nhà xuất bản giáo dục ) 3. Phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh ( Nhà xuất bản giáo dục ) 4. Phương pháp dạy học vật lí ( Nhà xuất bản giáo dục ) 5. Sách giáo khoa vât lí8 THCS( Nhà xuất bản giáo dục ) 6. Kế hoạch nhiệm vụ năm học 2009-2010 của PGD huyện Đông Hòa và trường THCS Tôn Đức Thắng. 7. Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Vật lí THCS ( Nhà xuất bản giáo dục)

GV: Nguyễn Thị Ngọc Thủy

18

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->