Adam Smith-cha de Cua Kinh Te Hoc

Kiếm Trong Diễn Ðàn

þÿ
Show Threads Kiếm Chi Tiết Chức Năng Ghi Danh Các bài trong ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc

Ti?p T?c

Show Posts

Navigation
BacBaPhi's > CLB Kiến thức của bạn > Lịch Sử và Văn Hóa > Lịch Sử và Văn Hóa Thế Giới > Nhân vật lịch sử và danh nhân văn hoá thế giới

Tên thành viên þÿ Mật mã

Ghi Nhớ?
Ðang Nh?p

Adam Smith ( 1723 - 1790 ) - Cha đẻ của nền kinh tế hiện đại

Kiếm Trong Diễn Ðàn

þÿ
Show Threads Kiếm Chi Tiết Find All Thanked Posts Search Blogs

Ti?p T?c

Show Posts

þÿ
Kiếm Chi Tiết Go to Page...

Ti?p T?c

þÿ

Trang 1/3 Ðiều Chỉnh

1 2 3 > Xếp Bài

#1

06-03-2009, 11:25 AM Adam Smith ( 1723 - 1790 ) - Cha đẻ của nền kinh tế hiện đại

Adonis

Tiểu sử Adam Smith sinh năm 1723 tại thị trấn Kircaldy, vùng Fife , Scotland . Cha ông mất trước khi ông sinh, ông được mẹ ông một mình nuôi dưỡng. Năm 14 tuổi, Smith đã nhập học Trường đại học Glasglow, một trong những trường nổi tiếng nhất của Scotland . Năm 17 tuổi, Smith đã giành được một học bổng tại trường Balliol, trực thuộc đại học Oxford . Tại Oxford, Adam Smith tập trung vào việc học tiếng Hy Lạp và văn học châu Âu. Cũng tại đây, Smith đã được đọc cuốn sách "Luận thuyết về bản chất con người " (A treatise of human nature) do David Hume viết. (David Hume cũng là một người Scotland , sinh trước Smith 12 năm. Ông cũng là một trong những tư tưởng lớn thời bấy giờ và cũng là bạn thân của Adam Smith.) Cuốn sách đã đánh dấu một bước ngoặt trong tư tưởng của Adam Smith. Cũng vì đam mê cuốn sách, Adam Smith đã có những mâu thuẫn với ban giám hiệu và các giáo sư ở Oxford . Và từ đó cho đến hết đời, Adam Smith luôn có thái độ khinh thị với Oxford và Cambridge . Sau khi tốt nghiệp tại Oxford , Smith quay trở lại Scotland và giảng dạy tại các trường đại học. Năm 1751, khi mới 28 tuổi, Smith trở thành giáo sư môn Logic học tại trường đại học Glasgow và rồi 1 năm sau đó được bổ nhiệm làm trưởng khoa "Triết học đạo đức" (Moral Philosophy) . Năm 1758, ông xuất bản cuốn sách đầu tiên, "Lý thuyết về những cảm nghĩ đạo đức" (Theory of Moral Sentiments). Năm 1764, Smith từ giã công việc giảng dạy trên và trở thành giáo viên cho vị bá tước trẻ vùng Buccleuch. Trong thời gian kèm cặp vị bá tước trẻ, Smith đã đi khắp nước Pháp và Thuỵ Sĩ. Tại đây, ông đã gặp những tư tưởng lớn đương thời như Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Anne-RobertJacques Turgot.v.v..

Tham gia ngày: Jul 2004 Vị trí: BacBaPhi"s Everlasting Love Bài gởi: 16,644 Số lần Cảm Ơn: 5,612 Được Cảm Ơn 3,097 lần trong 1,306 Bài Viết

Sau đó không lâu, Smith xin nghỉ hưu và trở về quê nhà. Trong suốt gần 10 năm, dựa trên lương hưu từ vị bá tước vùng Buccleuch, Smith chuyên tâm vào việc nghiên cứu và viết sách. Để rồi năm 1776, ông đã cho xuất bản kiệt tác "Tìm hiểu về bản chẩt và nguyên nhân của sự giàu có của các quốc gia" (An Inquiry to the Nature and Causes of the Wealth of Nations). Cùng năm đó, bản tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ đã được ký, mở đầu cho cuộc cách mạng, và cũng năm đó, David Hume, người bạn thân của Smith, qua đời. Xin nói thêm rằng Adam Smith phản đối việc chính phủ Anh tiếp tục duy trì hệ thống thuộc địa ở châu Mỹ. Ông lập luận rằng việc duy trì và bảo vệ thuộc địa tốn kém cho vương quốc nhiều hơn số lợi nhuận thu được thực sự từ thuộc địa đó. Xét về mặt kinh tế học, Adam Smith ủng hộ việc thương mại tự do (free trade), vì thế ông lên án gay gắt việc chính phủ Anh áp đặt buôn bán thông thương một chiều với các thuộc địa. Smith chuyển đến sống ở London cho đến năm 1778, ông lại quay trở lại Scotland để giữ chức ủy viên văn hoá của thành phố Edinburgh . Adam Smith không lập gia đình và ông đã qua đời vào ngày 19 tháng 7 năm 1790. Những thành tựu và đóng góp của Adam Smith Khi nói đến Adam Smith người ta sẽ nhắc đến 2 thứ: kiệt tác "An Inquiry into the Nature and Cause of the Wealth of Nations" và "laissez faire" Về quyển sách nổi tiếng của Adam Smith, quyển sách này thường được gọi tắt là "The Wealth of Nations". Những tư tưởng và khái niệm trong quyển sách này đã đưa Adam Smith thành một trong những tư tưởng lớn của thế kỷ 18. Và cũng vì thế ông được suy tôn là "cha đẻ" của thuyết kinh tế hiện đại . Thực ra, một số ý tưởng và khái niệm trong quyển sách không thực sự là mới. Trước Smith, rất nhiều nhà khoa học, triết gia khác như điển hình là Turgot, người mà Smith đã gặp và nói chuyện trong thời gian ông ở Pháp, đã có những ý tưởng tương tự. Tuy nhiên sở dĩ Adam Smith được tôn vinh là vì ông đã thâu tóm được các ý tưởng đó và thêm vào các ý tưởng mới và trình bày một cách hoàn chỉnh. Hơn nữa, ông đã tách đuợc kinh tế ra khỏi chính trị, một điều mà chưa ai làm được, và

Đó là duy trì luật pháp bảo vệ các tài sản cá nhân của từng người. đường. rằng nếu mỗi người phải tham gia tất cả các công đoạn thì chỉ làm được tối đa 1 chiếc một ngày.khiến kinh tế trở thành một môn khoa học độc lập. điều đó không có nghĩa là Smith phủ nhận sự cần thiết của một chính phủ. Smith đã tạo tiền đề cho sự phát triển của kinh tế học. tức trung bình mỗi người 4800 cái. Cùng trong một ví dụ. Chính phủ cũng cần thiết để xây dựng nhưng công trình phục vụ xã hội nói chung như cầu. nhiều người thậm chí không thể làm nổi như thế. Tuy vậy. Không chỉ là một nhà kinh tế. tuy có suy nghĩ đôi chút khác nhau.Về sau. chính phủ có nhiệm vụ rất quan trọng. nơi mà có tối thiểu sự can thiệp của chính phủ. sự thịnh vượng của một quốc gia là dựa trên việc chuyên nghiệp hoá trong lao động. Kể cả những người theo trường phái khác như Keynesian hay Marxist đều dành những sự kính phục đối với ông. Smith là một người ủng hộ một thị trường tự do. Một trong những ý tưởng nổi tiếng của Adam Smith là ông đã lập luận rằng. cũng như bảo vệ bản quyển sang tạo. và ví dụ điển hình là lý thuyết lợi thế tương đối ("theory of comparative advantage") của David Ricardo và John Stuart Mill sau này. nếu từng người được giao làm những nhiệm vụ cụ thể trong quá trình sản xuất. Theo ông. Smith đã dẫn chứng về một xưởng sản xuất đinh ghim mà ông quan sát và lập luận rằng 10 công nhân có thể sản xuất đến 48000 chiếc đinh ghim một ngày. ( tổng hợp ) __________________ . nhưng vẫn dựa trên nền tảng là ý tưởng này. những người theo học thuyết kinh tế "classical" hay "neoclassical". Adam Smith còn được biết đến là một triết gia lỗi lạc. Smith đã nêu rõ ràng.

bản chất của thiên nhiên và Thượng Đế. 11:51 AM Adam Smith (1723-1790) Nhà kinh tế học và tác phẩm "Tài sản quốc gia" Eugenics Invisible Man Tham gia ngày: May 2005 Bài gởi: 2. chẳng hạn từ thời Shakespeare qua các giai đoạn lãng mạn và thời đại Victoria. cần phải hiểu thêm các tư tưởng triết học.323 Số lần Cảm Ơn: 610 Được Cảm Ơn 4. Nhờ lý thuyết về Kinh Tế Học của Adam Smith (1723-1790). Lý thuyết Mác Xít (Marxism) đã đưa tới Cuộc Cách Mạng Cộng Sản Nga xẩy ra vào năm 1917 và sự bành trướng của Đế Quốc Xô Viết sau trận Thế Chiến Thứ Hai. Hình ảnh của bản ngã (the self) đã thay đổi trong văn chương. Charles Dickens đã mở lối cho các nhà văn danh tiếng sau này là Henry James và Henry Adams.783 lần trong 511 Bài Viết Trong công việc tìm hiểu bản chất con người. nhà triết học… đã biểu lộ niềm tin của mình qua các tác phẩm. 1776 là năm các thuộc địa Bắc Mỹ tuyên bố độc lập và "Bản Tuyên Ngôn Độc Lập" của Hoa Kỳ đã tạo ra các nền tảng chính trị của Thế Giới. Các tác phẩm về phân tâm học của Sigmund Freud đã dọn đường cho James Joyce và Virginia Woolf. nhà văn. Charles Dickens đã đạt được cách nhìn sâu sắc nhắm vào các điều phức tạp và các sự bất công của xã hội tư bản. Sau khi Adam Smith bàn luận về thị trường. Adam Smith đã nhìn thấy "một bàn tay vô hình" (an invisible hand) chi phối tài sản và các cách tiêu thụ hàng hóa. các khuynh hướng trí thức quan trọng qua nhiều thế kỷ. Karl Marx đã phân tích bản chất của chế độ tư bản của thời kỳ cuối thế kỷ 19. tới chủ nghĩa cá nhân hiện tại.Adonis Xem hồ sơ Gởi nhắn tin tới Adonis Tìm kiếm các bài viết của #2 06-03-2009. rồi tác giả cắt nghĩa sức mạnh và cách hoạt động của thị trường. các nhà thơ. dịch vụ. Cho nên muốn hiểu rõ các tác phẩm văn học. . Cũng vào năm 1776 xuất hiện tác phẩm "Tài Sản của các Quốc Gia" (the Wealth of Nations) và nền triết học về “tài sản” của Adam Smith đã dẫn đường cho thế giới kinh tế ngày nay. Đã có sự liên hệ giữa cách suy tưởng lý thuyết với các hình ảnh diễn tả trong văn chương.

xứ Tô Cách Lan. một con người ít viết thư từ và đã ra lệnh đốt bỏ một số bản thảo khi gần qua đời vì vậy người đời sau hiểu rõ các tư tưởng của Adam Smith hơn là cuộc đời của nhà Kinh Tế Học này. chỉ biết rằng ông được rửa tội vào ngày 5 tháng 6 năm 1723 tại Kirkcaldy. Người bán và người mua gặp nhau tại thị trường rồi nhờ thị trường mà có sự hòa hợp xã hội. 1/ Cuộc đời của Adam Smith. một ngôi làng đánh cá nhỏ nhưng thịnh vượng với dân số gần 1.500 người và nơi này gần thành phố Edinbug. Tác phẩm "Tài Sản của các Quốc Gia" đã trình bày các vấn đề căn bản của trật tự xã hội và sự tiến bộ của con người trong một xã hội mà cá nhân đi theo con đường tư lợi (self-interest). đã thảo luận sự liên hệ giữa tự do và trật tự. Không có tài liệu nào ghi rõ ngày sinh của Adam Smith. đã sản xuất ra các mặt hàng mà các người khác cần mua. Adam Smith là con trai của ông Adam Smith trong lần lập gia đình thứ hai với bà Magaret Douglas. phân tích các phương thức kinh tế (economic processes). con gái của một chủ đất giàu có."Tài Sản của các Quốc Gia" là tác phẩm đầu tiên viết về ngành chính trị kinh tế học (political economy). Adam Smith là một nhân vật trầm lặng. tấn công hệ thống trọng thương (the mercantile system) của nước Anh bởi vì hệ thống này đã giới hạn nền tự do mậu dịch (free trade). . Ông Adam Smith cha chỉ là một người kiểm soát thuế vụ. sống một cuộc đời ẩn dật. đã qua đời trước khi Adam sinh ra.

không dùng tiếng La Tinh. Trong thời gian sáu năm tại trường đại học này. Khi trở lại Glasgow. họ phải đọc các tác phẩm của các tác giả Hy Lạp và La Mã. và các quan điểm về Kinh Tế và Triết Học của ông Hutcheson đã ảnh hưởng rất mạnh tới Adam Smith sau này. Adam Smith theo học Đại Học Glasgow vào thời gian này đã là một trung tâm danh tiếng của thời kỳ Khai Sáng (Enlightenment). Nhờ các liên hệ của gia đình bên mẹ. cậu bé Adam đã được nhóm người kia bỏ lại. Adam Smith đã nói tới "Tiến Sĩ Hutcheson không bao giờ có thể quên được". Các bài thuyết trình công này gồm nhiều đề tài từ môn tu từ học (rhetoric) tới ngành chính trị kinh tế học (political economy). Tạp Chí "Quý Ông" (Gentleman 's Magazine) đã bình luận rằng "cách phát âm và thể văn của ông Adam Smith đã hơn hẳn những thứ đang dùng tại xứ Tô Cách Lan".Người ta không biết gì về tuổi trẻ của Adam ngoài câu chuyện kể lại rằng năm lên 4 tuổi. trở thành Giáo Sư môn Triết Học Luân Lý (moral philosophy). đây là một hình thức giáo dục với tinh thần "cải tiến" (improvement) được các nhà trí thức thời đó ưa chuộng. Trong bài điếu văn viết về Adam Smith nhiều năm về sau. Adam Smith nhận được một học bổng. nhờ sự trợ giúp của nhà luật học và triết học Lord Henry Kames. . Tốt nghiệp năm 1740. Trình độ hiểu biết của Adam Smith đã khiến cho ông được mời làm Giáo Sư Lý Luận (professor of logic) tại Đại Học Glasgow vào năm 1751 ở tuổi 27. là người đầu tiên dạy sinh viên bằng tiếng Anh. đạo đức học (ethics). một môn học bao gồm các ngành thần học tự nhiên (natural theology). các sinh viên học tập cách tự học (self-education) để quán triệt các nền triết học cổ điển và đương thời. Adam Smith đi tìm việc làm. cùng với các công trình của các giáo sư đại học thời đó. theo như lời Adam Smith mô tả về sau. Năm 1737 và ở vào tuổi 14. Trong một bức thư viết 15 năm sau. luật học (jurisprudence) và chính trị kinh tế học. Thời gian đảm nhận chức vụ Giáo Sư tại Đại Học Glasgow là "thời kỳ sung sướng nhất và danh dự nhất của đời tôi". rồi năm sau. Adam Smith được nhận làm Giảng Sư tại Đại Học Edinburg với nhiệm vụ phụ trách các buổi thuyết trình công (public lectures). theo học trường Balliol thuộc Đại Học Oxford. Giảng dạy tại đại học này có Giáo Sư Francis Hutcheson nổi danh về ngành triết học luân lý (moral philosophy). Adam đã bị bắt cóc do một nhóm người Gypsies sống lang thang và sau cuộc báo động tìm kiếm.

Các nhà trí thức và khoa học gồm có Joseph Black. Tác phẩm "Lý thuyết về các tình cảm luân lý" (*)đã sớm mang lại danh tiếng cho Adam Smith. ông lo công việc của trường đại học khiến cho vào năm 1758. Adam Smith được bầu làm khoa trưởng. nhiều người nắm giữ các chức vụ cao cấp của chính quyền. kể cả cách phán xét các hành vi của chính mình trong việc tư lợi (selfinterest) và tự bảo tồn (self-preservation). James Watt là nhà phát minh ra máy hơi nước. mang tính chất phân tích và tác phẩm này đã tạo nên thứ ấn tượng sâu xa. người sáng lập ra Câu Lạc Bộ Chính Trị Kinh Tế Học (the Political Economy Club). thường chấp nhận hay lên án các hành động của chính ta và của các người khác. David Hume là nhà triết học danh tiếng. Tác phẩm đầu tiên của Adam Smith là cuốn "Lý thuyết về các Tình Cảm Luân Lý" (The Theory of Moral Sentiments) xuất bản vào năm 1759.Mỗi ngày trong tuần lễ. ông Adam thuyết giảng từ 7 tới 8 sáng trước lớp học tối đa 90 sinh viên tuổi từ 14 tới 16. không do chủ đích. còn đợt giảng bài từ 11 giờ tới 12 giờ trưa được thực hiện 3 lần một tuần lễ. Adam Smith còn quen thân với Andrew Cochran. một người tiền phong về ngành Hóa Học. một nhà buôn. nhờ đó Adam Smith thu thập được nhiều hiểu biết của thế giới thương mại để rồi về sau viết ra tác phẩm "Tài Sản của các Quốc Gia". Adam Smith đã mô tả qua tác phẩm các nguyên tắc về "bản chất con người" (human nature) và đặt vấn đề về nguồn gốc của khả năng tạo ra các phán xét luân lý. Các cá nhân được xã hội hóa để trở nên các thành viên giàng buộc bởi giai cấp và theo khuynh hướng thị trường (market-oriented) nhờ đó hệ thống kinh tế vận chuyển”. chải chuốt. Các bạn và người quen của Adam Smith trong thời gian này gồm một số nhà quý tộc. Vào buổi chiều. Adam Smith đã cho rằng trong mỗi người chúng ta có một "con người bên trong" (an inner man) đóng vai trò một người khách quan không thiên vị. Robert Foulis là nhà sáng lập ra Viện Hàn Lâm Kiểu Mẫu của nước Anh (The British Academy of Design). chứa đựng nhiều giai thoại. để làm thăng tiến các lợi ích (interest) của xã hội. Qua tác phẩm "Các Tình Cảm Luân Lý". Adam Smith đã có nhận xét quan trọng như sau mà sau này ông lặp lại trong tác phẩm "Tài Sản của các Quốc Gia": “con người tự tìm kiếm mình (self-seeking men) thường bị dẫn dắt bởi "một bàn tay vô hình" (an invisible hand) … mà không ai biết. được viết ra với thể văn hào nhoáng. nguyên viện phó của Đại Học Glasgow. Nhiều .

Ông Townshend là một nhà trí thức kiêm kinh tế học tài tử. đứng đầu nhóm là Francois Quesnay. Đây là phong trào tìm kiếm phương pháp canh tân nền nông nghiệp của nước Pháp bằng đường lối cải cách hệ thống thuế vụ và ông Quesnay đã phân tích lý thuyết về công việc tiêu dùng đã được vận chuyển ra sao trong chu kỳ kinh tế để sinh ra tài sản và sự tăng trưởng kinh tế. Adam Smith được giới thiệu với các câu lạc bộ văn học danh tiếng của phong trào Khai Sáng (the French Enlightenment) và nhờ vậy ông làm quen với nhóm các nhà lý thuyết và cải cách xã hội. được gọi là các nhà kinh tế (les économistes). Sau đó Adam Smith đi tới thành phố Paris. Họ cư ngụ phần lớn thời gian tại Toulouse và trong hoàn cảnh buồn tẻ này. Vào năm 1763 Adam Smith từ chức khỏi Đại Học Glasgow rồi cùng vị Hầu Tước Buccleuch trẻ sang Pháp. Cuộc hành trình của Adam Smith tới thành phố Paris bị cắt ngang vì cậu em trai của Hầu Tước Buccleuch trẻ qua Pháp rồi cả hai đều bị bệnh nặng. Charles Townshend đề nghị với Adam Smith một số thù lao khó từ chối: lương 500 bảng Anh một năm cộng với phí tổn du lịch và một số tiền hưu tương đương. một chính khách nhiều ảnh hưởng và về sau là Bộ Trưởng Thương Mại (Chancellor of the Exchequer) tức là nhân vật chịu trách nhiệm về các chính sách thuế vụ của nước Anh mà hậu quả là Cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ. Adam Smith bắt đầu viết tác phẩm "Tài Sản của các Quốc Gia". David Hume là Đại Sứ Anh tại nước Pháp. James Boswell cũng xác nhận lý thuyết của Adam Smith là quan trọng và Charles Townshend đã phải chú ý đến lý thuyết này. Vào thời gian này.người từ xa đã tới nghe ông diễn thuyết kể cả hai sinh viên từ Moscow. Adam Smith đã không đồng ý với ông Quesnay về niềm tin rằng chỉ có các nông dân lao động trực tiếp với thiên nhiên hay đất đai mới thực sự làm ra tài sản. tất cả lớn gấp hai lợi tức của chức vụ giáo sư trong khi thứ lợi tức này tùy thuộc vào học phí thu được của sinh viên. thế nhưng ảnh hưởng của ông Quesnay đối với Adam Smith rất lớn lao khiến cho nhà Kinh Tế Học người Anh này đã có ý định đề tặng tác phẩm "Tài Sản của các Quốc Gia" cho ông Quesnay nếu như ông này đã không qua đời trước khi cuốn sách được xuất bản. cậu em trai qua đời mặc dù ông và vị cận thần chăm sóc tận tâm. Sau 18 tháng rảnh rỗi là hai tháng sống tại Geneva và Adam Smith đã được gặp Voltaire là nhân vật mà ông kính trọng. . Do sự thán phục tác phẩm kể trên và cũng do lời khuyên của David Hume. tức là Hầu Tước Buccleuch trẻ. Ông Townshend mới lập gia đình và đang tìm kiếm một gia sư cho đứa con riêng của bà vợ.

tác phẩm kể trên mới được hoàn thành và xuất bản vào năm 1776. Edward Gibbson và có lẽ cả với Benjamin Franklin. Adam Smith trở lại Kirkcaldy và trong vòng 6 năm tại đây. ông rất giàu có. cuốn "Tài Sản của các Quốc Gia" đã được mọi người khen ngợi. nơi ông được mời giữ chức vụ Trưởng Đại Học. vì thế vào lúc tuổi già. ông được bầu vào Hàn Lâm Viện Hoàng Gia (The Royal Society) và nhờ vậy. trầm lặng tại Edinburg. kể cả David Hume. Ông qua đời vào năm 1790 ở tuổi 67 khi vẫn còn danh tiếng. lương năm là 600 bảng Anh. đôi khi đi du lịch tới thành phố London hay tới Glasgow. Vào năm này. ông đã sửa chữa tác phẩm "Tài Sản" rồi sau ba năm sống nơi thành phố London. 2/ Thời kỳ Khai Sáng và tác phẩm "Tài Sản". Ngay sau khi được xuất bản. Adam Smith đã viết thêm một số tác phẩm nhưng các bản thảo đã bị ông ra lệnh đốt bỏ. . Samuel Johnson. làm quen với các nhân tài như Edmund Burke. Sau đó Adam Smith được bổ nhiệm làm Tổng Giám Đốc Thuế Vụ miền Tô Cách Lan. được chôn cất trong sân nhà thờ tại Canongate và trên mộ chí của ông chỉ ghi vắn tắt rằng đây là nơi an nghỉ của tác giả cuốn sách "Tài Sản của các Quốc Gia". Adam Smith sống độc thân. một chức vụ rất nhàn.Adam Smith phải trở về London và làm việc với Lord Townshend vào mùa xuân năm 1767. Tới cuối năm 1767.

một thế kỷ về sau. Diderot. Cơ Học… và các nhà triết học chấp nhận ý tưởng của triết gia người Anh là Francis Bacon theo đó "kiến thức là sức mạnh". nhất là Nhà Thờ Cơ Đốc La Mã (the Roman Catholic Church) đã duy trì sự ngu dốt vì quyền lợi riêng tư của nhà thờ. Nhiều bộ môn Khoa Học Xã Hội như Triết Học. Kiến thức vì thế được biên soạn thành các bộ Từ Điển Bách Khoa. vào cách quan sát và thí nghiệm. Các nhà triết học cũng thành lập các viện nghiên cứu khoa học và họ tin tưởng rằng phương pháp khoa học có thể áp dụng vào công trình tìm hiểu bản chất của con người. Họ tin tưởng Thượng Đế toàn năng nhưng mục đích của họ là trình bày rằng có thể điều tra được. Hóa Học. phá vỡ điều huyền bí (demystification) trước các áp chế tinh thần. Các nhà triết học của thời kỳ Khai Sáng bị ảnh hưởng sâu đậm vì các khám phá do ngành Vật Lý. họ so sánh lý trí với sự ngu dốt. mà bằng tên của các nhà triết học danh tiếng như Montesquieu. tại nước Anh có John Locke. tại Bắc Mỹ là Benjamin Franklin. chẳng hạn như định luật về sự rơi tự do của Galileo Galilei tại nước Ý. Rousseau… tại nước Pháp. còn đại diện cho miền Tô Cách Lan là David Hume và Adam Smith. làm sáng tỏ (clarification). Voltaire. tìm hiểu được số mệnh (destiny) của con người trên trái đất và họ không chịu chấp nhận niềm tin một cách thụ động do tôn giáo đặt ra. Vật Lý. Thời kỳ Khai Sáng đáng nhớ không phải bằng năm tháng. Edward Gibbson và Edmund Burke. các tiến bộ quan trọng đã được thực hiện tại các bộ môn Toán Học. . tại nước Ý có nhà sử học kiêm triết học Giambattista Vico và nhà luật học kiêm xã hội học Beccaria. Các nhà lãnh đạo trí thức của thời kỳ này đã dùng các khẩu hiệu như giáo dục. Giáo Dục. Do căn cứ vào các phương pháp khoa học. họ vạch ra các bất công xã hội và tấn công chế độ chuyên chế và phê phán giới cầm quyền.Thời kỳ Khai Sáng hay còn được gọi là thời đại của Lý Trí (the Age of Reason) là giai đoạn lịch sử bắt đầu sau Cuộc Cách Mạng Rực Rỡ (The Glorious Revolution) tại nước Anh vào năm 1688 và chấm dứt trước Cuộc Cách Mạng Pháp 1789. các nhà khoa học đã tìm ra các định luật của thiên nhiên. Các nhà triết học của thời kỳ Khai Sáng không phải là những kẻ vô thần (atheists). Condorcet. Emmanuel Kant tại nước Đức. với các điều mê tín dị đoan và cách chấp nhận thẩm quyền của người dân. định luật về chuyển động và trọng lực của trái đất khám phá do Isaac Newton tại nước Anh… Nhờ Toán Học. Luật Pháp và Chính Trị Học đã được các nhà triết học khai phá. Thiên Văn. Descartes.

hạn chế nhập cảng bằng thuế cao. quốc gia phải đi chiếm đoạt các thuộc địa. Họ chủ trương chỉ xuất cảng. tiền lương công nhân phải duy trì thấp và giờ lao động phải dài… và tất cả các áp lực này đã được biến thành các đạo luật do Nghị Viện Anh đặt ra. không cho đồng tiền ra khỏi xứ. kỷ luật và cách kiểm soát (discipline. đọc sách và suy ngẫm rồi bắt đầu phác thảo cuốn sách "Tài Sản" từ năm 1759. nhập cảng nguyên liệu rẻ từ các thuộc địa và đây là các thị trường tiêu thụ. giáo dục chỉ được giành cho một thiểu số được ưu đãi. Vào lúc này tại nước Anh. nên một quốc gia giàu lên thì các quốc gia khác phải nghèo khó đi. Ông đã bỏ ra nhiều năm quan sát trực tiếp các hoạt động kinh tế. cách nhìn và cứu xét sự vật của các nhà triết học đã thay đổi. cuộc Cách Mạng Pháp đang âm ỉ và tốc độ của cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ tăng dần do phát minh về năng lực hơi nước và một số khám phá khác. nền ngoại thương gồm cả nhập cảng và xuất cảng hoàn toàn do chính quyền điều khiển.Tới cuối thế kỷ 18. họ tin tưởng rằng tài nguyên của thế giới thì bị giới hạn. và muốn có hai quý kim này. nói chuyện với nhiều loại người liên hệ. Lý trí không còn được chú trọng mà thay vào là "cảm xúc" (feeling). 1776 là năm bắt đầu của một giai đoạn lịch sử mới. cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ đã diễn ra. phong trào Lãng Mạn bắt đầu. đời sống kinh tế của người dân nằm dưới quyền kiểm soát chặt chẽ của chính quyền: giá cả ổn định. order & control) đã bị thay thế bằng sự đam mê. sản phẩm được điều hòa. có thể . được gọi là thuyết "Trọng Thương" (mercantilism) với các niềm tin chính như sau: thứ nhất. thứ hai. và sau rất nhiều lần duyệt xét. Các nhà trọng thương cũng tin rằng quốc gia phải xuất cảng nhiều sản phẩm kỹ nghệ. Trật tự. Adam Smith cho rằng các đường lối kinh tế của thuyết "Trọng Thương" thì sai nhầm và có hại. Vào thời điểm này. các nhà "trọng thương" chủ trương rằng tài sản và quyền lực của quốc gia được đo lường bằng mức độ tích lũy "vàng và bạc". các giai cấp thống trị phản đối các đề nghị phân phối tài sản. tiền lương của giới lao động thấp. hình luật thì rất khắt khe và các quyền lợi chính trị của đa số dân chúng chỉ có về mặt lý thuyết. tính cá nhân và tính cấp thời (passion. Qua nhiều thập niên. đang đòi hỏi và nhận được các đặc quyền. Nước Pháp và một số quốc gia lớn tại châu Âu cũng theo hệ thống kinh tế này. individuality & spontaneity) và khi thời kỳ Khai Sáng chấm dứt. họ không coi trọng mức sống của người dân hay các thước đo lường kinh tế khác. giới quý tộc chủ đất đã nắm giữ chính quyền và hai giai cấp mới đi lên là giới thương nhân và giới kỹ nghệ gia.

lương bổng của công nhân. giai đoạn thứ hai là nền nông nghiệp du mục (nomadic agriculture). Thực ra. Luận đề chính của tác phẩm "Tài Sản" được căn cứ vào niềm tin rằng "mỗi con người đều chính thức bị thúc động bởi tư lợi " (self-interest) mà điển hình là lòng ham muốn tài sản (desire for wealth). người làm bánh mì chỉ vì tư lợi của họ mà khiến cho chúng ta có bữa cơm ăn. lịch sử giáo dục vào thời trung cổ. thì sẽ dẫn tới sự thịnh vượng của quốc gia.sau lần thảo luận với Benjamin Franklin. sự phát triển các món nợ công (public debts) và cuối cùng là việc cứu xét các nguyên tắc thuế vụ và hệ thống lợi tức công (public revenue). nguồn gốc và sự phát triển của các đạo quân tại châu Âu. Adam Smith mới đưa bản thảo cho nhà in rồi vào ngày 9 tháng 3 năm 1776. trị giá của bạc. tiền thuê đất đai. Tại phần V của bộ sách. Người hàng thịt. các phân tích và phê bình chính sách thương mại và thuộc địa của các quốc gia châu Âu. Bắt đầu tác phẩm bằng phần thảo luận về cách phân công lao động. các phương pháp quốc phòng và điều hành luật pháp của các xã hội sơ khai. rằng nếu mỗi người cố gắng làm lợi cho chính mình một cách đều đặn. Adam Smith còn cho rằng sự phân công lao động và tích lũy tư bản đã dẫn tới nền kỹ nghệ mới. hay "Tài Sản". Có nhà phê bình đã gọi tác phẩm là "Bộ sách lịch sử và phê bình nền Văn Minh của cả Châu Âu". tầm vóc bách khoa của bộ sách hai tập này không chỉ bàn về bộ môn Kinh Tế Học. cuốn sách thứ hai này được xuất bản. không ngừng. . và đi kèm với mỗi giai đoạn là các định chế (institutions) thích hợp với các nhu cầu của từng giai đoạn. Tác phẩm thứ hai của Adam Smith có tên là "Tìm Hiểu Bản Chất và các Nguyên Do của Tài Sản của các Quốc Gia" (An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations). gọi tắt là "Tài Sản của các Quốc Gia". sự phân biệt giữa lao động sản xuất và lao động phi sản xuất. lợi nhuận. tác giả đã cứu xét nguồn gốc và công dụng của tiền tệ. Các động lực ích kỷ là căn cốt của các hành động của con người và tác giả đã tin tưởng rằng tính ích kỷ cá nhân đã dẫn tới sự an lạc xã hội (society's welfare). lợi tức quốc gia. người nấu rượu. giai đoạn thứ ba là nền canh tác phong kiến (feudal farming) và giai đoạn cuối cùng là sự liên hệ thương mại (commercial interdependence). tác giả Adam Smith đã phác họa bốn giai đoạn (stages) chính của cách tổ chức xã hội: giai đoạn ban đầu gồm những người thợ săn thô sơ (rude state of hunters). giá cả của các loại mặt hàng. Sau đó là phần trình bày sự phát triển kinh tế của châu Âu kể từ khi Đế Quốc La Mã sụp đổ.

Adam Smith cho rằng nên phân chia tiến trình sản xuất thành các khâu đoạn nhờ đó gia tăng mức độ sản xuất. đã bãi bỏ các giới hạn và đặc quyền của các nhà trọng thương nên trong thế kỷ 19. tác giả cứu xét hai hệ thống: hệ thống thương mại và hệ thống nông nghiệp và phần nông nghiệp chỉ dày bằng 1/8 của phần thương mại. Trong khi Cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ đang tiến hành. đồng thời tác giả còn cho rằng các luật lệ về thời gian học nghề là sự can thiệp bất công vào quyền lợi khi người công nhân ký khế ước làm việc. Trong cuốn sách "Lịch Sử của Nền Văn Minh". Henry Thomas Buckle đã nhận định rằng "Tài Sản của các Quốc Gia" có lẽ là tác phẩm quan trọng nhất đã từng được viết ra nếu xét về tư tưởng căn bản chứa đựng hay về các ảnh hưởng thực tế. khó hiểu đối với người đọc ngay cả 200 năm về sau. Adam Smith đã làm phát triển các nguyên tắc "tự do kinh doanh" (the principles of laissez-faire) và tất cả các hoạt động kinh tế dẫn tới tự do mậu dịch (free trade) bên trong cũng như bên ngoài. Ở đây. Adam Smith đồng ý với Thomas Paine là "một chính quyền tốt nhất là loại chính quyền cai trị ít nhất". Adam Smith hiện diện giữa hai thời đại lịch sử và ông đã biện hộ cho nền kinh tế tự do. Lý thuyết về kinh tế của Adam Smith rất phức tạp. Trong cách phân phối lao động. chăm chỉ hơn và hưũ hiệu hơn. họ đã làm phát triển nước Anh thành quốc gia giàu có nhất thế giới. giới chủ nhân muốn trả ít" và tác giả đã có cảm tình với giới công nhân bởi vì lương bổng cao sẽ khiến cho người công nhân ham hoạt động hơn. Phần chính của tác phẩm "Tài Sản" là quyển IV có tên là "Về các hệ thống kinh tế" (Of Systems of Political Economy). các thương gia người Anh vì nhận rõ giá trị của các lý thuyết của Adam Smith. Adam Smith đã viết: "giới công nhân muốn đòi nhiều. Các tư tưởng kinh tế của Adam Smith cũng ảnh hưởng tới các quốc gia mậu dịch khác và Nhà Kinh Tế Học Adam Smith xứng đáng được gọi là "Người Cha của Nền Kinh Tế Mới" (ST) . Trước vấn đề của chủ nhân và công nhân. chọn nghề hay đổi nghề từ chỗ trả lương thấp tới nơi trả lương cao. bởi vì nhờ nền thương mại không bị giới hạn trong nước và ngoài nước mà một quốc gia có thể phát triển toàn diện."Một bàn tay vô hình" dẫn dắt con người trong khi làm việc có lợi cho mình thì đồng thời đã đóng góp lợi ích cho tập thể và về điểm này.

612 Được Cảm Ơn 3. Ít nhất là không phải bây giờ. không giống như những gì ông từng nghĩ. nhưng không bao giờ còn được như thế nữa.. và cũng rất khó trích ra từ các tác phẩm của ông bất kỳ học thuyết nào về quyền năng của nền kinh tế thị trường. người từng nhận giải Nobel Kinh tế năm 1998 và hiện là giáo viên kinh tế học và triết học ở trường Harvard. hay về sự cần thiết phải chấp nhận vai trò chế ngự của vốn.306 Bài Viết Tuy nhiên. 02:46 AM Adonis Khủng hoảng kinh tế & lý thuyết thị trường của Adam Smith "Smith chưa bao giờ dùng thuật ngữ chủ nghĩa tư bản (ít nhất là theo những khảo liệu mà tôi tìm lại được). Sau đây là bài phân tích của ông đăng trên tờ Thời báo Tài chính của Anh số ra ngày 10/3/2009 về khái niệm thị trường mà cha đẻ của nền kinh tế thị trường Adam Smith đã đề cập tới. Thời của "Thế giới mới. Chủ nghĩa Tư bản mới"? Đúng 90 năm về trước. Tham gia ngày: Jul 2004 Vị trí: BacBaPhi"s Everlasting Love Bài gởi: 16. ông đã không muốn viết một lời khai tử.644 Số lần Cảm Ơn: 5. vào tháng 3/1919.Eugenics Xem hồ sơ Gởi nhắn tin tới Eugenics Tìm kiếm các bài viết của #3 12-09-2009. Cho dù các thị trường Mỹ và châu Âu gặp phải nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn trong những năm 1920. khiến cho kinh tế thế giới tăng trưởng nhanh chưa từng thấy trong suốt 60 năm qua. Vladimir Lenin đã bàn về những rắc rối lớn của chủ nghĩa tư bản đương thời.097 lần trong 1. song nền kinh tế thị trường đã năng động một cách khác thường. khi đương đầu với một cuộc khủng hoảng kinh tế khác. ông nói: “Sẽ là sai lầm nếu tin rằng không còn cách nào thoát khỏi cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản hiện nay”. Niềm tin đặc biệt này của Lenin. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã bất ngờ . đã được chứng minh là khá đúng.Thị trường của Adam Smith chưa bao giờ tự điều tiết" .Đó là nhận định của ông Amartya Sen.. dẫn tới cuộc Đại Suy thoái những năm 1930. một thời gian dài sau khi kết thúc đại chiến thế giới thứ hai.

Chủ nghĩa Tư bản mới” do Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy. Cuộc khủng hoảng hiện được cho là “vô phương cứu chữa” này rốt cuộc cũng sẽ qua đi. nói theo một cách nào đó là mang nhãn mác tư bản.bùng phát vào mùa thu năm ngoái tại Mỹ và lan nhanh khủng khiếp. hay về sự cần thiết phải chấp nhận vai trò chế ngự của vốn. Chủ nghĩa Tư bản dưới con mắt của Adam Smith là gì? Smith chưa bao giờ dùng thuật ngữ chủ nghĩa tư bản (ít nhất là theo những khảo liệu mà tôi tìm lại được). Vấn đề đặt ra gay gắt nhất hiện nay không phải là về hồi kết của chủ nghĩa tư bản mà là về bản chất của chủ nghĩa tư bản và sự cần thiết phải thay đổi nó. và cũng rất khó trích ra từ các tác phẩm của ông bất kỳ học thuyết nào về quyền năng của nền kinh tế thị trường. đó cũng là câu hỏi mà cha đẻ của các nền kinh tế hiện đại. từng đặt ra hồi thế kỷ 18 khi ông công bố bản phân tích đầu tiên của mình về sự vận hành của nền kinh tế thị trường. mà theo tôi. trong cuốn Tài sản của các quốc gia. cựu Thủ tướng Anh Tony Blair và Thủ tướng Đức Angela Merkel khởi xướng hồi tháng Giêng tại Paris. nhưng các câu hỏi về các hệ thống kinh tế tương lai vẫn còn đó. các chính phủ đã nỗ lực hết sức để ngăn chặn nó nhưng đạt rất ít thành công mặc dù các cam kết dành cho các quỹ công được đưa ra nhiều chưa từng thấy. Liệu chúng ta có thực sự cần một “chủ nghĩa tư bản mới”. Adam Smith. cũng như tầm quan trọng của các định chế. Ông đã nói về tầm quan trọng của các giá trị lớn hơn để lựa chọn cách ứng xử. hơn là một hệ thống kinh tế không đơn nhất dựa trên nhiều định chế khác nhau được chọn lọc một cách thực dụng và các giá trị mà chúng ta bảo vệ bằng lý chí? Liệu chúng ta có nên tìm kiếm một chủ nghĩa tư bản mới hay một “thế giới mới” – cụm từ cũng được nêu ra trong hội nghị ở Paris nói trên – không mang hình dáng của tư bản đặc thù? Đây không chỉ là vấn đề mà chúng ta đang đối mặt hiện nay. Đề cập tới chủ nghĩa tư bản cũ và mới là chủ đề chiếm phần lớn thời lượng của các cuộc thảo luận sôi nổi về “Thế giới mới. nhưng chính trong tác phẩm đầu tiên của .

Smith cũng lập luận rằng “nhân đạo.ông. nếu đó là những điều kiện cần thì liệu các hệ thống kinh tế mà hiện nay mà chúng ta đang áp dụng. Động cơ của Chủ nghĩa tư bản và yếu tố niềm tin Chúng ta thường không nhận thấy rằng Smith đã không coi cơ chế thị trường thuần túy như một “diễn viên xuất sắc” biểu diễn một mình. được xuất bản đúng 250 năm trước đây.ở châu Âu hay Mỹ. Tương tự. Australia và nhiều nước khác – đã có lúc phụ thuộc vào các trao đổi diễn ra chủ yếu bên ngoài các thị trường. Hàn Quốc. Vậy chủ nghĩa tư bản chính xác là gì? Định nghĩa chuẩn dường như coi các trao đổi kinh tế dựa trên thị trường là một đặc tính cần để một nền kinh tế được xem là mang tính tư bản. như trợ cấp thất nghiệp. Đài Loan. trong quãng thời gian đạt thành quả thực sự. Trong khi phát biểu rằng “thận trọng” là “đức tính có ích nhất đối với cá nhân”. hay việc ông không coi động cơ lợi nhuận là tất cả những gì cần thiết. hào phóng và tư tưởng cộng đồng là những phẩm chất có ích nhất cho người khác”. cuốn Học thuyết về các tình cảm luân lý. ở châu Âu và Mỹ chẳng hạn. ông đã điều tra kỹ vai trò chủ đạo của các giá trị phi lợi nhuận. dựa trên sự kết hợp các định chế hơn là chỉ dựa và một nền kinh tế thị trường nhằm kiếm lời nhiều nhất. Có thể sai lầm lớn nhất là ở chỗ chúng ta coi cuộc tranh luận có giới hạn của Smith về việc tại sao mọi người tìm cách trao đổi là một phân tích thấu đáo về tất cả các chuẩn mực hành vi và các định chế mà ông cho là cần thiết để một nền kinh tế thị trường hoạt động tốt. Nhật Bản. và các quyền của cá nhân dự trên quyền sở hữu tư nhân. Tuy nhiên. và các nguồn dự phòng công cộng cho giáo dục và y tế. . công bằng. có thực sự là nền kinh tế tư bản không? Tất cả nền kinh tế thịnh vượng trên thế giới . Singapore. Thành quả đáng ca ngợi của các hệ thống được cho là tư bản. Canada. lương hưu và các khoản tiền an sinh xã hội khác. được xem là các đặc trưng tiêu biểu của chủ nghĩa tư bản. sự phụ thuộc vào động cơ lợi nhuận.

đã thổi phồng các giao dịch xấu. Smith giải thích tại sao kiểu niềm tin này không phải lúc nào cũng tồn tại. cách nhìn mới xuất hiện Trên thực tế. Ví dụ. Hiện tượng này xuất hiện vào thời điểm mà tín dụng dồi dào. Một người cho vay thế chấp dưới chuẩn lừa người đi vay nhận các rủi ro vì không thận trọng có thể chuyển nhượng các công cụ tài chính sang những người khác không liên quan đến giao dịch ban đầu. . bán thịt và người tiêu dùng lại tìm cách trao đổi mua bán với nhau. ghi trong nhiều cuốn sách về kinh tế. vì tin rằng loại tiền này có thể có ích cho họ vào bất cứ lúc nào”. thì những giấy ghi nợ này sẽ có giá trị lưu thông như vàng và tiền. như Smith đã phân tích trong một một bài viết của ông sau này được trích dẫn lại nhiều lần. tin rằng ông ta luôn sẵn sàng trả theo yêu cầu trong giấy nợ của mình bất cứ lúc nào trình lệnh phiếu cho ông ta. Các nghĩa vụ và trách nhiệm gắn với các trao đổi trong những năm gần đây đã trở nên khó phát hiện hơn vì sự phát triển chóng mặt của các thị trường thứ cấp liên quan đến các sản phẩm phát sinh và các công cụ tài chính khác.Người ta mua bán vì tư lợi – không gì cần hơn thế. Ông giải thích tại sao những người bán bánh. Smith lập luận: "Khi người dân ở một quốc gia nào đó tin vào vận may. chỉ có điều không có cơ hội). tính trung thực và sự cẩn trọng của một chủ ngân hàng nào đó. một nền kinh tế cần các giá trị và cam kết khác như sự tin tưởng lẫn nhau và niềm tin là làm việc hiệu quả. nổi bật nhất là Trung Quốc. có nhiều lý do rất chính đáng dẫn tới sự bất tín và sụp đổ niềm tin – nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay. Tuy nhiên. một phần xuất phát từ sự thặng dư thương mại lớn của một số nền kinh tế. Khi niềm tin sụp đổ. nấu rượu. từng gây ra cuộc khủng hoảng này và làm cho khả năng phục hồi càng khó khăn hơn. cũng có thể lúng túng trong cách hiểu về cuộc khủng hoảng hiện nay (mọi người vẫn có lý do rất chính đáng để tìm đến trao đổi nhiều hơn. nhưng Smith có thể đã hiểu rõ các hậu quả lan rộng của sự thiếu lòng tin và mất tín nhiệm đối với người khác. Ngay cả những người đọc nhiều nhất về logic người bán bánh-làm rượu-bán thịt của Smith.

như phổ cập giáo dục và giảm nghèo (ông cũng muốn người nghèo. có thể can thiệp vào những cái mà các thị trường không thể làm được. Smith không chỉ biện hộ cho vai trò của nhà nước. Niềm tin âm thầm rằng nền kinh tế thị trường hoàn toàn có thể tự điều tiết . Ông muốn đa dạng hóa thể chế và động cơ. chứ không phải là các thị trường đơn nhất và sự chế ngự duy nhất của động cơ lợi nhuận. mà theo Smith. vai trò giám sát của chính phủ ở Mỹ nói riêng lại giảm mạnh vì niềm tin ngày càng tăng vào bản chất tự điều tiết của nền kinh tế thị trường.Nhu cầu giám sát và điều chỉnh đã trở nên mạnh mẽ hơn trong những năm gần đây. Smith gọi những người chạy theo lợi nhuận bất chấp rủi ro là “những kẻ hoang phí và đầu cơ” – đây cũng là cách mô tả khá chính xác về những người cho vay thế chấp dưới chuẩn thời gian qua. Những khó khăn kinh tế hiện nay không đòi hỏi “chủ nghĩa tư bản mới” nào đó. mà cần một cách hiểu mở về các ý tưởng cũ liên quan đến quy mô và các giới hạn của nền kinh tế thị trường. có thể vẫn tồn tại bất chấp một nền kinh tế thị trường vận hành tốt. đang lôi kéo những người ham kiếm lời. Trong khi đó. điều này khiến cả người tiên phong trình bày về nhân tố cơ bản của nền kinh tế thị trường cũng phải ngạc nhiên. mà cả xu hướng siêu đầu cơ. như để mặc mọi thứ cho thị trường. mà ông còn biện hộ cho những lựa chọn thể chế có thể giải quyết được các vấn đề nảy sinh hơn là các thể chế bám chặt vào một vài hình mẫu cố định nào đó. Nói chính xác là khi vai trò giám sát của nhà nước càng cần thiết thì khả năng tiến hành giám sát cần thiết lại càng giảm. Dù tất cả những lập luận của Smith là nhằm giải thích và bảo vệ vai trò mang tính xây dựng của thị trường. Điều cần trên hết là một nhận thức tỉnh táo về việc các . người sống bằng trợ giúp của nhà nước có nhiều tự do hơn ngoài những biện pháp mà Luật về người nghèo trong thời ông đưa ra). mù chữ và bị tước đoạt. Sự thiếu điều tiết của thể chế không chỉ dẫn tới các thủ đoạn bất lương.nguyên nhân chính dẫn tới việc hủy các quy định đã được thiết lập tại Mỹ thường hay lờ đi hoạt động của những kẻ hoang phí và đầu cơ. nhưng ông cũng thực sự lo ngại tình trạng nghèo đói.

và bằng cách nào các tổ chức khác nhau – từ thị trường đến các thể chế nhà nước – có thể cùng nhau góp phần tạo ra một thế giới kinh tế tốt hơn.định chế khác nhau vận hành như thế nào.000 chiếc. ( tổng hợp ) __________________ Adonis Xem hồ sơ Gởi nhắn tin tới Adonis Tìm kiếm các bài viết của #4 08-10-2009. tất cả các quy trình thao tác đều do người đó hoàn thành một mình thì mỗi ngày chưa chắc làm nổi 20 chiếc. có sự phân công thì loại trừ được việc mất thời gian này. 09:01 PM Adonis Phân Công. từ một công việc này chuyển sang một công việc khác thường mất không ít thời gian.800 chíếc. Nhưng trong một xưởng nhỏ chỉ có 10 công nhân. Ông nêu ví dụ: Nếu một người sản xuất kim băng . . Trao Đổi và Tiền Tệ Của Adam Smith Phân công lao động Adam Smith cho rằng phân công lao động có thể nâng cao năng suất lao động. mỗi ngày có thể sản xuất được 48. kĩ xảo của công nhân do chuyên môn hóa mà ngày càng tiến bộ. -Thứ hai. Sở dĩ phân công lao động có thể nâng cao năng suất lao động là vì: -Thứ nhất. bình quân mỗi người sản xuất được 4.

. Như vậy là sai lầm. đó là nguyên nhân làm ông lẫn lộn giữa hai loại phân công.Ông coi nhẹ tính chất lịch sử và tính chất xã hội của sự phân công. Theo ông hai cái đó là một và chỉ có sự khác biệt do chủ quan của người quan sát. tức là đạt được sự giàu có phổ biến của các giai cấp trong xã hội. là một lý luận về vấn đề phân công lao động có thể nói từ trước tới nay không ai sánh kịp. từ đó mỗi các nhân đều có thể dùng một số lượng lớn sản phẩm của công nhân ngành khác.644 Số lần Cảm Ơn: 5. Lý luận về trao đổi: Ông cho rằng trao đổi là nguyên nhân của phân công. làm cho năng suất lao động nâng cao đến hết mức. khiến cho một người có thể làm được công việc của nhiều người. Nhưng do có sự hạn chế về quan điểm và nguyên nhân của sự phân công. trình độ phân công cũng chịu sự hạn chế rộng hay hẹp của thị trường. một số xã hội có thể do sự phân công hợp tác giữa các ngành nghề khác nhau. Ông cho rằng.612 Được Cảm Ơn 3. Vì vậy. Khuynh hướng này tức là “có và không bù đắp cho nhau. chỉ đơn thuần dựa vào hiệu quả chung mà phân công để khảo sát phân công. Lý luận về phân công lao động của ông tập hợp được thành quả nghiên cứu của các thế hệ trước.097 lần trong 1. đồng thời khiến ông đã vĩnh hằng hóa quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.-Thứ ba. Theo ông thì việc sản xuất ra của cải và việc tiến hành phân công của bất kỳ xã hội nào đều phải diễn ra theo quan hệ này. Ông cho rằng. ông nghiên cứu tiếp về sự trao đổi. “Phân công vốn không phải là kết quả của trí Tham gia ngày: Jul 2004 Vị trí: BacBaPhi"s Everlasting Love Bài gởi: 16. sự xuất hiện của phân công lao động không phải là kết quả của trí tuệ loài người mà “là một kết quả tất nhiên của sự hình thành và từng bứơc của khuynh hướng nhân tính”. vật và vật trao đổi với nhau với nhau và giao dịch qua lại với nhau”. điều này khiến cho lý luận của ông còn tồn tại các vấn đề sau: . Mức độ giàu có của xã hội tỉ lệ thuận với trình độ phân công lao động xã hội. Sau khi nghiên cứu sự phân công. rất nhiều phát minh ra các loại máy móc làm cho lao động trở nên đơn giản hơn và máy móc gỉảm bớt được sức lao động.306 Bài Viết . tức là phân công có nguồn gốc từ trao đổi.Không phân biệt giữa phân công công trường thủ công và phân công trong xã hội.

làm trở ngại sự tăng trưởng của cải quốc gia. Từ “khuynh hướng nhân tính” ông suy ra rằng. lẫn lộn trao đổi của người sản xuất nhỏ với trao đổi tư bản chủ nghĩa. mọi chính sách và biện pháp hạn chế của thị trường và sự trao đổi hàng hóa đều sẽ gây trở ngại cho tư tưởng tăng trưởng phúc lợi xã hội và của cải quốc dân lại là đúng đắn. anh ta vui lòng lấy việc sản xuất cung tên làm nghề nghiệp. bởi vì qua trao đổi thì thu nhập được khá hơn nhiều. đồng thời đánh đồng giữa trao đổi “vật lấy vật” với trao đổi hàng hóa. để họ có thể mài dũa và phát huy tư chất và tài năng bẩm sinh của mình. Việc đó đã khuyến khích mọi người chuyên tâm làm một việc nhất định. mà trình độ của phân công lại được quyết định bởi phạm vi của thị trường lớn hay nhỏ. không những thế mà còn vứt bỏ tính chất lịch sử và tính chất xã hội của trao đổi. thế rồi anh ta trở thành người chế tạo vũ khí. không những thế mà còn rất hữu ích. mọi người đều có thể đem sản phẩm lao động của mình đổi lấy bộ phận sản phẩm lao động dư thừa của người khác mà mình cần thiết. trong bộ tộc săn bắn hoặc du mục. Nó là một loại kết quả có khuynh hướng nhân tính của sự trao đổi và không bù ắp cho nhau. anh ta thường dùng cung tên mà mình làm ra để trao đổi lấy gia súc hoặc thịt thú vật. Nhưng lý luận của ông về trình độ phân công chịu sự hạn chế của thị trường. Ông cho rằng trình độ phân công chịu hạn chế rộng hay hẹp của thị trường. cho nên tất cả các chính sách hợc biện pháp hạn chế thị trường và sự trao đổi hàng hóa đều có thể làm trở ngại cho phúc lợi xã hội. ông cũng đảo lộn quan hệ giữa phân công và trao đổi. kết quả là anh ta phát hịên ra rằng trao đổi với thợ săn còn hơn là tự mình đi săn bắn. Sau khi nghiên cứu về phân công và trao đổi. ông chỉ ra rằng việc nâng cao năng suất lao động và tăng trưởng của cải quốc dân đã dựa vào sự phân công. có người giỏi việc chế tạo cung tên. . phân công là sai lầm. ông xây dựng thuyết tiền tệ của mình. đề ra phân công và trao đổi trở thành hiện tượng thường ngày của cuộc sống. Cứ như thế. Ông nói: “Trước đây phân công sản xuất chính là khuynh hướng loài người có nhu cầu trao đổi với nhau”. Do lợi ích của bản thân. Ông đã giải thích như thế về nguyên nhân quá trình trao đổi. Vì thế.tuệ con người”. Ví dụ. nếu thị trường quá hẹp thì sẽ không thẻ làm cho người ta suốt đời đi theo một nghề.

”Từ khi có phân công. khi mới bắt đầu phân công thì việc thực hiện phân công thường gặp rất nhiều khó khăn. và như vậy đã xuất hiện tiền đúc. trong mọi thời đại và mọi xã hội. phân công một khi đã được xác lập. người có suy nghĩ để tránh sự phiền hà nêu ở trên ngoài sản phẩm do mình sản xuất ra còn luôn mang theo mình một số lượng nhất định một loại sản phẩm nào đó. ông giải thích nguồn gốc của tiền tệ. Ông cho rằng.Lý luận về tiền tệ. Ông cho rằng tiền tệ là hàng hóa. mà không trình bày rõ được các chức năng khác của tiền tệ. mà một khi trong số đó cần sản phẩm của một người khác nhưng khi người đó lại không cần sản phẩm của người kia thì không thể trao đổi với nhau. Vậy thì giải quýêt vấn đề này như thế nào ? Ông nói. Do nguyên nhân tương tự. là giá trị của lý luận về tiền tệ của ông. Cho nên. ( tổng hợp ) __________________ . đều không thể bị từ chối”. Do chỗ mọi người sản xuất đều chỉ có sản phẩm của mình. Loại hàng hoá mà ai nấy đều bằng lòng tiếp nhận. ông không biết tiền tệ là một loại hàng hoá đặc biệt có tác dụng vật ngang giá chung. Nhưng ông không hiểu được bản chất của tiền tệ. mà chỉ coi tiền là công cụ kỹ thuật làm cho việc đổi chác mua bán tiến hành dễ dàng mà thôi. tức là mọi người đều phải dựa vào trao đổi để sống. đó chính là tiền tệ. ông coi phương tiện lưu thông là chức năng có tính quyết định của tiền tệ. khiến ông không phân biệt được rõ ràng tiền đúc và tiền giấy và tiền giấy với tiền đúc. cuối cùng mới do kim loại quý đảm nhiệm. Trước hết. tuyệt đại bộ phận sản phẩm mà con người cần thiết đều phải dựa vào sản phẩm lao động của người khác mà có. và cũng không lý giải được nguồn gốc đích thực của tiền tệ. loại sản phẩm của bất kỳ người nào khác. Ông nêu ra rằng trong lich sử có nhiều loạii hàng đã có tác dụng như tiền tệ.

Quan điểm này thống nhất với lý luận giá trị lao động. Sự phân tích của ông về ba giai cấp và ba loại thu nhập bắt đầu từ tiền lương. Ông phân chia xã hội tư bản chủ nghĩa thành ba giai cấp cơ bản: Giai cấp công nhân. thường coi tiền lương .644 Số lần Cảm Ơn: 5.097 lần trong 1. do phương pháp nghiên cứu hai mặt và lý luận giá trị hai mặt làm cho có hai cách giải thích về tiền lương. 09:10 PM Adonis Adam Smith . lợi ích của ba giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản chủ nghĩa: Giai cấp công nhân. giai cấp tư sản và giai cấp chiếm hữu ruộng đất. mà tiền lương cũng sẽ nâng cao. gây ra nhiều sự hỗn loạn về mặt lý luận. giai cấp tư bản và giai cấp chiếm hữu ruộng đất là “có liên quan tới lợi ích chung của xã hội”. từ các phạm trù kinh tế là tiền lương. Ông cho rằng. Không những thế.Adonis Xem hồ sơ Gởi nhắn tin tới Adonis Tìm kiếm các bài viết của #5 08-10-2009.306 Bài Viết . không những lợi nhụân và địa tô sẽ tăng thêm.612 Được Cảm Ơn 3. lợi nhuận và địa tô. Theo sự tăng trưởng của cải quốc dân và tích lũy tư bản.phạm trù kinh tế của xã hội tư bản chủ nghĩa là một loại phạm trù tự nhiên. Đấy là loại lý luận thứ nhất về tiền lương của ông. lợi nhụân và địa tô.Ba Giai Cấp Và Ba Loại Thu Nhập Lý luận về cơ cấu giai cấp và thu nhập cơ bản của các giai cấp trong xã hội tư bản chủ nghĩa mà Adam Smith nêu ra trong cuốn “Sự giàu có của các quốc gia”. ông đã coi nhẹ tính chất xã hội và tính chất lịch sử của tiền lương. “sản phẩm lao động tạo thành thù lao tự nhiên của lao động hoặc tiền lương tự nhiên”. Ông cho rằng. Lý luận về ba giai cấp và ba loại thu nhập của ông đã phân tích và nghiên cứu sự liên hệ bên trong của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. tăng tiến theo sự phát triển của xã hội. trong xã hội tư bản chủ nghĩa chỉ có tiền lương là thu nhập của lao động. Tuy nhiên. thậm chí coi sản phẩm lao động của người lao động trong xã hội Tham gia ngày: Jul 2004 Vị trí: BacBaPhi"s Everlasting Love Bài gởi: 16. Đồng thời ông cũng phân chia ba loại thu nhập tương ứng với ba giai cấp đó là tiền lương lợi nhuận và địa tô. Lý lụân này là hạt nhân cho toàn bộ học thuyết kinh tế của ông.

nguyên thủy cũng là tiền lương. trong xã hội nguyên thủy khi tích lũy tư bản và tư hữu ruộng đất chưa nảy sinh. Ông cho rằng. Lý luận về tiền lương này thống nhất với lý lụân về ba loại thu nhập quyết định giá trị của ông. Đây là một lý lụân sai lầm. tức là bộ phận dôi ra ngoài lương phải trở thành lợi nhuận và địa tô bị nhà tư sản và địa chủ chiếm hữu. Đó là loại lý lụân thứ ba về tiền lương của ông. Lợi nhuân là mức dư của giá trị mới do lao động sáng tạo ra trừ đi tiền lương. giá cả thị trường của nó cũng giống như giá cả thị trường của các loại hàng hóa khác. ông đã thuyết minh rõ là tiền lương của người lao động quyết định bởi giá trị tư liệu sinh hoạt cần để duy trì cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình họ. Sự phân chia thời gian lao động của ông có ý nghĩa quan trọng. Vậy thì mức lương trong sản phẩm lao động được xác định như thế nào? Ông cho rằng tiền lương chính là “giá cả lao động”. Vì thế. giá trị lao động được chia thành hai bộ phận: tiền lương và lợi nhuận. giá cả tự nhiên của tiền lương của người lao động và quan hệ của chúng. cho nên trong khi phân tích về tiền lương ông chỉ coi trọng mặt số lượng. ông cho rằng. Khi phân tích thu nhập lợi nhuận của giai cấp các nhà tư sản. sau khi xuất hiện hiện tượng tích lũy tư bản và tư hữu ruộng đất thì tiền lương chỉ chiếm một phần trong sản phẩm lao động. Bởi vì lúc này. Ông còn chia thời gian lao động làm hai bộ phận: thời gian lao động sáng tạo ra lương chi trả cho người lao động (thời gian lao động cần thiết) và thời gian lao động sáng tạo ra lợi nhuân của chủ thuê mướn (thời gian lao động thặng dư). Do chỗ coi nhẹ bản chất của tiền lương. Còn khi nảy sinh xã hội tư bản chủ nghĩa. là do tình trạng cạnh tranh và cung cầu của hai bên mua và bán quyết định. sau khi tư bản được tích lũy vào trong tay cá nhân. ông gần như đã tiến sát tới việc vạch . Như vậy là ông đã coi lợi nhuận là phậm trù lịch sử xuất hiện cùng với tư bản là một bộ phận thành quả của người lao động bị nhà tư bản chiếm hữu. Nó đã che lấp sự bóc lột của nhà tư sản đối với công nhân. trên thực tế ông đã nhận thức được tiền đề của sản xuất tư bản chủ nghĩa và bản chất của lợi nhuận. người lao động phải phân chia sản phẩm lao động cùng với nhà tư bản và địa chủ. khi nghiên cứu giá cả thị trường. thì tiền lương bằng toàn bộ sản phẩm mà những người lao động làm ra. Song.

Loại lý lụân này của ông . địa tô ra đời cùng với quyền tư hữu ruộng đất. không có liên quan gì đến lao động thặng dư. và đã vạch trần bản chất của địa tô ở một mức độ nhất định. coi địa tô là một loại giá cả độc quyền. việc tăng thêm tư bản mà tỷ suất lợi nhụân có xu hướng giảm xuống. Đó là lý luận thứ hai của ông về địa tô. địa tô là sản phẩm của sức tự nhiên. từ đó trên thực tế đã đi gần tới chỗ đề ra được lý luận địa tô tuyệt đối. Những quan điểm này lại là đúng đắn. là giá cả chi trả cho việc sử dụng ruộng đất là việc giai cấp địa chủ dựa vào quyền tư hữu ruộng đất mà chiếm không một bộ phận thành quả lao động. Song ông lại quả quyết rằng lợi nhuận là “thù lao tự nhiên” của tư bản ứng trước mà nhà tư bản đã chi trả cho sản xuất. là thu nhập của giai cấp địa chủ trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Ông cũng cho rằng “lợi nhụân của tư bản và cái gọi là số lượng. Vì thế địa tô mà ông nghiên cứu là địa tô tư bản chủ nghĩa. trong quá trình phát triển kinh tế. là thu nhập không phải lao động mà có. là một bộ phận chi phí sản xuất. lợi nhuận cần giữ một tỷ lệ thích đng trong tư bản. ông còn liên hệ giữa địa tô với sự độc quyền của quyền sở hữu ruộng đất. Đây là lý lụân thứ hai về lợi nhụân. địa tô là một trong những nguồn gốc của giá trị. Điều này đã định nghĩa địa tô một cách chính xác. Ông cho rằng. Adam Smith là nhà kinh tế học đầu tiên đã nghiên cứu một cách có hệ thống lý lụân về địa tô. Đó là lý lụân thứ nhất của ông về địa tô. là một trong những nguồn gốc tạo nên hàng hóa. Ông ra sức chứng minh tính chất hợp lý vè sự tồn tại của lợi nhụân. Ông còn nhận thức rằng. Đồng thời. nhưng ông lại cho rằng. Vì vậy là sai lầm. do sự phát triển cạnh tranh của công thương nghiệp. Lý lụân đó thống nhất với lý lụân về giá trị lao động. nó là thù lao mà người sở hữu ruộng đất thu được nhờ việc nhà tư bản nông nghiệp sử dụng sức tự nhiên.ra nguồn gốc của giá trị thặng dư. Sự sản sinh địa tô là kết quả của sức tự nhiên tham gia vào sản xuất nông nghiệp. giám sát loại lao động này không thành một tỷ lệ với kỹ xảo”. Ông nhấn mạnh rằng lợi nhuận là thu nhập cần thiết để nhà tư bản duy trì cuộc sống. đồng thời giải thích lợi nhụân là sản phẩm của bản thân tư bản. Lý lụân này thống nhất với lý lụân về ba loại thu nhập quýết định giá trị của ông. cường độ kỹ thụât. Lý lụân này thống nhất với lý lụân về ba lọai thu nhập quýết định giá trị của ông. Ông còn cho rằng. Đây là lý lụân về lợi nhuận của ông. Ông cho rằng địa tô là phậm trù kinh tế xuất hịên sau khi nảy sinh quyền sở hữu ruộng đất.

Kết quả nghiên cứu của ông về ba giai cấp và ba loại thu nhập trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã nói rõ cơ cấu kinh tế của xã hội tư bản chủ nghĩa.đã che đậy bản chất bóc lột của địa tô tư bản chủ nghĩa. 09:14 PM Adam Smith . Lý lụân này có một vị trí quan trọng trong học thuyết . lý lụận về ba giai cấp và ba loại thu nhập của ông có vị trí rất quan trọng trong lý luận kinh tế của ông và lịch sử học thuyết kinh tế. đã mô tả quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. ( tổng hợp ) __________________ Adonis Xem hồ sơ Gởi nhắn tin tới Adonis Tìm kiếm các bài viết của #6 08-10-2009.Lao Động Sản Xuất Adonis Ông phân biệt lao động sản xuất và lao động không sản xuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa. đóng góp quan trọng vào sự phát triển khoa học kinh tế. Lý luận của ông vừa có những nội dung khoa học vừa có những yếu tố sai lầm. nhưng ông coi loại giá cả độc quyền này là kết quả của giá cả sản xuất cao hơn chi phí sản xuất được sinh ra trong quá trình lưu thông. Ông cho rằng địa tô là một loại giá cả độc quyền. Ngoài ra ông coi địa tô và lợi nhuận là như nhau. Tóm lại.

nhưng trên thực tế người chủ thuê không phải chi phí gì cả. ông cho rằng chỉ có lao động tạo ra lợi nhuận cho nhà tư bản mới là lao động sản xuất. Về vấn đề phân chia lao động sản xuất và lao động không sản xuất cũng không có ngọai lệ. giá trị của vật sẽ tăng thêm.097 lần trong 1. Tiền lương của người công nhân trong ngành chế tạo. Như vậy là rất đúng và đã phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trước ông. Người công nhân ngành chế tạo bỏ lao động vào vật. mà là ở chỗ lọai lao động đó sản xuất ra cái gì. đồng thời còn tạo ra lợi nhụân. Phân chia lao động thành lao động sản xuất và lao động không sản xuất vốn không phải bắt đầu từ Adam Smith. Chủ nghĩa trọng nông thì lại cho rằng chỉ có lao động trong ngành nông nhiệp mới là lao động sản xuất. Ông định nghĩa lao động sản xuất là lao động tạo ra lợi nhuận đồng thời có sự trao đổi trực tiếp với tư bản. vấn đề thế nào là lao động sản xuất. Ông gọi lọai lao động trước là lao động sản xuất. Khi so sánh lao động của công nhân và người làm trong nhà. cho dù là lao động có ích cho xã hội cũng đều là lao động không sản xuất. Ngược lại. Khi ông coi lợi nhụân là động cơ sản xuất của chủ nghĩa tư bản. không phải ở chỗ lọai lao động đó dùng ở ngành nào. Còn theo ông thì việc xác định xem một lọai lao động có phải là lao động sản xuất hay không.612 Được Cảm Ơn 3. lao động của người làm trong nhà thì lại không tăng thêm giá trị nào cả. Ông cho rằng một trong những nhân tố tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng của cải quốc dân của một nước là nâng cao tỷ lệ người lao động sản xuất trong dân số nước đó. tuy là do chủ thuê ứng trước. Vì thế. lao động trong ngành ngọai thương và thương nghiệp mới là lao động sản xuất. còn mọi thứ lao động khác. Ông khẳng định lao động không sản xuất là lao động có sự trao đổi qua lại trực tiếp với thu Tham gia ngày: Jul 2004 Vị trí: BacBaPhi"s Everlasting Love Bài gởi: 16.644 Số lần Cảm Ơn: 5. lao động sản xuất và lao động không sản xuất đều đựợc phân chia theo ngành. đó là một trong những công lao và thành tích khoa học của ông. ông nói: “lao động của người công nhân trong ngành chế tạo thường có thể đặt trên giá trị của nguyên vật liệu gia công. Chủ nghĩa trọng thương cho rằng. Nhưng cách nhìn của ông đối với mọi vấn đề đều có tính chất hai mặt. thế nào là lao động không sản xuất đã được ông rất coi trọng.của ông. lọai sau là lao động không sản xuất. giá trị cần cho việc duy trì cuộc sống bản thân và giá trị mang lại lợi nhụận cho chủ”. Ngược lại. Giá trị tăng thêm như vậy thông thường có thể hòan trả lại giá trị của tiền lương.306 Bài Viết . chi phí để nuôi người làm trong nhà không thể thu hồi được.

Tuy nhiên. Lao động của người ở. muốn bảo tồn giá trị của nó để dùng sau ngày thuê mướn là rất khó”. Sở dĩ ông phạm sai lầm này là vì ông đã lẫn lộn quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa với quá trình lao động. sai lầm là có thể lý giải được. Ông nói “Lao động của công nhân ngành chế tạo. Nhưng sau khi giai cấp tư sản giành được chính quyền thì bị coi là không thích hợp và bị bỏ đi không dùng nữa. đó là vì. Đồng thời cũng vì ông đứng trên lập trường tư sản để phản đối giai cấp đặc quyền phong kiến. ông coi việc có phải là sản phẩm vật chất hay không là tiêu chuẩn để phân bịêt lao động sản xuất và lao động phi sản xúất. Ngược lại. Theo ông những người lao động phi sản xuất này đã làm lãng phí của cải xã hội. Điều đó cũng đã phản ánh tình trạng quan hệ sản xuất của xã hội tư bản chủ nghĩa. ( tổng hợp ) __________________ . do đó không thể nảy sinh hiện tượng tăng trưởng giá trị. có thể cố định đồng thời thực hiện ở hàng hóa đặc thù hoặc hàng hóa có thể bán được. Cách nhìn này của ông vào thời đó có ý nghĩa tiến bộ. ông còn có một định nghĩa khác. vừa sinh vừa diệt. từ đó cản trở sự tăng trưởng của cải quốc dân.nhập. định nghĩa thứ hai của ông về lao động sản xuất và lao động phi sản xuất mâu thuẫn với định nghĩa thứ nhất. Ngòai định nghĩa đúng đắn này về lao động sản xuất và lao động phi sản xuất ra. cho rằng lao động sản xuất ra của cải vật chất là lao động sản xuất. làm trở ngại cho việc tích lũy tư bản. “lao động của người ăn kẻ ở trong nhà thì lại là không cố định. Có thể thấy. Chỉ nói riêng về điểm này. có thể trải qua một thời gian nào đó mà không thể vừa sinh ra vừa diệt vong”. phê phán sự xa xỉ và hoang phí của vua chúa quan lại. Ông cho rằng lọai lao động này không thể làm cho hàng hóa và tiền tệ biến thành tư bản. của cải quốc dân là có hạn. dùng cho lao động có tính chất phi sản xuất càng nhiều thì dùng cho lao động có tính chất sản xuất càng ít. và cũng không thực hiện ở vật phẩm đặc thù hoặc hàng hóa có thể bán được.

Bối cảnh Adonis Theo báo cáo đưa ra vào tháng sáu vừa qua của IMF: Chính sách thuế ở các quốc gia đã góp phần gây ra cuộc khủng hoảng tài chính. Áo. chính sách thuế là vô cùng quan trọng và không bao giờ đóng vai trò thứ yếu trong việc phát triển kinh tế của từng quốc gia. Công quốc Liechtenstein và một số quốc gia khác đã đồng ý áp dụng các tiêu chuẩn về minh bạch thuế và trao đổi thông tin của Tổ Tham gia ngày: Jul 2004 Vị trí: BacBaPhi"s Everlasting . 01:06 AM Các nguyên tắc thuế từ Adam Smith đến Barack Obama . Vì vậy. nghiên cứu này đưa ra 12 chủ thuyết cơ bản cần có của một hệ thống thuế tốt.Adonis Xem hồ sơ Gởi nhắn tin tới Adonis Tìm kiếm các bài viết của #7 18-11-2009. Hồng Kông. Singapore. Bối cảnh Thuế đang trở thành một vấn đề chiến lược chủ chốt của thời đại. Hiệp hội Kế toán Công chứng Vương quốc Anh (ACCA) vừa công bố một nghiên cứu mang tên "Các nguyên tắc thuế: Từ Adam Smith đến Barack Obama". Trước hội nghị thượng đỉnh G20 vào tháng tư vừa qua. Trong chiến dịch tranh cử của Barack Obama. Luxembourg. cam kết chống lại các nơi ẩn náu thuế là một trong những nhân tố chính giúp ông thành công. của cả thế giới. Thụy Sĩ. các trung tâm cất giữ tài sản tư nhân trên thế giới đã bất ngờ đưa ra nhượng bộ về việc chống lại các nơi ẩn náu thuế. dưới áp lực chính trị mạnh mẽ.

Tuy vậy. Các chính phủ của G20 đã hoan nghênh việc nhượng bộ này. trong khi làm ngơ các hoạt động trong nước. Trong khi đó các đảo quốc Bermuda và Barbados đã đồng ý trao đổi thông tin thuế tự động. Cũng rất quan trọng để lưu ý rằng các trung tâm này có thể đưa ra các mức thuế suất thấp vì thuế được đóng khi thu nhập phát sinh (thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước phát sinh thu nhập) và sau .644 Số lần Cảm Ơn: 5. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã làm lộ rõ những thất bại trong việc xây dựng. Sự thật là nhiều quốc gia đã phát triển cũng đưa ra các nhượng bộ tương tự như các quốc gia ẩn náu thuế. Mặc dù Thuỵ Sĩ là một thành viên cuả OECD. Trong nền kinh tế toàn cầu hoá.097 lần trong 1. vì vậy nếu các quốc gia ẩn náu thuế chỉ áp dụng theo từng câu chữ mà không theo tinh thần của các tiêu chuẩn thì việc này cũng không mang lại lợi ích gì nhiều. ACCA tin tưởng mạnh mẽ vào tính minh bạch và quyền của các quốc gia trong việc truy tìm các người bị nghi ngờ trốn thuế. thực thi các qui định tài chính nghiêm ngặt tại các nước đã phát triển. chính sự phát triển nhanh chóng của các chi nhánh ngân hàng ở hải ngoại của các ngân hàng lớn của Phương Tây đã thúc đẩy sự phát triển của các nơi ẩn náu thuế. chẳng hạn các ngân hàng đã thanh toán tiền lãi gộp và cung cấp các cơ chế ưu đãi thuế cho các khách hàng không cư trú giàu có. Các quốc gia đã phát triển có thể bị cáo buộc một cách hợp pháp là đã sử dụng tiêu chuẩn kép để tấn công các trung tâm tài chính ở hải ngoại. vẫn còn nhiều chỉ trích cho rằng động thái này chưa đủ vì theo nhượng bộ này các cơ quan thuế phải cung cấp bằng chứng thuyết phục về trốn thuế mới được nhận thông tin từ các quốc gia ẩn náu thuế. Từ lâu các chính phủ đã cáo buộc các quốc gia ẩn náu thuế đã cho phép các công ty. cá nhân cản trở thực thi luật thuế quốc gia bằng cách cất giấu tài sản vào các trung tâm cất giữ tài sản tư nhân.Love Bài gởi: 16. việc cạnh tranh về thuế nên được ủng hộ. Đây là kết quả của một cuộc vận động kéo dài cả thập kỷ của OECD.họ vẫn không đồng ý trao đổi thông tin thuế tựđộng với các quốc gia khác vì họ cho rằng làm như vậy sẽ hạn chế tự do cá nhân.612 Được Cảm Ơn 3. Các tiêu chuẩn quốc tế được xây dựng nhằm tăng cường tính minh bạch.306 Bài Viết chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Tuy nhiên. những người giàu có này mang tài sản ra nước ngoài cất giữ trong khi khai thuế tại các quốc gia nơi tài sản phát sinh.

khi nhận được tiền (thuế trên cổ tức mà cổ đông nhận được). Việc giải thích rõ ràng các yếu tố cần có để hình thành nên một hệ thống thuế hiệu quả và công bằng trong thế kỷ 21 là một việc làm cần thiết và cấp bách. Việc thất thu thuế một phần do sự tụt giảm các hoạt động kinh tế. trong khi đó việc thất thu thuế ở nhiều nước đã làm gia tăng áp lực đối với các quốc gia ẩn náu thuế. Các trung tâm này có vai trò như các "trạm trung chuyển" hổ trợ cho các giao thương và dòng đầu tư quốc tế. Có một số ý kiến cho rằng nhờ có sự tồn tại của các quốc gia ẩn náu thuế đã khiến cácquốc gia đã phát triển phải giữ một mức thuế suất cạnh tranh. ( tổng hợp ) __________________ Adonis Xem hồ sơ Gởi nhắn tin tới Adonis Tìm kiếm các bài viết của #8 18-11-2009. Trong các quốc gia công nghiệp lớn. 01:11 AM Các nguyên tắc thuế từ Adam Smith đến Barack Obama . .Phân tích Adonis Các vấn đề về thuế hiện nay thường có vị trí ưu tiên trong các nghị trình chính trị ở các quốc gia. có những mong muốn chính trị xây dựng cácqui định tài chính quốc tế và quốc gia nghiêm ngặt hơn để đối phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu. một phần do các công ty đã di chuyển trụ sở chính đến các quốc gia có mức thuế suất thấp.

Số thuế mà mỗi cá nhân phải đóng nên chắc chắn và không được tùy tiện. Một hệ thống thuế phải được tất cả người trưởng thành trong xã hội biết và hiểu. Các tiêu chuẩn khác mang lại ít tranh cãi hơn. Từng loại thuế nên được đánh theo thời gian hoặc theo phương thức thuận tiện nhất cho người nộp thuế ( CONVENIENCE .chính trị hiện đại. Trong tác phẩm “ Sự thịnh vượng của các Quốc gia” (1776) ông đã quả quyết rằng: “ Tính công bằng và khả dụng hiển nhiên của các tiêu chuẩn này đáng để tất cả các Quốc gia quan tâm đến”. một số ý kiến cho rằng các chính sách thuế hiện nay bị ảnh hưởng quá nhiều của yếu tố chính trị hơn là giải quyết các nhu cầu thực tế của quốc gia.612 Được Cảm Ơn 3. nếu không hệ thống này sẽ không thể phát huy tác dụng đầy đủ. khởi đầu với bốn tiêu chuẩn thuế nổi tiếng do Adam Smith khởi xướng là việc làm cần thiết. II. IV.644 Số lần Cảm Ơn: 5. phương thức nộp thuế. Nếu dựa trên nguyên lý công bằng thì khó có thể chống lại tiêu chuẩn này và vì vậy phần lớn các hệ thống thuế hiện đại đều theo nguyên tắc này.Tính chắc chắn).306 Bài Viết . I. III. chính sự mất bình đẳng khủng khiếp về tài sản trong thời đại của Adam Smith làm cho tiêu chuẩn này cần thiết vào thời đại ấy hơn là hiện nay. Tuy vậy. Thời gian nộp thuế. Tiêu chuẩn II sẽ hình thành nên nguyên tắc số 5 sau đây. số thuế phải nộp nên rõ ràng và ngay thẳng đối với người nộp thuế và đối với từng người khác ( CERTAINTY .Khi xem xét các nguyên tắc thuế. Adam Smith được xem là cha đẻ của lý thuyết kinh tế .097 lần trong 1. Vận dụng các tiêu chuẩn này vào thời đại ngày nay thì tiêu chuẩn đầu tiên mang lại nhiều tranh cãi nhất vì một số ý kiến cho rằng đánh thuế lũy tiến là đánh vào khả năng nộp thuế. Tiêu chuẩn III thì khó mà bác bỏ được. tuy vậy trên thực tế không phải lúc nào tiêu chuẩn này Tham gia ngày: Jul 2004 Vị trí: BacBaPhi"s Everlasting Love Bài gởi: 16.Tính hiệu quả). Các đối tượng nộp thuế nên đóng góp vào ngân sách nhà nước tương ứng với khả năng của họ và tương ứng với mức độ họ thụ hưởng sự bảo vệ của Nhà nước ( EQUITY – Tính cổ phần).Từng loại thuế nên được thiết kế để lấy đi ít nhất túi tiền của người dân và mang lại nhiều nhất cho Ngân sách nhà nước ( EFFICIENCY .Tính thuận tiện).

Một số ý kiến cho rằng lý thuyết này của Adam Smith không phù hợp lắm với thực tế hiện nay vì các chi phí phát sinh cho bộ máy thu thuế của Nhà nước và các chi phí tư vấn. nhưng ACCA tin rằng nếu các chính phủ áp dụng 12 nguyên tắc này sẽ hình thành nền tảng của các hệ thống thuế hiệu quả trên khắp thế giới.Tránh thuế/lậu thuế Adonis Chúng ta cần phân biệt rõ ràng giữa tránh thuế và trốn thuế. ( tổng hợp ) __________________ Adonis Xem hồ sơ Gởi nhắn tin tới Adonis Tìm kiếm các bài viết của #9 18-11-2009. ACCA không xem các nguyên tắc sau là các chân lý phổ quát. 01:15 AM Các nguyên tắc thuế từ Adam Smith đến Barack Obama . khai thuế của người nộp thuế. việc áp dụng các chủ thuyết vào hệ thống thuế hiện đại là một việc làm rất thách thức. ngay cả đối với các nhà tư tưởng vĩ đại nhất. người nộp thuế trốn các nghĩa vụ pháp lý bằng cách che giấu các khoản thu nhập qua việc không khai báo các khoản thu nhập hoặc kê khai các khoản giảm trừ không phù . Tránh thuế (hay lên kế hoạch hay làm giảm thuế) là hợp pháp. Không giống Adam Smith. Trốn thuế là bất hợp pháp. lậu thuế là hoạt động ngoài pháp luật. Ngược lại. Tránh thuế là khai thác hợp pháp các cơ chế thuế để giảm khoản thuế phải nộp bằng các phương tiện trong khuôn khổ pháp luật và khai báo các thông tin trọng yếu cho cơ quan thuế.cũng được áp dụng. Tiêu chuẩn IV sẽ hình thành nên nguyên tắc số 7 sau đây. Trong bối cảnh nền kinh tế và xã hội phức tạp hiện nay.

Những hành động như vậy có thể mang lại lợi ích tài chính ngắn hạn cho doanh nghiệp nhưng nó lại hy sinh các giá trị về lâu dài. vẫn có nhiều trường hợp âm mưu lập những kế hoạch thuế rắc rối mà những âm mưu này không phản ánh mục tiêu kinh doanh thực sự mà nhằm khai thác các kẻ hở của pháp luật và trốn tránh các tinh thần của luật. Với suy nghĩ nêu trên. Các chính phủ ngày càng cố làm mờ hai khái niệm nêu trên bằng cách sử dụng các cụm từ như " tránh thuế không được chấp nhận" sẽ không mang lại lợi ích gì. Luật thuế phải rõ ràng và chắc chắn (như nêu tại Nguyên tắc 2 và 3 sau đây ) và cũng cần nhớ rằng các doanh nghiệp luôn cố làm giảm ảnh hưởng của thuế như một phần của hoạt động kinh doanh bình thường của mình. ( tổng hợp ) __________________ Tham gia ngày: Jul 2004 Vị trí: BacBaPhi"s Everlasting Love Bài gởi: 16. việc giảm thuế không phải là phi đạo đức .612 Được Cảm Ơn 3.hợp.644 Số lần Cảm Ơn: 5. ACCA không ủng hộ các hoạt động giả tạo này. vì vậy các hành động này cần phải được loại trừ. Thuế là một khoản chi phí kinh doanh như bất kỳ khoản chi phí nào khác và giám đốc các công ty có trách nhiệm được uỷ thác phải điều hành kinh doanh với cách tiết kiệm chi phí nhất.097 lần trong 1. Tuy phần lớn doanh nghiệp luôn cố gắng tuân thủ pháp luật.những hoạt động này cũng giống tương tự như việc tạo ra những sản phẩm tài chính cực kỳ phức tạp để né tránh các qui định trong lĩnh vực ngân hàng đã gây ra những hậu quả thảm khốc cho các ngân hàng trong thời gian qua.306 Bài Viết Adonis Xem hồ sơ Gởi nhắn tin tới Adonis Tìm kiếm các bài viết của #10 .

18-11-2009. ACCA không tham gia vào tranh luận chính trị về thế nào là một mức thuế và chi tiêu công phù hợp. do đó ảnh hưởng của việc tăng thuế phải được đánh giá cụ thể trước khi áp dụng. Chính phủ nên hợp lý hoá và thiết lập mục tiêu về tỉ lệ thuế trên GDP.306 Bài Viết . Trên cơ sở mục tiêu đã thiết lập này.097 lần trong 1. xem việc này là một bộ phận của chính sách quản lý kinh tế.644 Số lần Cảm Ơn: 5.2005 của Tổ chức tiền tệ quốc tế .2005 và ngày 25.Tỉ lệ thuế trên GDP Khủng hoảng kinh tế chưa có tiền lệ hiện nay buộc các chính phủ phải có những giải pháp đặc biệt để đối phó. cần có các phương tiện để đo lường và đánh giá các ảnh hưởng của chúng để xem nó có phù hợp với mục tiêu chính sách công đã được công bố hay không. ( tổng hợp ) __________________ Tham gia ngày: Jul 2004 Vị trí: BacBaPhi"s Everlasting Love Bài gởi: 16. chính phủ tiến hành đo lường việc thực hiện mục tiêu và phân tích các lí do làm mục tiêu không đạt được. Trước khi cuộc khủng hoảng hiện nay xảy ra.IMF ). Tuy vậy. Các đánh giá này phải được sử dụng để thách thức các đòi hỏi phải có các qui định thuế mới và để xây dựng các đánh giá chi phí một cách chính xác và kịp thời. Tuy nhiên bất kể tình hình hiện nay như thế nào ACCA tin rằng tỉ lệ thuế trên Tổng sản phẩm quốc nội -GDP phải được thể hiện càng rõ ràng càng tốt. 01:19 AM Adonis Các nguyên tắc thuế từ Adam Smith đến Barack Obama . Một khi các chính sách mới được đưa ra áp dụng.7.612 Được Cảm Ơn 3. tỉ lệ thuế trên GDP ngày càng tăng lên thông qua việc đặt ưu tiên cao hơn vào việc thắt chặt hệ thống tuân thủ thuế ( Theo kết luận ngày 26. ở các nước như Mỹ và Anh có xu hướng là thuế ngày càng tăng ( Theo Báo cáo thống kê về thuế của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế -OECD năm 2006 ). Ở các nước khác.4. việc tăng thuế quá mức sẽ làm doanh nghiệp và người dân phải gánh nặng thêm đáng kể.

Adonis Xem hồ sơ Gởi nhắn tin tới Adonis Tìm kiếm các bài viết của Trang 1/3 1 2 3 > « Ðề Tài Trước | Ðề Tài Kế » Ðiều Chỉnh Tạo trang in Email trang này Xếp Bài Linear Mode Chế độ phân đôi Switch to Threaded Mode Quyền Hạn Của Bạn Bạn không được gởi bài Bạn không được gởi trả lời Bạn không được gởi kèm file Bạn không được sửa bài vB code đang Mở quyền quyền quyền quyền Chuyển đến þÿ Ti?p T?c .

Thuộc về Đại Gia đình BacBaPhi's.Quyền Hạn Của Bạn Smilies đang Mở [IMG] đang Mở HTML đang Tắt þÿ þÿ Phiên bản vBulletin Version 3.6.8 Bản quyền 2000 .2011. Trở Lên Trên .

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful