P. 1
Tự học chụp ảnh

Tự học chụp ảnh

|Views: 185|Likes:
Được xuất bản bởithoinguyenxuan

More info:

Published by: thoinguyenxuan on Sep 27, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

07/16/2013

pdf

text

original

Sections

Tự học chụp ảnh

Để có một bức ảnh tốt
(TG@) Tạp chí nhiếp ảnh Digital Photography School đã tổng hợp 5 yếu tố cơ bản mà người chụp ảnh cần để nâng cao chất lượng ảnh của mình

Ánh sáng và màu sắc là yếu tố quyết định để có một bức ảnh đẹp

Ánh sáng Ánh sáng đã và vẫn sẽ là một yếu tố sống còn đối với nhiếp ảnh. Hiểu được nó, người chụp sẽ nắm được lợi thế dù bị rơi vào bất cứ hoàn cảnh nào. Để hoàn thiện khả năng của mình. hãy xem lại những bức ảnh thành công của những người đi trước để xem ánh sáng trong bức ảnh đã được xử lý thế nào, ánh sáng mạnh hay yếu, thẳng hay xiên, nó sẽ ra sao nếu bị thay đổi góc chụp, thời điểm chụp... Hãy tập trung vào những vùng đổ bóng xem ánh sáng đến từ góc nào và hiệu ứng của nó dựa trên góc đó. Sau đó mang tất cả những gì học hỏi được áp dụng trên hoàn cảnh thực tế. Màu sắc Màu sắc cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng tiếp cận đối tượng của con người. Nó có thể tác động đến tâm trạng hoặc đồng cảm với cảm giác của bạn. Hãy tự trang bị cho mình một vài kiến thức về lý thuyết màu sắc. Nghiên cứu kỹ các thông số cơ bản như sắc độ, giá trị, mật độ màu và nhiệt độ màu. Khám phá ngôn ngữ bí ẩn của màu sắc cũng như ý nghĩa nội tại của nó. Sau đó là thời gian luyện tập để chuyển tải thông điệp mình muốn nói tới mọi người. Tập hợp các hình khối Tất cả mọi cảnh vật thực chất đều là sự tập hợp các hình khối. Người chụp không phải chụp một cái cây mà là chụp một hình dạng và màu sắc, nhằm chuyển tải một thông tin nào đó của nó. Vì thế, điều quan trọng đối với một nhiếp ảnh gia là khả năng nhìn đối tượng dưới dạng một hình khối. Hãy rèn

luyện cho mình một khả năng chia sẻ cảnh tượng trước mắt thành những vùng màu sắc đơn giản. Từ đó sẽ giúp tạo nên những bức ảnh với những thông điệp muốn nói rõ ràng nhất chỉ bằng màu sắc và hình khối.

Khối hình tạo nên sự tương tác trong bố cục ảnh

Đường nét Đường nét cũng là những yếu tố rất cơ bản của nhiếp ảnh. Hãy chú ý tới những ấn tượng cảm xúc gây nên bởi những đường nét vô hình trong khuôn hình. Ví dụ: Các đường ngang luôn gợi đến sự phẳng lặng, yên bình, hay những đường dọc thì tạo cảm giác cân bằng, còn đường chéo thì hay liên quan đến chuyển động... Để có một bức ảnh hiệu quả, hãy nhớ phải biết cách nhìn ra được các đường nét trong ảnh, kết hợp hoặc tách chúng trong khuôn hình sao cho nhìn vào ảnh là người xem có thể cảm thấy được ý nghĩa nó thể hiện. Kỹ thuật chụp ảnh Kỹ thuật chụp cũng quyết định không nhỏ đến chất lượng của một bức ảnh. Hãy luyện tập liên tục đến mức thành thạo như một kỹ năng, để khi cần là có thể đưa máy lên chụp ngay mà không phải băn khoăn xem đặt thông số sáng như thế nào. Có như thế mới có được cảm giác tự do sáng tạo. Chỉ nên lưu ý một điều, đừng quá lệ thuộc vào kỹ thuật, hãy luôn nghĩ kỹ thuật chỉ giúp chuyển tải thông điệp một cách rõ ràng hơn chứ không hẳn là yếu tố quyết định nên sự thành công của một bức ảnh.

Tìm hiểu về máy ảnh
Chuyên đề hướng dẫn chụp ảnh cho những người mới sử dụng máy của Số Hóa được bắt đầu với máy ảnh compact. Bài đầu tiên là những hướng dẫn cơ bản nhất về máy ảnh.

Máy ảnh số du lịch (dạng ngắm-chụp) ngày càng phổ biến với mức giá hầu như ai cũng có thể sở hữu một chiếc. Mặc dù đã được thiết kế tự động tối ưu để người dùng chỉ việc ngắm là chụp, đúng như tên gọi của sản phẩm, nhưng để có được những bức ảnh đẹp, một chút kiến thức về máy ảnh và nhiếp ảnh là điều cần thiết. Tạp chí công nghệ Cnet đã thiết kế một khóa học với những bài học ngắn gọn và dễ hiểu cho những người mới bắt đầu làm quen với máy ảnh, giúp họ có thể nhanh chóng nắm vững những vấn đề kỹ thuật cơ bản trong một thời gian ngắn ngủi.
Yêu cầu chuẩn bị - Thiết bị: Máy ảnh ngắm - chụp. - Mục tiêu: Học về các bộ phận chủ yếu của máy ảnh và làm quen về cách bố trí các nút chức năng trên một máy ảnh thông thường, giúp người học nắm vững nút nào dùng để làm gì. - Thời gian nắm bắt: Khoảng 15 phút.

Trước khi học về nhiếp ảnh, điều đầu tiên cần biết là hiểu máy ảnh của mình, hiểu chức năng của từng nút bấm, biết khi nào sử dụng chúng để có được bức hình mong muốn. Bài này sẽ chỉ trình bày những chức năng cơ bản nhất của một chiếc máy ảnh. Mỗi máy ảnh gồm 13 bộ phận chính. Nếu máy ảnh bạn đang sở hữu không có đủ hoặc có nhiều hơn 13 bộ phận này, bạn cần đọc thêm về chức năng của chúng trong sách hướng dẫn sử dụng máy ảnh của mình.

Máy ảnh compact có 13 bộ phận chính. Ảnh: Cnet.

1. Đèn flash tích hợp trên thân máy giúp chiếu sáng đối tượng trong điều kiện chụp tối. Đèn có thể được cài đặt để chớp tự động (chỉ chớp khi cần thiết), chớp cưỡng bức (luôn chớp) hay tắt. 2. Đèn hỗ trợ lấy nét chỉ bật khi điều kiện ánh sáng môi trường chụp không đủ cho máy ảnh lấy nét. Một số máy ảnh cho phép bạn tắt tính năng này để tránh làm đối tượng mất tập trung. 3. Ống kính thu cảnh vật (ánh sáng) để hiển thị trên cảm biến. Một số ống kính máy ảnh được thiết kế dạng thò thụt khi bật/tắt máy, trong khi một số khác lại thiết kế ống kính trong lòng máy ảnh (không thò thụt ra ngoài).

Phần lớn màn hình LCD trên máy compact sẽ khoảng 2,5 tới 3,5 inch. Ảnh: Cnet.

4. Vòng chế độ cho phép chuyển đổi giữa các chế độ chụp khác nhau. Ngoài các chức năng mặc cảnh, hầu hết máy ảnh đều có chế độ P và chế độ A. Ở chế độ P (Program), máy sẽ tính toán các thông số phơi sáng, còn lại cho phép người chụp chỉnh một số thông số như đèn flash, ISO, cân bằng trắng. Còn chế độ A (Auto) là tự động hoàn toàn, máy sẽ lo tất cả các thông số liên quan, việc của người dùng chỉ là ngắm và bấm máy. 5. Màn hình LCD phía sau là nơi người chụp dùng để căn khung hình khi chụp cũng như xem lại ảnh vừa chụp. Có nhiều kích cỡ màn hình LCD khác nhau, từ 2,5 inch tới 3,5 inch tùy máy. Hầu hết thường có độ phân giải từ 230.000 điểm ảnh, nhưng ở một số máy ảnh cao cấp hơn, độ phân giải có thể lên đến 920.000 pixel. Màn LCD có thể cố định ở thân máy, có thể ở dạng lật xoay, hoặc có thể chỉ lật dùng trong các trường hợp chụp hất lên hoặc chúc xuống. 6. Phím điều hướng thường ở phía sau máy dùng để duyệt qua menu và các lựa chọn. Xung quanh sẽ có một nút hiển thị thông tin trên màn LCD (thường có tên DISPLAY) và nút xem lại hình vừa chụp (ký hiệu là hình tam giác). Các chức năng truy cập nhanh cũng được hiển thị bằng biểu tượng in trên nút điều hướng. Lưu ý, mỗi máy ảnh khác nhau sẽ có cách sắp xếp khác nhau.

Các nút chức năng ở rìa trên máy ảnh. Ảnh: Cnet.

7. Nút chụp ảnh có hai chức năng là lấy nét và chụp. Nếu bạn nháy nhẹ nút chụp, máy ảnh sẽ điều chỉnh ống kính để lấy nét, nếu bạn nhấn mạnh, máy sẽ chụp.

8. Nút điều chỉnh zoom dùng để thay đổi tiêu cự giữa góc rộng và tele thường được bố trí thành một vòng bao quanh nút chụp ảnh. Có những máy lại chọn kiểu thanh bấm hai nút hai đầu ở phía sau. 9. Nút công tắc nguồn dùng để bật/tắt máy ảnh.

Nắp che pin dưới đáy máy. Ảnh: Cnet.

10. Nắp che pin thường ở dưới đáy và thường được mở kiểu kéo trượt hoặc gạt lẫy để lắp pin và thẻ nhớ. 11. Lỗ lắp chân máy được đặt phía dưới đáy máy, cạnh nắp che pin.

Các cổng kết nối bên sườn máy. Ảnh: Cnet.

12. Bên sườn máy ảnh thường là các cổng kết nối để nối máy ảnh với máy tính hoặc màn hình ngoài. Cáp cho các cổng này thường được đi kèm máy (cáp USB, cáp AV) hoặc có thể phải mua rời (cáp HDMI). 13. Lỗ xỏ quai đeo máy ảnh. Trên đây là một số bộ phận cơ bản của một máy ảnh số du lịch thông dụng. Bài tới sẽ về các kỹ thuật căn khung và tìm hiểu các chế độ mặc cảnh trên máy ảnh.

Ánh sáng trong nhiếp ảnh
(TG@O) - Nội dung và vẻ đẹp của một bức ảnh nhìn chung được tạo nên bởi các vùng tối (shadows), vùng sáng (highlights) và phần còn lại (midtones).

Bức ảnh ngược sáng

Có người còn cho rằng không phải các vùng sáng tạo nên bức ảnh mà chính vùng tối quyết định bức ảnh đó. Thật vậy, nếu không có vùng tối trong một bức ảnh, thì khó có thể nào nói ánh sáng đã được xử lý như thế nào. Trên tinh thần đó tôi xin nói về ánh sáng dựa trên sự nghiên cứu các vùng tối. Trong thực tế xử lý ánh sáng trong mỗi lần chụp, tôi chỉ quan tâm chính tới các vùng này để biết được các nguồn sáng đã được bố trí như ý muốn chủ quan ban đầu chưa. Tôi định trao đổi bài này bằng các tình huống cụ thể với chi tiết về bố trí đèn, tạt sáng, chủ đề… nhưng cũng như nhiều người, tôi có nhiều sách dạng này lắm và không có cuốn sách nào có thể nói hết được tất cả các tình huống ánh sáng. Cách tốt nhất là tách riêng ánh sáng và nghiên cứu nó, hiểu và xác định được nó thì việc chi phối, áp dụng nó trong mọi trường hợp trở nên đơn giản hơn rất nhiều. Nếu bạn là một người lãng mạn, thích sự may rủi và hồi hộp cho ánh sáng của mỗi bức ảnh hay mỗi lần chụp thì tôi khuyên bạn không nên đọc tiếp, vì khi nắm rõ các khái niệm này và làm chủ được nó thì việc chụp ảnh cũng giống như bao việc khác: “Chán lắm… có bi nhiêu đó… mần hoài”.
+ Ghi chú: Bài viết chỉ chủ yếu nói về ánh sáng trong studio, về nguyên tắc thì ánh sáng ngoài trời cũng không có sự khác biệt, nhưng khả năng chủ động xử lý nguồn sáng trời ít hơn nhiều. Chỉ có những người kiên trì, xử lý nhanh tình huống mới có được nhiều ảnh đẹp khi sử dụng ánh sáng trời.

Nguồn sáng phân tích là nguồn sáng đơn. Việc xử lý đa nguồn sáng cũng bắt nguồn từ việc xử lý từng nguồn sáng đơn này. Mỗi nguồn sáng được quyết định bởi 5 yếu tố chính: - Độ gắt - dịu - Độ sáng - Hướng sáng

- Nhiệt độ màu - Khoảng cách từ nguồn sáng tới chủ đề Mời bạn đọc Thế giới @ tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về 5 yếu tố chính này: 1. Độ gắt - dịu a. Xác định: Để biết được nguồn sáng gắt hay dịu ta dựa vào các vùng bóng đổ trên chủ đề. Các vùng này càng đậm và rõ bao nhiêu, thì nguồn sáng gắt bấy nhiêu và ngược lại, càng mờ càng dịu. Cách đơn giản nhất để xác định là dùng đôi tay của chính bạn. Bạn hãy đưa một ngón tay trước nguồn sáng, sao cho bóng của ngón tay này đổ trực tiếp trên lòng bàn tay còn lại. Trong trường hợp tay kia của bạn bị bận thì có thể nhờ tạm bàn tay của người mẫu, chỗ khác cũng được nhưng phải cẩn thận ;). Nếu bạn thấy bóng của ngón tay đậm, rõ ràng thì nguồn sáng là gắt. Ngược lại nếu bóng của ngón tay mờ hoặc rất mờ thì ánh sáng là dịu hoặc rất dịu. b. Nguyên nhân: Ánh sáng gắt: là do nguồn sáng nhỏ, xa chủ đề. Hoặc nguồn sáng lớn nhưng do cách quá xa chủ đề nên các “tia” sáng tiếp cận chủ đề coi như song song. Cụ thể: Đèn flash gắn trực tiếp trên máy, hướng thẳng vào chủ đề mà không qua một thiết bị/đối tượng tán sáng nào. Đèn flash trong studio có hoặc không có sử dụng loa che sáng thông thường. Việc dùng tổ ong (horney comb) cũng cho kết quả tương tự. Đèn halogen, HMI… nói chung là bất cứ loại gì mà trong khi sử dụng, cho nguồn sáng nhỏ, “tia” sáng tiếp cận chủ đề gần như song song. Ngoài trời thì ánh sáng mặt trời khi đã lên cao, trời không mây và chiếu thẳng trực tiếp lên chủ đề. So với trái đất thì mặt trời to hơn rất nhiều nhưng do ở quá xa nên trong thực tế thì cũng cỡ cái đĩa to là cùng. Ánh sáng gắt thường cho ra các bức ảnh có độ tương phản cao, nổi rõ chi tiết của chủ đề. Ánh sáng dịu: là do nguồn sáng lớn, gần chủ đề hoặc đi xuyên qua/phản xạ từ các chất liệu/bề mặt tán sáng, ví dụ soft box, vải dù, giấy can, tạt sáng, tường nhà, trần nhà, ánh sáng mặt trời xuyên qua mây, hay trong những ngày trời đầy mây, v.v… Trong thực tế nguồn sáng được đặt càng gần chủ đề bao nhiêu thì càng dịu bấy nhiêu. Nói cách khác khi các “tia” sáng tiếp cận chủ đề theo vô số hướng khác nhau sẽ cho hiệu ứng dịu, hay còn gọi là nguồn sáng tán. Vậy nếu bạn đi mua các thiết bị tạo ánh sáng dịu như dù, soft box, tạt sáng, thì càng to càng tốt. Trong trường hợp lâm thời bạn có thể sử dụng ngay trần nhà, vách tường sáng để tạo ánh sáng dịu, chỉ có điều cẩn thận khi trần hay tường nhà có màu không phải màu trung tính. Lý do là các màu khác màu trung tính sẽ ảnh hưởng đến màu sắc của bức ảnh. Ánh sáng dịu thích hợp cho các ảnh có độ tương phản thấp, các ảnh không có yêu cầu cao về chi tiết vật chụp, hay thậm chí làm mờ đi chi tiết bề mặt vật chụp. c. Ứng dụng: Vậy là đã rõ làm sao để có ánh sáng gắt và dịu, trong thực tế chụp ảnh thì ta có thể tóm tắt như sau: + Ảnh chân dung: Việc đặt nguồn sáng càng gần chủ đề thì hình ảnh càng dịu (soft) che dấu hoặc làm mờ bớt được đa số các chi tiết bất lợi như nếp nhăn, mụn… Không chỉ riêng thiếu nữ, mà bất cứ ai yêu cầu bạn chụp cho họ những bức ảnh dịu nhẹ, ít nếp nhăn thì chỉ cần: To, tán, gần. Ngược lại nếu muốn có những bức ảnh chân dung mà ở đó đòi hỏi lột tả chi tiết chân dung nhân vật thì: Nhỏ, gắt, xa. + Ảnh tĩnh vật, quảng cáo, sản phẩm: Tương tự như trong chụp chân dung nêu trên, nếu bạn mong muốn có những hình ảnh có độ tương phản cao, nổi rõ chi tiết bề mặt vật chụp thì trong đa số các trường hợp: Nhỏ, gắt, xa sẽ cho kết quả như ý. Ngược lại: To, dịu, gần sẽ cho các ảnh có độ tương

phản thấp, dịu, thậm chí mơ màng, chi tiết bề mặt vật chụp không rõ nét, sắc sảo. Ngoài ra, ánh sáng gắt dễ tạo nên các điểm lóa sáng trên chủ đề, đặc biệt là các vật, thủy tinh, kim loại bóng, hay các vật bóng nói chung. Ngược lại, ánh sáng dịu ít tạo nên các điểm lóa sáng trên các loại vật chụp/chủ đề nêu trên. 2. Độ sáng a. Xác định: Độ sáng của một nguồn sáng phụ thuộc chính vào khả năng và công xuất của nguồn sáng và được xác định bằng các thiết bị đo, hay các phép tính cụ thể. Nhiều người sử dụng kinh nghiệm của mình và đôi khi rất chính xác. Đối với tôi, chắc chắn nhất vẫn là máy đo. Trên thị trường có rất nhiều sản phẩm, thiết bị đo ánh sáng của các hãng khác nhau với giá từ vài chục USD tới hơn một ngàn USD, nhưng theo tôi cứ cái nào cho kết quả đúng và chính xác là tốt rồi, nhất là khi ngân sách cho chụp ảnh eo hẹp. Ánh sáng của một tấm ảnh còn phụ thuộc vào các yếu tố khác trong khi chụp như độ nhạy sáng của film hay sensor, khẩu độ ống kính, và tốc độ chụp. Tuy nhiên, để cho đơn giản ta tạm qui ước là các thông số này giữ nguyên, chỉ có cường độ ánh sáng là thay đổi thôi. b. Tác dụng: Cường độ ánh sáng quyết định chi tiết cho một tấm ảnh. Film, sensor có khả năng cảm nhận ánh sáng thấp hơn nhiều so với mắt người. Tại những khoảng của cường độ sáng nhất định, chi tiết của vật chụp không được thể hiện trên film, hay sensor, tôi tạm gọi đó là các khoảng mù. Có hai khoảng mù: khoảng quá tối và khoảng quá sáng. Điều này đặc biệt quan trọng nhất là các hình ảnh của bạn được in lại bằng công nghệ in offset thông thường, nơi mà khoảng mù này rộng nhất so với các thiết bị/chất liệu thể hiện hình ảnh thông thường (monitor, giấy ảnh, TV…). Nhìn trên đồ thị RGB histogram của một bức ảnh (bạn có thể xem đồ thị RGB level của một bức ảnh cũng được) thì những phần có trị số RGB thấp hơn 25 (chắc chắn nhất là 28) tạm gọi là khoảng mù tối. Những phần của chủ đề nằm trong khoảng này gần như hay hoàn toàn không thể hiện chi tiết trên film, sesor, nói cách khác là không thấy gì, tối đen. Những phần trên bức ảnh có trị số RGB cao hơn 249 (chắn chắn nhất là 245) tạm gọi là khoảng mù sáng. Tại những phần này chi tiết vật/chủ đề chụp trên film, sensor gần như không được thể hiện, trắng tinh. Điểm yếu này của film trong những trường hợp cụ thể có thể có lợi, hoặc bất lợi. Vậy ứng dụng của nó là gì? c. Ứng dụng: Như phân tích ở trên ta thấy rằng để có được những khoảng hoàn toàn đen thì ánh sáng chiếu đến các vùng này phải thấp, yếu sao cho trị số những vùng đó trên film, sensor nằm trong khoảng mù tối. Trong thực tế thường các vùng này có chỉ số đo thấp hơn ít nhất 3 khẩu (3 stop) so với khẩu độ chụp. Trị số thực tế phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể nhưng càng ít hơn càng tốt. Vậy nếu bạn muốn có một bức ảnh với phông đen hoàn toàn thì làm sao đó phông của bạn được chiếu sáng thiếu ít nhất là 3 khẩu. Ngược lại để có được những vùng trắng hay phông trắng thì ánh sáng chiếu đến các vùng này phải cao, cao sao cho trị số những vùng đó trên film, sensor nằm trong khoảng mù sáng. Trong thực tế thường các vùng này có chỉ số đo cao hơn ít nhất 1 1/2 khẩu so với khẩu độ chụp. Trị số thực tế phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể nhưng đừng quá cao. Nếu cao quá ảnh có thể bị mù, hallow hay không trong. Theo nguyên lý trên thì, trong chụp ảnh chân dung, việc chiếu sáng chủ đề sao cho các vùng muốn che dấu khuyết điềm nằm trong các khoảng mù, hoặc gần sát với khoảng mù. Cụ thể nếu bạn chiếu sáng khuôn mặt của người mẫu hơi dư sáng một chút thì sẽ không thấy được các khuyết điểm về da của

người mẫu, cũng như các nếp nhăn trở nên không rõ ràng, khó xác định và ngược lại bạn có thể che các khuyết điểm này trong khoảng mù tối. Trong chụp ảnh sản phẩm thì việc có các khoảng mù tối hay mù sáng xuất hiện trong ảnh không được ủng hộ lắm, nhất là hình dùng trong bao bì sản phẩm. Nơi mà mọi thứ cần phải rõ ràng, trung thực. Trong quảng cáo thì vô cùng, nhưng các khoảng mù sáng không nên có, lý do là các thiết bị in offset sẽ tạo nên các bước nhảy gắt từ vùng an toàn đầy đủ thông tin sang vùng mù sáng và làm cho bức ảnh không êm, hiếm có nhà làm thiết kế/quảng cáo chuyên nghiệp nào chấp nhận điều này. 3. Hướng sáng Trực diện (frontal lighting), ngược (back lit), xiên (side lighting), trên xuống (top lighting), dưới lên (lighting from the bottom) là những từ người ta dùng để nói về hướng sáng. Đọc các từ này thì chắc các bạn cũng có thể mường tượng được vấn đề. Ở đây tôi chỉ bàn về các ứng dụng của từng loại. Trực diện, với vị trí nguồn sáng chiếu trực tiếp vào đối tượng, hay nguồn sáng nằm trên trục của ống kính, ví dụ rõ ràng nhất đó là đèn flash gắn trực tiếp trên thân máy, hay ống kính (đèn flash tròn, ring flash), hay bạn treo đèn ngay phía trên hay dưới ống kính, hay bất cứ vị trí nào miễn là luồng sáng chiếu trực tiếp lên chủ đề được coi như trực diện. Khi đó mọi bóng đổ đều nằm khuất phía sau vật chụp. Tại vị trí này, cái gì nằm trong “khoảng nhìn” của ống kính đều được chiếu sáng gần như nhau. Với cách bố trí đèn như vậy thì chủ đề xuất hiện trong bức ảnh sẽ rất rõ về hình dạng, bù lại thì chi tiết, cấu trúc bề mặt vật chụp không bật lên được, bức ảnh bẹt (flat), không nổi khối, nhất là nguồn sáng là nguồn sáng dịu. Cách bố trí ánh sáng này chỉ phù hợp với hình nghiên cứu, khoa học, hình chụp lại (copy) các văn bản giấy tờ, hình ảnh không phản sáng. Nói thế không có nghĩa cách bố trí đèn này không phù hợp trong chụp chân dung thời trang. Trong ảnh chân dung và thời trang thì cách bố trí này đa số dùng để làm đèn phụ (fill light) để xóa bớt các bóng do các nguồn sáng chính tạo nên. Nếu nguồn sáng là nguồn sáng dịu/tán thì việc nâng cao vị trí đèn về phía trên ống kính sẽ cho bạn một kiểu ánh sáng chân dung, thời trang rất đẹp. Nếu bạn xem báo thời trang nước ngoài thì đa số hình bìa hay các hình người mẫu chính được chụp với nguồn sáng chính tại vị trí này. Đơn giản vì hình sẽ có bố cục ánh sáng đều, ưa nhìn, các khiếm khuyết về da và gương mặt ít lộ rõ nhất. Trong thực tế sử dụng thì phải bố trí các nguồn sáng phụ khác để xóa bóng phía sau chủ đề. Ngược, nguồn sáng đặt phía sau chủ đề và hướng thẳng về phía ống kính. Với vị trí bố trí này thường thì toàn bộ phần biên của chủ đề sẽ nổi rõ, phía trước chủ đề tối đen. Cách bố trí này nhằm tạo đường ven cho chủ đề, hay dùng để tách chủ đề ra khỏi phông. Nếu bố trí cao thì có thể coi như đèn tóc (hair light), chếch sang hai bên thì để tạo ven hay kicker (thứ lỗi cho tôi không bíết gọi bằng gì trong tiếng Việt). Bố trí thì dễ nhưng khai thác và làm chủ loại ánh sáng này thì khó do rất dễ bị lóa sáng (flare) hay bức ảnh nhìn giả tạo, chát. Tuy nhiên nếu làm chủ được loại ánh sáng này thì ảnh sẽ rất dễ đẹp. Ở Việt Nam thì hay được dùng trong chụp ảnh nude, nhiều bức đẹp vô cùng! Trên xuống, nguồn sáng nằm trực diện phía trên đỉnh đầu vật chụp. Cách bố trí này ít được dùng trong ảnh chân dung nó tạo nên các khoảng tối thui phía dưới hốc mắt, dưới mũi, và dưới cằm, có thể là vài chỗ nữa (tùy theo trang phục của người mẫu ;), nhất là khi nguồn sáng nhỏ và xa chủ đề. Nếu đặt hơi chếch về phía sau thì có vai trò làm đèn tóc. Trong chụp hình sản phẩm thì cách bố trí này cũng hay được dùng nhưng thường là hơi chếch về phía trước chủ đề và nguồn sáng thường to, tán/dịu, gần. Dưới lên, nguồn sáng được chiếu trực tiếp từ dưới lên. Cách bố trí đèn như thế này rất ít dùng trong ảnh chân dung, nó làm cho người xem khó chấp nhận, do đi ngược lại trong tự nhiên. Trong tự nhiên ít khi nào bạn gặp thứ ánh sáng này. Trong phim thì nhiều hơn, và đa số là trong các phim ma, kinh dị. Trong chụp ảnh sản phẩm thì loại ánh sáng này có chỗ đứng nhất định, nó được dùng để xóa bóng, soi sáng vật chụp, tuy nhiên phải cẩn thận, do như đã nói dễ cho ảnh không thật, giả tạo.

Xiên, đây là loại cho hiệu quả dễ đẹp nhất, an toàn nhất trong tất cả các loại. Vị trí của đèn nằm ngoài các vị trí đặc biệt nêu trên và ngang hay quá lắm là hơi sau chủ đề một tí thôi. Trong thực tế, con mắt và thần kinh của chúng ta quen nhất với loại ánh sáng này. Nó làm cho việc phân biệt bề mặt chi tiết đối tượng, hình khối của đối tượng dễ dàng nhất. Nếu không phải nhằm tạo hiệu ứng gì quan trọng, cầu kỳ hay thậm chí cải lương thì tôi thích sử dụng loại ánh sáng này nhất. Nhiều khi chúng ta cứ tự làm khó mình khi bắt ép chính chúng ta phải tạo ra các bức ảnh với hiệu ứng đặc biệt, sử dụng quá nhiều nguồn sáng khác nhau cùng một lúc. Đặc biệt thì đôi khi đặc biệt thật, nhưng đẹp, ưa nhìn hay không thì lại là chuyện khác. Loại hướng sáng như thế này đã được các bậc thầy về hội họa sử dụng hàng thế kỷ trước khi có phát minh ra máy chụp ảnh và các bức họa của họ thì tới bây giờ hậu thế cũng phải thán phục. Do nằm chếch về một phía so với trục máy ảnh-chủ đề nên các bóng đổ do nguồn sáng ở các hướng này luôn được tạo ra. Chính sự xuất hiện của các bóng này mà ta biết được hướng của nguồn sáng, hình khối của vật chụp, chi tiết, cấu trúc bề mặt vật chụp. Vấn đề còn lại là đặt ở đâu là đẹp nhất theo quan điểm của người chụp là điều đáng để quan tâm. Trong chụp ảnh chân dung, thường thì nguồn sáng này được đặt chếch một hướng 45 độ so với trục máy ảnh-người mẫu và hơi cao lên phía trên người mẫu và máy ảnh. Điều cuối cùng tôi muốn nói ở đây là, trong chụp ảnh chân dung việc đặt nguồn sáng xê xích, qua lại, lên xuống đôi ba tấc không quan trọng nhưng trong chụp ảnh quảng cáo, thực phẩm, và các sản phẩm nhỏ, việc xê dịch nguồn sáng vài phân thôi cũng có thể làm nên bức ảnh đạt nhưng cũng có thể phá hỏng một bức ảnh đúng ra rất đẹp. 4. Nhiệt độ màu Nói tới ánh sáng không thể không nói tới nhiệt độ màu. Không chỉ nhiệt độ màu có tác động trực tiếp tới màu sắc của vật chụp trong bức ảnh mà nó còn tạo hiệu ứng thời điểm, tâm trạng (mood), xúc cảm cho bức ảnh. Bức ảnh tông sáng với ánh sáng hơi xanh cho ta cảm giác nó được chụp vào buổi sáng, trong lành. Cũng với bức ảnh đó nhưng ám sắc vàng óng cho ta cảm giác của một buổi hoàng hôn lãng mạn. Và cũng với bức ảnh đó nhưng ánh sáng xanh xao, nhờ nhờ cho ta cảm giác nó được chụp vào buổi tối dưới ánh đèn neon yếu ớt. Vậy cụ thể nhiệt độ màu là gì. Người ta dùng nhiệt độ K để chỉ nhiệt độ màu. Khi nung nóng một thanh sắt, thì tại một nhiệt độ bất kỳ nào đó, thanh sắt sẽ phát ra một màu nhất định. Dựa trên hiện tượng này người ta đo đạc và đưa ra khái niệm nhiệt độ màu. Về cơ bản thì nhiệt độ càng thấp, ánh sáng càng đỏ, nhiệt độ càng cao thì ánh sáng càng xanh. Ví dụ khi ta bật bật lửa gaz lên thì phần màu vàng phía trên ngọn lửa có nhiệt độ thấp hơn phần màu xanh của ngọn lửa, trong hàn hơi (gió đá) cũng vậy. Vậy lần sau khi mồi thuốc lá bạn nên dí điếu thuốc vào phần có lửa xanh nhé, nhanh hơn cỡ vài phần của giây đấy :). Thế nào là một bức ảnh/hình đúng nhiệt độ màu? Lấy gì làm chuẩn? Trong nhiếp ảnh và in ấn một bức ảnh/hình được gọi là đúng nhiệt độ màu nếu những vật thể, chủ đề trong bức ảnh/hình đó có màu sắc giống như vật thể, chủ đề thực khi so sánh trong cùng điều kiện ánh sáng trắng (day light), hay ánh sáng có nhiệt độ 5,500 độ K. Làm sao để xác định được nhiệt độ màu của nguồn sáng? Chắc bạn sẽ nghĩ ngay tới máy đo. Vâng đúng như thế, nhưng nếu bạn không muốn hay không sẵn sàng chi cho khoản tiền vài trăm tới trên dưới một ngàn USD thì cũng ổn thôi. Thực ra chụp ảnh không phải là một ngành đòi hỏi chính xác tuyệt đối. Việc chênh nhau vài chục độ K hay thậm chí 100 độ K thì cũng chả khác nhau là mấy. Trong thực tế thì ta có thể tạm dùng các loại film chụp ảnh, filter trên ống kính hay trên đèn để có được bức ảnh đúng nhiệt độ màu trong những trường hợp cụ thể. Dùng như thế nào, loại nào thì chắc bạn phải hỏi nhà sản xuất, tôi thì chịu. Đối với đa số các máy kỹ thuật số thì thường máy sẽ có cách để tự động nhận biết nhiệt độ màu của chủ đề sắp chụp (Auto White Balance) mặc dù đôi lúc các tính

năng này dở vô cùng, thường là trong môi trường ánh sáng nhân tạo, hay ánh sáng yếu. Trong các máy kỹ thuật số chuyên nghiệp thì việc đạt được cân bằng trắng dễ dàng hơn, do có nhiều lựa chọn hơn cho người sử dụng, những nhà chuyên nghiệp. Cụ thể bạn có thể chọn các tùy chọn định trước, auto, hay xác lập nhiệt độ màu chính xác theo như nhiệt độ màu mà bạn đã biết hay đo được. Nếu bạn vẫn không thành công thì tôi có trình bày một cách đơn giản để có bức ảnh cân bằng trắng www.vnphoto.net/forums/showthread.php?t=5110. Đa số các đèn flash thông thường có nhiệt độ màu khoảng từ 5,000 độ K tới 5,500 độ K. Đèn halogen, đèn tóc (tungsten) thì thấp hơn, khoảng 2,800 tới 3,200 độ K. Ngoài trời thì nhiệt độ ánh sáng trời không mây, vào buổi trưa có nhiệt độ khoảng 5,500 độ K. Trong bóng râm khoảng 7,500 độ K, trời đầy mây khoảng 6,500 độ K, ánh sáng đèn neon trắng thông thường khoảng 3,800 độ K. Biết được nhiệt độ màu của nguồn sáng rồi thì việc bắt bức ảnh có sắc màu theo ý mình không khó lắm. Trong máy kỹ thuật số, hay trong khi xử lý ảnh trong các chương trình chuyển đổi file raw thì muốn bức hình đúng cân bằng trắng, thì bạn phải chọn đúng nhiệt độ màu của nguồn sáng dùng tại thời điểm chụp. Muốn hình ám sắc vàng thì chọn nhiệt độ màu cao hơn thực tế, ngược lại nhiệt độ màu thấp hơn thực tế sẽ cho ảnh ám sắc xanh. Đối với tôi, trong chụp ảnh người mẫu tôi chụp với đèn flash và chọn nhiệt độ màu khoảng 6,000 độ K. Như vậy thường những ảnh của tôi luôn có sắc vàng như chụp dưới ánh sáng mặt trời lúc hoàng hôn. Trình bày vấn đề về nhiệt độ màu này một cách đơn giản trên giấy thật khó đối với tôi, nhất là phần áp dụng, theo tôi cách đơn giản nhất là chịu khó chụp thật nhiều với các tùy chọn khác nhau và bạn sẽ có được kinh nghiệm về vấn đề này. Tôt hơn cả là trước khi tiến hành thực tập bạn nên đọc thật kỹ các cách thức lấy cân bằng trắng trên máy từ sách hướng dẫn của nhà cung cấp. 5. Khoảng cách từ nguồn sáng tới chủ đề Bao xa đó chính là câu hỏi ở đây. Ảnh hưởng của nó như thế nào trong thực tế? Như trên đã nói, nguồn sáng càng gần chủ đề thì càng dịu, càng xa chủ đề thì càng gắt. Nếu chỉ có vậy thì không nói làm gì, nhưng khoảng cách của nguồn sáng tới chủ đề sẽ quyết định cường độ sáng của nguồn sáng. Cường độ này tăng, giảm theo bình phương sự tăng giảm theo khoảng cách giữa nguồn sáng và vật chụp. Cụ thể khi khoảng cách gần hơn gấp đôi thì cường độ sáng tăng lên gấp bốn lần. Ngược lại khi khoảng cách này xa đi gấp đôi thì cường độ sáng giảm đi gấp bốn lần. Vậy, nếu bạn muốn ánh sáng giảm trên phông thì không phải là kéo đèn ra xa vật chụp mà ngược lại, kéo lại gần vật chụp hơn nữa. Giả thiết ở đây là vật chụp nằm giữa phông và đèn. Nắm được đặc điểm này của ánh sáng đôi khi bạn có thể tiết kiệm được khá nhiều tiền cho việc sắm đèn của bạn. Đơn giản để khép thêm một khẩu trên ống kính bạn phải tăng gấp đôi công xuất đèn hiện có tại cùng một vị trí bố trí đèn (trong khi các thông số khác không đổi). Nếu đèn hiện tại bạn đang có đã xử dụng hết công xuất thì có nghĩa là phải mua thêm một cái đèn nữa có cùng công suất hay thay bằng một đèn khác có công xuất gấp đôi. Trong khi đó bạn chỉ phải kéo đèn gần lại thêm một ít thôi miễn là điều kiện cho phép. Trên đây là những khái niệm cơ bản của ánh sáng trong nhiếp ảnh mà tôi đúc kết được trong quá trình tham gia vào lĩnh chụp ảnh, hy vọng ít nhiều giúp ích cho những ai mới bước chân vào lĩnh đẹp đẽ và tốn kém này. Để hiểu tường tận vấn đề tôi đề nghị bạn nên mua hẳn một cuốn sách chuyên đề hay tham dự một khóa đào tạo chuyên nghiệp. Và quan trọng nhất đó là chụp thật nhiều, thử thật nhiều. Một khi bạn nắm vững được vấn đề thì điều tưởng là khó hóa ra thật dễ dàng.

Các nguyên tắc cơ bản
Ở bài này, người học sẽ học một số nguyên tắc cơ bản nhất của nhiếp ảnh và cách tận dụng những chế độ mặc cảnh thông dụng để chụp ảnh.
Chuẩn bị Thiết bị: Bất cứ máy ảnh du lịch nào. Mục tiêu: Nắm được những nguyên tắc cơ bản của nhiếp ảnh để giúp chụp những bức ảnh đẹp cũng như tận dụng được các chức năng mặc cảnh của máy ảnh. Thời gian cần thiết: 20 phút.

Các nguyên tắc cơ bản Nguyên tắc phần ba.

Một số máy ảnh tích hợp sẵn đường lưới căn khung. Bạn chỉ việc bật lên bằng cách bấm nút DISPLAY hoặc DISP liên tục đến khi các đường này xuất hiện. Nếu không bạn phải xem thêm ở sách hướng dẫn. Ảnh: Cnet.

Đây là nguyên tắc cơ bản và nguyên thủy nhất của nhiếp ảnh, vốn bắt nguồn từ các họa sĩ của những năm 1797. Nguyên tắc này thực ra rất đơn giản, đó là chia cảnh thành 9 vùng bằng nhau với hai đường dọc, hai đường ngang (như hình trên). Sau đó người chụp chỉ việc đặt đối tượng chụp vào bất kỳ điểm giao nhau nào (4 điểm). Việc này nhằm tạo sự hợp lý về bố cục thay vì đặt cân đối trong khuôn hình. Căn khung

Cảnh sẽ trở nên đẹp hơn nếu bạn sử dụng kỹ thuật tạo khung cho ảnh. Ảnh: Cnet.

Đôi khi một cảnh sẽ trở nên đẹp hơn nếu bạn sử dụng kỹ thuật tạo khung cho ảnh. Chụp qua nan hoa bánh xe đạp hoặc sử dụng các cành lá phía trên, dưới hoặc hai bên làm khung che bớt những cảnh xung quanh, cảnh ở giữa khung trông sẽ nổi bật hơn và sẽ thu hút được sự chú ý của người xem hơn. Phối cảnh

Cố gắng thử nhiều góc độ để tìm góc đạt phối cảnh ấn tượng nhất. Đặt máy ảnh xuống đất rồi hất lên hoặc giơ thẳng máy lên trời sẽ tạo một cách nhìn thú vị hơn là để máy ngang tầm mắt như thông thường. Ảnh: Cnet.

Sử dụng các đường nét để tạo cho ảnh có một độ sâu nhất định. Ví dụ khi chụp một tòa nhà từ dưới chân hất lên, bức ảnh sẽ tạo nên một cảm giác tòa nhà này cao hơn bình thường. Hoặc bạn cũng có thể dùng các đường nét để dẫn hướng người xem tới phần chính của đối tượng chụp. Với những cảnh kiểu này, bạn nên sử dụng tiêu cự rộng nhất có thể của máy để ảnh bao quát được nhiều đối tượng. Bản mẫu (Patterns)

Nên sử dụng những mẫu đơn giản cho khung hình không quá rối rắm, gây mất tập trung cho người xem. Ảnh: Cnet.

Hãy tìm mẫu với các đối tượng lặp đi lặp lại trong khung cảnh và đưa nó vào khung hình. Nếu ít, bạn có thể zoom lại gần để nó chiếm phần lớn khung hình và loại bỏ được các đối tượng gây mất tập trung. Như bức hình trên, người chụp đã zoom lại gần bức tường chắn trước khu nhà cao tầng với các lỗ gạch để tạo nên một mẫu nền rất thú vị. Các chế độ mặc cảnh cơ bản Các chế độ mặc cảnh trên máy của bạn có thể giúp cải thiện chất lượng chụp ảnh nếu biết sử dụng đúng nơi đúng chỗ. Dù tự động, nhưng các chế độ này vẫn cần thêm một chút điều chỉnh từ người chụp thì mới phát huy được hết tính năng. Chế độ chân dung (Portrait)

Ảnh chụp bằng chế độ Portrait. Ảnh: Shawn Low/Cnet.

Một số người chụp thích để phía hậu cảnh mờ để nhấn mạnh hơn vào đối tượng. Thông thường, chế độ nhận diện khuôn mặt sẽ tự động canh nét vào mặt người chụp và chọn độ mở thích hợp (độ mở lớn) để tạo một ảnh chân dung nổi hơn trên nền hậu cảnh. Chế độ phong cảnh (Landscape)

Chụp bằng chế độ Landscape. Ảnh: Shawn Low/Cnet.

Chế độ phong cảnh khá hữu dụng cho việc chụp cảnh thông thường bởi ở chế độ này, tông màu lục và màu lam sẽ được kích lên để bức ảnh trông rực rỡ hơn. Máy ảnh ở chế độ này cũng sẽ lựa chọn độ mở thích hợp sao cho toàn bộ khung cảnh đều được nét. Chế độ chụp bãi biển/tuyết (Snow/Beach)

Chụp bằng chế độ Snow/Beach. Ảnh: Chee-onn Leong/Cnet.

Máy ảnh sẽ tự giảm phơi sáng để tránh hiện tượng cháy sáng do độ sáng chênh lệch giữa tuyết hoặc nước biển so với cảnh vật xung quanh. Vì thế, ảnh sẽ trông hơi tối hơn để có thể thể hiện các chi tiết vùng sáng rõ hơn. Chế độ chụp đêm (Night mode)

Chụp bằng chế độ Night Mode. Ảnh: Eugene Barzakovsky / Cnet.

Chế độ chụp đêm là dễ bị "bẫy" nhất. Thông thường, nhiều người phàn nàn rằng ảnh chụp ở chế độ này thường bị rung, mờ. Vấn đề chủ yếu do người dùng cầm máy không đủ chắc. Nên nếu không có chân máy, bạn cần đặt máy ở một mặt phẳng vững chắc để tránh rung tối đa chứ không nên cầm tay.

Tốc độ cửa trập
Tốc độ cửa trập (hay màn trập) là một trong những thuật ngữ thông dụng nhất trong nhiếp ảnh, nó chỉ tốc độ chụp một bức ảnh là nhanh hay chậm.

Bên trong máy ảnh có một cơ chế cửa trập mở ra/đóng vào với tốc độ nhanh chậm khác nhau để điều chỉnh lượng sáng đi vào cảm biến. Tốc độ được coi là nhanh thường từ mức 1/125 giây hoặc hơn như 1/250 hay 1/500 giây. Tốc độ được coi là chậm từ mức 1/30 giây hoặc thấp hơn như 1/15 hay 1/8 giây. Tuy nhiên, các thông số nhanh chậm này không cố định mà còn phụ thuộc vào độ cầm máy chắc tay của người chụp.
Yêu cầu chuẩn bị Thiết bị: Bất kỳ máy du lịch nào và một chân máy mini. Mục tiêu: Nắm bắt được tốc độ cửa trập là gì và các thiết đặt khác nhau sẽ tác động đến hình ảnh như thế nào. Thời gian: 10 phút.

Tốc độ nhanh.

Tốc độ nhanh cho phép đóng băng khoảnh khắc chuyển động, như trong ví dụ về các vận động viên bãi biển này. Ảnh: Shawn Low / Cnet.

Với đặc tính có thể đóng băng chuyển động, tốc độ nhanh rất hữu dụng trong việc chụp các vật thể chuyển động nhanh như ôtô đua hay vận động viên.

Với các vật thể chuyển động nhanh, nếu dùng tốc độ chậm để chụp (như ảnh trên) sẽ gây nên hiện tượng mờ ảnh do bị tác động bởi cả chuyển động nhanh của vật lẫn độ rung lắc do tay cầm máy gây nên. Ảnh: Ardelfin/MorgueFile.

Tốc độ cửa trập nhanh nghĩa là quá trình mở ra đóng vào của cửa trập nhanh hơn, ảnh sẽ không bị mờ do độ rung của tay bấm gây nên. Hầu hết máy ảnh du lịch hiện nay sẽ tự động tăng tốc độ chụp nếu ánh sáng nhiều (như chụp dưới ánh nắng). Tuy nhiên, vẫn có những cách có thể buộc máy ảnh tăng tốc độ chụp nhưng vấn đề này sẽ được bàn tới ở những bài sau. Ở bài này, người học chỉ cần nhớ tốc độ nhanh sẽ giúp đóng băng chuyển động và tránh cho ảnh khỏi bị mờ do độ rung của tay cầm máy. Tốc độ chậm.

Tốc độ chậm được dùng cho ảnh chụp đêm. Tuy nhiên, nhớ mang thêm chân máy để tăng thêm độ vững chắc. Ảnh: Shawn Low/Cnet.

Tốc độ chụp chậm cho phép ánh sáng vào cảm biến nhiều hơn, vì thế nó thường được sử dụng để chụp ảnh trong những điều kiện thiếu sáng. Tuy nhiên, máy ảnh luôn có xu hướng bị rung do tay cầm khi chụp ở tốc độ chậm khiến cho ảnh bị mờ, vì thế tốt nhất trong những trường hợp này là người chụp nên dùng chân máy.

Sử dụng tốc độ chụp chậm khiến cho dòng nước chảy trông mềm mại như lụa. Ảnh: Shawn Low/Cnet.

Hình ảnh một dòng nước rõ nét có thể khiến bức ảnh trở nên nhàm chán. Các dòng sông hay thác nước (như ở bức ảnh trên) trông sẽ gợi cảm hơn nếu như được chụp bằng tốc độ chậm, tạo nên độ mờ ảo của hiệu ứng chuyển động chảy. Cách tốt nhất để tạo hiệu ứng này là sử dụng tốc độ chậm, độ mở nhỏ (f/11 tới f/22) và chân máy. Tốc độ cửa trập hiển thị ở đâu?

Tốc độ cửa trập hiển thị ở đây là giá trị 1/13 giây. Ảnh: Shawn Low/Cnet.

Hầu hết máy ảnh du lịch không cho phép người chụp chỉnh tốc độ cửa trập, nhưng người chụp vẫn có thể xem giá trị thông số này khi bấm nhá lấy nét. Các thông số phơi sáng mà máy ảnh tính toán thường được hiển thị ở cạnh dưới của màn hình LCD. Có thể thay đổi tốc độ cửa trập được không? Như đã đề cập, hầu hết máy ảnh du lịch không cho phép chỉnh sửa tốc độ cửa trập. Tuy nhiên, ở các bài học sau về độ mở và ISO, bạn sẽ học cách chỉnh tốc độ cửa trập gián tiếp của việc điều chỉnh các thông số này.

Độ mở
Tốc độ cửa trập điều khiển thời gian cảm biến bắt sáng, còn độ mở điều chỉnh lượng sáng đi qua ống kính vào cảm biến.

Sau khi học về tốc độ, bài này sẽ nói đến độ mở, một thông số không những thông dụng mà còn có ý nghĩa rất quan trọng trong nhiếp ảnh. Tốc độ cửa trập điều khiển thời gian cảm biến bắt sáng, còn độ mở điều chỉnh lượng sáng đi qua ống kính vào cảm biến. Độ mở điều khiển lượng sáng bằng một "cửa sổ" trong ống kính dưới dạng bộ lọc hoặc các lá thép cơ học.
Yêu cầu chuẩn bị Thiết bị: Bất kỳ máy ảnh số nào Mục tiêu: Hiểu độ mở là gì, cách thức độ mở với tốc độ để điều hòa phơi sáng cho một bức ảnh. Thời gian: 15 phút.

Độ mở là gì? Độ mở là kích thước "cửa sổ" mở rộng ra hay hẹp vào để điều chỉnh lượng ánh sáng vào cảm biến. Trong nhiếp ảnh, độ mở thường được ký hiệu bằng chữ "f" theo sau là số. Ví dụ: f/2.8, f/8 hay f/16. Số sau chữ "f" chính là kích cỡ của độ mở "cửa sổ" nhưng được quy ước ngược, nghĩa là số càng nhỏ độ mở càng lớn, và số càng lớn độ mở càng nhỏ. Độ mở lớn

Hình minh họa cho cơ chế độ mở bằng lá thép mở rộng. Ảnh: Cnet.

Độ mở lớn được biểu thị bằng các số nhỏ, chẳng hạn f/2.8 hay f/3.5. Hầu hết các máy ảnh du lịch có độ mở tối đa là f/3.5, mặc dù hiện nay đã bắt đầu có những phiên bản tiên tiến hơn với độ mở có thể lên tới f/2 hay thậm chí là f/1.8. Do độ mở lớn có thể cho lượng ánh sáng vào cảm biến nhiều hơn nên độ mở lớn thường được dùng trong những điều kiện thiếu sáng. Thêm vào đó, do lượng sáng vào cảm biến nhiều hơn nên cũng đồng nghĩa với việc tốc độ chụp có thể đẩy nhanh hơn, giúp ảnh không bị mờ do rung máy. Độ mở hẹp

Hình này cho thấy độ mở đã được khép hẹp lại với số f lớn, chẳng hạn f/16. Ảnh: Cnet.

Độ mở nhỏ thường được biểu thị bằng những số lớn sau chữ "f" như f/11, f/13 hay f/16 hoặc hơn. Hầu hết các máy ảnh du lịch có độ mở nhỏ nhất là f/11. Nếu người chụp chụp ảnh trong những điều kiện ánh sáng mạnh (giữa trưa nắng), độ mở nhỏ giúp điều tiết lượng sáng hợp lý vào cảm biến, tránh ảnh bị cháy sáng. Trong trường hợp này, người chụp cũng có thể đẩy nhanh tốc độ để đạt hiệu quả tương tự. Kính lọc ND và lá thép độ mở cơ học Máy ảnh du lịch sử dụng hai cơ chế để điều tiết lượng ánh sáng đi qua ống kính vào cảm biến. Một trong số đó là sử dụng kính lọc ND (neutral density - trung tính) với một lớp kính có màu sậm hơn thông thường nhằm giảm lượng sáng đi vào cảm biến. Thêm vào đó, sử dụng kính ND không làm thay đổi giá trị độ mở. Vì thế, sử dụng kính lọc ND là giải pháp kinh tế hơn nên được sử dụng phổ biến hơn trong các máy ảnh du lịch.

Giá trị độ mở ở hình trên là f/3.3. Ảnh: Cnet.

Những người chụp chuyên nghiệp thì chọn sử dụng cơ chế lá thép có thể đóng hay mở tùy theo người chụp điều chỉnh. Nhờ việc có thể tự chỉnh mà chế độ này có thể giúp người chụp trởi nên sáng tạo hơn Tương tự như tốc độ cửa trập, thông số về độ mở được hiển thị ngay ở cạnh dưới màn hình LCD. Có thể thay đổi độ mở trên máy du lịch được không? Hầu hết các máy ảnh du lịch không cho phép thay đổi độ mở, tuy nhiên, người chụp vẫn có thể điều chỉnh độ mở gián tiếp qua thông số ISO. Lưu ý: Hiện một số máy ảnh du lịch cao cấp (Canon G12, Lumix DMC-LX5...) đã được trang bị đầy đủ các tính năng và thông số chỉnh tay, bao gồm cả tốc độ cửa trập và độ mở.

Sử dụng đèn flash trong chụp ảnh
(TG@) - Ánh sáng mặt trời luôn là nguồn sáng tuyệt vời nhất cho một bức ảnh. Thế nhưng, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể có được nguồn ánh sáng tự nhiên và vô giá này. Và khi ấy, chiếc đèn flash trở nên một người bạn quý giá cho những ai đang cần một bức hình.

Về lý thuyết, sử dụng đèn flash của máy chụp hình là việc đơn giản: Bạn cần sự trợ giúp này khi không thể chụp ảnh chỉ với ánh sáng tự nhiên. Hầu hết máy ảnh hiện nay đều trang bị đèn flash, tuy nhiên bạn nên tham khảo các thủ thuật bên dưới để đảm bảo luôn “săn” được những bức ảnh đẹp nhất.

Đèn flash phụ của Canon Ảnh: Canon.com

Khi nào nên dùng flash Một số người luôn để đèn flash máy chụp hình ở chế độ mở, do đó sẽ có trường hợp đèn flash “đánh” không cần thiết. Trong khi đó, vài người lại tắt hẳn flash. Tốt nhất, bạn nên tắt flash và chỉ bật khi thực sự cần thiết. Khi chụp lại khoảnh khắc của một hành động trong điều kiện ánh sáng yếu sử dụng flash, bạn cần tiên đoán trước vị trí nào của hành động mà mình sẽ chụp, lấy tiêu điểm (focus) trước bằng cách giữ nhẹ lên nút chụp ảnh, lúc này, khung tiêu điểm trên màn hình LCD sẽ chuyển từ trắng sang màu xanh lá cây. Cách này sẽ giúp bạn nhanh chóng lấy được khoảnh khắc như ý của hành động đang diễn ra và giảm bớt độ trễ của màn trập. Lưu ý là giữ đối tượng chụp nằm trong phạm vi của đèn flash, thông thường là 5 m. Một cách thức khác có thể áp dụng là tắt flash và tăng độ phơi sáng. Lúc này, máy ảnh sẽ giữ cho màn trập mở lâu hơn, cho phép nhiều ánh sáng vào trong bộ cảm biến hơn. Cách thức này cần được thử nghiệm nhỏ vì một vài lỗi có thể xuất hiện kèm theo sự gia tăng độ mờ trên ảnh. Tuy vậy, độ trung thực của ảnh được gia tăng đáng kể khiến các lỗi trên không còn là vấn đề lớn. Dùng flash đúng cách Hầu hết máy chụp hình đều cảnh báo người dùng bằng một biểu tượng trên kính ngắm khi không đủ ánh sáng để có được bức ảnh đẹp nếu không dùng đèn flash. Hãy đọc kỹ hướng dẫn sử dụng để hiểu được thông báo và để giải quyết tình huống này. Bạn cũng có thể kiểm tra tốc độ màn trập mà máy ảnh đang dự định sử dụng; giá trị dưới 1/60 giây là quá chậm. Ngoài ra, bạn cũng có thể tăng độ nhạy ISO hay bật flash. Nhiều khả năng đèn flash trên máy ảnh của bạn còn hỗ trợ các chế độ khác ngoài tắt và mở. Bạn phải biết rõ khi nào cần chuyển hẳn sang chế độ “phủ flash “ (fill flash) để tránh hiện tượng bóng đổ khi chụp ảnh người đang đứng ngoài trời dưới ánh nắng trực tiếp, và khi nào cần chọn tính năng giảm mắt đỏ (red eye reduction) để chụp ảnh trong nhà dưới điều kiện thiếu sáng.

Canon Mark III và flash đánh đèn liên tục EX 580

Ánh sáng mặt trời tự nhiên luôn luôn mang lại cho bức ảnh màu sắc trung thực và có chiều sâu hơn cả dù là buổi tối hay ban ngày. Ảnh chụp thuận sáng sẽ cho khuôn mặt người được chụp tươi tắn, hài hòa cùng cảnh vật. Trường hợp khi có nắng gây loang lổ khuôn mặt, bạn nên chọn chế độ xả thích hợp. Theo nhiều nhiếp ảnh gia có kinh nghiệm thì họ dùng chế độ xả đèn từ 1/8 đến 1/32. Ở các địa điểm như dưới mái hiên hay trời hơi sầm, khuôn mặt đối tượng thường bị tối các góc cạnh như khóe mắt, hốc mũi ta cũng nên dùng flash nhưng chỉ xả ở mức khoảng 1/16 đến 1/32. Nếu bạn xả mạnh hơn, mặt người sáng nhưng hậu cảnh lại bị đen dẫn đến hình chụp ban ngày mà khi xem lại thành buổi tối. Khi ở trong nhà, để cảnh được sáng và thật màu ta không nên hướng thẳng đèn flash vào mặt đối tượng mà nên hướng đèn lên phía trần nhà (để dùng được thủ thuật này trần nhà phải phẳng, không có độ vát hay cong). Chế độ này giúp ta có được bức hình thật màu như chụp không dùng đèn. Ánh sáng phụ trong nhà góp phần quan trọng tạo nên bức hình đủ sáng. Lúc này, ánh sáng của đèn neon hay halogen rất quan trọng. Flash nên được xả mạnh hết cỡ hoặc 1/2, 1/4 tùy theo lưu lượng ánh sáng phụ và độ cao của trần nhà. Trần thấp thì xả nhẹ, cao thì mạnh. Tuy nhiên, cao quá (trên 10 m) thì “siêu sao” cũng phải “bó tay”, bạn chỉ nên “đánh” thẳng vào mặt.
Khi chụp hình ban đêm, nhiều người chụp đánh flash vào một chủ thể xa rồi thắc mắc là vì sao chẳng nhìn thấy đâu, dù ở đó có trang trí đèn sáng. Đó là do khi chụp chúng ta để tốc độ (Speed) hơi cao, thậm chí quá cao hoặc đèn flash xả quá mạnh gây nên mặt người thì sáng trắng, phía sau đen xì. Đối với giới chuyên nghiệp thì điều này hết sức đơn giản: Tốc độ giảm xuống từ 1/8 đến 1'’. Nếu có chân ba càng để đặt máy lên thì càng tốt, đảm bảo được độ nét của cả người và cảnh. Flash lúc ấy bạn có thể để auto hoặc xả nhẹ chừng 1/4 đến 1/8 tùy theo chủng loại đèn. Nếu là máy ảnh số bạn có thể tăng ISO cao lên càng tuyệt tác.

Chụp phong cảnh bằng ống tele
(TG@) - Khi nói đến chụp phong cảnh, chúng ta thường nghĩ đến việc sẽ sử dụng một chiếc ống kính góc rộng (wide) để thu nhận những hình ảnh đó. Thế nhưng vẫn có những bức hình tuyệt đẹp được ghi nhận lại bằng ống kính góc hẹp-xa (tele).

Và đây cũng không phải là chuyện hiếm có bởi khá nhiều nhiếp ảnh gia đang sử dụng ống kính loại này để chụp phong cảnh.

Cửa biển Hàm Thuận

Nhiều người hay quan niệm sai lầm rằng phối cảnh được quyết định bởi tiêu cự, nhưng trong thực tế điều duy nhất quyết định phối cảnh là vị trí bạn đặt máy ảnh. Ít nhất có hai nguyên tắc bạn cần biết. Thứ nhất, càng lại gần đối tượng, kích cỡ đối tượng càng to lên trong khung hình (điều này ai cũng biết). Thứ hai, khi bạn dịch chuyển gần hơn tới cảnh cần chụp, các đối tượng ở gần sẽ tăng kích cỡ nhanh hơn các đối tượng ở xa (điều này không phải ai cũng biết). Chính nguyên tắc thứ hai thường bị người chụp bỏ quên. Do phối cảnh được quyết định chỉ bởi vị trí đặt máy ảnh, bạn có thể thấy rằng phối cảnh dễ chịu nhất thường là cảnh được nhìn ở một khoảng cách rất xa. Để tạo khuôn hình với phối cảnh kiểu như vậy, bạn cần phải zoom lại gần với một ống kính tiêu cự dài. Thông thường, các nhiếp ảnh gia sẽ khuyên bạn nên sử dụng ống kính có tiêu cự 70-200 mm sẽ mang tính cơ động hơn cho những hoạt động ngoài trời. Nguồn đề tài cho ảnh phong cảnh thường rất phong phú. Cánh đồng mùa gặt, bãi biển ngày nắng, dòng sông trong xanh... là những đối tượng quen thuộc đối với người cầm máy. Thậm chí, nếu biết cách bố trí góc nhìn và thời điểm chụp hợp lý, bạn có thể biến những cảnh tưởng chừng như thô cứng trong thành phố hay trên một cây cầu trở nên đặc biệt hấp dẫn. Nhiếp ảnh phong cảnh không quá khó và cũng không yêu cầu quá cao về thiết bị nhưng đòi hỏi người chụp tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc bố cục và luôn sáng tạo nhằm đem đến sự mới lạ.

Vịnh Phan Thiết

Với ống kính wide, việc chụp ảnh góc rộng cần dàn trải sẽ tạo nên một bức ảnh phong cảnh tuyệt vời. Thế nhưng nếu chọn một tiêu cự hợp lý của ống kính tele, bạn sẽ có được những chi tiết tuyệt vời,

kèm theo những điểm nhấn mà chúng ta khó có thể có được khi sử dụng ống wide. Do vậy, nếu ở một khung cảnh trải dài và có màu sắc đặc biệt, các nhiếp ảnh gia sẽ chọn ống kính tele để thể hiện nó. Ngoài ra, chụp ảnh phong ảnh chính là nhiếp ảnh ngoài trời, mà nhiếp ảnh ngoài trời phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện ánh sáng tự nhiên. Ánh nắng gắt vào tầm trưa giúp đẩy cao màu sắc và độ sáng nhưng có thể khiến ảnh bị xỉn hay nhợt do cân bằng trắng hoạt động kém chính xác. Độ tương phản quá lớn gây bởi ánh sáng mạnh đôi khi cũng khiến việc thể hiện các chi tiết tối trở nên khó khăn. Với ống kính tele, việc thể hiện độ tương phản và sắc nét sẽ tốt hơn ống kính wide, bởi việc thu nhận trường ảnh hẹp sẽ giúp chi tiết nổi bật hơn hẳn. Nếu bạn đứng trên tầm xa như trên một ngọn núi, đầu một dòng sông hay trước một thảo nguyên bát ngát, hơn ai hết, người chụp sẽ ưu tiên số một bằng chiếc ống kính tele của mình bởi khi ấy, ống kính wide sẽ thiếu đi những chi tiết cần nhấn mà chúng ta muốn thể hiện.

Khi nào phải dùng tripod
Tripod là một trong những trang bị quan trọng đối với những người theo nghề ảnh, nhất là với những người chuyên chụp phong cảnh, động vật và phóng viên ảnh thể thao.

Trong nhiếp ảnh, khái niệm tốc độ an toàn là khi chụp với tốc độ đóng màn trập nhỏ hơn tỷ lệ một trên độ dài tiêu cự thì sẽ thu được hình ảnh có độ nét chấp nhận được (ví dụ, 1/50 giây là tốc độ an toàn khi chụp tại tiêu cự 50mm). Tuy nhiên, trên thực tế, cách này chỉ áp dụng tốt với ống kính góc rộng tới tiêu cự trung bình, nhưng tương đối khó thực hiện với ống kính tele, vì tốc độ càng nhanh, ánh sáng vào càng ít, đồng nghĩa với bức ảnh bị thiếu sáng. Bên cạnh đó, yếu tố thể lực cũng ảnh hưởng rõ rệt việc có cầm chắc máy ảnh hay không (hiển nhiên khi thể lực sung mãn, người chụp cầm máy sẽ chắc tay hơn khi vừa đói, vừa mệt). Hơn nữa, tốc độ an toàn thực tế chỉ đúng với máy phim và dòng full frame, còn trên dòng máy dùng cảm biến crop, cần chụp với tốc độ nhanh hơn (do cảm biến nhỏ hơn nên ảnh thu được luôn bị phóng đại). Những khó khăn trên hoàn toàn có thể khắc phục nếu sử dụng tripod. Sau đây là phần hướng dẫn của nhiếp ảnh gia Roger W.Hicks đăng trên trang Shutterbug. 6 lý do để sử dụng tripod.

Bức ảnh trên chụp từ đỉnh một tòa tháp đồng hồ. Sau khi trèo hàng trăm bậc thang để đến được đây, người chụp hẳn đã rất mệt. Lúc này lý tưởng nhất là dùng tripod. Ảnh: Shutterbug.

1. Vùng ảnh rõ Thông thường, khi chụp với tốc độ an toàn cần mở khẩu lớn hơn cần thiết cho vùng ảnh rõ, nhất là khi chụp đối tượng tĩnh như nội thất hay kiến trúc. Khi chụp đối tượng di chuyển có thể gây một số khó khăn, nhưng để giữ đối tượng đứng yên một vài giây vẫn dễ hơn so với việc bạn giữ yên máy ảnh trong một phần mười giây. Đối với ảnh macro, sử dụng tripod cũng cho hiệu quả tốt hơn rõ rệt vì vùng ảnh rõ thường bé, mở màn trập lâu do khẩu độ hiệu quả rất nhỏ. 2. Khi dùng tripod, có thể hạ thấp độ nhạy sáng (ISO). Thông thường, để ảnh đủ sáng, bạn phải mở màn trập lâu hơn bù cho khẩu độ nhỏ (hoặc đã chỉnh khẩu lớn nhất của lens nhưng ảnh vẫn thiếu sáng), hoặc phải đẩy ISO lến hay dùng film nhạy sáng hơn. Nhưng với ISO thấp, ảnh thu được vẫn có chất lượng cao hơn, màu tốt hơn, ảnh sắc nét hơn, nhiễu hạt ít hơn. 3. Cố định góc nhìn. Ví dụ điển hình là khi phải sắp đặt mẫu hoặc bộ thiết bị trong studio. Khi sắp đặt, người chụp sẽ phải nhìn qua viewfinder và tuỳ chỉnh mẫu từng chút một. Nếu máy không được cố định, thì người chụp không thể chắc là có đưa được máy vào lại đúng vị trí trước đó hay không. Cũng như vậy, khi chụp bằng máy ảnh khổ rộng (large format) cùng thiết bị, người chụp vẫn cần gắn cố định máy để thực hiện các thao tác kỹ thuật ngay cả khi phơi sáng đủ ngắn để không dùng tripod. Hoặc khi chụp ảnh HDR hay ghép panorama, cần chân máy để chụp các bức hình liên tiếp ăn khớp với nhau, nhờ đó phần mềm ghép ảnh sẽ chạy nhanh hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn. 4. Chụp ảnh chân dung. Một số nhiếp ảnh gia chụp chân dung thích nhìn và điều chỉnh người mẫu cũng như ánh sáng trực tiếp hơn là qua viewfinder, vì nó giúp họ cảm nhận, nắm bắt bức ảnh tốt hơn. Người mới chụp sẽ phải thực hành nhiều cách cảm nhận đó để có thể điều chỉnh mẫu không di chuyển ra ngoài khuôn hình hay vùng lấy nét khi sử dụng tripod cố định khuôn hình. 5. Sử dụng tripod đỡ mỏi tay khi phải cầm máy quá lâu. Trong khi bạn setup khuôn hình, điều chỉnh mẫu, tripod giúp giữ máy, giữ cố định luôn khuôn hình bạn muốn chụp. 6. Khi setup máy lên tripod, thường thì ít người dám đứng lại đủ lâu chắn ngang tầm nhìn người chụp. Đây là một cách sử dụng hàng rào tâm lý rất hiệu quả. Sử dụng tripod có những thuận lợi như trên, nhưng cũng có 6 lý do bạn không nên dùng, tất nhiên là ở một chừng mực nào đó.

Sử dụng tripod mini. Ảnh: Shutterbug.

1. Tính linh hoạt. Nhiều khi tình huống ảnh hay lại trôi qua trong khi người chụp đang mải lắp tripod. 2. Bị cấm sử dụng tripod. Có một số ít nơi cấm sử dụng tripod, vì nơi đông người đi lại, khi đặt chân máy có thể làm vướng lối đi của người khác hoặc đấy đơn giản là chỉ là một quy định đã được ban ra. Khi đó có 2 lựa chọn. Một là xin phép với thái độ thật cầu thị, đôi khi có thể phải trả tiền, nhưng thường là được. Cách thứ hai là sử dụng thiết bị khác thay cho tripod. 3. Ở bề mặt không ổn định. Mục đích dùng tripod là để giữ cố định máy ảnh, giảm tối thiểu rung lắc gây nhòe ảnh. Nhưng nếu đang ở trên bề mặt không ổn định như boong tàu (trừ trường hợp tàu rất lớn) hoặc sàn tàu hỏa thì chụp bằng tay lại ít rung hơn là đặt trên tripod. 4. Chân máy quá to và nặng. Rất nhiều người bắt đầu chụp ảnh, thường nghe theo các lời khuyên từ các diễn đàn về nhiếp ảnh, đã mua tripod quá to và nặng để có thể mang theo trong các chuyến đi. Bạn nên nhớ một điều đơn giản là một tripod nhẹ luôn mang theo sẽ luôn luôn hữu ích hơn một tripod chắc chắn đang cất ở nhà. 5. Mua phải một tripod yếu. Ngược với điều 4 ở trên, khi đó tripod không thể giữ máy bạn đủ vững, vì vậy đừng mang nó theo. 6. Có nhiều thiết bị hỗ trợ tốt hơn tripod. Ở những nơi cấm sử dụng tripod cỡ lớn, bạn có thể dùng tripod để bàn, monopod, để gắn… để giảm thiểu hiện tượng nhòe ảnh. Ví dụ, đi chụp với máy Leica nhỏ gon, rõ ràng dùng tripod kim loại to, nặng không thể thuận tiện như dùng tripod composite như SLIK Snapman hay Velbon Maxi 343i, hoặc dùng chân để bàn Ultra Pod II cực nhẹ, có thể treo ngay dưới máy khi không dùng. Những chân này có thể chụp qua cửa kính (đưa chân hướng về kính và chụp qua đó hoặc đè lên ngực để lấy điểm tựa. Khi đi chụp bằng máy lớn, ví

dụ như máy khổ trung 5x7 inch hoặc lớn hơn (medium format), có thể dùng chân Gitzo hay chân đơn IFF... Một gợi ý khác khi dùng chân để bàn là sử dụng ngực như là điểm tựa, thở nhẹ ra, tạm ngừng và bấm mở màn trập, tiếp tục thở nhẹ. Và đừng cố giữ hơi thở.

Làm chủ màu sắc bằng filter
(NLĐ) - Để có những bức ảnh đẹp với màu sắc sống động, người chụp ảnh cần nắm rõ công dụng và chức năng của từng filter (kính lọc) mới có thể chọn được loại phù hợp.

Như một kính đeo mắt, các loại filter có công dụng điều tiết và điều chỉnh quang học lượng ánh sáng đi vào ống kính, giúp lọc và loại bỏ các tia sáng không tốt đối với ảnh, tạo ra các hiệu ứng quang học lên ảnh. Ngoài ra, filter cũng đóng vai trò bảo vệ thấu kính ngoài của ống kính. Filter dùng được cho tất cả các loại máy ảnh từ máy film SLR, Digital SRL đến máy số P&S, kể cả các loại thiết bị chuyên dụng như kính thiên văn, ống nhòm... Có rất nhiều loại filter, những loại sau đây được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. UV filter Mắt thường không thấy được UV (ultraviolet ray - tia cực tím) nhưng phim hoặc cảm biến đều ghi nhận. Do tán sắc, tia UV sẽ làm cho ảnh bị ám màu lam. Sử dụng filter UV rất cần thiết cho mọi cảnh chụp ban ngày, nhất là khi chụp ở vùng núi cao và cảnh sông biển. Khi gắn filter này, ảnh chụp sẽ giảm được hiện tượng ám màu, rõ hơn, không khí trong ảnh sẽ trong và sạch hơn mà không giảm lượng ánh sáng vào trong thấu kính. Filter này cũng như được dùng như lớp bảo vệ chống lại sự va đập hay đọng nước trên bề mặt thấu kính ngoài.

Màu sắc thể hiện cho từng loại filter. Ảnh: cameradigital.net

Hiện có rất nhiều hãng sản xuất filter nổi tiếng như Marumi, B+W, Hama... cho ra lò các loại filter UV đi cùng chức năng với các loại filter khác như Sky light, IR Cut (Infra Red light Cut), Haze...

Vì vậy, khi lựa chọn filter, nên để ý đây là UV filter loại gì, có “khớp” với mục đích sử dụng không. Chẳng hạn Filter B+W Sky Light KR 1.5 mặc định có cả chức năng chống lại tia UV hoặc Marumi UV/IR Cut mặc định có chức năng lọc bỏ cả tia Infra Red lẫn tia UV. Cũng nên lắc nhẹ filter trước ánh sáng mặt trời để biết filter đó lọc được màu gì. ND filter ND, GND và Graduated filter đều có có công dụng cản quang và làm thay đổi độ bão hòa màu. Filter ND được phủ một lớp phim màu xám trung tính, tùy theo mức độ đậm đặc mà nó làm thay đổi sắc độ đối với tất cả các loại màu. ND filter còn có tên gọi khác là Light Volume Reduction, tác dụng chính là cản quang dẫn tới gia tăng thời lượng phơi sáng. Những máy ảnh hiện đại ngày nay đều cho phép người chụp đẩy tốc độ chụp lên rất cao hoặc giảm tốc độ chụp xuống rất thấp để bù trừ lượng ánh sáng giới hạn bởi khẩu độ, cho ra tác phẩm hết sức thú vị.

Ảnh chụp dòng thác nước bằng ND filter. Ảnh: cameradigital.net

Khẩu độ lớn sẽ tạo ra DOF mỏng tách chủ thể ra khỏi tiền cảnh và hậu cảnh, song do ảnh hưởng của một số điều kiện ánh sáng, đôi khi người chụp không thể tùy chỉnh được độ mở mong muốn để tạo ra ảnh trường DOF phù hợp.
Bảng giá filter B+W, Marumi, Hoya, Kenko: 200 USD B+W 82mm Circular Polarizer C-POL SLIM NEW: 115 USD B+W 77mm Neutral Density ND 0.9 (8x) 103 Glass: 110 USD B+W 77mm Circular Polarizer C-POL SLIM NEW: 105 USD B+W 72mm Circular Polarizer C-POL SLIM NEW: 95 USD

Trong trường hợp này, filter ND là một giải pháp. Còn nếu cần giảm thời gian của tốc độ mà vẫn giữ nguyên khẩu độ để tạo độ nhòe thì sử dụng filter ND là một giải pháp ưu việt, đặc biệt là khi chụp ảnh dòng nước chảy hoặc thác đổ. Polarizers filter Ánh sáng di chuyển theo dạng sóng, tất cả các vật thể đều phản xạ ánh sáng và ống kính ghi nhận toàn bộ những loại sóng ánh sáng phản xạ đó. Trong quá trình phản xạ, các sóng ánh sáng phản chiếu này có thể cộng hưởng hoặc gây nhiễu động sóng ánh sáng kia gây ra lóa sáng và bóng ảnh.

Bằng cách xác lập trục truyền, Polarizers Filter sẽ cản những tia sáng do phản chiếu, chỉ cho phép những tia sáng có phương vuông góc với tia sáng phản chiếu đi vào ống kính, hạn chế các sóng ánh sáng phản chiếu lung tung. Nhờ đó, sóng ánh sáng từ các vật thể không phản chiếu phân cực đi vào ống kính đã được lọc bỏ đi sự nhiễu động. Ví dụ, chủ thể đang ở vùng mặt nước (hoặc trước mặt kính), Polarizers Filter sẽ loại bỏ sự ám (veil) bên ngoài, tạo cho ánh sáng truyền từ chủ thể vào ống kính một cách trung thực, màu sắc và độ nét được bảo toàn phần nào. Thật là khó nếu chụp ảnh một chủ thể đứng trước hoặc sau bề mặt phản chiếu mà không dùng Polarizers Filter. Nếu dùng filter này để chụp ảnh các vật thể trước gương hoặc mặt nước, kể cả dưới bầu trời sáng chói, sẽ rất hiệu quả.

Chụp ngược sáng
(TG@) - Đối diện với nguồn sáng lớn luôn là một vấn đề tối kỵ khi chụp ảnh. Thế nhưng đối với những tấm ảnh ngược sáng lại có những bất ngờ về mặt nghệ thuật. Do vậy, chụp ngược sáng luôn là một thử thách cho những tay máy thích khám phá cái đẹp từ nhiếp ảnh.

Phương pháp chụp ngược sáng tăng viền ảnh - Ảnh: Panoramio

Để chụp bình minh hoặc hoàng hôn, vấn đề khó khăn cho những nhiếp ảnh gia chính là làm cách nào để rõ và sáng chủ thể của mình, khi vẫn phải thể hiện góc ảnh đang nằm ngược sáng. Đặc biệt, những tấm ảnh ngược sáng thành công đều luôn luôn nhấn mạnh chủ thể phía sau, hay còn gọi là phông nền. Đây chính là điểm nhấn quan trọng mà một tấm ảnh ngược sáng cần thể hiện. Khi chủ thể được tạo hình đẹp, mang tính nghệ thuật, bức ảnh sẽ thực sự tuyệt vời. Bạn sẽ không thể có được những bức hình đẹp nếu chủ thể ngược sáng thiếu tính rõ ràng, mất nét. Để tránh điều này, việc đầu tiên của những người cầm máy chính là đo sáng. Kỹ năng này rất quan trọng khi chụp ngược sáng. Một chủ thể tối ở giữa khung hình sẽ tạo ra những bất lợi nhất định cho việc đo sáng. Đo sáng chủ đề nhằm chốt tham số phơi sáng trên máy, rồi sắp xếp bố cục hình ảnh như ý muốn và chụp lại. Ngay sau khi chụp, tham số phơi sáng sẽ mở như cũ và bạn trở lại phương thức chụp thông thường. Tất nhiên, không phải điều kiện ánh sáng nào cũng giúp cho một bức ảnh ngược sáng hoàn hảo. Tốt

nhất nên chọn hậu cảnh và chủ thể chênh sáng nhiều một chút. Nếu chênh quá ít, khi giảm sáng để chủ thể đen hơn thì hậu cảnh cũng bị tối lại làm mất chi tiết.

Kỹ thuật chụp silhouette các chi tiết thường có màu đen - Ảnh: Animal Planet

Nếu chấp nhận hậu cảnh cháy thì đơn giản, cứ đo sáng điểm vào mặt mẫu, cộng thêm khoảng 0.5 đến 0.7 EV tùy theo da mẫu đen hay trắng. Xong cẩn thận thì khóa sáng lại rồi chụp. Còn nếu như muốn hậu cảnh vẫn được rõ thì phải tăng sáng cho mẫu. Có thể dùng hắt sáng hoặc thêm đèn gọi là fill flash. Thông thường, chúng ta nên chọn góc chụp thuận sáng (nguồn sáng ở sau lưng người chụp) thì thích hợp nhất. Nhưng nếu phải chụp ngược sáng, nhất là khi chủ thể là người, thì khuôn mặt thường bị tối. Để hạn chế hiện tượng này, bạn có thể giảm bớt EV và bật chế độ Flash ON (bắt buộc đèn flash phải làm việc dù có dư sáng). Chúng ta dùng nguồn sáng flash để làm sáng khuôn mặt của chủ thể. Khi giảm EV nền ảnh sẽ giảm bớt độ sáng trắng, đồng thời với chế độ Flash ON có thể sẽ làm sáng lên phần nào khuôn mặt của chủ thể. Đương nhiên, bạn cũng phải quan tâm đến khoảng cách chụp và phạm vi đèn flash bao phủ. Trong các bức ảnh thiên nhiên hoặc hình cưới, phương pháp chụp ngược sáng tăng viền ảnh hay làm đen chủ đề này khá được ưa chuộng, nhằm làm tăng giá trị của chủ thể trước một nguồn sáng. Ví dụ như hình ảnh đôi bạn trẻ trước biển, cảnh những chú lạc đà băng ngang sa mạc... Phương pháp này tỏ ra khá đơn giản khi chỉ cần đưa máy, đo sáng vào chính chủ đề rồi chụp. Thế nhưng nếu như chúng ta quên siết khẩu độ (đóng khẩu độ tối đa), khả năng cháy hình là rất lớn bởi nguồn sáng trực tiếp lọt vào máy sẽ gây nên hiện tượng đen cả tấm hình, chứ không chỉ đen vật thể. Trong số những kỹ thuật chụp ngược sáng, silhouette (bóng trên nền sáng) là cách hay để lột tả tâm trạng bức ảnh, trong đó các chi tiết thường có màu đen nhằm làm nổi bật đường viền, hình dáng chủ thể.

Tấm ảnh ngược sáng thành công phải nhấn mạnh được chủ thể phía sau - Ảnh: Panoramio

Trong khi chụp cảnh thiên nhiên, những ánh sáng trắng mặt trời trực tiếp có thể làm thay đổi diện mạo bức ảnh một cách ngoài ý muốn. Hiện tượng này xuất hiện khi bạn không có vị trí chụp ảnh thuận chiều với ánh sáng. Và trong tư thế chụp ảnh ngược ánh sáng ấy, bạn sẽ có được một bức ảnh như được phủ lên một màn sương trắng và toàn bộ bức ảnh không được rực rỡ trong ánh sáng như quang cảnh khi bạn ngắm chụp. Hiện tượng này gây ra bởi hiệu ứng lóe sáng và mờ. Hãy để ý đến hiệu ứng này (lóe sáng và bóng mờ) trong khi chụp ảnh ngược sáng. Bạn có thể giảm thiểu được tình trạng này bằng cách ngăn chặn không để các tia nắng chiếu trực tiếp vào ống kính của bạn. Bạn có thể che chắn chung quanh mặt ống kính bằng tay của bạn hay bằng một vật gì khác tương tự nhằm không để ánh nắng chiếu chạm đến mặt kính. Chú ý rằng hiệu ứng lóe sáng và mờ vẫn có thể xảy ra ngay cả khi nguồn ánh sáng không xuất hiện trên ảnh, vì vậy hãy chú ý đến vị trí đứng của bạn so với nguồn sáng.

Kỹ thuật chụp ảnh phơi sáng
(TG@) - Thuật ngữ “phơi sáng” (exposure) để chỉ cảm biến bắt sáng được “phơi” ra lấy hình ảnh của một khung cảnh. Tuy nhiên, để thu được một bức ảnh từ cảm biến thông qua cơ chế phơi sáng, còn cần phải có thêm cả ống kính, thân máy. Có đến 3 yếu tố ảnh hưởng tới phơi sáng, hay nói cách khác là ảnh hưởng tới ánh sáng tạo nên bức ảnh, đó là tốc độ cửa trập (shutter speed), độ mở ống kính (aperture) và độ nhạy sáng (ISO). Trong đó, quá trình ánh sáng tiếp xúc với vật liệu nhạy sáng như phim, giấy ảnh hoặc mặt cảm biến trong máy ảnh kỹ thuật số sẽ quyết định để có một tấm ảnh. Quá trình phơi sáng phụ thuộc vào 2 giá trị là thời gian trập và khẩu độ của ống kính. Thời gian trập (hay được gọi là tốc độ chập) là khoảng thời gian mà màn chập của máy ảnh mở cho ánh sáng đi vào mặt vật liệu nhạy sáng. Khẩu độ là kích thước thay đổi của màn chắn trong ống kính, điều chỉnh lượng ánh sáng đi qua vào mặt vật liệu nhạy sáng.

Với tốc độ phơi sáng khác nhau, sẽ cho ra những bức ảnh thể hiện chuyển động khác nhau Thời gian trập Tốc độ cửa trập quy định thời gian mà cảm biến được lộ ra để bắt hình ảnh. Trong hầu hết các trường hợp, tốc độ này được tính bằng những phần nhỏ của 1 giây. Ánh sáng của một khung cảnh càng tối thì thời gian cảm biến cần để thu đủ lượng ánh sáng càng dài để tạo thành được một bức ảnh đẹp. Đối với những cảnh chụp đêm, tốc độ cửa trập có thể kéo dài tới hàng giây hoặc hàng phút. Với tốc độ khác nhau, người chụp có thể thể hiện được những chuyển động khác nhau. Ví dụ, khi chụp một làn nước chảy tự nhiên, tốc độ 1/30 giây là phù hợp, nhưng chỉ cần đẩy lên tốc độ 1/500 giây, chuyển động của làn nước sẽ bị “đóng băng” với từng hạt nước rõ nét thay vì một làn nước mờ mờ. Tốc độ cửa trập cao vốn rất được ưa thích trong chụp thể thao bởi nó có thể “tạm dừng” bất kỳ đối tượng đang chuyển động nào như thể đối tượng đó đang đứng im. Độ mở ống kính Độ mở quy định độ rộng của mống chắn sáng bên trong ống kính. Mống chắn sáng này tương tự như con ngươi của mắt người, được làm bằng những lá thép xếp lớp với nhau tạo thành một vòng tròn có lỗ, có khả năng điều chỉnh độ to nhỏ để cho phép ánh sáng đi qua nhiều hay ít. Độ mở càng to (lỗ tròn càng to), ánh sáng “rơi” vào cảm biến càng nhiều và ngược lại. Khi chụp một khung cảnh, sẽ có một lượng ánh sáng vừa đủ nhất định tạo nên tính hoàn hảo của bức ảnh. Vì vậy, nếu độ mở ống kính mở càng lớn (ánh sáng vào nhiều hơn) thì tốc độ cửa trập phải càng nhanh để cân bằng lượng ánh sáng vào cảm biến. Ngược lại, nếu tốc độ cửa trập càng chậm (thời gian để cho ánh sáng vào cảm biến lâu hơn) thì độ mở càng phải hẹp lại để luôn duy trì một lượng ánh sáng vừa đủ. Nên nhớ một điều là độ mở lớn được biểu thị bằng con số nhỏ, còn độ mở nhỏ lại được biểu thị bằng con số lớn. Ví dụ độ mở lớn nhất sẽ được ghi là f/2 hoặc f/2,8, trong khi độ mở nhỏ hơn sẽ là f/8, f/11. Ngoài việc điều chỉnh lượng ánh sáng đi qua ống kính, độ mở còn ảnh hưởng đến độ sâu trường ảnh (depth of field) hay khoảng nét. Độ mở càng nhỏ (f/16 chẳng hạn) khoảng nét càng lớn (tất cả mọi thứ trong ảnh, tiền cảnh hay hậu cảnh đều rõ nét) và ngược lại.

Ba yếu tố ảnh hưởng tới phơi sáng Độ nhạy sáng Độ nhạy phim cũng có tác động tới lượng ánh sáng vào cảm biến. Độ nhạy càng cao, ánh sáng cảm biến thu được càng nhiều. Do vậy, khi một khung cảnh đủ sáng với một mức ISO, độ mở và tốc độ nhất định, nếu bạn tăng ISO, thì để cân bằng lượng sáng, bạn phải hoặc thu hẹp độ mở, hoặc tăng tốc độ cửa trập. Thông thường ISO ở mức 50 hoặc 100 sẽ cho ảnh đẹp nhất. ISO tăng càng cao sẽ khiến ảnh càng bị hạt. Hiện các máy ảnh số cho phép chỉnh ISO lên tới 6.400 nhưng ở độ nhạy này ảnh gần như sẽ mất chi tiết do quá hạt và nhiễu, thường chỉ dùng trong những trường hợp rất hãn hữu. Điều chỉnh phơi sáng Tất cả các máy ảnh số từ dạng ngắm-chụp tới DSLR đều đã có các chế độ tự động điều chỉnh phơi sáng thích hợp (Auto, Program) cho hầu hết mọi điều kiện chụp ảnh. Trong một số các trường hợp đặc biệt (chụp đêm, chụp tuyết, pháo hoa, con trẻ...), máy ảnh đời mới cũng đã thiết lập sẵn cho người dùng thông qua chế độ mặc định (Scene mode) nên nói chung, người chụp ngày nay có thể không cần quá quan tâm đến các thông số độ mở, tốc độ mà vẫn có thể chụp được những bức ảnh đẹp. Những người biết hơn một chút có thể tiếp tục tùy chỉnh qua các chế độ bán tự động như ưu tiên độ mở (Av, A) hay ưu tiên tốc độ cửa trập (Tv, S), chế độ mà máy sẽ tự điều chỉnh thông số ảnh hưởng tới phơi sáng tương ứng theo điều chỉnh của người chụp. Thực tế là ở chế độ tự động, khi chụp đêm máy ảnh sẽ căn cứ chủ yếu vào tốc độ cửa trập thay vì các yếu tố tác động đến sự phơi sáng khác. Vấn đề ở chỗ, hầu hết máy ảnh đều tính toán không đúng thời gian cần thiết mà tốc độ cửa trập cần có để thu được ánh sáng tạo nên một bức ảnh được gọi là đẹp. Lý do chính là cảm biến đo sáng máy ảnh hoạt động về đêm (ánh sáng rất yếu) không được chính xác và hiệu quả như ban ngày. Vì thế, những bức ảnh chụp đêm bằng chế độ tự động phần lớn là thiếu sáng.

Bố cục trong nhiếp ảnh
(TG@O) - Ai trong chúng ta cũng đều thích cái đẹp và hơn thế nữa chúng ta đều muốn mình tạo ra cái đẹp. Và một tác phẩm ưng ý, một tác phẩm đẹp là ước muốn không chỉ của các nhiếp ảnh gia mà của mọi người khi cầm máy ảnh để chụp ảnh.

Để trở thành một nhiếp ảnh gia với các bức ảnh để đời quả lá khó, nhưng để có được những bức ảnh đẹp thì cũng không khó lắm nếu ta nắm được các nguyên tắc nhiếp ảnh cơ bản nhất. Xin giới thiệu với các bạn bố cục cơ bản trong nhiếp ảnh. Các nhiếp ảnh gia, nhà báo... trước khi có những tấm ảnh đẹp, để đời thì chắc chắn trong đầu họ cái bố cụ này đã nằm sẵn từ lúc nào. Mời bác bạn xem tấm hình sau:

Quan sát hình trên ta thấy: Hai dòng kẻ dọc và ngang chia hình thành 3 phần bằng nhau và gặp nhau tại 4 điểm. Trong nhiếp ảnh ta gọi 4 đường đó là 4 đường mạnh và 4 điểm đó là 4 điểm mạnh. Hai đường nằm ngang còn gọi là hai đường chân trời. Trong khi chụp hình người chụp phải cố gắng đưa chủ đề cần chụp vào gần hoặc trùng các đường mạnh, điểm mạnh trên. Đây là bố cục căn bản nhất, bất cứ người chụp ảnh nào cũng cần phải ghi nhớ trong đầu để mỗi khi nhìn, ngắm chụp đều lôi ra để áp dụng. Và dĩ nhiên là trong cả hội họa, điện ảnh, kiến trúc thì đây cũng là bố cục cơ bản nhất. ví dụ:

Ngoài ra ta còn gọi hai đường ngang là hai đường chân trời. Khi chụp ảnh phong cảnh có đường chân trời thì ta đặt đường chân trời nằm gần hoặc ngay tại hai đường trên tùy ý đồ thể hiện của ta. Ví dụ: Khi muốn thể hiện sự bao la của bầu trời, thì ta chọn đường dưới là đường chân trời.

6 yếu tố căn bản trong bố cục ảnh
(TG@O) - Trong bố cục ảnh, có 6 chuẩn mực để bạn dựa vào, nhưng để các tấm ảnh có hồn, thu hút và tránh nhàm chán rất cần tới sự vận dụng linh hoạt.

Bố cục ảnh so sánh kích thước (toà nhà với ôtô)

Cả hội hoạ và nhiếp ảnh đều là nghệ thuật truyền tải thông tin thị giác và chịu sự chi phối của những nguyên lý căn bản về cảm nhận thực thể bằng ánh sáng. Nhưng nếu hội hoạ là nghệ thuật tổng hợp thì nhiếp ảnh là kỹ thuật phân tích. Khi vẽ tranh, hoạ sỹ đưa dần vào khung toan trắng những nét cọ để tạo ra nội dung và bố cục của nó. Nhưng trong nhiếp ảnh, người ta làm công việc ngược lại… Với bối cảnh thực có sẵn nội dung và bố cục, tay máy phải thay đổi góc nhìn, sử dụng ống kính wide hay tele, xoay trở khuôn hình để chọn lọc những yếu tố xây dựng lên bức ảnh. Tuy nhiên, dù là thêm vào hay bớt đi các mảng khối trong khuôn hình, cả hội hoạ và nhiếp ảnh đều hướng tới cách xếp đặt hiệu quả nhất để thể hiện nội dung các tác phẩm. Trong kết quả cuối cùng, ở mức độ nào đó, cả tranh vẽ và ảnh chụp đều được đánh giá bởi một chuẩn mực về bố cục. Khi đánh giá một bức ảnh, người ta xem xét nó trên những yếu tố căn bản về nội dung, màu sắc, trạng thái và hiệu ứng quang học. Nếu bố cục được nhấn mạnh trong khi các yếu tố khác bị khoả mờ, bản thân nó có thể là chủ đề của nhiếp ảnh. Hầu hết các yếu tố căn bản này giúp truyền tải thông tin thị giác như điểm và đường nét, hình dạng, màu sắc, chất liệu bề mặt và độ tương phản đều liên quan đến bố cục bức ảnh. Người chụp ảnh dựa trên những nguyên tắc này để phát triển kỹ năng sắp xếp các đối tượng trong khuôn hình.

Tiết tấu tạo bởi hiệu ứng quang học

1 - Tìm ra tiết tấu hay mô thức xếp đặt trong bối cảnh Đó là kỹ thuật rút ra logic về vị trí, sự xếp đặt các vật thể trong khuôn hình, chọn được góc đặt máy tốt nhất phản ánh tiết tất và mô thức trên các vật thể. Kỹ thuật này rất phổ dụng đối với ảnh kiến trúc, giao thông, dây chuyền sản xuất… Việc phát hiện logic xếp đặt trong một bối cảnh lớn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng quan sát và xâu chuỗi của tay máy. Tuy nhiên, việc lạm dụng tiết tấu, thiếu suy

ngẫm và phân tích sẽ dẫn đến những bức ảnh dập khuôn nhàm chán. Việc áp dụng hiệu quả bố cục này phải đi liền với các hiệu ứng ánh sáng, tạo bóng và góc đặt máy khác thường. Ví dụ, một hàng cột tròn đều tăm tắp và sáng rõ trong nắng trưa sẽ không thể đẹp bằng bức ảnh chúng đứng trong ánh sáng xiên thấp hơi lệch phương ống kính. Nhờ nắng tạt ngang, bóng cột sẽ đổ dài tạo một hàng cột nữa nằm dưới đất, thân của chúng sẽ được “vê” tròn lẳn vì hiệu ứng chuyển sáng tối. Nếu đặt máy thật thấp dưới chân hàng cột với ống kính góc rộng, đầu của chúng sẽ sẽ chạm vào nhau và lao vút lên trời, rất thú vị. Nhiều khi các tiết tấu lại xuất hiện cùng hiệu ứng quang học và chỉ tác động vào ống kính ở một góc nhìn nhất định, vấn đề là phải tìm tòi và sáng tạo.

Phản ánh chiều sâu không gian

2 -Thể hiện được kích cỡ vật thể hoặc khoảng cách Kỹ thuật này giúp người xem ảnh hình dung kích thước của vật thể trong khuôn hình. Sử dụng tốt phép so sánh chênh lệch về kích thước có thể nêu bật được độ lớn của đối tượng trong bức ảnh. Ví dụ, nếu muốn minh hoạ độ lớn của một con voi nên đặt chú sáo bé như hạt gạo trên lưng nó. Ngược lại, khi chụp macro một bông hoa nhỏ, người ta nhấn mạnh mức phóng đại của bức ảnh bằng một chú kiến vàng lớn như con ong chúa. Vật thể làm mẫu so sánh nên thuộc loại hình ảnh quen thuộc, dễ hình dung kích thước như con người, ôtô, que diêm, cái bút… Có thể dễ dàng nhận thấy hiệu quả của thủ pháp so sánh khi xem những thước phim hoạt hình kinh điển về người khổng lồ, tí hon. Tay máy khi đứng trước bối cảnh hoành tráng hay vật thể quá lớn, anh ta dễ bị ngợp tới mức quên mất là cần một vật thể so sánh. Kết quả là bức ảnh sẽ còn cảm xúc mà anh ta đã trải nghiệm, mọi thứ sẽ chỉ giống như cảnh trên bàn hay những món đồ chơi của trẻ con.

Điểm nhấn màu

3 - Tạo sức hút cho điểm nhấn của bức ảnh Vùng trọng tâm hay điểm nhấn của bức ảnh được thể hiện bằng kỹ thuật tạo độ tương phản, hay đường dẫn hướng. Theo nguyên lý thị giác thì điểm tương phản nhất trong khuôn hình sẽ thu hút thị giác, vùng xẫm sẽ nặng và hút mắt hơn khoảng n*** trắng. Mặt khác, ánh mắt người xem cũng sẽ di chuyển theo hướng chiếu của tia sáng trong khuôn hình, tức là đi từ chỗ nhạt nhất đến chỗ đậm nhất. Những đường cong, nét chéo kết thúc tại điểm nhấn sẽ dẫn ánh mắt người xem đến đó. Tuy nhiên, chúng cũng có thể gây hậu quả phân tán và khó hiểu nếu chỉ lệch hướng tới chủ đề chính. Trong bố cục cổ điển, điểm mạnh của bức ảnh thường được đặt ở toạ độ giao nhau của đường 1/3 dọc và 1/3 ngang bức ảnh (gần 4 góc khuôn hình). Cách sắp xếp này đặc biệt phù hợp với cỡ phim 35 mm. Nhiếp ảnh hiện đại không bị lệ thuộc vào những công thức cổ điển. Thậm chí, những tay máy cách tân còn cố tính đặt chủ đề vào những vị trí oái oăm và điều đó lại gây sự chú ý và ấn tượng về bức ảnh. Thực ra, những tay máy này phải rất hiểu về Tỷ Lệ Vàng để có thể làm điều ngược lại và tạo nên hiệu quả thú vị. Giá trị cao nhất mà nhiếp ảnh hiện đại nhắm tới không hoàn toàn là cái đẹp, mà là cảm xúc và ấn tượng.

Bố cục đường dẫn

4 - Đặc tính về cân bằng và trạng thái Sự cân bằng trong bức ảnh sẽ quyết định trạng thái tĩnh hoặc động của nó. Nếu thủ pháp sử dụng đường chân trời nằm ngang chính giữa bức ảnh nhằm tạo nên cảm xúc tĩnh lặng, thì khi đặt nghiêng, đưa lên cao hay hạ xuống thấp sẽ cho hiệu quả động. Bức ảnh nhiều trời ít đất thì tạo cảm xúc nhẹ nhõm thanh cao. Còn khi đảo tỷ lệ này, những hiệu quả sẽ ngược lại. Mắt người xem có một đặc tính là bị thu hút theo hướng chuyển động của chủ đề. Do vậy, trong bố cục cổ điển các chuyển động phải hướng vào trong bức ảnh. Nhưng các nhiếp ảnh gia hiện đại lại không muốn người xem thấy ngay mọi thứ, họ đòi hỏi sự quan sát và suy ngẫm về thông điệp của bức ảnh, nên họ có thể không tuân thủ quy tắc này. Sự cân bằng cũng bị chi phối bởi màu sắc, một chấm vàng tươi bên phải sẽ nặng bằng cả một mảng nhạt trắng. Cách lấy một diện tích nhỏ có sức hút mạnh để tạo ra sự cân bằng với một mảng lớn nhẹ nhõm hơn sẽ tạo ra trạng thái cân bằng động - một bố cục khá phổ biến trong nhiếp ảnh. 5 - Chụm vào tản ra Việc sử dụng hình tròn hay những đường cong kín tạo nên sức hút khá mạnh và gây hiệu ứng hợp nhất - phương pháp thể hiện tốt những hiện thực đơn lẻ như bông hoa, mạng nhện… Khi được sử dụng hợp lý, bố cục này sẽ hướng sự chú ý vào giữa tâm của nó. Mục tiêu hợp nhất vào điểm mạnh còn có thể được thực hiện bởi nhiều đường dẫn hướng tới đối tượng chính (ví dụ: nút giao thông). Không cần

phải là những nét dẫn thực thể, ánh mắt tập trung của các sinh vật trong khuôn hình cũng sẽ định hướng sự quan sát của người xem ảnh. Thủ pháp bố cục phân tán thường được dùng để diễn giải những nội dung trừu tượng như: giận dỗi, làm ngơ, đa dạng, hỗn loạn… Đi liền với kỹ thuật này là ống kính góc rộng, bao quát nhiều cụm đối tượng mạnh tương đương. Ví dụ, bức hình chụp từ trên xuống một trung tâm giao dịch chứng khoán, hay một cái chợ ngoài trời đông đúc.

Tận dụng nét lượn chữ S

6 - Phản ánh chiều sâu không gian Là một thủ pháp rất hiệu quả để khắc phụ bản chất phẳng dẹt của bức ảnh. Một bố cục khéo léo có thể làm khuôn hình trở nên sâu hút, cũng có thể khiến chủ đề nổi bật hình khối trên một bối cảnh mờ nhoà. Nhiều khi một bức ảnh nét suốt từ cận cảnh tới vô cự không tạo cảm giác sâu bằng bức macro nét cạn, chính phần vật thể bị mờ lại tạo cảm giác về hình khối và chiều sâu không gian. Một bức ảnh bố cục tốt có thể bao gồm nhiều lớn không gian với các tone màu và cường độ chiếu sáng khác nhau. Kỹ thuật phổ biến là sử dụng cận cảnh làm khuôn hình, nhưng nếu không tìm được những mẫu khung đặc biệt thú vị thì bức ảnh khó mà thoát ra khỏi sự nhàm chán. Những nguyên tắc bố cục cổ điển (Tỷ Lệ Vàng): - Đường chân trời ở 1/3 hoặc 2/3 chiều cao bức ảnh. - Mỗi khuôn hình chỉ có một điểm mạnh, điểm này không đặt giữa ảnh mà phải ở toạ độ 1/3 rộng x 1/3 cao. - Hướng ánh mắt người xem từ ngoài vào trong bức ảnh. - Tận dụng nét lượn chữ S nếu có trong bối cảnh.

Các "chiêu" bố cục ảnh ấn tượng
TTO - Sự sáng tạo khi cầm máy đã khiến các nhiếp ảnh gia tìm được những góc nhìn khác lạ từ cảnh vật, con người bình thường. Những cách bố cục dưới đây không phải là nguyên tắc mà là sự thu lượm của người nghệ sĩ, có thể giúp bạn áp dụng khi gặp các tình huống tương tự.

Họa tiết - sự lặp lại
Hình mẫu, họa tiết hay các đồ vật được bày la liệt chính là nguồn cảm hứng bất tận để sáng tác. “Phó nháy” sẽ thấy điều này khi đến thăm làng làm nón, gốm hay làm hương, hoặc rất nhiều thứ khác trong đời sống thực.

Ảnh: Actionlovr.

Ví dụ, cảnh trong bức ảnh trên chỉ là một tòa nhà nhưng góc nhìn hướng lên khá lạ mang lại sự liên tục theo chiều dọc và chéo của các ô cửa trên nền gạch đỏ tuyệt đẹp, cộng với những gương mặt của người dân cho thấy một cuộc sống tự nhiên, không hề sắp đặt ở đây.

Hình học
Các bức ảnh dựa trên một số nguyên tắc hình học tùy từng trường hợp sẽ bỏ hoặc áp dụng. Nếu có bố cục chắc chắn, việc áp dụng nguyên tắc hình học sẽ làm bức ảnh có ấn tượng kỳ lạ.

Ảnh: Straightfinder

Bức ảnh này đã dùng con đường chạy dài để chia đôi khung cảnh, tạo sự đăng đối nhưng vẫn mang lại cảm giác về chiều sâu và vươn tới đường chân trời rộng bao la.

Phản chiếu bề mặt

Ảnh: Grant McDonald.

Hình ảnh chỉ là hai chiều nhưng nếu áp dụng sự phản chiếu ánh sáng lên bề mặt, người ta có thể làm nên những bức ảnh sống động, gần như ba chiều. Sự kết hợp với ánh sáng tự nhiên đã làm cho đối tượng trong bức ảnh này nổi rõ hẳn lên. Hai cạnh phải được chiếu sáng như làm nên một chiều cao thứ ba rõ nét, bên cạnh chiều dài và chiều rộng.

Độ sâu trường ảnh
Cách này hay gặp hơn đối với những người chụp ảnh DSLR bởi việc lấy nét theo điểm rất dễ dàng tạo ra hiệu ứng mờ hậu cảnh và làm nổi bật chủ thể. Thậm chí một số máy du lịch rẻ tiền (dưới 3 triệu đồng) khi chụp gần cũng làm được, chỉ cần người dùng biết cách lấy nét.

Ảnh: Orangeacid

Đôi giầy đỏ trên nền cỏ xanh được làm nổi bật tạo cảm giác thơ mộng hơn nếu ảnh vẫn lấy rõ hậu cảnh.

Kết hợp các đường nét ngang, thẳng, chéo, vòng…
Khi được kết hợp khéo léo, có chủ ý, các đường nét sẽ làm nên ấn tượng rất tuyệt cho bức ảnh. Sự đăng đối giữa đường thẳng với nét lượn cong, các đường chéo đan xen hoặc tỏa hình lá cọ… đều có thể tạo nên vẻ lạ kỳ.

Ảnh: Stevacek

Sự kết hợp giữa ánh sáng và đường cong đã khiến bức ảnh này có vẻ đep lạ, huyền ảo như xi-nê.

Kỹ thuật lia máy cho bức ảnh gây "choáng"

TTO - Chủ thể chuyển động của tấm hình hiện rõ lên trên hậu cảnh được làm mờ chính là kết quả của kỹ thuật lia máy mà giới nhiếp ảnh quen gọi là “panning”. Kỹ thuật này thường được áp dụng đối với các chủ thể đang chuyển động nhanh trên đường phố, cánh đồng… Người chụp sẽ phải lia máy theo chiều chuyển động của nhân vật với tốc độ gần như tương đương để nắm được chủ thể một cách rõ nét.

Chú chó chạy rất nhanh trên cánh đồng được chụp bằng kỹ thuật panning. Nguồn: Digital-photography-school.

Không quá khó để các phó nháy làm nên những khoảnh khắc ấn tượng bằng kỹ thuật panning nhưng họ phải tập luyện khá chăm chỉ.

1. Chọn tốc độ đóng màn trập thấp hơn một chút so với bình thường
Có thể bắt đầu với tốc độ 1/30 giây và thử tay nghề với những chủ thể chuyển động chậm trước. Tùy vào điều kiện ánh sáng và tốc độ của chủ thể, bạn sẽ thay đổi tốc độ màn trập giữa 1/60 và 1/8 giây. Tốc độ đóng màn trập càng chậm thì bạn càng dễ làm rung máy và khiến chuyển động trong bức ảnh bị nhòe.

2. Tìm vị trí thích hợp
Hãy chọn một vị trí mà góc nhìn của bạn không bị vướng bởi người hay vật chạy qua đối tượng. Cũng chú ý chọn hậu cảnh kỹ. Mặc dù hậu cảnh sẽ bị mờ nhưng màu sắc và các thành phần trong đó cũng sẽ ảnh hưởng đến không khí của bức ảnh. Hậu cảnh đồng màu và đơn giản càng tốt.

3. Nắm bắt đối tượng
Khi chủ thể đang chuyển động, hãy bấm máy và lia máy theo một cách êm ái. Nếu chưa thạo, bạn có thể dùng chân ba chạc đặc biệt để hỗ trợ. Loại này có một cơ chế xoay cổ để bạn lia máy mà không bị rung.

Chuyển động song song với nhân vật này từ vỉa hè sẽ mang lại bức ảnh ấn tượng hơn là chụp ngay lập tức.

4. Chuyển động song song với chủ thể
Tốt nhất là nên tập luyện với kỹ thuật này. Để có kết quả tốt nhất, hãy chuyển động theo hướng song song với chiều chuyển động của đối tượng để bắt được trúng nét.

5. Lấy nét
Nếu không, có thể dùng máy ảnh lấy nét tự động. Chỉ cần ấn nút chụp nửa chừng, máy ảnh sẽ tự động lấy nét và tùy thuộc vào tốc độ, bạn sẽ “bắn” trúng hay không. Nếu máy ảnh không đủ nhanh để lấy nét tự động, bạn sẽ lấy nét trước cho camera vào điểm mà bạn sẽ hạ cửa trập. Khi hạ cửa trập (nhẹ nhàng để chống rung máy), hãy tiếp tục quét máy theo chiều chuyển động của chủ thể, ngay cả khi bạn nghe máy báo hiệu đã chụp xong. Việc này sẽ làm cho việc làm nhòe hậu cảnh diễn ra rất mượt từ đầu đến cuối, không bị hẫng. Một điều cần lưu ý là bạn cần phải kiên nhẫn khi thực hành panning. Hãy tìm đến các sự kiện như đua xe hoặc tiếp cận đường cao tốc. Ở đó, đường sẽ vắng và có xe đi với tốc độ cao, mang đến điều kiện thuận lợi cho các tay máy mới bắt đầu.

Để chụp được ảnh cận cảnh tuyệt đẹp
(Dân trí)- Nhiếp ảnh gia nổi tiếng thời chiến Robert Capa đã từng nói: “Nếu ảnh của bạn không được đẹp có nghĩa bạn chưa đứng đủ gần”. Câu nói này dành cho kiểu ảnh macro (cận cảnh). Ngày nay, máy ảnh compact du lịch có thể chụp rất gần đối tượng, thậm chí là chỉ cách 1cm.

Chúng ta vẫn biết hoa lá, côn trùng, động vật… là những đối tượng lý tưởng để chụp ảnh macro. Tuy nhiên, những vật dụng gần gũi hàng ngày với chúng ta, như cái kẹo hay tách café cũng cho ta những bức ảnh cận cảnh tuyệt đẹp. Một số máy ảnh du lịch (pointand-shoot) cho phép chụp ảnh macro và nhờ vào sự tinh tế của “tay máy” chúng ta sẽ vẫn có thể có được những tấm ảnh cận cảnh đẹp không kém các máy ảnh chuyên nghiệp. Nghe có vẻ rất dễ chụp ảnh cận cảnh nhưng có một số yếu tố có thể làm hỏng bức hình của bạn. Sau đây là những thủ thuật giúp bạn “chộp” được những tấm ảnh đẹp ở chế độ Macro. 1. Kiểm tra tiêu cự (focus)

Có máy ảnh cho chụp Macro với khoảng cách 1cm

Ảnh chụp cận cảnh được xem là đẹp khi nó đáp ứng được độ sắc nét và đầy đủ chi tiết của từng yếu

tố trong tấm ảnh. Vì thế, bạn nên kiểm tra hướng dẫn sử dụng của máy ảnh để căn lấy khoảng cách tiêu cự tối thiểu của ống kính ở chế độ Macro. Một số máy ảnh point-and-shoot sẽ phát sáng đèn trên màn hình LCD để báo cho người dùng biết máy không thể lấy được tiêu cự của đối tượng chụp vì quá gần. Tuy nhiên, lúc chụp xong ảnh, khi xem lại ảnh ở chế độ Playback, bạn nên zoom vào để kiểm tra khu vực mà bạn muốn lấy nét có đầy đủ chi tiết, có sáng rõ không. 2. Nín thở

Gió thổi sẽ khiến cánh hoa rung rinh làm cho ảnh bị mờ

Chụp ảnh trong điều kiện môi trường có thể kiểm soát được, như studio hay trong phòng, thì bạn không phải lo nghĩ nhưng nếu chụp ở ngoài trời, với cây lá cành hay là ong bướm… thì chỉ cần một làn gió thổi cũng có thể phá hỏng cả bức ảnh chụp macro của bạn. Vì thế, để hạn chế tối đa sự “phá bĩnh” này, bạn nên nín thở để không làm lay động những vật thể bé xíu đang trong tầm ngắm của ống kính. Tuy nhiên, bạn không thể nào “lấy tay che cả bầu trời”, thế nên, để tránh bị gió thổi thì bạn nên đặt chiếc túi hay nhờ bạn bè chắn hộ hướng gió để đảm bảo sự tĩnh lặng trong khi “tác nghiệp”. 3. Đèn flash

Đèn flash sẽ hỗ trợ máy ảnh khi thời tiết không như mong muốn

Đôi khi thời tiết không chiều lòng con người, lúc thì trời nắng chang chang, lúc thì mây đen kéo đến đúng lúc bạn giơ máy lên để chụp. Vì thế, lúc này bạn chỉ còn cách bật đèn flash tích hợp. Sau khi đã chụp ảnh xong, bạn có thể khắc phục chất lượng ảnh bằng cách bù sáng để trông ảnh mượt mà hơn. Còn nếu không, hãy chờ đến lúc trời trong xanh trở lại để “tác nghiệp” vì ánh nắng mặt trời luôn cho

ảnh đẹp nhất. 4. Sắp xếp gọn gàng không gian xung quanh

Thu gọn không gian để máy ảnh không bị lệch tiêu cự

Bạn nên cố gắng dọn dẹp gọn hàng không gian khung quanh vì có thể chính chúng sẽ khiến máy ảnh không lấy được nét như mong muốn. Mắt người thường bị cuốn hút bởi các màu sắc bắt mắt vì thế bạn nên thay đổi góp chụp hoặc di chuyển các vật thể xung quanh để ảnh chụp của bạn được gọn gàng hơn. 5. Để ISO thấp và dùng chân đế tripod

Chân đế giữ máy không bị rung

Ngoài việc giảm tối đa sự “can thiệp” của các vật thể khác thì bạn cũng nên giảm sự tác động của chính máy ảnh làm xấu tác phẩm của mình. Bạn nên đặt chế độ nhạy sáng ISO thấp nhất và tốt hơn nữa là dùng chân đế tripod để giữ máy khi chụp. Và, để tránh rung tay thì chụp ảnh ở chế độ hẹn giờ.

Để chụp ảnh thật đẹp trong ánh sáng tối

(Dân trí) - Sinh nhật bạn gái, bạn muốn chụp một tấm ảnh thổi nến lung linh trong bóng tối nhưng “tác phẩm” thật tệ hại. Câu trả lời thật đơn giản, bởi chụp ảnh trong nhà và thiếu ánh sáng không đơn giản chỉ là “point and shoot”. Vài mẹo hay sau đây sẽ giúp bạn.

Tránh dùng đèn Flash khi có thể Dùng đèn flash có vẻ như là giải pháp lý tưởng của hầu hết người dùng khi cần chụp ảnh trong điều kiện ánh sáng tối. Tuy nhiên, ảnh flash có nhiều điểm yếu riêng. Đèn flash vừa “phá đám” khoảnh khắc trọng đại của nhân vật chính lúc đó vừa làm biến dạng màu sắc và làm thay đổi tông màu nền của bức hình. Rắc rối này chắc chắn xảy ra với những đèn flash rẻ tiền tích hợp trong các dòng máy ảnh số compact hiện nay.

Ảnh chụp trong ánh sáng tối không dùng đèn flash cũng khá đẹp

Vậy lúc này cần thay thế bằng chức năng nào? Có lẽ tốt nhất lúc này là nên cài đặt ISO của máy ở chế độ “nhạy sáng” - “light sensitivity”. Với máy ảnh dùng phim nhựa truyền thống có độ nhạy sáng cao (ISO 800 trở lên) phù hợp với điều kiện ánh sáng tối như thế này. Phim độ nhạy sáng cao có thể chụp ảnh trong điều kiện ánh sáng yếu và ảnh chuyển động nhanh nhưng ảnh sẽ có độ hạt lớn. Chế độ này có thể tạo hiệu ứng nghệ thuật. Tuy nhiên, chế độ ISO cao trên máy ảnh số sẽ tạo độ nhiễu (noise) màu – có đôi chút đốm xanh đỏ phân tán trên ảnh. Hầu hết các máy ảnh “point and shoot”, thậm chí cả những máy có chức năng chỉnh bằng tay, đều cho ảnh rất xấu khi chụp với độ nhạy sáng trên 400 ISO. Vì thế, bạn nên giảm ISO nhưng như thế có nghĩa là bạn phải chấp nhận tốc độ phơi sáng hơi lâu. “Xóa sổ” ảnh bị mờ

Độ phơi sáng dài đôi khi cho các hiệu ứng rất đẹp

Độ phơi sáng dài sẽ khiến cho tấm ảnh chụp bị mờ cho dù đối tượng chụp có di chuyển hay không. Vài thủ thuật sau đây sẽ giúp bạn loại bỏ được những bức ảnh bị mờ. - Hãy bắt đầu bằng khẩu độ - độ mở ống kính (aperture) lớn nhất mà camera cho phép. Sử dụng chế độ ưu tiên aperture nếu máy ảnh của bạn có chức năng này và đặt ở mức f/1.8 hoặc thấp nhất có thể. Khẩu độ lớn cho phép chúng ta chụp ảnh ở môi trường thiếu ánh sáng nhưng vẫn đảm bảo độ sáng cho bức ảnh và không cần phải bật flash hay kích ISO lên cao. - Nếu có ống zoom thì zoom ảnh nhỏ đến mức có thể. Lúc đó, ánh sáng sẽ thu được nhiều hơn về cảm biến và thời gian phơi sáng sẽ giảm xuống. - Nếu thời gian phơi sáng vẫn dài và bạn sợ chụp ảnh bị rung thì nên dùng giá đỡ ba chân. - Để tránh rung tay khi chụp thì bạn nên dùng chức năng chụp hẹn giờ. Hầu hết các máy ánh chụp ảnh hẹn giờ trong 2 giây cho chất lượng khá tốt, đặc biệt khi phải để chế độ phơi sáng dài. Cân bằng trắng Một khó khăn nữa khi chụp trong các trường hợp có điều kiện ánh sáng tối là ÁNH SÁNG. Các ánh đèn neon trên các dải phố sẽ khiến cho ảnh chụp có tông màu vàng hoặc xanh. Lúc này, bạn nên chỉnh lại chế độ cân bằng trắng (white balance) cho máy ảnh. Bạn nên chọn các chế độ có sẵn trong máy để tìm ra cân bằng trắng phù hợp để tạo các tông màu trung tính. Nếu các tùy chọn được thiết lập sẵn không vừa ý bạn thì bạn phải tự chỉnh cân bằng trắng bằng tay và phải sử

dụng phần mềm chỉnh sửa ảnh, như Photoshop, để hỗ trợ. Giảm độ nhiễu (noise) ảnh

Ảnh chụp trong bóng tối đã được giảm noise.

Chế độ ISO cao thường khiến cho ảnh chụp bị noise. Có nhiều cách để tránh rắc rối này. Phần mềm Photoshop có thể lọc được độ nhiễu của ảnh, làm mượt các điểm ảnh. Phần mềm chuyên dùng để diệt noise, như Noise Ninja, có thể loại bỏ hoàn toàn độ nhiễu này, tăng chất lượng ảnh chụp đáng kể mà không làm mờ ảnh hay ảnh hưởng đến các hiệu ứng khác.

Ba nguyên tắc chụp ảnh trẻ em
(Thế giới @) - Để có một bức hình đẹp cho bé yêu từ chính tay các bà mẹ luôn là niềm vui, bởi mỗi khoảnh khắc bên bé là một khoảnh khắc hạnh phúc. Thế nhưng không phải ai cũng có thể có được những bức ảnh đáng yêu do chính mình chụp được.

1. Không nên để flash Công suất và ánh sáng đèn flash rất mạnh so với đôi mắt trẻ thơ. Nếu như chúng ta sử dụng flash hướng thẳng vào mắt bé trong cự ly dưới 3m, mắt bé rất khó chịu. Nếu sử dụng flash rời, hãy để hướng lên trần nhà hoặc dùng chùm tỏa sáng. Nếu như sử dụng máy tự động (P&S), chúng ta hãy chỉnh sang chế độ chụp ban đêm trong điều kiện thiếu sáng và nhớ tắt flash. Nếu như máy chụp hình của mình chỉnh được ISO (độ nhạy sáng), hãy để ISO ở mức trên 800 ASA và mở khẩu độ ống kính lớn nhất có thể. 2. Chế độ chụp Nên để chế độ chụp thể thao hoặc nhanh, vì do bé luôn cử động và không yên nên khi chụp ở chế độ thể thao (Tv ở Canon, S ở Nikon), chúng ta sẽ bắt được các khoảnh khắc đáng yêu nhất mà hình không bị nhòe. 3. Chụp thuận sáng Để khuôn mặt bé đối diện với nguồn sáng. Điều này sẽ giúp bé có được khuôn mặt tươi và không bị tối mặt, nếu như ta để ngược chiều sáng.

28 bài tập nhiếp ảnh cơ bản
(TG@O) - Đây là một bộ 28 bài tập cơ bản, giúp các bạn mới cầm máy làm quen với lĩnh vực nhiếp ảnh và máy ảnh của mình.

Bắt lấy hình ảnh của tia sét

Nếu tự nhận thấy mình là nguời vừa đặt chân vào thế giới nhiếp ảnh, bạn đừng khởi đầu bằng cách mua ngay những ống kính dòng cao cấp, đắt tiền. Bạn nên luyện tập những bài tập duới đây trước. 1. Thử nghiệm với kit lens ( ống kính zoom thường đi cùng với máy ảnh ). Ống kính này sẽ làm bạn kinh ngạc về khả năng của nó. 2. Chụp ảnh ở mọi tiêu cự, khẩu độ và tốc độ. 3. Thử chụp ảnh cùng một đối tượng với nhiều thiết đặt ISO khác nhau. Xem cách khẩu độ, tốc độ thay đổi khi thiết đặt các mức ISO khác nhau. 4. Khám phá mối tương quan giữa các biến số liệt kê ở #2 và #3. Học "phơi sáng" một bức ảnh với nhiều cách khác nhau qua việc thay đổi biến số này rồi tới biến số kia (Khẩu độ, tốc độ, ISO ). 5. Đừng bỏ qua các "chế độ" chụp ảnh được lập trình sẵn trên máy của bạn, hãy dùng qua nó. 6. Chụp ảnh "thiếu sáng" hay "thừa sáng" một cách có chủ ý, để tạo nên cái cảm xúc mà bạn muốn truyền tải tới nguời xem ảnh. 7. Thử nghiệm với Bokeh và dùng nó như một phương cách sáng tạo. 8. Đặt ống kính của bạn ở một mức tiêu cự và chụp ảnh ở tiêu cự đó trong suốt ngày. Luyện tập zoom bằng chân 9. Dành trọn ngày chụp ảnh với ống kính đặt ở chế độ lấy nét manual. Học cách lấy nét mà không phải dựa dẫm vào tính năng lấy nét tự động của máy. 10. Chụp ảnh ở tốc độ thấp ( cầm tay và đặt trên giá ba chân ). Nhận biết ở tốc độ nào thì bạn không còn cầm máy đủ vững để chụp một bức ảnh không bị rung. Tạo cảm giác chuyển động trong một bức ảnh mà bạn muốn treo. Làm chậm dòng chảy của thác cho đến khi nước nhìn giống như dải sương khói đang chuyển động. 11. Chụp một số ảnh ở tốc độ cao. "Bắt đứng" hành động giữa không trung. 12. Để máy ở chế độ Bulb. Đường xẹt của sao khi di chuyển, ánh đèn xe trải dài, ảnh bóng ma, và pháo bông thảy đều là cơ hội tuyệt vời cho bạn tạo ra bức ảnh mà bạn sẽ hãnh diện khi chia sẻ cùng bạn bè. 13. Bắt lấy hình ảnh của tia sét. 14. Chụp ảnh mặt trăng. Không phải ảnh cận cảnh của mặt trăng mà một ảnh phong cảnh có trăng trong đó.

15. Tập kỹ thuật Panning. Xe cộ chuyển động nhanh hay vận động viên trong một sự kiện thể thao là những đối tượng tuyệt vời để bạn luyện tập kỹ thuật này. 16. Chụp ảnh giọt nước, đến khi bạn có được một tấm làm bạn cảm thấy muốn in ra. 17. Chụp ảnh chân dung của bạn bè. 18. Chụp ảnh đời thường của bạn bè. 19. Xin phép 10 người lạ cho bạn chụp ảnh của họ. 20. Chân dung tự chụp. Tìm một tấm khả dĩ làm bạn muốn cho nguời khác xem. 21. Thử chụp cận cảnh một số thứ, bạn có thể không có được tấm ảnh macro thực sự, nhưng bạn sẽ ngạc nhiên với kết quả mà kit lens mang lại. 22. Xuống phố vào buổi đêm và chụp một số ảnh không flash. Tập cách dùng ánh sáng sẵn có. 23. Tập cách dùng đèn cóc trên máy. Thử dùng giấy lọc cà fê / giấy mỏng để làm dịu ánh sáng gắt của flash hay một danh thiếp để có hiệu ứng ánh sáng dội. 24. Chụp hình vào buổi trưa. Nghiên cứu việc các bóng đổ có thể tạo ra các trạng thái, cảm xúc thế nào cho ảnh. 25. Làm ai đó bật cười với một ảnh do bạn chụp. 26. Làm ai đó dừng lại và suy gẫm, với một ảnh do bạn chụp. 27. Luyện tập sử dụng phần mềm xử lý hậu kỳ của ảnh. Đây chính là phòng tối của bạn. 28. In các gợi ý bên trên ra và đánh dấu các mục bạn chưa thực hành chỉ với ống kính “kit lens”. Hãy thực hành các mục bạn đánh dấu.

14 bài nâng cao kỹ năng nhiếp ảnh
(TG@O) - 14 kỹ thuật và lưu ý sau sẽ giúp bạn nâng cao kỹ năng chụp ảnh như lấy nét, kiểm tra hậu cảnh, thay đổi góc nhìn, quy tắc 1/3...

Lấy nét tại đôi mắt

1. Lấp đầy khuôn hình: Khi bạn chụp một tấm hình thông thường bạn muốn mô tả một thứ gì đó, vì vậy chủ thể chính cần phải nổi bật so với những gì còn lại của tấm hình. Đấy cũng là lý do tại sao bạn có thể bổ sung thêm ảnh hưởng với tấm hình của bạn, song hãy để cho chủ thể chính chiếm giữ một vị trí quan trọng trong khuôn hình. Lấp đầy khuôn hình có thể thực hiện bằng cách hoặc zoom vào hoặc tiến đến gần chủ thể hơn hoặc, tất nhiên, bằng việc kết hợp cả hai cách trên. 2. Kiểm tra hậu cảnh: Trước khi bấm máy cần kiểm tra hậu cảnh bằng cách xem lại màn hình xem có những thành phần không mong muốn xuất hiện trong khuôn hình hay không. Dy chuyển sang xung quanh cho đến khi bạn tìm được một vị trí mà những thành phần không mong muốn không còn xuất hiện trong khuôn hình. 3. Kiểm tra lại mẫu: Nếu bạn chụp ảnh chân dung hãy kiểm tra lại mẫu xem có những thành phần không mong muốn, có thể hơi tốn công một chút, chẳng hạn như quần áo không phẳng phiu hoặc bụi bẩn, tóc xõa xuống mặt... 4. Lấy nét tại đôi mắt: Điều này chỉ áp dụng với ảnh chân dung, nhưng thường thì bạn vẫn muốn đôi mắt được nét, vì thế hãy tập trung vào đôi mắt. 5. Kiểm tra những lỗi cúp hình: Nếu bạn không muốn đưa tất cả mẫu vào trong cùng khuôn hình, hãy chắc chắn rằng bạn đã chọn lựa một cách thông minh nơi cần cắt cúp anh/chị nào đó. Đừng cắt mất các ngón tay, một phần đầu, hoặc một chút của khủy tay... đây là những điểm không tốt và thường gây ra hiểu lầm. 6. Chụp đứng máy: Phần lớn những bạn mới cầm máy thường có thói quen hay chụp ngang máy, một chỉ dẫn nhỏ: nếu bạn có thể chụp cả đứng máy và ngang máy thì sau này bạn sẽ có cơ hội tốt để lựa chọn tấm hình mà bạn ưng ý hơn. 7. Thay đổi góc nhìn: Đừng dùng lối tiếp cận của khách du lịch trong nhiếp ảnh và chụp bất cứ thứ gì mà bạn bắt gặp, thử tìm cách nhìn sự vật với một góc nhìn thấp hơn (nằm trên mặt đất) hoặc từ một góc nhìn cao hơn (trèo lên trên một chiếc ghế hoặc một thứ gì đó chẳng hạn). Ảnh của bạn sẽ ấn tượng hơn đơn giản vì người xem sẽ nhìn sự vật từ một góc nhìn khác lạ. 8. Làm quen với quy tắc 1/3: Có thể đây là một điều ABC của nhiếp ảnh. Nếu bạn chưa từng nghe nói đến thì đây là thời điểm tốt để bạn thực hành. Hãy làm quen với quy tắc 1/3. 9. Chụp nhiều: Điều này có thể sẽ thay đổi về sau này khi mà bạn muốn chụp ít đi, nhưng khi mới bắt đầu thì hãy chụp thật nhiều, đây là điều thú vị của máy kỹ thuật số. Sau đó, hãy xem lại ảnh của bạn xem cái nào bạn thích và tại sao. 10. Tham gia vào cộng đồng những người nhiếp ảnh: Bạn sẽ phải kinh ngạc là bạn học thêm được nhiều đến mức nào khi đọc những gì mà mọi người viết về các bức ảnh của bạn. Tham gia vào một cộng đồng những người nhiếp ảnh trên mạng và hãy trở nên tích cực, gửi ảnh của bạn để có được nhận xét, phê bình của người khác và nhận xét ảnh của người khác ngay cả khi ảnh của họ tốt hơn của bạn. Điều này sẽ giúp bạn học cách nhìn ảnh bằng con mắt khác. 11. Học từ người khác: Phần lớn các nhà nhiếp ảnh đều bắt đầu bằng cách "bắt chước" theo một ai đó, người đã truyền cảm hứng cho họ. Nếu bạn xem một bức ảnh mà nó làm cho bạn phải thốt lên "thật tuyệt" thì hãy dành chút thời gian để nghiên cứu nó xem tại sao nó lại tạo ra ấn tượng như vậy đối với bạn? Do bố cục, màu sắc hay ánh sáng... 12. Học từ chính bạn: Học từ những sai lầm của bạn, chụp... chụp... chụp, và hãy nhớ xem điều gì thành công và điều gì không thành công ở những lần chụp khác trong cùng một hoàn cảnh tương tự. 13. Chỉ trưng ra những tấm hình tốt nhất: Nếu bạn định mở một gallery để trưng bày ảnh của bạn, hãy trưng những gì tốt nhất mà không nên trưng ra tất cả những gì bạn có. Giữ những phần còn lại cho riêng bạn hoặc để đến những forum nơi bạn có thể đưa chúng ra để tranh thủ ý kiến của người khác.

14. Vui vẻ: Tôi nghĩ điều quan trọng nhất trong tất cả, đó là thoải mái, tận hưởng niềm vui.

Chống “mốc” máy ảnh
(TG@) - Anh bạn tôi cắc ca cắc củm để dành 2 năm, vay thêm ngân hàng 20 triệu đồng để mua một bộ máy chụp hình dạng trung bình, có 2 ống kính rời. Thế nhưng chỉ trong vòng 6 tháng, chiếc máy và ống kính anh bỗng nhiên xuống cấp trầm trọng vì... mốc, căn bệnh thường gặp của những cỗ máy đắt tiền và khó chịu này

Lens bị mốc do bảo quản không cẩn thận

Do thời tiết Cứ đến khoảng giữa mùa hạ đầu mùa thu là các cửa hàng sửa chữa máy chụp ảnh sẽ có lượng khách hàng tăng đột biến với đủ thứ bệnh, mà căn bệnh mốc ống kính và máy chụp ảnh phổ biến nhất.

Đèn trái ớt trong tủ chống ẩm

Anh Ngọc Thuận, một kỹ thuật viên của Chung Minh Camera, cho biết: “Ở những chiếc máy ảnh KTS, do có nhiều bộ phận được làm bằng điện tử nên rất dễ chạm mạch khi sử dụng máy ở những nơi có gần hơi nước, hoặc đi mưa làm ướt máy!”. Do nhiều người khi sử dụng máy trong mùa mưa khi về

nhà không đưa máy vào hệ thống sưởi nhiệt, vậy là máy bị “bệnh” ngay. Khi hơi nước lan vào mạch điện tử, việc chập mạch sẽ gây hư hỏng trên diện rộng khi có luồng điện đi ngang, điều này không chỉ đưa chiếc máy đến bệnh viện mà còn biến chiếc máy thân yêu của bạn thành bộ sưu tập trưng bày trong tủ kính. Đôi khi hai đầu pin bị thấm nước, chiếc máy ảnh sẽ biến thành một quả đạn với cú nổ bất ngờ do bị kích điện hay chập pin. Do chống trầy Sở hữu một chiếc máy đắt tiền, nhiều người sẽ ủ máy và ống kính bằng khăn lông mịn màng giúp máy chống trầy xước. Có nhiều người cẩn trọng, để máy và ống kính ngay trong tủ sách hay tủ quần áo nhằm chống ánh nắng nhiệt đới gây hư hỏng các bộ phận nhựa của máy và ống kính. Vậy mà máy vẫn hư bởi điều đơn giản: những chỗ này chính là nơi giúp máy tăng tốc độ “mốc” khi mà giấy và sợi vải có tính hút ẩm khá cao, sẽ truyền hơi nước sang đồ vật để chung. Với máy ảnh, nếu mốc hay dính nước có thể nhanh chóng sấy khô hay phơi nắng để hơi nước bay đi, lau sạch vết ố là có thể sử dụng. Nhưng với chiếc ống kính, chỉ cần một vế mốc trong thấu kính, chiếc ống kính đó xem như giảm giá trị đến 60% bởi độ tinh tế và sắc nét. Nếu khắc phục bằng cách đi lau thấu kính, tuổi thọ của ống kính cùng chất lượng quang học sẽ giảm đi đáng kể.

Một tủ chống ẩm tự chế cho máy ảnh

Cách chống ẩm Nếu có điều kiện, chỉ cần mua một chiếc tủ chống ẩm với giá từ 100 USD đến 400 USD là xong. Nhưng với những tay máy không chuyên nghiệp, cách bình dân nhất vẫn là để máy sau chiếc TV, hay tự làm một tủ sưởi nhỏ để máy sau khi sử dụng. Với hơn 300.000 đồng, bạn có thể có ngay một chiếc tủ sưởi máy tự chế cho mình và bạn bè. Vòng quanh các khu bán đồ điện tử, hay chợ Dân Sinh (TPHCM), bạn chỉ cần mua 1 kg hạt hút ẩm silicagen (hay tự rang gạo ở nhà). Để những gói hạt này dưới đáy một chiếc tủ kính nhỏ và kín. Sau đó nối 1 bóng đèn khoảng 5-8 W vào tủ kèm theo 1 nhiệt kế. Nếu máy ảnh không có nhu cầu sử dụng, cứ để trong tủ sẽ hoàn toàn yên tâm. Đôi khi gặp trời mưa hoặc trong điều kiện thời tiết ẩm, bạn cứ bật đèn lên và duy trì nhiệt độ khoảng 30-45 độ C để máy có thể duy trì được sự ổn định.

Chụp chân dung gia đình
(Thế giới @) - Các dịp họp mặt gia đình, bạn bè là lúc cần đến kỹ thuật chụp chân dung nhóm. Để có một chân dung nhóm đẹp, bạn không nhất thiết vận dụng nhiều yếu tố kỹ thuật, nhưng cũng không đơn giản vì có khá nhiều điều phải lưu ý.

Hậu cảnh chìm đồng dạng Yếu tố nào làm nên bức ảnh chụp người đẹp? 90% chất lượng ảnh nằm ở nét mặt của các chủ thể, phần còn lại tùy thuộc vào bố cục ánh sáng và tư thế hình thể. Sử dụng chân máy sẽ giúp tăng độ sắc nét cho ảnh và máy nên thiết lập tốc độ ISO thấp nhất. Điều kiện lý tưởng để chụp ảnh chân dung cho gia đình là vào buổi xế chiều và ngoài trời. Ánh sáng thời điểm này không quá sáng hoặc quá tối trên các góc ảnh. Hãy chọn một cảnh nền cho bức ảnh có tính chất tương đồng và chìm, có thể là vách tường, thảm cỏ xanh xa tít hay rặng cây xanh... Hậu cảnh một góc nhà, trên đường phố... khá rối nếu để chọn làm phông ảnh.

Chọn thảm cỏ xanh làm cảnh nền

Sắp xếp bố cục Sau khi xác định được hậu cảnh, tiếp theo bạn chọn vị trí ngồi cho mọi người trong gia đình: Một tảng đá lớn, một thân cây hay một chiếc bàn nhỏ nơi hiên nhà, một băng ghế dài... Mục đích của việc sắp xếp chỗ ngồi chính là để có được tầm cao gương mặt khác nhau cho bức ảnh. Cho một vài người ngồi trên ghế, một số khác ngồi xuống đất và trẻ nhỏ ngồi thấp dưới đất. Không nên ngồi xếp bằng, hãy giúp mọi người ngồi chụm gối và chân xếp vào nhau để về một phía hông. Tư thế đứng và nhìn về một hướng nào đó cũng sẽ tạo hiệu ứng chênh lệch chiều cao trong bố cục ảnh. Lưu ý đừng để đầu người này che khuất đầu người kia theo cả chiều ngang và chiều dọc. Đừng chọn tư thế ngồi đối diện vai vuông góc với ống kính, hãy chọn góc xoay người nhẹ cho các chủ thể. Những người đeo kính nên cầm kính ở tay hoặc gỡ xuống đeo trên khuy cổ áo.

Sắp xếp vị trí ngồi để có được tầm cao gương mặt khác nhau

“Đạo diễn” tư thế Hãy sáng tạo hơn trong việc sắp xếp nhóm người cho bức ảnh. Thay vì một nhóm lớn đều tăm tắp mười mấy người, bạn có thể chia thành các nhóm nhỏ đứng cạnh nhau một cách ngẫu hứng. Một bên vai chồng lên nhau sẽ khiến đầu các chủ thể gần nhau hơn. Chỉ cần thấy một bên vai trong ảnh là đủ. Chủ thể tuyệt đối không nên để xuôi tay bên hông. Hãy để tay vào túi, choàng vai nhau hay khoác tay, nắm tay nhau... Các tư thế đan chéo tay tương tự sẽ giúp ảnh chụp trông năng động hơn lên. Với chân, nên lưu ý các tư thế thật tự nhiên: Ngồi bắt chéo chân, bàn chân hợp góc 45 độ khi đứng...

Chia một nhóm nhiều người thành các nhóm nhỏ đứng cạnh nhau

Sau khi ổn định bố cục cho chủ thể, hãy lùi lại và kiểm tra qua một lượt các hiệu ứng trên máy để đảm bảo ảnh chụp đúng ý định sáng tạo của bạn. Lưu ý ánh sáng Nguồn sáng lý tưởng là ánh sáng cường độ thấp và dải rộng. Chụp ảnh dưới bầu trời đầy nắng vào giữa trưa sẽ đổ bóng chủ thể. Hãy phản xạ ánh sáng vào vùng bóng này hoặc dùng đèn flash phụ trợ để tránh tình trạng này.

Ngoài ra, nên tận dụng ánh sáng hoàng hôn hoặc ánh sáng phản xạ từ một cao ốc sơn trắng để có nguồn sáng lý tưởng cho ảnh. Một cách khác thường dùng để tránh bóng râm trên gương mặt chủ thể là chụp ảnh chủ thể đứng dưới một vài nhánh cây phía trên cao.

Ánh sáng cường độ thấp và dải rộng

Bấm máy Ngắm sao cho chủ thể nằm vào trung tâm khung hình, chừa một khoảng trống để cắt cúp sau này. Lúc bấm máy, hãy thực hiện một thao tác nào đó để thu hút sự chú ý của mọi người giúp ánh mắt các chủ thể cùng nhìn về một hướng. Giải pháp quen thuộc cuối cùng là chụp các gương mặt tươi cười hạnh phúc. Ngoài ra, có thể chụp hình ảnh mọi người đang nhìn nhau thay vì cùng nhìn vào ống kính máy ảnh. Bố cục dạng này khó hơn. Để tránh tình trạng nhắm mắt, hãy ra hiệu khi chụp ảnh hoặc chụp hàng loạt ảnh và lựa chọn sau.

Có thể chụp hình ảnh mọi người đang nhìn nhau

Kỹ thuật chụp ảnh trẻ con
Với thể loại ảnh này, cần có máy tốc độ lấy nét cao, ISO có thể đẩy cao mà ít nhiễu. Lý tưởng hơn là loại máy ống kính có độ mở lớn để dễ dàng làm nổi bật chủ thể.

Những điều cần tránh khi chụp ảnh trẻ em

Khoảnh khắc ngộ nghĩnh của bé. Ảnh: Nguyễn Nhật Thanh.

Lý tưởng mà nói, với thể loại ảnh trẻ con, người chụp cần chuẩn bị máy có tốc độ lấy nét cao, có thể đẩy ISO cao mà ảnh vẫn ít nhiễu. Ngoài ra, với các loại máy thay ống kính, như DSLR, Range finder hoặc máy ống kính rời không gương lật (EVIL), ống kính cần có độ mở lớn để dễ dàng nổi bật chủ thể. Tuy nhiên, thực tế là không phải ông bố bà mẹ nào cũng có máy "hàng khủng" để chụp cho con cái mình, vì vậy tốt nhất là sử dụng thành thạo thiết bị đang có để chụp đẹp nhất có thể. Với máy DSLR hoặc quang trắc (Range finder) – máy dòng khởi điểm như Nikon D3100 hay Canon 600D cũng đã rất tốt, quan trọng là sử dụng ống kính khẩu lớn để dễ dàng cô lập chủ thể và tốc độ lấy nét tốt khi thiếu sáng. Các ống một tiêu cự 35mm, 50mm, 85mm có giá khoảng từ 100 đến 300 USD là giải pháp kinh tế nhất.

Không phải bố mẹ nào cũng có máy ảnh xịn, nên sử dụng thành thạo thiết bị đang có để chụp đẹp nhất có thể. Ảnh: Nguyễn Nhật Thanh.

Các máy có thể khống chế được độ phơi sáng (chỉnh tay hoàn toàn) khi chụp trẻ đang chơi đùa vận động mà muốn bắt dính khoảnh khắc thì cần giữ được tốc độ chụp không thấp hơn 1/250 giây (bằng cách mở khẩu lớn và/hoặc tăng ISO). Nếu tạo hiệu ứng chuyển động thì có thể để tốc độ khoảng 1/125 giây đến 1/60 giây, nhưng lưu ý chống rung cho tốt. Khi trẻ vận động, không nên lạm dụng hiệu ứng độ nét cạn (DOF mỏng) bởi trẻ rất dễ dịch chuyển khỏi khoảng nét, có thể lưu ý khẩu độ f4 - f5.6 là vừa. Phương thức lấy nét có thể chỉnh qua chế độ bám nét chuyển động, ví dụ, AI servo ở máy Canon, hoặc AF-C, 3D tracking ở máy Nikon. Các máy du lịch tự động, nên thử ở chế độ tự động thông minh trước, nếu không đạt được tốc độ cao để bắt chuyển động thì chỉnh qua chế độ đặt sẵn, như chụp trẻ em, chụp thể thao hoặc có biểu tượng động vật hay khiêu vũ. Các chế độ này cho phép đẩy ISO lên cao để hình không bị nhòe. Máy tự động có nhược điểm là lấy nét chậm, có khi tới một giây hoặc hơn nếu ánh sáng không thuận lợi. Vì vậy, trong nhiều trường hợp nên lấy nét trước bằng cách nhắm vào chủ thể và bấm nửa nút rồi giữ tay ở vị trí đó, khi khoảnh khắc đến sẽ bấm suốt để chụp. Dĩ nhiên, đừng bấm giữ lâu đến mức trẻ chơi đùa tiến lùi ra hẳn ngoài vùng đã lấy nét sẵn. Chụp hình trẻ em rất khó, nhưng khi chụp được thì kết quả lại rất ngoạn mục, là một thử thách cho sự kiên nhẫn, sáng tạo, thành thạo trang thiết bị của mình.

Ảnh Tuổi thơ trong chủ đề Tuổi thơ em do Số Hóa tổ chức. Tác giả: Ngo Thanh Minh.

Những điều cần tránh khi chụp ảnh trẻ em
Đừng yêu cầu trẻ tạo dáng theo ý người lớn và cũng hạn chế zoom nếu có thể nếu chụp bằng máy compact.

Dưới đây là một số lưu ý mà những người mới chụp nên lưu ý. 1. Yêu cầu trẻ "tạo dáng" theo ý người lớn.

Nên chờ khoảnh khắc trẻ cười hoặc mếu máo để thể hiện những tính cách khác nhau của chúng. Ảnh Hồn nhiên của Nguyễn Nam Long, dự thi ảnh chủ đề Tuổi thơ em của Số Hóa.

Trẻ em rất hiếu động và thường không muốn làm theo một khuôn mẫu nào, nếu cứ bắt trẻ phải làm thế này thế nọ, nhiều khả năng là chúng sẽ không hợp tác. Tránh tối đa việc: "Này con ơi… nhìn vào máy ảnh, cười đi…", mà hãy lặng lẽ quan sát chúng chơi ở một khoảng cách, thiết bị sẵn sàng và nhẫn nại chờ khoảnh khắc. Khoảnh khắc ở đây là những ánh mắt vụt hớn hở, hoặc thậm chí là mếu máo, thể hiện tính cách và những trạng thái khác nhau của trẻ. 2. Bối cảnh buồn tẻ. Quan điểm về nơi vui chơi của trẻ sẽ hơi khác người lớn, vì vậy, nên tập suy nghĩ theo cách nghĩ của chúng để tìm địa điểm chụp phù hợp và không cần bố trí một cách "chuyên nghiệp". Trẻ sẽ thực sự hân hoan nếu gặp bối cảnh phù hợp lứa tuổi và tốt nhất là có nhiều đồ chơi. 3. Người chụp ở tư thế đứng thẳng. Trừ một số bối cảnh đặc biệt, cần tránh chụp từ trên xuống bởi người lớn luôn cao hơn và chụp từ trên xuống sẽ khó thấy ánh mắt và biểu cảm của trẻ. Hãy hạ thấp trọng tâm, ngồi hoặc thậm chí nằm bò để có góc chụp phù hợp nhất. 4. Chỉ sử dụng chế độ tự động trên máy (compact). Chế độ tự động trên máy chủ yếu phục vụ những bối cảnh chụp thông thường, vì vậy, các nhà sản xuất đã có thêm các chế độ đặt sẵn cho vận động nhanh trong bánh xe chế độ (mode dial) hoặc trong menu những hình ký hiệu như thể thao, múa, trẻ em… Nên tận dụng tối đa những chế độ này để chụp trẻ hiếu động. 5. Hạn chế zoom nếu có thể (máy ảnh compact, ống kính DSLR hai khẩu).

Vui đùa trong nắng xuân của Pham Quoc Hung. Ảnh dự thi chủ đề Tuổi thơ em của Số Hóa.

Trừ máy DSLR với ống kính đắt tiền, các máy ảnh du lịch thường sẽ bị thiệt sáng khi zoom, vì vậy nên tiến lại gần thay vì đứng xa mà zoom vào, ngoại trừ hoàn cảnh bắt buộc phải zoom hoặc chủ ý muốn zoom. Tránh zoom sẽ giúp máy lấy nét nhanh hơn và không bị thiếu sáng dẫn tới tốc độ chụp chậm gây mờ nhòe, nhất là khi trẻ vận động. 6. Hạn chế dùng flash trực diện.

Hình chụp các bé sơ sinh khi ngủ rất dễ thương nhưng lại thường ở trong điều kiện thiếu sáng trầm trọng. Tốt nhất bạn nên mua chân máy (tripod) loại phổ thông, chỉ vài trăm nghìn đồng nhưng hiệu quả rất tốt, giúp ống kính mở lâu mà hình không bị rung nhòe. 7. Hài lòng với một hai kiểu ảnh Đôi khi xem hình trên máy ảnh thấy được, nhưng tới khi phóng lớn lại không đẹp. Thực tế tỷ lệ số hình phải bỏ khi chụp trẻ con khá cao, vì vậy nên chụp nhiều và liên tục để có được vài tấm ưng ý nhất.

Mẹo chụp cảnh pháo hoa
Là một "phó nháy", dịp năm hết Tết đến là cơ hội thuận lợi để bạn ghi lại những khoảnh khắc pháo hoa tưng bừng đêm giao thừa.

Ảnh minh họa: Internet 10 lưu ý để bạn có được những tấm ảnh chụp cảnh pháo hoa ưng ý: 1. Sử dụng chân máy Thông thường, bạn sẽ phải đứng từ khoảng cách xa, sử dụng độ phơi sáng dài để chụp cảnh pháo hoa. Đó là lí do không thể thiếu chân máy. Nếu không có chân máy làm giá đỡ, bạn hãy tìm cách khác như tựa máy vào tường hoặc bất kì vật gì vững chắc. Không nên sử dụng tay không giữ máy để chụp ở tốc độ cửa trập dưới 1/30 giây. 2. Sử dụng bộ điều khiển từ xa Nếu có điều kiện, bạn nên sắm sửa bộ điều khiển từ xa bằng dây cáp hoặc qua tín hiệu không dây. Các phụ kiện hữu ích này sẽ tránh cho camera bị rung khi bạn thao tác ghi hình. Nếu bạn có ý định chụp hình với độ phơi sáng dài, các thiết bị giá rẻ này sẽ là phụ tá thực sự đắc lực. 3. Tóm bắt cơ hội Một trong những khó khăn khi chụp cảnh pháo hoa là bạn phải đoán được khi nào pháo sẽ sáng. Bạn nên chọn những nơi cao ráo thoáng đãng như tầng thượng cao ốc hoặc sân vườn rộng, gần nơi sẽ tổ chức bắn pháo hoa. 4. Ghi hình cảnh rộng

Để có thể ghi được những cảnh tượng hoành nhất, bạn nên zoom tối đa và chụp ảnh góc rộng. Điều này giúp bạn không bỏ lỡ bất kì cảnh đẹp nào, đồng thời các tác phẩm của bạn cũng có được độ sâu trường ảnh tốt hơn. 5. Độ mở phù hợp Thông thường, mọi người vẫn cho rằng máy cần phải có độ mở lớn, mức f2 để chụp cảnh pháo hoa. Tuy nhiên, thực tế là, để chụp cảnh này, bạn nên sử dụng độ mở f8 hoặc thậm chí f16 để có được kết quả tốt nhất. 6. Tốc độ cửa chập Nếu camera của bạn có sẵn chế độ chụp cho mở ống kính lâu (bulb mode), hãy tận dụng tính năng này. Nếu không, bạn hãy sử dụng chế độ chụp chồng lớp, sử dụng nhiều mức phơi sáng khác nhau với tốc độ 30 giây mỗi lần chụp. 7. ISO Cảnh pháo hoa thường có mức ánh sáng cao, do đó mức ISO thấp vào khoảng 100 là phù hợp. Với thông số này, bạn cũng tối giản được độ nhiễu của ảnh. Lưu ý rằng, mức độ nhạy sáng thấp sẽ giúp ảnh trông sáng rõ hơn, mức ISO càng cao, khả năng ảnh bị nhiễu càng lớn. 8. Hãy tắt Flash Flash sẽ không có tác dụng nếu chụp cảnh sử dụng chế độ phơi sáng thực, đồng thời có thể ảnh hưởng tới tốc độ cửa chập của camera. Khi chụp cảnh pháo hoa, tốt nhất bạn nên chọn chế độ tuỳ chỉnh manual (chỉnh thủ công). 9. Chế độ Manual Mode Nếu camera có chế độ tuỳ chỉnh manual, hãy tận dụng tính năng này. Chế độ tuỳ chỉnh sẽ cho phép bạn đặt mức độ phơi sáng, tắt flash và tập trung ống kính vào những điểm ảnh ở xa. Lúc đó, nhiệm vụ còn lại của bạn là chờ và chụp! 10. Xem lại tác phẩm Bạn cũng nên xem lại ngay các tác phẩm của mình sau một số lần chụp. Điều này sẽ giúp bạn biết được chất lượng của các bức ảnh mới ghi hình và trong trường hợp cần thiết có thể nhanh chóng điều chỉnh máy.

Kinh nghiệm chụp pháo hoa ngày Tết
Một trong những giây phút được mong chờ nhất là khoảnh khắc pháo hoa bừng sáng trong đêm và ai cũng muốn ghi lại những hình ảnh rực rỡ này. Hiện nay, máy ảnh DSLR đã phổ biến nhưng không phải ai sở hữu camera này cũng biết cách chụp pháo hoa đẹp. Bài viết này tổng hợp một số kinh nghiệm được chia sẻ trên các website về nhiếp ảnh: Các vấn đề kỹ thuật Người chụp pháo hoa cần nhớ những "thông số" sau: Tripod, dây bấm, ống kính góc rộng (wide), f/8.0 hoặc f/11.0, ISO 50 hoặc ISO 100, chế độ chụp BULB và file RAW. Tripod (chân máy): Đây là một trong những điều kiện cần để chụp pháo hoa. Người chụp cần giữ cố định camera để chụp pháo hoa không bị rung. Nếu không có tripod, có thể chọn 1 điểm cố định để đặt máy. Dây bấm: Khi chụp pháo hoa, do chụp ở tốc độ chậm, thời gian phơi sáng lâu nên càng hạn chế chạm vào máy ảnh càng tốt. Dùng tay để bấm/giữ nút shutter sẽ làm máy bị rung. Người chụp cần 1 sợi dây bấm (remote). Ống kính: Vì chụp pháo hoa đẹp nhất khi thu được toàn cảnh, bạn nên dùng ống góc rộng. Ống kit (18-55 mm) đi kèm với các dòng máy cơ bản cũng có thể chụp pháo hoa, hoặc bạn có thể dùng ống kính có tiêu cự rộng hơn 24 mm là vừa đủ. Khẩu độ nhỏ (f/8.0 hoặc f/11.0) thì cảnh sẽ rõ nét và chụp phơi sáng tốt hơn là mở khẩu lớn.

ISO: Nên để ISO là 100 hoặc 50 (tùy theo máy) để ảnh có chất lượng tốt nhất. Chế độ chụp: Có thể chọn là chế độ Bulb (hoặc B) để giúp chủ động được thời gian chụp của máy. Định dạng file chụp nên chuyển sang thành RAW thay vì JPG (chỉnh lại ảnh với chất lượng tốt hơn ở khâu hậu kỳ). Các bước chuẩn bị Để chụp pháo hoa đẹp, bạn cần có 1 địa điểm tốt, như nóc nhà cao nhìn ra hướng bắn pháo hoa, bờ sông đối diện... Tiếp theo, cần kiểm tra kỹ thẻ nhớ, sạc pin đầy đủ, lau chùi ống kính và vệ sinh sensor, đem theo khăn lau ống kính và 1 cái ô nhỏ đề phòng trời mưa. Bạn cần có mặt càng sớm càng tốt ở địa điểm chụp để khảo sát, chọn vị trí tốt, chụp thử vài kiểu để hình dung ánh sáng toàn cảnh và điều chỉnh thích hợp. Một trong những khâu khó nhất khi chụp ảnh pháo hoa là xác định trước hướng máy ảnh, bởi khi pháo đã bắn lên thì không còn kịp để căn chỉnh nữa. Xem đường chân trời: Một điều cũng nên lưu tâm là để bố cục ngang với đường chân trời thế nào cho hợp lý. Đây là yếu tố ảnh hưởng không ít tới vẻ đẹp của một cảnh pháo hoa.

Căn đường chân trời cho bức ảnh pháo hoa chụp từ bờ sông đối diện. Ảnh: U. Rain/Flickr. Chụp dọc hay ngang: Do đặc trưng của pháo hoa là được bắn thẳng lên trời và rơi xuống từ từ, chụp ảnh dọc thường thu được nhiều quang cảnh pháo sáng rực rỡ hơn. Chụp ảnh ngang chỉ hữu dụng khi bạn muốn lồng thêm cả khung cảnh xung quanh với ống kính góc rộng. Ghi nhớ khung hình: Đến thời điểm bắn pháo hoa, bạn không cần lúc nào cũng nhìn qua ống ngắm bởi khi nhìn trực tiếp, bạn mới có thể thấy và cảm nhận được thời điểm pháo hoa sẽ nổ và tính toán khoảng thời gian mỗi quả pháo sáng rơi dài thành vệt xuống bao lâu, từ đó bạn chỉ việc hướng ống kính về phía khung hình đã định và bấm máy. Lấy nét: Bạn nên lấy nét ở vô cực rồi xoay ngược về một chút, hoặc canh nét vào 1 tòa nhà hay 1 chủ thể mà bạn nghĩ sẽ gần với nơi pháo hoa nổ. Do chụp ở khẩu độ nhỏ (f/8.0-f/16.0), bạn không cần quá lo lắng về việc ảnh không nét. Bắt đầu chụp Khi vệt sáng được bắn lên thì bạn bắt đầu bấm nút chụp, đợi tới khi pháo nổ tung ra hoặc 2-3 đợt pháo bắn liên tiếp thì nhả nút chụp ra. Tùy sở thích và ý muốn mà bạn chụp/ngưng chụp vào các thời điểm khác nhau. Thời gian giữ nút chụp thường rơi vào khoảng 4-10 giây. Sau khi chụp vài tấm ảnh đầu tiên, kiểm tra nhanh xem chúng có lỗi gì không để kịp chỉnh sửa thông số hoặc bố cục trước khi chụp loạt tiếp theo. Thời điểm đẹp nhất để chụp pháo hoa là khoảng 2 phút đầu tiên vì lúc đó có ít khói nhất. Ngoài ra, đợt cao trào cuối cùng trước khi kết thúc cũng là thời điểm đẹp để chụp.

Mẹo chụp ảnh 'bay'
Ảnh "bay" thể hiện cá tính, sự sáng tạo của cả người chụp lẫn "mẫu". Đây cũng là trào lưu đang được giới trẻ rất ưa chuộng.

Thể loại chơi ảnh này không mới nhưng bắt đầu được quan tâm và xuất hiện nhiều hơn trên mạng khoảng một năm trở lại đây. Ảnh "bay" về cơ bản là chụp bắt được hành động của "mẫu" giống như đang bị lơ lửng trên không trung. Để thực hiện được những bức ảnh thú vị này, cả chụp người lẫn người được chụp đều phải rất khéo léo để tạo ra và bắt được đúng khoảnh khắc cần thiết.

Chụp ảnh bay không khó về kỹ thuật. Ảnh: Yowayowacamera.

Người chụp nên sử dụng máy ở chế độ chụp ưu tiên tốc độ (Tv ở Canon và S ở Nikon). Tốc độ màn trập thường phải để lớn để bắt kịp hành động và không làm nhòe hình ảnh. Thông thường, con số này vào khoảng trên 1/600 giây, có thể thấp hơn hoặc cao hơn tùy hoàn cảnh thực tế và ống kính sử dụng. Các máy ảnh phải luôn đặt ở chế độ chụp liên tiếp cao nhất và bấm máy khi người được chụp bắt đầu thực hiện động tác cho đến khi kết thúc. Người chụp cũng cần thực hiện việc lấy nét, đo sáng và tính toán khuôn hình trước khi chụp. Người được chụp trong trường hợp này cần phải là một diễn viên thực thụ từ việc thể hiện hành động đến biểu hiện nét mặt.

Những bức ảnh chụp nhóm sáng tạo
Thay vì yêu cầu mọi người xếp hàng ngang, đếm từ 1 đến 3 rồi bấm nút, người chụp có thể nghĩ ra nhiều cách để bức ảnh trở nên sinh động, đẹp mắt và bất ngờ.

Ảnh: Talikf.

Ảnh: Kellyhofer.

Ảnh: Vishnurajan.

Ảnh: BrightBub.

Ảnh: SagarPatil.

Ảnh: Smashpoppler.

Ảnh: Picture_Bunny.

Ảnh: Macmoov.

Ảnh: Vstrash.

Ảnh: Chelseaelizabethphotography.

Ảnh: D1production.

Ảnh: Gloriazelaya.

Ảnh: Churchillcarling.

Ảnh: Laura_sobenes

Thế giới ngoạn mục qua ảnh chụp trên cao
Thứ Ba, 07/12/2010 10:12

Từ lâu, nhiều nhiếp ảnh gia đã sử dụng khinh khí cầu, diều hoặc chụp từ cửa sổ máy bay để đem đến góc nhìn mới lạ về thế giới mà không phải ai cũng có cơ hội chiêm ngưỡng.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->