Thời thơ ấu và thanh niên của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1911) Chủ tịch Hồ Chí Minh

sinh ngày 19 tháng 5 nǎm 1890 tại quê ngoại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà nho.

Cụ Nguyễn Sinh Sắc Cụ Hoàng Thị Loan Bà Nguyễn Thị Thanh Ông Nguyễn Sinh Khiêm Thân phụ Chủ tịch Hồ Chí Minh là ông Nguyễn Sinh Sắc, sinh nǎm 1862 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ nhưng ông sớm có ý chí tự lập, thông minh, ham học. Nǎm 1901 Nguyễn Sinh Sắc thi Hội và đậu Phó bảng. Tuy đỗ cao nhưng ông vẫn sống rất thanh bạch, khiêm tốn, ghét thói xu nịnh, cam phận của các quan lại trong triều đình Huế. Ông chỉ làm quan trong một thời gian ngắn và sau đó sống bằng nghề dạy học, bắt mạch bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Ông đã đi nhiều nơi, liên lạc với những người yêu nước, tuyên truyền đoàn kết, kêu gọi nhân dân sống có tình nghĩa thủy chung. Tư tưởng yêu nước tiến bộ, nhân cách cao thượng của ông đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến những người con. Ông qua đời tại thị xã Cao Lãnh (Đồng Tháp) vào nǎm 1929, thọ 67 tuổi. Thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh là bà Hoàng Thị Loan sinh nǎm 1868 trong một gia đình nho học. Bà là một phụ nữ thông minh, cần cù chịu khó, thương yêu chồng con và giàu lòng nhân ái. Bằng nghề làm ruộng và dệt vải bà đã hết lòng chǎm lo cho chồng và các con. Cuộc đời của bà tuy ngắn ngủi nhưng đã để lại hình ảnh về một phụ nữ Việt Nam sống có tình nghĩa và có ảnh hưởng rất lớn tới tư cách của các con mình. Bà Hoàng Thị Loan qua đời tại Huế nǎm 1901, lúc 33 tuổi. Chị gái Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn Thị Thanh, sinh nǎm 1884. Chị đã tham gia nhiều phong trào yêu nước, nhiều lần bị thực dân Pháp và triều đình phong kiến bắt giam. Nguyễn Thị Thanh qua đời tại quê hương nǎm 1954, thọ 70 tuổi.

Tổng Lâm Thịnh. thầy Hoàng Đường đã sang làng Kim Liên xin với vợ chồng ông Nguyễn Sinh Trợ được đưa Nguyễn Sinh Sắc về nuôi ăn học. Ông Sắc còn nhỏ. tỉnh Nghệ An (nay là Làng Sen.Ác Măng và 1884 Patơnốt của triều đình đã . sinh năm Quý Hợi (1863) (Hồ sơ mật thám tại tòa Khâm sứ Trung kỳ nói ông sinh năm 1862 tại phường Phú Đầm. đất nước loạn lạc. Từ tuổi thanh niên. ông Sắc phải chăn trâu. vua Tự Đức mất. làng Kim Liên. hiệu là Trí Hiếu. Anh em đùm bọc nhau trong khó khăn của mảnh đất quê nghèo. huyện Nam Đàn. Người cha kính yêu của Bác . tỉnh Nghệ An). Ở Làng Sen có lớp học của thầy giáo Vương Thúc Mậu. Sau này ông còn lấy biệt danh là Nguyễn Xuân Sắc.ông Nguyễn Sinh Sắc.Anh trai Chủ tịch Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Khiêm. Một năm sau đó. Nghệ An . thực dân Pháp tấn công ra Bắc. Các Hiệp ước 1883 . Nguyễn Phan Diêu. cắt cỏ. Nguyễn Sinh Khiêm qua đời nǎm 1950. cha ông là Nguyễn Sinh Nhậm cũng qua đời. thông qua thầy Vương Thúc Mậu. triều đình phe phái tranh giành nhau trong lúc kẻ thù đang vây ép. Trí Đễ. Sau khi chiếm xong Nam Kỳ. Năm 1884. Những năm đó. say sưa nghe thầy dạy. sinh nǎm 1888. ngoan ngoãn và gia cảnh của cậu Sắc. Được gia đình cụ Tú Hoàng Xuân Đường chăm sóc. Mỗi lần đi chăn trâu. Năm 1983. xã Kim Liên. huyện Nam Đàn. khi ông Sắc lên 3 tuổi thì mẹ là cụ Hà Thị Hy qua đời. Cụ Nhậm để lại hai người con trai khác mẹ Nguyễn Sinh Trợ. Thầy Vương Thúc Mậu dạy học đồng thời với thầy Hoàng Xuân Đường ở Làng Chùa (còn gọi là Hoàng Trù). Do tham gia các hoạt động yêu nước chống thực dân và phong kiến nên Nguyễn Sinh Khiêm đã từng bị tù đày nhiều nǎm. sống cùng với gia đình người anh cùng cha khác mẹ. thọ 62 tuổi. khi vào thi Hội (1895) đổi thành Nguyễn Sinh Huy. Cảm mến đức ham học. phụ giúp gia đình. cậu Sắc thường dừng lại xem học và mê mải. gia đình cụ Tú đã gả người con gái đầu lòng Hoàng Thị Loan cho cậu thư sinh Nguyễn Sinh Sắc. còn gọi là Nguyễn Sinh Thuyết và Nguyễn Sinh Sắc. cậu Sắc chăm ngoan học giỏi. mở mang vǎn hoá. Nguyễn Sinh Khiêm đã đi nhiều nơi truyền thụ kiến thức.quê Bác hôm nay Dòng họ Nguyễn Sinh trên đất Nam Đàn là một dòng họ khoa cử và đức độ.

ông Sắc tận mắt chứng kiến cảnh phu phen. ông đem cậu Nguyễn Sinh Khiêm theo. Các bạn bè đồng thời của ông. Tháng 7-1909. Ông về quê. được cấp đất vườn. mũ. Đồng bào kéo vào kinh thành Huế. Tuổi trẻ của ông Sắc chứng kiến cảnh dân nô lệ. tổ chức thanh niên Đông Du tìm đường cứu nước… Yêu nước. quê ở Nghệ An trôi dạt vào Bình Định . không qua được kỳ 2 và 3 (Tam trường) nhưng có tiêu chuẩn để vào học Quốc Tử giám. ông Sắc vào Bình Định nhậm chức tri huyện. Chính vì vậy. Năm đó. Thầy Vương Thúc Mậu bị thực dân Pháp bắt và thi hành án tử hình. Nông dân Bình Khê nổi tiếng có võ nghệ và cứng đầu. Tiếp tục chí trai theo con đường khoa cử. đục khoét.chấp nhận sự bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam. áp bức dân lành. cân đai. năm 1898. cụ Nguyễn Thị Kép qua đời. ông Sắc dự thi Hội lần thứ hai. Lần này ông đậu Phó Bảng và được vua ban áo. tạp dịch vô cùng khổ sở của nhân dân. Những ông Cử lúc đó có thể được ra làm quan ngay. với lý do gia cảnh éo le: vợ mới mất. ông Sắc vào Huế và tháng 6-1906 nhận chức Thừa Biện Bộ Lễ. Theo tục lệ. phong trào biểu tình chống thuế của nhân dân miền Trung lan rộng.Quy Nhơn. Giải nguyên Phan Bội Châu liên kết với Hoàng Thân Cường Để. thương dân. Nước Việt Nam vốn là một nước phong kiến độc lập. cách thành Quy Nhơn khoảng 40km về phía tây. vợ chồng ông sinh người con thứ tư. được cử vào Hội đồng sơ khảo kỳ thi Hương ở Thanh Hóa. chỉ đậu kỳ 1. nhưng ông Sắc chọn con đường tiếp tục vào kinh đô dự thi Hội 1895 (nhà Nguyễn tổ chức thi Hội và thi Đình sau kỳ thi Hương một năm và cứ ba năm tổ chức một lần). nhiều người mưu trí cứu nước. nhưng tất cả những con đường cứu nước lúc đó đều chưa hợp với ý nguyện của ông Sắc. Hai cậu con trai của ông tham gia các cuộc biểu tình này. quan trường bạc nhược. cậu Cung và em của cậu. đây là địa bàn cuộc khởi nghĩa Tây Sơn của 3 anh em gốc họ Hồ. Bà Loan lâm bệnh và qua đời ngày 10-2-1901 tức ngày 22-12 năm Canh Tý. Hơn một thế kỷ trước. nhưng cũng không đậu. Năm đó. cường . Năm đó ông Sắc thi. Tháng 5-1908. ông Sắc dự thi Hội lần thứ 3. Cuối 1900. Lại một cái tang lớn nữa giáng vào gia đình ông. ruộng và nhà. huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn). Những năm tháng ở quê hương. đem theo hai người con trai vào học tại lớp dự bị trường tiểu học Pháp Việt Thừa Thiên. trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. bái tổ. Ở Huế. ông Sắc được đón về làng. đặt tên là Nguyễn Sinh Xin. Lận đận con đường khoa cử. không ra làm quan ngay. Dân làng quê hương Kim Liên đã tổ chức đón Phó Bảng long trọng. mà ông bị triều đình khiển trách. mang theo Nguyễn Sinh Cung. Bình Khê là một vùng quê nghèo. sau khi bị thực dân Pháp thống trị. tháng 5-1901. Nguyễn Sinh Xin. chỉ còn bà Loan. ông Sắc đã đậu cử nhân. kỳ thi Hương tại trường thi Nghệ An năm 1894. đưa vợ và hai cậu con trai vào Huế để tiếp tục học hành. khi bọn địa chủ. con trai út mất. 13-4-1904. vinh quy. Tháng 5-1906. Người con gái đầu lòng Nguyễn Thị Thanh ở lại quê với bà ngoại. Ông ở lại quê hương dạy học.

Cuối 1926. Nguyễn Tất Thành . Nước mất thì lo mà cứu. cường hào thì nhiều tên căm ghét. lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội và truyền bá con đường cứu nước vào Việt Nam. một cường hào ác bá nổi tiếng bị giam và bị thương tích rồi chết. triệu hồi ông về Huế để xét xử. nhưng bọn quan lại. Tại đây. sau đổi thành giáng 4 cấp và thải hồi. cha sẽ quanh quẩn ở Sài Gòn để chờ tin con.Tơvêrin) ra đi tìm đường cứu nước. Sa Đéc. Trước 1920. cứu nhân. Ông vào Sài Gòn. địa chủ. Kỳ bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội ở Nam Bộ. Được sự giúp đỡ giới thiệu của các cụ Trương Gia Mô. . Ngày 27-8-1910 bản án được chuẩn y. ông là người nhiệt thành ủng hộ việc Thành ra đi tìm đường cứu nước. đừng có lo. tìm cách giảm án hoặc tha tội tù đày. 10 năm 1929. thì cháu nói với Quốc là bác vẫn khỏe. Chiều ngày 26-10 năm Kỷ Tỵ nhằm ngày 26-11-1929.con Bác đang ở bên đó. tổ chức Thanh niên ở đây đã chọn nhà ông Lê Văn Giáo (Năm Giáo) ở sát bờ Cái Tôm. chỉ vì thiếu nợ của bọn cường hào mà bị bắt giam giữ được ông Sắc bênh vực. có lúc đi Long An. ca ngợi là người thanh liêm. giữa ông và anh Thành có một số lần trao đổi được thư từ. nơi Nguyễn Sinh Sắc trị nhậm xảy ra vụ án Tạ Đức Quang. Ông đến Phan Thiết tìm Nguyễn Tất Thành và được biết anh Thành không dạy học ở đây nữa và đã vào Sài Gòn. lúc đó. cụ Sắc lâm bệnh. cụ bảo vào một quán giải khát để uống nước.Nguyễn Ái Quốc đã về Quảng Châu. Hội đồng nhiếp chính Triều đình đã họp và buộc ông Nguyễn Sinh Sắc vào tội lạm quyền và tuyên phạt đánh 100 trượng. ông lên đường đi về phương Nam.hào được Tây bênh vực cướp đất. Ông đã ở lại Sài Gòn. Những người dân nghèo vô tội. Đồng chí Lê Mạnh Trinh kể lại. Tại Bình Khê. chữa bệnh cho dân. Cụ gọi hai chén chè. cứu nước tức là có hiếu với cha rồi đó”. Vợ Quang tố cáo ông Sắc lên triều đình. Vì vậy. Cao Lãnh. Trước khi Nguyễn Tất Thành ra đi. Nếu gặp. Thủ Dầu Một.Việt Quy Nhơn do thầy Phạm Ngọc Thọ (thân sinh của cố Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch) dạy. Hồ Tá Bang và những người bạn của các cụ. Nguyễn Sinh Cung được cha gửi học tại Trường Tiểu học Pháp . tiếp tục bốc thuốc nam. Thời gian này. ôngï Nguyễn Sinh Sắc được nhân dân quý mến. chén có trứng. tức tối. bình dân và thương dân. Lê Mạnh Trinh . Ra khỏi nhà giam. khi biết cụ là thân sinh ra lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chú ý chăm sóc cụ. cha con gặp nhau. Trước khi lên đường sang Quảng Châu. cụ đưa cho Lê Mạnh Trinh ăn và dặn: “Cháu ra đi cố gắng. Cụ đã cư ngụ tại đây từ 4-1928. Bến Tre. độ thế. xã Hòa An gần chùa Hòa Long để cụ ở. con chỉ có một con đường đi tìm đường cứu nước. ông Sắc có dặn con đại ý là: nước mất. cụ qua đời. sang Cao Miên… rồi lại về Sài Gòn. Triều đình ra lệnh cách chức. anh Thành được giới thiệu tìm được việc làm trên con tàu Latouche . Ngày 19-5-1910. truyền tụng. Bác nghe nói Quốc . Tháng 9. Khi cụ lên Cao Lãnh và có ý định ở lại Cao Lãnh. Sức khỏe của cụ yếu dần.một hội viên của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội Nam Bộ đã đến gặp cụ Nguyễn Sinh Sắc.Tréville (Latusơ .

căm thù giặc và tấm gương thanh bạch của cụ đã truyền cho những người con của cụ. thống nhất và không ngừng phát triển mạnh giàu. thương dân. . văn minh và dân chủ hôm nay. sống cho đời. tất cả đều như những bông sen. liêm khiết.Cuộc đời cụ Nguyễn Sinh Sắc là cuộc đời trong sáng. thơm ngát và thanh khiết… Niềm tin. giải phóng con người. chắc hẳn cụ thỏa lòng mong ước khi Tổ quốc độc lập. lòng yêu nước của cụ thắp sáng và thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra đi tìm thấy con đường giải phóng dân tộc. Chín con rồng tạo mái lá sen thơm chở che cho giấc ngủ vĩnh hằng. Cụ yên nghỉ giữa lòng dân và đất Nam Bộ. cho mọi người. Lòng yêu nước.