PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN KHUYẾN Phần I:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG.1 .

L ý d o c h ọ n đ ề t à i Nền văn học trong quá trình hình thành và phát triển đã trãi qua nhiều giai đoạn, cónhững giai đoạn và thành tựu nhất định. Trong đó giai đoạn cuối thế kỉ 19 đã là mộttrong những giai đoạn rực rỡ với những tác giải lớn như: Nguyễn Đình Chiểu, NguyễnThông, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương…. Và hơn hết trong số đó Nguyễn Khuyến đã trở thành cây cổ thụ lớn của giai đoạn văn học này. Tính đồ sộ của nókhông những thể hiện ở sự đa dạng về số lượng bài mà còn thể hiện ở sự độc đáo về một phong cách độc đáo. Chính nét riêng này đã góp phần tỏ sáng nền ăn học nước nhà, gắnliền với tên tuổi một tác gia lớn Nguyễn Khuyến. Do đó, việc ng/c về Nguyễn Khuyếnnói chung và phong cách NT của ông nói riêng là một điều rất cần thiết. Bởi nó khôngnhững giúp ta tìm thấy được những giá trị văn học đáng quý đã bị vùi lấp trong trong suốtthời gian dài mà còn làm cho ta thêm tự hào, giữ gìn và phát huy nền văn học nước nhàngày càng rực rỡ.Hiện nay nước ta trên dàng hội nhập những bước chân đầu tiên đâu tránh khỏinhững vấp ngã những bở ngỡ. Chúng ta sẽ dễ dao động trước những lối văn hóa mớimẽ,lạ lẫm. Do đó, việc khẳng định mình trước bạn bè thế giới là một điều cần thiết tronggiai đoạn hiện nay. Nhưng muốn đứng vững cần phải có những cái riêng của mình và vănhọc cũng không ngoài điều đó. Vì thế, việc tìm hiểu, nghiên cứu bất kì phong cách mộtnhà văn, nhà thơ nào nói chung và của _______nói riêng sẽ góp phần tạo nên bản sắc củanền văn học nước nhà. Đồng thời, nó cũng tạo cho nền văn học Việt Nam có những nétđộc đáo riêng, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhưng hiện nay trong thực tế việc tìm hiểu vềnghệ thuật thì đã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng chưa được thõa đáng.Riêng tôi với với vai trò là một giáo viên tương lai thì việc tìm hiểu phong cách nghệthuật của nhà thơ Nguyễn Khuyến là rất cần thiết. Bởi đi sâu nghiên cứu nó không những bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môm nghề nghiệp của bản thân mà nó còn góp phầntạo thêm một nguồn tư liệu mới cho bạn đọc và học sinh khi muốn tìm hiểu về NguyễnKhuyến. Đòng thời, nó góp phần làm sáng ngời nền văn học nước nhà.2. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thơ văn của Nguyễn Khuyến.- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phong cách trong thơ Nguyễn Khuyến.3. Mục đích của đề tài nghiên cứu: Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam, do đósố lượng bài đọc của ông được đưa vào trường phổ thông giảng dạy cũng khá nhiều. vìthế, việc tìm hiểu những đặc điểm đặc thù của phong cách nghệ thuật của NguyễnKhuyến sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy. Đồng thời, trên cơ sở đó chúng ta cóthể đề xuất các phương pháp học tập, phương pháp giảng dạy cho phù hợp, đạt hiệu quả.4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:Đề tài sẽ đi

Trần Đình Sử…. Văn học là . phát triển. đối chiếu và tổng hợp đểnhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu. Tuy nhiên. ông tìm hiểu “về một_____ trong văn học”. có những trường hợp không phảikhông đáng chú ý”. Với cách đánh giá như thế tác giả Nguyễn Lộc đi sâu nghiên cứu sựảnh hưởng của thể hát nói. trên cơ sở đó đề ra một số nhận định và suy luận có liên quanđến công tác dạy và học văn ở trường trung học phổ thông hiện nay. Đồng thời. so sánh.Ông đã nhì nhận vềvấn đề trên tiến trình phát triển của văn học. ghichép. Nhưng trên tinh thần kế thừa có sự sáng tạo. Nhưng nhìn chung. sắp xếp. dã tốn biết baogiấy mực khi nghiên cứu về tác gia Nguyễn Khuyến. có ý nghĩa.Trong công trình nghiên cứu này tác giả cuốn sách đã tập hợp rất nhiều bài viết.5.Phù hợp với qui luật phát triển chung của tiến trình văn học. Một trong những công trình nghiên cứu lớn nhất về Nguyễn khuyến cócuốn”Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm” do Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu. Các nhà nghiên cứu. và bút pháp. Vì thế thơ văn Nguyễn Khuyến là một mãnh đất trù phú nuôi trồng biết ____ cây bút phê bình văn học. Trịnh Bá Đĩnh viết về “phong cách dân gian trongthơ Nôm Yên Đỗ”. phê bình văn học.Phần 2:Chương I: cơ sở lý luận:Lịch sử vấn đề nghiên cứu:Nguyễn khuyến là một nhà thơ lớn trong dòng văn học ______Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu:Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp đọc sách. những côngtrình nghiên cứu đó chưa khai thác thật sự đầy đủ những giá trị đóng góp của nhà thơ Nguyễn Khuyến. hệ thống lại thành một hệ thống hoàn chỉnh. về phương diện ____. Trên cơ sở đó. Còn Nguyễn Lộc thì đi hơi khái quát hơn. Ngoài ra còn sủ dụng phương pháp phân tích. ông cho rằng “với Nguyễn Khuyến. để từ đó thấy được những giá trị đặc sắc trong nghệ thuật lẫnnội dung thơ. bởi lẽ Nguyễn Khuyến là một nhà Nho thì ắc hẳng phải chịu sự kế thừa củanhững tác giả _______lớp trước. nói chung chưa có gì thật sựmới so với truyền thống. Tôi đòng tình với quan điểm trên của tác giả Nguyễn Lộc. côngtrình nghiên cứu của nhiều nhà phê bình nổi tiếng như: Trần Quốc Vượng. Nguyễn Lộc.Đó là phong cách “tác giả nhìn nhận vấn đề trên quan điểm so sánh đối chiếu để thấyđược nét đọc đáo. khác biệt trong phong cách”Dưới một góc độ khác tác giả Trần Nho Thìn nhìn nhận vấn đề với một quan điểmtriết học: “____________________________________________”Với quan điểm này ta thấy sự vận động tiến lên của văn học nói riêng và của xã hội nóichung. Trong đó chỉ hơn một chục bài viết về _________NguyễnKhuyến. nếu nghiên cứu kĩ.vào tìm hiểu để làm sáng tỏ những nét đặt thù trong phong cách nghệthuật của Nguyễn Khuyến.Xuân Diệu. Mỗi bài viết lại khơi nguồn một khía cạnh khác nhau. thơ chữ Hán của ông ngoài cái nộidung đậm đà. chất thơ dân gian của Nguyễn Khuyến. Tác giả Đào Thân viết về“tài chơi chữ” của Nguyễn Khuyến. Đó mới là cái đáng chú ý.

Nhà văn sống trong một xã hội nhất định. Và mãi về sau này thì chữ “phong cách” mới có ý nghĩa đầy đủ hơn. nói lên cái nhì độcđáo trong sáng tác của một nhà văn. ____ nghệ thuật bền vững. tức nó được thể hiện trong nhiều tác phẩm. Hay nói cách khác nó phải có sự rung cảm mãnh liệt. chứ không đơn thuần là kĩ năng hay nội dung. tạo thành một lối mòn tư duy. Còn người La Mã gọistylus cho một cái que là đầu nhọn để viết.Cơ sở lý luận của đề tài:Khái niệm:Từ xưa con người đã có ý thức về vấn đề cái riêng. chỉ sự thống nhất tương đối ổn địnhcủa hệ thông hình tượng. khuônđúc nên một quan niệm. Khi conngười phát triển thif vă2n học cũng phát triển và ngược lại. khi9 nghiên cứu ván đề trênquan điểm duy vật biện chứng này thì cho cho ta có ____ cái nhìn khách quan hơn về sựđóng góp đáng kể của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Đó là ở người HiLạp cổ dùng từ Stylos để chỉ một cái que đầu tf và đaauf nhọn. thiện. Có thể nói mô phỏng dựa trên chất liệu của người khác nhưng nó phải được nhà văn nghiền ngẫm thành cái riêng của chính mình. sau có nghĩa bút pháp với những đặc điểm về ngôn ngữ và vănthể. nhà văn phải thể hiện được một lậptrường. chứ không xuất hiện như là một hiệntượng văn học. nhưng trong ngôn ngữ lại có gốc tích của từng phong cách (Style). cái sáng tạo chứ không phải cái gậpkhuôn của người khác. đầu tù để xóa. cái phong cách. mỹ”. Vậy “phongcách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm vchaats thẩm mĩ thể hiệntrong sáng tác của những nhà văn ưu tú”. phản ánh conngười . Đồng thời cái hay đó nó cần phải có tính chất bềnvững. Thì định nghĩa rằng:“Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ.một bộ phận cấu thành của đời sống tin thần của con người. tiến bộ. xứng đáng nếu không sẽdễ bị quên lãng.Cái độc đáo của tác phẩm phải là cái mới lạ. trong trào lưu văn học hayvăn học dân tộc”. trong tác phẩm riêng lẻ. không phải bất kì một cái sáng tạo mới lạ nào cũng trở thành phong cách mà nó phải có một giá trịthẩm mĩ. có một cái nhìn độc đáo. ty chưa định hình rõràng. tiếng nói ấy đề cập đến vấn đề cuộc sống một cách sáng tạo. Đến người Pháp thì dùng chữStyle có nghĩa nét chữ. Hai yếu tố này hoà quyện vàonhau tạo ra những giá trị thẩm mỹ đặc sắc. độc đáo. Tư tưởng vững vàng. Như vậy. mang tư tưởng thời đại. tạo nét riêng. của các phương tiện.Cơ sở lí luận:Theo cáh định nghĩa trên của hai tác giả. việc tạo nên phong cách của bất kì của một nhà văn nào nó cũng có đòihỏi thể hện trên hai phương diện cả hình thể lẫn nội dung. biểu hiện nghệ thuật. (theo sách “Lí luận văn học” tập 3 của PhươngLựu trang 89) Còn theo cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” của Lê Bá Hán. Mặt khác. cho ta có một số nhận định vấ đề về phong cáchnhư sau:Trước hết một nhà văn có phong cách là một nhà văn có tiếng nói mới cho vănhọc.Thông qua vấn đề phản ánh trong các tác phẩm. nó tạo cho con ngườihướng đến cái “Chân.

không viết theo kiểu thơ khẩu khí.. là một thể thơ được dùng phổ biến trong văn học bác học chứ không phải trong văn học bình dân. những câu đố tục giảng thanh. mà tác phẩm là tác phẩm do nhà văn sáng tạo. Tất cả những điều đó để lại dấu ấn rõ nét trong thơ bà. một số đồ vật trong đời sống hàng ngày của người lao động. Nhà thơ lặn lội nhiều trong cuộc sống của quần chúng ở nông thôn cũng như ở thành thị. cuộc sống bao giờ cũng được phản ánh vào tác phẩm theo con mắt nhìn riêng.Tôi thuyết nghĩ với những yêu cầu. nhưng qua mấy chục bài còn lại. . đặc điểm của phong cách nhà văn như trên. Thực ra Xuân Hương sẽ rất dễ hiểu nếu chúng ta chú ý trong văn học dân gian giai đoạn này đã ra đời rất nhiều những câu ca dao trữ tình và trào phúng. và cũng là những nhân tố làm cho thơ bà có phong cách rõ Nét. nhưng phong cách thơ của Xuân Hương trước hết lại thuộc dòng phong cách bình dân chứ không phải dòng phong cách quý tộc (l ). truyện tiếu lâm cười đến chảy nước mắt. mà nó chỉ xuất hiệnở một số nhà văn nào thật sự tài năng. Xuân Hương !à một người không phải xuất thân từ tầng lớp quý tộc. nhưng nhà thơ không tan biến trong phong cách chung ấy. văn học dân gian.. Xuân Hương sáng tác bằng thể thơ Đường luật. ưu tú. Văn học bác học nói chung viết về cuộc sống của tầng lớp trên. theo cái góc độ riêng của tâm hồn mình.đề tài trong thơ của Xuân Hương cả. Chính những bề dày về giá trịnội dung rất hợp nhuần nhuyễn với tài năng tài tình của nhà thơ. tạo cho ông trở thànhmột trong những cây cổ thụ văn học ở thời kì này. của bọn quan lại. Vậy bao giờ một tác phẩm ra đời nó cũng gắn liền với thời đại xã hộinhất định. Nhưng nếu như trong văn học dân gian. 1. nhiệm vụ của những con người thuộc tầng lớp trên. Với Xuân Hương. Phong cách thơ Hồ Xuân Hương PHONG CÁCH THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG Sáng tác thơ Nôm của Xuân Hương chắc chắn đã thất lạc đi nhiều. mà chỉ mượn nhũng đối tượng ấy để nói về vai trò. bởi họ đặt Xuân Hương vào truyền thống của văn học bác học mà không đặt nhà thơ vào truyền thống của văn học bình dân.Trong một số bài thơ khẩu khí xuất hiện dưới thời Lê Thánh Tông có nói đến một vài nhân vật thuộc tầng lớp dưới.. nếu nhà văn đó cũng mang dấuấn của dân tộc và thời đại.nhưng nhà thơ không nhằm nói về những dối tượng ấy. Xuân Hương không bị ràng buộc nhiều của luân lý lễ giáo phong kiến. Trong nghệ thuật dân gian giai đoạn này và một phần của giai đoạn trước cũng có rất nhiều tác phẩm đề tài không khác gì. Khác với nhiều nhà thơ đương thời. mà sắc thái cá nhân hết sức đậm nét. Xuân Hương vẫn có thể liệt vào những nhà thơ Nôm xuất sắc nhất và có cá tính độc đáo nhất trong văn học dân tộc. cuộc sống. giống như trong văn học dân gian. Cuộc đời riêng của bà lại có nhiều chuyện éo le ngang trái về đường tình duyên. Xuân Hương không chịu rập khuôn theo cái cũ. mà viết về những đề tài lấy trong sinh hoạt của người lao động.Tóm lại phong cách không ở bất kì một nhà văn nào cũng có. Một số nhà nghiên cứu trước đây cảm thấy sợ xuất hiện của Xuân Hương có cái gì khó hiểu. sinh hoạt của người lao động được phản ánh với tất cả cái phong phú đa ..và sự biến động xã hội đó. Xuân Hương thuộc dòng phong cách bình dân. Xuân Hương không làm thơ về đời sống quý tộc. Cuộc sống trong các tác phẩm là hình ảnh thu nhỏ củaxã hội bên ngoài. những truyện Trạng Quỳnh. và đố thanh giảng tục. tôixét thấy ở Nguyễn Khuyến thì đấy là một điển hình cụ thể.

trong cuộc sống ấy bà chỉ viết về những hiện tượng nào gắn liền với..sinh hoạt của phụ nữ.dạng của nó. Này của Xuân Hương. Cầm bằng làm mướn. Cá biệt như trong bài Bỡn bà lang khóc chồng. mà viết về cảnh chồng chung.. dễ hiểu và mộc mạc như Xuân Hương. Xuân Hương có tài khai thác vốn ngôn ngữ súc tích. Nhà thơ không ngần ngại viết những câu? . Xuân Hương cố ý dùng rất nhiều tên thuốc bắc. mà tên thuốc bắc thì cho đến bây giờ chúng ta vẫn còn gọi bằng từ Hán Việt như thế. thích chất đống những từ Hán-Việt. Hình ảnh ''quả cau'' và ''miếng trầu'' thường thấy trong ca dao cũng được Xuân Hương dùng lại trong câu mở đầu của bài thơ Mời trầu: Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi. mướn không công. thống nhất: Ca dao viết: Không chồng mà chửa mới ngoan. Xuân Hương vận dụng ngôn ngữ không câu nệ ở hình thức. tục ngữ. Xuân Hương không giống những nhà thơ bác học có xu hướng muốn dùng ngôn ngữ đài các. Bởi vì đây là một bài thơ ''bỡn''. hoặc có khả năng lồng vào đó một ''nghĩa ngầm'' gửi gắm vào đó cái khao khát về cuộc sống bản năng. những điển cố trong tác phẩm. Có thể nói ở một số bài Xuân Hương đã suy nghĩ và diễn đạt theo cách của thành ngữ. thì với Xuân Hương. ''làm mướn không công'' trong bài Cảnh chồng chung được nhà thơ láy lại để xoáy sâu hơn tính chất bi kịch của cảnh ngộ người đàn bà làm lẽ: Cố đấm ăn xôi. Ngôn ngữ của Xuân Hương không khác gì ngôn ngữ của ca dao. nghe dứt khoát và rắn rỏi: Không có. quý phái. Xuân Hương còn có tài khai thác. Thỉnh thoảng trong thơ bà có một đôi từ Hán Việt. cảnh chồng chết. đã đi vào kho từ vựng phổ biến của tiếng Việt. về cuộc sống ái ân của trai gái. tục ngữ như ''cố đấm ăn xôi''. có thể nói trong văn học cổ không ai giản dị. nhà thơ dùng nhiều từ Háu Việt. thì đó là một dụng ý.. của tình cảm. những câu khác của Xuân Hương làm thành một thể hữu cơ.. Nhìn chung. mới quệt rồi. mới ngoan. thì hầu hết đã được Việt hóa. cô đọng của ca dao tục ngữ. phát triển nội dung cú thành ngữ tục ngữ làm cho nó có sức tác động mạnh. cảnh không chồng mà chửa. tục ngữ. Xuân Hương đã dọn lại thành cũng một câu sắc gọn hết sức có cá tính để làm câu kết cho một bài thơ. những yếu tố ca dao tục ngữ được đặt đúng chỗ nên rất tự nhiên. Có chồng mà chửa thế gian sự thường. đánh đu. miễn là các từ ngữ ấy nói đúng được cái chất thực của đời sống. xôi lại hẩm. nhưng mà có. Về ngôn ngữ. Những thành ngữ. hòn đá Ông Chồng bà Chồng. Trong kiến trúc chung của câu thơ Xuân Hương. Xuân Hương đưa vào thơ một loạt từ ngữ ''đầu đường xó chợ''. có thể nói ngôn ngữ trong thơ Xuân Hương là một ngôn ngữ thuần tuý Việt Nam. Xuân Hương sẽ không viết về bất cứ hiện tượng nào. hay cảnh dệt cửi. nó nhuyễn vào những từ. từng ấy ý.

''đỏ loét''. chẳng có cái gì là đứng yên. Chẳng hạn vần ênh trong bài Chiếc bách (nổi nênh. Kìa cái diều ai nó lộn lèo! Xuân Hương còn thích cái lối nói lấp lửng có hai nghĩa. Thơ Đường luật là thể thơ được dùng trong thi cử và các nhà thơ quý tộc thường dùng thể tài này để ngâm vịnh.. luật chặt chẽ của . Thú vui quên cả niềm lo cũ. màu sắc phải là ''trắng phau phau''. “năng năng nhắc''. Đường đi thiên thẹo đá cheo leo.. Xuân Hương không thích dùng những vần oái oăm khó gieo thi pháp cổ gọi là những ''tử vận''.. Trong những bài thơ còn lại. Lợp lều mái cỏ tranh xơ xác Xỏ kẽ kèo tre đốt ngẳng ngheo. Qua thực tiễn. Hay: . ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ của đời sống được sử dụng một cách có nghệ thuật. dường như nhà thơ chỉ dùng vần để tạo hình: Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo. Về phương diện này nhà thơ cũng tiếp thu truyền thống của câu đối dân gian chứ không phải lối thơ có tính chất biểu tượng như thơ ngụ ngôn hay thơ khẩu khí. Con đường của Xuân Hương cũng là con đường của Nguyễn Du. dễ tan vỡ.) tạo ra cảm giác sung mãn. 'tối om om''. Kho từ ngữ của Xuân Hương thường chứa đựng nhiều từ ngữ động. Hay: Cha kiếp đường tu sao lắt lẻo.. Cảnh buồn thêm chán nợ tình đeo. vần eo trong bài Quán khách như vẽ ra cảnh rừng núỉ cheo leo hiểm trở. Với niêm. tràn đầy. vần om trong bài Trăngthu (chín mõm mõm. những vần chết. của nhiều nhà thơ dân tộc khác.Rúc rích thây ma con chuột nhắt. ''trong leo lẻo''. ''chín mõm mòm''. ..nhiều từ nói lái nghịch ngợm. mong manh. ''đâm toạc chân mây''. thì cũng phải “mõ thảm không khua mà cũng cốc. chúng ta thấy Xuân Hương chỉ làm thơ thất ngôn bát cú và tứ tuyệt. là chết lặng cả. Với Xuân Hương. ''xanh rì'' . Chuông sầu không đánh cớ sao om''. gập ghềnh ạ tấp tênh) tạo ra cảm giác bất định. Hoặc nếu không . Đặc biệt trong bài sau cùng. 'thích thích mau''.Năm thì mười họa hay chăng chớ.. Đây là hai thể thơ rất phổ biến trong văn học phong kiến. Một dòng nước biếc cảnh leo teo.”xiên ngang mặt đất''. nhiều hình thức lấp láy có tác dụng khêu gợi cảm giác mạnh. lênh đênh.. ''đỏ lòm lòm''. Ba chạc cây xanh hình uốn éo.. sáng tác của Xuân Hương. Vo ve mặc mẹ cái ong bầu.Chém cha cái kiếp lấy chồng chung. nhưng dùng thành công thì bài thơ lại có dáng dấp rất độc đáo. đỏ lòm lòm.cử động phải là ''khua lắc cắc ''vỗ “bong bong”.

dù bộc bạch nỗi niềm riêng tây hay ngâm ngợi cảnh đẹp thiên nhiên rộng lớn.nó. và đấu tranh chống lại những gì phản tự nhiên.. Đặc điểm chủ nghĩa nhân đạo của Xuân Hương là một tình cảm yêu đời tha thiết. Chị cũng xinh mà em cũng xinh. Dê cỏn buông sừng húc dậu thưa. hồn nhiên và mộc mạc. giọng hỉ. giả dối và bất công trong xã hội. Giống như người lính xung kích lăm lăm mũi lê trên đầu súng. cái kết cấu ngắn gọn và chặt chẽ kia có khả năng giúp nhà thơ bắt chộp ngay được cuộc sống một cách tức khắc để trào phúng. có lúc để tâm tình nữa. đanh đá không kém: Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ Lại đây cho chị dạy làm thơ Ong non ngứa nọc. tươi trẻ không khác gì cô gái Xuân Hương. Một sự thay đổi về nội dung tất phải đưa đất một sự thay đổi về hình thức tương ứng: trong khuôn khổ mà thể thơ cho phép. Cũng chỉ với Xuân Hương. đanh dá thì cũng có thể bốp. Hiện tượng Xuân Hương hoàn toàn có tính chất lịch sử và xã hội. Nhà thơ phải nắm vững đặc trưng của nó. Những sáng tác của bà huyện Thanh Quan đọc lên nghe ''như có con hầu đi theo sau''. đả kích. nhữug bài thơ Đường luật hồn nhiên. Các sáng tạo trong việc vận dụng thơ Đường luật của Xuân Hương đến giai đoạn sau được hai nhà thơ xuất sắc là Nguyễn Khuyến và Tú Xương kế thừa và phát triển. và dĩ nhiên. Thơ Xuân Hương là một thể thống nhất giữa nội dung và nghệ thuật. Đôi lứa như in tờ giấy trắng. đả kích giai cấp phong kiến thống trị. câu thơ Đường luật mới có cái nhịp điệu đầy sức sống này : Khi cảnh. rất hạn chế khả năng biểu hiện. Xuân Hương thực tế đã ''cải tạo'' thể thơ Đường luật.(l )(chữ của Xuân Diệu) Đối lập với bà huyện Thanh Quan . và khi cần bốp chát. nhưng mà có.châm hoa rữa. Thể thơ ngắn và bó rọ trong niêm luật. Chẳng có cái gì là kiêng ky đối với thơ Đường luật cũ. Nhược điểm trong thơ Đường luật qua Xuân Hương đã trở thành một ưu điểm. Có thể nói thơ Xuân . nghĩa là nó gần với chủ nghĩa nhân đạo của người bình dân.và cũng đối lập với quan niệm phổ biến về thơ Đường luật của nhiều nhà thơ quý tộc khác. Xuân Hương đem đến cho thể thơ này một nội dung hết sức thông tục. khi tiêu. và tất nhiên có thể cắt nghĩa được bằng những điều kiện lịch sử xã lội cụ thể của thời đại tác giả. bởi vì trong tay bà. Hay: Không có. Xuân Hương thích dùng nó. giọng hi ha. Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh. phải khéo léo mới sử dụng có hiệu quả. Nhà thơ lớn tiếng đòi cho con người phải có một cuộc sống đầy đủ phải được hưởng tất cả lạc thú của tình yêu.là để đánh giáp lá cà với giai cấp phong kiến thống trị.. Chú nghĩa nhân đạo của Xuân Hương góp phần làm phong phú trào lưu văn học nhân đạo chú nghĩa nửa cuối thế ký XVIII . Nhà thơ dù nói đến lòng xót thương người phụ nữ hay. chát.nửa đầu thế kỷ XIX: và có khuynh hướng nghiêng về văn học dân gian. Giọng hì. dưới ngòi bút của Xuân Hương. phải tôn trọng phụ nữ. cô gái Việt Nam: Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình. dù làm thơ trào phúng hay làm thơ trữ tình đều chịu sự chi phối của một tư tưởng thống nhất. thơ Đường luật có một hình thức đường bệ. mới ngoan. Đó là chú nghĩa nhân đạo của nhà thơ. Xuân Hương dùng thơ Đường luật chú yếu . và thường chứa đựng một nội dung cũng đường bệ thư thế. khi chũm chọe. Nhà thơ rất tiêu biểu cho thể thơ này là bà huyện Thanh Quan.

Vấn đề Xuân Hương trong hoàn cảnh tư liệu hiện nay chưa thể giải quyết dứt khoát được. Xuân Hương là nhà thơ đầu tiên thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày để sáng tác thơ. gây nên. ngoài cái đau khổ và khát vọng của riêng mình. phần đóng góp của Xuân Hương vẫn hết sức độc đáo . Cuộc đời cũ là những ngày buồn dài. Song dù vậy. trả lại một chút màu xanh cho bầu trời cao rộng. Với Xuân Hương. Ngày nay tiếp thu di sản văn học của Xuân Hương. hay những người cùng cảnh ngộ với mình. Xuân Hương còn thiếu cái phong phú nhiều mặt của những tác giả lớn. Trong tác phẩm của Xuân Hương. là sản phẩm của một thời đại mà phong trào đất tranh của quần chúng nổi lên như vũ bão chống lại ách thống tri Phong kiến thối nát. đau khổ kết tụ lại thành mây mù đè nặng trên bầu trời ngày trước. và có những cống hiến quan trọng trong việc cải tạo thể thơ Đường luật. người phụ nữ bình dân dược đưa vào văn học thành văn. Tiếng cười to.Hương. và gạt bỏ đi tất cả những phần hạn chế do hoàn cảnh lịch sử và cá nhân của tác giả. Đó là những con người có cuộc đời riêng nhiều đau khổ. tất cả những cái đó được thể hiện thông qua tài năng độc đáo có một không hai của nhà thơ. Tuy vậy. nhà thơ chưa phản ánh được những mâu thuẫn lớn của thời đại. là kết tinh của truyền thống phụ nữ trên lĩnh vực xã hội và văn học. có tài năng và phẩm chất trong sạch. với tất cả sự thận trọng cần thiết. Thành công của Xuân Hương là một đóng góp đáng kể đối với sự phát triển của nền văn học chữ Nôm của dân tộc. nhưng tiềm tàng một sức sống mãnh liệt. Về phương diện nghệ thuật. . chua có cái tầm nhìn xa để thấy hết những đau khổ và khát vọng của con nguời. việc vận dụng cái tục quá nhiều cũng là một hạn chế. Về phương diện nghệ thuật. Họ yêu đời tha thiết. nhiều chua xót. cười vang của Xuân Hương có tác dụng làm cho mây mù tan đi. đặc biệt là truyền thống của người phụ nữ bình dân. chúng ta giữ lại những gì có ý nghĩa đối với cuộc sống hiện tại cũng như những gì giúp cho con người ngày nay hiểu sâu hơn quá khứ. Còn một quãng đường xa nữa Xuân Hương mới vươn đến tầm rộng lớn và sâu sắc của Nguyễn Du. và. chúng ta vẫn cần phải khẳng đanh vị trí của nhà thơ trong lịch sử văn học dân tộc.

cười vang của Xuân Hương có tác dụng làm cho mây mù tan đi. nhiều chua xót. phần đóng góp của Xuân Hương vẫn hết sức độc đáo .vươn đến tầm rộng lớn và sâu sắc của Nguyễn Du. việc vận dụng cái tục quá nhiều cũng là một hạn chế. Họ yêu đời tha thiết. Về phương diện nghệ thuật. Về phương diện nghệ thuật. Đó là những con người có cuộc đời riêng nhiều đau khổ. chúng ta giữ lại những gì có ý nghĩa đối với cuộc sống hiện tại cũng như những gì giúp cho con người ngày nay hiểu sâu hơn quá khứ. và gạt bỏ đi tất cả những phần hạn chế do hoàn cảnh lịch sử và cá nhân của tác giả. . Thành công của Xuân Hương là một đóng góp đáng kể đối với sự phát triển của nền văn học chữ Nôm của dân tộc. gây nên. và có những cống hiến quan trọng trong việc cải tạo thể thơ Đường luật. Xuân Hương là nhà thơ đầu tiên thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày để sáng tác thơ. có tài năng và phẩm chất trong sạch. nhưng tiềm tàng một sức sống mãnh liệt. trả lại một chút màu xanh cho bầu trời cao rộng. Song dù vậy. người phụ nữ bình dân dược đưa vào văn học thành văn. Với Xuân Hương. Cuộc đời cũ là những ngày buồn dài. đau khổ kết tụ lại thành mây mù đè nặng trên bầu trời ngày trước. Tiếng cười to. Ngày nay tiếp thu di sản văn học của Xuân Hương.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful