P. 1
Bai Giang Thi Truong Chung Khoan

Bai Giang Thi Truong Chung Khoan

|Views: 288|Likes:
Được xuất bản bởiHuyen Tran

More info:

Published by: Huyen Tran on Oct 08, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

10/10/2014

pdf

text

original

1

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1. Mục tiêu của chuyên đề
 Cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản về thị trường chứng
khoán: khái niệm, chức năng và cơ chế hoạt động của thị trường
chứng khoán
 Giúp cho học viên có một khả năng nhất định trong việc phân tích
chứng khoán để có thể thực hiện đầu tư chứng khoán
 Gúp cho học viên hiểu biết thêm thực tiễn về thị trường chứng khoán
ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam.

2. Nội dung chuyên đề:
Bài 1: Tổng quan thị trường chứng khoán
Bài 2: Hàng hóa trên thị trường chứng khoán và giá chứng khoán
Bài 3: Định giá cổ phiếu và trái phiếu
Bài 4: Phát hành, niêm yết và giao dịch chứng khoán
Bài 5: Đầu tư và phân tích chứng khoán

3. Tài liệu tham khảo
 Giáo trình thị trường chứng khoán: của các trường Đại học
 Sách chuyên khảo, tham khảo về thị trường chưúng khoán của
nhiều tác giả trong nước và ngoài nước
 Tạp chí, báo, mạng internet
 http/www.ssc.gov.vn: Uỷ ban CK nhà nước
 www.hastc.org.vn: Trung tâm giao dịch CK Hà nội
 www.vse.org,vn : Trung tâm giao dịch CK TP HCM
 Các văn bản pháp luật về chứng khán và TTCK


2
BÀI 1
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 Khái niệm chứng khoán và thị trường chứng khoán
1.1.1 Khái niệm chứng khoán
- Chứng và Khoán đều có nghĩa là bằng cứ ( evidence). Bởi vậy nghĩa căn
bản của chứng khoán (Securrities) là bằng chứng bằng giấy trắng mực
đen chứng nhận khoản tiền vốn mà người sở hữu chúng bỏ ra nhường
quyền sử dụng chúng cho người khác. Chúng chứa đựng trong mình
giá trị TS quy được thành tiền, được gọi là giấy có giá trị (giấy có giá).
Trên thi trưòng, CK được pháp luật bảo vệ, và được mua bán dễ dàng,
nên CK được coi là động sản.
- Theo cách hiểu kinh điển và phổ biến trên thị trường chứng khoán: Nói
đến chứng khoán người ta muốn nói đến chứng từ tài chính dài hạn có
thể mua bán được trên TTCK. Bao gồm cổ phiếu và tráI phiếu dài hạn.
Cụ thể, Chứng khoán là tờ giấy chứng nhận về số tiền vốn đã góp hay
cho vay mà có thể đem mua bán ở thị trường chứng khoán.
- Ngày nay, TTCK này càng mở rộng và hiện đại hoá nên kháI niệm
chứng khoán cũng được mở rộng hơn. Chứng khoán là các loại công cụ
vốn dài hạn, bao gồm không chỉ cổ phiếu, tráI phiếu mà còn gồm các
chứng từ tài chính khác Hội đồng chứng khoán của từng quốc gia quy
định.
- Nước ta, trên phương diện pháp lý, Nghị định 144/NĐ- CP ngày
28/11/2003 về CK và THi trường CK, quy định : ỎChứng khoán là
chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp
của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức
phát hành, gồm: cổ phiếu, trái phiếu, Chứng chỉ quỹ đầu tư chứng
3
khoán ( Investment unit) và các loại chứng khoán khác theo quy định
của pháp luật.
Chứng khoán ghi sổ (Book entry Securities) là những chứng khoán
không theo hình thức có chứng chỉ bằng giấy ghi nhận vốn cổ phần đã
góp hay số nợ đã cho vay. Chứng khoán này chỉ là những bút toán ghi
vào sổ. Loại này tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch CK bằng máy
tính.

1.1.2 Khái niệm thị trường chứng khoán
TTCK là nơi hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các
loại tráI phiếu cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ
đầu tư, công cụ phái sinh ( hợp đồng quyền chọn, chứng quyền, bảo
chứng phiếu.
Như vậy TTCK là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho
đầu tư phát triển KT


Thị trường chứng khoán: định nghĩa
Nơi mua bán, trao đổi CK
Cung gặp cầu -Giá









cung
CÇu
Chñ thÓ
Cã nhu
cÇu tµI
chÝnh
(vèn)
Chñ thÓ
Cã kh¶
n¨ng
tµi
chÝnh
Chøng kho¸n
TiÒn Vèn
4

1.2 Quá trình hình thành và pháp triển ttck
1.2.1 Trên thế giới
Nhiều tài liệu cho rằng, buổi họp đầu tiên của TTCK xảy ra năm
1453 tại một lữ quán của gia đình ông Vanber tại Bruges ở Bỉ. Đến năm
1547, thành phố Bruges bị mất đI sư phồn vinh vi eo biển Even bị cát lấp,
tàu bè ra vào khó khăn, Ỏmậu dịch trưòngÕ ở đây bị sụp đổ và được rời
đến thị trấn Auvers (Bỉ)- một hảI cảng lớn của Bỉ hồi đó và ngày càng
phát triển . Từ đó lan rộng sang các nước khác như Anh, ý, Pháp, Đức,
Bắc Âu và ngày càng cảI tiến, thay đổi tuỳ theo điều kiện tại mỗi quốc
gia.
TTCK với những hoạt động gần như ngày nay có từ đầu thể kỷ thứ
17. Từ đó đến nay, TTCK thế giới đã trảI qua những bước thăng trầm:
- Thời kỳ huy hoàng nhất là vào những năm 1875 -1913: TTCK
phát triển mạnh cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế
- Đến ngày 29/10/1929- ngày mở đầu cuộc khủng hoảng TTCK
Nevv York đã làm cho TTCK New York và các TTCK Tây âu, Bắc âu và
Nhật Bản khủng khoảng.
- Sau chiến tranh thế giới thứ 2, TTCK phục hồi và phát triển
mạnh.
Cuộc khủng khoảng tài chính năm 1987 đã làm cho TTCK thế giới
suy sụp và kiệt quệ.
- Nhưng chỉ sau 2 năm TTCK thế giới lại đI vào ổn định , phát
triển và trở thành một định chế tàI chính không thể thiếu được trong đời
sống kinh tế của những quốc gia có nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị
trường.
- Trong những năm gần đây, TTCK đã trảI qua một cuộc cách mạng thực
sự do có các biến động lớn trong bối cảnh kinh tế, pháp lý hoặc kỹ thuật.
TTCK đã có nhiều cải cách để phát triển như cải cách các chế độ thuế,
5
thành lập một TTCK lhông chính thức, tạo ra các hình thức chứng
phiếu mới, Hiện đại hoá thị trường vay nợ của nhà nước trên thị
trường tín phiếu kho bạc, đổi mới kỹ thuật, tin học hoá mạnh trong
giao dịch

1.2.2 ở Việt Nam
Ngày 20/7/2000 khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh
Ngày 28/7/2000, phiên giao dịch đầu tiên đã được thực hiện tại Trung
tâm giao dịch CK thành phố Hồ Chí Minh, và chỉ có mặt của 2 cổ phiêú
là LEE và CAP
Cuối năm 2007, Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh nâng cấp thành Sở giao dịch chứng khoán
Tính đến 31/7/2008, tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ chí
Minh đã có 158 loại cổ phiếu, 478 loại tráI phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư
của 34 công ty quản lý quỹ niêm yết giao dịch
Ngày 8/3/ 2005, trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội ra đời, thực
hiện đầu thầu chứng khoán và mua bán giao dịch những loại cổ phiếu,
tráI phiếu chưa được niêm yết tại sàn Hồ Chí Minh. Kế hoạch, đến năm
2010 sẽ phát triển thành thị trường OTC

SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH (HOSE)
( 31/03/2008)
Chỉ số : VNIndex
Ngày khai trương: : 20/07/2000
Ngày giao dịch đầu tiên : 28/07/2000
Thời gian giao dịch : 8h30 – 10h30 Khớp lệnh,
: 10h30 – 11h00 Thỏa thuận
Lịch mở cửa : Thứ 2 – Thứ 6 hàng tuần
6
Số Cty niêm yết : 153
Giá trị vốn hóa : 231.498 tỷ đồng
Số phiên giao dịch : 1.757 phiên
Giá trị giao dịch bình quan(2007) : 900 tỷ / phiên

TRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI(HASTC)
( 31/03/2008)

Chỉ số : HaIndex
Ngày khai trương: : 08/03/2005
Ngày giao dịch đầu tiên : 14/07/2005
Thời gian giao dịch : 8h30 – 10h30 Khớp lệnh,
Lịch mở cửa : Thứ 2 – Thứ 6 hàng tuần
Số Cty niêm yết : 153
Giá trị vốn hóa : 82.308 tỷ đồng
Số phiên giao dịch : 589 phiên
Giá trị giao dịch bình quan(2007) : 322 tỷ / phiên


1.3 .Bản chất và Đặc điểm của thị trường chứng khoán
1.3.1 Bản chất thị trường chứng khoán
Xét về mặt hình thức: các hoạt động trao đổi mua bán các
chứng khoán trên TTCK chỉ là việc thay đổi các chủ thể nắm giữ chứng
khoán.
Xét về bản chất: Đây chính là quá trình vận động tiền vốn từ
chủ thể sở hữu chúng sang chủ thể kinh doanh. Chủ thể tham gia TTCK
với tư cách là người bỏ vốn đầu tư, anh ta là chủ sở hữu tư bản, còn khi
tham gia với tư cách là người sử dụng vốn đầu tư, anh ta thực hiện chức
năng của tư bản kinh doanh. Do đó TTCK xét về mặt bản chất, nó phản
7
ánh các quan hệ mua bán trao đổi các quyền sở hữu về TLSX và vốn bằng
tiền. Hay nói cách khác, TTCK là nơimua bán các quyền sở hữu tư bản (
quyền sở hữu tiền vốn). Tại nơI này chủ thể có khả năng vốn và chủ thể
có nhu cầu vốn gặp nhau trực tiếp
1.3.2 Đặc điểm của thị trường chứng khoán
- TTCK chịu chi phối của quy luật cung, cầu, giá cả tương tự như
như thị trường hàng hoá khác
- Hàng hoá trên TTCK là một loại hàng hoá đặc biệt khác với các
hàng hoá thông thường khác- đó là chứng khoán. Do đó việc mua
bán trên TTCK là việc mua bán quyền sở hữu tiền vốn, giá cả ở
đây là giá phảI trả cho quyền sử dụng tiền vốn, đối tượng mua bán
ở đây là quyền sử dụng tiền vốn.
- Hoạt động của thị trường chứng khoán, đặc biệt là sở giao dịch
chứng khoán mang tính tổ chức cao và trên cơ sở tuân thủ những
nguyên tắc nghiêm ngặt
- TTCK rất nhạy cảm với các biến cố chính trị và tình trạng kinh tế
của các quốc gia và của các doanh nghịêp cổ phần. Do đó tham gia
TTCK gặp nhiều rủi ro.

1.4 Vai trò của thị trường chứng khoán
TTCK có ý nghĩa rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các
nước có nền kinh tế thị trường với các vai trò chủ yếu sau:
4.1.1 Tạo vốn cho nền kinh té quốc dân, là chìa khoá của phát triển:
- Huy động vốn tiết kiệm trong nước
Trong kinh tế thị trường nhu cầu giao lưu vốn giữa những người cần vốn
và những người có vốn đã xuất hiện và ngày càng phát triển. Sự giao lưu
giữa người cần vốn và người có vốn được thực hiện bằng 2 cách:
Gián tiếp: qua các trung gian tàI chính- đó là hệ thông ngân hàng.
Tuy nhiên ngân hàng chỉ là người trung gian nên lãI xuất tiền giử thấp, lãI
8
xuất tiền vay cao, thời hạn vay chỉ có hạn, những người có vốn không thể
tham gia quản lý các doanh nghiệp mà mình đầu tư. Do đó ngân hàng
không đủ hấp dẫn để th hút hết các nguồn vốn nhàn rỗi và tiết kiệm trong
xã hội
Trực tiếp: Qua thị trường chứng khoán: người có vốn và người cần
vốn trực tiếp giao lưu. Điều này đã khắc phục được những hạn chế nêu
trên. NgoàI ra, những người đầu tư mua chứng khoán ngoàI việc được
hưởng lợi tức trực tiếp còn trông đợi tiền lãI do tăng gía chứng khoán (cổ
phiếu
Hơn nữa, với một lượng tiền rất nhỏ có thể mua được cổ phiếu. Do đó
TTCK hấp dẫn người đầu tư hơn.
VD về mệnh giá cổ phiếu: Mỹ, hiện nay là 0,25 USD, TháI lan: 10 bạt/ 1
cổ phiếu, Nhật là 50 yên, Việt Nam là 10000đ/CP
- Thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài: TTCK còn tạo điều kiện dễ dàng
cho việc lưu thông điều hoà vốn trong nền kinh tế thông qua việc mua
bán chuyển nhượng các chứng khoán. Do đó, TTCK còn có khả năng thu
hút vốn nước ngoàI khi hấp dẫn người nước ngoàI mua CK của TTCK
trong nước hay công ty trong nước phát hành CK ở nước ngoài.
Tóm lại: TTCK như một trung tâm thu hút mọi nguồn vốn lớn nhỏ
của từng hộ dân cư, như một nam châm cực mạnh thu hút nguồn vốn to
lớn từ nước ngoàI, thu hút nguồn vốn tạm thời nàn rỗi từ các doanh
nghiệp, các tổ chức tàI chính, chính phủ tạo thnàh một nguồn vốn khổng
lồ tàI trợ cho nền kinh tế, mà các phương thức khác không thể làm được.
Tạo cơ hội cho các DN có vốn dể đầu tư mở rộng KD, giúp nhà nước
giảI quyết vấn đề thiếu hụt ngân sách trên thị trường trái phiếu, có thêm
vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng…



9
Bảng 1: Tổng vốn hoá các thị trường cổ phiếu
1993 1998 2003 Nước
Tỷ USD %
GDP
Tỷ USD %
GDP
Tỷ USD %
GDP
Hồng Kông
Trung Quốc
Hàn Quốc
XingGapo
Dài Loan
TháI Lan
Malai xia
Nhật Bản
Mỹ
Anh
Đức
Việt Nam
385,0
40,5
139,6
135,1
193,3
127,5
219,8
2906,3
5004,7
1150,6
460,8
235,3
6,7
38,2
232,0
86,2
104,7
328,5
66,8
75,2
119,5
23,5

343,6
235,6
114,6
96,5
260,5
34,1
95,6
2439,5
12512,6
2372,7
1086,7
207,9
24,9
33,2
117,8
97,5
30,5
132,4
62,1
143,2
166,8
50,6
714,6
513,0
298,2
148,5
379,1
119,0
161,0
2953,1
14173,1
2460,1
1079,0
2408,1*
456,2
36,3
49,3
162,6
132,5
83,1
155,2
68,7
128,8
136,8
44,8
0,4
* ĐV tính : tỷ VNĐ


Vốn hoá thị trường chứng khoán Việt nam

Năm % GDP
2004 0,10
2005 22,70
2006 39,00
2007 43,50



10
1.4.2 TTCK tạo môI trường cho các doanh nghiệp sử dụng vốn linh
hoạt hơn, có hiệu quả hơn và môI trường đầu tư cho công
chúng.
Khi DN cần vốn để mở rộng quy mô SX doanh nghiệp có thể phát
hành các loại chứng khoán và thị trường để huy động vốn. Ngược lại khi
DN chưa có cơ hội sản xuất KD, DN có thể mua và dự trữ CK như là một
tài sản KD (thu lãi) và các CK đó sẽ được chuyển thành tiền khi cần thiết
thông qua TTCK
Hơn nữa TTCK giúp các DN xâm nhạp lẫn nhau thông qua việc
mua bán cổ phiếu. Việc sáp nhập, mở rộng DN đều có thể thực hiện
thông qua TTCK.

1.4.3 TTCK là một công cụ đánh giá DN, dự đoán tương lai
Sự hình thành thị giá CK của một DN trên TTCK đã bao hàm sự
đánh giá thực trạng hoạt động của DN đó trong hiện tại và đự đoánh
tương lai. Thị giá cổ phiếu cao hay thấp biểu hiện mức độ đầu tư tàI
chính, trạng tháI KT của DN, đặc biệt là mức độ cổ tức các cổ đông được
hưởng và chênh lệch giá cổ phếu hiện tại với mệnh giá thể hiện khả năng
mang lại lợi tức và thu nhập của DN cho các cổ đông của mình

1.4.4 Thị trường CK phản ánh tình trạng kinh tế vĩ mô giúp chính phủ
thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Với phương pháp chỉ số hoá thị giá các loại chứng khoán chủ yếu
của nền KT và việc nghiên cứu phân tích một cách khoa học, có hệ thống
chỉ số giá CK trên các TTCK cho phép dự đoán trước được sự biến động
KT, dự đoán được tương lai của một hoặc hàng loạt các nước trên thế
giới. Vì thế TTCK được gọi là “phong vũ biểu” của nền KT và là công cụ
quan trọng giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. ( Sơ đồ
trang 291- Nguyễn thị Cúc). Cụ thể, thông qua TTCk, Chính phủ có thể
11
mua bán tráI phiếu CP để tạo ra nguồn tiền bù đắp thâm hụt ngân sách và
quản lý lạm phát, sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị
trường CK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối nề
kinh tế.
Như vậy, TTCK có vai trò rất tích cực đối với nền KT thị trường.
Đó là một công cụ có nhiều lợi thế: Khuyến khích dân chúng tiết kiệm và
thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu tư; là phương tiện huy động vốn
của các đơn vị kinh tế và nhà nước; là công cụ giúp nhà nước thực hiện
chương trình phát triển KTXH, Là công cụ thu hút vốn đầu tư nước
ngoài; thúc đẩy quá trình lưu thông hoá mọi nguồn vốn; Là điều kiện tiền
đề cho quá trình cổ phần hoá, kích thích các DN làm ăn có hiệu quả…

1.5 Những mặt hạn chế (tiêu cực) của TTCK
Thị trường CK có vai trò quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế.Tuy
nhiên, TTCK cũng có những mặt tiêu cực cần phảI phòng tránh để hạn
chế thấp nhất những rủi ro, đó là:
- Yếu tố đầu cơ: Đầu cơ là hành động có tính toán của
những người dám chấp nhận rủi ro, tích luỹ CK để tạo ra nạn khan hiếm
giả tạo, chờ giá lên, bán giá cao để thu lợi nhuận. Việc làm này dẫn đến
sự khan hiếm hay thừa thãI làm cho giá cổ phiếu tăng giảm đột biến có
hại tới hoạt động của TTCK. Nói chung, luật chứng khoán cấm sự cấu kết
đầu cơ dươid mọi hình thức.
- Mua bán nội gián: Đó là do một các nhân nào đó lợi dụng
nắm được những thông tin nội bộ của một DN để mua hoặc bán cổ phiếu
của DN đó một cách không bình thường nhằm thu lợi cho mình, làm ảnh
hưởng đến giá cổ phiếu đó trên thị trường. Nhìn chung, luật CK cũng cấm
loại mua bán này
- Lũng đoạn DN: Nhìn chung, luật các nước đều quy định tỷ
lệ sở hữu tàI sản tối đa của mỗi người mua cổ phiếu, nhằm tránh lũng
12
đoạn DN của một số cá nhân nào đó. Tuy nhiên trên thực tế, hông qua
TTCK người ta có thể mua cổ phiếu của DN tới mức có thể khống chế
hoạt động của DN đó bằng vốn của một người nhưng đứng tên nhiều
người.
- Bán khống: Là thuật ngữ dùng để chỉ các nhà đầu tư bán
chứng khoán mà họ chưa có quyền sở hữu. Việc làm này có thể đem lại
lợi nhuận cao nếu họ tiên đoán đúng su thế của thị trường. Đây là hành vi
lũng đoạn thị trường nếu nó được thựuc hiện bởi sự cấu kết của nhiều
người. Mua bán khống với số lượng lớn tạo ra cung cầu giả tạo về Ck gây
khủng hoảng thị trường, tác hại xấu đến nền kinh tế
- Hành vi làm thiệt hại lợi ích người đầu tư;
o Làm tráI lệnh đặt mua, đặt bán của người đầu tư
o Không cugn cấp xác nhận giao dịch theo quy định
o Tự ý mua bán chưúng khoán trên tài khoản của khách
hàng hoặc mượn danh nghĩa khách hàng để mua bán
CK
o …
Tất cả những tiêu cực này đều bị nghiêm cấm trong luật Ck của các quốc
gia và bị sử lý thích đáng

1.6 Mối quan hệ TTCK với Tài chính DN
Khi doanh nghiệp huy động vốn hoặc đầu tư vốn trên thị trường chứng
khoán sẽ phát sinh quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường
chứng khoán.(Sơ đồ 1.4)





13

Bán Đầu tư





Nhận Mua

Sơ đồ1.4: Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với TTCK

Điều kiện gia nhập TTCK
DN muốn tham gia TTCK phải thoả mãn đầy đủ các điều kiện quy định
của luật pháp ở mỗi quốc gia: Luật CK, các văn bản pháp luật về CK và
TTCK
 Điều kiện pháp lý: hoại hình DN nào
 Điều kiện tài chính: BCTC, nhiều năm kd có lãI, đủ mức vốn tối
thiểu theo quy định pháp luật
 Điều kiện thủ tục: Đơn, điều lệ, UBCK cấp giấy phép, cáo bạch

Lợi và bất lợi của DN khi nhập TTCK
Lợi Bất lợi
- Thêm nguồn vốn: gía rẻ hơn
- Tăng thêm tiếng tăm trên thị trường
- DN được đánh giá hàng ngày: thông qua
thị giá cổ phiếu trên TTCK
- Tập trung hoá, đa năng hoá: sở hữu vốn
huy động lâu dài
- Công khai hỏi mua DN khác

- Phải thông báo thông tin kinh tế vê DN
- Phải thông báo chiến lược hoạt động
của DN
- Có thể bị DN khác mua


Doanh
nghiÖp

nhu cÇu
tµi
chÝnh

Doanh
nghiÖp

kh¶
n¨ng
tµi
chÝnh
ThÞ
tr­êng
chøng
kho¸n
Chøng kho¸n
Vèn
Vèn
Chøng kho¸n
14
BÀI 2
HÀNG HÓA TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VÀ GIÁ CHỨNG KHOÁN

2.1 Hàng hoá của thị trường chứng khoán
2.1.1 Khái quát chung
- Hàng hoá của thị trường CK là chứng khoán , thường bao gồm cổ
phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các chứng từ tài chính có
nguồn gốc CK (còn gọi là chứng từ pháI sinh hay công cụ phái sinh)
CK là loại hàng hoá đặc biệt, là công cụ rất hữu hiệu trong nền KT
thị trường để tạo nên một lượng vốn tiền tệ khổng lồ tài trợ dài hạn cho
các mục đích mở rộng sản xuất KD của các DN hay các dự án đầu tư của
nhà nước.
- Phân loại CK:
Căn cứ vào nội dung kinh tế: chia thành 2 loại:
 CK vốn: Là loại CK chứng nhận sự góp vốn vào công ty cổ phần,
đó là các loại cổ phiếu
 CK nợ Là loại CK chứng nhận khoản nợ của người phát hành đối
với người nắm giữ CK, Đó là các loại tráI phiếu
Căn cứ vào hình thức: Bao gồm 2 loại:
 CK vô danh : Không ghi tên và địa chỉ người mua CK ( chủ sở
hữu), ai nắm giữ CK người đó là chủ sở hưũ. Loại này dễ dàng
mua bán hay chuyển đổi trên TTCK
 CK ký danh : Ghi rõ tên người chủ sở hữu trên trên tờ CK hoặc
trong hồ sơ xủa chủ thể phát hành. Loại này khó khăn trong mua
bán hoặe chuyển dổi


15
Căn cứ vào lợi tức CK: gồm 2 loại
 CK có lợi tức ổn định: Là loại Ck mà người cầm giữ nó được
hưởng lợi tức ổn định theo tỷ lệ lãI suất tình trên mệnh giá CK.
Điển hình là các loại tráI phiếu và cổ phiếu ưu đãi
 CK có lợi tức không ổn định: Người cầm giữ nó được hưởng lợi
tức không ổn định, phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty
phát hành. Điển hình là loại cổ phiếu thường.

2.1.2 Cổ phiếu – chứng khoán vốn
a) Khái quát chung về cổ phiếu ( đặc điểm chung)
- Cổ phiếu là một giấy chứng nhận xác nhận sự góp vốn và
quyền sở hữu phần vốn đã góp vào công ty cổ phần, đồng thời đảm bảo
cho người có cổ phiéu được quyền hưởng một phần thu nhập của công
ty- gọi là cổ tức và quyền tham gia quản lý công ty.
Khi một công ty gọi vốn, số vốn đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng
nhau gọi là cổ phần ( Mỹ: Stock, Anh: Share), người mua cổ phần được
gọi là cổ đông ( Shareholder) của công ty, được cấp giấy chứng nhận gọi
là cổ phiếu.
Như vậy cổ phiếu là loại chứng thư có giá trị ban đầu ghi trên cổ phiếu
được gọi là mệnh giá. VD: Mệnh giá cổ phiếu ở Mỹ là 1USD - 12USD, ở
NHật là 50 yên, ở TháI Lan là 10 bạt, Việt Nam là 10.000 đ
- Thời hạn hiệu lực của cổ phiếu bằng thời gian hoạt động của
DN, do đó có thể coi là vĩnh viễn (vô hạn), đến khi doanh nghiệp bị phá
sản.
- Cổ đông nắm giữ cổ phiếu chịu trách nhiệm hữu hạn phần vốn
góp của mình đối với công ty trên hai mặt:
Thứ nhất: Phần vốn góp xem như góp vĩnh viễn không được rút
vốn lại. Lúc cần lấy lại vốn họ có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu
16
bằng cách bán cổ phiếu tren thị trường cho một nhà đầu tư khác. Đây là
ưu điểm riêng có của công ty cổ phần
Thứ hai: Trách nhiệm của cổ đông đối với việc làm ăn thua lỗ hay
tình trạng phá sản của công ty chỉ giói hạn trong phần vốn góp trên cổ
phiếu
- Cổ đông nắm giữ cổ phiếu có quyền hưởng thu nhập, quyền được
chia TS thanh lý của công ty khi công ty bị phá sản, có quyền tham gia
quản lý công ty thông qua đại hội cổ đông.
- Việc trả lợi tức cổ phần được tiến hành vào cuối niên độ quyết toán
và được thực hiện theo các hình thức sau:
+ Trả bằng tiền mặt: đây là hình thức thông dụng nhất
+ Trả bằng chính cổ phiếu của công ty: cổ tức thu được của nhà
đầu tư lại tự động chuyển thành vón đầu tư. Đối với các nhà đầu tư
muồn đầu tư tiếp thì hình thức này hấp dẫn
+ Trả bằng tàI sản của công ty: sản phẩm, cổ phiếu của công ty
con. Hình thức này trong thực tế ít sử dụng
- Lưu giữ cổ phiếu: Cổ phiếu là chứng thư xác nhận quyền sở hữu
một tàI sản( vốn bằng tiền) nhất định, nên nó được coi như một tàI sản
thực sự. Để đảm bảo an toàn, luật các nước thường quy định các cổ đông
không được cất giữ cổ phiếu riêng, mà phảI ký giử vàp kho bạc hoặc
ngân hàng, và nếu là hàng hoá mua bán trong sở giao dịch chứng khoán
thì phảI ký giử vào trung tâm lưu giữ chứng khoán

b) Các loại cổ phiếu chủ yếu: Căn cứ vào lợi ích của cổ đông, cổ
phiếu có 2 loại chủ yếu

A1-Cổ phiếu thường :
1.) Đặc điểm riêng của cổ phiếu thường:
17
 Là loại cổ phiếu được phát hành rộng rãI cho công chúng. Phần lớn
cổ phiếu của các công ty cổ phần là cổ phiếu thường
 Cổ tức mà cổ đông được hưởng không quy định cố định: phụ thuộc
vào kết quả kinh doanh và chính sách phân phối lợi nhuận của
công ty.
 Chỉ được chia cổ tức sau khi doanh nghiệp đã trả trấi tức và cổ tức
ưu đãi
 Quyền lợi # của cổ đông có cổ phiếu thường:
o Có quyền tham gia quản lý DN thông qua đại hội cổ đông:
Biểu quyết nhưũng vấn đề quan trọng của DN
o Có quyền bỏ phiếu bầu cử Hội đồng quản trị
o có quyền được cung cấp thông tin cụ thể về tình hình hoạt
động của công ty, được theo dõi tình hình các tàI khoản.
o Trong trường hợp công ty phát hành cổ phiếu mới thì các cổ
đông được quyền ưu tiên mua trước với số lượng tương ứng
với số cổ phần đã có và được ưu tiên giá
o Có quyền đuợc chia TS thanh lý trong trường hợp công ty bị
phá sản theo tỷ lệ số lượng cổ phần đang sở hữu, sau khi
công ty đã thanh toán hết công nợ và trả cho các cổ phiếu ưu
đãi
o Có quyền tham gia quyết định chia nhỏ hay gộp cổ phiếu
2) Các loại cổ phiếu thường
- Căn cứ vào quyền tham gia bỏ phiếu biểu quyết trong Đại hội
cổ đông, có 3 loại cổ phiếu:
+Cổ phiếu đơn phiếu: Là loại cổ phiếu được phân bố mỗi cổ phiếu là một
phiếu bầu, tất cả các cổ đông đều có thể tham gia bỏ phiếu và đại hội cổ
đông. Dùng cho DN ít cổ đông
+Cổ phiếu đa phiếu: Là loại cổ phiếu quy định một lượng cổ phiếu nhất
định mới được một phiếu bầu. Dùng cho DN nhiều cổ đông
18
+Cổ phiếu lưỡng phiếu: là cổ phiếu mà cổ đông của cổ phiếu này được
phân bố 2 phiếu bầu. Dùng cho DN ít cổ đông và laọi cổ phiếu này dành
cho các cổ đông có uy tín, có danh phận trong xã hội hoặc trong ngành
chuyên môn
- Căn cứ vào việc huy động vốn điều lệ, chia ra 2 loại cổ phiếu:
+ Cổ phiếu sơ cấp: Là cổ phiếu được phát hành lúc thành lập
DN hoặc cổ phần hoá DNNN. Thường là cổ phiếu ghi danh
+ Cổ phiếu thứ cấp: là cổ phiếu được DN phát hành nhằm bổ
sung vốn điều lệ của DN. Đặc điểm của loại này là mệnh giá rất nhỏ, vô
danh, cổ đông thường không tham gia quản lý DN. Việc mua bán, chuyển
nhượng dễ dàng
- Căn cứ vào sự khác biệt liên quan đến quyền bầu cử hay quyền
hưởng cổ tức: Có các loại cổ phiếu thường:
Cổ phiếu thường loại “A”: Là loaị cổ phiểu thường được hưởng cổ
tức nhưng không có quyền bầu cử. Loại này thường có giá thấp hơn loại
CP thường được bỏ phiếu
Cổ phiếu thường loại “B”: thường được gọi là cổ phiếu sáng lập
viên,( Founders Shares) có quyền bầu cử nhưng chỉ được hưởng cổ tức
khi khả sinh lời của công ty đã đến một giai đoạn tăng trưởng nhất định
Cổ phiếu thường có gộp lãi (accumulating ordinary): Loại này
được trả cổ tức bằng một số cổ phiếu mới có giá trị tương đương mới
phát hành
- Ngoài ra tuỳ theo đặc điểm hợt động của công ty mà còn có
những loại cổ phiếu thường khác:
Cổ phiếu thượng hạng ( Blue chip stocks): Là loại cổ phiếu của
các loại công ty lớn, có lịch sử phát triển lâu đời, vững mạnh về khả năng
sinh lời và trả cổ tức, có giá trị cao trên thị trường
19
Cổ phiếu tăng trưởng ( Growth stocks): Được phát hành bởi công
ty đang trên đà tăng trưởng nhanh, tiền lãI thường dành để đầu tư mở
rộng sản xuất, do đó trả cổ tức thường chỉ một phần nhỏ hoặc không có
Cổ phiếu thu nhập ( Income stocks): Cổ tức thường được trả cao
hơn ức trung bình trên thị trường
Cổ phiếu chu kỳ ( Cyctical stocks): Là cổ phiếu của các công ty mà
thu nhập của nó dao động theo chu kỳ kinh tế: phát triển ỏn định, giảm
sút, như ngành kỹ nghệ thép, xi măng, thiết bị máy và động cơ
Cổ phiếu theo mùa ( Seasonal stocks): Đối với các côgn ty có thu
nhập tăng cao vào những mùa nhất định trong năm ( giáng sinh, năm mới,
đầu năm học, mùa thu hoạch…) thì thu nhập của cổ phiếu cũng tăng theo
mùa
- Việt Nam: Căn cứ vào sự ưu đãI đối với cổ đông mua cổ phiếu
của DN cổ phần hoá ở VN, theo nghị định 28 CP ngày 7/5/1996 có
các loại cổ phiếu :
Cổ phiếu loại A mua chịu: Là loại cổ phiếu ghi danh mà DN cổ
phần hoá trích 15% (hoặc 20%) giá trị DN để phát hành cổ phiếu bán
chịu cho người lao động đang làm việc trong DN và sẽ tiếp tục làm việc
tại công ty cổ phần sau này. Cổ đông được hưởng lợi tức hàng năm và
phảI trả tối thiểu 20% giá trị cổ phiếu mua chịu cùng với 4% lãI trên số
nợ vay.
Cổ phiếu loại A cấp không: Là loại cổ phiếu ghi danh mà DN CPH
được dành 10% giá trị DN để phát hành cổ phiếu cấp không cho người
LĐ trong DN tuỳ theo thâm niên và chất lượng công tác của từng người.
Giá trị cấp không không quá 6 tháng lương cấp bậc, chứuc vụ theo quy
định của nhà nước.Người sở hữu cổ phiếu này là nhà nước, người hưởng
cổ tức là cổ đông và được hưởng suet đời. Cổ phiếu này không được đưa
ra muc bán, chuyển nhượng, thế chấp
20
Cổ phiếu loại B: Là CP ghi danh phát hành bán cho các thành viên
Hội đồng quản trị. Loại này không được chuyển nhượng, mua bán trong
thời gian tại chức và sau 2 năm kể từ ngày thôi choc
Cổ phiếu loại C: Là loại cổ phiếu hoặc ghi danh hoặc vô danh
được phát hành rộng rãI ra công chúng.

A2-Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãI là một loại CK lai tạp có những đặc điểm vừa giống
cổ phiếu thường, vùa giông trái phiếu. Trong công ty cổ phần cổ phiếu ưu
đãi thường chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với cổ phiếu thường, phát hành hạn
chế cho những người được coi là có công trong quá trình thành lập công
ty, trong trường hợp tăng vốn điều lệ của công ty hoặc phát hành để mua
lại công ty khác
1) Đặc điểm của cổ phiếu ưu đãi khác với cổ phiếu thường là:
- Mệnh giá của cổ phiếu ưu đãI rất quan trọng, là căn cứ chia lợi tức
cố định, hoặc khi chủ sở hữu muốn chuyển đổi thành tiền mặt hay thành
cổ phiếu thường: Đăc điểm này khác với mệnh giá của cổ phiếu thường
chỉ có giá trị danh nghiã.
- Cổ tức của cổ phiếu ưu đãI được xác định riêng biệt trước, theo
một tỷ lệ cố định trên mệnh giá hàng năm. VD: Công ty X phát hành
loại cổ phiếu ưu đãI, mệnh giá 100.000 đ, lãI cố định 8%/năm, có nghĩa
hàng năm, cổ tức được hưởng từ cổ phiếu này là 8000 đ/1cổ phiếu
- Cổ phiếu ưu đãI được ưu tiên chia cổ tức trước cổ phiếu thường,
Nếu DN bị lỗ vốn hoặc lãI không đủ chia thì có thể cổ tức của cổ phiếu
ưu đãI sẽ được tích luỹ lại để trả vào những năm sau.
- Khi DN giảI thể hoặc bị phá sản thì cổ phiếu ưu đãI sẽ được hoàn
vốn theo nguyên tắc ngang giá( nếu như đủ vốn hoàn trả) hoặc được phân
chia giá trị còn lại của DN trước cổ phiếu thường.
21
- Khi công ty có chủ trương hoàn vốn cho cổ đông thì cổ phiếu ưu
đãI được xếp ưu tiên trước cổ phiếu thường
- Cổ đông sở hữu cổ phiéu ưu đãI không được tham gia bầu cử, ứng
cử vào hội đồng quản trị, ban kiểm soát công ty. Do cổ tức của cổ phiếu
ưu đãI không tăng trong trường hợp công ty có lợi nhuận tăng nên thị giá
của cổ phiếu ưu đãI trên thị trương ít biến động
2) Các loại cổ phiếu ưu đãi
Tuỳ theo mức độ ưu đãI mà cổ phiếu ưu đãI có nhiều loại khác
nhau:
= Cổ phiếu ưu đãI tích luỹ : là loại cổ phiếu mà nếu công ty không có lợi
nhuận để trả đủ cổ tức trong năm nay thì có thể dồn trả toàn bộ hay từng
phần vào năm sau. DN phảI hoàn trả toàn bộ số cổ tức tích luỹ dồn đó
Việc tích luỹ cổ tức có thể tiến hành theo 2 cách:
Cách 1: Tích luỹ thuần: Cộng dồn đơn thuần số nợ phảI trả sau
Cách 2: Tích luỹ ghép lãi: tính phần nợ vào vốn để tích dồn lãI cho năm
sau phảI trả
= Cổ phiếu ưu đãI không tích luỹ: là loại cổ phiếu mà công ty có lãI đến
đâu trả đến đó, phần cổ tức nợ không được tích luỹ vào năm sau
= Cổ phiếu ưu đãi dự phần : Là loại cổ phiếu mà công ty cam kết ngoài
cổ tức quy định trả hàng năm nếu công ty còn lãi chưa chia thì cổ phiếu
này được tham dự chia số tiền lãI này
= Cổ phiêu ưu đãi có quyền chuyển đổi thành cổ phiếu thường
= Cổ phiếu ưu đãI đảm bảo: Là loại cổ phiếu được một người khác đứng
ra cam kết bảo lãnh thanh toán nếu như công ty không thanh toán được
(công ty bảo lãnh, ngân hàng, công ty bảo hiểm)
= Cổ phiếu ưu đãI có thể chuộc lại: Phát hành trong trường hợp công ty
khẩn cấp cần một số vốn lớn trong một thời gian ngắn, lợi này có mức lãi
suất cao để thu hút nhà đầu tư. Và quy định sau một thời gian ấn định, khi
tình hình tài chính ổn định công ty có thể chuộc lại và sẽ phảI trả một
22
khoản tiền thưởng nhất định theo một tỷ lệ nhất định trên mệnh giá cho
chủ sở hữu
Việt Nam: Theo luật DN, gồm các loại cổ phiếu ưu đãi:
Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết:: có số phiếu biểu quyết nhiều hơn cổ
phần thường, do điều lệ của công ty quy định
Cổ phần ưu đãi cổ tức: Cổ tức được trả mức ổn định hàng năm,
gồm cổ ức cố định và cổ tức thưởng
Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại: Được công ty hoàn lại vốn bất cứ lúc nào
theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện ghi trên cổ phiếu

2. 1.3 Trái phiếu – Chứng khoán nợ
a) Khái niệm về trái phiếu
Có nhiều định nghĩa về trái phiếu, nhưng đều cùng chung một bản chất.
TráI phiếu là một giấy chứng nhận một khoản nợ của người phát hành ra
nó, trong đó cam kết sẽ trả khoản nợ kèm với tiền lãI trong một thời gian
nhất định
b) Đặc điểm cơ bản của tráI phiếu:
- TráI phiếu là một giấy nợ do Chính phủ hay doanh nghiệp phát hành để
huy động vốn dài hạn, nên là một chứng khoán nợ. Người mua trái phiếu
là người chủ nợ của tổ chức phát hành, là người chủ sở hữu trái phiếu đó
và được gọi là trái chủ;
- Là chứng khoán có kỳ hạn nhất định: khi đáo hạn (hết hạn), chủ phát
hành phảI hoàn trả vốn theo mệnh giá. Thời hạn của tráI phiếu là thời
gian vay của chủ phát hành đối với trấi chủ và được ghi rõ trên tráI phiếu.
TRáI phiếu có thời hạn > 5 thì gọi là bond, từ 5 năm trở xuống thì gọi là
tín phiếu (Bill, Notes). VN, mốc này là 1 năm.
- Lãi suất của trái phiếu thường cố định hàng năm và quy định trước ngay
khi phát hành. Đó là lãI suất danh nghĩa, không phụ thuộc vào kết quả kD
23
của công ty nên iat rủi ro. Trái chủ được nhận nó hàng năm hoặc 6
tháng/lần theo quy định
- TráI chủ không có quyền tham gia quản lý kd đối với chủ phát hành
(DN), tuy nhiên có thể được quyền tham gia đại hội đồng tráI chủ, bàn về
những biến cố thay đổi quan trọng của DN như tham gia liên doanh liên
kế, sáp nhập, chia nhỏ hoặc phá sản doanh nghiệp.
- Mệnh giá của tráI phiếu là số tiền ghi trên tráI phiếu khi phát hành, có
thể do luật quy định. VD: ở Mỹ, mệnh giá tráI phiếu DN là 1000 USD, ở
VN mệnh giá tráI phiếu NHTM nhỏ nhất là 500.000đ, còn các mệnh giá
khác là bội số của mệnh giá tối thiểu.
- Nếu công ty bị phá sản thì tráI chủ được ưu tiên trả nợ trước cổ đông
c) Các loại Trái phiếu:
Có nhiều loại tráI phiếu khác nhau, hiện nay có khoảng 40 loại tráI phiếu.
TráI phiếu có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Nếu căn cứ vào
tổ chức phát hành, tráI phiếu gồm 2 loại chính là tráI phiếu doanh nghiệp
và tráI phiếu chính phủ và chính quyền địa phương

B1-Trái phiếu doanh nghiệp
- Là trái phiếu do các DN phát hành với mục đích huy động vốn
dài hạn cho đầu tư phát triển của DN: Các công ty cổ phần hoặc
DNNN khi muốn vay một số vốn lớn để tài trợ cho các nhu cầu đầu
tư phát triển mang tính chất dài hạn, họ có thể phát hành trái phiếu
- Các loại Trái phiếu công ty:
TráI phiếu công ty rẩt đa dạng và phong phú về chủng loại đáp ứng nhu
cầu và thị hiếu của các nhà đầu tư. Sau đây là một số loại tráI phiếu công
ty chủ yếu:
+ Căn cứ vào phương thức trả lãi cho trái chủ, có thể chia làm 4 loại trái
phiếu:
24
- Trái phiếu hưởng lãi trước hay còn gọi là trái phiếu chiết khấu :
Là loại trái phiếu được trả lãi ngay khi phát hành, toàn bộ số lãi được
khấu trừ vào vốn mua trái phiếu. Do đó giá bán thấp hơn mệnh giá và khi
đáo hạn được nhận lại vốn gốc bằng mệnh giá của tráI phiếu
- Trái phiếu trả lãi sau: là loại trái phiếu trả lãi sau kỳ hạn trả lãi:
6 tháng hoặc 1 năm trả lãI một lần
- Trái phiếu trả lãi cố định: lãI suất cố định trong suốt thời hạn
của trái phiếu
- Trái phiếu lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu có lãi suất được điều
chỉnh theo từng kỳ cho phù hợp với lãi suất trên thị trường

+ Căn cứ vào tính chất đảm bảo của trái phiếu, bao gồm các loại trái
phiếu sau:
- Trái phiếu tín chấp hay còn gọi là trái phiếu không được đảm bảo
(unsecured bonds): là loại trái phiếu chỉ dựa vào uy tín của DN để phát
hành, DN không đưa một TS gì ra làm vật đảm bảo. Loại này khá thông
dụng.
- TRái phiếu thế chấp hay còn gọi là trái phiếu được đảm bảo : Là
loại trái phiếu phát hành đòi hỏi DN phải có một lượng TS tương ứng ký
thác tại tại cơ quan uỷ thác để đảm bảo chắc chắn khả năng hoàn trả của
trái phiếu. Loại này chỉ có các DN lớn mới phát hành và hiện nay ít sỉ
dụng
- Trái phiếu được bảo lãnh : là trái phiếu được một DN khác đứng
ra bảo lãnh thanh toán trái tức và vốn. Người bảo lãnh này thươnàg là
ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm hay các công ty chứng
khoán.
- Trái phiếu tín thác thế chấp: là trái phiếu được phát hành dựa vào
các chứng khoán của DN khác, của cơ quan chính phủ làm vật thế chấp
25
- Trái phiếu cầm cố : Là loại trái phiếu khi phát hành phải trên cơ
sở vật cầm cố của DN. Vật cầm cố thường là những bất động sản hiện có
và sẽ có sau này.
+ Ngoài ra còn một số loại trái phiếu đặc thù khác như sau:
- Trái phiếu tài khoản : Là trái phiếu không tồn tại dưới hình thức
chứng thư mà số tiền mua trái phiếu được chuyển vào tài khoản trái
phiếu đứng tên trái chủ. Loại này thường mua bán với số tiền lớn, thời
hạn dài, giảm được chi phí quản lý và lưu thông trái phiếu
- TRái phiếu thu nhập : Là loại trái phiếu mà lơị tức được trả tuỳ
thuộc vào lợi nhuận của DN và không cao hơn lãi suất ghi trên trái phiếu,
không quy định tích luỹ trái tức
- Trái phiếu chuyển đổi : Là loại trái phiếu có thể chuyển đổi sang
cổ phiếu thường hoặc sang trái phiếu khác

B2) Trái phiếu chính phủ và chính quyền địa phương
- Là loại trái phiếu do chính phủ hoặc chính quyền địa phương phát hành
vay nợ của nhân dân, nhằm mục đích bù đắp sự thiếu hụt ngân sách,
giữ vững đồng tiền đang lưu hành và tài trợ các dự án xây dung cơ sở hạ
tầng, công trình phúc lợi công cộng quốc gia và đại phương. Khoản nợ
này được bảo đảm thanh toán bằng ngân sách nhà nước. Đây là loại trái
phiếu an toàn nhất, hầu nhue không có rủi ro
_ Trái phiếu chính phủ cũng có nhiều loại và đa dạng với nhiều tên gọi
khác nhau như trái phiếu chính phủ, công trái, trái phiếu đô thị, trái phiếu
công trình, trái phiếu giáo dục, trái phiếu của cơ quan nhà nước.
- LãI suất của trái phiếu chính phủ thường là ổn định trong thời hạn tráI
phiếu

2.1.4. Chứng chỉ quỹ đầu tư
26
Là gì: Chứng chỉ quỹ đầu tư là một loại chứng khoán do công ty
quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phát hành, xác định quyền hưởng
lợi của người đầu tư đối với quỹ
Đặc điểm chứng chỉ quỹ đầu tư : tương tự cổ phiếu

2.1.5 Công cụ tài chính có nguồn gốc CK (công cụ pháI sinh)
TRên thị trường CK, bên cạnh các giao dịch mua bán cổ phiếu, trái phiếu
còn có giao dịch mua bán các chứng từ tài chính khác như chứng quyền,
bảo chứng phiếu, hợp đồng quyền lựa chọn. Các chứng từ tài chính này
được ra đời từ các giao dịch CK và được quyền chuyển đổi sang CK qua
hành vi mua bán, nên gọi là chứng từ có nguồn gốc CK
a) Chứng quyền ( Right certificate): Giấy bảo đảm quyền mua cổ
phiếu
Là gì: Chứng quyền là một giấy chứng nhận quyền ưu tiên mua cổ
phiếu mới phát hành theo một tỷ lệ nhất định, với giá cả nhất định và
trong một thời gian nhất định, do Công ty phát hành cho các cổ đông.
Tại sao ra đời chứng quyền: Do đặc điểm của các CTCP là các cổ
đông quan tâm đến việc chia lãi kd như thế nào và quyền kiểm soát
đối với công ty nhiều hay ít. Trong khi đố quyền kiểm soát phụ thuộc vào
tỷ lệ TS mà cổ đông nắm giữ. Khi CT tăng vốn điền lệ bằng cách phát
hành cổ phiếu mới sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích tài chính và quyền
kiểm soát CT của các cổ đông hiện có. Để bảo vệ quyền lợi của mình, các
cổ đông yêu cầu CT khi phát hành CP mới tăng vốn điều lệ phảI dành cho
họ được quyền mua toàn bộ hay một phần số cổ phiếu sắp phát hành theo
một số điều kiện ưu tiên quay định trong quyền đó.
Đặc điểm của chứng quyền:
- Thường được phát hành kèm theo một đợt phát hành cổ phiếu thường,
dành cho cổ đông hiện hữu
- Thời hạn của Chứng quyền : ngắn hạn, vài tuần (30 – 45 ngày)
27
- Giá đăng ký mua cổ phiếu ghi trong chứng quyền thưòng nhỏ hơn giá
thị trường của cổ phiếu, nên chứng quyền có giá cả nếu đêm bán trên thị
trường
Thông thường mỗi cổ phần hiện tại được một quyền (mua), số quyền cần
có để mua một cổ phần mới thay đổi và được quy đinh tuỳ theo chủ
chương của công ty.
- Cổ đông cũ có thể thực hiện quyền mua, nếu không mua họ có thể bán
quyền này trên thị trường để nhận một khoản lãi do do chênh lệch giá.
Công ty sau khi ưu tiên cho các cổ đông cũ mua cổ phiếu mới, số còn lại
mới bán ra thị trường
Cách tính giá quyền mua:

Giá thị trường của CP
Gía quyền mua khi phát hành ra công chúng - Giá đăng

chứng quyền đã phát hành =
Số quyền mua 1 cổ phiếu mới
VD:
* Cổ đông A của công ty B được cấp 1 chứng quyền gồm 40 quyền mua.
Công ty phát hành đợt cổ phiếu mới và thông báo bán cổ phiếu mới với
giá đăng ký 20.000đ/CP và 5 quyền mua được một cổ phiếu mới
Cổ đông A được mua ưu tiên số cổ phiếu mới là 40quyền/5 = 8 cổ
phiếu
Nếu cổ đông A không thực hiện , thì có thể bán chứng quyền với
giá bán < hoặc bằng giá quyền mua.
Giả sử giá thị trường của cổ phiếu là 40.000đ/CP
Giá quyền mua = (40.000 – 20.000) / 5 = 4.000đ/1quyền mua


28
a) Bảo chứng phiếu ( Warrants)
Là gì: Bảo chứng phiếu là một giấy (chứng từ tài chính, CK) phát
hành kèm theo trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãI, cho phép người nắm giữ
bảo chứng phiếu đó được quyền mua một lượng cổ phiếu thường nhất
định của công ty theo mức giá đã được xác định trước trong một thời kỳ
dài nhất định, có khi là vĩnh viễn.
Đặc điểm của Bảo chứng phiếu
- Được phát hành ra công chứng để tăng tính hấp dẫn cho cổ phiếu ưu đãI
và tráI phiếu
- Là một công cụ dài hạn: 5 – 10 năm., lâu hơn
- Mức giá xác định thường cao hơn giá thị trường tại thời điểm phát hành
- Bảo chứg phiếu cũng có thể tách rời trái phiếu, cổ phiếu ưu đãI, do đó
có thể mua bán trên thị trường riêng
- Giá trị có thể bằng 0: Giá cổ phiếu không tăng vượt giá đăng ký

VD: Công ty A muốn huy động vốn dễ dàng thường phát hành trái
phiếu kèm theo bảo chứng phiếu, gỉa sử công ty tuyên bố mua một trái
phiếu có mệnh giá 100.000đ thì được quyền nhận thêm một bảo chứng
phiếu, trong đó quy định dành cho ai nắm giữ bảo chứng phiếu sẽ được
quyền mua 100 cổ phiếu thường của công ty với giá đăng ký 40.000đ
trong thời hạn 10 năm, trong khi giá cổ phiếu hiện hành chỉ có 35.000đ.
Trái chủ hy vọng trong 10 năm đó, giá cổ phiếu sẽ tăng lên vượt giá đăng
lý, chẳng hạn 45,000đ, từ đó trái chủ sẽ dùng quyền mua này để mua 100
cổ phiếu với giá 40,000đ và sau đó bán với giá 45 đô, lãi được 500 000đ.
Trường hợp giá cổ phiếu không tăng vượt giá đăng ký thì giá trị của bảo
chứng phiếu bằng 0



29
b) Hợp đồng tương lai (future contacts – Futures)
Là gì : Hợp đông tương lai là một bản cam kết bằng văn bản về việc
chuyển giao mua bán CK vào một ngày nào đó trong tương lai với mức
giá đã thoả thuận ở thời điểm hiện tại
Tại hợp đồng này các điều khoản cụ thể được cam kết thực hiện giữa 2
bên bao gồm : số lượng CK, chất lượng, giá cả, ngày giao hàng, trả
tiền...theo đúng nguyên tắc do sở giao dịch CK đứng ra bảo lãnh lập ra
Đặc điểm Hợp đồng tương lai
- Ngày thực hiện hợp đồng là ngày chỉ định trước trong tương lai
- Tại ngày thực hiện hợp đồng cả 2 bên đều phẩi có nghĩa vụ thực hiện
hợp đồng
- Cả 2 bên đều phải ký quỹ một khoản tiền cược tại một ngân hàng trung
gian
- Hai bên có thể chọn cách thanh toán khoản chênh lệch thay vì tiến hành
giao nhận
- Hai bên có thể kết thúc quyền và nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào vào trước
ngày đáo hạn bằng một hợp đồng bán đối ứng tương tự với hợp đồng
mua( người ở vị thế mua) hoặc một hợp đồng mua đối ứng( người ở vị
thế bán).
- Có các loại hợp đồng dựa trên các CK hoăc các chỉ số CK ( lấy đv là
tiền)
ý nghĩa của thị trường hợp đồng tương lai : giảm thiểu rủi ro cho các
nhà đầu tư do chuyển trạng thái rủi ro của CK cho một nhà đầu tư khác
muốn chấp nhận rủi ro. Chính ở các thị trường này đã xuất hiện các nhà
đầu tư có chuyên môn xuất sắc trong việc phân tích thị trường để chọn
lâý thời cơ tốt nhất cho việc đầu tư, bởi vì chúng nâng cao khả năng của
nhà đầu tư trong việc phán xét thị trường về giá đặt trước.


30
c) Hợp dồng quyền chọn ( Option contract)
Là gì: Là một sự thoả thuận mua bán CK với một giá quy định trong
thời gian tương lai và hy vọng giá CK sẽ tăng lên thì thực hiện quyền
mua CK và hy vọng giá sẽ giảm xuống thì thực hiện quyền bán CK để
kiếm lời
Đặc điểm hợp đồng quyền chọn
Người mua quyền (người sở hữu hợp đồng) có quyền thực hiện hợp đồng
để mua và bán CK thực sự, nhưng cũng có thể không thực hiện hợp đồng
mà lựa chọn hoặc bán hợp đồng cho người khác hoặc huỷ hợp đồng đó.
Người bán phải có nghĩa vụ thựuc hiện hựop đồng khi bên mau yêu cầu
Ngày thực hiện quyền ( hợp đồng) do người mua quyền quyết định ở
trong kỳ hạn
Người mua quyền (mua hợp đồng) phải trả cho người bán quyền một
khoản tiền cược được xem như giá của quyền chọn (phí quyền chọn)
Các loại quyền chọn : Hợp đông quyền chọn có 2 loại là hợp đồng
quyền chọn mua và hợp đồng quyền chọn bán
1) Hợp đồng quyền chọn mua( Call Option) : Là hợp đồng trong đó
cho phép người mau hợp đồng được quyền mua một số cổ phiếu
nhất định theo một gia quy định trong một thời gian quy định
trong tương lai. Người mua phải trả cho người bán hựop đồng 1
khoản phí chọn mua ( 2%)

VD : Đầu năm ông A mua 1 hợp đồng quyền chọn mua với ông B là
5000 cổ phiếu X giá 60 USD/cp, thời hạn 12 tháng, với phí chọn mua là
2,5 USD/ cp.
Chẳng hạn đến đầu thâng 10, giá cổ phiếu X tăng lên 70 USD/cp. Lúac
này ông A có thể :
Thực hiện hợp đồng :
Mua 5000 cp X : mất 300.000 $
31
Trả phí : 5000 X 2,5 = 12.500 $
Bán 5000 cp X 70 = 350.000 $
LãI: 350.000 – 300.000- 12500 = 37.500 $
LãI suất: 37.500/312.500 = 12%
Bán hợp đồng quyền chọn mua:
Giá bán là 3,5$/cp ( lớn hơn phí chọn mua)
Lãi: ( 3,5 -2,5) X5000 = 5.000$ LãI suất: 5.000/12.000 = 40%

2) Hợp đồng quyền chọn bán Put Option): Là hợp đồng trong đó
cho phép người mua hợp đồng được quyền bán một số cổ phiếu nhất định
theo giá quy định trong một thời gian quy định của tương lai. Người mua
hợp đồng phảI trả cho người bán hợp đồng một khoản phí chọn bán

VD: Đầu năm Ông A ký mua một hợp đồng quyền chọn bán cho ông
là 500 Cp X, với gia 60$/cp, thời gian đáo hạn là 12 tháng, phí chọn bán
là 3$/cp. ( Do thực tế giá cổ phiếu X lúc ký hợp đồng này là 62$-quá cao,
ông A dự đoán sẽ hạ xuống 52$/cp vào thấng đáo hạn hợp đồng.
Chẳng hạn, 10 tháng sau giá cổ phiếu X giảm xuống quá mức dự đoán.
chẳng hạn là 50$/cp. Lúc này ông A được quyền chọn:
Thực hiện hợp đồng:
Mua 500cp trên thị trường: 500 X 50 = 25.000$
Phí chọn bán phảI trả: 500 X 3 = 1500$
Bán 500 cp này cho ông B với giá 60$ được là 500 X 60 = 30.000$
LãI: 30.000 – 26.500 = 3500$ = 13,25
Huỷ bỏ: Trong trường hựop giá cổ phiếu X không giảm, lại tăng
lên 65$ chảng hạn, ông A sẽ không thực hiện hợp đồng, mất phí chọn bán
là 3$/cp
ý nghiã của hợp đồng quyền chọn: Người ta có thể dùng hợp đồng này
như một công cụ tự bảo hiểm để chống lại rủi ro CK
32
2.2 Giá chứng khoán
CK là loại hàng hoá đặc biệt nên cơ chế hình thành giá CK không giống
như việc xác định giá cả của các loại hàng hoá thông thưuờng khã. Cần
phân biệt các laọi giá sau đây của CK:
 Mệnh giá CK ( Face value, Par value): MG- giá danh định
MG là gía ghi (in) trên bề mặt của tờ CK. Giá này do đặc điểm của từng
loại CK mà hình thành:
- Mệnh giá của trái phiếu: được xác định bằng tổng giá trị danh
định của đợt phát hành chia cho tổng số trái phiếu cần phát hành. MG của
tráI phiếu có giá trị trong việc tính lãI suất và là số tiền lấy về khi TP đáo
hạn
- Mệnh giá của cổ phiếu: được xác định bằng tổng giá trị danh định
của công ty lúc phát hành ( vốn điều lệ) chia cho tổng số cổ phần của
công ty. MG cổ phiếu chỉ cố giá trị danh nghĩa
Mệnh giá CK cao hay thấp là tuỳ vào tổng số CK cần phát hành nhiều
hay ít
ý nghĩa của mệnh giá CK cao hay thấp:
- Đặt mệnh giá cao khi ĐV phát hành chưa muốn bán CK rộng rãI
ra công chúng
- Khi muốn bán CK rộng rãI ra công chúng, thường ấn định mệnh
giá thấp. Điều đó cũng có ý nghĩa đối với nền KT vì nó tạo điều kiện cho
công chúng tiết kiệm
Để thuận tiện cho việc trao đổi mua bán trên thị trường CK, luật CK các
nước thường quy định mệnh giá tối thiểu chung thống nhất cho CK. Tại
VN, mệnh giá CP là 10.000đ, mệnh giá TP là 100.000đ và bội số của nó

 Hiện giá ( Present value): giá trị thực của CK
Là giá trị thực của CK tịa thời điểm hiện tại
33
Giá này được xác định thông qua việc định giá CK, phản ánh giá trị thực
của CK. Thông qua việc so sánh giá trị thực với giá trên thị trường có thể
giúp nhà đầu tư lựa chọn phương án đầu tư có hiệu quả nhất

 Thị giá CK (giá thị trường):TG ( Market value):
TG là giá CK trên thị trường tại một thời điểm nhất định. Đó là giá mà
người mau phảI trả và người bán nhận được
Giá này phụ thuộc vào quan hệ cung cầu CK trên thị trường. Nó có thể
thấp hơn, cao hơn hoặc bằng mệnh giá và giá trị thực của nó tại thời điểm
mua bán
Đối với trái phiếu:
+ Nếu người mua trả tiền đúng theo mệnh giá thì được gọi là mua
theo giá ngang giá trái phiếu
+ Nếu người mua trả tiền nhiều hơn mệnh giá (105%), thì được gọi
là người mua đã mua theo một gía gia tăng của trái phiếu( giá tăng
trưởng)
+ Nếu người mua trả ít hơn mệnh giá ( 95%), được gọi là người
mua đã mua trái phiếu theo giá chiết khấu

 Thư giá- giá kế toán (Book value): xác định đối với cổ phiếu
Thư giá hay còn gọi là giá kế toán là giá cổ phiếu được tính theo sổ sách
sổ sách kế toán của công ty
Thư giá được tính dựa trên bảng TKTS theo các chuẩn mực kế toán rõ
ràng

Giá trị thuần CT – Vốn cổ phần ưu đãi
Thư giá CP =
Thường Tổng số CP thường đã phát hành

34
Tổng TS – Tổng nợ – Vốn CP ưu đãi
=
Tổng số CP thường đã phát hành

Nếu tính chung cho cả cổ ưu đãI và cổ phiếu thường:

Giá trị kế toán Gíá trị thuần của công ty
1 cổ phiếu =
Tổng số cổ phiếu đang lưu hành

VD: cách tính giá kế toán
Công ty CP A, năm 2000 thành lập với vốn điều lệ ban đầu tà 10 tỷ Đ,
CT phát hành 1triệu cổ phiếu với MG là 10.000đ/CP
Sau 3 năm hoạt động, tình hình bảng TKTS của CT như sau:
Tổng Tài sản: 100tỷ
Tổng Nguồn vốn: 100 tỷ trong đó gồm
Nợ: 40tỷ
Vốn điều lệ (CP theo mệnh giá): 10tỷ
Quỹ dự trữ: 10tỷđ
Quỹ tích luỹ: 40 tỷ đ

100 tỷ - 40 tỷ
Thư giá 1 CP = = 60.000/CP
1.000.000

Hoặc 10tỷ + 10 tỷ + 40 tỷ
= = 60.000/CP
1.000.000
35
Năm 2005, công ty quyết định tăng thêm vốn bằng cách phát hành thêm
bằng cách phát hành thêm 1 triệu CP, với mệnh giá là 10.000/CP. Công ty
bán trên thị trường được giá là 25.000/CP. Giả sử rằng các quỹ trích lập
từ lợi nhuận giữ lại không thay đổi, nợ vẫn như cũ.
Ta có: Vốn cổ phần theo mệnh giá: 20 tỷ
Vốn thặng dư: ( 25.000 – 10.000) x 1triệu CP = 15 tỷ đồng
20 tỷ + 15 tỷ + 10tỷ + 40 tỷ
Thư giá 1 CP = = 42.5000đ/CP
2.000.000

 Giá cả của CK
Giá cả của chứng khoán là phần thu nhập bằng tiền mà các nhà đầu tư thu
được trong tương lai từ việc bỏ vốn mua CK đó.
Đối với trái phiếu:
Trái tức: Số tiền lãi nhận được trong kỳ đầu tư ( nhận theo kỳ trả
lãI: 6; 12tháng)
Lãi suất: Tỷ lệ % giữa trái tức và số vốn bỏ ra mua TP đó . Gíá
mua CK có thể là MG hay TG, nên các nhà đầu tư thường sử dụng các
chỉ tiêu sau đây để mô tả thu nhập đầu tưu TP:
Lãi suất danh nghĩa (lợi suất danh nghĩa): Là tỷ lệ % giữa trái tức
với MGTP
Đây là LS xác định trong một thời gian nhất định mà ngưòi phát hành TP
cam kết thanh toán cho người mua TP vào một ngày xã định khi phát
hành TP
Lãi suất hiện hành: là tỷ lệ % giữa trái tức so với TGTP
VD: Một PT có mệnh giá là 100.000đ, lãI suất 8%/năm
Như vậy tráI tức là 8.000/Năm, 8% là LS danh nghĩa
Nếu một nàh đầu tư mua TP này với giá là 110.000đ,m anh ta vẫn nậhn
số lãi là 8.000đ. LãI suất hiện hành là 8000 / 110.000 = 7,27%
36
Nếu nhà đầu tưu mua TP này với giá 80. 000đ, thì lãI suất hiện hành là:
8.000 / 80.000 X 100 = 10%
Vậy LS hiện hành có thể lớn hơn LS danh nghĩa(nếu mua PT với giá
chiết khấu), có thể nhỏ hơn LS danh nghĩa ( nếu mua với giá gia tăng)
Lãi suất đáo hạn: Là lãi suất được tính từ khi mua theo giá thị
trường hôm nay
và được gíữ tới ngày đáo hạn
Cách tính:
Nếu mua với giá thấp hơn MG (giá chiết khấu):
(MG x i) + (MG – TG)/ N
Lợi suất đáo hạn =
(MG + TG)/ 2

Nếu mua với giá cao hơn MG (giá tăng trưởng):

(MG x i) - (TG – MG)/ N
Lợi suất đáo hạn =
(MG + TG)/ 2

VD: TP có mệnh giá 100.000đ, lãI suất 8%/năm con 5 năm nữa thì đáo
hạn.
Nếu được mau với giá 80.000đ, thì:
8.000 + ( 100.000 – 80.000)/5
LãI suất đáo hạn = = 0,133 = 13,3%
(100.000 + 80.000)/2


Nếu được mua với giá 110.000 đ, thì
8.000 – ( 110.000 -100.000)/5
37
LãI suất đáo hạn = = 0,057 =
5,7%
(110.000 + 100.000)/2

Tóm lại: Đối với TP
Nếu mua với giá chiết khấu thì LS đáo hạn> LS hiện hành> LS danh
nghãi
Nếu mua với giá tăng trưởng thì LS đáo hạn< LS hiện hành < LS danh
nghĩa

Đối với cổ phiếu: Thu nhập từ đầu tư cổ phiếu bao gồm:
- Cổ tức: số tiền lãi nhận được từ công ty cổ phần hàng năm
Lợi tức: Tỷ lệ % giữa số tiền lãI ( cổ tức) / MGCP
Phụ thuộc vào: số lợi nhuận của CT thu ???c hàng n?m
Chính sánh phân phối và sử dụng lợi nhuận của CT
- Chênh lệch : TG – MG (nếu cổ đông bán CP)


















38
BÀI 3
ĐỊNH GIÁ TRÁI PHIẾU VÀ CỔ PHIẾU

Có nhiều phương pháp được dùng để xác định giá trị thực của Trái
phiếu và cổ phiếu trên thị trường. Bài này sẽ đưa ra các phương pháp phổ
biến đang được áp dụng hiện nay trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên
để có thể hiểu được các phương pháp định giá, cần phải hiểu được các
khái niệm về thế nào gọi là giá trị của chứng khoán, giá trị thời gian của
tiền, lãi suất chiết khấu.

3.1 Các cặp khái niệm về giá trị

3.1.1 Giá trị thanh lý và giá trị hoạt động
Cặp khái niệm này dùng để chỉ giá trị của doanh nghiệp dưới hai giác
độ khác nhau. Giá trị thanh lý là giá trị hay số tiền thu được khi bán
doanh nghiệp hay tài sản không còn tiếp tục hoạt động nữa. Giá trị hoạt
động là giá trị hay số tiền thu được khi bán doanh nghiệp vẫn còn tiếp tục
hoạt động. Hai loại giá trị này ít khi nào bằng nhau, thậm chí giá trị thanh
lý đôi khi còn cao hơn cả giá trị hoạt động.

3.1.2 Giá trị sổ sách và giá trị thị trường
Khi nói giá trị sổ sách người ta có thể đề cập đến giá trị sổ sách của
một tài sản hoặc giá trị sổ sách của một doanh nghiệp. Giá trị sổ sách của
tài sản tức là giá trị kế toán của tài sản đó, nó bằng chi phí mua sắm tài
sản trừ đi phần khấu hao tích lũy của tài sản đó. Giá trị sổ sách của doanh
nghiệp hay công ty tức là giá trị toàn bộ tài sản của doanh nghiệp trừ đi
giá trị các khoản nợ phải trả và giá trị cổ phiếu ưu đãi được liệt kê trên
bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp. Giá trị thị trường là giá của tài sản
hoặc doanh nghiệp được giao dịch trên thị trường. Nhìn chung, giá trị thị
39
trường của doanh nghiệp thường cao hơn giá trị thanh lý và giá trị hoạt
động của nó.

3.1.3 Giá trị thị trường và giá trị lý thuyết
Cặp giá trị này thường dùng để chỉ giá trị của chứng khoán, tức là giá
trị của các loại tài sản tài chính. Giá trị thị trường của một chứng khoán
tức là giá trị của chứng khoán đó khi nó được giao dịch mua bán trên thị
trường. Giá trị lý thuyết của một chứng khoán là giá trị mà chứng khoán
nên có dựa trên những yếu có liên quan khi định giá chứng khoán đó. Nói
khác đi, giá trị lý thuyết của một chứng khoán tức là giá trị kinh tế của nó
và trong điều kiện thị trường hiệu quả thì giá cả thị trường của chứng
khoán sẽ phản ánh gần đúng giá trị lý thuyết của nó.

3.2 Định giá theo phương pháp chiết khấu dòng thu nhập

Đây là phương pháp định giá theo trường phái theo đuổi giá trị, trong
đó nhà đầu tư cố gắng xác định giá trị lý thuyết của cổ phiếu hoặc trái
phiếu trên cơ sở chiết khấu các luồng lợi tức (cổ tức hoặc trái tức) được
hưởng tại các thời điểm khác nhau trong tương lai về thời điểm mua hoặc
bán rồi so sánh với giá thị trường để có các quyết định phù hợp.

3.2.1 Định giá trái phiếu
Trái phiếu là công cụ nợ dài hạn do chính phủ hoặc công ty phát hành
nhằm huy động vốn dài hạn. Trái phiếu do chính phủ phát hành gọi là trái
phiếu chính phủ hay trái phiếu kho bạc.Trái phiếu do công ty phát hành
gọi là trái phiếu công ty.
Trên trái phiếu bao giờ cũng có ghi một số tiền nhất định, gọi là mệnh
giá của trái phiếu. Mệnh giá tức là giá trị được công bố của tài sản. Ngoài
việc công bố mệnh giá, người ta còn công bố lãi suất của trái phiếu. Lãi
40
suất của trái phiếu tức là lãi suất mà trái phiếu được hưởng, nó bằng số lãi
được hưởng chia cho mệnh giá của trái phiếu.
Định giá trái phiếu tức là quyết định giá trị lý thuyết của trái phiếu
một cách chính xác và công bằng. Giá trị của trái phiếu được định giá
bằng cách xác định hiện giá của toàn bộ thu nhập nhận được trong thời
hạn hiệu lực của trái phiếu.

1. Định giá trái phiếu vĩnh cửu (trái phiếu vô thời hạn)

Trái phiếu vĩnh cửu là trái phiếu không có thời điểm đáo hạn. Trái phiếu
vĩnh cữu này chính là cam kết của người phát hành (thường là chính phủ)
sẽ trả một số tiền lãi cố định mãi mãi cho người nào sở hữu trái phiếu.
Giá trị của loại trái phiếu này được xác định bằng giá trị hiện tại của dòng
trái tức (mức lãi suất được hưởng do sở hữu trái phiếu) mà trái phiếu này
mang lại.
Gọi:
- I là lãi cố định hàng năm và được hưởng mãi mãi
- P là giá của trái phiếu
- k
d
là lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư

Thì giá trị của trái phiếu này được xác định như sau:
0 t
t = 1 d
0 1 2
d d d
0
d k d
0
d
I
P =
( 1 + k )
I I I
P = + + . . . . +
( 1 + k ) ( 1 + k ) ( 1 + k )
1 1
P = I -
k k ( 1 + k )
I
P =
k
·
·
·
(
(
¸ ¸
¿
41

2. Định giá trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi

Trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi là loại trái phiếu có thời hạn đáo hạn
được xác định ngay từ khi phát hành và lãi suất được hưởng qua từng thời
hạn nhất định. Khi mua loại trái phiếu này nhà đầu tư được hưởng lãi
định kỳ, thường là hàng năm, theo lãi suất công bố trên mệnh giá trái
phiếu và được thu hồi lại vốn gốc bằng mệnh giá khi trái phiếu đáo hạn.
Gọi:
- I là lãi cố định được hưởng
- P
0
là giá của trái phiếu
- k
d
là lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư
- M là mệnh giá trái phiếu
- n là số năm cho đến khi đáo hạn

thì giá trị của trái phiếu được xác định như sau:


a- Định giá trái phiếu có kỳ hạn không hưởng lãi (còn gọi là trái phiếu
chiết khấu khống)

Trái phiếu kỳ hạn không hưởng lãi là loại trái phiếu không có trả lãi định
kỳ mà được bán với giá thấp hơn nhiều so với mệnh giá. Khi mua loại trái
n
0 t n
t=1
d d
0 1 2 n n
d d d d
n
d
0 n n
d d d
I M
P = +
(1+k ) (1+k )
I I I M
P = + +....+ +
(1+k ) (1+k ) (1+k ) (1+k )
(1+k ) -1 M
P =I× +
k (1+k ) (1+k )
¿
42
phiếu này người đầu tư vẫn nhận được lợi tức, chính là phần chênh lệch
giữa giá mua gốc của trái phiếu với mệnh giá của nó.
Phương pháp định giá loại trái phiếu này cũng tương tư như cách
định giá loại trái phiếu kỳ hạn được hưởng lãi chỉ khác ở chỗ lãi suất
được hưởng hàng năm bằng 0 nên toàn bộ giá trị hiện tại của phần lãi
định kỳ bằng 0. Do vậy, giá cả của trái phiếu không hưởng lãi chính là giá
trị hiện tại của mệnh giá khi trái phiếu đáo hạn.

b-Định giá trái phiếu trả lãi bán niên

Thông thường trái phiếu được trả lãi hàng năm một lần nhưng đôi khi
cũng có loại trái phiếu trả lãi bán niên tức là trả lãi hàng năm hai lần. Kết
quả là mô hình định giá trái phiếu thông thường phải có một số thay đổi
thích hợp để định giá trong trường hợp này.

3.2.2 Định giá cổ phiếu

1. Định giá cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu mà công ty phát hành cam kết trả tỷ lệ cổ
tức cố định hàng năm và không có tuyên bố ngày đáo hạn. Loại cổ phiếu
này có những tính chất giống như trái phiếu vĩnh cửu. Do đó, mô hình
0
n
d
M
P =
(1+k )
2n
d
2n
0
t 2n 2n 2n
d d d d d t=1
k I
(1+ ) -1
M I M
2 2
P = + = × +
k k k k k
2
(1+ ) (1+ ) ×(1+ ) (1+ )
2 2 2 2 2
(
(
(
(
¸ ¸
¿
43
định giá trái phiếu vĩnh cửu có thể áp dụng để định giá cổ phiếu ưu đãi.
Giá cổ phiếu ưu đãi được xác định theo công thức sau:

p
0
p
D
P =
k
với D
p
là cổ tức cố định hàng năm; k
p
là tỷ lệ lãi
suất chiết khấu

2. Định giá cổ phiếu thường

Cổ phiếu thường là chứng nhận đầu tư vào công ty cổ phần. Người mua
cổ phiếu thường được chia lợi nhuận hàng năm từ kết quả hoạt động của
công ty và được sở hữu một phần giá trị công ty tương ứng với giá trị cổ
phiếu họ đang năm giữ.
Giá cổ phiếu thường được xem như là hiện giá dòng tiền tệ thu
nhập tạo ra cho nhà đầu tư từ cổ phiếu. Do đó, mô hình định giá cổ phiếu
thường nói chung có dạng như sau:

Trong đó Dt là cổ tức được chia ở thời kỳ t và k
s
là lợi nhuận mong đợi
của nhà đầu tư. Tuy nhiên mô hình này chỉ phù hợp với tình huống nhà
đầu tư mua cổ phiếu và giữ mãi mãi để hưởng cổ tức. Nếu nhà đầu tư
mua cổ phiếu và chỉ giữ nó 3 năm sau đó bán lại với giá là P
3
, thì giá cổ
phiếu sẽ là:

t 1 2
0 1 2 t
t=1 s s s s
D D D D
P = + +...+ =
(1+k ) (1+k ) (1+k ) (1+k )
·
·
· ¿
3 3 1 2
0 1 2 3 3
s s s s
D P D D
P = + + +
(1+k ) (1+k ) (1+k ) (1+k )
44

Do đặc tính của cổ phiếu thường khác với cổ phiếu ưu đãi ở chỗ lợi tức
được hưởng hàng năm không cố định và phụ thuộc vào kết quả kinh
doanh cũng như chính sách chia cổ tức của công ty. Do đó, khi xác định
giá trị lý thuyết của cổ phiếu thường, người ta đặc biệt quan tâm đến 2
yếu tố đó là tốc độ tăng trưởng của cổ tức hàng năm và tỷ lệ chiết khấu
hàng năm được sử dụng. Theo đó ta có các trường hợp sau:

Trường hợp tốc độ tăng trưởng cổ tức bằng không

Đây là một trường hợp đặc biệt khi tốc độ tăng trưởng cổ tức không đổi
và bằng 0, hay nói khác đi, các khoản cổ tức được chi trả hàng năm là
như nhau. Mặc dù ít có cổ phiếu nào có tốc độ tăng trưởng bằng 0 mãi
nhưng với những cổ phiếu nào có cổ tức ổn định và duy trì trong một thời
gian dài thì có thể áp dụng để xác định gần đúng giá cổ phiếu. Theo đó
nếu D
0
là mức cổ tức hiện tại của cổ phiếu được chia thì:

0 1 2 3
0 0 0 0 0
0 1 2 t
t=1 s s s s s s
0
0
s
D =D =D =D =..........D
D D D D D 1
P = + +...+ = = × 1-
(1+k ) (1+k ) (1+k ) (1+k ) k (1+k )
D
P =
k
·
·
· ·
| |
|
\ .
¿



Trường hợp tốc độ tăng trưởng cổ tức không đổi

Trong trường hợp này mô hình định giá cổ phiếu như sau:

45
2
0 0 0
0 0 1 2
s s s s s
1
0 0
s s
D (1+g) D (1+g) D (1+g) (1+g) (1+g)
P = + +...+ =D × × 1-
(1+k ) (1+k ) (1+k ) (k -g) (1+k )
D (1+g)
P =D × =
(k -g) (k -g)
· ·
· ·
| |
|
\ .


trong đó D
0
là cổ tức hiện tại của cổ phiếu và g là tốc độ tăng trưởng cổ
tức. Cổ tức kỳ vọng ở cuối kỳ t bằng cổ tức ở hiện tại nhân với hệ số
(1+g)
t
.
Do k
e
> g, nên
e
(1+g)
(1+k )
·
·
tiến đến 0 khi t tiến đến ∞

Trường hợp tốc độ tăng trưởng cổ tức thay đổi

Khi tốc độ tăng trưởng cổ tức g thay đổi qua từng giai đoạn thì từ công
thức định giá cổ phiếu chung, người ta biến đổi nó thành:

3 1 2 n n
0 1 2 3 n n
s s s s s
D D D D P
P = + + +..... +
(1+k ) (1+k ) (1+k ) (1+k ) (1+k )

Hay
n
t n
0 t n
t=1 s s
D P
P = +
(1+k ) (1+k )
¿ với n là thời điểm mà người đó bán cổ
phiếu

3.3 Phương pháp định giá cổ phiếu theo tỳ số P/E (Hệ số giá và thu
nhập)

Mô hình chiết khấu dòng thu nhập có thể áp dụng để định giá cổ phiếu,
trái phiếu nhưng mô hình này không áp dụng được trong định giá cổ
46
phiếu khi công ty giữ lại toàn bộ lợi nhuận cho tái đầu tư và không trong
trả cổ tức cho cổ đông. Hơn nữa giá trị mà nó xác định mới chỉ là giá trị
tính toán mang ý nghĩa lý thuyết do buộc phải giả định tốc độ tăng trưởng
của cổ tức. Trên thị trường giao dịch thực tế, người ta thường áp dụng tỷ
số P/E để ra quyết định về mua bán cổ phiếu.

Hệ số giá và thu nhập cổ phiếu (P/E: Price on Earning per share) hiện nay
là chỉ số được rất nhiều nhà đầu tư ở Việt Nam sử dụng để đánh giá
chứng khoán. Công thức tính giá như sau:

0
P
P =EPS×
E
Trong đó EPS là mức thu nhập trên mỗi một đầu cổ
phiếu thường và



Các nhà đầu tư mua cổ phiếu đều mong muốn sẽ thu được lợi nhuận trong
tương lai từ vốn đầu tư vào các cổ phiếu đó. Do đó chỉ số thu nhập trên
mỗi cổ phiếu sẽ cung cấp thông tin về thu nhập định kỳ của mỗi cổ phần
thường. Nó phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận ròng trên một cổ phần mà
cổ đông đóng góp vốn.

- Trường hợp công ty phát hành thêm hoặc mua lại cổ phiếu thì tổng
số cổ phiếu thường (mẫu số trong công thức) phải được tính toán
theo công thức bình quân gia quyền.
- Trường hợp công ty có phát hành trái phiếu chuyển đổi thì EPS
được tính lại, gọi là EPS giảm bớt, bởi số trái phiếu đó có thể
EPS = (Lợi nhuận ròng - Tổng cổ tức ưu đãi)/Tổng cổ phiếu thường
47
chuyển đổi thành cổ phiếu thường vào bất kỳ lúc nào. Kết quả là số
lượng cổ phiếu tăng lên sẽ làm giảm thu nhập của mỗi cổ phiếu.

Công ty nào có EPS cao hơn so với các công ty khác sẽ thu hút được sự
đầu tư hơn bởi EPS càng cao thì công ty tạo ra lợi nhuận cổ đông càng
lớn và ngược lại. EPS thay đổi tuỳ theo phương pháp kế toán và EPS mà
các chuyên gia đánh giá được lấy từ thông tin công ty. Do đó, dù là EPS
lấy từ công ty hay chuyên gia cũng chỉ là con số ước tính.

Do vậy, chỉ số này nên được xem xét trong một giai đoạn nhất định để
đánh giá xu hướng ổn định và khả năng tăng trưởng của nó, qua đó sẽ
thấy được hiệu quả quá trình hoạt động của công ty. Và EPS không phải
lúc nào cũng tỷ lệ với tổng lợi nhuận sau thuế. Nếu công ty tăng vốn bằng
cách phát hành thêm 10% số lượng cổ phiếu mà lợi nhuận tăng thêm
không đủ 10% thì EPS sẽ giảm, kéo theo giá cổ phiếu giảm theo.

Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường và thu nhập của mỗi
cổ phiếu, được tính như sau:

Hệ số này cho nhà đầu tư biết họ phải trả giá bao nhiêu cho mỗi đồng thu
nhập của một cổ phiếu. Và bằng cách nghịch đảo của tỷ số P/E (lấy 1 chia
cho P/E), nhà đầu tư có thể xác định được tỷ suất lợi nhuận tương đối trên
khoản đầu tư của họ.
Thông thường, P/E từ 5-15 là bình thường, nếu P/E lớn hơn 20 có nghĩa
là:
- Nhà đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai.
EPS giảm bớt = Lợi nhuận ròng (không phải trả lãi TP chuyển đổi)/(Tổng trái
phiếu chuyển đổi/Giá chuyển đổi)
P/E = Thị giá/EPS
48
- Cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư tho mãn với tỷ suất vốn
hoá thị trường thấp.
- Nhà đầu tư dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ
trả cổ tức cao.

Nhìn chung P/E cao thường ám chỉ một mức rủi ro lớn và rủi ro lớn hàm
ý một cơ hội thu lợi nhuận lớn hơn. Những cổ phiếu này thường nhạy
cảm với tin tức xấu, còn những cổ phiếu có P/E thấp thì không. Khi tính
được tỷ số P/E, nên so sánh với 4 chuẩn mực sau:

- Tỷ số tăng trưởng trong quá khứ (kiểm tra qua nhiều năm để có thể
biết được mức bình thường của P/E).
- Mức tăng trưởng dự kiến trong tương lai của công ty.
- Cổ phiếu của các công ty khác trong cùng ngành kinh doanh
- Toàn bộ thị trường, phản ảnh bởi chỉ số.

Lưu ý rằng P/E sẽ trở lên vô ích nếu nó không phản ánh khuynh hướng
của lạm phát. Nếu mức lạm phát là 8% một năm và tỷ số P/E là 12 thì tỷ
số P/E thực sẽ gần với 20. Tỷ số P/E thực này cho ta biết sự mong đợi của
các nhà đầu tư có thực tế hay không. Nếu tỷ số P/E thực thấp thì hầu như
giá các cổ phiếu luôn tăng lên. Nếu chúng quá cao, giá các cổ phiếu luôn
hạ xuống.

Chỉ số P/E cũng chỉ thực sự có ý nghĩa trong việc xác định giá cổ phiếu
khi thị trường chứng khoán đã phát triển tương đối với nhiều công ty
cùng ngành nghề, cùng quy mô được niêm yết. Khi đó, chỉ cần nhân hệ
số P/E với lợi nhuận mỗi cổ phiếu là có thể xác định một cách tương đối
giá trị của cổ phiếu (P0 = P/E x EPS). Đây là cách xác định giá cổ phiếu
thường nhanh nhất và đơn giản nhất.
49

Theo phương pháp định giá này, về mặt lý thuyết chúng ta có thể áp dụng
một trong hai cách sau:

- Lấy P/E bình quân toàn ngành mà công ty đó tham gia hoặc P/E
của một công ty có cổ phiếu được giao dịch rộng rãi có cùng tỷ lệ
lợi nhuận, độ rủi ro và mức tăng trưởng tương tự nhân với EPS của
công ty cần định giá.
- Đối với công ty có tốc độ tăng trưởng đều đặn, P/E được tính theo
công thức sau:


P [(1-b)×(1+g)]
=
E (r-g)

Với:

b là tỷ lệ thu nhập giữ lại và

g là tốc độ tăng trưởng cổ tức và g=b×ROE

ROE là giá trị thu nhập vốn cổ phần

r = cổ tức năm sau/P
0
+ g

Giá cổ phiếu của công ty đó sẽ được xác định bằng cách nhân hệ số P/E
này với EPS của công ty.
Mặc dù vậy, P/E được dùng để có được một thước đo tương đối về giá cổ
phiếu mà thôi. Không nên đặt nó một cách biệt lập, mà nên so sánh nó
với P/E bình quân của ngành.

b= [1-(Cổ tức/EPS)]
ROE = EPS/ giá trị sổ sách cổ phiếu
50
P/E của các loại công ty trong các ngành nghề khác nhau thì khác nhau.
Các nhà đầu tư thường quan tâm đến những công ty có chỉ số P/E cao vì
họ nghĩ rằng công ty có tiềm năng phát triển trong tương lai. . Tuy nhiên
cũng có trường hợp P/E cao không phải do giá thị trường của cổ phần
hiện tại cao mà do EPS đang ở mức thấp (thường gặp ở các công ty mới
tăng trưởng) .

Các công ty lâu đời hay những công ty đã phát triển đến mức tột bật
thường P/E rất thấp. Đơn giản là vì các nhà đầu tư không nghĩ là các công
ty đó có tiềm năng và đẩy giá lên nữa. Do đó P/E sẽ thấp. Cũng có trường
hợp công ty hoạt động tốt nhưng lại có chỉ số P/E thấp là do thị trường
không đánh giá cao hay người đầu tư chưa hiểu biết nhiều về công ty.
Tuy nhiên, vấn đề mà nhà đầu tư quan tâm không phải P/E hiện tại mà
P/E tương lai tức là tiên đoán lợi nhuận kì tới của công ty (EPS
1
) và do đó
P
1
= EPS
1
x P/E.

Nói tóm lại, hệ số EPS và P/E chỉ cho ta hình ảnh về công ty, nên xem xét
để đánh giá xu hướng và khả năng tăng trưởng của công ty, chưa phải là
hệ số đáng tin cậy để đánh giá chứng khoán bởi những lý do sau:
o Thứ nhất, ta chưa có cơ sở nào để nói P/E bây giờ là cao cả vì Việt
Nam chưa có đủ các công ty cùng ngành nghề và cùng quy mô trên
thị trường nên ta không thể lấy cơ sở nào mà so sánh. Ví dụ ta
không thể so sánh FPT với HAP được.
o Thứ hai, luật CKVN chưa bắt buộc các cty phải công bố cụ thể các
thông tin. Do đó các nhà đầu tư không thể dự kiến được lợi nhuận
sắp đến chắc chắn được.




51
BÀI 4
PHÁT HÀNH, NIÊM YẾT VÀ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN

4.1 Phát hành chứng khoán
4.1.1 Khái niệm về phát hành chứng khoán
Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới gọi là phát hành
chứng khoán. Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán
của một tổ chức lần đầu tiên ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu
ra công chúng. Nếu việc phát hành đó là việc phát hành bổ sung bởi tổ
chức đã có chứng khoán cùng loại lưu thông trên thị trường thì gọi là đợt
phát hành chứng khoán bổ sung. Tuy nhiên, không phải mọi đối tượng
đều được phát hành chứng khoán mà chỉ những chủ thể phát hành mới có
được quyền này.
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị
trường chứng khoán. Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán -
hàng hoá của thị trường chứng khoán. Thông thường, nhà phát hành bao
gồm:
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái
phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương.
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như
các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng... phục vụ cho hoạt động của
họ.
4.1.2 Phương thức phát hành chứng khoán
Có 2 phương thức phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp.
Đó là phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng.
52
1. Phát hành riêng lẻ (Private Placement)
Phát hành riêng lẻ là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán của
mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà
đầu tư có tổ chức có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài) như
công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí... với những điều kiện hạn chế chứ không
phát hành rộng rãi ra công chúng. Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham
gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng phí
phát hành. Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực hiện dưới hình
thức phát hành riêng lẻ, việc phát hành cổ phiếu thường - cổ phiếu phổ
thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này.

2. Phát hành chứng khoán ra công chúng
Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó
chứng khoán có thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho
một số lượng lớn người đầu tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ
cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất
định.

3. Ý nghĩa cơ bản của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát
hành ra công chúng
Việc phân biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để
xác định những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những
công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo
vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu
hiểu biết. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để xây dựng một thị trường
chứng khoán an toàn, công khai và có hiệu quả.
Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ thông thường chịu sự điều
chỉnh của Luật Công ty. Chứng khoán phát hành dưới hình thức này
53
không phải là đối tượng được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng
khoán sơ cấp.

4.1.3 Bảo lãnh phát hành chứng khoán
1. Khái niệm về Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát
hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc
phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn
đầu sau khi phát hành. Trên thế giới, các ngân hàng đầu tư thường là
những tổ chức đứng ra làm bảo lãnh phát hành.
Tổ chức bảo lãnh là người chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán
chứng khoán của một tổ chức phát hành nhằm thực hiện việc phân phối
chứng khoán để hưởng hoa hồng.

2. Các phương thức bảo lãnh phát hành

 Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo
đó tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát
hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán hay không. Trong
hình thức bảo lãnh tổ hợp theo "cam kết chắc chắn", một nhóm các
tổ chức bảo lãnh hình thành một tổ hợp để mua chứng khoán của tổ
chức phát hành với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng
(POP) và bán lại các chứng khoán đó ra công chúng theo giá POP.
Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của các tổ chức bảo lãnh và
giá chào bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu.

 Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: đây là phương thức thường
được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ
phiếu thường ở các nước phát triển. Trong trường hợp đó, công ty
54
cần phải bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, và như vậy,
công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ trước khi
chào bán ra công chúng bên ngoài. Dĩ nhiên, sẽ có một số cổ đông
không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty. Do vậy, công ty cần có
một tổ chức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng mua những quyền mua
không được thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu để phân phối
ra ngoài công chúng. Có thể nói, bảo lãnh theo phương thức dự
phòng là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số chứng khoán
còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra
công chúng. Tại các nước đang phát triển, khi các tổ chức bảo lãnh
còn non trẻ và chưa có tiềm lực lớn thì phương thức bảo lãnh phát
hành dự phòng lại là phương thức bảo lãnh thông dụng nhất.

 Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo
đó tổ chức bảo lãnh tổ chức bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ
chức phát hành. Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số
chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra
thị trường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát
hành phần còn lại.

 Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: trong phương
thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số
lượng chứng khoán nhất định, nếu không phân phối được hết sẽ huỷ
toàn bộ đợt phát hành.

 Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa: là phương thức trung
gian giữa phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương
thức bảo lãnh bán tất cả hoặc không. Theo phương thức này, tổ chức
phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng
55
khoán nhất định (mức sàn). Vượt trên mức ấy, tổ chức bảo lãnh được
tự do chào bán chứng khoán đến mức tối đa quy định (mức trần).
Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì
toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ.

4.2 Niêm yết chứng khoán
4.2.1 Khái niệm
Niêm yết chứng khoán là thủ tục cho phép một chứng khoán nhất
định được phép giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK). Cụ
thể, đây là quá trình mà SGDCK chấp nhận cho công ty phát hành có
chứng khoán được phép niêm yết và giao dịch trên SGDCK tập trung nếu
công ty đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện (tiêu chuẩn) về định lượng cũng
như định tính mà SGDCK đề ra.

4.2.2 Quy trình niêm yết chứng khoán
Bước 1: Nộp hồ sơ đăng ký niêm yết lên SGDCK
Tổ chức đăng ký niêm yết chứng khoán phải nộp hồ sơ đăng ký niêm yết
cho SGDCK hoặc. Hồ sơ đăng ký niêm yết chứng khoán thường bao
gồm:
- Giấy đăng ký niêm yết chứng khoán theo mẫu quy định của Sở
giao dịch;
- Quyết định thông qua việc niêm yết chứng khoán của cấp có
thẩm quyền cao nhất của công ty (đại hội cổ đông, hội đồng
quản trị, hội đồng thành viên…) tùy theo loại hình công ty và
loại chứng khoán niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Sổ đăng ký chủ sở hữu chứng khoán của tổ chức đăng ký niêm
yết được lập trong một thời hạn nhất định theo qui định trước
thời điểm nộp hồ sơ đăng ký niêm yết;
56
- Bản cáo bạch của tổ chức niêm yết theo mẫu quy định và phải
đáp ứng các yêu cầu: Có đầy đủ các thông tin cần thiết, trung
thực, rõ ràng nhằm giúp cho người đầu tư và công ty chứng
khoán có thể đánh giá đúng về tình hình tài chính, tình hình
hoạt động kinh doanh và triển vọng của tổ chức xin niêm yết;
Các số liệu tài chính trong Bản cáo bạch phải phù hợp với các
số liệu của Báo cáo tài chính đã được kiểm toán trong hồ sơ xin
phép niêm yết; Có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng quản trị,
Trưởng Ban Kiểm soát, Giám đốc (Tổng giám đốc), Kế toán
trưởng của tổ chức xin niêm yết. Trường hợp đại diện ký thay
cần có giấy uỷ quyền.
- Đối với việc niêm yết cổ phiếu của công ty cổ phần thì cần phải
có cam kết của cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban
Kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc
Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng nắm giữ một tỷ lệ do
mình sở hữu trong thời gian theo qui định kể từ ngày niêm yết.
- Hợp đồng tư vấn niêm yết (nếu có);
- Giấy chứng nhận của tổ chức lưu ký chứng khoán về việc chứng
của tổ chức đăng ký niêm yết đã đăng ký lưu ký tập trung.

Tùy theo tính chất của từng loại chứng khoán và quy định của từng Sở
giao dịch mà hồ sơ đăng ký giao dịch có thể nhiều hoặc ít hơn các tài liệu
trên.

Bước 2: SGDCK tiến hành thẩm định sơ bộ hồ sơ:
Đây là bước kiểm tra ban đầu không dựa trên thực tế mà dựa trên cơ sở
các tài liệu trong hồ sơ đăng ký niêm yết do tổ chức đăng ký niêm yết
cung cấp. Mục đích của thẩm định sơ bộ là nhằm rút bớt thời gian thẩm
định chính thức. Cho dù việc thẩm định này không được thực hiện một
57
cách chính thức, nhưng nó có tác dụng quan trọng trong việc đưa ra quyết
định cuối cùng việc chấp thuận hay từ chối việc niêm yết. Hầu hết các tổ
chức đăng ký niêm yết không đáp ứng được các điều kiện do SGDCK đặt
ra thì đều bị loại ngay khi thẩm định sơ bộ trước khi nộp đơn xin niêm yết
chính thức. Khi thẩm định sơ bộ, sở giao dịch thường chú trọng đến các
vấn đề sau:

- Các điều khoản thành lập công ty, công ty con và các chi nhánh
(nếu có). Tổ chức nộ bộ, chi tiết nhân sự về hội đồng quản trị,
ban giám đốc, kiểm soát và lực lượng lao động; Việc nắm giữ
chứng khoán, tham gia chia lợi nhuận, quyền lợi của hội đồng
quản trị, ban giám đốc và của các cổ đông chính trong bất cứ
hoạt động kinh doanh nào liên quan đến công ty;
- Các vấn đề về nợ (phải thu, phải trả), việc kiện tụng chưa hoàn
thành và ảnh hưởng của nó tới công ty (nếu có);
- Khả năng sản xuất kinh doanh, đầu tư của công ty và các tác
động của chính sách thu nhập, phân phối thu nhập trong tương
lai;
- Thường xuyên tổ chức công bố thông tin về mọi mặt hoạt động
của công ty đặc biệt là các thông tin về tài chính như kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lời, cơ cấu vốn,
cơ cấu nắm giữ khối lượng chứng khoán trong những năm qua,
mức độ thanh khoản của chứng khoán;

Tiến trình thẩm định sơ bộ hồ sơ của SGDCK gồm các bước sau :
+ Thứ nhất : SGDCK kiểm tra các tài liệu do công ty xin niêm yết
nộp;
+ Thứ hai: SGDCK đặt các câu hỏi cho công ty xin niêm yết về các
tài liệu đã nộp;
58
+ Thứ ba: Công ty xin niêm yết trả lời câu hỏi của SGDCK về các
thủ tục từ bước 1 đến bước 3 và lặp đi lặp lại cho đến khi các chi
tiết được sáng tỏ hoàn toàn;
+ Thứ tư: SGDCK tìm hiểu thêm về công ty xin niêm yết và có thể
đến công ty để kiểm tra các tài liệu và thu thập thêm các thông tin
cần thiết cho việc thẩm định niêm yết chính thức;
+ Thứ năm: Nhân viên SGDCK thảo luận về kết quả của việc thẩm
tra trong đó có các kết quả khi thực hiện tìm hiểu công ty;
+ Thứ sáu: SGDCK đưa ra quyết định cuối cùng và thông báo quyết
định này cho công ty niêm yết.


Bước 3: Nộp đơn xin phép niêm yết chính thức lên SGDCK:
Sau khi nhận được thông báo kết quả thẩm định sơ bộ hồ sơ xin niêm yết
của SGDCK với quyết định chấp thuận hồ sơ, công ty đăng ký niêm yết
phải nộp đơn kèm hồ sơ xin niêm yết chính thức lên SGDCK. Ngoài các
tài liệu trong hồ sơ thẩm định sơ bộ trước đây, hồ sơ xin niêm yết chính
thức cần có thêm các tài liệu sau:
¬ Đơn xin niêm yết theo mẫu quy định của sở giao dịch trong đó nêu
rõ lý do xin niêm yết;
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp;
¬ Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty đã được phê chuẩn;
¬ Mẫu chứng chỉ chứng khoán niêm yết, mệnh giá, các đặc quyền và
đặc ân, số lượng mỗi loại chứng khoán cần được niêm yết;
¬ Một số tài liệu khác theo yêu cầu cụ thể của từng SGDCK.

Cùng với việc nộp đơn xin phép niêm yết chính thức, công ty đăng ký
niêm yết sẽ ký hợp đồng niêm yếtvới SGDCK trong đó quy định các
59
nghĩa vụ của công ty niêm yết. Mỗi sở giao dịch đều có một mẫu hợp
đồng niêm yết riêng nhưng tựu trung đều có những nội dung sau:
- Đảm bảo việc công bố thông tin theo định kỳ;
- Đảm bảo việc công bố các bản báo cáo tài chính theo chuẩn mực và
nguyên tắc kế toán quốc tế một cách thường xuyên và định kỳ;
- Cung cấp cho SGDCK thông tin theo định kỳ nhằm giúp họ thực
hiện tốt chức năng duy trì một thị trường có trật tự;
- Ngăn chặn công ty thực hiện kinh doanh thiếu lành mạnh.

Bước 4: SGDCK tiến hành kiểm tra niêm yết:
Khi nhận được đơn xin niêm yết và ký hợp đồng niêm yết với công ty
đăng ký niêm yết, SGDCK tiến hành kiểm tra tính pháp lý, tính chính xác
của thông tin và kiểm tra, đối chiếu với các điều kiện về niêm yết chứng
khoán trên SGDCK trên cơ sở các tài liệu báo cáo và đánh giá, so sánh
với thực tế. Các nội dung trọng tâm mà SGDCK chú ý kiểm tra gồm:
 Khả năng sinh lợi và ổn định của công ty;
 Tổ chức quản lý và hoạt động của công ty;
 Lợi ích của công chúng và việc đảm bảo quyền lợi của công ty;

Bước 5: SGDCK phê chuẩn niêm yết:
Khi xét thấy công ty đăng ký niêm yết đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện về
niêm yết chứng khoán, Hội đồng quản trị SGDCK sẽ phê chuẩn cho
chứng khoán đó được niêm yết để chính thức giao dịch trên SGDCK.

Bước 6: Khai trương niêm yết:
Sau khi được phê chuẩn niêm yết, SGDCK sẽ quy định cụ thể thời gian sẽ
niêm yết và mời chủ tịch hội đồng quản trị, hội đồng thành viên và tổng
giám đốc, giám đốc điều hành của công ty niêm yết để định ngày giao
dịch đầu tiên trên SGDCK đối với chứng khoán đã được phê chuẩn cho
60
phép niêm yết. Đây chính là việc giúp lãnh đạo công ty niêm yết hiện
diện trước công chúng và nhận trách nhiệm pháp lý của công ty đã được
niêm yết.

4.3 Giao dịch chứng khoán
Một chu trình giao dịch chứng khoán trải qua nhiều thủ tục: lưu ký chứng
khoán, đặt lệnh, khớp lệnh, bù trừ chứng khoán và cuối cùng là thanh
toán chứng khoán

4.3.1. Lưu ký chứng khoán (deposit)
Lưu ký chứng khoán là một trong những điều kiện cần thiết để thực hiện
giao dịch trên thị trường chứng khoán. Lưu ký là việc gửi chứng chỉ
chứng khoán như tờ cổ phiếu, trái phiếu, hoặc các loại giấy tờ hợp pháp
chứng minh quyền sở hữu chứng khoán vào hệ thống lưu ký. Hệ thống
lưu ký chứng khoán bao gồm Trung tâm lưu ký và các thành viên lưu ký.
Chứng chỉ chứng khoán của nhà đầu tư sẽ được cất giữ an toàn tại Trung
tâm lưu ký. Chứng khoán đã được lưu ký sẽ được ghi nhận vào tài khoản
lưu ký chứng khoán đứng tên nhà đầu tư.
Khi chứng khoán được giao dịch, tài khoản của nhà đầu tư sẽ được ghi
tăng hoặc giảm mà không cần phải trao tay tờ chứng chỉ chứng khoán.
Lưu ký chứng khoán là bắt buộc trước khi muốn chứng khoán được giao
dịch qua sàn giao dịch của Trung tâm giao dịch chứng khoán. Trung tâm
giao dịch chứng khoán hiện nay đóng vai trò là Trung tâm lưu ký. Việc
lưu ký chứng khoán chỉ được thực hiện tại các thành viên lưu ký của
Trung tâm giao dịch chứng khoán. Các thành viên lưu ký bao gồm các
công ty chứng khoán và các ngân hàng thương mại đã được Uỷ Ban
Chứng Khoán Nhà Nước cấp phép hoạt động lưu ký và đã đăng ký làm
thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán. Tính đến đầu
năm 2007 Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh có
61
14 thành viên lưu ký, trong đó 11 thành viên lưu ký là các công ty chứng
khoán và 3 thành viên lưu ký là các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

Trước đây nhà đầu tư trong nước chỉ được lưu ký chứng khoán tại thành
viên lưu ký trong nước - là các công ty chứng khoán hoặc các ngân hàng
thương mại trong nước, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được lưu ký tại thành
viên lưu ký nước ngoài - là các công ty chứng khoán liên doanh với nước
ngoài hoặc các ngân hàng thương mại liên doanh với nước ngoài hoặc các
chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Tuy nhiên, quy định này đã được thay đổi, theo Quyết định số
51/2003/QĐ-BTC ngày 15/04/2003 của Bộ Tài Chính về việc sửa đổi, bổ
sung một số điều của Quy chế lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng
khoán, nhà đầu tư trong và ngoài có thể mở tài khoản lưu ký chứng khoán
ở bất kỳ thành viên lưu ký nào. Các chứng khoán sau khi được lưu ký tại
thành viên lưu ký sẽ được thành viên lưu ký tái lưu ký tại Trung tâm giao
dịch chứng khoán. Sau khi thành viên hoàn tất việc tái lưu ký tại Trung
tâm giao dịch chứng khoán thì chứng khoán đó mới được phép giao dịch.

Theo quy định hiện hành, mỗi nhà đầu tư chỉ được mở một tài khoản lưu
ký tại một thành viên lưu ký. Do vậy nhà đầu tư cần tìm hiểu trước để lựa
chọn một thành viên lưu ký thích hợp cho mình. Trong trường hợp muốn
đổi sang một thành viên lưu ký khác, nhà đầu tư sẽ mở tài khoản lưu ký
mới tại thành viên lưu ký mới, đồng thời phải làm các thủ tục đóng tài
khoản lưu ký tại thành viên lưu ký cũ và yêu cầu thành viên lưu ký này
chuyển số dư chứng khoán sang tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký
mới.

Khi mở tài khoản lưu ký, nhà đầu tư nên cung cấp địa chỉ liên lạc rõ ràng,
chính xác và đầy đủ cho thành viên lưu ký. Điều này rất quan trọng vì nhà
62
đầu tư có thể gặp phải những bất tiện và thậm chí thiệt hại sau này. Chẳng
hạn, khi địa chỉ trên các loại giấy tờ tùy thân như chứng minh nhân dân
được sử dụng để làm các thủ tục mở tài khoản lưu ký, trong khi địa chỉ cư
trú hiện tại khác với địa chỉ trên chứng minh nhân dân. Các thư từ liên lạc
của tổ chức phát hành, Trung tâm giao dịch chứng khoán và thành viên
lưu ký trong thời gian thực hiện quyền sẽ không đến đúng nơi nhà đầu tư
ở. Việc này có thể đưa đến vô số bất tiện trong quá trình xử lý quyền từ
thành viên lưu ký, Trung tâm giao dịch chứng khoán cho đến tổ chức phát
hành như chậm trễ, chỉnh sửa hồ sơ thực hiện quyền, hoặc thậm chí đôi
khi nhà đầu tư bị từ chối phân bổ quyền.

Người đứng tên lưu ký chứng khoán phải chính là chủ sở hữu chứng
khoán, kể cả cổ phiếu vô danh. Số seri của tờ chứng chỉ chứng khoán
cũng phải đúng là số seri của chủ sở hữu đã đăng ký quyền sở hữu tại tổ
chức phát hành. Cổ phiếu của cổ đông sáng lập vẫn còn trong thời gian
nắm giữ theo quy định của pháp luật, của cổ đông mua chịu chưa thanh
toán hết tiền mua cổ phiếu vẫn được lưu ký nhưng không được phép giao
dịch. Các cổ phiếu này chỉ được phép giao dịch khi các điều kiện hạn chế
đã được bãi bỏ và phải có xác nhận từ tổ chức phát hành. Các chủ sở hữu
cổ phiếu theo hình thức ghi sổ muốn lưu ký vẫn tiến hành các thủ tục lưu
ký bình thường tại thành viên lưu ký. Dĩ nhiên trong trường hợp này
không có việc chuyển giao chứng chỉ vật chất.

Thành viên lưu ký sẽ gửi tên chủ sở hữu đến tổ chức phát hành. Sau khi
kiểm tra, tổ chức phát hành sẽ gửi tên chủ sở hữu đến Trung tâm giao
dịch chứng khoán để thực hiện việc lưu ký. Lưu ký theo hình thức ghi sổ
là xu hướng chủ yếu hiện nay vì những ưu điểm hơn hẳn lưu ký chứng
chỉ vật chất, là không phải qua kiểm đếm, kiểm tra tính thật giả, và tốn
kém cho công tác bảo quản. Trung tâm giao dịch chứng khoán là người
63
được ủy quyền thay mặt người đồng sở hữu chứng khoán lưu ký nhận các
quyền được hưởng từ tổ chức phát hành như cổ tức, lãi trái phiếu, cổ
phiếu thưởng

4.3.2. Lệnh và phương thức khớp lệnh
1. Các loại lệnh trên thị trường chứng khoán
Lệnh thị trường (Market Order)
Lệnh thị trường là lệnh mua hay bán một loại cổ phiếu ở mức giá thị
trường, nếu bạn không chỉ thị một cách rõ ràng thì người môi giới của
bạn sẽ tự động thực hiện lệnh của bạn như một lệnh thị trường. Ưu điểm
của lệnh thị trường là chừng nào mà có người sẵn lòng mua hoặc bán thì
bạn gần như có thể chắc chắn là chỉ thị của bạn sẽ được thực hiện.
Tùy thuộc vào số hoa hồng mà bạn phải trả cho công ty môi giới hoặc
người môi giới chứng khoán mà lệnh thị trường có thể ít tốn kém hơn một
lệnh giới hạn (Limit order). Tuy nhiên nhược điểm của loại lệnh này là
mức giá khi bạn chỉ thị thực hiện lệnh không phải lúc nào cũng trùng
khớp với mức giá vào thời điểm người môi giới thông báo cho bạn. Điều
này đặc biệt đúng trong điều kiện thị trường và mức giá thay đổi nhanh
chóng như hiện nay. Khi bạn chỉ thị thực hiện một lệnh thị trường, đặc
biệt là với một số lượng cổ phiếu lớn, thì khả năng số lượng cổ phiếu này
được thực hiện ở các mức giá khác nhau lại càng cao

Lệnh giới hạn (limit Order)
Lệnh giới hạn là việc bạn chỉ thị cho người mội giới của mình mua một
chứng khoán ở mức giá thấp hơn một mức giá cụ thể, còn gọi là mức giá
giới hạn (limit price), hoặc là bán loại chứng khoán này ở mức giá cao
hơn hoặc bằng với mức giá giới hạn. Để tránh phải mua hoăc bán một
loại cổ phiếu ở mức giá cao hơn hoặc thấp hơn mức giá mà bạn mong
muốn, bạn nên đưa ra “lệnh giới hạn” hơn là “lệnh thị trường”(market
64
order) vì khi bạn đặt lệnh thị trường thì bạn không thể kiểm soát được
mức giá mà tại đó lệnh của bạn được thực hiện.
Ví dụ: nếu bạn muốn mua một loại cổ phiếu IPO thuộc dạng đang “hot”
trên thị trường. Cổ phiếu này được chào bán ở thị trường sơ cấp với mức
giá $9. Nếu bạn không muốn mua cổ phiếu này với mức giá cao hơn $20/
cổ phiếu, khi đó bạn nên chỉ thị cho người môi giới của mình bằng một
lệnh giới hạn.

Nếu đưa ra một lệnh thị trường, có thể mức giá lúc bạn đặt lệnh và lúc
lệnh của bạn được khớp đã chênh lệch nhau rất nhiều, ví dụ bạn đặt lệnh
lúc giá mới $18/ cổ phiếu và khi lệnh của bạn được khớp thì giá có thể đã
bị đẩy lên tới $90/ cổ phiếu. Và như vậy bạn sẽ phải hứng chịu một khoản
lỗ lớn nếu ngày sau hoặc tuần sau đó giá cổ phiếu sụt xuống. Nếu bạn đua
ra lệnh giới hạn thì người môi giới của bạn sẽ chỉ thực hiện lệnh nếu mức
giá thị trường còn ở dưới hoặc bằng với mức giá giới hạn là $20/ cổ
phiếu.

Tuy nhiên cũng cần nhớ rằng lệnh giới hạn của bạn có thể sẽ chẳng bao
giờ thực hiện được bởi vì mức giá thị trường có thể nhanh chóng vượt
mức giá giới hạn mà bạn đưa ra trước khi lệnh của bạn được thực hiện.
Nhưng đưa ra lệnh giới hạn cũng có nghĩa là bạn có thể tự bảo vệ mình
khỏi việc phải mua một loại cổ phiếu ở mức giá quá cao. Một vài công ty
môi giới có thể thu phí thực hiện lệnh giới hạn cao hơn lệnh thị trường.

Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh (At-the-open Order -ATO):
Trước khi hiểu thế nào là một lệnh ATO thì chúng ta hãy xem tổng quát
các công cụ lệnh trên thị trường chứng khoán. Khi tham gia vào thị
trường chứng khoán động tác đầu tiên của người chơi là đặt lệnh và có 2
65
công cụ lệnh chủ yếu cho người chơi lựa chọn là: lệnh giao dịch tại mức
giá khớp lệnh (ATO) và lệnh giới hạn (Limit Order- LO).

Lệnh ATO là lệnh mua hoặc bán chứng khoán mà người chơi tự mình
hoặc thông qua nhà môi giới không đưa ra giá xác định trước, do vậy lệnh
sẽ được khớp theo mức giá thị trường tại thời điểm khớp lệnh, trong
khi đó lệnh LO là lệnh mà người chơi đưa ra có kèm theo yêu cầu khớp ở
mức giá cụ thể hoặc tốt hơn. Mỗi công cụ lệnh đều có ưu điểm và các rủi
ro riêng.

Như đã nêu ở trên lệnh ATO gắn liền với giá thị trường, vừa linh hoạt
nhưng cũng vừa rủi ro trước sự biến động của thị trường. Những đặc
điểm của lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh:

 Khi đặt lệnh tại mức giá khớp lệnh, nhà đầu tư không cần phải ghi
mức giá cụ thể nhưng sử dụng chữ viết tắt ATO thay cho việc ghi
giá. Khi đại diện giao dịch nhập lệnh giao dịch tại mức giá khớp
lệnh vào hệ thống giao dịch thì tại vùng giá trong chức năng nhập
lệnh, nhập chữ ATO.
 Trong thời gian nhận lệnh, thông tin thị trường được hiện thị trên
màn hình nhập lệnh của đại diện giao dịch và trên bảng điện tử của
các công ty chứng khoán và khối lượng đặt lệnh tối đa đối với lệnh
giao dịch tại mức giá khớp lệnh là 9.900 cổ phiếu.
 Lệnh ATO được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên sau lệnh giới hạn: Khi
hệ thống tiến hành so khớp các lệnh, tại mức giá thực hiện, lệnh
giao dịch tại mức giá khớp lệnh có thứ tự ưu tiên thực hiện sau các
lệnh giới hạn có mức giá đặt lệnh tốt hơn hoặc bằng với giá khớp
lệnh.
66
 Trường hợp có nhiều lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh ATO
đặt mua hoặc đặt bán, các lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh sẽ
cạnh tranh thực hiện lệnh với nhau theo thứ tự thời gian đặt lệnh,
lệnh của ai được nhập vào hệ thống trước thì sẽ được ưu tiên trước.
 Khi hệ thống tính toán khối lượng và giá khớp lệnh dự kiến, lệnh
giao dịch tại mức giá khớp lệnh ATO cùng được so khớp. Nói cách
khác, lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh chỉ có giá trị trong một
đợt khớp lệnh và không có giá trị trong đợt khớp lệnh tiếp theo

Hệ thống giao dịch chứng khoán sẽ khớp lệnh theo nguyên tắc:

Trình tự xác định giá và khối lượng giao dịch của thị trường trong trường
hợp có lệnh ATO như sau:
- Cộng tích luỹ khối lượng đặt mua của lệnh giới hạn từ mức giá cao
đến mức giá thấp
- Cộng tích luỹ khối lượng chào bán của lệnh giới hạn từ mức giá
thấp đến mức giá cao
- Tại các mức khối lượng tích luỹ, cộng thêm khối lượng đặt của
lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh của bên mua hoặc bên bán
- So với khối lượng đặt lệnh của hai bên để xác định khối lượng thực
hiện lớn nhất có thể có
- So sánh mức giá tại mức giá khối lượng thực hiện lớn nhất với giá
đóng cửa để xác định mức giá giao dịch.

Thứ tự ưu tiên thực hiện lệnh: Tại mức khối lượng so khớp lớn nhất, giá
giao dịch sẽ được xác định. Các lệnh được khớp sẽ được phân bố như
sau:

67
- Các lệnh giới hạn đặt mua với giá cao hơn giá khớp lệnh và các
lệnh giới hạn đặt bán với giá thấp hơn với giá khớp lệnh được ưu
tiên phân bổ trước.
- Đối với các lệnh giới hạn đặt mua và lệnh giới hạn đặt bán với giá
bằng giá khớp lệnh sẽ được phân bổ trước, sau đó mới phân bổ cho
các lệnh giao dịch với giá khớp lệnh.

Với lệnh ATO nhà đầu tư sẽ phải chấp nhận mua chứng khoán theo giá
thị trường, và như vậy khó tránh được những biến động mạnh của giá cổ
phiếu, ở điểm này lệnh giới hạn có thể hạn chế được rủi ro do cố định
mức giá mua bán trước. Tuy nhiên lệnh ATO cũng có nhiều ưu thế, khi
hệ thống tiến hành so khớp lệnh, tại mức giá thực hiện sẽ còn dư một số
lệnh đặt mua và bán không được khớp lệnh.

Với việc dùng lệnh ATO một số lệnh sẽ có thể được thực hiện mua bán
tùy theo mong muốn của nhà đầu tư. Công cụ giao dịch này có thể sẽ làm
cho khối lượng giao dịch của thị trường tăng bằng cách "vét" thêm một số
khối lượng nữa sau khi khớp lệnh. Lệnh này có tác dụng với các cổ phiếu
có chênh lệnh cung và cầu lớn. Đưa công cụ này ra cho các nhà đầu tư
lựa chọn sử dụng, các nhà quản lý hy vọng sẽ kích hoạt được thị trường,
đây cũng là một trong các bước đi để tiến tới thực hiện khớp lệnh liên tục
khi thị trường đã có quy mô đủ lớn với số cổ phiếu và khối lượng niêm
yết lớn

Lệnh giao dịch tại mức giá đóng cửa, lệnh ATC (At-the-close order)
Một lệnh chỉ ra giao dịch được thực hiện tại phiên đóng cửa của thị
trường, hoặc gần giá đóng cửa nhất có thể. Về bản chất, đây là một lệnh
thị trường không được nhập vào cho đến phút cuối của giao dịch. Với loại
68
giao dịch này, bạn không cần phải bảo đảm mức giá đóng cửa nhưng sẽ là
một thứ tương tự như vậy.

Lệnh ATC (At The Close - giao dịch tại giá đóng cửa) là loại lệnh mới
được áp dụng trên thị trường chứng khoán từ khi tiến hành khớp lệnh liên
tục. Về bản chất, lệnh này cũng tương tự lệnh ATO (at-the-open order) -
giao dịch tại giá mở cửa - và chỉ khác ở chỗ được sử dụng duy nhất trong
đợt khớp lệnh cuối cùng của phiên giao dịch.

Lệnh ATC được ưu tiên giao dịch trước lệnh giới hạn và không cần ghi
mức giá cụ thể. Do đó, ATC đặc biệt hữu hiệu nếu nhà đầu tư muốn tranh
bán nhưng điều này cũng tiềm ẩn rủi ro nếu khớp phải giá không tốt (mua
giá cao hoặc bán giá thấp).

Một điểm cần lưu ý, do lệnh ATC không ghi mức giá nên công ty chứng
khoán sẽ sử dụng giá trần để tính phí giao dịch

2. Phương thức khớp lệnh

Trên thị trường chứng khoán, việc khớp lệnh để tìm ra mức giá bán và giá
mua phù hợp cho những nhà đầu tư được thực hiện qua một trong hai
phương thức: khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục.

Phương thức khớp lệnh định kỳ (Call Auction)
Là phương thức giao dịch trong đó giá thực hiện mua và bán được xác
định theo điều kiện cho phép khối lượng giao dịch cao nhất, trên cơ sở
tập hợp tất cả các lệnh mua và lệnh bán trong một khoảng thời gian nhất
định. Tức là, khi xuất hiện yêu cầu của nhà đầu tư đặt ra muốn mua hoặc
bán một loại chứng khoán nào đó (đặt lệnh) thì Trung tâm giao dịch
69
chứng khoán sẽ tiến hành ghép lệnh hay gọi là khớp lệnh, dựa trên tình
hình cung cầu chứng khoán đó để đưa ra một lệnh thị trường - một mức
giá tốt nhất - để các nhà đầu tư mua bán chứng khoán đó, nhằm đạt
được giá trị giao dịch lớn nhất. Và việc khớp lệnh này tất nhiên phải tuân
theo một số nguyên tắc nhất định. Với Call Auction việc khớp lệnh được
thực hiện sau khi đã tập trung tất cả các lệnh mua và bán trong một
thời gian nhất định, ví dụ tại Sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh tiến
hành khớp lệnh 3 phiên/ ngày, vào một thời điểm nhất định, và đều đặn từ
thứ 2 đến thứ 6. Tuy nhiên với cơ chế khớp lệnh định kỳ, nhà đầu tư lại
luôn có xu hướng tranh mua, tranh bán vào gần thời điểm khớp lệnh,
khiến nhiều phiên đại diện giao dịch không thể nhập kịp các lệnh vào hệ
thống, đó là nguyên nhân gây ra hiện tượng ách tắc hay sập sàn.

Phương thức khớp lệnh liên tục (Continuous Auction)
Là phương thức trong đó giao dịch được thực hiện liên tục ngay khi có
các lệnh đối ứng được nhập vào hệ thống. Với phương thức khớp lệnh
liên tục, ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống, sẽ lập tức được so
khớp và hình thành giao dịch, từ đó, giá cả được xác định liên tục chứ
không phải vào một thời điểm nhất định như khớp lệnh định kỳ. Tuy
nhiên muốn áp dụng phương thức khớp lệnh hiện đại này các Trung tâm
giao dịch chứng khoán phải tiến hành nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất,
đặc biệt các chương trình xử lý lệnh và giao dịch cho khách hàng theo
đúng lộ trình mà Trung tâm thông báo. Hơn nữa, nhà đầu tư cần hiểu biết
hơn, nắm vững thông tin hơn khi quyết định đầu tư trên thị trường chứng
khoán, nếu không rủi ro khi đầu tư theo phương thức giao dịch liên tục
cũng cao hơn.

Hiện nay Trung tâm giao dịch Hà Nội áp dụng đồng thời hai phương
thức là giao dịch báo giá và giao dịch thỏa thuận, điều này cho phép
70
khách hàng có thể linh hoạt lựa chọn hình thức giao dịch thích hợp. Giao
dịch thỏa thuận có thể áp dụng trong trường hợp nhà đầu tư đã tìm được
đối tác giao dịch và giao dịch báo giá áp dụng trong trường hợp chưa tìm
được đối tác giao dịch. Đặc biệt báo giá là phương thức giao dịch linh
hoạt và tiên tiến, theo đó các lệnh giao dịch khi đã nhập vào hệ thống sẽ
được khớp lệnh ngay nếu có các lệnh đối ứng trên hệ thống thỏa mãn
được về mức giá giao dịch - Về bản chất đây có thể coi là hình thức giao
dịch khớp lệnh liên tục.

Với phương thức giao dịch khớp lệnh định kỳ, mức giá dự kiến khớp lệnh
sẽ có những thay đổi thường xuyên và chỉ có thể chính thức xác định tại
thời điểm khớp lệnh; như vậy trong trường hợp người đầu tư đặt lệnh
sớm, mức giá đặt giao dịch thường có thể sẽ không phù hợp với mức giá
khớp lệnh, vì thế người đầu tư muốn đặt lệnh sát với thực tế thị trường thì
thường phải theo dõi quá trình giao dịch và đưa ra quyết định cuối cùng
vào sát thời điểm khớp lệnh, điều này đôi khi cũng không hoàn toàn được
như mong muốn do hầu hết người đầu tư đều tập trung đặt lệnh vào sát
giờ khớp lệnh vì thế có thể sẽ dẫn đến nguy cơ dồn toa tắc nghẽn và lệnh
giao dịch của khách hàng có thể không kịp chuyển vào hệ thống. Hơn thế
nữa, người đầu tư sẽ phải dành khá nhiều thời gian để theo dõi sau khi đã
đặt lệnh mới biết được kết quả giao dịch của mình.

Ngược lại, đối với phương thức giao dịch báo giá tại TTGDCK Hà Nội,
trong trường hợp nhà đầu tư theo dõi và quyết định đặt lệnh giao dịch đối
ứng với các lệnh đã có sẵn trên hệ thống, nếu các điều kiện thỏa mãn thì
việc khớp lệnh sẽ được thực hiện ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ
thống, điều này sẽ giảm thiểu tối đa thời gian mà người đầu tư phải theo
dõi đặt lệnh cũng như chờ xác nhận kết quả giao dịch, thời gian dành cho
việc đầu tư chứng khoán của khách hàng được rút ngắn để làm các công
71
việc khác. Chính bởi ưu điểm của phương thức giao dịch báo giá như đã
đề cập ở điểm trên, nhà đầu tư khi tham gia giao dịch có thể lựa chọn thời
điểm đặt lệnh cũng như mức giá đặt mua thích hợp nhất, phù hợp nhất với
nhu cầu đầu tư và tình hình thị trường, đồng thời đảm bảo khả năng giao
dịch được ở mức cao nhất.

4.3.3. Bù trừ chứng khoán và tiền (clearing)

Nếu đăng ký và lưu ký chứng khoán là khâu hỗ trợ trước giao dịch chứng
khoán, thì bù trừ chứng khoán và tiền là khâu hỗ trợ sau giao dịch chứng
khoán.

Sau khi chứng khoán niêm yết đã được đưa vào đăng ký, lưu ký tập trung
tại Trung tâm lưu ký chứng khoán, chúng sẽ được phép giao dịch trên Thị
trường chứng khoán. Tuy nhiên, sau khi giao dịch được thực hiện (đã
được xác nhận), thì các bên tham gia giao dịch cần phải nhận được tài sản
của mình: bên bán nhận được tiền, bên mua nhận được chứng khoán. Bù
trừ chứng khoán và tiền thực hiện việc xử lý thông tin về các giao dịch
chứng khoán, tính toán lại nhằm xác định số tiền và chứng khoán ròng
cuối cùng mà các đối tác tham gia giao dịch phải có nghĩa vụ thanh toán
sau khi giao dịch được thực hiện.

Hoạt động bù trừ trên thị trường chứng khoán về cơ bản cũng tương tự
như hoạt động bù trừ của các ngân hàng thương mại. Kết quả bù trừ tiền
luôn thể hiện nghĩa vụ thanh toán một chiều đối với một thành viên lưu
ký: hoặc được nhận tiền, nếu tổng số tiền phải trả nhỏ hơn tổng số tiền
được nhận; hoặc phải trả tiền nếu tổng số tiền phải trả lớn hơn tổng số
tiền được nhận. Điểm khác nhau so với thanh toán bù trừ của các ngân
hàng là bù trừ cho các giao dịch chứng khoán không chỉ liên quan đến
72
mảng tiền mà còn liên quan đến mảng chứng khoán nữa. Việc bù trừ
chứng khoán cũng mang đặc thù riêng là phải được thực hiện theo từng
loại chứng khoán do không thể bù trừ các loại chứng khoán khác nhau
với nhau. Do đó, đối với cùng một loại chứng khoán nhất định, kết quả bù
trừ chứng khoán cũng sẽ chỉ ra nghĩa vụ thanh toán một chiều của từng
thành viên lưu ký: hoặc phải giao loại chứng khoán đó nếu số lượng
chứng khoán khách hàng đặt mua ít hơn số lượng khách hàng đặt bán,
hoặc được nhận về loại chứng khoán đó nếu số lượng chứng khoán khách
hàng đặt mua nhiều hơn số lượng khách hàng đặt bán.

Trong hoạt động bù trừ, phương thức bù trừ cũng là một vấn đề cần quan
tâm. Phương thức bù trừ cho các giao dịch chứng khoán được quyết định
bởi phương thức giao dịch trên Thị trường chứng khoán. Nếu phương
thức giao dịch là đa phương (nhiều bên mua với nhiều bên bán), điển hình
có thể thấy là đối với các giao dịch khớp lệnh cổ phiếu, thì phương thức
bù trừ chứng khoán và tiền sẽ là bù trừ đa phương. Nếu phương thức giao
dịch là song phương (một bên mua với một bên bán), điển hình có thể
thấy là đối với các giao dịch thỏa thuận, thì phương thức bù trừ cũng sẽ là
bù trừ song phương.
Tuy nhiên để có hệ thống bù trừ chứng khoán và tiền chính xác các Trung
tâm giao dịch chứng khoán phải tin học hóa hoàn toàn các giao dịch
chứng khoán, đó là một trong các biện pháp hiệu quả, khắc phục sự chậm
trễ trong quá trình xử lý các giao dịch bằng giấy còn phổ biến hiện nay.

4.3.4. Nguyên tắc thanh toán chứng khoán DVP (Delivery versus
Payment)

Nếu nghiệp vụ lưu ký là điều kiện trước tiên để tham gia thị trường chứng
khoán thì thanh toán chứng khoán và tiền là dịch vụ hỗ trợ sau của giao
73
dịch chứng khoán, là hoạt động cuối cùng để hoàn tất các giao dịch chứng
khoán, theo đó các bên tham gia giao dịch sẽ thực hiện nghĩa vụ của
mình: bên phải trả chứng khoán thực hiện giao chứng khoán, bên phải trả
tiền thực hiện việc chuyển tiền, lần lượt trên cơ sở kết quả bù trừ chứng
khoán và tiền.

Để giảm rủi ro cho các đối tác tham gia giao dịch, việc thanh toán chứng
khoán và tiền luôn phải đảm bảo nguyên tắc giao chứng khoán đồng thời
với việc thanh toán tiền, hay còn gọi là nguyên tắc DVP (Delivery versus
Payment). Điều này sẽ tránh xảy ra rủi ro cho người giao chứng khoán do
có sự chênh lệch giữa thời gian giao chứng khoán và nhận tiền.

Thời hạn của việc thanh toán được quyết định bởi chu kỳ thanh toán. Tùy
thuộc vào điều kiện của từng nước mà chu kỳ thanh toán áp dụng cụ thể
là: T+1; T+2 hay T+3; tức là cứ đến thời điểm T+1 hoặc T+2 hoặc T+3
thì việc thanh toán chứng khoán và tiền được tiến hành.
Trong đó: T được hiểu là ngày giao dịch (ngày mà giao dịch được thực
hiện)
1; 2; 3 là số ngày giao dịch (không tính ngày nghỉ ngày lễ) tiếp
theo kể từ ngày T

Theo khuyến nghị của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), của Tổ chức
các ủy ban Chứng khoán quốc tế (IOSCO) cũng như của nhóm G30
(nhóm các quốc gia có TTCK phát triển nhất), các nước nên áp dụng chu
kỳ thanh toán tối đa là T+3. Có 2 lí do cho việc lựa chọn chu kỳ
thanh toán T+3:

- Một là, 3 ngày sau ngày giao dịch là một khoảng thời
gian đủ dài để người chơi chứng khoán đặt một số lệnh mua và bán
74
nhất định và được khớp lệnh, để họ thu được hoặc bán đi một khối
lượng giao dịch đủ lớn, tức là 3 ngày là khoảng thời gian hợp lý để
nhìn lại và tổng kết tài khoản chứng khoán của mình.

- Hai là, thị trường chứng khoán luôn biến động hàng ngày hàng giờ,
3 ngày cũng là quãng thời gian không hề ngắn để chứng kiến
những thay đổi mạnh mẽ trên sân chơi chứng khoán.

Trong hoạt động thanh toán chứng khoán và tiền, phương thức thanh toán
cũng là mối quan tâm của các bên tham gia giao dịch. Phương thức thanh
toán được quyết định bởi phương thức bù trừ, do thanh toán luôn được
thực hiện trên cơ sở của kết quả bù trừ. Chính vì vậy, nếu phương thức bù
trừ là đa phương thì phương thức thanh toán cũng là thanh toán đa
phương và tương tự, phương thức bù trừ là song phương thì phương thức
thanh toán cũng sẽ là thanh toán song phương

4.3.5 Giao dịch mua bán chứng khoán

1. Mua chứng khoán của tổ chức phát hành
- Mua trực tiếp tại tổ chức phát hành: Nhà đầu tư phải đăng ký mua và
nộp tiền trực tiếp tại tổ chức phát hành chứng khoán. Hình thức này rất
bất cập, nhất là về mặt địa lý.

- Mua thông qua trung gian: Trung gian ở đây là các nhà đại lý hoặc các
nhà bảo lãnh phát hành, thông thường là các công ty chứng khoán và các
ngân hàng thương mại. Nếu bạn mua chứng khoán của tổ chức phát hành
chưa niêm yết trên Trung tâm GDCK thì việc chuyển nhượng hoặc bán
lại chứng khoán đó cho người khác hiện nay gặp nhiều khó khăn vì không
75
dễ tìm được người mua. Hơn nữa, bên bán phải trực tiếp đến công ty
(hoặc uỷ quyền) để thực hiện chuyển nhượng cho người mua.

2. Mua bán chứng khoán niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán

Chứng khoán niêm yết là chứng khoán có đủ điều kiện và tiêu chuẩn
được đăng ký để mua bán tại TTGDCK, thường là các công ty kinh
doanh có hiệu quả phát hành, tình hình tài chính đã được kiểm toán và
thông tin về doanh nghiệp được công bố công khai cho mọi người biết.

a- Những quy định chung

Mở tài khoản giao dịch tại một trong các công ty chứng khoán.

Việc mở Tài khoản giao dịch là quy định bắt buộc đối với tất cả các tổ
chức và cá nhân muốn tham gia mua bán chứng khoán. Các giấy tờ cần
thiết để mở tài khoản:

 Nếu là khách hàng đầu tư cá nhân: chỉ cần bản sao chứng minh thư
nhân dân và kèm bản gốc để kiểm tra đối chiếu.
 Nếu là nhà đầu tư tổ chức thì cần phải có: bản sao công chứng
quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập doanh nghiệp, cùng
với bản sao công chứng quyết định bổ nhiệm và bản sao chứng
minh thư nhân dân của người tham gia điều hành tài khoản.

Để đảm bảo giao dịch an toàn, theo quy định hiện nay phải ký quỹ bảo
đảm và mức ký quỹ phải đảm bảo 100%. Điều này có nghĩa khi đặt lệnh
giao dịch, nhà đầu tư phải có đủ 100% số dư tiền hoặc chứng khoán trên
tài khoản của mình.
76
Những quy định về giao dịch chứng khoán ở Việt Nam

Thời gian giao dịch: Tất cả các ngày trong tuần từ thứ hai đến thứ sáu, trừ
các ngày nghỉ lễ, Tết và các ngày nghỉ theo quy định của Luật lao động.
 Hiện tại mỗi ngày giao dịch bắt đầu nhận lệnh từ 9 giờ và khớp
lệnh lần đầu vào 9 giờ 20 phút. Từ 9 giờ 20 đến 10 giờ, thị trường
nghỉ giao dịch.
 Từ 10 giờ, thị trường tiếp tục nhận lệnh đợt hai, đến 10 giờ 30
phút, thị trường sẽ khớp lệnh đợt 2.

Đặt lệnh giao dịch: Có thể lựa chọn các hình thức đặt lệnh sau:
 Đến trực tiếp trụ sở của Công ty chứng khoán để đặt lệnh
 Đặt lệnh qua điện thoại
 Đặt lệnh qua mạng Interrnet.

Các quy định trong giao dịch:
 Giao dịch lô chẵn: Mỗi lần mua bán chứng khoán, số lượng chứng
khoán bạn giao dịch phải là bội số của 10 cổ phiếu hoặc 10 trái
phiếu. (10 chứng khoán quy ước là 1 lô). Ví dụ: Bạn có thể đặt mua
là 10, 20,… cổ phiếu, chứ không được đặt mua 5, 15, 17, …. cổ
phiếu.
 Giao dịch lô lớn: Là những giao dịch chứng khoán có khối lượng
bằng hoặc lớn hơn 10.000 cổ phiếu và bằng hoặc lớn hơn 3.000 trái
phiếu.
 Giá tham chiếu: Giá tham chiếu của những chứng khoán đang giao
dịch bình thường là giá khớp lệnh của phiên giao dịch trước đó và
được lấy làm cơ sở cho việc tính giới hạn dao động giá chứng
khoán.
77
 Biên độ dao động giá: Là khoảng dao động giá chứng khoán quy
định trong ngày giao dịch. Biên độ được áp dụng hiện nay là ± 5%
giá tham chiếu đối với cổ phiếu. Trái phiếu không áp dụng biên độ
giao dịch.

b- Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết:

 Bước l: Nhà đầu tư đến mở tài khoản và đặt lệnh mua hay bán
chứng khoán tại một công ty chứng khoán.
 Bước 2: Công ty chuyển lệnh mua hoặc bán chứng khoán cho đại
diện của công ty tại TTGDCK. Người đại diện này sẽ nhập lệnh
vào hệ thống của TTGDCK.
 Bước 3: Trung tâm gian dịch chứng khoán thực hiện ghép lệnh và
thông báo kết quả giao dịch cho công ty chứng khoán.
 Bước 4: Công ty chứng khoán thông báo kết quả giao dịch cho nhà
đầu tư.
 Bước 5: Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua)
hoặc tiền (nếu là người bán) trên tài khoản của mình tại công ty
chứng khoán sau 3 ngày làm việc kể từ ngày mua bán.

c- Thông tin cơ bản trên bảng điện tử về giao dịch chứng khoán
niêm yết

Mầu sắc

o Màu xanh lá cây: Biểu tượng cho sự thay đổi tăng giá
o Màu đỏ: Biểu tượng cho sự thay đổi giảm giá
o Màu vàng: Biểu tượng cho sự đứng giá (không thay đổi)
o Màu tím: Biểu tượng cho các mã chứng khoán tăng kịch trần
78
o Màu xanh lơ: Biểu tượng cho các mã chứng khoán giảm kịch sàn

Các thông tin cơ bản được thể hiện trong bảng điện tử:
 Cột mã chứng khoán: Là mã hiệu (tên viết tắt) của chứng khoán
được đăng ký và niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán
(TTGDCK).
 Cột giá tham chiếu: Là giá đóng cửa của ngày giao dịch trước đó
và là cơ sở để xác định giá trần, giá sàn của ngày giao dịch hiện tại.
 Cột giá trần: Là mức giá cao nhất mà nhà đầu tư có thể đặt lệnh
mua, bán chứng khoán.
- Trên TTGDCK TP HCM: Giá trần = Giá tham chiếu + 5%
*Giá tham chiếu
- Trên TTGDCK Hà Nội: Giá trần = Giá tham chiếu + 10% *
Giá tham chiếu
 Cột giá sàn: Là mức giá thấp nhất mà nhà đầu tư có thể đặt lệnh
mua, bán CK.
- Trên TTGDCK TP HCM: Giá sàn = Giá tham chiếu - 5% *
Giá tham chiếu
- Trên TTGDCK Hà Nội: Giá sàn = Giá tham chiếu - 10% *
Giá tham chiếu
 Cột giá mở cửa: Là mức giá thực hiện đầu tiên trong ngày giao
dịch.
 Cột giá đóng cửa: Là mức giá thực hiện cuối cùng trong ngày giao
dịch.
 Cột giá khớp lệnh: Là mức giá tại đó khối lượng CK được giao
dịch nhiều nhất.
 Cột khối lượng khớp lệnh: Là khối lượng CK được thực hiện tại
mức giá khớp lệnh.
79
 Cột chênh lệch (+/-): Là thay đổi của mức giá hiện tại so với giá
tham chiếu trong ngày giao dịch (= giá hiện tại – giá tham chiếu).
 Cột mua: gồm 6 cột biểu thị cho 3 mức giá đặt mua cao nhất tương
ứng với các khối lượng đặt mua tại các mức giá cao nhất đó. Khi
kết thúc phiên giao dịch Bảng điện tử sẽ hiện thị các thông tin về
khối lượng CK tương ứng với các mức giá chưa được khớp lệnh
(dư mua).
 Cột bán: gồm 6 cột biểu thị cho 3 mức giá đặt bán thấp nhất tương
ứng với các khối lượng đặt bán tại các mức giá thấp nhất đó. Khi
kết thúc phiên giao dịch Bảng điện tử sẽ hiện thị các thông tin về
khối lượng CK tương ứng với các mức giá chưa được khớp lệnh
(dư bán)

























80
BÀI 5
ĐẦU TƯ VÀ PHÂN TÍCH CHỨNG KHOÁN

5.1 Đầu tư chứng khoán
5.1.1 Khái niệm
Nghĩa của từ “đầu tư” ( Investment) rất rộng và được giải
thích ở nhiều góc độ khác nhau trên phương diện đầu tư trực tiếp và đầu
tư gián tiếp. Tuy nhiên, bản chất của đầu tư đều được hiểu chung như sau:
“ đầu tư là chỉ việc sử dụng vốn để tạo ra thu nhập hay lợi nhuận bằng
cách hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp khai thác và sử dụng nguồn vốn
đầu tư đó”
Đầu tư CK là chỉ việc bỏ vốn tiền tệ ra mua các CK để kiếm lời
Đầu tư nói chung và đầu tư CK nói riêng là một sự hy sinh cho nhu cầu
tiêu dùng hiện taị để đổi lấy một sự tiêu dùng trong tương lai. Vì thế vấn
đề an toàn vốn trong đầu tư CK là cần thiết và cũng là một mục tiêu quan
trọng của đầu tư CK
Mục tiêu của đầu tư CK là:
- Kiếm lời từ thu nhập cổ tức, trái tức và từ thu nhập do chênh lệch
giá trong KD CK đem lại
- An toàn vốn đầu tư
Yếu tố cơ bản tác động đến mục tiêu đầu tư
+ Đầu tư CK mang tính dài hạn nên chịu tác động nhiều của yếu tố
rủi ro trong đầu tư : Mục tiêu đầu tư có đạt được như ý muốn hay không
hoàn toàn phụ thuộc vào các rủi ro trong đầu tư
+ Đối với các chủ đầu tư, rủi ro là nhân tố khách quan vượt ra
ngoài tầm tay quản lý và khống chế của họ.Tác động của rủi ro như thế
nào đến mục tiêu đầu tư hoàn toàn phụ thuộc vào môi trường đầu tư. Do
81
đó, đầu tư CK cần phải hành động có cân nhắc, có phân tích khoa học đến
môi trường đầu tư, đến rủi ro có thể xảy ra trong thời gian đầu tư

5.1.2 rủi ro trong đầu tư chứng khoán

5.1.2.1 Các loại rủi ro trong đầu tư CK
a) Rủi ro tài chính :
Là rủi ro về khả năng thanh toán trái tức và cổ tức và hoàn vốn cho trái
phiếu đầy đủ và đúng hạn hay không. Đây là một rủi ro tiềm tàng trong
KD của DN. Rủi ro tài chính có phát sinh hay không phụ thuộc vào kết
quả KD, tình trạng nợ, trình độ quản lý của DN…
b) Rủi ro thị trường:
Là những rủi ro do các yếu tố thị trường đem lại. Có thể bao gồm các yếu
tố :
Các yếu tố thị trường gây thiệt hại cho quá trình SXKD của DN:
Tình hình cung cầu hàng hoá hoặc dịch vụ kd của DN trên thị trường
diễn ra bất lợi cho DN, Môi trường KD của DN xấu đi do sự thay đổi
bất lợi cho DN trong các môi trường pháp lý, tài chính, nguồn nhân lực,
xã hội…
Các yếu tố thị trường gây Rủi ro thị trường trong KDCK: sự khủng
hoảng thị trường CK quốc tế…
c) Rủi ro sức mua tiền tệ
Là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư : Giá cả CK được thể hiện
bằng tiền, nên tiền tệ biến động sẽ ảnh hưởng đến giá cả CK. Tiền tệ biến
động có thể do:
Lạm phát: sức mua tiền tệ giảm xuống, giá cả tăng, thu nhập thực
tế của CK giảm, giá trị hoàn vốn của trái phiếu cũng giảm
82
Giảm phát: sức mua tiền tệ tăng, doanh thu xuất khẩu của DN
giảm, ảnh hưởng lợi nhuận và dẫn đến giảm sút cổ tức chia cho cổ đông
đối với những DN có XK
Cải cách chế độ tiền tệ: Đổi tiền, ảnh hưởng đến mọi hoạt động đầu
tư, trong đó có cả đầu tư CK

d) Rủi ro lãi suất
Lãi suất đi vay ( Lãi suất tiết kiệm hay LS tiền gửi ) của ngân hàng
thương mại và lãi suất tái chiết khấu của NH trung ương biến động sẽ ảnh
hưởng đến giá cả CK trên thị trường. Lãi suất quan hệ tỷ lệ nghịch với giá
CK
Nếu lãi suất thị trường tăng thì giá trị và thị giá của khoản đầu tư sẽ giảm
và ngược lại. Rủi ro lãI suất ảnh hưởng đến giá tráI phiếu, cổ phiếu, bất
động sản, vàng và các đầu tưu khác

e) Rủi ro phá sản
Là rủi ro xảy ra đối với các nhà đầu tư CP, TP vào các DN khi DN
mất
khả năng chi trả đe doạ phá sản hoặc khi DN tuyên bố phá sản:
Nếu gía trị TS của DN< các khoản nợ: Giá trị thực của DN bằng âm
hoặc bằng không, các nhà đầu tư phảI đối mặt với rủi ro phá sản của
DN, thị giá của CP chắc chắn sẽ suy giảm, them chí bằng 0
Nếu DN tuyên bố phá sản: TS của DN bị thanh lý, số tiền thu được có
đủ để chi trả các khoản nợ hay không? CP phiếu liệu có được thanh
toán hay không?. Đây là ruỉ ro mà nhà đầu tưu pháI gánh chịu

f) Rủi ro về chính trị và xã hội
Là rủi ro do chiến tranh, đình công, đảo chính, thiên tai…đã làm cho
SXKD bị ảnh hưởng và làm cho thị trường CK ngưng trệ
83
5.1.2.2 Đo lường rủi ro
- Lợi nhuận đầu tư tăng lên hay không, nhiều hay ít phụ thuộc vào mức
độ ảnh hưởng của rủi ro. Vì vậy, trong từng trường hợp đầu tư cụ thể cần
phải đo lường mức độ rủi ro để lựa chọn phương án đầu tư .
- Cách đo lường rủi ro: Có thể bằng cách vẽ đồ thị phân phối sắc xuất
hoặc lượng hoá rủi ro bằng cách tính độ lệch chuẩn: Đây là là cách thông
dụng dùng để xác định rủi ro theo cách đánh giá sự phân tán của các mẫu
quan sát quanh giá trị trung bình

a) Đường phân phối xác xuất
- Tính cổ tức bình quân mong đợi
Theo công thức tính gia quyền:

n
i i
i=1
n
i
i=1
P ×D
D=
P
¿
¿


trong đó: D : Cổ tức bình quân gia quyền
Pi : Xác xuất tình trạng kinh tế i ( hoặc năm quan sát)
Di : Cổ tức tình trạng kinh tế i
Cách này áp dụng trong trường hợp xác định được xác xuất xảy ra của
các tình trạng kinh tế qua quan sát trong dài hạn hoặc theo không gian
Hoặc theo công thức bình quân số học

n
i
i=1
P
D=
n
¿

84
trong đó n là số tình trạng kinh tế hoặc số năm quan sát
Cách này áp dụng trong trường hợp có những số liệu qua quan sát thực tế
quá khứ nhiều năm liên tiếp theo thời gian
- Vẽ Đường phân phối sắc xuất của cổ tức
Trên đồ thị với trục tung là xác suất và trục hoành là cổ tức mong đợi
Đường phân phối sắc xuất của cổ tức càng hẹp bao nhiêu thì không gian
rủi ro càng thu hẹp bấy nhiêu, cổ tức thực tế càng gần với bình quân, tức
là cổ tức mong đợi trong đầu tư bấy nhiêu

b) Lượng hoá rủi ro
- Tính độ lệch chuẩn của cổ tức bình quân: Độ lệch chuẩn càng nhỏ thì
đường phân phối sắc xuất càng thu hẹp, do đó đầu tư càng ít rủi ro
Nếu đầu tư vào 2 loại cổ phiếu có cổ tức bình quân bằng nhau thì độ lệch
chuẩn của cổ phiếu nào nhỏ hơn sẽ hấp dẫn nhà đầu tư hơn
- Trong thực tế, ít khi gặp sự trùng hợp như vậy, thường dự án đầu tư có
mức cổ tức bình quân mong đợi lớn thì sẽ có độ lệch chuẩn lớn.. Vì vậy
để có sự lựa chọn chính xác, người ta tính hệ số độ lệch chuẩn.
Hệ số độ lệch chuẩn là tỷ lệ phần trăm giữa độ lệch chuẩn so với cổ
tức bình quân mong đợi
Công thức tính độ lệch chuẩn:
( )
n
2
i e i
i=1
= D -D ×P c
¿

Trong đó: c ( sigma): độ lệch chuẩn
Di là cổ tức của tình trạng KT i
n là số tình trạng KT có thể xảy ra
Pi là xác suất tình trạng KT i
De là cổ tức bình quân
85
Hoặc trường hợp không xác định được xác xuất xảy ra của các tình trạng
kinh tế hay mẫu qua sát, có thể tính độ lệch chuẩn như sau :
( )
n
2
i e
i=1
D -D
n-1
c =
¿


Ví dụ: Khảo sát để đầu tư vào cổ phiếu DN A và cổ phiếu DN B trong
các tình trạng KT khác nhau: suy thoái, bình thường và tăng trưởng trong
một môi trường đầu tư như nhau. Giả sử có số liệu như sau:
Trong tình trạng KT bình thường, cổ tức của DN A và B như nhau là
500.000đ/năm, xác suất là 60%
Trong tình trạng KT suy thoái, cổ tức của DN A là 400.000đ , của DN B
là 100,000đ, xác suất là 20%
Trong tình trạng KT tăng trưởng, cổ tức của DN A là 600,000đ, của DN
B là 900.000đ, xác suất 20%

Căn cứ vào số liệu bảng trên ta lập bảng phân phối xác suất như sau:
Doanh nghiệp A Doanh nghiệp B Tình trạng
KT
Xác suất
xảy ra (P) Cổ tức (
D)
P x D Cổ tức P x D
Suy thoái
Bình
thường
Tăng
trưởng
Tổng cộng
0,2
0,6
0,4
400
500
600
80
300
120
100
500
900
20
300
180

Cổ tức bình quân gia quyền:
86
DN A:
(0,2 x 400) + ( 0,6 x 500) + ( 0,2 x 600 )
D = = 500.000đ
0,2 + 0,4 + 0,6

DN B: cổ tức bình quân gia quyền cũng bằng 500000đ
Điều đó có nghĩa là mục tiêu đạt được của 2 cổ phiếu này là như nhau.
Vấn đề là tình hàm lượng rủi ro của mỗi loại cổ phiếu. Cổ phiếu nào có
hàm lượng rủi ro nhỏ hơn sẽ hấp dẫn hơn

Ta Vẽ đồ tthị phân phối xác suất của cổ tức bình quân gia quyền:

Xác suất DN A


DN B


200 400 500 600 800 Cổ tức

Đường phân phối xác suất của DN A hẹp hơn DN B, do đó rủi ro trong
đầu tư vào cổ phiếu của DN A ít hơn

Tính độ lệch chuẩn cũng thấy rõ điều đó: Theo công thức tính được
c
của DN A là 63.245,55 đ
c
của DN B là 252.982,21 đ
Hệ số độ lệch chuẩn của DN A là 63.245,245 / 500.000 = 0,13
Hệ số độ lệch chuẩn của DN B là 252.982,21 / 500.000 = 0,51
87
Như vậy cổ phiếu của DN A ít rủi ro hơn

c) Rủi ro và hệ số Beta trong mô hình định giá tài sản vốn
(CAPM)- ở thị trường CK

Tại các nền kinh tế thị trường phát triển, có thị trường CK lâu đời và
phát triển hiện đại, người ta xác định mức độ rủi ro của một CK cụ thể
bằng hệ số beta
Mô hình định giá tài sản – vốn chỉ ra rằng rủi ro của một CK cụ thể có thể
được biểu diễn bằng hệ số Bêta của nó. Hệ số Bêta cho biết xu hướng
biến động của một loại CK so với toàn bộ thị trường. Do đó Beta chứ
không phảI độ lệch chuẩn là thước đo rủi ro thích hợp.
Beta là tỷ số về rủi ro không thể đa dạng hoá được của một CK đối với độ
lệch chuẩn của danh mục đầu tư thị trường
Một cổ phiếu có:
- Hệ số Beta = 1 , có mức biến động của toàn bộ thị trường: xếp loại
Cổ phiếu có Beta trung bình, có mức rủi ro trung bình
- Hệ số Beta < 1, có mức biến động nhỏ hơn mức biến động thị
trường, gọi là cổ phiếu có Be ta thấp, có mức rủi ro dưới trung bình
- Hệ số Beta > 1, có mức biến động cao hơn mức biến động thị
trường, gọi là cổ phiếu có Beta cao, có mức rủi ro trên trung bình

5.1.2 Những vấn đề cần quan tâm trước khi quyết định đầu tư CK
Trên TTCK các nhà đầu tư muốn đạt được hiệu quả cao trong đầu tư CK
cần phảI nghiên cứu thị trường và lựa chọn chiến lược đầu tư , đặc biệt là
đối với những nnhà đầu tư có tổ chức
Các vấn đề cần phải xem xét:
 Tổng quỹ đầu tưu là bao nhiêu: Phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu
 Nguồn tiền nhàn rỗi định đầu tư CK dài hay ngắn
88
 Xác định mục đích đầu tư và rủi ro có thể chấp nhận được: Để
chọn chiến lược đầu tư
 Đầu tư theo danh mục: Lựa chọn loại CK thích hợp trong các hàng
hoá trên TT, đầu tư vào nhiều loại TP và CP của nhiều CT để phân
tán rủi ro. Nhiều nghiên cứu thực tế đã chứng minh, đầu tư theo
danh mục ( vào nhiều loại CK), mức độ rủi ro giảm hơn so với đầu
tưu tất cả vào một loại CK
 Lựa chọn thời điểm mua bán và công ty môI giới phục vụ mình

Vấn đề lựa chọn chiến lược đầu tư :
- Chiến lược mua để hưởng cổ tức và tăng giá cổ phiếu: Nếu trong quá
khứ giá CK gia tăng một cách đều đặn thì nhà đầu tưu có thể lựac chọn
chiến lược này với kỳ vọng tương lai sẽ theo chiều hướng như vậy. Chiến
lược này thích hợp với CP của các CT hàng đầu, có sức mạnh tài chính và
đang ở thời kỳ tăng trưởng. Chiến lược này khá đơn giản, thích hợp với
các nhà đầu tư mới tham gia TT
- Chiến lược chi phí thấp hơn giá trung bình : Nhà đầu tư sử dụng
những khoản tiền cố định để mua cổ phiếu vào những thời điểm xã địn
theo tháng, quý hay năm, khi giá cổ phiếu hạ thì nhà đầu tư mua được
nhiều cổ phiếu hơn khi giá tăng. Chiến lược này kỳ vọng trong tương lai
dài thì chi phí trung bình để mua một CP thấp hơn giá trung bình của CP
trên TT. Nếu giá hạn liên tục thì bị lỗ
- Chiến lược tổng giá trị đầu tư cố định : Luôn luôn duy trì một khoản
tiền đầu tư cố định vào một hỗn hợp CP cả trong trường hợp gía tăng hay
giảm. Khi giá tăng bán bớt CP thu lời, giá giảm mua thêm CP để đưa tổng
giá trị về mức đầu tưu ban đầu
- Chiến lược duy trì tỷ lệ không đổi giữa CP và TP : Trong chiến lược
này, cho phép nhà đầu tư sử dụng lợi nhuận từ các Ck giá tăng để đầu tư
89
vào các CK khác. Chiến lược này khá ổn định song không đảm bảo đem
lại lợi nhuận
- Chiến lược mua trả chậm : Cho phép nhà đầu tư chỉ phải trả một
phần tiền mua CP (thường là 50%). Phần còn lại vay từ công ty môi giới
CK. Chiến lược này dành cho những nhà đầu tư có nhiều kinh nghiệm,
thích đầu tư ngắn hạn và có tình chất đầu cơ
- Chiến lược bán khống CK ( bán CK mà chưa có quyền sở hữu): Nhà
đầu tư vay CK của các nhà môI giới hoặc CTCK để bán, khi họ dự đoán
giá CK trong tương lai sẽ giảm , lúc đó họ sẽ mua với giá thấp để trả cho
lại cho người cho vay. Đây là chiến lược đầu tưu có độ rủi ro cao nhất.
Luật CK VN không cho phép

5.2 Phân tích chứng khoán

Việc đầu tư vào CK cũng có mặt lợi và hại của nó, muốn mức sinh lời
cao thì chịu rủi ro lớn. Nếu đầu tư vào cổ phiếu sẽ có cơ hội thu được lợi
tức cao, nhưng rủi ro không phải là ít, còn đầu tư vào trái phiếu sẽ thì
mức độ rủi ro ít nhưng mức sinh lời lại thấp. Để giúp cho việc đầu tư CK
có hiệu qủa cao, hạn chế rủi ro thấp nhất, cần thiết phải đi sâu phân tích
chứng khoán
Phân tích CK là việc ding các hệ số tài chính, các chỉ số, sơ đồ. Bảng biểu
để đánh giá hoạt động của TTCK cả bề rộng cũng như chiều sâu

Mục đích của PTCK:
 Cung cấp các thông tin cần thiết để giúp các nhà đầu tư xét
doán và cân nhắc những loại CK nào nên mua, nên bán và
mua bán vào lúc nào thì có lợi nhất
 Cung cấp thông tin cho các nhà quản lý thị trường, các nàh
quản trị DN trong HĐ của họ trên TTCK
90
Nội dung phân tích CK bao gồm phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật

5.2.1 Phân tích cơ bản (Phân tích tài chính)
* Là phân tích tình hình hoạt động và đánh giá triển vọng của các công ty
phát hành CK dựa vào các báo các tài chính của CT
Giúp nhà đầu tư xem xét và quyết định nên mua bán CK của công ty nào
* Nội dung: Bao gồm các công việc:
- Đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty: xem xét lợi nhận ròng
trên doanh số và lợi nhuận ròng trên vốn riêng
- - Đánh giá tình hình tài chính của công ty: TS, nguồn, cơ cấu vốn,
nguồn, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời…
- Đánh giá chính sách chia lời của công ty: phân phối lợi nhuận
thuần
- Đánh giá cổ phiếu của công ty: đắt hay rẻ thông qua giá CP của CT
- Đánh giá triển vọng của công ty, của ngành và của nền kt: Xem xét
các nhân tố bên trong và bên ngoài
Bên trong; Vốn, Lao động, Thiết bị máy móc, Nguyên vật liệu,
Sản phẩm
Bên ngoài: Điều kiện KT: Lạm phát, lãI suất TT, chính sách tài
chính, thuế, CS xuất nhập khẩu, Cs kinh tế ngành…
Chính trị: ổn định
Văn hoá xã hội: du chị, di tích, bệnh dịch…
Tư nhiên, môI trường: khí hậu, thời tiết ảnh hưỏng…
* Phương pháp phân tích chủ yếu: Là so sánh, so sánh kỳ này với kỳ
trước để thấy xu hướng biến động, so sánh với mức trung bình của ngành
* Tài liệu dùng phân tích: Là các báo cáo tài chính, Chủ yếu là Bảng tổng
kết tài sản và bảng báo cáo thu nhập của công ty
91
* Hệ thống chỉ tiêu chủ yếu dùng phân tích tài chính CK: Là hệ thống các
chỉ số tình hình tài chính của công ty phát hành CK có liên quan đến tính
thanh khoản, khả năng thu nhập và bảo hiểm CK của công ty
Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính thường gồm:
a) Các chỉ số thanh khoản :
Là các chỉ số phản ánh khả năng thanh toán vốn và lãi chứng khoán của
DN phát hành. Bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Chỉ số khả năng thanh toán hiện hành ( Current Ratio- CR): Đo
khả năng trả nợ ngắn hạn của DN từ TSLĐ ( còn gọi là chỉ số TSLĐ)
Tổng tài sản lưu động
CR =
Tổng nợ ngắn hạn
Chỉ số này ít nhất phai là 2 mới đảm bảo sự an toàn về khả năng thanh
toán
- Chỉ số khả năng thanh toán nhanh ( Acid Test Ratio) phản ánh khả năng
thanh toán kịp thời của DN (còn gọi là chỉ số tài sản nhạy cảm)

Tổng tài sản lưu động – hàng tồn kho
ATR = Tổng số nợ ngắn hạn

Chỉ số này lớn hơn 1 được xem là an toàn vì CT có thể thanh toán các
khoản nợ ngắn hạn trong một thưòi gian ngắn
- Chỉ số nguồn tiền: cho thấy tình trạng nguồn tiền của DN. DN
nào có nguồn tiền lớn, ổn định và tăng trưởng thì DN sẽ có khả năng
thanh toán kịp thời trái tức, cổ tức
Chỉ số nguồn tiền = Thu nhập ròng ( hay thực lỗ) + khấu hao TSCĐ
Chỉ số này +: DN có thu nhập đầy đủ để chi trả các chi phí và phân chia
cổ tức và ngược lại

92
b) Các chỉ số huy động vốn của DN
Là các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn huy động của DN. Thường bao gồm
các chỉ tiêu:
- Tỷ số nợ (DR) : phản ánh tỷ trọng các khoản nợ so với tổng vốn
của DN. Tỷ số này cao DN khó có thể huy động vốn bằng phát hành trái
phiếu và càng tiềm ẩn rủi ro phá sản do không thanh toán đến hạn, chỉ số
này chỉ nên = hoặc < 0,5
Tổng số nợ
DR =
Tổng số vốn
- Chỉ số trái phiếu (BR): Nói lên tỷ trọng của nguồn vốn huy động
bằng phát hành trái phiếu so với tổng số vốn dài hạn của DN

Tổng mệnh giá trái phiếu đang lưu hành
BR =
Tổng vốn dài hạn

Trong đó: Tổng vốn dài han bằng tổng nợ dài han + vốn điều lệ + thặng
dư vốn + thu nhập giữ lại
Để đảm bảo một cơ cấu vốn không tiềm ẩn rủi ro. chỉ số này chỉ nên <
0,5
- Chỉ số cổ phiếu ưu đãi: Phản ánh tỷ trọng của nguồn vốn huy
động bằng phát hành cổ phiếu ưu đãi so với tổng số vốn dài hạn của DN

Tổng mệnh giá cổ phiếu ưu đãi
Chỉ số cổ phiếu ưu đãi =
Tổng số vốn dài hạn

93
Phát hành cổ phiếu ưu đãI là một giải pháp dung hoà khi DN không muốn
tăng thêm nợ mà cũng không muốn chia sẻ quyền kiểm soát CT cho các
cổ đông mới, tuy nhiên nó lại gây cho CT một định phí phảI trả lãI, do đó
tỷ trọng của nó thường rất nhỏ ( vài %)
- Chỉ số cổ phiếu thường: Phản ánh tỷ trọng của nguồn vốn huy động
bằng phát hành cổ phiếu thường so với tổng số vốn dài hạn của DN
Tổng mệnh giá + Thặng dư + Thu nhập
CPT vốn giữ lại
Chỉ số cổ phiếu thường =
Tổng số vốn dài hạn

Tử số cộng thêm 2 khoản vì hai khoản này là do nguồn vốn cổ phiếu
thường tạo ra và người được hưởng cũng chủ yếu là cổ đông cổ phiếu
thường
Chỉ số này nói lện thực lực vốn tự có của CT, chỉ số này càng cao thì tính
tự chủ về tài chính của CT càng chắc chắn. Chỉ tiêu này ở mức hợp lý là
khoảng trên 0,5 ( 50%), nếu thấp hơn thì rủi ro tăng lên, nếu qúa cao thì
khả năng sinh lơì lại thấp
- Chỉ số nợ trên vốn cổ phần: Là tỷ lệ giữa các nguồn tài trợ gây ra định
phí trả lãI cho CT như tráI phiếu hay cổ phiéu ưu đãI với CP thường

Tổng mệh giá TP + Cổ phiếu ưu đãi
Chỉ số nợ trên vốn CP =
Mệnh giá CPT + thặng dư vốn + Thu nhập giữ
lại

Chỉ số này được xem là an toàn khi nó < hoặc = 1

94
- Thị giá vốn DN : Nói lên giá thị trường của vốn DN. So sánh nó
với vốn điều lệ của DN để thấy sức mạnh tài chính của DN như thế nào,
vị thế kd của doanh nghiệp cao hay thấp

Thị giá vốn DN = Tổng số CP đang lưu hành x Thị giá cổ phiếu
Vốn điều lệ đã góp = Tổng số CP đang lưu hành x MGCP

Thị giá vốn bao giờ cũng phảI lớn hơn vốn điều lệ đã góp của DN

c) Các chỉ số đảm bảo CK- (bồi hoàn lại)
Là các chỉ số phản ánh khả năng đảm bảo thanh toán vốn và trái tức đối
với trái phiếu, cổ tức đối với cổ phiếu ưu đãi khi đến hạn và đảm bảo khả
năng sinh lời của cổ phiếu thường
Bao gồm các chỉ tiêu:
- Chỉ số đảm bảo TT trái tức :
Chỉ số này phản ánh khả năng đảm bảo thanh toán trái tức của DN.

Lợi nhuận trước thuế và trái tức
Chỉ số bảo đảm TT trái tức =
Tổng trái tức phải trả hàng năm

- Chỉ số đảm bảo TT cổ tức ưu đãi :
Chỉ số này phản ánh khả năng đảm bảo thanh toán cổ tức ưu đãi
cho cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi

Lợi nhuận ròng (LN sau thuế)
Chỉ số đảm bảo TT cổ tức ưu đãi =
Tổng cổ tức ưu đãi

95
- Giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu (NAV): Phản ánh giá trị tài
sản ròng trên mỗi cổ phiếu, cho biết khả năng đảm bảo TS cho CP khi CT
phá sản.

Tổng tài sản ròng Tổng TS – Nợ
NAV = =
Tổng lượng cổ phiếu đã phát hành Tổng số CP


Để phản ánh mức đảm bảo giá trị cổ phiếu của DN phải tính chỉ số NAV
trên cơ sở mệnh giá cổ phiếu
Tổng tài sản ròng
NAV =
Số lượng cổ phiếu X mệnh giá

d) Các chỉ số định giá thu nhập CK
Là chỉ tiêu dùng để định giá lượng thu nhập cổ phiếu thường hàng năm
của DN. Bao gồm các chỉ tiêu:
- Thu nhập mỗi cổ phiếu ( EPS )

Thu nhập( LN) ròng - Tổng cổ tức ưu đãi
EPS =
Tổng số cổ phiếu đang lưu hành

Trong đó thu nhập ròng là lợi nhuận sau thuế và sau trái tức

- Cổ tức mỗi cổ phiếu (DPS): Đây là số cổ tức chia cho mỗi CP, phần lợi
tức mà cổ đông được nhận. Thường các cổ đông qua tâm đến chỉ têu này

96
LN ròng – cổ tức ưu đãi – LN giữ lại
DPS =
Số CP thường dang lưu hành

Giữa EPS và DPS có mối quan hệ qua chỉ số thanh toán cổ tức

DPS
Chỉ số thanh toán cổ tức =
EPS

Chỉ số này cũgn phản ánh chính sách phân chia lợi nhuạn của DN
- Chỉ số giá / thu nhập của cổ phiếu : Chỉ số này gọi tắt là PER hay P/E,
được tính như sau:

Thị giá cổ phiếu thường
PER =
(P/E) EPS của cổ phiếu thường

VD: Thị giá cổ phiếu thường của DN A là 500.000đ, EPS là 62.500đ, ta
có:
500.000
PER = = 8 lần
62.500
Như vậy thị giá của cổ phiếu A đã gấp 8 lần thu nhập trên mỗi cổ phiếu.
Chỉ số này càng lớn sẽ nói lên cổ phiếu DN A đang cao giá. PER càng
nhỏ càng tốt. Chỉ số P/E ở vào khoảng tren 10 là cao



97
- Chỉ số giá / giá trị kế toán CP: gọi tắt là P/B
Thị giá
Chỉ số giá trên giá trị kế toán =
Giá trị sổ sách (giá k.toán) mỗi
CP

Chỉ tiêu này càng cao chưngs tỏ CT càng có khả năng phát triển mạnh
trong tương lai
- Ngoài ra còn tính các chỉ tiêu ROA, ROE và xem xét mối quan hệ
giữa 2 chỉ tiêu này với lãI suất. Nếu ROA > lãI suất sẽ làm tăng ROE và
nếu ROA < lãI suất sẽ làm giảm ROE

Lợi nhuận ròng
Tỷ suất lợi nhuận vốn CP =
( ROE) Vốn cổ phần( chủ sở hữu)


Lợi nhuận trước thuế và lãI vay
Tỷ suất lợi nhuận tổng vốn =
( ROA) Tổng tài sản có

6.2.2 Phân tích kỹ thuật
* Là gì? Là phương pháp nghiên cứu phân tích xu hướng biến động giá
CK trên TTCK nói chung và của mỗi loại cổ phiếu CT nói riêng
Phân tích kỹ thuật giúp cho nhà đầu tư lựa chọn thời đểm thích hợp
để mua hoặc bán CK sao cho có lợi nhất
Phương pháp phân tích: Ghi chép, theo dõi, tính toán sự biến động
gía CP cũng như nghiên cứu sự tác động của các yếu tố đến trào lưu tăng,
98
giảm giá CP, tình hình giao dịch các loại CP hoặc nhóm CP. Dùng biểu
đồ, đồ thị, chỉ số giá CK để phân tích

a) Lý thuyết DOW:
Lý thuyết DOW là lý thuyết của nhà sáng lập Chales Henry Dow, được
xem là người đi đầu của ngành phân tích kỹ thuật
Lý thuyết DOW đã đưa ra các tiền đề cơ bản sau:
 Chỉ số giá CK: phản ánh toàn bộ HĐ thị trường gộp lại của các
nhà đầu tư, thông tin tốt nhất về xu thế và các sự kiện, nó trung
bình hoá tất cả các biên động từng ngày và các điều kiện tác động
lên cung cầu cổ phiếu
Ông cho rằng chỉ số bình quan ngành Công nghiệp với 30 loại CP
(DJIA), chỉ số BQ về ngành vận tảI với 20 loại CP (DJTA) lf 2 chỉ số chủ
yếu phản ánh các xu hướng chính tác động đến giá CP
 Ba xu thế thị trường (xu hướng TT):
1) Xu hướng chính (xu thế cấp 1): Đó là xu thế chung về sự đI lên
hoặc đi xuống kéo dài trong một hoặc thậm chí vài năm
Cứ mỗi đợt tăng giá mới lại đạt mức cao hơn đợt giá tăng lần trước và cứ
mỗi đợt phản ứng giá (reaction) vẫn ở mức cao hơn đợt phản ứng giá lần
trước, nhưng xu thế chính vẫn là xu thế tăng giá. Xu thế này được gọi là
“thị trường con bò tót”
Ngược lại, mỗi đợt giá giảm mới lại đạt mức thấp hơn đợt giá giảm lần
trước và mỗi đợt tăng giá tiếp theo không đủ sức đưa mức giá trở về mức
tăng giá lần trước thì xu thế cấp 1 là xu thế giảm giá. Xu thế này được gọi
là “thị trường con gấu”
2) Xu hướng phụ – Xu thế cấp 2 : Đó là các phản ứng làm ngắt
quãng quá trình tăng hoặc giảm giá của xu hướng chính, tác động ngược
lại với xu hướng chính. Thường xu thế này kéo dài vài ba tuần đến một
99
vài tháng và thướng đảo chiều giá trị từ khoảng 1/3 đến 2/3 đối với các
đợt tăng (giảm) giá lần trước trong quá trình diễn biến của xu thế 1
3) Xu hướng thứ yếu- Xu thế cấp 3 : Đó là các biến động nhỏ,
thường thì kéo dài trong 6 ngày ít khi kéo dài trong 3 tuần. Loại này
không có tầm quan trọng, không ảng hưởng đến sự lên xuống giá theo
trào lưu xu hướng chính. Thường trong xu thế cấp 2 hoặc giữa 2 xu thế
cấp 2 có khoảng vài (3) đợt “sóng nhỏ”- xu thế cấp 3
 Kết luận của lý thuyết Dow đưa ra lời khuyên cho các nhà đầu
tư KDCK là:
o Khi có dấu hiệu xác nhận trào lưu lên giá thì nên bắt đầu
mua CK vào
o KHi có đấu hiệu xác nhận trào lưu xuống giá thì nên bắt
đầu bán CK ra
o Dựa vào trào lưu lên hay xuống giá mà có thể dự đoán
những thăng trầm của nền KT có thể xảy ra
b) Chỉ số giá chứng khoán
o Là gì: Chỉ số giá Ck ( hay còn gọi là chỉ số của TTCK- chỉ số
tổgn hợp) là giá bình quân của tất cả các CP giao dịch trên một
TTCK hay một loại CP của một ngành tại một thời điểm nhất định
(ngày) so với thời điểm gốc (ngày gốc)
Ví dụ chỉ số Dow Jones của Mỹ là chỉ số giá bình quân của 65 loại CK
hàng đầu, bao hàm số bình quân của 3 nhóm ngành là Ngành kỹ nghệ,
ngành vận tải và ngành dịch vụ
Chỉ số VN.Index: là chỉ số giá BQ của tất cả các loại CP giao dịch tại
trung tâm giao dịch CK TPHCM
o ý nghĩa: Chỉ số giá CK phản ánh xu hướng phát triển của
TTCP, thể hiện xu hướng thay đổi giá CP và tình hình giao dịch
CP trên thị trường CK hay một loại CK cảu một ngành. Do vậy nó
100
được coi như công cụ đo lường “sức khoẻ” của nền KT tài chính.
Chức năng của chỉ số giá CK:
Là tiêu chuẩn đánh giá sự ổn định, hưng thịnh hay bất ổ của TTCK,
nhờ đó dự bấo tình hình KT tài chính cảu đất nước
Là tiêu chuẩn đánh giá xếp hạng HĐKD cảu CT, nhờ đó các nhà
đầu tư lựa chọn danh mục đầu tư sao cho có lợi nhất
o Cách tính chỉ số CK: Về nguyên tắc chỉ số Ck được tính theo
lối bình quân gia quyền so sánh với thời kỳ gốc thường được ấn
định là 100 điểm. VD như chỉ số CK COSPI của Hàn Quốc có
điểm gốc lấy vào ngày 3/1/1990
Công thức chung tính chỉ số giá CK:

Tổng giá thị trường tại thời điểm tinh tóan
Chỉ số giá CK = x
100
Tổng giá thị trường tại thời điểm gốc

Có nhiều phương pháp tính chỉ số giá chứng khoán. Sau đây là 2 phương
pháp tính phổ biến:
- Phương pháp 1: Dựa trên lượng CP ở kỳ cơ sở: Ví dụ Chỉ số
DAX của Đức được tính theo cách này
∑ (Q
0
x P
1
)
I
l
= x 100
∑ (Q
0
x P
0)
)
Trong đó ;
Il là chỉ số giá chứng khoán
Q0 khối lượng CK thời kỳ gốc hoặc cơ cấu khối lượng CK
P1 là giá CK ở thời điểm tính chỉ số
P0 là giá chứng khoán ở thời điểm gốc
101

- Phương pháp 2: Dựa trên số lượng CP kỳ hiện hành

∑ (Q
1
x P
1
)
I
p
= x 100
∑ (Q
1
x P
0
)

Trong đó: Ip là chỉ số giá chứng khoán
Q1 là số lượng cổ phiếu ở thời điểm tính chỉ số
P1 là giá ổ phiếu ở thời điểm tính chỉ số
P0 Là gía cổ phiếu ở thời điểm gốc

Giá cổ phiếu thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của mỗi quốc gia, VD ở Mỹ là
USD, ở Việt Nam là VNĐ. Một điểm cổ phiếu có nghĩa là giá cổ phiếu
bằng 1 $
VD: Giá cổ phiếu 50 $ tăng 2 điểm, có nghĩa là 52 $
ở Viết Nam do tiêu chuẩn giá cả đồng VN quá nhỏ, nên biến động giá
tính là 100đ, cứ một mức như vậy (100đ) coi là 1 điểm

o Một số chỉ số CK thường được biết đến trên thế giới:

 Chỉ số DOW- JONES: Ra đời sớm nhất thế giới, vào cuối thế kỷ
thứu 19, công bố trên báo năm 1884. Do 2 nhà kinh tế người Mỹ là
Charlex Henry Dow và Edworrd David Jones đề xuất
Từ 1931 Dow- Jones được công bố hàng ngày, năm 1931 cả thế giới
biết đến.
Lúc mới ra đời, được tính từ 12 côgn ty cổ phần
Năm 1982, tính từ 4 chỉ số bình quân:
Chỉ số 30 loại cổ phiếu thuộc ngành công nghiệp
102
Chỉ số 20 loại cổ phiéu thuộc ngành vận tải
Chỉ số 15 loại cổ phiếu thuộc ngành DV công cộng
Chỉ số tổng hợp chung của 65 loại cổ phiếu trên

 Chỉ số Nikkei của NHật bản: là số bình quân của 225 cổ phiếu
thuộc sở GDCK Tokyo và 250 cổ phiếu của sở GDCK OSAKA

 Chỉ số Hang Seng của Hồng kông là số bình quân gia quyền của
33 loại cổ phiếu. Ngày gốc là 31/7/1994

 Chỉ số CAC của Pháp, là số bình quân của 240 cổ phiếu hàng đầu
tại SGDCK Paris. Ngày gốc là 31/7/1994

 Chỉ số FT-30 của ANH, tính từ 30 cổ phiếu hàng đầu tại SGDCK
Luân Đôn, thời gian gốc là 193

 Chỉ số DAX của Đức là số bình quân của 30 cổ phiếu hàng đầu,
ngày gốc la 31/12/1987. Riêng chỉ số này trị giá gốc là 1000

o Chỉ số giá CK trên thị trường CK VN gọi là VN.Index: Là số
bình
quân gia quyền của tất cả các loại cổ phiếu đăng ký GD tại sở chứng
khoán tại TPHCM.
∑ (Q
1
x

P
1
)
VN.Index = x 100
∑ Q
0
x P
0
)

Trong đó: P1 : Giá thị trường của cổ phiếu tại thời điểm tính toán
103
P0 : Giá thị trường của cổ phiếu tại thời điểm gốc
Q1: số lượng cổ phiếu đang lưu hành
Q0: Số lượng cổ phiếu thời kỳ gốc
Thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời, nên số lượng cổ phiếu
niêm yết trên sàn giao dịch biến động tăng theo thời gian. Vì vậy việc
tính toán cụ thể được dựa theo công thứuc ở trên và hệ số điều chỉnh.

VD: Tại phiên thứ nhất, ngày 28/7/2000, ta có kết quả giao dịch tại thời
điểm gốc:
Tên công ty Ký hiệu Giá TH Số lượng Tổng gía trị
TT
( đ) CP ( triệu) (ngàn đ)
Cơ điện lạnh REE 16.000 15 240.000
Cáp VLVT SAM 17.000 12 204.000
Cộng 444.000
Phiên thứ 2, ngày 31/7/2000
Giá cổ phiếu REE là 16.300đ
Giá cổ phiếu SAM là 17.200đ

( 16.300 x 15) + ( 17.200 x 12)
VN. Index = x 100 = 101,55
( 16.000 x 15) + (17.000 x 12)
Như thế là tăng 1,55 điểm so với phiên trước
Giả dụ phiên thứ 3, ngày 2/8/2000, chỉ số VN.Index tính được là 103,38
điểm. Như thế là tăng 1,83 điểm so với phiên trước, tức là tăng 1, 03%
Trong tháng 9/2008, chỉ số VN.Index giao động trong khoảng trên dưới
450 điểm, điều đó có nghĩa so với thời diểm gốc 28/7 /2000, giá bình
quân các loại cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh tăng khoảng 4,5 lần
104

BÀI 1

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 1.1.1 Khái niệm chứng khoán và thị trường chứng khoán Khái niệm chứng khoán

- Chứng và Khoán đều có nghĩa là bằng cứ ( evidence). Bởi vậy nghĩa căn bản của chứng khoán (Securrities) là bằng chứng bằng giấy trắng mực đen chứng nhận khoản tiền vốn mà người sở hữu chúng bỏ ra nhường quyền sử dụng chúng cho người khác. Chúng chứa đựng trong mình giá trị TS quy được thành tiền, được gọi là giấy có giá trị (giấy có giá). Trên thi trưòng, CK được pháp luật bảo vệ, và được mua bán dễ dàng, nên CK được coi là động sản. - Theo cách hiểu kinh điển và phổ biến trên thị trường chứng khoán: Nói đến chứng khoán người ta muốn nói đến chứng từ tài chính dài hạn có thể mua bán được trên TTCK. Bao gồm cổ phiếu và tráI phiếu dài hạn. Cụ thể, Chứng khoán là tờ giấy chứng nhận về số tiền vốn đã góp hay cho vay mà có thể đem mua bán ở thị trường chứng khoán. - Ngày nay, TTCK này càng mở rộng và hiện đại hoá nên kháI niệm chứng khoán cũng được mở rộng hơn. Chứng khoán là các loại công cụ vốn dài hạn, bao gồm không chỉ cổ phiếu, tráI phiếu mà còn gồm các chứng từ tài chính khác Hội đồng chứng khoán của từng quốc gia quy định. - Nước ta, trên phương diện pháp lý, Nghị định 144/NĐ- CP ngày 28/11/2003 về CK và THi trường CK, quy định : ỎChứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành, gồm: cổ phiếu, trái phiếu, Chứng chỉ quỹ đầu tư chứng

2

khoán ( Investment unit) và các loại chứng khoán khác theo quy định của pháp luật. Chứng khoán ghi sổ (Book entry Securities) là những chứng khoán không theo hình thức có chứng chỉ bằng giấy ghi nhận vốn cổ phần đã góp hay số nợ đã cho vay. Chứng khoán này chỉ là những bút toán ghi vào sổ. Loại này tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch CK bằng máy tính.

1.1.2 Khái niệm thị trường chứng khoán TTCK là nơi hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các loại tráI phiếu cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh ( hợp đồng quyền chọn, chứng quyền, bảo chứng phiếu. Như vậy TTCK là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu tư phát triển KT

Thị trường chứng khoán: định nghĩa Nơi mua bán, trao đổi CK
cung CÇu

Cung gặp cầu -Giá

Chñ thÓ Cã nhu cÇu tµI chÝnh (vèn)

Chøng kho¸n

Chñ thÓ Cã kh¶ n¨ng tµi chÝnh

TiÒn Vèn

3

2 Quá trình hình thành và pháp triển ttck 1. TTCK thế giới đã trảI qua những bước thăng trầm: . phát triển và trở thành một định chế tàI chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của những quốc gia có nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường. tàu bè ra vào khó khăn. . thay đổi tuỳ theo điều kiện tại mỗi quốc gia. 4 .một hảI cảng lớn của Bỉ hồi đó và ngày càng phát triển .Trong những năm gần đây. Đến năm 1547.1.Đến ngày 29/10/1929. ý. TTCK đã có nhiều cải cách để phát triển như cải cách các chế độ thuế.Sau chiến tranh thế giới thứ 2. Ỏmậu dịch trưòngÕ ở đây bị sụp đổ và được rời đến thị trấn Auvers (Bỉ). Bắc Âu và ngày càng cảI tiến.Thời kỳ huy hoàng nhất là vào những năm 1875 -1913: TTCK phát triển mạnh cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế . TTCK đã trảI qua một cuộc cách mạng thực sự do có các biến động lớn trong bối cảnh kinh tế. Từ đó đến nay.ngày mở đầu cuộc khủng hoảng TTCK Nevv York đã làm cho TTCK New York và các TTCK Tây âu. Cuộc khủng khoảng tài chính năm 1987 đã làm cho TTCK thế giới suy sụp và kiệt quệ. buổi họp đầu tiên của TTCK xảy ra năm 1453 tại một lữ quán của gia đình ông Vanber tại Bruges ở Bỉ. . thành phố Bruges bị mất đI sư phồn vinh vi eo biển Even bị cát lấp. pháp lý hoặc kỹ thuật. Từ đó lan rộng sang các nước khác như Anh. Đức. TTCK với những hoạt động gần như ngày nay có từ đầu thể kỷ thứ 17. TTCK phục hồi và phát triển mạnh. Bắc âu và Nhật Bản khủng khoảng. Pháp. .1 Trên thế giới Nhiều tài liệu cho rằng.Nhưng chỉ sau 2 năm TTCK thế giới lại đI vào ổn định .2.

Hiện đại hoá thị trường vay nợ của nhà nước trên thị trường tín phiếu kho bạc. phiên giao dịch đầu tiên đã được thực hiện tại Trung tâm giao dịch CK thành phố Hồ Chí Minh. tạo ra các hình thức chứng phiếu mới. đổi mới kỹ thuật.2. tráI phiếu chưa được niêm yết tại sàn Hồ Chí Minh. tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ chí Minh đã có 158 loại cổ phiếu. 478 loại tráI phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư của 34 công ty quản lý quỹ niêm yết giao dịch Ngày 8/3/ 2005.thành lập một TTCK lhông chính thức. tin học hoá mạnh trong giao dịch 1. : 10h30 – 11h00 Thỏa thuận Lịch mở cửa : Thứ 2 – Thứ 6 hàng tuần 5 . đến năm 2010 sẽ phát triển thành thị trường OTC SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH (HOSE) ( 31/03/2008) Chỉ số Ngày khai trương: Ngày giao dịch đầu tiên Thời gian giao dịch : VNIndex : 20/07/2000 : 28/07/2000 : 8h30 – 10h30 Khớp lệnh. Kế hoạch. thực hiện đầu thầu chứng khoán và mua bán giao dịch những loại cổ phiếu. Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh nâng cấp thành Sở giao dịch chứng khoán Tính đến 31/7/2008.2 ở Việt Nam Ngày 20/7/2000 khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Ngày 28/7/2000. trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội ra đời. và chỉ có mặt của 2 cổ phiêú là LEE và CAP Cuối năm 2007.

757 phiên : 900 tỷ / phiên Giá trị giao dịch bình quan(2007) TRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI(HASTC) ( 31/03/2008) Chỉ số Ngày khai trương: Ngày giao dịch đầu tiên Thời gian giao dịch Lịch mở cửa Số Cty niêm yết Giá trị vốn hóa Số phiên giao dịch : HaIndex : 08/03/2005 : 14/07/2005 : 8h30 – 10h30 Khớp lệnh.308 tỷ đồng : 589 phiên : 322 tỷ / phiên Giá trị giao dịch bình quan(2007) 1. Do đó TTCK xét về mặt bản chất.3.498 tỷ đồng : 1.1 Bản chất thị trường chứng khoán Xét về mặt hình thức: các hoạt động trao đổi mua bán các chứng khoán trên TTCK chỉ là việc thay đổi các chủ thể nắm giữ chứng khoán. Xét về bản chất: Đây chính là quá trình vận động tiền vốn từ chủ thể sở hữu chúng sang chủ thể kinh doanh. Chủ thể tham gia TTCK với tư cách là người bỏ vốn đầu tư.3 . còn khi tham gia với tư cách là người sử dụng vốn đầu tư.Số Cty niêm yết Giá trị vốn hóa Số phiên giao dịch : 153 : 231. : Thứ 2 – Thứ 6 hàng tuần : 153 : 82. nó phản 6 .Bản chất và Đặc điểm của thị trường chứng khoán 1. anh ta là chủ sở hữu tư bản. anh ta thực hiện chức năng của tư bản kinh doanh.

1.đó là hệ thông ngân hàng. giá cả ở đây là giá phảI trả cho quyền sử dụng tiền vốn. Do đó tham gia TTCK gặp nhiều rủi ro. Hay nói cách khác.đó là chứng khoán. Tuy nhiên ngân hàng chỉ là người trung gian nên lãI xuất tiền giử thấp.2 Đặc điểm của thị trường chứng khoán  TTCK chịu chi phối của quy luật cung. là chìa khoá của phát triển: .3. đặc biệt là sở giao dịch chứng khoán mang tính tổ chức cao và trên cơ sở tuân thủ những nguyên tắc nghiêm ngặt  TTCK rất nhạy cảm với các biến cố chính trị và tình trạng kinh tế của các quốc gia và của các doanh nghịêp cổ phần.Huy động vốn tiết kiệm trong nước Trong kinh tế thị trường nhu cầu giao lưu vốn giữa những người cần vốn và những người có vốn đã xuất hiện và ngày càng phát triển. giá cả tương tự như như thị trường hàng hoá khác  Hàng hoá trên TTCK là một loại hàng hoá đặc biệt khác với các hàng hoá thông thường khác. TTCK là nơimua bán các quyền sở hữu tư bản ( quyền sở hữu tiền vốn). 1.ánh các quan hệ mua bán trao đổi các quyền sở hữu về TLSX và vốn bằng tiền.1 Tạo vốn cho nền kinh té quốc dân. đối tượng mua bán ở đây là quyền sử dụng tiền vốn. Tại nơI này chủ thể có khả năng vốn và chủ thể có nhu cầu vốn gặp nhau trực tiếp 1.  Hoạt động của thị trường chứng khoán. Sự giao lưu giữa người cần vốn và người có vốn được thực hiện bằng 2 cách: Gián tiếp: qua các trung gian tàI chính. lãI 7 .4 Vai trò của thị trường chứng khoán TTCK có ý nghĩa rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường với các vai trò chủ yếu sau: 4. cầu. Do đó việc mua bán trên TTCK là việc mua bán quyền sở hữu tiền vốn.

VD về mệnh giá cổ phiếu: Mỹ. thu hút nguồn vốn tạm thời nàn rỗi từ các doanh nghiệp. với một lượng tiền rất nhỏ có thể mua được cổ phiếu.xuất tiền vay cao. Việt Nam là 10000đ/CP . TháI lan: 10 bạt/ 1 cổ phiếu. chính phủ tạo thnàh một nguồn vốn khổng lồ tàI trợ cho nền kinh tế. Do đó ngân hàng không đủ hấp dẫn để th hút hết các nguồn vốn nhàn rỗi và tiết kiệm trong xã hội Trực tiếp: Qua thị trường chứng khoán: người có vốn và người cần vốn trực tiếp giao lưu. những người có vốn không thể tham gia quản lý các doanh nghiệp mà mình đầu tư. Nhật là 50 yên. giúp nhà nước giảI quyết vấn đề thiếu hụt ngân sách trên thị trường trái phiếu. NgoàI ra. hiện nay là 0. các tổ chức tàI chính. có thêm vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng… 8 . TTCK còn có khả năng thu hút vốn nước ngoàI khi hấp dẫn người nước ngoàI mua CK của TTCK trong nước hay công ty trong nước phát hành CK ở nước ngoài. những người đầu tư mua chứng khoán ngoàI việc được hưởng lợi tức trực tiếp còn trông đợi tiền lãI do tăng gía chứng khoán (cổ phiếu Hơn nữa. mà các phương thức khác không thể làm được.25 USD. như một nam châm cực mạnh thu hút nguồn vốn to lớn từ nước ngoàI. Tạo cơ hội cho các DN có vốn dể đầu tư mở rộng KD. Điều này đã khắc phục được những hạn chế nêu trên.Thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài: TTCK còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc lưu thông điều hoà vốn trong nền kinh tế thông qua việc mua bán chuyển nhượng các chứng khoán. Do đó TTCK hấp dẫn người đầu tư hơn. Tóm lại: TTCK như một trung tâm thu hút mọi nguồn vốn lớn nhỏ của từng hộ dân cư. thời hạn vay chỉ có hạn. Do đó.

5 132.0 40.3 127.5 139.3 6.2 148.5 23.70 39.6 714.5 379.2 166.6 114.6 513.9 33.8 235.1 14173.8 136.1 143.2 68.6 96.5 83.3 49.5 66.0 298.4 Hồng Kông Trung Quốc Hàn Quốc XingGapo Dài Loan TháI Lan Malai xia Nhật Bản Mỹ Anh Đức Việt Nam 385.1 95.5 12512.9 24.1 155.Bảng 1: Nước 1993 Tỷ USD Tổng vốn hoá các thị trường cổ phiếu 1998 % GDP Tỷ USD % GDP 343.0 2408.8 2906.10 22.0 2953.1 193.8 0.00 43.6 2439.3 162.0 86.2 119.8 44.5 260.7 1150.1 119.8 97.1 1079.7 128.6 135.6 132.2 117.6 2372.7 328.5 30.8 50.6 460.5 219.2 232.1* 2003 Tỷ USD % GDP 456.7 1086.6 235.4 62.50 9 .5 * ĐV tính : tỷ VNĐ Vốn hoá thị trường chứng khoán Việt nam Năm 2004 2005 2006 2007 % GDP 0.2 36.7 38.3 5004.0 161.7 207.2 104.5 34.1 2460.8 75.

Cụ thể. ( Sơ đồ trang 291. dự đoán tương lai Sự hình thành thị giá CK của một DN trên TTCK đã bao hàm sự đánh giá thực trạng hoạt động của DN đó trong hiện tại và đự đoánh tương lai. Thị giá cổ phiếu cao hay thấp biểu hiện mức độ đầu tư tàI chính.4. Việc sáp nhập.1. đặc biệt là mức độ cổ tức các cổ đông được hưởng và chênh lệch giá cổ phếu hiện tại với mệnh giá thể hiện khả năng mang lại lợi tức và thu nhập của DN cho các cổ đông của mình 1. 1. có hiệu quả hơn và môI trường đầu tư cho công chúng. Chính phủ có thể 10 . Vì thế TTCK được gọi là “phong vũ biểu” của nền KT và là công cụ quan trọng giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.2 TTCK tạo môI trường cho các doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt hơn.Nguyễn thị Cúc). mở rộng DN đều có thể thực hiện thông qua TTCK. có hệ thống chỉ số giá CK trên các TTCK cho phép dự đoán trước được sự biến động KT. trạng tháI KT của DN. DN có thể mua và dự trữ CK như là một tài sản KD (thu lãi) và các CK đó sẽ được chuyển thành tiền khi cần thiết thông qua TTCK Hơn nữa TTCK giúp các DN xâm nhạp lẫn nhau thông qua việc mua bán cổ phiếu.4. Ngược lại khi DN chưa có cơ hội sản xuất KD. Khi DN cần vốn để mở rộng quy mô SX doanh nghiệp có thể phát hành các loại chứng khoán và thị trường để huy động vốn. dự đoán được tương lai của một hoặc hàng loạt các nước trên thế giới.4. thông qua TTCk.4 Thị trường CK phản ánh tình trạng kinh tế vĩ mô giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Với phương pháp chỉ số hoá thị giá các loại chứng khoán chủ yếu của nền KT và việc nghiên cứu phân tích một cách khoa học.3 TTCK là một công cụ đánh giá DN.

kích thích các DN làm ăn có hiệu quả… 1. chờ giá lên. Như vậy. biện pháp tác động vào thị trường CK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối nề kinh tế.Tuy nhiên. là công cụ giúp nhà nước thực hiện chương trình phát triển KTXH. luật CK cũng cấm loại mua bán này  Lũng đoạn DN: Nhìn chung. tích luỹ CK để tạo ra nạn khan hiếm giả tạo. Nói chung. Việc làm này dẫn đến sự khan hiếm hay thừa thãI làm cho giá cổ phiếu tăng giảm đột biến có hại tới hoạt động của TTCK. TTCK cũng có những mặt tiêu cực cần phảI phòng tránh để hạn chế thấp nhất những rủi ro. Nhìn chung. Là công cụ thu hút vốn đầu tư nước ngoài. TTCK có vai trò rất tích cực đối với nền KT thị trường.  Mua bán nội gián: Đó là do một các nhân nào đó lợi dụng nắm được những thông tin nội bộ của một DN để mua hoặc bán cổ phiếu của DN đó một cách không bình thường nhằm thu lợi cho mình. sử dụng một số chính sách. làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu đó trên thị trường. thúc đẩy quá trình lưu thông hoá mọi nguồn vốn. bán giá cao để thu lợi nhuận. luật chứng khoán cấm sự cấu kết đầu cơ dươid mọi hình thức. là phương tiện huy động vốn của các đơn vị kinh tế và nhà nước. luật các nước đều quy định tỷ lệ sở hữu tàI sản tối đa của mỗi người mua cổ phiếu. đó là:  Yếu tố đầu cơ: Đầu cơ là hành động có tính toán của những người dám chấp nhận rủi ro.mua bán tráI phiếu CP để tạo ra nguồn tiền bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Đó là một công cụ có nhiều lợi thế: Khuyến khích dân chúng tiết kiệm và thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu tư. nhằm tránh lũng 11 . Là điều kiện tiền đề cho quá trình cổ phần hoá.5 Những mặt hạn chế (tiêu cực) của TTCK Thị trường CK có vai trò quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế.

hông qua TTCK người ta có thể mua cổ phiếu của DN tới mức có thể khống chế hoạt động của DN đó bằng vốn của một người nhưng đứng tên nhiều người. Tuy nhiên trên thực tế.  Bán khống: Là thuật ngữ dùng để chỉ các nhà đầu tư bán chứng khoán mà họ chưa có quyền sở hữu. o Làm tráI lệnh đặt mua.6 Mối quan hệ TTCK với Tài chính DN Khi doanh nghiệp huy động vốn hoặc đầu tư vốn trên thị trường chứng khoán sẽ phát sinh quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường chứng khoán. Việc làm này có thể đem lại lợi nhuận cao nếu họ tiên đoán đúng su thế của thị trường.đoạn DN của một số cá nhân nào đó. tác hại xấu đến nền kinh tế  Hành vi làm thiệt hại lợi ích người đầu tư.(Sơ đồ 1. đặt bán của người đầu tư o Không cugn cấp xác nhận giao dịch theo quy định o Tự ý mua bán chưúng khoán trên tài khoản của khách hàng hoặc mượn danh nghĩa khách hàng để mua bán CK o … Tất cả những tiêu cực này đều bị nghiêm cấm trong luật Ck của các quốc gia và bị sử lý thích đáng 1.4) 12 . Mua bán khống với số lượng lớn tạo ra cung cầu giả tạo về Ck gây khủng hoảng thị trường. Đây là hành vi lũng đoạn thị trường nếu nó được thựuc hiện bởi sự cấu kết của nhiều người.

các văn bản pháp luật về CK và TTCK  Điều kiện pháp lý: hoại hình DN nào  Điều kiện tài chính: BCTC.Thêm nguồn vốn: gía rẻ hơn .Phải thông báo thông tin kinh tế vê DN . cáo bạch Lợi và bất lợi của DN khi nhập TTCK Lợi . UBCK cấp giấy phép. điều lệ.Tăng thêm tiếng tăm trên thị trường Bất lợi . nhiều năm kd có lãI.Doanh Bán Chøng kho¸n nghiÖp cã nhu cÇu tµi chÝnh Vèn Nhận Đầu tư ThÞ tr­êng chøng kho¸n Vèn Chøng kho¸n Doanh nghiÖp cã kh¶ n¨ng tµi chÝnh Mua Sơ đồ1.4: Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với TTCK Điều kiện gia nhập TTCK DN muốn tham gia TTCK phải thoả mãn đầy đủ các điều kiện quy định của luật pháp ở mỗi quốc gia: Luật CK. đủ mức vốn tối thiểu theo quy định pháp luật  Điều kiện thủ tục: Đơn.Công khai hỏi mua DN khác … .Phải thông báo chiến lược hoạt động .Có thể bị DN khác mua … 13 .DN được đánh giá hàng ngày: thông qua của DN thị giá cổ phiếu trên TTCK .Tập trung hoá. đa năng hoá: sở hữu vốn huy động lâu dài .

. thường bao gồm cổ phiếu. đó là các loại cổ phiếu  CK nợ Là loại CK chứng nhận khoản nợ của người phát hành đối với người nắm giữ CK. Đó là các loại tráI phiếu Căn cứ vào hình thức: Bao gồm 2 loại:  CK vô danh : Không ghi tên và địa chỉ người mua CK ( chủ sở hữu). ai nắm giữ CK người đó là chủ sở hưũ.Phân loại CK: Căn cứ vào nội dung kinh tế: chia thành 2 loại:  CK vốn: Là loại CK chứng nhận sự góp vốn vào công ty cổ phần.Hàng hoá của thị trường CK là chứng khoán . là công cụ rất hữu hiệu trong nền KT thị trường để tạo nên một lượng vốn tiền tệ khổng lồ tài trợ dài hạn cho các mục đích mở rộng sản xuất KD của các DN hay các dự án đầu tư của nhà nước.1. Loại này khó khăn trong mua bán hoặe chuyển dổi 14 .1 Khái quát chung .BÀI 2 HÀNG HÓA TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ GIÁ CHỨNG KHOÁN 2. Loại này dễ dàng mua bán hay chuyển đổi trên TTCK  CK ký danh : Ghi rõ tên người chủ sở hữu trên trên tờ CK hoặc trong hồ sơ xủa chủ thể phát hành.1 Hàng hoá của thị trường chứng khoán 2. trái phiếu. chứng chỉ quỹ đầu tư và các chứng từ tài chính có nguồn gốc CK (còn gọi là chứng từ pháI sinh hay công cụ phái sinh) CK là loại hàng hoá đặc biệt.

1. VD: Mệnh giá cổ phiếu ở Mỹ là 1USD . Lúc cần lấy lại vốn họ có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu 15 . Điển hình là loại cổ phiếu thường. 2. phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty phát hành.000 đ Thời hạn hiệu lực của cổ phiếu bằng thời gian hoạt động của DN. do đó có thể coi là vĩnh viễn (vô hạn). Cổ đông nắm giữ cổ phiếu chịu trách nhiệm hữu hạn phần vốn góp của mình đối với công ty trên hai mặt: Thứ nhất: Phần vốn góp xem như góp vĩnh viễn không được rút vốn lại. người mua cổ phần được gọi là cổ đông ( Shareholder) của công ty. số vốn đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần ( Mỹ: Stock. ở NHật là 50 yên. Việt Nam là 10. Điển hình là các loại tráI phiếu và cổ phiếu ưu đãi  CK có lợi tức không ổn định: Người cầm giữ nó được hưởng lợi tức không ổn định. được cấp giấy chứng nhận gọi là cổ phiếu. đồng thời đảm bảo cho người có cổ phiéu được quyền hưởng một phần thu nhập của công ty. ở TháI Lan là 10 bạt. Anh: Share).gọi là cổ tức và quyền tham gia quản lý công ty.2 Cổ phiếu – chứng khoán vốn a) Khái quát chung về cổ phiếu ( đặc điểm chung) Cổ phiếu là một giấy chứng nhận xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu phần vốn đã góp vào công ty cổ phần. Như vậy cổ phiếu là loại chứng thư có giá trị ban đầu ghi trên cổ phiếu được gọi là mệnh giá.Căn cứ vào lợi tức CK: gồm 2 loại  CK có lợi tức ổn định: Là loại Ck mà người cầm giữ nó được hưởng lợi tức ổn định theo tỷ lệ lãI suất tình trên mệnh giá CK. Khi một công ty gọi vốn. đến khi doanh nghiệp bị phá sản.12USD.

mà phảI ký giử vàp kho bạc hoặc ngân hàng. Đối với các nhà đầu tư muồn đầu tư tiếp thì hình thức này hấp dẫn + Trả bằng tàI sản của công ty: sản phẩm.) Đặc điểm riêng của cổ phiếu thường: 16 .bằng cách bán cổ phiếu tren thị trường cho một nhà đầu tư khác. Việc trả lợi tức cổ phần được tiến hành vào cuối niên độ quyết toán và được thực hiện theo các hình thức sau: + Trả bằng tiền mặt: đây là hình thức thông dụng nhất + Trả bằng chính cổ phiếu của công ty: cổ tức thu được của nhà đầu tư lại tự động chuyển thành vón đầu tư. Để đảm bảo an toàn. cổ phiếu có 2 loại chủ yếu A1-Cổ phiếu thường : 1. cổ phiếu của công ty con. và nếu là hàng hoá mua bán trong sở giao dịch chứng khoán thì phảI ký giử vào trung tâm lưu giữ chứng khoán b) Các loại cổ phiếu chủ yếu: Căn cứ vào lợi ích của cổ đông. có quyền tham gia quản lý công ty thông qua đại hội cổ đông. Đây là ưu điểm riêng có của công ty cổ phần Thứ hai: Trách nhiệm của cổ đông đối với việc làm ăn thua lỗ hay tình trạng phá sản của công ty chỉ giói hạn trong phần vốn góp trên cổ phiếu Cổ đông nắm giữ cổ phiếu có quyền hưởng thu nhập. quyền được chia TS thanh lý của công ty khi công ty bị phá sản. nên nó được coi như một tàI sản thực sự. luật các nước thường quy định các cổ đông không được cất giữ cổ phiếu riêng. Hình thức này trong thực tế ít sử dụng Lưu giữ cổ phiếu: Cổ phiếu là chứng thư xác nhận quyền sở hữu một tàI sản( vốn bằng tiền) nhất định.

có 3 loại cổ phiếu: +Cổ phiếu đơn phiếu: Là loại cổ phiếu được phân bố mỗi cổ phiếu là một phiếu bầu. tất cả các cổ đông đều có thể tham gia bỏ phiếu và đại hội cổ đông. o Trong trường hợp công ty phát hành cổ phiếu mới thì các cổ đông được quyền ưu tiên mua trước với số lượng tương ứng với số cổ phần đã có và được ưu tiên giá o Có quyền đuợc chia TS thanh lý trong trường hợp công ty bị phá sản theo tỷ lệ số lượng cổ phần đang sở hữu. được theo dõi tình hình các tàI khoản. sau khi công ty đã thanh toán hết công nợ và trả cho các cổ phiếu ưu đãi o Có quyền tham gia quyết định chia nhỏ hay gộp cổ phiếu 2) Các loại cổ phiếu thường  Căn cứ vào quyền tham gia bỏ phiếu biểu quyết trong Đại hội cổ đông. Dùng cho DN nhiều cổ đông 17 . Là loại cổ phiếu được phát hành rộng rãI cho công chúng.  Chỉ được chia cổ tức sau khi doanh nghiệp đã trả trấi tức và cổ tức ưu đãi  Quyền lợi # của cổ đông có cổ phiếu thường: o Có quyền tham gia quản lý DN thông qua đại hội cổ đông: Biểu quyết nhưũng vấn đề quan trọng của DN o Có quyền bỏ phiếu bầu cử Hội đồng quản trị o có quyền được cung cấp thông tin cụ thể về tình hình hoạt động của công ty. Dùng cho DN ít cổ đông +Cổ phiếu đa phiếu: Là loại cổ phiếu quy định một lượng cổ phiếu nhất định mới được một phiếu bầu. Phần lớn cổ phiếu của các công ty cổ phần là cổ phiếu thường  Cổ tức mà cổ đông được hưởng không quy định cố định: phụ thuộc vào kết quả kinh doanh và chính sách phân phối lợi nhuận của công ty.

có lịch sử phát triển lâu đời. Việc mua bán. vô danh. vững mạnh về khả năng sinh lời và trả cổ tức. Đặc điểm của loại này là mệnh giá rất nhỏ. cổ đông thường không tham gia quản lý DN. Dùng cho DN ít cổ đông và laọi cổ phiếu này dành cho các cổ đông có uy tín. Loại này thường có giá thấp hơn loại CP thường được bỏ phiếu Cổ phiếu thường loại “B”: thường được gọi là cổ phiếu sáng lập viên. có danh phận trong xã hội hoặc trong ngành chuyên môn  Căn cứ vào việc huy động vốn điều lệ. chuyển nhượng dễ dàng  Căn cứ vào sự khác biệt liên quan đến quyền bầu cử hay quyền hưởng cổ tức: Có các loại cổ phiếu thường: Cổ phiếu thường loại “A”: Là loaị cổ phiểu thường được hưởng cổ tức nhưng không có quyền bầu cử.( Founders Shares) có quyền bầu cử nhưng chỉ được hưởng cổ tức khi khả sinh lời của công ty đã đến một giai đoạn tăng trưởng nhất định Cổ phiếu thường có gộp lãi (accumulating ordinary): Loại này được trả cổ tức bằng một số cổ phiếu mới có giá trị tương đương mới phát hành  Ngoài ra tuỳ theo đặc điểm hợt động của công ty mà còn có những loại cổ phiếu thường khác: Cổ phiếu thượng hạng ( Blue chip stocks): Là loại cổ phiếu của các loại công ty lớn. Thường là cổ phiếu ghi danh + Cổ phiếu thứ cấp: là cổ phiếu được DN phát hành nhằm bổ sung vốn điều lệ của DN. có giá trị cao trên thị trường 18 .+Cổ phiếu lưỡng phiếu: là cổ phiếu mà cổ đông của cổ phiếu này được phân bố 2 phiếu bầu. chia ra 2 loại cổ phiếu: + Cổ phiếu sơ cấp: Là cổ phiếu được phát hành lúc thành lập DN hoặc cổ phần hoá DNNN.

Cổ đông được hưởng lợi tức hàng năm và phảI trả tối thiểu 20% giá trị cổ phiếu mua chịu cùng với 4% lãI trên số nợ vay. Cổ phiếu loại A cấp không: Là loại cổ phiếu ghi danh mà DN CPH được dành 10% giá trị DN để phát hành cổ phiếu cấp không cho người LĐ trong DN tuỳ theo thâm niên và chất lượng công tác của từng người. chứuc vụ theo quy định của nhà nước. Cổ phiếu này không được đưa ra muc bán. tiền lãI thường dành để đầu tư mở rộng sản xuất. như ngành kỹ nghệ thép. giảm sút. thế chấp 19 . người hưởng cổ tức là cổ đông và được hưởng suet đời. mùa thu hoạch…) thì thu nhập của cổ phiếu cũng tăng theo mùa  Việt Nam: Căn cứ vào sự ưu đãI đối với cổ đông mua cổ phiếu của DN cổ phần hoá ở VN. theo nghị định 28 CP ngày 7/5/1996 có các loại cổ phiếu : Cổ phiếu loại A mua chịu: Là loại cổ phiếu ghi danh mà DN cổ phần hoá trích 15% (hoặc 20%) giá trị DN để phát hành cổ phiếu bán chịu cho người lao động đang làm việc trong DN và sẽ tiếp tục làm việc tại công ty cổ phần sau này. Giá trị cấp không không quá 6 tháng lương cấp bậc. thiết bị máy và động cơ Cổ phiếu theo mùa ( Seasonal stocks): Đối với các côgn ty có thu nhập tăng cao vào những mùa nhất định trong năm ( giáng sinh. năm mới. chuyển nhượng. do đó trả cổ tức thường chỉ một phần nhỏ hoặc không có Cổ phiếu thu nhập ( Income stocks): Cổ tức thường được trả cao hơn ức trung bình trên thị trường Cổ phiếu chu kỳ ( Cyctical stocks): Là cổ phiếu của các công ty mà thu nhập của nó dao động theo chu kỳ kinh tế: phát triển ỏn định.Người sở hữu cổ phiếu này là nhà nước. đầu năm học. xi măng.Cổ phiếu tăng trưởng ( Growth stocks): Được phát hành bởi công ty đang trên đà tăng trưởng nhanh.

Khi DN giảI thể hoặc bị phá sản thì cổ phiếu ưu đãI sẽ được hoàn vốn theo nguyên tắc ngang giá( nếu như đủ vốn hoàn trả) hoặc được phân chia giá trị còn lại của DN trước cổ phiếu thường. lãI cố định 8%/năm. cổ tức được hưởng từ cổ phiếu này là 8000 đ/1cổ phiếu Cổ phiếu ưu đãI được ưu tiên chia cổ tức trước cổ phiếu thường.Cổ phiếu loại B: Là CP ghi danh phát hành bán cho các thành viên Hội đồng quản trị. Trong công ty cổ phần cổ phiếu ưu đãi thường chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với cổ phiếu thường. Cổ tức của cổ phiếu ưu đãI được xác định riêng biệt trước. Loại này không được chuyển nhượng.000 đ. vùa giông trái phiếu. VD: Công ty X phát hành loại cổ phiếu ưu đãI. mua bán trong thời gian tại chức và sau 2 năm kể từ ngày thôi choc Cổ phiếu loại C: Là loại cổ phiếu hoặc ghi danh hoặc vô danh được phát hành rộng rãI ra công chúng. A2-Cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu ưu đãI là một loại CK lai tạp có những đặc điểm vừa giống cổ phiếu thường. theo một tỷ lệ cố định trên mệnh giá hàng năm. mệnh giá 100. Nếu DN bị lỗ vốn hoặc lãI không đủ chia thì có thể cổ tức của cổ phiếu ưu đãI sẽ được tích luỹ lại để trả vào những năm sau. hoặc khi chủ sở hữu muốn chuyển đổi thành tiền mặt hay thành cổ phiếu thường: Đăc điểm này khác với mệnh giá của cổ phiếu thường chỉ có giá trị danh nghiã. là căn cứ chia lợi tức cố định. phát hành hạn chế cho những người được coi là có công trong quá trình thành lập công ty. có nghĩa hàng năm. trong trường hợp tăng vốn điều lệ của công ty hoặc phát hành để mua lại công ty khác 1) Đặc điểm của cổ phiếu ưu đãi khác với cổ phiếu thường là: Mệnh giá của cổ phiếu ưu đãI rất quan trọng. 20 .

DN phảI hoàn trả toàn bộ số cổ tức tích luỹ dồn đó Việc tích luỹ cổ tức có thể tiến hành theo 2 cách: Cách 1: Tích luỹ thuần: Cộng dồn đơn thuần số nợ phảI trả sau Cách 2: Tích luỹ ghép lãi: tính phần nợ vào vốn để tích dồn lãI cho năm sau phảI trả = Cổ phiếu ưu đãI không tích luỹ: là loại cổ phiếu mà công ty có lãI đến đâu trả đến đó. khi tình hình tài chính ổn định công ty có thể chuộc lại và sẽ phảI trả một 21 . lợi này có mức lãi suất cao để thu hút nhà đầu tư. ban kiểm soát công ty. ứng cử vào hội đồng quản trị. Do cổ tức của cổ phiếu ưu đãI không tăng trong trường hợp công ty có lợi nhuận tăng nên thị giá của cổ phiếu ưu đãI trên thị trương ít biến động 2) Các loại cổ phiếu ưu đãi Tuỳ theo mức độ ưu đãI mà cổ phiếu ưu đãI có nhiều loại khác nhau: = Cổ phiếu ưu đãI tích luỹ : là loại cổ phiếu mà nếu công ty không có lợi nhuận để trả đủ cổ tức trong năm nay thì có thể dồn trả toàn bộ hay từng phần vào năm sau. Và quy định sau một thời gian ấn định. công ty bảo hiểm) = Cổ phiếu ưu đãI có thể chuộc lại: Phát hành trong trường hợp công ty khẩn cấp cần một số vốn lớn trong một thời gian ngắn. ngân hàng. phần cổ tức nợ không được tích luỹ vào năm sau = Cổ phiếu ưu đãi dự phần : Là loại cổ phiếu mà công ty cam kết ngoài cổ tức quy định trả hàng năm nếu công ty còn lãi chưa chia thì cổ phiếu này được tham dự chia số tiền lãI này = Cổ phiêu ưu đãi có quyền chuyển đổi thành cổ phiếu thường = Cổ phiếu ưu đãI đảm bảo: Là loại cổ phiếu được một người khác đứng ra cam kết bảo lãnh thanh toán nếu như công ty không thanh toán được (công ty bảo lãnh.- Khi công ty có chủ trương hoàn vốn cho cổ đông thì cổ phiếu ưu đãI được xếp ưu tiên trước cổ phiếu thường Cổ đông sở hữu cổ phiéu ưu đãI không được tham gia bầu cử.

3 Trái phiếu – Chứng khoán nợ a) Khái niệm về trái phiếu Có nhiều định nghĩa về trái phiếu. VN. Notes). nên là một chứng khoán nợ. .Là chứng khoán có kỳ hạn nhất định: khi đáo hạn (hết hạn). Người mua trái phiếu là người chủ nợ của tổ chức phát hành. không phụ thuộc vào kết quả kD 22 . . 1. chủ phát hành phảI hoàn trả vốn theo mệnh giá. từ 5 năm trở xuống thì gọi là tín phiếu (Bill. do điều lệ của công ty quy định Cổ phần ưu đãi cổ tức: Cổ tức được trả mức ổn định hàng năm. gồm cổ ức cố định và cổ tức thưởng Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại: Được công ty hoàn lại vốn bất cứ lúc nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện ghi trên cổ phiếu 2. mốc này là 1 năm. TráI phiếu là một giấy chứng nhận một khoản nợ của người phát hành ra nó. là người chủ sở hữu trái phiếu đó và được gọi là trái chủ. Thời hạn của tráI phiếu là thời gian vay của chủ phát hành đối với trấi chủ và được ghi rõ trên tráI phiếu.TráI phiếu là một giấy nợ do Chính phủ hay doanh nghiệp phát hành để huy động vốn dài hạn. Đó là lãI suất danh nghĩa.khoản tiền thưởng nhất định theo một tỷ lệ nhất định trên mệnh giá cho chủ sở hữu Việt Nam: Theo luật DN. gồm các loại cổ phiếu ưu đãi: Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết:: có số phiếu biểu quyết nhiều hơn cổ phần thường. TRáI phiếu có thời hạn > 5 thì gọi là bond. nhưng đều cùng chung một bản chất. trong đó cam kết sẽ trả khoản nợ kèm với tiền lãI trong một thời gian nhất định b) Đặc điểm cơ bản của tráI phiếu: .Lãi suất của trái phiếu thường cố định hàng năm và quy định trước ngay khi phát hành.

Nếu căn cứ vào tổ chức phát hành. bàn về những biến cố thay đổi quan trọng của DN như tham gia liên doanh liên kế. Sau đây là một số loại tráI phiếu công ty chủ yếu: + Căn cứ vào phương thức trả lãi cho trái chủ. TráI phiếu có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. mệnh giá tráI phiếu DN là 1000 USD.Nếu công ty bị phá sản thì tráI chủ được ưu tiên trả nợ trước cổ đông c) Các loại Trái phiếu: Có nhiều loại tráI phiếu khác nhau. chia nhỏ hoặc phá sản doanh nghiệp. Trái chủ được nhận nó hàng năm hoặc 6 tháng/lần theo quy định . họ có thể phát hành trái phiếu  Các loại Trái phiếu công ty: TráI phiếu công ty rẩt đa dạng và phong phú về chủng loại đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của các nhà đầu tư. hiện nay có khoảng 40 loại tráI phiếu.000đ. sáp nhập. có thể chia làm 4 loại trái phiếu: 23 . . ở VN mệnh giá tráI phiếu NHTM nhỏ nhất là 500. . tráI phiếu gồm 2 loại chính là tráI phiếu doanh nghiệp và tráI phiếu chính phủ và chính quyền địa phương B1-Trái phiếu doanh nghiệp  Là trái phiếu do các DN phát hành với mục đích huy động vốn dài hạn cho đầu tư phát triển của DN: Các công ty cổ phần hoặc DNNN khi muốn vay một số vốn lớn để tài trợ cho các nhu cầu đầu tư phát triển mang tính chất dài hạn.TráI chủ không có quyền tham gia quản lý kd đối với chủ phát hành (DN). có thể do luật quy định. còn các mệnh giá khác là bội số của mệnh giá tối thiểu.của công ty nên iat rủi ro. VD: ở Mỹ. tuy nhiên có thể được quyền tham gia đại hội đồng tráI chủ.Mệnh giá của tráI phiếu là số tiền ghi trên tráI phiếu khi phát hành.

.Trái phiếu tín thác thế chấp: là trái phiếu được phát hành dựa vào các chứng khoán của DN khác.Trái phiếu trả lãi cố định: lãI suất cố định trong suốt thời hạn của trái phiếu . công ty tài chính. của cơ quan chính phủ làm vật thế chấp 24 . Người bảo lãnh này thươnàg là ngân hàng. . .Trái phiếu tín chấp hay còn gọi là trái phiếu không được đảm bảo (unsecured bonds): là loại trái phiếu chỉ dựa vào uy tín của DN để phát hành. DN không đưa một TS gì ra làm vật đảm bảo. Loại này khá thông dụng.TRái phiếu thế chấp hay còn gọi là trái phiếu được đảm bảo : Là loại trái phiếu phát hành đòi hỏi DN phải có một lượng TS tương ứng ký thác tại tại cơ quan uỷ thác để đảm bảo chắc chắn khả năng hoàn trả của trái phiếu.Trái phiếu lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu có lãi suất được điều chỉnh theo từng kỳ cho phù hợp với lãi suất trên thị trường + Căn cứ vào tính chất đảm bảo của trái phiếu.Trái phiếu được bảo lãnh : là trái phiếu được một DN khác đứng ra bảo lãnh thanh toán trái tức và vốn. Loại này chỉ có các DN lớn mới phát hành và hiện nay ít sỉ dụng . toàn bộ số lãi được khấu trừ vào vốn mua trái phiếu. bao gồm các loại trái phiếu sau: . công ty bảo hiểm hay các công ty chứng khoán.Trái phiếu hưởng lãi trước hay còn gọi là trái phiếu chiết khấu : Là loại trái phiếu được trả lãi ngay khi phát hành. Do đó giá bán thấp hơn mệnh giá và khi đáo hạn được nhận lại vốn gốc bằng mệnh giá của tráI phiếu .Trái phiếu trả lãi sau: là loại trái phiếu trả lãi sau kỳ hạn trả lãi: 6 tháng hoặc 1 năm trả lãI một lần .

không quy định tích luỹ trái tức .Trái phiếu cầm cố : Là loại trái phiếu khi phát hành phải trên cơ sở vật cầm cố của DN.LãI suất của trái phiếu chính phủ thường là ổn định trong thời hạn tráI phiếu 2. Khoản nợ này được bảo đảm thanh toán bằng ngân sách nhà nước. Vật cầm cố thường là những bất động sản hiện có và sẽ có sau này. trái phiếu đô thị.Trái phiếu tài khoản : Là trái phiếu không tồn tại dưới hình thức chứng thư mà số tiền mua trái phiếu được chuyển vào tài khoản trái phiếu đứng tên trái chủ. Chứng chỉ quỹ đầu tư 25 . nhằm mục đích bù đắp sự thiếu hụt ngân sách. trái phiếu của cơ quan nhà nước. trái phiếu giáo dục. Đây là loại trái phiếu an toàn nhất. công trình phúc lợi công cộng quốc gia và đại phương. trái phiếu công trình.4. + Ngoài ra còn một số loại trái phiếu đặc thù khác như sau: . giảm được chi phí quản lý và lưu thông trái phiếu . hầu nhue không có rủi ro _ Trái phiếu chính phủ cũng có nhiều loại và đa dạng với nhiều tên gọi khác nhau như trái phiếu chính phủ.Trái phiếu chuyển đổi : Là loại trái phiếu có thể chuyển đổi sang cổ phiếu thường hoặc sang trái phiếu khác B2) Trái phiếu chính phủ và chính quyền địa phương . thời hạn dài. giữ vững đồng tiền đang lưu hành và tài trợ các dự án xây dung cơ sở hạ tầng.1. Loại này thường mua bán với số tiền lớn. công trái. ..TRái phiếu thu nhập : Là loại trái phiếu mà lơị tức được trả tuỳ thuộc vào lợi nhuận của DN và không cao hơn lãi suất ghi trên trái phiếu.Là loại trái phiếu do chính phủ hoặc chính quyền địa phương phát hành vay nợ của nhân dân.

bảo chứng phiếu.Là gì: Chứng chỉ quỹ đầu tư là một loại chứng khoán do công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phát hành. trái phiếu còn có giao dịch mua bán các chứng từ tài chính khác như chứng quyền.Thời hạn của Chứng quyền : ngắn hạn. xác định quyền hưởng lợi của người đầu tư đối với quỹ Đặc điểm chứng chỉ quỹ đầu tư : tương tự cổ phiếu 2. các cổ đông yêu cầu CT khi phát hành CP mới tăng vốn điều lệ phảI dành cho họ được quyền mua toàn bộ hay một phần số cổ phiếu sắp phát hành theo một số điều kiện ưu tiên quay định trong quyền đó.5 Công cụ tài chính có nguồn gốc CK (công cụ pháI sinh) TRên thị trường CK.Thường được phát hành kèm theo một đợt phát hành cổ phiếu thường. Đặc điểm của chứng quyền: . Để bảo vệ quyền lợi của mình. Khi CT tăng vốn điền lệ bằng cách phát hành cổ phiếu mới sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích tài chính và quyền kiểm soát CT của các cổ đông hiện có. với giá cả nhất định và trong một thời gian nhất định.1. hợp đồng quyền lựa chọn. Các chứng từ tài chính này được ra đời từ các giao dịch CK và được quyền chuyển đổi sang CK qua hành vi mua bán. vài tuần (30 – 45 ngày) 26 . nên gọi là chứng từ có nguồn gốc CK a) Chứng quyền ( Right certificate): Giấy bảo đảm quyền mua cổ phiếu Là gì: Chứng quyền là một giấy chứng nhận quyền ưu tiên mua cổ phiếu mới phát hành theo một tỷ lệ nhất định. Trong khi đố quyền kiểm soát phụ thuộc vào tỷ lệ TS mà cổ đông nắm giữ. do Công ty phát hành cho các cổ đông. Tại sao ra đời chứng quyền: Do đặc điểm của các CTCP là các cổ đông quan tâm đến việc chia lãi kd như thế nào và quyền kiểm soát đối với công ty nhiều hay ít. bên cạnh các giao dịch mua bán cổ phiếu. dành cho cổ đông hiện hữu .

000 – 20. số còn lại mới bán ra thị trường Cách tính giá quyền mua: Giá thị trường của CP Gía quyền mua ký chứng quyền đã phát hành = Số quyền mua 1 cổ phiếu mới VD: * Cổ đông A của công ty B được cấp 1 chứng quyền gồm 40 quyền mua. nếu không mua họ có thể bán quyền này trên thị trường để nhận một khoản lãi do do chênh lệch giá.. Công ty sau khi ưu tiên cho các cổ đông cũ mua cổ phiếu mới.Giá đăng ký mua cổ phiếu ghi trong chứng quyền thưòng nhỏ hơn giá thị trường của cổ phiếu.000đ/1quyền mua khi phát hành ra công chúng Giá đăng 27 . nên chứng quyền có giá cả nếu đêm bán trên thị trường Thông thường mỗi cổ phần hiện tại được một quyền (mua).Cổ đông cũ có thể thực hiện quyền mua. thì có thể bán chứng quyền với giá bán < hoặc bằng giá quyền mua. số quyền cần có để mua một cổ phần mới thay đổi và được quy đinh tuỳ theo chủ chương của công ty. Giả sử giá thị trường của cổ phiếu là 40. . Công ty phát hành đợt cổ phiếu mới và thông báo bán cổ phiếu mới với giá đăng ký 20.000đ/CP Giá quyền mua = (40.000) / 5 = 4.000đ/CP và 5 quyền mua được một cổ phiếu mới Cổ đông A được mua ưu tiên số cổ phiếu mới là 40quyền/5 = 8 cổ phiếu Nếu cổ đông A không thực hiện .

Được phát hành ra công chứng để tăng tính hấp dẫn cho cổ phiếu ưu đãI và tráI phiếu . gỉa sử công ty tuyên bố mua một trái phiếu có mệnh giá 100. trong đó quy định dành cho ai nắm giữ bảo chứng phiếu sẽ được quyền mua 100 cổ phiếu thường của công ty với giá đăng ký 40. từ đó trái chủ sẽ dùng quyền mua này để mua 100 cổ phiếu với giá 40. trong khi giá cổ phiếu hiện hành chỉ có 35..000đ.000đ trong thời hạn 10 năm. CK) phát hành kèm theo trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãI. lâu hơn . Đặc điểm của Bảo chứng phiếu . chẳng hạn 45.000đ. cho phép người nắm giữ bảo chứng phiếu đó được quyền mua một lượng cổ phiếu thường nhất định của công ty theo mức giá đã được xác định trước trong một thời kỳ dài nhất định.000đ thì được quyền nhận thêm một bảo chứng phiếu. Trái chủ hy vọng trong 10 năm đó.Bảo chứg phiếu cũng có thể tách rời trái phiếu. có khi là vĩnh viễn.Là một công cụ dài hạn: 5 – 10 năm.a) Bảo chứng phiếu ( Warrants) Là gì: Bảo chứng phiếu là một giấy (chứng từ tài chính.000đ và sau đó bán với giá 45 đô. cổ phiếu ưu đãI. lãi được 500 000đ.Mức giá xác định thường cao hơn giá thị trường tại thời điểm phát hành .Giá trị có thể bằng 0: Giá cổ phiếu không tăng vượt giá đăng ký VD: Công ty A muốn huy động vốn dễ dàng thường phát hành trái phiếu kèm theo bảo chứng phiếu. giá cổ phiếu sẽ tăng lên vượt giá đăng lý. Trường hợp giá cổ phiếu không tăng vượt giá đăng ký thì giá trị của bảo chứng phiếu bằng 0 28 . do đó có thể mua bán trên thị trường riêng .

bởi vì chúng nâng cao khả năng của nhà đầu tư trong việc phán xét thị trường về giá đặt trước. Chính ở các thị trường này đã xuất hiện các nhà đầu tư có chuyên môn xuất sắc trong việc phân tích thị trường để chọn lâý thời cơ tốt nhất cho việc đầu tư.Cả 2 bên đều phải ký quỹ một khoản tiền cược tại một ngân hàng trung gian .b) Hợp đồng tương lai (future contacts – Futures) Là gì : Hợp đông tương lai là một bản cam kết bằng văn bản về việc chuyển giao mua bán CK vào một ngày nào đó trong tương lai với mức giá đã thoả thuận ở thời điểm hiện tại Tại hợp đồng này các điều khoản cụ thể được cam kết thực hiện giữa 2 bên bao gồm : số lượng CK..theo đúng nguyên tắc do sở giao dịch CK đứng ra bảo lãnh lập ra Đặc điểm Hợp đồng tương lai . ngày giao hàng. 29 . .Tại ngày thực hiện hợp đồng cả 2 bên đều phẩi có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng .Hai bên có thể chọn cách thanh toán khoản chênh lệch thay vì tiến hành giao nhận .Có các loại hợp đồng dựa trên các CK hoăc các chỉ số CK ( lấy đv là tiền) ý nghĩa của thị trường hợp đồng tương lai : giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư do chuyển trạng thái rủi ro của CK cho một nhà đầu tư khác muốn chấp nhận rủi ro. chất lượng.. trả tiền.Hai bên có thể kết thúc quyền và nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào vào trước ngày đáo hạn bằng một hợp đồng bán đối ứng tương tự với hợp đồng mua( người ở vị thế mua) hoặc một hợp đồng mua đối ứng( người ở vị thế bán). giá cả.Ngày thực hiện hợp đồng là ngày chỉ định trước trong tương lai .

Người bán phải có nghĩa vụ thựuc hiện hựop đồng khi bên mau yêu cầu Ngày thực hiện quyền ( hợp đồng) do người mua quyền quyết định ở trong kỳ hạn Người mua quyền (mua hợp đồng) phải trả cho người bán quyền một khoản tiền cược được xem như giá của quyền chọn (phí quyền chọn) Các loại quyền chọn : Hợp đông quyền chọn có 2 loại là hợp đồng quyền chọn mua và hợp đồng quyền chọn bán 1) Hợp đồng quyền chọn mua( Call Option) : Là hợp đồng trong đó cho phép người mau hợp đồng được quyền mua một số cổ phiếu nhất định theo một gia quy định trong một thời gian quy định trong tương lai. giá cổ phiếu X tăng lên 70 USD/cp. nhưng cũng có thể không thực hiện hợp đồng mà lựa chọn hoặc bán hợp đồng cho người khác hoặc huỷ hợp đồng đó. Lúac này ông A có thể : Thực hiện hợp đồng : Mua 5000 cp X : mất 300. thời hạn 12 tháng. với phí chọn mua là 2.000 $ 30 . Chẳng hạn đến đầu thâng 10.c) Hợp dồng quyền chọn ( Option contract) Là gì: Là một sự thoả thuận mua bán CK với một giá quy định trong thời gian tương lai và hy vọng giá CK sẽ tăng lên thì thực hiện quyền mua CK và hy vọng giá sẽ giảm xuống thì thực hiện quyền bán CK để kiếm lời Đặc điểm hợp đồng quyền chọn Người mua quyền (người sở hữu hợp đồng) có quyền thực hiện hợp đồng để mua và bán CK thực sự. Người mua phải trả cho người bán hựop đồng 1 khoản phí chọn mua ( 2%) VD : Đầu năm ông A mua 1 hợp đồng quyền chọn mua với ông B là 5000 cổ phiếu X giá 60 USD/cp.5 USD/ cp.

000 = 40% 2) Hợp đồng quyền chọn bán Put Option): Là hợp đồng trong đó cho phép người mua hợp đồng được quyền bán một số cổ phiếu nhất định theo giá quy định trong một thời gian quy định của tương lai. 10 tháng sau giá cổ phiếu X giảm xuống quá mức dự đoán. Chẳng hạn.000$ LãI: 30.000$ LãI suất: 5.000 – 26.5$/cp ( lớn hơn phí chọn mua) Lãi: ( 3.500 $ LãI suất: 37.500 $ Bán 5000 cp X 70 = 350.5) X5000 = 5.000 – 300.000$ Phí chọn bán phảI trả: 500 X 3 = 1500$ Bán 500 cp này cho ông B với giá 60$ được là 500 X 60 = 30. phí chọn bán là 3$/cp.500/312. Người mua hợp đồng phảI trả cho người bán hợp đồng một khoản phí chọn bán VD: Đầu năm Ông A ký mua một hợp đồng quyền chọn bán cho ông là 500 Cp X.000.500 = 3500$ = 13. ( Do thực tế giá cổ phiếu X lúc ký hợp đồng này là 62$-quá cao. thời gian đáo hạn là 12 tháng.25 Huỷ bỏ: Trong trường hựop giá cổ phiếu X không giảm.12500 = 37. ông A dự đoán sẽ hạ xuống 52$/cp vào thấng đáo hạn hợp đồng.000/12.5 -2. lại tăng lên 65$ chảng hạn.Trả phí : 5000 X 2. ông A sẽ không thực hiện hợp đồng. chẳng hạn là 50$/cp. Lúc này ông A được quyền chọn: Thực hiện hợp đồng: Mua 500cp trên thị trường: 500 X 50 = 25.500 = 12% Bán hợp đồng quyền chọn mua: Giá bán là 3.000 $ LãI: 350. mất phí chọn bán là 3$/cp ý nghiã của hợp đồng quyền chọn: Người ta có thể dùng hợp đồng này như một công cụ tự bảo hiểm để chống lại rủi ro CK 31 . với gia 60$/cp.5 = 12.

giá danh định MG là gía ghi (in) trên bề mặt của tờ CK. thường ấn định mệnh giá thấp.000đ và bội số của nó  Hiện giá ( Present value): giá trị thực của CK Là giá trị thực của CK tịa thời điểm hiện tại 32 .2 Giá chứng khoán CK là loại hàng hoá đặc biệt nên cơ chế hình thành giá CK không giống như việc xác định giá cả của các loại hàng hoá thông thưuờng khã.Đặt mệnh giá cao khi ĐV phát hành chưa muốn bán CK rộng rãI ra công chúng . mệnh giá CP là 10. MG cổ phiếu chỉ cố giá trị danh nghĩa Mệnh giá CK cao hay thấp là tuỳ vào tổng số CK cần phát hành nhiều hay ít ý nghĩa của mệnh giá CK cao hay thấp: .Khi muốn bán CK rộng rãI ra công chúng. mệnh giá TP là 100. Tại VN.Mệnh giá của cổ phiếu: được xác định bằng tổng giá trị danh định của công ty lúc phát hành ( vốn điều lệ) chia cho tổng số cổ phần của công ty. Điều đó cũng có ý nghĩa đối với nền KT vì nó tạo điều kiện cho công chúng tiết kiệm Để thuận tiện cho việc trao đổi mua bán trên thị trường CK.000đ. Par value): MG. luật CK các nước thường quy định mệnh giá tối thiểu chung thống nhất cho CK. Cần phân biệt các laọi giá sau đây của CK:  Mệnh giá CK ( Face value.2. Giá này do đặc điểm của từng loại CK mà hình thành: .Mệnh giá của trái phiếu: được xác định bằng tổng giá trị danh định của đợt phát hành chia cho tổng số trái phiếu cần phát hành. MG của tráI phiếu có giá trị trong việc tính lãI suất và là số tiền lấy về khi TP đáo hạn .

phản ánh giá trị thực của CK. Thông qua việc so sánh giá trị thực với giá trên thị trường có thể giúp nhà đầu tư lựa chọn phương án đầu tư có hiệu quả nhất  Thị giá CK (giá thị trường):TG ( Market value): TG là giá CK trên thị trường tại một thời điểm nhất định. thì được gọi là người mua đã mua theo một gía gia tăng của trái phiếu( giá tăng trưởng) + Nếu người mua trả ít hơn mệnh giá ( 95%). cao hơn hoặc bằng mệnh giá và giá trị thực của nó tại thời điểm mua bán Đối với trái phiếu: + Nếu người mua trả tiền đúng theo mệnh giá thì được gọi là mua theo giá ngang giá trái phiếu + Nếu người mua trả tiền nhiều hơn mệnh giá (105%). Đó là giá mà người mau phảI trả và người bán nhận được Giá này phụ thuộc vào quan hệ cung cầu CK trên thị trường. được gọi là người mua đã mua trái phiếu theo giá chiết khấu  Thư giá.Giá này được xác định thông qua việc định giá CK.giá kế toán (Book value): xác định đối với cổ phiếu Thư giá hay còn gọi là giá kế toán là giá cổ phiếu được tính theo sổ sách sổ sách kế toán của công ty Thư giá được tính dựa trên bảng TKTS theo các chuẩn mực kế toán rõ ràng Giá trị thuần CT – Vốn cổ phần ưu đãi Thư giá CP = Thường Tổng số CP thường đã phát hành 33 . Nó có thể thấp hơn.

000đ/CP Sau 3 năm hoạt động.000/CP 1. tình hình bảng TKTS của CT như sau: Tổng Tài sản: 100tỷ Tổng Nguồn vốn: 100 tỷ trong đó gồm Nợ: 40tỷ Vốn điều lệ (CP theo mệnh giá): 10tỷ Quỹ dự trữ: Quỹ tích luỹ: 10tỷđ 40 tỷ đ 100 tỷ .Tổng TS – Tổng nợ – Vốn CP ưu đãi = Tổng số CP thường đã phát hành Nếu tính chung cho cả cổ ưu đãI và cổ phiếu thường: Giá trị kế toán 1 cổ phiếu = Gíá trị thuần của công ty Tổng số cổ phiếu đang lưu hành VD: cách tính giá kế toán Công ty CP A.000.40 tỷ Thư giá 1 CP = 1. năm 2000 thành lập với vốn điều lệ ban đầu tà 10 tỷ Đ.000.000/CP Hoặc = 10tỷ + 10 tỷ + 40 tỷ = 60.000 34 . CT phát hành 1triệu cổ phiếu với MG là 10.000 = 60.

27% 35 = 42. Đối với trái phiếu: Trái tức: Số tiền lãi nhận được trong kỳ đầu tư ( nhận theo kỳ trả lãI: 6. Giả sử rằng các quỹ trích lập từ lợi nhuận giữ lại không thay đổi.000  Giá cả của CK Giá cả của chứng khoán là phần thu nhập bằng tiền mà các nhà đầu tư thu được trong tương lai từ việc bỏ vốn mua CK đó.000 = 7.000 – 10. LãI suất hiện hành là 8000 / 110.000đ.000.000/CP.000/Năm.5000đ/CP .Năm 2005.000/CP.000) x 1triệu CP = 15 tỷ đồng 20 tỷ + 15 tỷ + 10tỷ + 40 tỷ Thư giá 1 CP = 2. nợ vẫn như cũ. Công ty bán trên thị trường được giá là 25.m anh ta vẫn nậhn số lãi là 8.000đ. 8% là LS danh nghĩa Nếu một nàh đầu tư mua TP này với giá là 110. với mệnh giá là 10. lãI suất 8%/năm Như vậy tráI tức là 8. Gíá mua CK có thể là MG hay TG. nên các nhà đầu tư thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây để mô tả thu nhập đầu tưu TP: Lãi suất danh nghĩa (lợi suất danh nghĩa): Là tỷ lệ % giữa trái tức với MGTP Đây là LS xác định trong một thời gian nhất định mà ngưòi phát hành TP cam kết thanh toán cho người mua TP vào một ngày xã định khi phát hành TP Lãi suất hiện hành: là tỷ lệ % giữa trái tức so với TGTP VD: Một PT có mệnh giá là 100. Ta có: Vốn cổ phần theo mệnh giá: 20 tỷ Vốn thặng dư: ( 25. công ty quyết định tăng thêm vốn bằng cách phát hành thêm bằng cách phát hành thêm 1 triệu CP.000đ. 12tháng) Lãi suất: Tỷ lệ % giữa trái tức và số vốn bỏ ra mua TP đó .

000)/5 36 .000 / 80.000 – ( 110. 000đ.(TG – MG)/ N Lợi suất đáo hạn = (MG + TG)/ 2 VD: TP có mệnh giá 100.133 = 13.000 X 100 = 10% Vậy LS hiện hành có thể lớn hơn LS danh nghĩa(nếu mua PT với giá chiết khấu). thì lãI suất hiện hành là: 8.Nếu nhà đầu tưu mua TP này với giá 80.000)/2 = 0.000)/5 LãI suất đáo hạn = (100. thì: 8. thì 8.3% Nếu được mua với giá 110.000 + ( 100.000 -100. có thể nhỏ hơn LS danh nghĩa ( nếu mua với giá gia tăng) Lãi suất đáo hạn: Là lãi suất được tính từ khi mua theo giá thị trường hôm nay và được gíữ tới ngày đáo hạn Cách tính: Nếu mua với giá thấp hơn MG (giá chiết khấu): (MG x i) + (MG – TG)/ N Lợi suất đáo hạn = (MG + TG)/ 2 Nếu mua với giá cao hơn MG (giá tăng trưởng): (MG x i) . lãI suất 8%/năm con 5 năm nữa thì đáo hạn.000đ.000 – 80. Nếu được mau với giá 80.000 + 80.000đ.000 đ.

057 = Tóm lại: Đối với TP Nếu mua với giá chiết khấu thì LS đáo hạn> LS hiện hành> LS danh nghãi Nếu mua với giá tăng trưởng thì LS đáo hạn< LS hiện hành < LS danh nghĩa Đối với cổ phiếu: Thu nhập từ đầu tư cổ phiếu bao gồm: .7% (110.000)/2 = 0.Cổ tức: số tiền lãi nhận được từ công ty cổ phần hàng năm Lợi tức: Tỷ lệ % giữa số tiền lãI ( cổ tức) / MGCP Phụ thuộc vào: số lợi nhuận của CT thu ???c hàng n?m Chính sánh phân phối và sử dụng lợi nhuận của CT .000 + 100.LãI suất đáo hạn = 5.Chênh lệch : TG – MG (nếu cổ đông bán CP) 37 .

1 Giá trị thanh lý và giá trị hoạt động Cặp khái niệm này dùng để chỉ giá trị của doanh nghiệp dưới hai giác độ khác nhau. giá trị thời gian của tiền. Hai loại giá trị này ít khi nào bằng nhau.2 Giá trị sổ sách và giá trị thị trường Khi nói giá trị sổ sách người ta có thể đề cập đến giá trị sổ sách của một tài sản hoặc giá trị sổ sách của một doanh nghiệp. 3. Giá trị hoạt động là giá trị hay số tiền thu được khi bán doanh nghiệp vẫn còn tiếp tục hoạt động. Giá trị sổ sách của tài sản tức là giá trị kế toán của tài sản đó.1. Giá trị thị trường là giá của tài sản hoặc doanh nghiệp được giao dịch trên thị trường. Giá trị sổ sách của doanh nghiệp hay công ty tức là giá trị toàn bộ tài sản của doanh nghiệp trừ đi giá trị các khoản nợ phải trả và giá trị cổ phiếu ưu đãi được liệt kê trên bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp.BÀI 3 ĐỊNH GIÁ TRÁI PHIẾU VÀ CỔ PHIẾU Có nhiều phương pháp được dùng để xác định giá trị thực của Trái phiếu và cổ phiếu trên thị trường. 3. cần phải hiểu được các khái niệm về thế nào gọi là giá trị của chứng khoán. giá trị thị 38 . Tuy nhiên để có thể hiểu được các phương pháp định giá. thậm chí giá trị thanh lý đôi khi còn cao hơn cả giá trị hoạt động. Giá trị thanh lý là giá trị hay số tiền thu được khi bán doanh nghiệp hay tài sản không còn tiếp tục hoạt động nữa. nó bằng chi phí mua sắm tài sản trừ đi phần khấu hao tích lũy của tài sản đó. Nhìn chung. Bài này sẽ đưa ra các phương pháp phổ biến đang được áp dụng hiện nay trên thị trường chứng khoán.1 Các cặp khái niệm về giá trị 3.1. lãi suất chiết khấu.

trường của doanh nghiệp thường cao hơn giá trị thanh lý và giá trị hoạt động của nó. 3. Mệnh giá tức là giá trị được công bố của tài sản. 3. người ta còn công bố lãi suất của trái phiếu.1.Trái phiếu do công ty phát hành gọi là trái phiếu công ty.3 Giá trị thị trường và giá trị lý thuyết Cặp giá trị này thường dùng để chỉ giá trị của chứng khoán. 3. tức là giá trị của các loại tài sản tài chính. trong đó nhà đầu tư cố gắng xác định giá trị lý thuyết của cổ phiếu hoặc trái phiếu trên cơ sở chiết khấu các luồng lợi tức (cổ tức hoặc trái tức) được hưởng tại các thời điểm khác nhau trong tương lai về thời điểm mua hoặc bán rồi so sánh với giá thị trường để có các quyết định phù hợp. Nói khác đi. Giá trị lý thuyết của một chứng khoán là giá trị mà chứng khoán nên có dựa trên những yếu có liên quan khi định giá chứng khoán đó. Trái phiếu do chính phủ phát hành gọi là trái phiếu chính phủ hay trái phiếu kho bạc.2. Ngoài việc công bố mệnh giá. Giá trị thị trường của một chứng khoán tức là giá trị của chứng khoán đó khi nó được giao dịch mua bán trên thị trường. giá trị lý thuyết của một chứng khoán tức là giá trị kinh tế của nó và trong điều kiện thị trường hiệu quả thì giá cả thị trường của chứng khoán sẽ phản ánh gần đúng giá trị lý thuyết của nó.1 Định giá trái phiếu Trái phiếu là công cụ nợ dài hạn do chính phủ hoặc công ty phát hành nhằm huy động vốn dài hạn. gọi là mệnh giá của trái phiếu.2 Định giá theo phương pháp chiết khấu dòng thu nhập Đây là phương pháp định giá theo trường phái theo đuổi giá trị. Trên trái phiếu bao giờ cũng có ghi một số tiền nhất định. Lãi 39 .

Định giá trái phiếu vĩnh cửu (trái phiếu vô thời hạn) Trái phiếu vĩnh cửu là trái phiếu không có thời điểm đáo hạn.suất của trái phiếu tức là lãi suất mà trái phiếu được hưởng. Định giá trái phiếu tức là quyết định giá trị lý thuyết của trái phiếu một cách chính xác và công bằng. 1. Giá trị của loại trái phiếu này được xác định bằng giá trị hiện tại của dòng trái tức (mức lãi suất được hưởng do sở hữu trái phiếu) mà trái phiếu này mang lại.. Trái phiếu vĩnh cữu này chính là cam kết của người phát hành (thường là chính phủ) sẽ trả một số tiền lãi cố định mãi mãi cho người nào sở hữu trái phiếu.+ (1 + k d ) (1 + k d ) (1 + k d ) P0 = I  P0 =  1 kd  -  1  k k (1 + k d )   I kd 40 . Giá trị của trái phiếu được định giá bằng cách xác định hiện giá của toàn bộ thu nhập nhận được trong thời hạn hiệu lực của trái phiếu... Gọi:    I là lãi cố định hàng năm và được hưởng mãi mãi P là giá của trái phiếu kd là lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư Thì giá trị của trái phiếu này được xác định như sau: P0 =  I t t= 1 ( 1 + k d ) I I I P0 = 1 + 2 + . nó bằng số lãi được hưởng chia cho mệnh giá của trái phiếu.

2. Khi mua loại trái 41 .. Định giá trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi Trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi là loại trái phiếu có thời hạn đáo hạn được xác định ngay từ khi phát hành và lãi suất được hưởng qua từng thời hạn nhất định... theo lãi suất công bố trên mệnh giá trái phiếu và được thu hồi lại vốn gốc bằng mệnh giá khi trái phiếu đáo hạn.+ + 1 2 n (1+k d ) (1+k d ) (1+k d ) (1+k d ) n (1+k d ) n -1 M P0 =I× + n k d (1+k d ) (1+k d ) n a- Định giá trái phiếu có kỳ hạn không hưởng lãi (còn gọi là trái phiếu chiết khấu khống) Trái phiếu kỳ hạn không hưởng lãi là loại trái phiếu không có trả lãi định kỳ mà được bán với giá thấp hơn nhiều so với mệnh giá. thường là hàng năm. Khi mua loại trái phiếu này nhà đầu tư được hưởng lãi định kỳ. Gọi:      I là lãi cố định được hưởng P0 là giá của trái phiếu kd là lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư M là mệnh giá trái phiếu n là số năm cho đến khi đáo hạn thì giá trị của trái phiếu được xác định như sau: n P0 =  t=1 I M + t (1+k d ) (1+k d ) n P0 = I I I M + +.

Do vậy. Định giá cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu mà công ty phát hành cam kết trả tỷ lệ cổ tức cố định hàng năm và không có tuyên bố ngày đáo hạn. mô hình 42 . chính là phần chênh lệch giữa giá mua gốc của trái phiếu với mệnh giá của nó. giá cả của trái phiếu không hưởng lãi chính là giá trị hiện tại của mệnh giá khi trái phiếu đáo hạn. Kết quả là mô hình định giá trái phiếu thông thường phải có một số thay đổi thích hợp để định giá trong trường hợp này. Do đó. Phương pháp định giá loại trái phiếu này cũng tương tư như cách định giá loại trái phiếu kỳ hạn được hưởng lãi chỉ khác ở chỗ lãi suất được hưởng hàng năm bằng 0 nên toàn bộ giá trị hiện tại của phần lãi định kỳ bằng 0.phiếu này người đầu tư vẫn nhận được lợi tức. Loại cổ phiếu này có những tính chất giống như trái phiếu vĩnh cửu. P0 = M (1+k d ) n b-Định giá trái phiếu trả lãi bán niên Thông thường trái phiếu được trả lãi hàng năm một lần nhưng đôi khi cũng có loại trái phiếu trả lãi bán niên tức là trả lãi hàng năm hai lần. k I   (1+ d ) 2n -1  M I  M 2 2 P0 =  + = × +  k k k k k t=1 (1+ d ) t (1+ d ) 2n 2  d ×(1+ d ) 2n  (1+ d ) 2n 2 2 2 2  2  2n 3.2 Định giá cổ phiếu 1.2.

mô hình định giá cổ phiếu thường nói chung có dạng như sau: Trong đó Dt là cổ tức được chia ở thời kỳ t và ks là lợi nhuận mong đợi của nhà đầu tư.. Người mua cổ phiếu thường được chia lợi nhuận hàng năm từ kết quả hoạt động của công ty và được sở hữu một phần giá trị công ty tương ứng với giá trị cổ phiếu họ đang năm giữ. Nếu nhà đầu tư mua cổ phiếu và chỉ giữ nó 3 năm sau đó bán lại với giá là P3.+  = (1+k s ) (1+k s ) (1+k s ) t=1 (1+k s ) t nhập tạo ra cho nhà đầu tư từ cổ phiếu. Giá cổ phiếu thường được xem như là hiện giá dòng tiền tệ thu  D1 D2 D Dt P0 = 1 + 2 +..định giá trái phiếu vĩnh cửu có thể áp dụng để định giá cổ phiếu ưu đãi. Do đó. thì giá cổ phiếu sẽ là: 43 . kp là tỷ lệ lãi suất chiết khấu 2. Định giá cổ phiếu thường Cổ phiếu thường là chứng nhận đầu tư vào công ty cổ phần. Giá cổ phiếu ưu đãi được xác định theo công thức sau: P0 = Dp kp với D p là cổ tức cố định hàng năm. Tuy nhiên mô hình này chỉ phù hợp với tình huống nhà P0 = D1 D2 D3 P3 + + + 1 2 3 (1+k s ) (1+k s ) (1+k s ) (1+k s )3 đầu tư mua cổ phiếu và giữ mãi mãi để hưởng cổ tức.

....+ = = 0 × 1  1 2 t (1+k s ) (1+k s ) (1+k s ) t=1 (1+k s ) k s  (1+k s )  P0 = D0 ks Trường hợp tốc độ tăng trưởng cổ tức không đổi Trong trường hợp này mô hình định giá cổ phiếu như sau: 44 . khi xác định giá trị lý thuyết của cổ phiếu thường.. hay nói khác đi.. các khoản cổ tức được chi trả hàng năm là như nhau. Theo đó nếu D 0 là mức cổ tức hiện tại của cổ phiếu được chia thì: D0 =D1 =D2 =D3 =.. Mặc dù ít có cổ phiếu nào có tốc độ tăng trưởng bằng 0 mãi nhưng với những cổ phiếu nào có cổ tức ổn định và duy trì trong một thời gian dài thì có thể áp dụng để xác định gần đúng giá cổ phiếu..Do đặc tính của cổ phiếu thường khác với cổ phiếu ưu đãi ở chỗ lợi tức được hưởng hàng năm không cố định và phụ thuộc vào kết quả kinh doanh cũng như chính sách chia cổ tức của công ty.. Theo đó ta có các trường hợp sau: Trường hợp tốc độ tăng trưởng cổ tức bằng không Đây là một trường hợp đặc biệt khi tốc độ tăng trưởng cổ tức không đổi và bằng 0. người ta đặc biệt quan tâm đến 2 yếu tố đó là tốc độ tăng trưởng của cổ tức hàng năm và tỷ lệ chiết khấu hàng năm được sử dụng. Do đó...D P0 =  D0 D0 D0 D0 D  1  + +.

.D0 (1+g) D0 (1+g)2 D0 (1+g) (1+g)  (1+g)  P0 = + +.... Do ke > g. nên (1+g) tiến đến 0 khi t tiến đến ∞ (1+k e ) Trường hợp tốc độ tăng trưởng cổ tức thay đổi Khi tốc độ tăng trưởng cổ tức g thay đổi qua từng giai đoạn thì từ công thức định giá cổ phiếu chung. trái phiếu nhưng mô hình này không áp dụng được trong định giá cổ 45 .3 Phương pháp định giá cổ phiếu theo tỳ số P/E (Hệ số giá và thu nhập) Mô hình chiết khấu dòng thu nhập có thể áp dụng để định giá cổ phiếu. người ta biến đổi nó thành: P0 = D1 D2 D3 Dn Pn + + +.+ =D0 × × 1 (1+k s )1 (1+k s ) 2 (1+k s ) (k s -g)  (1+k s )  P0 =D0 × D1 (1+g) = (k s -g) (k s -g) trong đó D0 là cổ tức hiện tại của cổ phiếu và g là tốc độ tăng trưởng cổ tức.. + 1 2 3 n (1+k s ) (1+k s ) (1+k s ) (1+k s ) (1+k s )n n Dt Pn P0 =  Hay t+ (1+k s ) n với n là thời điểm mà người đó bán cổ t=1 (1+k s ) phiếu 3.. Cổ tức kỳ vọng ở cuối kỳ t bằng cổ tức ở hiện tại nhân với hệ số (1+g)t.

 Trường hợp công ty phát hành thêm hoặc mua lại cổ phiếu thì tổng số cổ phiếu thường (mẫu số trong công thức) phải được tính toán theo công thức bình quân gia quyền.Tổng cổ tức ưu đãi)/Tổng cổ phiếu thường Các nhà đầu tư mua cổ phiếu đều mong muốn sẽ thu được lợi nhuận trong tương lai từ vốn đầu tư vào các cổ phiếu đó. Hệ số giá và thu nhập cổ phiếu (P/E: Price on Earning per share) hiện nay là chỉ số được rất nhiều nhà đầu tư ở Việt Nam sử dụng để đánh giá chứng khoán. Hơn nữa giá trị mà nó xác định mới chỉ là giá trị tính toán mang ý nghĩa lý thuyết do buộc phải giả định tốc độ tăng trưởng của cổ tức. Do đó chỉ số thu nhập trên mỗi cổ phiếu sẽ cung cấp thông tin về thu nhập định kỳ của mỗi cổ phần thường.  Trường hợp công ty có phát hành trái phiếu chuyển đổi thì EPS được tính lại. bởi số trái phiếu đó có thể 46 . gọi là EPS giảm bớt.phiếu khi công ty giữ lại toàn bộ lợi nhuận cho tái đầu tư và không trong trả cổ tức cho cổ đông. người ta thường áp dụng tỷ số P/E để ra quyết định về mua bán cổ phiếu. Trên thị trường giao dịch thực tế. Công thức tính giá như sau: P0 =EPS× P E Trong đó EPS là mức thu nhập trên mỗi một đầu cổ phiếu thường và EPS = (Lợi nhuận ròng . Nó phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận ròng trên một cổ phần mà cổ đông đóng góp vốn.

được tính như sau: P/E = Thị giá/EPS Hệ số này cho nhà đầu tư biết họ phải trả giá bao nhiêu cho mỗi đồng thu nhập của một cổ phiếu. EPS giảm bớt = Lợi nhuận ròng (không phải trả lãi TP chuyển đổi)/(Tổng trái phiếu chuyển đổi/Giá chuyển đổi) Công ty nào có EPS cao hơn so với các công ty khác sẽ thu hút được sự đầu tư hơn bởi EPS càng cao thì công ty tạo ra lợi nhuận cổ đông càng lớn và ngược lại. EPS thay đổi tuỳ theo phương pháp kế toán và EPS mà các chuyên gia đánh giá được lấy từ thông tin công ty. Thông thường. Và bằng cách nghịch đảo của tỷ số P/E (lấy 1 chia cho P/E). Do đó. P/E từ 5-15 là bình thường. Kết quả là số lượng cổ phiếu tăng lên sẽ làm giảm thu nhập của mỗi cổ phiếu. kéo theo giá cổ phiếu giảm theo. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường và thu nhập của mỗi cổ phiếu. dù là EPS lấy từ công ty hay chuyên gia cũng chỉ là con số ước tính. nếu P/E lớn hơn 20 có nghĩa là: . Nếu công ty tăng vốn bằng cách phát hành thêm 10% số lượng cổ phiếu mà lợi nhuận tăng thêm không đủ 10% thì EPS sẽ giảm. Do vậy. qua đó sẽ thấy được hiệu quả quá trình hoạt động của công ty.chuyển đổi thành cổ phiếu thường vào bất kỳ lúc nào. 47 . chỉ số này nên được xem xét trong một giai đoạn nhất định để đánh giá xu hướng ổn định và khả năng tăng trưởng của nó. nhà đầu tư có thể xác định được tỷ suất lợi nhuận tương đối trên khoản đầu tư của họ.Nhà đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai. Và EPS không phải lúc nào cũng tỷ lệ với tổng lợi nhuận sau thuế.

Chỉ số P/E cũng chỉ thực sự có ý nghĩa trong việc xác định giá cổ phiếu khi thị trường chứng khoán đã phát triển tương đối với nhiều công ty cùng ngành nghề. .Tỷ số tăng trưởng trong quá khứ (kiểm tra qua nhiều năm để có thể biết được mức bình thường của P/E). Tỷ số P/E thực này cho ta biết sự mong đợi của các nhà đầu tư có thực tế hay không. Những cổ phiếu này thường nhạy cảm với tin tức xấu. Khi tính được tỷ số P/E. cùng quy mô được niêm yết. .Cổ phiếu của các công ty khác trong cùng ngành kinh doanh . chỉ cần nhân hệ số P/E với lợi nhuận mỗi cổ phiếu là có thể xác định một cách tương đối giá trị của cổ phiếu (P0 = P/E x EPS). Nếu mức lạm phát là 8% một năm và tỷ số P/E là 12 thì tỷ số P/E thực sẽ gần với 20.Mức tăng trưởng dự kiến trong tương lai của công ty. . còn những cổ phiếu có P/E thấp thì không. Lưu ý rằng P/E sẽ trở lên vô ích nếu nó không phản ánh khuynh hướng của lạm phát. giá các cổ phiếu luôn hạ xuống. Khi đó.. phản ảnh bởi chỉ số.Toàn bộ thị trường. Nhìn chung P/E cao thường ám chỉ một mức rủi ro lớn và rủi ro lớn hàm ý một cơ hội thu lợi nhuận lớn hơn.Cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư tho mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp. Đây là cách xác định giá cổ phiếu thường nhanh nhất và đơn giản nhất. 48 . Nếu tỷ số P/E thực thấp thì hầu như giá các cổ phiếu luôn tăng lên. nên so sánh với 4 chuẩn mực sau: .Nhà đầu tư dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao. Nếu chúng quá cao.

Theo phương pháp định giá này.Lấy P/E bình quân toàn ngành mà công ty đó tham gia hoặc P/E của một công ty có cổ phiếu được giao dịch rộng rãi có cùng tỷ lệ lợi nhuận. về mặt lý thuyết chúng ta có thể áp dụng một trong hai cách sau: . 49 .Đối với công ty có tốc độ tăng trưởng đều đặn. mà nên so sánh nó với P/E bình quân của ngành. Không nên đặt nó một cách biệt lập. . P/E được dùng để có được một thước đo tương đối về giá cổ phiếu mà thôi. Mặc dù vậy. độ rủi ro và mức tăng trưởng tương tự nhân với EPS của công ty cần định giá. P/E được tính theo công thức sau: P [(1-b)×(1+g)] = E (r-g) Với: b là tỷ lệ thu nhập giữ lại và b= [1-(Cổ tức/EPS)] g là tốc độ tăng trưởng cổ tức và g=b×ROE ROE là giá trị thu nhập vốn cổ phần ROE = EPS/ giá trị sổ sách cổ phiếu r = cổ tức năm sau/P0 + g Giá cổ phiếu của công ty đó sẽ được xác định bằng cách nhân hệ số P/E này với EPS của công ty.

Cũng có trường hợp công ty hoạt động tốt nhưng lại có chỉ số P/E thấp là do thị trường không đánh giá cao hay người đầu tư chưa hiểu biết nhiều về công ty. Các nhà đầu tư thường quan tâm đến những công ty có chỉ số P/E cao vì họ nghĩ rằng công ty có tiềm năng phát triển trong tương lai. Do đó P/E sẽ thấp. o Thứ hai.P/E của các loại công ty trong các ngành nghề khác nhau thì khác nhau. ta chưa có cơ sở nào để nói P/E bây giờ là cao cả vì Việt Nam chưa có đủ các công ty cùng ngành nghề và cùng quy mô trên thị trường nên ta không thể lấy cơ sở nào mà so sánh. Các công ty lâu đời hay những công ty đã phát triển đến mức tột bật thường P/E rất thấp. Tuy nhiên. hệ số EPS và P/E chỉ cho ta hình ảnh về công ty. Tuy nhiên cũng có trường hợp P/E cao không phải do giá thị trường của cổ phần hiện tại cao mà do EPS đang ở mức thấp (thường gặp ở các công ty mới tăng trưởng) . Ví dụ ta không thể so sánh FPT với HAP được. luật CKVN chưa bắt buộc các cty phải công bố cụ thể các thông tin. . nên xem xét để đánh giá xu hướng và khả năng tăng trưởng của công ty. Đơn giản là vì các nhà đầu tư không nghĩ là các công ty đó có tiềm năng và đẩy giá lên nữa. chưa phải là hệ số đáng tin cậy để đánh giá chứng khoán bởi những lý do sau: o Thứ nhất. Do đó các nhà đầu tư không thể dự kiến được lợi nhuận sắp đến chắc chắn được. Nói tóm lại. 50 . vấn đề mà nhà đầu tư quan tâm không phải P/E hiện tại mà P/E tương lai tức là tiên đoán lợi nhuận kì tới của công ty (EPS1) và do đó P1 = EPS1 x P/E.

.1. Đó là phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng.Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương.2 Phương thức phát hành chứng khoán Có 2 phương thức phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp.Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.BÀI 4 PHÁT HÀNH.Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu. .1 Khái niệm về phát hành chứng khoán Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán mới gọi là phát hành chứng khoán..1 Phát hành chứng khoán 4. Tuy nhiên. 51 . không phải mọi đối tượng đều được phát hành chứng khoán mà chỉ những chủ thể phát hành mới có được quyền này. phục vụ cho hoạt động của họ. NIÊM YẾT VÀ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN 4. Nếu việc phát hành đó là việc phát hành bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán cùng loại lưu thông trên thị trường thì gọi là đợt phát hành chứng khoán bổ sung. chứng chỉ thụ hưởng. Thông thường.1. Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán.. 4. nhà phát hành bao gồm: . Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán hàng hoá của thị trường chứng khoán. Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng khoán của một tổ chức lần đầu tiên ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công chúng.

Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ. hoạt động sản xuất kinh doanh tốt. quỹ hưu trí. Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành..1. Chứng khoán phát hành dưới hình thức này 52 .. 2. Việc phát hành chứng khoán riêng lẻ thông thường chịu sự điều chỉnh của Luật Công ty. việc phát hành cổ phiếu thường . Đồng thời. đây cũng là điều kiện để xây dựng một thị trường chứng khoán an toàn. 3. với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng. công khai và có hiệu quả. Ý nghĩa cơ bản của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng Việc phân biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để xác định những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao. nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết. nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung. Phát hành riêng lẻ (Private Placement) Phát hành riêng lẻ là việc công ty phát hành chào bán chứng khoán của mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các nhà đầu tư có tổ chức có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài) như công ty bảo hiểm.cổ phiếu phổ thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này. Phát hành chứng khoán ra công chúng Phát hành chứng khoán ra công chúng là việc phát hành trong đó chứng khoán có thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định.

không phải là đối tượng được niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán sơ cấp. Khái niệm về Bảo lãnh phát hành chứng khoán Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán.1.  Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: đây là phương thức thường được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổ phiếu thường ở các nước phát triển. Trên thế giới. Các phương thức bảo lãnh phát hành  Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ số chứng khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán hay không. tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của các tổ chức bảo lãnh và giá chào bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu. 2. công ty 53 . Trong trường hợp đó. Tổ chức bảo lãnh là người chịu trách nhiệm mua hoặc chào bán chứng khoán của một tổ chức phát hành nhằm thực hiện việc phân phối chứng khoán để hưởng hoa hồng. một nhóm các tổ chức bảo lãnh hình thành một tổ hợp để mua chứng khoán của tổ chức phát hành với giá chiết khấu so với giá chào bán ra công chúng (POP) và bán lại các chứng khoán đó ra công chúng theo giá POP. các ngân hàng đầu tư thường là những tổ chức đứng ra làm bảo lãnh phát hành. 4.3 Bảo lãnh phát hành chứng khoán 1. Trong hình thức bảo lãnh tổ hợp theo "cam kết chắc chắn".

 Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ chức bảo lãnh tổ chức bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành. Do vậy.cần phải bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu. nếu không phân phối được hết sẽ huỷ toàn bộ đợt phát hành. sẽ có một số cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty.tối đa: là phương thức trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh bán tất cả hoặc không. Theo phương thức này. công ty cần có một tổ chức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng mua những quyền mua không được thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu để phân phối ra ngoài công chúng. tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số lượng chứng khoán nhất định. bảo lãnh theo phương thức dự phòng là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra công chúng. và như vậy.  Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: trong phương thức này. Tại các nước đang phát triển. Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường. khi các tổ chức bảo lãnh còn non trẻ và chưa có tiềm lực lớn thì phương thức bảo lãnh phát hành dự phòng lại là phương thức bảo lãnh thông dụng nhất.  Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu . công ty phải chào bán cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài. Có thể nói. Dĩ nhiên. nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần còn lại. tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng 54 .

2 Niêm yết chứng khoán 4.  Quyết định thông qua việc niêm yết chứng khoán của cấp có thẩm quyền cao nhất của công ty (đại hội cổ đông.2 Quy trình niêm yết chứng khoán Bước 1: Nộp hồ sơ đăng ký niêm yết lên SGDCK Tổ chức đăng ký niêm yết chứng khoán phải nộp hồ sơ đăng ký niêm yết cho SGDCK hoặc.khoán nhất định (mức sàn). hội đồng thành viên…) tùy theo loại hình công ty và loại chứng khoán niêm yết theo quy định của pháp luật. đây là quá trình mà SGDCK chấp nhận cho công ty phát hành có chứng khoán được phép niêm yết và giao dịch trên SGDCK tập trung nếu công ty đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện (tiêu chuẩn) về định lượng cũng như định tính mà SGDCK đề ra. Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ.  Sổ đăng ký chủ sở hữu chứng khoán của tổ chức đăng ký niêm yết được lập trong một thời hạn nhất định theo qui định trước thời điểm nộp hồ sơ đăng ký niêm yết. Vượt trên mức ấy. 4.1 Khái niệm Niêm yết chứng khoán là thủ tục cho phép một chứng khoán nhất định được phép giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK). Cụ thể.2. 4. tổ chức bảo lãnh được tự do chào bán chứng khoán đến mức tối đa quy định (mức trần). Hồ sơ đăng ký niêm yết chứng khoán thường bao gồm:  Giấy đăng ký niêm yết chứng khoán theo mẫu quy định của Sở giao dịch.2. hội đồng quản trị. 55 .

trung thực. Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc.  Hợp đồng tư vấn niêm yết (nếu có). Các số liệu tài chính trong Bản cáo bạch phải phù hợp với các số liệu của Báo cáo tài chính đã được kiểm toán trong hồ sơ xin phép niêm yết. Trường hợp đại diện ký thay cần có giấy uỷ quyền.  Đối với việc niêm yết cổ phiếu của công ty cổ phần thì cần phải có cam kết của cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị. Ban Kiểm soát. tình hình hoạt động kinh doanh và triển vọng của tổ chức xin niêm yết. Bước 2: SGDCK tiến hành thẩm định sơ bộ hồ sơ: Đây là bước kiểm tra ban đầu không dựa trên thực tế mà dựa trên cơ sở các tài liệu trong hồ sơ đăng ký niêm yết do tổ chức đăng ký niêm yết cung cấp. Bản cáo bạch của tổ chức niêm yết theo mẫu quy định và phải đáp ứng các yêu cầu: Có đầy đủ các thông tin cần thiết. Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng nắm giữ một tỷ lệ do mình sở hữu trong thời gian theo qui định kể từ ngày niêm yết. Kế toán trưởng của tổ chức xin niêm yết. Trưởng Ban Kiểm soát.  Giấy chứng nhận của tổ chức lưu ký chứng khoán về việc chứng của tổ chức đăng ký niêm yết đã đăng ký lưu ký tập trung. Cho dù việc thẩm định này không được thực hiện một 56 . rõ ràng nhằm giúp cho người đầu tư và công ty chứng khoán có thể đánh giá đúng về tình hình tài chính. Tùy theo tính chất của từng loại chứng khoán và quy định của từng Sở giao dịch mà hồ sơ đăng ký giao dịch có thể nhiều hoặc ít hơn các tài liệu trên. Mục đích của thẩm định sơ bộ là nhằm rút bớt thời gian thẩm định chính thức. Có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng quản trị. Giám đốc (Tổng giám đốc).

cơ cấu vốn. Việc nắm giữ chứng khoán. quyền lợi của hội đồng quản trị. tham gia chia lợi nhuận. phải trả).  Thứ hai: SGDCK đặt các câu hỏi cho công ty xin niêm yết về các tài liệu đã nộp. đầu tư của công ty và các tác động của chính sách thu nhập. cơ cấu nắm giữ khối lượng chứng khoán trong những năm qua.  Khả năng sản xuất kinh doanh. phân phối thu nhập trong tương lai. chi tiết nhân sự về hội đồng quản trị. ban giám đốc và của các cổ đông chính trong bất cứ hoạt động kinh doanh nào liên quan đến công ty.cách chính thức. mức độ thanh khoản của chứng khoán.  Các vấn đề về nợ (phải thu. công ty con và các chi nhánh (nếu có). Hầu hết các tổ chức đăng ký niêm yết không đáp ứng được các điều kiện do SGDCK đặt ra thì đều bị loại ngay khi thẩm định sơ bộ trước khi nộp đơn xin niêm yết chính thức. khả năng sinh lời. Tổ chức nộ bộ. Khi thẩm định sơ bộ. 57 . ban giám đốc. sở giao dịch thường chú trọng đến các vấn đề sau:  Các điều khoản thành lập công ty. việc kiện tụng chưa hoàn thành và ảnh hưởng của nó tới công ty (nếu có). nhưng nó có tác dụng quan trọng trong việc đưa ra quyết định cuối cùng việc chấp thuận hay từ chối việc niêm yết. Tiến trình thẩm định sơ bộ hồ sơ của SGDCK gồm các bước sau :  Thứ nhất : SGDCK kiểm tra các tài liệu do công ty xin niêm yết nộp.  Thường xuyên tổ chức công bố thông tin về mọi mặt hoạt động của công ty đặc biệt là các thông tin về tài chính như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. kiểm soát và lực lượng lao động.

 Một số tài liệu khác theo yêu cầu cụ thể của từng SGDCK.  Thứ năm: Nhân viên SGDCK thảo luận về kết quả của việc thẩm tra trong đó có các kết quả khi thực hiện tìm hiểu công ty.  Mẫu chứng chỉ chứng khoán niêm yết.  Thứ tư: SGDCK tìm hiểu thêm về công ty xin niêm yết và có thể đến công ty để kiểm tra các tài liệu và thu thập thêm các thông tin cần thiết cho việc thẩm định niêm yết chính thức.  Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty đã được phê chuẩn. số lượng mỗi loại chứng khoán cần được niêm yết. các đặc quyền và đặc ân. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. công ty đăng ký niêm yết sẽ ký hợp đồng niêm yếtvới SGDCK trong đó quy định các 58 . mệnh giá. Cùng với việc nộp đơn xin phép niêm yết chính thức. Thứ ba: Công ty xin niêm yết trả lời câu hỏi của SGDCK về các thủ tục từ bước 1 đến bước 3 và lặp đi lặp lại cho đến khi các chi tiết được sáng tỏ hoàn toàn. Bước 3: Nộp đơn xin phép niêm yết chính thức lên SGDCK: Sau khi nhận được thông báo kết quả thẩm định sơ bộ hồ sơ xin niêm yết của SGDCK với quyết định chấp thuận hồ sơ. hồ sơ xin niêm yết chính thức cần có thêm các tài liệu sau:  Đơn xin niêm yết theo mẫu quy định của sở giao dịch trong đó nêu rõ lý do xin niêm yết.  Thứ sáu: SGDCK đưa ra quyết định cuối cùng và thông báo quyết định này cho công ty niêm yết. Ngoài các tài liệu trong hồ sơ thẩm định sơ bộ trước đây. công ty đăng ký niêm yết phải nộp đơn kèm hồ sơ xin niêm yết chính thức lên SGDCK.

Hội đồng quản trị SGDCK sẽ phê chuẩn cho chứng khoán đó được niêm yết để chính thức giao dịch trên SGDCK. Bước 6: Khai trương niêm yết: Sau khi được phê chuẩn niêm yết.nghĩa vụ của công ty niêm yết. Bước 4: SGDCK tiến hành kiểm tra niêm yết: Khi nhận được đơn xin niêm yết và ký hợp đồng niêm yết với công ty đăng ký niêm yết. Các nội dung trọng tâm mà SGDCK chú ý kiểm tra gồm:  Khả năng sinh lợi và ổn định của công ty. hội đồng thành viên và tổng giám đốc. Bước 5: SGDCK phê chuẩn niêm yết: Khi xét thấy công ty đăng ký niêm yết đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện về niêm yết chứng khoán. SGDCK tiến hành kiểm tra tính pháp lý.Đảm bảo việc công bố thông tin theo định kỳ. đối chiếu với các điều kiện về niêm yết chứng khoán trên SGDCK trên cơ sở các tài liệu báo cáo và đánh giá.Cung cấp cho SGDCK thông tin theo định kỳ nhằm giúp họ thực hiện tốt chức năng duy trì một thị trường có trật tự.  Tổ chức quản lý và hoạt động của công ty. so sánh với thực tế. tính chính xác của thông tin và kiểm tra.  Lợi ích của công chúng và việc đảm bảo quyền lợi của công ty. . SGDCK sẽ quy định cụ thể thời gian sẽ niêm yết và mời chủ tịch hội đồng quản trị.Ngăn chặn công ty thực hiện kinh doanh thiếu lành mạnh. giám đốc điều hành của công ty niêm yết để định ngày giao dịch đầu tiên trên SGDCK đối với chứng khoán đã được phê chuẩn cho 59 . . .Đảm bảo việc công bố các bản báo cáo tài chính theo chuẩn mực và nguyên tắc kế toán quốc tế một cách thường xuyên và định kỳ. Mỗi sở giao dịch đều có một mẫu hợp đồng niêm yết riêng nhưng tựu trung đều có những nội dung sau: .

bù trừ chứng khoán và cuối cùng là thanh toán chứng khoán 4. Các thành viên lưu ký bao gồm các công ty chứng khoán và các ngân hàng thương mại đã được Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước cấp phép hoạt động lưu ký và đã đăng ký làm thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán. Hệ thống lưu ký chứng khoán bao gồm Trung tâm lưu ký và các thành viên lưu ký. Đây chính là việc giúp lãnh đạo công ty niêm yết hiện diện trước công chúng và nhận trách nhiệm pháp lý của công ty đã được niêm yết. Lưu ký chứng khoán là bắt buộc trước khi muốn chứng khoán được giao dịch qua sàn giao dịch của Trung tâm giao dịch chứng khoán. đặt lệnh. Chứng chỉ chứng khoán của nhà đầu tư sẽ được cất giữ an toàn tại Trung tâm lưu ký. 4.phép niêm yết. Chứng khoán đã được lưu ký sẽ được ghi nhận vào tài khoản lưu ký chứng khoán đứng tên nhà đầu tư. Tính đến đầu năm 2007 Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh có 60 . Lưu ký là việc gửi chứng chỉ chứng khoán như tờ cổ phiếu.3. Khi chứng khoán được giao dịch. khớp lệnh. tài khoản của nhà đầu tư sẽ được ghi tăng hoặc giảm mà không cần phải trao tay tờ chứng chỉ chứng khoán. Lưu ký chứng khoán (deposit) Lưu ký chứng khoán là một trong những điều kiện cần thiết để thực hiện giao dịch trên thị trường chứng khoán.3 Giao dịch chứng khoán Một chu trình giao dịch chứng khoán trải qua nhiều thủ tục: lưu ký chứng khoán. trái phiếu. hoặc các loại giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu chứng khoán vào hệ thống lưu ký.1. Trung tâm giao dịch chứng khoán hiện nay đóng vai trò là Trung tâm lưu ký. Việc lưu ký chứng khoán chỉ được thực hiện tại các thành viên lưu ký của Trung tâm giao dịch chứng khoán.

Sau khi thành viên hoàn tất việc tái lưu ký tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thì chứng khoán đó mới được phép giao dịch. Khi mở tài khoản lưu ký. chính xác và đầy đủ cho thành viên lưu ký. nhà đầu tư nước ngoài chỉ được lưu ký tại thành viên lưu ký nước ngoài .14 thành viên lưu ký. thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán.là các công ty chứng khoán hoặc các ngân hàng thương mại trong nước.là các công ty chứng khoán liên doanh với nước ngoài hoặc các ngân hàng thương mại liên doanh với nước ngoài hoặc các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Các chứng khoán sau khi được lưu ký tại thành viên lưu ký sẽ được thành viên lưu ký tái lưu ký tại Trung tâm giao dịch chứng khoán. Do vậy nhà đầu tư cần tìm hiểu trước để lựa chọn một thành viên lưu ký thích hợp cho mình. Điều này rất quan trọng vì nhà 61 . trong đó 11 thành viên lưu ký là các công ty chứng khoán và 3 thành viên lưu ký là các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. quy định này đã được thay đổi. bổ sung một số điều của Quy chế lưu ký. Tuy nhiên. đồng thời phải làm các thủ tục đóng tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký cũ và yêu cầu thành viên lưu ký này chuyển số dư chứng khoán sang tài khoản lưu ký tại thành viên lưu ký mới. nhà đầu tư trong và ngoài có thể mở tài khoản lưu ký chứng khoán ở bất kỳ thành viên lưu ký nào. Theo quy định hiện hành. Trong trường hợp muốn đổi sang một thành viên lưu ký khác. mỗi nhà đầu tư chỉ được mở một tài khoản lưu ký tại một thành viên lưu ký. nhà đầu tư sẽ mở tài khoản lưu ký mới tại thành viên lưu ký mới. nhà đầu tư nên cung cấp địa chỉ liên lạc rõ ràng. Trước đây nhà đầu tư trong nước chỉ được lưu ký chứng khoán tại thành viên lưu ký trong nước . theo Quyết định số 51/2003/QĐ-BTC ngày 15/04/2003 của Bộ Tài Chính về việc sửa đổi.

là không phải qua kiểm đếm.đầu tư có thể gặp phải những bất tiện và thậm chí thiệt hại sau này. Các cổ phiếu này chỉ được phép giao dịch khi các điều kiện hạn chế đã được bãi bỏ và phải có xác nhận từ tổ chức phát hành. Trung tâm giao dịch chứng khoán cho đến tổ chức phát hành như chậm trễ. hoặc thậm chí đôi khi nhà đầu tư bị từ chối phân bổ quyền. chỉnh sửa hồ sơ thực hiện quyền. Cổ phiếu của cổ đông sáng lập vẫn còn trong thời gian nắm giữ theo quy định của pháp luật. Sau khi kiểm tra. Chẳng hạn. Các chủ sở hữu cổ phiếu theo hình thức ghi sổ muốn lưu ký vẫn tiến hành các thủ tục lưu ký bình thường tại thành viên lưu ký. Trung tâm giao dịch chứng khoán là người 62 . Lưu ký theo hình thức ghi sổ là xu hướng chủ yếu hiện nay vì những ưu điểm hơn hẳn lưu ký chứng chỉ vật chất. Dĩ nhiên trong trường hợp này không có việc chuyển giao chứng chỉ vật chất. và tốn kém cho công tác bảo quản. kiểm tra tính thật giả. Trung tâm giao dịch chứng khoán và thành viên lưu ký trong thời gian thực hiện quyền sẽ không đến đúng nơi nhà đầu tư ở. Việc này có thể đưa đến vô số bất tiện trong quá trình xử lý quyền từ thành viên lưu ký. Thành viên lưu ký sẽ gửi tên chủ sở hữu đến tổ chức phát hành. Người đứng tên lưu ký chứng khoán phải chính là chủ sở hữu chứng khoán. khi địa chỉ trên các loại giấy tờ tùy thân như chứng minh nhân dân được sử dụng để làm các thủ tục mở tài khoản lưu ký. trong khi địa chỉ cư trú hiện tại khác với địa chỉ trên chứng minh nhân dân. kể cả cổ phiếu vô danh. Các thư từ liên lạc của tổ chức phát hành. tổ chức phát hành sẽ gửi tên chủ sở hữu đến Trung tâm giao dịch chứng khoán để thực hiện việc lưu ký. Số seri của tờ chứng chỉ chứng khoán cũng phải đúng là số seri của chủ sở hữu đã đăng ký quyền sở hữu tại tổ chức phát hành. của cổ đông mua chịu chưa thanh toán hết tiền mua cổ phiếu vẫn được lưu ký nhưng không được phép giao dịch.

hoặc là bán loại chứng khoán này ở mức giá cao hơn hoặc bằng với mức giá giới hạn. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện thị trường và mức giá thay đổi nhanh chóng như hiện nay. đặc biệt là với một số lượng cổ phiếu lớn. lãi trái phiếu. Để tránh phải mua hoăc bán một loại cổ phiếu ở mức giá cao hơn hoặc thấp hơn mức giá mà bạn mong muốn. Khi bạn chỉ thị thực hiện một lệnh thị trường.2. nếu bạn không chỉ thị một cách rõ ràng thì người môi giới của bạn sẽ tự động thực hiện lệnh của bạn như một lệnh thị trường. còn gọi là mức giá giới hạn (limit price).được ủy quyền thay mặt người đồng sở hữu chứng khoán lưu ký nhận các quyền được hưởng từ tổ chức phát hành như cổ tức. Tuy nhiên nhược điểm của loại lệnh này là mức giá khi bạn chỉ thị thực hiện lệnh không phải lúc nào cũng trùng khớp với mức giá vào thời điểm người môi giới thông báo cho bạn. thì khả năng số lượng cổ phiếu này được thực hiện ở các mức giá khác nhau lại càng cao Lệnh giới hạn (limit Order) Lệnh giới hạn là việc bạn chỉ thị cho người mội giới của mình mua một chứng khoán ở mức giá thấp hơn một mức giá cụ thể. Lệnh và phương thức khớp lệnh 1. cổ phiếu thưởng 4. Ưu điểm của lệnh thị trường là chừng nào mà có người sẵn lòng mua hoặc bán thì bạn gần như có thể chắc chắn là chỉ thị của bạn sẽ được thực hiện. bạn nên đưa ra “lệnh giới hạn” hơn là “lệnh thị trường”(market 63 . Tùy thuộc vào số hoa hồng mà bạn phải trả cho công ty môi giới hoặc người môi giới chứng khoán mà lệnh thị trường có thể ít tốn kém hơn một lệnh giới hạn (Limit order).3. Các loại lệnh trên thị trường chứng khoán Lệnh thị trường (Market Order) Lệnh thị trường là lệnh mua hay bán một loại cổ phiếu ở mức giá thị trường.

Khi tham gia vào thị trường chứng khoán động tác đầu tiên của người chơi là đặt lệnh và có 2 64 . khi đó bạn nên chỉ thị cho người môi giới của mình bằng một lệnh giới hạn. Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh (At-the-open Order -ATO): Trước khi hiểu thế nào là một lệnh ATO thì chúng ta hãy xem tổng quát các công cụ lệnh trên thị trường chứng khoán. Cổ phiếu này được chào bán ở thị trường sơ cấp với mức giá $9. Một vài công ty môi giới có thể thu phí thực hiện lệnh giới hạn cao hơn lệnh thị trường. Ví dụ: nếu bạn muốn mua một loại cổ phiếu IPO thuộc dạng đang “hot” trên thị trường. Và như vậy bạn sẽ phải hứng chịu một khoản lỗ lớn nếu ngày sau hoặc tuần sau đó giá cổ phiếu sụt xuống. Nhưng đưa ra lệnh giới hạn cũng có nghĩa là bạn có thể tự bảo vệ mình khỏi việc phải mua một loại cổ phiếu ở mức giá quá cao. có thể mức giá lúc bạn đặt lệnh và lúc lệnh của bạn được khớp đã chênh lệch nhau rất nhiều.order) vì khi bạn đặt lệnh thị trường thì bạn không thể kiểm soát được mức giá mà tại đó lệnh của bạn được thực hiện. Nếu bạn không muốn mua cổ phiếu này với mức giá cao hơn $20/ cổ phiếu. Tuy nhiên cũng cần nhớ rằng lệnh giới hạn của bạn có thể sẽ chẳng bao giờ thực hiện được bởi vì mức giá thị trường có thể nhanh chóng vượt mức giá giới hạn mà bạn đưa ra trước khi lệnh của bạn được thực hiện. Nếu đưa ra một lệnh thị trường. Nếu bạn đua ra lệnh giới hạn thì người môi giới của bạn sẽ chỉ thực hiện lệnh nếu mức giá thị trường còn ở dưới hoặc bằng với mức giá giới hạn là $20/ cổ phiếu. ví dụ bạn đặt lệnh lúc giá mới $18/ cổ phiếu và khi lệnh của bạn được khớp thì giá có thể đã bị đẩy lên tới $90/ cổ phiếu.

Như đã nêu ở trên lệnh ATO gắn liền với giá thị trường. vừa linh hoạt nhưng cũng vừa rủi ro trước sự biến động của thị trường.900 cổ phiếu. Những đặc điểm của lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh:  Khi đặt lệnh tại mức giá khớp lệnh. trong khi đó lệnh LO là lệnh mà người chơi đưa ra có kèm theo yêu cầu khớp ở mức giá cụ thể hoặc tốt hơn.LO). tại mức giá thực hiện. do vậy lệnh sẽ được khớp theo mức giá thị trường tại thời điểm khớp lệnh. Khi đại diện giao dịch nhập lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh vào hệ thống giao dịch thì tại vùng giá trong chức năng nhập lệnh. Lệnh ATO là lệnh mua hoặc bán chứng khoán mà người chơi tự mình hoặc thông qua nhà môi giới không đưa ra giá xác định trước. nhà đầu tư không cần phải ghi mức giá cụ thể nhưng sử dụng chữ viết tắt ATO thay cho việc ghi giá. nhập chữ ATO. lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh có thứ tự ưu tiên thực hiện sau các lệnh giới hạn có mức giá đặt lệnh tốt hơn hoặc bằng với giá khớp lệnh. Mỗi công cụ lệnh đều có ưu điểm và các rủi ro riêng.  Trong thời gian nhận lệnh.  Lệnh ATO được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên sau lệnh giới hạn: Khi hệ thống tiến hành so khớp các lệnh. 65 . thông tin thị trường được hiện thị trên màn hình nhập lệnh của đại diện giao dịch và trên bảng điện tử của các công ty chứng khoán và khối lượng đặt lệnh tối đa đối với lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh là 9.công cụ lệnh chủ yếu cho người chơi lựa chọn là: lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh (ATO) và lệnh giới hạn (Limit Order.

 Trường hợp có nhiều lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh ATO đặt mua hoặc đặt bán.Cộng tích luỹ khối lượng đặt mua của lệnh giới hạn từ mức giá cao đến mức giá thấp .Tại các mức khối lượng tích luỹ.Cộng tích luỹ khối lượng chào bán của lệnh giới hạn từ mức giá thấp đến mức giá cao . Các lệnh được khớp sẽ được phân bố như sau: 66 . lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh chỉ có giá trị trong một đợt khớp lệnh và không có giá trị trong đợt khớp lệnh tiếp theo Hệ thống giao dịch chứng khoán sẽ khớp lệnh theo nguyên tắc: Trình tự xác định giá và khối lượng giao dịch của thị trường trong trường hợp có lệnh ATO như sau: .So với khối lượng đặt lệnh của hai bên để xác định khối lượng thực hiện lớn nhất có thể có .  Khi hệ thống tính toán khối lượng và giá khớp lệnh dự kiến. cộng thêm khối lượng đặt của lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh của bên mua hoặc bên bán . lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh ATO cùng được so khớp.So sánh mức giá tại mức giá khối lượng thực hiện lớn nhất với giá đóng cửa để xác định mức giá giao dịch. Nói cách khác. Thứ tự ưu tiên thực hiện lệnh: Tại mức khối lượng so khớp lớn nhất. các lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh sẽ cạnh tranh thực hiện lệnh với nhau theo thứ tự thời gian đặt lệnh. lệnh của ai được nhập vào hệ thống trước thì sẽ được ưu tiên trước. giá giao dịch sẽ được xác định.

. hoặc gần giá đóng cửa nhất có thể.Các lệnh giới hạn đặt mua với giá cao hơn giá khớp lệnh và các lệnh giới hạn đặt bán với giá thấp hơn với giá khớp lệnh được ưu tiên phân bổ trước. đây cũng là một trong các bước đi để tiến tới thực hiện khớp lệnh liên tục khi thị trường đã có quy mô đủ lớn với số cổ phiếu và khối lượng niêm yết lớn Lệnh giao dịch tại mức giá đóng cửa. Đưa công cụ này ra cho các nhà đầu tư lựa chọn sử dụng. khi hệ thống tiến hành so khớp lệnh. Với việc dùng lệnh ATO một số lệnh sẽ có thể được thực hiện mua bán tùy theo mong muốn của nhà đầu tư. sau đó mới phân bổ cho các lệnh giao dịch với giá khớp lệnh. và như vậy khó tránh được những biến động mạnh của giá cổ phiếu.Đối với các lệnh giới hạn đặt mua và lệnh giới hạn đặt bán với giá bằng giá khớp lệnh sẽ được phân bổ trước. ở điểm này lệnh giới hạn có thể hạn chế được rủi ro do cố định mức giá mua bán trước. lệnh ATC (At-the-close order) Một lệnh chỉ ra giao dịch được thực hiện tại phiên đóng cửa của thị trường. Công cụ giao dịch này có thể sẽ làm cho khối lượng giao dịch của thị trường tăng bằng cách "vét" thêm một số khối lượng nữa sau khi khớp lệnh. Với lệnh ATO nhà đầu tư sẽ phải chấp nhận mua chứng khoán theo giá thị trường. Về bản chất. tại mức giá thực hiện sẽ còn dư một số lệnh đặt mua và bán không được khớp lệnh. Với loại 67 . đây là một lệnh thị trường không được nhập vào cho đến phút cuối của giao dịch. các nhà quản lý hy vọng sẽ kích hoạt được thị trường. Tuy nhiên lệnh ATO cũng có nhiều ưu thế. . Lệnh này có tác dụng với các cổ phiếu có chênh lệnh cung và cầu lớn.

Tức là. lệnh này cũng tương tự lệnh ATO (at-the-open order) giao dịch tại giá mở cửa . Do đó. trên cơ sở tập hợp tất cả các lệnh mua và lệnh bán trong một khoảng thời gian nhất định. việc khớp lệnh để tìm ra mức giá bán và giá mua phù hợp cho những nhà đầu tư được thực hiện qua một trong hai phương thức: khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục.và chỉ khác ở chỗ được sử dụng duy nhất trong đợt khớp lệnh cuối cùng của phiên giao dịch. bạn không cần phải bảo đảm mức giá đóng cửa nhưng sẽ là một thứ tương tự như vậy. Phương thức khớp lệnh định kỳ (Call Auction) Là phương thức giao dịch trong đó giá thực hiện mua và bán được xác định theo điều kiện cho phép khối lượng giao dịch cao nhất. Phương thức khớp lệnh Trên thị trường chứng khoán.giao dịch này. Về bản chất. ATC đặc biệt hữu hiệu nếu nhà đầu tư muốn tranh bán nhưng điều này cũng tiềm ẩn rủi ro nếu khớp phải giá không tốt (mua giá cao hoặc bán giá thấp). Lệnh ATC (At The Close . khi xuất hiện yêu cầu của nhà đầu tư đặt ra muốn mua hoặc bán một loại chứng khoán nào đó (đặt lệnh) thì Trung tâm giao dịch 68 . Lệnh ATC được ưu tiên giao dịch trước lệnh giới hạn và không cần ghi mức giá cụ thể.giao dịch tại giá đóng cửa) là loại lệnh mới được áp dụng trên thị trường chứng khoán từ khi tiến hành khớp lệnh liên tục. do lệnh ATC không ghi mức giá nên công ty chứng khoán sẽ sử dụng giá trần để tính phí giao dịch 2. Một điểm cần lưu ý.

chứng khoán sẽ tiến hành ghép lệnh hay gọi là khớp lệnh, dựa trên tình hình cung cầu chứng khoán đó để đưa ra một lệnh thị trường - một mức giá tốt nhất - để các nhà đầu tư mua bán chứng khoán đó, nhằm đạt được giá trị giao dịch lớn nhất. Và việc khớp lệnh này tất nhiên phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Với Call Auction việc khớp lệnh được thực hiện sau khi đã tập trung tất cả các lệnh mua và bán trong một thời gian nhất định, ví dụ tại Sàn giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành khớp lệnh 3 phiên/ ngày, vào một thời điểm nhất định, và đều đặn từ thứ 2 đến thứ 6. Tuy nhiên với cơ chế khớp lệnh định kỳ, nhà đầu tư lại luôn có xu hướng tranh mua, tranh bán vào gần thời điểm khớp lệnh, khiến nhiều phiên đại diện giao dịch không thể nhập kịp các lệnh vào hệ thống, đó là nguyên nhân gây ra hiện tượng ách tắc hay sập sàn.

Phương thức khớp lệnh liên tục (Continuous Auction) Là phương thức trong đó giao dịch được thực hiện liên tục ngay khi có các lệnh đối ứng được nhập vào hệ thống. Với phương thức khớp lệnh liên tục, ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống, sẽ lập tức được so khớp và hình thành giao dịch, từ đó, giá cả được xác định liên tục chứ không phải vào một thời điểm nhất định như khớp lệnh định kỳ. Tuy nhiên muốn áp dụng phương thức khớp lệnh hiện đại này các Trung tâm giao dịch chứng khoán phải tiến hành nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất, đặc biệt các chương trình xử lý lệnh và giao dịch cho khách hàng theo đúng lộ trình mà Trung tâm thông báo. Hơn nữa, nhà đầu tư cần hiểu biết hơn, nắm vững thông tin hơn khi quyết định đầu tư trên thị trường chứng khoán, nếu không rủi ro khi đầu tư theo phương thức giao dịch liên tục cũng cao hơn.

Hiện nay Trung tâm giao dịch Hà Nội áp dụng đồng thời hai phương thức là giao dịch báo giá và giao dịch thỏa thuận, điều này cho phép 69

khách hàng có thể linh hoạt lựa chọn hình thức giao dịch thích hợp. Giao dịch thỏa thuận có thể áp dụng trong trường hợp nhà đầu tư đã tìm được đối tác giao dịch và giao dịch báo giá áp dụng trong trường hợp chưa tìm được đối tác giao dịch. Đặc biệt báo giá là phương thức giao dịch linh hoạt và tiên tiến, theo đó các lệnh giao dịch khi đã nhập vào hệ thống sẽ được khớp lệnh ngay nếu có các lệnh đối ứng trên hệ thống thỏa mãn được về mức giá giao dịch - Về bản chất đây có thể coi là hình thức giao dịch khớp lệnh liên tục.

Với phương thức giao dịch khớp lệnh định kỳ, mức giá dự kiến khớp lệnh sẽ có những thay đổi thường xuyên và chỉ có thể chính thức xác định tại thời điểm khớp lệnh; như vậy trong trường hợp người đầu tư đặt lệnh sớm, mức giá đặt giao dịch thường có thể sẽ không phù hợp với mức giá khớp lệnh, vì thế người đầu tư muốn đặt lệnh sát với thực tế thị trường thì thường phải theo dõi quá trình giao dịch và đưa ra quyết định cuối cùng vào sát thời điểm khớp lệnh, điều này đôi khi cũng không hoàn toàn được như mong muốn do hầu hết người đầu tư đều tập trung đặt lệnh vào sát giờ khớp lệnh vì thế có thể sẽ dẫn đến nguy cơ dồn toa tắc nghẽn và lệnh giao dịch của khách hàng có thể không kịp chuyển vào hệ thống. Hơn thế nữa, người đầu tư sẽ phải dành khá nhiều thời gian để theo dõi sau khi đã đặt lệnh mới biết được kết quả giao dịch của mình.

Ngược lại, đối với phương thức giao dịch báo giá tại TTGDCK Hà Nội, trong trường hợp nhà đầu tư theo dõi và quyết định đặt lệnh giao dịch đối ứng với các lệnh đã có sẵn trên hệ thống, nếu các điều kiện thỏa mãn thì việc khớp lệnh sẽ được thực hiện ngay sau khi lệnh được nhập vào hệ thống, điều này sẽ giảm thiểu tối đa thời gian mà người đầu tư phải theo dõi đặt lệnh cũng như chờ xác nhận kết quả giao dịch, thời gian dành cho việc đầu tư chứng khoán của khách hàng được rút ngắn để làm các công 70

việc khác. Chính bởi ưu điểm của phương thức giao dịch báo giá như đã đề cập ở điểm trên, nhà đầu tư khi tham gia giao dịch có thể lựa chọn thời điểm đặt lệnh cũng như mức giá đặt mua thích hợp nhất, phù hợp nhất với nhu cầu đầu tư và tình hình thị trường, đồng thời đảm bảo khả năng giao dịch được ở mức cao nhất.

4.3.3. Bù trừ chứng khoán và tiền (clearing)

Nếu đăng ký và lưu ký chứng khoán là khâu hỗ trợ trước giao dịch chứng khoán, thì bù trừ chứng khoán và tiền là khâu hỗ trợ sau giao dịch chứng khoán.

Sau khi chứng khoán niêm yết đã được đưa vào đăng ký, lưu ký tập trung tại Trung tâm lưu ký chứng khoán, chúng sẽ được phép giao dịch trên Thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, sau khi giao dịch được thực hiện (đã được xác nhận), thì các bên tham gia giao dịch cần phải nhận được tài sản của mình: bên bán nhận được tiền, bên mua nhận được chứng khoán. Bù trừ chứng khoán và tiền thực hiện việc xử lý thông tin về các giao dịch chứng khoán, tính toán lại nhằm xác định số tiền và chứng khoán ròng cuối cùng mà các đối tác tham gia giao dịch phải có nghĩa vụ thanh toán sau khi giao dịch được thực hiện.

Hoạt động bù trừ trên thị trường chứng khoán về cơ bản cũng tương tự như hoạt động bù trừ của các ngân hàng thương mại. Kết quả bù trừ tiền luôn thể hiện nghĩa vụ thanh toán một chiều đối với một thành viên lưu ký: hoặc được nhận tiền, nếu tổng số tiền phải trả nhỏ hơn tổng số tiền được nhận; hoặc phải trả tiền nếu tổng số tiền phải trả lớn hơn tổng số tiền được nhận. Điểm khác nhau so với thanh toán bù trừ của các ngân hàng là bù trừ cho các giao dịch chứng khoán không chỉ liên quan đến 71

khắc phục sự chậm trễ trong quá trình xử lý các giao dịch bằng giấy còn phổ biến hiện nay. Nếu phương thức giao dịch là song phương (một bên mua với một bên bán). Phương thức bù trừ cho các giao dịch chứng khoán được quyết định bởi phương thức giao dịch trên Thị trường chứng khoán. điển hình có thể thấy là đối với các giao dịch thỏa thuận. đó là một trong các biện pháp hiệu quả. thì phương thức bù trừ chứng khoán và tiền sẽ là bù trừ đa phương. điển hình có thể thấy là đối với các giao dịch khớp lệnh cổ phiếu. Việc bù trừ chứng khoán cũng mang đặc thù riêng là phải được thực hiện theo từng loại chứng khoán do không thể bù trừ các loại chứng khoán khác nhau với nhau. hoặc được nhận về loại chứng khoán đó nếu số lượng chứng khoán khách hàng đặt mua nhiều hơn số lượng khách hàng đặt bán. thì phương thức bù trừ cũng sẽ là bù trừ song phương. Trong hoạt động bù trừ.3. Do đó. đối với cùng một loại chứng khoán nhất định. Tuy nhiên để có hệ thống bù trừ chứng khoán và tiền chính xác các Trung tâm giao dịch chứng khoán phải tin học hóa hoàn toàn các giao dịch chứng khoán. kết quả bù trừ chứng khoán cũng sẽ chỉ ra nghĩa vụ thanh toán một chiều của từng thành viên lưu ký: hoặc phải giao loại chứng khoán đó nếu số lượng chứng khoán khách hàng đặt mua ít hơn số lượng khách hàng đặt bán. Nguyên tắc thanh toán chứng khoán DVP (Delivery versus Payment) Nếu nghiệp vụ lưu ký là điều kiện trước tiên để tham gia thị trường chứng khoán thì thanh toán chứng khoán và tiền là dịch vụ hỗ trợ sau của giao 72 .4. phương thức bù trừ cũng là một vấn đề cần quan tâm. Nếu phương thức giao dịch là đa phương (nhiều bên mua với nhiều bên bán).mảng tiền mà còn liên quan đến mảng chứng khoán nữa. 4.

dịch chứng khoán, là hoạt động cuối cùng để hoàn tất các giao dịch chứng khoán, theo đó các bên tham gia giao dịch sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình: bên phải trả chứng khoán thực hiện giao chứng khoán, bên phải trả tiền thực hiện việc chuyển tiền, lần lượt trên cơ sở kết quả bù trừ chứng khoán và tiền.

Để giảm rủi ro cho các đối tác tham gia giao dịch, việc thanh toán chứng khoán và tiền luôn phải đảm bảo nguyên tắc giao chứng khoán đồng thời với việc thanh toán tiền, hay còn gọi là nguyên tắc DVP (Delivery versus Payment). Điều này sẽ tránh xảy ra rủi ro cho người giao chứng khoán do có sự chênh lệch giữa thời gian giao chứng khoán và nhận tiền.

Thời hạn của việc thanh toán được quyết định bởi chu kỳ thanh toán. Tùy thuộc vào điều kiện của từng nước mà chu kỳ thanh toán áp dụng cụ thể là: T+1; T+2 hay T+3; tức là cứ đến thời điểm T+1 hoặc T+2 hoặc T+3 thì việc thanh toán chứng khoán và tiền được tiến hành. Trong đó: T được hiểu là ngày giao dịch (ngày mà giao dịch được thực hiện) 1; 2; 3 là số ngày giao dịch (không tính ngày nghỉ ngày lễ) tiếp theo kể từ ngày T

Theo khuyến nghị của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), của Tổ chức các ủy ban Chứng khoán quốc tế (IOSCO) cũng như của nhóm G30 (nhóm các quốc gia có TTCK phát triển nhất), các nước nên áp dụng chu kỳ thanh toán tối đa là T+3. Có 2 lí do cho việc lựa chọn chu kỳ thanh toán T+3:

- Một là, 3 ngày sau ngày giao dịch là một khoảng thời gian đủ dài để người chơi chứng khoán đặt một số lệnh mua và bán 73

nhất định và được khớp lệnh, để họ thu được hoặc bán đi một khối lượng giao dịch đủ lớn, tức là 3 ngày là khoảng thời gian hợp lý để nhìn lại và tổng kết tài khoản chứng khoán của mình.

- Hai là, thị trường chứng khoán luôn biến động hàng ngày hàng giờ, 3 ngày cũng là quãng thời gian không hề ngắn để chứng kiến những thay đổi mạnh mẽ trên sân chơi chứng khoán.

Trong hoạt động thanh toán chứng khoán và tiền, phương thức thanh toán cũng là mối quan tâm của các bên tham gia giao dịch. Phương thức thanh toán được quyết định bởi phương thức bù trừ, do thanh toán luôn được thực hiện trên cơ sở của kết quả bù trừ. Chính vì vậy, nếu phương thức bù trừ là đa phương thì phương thức thanh toán cũng là thanh toán đa phương và tương tự, phương thức bù trừ là song phương thì phương thức thanh toán cũng sẽ là thanh toán song phương

4.3.5 Giao dịch mua bán chứng khoán

1. Mua chứng khoán của tổ chức phát hành - Mua trực tiếp tại tổ chức phát hành: Nhà đầu tư phải đăng ký mua và nộp tiền trực tiếp tại tổ chức phát hành chứng khoán. Hình thức này rất bất cập, nhất là về mặt địa lý.

- Mua thông qua trung gian: Trung gian ở đây là các nhà đại lý hoặc các nhà bảo lãnh phát hành, thông thường là các công ty chứng khoán và các ngân hàng thương mại. Nếu bạn mua chứng khoán của tổ chức phát hành chưa niêm yết trên Trung tâm GDCK thì việc chuyển nhượng hoặc bán lại chứng khoán đó cho người khác hiện nay gặp nhiều khó khăn vì không

74

dễ tìm được người mua. Hơn nữa, bên bán phải trực tiếp đến công ty (hoặc uỷ quyền) để thực hiện chuyển nhượng cho người mua.

2. Mua bán chứng khoán niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán

Chứng khoán niêm yết là chứng khoán có đủ điều kiện và tiêu chuẩn được đăng ký để mua bán tại TTGDCK, thường là các công ty kinh doanh có hiệu quả phát hành, tình hình tài chính đã được kiểm toán và thông tin về doanh nghiệp được công bố công khai cho mọi người biết.

a-

Những quy định chung

Mở tài khoản giao dịch tại một trong các công ty chứng khoán.

Việc mở Tài khoản giao dịch là quy định bắt buộc đối với tất cả các tổ chức và cá nhân muốn tham gia mua bán chứng khoán. Các giấy tờ cần thiết để mở tài khoản:  Nếu là khách hàng đầu tư cá nhân: chỉ cần bản sao chứng minh thư nhân dân và kèm bản gốc để kiểm tra đối chiếu.  Nếu là nhà đầu tư tổ chức thì cần phải có: bản sao công chứng quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập doanh nghiệp, cùng với bản sao công chứng quyết định bổ nhiệm và bản sao chứng minh thư nhân dân của người tham gia điều hành tài khoản.

Để đảm bảo giao dịch an toàn, theo quy định hiện nay phải ký quỹ bảo đảm và mức ký quỹ phải đảm bảo 100%. Điều này có nghĩa khi đặt lệnh giao dịch, nhà đầu tư phải có đủ 100% số dư tiền hoặc chứng khoán trên tài khoản của mình. 75

20. 17. (10 chứng khoán quy ước là 1 lô). Đặt lệnh giao dịch: Có thể lựa chọn các hình thức đặt lệnh sau:  Đến trực tiếp trụ sở của Công ty chứng khoán để đặt lệnh  Đặt lệnh qua điện thoại  Đặt lệnh qua mạng Interrnet. Các quy định trong giao dịch:  Giao dịch lô chẵn: Mỗi lần mua bán chứng khoán. đến 10 giờ 30 phút.  Giá tham chiếu: Giá tham chiếu của những chứng khoán đang giao dịch bình thường là giá khớp lệnh của phiên giao dịch trước đó và được lấy làm cơ sở cho việc tính giới hạn dao động giá chứng khoán.000 cổ phiếu và bằng hoặc lớn hơn 3.  Hiện tại mỗi ngày giao dịch bắt đầu nhận lệnh từ 9 giờ và khớp lệnh lần đầu vào 9 giờ 20 phút. chứ không được đặt mua 5. Tết và các ngày nghỉ theo quy định của Luật lao động. …. thị trường sẽ khớp lệnh đợt 2. thị trường nghỉ giao dịch. thị trường tiếp tục nhận lệnh đợt hai.Những quy định về giao dịch chứng khoán ở Việt Nam Thời gian giao dịch: Tất cả các ngày trong tuần từ thứ hai đến thứ sáu.000 trái phiếu. cổ phiếu.  Giao dịch lô lớn: Là những giao dịch chứng khoán có khối lượng bằng hoặc lớn hơn 10. 76 .… cổ phiếu. Từ 9 giờ 20 đến 10 giờ. số lượng chứng khoán bạn giao dịch phải là bội số của 10 cổ phiếu hoặc 10 trái phiếu. 15.  Từ 10 giờ. trừ các ngày nghỉ lễ. Ví dụ: Bạn có thể đặt mua là 10.

Người đại diện này sẽ nhập lệnh vào hệ thống của TTGDCK. Biên độ dao động giá: Là khoảng dao động giá chứng khoán quy định trong ngày giao dịch. Trái phiếu không áp dụng biên độ giao dịch. c- Thông tin cơ bản trên bảng điện tử về giao dịch chứng khoán niêm yết Mầu sắc o Màu xanh lá cây: Biểu tượng cho sự thay đổi tăng giá o Màu đỏ: Biểu tượng cho sự thay đổi giảm giá o Màu vàng: Biểu tượng cho sự đứng giá (không thay đổi) o Màu tím: Biểu tượng cho các mã chứng khoán tăng kịch trần 77 .  Bước 2: Công ty chuyển lệnh mua hoặc bán chứng khoán cho đại diện của công ty tại TTGDCK.  Bước 3: Trung tâm gian dịch chứng khoán thực hiện ghép lệnh và thông báo kết quả giao dịch cho công ty chứng khoán.  Bước 5: Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là người bán) trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán sau 3 ngày làm việc kể từ ngày mua bán. b- Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết:  Bước l: Nhà đầu tư đến mở tài khoản và đặt lệnh mua hay bán chứng khoán tại một công ty chứng khoán.  Bước 4: Công ty chứng khoán thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu tư. Biên độ được áp dụng hiện nay là ± 5% giá tham chiếu đối với cổ phiếu.

Trên TTGDCK Hà Nội: Giá trần = Giá tham chiếu + 10% * Giá tham chiếu  Cột giá sàn: Là mức giá thấp nhất mà nhà đầu tư có thể đặt lệnh mua. . bán chứng khoán.5% * Giá tham chiếu .Trên TTGDCK TP HCM: Giá trần = Giá tham chiếu + 5% *Giá tham chiếu .  Cột giá đóng cửa: Là mức giá thực hiện cuối cùng trong ngày giao dịch.  Cột giá khớp lệnh: Là mức giá tại đó khối lượng CK được giao dịch nhiều nhất.  Cột giá trần: Là mức giá cao nhất mà nhà đầu tư có thể đặt lệnh mua.Trên TTGDCK Hà Nội: Giá sàn = Giá tham chiếu .10% * Giá tham chiếu  Cột giá mở cửa: Là mức giá thực hiện đầu tiên trong ngày giao dịch. .  Cột khối lượng khớp lệnh: Là khối lượng CK được thực hiện tại mức giá khớp lệnh. giá sàn của ngày giao dịch hiện tại.o Màu xanh lơ: Biểu tượng cho các mã chứng khoán giảm kịch sàn Các thông tin cơ bản được thể hiện trong bảng điện tử:  Cột mã chứng khoán: Là mã hiệu (tên viết tắt) của chứng khoán được đăng ký và niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK). bán CK.Trên TTGDCK TP HCM: Giá sàn = Giá tham chiếu .  Cột giá tham chiếu: Là giá đóng cửa của ngày giao dịch trước đó và là cơ sở để xác định giá trần. 78 .

 Cột bán: gồm 6 cột biểu thị cho 3 mức giá đặt bán thấp nhất tương ứng với các khối lượng đặt bán tại các mức giá thấp nhất đó.  Cột mua: gồm 6 cột biểu thị cho 3 mức giá đặt mua cao nhất tương ứng với các khối lượng đặt mua tại các mức giá cao nhất đó. Khi kết thúc phiên giao dịch Bảng điện tử sẽ hiện thị các thông tin về khối lượng CK tương ứng với các mức giá chưa được khớp lệnh (dư mua). Khi kết thúc phiên giao dịch Bảng điện tử sẽ hiện thị các thông tin về khối lượng CK tương ứng với các mức giá chưa được khớp lệnh (dư bán) 79 . Cột chênh lệch (+/-): Là thay đổi của mức giá hiện tại so với giá tham chiếu trong ngày giao dịch (= giá hiện tại – giá tham chiếu).

trái tức và từ thu nhập do chênh lệch giá trong KD CK đem lại . Tuy nhiên. rủi ro là nhân tố khách quan vượt ra ngoài tầm tay quản lý và khống chế của họ.Kiếm lời từ thu nhập cổ tức. bản chất của đầu tư đều được hiểu chung như sau: “ đầu tư là chỉ việc sử dụng vốn để tạo ra thu nhập hay lợi nhuận bằng cách hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp khai thác và sử dụng nguồn vốn đầu tư đó” Đầu tư CK là chỉ việc bỏ vốn tiền tệ ra mua các CK để kiếm lời Đầu tư nói chung và đầu tư CK nói riêng là một sự hy sinh cho nhu cầu tiêu dùng hiện taị để đổi lấy một sự tiêu dùng trong tương lai.1 Đầu tư chứng khoán 5.An toàn vốn đầu tư Yếu tố cơ bản tác động đến mục tiêu đầu tư + Đầu tư CK mang tính dài hạn nên chịu tác động nhiều của yếu tố rủi ro trong đầu tư : Mục tiêu đầu tư có đạt được như ý muốn hay không hoàn toàn phụ thuộc vào các rủi ro trong đầu tư + Đối với các chủ đầu tư.Tác động của rủi ro như thế nào đến mục tiêu đầu tư hoàn toàn phụ thuộc vào môi trường đầu tư. Vì thế vấn đề an toàn vốn trong đầu tư CK là cần thiết và cũng là một mục tiêu quan trọng của đầu tư CK Mục tiêu của đầu tư CK là: . Do 80 .1.1 Khái niệm Nghĩa của từ “đầu tư” ( Investment) rất rộng và được giải thích ở nhiều góc độ khác nhau trên phương diện đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.BÀI 5 ĐẦU TƯ VÀ PHÂN TÍCH CHỨNG KHOÁN 5.

trình độ quản lý của DN… b) Rủi ro thị trường: Là những rủi ro do các yếu tố thị trường đem lại. tình trạng nợ. nên tiền tệ biến động sẽ ảnh hưởng đến giá cả CK.đó. Môi trường KD của DN xấu đi do sự thay đổi bất lợi cho DN trong các môi trường pháp lý.2 rủi ro trong đầu tư chứng khoán 5.1 Các loại rủi ro trong đầu tư CK a) Rủi ro tài chính : Là rủi ro về khả năng thanh toán trái tức và cổ tức và hoàn vốn cho trái phiếu đầy đủ và đúng hạn hay không. giá trị hoàn vốn của trái phiếu cũng giảm 81 . giá cả tăng.1. đến rủi ro có thể xảy ra trong thời gian đầu tư 5. đầu tư CK cần phải hành động có cân nhắc. nguồn nhân lực. Rủi ro tài chính có phát sinh hay không phụ thuộc vào kết quả KD. Có thể bao gồm các yếu tố : Các yếu tố thị trường gây thiệt hại cho quá trình SXKD của DN: Tình hình cung cầu hàng hoá hoặc dịch vụ kd của DN trên thị trường diễn ra bất lợi cho DN. Đây là một rủi ro tiềm tàng trong KD của DN. Tiền tệ biến động có thể do: Lạm phát: sức mua tiền tệ giảm xuống. thu nhập thực tế của CK giảm. xã hội… Các yếu tố thị trường gây Rủi ro thị trường trong KDCK: sự khủng hoảng thị trường CK quốc tế… c) Rủi ro sức mua tiền tệ Là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư : Giá cả CK được thể hiện bằng tiền. có phân tích khoa học đến môi trường đầu tư.1.2. tài chính.

Rủi ro lãI suất ảnh hưởng đến giá tráI phiếu. bất động sản. trong đó có cả đầu tư CK d) Rủi ro lãi suất Lãi suất đi vay ( Lãi suất tiết kiệm hay LS tiền gửi ) của ngân hàng thương mại và lãi suất tái chiết khấu của NH trung ương biến động sẽ ảnh hưởng đến giá cả CK trên thị trường. cổ phiếu.Giảm phát: sức mua tiền tệ tăng. các nhà đầu tư phảI đối mặt với rủi ro phá sản của DN. TP vào các DN khi DN mất khả năng chi trả đe doạ phá sản hoặc khi DN tuyên bố phá sản: Nếu gía trị TS của DN< các khoản nợ: Giá trị thực của DN bằng âm hoặc bằng không. số tiền thu được có đủ để chi trả các khoản nợ hay không? CP phiếu liệu có được thanh toán hay không?. đảo chính. thị giá của CP chắc chắn sẽ suy giảm. Đây là ruỉ ro mà nhà đầu tưu pháI gánh chịu f) Rủi ro về chính trị và xã hội Là rủi ro do chiến tranh. them chí bằng 0 Nếu DN tuyên bố phá sản: TS của DN bị thanh lý. doanh thu xuất khẩu của DN giảm. Lãi suất quan hệ tỷ lệ nghịch với giá CK Nếu lãi suất thị trường tăng thì giá trị và thị giá của khoản đầu tư sẽ giảm và ngược lại. vàng và các đầu tưu khác e) Rủi ro phá sản Là rủi ro xảy ra đối với các nhà đầu tư CP. ảnh hưởng lợi nhuận và dẫn đến giảm sút cổ tức chia cho cổ đông đối với những DN có XK Cải cách chế độ tiền tệ: Đổi tiền. thiên tai…đã làm cho SXKD bị ảnh hưởng và làm cho thị trường CK ngưng trệ 82 . đình công. ảnh hưởng đến mọi hoạt động đầu tư.

trong từng trường hợp đầu tư cụ thể cần phải đo lường mức độ rủi ro để lựa chọn phương án đầu tư .1. .2. Vì vậy.Cách đo lường rủi ro: Có thể bằng cách vẽ đồ thị phân phối sắc xuất hoặc lượng hoá rủi ro bằng cách tính độ lệch chuẩn: Đây là là cách thông dụng dùng để xác định rủi ro theo cách đánh giá sự phân tán của các mẫu quan sát quanh giá trị trung bình a) Đường phân phối xác xuất .5. nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của rủi ro.2 Đo lường rủi ro .Lợi nhuận đầu tư tăng lên hay không.Tính cổ tức bình quân mong đợi Theo công thức tính gia quyền: n  P ×D i i D= i= 1 n P i= 1 i trong đó: D : Cổ tức bình quân gia quyền Pi : Xác xuất tình trạng kinh tế i ( hoặc năm quan sát) Di : Cổ tức tình trạng kinh tế i Cách này áp dụng trong trường hợp xác định được xác xuất xảy ra của các tình trạng kinh tế qua quan sát trong dài hạn hoặc theo không gian Hoặc theo công thức bình quân số học n P D= i=1 i n 83 .

cổ tức thực tế càng gần với bình quân.Trong thực tế. do đó đầu tư càng ít rủi ro Nếu đầu tư vào 2 loại cổ phiếu có cổ tức bình quân bằng nhau thì độ lệch chuẩn của cổ phiếu nào nhỏ hơn sẽ hấp dẫn nhà đầu tư hơn . người ta tính hệ số độ lệch chuẩn. Hệ số độ lệch chuẩn là tỷ lệ phần trăm giữa độ lệch chuẩn so với cổ tức bình quân mong đợi Công thức tính độ lệch chuẩn: n =   Di -De  ×Pi i=1 2 Trong đó:  ( sigma): độ lệch chuẩn Di là cổ tức của tình trạng KT i n là số tình trạng KT có thể xảy ra Pi là xác suất tình trạng KT i De là cổ tức bình quân 84 .Vẽ Đường phân phối sắc xuất của cổ tức Trên đồ thị với trục tung là xác suất và trục hoành là cổ tức mong đợi Đường phân phối sắc xuất của cổ tức càng hẹp bao nhiêu thì không gian rủi ro càng thu hẹp bấy nhiêu. tức là cổ tức mong đợi trong đầu tư bấy nhiêu b) Lượng hoá rủi ro .. thường dự án đầu tư có mức cổ tức bình quân mong đợi lớn thì sẽ có độ lệch chuẩn lớn. Vì vậy để có sự lựa chọn chính xác.trong đó n là số tình trạng kinh tế hoặc số năm quan sát Cách này áp dụng trong trường hợp có những số liệu qua quan sát thực tế quá khứ nhiều năm liên tiếp theo thời gian .Tính độ lệch chuẩn của cổ tức bình quân: Độ lệch chuẩn càng nhỏ thì đường phân phối sắc xuất càng thu hẹp. ít khi gặp sự trùng hợp như vậy.

của DN B là 100.6 0. bình thường và tăng trưởng trong một môi trường đầu tư như nhau.000đ. xác suất là 60% Trong tình trạng KT suy thoái.000đ/năm. xác suất 20% Căn cứ vào số liệu bảng trên ta lập bảng phân phối xác suất như sau: Tình trạng Xác KT suất Doanh nghiệp A Cổ tức ( P x D D) Suy thoái Bình thường Tăng trưởng Tổng cộng 0. cổ tức của DN A là 400. có thể tính độ lệch chuẩn như sau : n   Di -De   i=1 2 n-1 Ví dụ: Khảo sát để đầu tư vào cổ phiếu DN A và cổ phiếu DN B trong các tình trạng KT khác nhau: suy thoái. xác suất là 20% Trong tình trạng KT tăng trưởng.000đ . cổ tức của DN A là 600. cổ tức của DN A và B như nhau là 500.Hoặc trường hợp không xác định được xác xuất xảy ra của các tình trạng kinh tế hay mẫu qua sát. của DN B là 900. Giả sử có số liệu như sau: Trong tình trạng KT bình thường.4 400 500 600 80 300 120 100 500 900 20 300 180 Doanh nghiệp B Cổ tức P x D xảy ra (P) Cổ tức bình quân gia quyền: 85 .000đ.2 0.000đ.

245 / 500.4 + 0.55 đ  của DN B là 252.6 x 500) + ( 0.13 Hệ số độ lệch chuẩn của DN B là 252. Vấn đề là tình hàm lượng rủi ro của mỗi loại cổ phiếu.DN A: (0.51 86 .21 / 500.000 = 0.21 đ Hệ số độ lệch chuẩn của DN A là 63.245.000đ DN B: cổ tức bình quân gia quyền cũng bằng 500000đ Điều đó có nghĩa là mục tiêu đạt được của 2 cổ phiếu này là như nhau.000 = 0.6 = 500.982. do đó rủi ro trong đầu tư vào cổ phiếu của DN A ít hơn Tính độ lệch chuẩn cũng thấy rõ điều đó: Theo công thức tính được  của DN A là 63. Cổ phiếu nào có hàm lượng rủi ro nhỏ hơn sẽ hấp dẫn hơn Ta Vẽ đồ tthị phân phối xác suất của cổ tức bình quân gia quyền: Xác suất DN A DN B 200 400 500 600 800 Cổ tức Đường phân phối xác suất của DN A hẹp hơn DN B.2 x 600 ) D = 0.2 + 0.2 x 400) + ( 0.982.245.

đặc biệt là đối với những nnhà đầu tư có tổ chức Các vấn đề cần phải xem xét:  Tổng quỹ đầu tưu là bao nhiêu: Phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu  Nguồn tiền nhàn rỗi định đầu tư CK dài hay ngắn 87 . gọi là cổ phiếu có Beta cao. có mức rủi ro dưới trung bình . có mức rủi ro trên trung bình 5. Do đó Beta chứ không phảI độ lệch chuẩn là thước đo rủi ro thích hợp.1.2 Những vấn đề cần quan tâm trước khi quyết định đầu tư CK Trên TTCK các nhà đầu tư muốn đạt được hiệu quả cao trong đầu tư CK cần phảI nghiên cứu thị trường và lựa chọn chiến lược đầu tư . có mức rủi ro trung bình . người ta xác định mức độ rủi ro của một CK cụ thể bằng hệ số beta Mô hình định giá tài sản – vốn chỉ ra rằng rủi ro của một CK cụ thể có thể được biểu diễn bằng hệ số Bêta của nó. có mức biến động nhỏ hơn mức biến động thị trường. có thị trường CK lâu đời và phát triển hiện đại.Hệ số Beta < 1. có mức biến động của toàn bộ thị trường: xếp loại Cổ phiếu có Beta trung bình. gọi là cổ phiếu có Be ta thấp. Hệ số Bêta cho biết xu hướng biến động của một loại CK so với toàn bộ thị trường.Hệ số Beta > 1.Như vậy cổ phiếu của DN A ít rủi ro hơn c) Rủi ro và hệ số Beta trong mô hình định giá tài sản vốn (CAPM).Hệ số Beta = 1 .ở thị trường CK Tại các nền kinh tế thị trường phát triển. có mức biến động cao hơn mức biến động thị trường. Beta là tỷ số về rủi ro không thể đa dạng hoá được của một CK đối với độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư thị trường Một cổ phiếu có: .

đầu tư vào nhiều loại TP và CP của nhiều CT để phân tán rủi ro. mức độ rủi ro giảm hơn so với đầu tưu tất cả vào một loại CK  Lựa chọn thời điểm mua bán và công ty môI giới phục vụ mình Vấn đề lựa chọn chiến lược đầu tư : . Nếu giá hạn liên tục thì bị lỗ . Chiến lược này thích hợp với CP của các CT hàng đầu. quý hay năm. đầu tư theo danh mục ( vào nhiều loại CK). Xác định mục đích đầu tư và rủi ro có thể chấp nhận được: Để chọn chiến lược đầu tư  Đầu tư theo danh mục: Lựa chọn loại CK thích hợp trong các hàng hoá trên TT.Chiến lược mua để hưởng cổ tức và tăng giá cổ phiếu: Nếu trong quá khứ giá CK gia tăng một cách đều đặn thì nhà đầu tưu có thể lựac chọn chiến lược này với kỳ vọng tương lai sẽ theo chiều hướng như vậy. Chiến lược này khá đơn giản.Chiến lược duy trì tỷ lệ không đổi giữa CP và TP : Trong chiến lược này. Chiến lược này kỳ vọng trong tương lai dài thì chi phí trung bình để mua một CP thấp hơn giá trung bình của CP trên TT. thích hợp với các nhà đầu tư mới tham gia TT . cho phép nhà đầu tư sử dụng lợi nhuận từ các Ck giá tăng để đầu tư 88 . có sức mạnh tài chính và đang ở thời kỳ tăng trưởng. khi giá cổ phiếu hạ thì nhà đầu tư mua được nhiều cổ phiếu hơn khi giá tăng.Chiến lược chi phí thấp hơn giá trung bình : Nhà đầu tư sử dụng những khoản tiền cố định để mua cổ phiếu vào những thời điểm xã địn theo tháng. giá giảm mua thêm CP để đưa tổng giá trị về mức đầu tưu ban đầu . Nhiều nghiên cứu thực tế đã chứng minh.Chiến lược tổng giá trị đầu tư cố định : Luôn luôn duy trì một khoản tiền đầu tư cố định vào một hỗn hợp CP cả trong trường hợp gía tăng hay giảm. Khi giá tăng bán bớt CP thu lời.

hạn chế rủi ro thấp nhất. Chiến lược này dành cho những nhà đầu tư có nhiều kinh nghiệm. nhưng rủi ro không phải là ít. lúc đó họ sẽ mua với giá thấp để trả cho lại cho người cho vay. Nếu đầu tư vào cổ phiếu sẽ có cơ hội thu được lợi tức cao. các nàh quản trị DN trong HĐ của họ trên TTCK 89 . Chiến lược này khá ổn định song không đảm bảo đem lại lợi nhuận . còn đầu tư vào trái phiếu sẽ thì mức độ rủi ro ít nhưng mức sinh lời lại thấp. nên bán và mua bán vào lúc nào thì có lợi nhất  Cung cấp thông tin cho các nhà quản lý thị trường.Chiến lược mua trả chậm : Cho phép nhà đầu tư chỉ phải trả một phần tiền mua CP (thường là 50%).2 Phân tích chứng khoán Việc đầu tư vào CK cũng có mặt lợi và hại của nó. muốn mức sinh lời cao thì chịu rủi ro lớn. thích đầu tư ngắn hạn và có tình chất đầu cơ . Để giúp cho việc đầu tư CK có hiệu qủa cao.vào các CK khác. Luật CK VN không cho phép 5. Phần còn lại vay từ công ty môi giới CK. sơ đồ. Đây là chiến lược đầu tưu có độ rủi ro cao nhất. Bảng biểu để đánh giá hoạt động của TTCK cả bề rộng cũng như chiều sâu Mục đích của PTCK:  Cung cấp các thông tin cần thiết để giúp các nhà đầu tư xét doán và cân nhắc những loại CK nào nên mua.Chiến lược bán khống CK ( bán CK mà chưa có quyền sở hữu): Nhà đầu tư vay CK của các nhà môI giới hoặc CTCK để bán. cần thiết phải đi sâu phân tích chứng khoán Phân tích CK là việc ding các hệ số tài chính. khi họ dự đoán giá CK trong tương lai sẽ giảm . các chỉ số.

so sánh kỳ này với kỳ trước để thấy xu hướng biến động. Nguyên vật liệu. cơ cấu vốn.Đánh giá triển vọng của công ty.Đánh giá cổ phiếu của công ty: đắt hay rẻ thông qua giá CP của CT . môI trường: khí hậu.Nội dung phân tích CK bao gồm phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật 5.1 Phân tích cơ bản (Phân tích tài chính) * Là phân tích tình hình hoạt động và đánh giá triển vọng của các công ty phát hành CK dựa vào các báo các tài chính của CT Giúp nhà đầu tư xem xét và quyết định nên mua bán CK của công ty nào * Nội dung: Bao gồm các công việc: . chính sách tài chính. Sản phẩm Bên ngoài: Điều kiện KT: Lạm phát. CS xuất nhập khẩu. lãI suất TT. nguồn.Đánh giá tình hình tài chính của công ty: TS. Vốn. so sánh với mức trung bình của ngành * Tài liệu dùng phân tích: Là các báo cáo tài chính. nguồn.2. di tích.. Thiết bị máy móc. khả năng sinh lời… . của ngành và của nền kt: Xem xét các nhân tố bên trong và bên ngoài Bên trong. Lao động. khả năng thanh toán. Chủ yếu là Bảng tổng kết tài sản và bảng báo cáo thu nhập của công ty 90 . thời tiết ảnh hưỏng… * Phương pháp phân tích chủ yếu: Là so sánh.Đánh giá chính sách chia lời của công ty: phân phối lợi nhuận thuần .Đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty: xem xét lợi nhận ròng trên doanh số và lợi nhuận ròng trên vốn riêng . thuế. Cs kinh tế ngành… Chính trị: ổn định Văn hoá xã hội: du chị. bệnh dịch… Tư nhiên.

* Hệ thống chỉ tiêu chủ yếu dùng phân tích tài chính CK: Là hệ thống các chỉ số tình hình tài chính của công ty phát hành CK có liên quan đến tính thanh khoản.Chỉ số khả năng thanh toán hiện hành ( Current Ratio.Chỉ số khả năng thanh toán nhanh ( Acid Test Ratio) phản ánh khả năng thanh toán kịp thời của DN (còn gọi là chỉ số tài sản nhạy cảm) Tổng tài sản lưu động – hàng tồn kho ATR = Tổng số nợ ngắn hạn Chỉ số này lớn hơn 1 được xem là an toàn vì CT có thể thanh toán các khoản nợ ngắn hạn trong một thưòi gian ngắn . Bao gồm các chỉ tiêu sau: . ổn định và tăng trưởng thì DN sẽ có khả năng thanh toán kịp thời trái tức.CR): Đo khả năng trả nợ ngắn hạn của DN từ TSLĐ ( còn gọi là chỉ số TSLĐ) Tổng tài sản lưu động CR = Tổng nợ ngắn hạn Chỉ số này ít nhất phai là 2 mới đảm bảo sự an toàn về khả năng thanh toán . DN nào có nguồn tiền lớn.Chỉ số nguồn tiền: cho thấy tình trạng nguồn tiền của DN. khả năng thu nhập và bảo hiểm CK của công ty Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính thường gồm: a) Các chỉ số thanh khoản : Là các chỉ số phản ánh khả năng thanh toán vốn và lãi chứng khoán của DN phát hành. cổ tức Chỉ số nguồn tiền = Thu nhập ròng ( hay thực lỗ) + khấu hao TSCĐ Chỉ số này +: DN có thu nhập đầy đủ để chi trả các chi phí và phân chia cổ tức và ngược lại 91 .

Chỉ số cổ phiếu ưu đãi: Phản ánh tỷ trọng của nguồn vốn huy động bằng phát hành cổ phiếu ưu đãi so với tổng số vốn dài hạn của DN Tổng mệnh giá cổ phiếu ưu đãi Chỉ số cổ phiếu ưu đãi = Tổng số vốn dài hạn 92 .5 .Chỉ số trái phiếu (BR): Nói lên tỷ trọng của nguồn vốn huy động bằng phát hành trái phiếu so với tổng số vốn dài hạn của DN Tổng mệnh giá trái phiếu đang lưu hành BR = Tổng vốn dài hạn Trong đó: Tổng vốn dài han bằng tổng nợ dài han + vốn điều lệ + thặng dư vốn + thu nhập giữ lại Để đảm bảo một cơ cấu vốn không tiềm ẩn rủi ro.b) Các chỉ số huy động vốn của DN Là các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn huy động của DN.5 Tổng số nợ DR = Tổng số vốn . Thường bao gồm các chỉ tiêu: . chỉ số này chỉ nên = hoặc < 0. Tỷ số này cao DN khó có thể huy động vốn bằng phát hành trái phiếu và càng tiềm ẩn rủi ro phá sản do không thanh toán đến hạn.Tỷ số nợ (DR) : phản ánh tỷ trọng các khoản nợ so với tổng vốn của DN. chỉ số này chỉ nên < 0.

nếu thấp hơn thì rủi ro tăng lên. Chỉ tiêu này ở mức hợp lý là khoảng trên 0.Chỉ số cổ phiếu thường: Phản ánh tỷ trọng của nguồn vốn huy động bằng phát hành cổ phiếu thường so với tổng số vốn dài hạn của DN Tổng mệnh giá + Thặng dư + Thu nhập CPT Chỉ số cổ phiếu thường = Tổng số vốn dài hạn vốn giữ lại Tử số cộng thêm 2 khoản vì hai khoản này là do nguồn vốn cổ phiếu thường tạo ra và người được hưởng cũng chủ yếu là cổ đông cổ phiếu thường Chỉ số này nói lện thực lực vốn tự có của CT. do đó tỷ trọng của nó thường rất nhỏ ( vài %) . nếu qúa cao thì khả năng sinh lơì lại thấp .5 ( 50%).Phát hành cổ phiếu ưu đãI là một giải pháp dung hoà khi DN không muốn tăng thêm nợ mà cũng không muốn chia sẻ quyền kiểm soát CT cho các cổ đông mới. tuy nhiên nó lại gây cho CT một định phí phảI trả lãI. chỉ số này càng cao thì tính tự chủ về tài chính của CT càng chắc chắn.Chỉ số nợ trên vốn cổ phần: Là tỷ lệ giữa các nguồn tài trợ gây ra định phí trả lãI cho CT như tráI phiếu hay cổ phiéu ưu đãI với CP thường Tổng mệh giá TP + Cổ phiếu ưu đãi Chỉ số nợ trên vốn CP = Mệnh giá CPT + thặng dư vốn + Thu nhập giữ lại Chỉ số này được xem là an toàn khi nó < hoặc = 1 93 .

cổ tức đối với cổ phiếu ưu đãi khi đến hạn và đảm bảo khả năng sinh lời của cổ phiếu thường Bao gồm các chỉ tiêu: Chỉ số đảm bảo TT trái tức : Chỉ số này phản ánh khả năng đảm bảo thanh toán trái tức của DN..Thị giá vốn DN : Nói lên giá thị trường của vốn DN. vị thế kd của doanh nghiệp cao hay thấp Thị giá vốn DN = Tổng số CP đang lưu hành x Thị giá cổ phiếu Vốn điều lệ đã góp = Tổng số CP đang lưu hành x MGCP Thị giá vốn bao giờ cũng phảI lớn hơn vốn điều lệ đã góp của DN c) Các chỉ số đảm bảo CK. Lợi nhuận trước thuế và trái tức Chỉ số bảo đảm TT trái tức = Tổng trái tức phải trả hàng năm - Chỉ số đảm bảo TT cổ tức ưu đãi : Chỉ số này phản ánh khả năng đảm bảo thanh toán cổ tức ưu đãi cho cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi Lợi nhuận ròng (LN sau thuế) Chỉ số đảm bảo TT cổ tức ưu đãi = Tổng cổ tức ưu đãi 94 . So sánh nó với vốn điều lệ của DN để thấy sức mạnh tài chính của DN như thế nào.(bồi hoàn lại) Là các chỉ số phản ánh khả năng đảm bảo thanh toán vốn và trái tức đối với trái phiếu.

Tổng cổ tức ưu đãi EPS = Tổng số cổ phiếu đang lưu hành Trong đó thu nhập ròng là lợi nhuận sau thuế và sau trái tức .Cổ tức mỗi cổ phiếu (DPS): Đây là số cổ tức chia cho mỗi CP.- Giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu (NAV): Phản ánh giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu. Thường các cổ đông qua tâm đến chỉ têu này 95 . Tổng tài sản ròng NAV = Tổng lượng cổ phiếu đã phát hành = Tổng TS – Nợ Tổng số CP Để phản ánh mức đảm bảo giá trị cổ phiếu của DN phải tính chỉ số NAV trên cơ sở mệnh giá cổ phiếu Tổng tài sản ròng NAV = Số lượng cổ phiếu X mệnh giá d) Các chỉ số định giá thu nhập CK Là chỉ tiêu dùng để định giá lượng thu nhập cổ phiếu thường hàng năm của DN. cho biết khả năng đảm bảo TS cho CP khi CT phá sản.Thu nhập mỗi cổ phiếu ( EPS ) Thu nhập( LN) ròng . Bao gồm các chỉ tiêu: . phần lợi tức mà cổ đông được nhận.

500 Như vậy thị giá của cổ phiếu A đã gấp 8 lần thu nhập trên mỗi cổ phiếu.Chỉ số giá / thu nhập của cổ phiếu : Chỉ số này gọi tắt là PER hay P/E. ta có: 500. được tính như sau: Thị giá cổ phiếu thường PER = (P/E) EPS của cổ phiếu thường VD: Thị giá cổ phiếu thường của DN A là 500.000đ. Chỉ số này càng lớn sẽ nói lên cổ phiếu DN A đang cao giá. PER càng nhỏ càng tốt. Chỉ số P/E ở vào khoảng tren 10 là cao = 8 lần 96 .500đ.000 PER = 62. EPS là 62.LN ròng – cổ tức ưu đãi – LN giữ lại DPS = Số CP thường dang lưu hành Giữa EPS và DPS có mối quan hệ qua chỉ số thanh toán cổ tức DPS Chỉ số thanh toán cổ tức = EPS Chỉ số này cũgn phản ánh chính sách phân chia lợi nhuạn của DN .

.2. Nếu ROA > lãI suất sẽ làm tăng ROE và nếu ROA < lãI suất sẽ làm giảm ROE Lợi nhuận ròng Tỷ suất lợi nhuận vốn CP = ( ROE) Vốn cổ phần( chủ sở hữu) Lợi nhuận trước thuế và lãI vay Tỷ suất lợi nhuận tổng vốn = ( ROA) Tổng tài sản có 6.Ngoài ra còn tính các chỉ tiêu ROA. tính toán sự biến động gía CP cũng như nghiên cứu sự tác động của các yếu tố đến trào lưu tăng.toán) mỗi CP Chỉ tiêu này càng cao chưngs tỏ CT càng có khả năng phát triển mạnh trong tương lai .Chỉ số giá / giá trị kế toán CP: gọi tắt là P/B Thị giá Chỉ số giá trên giá trị kế toán = Giá trị sổ sách (giá k. ROE và xem xét mối quan hệ giữa 2 chỉ tiêu này với lãI suất. theo dõi.2 Phân tích kỹ thuật * Là gì? Là phương pháp nghiên cứu phân tích xu hướng biến động giá CK trên TTCK nói chung và của mỗi loại cổ phiếu CT nói riêng Phân tích kỹ thuật giúp cho nhà đầu tư lựa chọn thời đểm thích hợp để mua hoặc bán CK sao cho có lợi nhất Phương pháp phân tích: Ghi chép. 97 .

mỗi đợt giá giảm mới lại đạt mức thấp hơn đợt giá giảm lần trước và mỗi đợt tăng giá tiếp theo không đủ sức đưa mức giá trở về mức tăng giá lần trước thì xu thế cấp 1 là xu thế giảm giá. Xu thế này được gọi là “thị trường con gấu” 2) Xu hướng phụ – Xu thế cấp 2 : Đó là các phản ứng làm ngắt quãng quá trình tăng hoặc giảm giá của xu hướng chính. được xem là người đi đầu của ngành phân tích kỹ thuật Lý thuyết DOW đã đưa ra các tiền đề cơ bản sau:  Chỉ số giá CK: phản ánh toàn bộ HĐ thị trường gộp lại của các nhà đầu tư. Xu thế này được gọi là “thị trường con bò tót” Ngược lại. Dùng biểu đồ. nó trung bình hoá tất cả các biên động từng ngày và các điều kiện tác động lên cung cầu cổ phiếu Ông cho rằng chỉ số bình quan ngành Công nghiệp với 30 loại CP (DJIA). chỉ số giá CK để phân tích a) Lý thuyết DOW: Lý thuyết DOW là lý thuyết của nhà sáng lập Chales Henry Dow. thông tin tốt nhất về xu thế và các sự kiện. Thường xu thế này kéo dài vài ba tuần đến một 98 . tình hình giao dịch các loại CP hoặc nhóm CP. chỉ số BQ về ngành vận tảI với 20 loại CP (DJTA) lf 2 chỉ số chủ yếu phản ánh các xu hướng chính tác động đến giá CP  Ba xu thế thị trường (xu hướng TT): 1) Xu hướng chính (xu thế cấp 1): Đó là xu thế chung về sự đI lên hoặc đi xuống kéo dài trong một hoặc thậm chí vài năm Cứ mỗi đợt tăng giá mới lại đạt mức cao hơn đợt giá tăng lần trước và cứ mỗi đợt phản ứng giá (reaction) vẫn ở mức cao hơn đợt phản ứng giá lần trước. đồ thị.giảm giá CP. nhưng xu thế chính vẫn là xu thế tăng giá. tác động ngược lại với xu hướng chính.

xu thế cấp 3  Kết luận của lý thuyết Dow đưa ra lời khuyên cho các nhà đầu tư KDCK là: o Khi có dấu hiệu xác nhận trào lưu lên giá thì nên bắt đầu mua CK vào o KHi có đấu hiệu xác nhận trào lưu xuống giá thì nên bắt đầu bán CK ra o Dựa vào trào lưu lên hay xuống giá mà có thể dự đoán những thăng trầm của nền KT có thể xảy ra b) Chỉ số giá chứng khoán o Là gì: Chỉ số giá Ck ( hay còn gọi là chỉ số của TTCK. Do vậy nó 99 .chỉ số tổgn hợp) là giá bình quân của tất cả các CP giao dịch trên một TTCK hay một loại CP của một ngành tại một thời điểm nhất định (ngày) so với thời điểm gốc (ngày gốc) Ví dụ chỉ số Dow Jones của Mỹ là chỉ số giá bình quân của 65 loại CK hàng đầu.Xu thế cấp 3 : Đó là các biến động nhỏ.Index: là chỉ số giá BQ của tất cả các loại CP giao dịch tại trung tâm giao dịch CK TPHCM o ý nghĩa: Chỉ số giá CK phản ánh xu hướng phát triển của TTCP. thường thì kéo dài trong 6 ngày ít khi kéo dài trong 3 tuần.vài tháng và thướng đảo chiều giá trị từ khoảng 1/3 đến 2/3 đối với các đợt tăng (giảm) giá lần trước trong quá trình diễn biến của xu thế 1 3) Xu hướng thứ yếu. Loại này không có tầm quan trọng. không ảng hưởng đến sự lên xuống giá theo trào lưu xu hướng chính. ngành vận tải và ngành dịch vụ Chỉ số VN. Thường trong xu thế cấp 2 hoặc giữa 2 xu thế cấp 2 có khoảng vài (3) đợt “sóng nhỏ”. bao hàm số bình quân của 3 nhóm ngành là Ngành kỹ nghệ. thể hiện xu hướng thay đổi giá CP và tình hình giao dịch CP trên thị trường CK hay một loại CK cảu một ngành.

Chức năng của chỉ số giá CK: Là tiêu chuẩn đánh giá sự ổn định.được coi như công cụ đo lường “sức khoẻ” của nền KT tài chính. nhờ đó dự bấo tình hình KT tài chính cảu đất nước Là tiêu chuẩn đánh giá xếp hạng HĐKD cảu CT.Phương pháp 1: Dựa trên lượng CP ở kỳ cơ sở: Ví dụ Chỉ số DAX của Đức được tính theo cách này ∑ (Q0 x P1) Il = ∑ (Q0 x P0)) Trong đó . VD như chỉ số CK COSPI của Hàn Quốc có điểm gốc lấy vào ngày 3/1/1990 Công thức chung tính chỉ số giá CK: Tổng giá thị trường tại thời điểm tinh tóan Chỉ số giá CK = 100 Tổng giá thị trường tại thời điểm gốc x Có nhiều phương pháp tính chỉ số giá chứng khoán. Sau đây là 2 phương pháp tính phổ biến: . Il là chỉ số giá chứng khoán Q0 khối lượng CK thời kỳ gốc hoặc cơ cấu khối lượng CK P1 là giá CK ở thời điểm tính chỉ số P0 là giá chứng khoán ở thời điểm gốc 100 x 100 . hưng thịnh hay bất ổ của TTCK. nhờ đó các nhà đầu tư lựa chọn danh mục đầu tư sao cho có lợi nhất o Cách tính chỉ số CK: Về nguyên tắc chỉ số Ck được tính theo lối bình quân gia quyền so sánh với thời kỳ gốc thường được ấn định là 100 điểm.

Lúc mới ra đời.Phương pháp 2: Dựa trên số lượng CP kỳ hiện hành ∑ (Q1 x P1) Ip = ∑ (Q1 x P0) Trong đó: Ip là chỉ số giá chứng khoán Q1 là số lượng cổ phiếu ở thời điểm tính chỉ số P1 là giá ổ phiếu ở thời điểm tính chỉ số P0 Là gía cổ phiếu ở thời điểm gốc x 100 Giá cổ phiếu thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của mỗi quốc gia. tính từ 4 chỉ số bình quân: Chỉ số 30 loại cổ phiếu thuộc ngành công nghiệp 101 . cứ một mức như vậy (100đ) coi là 1 điểm o Một số chỉ số CK thường được biết đến trên thế giới:  Chỉ số DOW. VD ở Mỹ là USD. được tính từ 12 côgn ty cổ phần Năm 1982. Do 2 nhà kinh tế người Mỹ là Charlex Henry Dow và Edworrd David Jones đề xuất Từ 1931 Dow. có nghĩa là 52 $ ở Viết Nam do tiêu chuẩn giá cả đồng VN quá nhỏ.JONES: Ra đời sớm nhất thế giới.Jones được công bố hàng ngày. nên biến động giá tính là 100đ. Một điểm cổ phiếu có nghĩa là giá cổ phiếu bằng 1 $ VD: Giá cổ phiếu 50 $ tăng 2 điểm. công bố trên báo năm 1884.. năm 1931 cả thế giới biết đến. ở Việt Nam là VNĐ. vào cuối thế kỷ thứu 19.

Ngày gốc là 31/7/1994  Chỉ số CAC của Pháp. tính từ 30 cổ phiếu hàng đầu tại SGDCK Luân Đôn.Index: Là số bình quân gia quyền của tất cả các loại cổ phiếu đăng ký GD tại sở chứng khoán tại TPHCM.Chỉ số 20 loại cổ phiéu thuộc ngành vận tải Chỉ số 15 loại cổ phiếu thuộc ngành DV công cộng Chỉ số tổng hợp chung của 65 loại cổ phiếu trên  Chỉ số Nikkei của NHật bản: là số bình quân của 225 cổ phiếu thuộc sở GDCK Tokyo và 250 cổ phiếu của sở GDCK OSAKA  Chỉ số Hang Seng của Hồng kông là số bình quân gia quyền của 33 loại cổ phiếu. ∑ (Q1 x P1 ) VN.Index = ∑ Q 0 x P0 ) x 100 Trong đó: P1 : Giá thị trường của cổ phiếu tại thời điểm tính toán 102 . là số bình quân của 240 cổ phiếu hàng đầu tại SGDCK Paris. Riêng chỉ số này trị giá gốc là 1000 o Chỉ số giá CK trên thị trường CK VN gọi là VN. ngày gốc la 31/12/1987. thời gian gốc là 193  Chỉ số DAX của Đức là số bình quân của 30 cổ phiếu hàng đầu. Ngày gốc là 31/7/1994  Chỉ số FT-30 của ANH.

ta có kết quả giao dịch tại thời điểm gốc: Tên công ty TT ( đ) Cơ điện lạnh Cáp VLVT Cộng Phiên thứ 2. ngày 31/7/2000 Giá cổ phiếu REE là 16.55 . VD: Tại phiên thứ nhất. chỉ số VN.000 204.83 điểm so với phiên trước.Index tính được là 103.5 lần 103 x 100 = 101. điều đó có nghĩa so với thời diểm gốc 28/7 /2000. ngày 28/7/2000. Vì vậy việc tính toán cụ thể được dựa theo công thứuc ở trên và hệ số điều chỉnh.200 x 12) VN.Index giao động trong khoảng trên dưới 450 điểm.200đ REE SAM 16.300 x 15) + ( 17.P0 : Giá thị trường của cổ phiếu tại thời điểm gốc Q1: số lượng cổ phiếu đang lưu hành Q0: Số lượng cổ phiếu thời kỳ gốc Thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời.000 444. nên số lượng cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch biến động tăng theo thời gian. Index = ( 16.000 x 12) Như thế là tăng 1.000 17. 03% Trong tháng 9/2008.000 Ký hiệu Giá TH Số lượng Tổng gía trị ( 16.55 điểm so với phiên trước Giả dụ phiên thứ 3.300đ Giá cổ phiếu SAM là 17.000 CP ( triệu) 15 12 (ngàn đ) 240.000 x 15) + (17.38 điểm. giá bình quân các loại cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh tăng khoảng 4. tức là tăng 1. Như thế là tăng 1. ngày 2/8/2000. chỉ số VN.

104 .

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->