Bệnh chủ quan duy ý chí A.

MỞ ĐẦU Trải qua hơn 20 năm đổi mới toàn diện đất nước, với những biến động và thăng trầm của lịch sử, đến nay, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng mà cách mạng Việt Nam đã từng bước vượt qua những khó khăn và thử thách, đất nước ngày một phát triển vững chắc, đời sống của toàn dân về mọi mặt được nâng cao, thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố vững chắc. Tuy nhiên, bên cạnh những thắng lợi đạt được, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm, những sai lầm chậm khắc phục. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thật sự nhìn thẳng vào những yếu kém, sai lầm, đã tự phê bình và đề ra đường lối đổi mới toàn điện đất nước. Trong nhận thức về cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta mặc dù đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xác định mục tiêu và phương hướng xã hội chủ nghĩa nhưng Đảng cũng đã phạm những sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan như: nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần; đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp; có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương. Công tác tư tưởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng... Nhận thức được tầm quan trọng của việc khắc phục những hạn chế mà căn nguyên là bệnh chủ quan, duy ý chí, chúng ta cần có cái nhìn một cách đúng đắn về căn bệnh này, nguyên nhân và biểu hiện của nó, đồng thời vạch ra những biện pháp khắc phục... là nhiệm vụ đang đặt ra cho toàn Đảng và những nhà nghiên cứu lý luận. Đó cũng chính là lý do thôi thúc tác giả lựa chọn làm đề tài tiểu luận của mình. B. NỘI DUNG I. Bệnh chủ quan duy ý chí ở nước ta hiện nay 1. Khái niệm bệnh chủ quan duy ý chí Chủ quan, duy ý chí là một căn bệnh khá phổ biến của nước ta và nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước kia, nó gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bệnh chủ quan, duy ý chí thực chất là khuynh hướng tư tưởng của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, V.I. Lênin gọi đó là “chủ nghĩa duy tâm ý chí”. Đó là trào lưu tư tưởng không xuất phát từ thực tại khách quan, không tôn trọng thế giới khách quan, không lấy thực tiễn khách quan làm cơ sở, tiền đề cho việc đề ra chủ trương, hoạch định đường lối, chính sách. Bệnh chủ quan, duy ý chí cho rằng tư tưởng và ý chí của con người có thể quyết định tất cả. Mặc dù thừa nhận chủ nghĩa duy vật mác xít là cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học hiện đại, là sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng nhưng những người duy vật mác xít vẫn có thể mắc phải bệnh chủ quan, duy ý chí một cách không tự giác, nhất là khi xem xét các vấn đề xã hội.

. (Sđd tr 233). kém lí luận. Về điểm này. Lí luận suông dẫn đến tác hại là nói không đi đôi với làm. khoa học của chủ thể nhận thức có thể khẳng định rằng. tuyệt đối hoá tính sáng tạo của ý thức thì sớm muộn gì cũng rơi vào bệnh chủ quan. Ph.Học thuyết Mác . Năng lực ấy cần phái được phát triển hoàn thiện. dựa vào tình cảm. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. ý chí của con người thì bệnh chủ quan.. thậm chí còn lấy nhiệt tình thay cho sự yếu kém về hiểu biết và tri thức khoa học.Lênin chỉ ra rằng.tr233). Bệnh chủ quan: Chủ quan đối lập với khách quan. quá đề cao sự suy nghĩ một chiều của cá nhân. là những biểu hiện và là thực tế không chỉ tồn tại trong cán bộ. giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. duy ý chí Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh chủ quan duy ý chí. ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan một cách sáng tạo. cải tạo chính bản thân mình. T5-NXBCTQG. không tôn trọng quy luật. khinh lí luận. song nếu cường điệu hoá. Trong đó. ý chí của con người. hoặc nói nhiều làm ít. Nhưng quá đề cao ý chí. Cán bộ. duy ý chí là khuynh hướng tuyệt đối hoá vai trò của nhân tố chủ quan. Nếu vận dụng nguyên lý về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội để xem xét thì rõ ràng. Vì vậy. tri thức lý luận. Do ý thức sai lầm về vai trò của lý luận mà dẫn đến lãng quên việc thường xuyên chủ động nâng cao năng lực tư duy lý luận (trong đó bao gồm cả quá trình học tập lý luận và kiểm nghiệm thực tiễn). thì đó là “bệnh chủ quan”. cải tạo xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Khuyết điểm về tư tưởng tức là bệnh chủ quan”. trên cơ sở đó mà cải tạo tự nhiên.. không đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn đã và đang đặt ra.xã hội. Chủ quan: còn có nghĩa là con người tự khẳng định mình bởi năng lực nhận thức quy luật. đảng viên mà lí luận suông là không làm tròn vai trò tiên phong gương mẫu của mình. bất chấp quy luật khách quan. mà trong công việc đổi mới hiện nay. duy ý chí. ở một mức độ nào đó. bất chấp quy luật khách quan để hành động. duy ý chí ở nước ta có nguồn gốc từ sự yếu kém về nhận thức. sự yếu kém về trình độ văn hoá. 2. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nguyên nhân của bệnh chủ quan là: kém lí luận. đảng viên trước cách mạng ở nước ta. Xét từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. khoa học sẽ tất yếu dẫn đến tư duy kinh nghiệm và phạm phải sai lầm chủ quan duy ý chí. Ăngghen đã từng khẳng định: Tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta. khoa học chưa đạt đến một chuẩn mực cần có. giữa thế giới khách quan với ý thức. cụ thể là của trình độ phát triển thấp kém về kinh tế. sẽ làm mất uy tín của Đảng. Vì vậy. Nguyên nhânbệnh chủ quan. tình trạng đó vẫn còn tồn tại như một hiện tượng phổ biến. người ta không thể có được tư duy biện chứng khoa học khi trình độ văn hoá. hoặc khinh lí luận. tri thức khoa học. bệnh chủ quan duy ý chí là kết quả nếu không nói là tất cả của những điều kiện sinh hoạt vật chất . chỉ dựa vào ý chí. của ý chí cá nhân mà xa rời hiện thực khách quan. Bệnh chủ quan duy ý chí là sự thể hiện về trình độ văn hoá. Bệnh chủ quan.H1995. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. lí luận suông. là cái thuộc về ý thức. hoặc lí luận suông”. nhận thức hiện thực khách quan. (Hồ Chí Minh: Toàn tập.

. sách lược cách mạng và sự cụ thể hoá đường lối đó bằng các chủ trương.I. không vạch ra được sự vận động phát triển của sự vật hiện tượng. không vạch ra đuợc xu thế vận động và phát triển của hoàn cảnh kinh tế xã hội. giai cấp và do đặc điểm tâm lý của người sản xuất nhỏ. không đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn đang đặt ra. áp đặt của ý muốn chủ quan tự phát sẽ làm nguy hại nghiêm trọng đến sự phát triển của đất nước mà trước mắt cũng như lâu dài. cường điệu. lối tư duy kinh nghiệm. bơm to. là sai lầm tự phát dẫn đến rơi vào chủ nghĩa duy tâm một cách không tự giác. không đánh giá đúng vấn đề. Ngoài nguyên nhân hạn chế về trình độ nhận thức. đề cao cá nhân trong khi sự vận động đa chiều của sự vật.của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đó là. Thực tiễn cho thấy. đánh giá các vấn đề thì dựa vào sự hiểu biết cá nhân.Lênin đã cảnh báo: "Đối với một chính Đảng vô sản. V. bệnh chủ quan duy ý chí có nhiều biến thể phức tạp và trở thành mầm mống cho nhiều căn bệnh mới trong nhận thức. sai lầm. hậu quả của nó khó có thể lường trước được. sự yếu kém hơn trong nhận thức và bảo thủ hơn trong hành động.. tìm cách thuyết minh cho “sự sáng tạo hợp quy luật” hoặc tìm cách đổ lỗi cho người khác.Chính sự yếu kém trong hiểu biết về khoa học và lý luận làm cho các chủ thể không đủ năng lực giải quyết triệt để các vấn đề xã hội. quá trình hoạch định đường lối chiến lược.”. sửa chữa. Về vấn đề này. Cũng do sự yếu kém đó mà thường đề cao. Định ra một sách lược vô sản nói trên cơ sở đó có nghĩa là làm cho sách lược đó bị thất bại".. Sự yếu kém về tri thức khoa học nên các chủ thể không đủ năng lực để nắm bắt. Bên cạnh đó. Vì sự yếu kém về mặt lý luận và tri thức khoa học nên không đáp ứng yêu cầu khách quan của sự vận động và phát triển của thế giới khách quan. V.. Trong tình hình đó. sai lầm chủ quan. rèn luyện lý luận. Lênin đã từng nói: “Đối với một chính Đảng vô sản. trình độ lý luận dẫn đến lúng túng về biện pháp khắc phục. do tính bảo thủ hoặc vì lợi ích cá nhân nên chủ thể tìm cách che giấu khuyết điểm.. tuyệt đối hoá vai trò của ý chí chủ quan con người. Về lý luận. Sự yếu kém về tri thức lý luận làm con người không nắm bắt được bản chất của các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn. không có sai lầm nào nguy hiểm hơn là định ra sách lược của mình theo ý muốn chủ quan. nếu bị sự can thiệp.Từ đó dẫn đến sự trì trệ trong tư duy.I. chính sách và pháp luật. còn có nguyên nhân chủ quan khác. Lênin đã gọi căn bệnh này “là sự mù quáng chủ quan”. Khi xem xét. V. không sai lầm nào nguy là nguy hiểm hơn là định ra sách lược của mình theo ý muốn chủ quan. . chờ đợi sự may rủi. Tựu trung. theo chúng tôi. Song là một loại bệnh “ấu trĩ tả khuynh” nên nó vẫn có khả năng được ngăn ngừa và loại bỏ. cách trước tiên và chủ yếu là phải học tập. thay cho việc tìm cách khắc phục sai lầm thì có thể là thái độ thời ơ. và do đó. bệnh chủ quan duy ý chí là do sự yếu kém về trình độ nhận thức nói chung và sự hạn chế trong quá trình áp dụng lý luận vào thực tiễn nói riêng. sai lầm càng trở nên nghiêm trọng. sự việc làm cho chúng có đa bản chất. hoặc cho nguyên nhân khách quan..để khắc phục tình trạng yếu kém đó. đặc biệt là các vấn đề xã hội. bệnh chủ quan duy ý là một phạm trù lịch sử nên nó có nguồn gốc lịch sử. thổi phồng. Do đó.I. xã hội.

Việt Nam là một dân tộc có nền văn minh lúa nước phát triển từ rất sớm. chúng ta cũng đã mắc phải căn bệnh này. chúng ta đã không có được một đường lối. phát triển kinh tế. Do vậy. tham ô. coi đó là chiếc chìa khoá. xoá bỏ mọi thành phần kinh tế khác. Trong cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới. ban phát đặc ân. Ở Việt Nam . trong đó bao hàm cả việc nắm vững phép biện chứng duy vật với việc đẩy mạnh đổi mới và phát triển kinh tế. nóng vội. Có thời gian. chính sách phát triển kinh tế linh hoạt và khoa học dẫn đường. gây ra hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế xã hội. sa sút. trong phát triển kinh tế chỉ chú trọng phát triển thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể. hoàn cảnh của thực tiễn. bệnh chủ quan duy ý chí trở thành một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế bị đình đốn. trình độ lý luận mà còn là sản phẩm của một nền sản xuất nhỏ lạc hậu kéo dài. Căn bệnh đó biểu hiện ở chỗ.. Biểu hiện của bệnh chủ quan. trình độ lý luận. trong thời kỳ xây dựng CHXH trước đây. thống nhất đất nước và trong việc hoạch định và duy trì quá lâu cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. góp phần làm cho nền kinh tế xã hội lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. tệ sùng bái cá nhân.Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của những cuộc đấu tranh dựng . dẫn đến sự máy móc. dẫn đến việc đề ra những chỉ tiêu quá cao trong xây dựng cơ bản và phát triền sản xuất. bệnh gia trưởng độc đoán chuyên quyền. chúng ta đã đẩy mạnh quá mức việc xây dựng và phát triển công nghiệp nặng. lối sống cộng đồng. Bệnh chủ quan duy ý chí là căn bệnh không chỉ do yếu kém về trình độ nhận thức. chủ quan khi vận dụng và thực tiễn mà quên đi điều kiện. sự sai lầm trong chính sách cải cách tiền lương. Sai lầm chủ quan duy ý chí đó là sự vi phạm nguyên tắc khách quan của sự xem xét. Bên cạnh đó.. hình thức chủ nghĩa. lãng phí.Những thắng lợi lịch sử đó là kết quả của tinh thần đoàn kết cộng đồng nhưng cũng chính những thắng lợi đó khiến cho tư duy chúng ta thường chủ quan. trọng tình. Nguồn gốc của bệnh chủ quan. duy ý chí. . giá cả.Điều này thể hiện ở việc chúng ta đã nóng vội trong việc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội. trái với tinh thần của phép biện chứng duy vật. duy ý chí ở nước ta Từ năm 1975 đến 1986. quá trình khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí phải là sự kết hợp giữa việc nâng cao trình độ nhận thức. chúng ta đã mắc những sai lầm nghiêm trọng mà chủ yếu là bệnh chủ quan duy ý chí. sức mạnh vạn năng. chúng ta đã chủ quan trong việc đánh giá những khả năng hiện có. hướng nội và lạc quan. ảo tưởng về tốc độ cải tạo. quá chú trọng đến lý luận. Bệnh chủ quan duy ý chí còn dẫn đến tệ mệnh lệnh hành chính.giữ nền độc lập.Điều này chúng ta dễ nhận thấy ở khuynh hướng tâm lý tư tưởng thời kỳ sau đại thắng mùa Xuân 1975. 3. vi phạm nghiêm trọng quy luật khách quan. dựa vào kinh nghiệm.Điều này ảnh hưởng rất lớn đến lối tư duy của người Việt. dựa vào kinh nghiệm đã đem lại những hậu quả to lớn. đánh giá hiện thực khách quan. duy ý chí còn do xa rời nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn và thái độ thiếu khách quan trong nhận thức.Tuy nhiên. Vì không nắm mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn.giành . trong đó dẫn đến bệnh chủ quan. bệnh chủ quan duy ý chí ở nước ta có biểu hiện ở sự thoát ly cả lý luận khoa học lẫn thực tiễn đất nước. đến lượt nó. coi thường người lao động. trong thực tiễn ngày nay. và do đó. lối tư duy chủ quan.

xã hội. là mong muốn giải quyết mọi vấn đề kinh tế . nhưng hiện nay có thể nói rằng chúng ta có cả một loạt thời kỳ quá độ mới”. tâm lý và tư tưởng. Khi đó. bản thân những biện pháp quá độ cũng sẽ phải thích ứng với những điều kiện sẽ có trong thời gian đó.Chủ nghĩa chủ quan duy ý chí đã đưa chúng ta tới ảo tưởng có thể đưa ngay nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên CNXH.xã hội cả bề rộng lẫn chiều sâu trong một khoảng thời gian ngắn. nền kinh tế vẫn ở tình trạng nông nghiệp lạc hậu. Nguy cơ của căn bệnh chủ quan duy ý chí trong việc hoạch định đường lối. Từ đó mà dẫn đến sự . Đến lượt mình. tự túc và phân tán của nền nông nghiệp nước ta. Chúng ta đã quên rằng chính V. chế độ hành chính mệnh lệnh. ở chúng luôn có cội nguồn kinh tế . những biện pháp quá độ đó. Ăngghen đã chỉ rõ: “Bất cứ ở đâu. khi tiến hành tập thể hóa nông nghiệp chúng ta đã máy móc. bắt đầu từ thói độc đoán. tệ quan liêu giấy tờ.Một biểu hiện nữa của sai lầm do mắc bệnh chủ quan duy ý chí là đường lối tiến hành công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp. Chủ nghĩa chủ quan duy ý chí đã dẫn chúng ta đến chỗ tạo ra chế độ hành chính mệnh lệnh. với khí thế của một dân tộc vừa chiến thắng lại cộng thêm nhiệt tình mang nặng tính tiểu tư sản.I. ý chí. kết cấu hạ tầng kinh tế .. do ảo tưởng. trang bị kỹ thuật.Chế độ hành chính mệnh lệnh. là sự phủ nhận nền sản xuất hàng hóa và thành kiến với quy luật giá trị. gia trưởng đến bệnh hình thức. do đó không chú ý vận dụng chúng vào việc chế định các chủ trương. tạo ra cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Ph. chúng ta đã bỏ qua chỉ dẫn của Lênin về hình thức quá độ gián tiếp để một nước mà nền kinh tế còn là sản xuất nhỏ đi lên CNXH. ý muốn chủ quan của một nhóm người. cơ chế tập trung quan liêu. Bởi lẽ. duy ý chí phát triển. không tính đến thực tiễn còn đang lạc hậu. chúng ta đã không nhận thức đúng vị trí và vai trò của các bước quá độ gián tiếp và do đó chúng ta đã bỏ qua các hình thức kinh tế trung gian quá độ của một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH. Toàn bộ nền chuyên chính vô sản là một thời kỳ quá độ. . Đặc biệt. chúng ta chỉ thấy một mầu hồng mà không lường hết khó khăn trong quá trình công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp. có những tiền đề triết học và cơ sở phương pháp luận làm nảy sinh và nuôi dưỡng chủ nghĩa chủ quan duy ý chí. chính sách kinh tế. chính sách không phản ánh đúng lợi ích sống còn và ý chí của quần chúng lao động mà thể hiện lợi ích. thống nhất đất nước. rập khuôn theo nước ngoài. sẽ căn bản khác với những biện pháp quá độ trong các nước có chế độ chiếm hữu nhiều ruộng đất”. chúng ta có thể nói rằng chúng ta đang ở vào một thời kỳ quá độ trong thời kỳ quá độ. là kế hoạch hoàn thành thời kỳ quá độ trong vòng 20 năm. chính sách và trong hoạt động thực tiễn là ở chỗ: + Một là. chưa thực sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan. muốn quá độ trực tiếp lên CNXH. Sai lầm đó đã được lặp lại sau khi giải phóng miền Nam .xã hội.tiền. với cạnh tranh… Chúng ta đã có những thành kiến không đúng. bao cấp lại trở thành “mảnh đất mầu mỡ” để chủ nghĩa chủ quan. với mối quan hệ hàng . Nó làm cho đường lối. chúng ta đã vội vàng tiến hành công nghiệp hóa XHCN. trên thực tế. nặng tính tự cấp. Lênin đã khẳng định: “Nếu phân tích tình hình chính trị hiện nay. hơn nữa lại tập trung ngay vào công nghiệp nặng với vốn đầu tư lớn song hiệu quả chẳng thu được không như kế hoạch ban đầu. Do muốn “tiến thẳng”. Do chủ quan duy ý chí. cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thể hiện dưới những hình thức hết sức đa dạng. Biểu hiện rõ nét nhất của sai lầm đó là đường lối xây dựng CNXH với bốn mục tiêu chủ yếu mà Đại hội IV đã đề ra. Từ chỗ không đánh giá đầy đủ những đặc thù của một nước nghèo nàn và kém phát triển. chính sách ra khỏi đời sống kinh tế . nó dẫn đến chỗ tách đường lối. trong các nước có chế độ chiếm hữu ít ruộng đất.xã hội thấp kém.

Chúng ta sẽ đạt được tất cả những gì mong muốn. như Lênin đã khẳng định: Tính sáng tạo sinh động của quần chúng. CNXH không phải là kết quả của những sắc lệnh từ trên ban xuống. chế độ hành chính mệnh lệnh. về thời kì quá độ của chúng ta. Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu. cưỡng bức trong việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế. của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng. thờ ơ. + Bốn là.. “Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy.thiếu hiệu quả trong quản lý. tệ quan liêu giấy tờ. đánh giá những sai lầm. văn hóa . xác định đúng mục tiêu và phương hướng XHCN. Tính chất máy móc hành chính và quan liêu không dung hợp được với tinh thần của CNXH. bất chấp những quy luật khách quan của đời sống kinh tế . vào ý chí và nguyện vọng chủ quan. Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí. nhiều hình thức sở hữu theo định hướng XHCN. tìm tòi. cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trở thành cung cách. vượt lên trên cả những đòi hỏi của thực tiễn. sự quan liêu hóa đời sống xã hội. nó dẫn đến chỗ coi thường ý kiến và khả năng sáng tạo của quần chúng lao động.xã hội. Tại Đại hội VII và trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH. nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan”. xây dựng đường lối. của yếu tố chính trị trong việc hoạch định đường lối. bệnh hình thức. + Ba là. Đại hội VI của Đảng đã phân tích. Đó là thứ ảo tưởng mà V. xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần. chính sách và trong hoạt động thực tiễn. lối suy nghĩ và hành động giản đơn. dân chủ. Biểu hiện cụ thể của nó là ở chỗ chúng ta đã quá đề cao nhiệt tình của quần chúng. Khi thực tiễn đã thay đổi. lãnh đạm ở những người lãnh đạo trước yêu cầu. của những quy luật khách quan đang tác động trong đời sống kinh tế . Đảng ta đã chỉ rõ: Trong cách mạng XHCN. Lênin đã từng phê phán khi ông chỉ ra rằng nhiệt tình cách mạng chỉ là một trong những yếu tố chứ không phải là yếu tố duy nhất quyết định sự ra đời một chế độ xã hội mới. khuyết điểm ấy bắt nguồn từ những sai lầm trong quan điểm và lý luận cơ bản về CNXH. bao cấp… Nhận định đó cho thấy chủ nghĩa chủ . nó chỉ có thể phá vỡ được cái cũ chứ không thể xây dựng cái mới. đó là nhân tố cơ bản của xã hội mới. nó tạo ra thái độ bàng quan. của công cuộc đổi mới đất nước. ảo tưởng khi cho rằng dựa vào nhiệt tình của quần chúng.I. nó dẫn đến chỗ tuyệt đối hóa biện pháp hành chính. Nó khiến cho phê bình và tự phê bình trở thành khẩu hiệu suông. vi phạm quy luật khách quan: nóng vội trong cải tạo XHCN. sự thờ ơ.xã hội. khuyết điểm nghiêm trọng. Nó hạn chế tính công khai. kéo dài nhiều năm trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng nhân dân. + Hai là. .Chủ nghĩa chủ quan duy ý chí còn dẫn đến chỗ cường điệu hóa vai trò của nhân tố chủ quan. Bởi lẽ.. nguyện vọng của quần chúng dẫn đến hiện tượng lạm dụng chức quyền để mưu đồ lợi ích cá nhân. CNXH sinh động.xã hội đang vận động không ngừng. phương pháp hoàn toàn xa lạ với bản chất đích thực của CNXH. hạn chế quyền tự do và các quyền công dân khác của quần chúng lao động. duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu.Những sai lầm. đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí.

khắc phục những hạn chế. phương tiện để thực hiện đường lối. không tôn trọng quy luật khách quan nên đường lối. như Đảng ta từng khẳng định trong các văn kiện Đại hội: “Mọi đường lối. một nguyên tắc hết sức quan trọng . chúng ta đã phạm phải sai lầm giáo điều. trong hoạt động thực tiễn của Đảng và Nhà nước ta suốt một thời gian dài. nhìn thẳng vào sự thật tránh thái độ chủ quan. giữa khách quan và chủ quan trong chủ nghĩa duy vật biện chứng. chính sách này không có tác dụng cài tạo thực tiễn. . xa rời thực tiễn. 1. để tiến nhanh. chính sách nhằm xây dựng mô hình đó và các biện pháp. Vì vậy. các lĩnh vực. chiến lược. nóng vội. Hà Nội. định kiến. II. Nxb Sự thật. không lấy ý chí chủ quan. đổi mới đất nước trên tất cả các mặt. tiễn vững chắc.nguyên tắc nhìn thẳng vào sự thật. tôn trọng quy luật khách quan”.xã hội của nước ta phát triển theo chiều hướng tiến lên mà ngược lại còn kìm hãm sự phát triển đó. Đảm bảo nguyên tắc này là điều kiện tiên quyết khi đề ra đường lối. không lấy ý muốn chủ quan thay cho điều kiện khách quan. Đó là nhiệm vụ cấp bách và hàng đầu của chúng ta hiện nay. chính sách. Nguyên tắc khách quan là một trong những nguyên tắc hàng đầu của triết học mác xít. Nguyên tắc này đòi hỏi bất cứ lúc nào. hoạch định chính sách. Biện pháp khắc phục Bệnh chủ quan duy ý chí ở nước ta hiện nay Cương lĩnh của Đảng khẳng định: “Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí. đồng thời phải tôn trọng sự thật. từ bản thân sự vật. tình cảm cá nhân làm chính sách và áp đặt cho thực tế. phản ánh sự vật một cách trung thực đúng như bản chất vốn có của nó. Trong quá trình xây dựng CNXH. hơn bao giờ hết. duy ý chí mà chúng ta đã từng mắc phải. đánh giá đúng sự thật. chỉ hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể được phép tồn tại với sự thống nhất tuyệt đối về chính trị và tinh thần. cứng nhắc và chủ quan duy ý chí khi áp đặt một mô hình CNXH được thiết kế không xuất phát từ thực tiễn nước ta. nó là hệ quả tất yếu rút ra từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Quán triệt nguyên tắc khách quan trong hoạt động lý luận và thực tiễn Để thực hiện sự nghiệp đổi mới. không trung thực khi đánh giá sự vật hiện tượng. chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế.Đó là mô hình CNXH thuần khiết với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. phiến diện.quan và duy ý chí là một trong những yếu tố chủ yếu dẫn đến những sai lầm.4). Quán triệt nguyên tắc khách quan đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ thực tế khách quan. tiến mạnh. bất cứ ở đâu cũng phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Do nhận thức mang tính chủ quan duy ý chí. tr. tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan”. khuyết điểm trong việc hoạch định đường lối. làm cho thực tiễn kinh tế . đặc biệt chúng ta cần khắc phục bệnh chủ quan. nói rõ sự thật và rút ra bài học kinh nghiệm bổ ích “xuất phát từ thực tế. đưa nước ta ngang tầm với nhiều nước trong khu vực và quốc tế chúng ta cần nghiêm túc kiểm điểm. 1991. vi phạm quy luật khách quan” (Đảng Cộng sản Việt Nam : Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Hà Nội. không thúc đẩy việc khai thác những tiềm năng hiện có.Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. chủ quan nóng vội. xa rời hiện thực thì chúng ta phải trả giá cho những hành động của mình. 2. từ điều kiện vật chất. 2001. mỗi khi làm trái quy luật. đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. khoa học đó đòi hỏi các chủ thể nghiên cứu vừa phải đứng vững trên lập trường cách mạng. Mọi mục tiêu đặt ra cho hoạt động của con người cũng đều xuất phát từ những tiền đề vật chất. sáng tạo của ý thức cũng hết sức quan trọng.24). trong mọi hoạt động. việc giáo dục ý chí vươn lên cho con người. rằng không thể lấy nguyện vọng tốt đẹp làm mục tiêu chung mà phải xuất phát từ thực tiễn và phải làm theo quy luật. Đảng ta luôn đặt lên hàng đầu nhiệm vụ phát triển kinh tế. việc xây dựng một đời sống tinh thần lành mạnh. chứ không phải là tiền đề tinh thần. không được áp đặt cho sự vật những cái mà vốn bản thân nó không có hoặc không thêr có được. Nhận thức được tầm quan trọng của việc nắm vững nguyên tắc khách quan.Lê-nin là cách mạng và khoa học. xa rời hiện thực. những hoàn cảnh thực tế. xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. là chủ nhân của xã hội nhưng con người không thể hoạt động một cách tuỳ tiện theo lối tư duy và ý muốn chủ quan của mình.Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và nguyên tắc khách quan trong triết học mác xít nói riêng khi xem xét. tư tưởng. Nếu thiếu những yếu tố tinh thần này con người không thể hoạt động có hiệu quả. đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp. Quan điểm khách quan yêu cầu chủ thể cải tạo muốn nhân thức và cải tạo sự vật phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng. hiện tượng. chủ nghĩa duy vật mác xít cho rằng.NGược lại. Bài học từ thời kỳ bao cấp là một minh chứng sống động. Khi điều kiện kinh tế còn thấp mà đề ra những mục tiêu xã hội quá cao thì không tưởng. nhận thức bản thân nó để từ đó tìm ra biện pháp cải tạo nó nhằm phục vụ cho mình. từ chủ nghĩa duy tâm chủ quan đến những biểu hiện của bệnh chủ quan duy ý chí. Quán triệt nghiêm túc quan điểm của chủ nghĩa Mác .Quan điểm khách quan đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn coi trọng việc phát huy vai trò của ý thức. Bản chất của chủ nghĩa Mác . lập trường của giai cấp công nhân vừa phải thực hiện việc nghiên cứu với một tinh thần và phương pháp khoa . rơi vào ảo tưởng và không đạt được. Quan điểm khách quan yêu cầu chúng ta phải luôn luôn tôn trọng quy luật khách quan. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng xác định nhiệm vụ: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá. Quan điểm khách quan đòi hỏi chúng ta phải chống chủ nghĩa chủ quan dưới mọi hình thức. muốn thành công. Trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn bao giờ cũng đi từ những điều kiện. còn nếu chúng ta làm ngược quá trình đó thì tất yếu sẽ thất bại. con người phải có quan điểm khách quan. đặc biệt là việc phát huy tính năng động. Nxb CHính trị quốc gia. Con người chỉ có thể phân tích chính bản thân sự vật. Trong bất kỳ xã hội nào. tr.Thực tế lịch sử cho thấy. phân tích sự vật. ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất. Mặc dù con người luôn tồn tại với tư cách là một chủ thể nhận thức và cải tạo thế giới . thậm chí là kìm hãm khả năng của con người. hiện đại hoá.Bản chất cách mạng. các mục tiêu mà chúng ta đề ra quá thấp so với điều kiện kinh tế thực tại thì nó sẽ làm hạn chế.

khắc phục được bệnh chủ quan. “Công tác tư tưởng còn nhiều bất cập và thiếu tính thuyết phục. sự yếu kém về trình độ sáng tạo ở một bộ phận cán bộ đảng viên. những tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh. đoàn kết. một chiều. tính chiến đấu. 2000. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ sự cần thiết của việc học tập lý luận đối với cán bộ.Nxb CTQG. Nhiều vấn đề thực tiễn bức thiết đòi hỏi phải được làm sáng tỏ. khó lường. dẫn dắt phong trào nếu như không được vũ trang bởi lý luận tiên phong. hạn chế về lý luận của cán bộ. Toàn tập. người cách mạng không thể làm tròn nhiệm vụ của người chiến sĩ tiên phong. người lãnh đạo. 2000. kể cả một số người cán bộ làm công tác lý luận đã dẫn đến tình trạng hời hợt. tập 5. Trong khi đó.I. tr. Bệnh “giáo điều” trong nghiên cứu lý luận. 48]. Công tác lý luận chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề lý luận quan trọng trong công cuộc đổi mới”[Đảng Cộng sản Việt Nam.Lê-nin. nhiều vấn đề lý luận cần được bổ sung. suy diễn một cách chủ quan về các vấn đề thực tiễn. 234]. Sự thiếu hụt về năng lực nhận thức và tư duy. Nxb Chính trị quốc gia. nguyên nhân của các khuyết điểm ấy có nhiều. Nxb CTQG. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. đảng viên khi đã có chính quyền nhà nước. H. H. toàn dân.học nghiêm túc. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2006) khẳng định: “Hai mươi năm qua. giản đơn.Công việc đã có kết quả vẻ vang” [2Hồ Chí Minh. “đại khái”. duy ý chí thì nhất thiết chúng ta phải nắm chắc hơn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác . Lênin đã chỉ ra rằng không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng. đặc biệt là tư duy kinh tế đến đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. cán bộ. Người cho rằng “Đảng ta đã hy sinh tranh đấu. sự “hời hợt”. đảng viên bởi vì theo Người “không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [1Hồ Chí Minh. xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta đang diễn ra trong sự vận động của lịch sử thế giới đương đại với nhiều diễn biến phức tạp. V. về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Đánh giá về những thành tựu đạt được sau hơn 20 năm đổi mới. . Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt thời gian hoạt động cách mạng. Theo Người. đảng viên còn mắc “nhiều khuyết điểm”. Sự nghiệp đổi mới. đúng đắn. Muốn “làm sáng tỏ được một số vấn đề lý luận quan trọng của công cuộc đổi mới”. tr. lãnh đạo nhân dân giành lại thống nhất và độc lập. công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử”. không chịu đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản thì sẽ không những không thể có sự hiểu biết lý luận chắc chắn mà còn có thể làm méo mó bản chất cách mạng. Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển luận điểm mác-xít lêninnít ấy vào thực tiễn cách mạng Việt Nam ở giai đoạn cán bộ. 3. Đảng ta xác định cần tiếp tục đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội. Tăng cường đổi mới công tác lý luận Về lý luận. phát triển và hoàn thiện. tr. toàn quân. đảng viên. Trong những thành tựu đó có thành tựu của lý luận. từ đổi mới tư duy lý luận. tập 5. thiên về miêu tả. Người luôn dành sự quan tâm đối với việc học tập lý luận và nâng cáo trình độ lý luận cho cán bộ. 232] nhưng bước vào thời kỳ mới. khoa học của chủ nghĩa Mác Lê-nin cả trong nhận thức cũng như trong vận dụng vào thực tiễn. với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng. H. 2006. trong đó có nguyên nhân quan trọng là do sự yếu kém. Toàn tập.

Không có trình độ lý luận. tự học trong thực tiễn đấu tranh cách mạng. phi mác-xít. đảng viên. mang tính chất “trang trí”. học bằng con đường tổ chức. trình độ lý luận cho cán bộ. Lý luận chủ nghĩa Mác . năm 2006. “bị bỏ qua”. do đó “kết quả thường thất bại”. Thực hiện tốt công việc quan trọng này thì Đảng mới có thể hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lãnh đạo cách mạng trong tình hình mới. đồng thời phải khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn. chính sách của Đảng trong thời kỳ mới” [Đảng Cộng sản Việt Nam. Quán triệt tư tưởng của Hồ Chí Minh. tr.Đó là công việc của bản thân Đảng. nâng cao trình độ. Hà Nội. không vững.đảng viên đã là người có chức có quyền. 131]. thực dụng. đảng viên để đủ sức giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng . tư tưởng Hồ Chí Minh. học hỏi nhân dân.Lê-nin. chính sách của Đảng và Nhà nước. làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn đường lối. đất nước. hoặc học lý luận một cách hình thức. biện pháp cơ bản là học tập. Nxb Chính trị quốc gia. của toàn thể cán bộ. những quan điểm cơ hội. xử trí cho khéo” mọi công việc. đảng viên. chạy theo mục đích thực dụng trong hoạt động thực tiễn. chất lượng nghiên cứu lý luận của Đảng. những tinh hoa văn hóa thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội" như Nghị quyết Trung ương năm khoá X của Đảng đã chỉ rõ. đảng viên không biết lý luận. đường lối. Không thể vin cớ do “quá bận rộn”. làm cho hệ tư tưởng của Ðảng. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Theo Hồ Chí Minh. bằng con đường tự học: tự học trong sách vở. “quá nhiều việc” mà không chịu học tập. đường lối. không thực chất lý luận chủ nghĩa Mác . trong cuộc sống. Ở đây.lý luận là vấn đề đặt ra rất cấp thiết và gay gắt hiện nay. việc bồi dưỡng. Lười học lý luận là một biểu hiện suy thoái. cân nhắc cho đúng. thì theo Người. “cốt có chứng chỉ” để thuận lợi cho con đường công danh. bồi dưỡng cán bộ làm công tác lý . Theo đó. Cán bộ. quan điểm. nâng cao trình độ trí tuệ.Lê-nin. Phải kiên quyết khắc phục tình trạng xem thường lý luận. kém lý luận thì “không biết xem cho rõ. Đảng ta đặt vấn đề: “Nâng cao trình độ trí tuệ. đảng viên kém lý luận. cũng như những vấn đề về tình hình thế giới. không bám chắc vào thực tiễn cách mạng sôi động của đất nước trong hoạt động lý luận. điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện và phát triển trong xã hội những lý thuyết. không tự bồi dưỡng chủ nghĩa Mác . thì không thể trở thành cán bộ thực sự có trí tuệ. tại Đại hội X. tư tưởng Hồ Chí Minh.Lê-nin. nắm không chắc. những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc. nhân dân lao động đã là người làm chủ xã hội. tư tưởng Hồ Chí Minh. và từ sự suy thoái này dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị không phải là không thể xảy ra. “dị ứng” với lý luận. tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. đảng viên mới có thể làm cho công tác tư tưởng lý luận thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác . thì sẽ tạo cơ hội. lý tưởng xã hội chủ nghĩa. một chiến lược đào tạo. cách sửa chữa tốt nhất là phải học tập. quan điểm của Đảng thì chúng ta không thể giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh này. học mọi người. của giai cấp công nhân. Lười học lý luận. Vì thế. Để sửa chữa cho cán bộ. Phải kiên quyết khắc phục căn bệnh lười học lý luận trong một số cán bộ. thực sự có năng lực. nâng cao trình độ lý luận cho đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.Lê-nin. tư tưởng Hồ Chí Minh bị xem nhẹ. nhiệm vụ cách mạng. Có nâng cao trình độ lý luận của đội ngũ cán hộ. đường lối của Ðảng.

phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa. chính sách của Đảng . trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. 5. sớm làm rõ và kết luận những vấn đề mới. để nắm chắc hơn những nguyên lý của chủ nghĩa Mác . bám sát và đẩy mạnh tổng kết thực tiễn đổi mới. Trong Đảng ta.luận một cách khoa học. Đặc biệt. toàn diện hơn về kinh điển. bức xúc nảy sinh từ thực tiễn . Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh âm mưu “diễn biến hòa bình". thực hiện cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đúng nguyên tắc tập trung. nghiên cứu lý luận nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội IX. Tình hình đó đòi hỏi Đảng ta phải đẩy mạnh công tác lý luận. chuẩn bị tiến tới Đại hội X của Đảng. phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta. kinh doanh trong các . nhất là trong đào tạo. Hội nghị đề ra mục tiêu kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu.28/8/1987) bàn về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. tung ra các quan điểm phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin. đấu tranh với những khuynh hướng tư tưởng sai trái”. đảng viên sa sút về tư tưởng chính trị. tăng cường nghiên cứu lý luận để tiếp tục làm sáng tỏ hơn quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. chưa làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới để phục vụ việc hoạch định chiến lược. bao cấp. có bước đi và lộ trình phù hợp là đòi hỏi bức thiết của tình hình.Lê-nin. thậm chí một số người hoài nghi. tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện. dân chủ mà khâu chủ yếu là thực hiện chế độ tự chủ sản xuất. xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo sự quản lý của Nhà nước. phai nhạt về lý tưởng. Ở trong nước. Hội nghị đã bàn và ra Nghị quyết Về chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. sát thực tế. Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn Nghị quyết Đại hội IX của Đảng cũng chỉ ra rằng “công tác lý luận chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn và yêu cầu của cách mạng. là một bước ngoặt cách mạng trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. tham khảo có chọn lọc lý luận và kinh nghiệm nước ngoài. nhiệm vụ bao trùm và cấp bách của công tác lý luận của Đảng là nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác . bồi dưỡng cán bộ làm công tác lý luận. phẩm chất đạo đức. Nghiên cứu sâu hơn. 4. Tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VI (20 . Trong tình hình hiện nay. thảo luận dân chủ. một bộ phận cán bộ. dao động về chủ nghĩa xã hội và con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta. công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa càng được đẩy mạnh và đi vào chiều sâu càng bộc lộ nhiều vấn đề mới. trong đó trên lĩnh vực tư tưởng – lý luận bằng các phương tiện thông tin đại chúng. có tính đột phá trong công tác đào tạo ở các trường Đảng của cả nước. tăng cường sự nhất trí về chính trị. từng bước cụ thể hóa.Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phải là một hướng ưu tiên. bước vào những thập niên đầu của thế kỷ XXI. tư tưởng trong xã hội”. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. tăng cường tổng kết thực tiễn. tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp. tư tưởng Hồ Chí Minh. bổ sung. đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế. chính sách của Đảng. phát triển đường lối. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã khẳng định : “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận. chủ trương. phức tạp đòi hỏi lý luận phải làm sáng tỏ.

Hệ thống luật pháp.Nó gồm nhiều hình thức sở hữu mà trong đó nó phụ thuộc vào chế độ sở hữu Nhà nước xã hội chủ nghĩa thống trị. quy hoạch xây dựng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.xã hội. kiên quyết đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đi đến thành công. việc đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng. Hội nghị nhấn mạnh phải nắm vững phương hướng cơ bản về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã được Đại hội VI đề ra là: kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu. tất cả mới chỉ là bước đầu. Đến Đại hội VII (1991) và VIII (1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đường lối đó và tiến những bước mới trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội. Vì vậy. nâng cao trình độ tổ chức thực tiễn. được thực hiện thông qua thị trường dưới sự quản lý. còn nhiều yếu kém. giá cả. vì chưa có tiền lệ trong lịch sử. tồn tại khách quan. thiết lập và hình thành đồng bộ cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Để đạt được mục tiêu nói trên. nhất là sự quản lý của Nhà nước về kinh tế còn nhiều yếu kém. Nó thể hiện thái độ rõ ràng.Tuy nhiên. Công tác tài chính.đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bước đi phù hợp với giai đoạn lịch sử mà đất nước hiện nay đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. nhất là 5 năm gần đây nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từng bước được hình thành. Qua đó. hiệu lực và hiệu quả quản lý còn thấp. vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. quản lý đất đai. trong việc thừa nhận chủ nghĩa xã hội có thể dung hợp với kinh tế thị trường. điều tiết của Nhà nước Việt Nam. trước hết là các đơn vị kinh tế quốc doanh. kỷ cương pháp luật chưa nghiêm. bao cấp. kế hoạch. trong đó quá trình sản xuất. vừa tổng kết thực tiễn vừa tham khảo kinh nghiệm của các đồng chí Trung Quốc. Đến Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam. cải cách hành chính còn chậm và chưa kiên quyết. phức tạp. chính sách chưa đồng bộ và chưa nhất quán. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa làm vừa học. .Nó là một kiểu tổ chức kinh tế .Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. là kỹ thuật mà còn là quan hệ xã hội. sơ hở. trong việc chấp nhận kinh tế thị trường. cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng”. kinh tế thị trường không chỉ là công nghệ.. Sau gần 17 năm đổi mới. phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một công việc mới mẻ. Tuy nhiên. đầy khó khăn. mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại. không ngừng đổi mới tư duy. có thể sử dụng kinh tế thị trường làm phương tiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội. làm cho các đơn vị kinh tế cơ sở chuyển sang kinh doanh xã hội chủ nghĩa. không chỉ bao hàm yếu tố lực lượng sản xuất mà còn cả quan hệ sản xuất. dứt khoát của Đảng trong việc từ bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. đồng thời đổi mới một bước cơ bản cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế.. trao đổi. Vì vậy. phân phối. ngân hàng. tiêu dùng gắn với thị trường. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội. sự quản lý của Nhà nước về kinh tế đạt được nhiều thành tựu quan trọng. thủ tục hành chính vẫn rườm rà. trong quá trình này.

6. điều hành của các cơ quan nhà nước. đảng viên. Hơn bao giờ hết. Song song đó. kiểm tra cán bộ. Tham nhũng quan liêu là nguyên nhân chính làm giảm sút niềm tin của nhân dân với Đảng. kiên quyết xử lý những đảng viên. nước mạnh. tất yếu và tự nhiên bắt nguồn từ mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với dân. đẩy mạnh dân chủ hoá cơ sở. giai cấp cách mạng nhất. Trong Đảng phải tiến hành dân chủ rộng rãi. kết hợp với tập trung thống nhất theo một quy trình chặt chẽ. xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. trì trệ. thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Một trong những nguyên nhân là do cuộc đấu tranh chống quan liêu tham nhũng chưa đạt kết quả như mong muốn. dân làm.Đảng CSVN mang bản chất giai cấp công nhân. chống mọi biểu hiện vi phạm quyền dân chủ. Một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là cần phát huy dân chủ trong Đảng để tiến tới phát triển dân chủ xã hội. Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội trong điều kiện một đảng cầm quyền cũng nhằm phát huy quyền làm chủ. dân chủ. phấn đấu cho lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội. Đảng cần quán triệt và vận dụng một cách sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc xây dựng. Bên cạnh đó. nghị quyết của Đảng. Để thực sự phát huy dân chủ trong Đảng. Thực hiện dân chủ hoá nội bộ Đảng. phát triển dân chủ trong xã hội nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng. “phải thực sự mở rộng dân chủ để đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”. xã hội công bằng. ở nơi này. đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống những tư tưởng bảo thủ. đặc biệt trong việc tham gia phản biện xã hội. Đảng phải đổi mới quan niệm và phương pháp tiến hành công tác cán bộ theo hướng thực sự dân chủ. Muốn vậy. sức mạnh của giai cấp công nhân được thể hiện tập trung và kết tinh trong sức mạnh của Đảng. đặc biệt là đảng viên cán bộ có chức có quyền có sai phạm. quản lý nhà nước và vận động nhân dân thực hiện các đường lối chủ trương của Đảng. vững mạnh. lợi dụng dân chủ để mưu cầu lợi ích cá nhân. làm suy yếu mối quan hệ giữa Đảng với dân. Để thực hiện dân chủ trong xã hội thì trước hết phải đảm bảo dân chủ trong Đảng. dân kiểm tra”. Đảng đòi hỏi mỗi đảng viên phải nói và làm đúng đường lối. Một trong những mục tiêu lớn của đổi mới là phát huy quyền làm chủ của nhân dân. cần tăng cường việc lãnh đạo.Đảng CSVN tồn tại không có mục đích nào khác ngoài phục vụ nhân dân. nhân dân chưa hoàn toàn được thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mình. phát huy đầy đủ hiệu lực quản lý. Thực tế thời gian qua. Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. là đảng cầm quyền trong điều kiện hiện nay ở nước ta. từ đó càng thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với dân. . chỉnh đốn Đảng để Đảng thật sự trong sạch. Đảng cần đặc biệt quan tâm tới việc chăm lo đội ngũ cán bộ để đảm bảo sự phát triển liên tục của cách mạng và và sự bền vững của chế độ. văn minh”. nơi khác. dân chủ hình thức. xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là của toàn dân tộc lãnh đạo đất nước đi đến mục tiêu “dân giàu.Với bản chất cách mạng ấy.Không phải mọi việc đều là “dân biết. dân chủ hoá xã hội. dân bàn. việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm. vai trò chủ động sáng tạo của các đoàn thể nhân dân và Mặt trận Tổ quốc. bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước chậm được củng cố và đổi mới. quan liêu.

Tổng kết 10 năm đổi . phân định rõ chức năng. Tổ chức bộ máy nhà nước cồng kềnh. tinh nhuệ.xã hội và làm giảm động lực phát triển”. minh bạch. Mặt trận và các đoàn thể. hiệu quả. phân định rõ chức năng. vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam . vì dân là một nội dungcốt lõi của đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam . vấn đề mấu chốt là đổi mới tổ chức bộ máy. do dân. có hiệu lực. Đây là một đảm bảo rất quan trọng để phòng. trình độ lý luận của Đảng. chống quan liêu.Cải cách công cụ và chế độ công chức. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới đã rút ra bài học kinh nghiệm quý báu: “Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế. Đổi mới tổ chức. trong những năm tới phải tiếp tục đổi mới toàn diện hệ thống chính trị. nhiệm vụ. tham nhũng và những sự biến dạng quyền lực của nhân dân. quyền hạn và trách nhiệm. "Cải cách hành chính tiến hành chậm. trùng lắp chức năng với nhiều tầng nấc trung gian và những thủ tục hành chính phiền hà. đơn giản. tôn trọng quy luật khách quan”. nâng quy chế thành pháp lệnh dân chủ ở cơ sở là một bước tiến quan trọng củalý luận vàthực tiễn dân chủ. . việc ban hành và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. trong đó phải: .Cải cách tổ chức bộ máy các cấp từ trung ương đến địa phương theo hướng tinh gọn. do dân. đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện kinh tế thị trường mở cửa. công khai.Cải cách thủ tục hành chính theo hướng thống nhất. . phương thức hoạt động của hệ thống chính trị. Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị Trong những năm qua. Tất cả nỗ lực đó nhằm xây dựng một nền hành chính nhà nước trong sạch. trí tuệ. Đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam gắn liền với công cuộc vận động dân chủ hoá toàn diện các lĩnh vực của đời sống. không ít trường hợp trên và dưới.đặc biệt ở cơ sở. cùng hướng vào mục tiêu là phát triển và thực hành dân chủ. xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. sách nhiễu cho nhân dân và các doanh nghiệp. do dân. đặc biệt là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng bằng cách nâng cao năng lực. đảm bảo và phát huy vai trò làm chủ của quần chúng nhân dân. công chức trong sạch. Trước tình hình đó. gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế .7. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân. hiệu quả theo hướng xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân. Nhà nước. trung ương và địa phương hành động không thống nhất. hội nhập và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân. là mục tiêu và động lực của đổi mới KẾT LUẬN Từ kinh nghiệm thành công và thất bại trong hoạt động thực tiễn cách mạng. kiên quyết xóa bỏ các thủ tục hành chính gây phiền hà. Với đổi mới hệ thống chính trị. có hiệu lực. xây dựng đội ngũ cán bộ. thiếu kiên quyết. nhất là quyền lực của Nhà nước do dân uỷ quyền. vững mạnh. phát huy quyền làm chủ của nhân dân. nhiệm vụ quyền hạn của từng tổ chức giữa Đảng. nhưng phải thừa nhận rằng. hiệu quả thấp. vì dân. Việt Nam đã tiến hành một bước cải cách nền hành chính. Ở Việt Nam . Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu của đổi mới hệ thống chính trị.

2001 3. khuyết điểm trong đường lối chính sách kẻ thù ra sức chống phá hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. 7. phần 3 Các chuyên đề triết học Mác . Đảng Cộng sản Việt Nam : Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb CTQG. Dự báo tình hình trong nước và thế giới trong thời gian tới. lợi dụng những yếu kém của hệ thống chính trị. tư duy kinh nghiệm. vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục bổ sung để đề tài hoàn chỉnh hơn. đạo đức. Hà Nội. tuy còn nhiều khó khăn. Nxb CHính trị quốc gia. Đảng ta xác định: nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Nxb CHính trị quốc gia. trong điều kiện và đặc điểm của thời đại ngày nay. Muốn đạt được điều đó. tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp. D. tiếp tục đổi mới mạnh mẽ. Nxb Sự thật. đồng thời phải khơi đậy trong nhân dân lòng yêu nước. đan xen nhau. Nxb Lý luận chính trị. tác giả rất mong nhận được sự đóng góp cho sự hoàn thiện này. 5. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đề ra mục tiêu... tập 5.Lênin. 1991 2. Đảng ta phải tự đổi mới. Hà Nội. Với những lập luận trên đây hẳn không tránh khỏi những thiếu sót. phương hướng nhiệm vụ của thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước phải “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”. duy ý chí. . toàn diện và đồng bộ. Nxb Lý luận chính trị. Hà Nội 2008. Nxb Chính trị quốc gia. PGS. 2000 Giáo trình chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. khắc phục triệt để bệnh chủ quan. tình trạng suy thoái về chính trị. vượt qua thử thách. phải luôn xuất phát từ thực tiễn cách mạng và tôn trọng quy luật khách quan trong mọi hoạt động từ lý luận đến thực tiễn. 2004 Thông tin Những vấn đề triết học và đời sống (số 01 . Triết học. ý thức quật cường. lạc hậu. Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Hà Nội. những hạn chế trong tư duy lý luận và trình độ tri thức. Hồ CHí Minh toàn tập. Đảng ta nhận định. 2006 4. Hà Nội 2008.mới đất nước. 6. những năm tới. phát triển nhanh và bền vừng.2006) Tìm hiểu môn học: Triết học Mác-Lênin. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. ý chí của nhân dân. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”. lãng phí vẫn tồn tại. Hà Nội. đất nước có cơ hội lớn để tiến lên. Hà Nội.Đòi hỏi bức bách của toàn dân tộc là phải tranh thủ cơ hội. gây bạo loạn lật đổ. phải khắc phục những sai lầm khuyết điểm. Nguy cơ tụt hậu xã hơn về kinh tế. quyết tâm đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn. tham nhũng. phát huy tài lực. tư tưởng. những sai sót. TS Trần Thành. lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên gắn với tệ quan liêu.