P. 1
IN - phuong_phap_nghi_luan

IN - phuong_phap_nghi_luan

|Views: 251|Likes:
Được xuất bản bởiNguyen van Hung

More info:

Published by: Nguyen van Hung on Oct 22, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/11/2015

pdf

text

original

Thanh Trúc

PHƯƠNG PHÁP NGHỊ LUẬN

Luận đề phổ thông và luân lý

Phương pháp nghị luận

MỤC LỤC
Chương I: TÌM HIỂU ĐỀ TÀI.............................................4 Chương II: PHƯƠNG PHÁP TÌM Ý...................................9 Chương III: PHƯƠNG PHÁP LÀM DÀN BÀI.................15 Chương IV: PHƯƠNG PHÁP HÀNH VĂN......................40 Chương V: PHƯƠNG PHÁP SUY TƯ..............................56 Chương VI: PHƯƠNG PHÁP LÝ LUẬN..........................61

2

Phương Pháp Nghị Luận

ĐẠI CƯƠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHỊ LUẬN
Theo định nghĩa, văn nghị luận là loại văn dùng lí lẽ và dẫn chứng để bàn luận, giải quyết một vấn đề làm cho người đọc, người nghe hiểu vấn đề đó để họ có nhận thức đúng, có thái độ đúng và có hành vi đúng. Như thế, văn nghị luận có đặc tính khác hẳn văn miêu tả và thuật chuyện: Văn miêu tả chỉ ghi lại những điều mắt thấy tai nghe, trình bày lại những điều giác quan đã ghi lại được. Văn thuật chuyện chỉ kể ra những ý kiến của mình về một đề mục nào đó cho người khác nghe và tùy người nghe muốn nhận định ra sao cũng được. Văn nghị luận không thế. Nghị luận cần suy nghĩ để bày tỏ ý kiến nhằm mục đích thuyết phục người khác tin ý kiến của ta là xác đáng. Công việc này không mấy dễ dàng vì mỗi người thường chủ quan, chỉ tin lẽ phải của mình, thường nghi ngờ và đánh giá thấp các lí lẽ của người khác. Tuy nhiên, ít ra cũng có một lẽ phải chung hợp với các khuôn khổ suy luận thông thường được đa số công nhận. Để có thể đạt tới phần nào lẽ phải chung đó, khi làm bài văn nghị luận, chúng ta nên dựa vào phương pháp nghị luận được trình bày qua các bước tiến như sau:

3

Nắm vững phương pháp và giả quyết thành thạo bốn loại đề này rồi. nghề nghiệp. gia đình. Bài nghị luận luân lý thường đề cập đến bổn phận mỗi người đối với bản thân. Về hình thức hay về công việc làm bài. du lịch hoặc những khái niệm thông thường như tự do công bằng. LOẠI ĐỀ GIẢI THÍCH 1. chúng ta sẽ phân biệt các loại đề. không có phần sai lầm quá đáng hoặc thiếu sót một cách rõ rệt. Muốn tìm hiểu đề. chia trong số học. xa đề hay trả lời thiếu sót những điều đề yêu cầu. nợ nần chớ lo. Bài nghị luận phổ thông hoặc tổng quát thường bàn đến những tri thức tổng quát như lao động. chúng ta có thể chia chúng thành bốn loại đề căn bản sau đây: giải thích. Công danh chờ đợi. bình luận. Ví dụ: Có công mài sắt có ngày nên kim. thì đề sẽ thuộc loại giải thích. giống như người đã làm thông thạo bốn phép tính gốc. Chúng có thể ví như bốn phép tính gốc: cộng.Phương pháp nghị luận Chương I: TÌM HIỂU ĐỀ TÀI Tìm hiểu đề tài là việc rất quan trọng vì nó giúp ta khỏi lạc đề. Giải thích là gì? 4 . A. nhân. chúng ta mới có thể giải quyết những loại đề khác. Khi nào đề ra thuộc loại giải thích? Khi nghĩa câu nói tương đối đúng. học đường. 2. Quốc gia nào cũng cần có bàn tay đen và lương tâm trong trắng. trừ. Làm trai quyết chi tu thân. tổ quốc. mới đủ sức giải những bài toán đố khó khăn. trình bày và so sánh. xã hội. nhân loại. nhân ái… Tuy nhiên phạm vi hai loại bài này có nhiều khu vực xâm nhập nhau và có nhiều điểm tương đồng hơn dị biệt. Do đó chúng ta có thể ghép chúng vào đối tượng của phương pháp nghị luận này. thường chỉ là tổng hợp những loại đề trên.

LOẠI ĐỀ BÌNH LUẬN Khi ý nghĩa của câu nói tuy có phần đúng. Làm thế nào biết đề ra thuộc loại giải thích? Loại đề này đòi hỏi ta ý nghĩa câu nói. (luận) rồi mới cho biết ý kiến (bình) để chỉ trích phần sai lầm. Giải thích câu… Giải nghĩa câu… Cắt nghĩa câu… Câu này có ý nói gì… Ý nghĩa câu ấy thế nào? Làm sáng tỏ ý nghĩa câu nói ấy… Khi nào đề ra thuộc loại bình luận? B. mà còn đòi hỏi ta phải cho biết ý kiến phê bình câu nói ấy. bổ túc phần thiếu sót. hoặc hạn chế phần quá đáng tùy theo ý nghĩa câu nói. nên thường có các dạng thức sau đây:       1. Ví dụ:    Cha nào con nấy. Bình luận là gì? Bình luận theo sát nguyên nghĩa là: suy nghĩ cho hiểu thấu. Có tiền mua tiên cũng được. Thất bại là mẹ thành công.Phương Pháp Nghị Luận  Theo sát nguyên nghĩa: giải thích là đào sâu cho rõ nghĩa (thích) và mở rộng cho đủ nghĩa (giải)  Yêu cầu: loại đề này chỉ cần ta tìm ý nghĩa câu nói mà không hỏi ý kiến riêng của ta phê phán vấn đề ấy. Làm thế nào để biết đề ra thuộc loại bình luận? 5 . phần thiếu sót cần bổ túc. 3. nhưng cũng có phần sai lầm đáng chỉ trích. nói ra cho rõ. Yêu cầu: loại đề này không những buộc ta phải làm sáng tỏ ý nghĩa. 2. 3. hoặc phần quá đáng cần giới hạn thì đề ra sẽ thuộc loại bình luận.

Bình luận câu… Bình giải câu… Phê bình câu… Nhận xét giá trị câu… Câu ấy có đúng không? Cho biết ý kiến về… Bạn nghĩ sao… Bạn có đồng ý với câu nói ấy không? Khi nào đề ra loại trình bày? C. Trình bày là gì?  Trình bày theo nguyên nghĩa phô diễn ra cho rõ (bày) tất cả những kiến thức của ta về vấn đề nêu ra cho người đọc biết (trình). 3. nên thường ra các dạng thức sau:         1. Làm thế nào biết đề ra thuộc loại trình bày? Loại đề này buộc ta kể rõ những kiến thức của ta.Phương pháp nghị luận Loại đề này đòi hỏi ta giải thích và phê bình câu nói. bóng bẩy thì đề ra sẽ thuộc loại trình bày. Ví dụ: Sự đọc sách. trước khi trình bày kiến thức của ta. chưa thành một câu nói hàm xúc. LOẠI ĐỀ TRÌNH BÀY Khi chủ đề còn nguyên vẹn là một vấn đề chưa qua nhận xét của một ai.  Yêu cầu: loại đề này không bắt ta giải nghĩa hay phê bình vấn đề mà chỉ đòi ta nói thẳng. nên thường ra dưới dạng thức sau:  Trình bày các tai hại của… 6 . nói thật và nói hết những điều hiểu biết của ta về vấn đề ấy. 2. Dĩ nhiên đề thuộc loại này vẫn có những từ ngữ quan trọng mà ta cần xác định ý nghĩa cho rõ. tiến bộ khoa học. sự làm việc.

Tài đức kiệm toàn. LOẠI ĐỀ SO SÁNH Khi hai vấn đề có những điểm giống nhau.. So sánh là gì?  So sánh theo sát nguyên ngữ. Đem lại những lợi ích gì? Thế nào là.  Dĩ nhiên chúng ta phải nắm vững ý nghĩa từ quan trọng trong vấn đề và nêu rõ ý nghĩa ấy trước khi so sánh. khác nhau. Ví dụ:    2. Cần bất như chuyên. là đối chiếu hai vấn đề để làm nổi bật điểm tương đồng.. dị biệt và tương quan nhằm mục đích xác định địa vị hơn kém hay bổ túc lẫn nhau của chúng. nhưng liên quan mật thiết với nhau hoặc hơn kém bổ túc cho nhau thì đề sẽ ra thuộc loại so sánh. Tại sao phải… Sau này bạn sẽ chọn nghề gì? Tại sao? Khi nào đề ra thuộc loại so sánh D. Kể rõ các ích lợi của… Cho biết rõ những lợi hại của… Vạch rõ những lý do của… …. Làm thể nào biết đề ra từng loại so sánh Loại đề này bắt ta phải cân nhắc hai vấn đề nên thường ra những dạng thức sau đây:  Thế nào là A? Thế nào là B? A và B liên quan đến nhau như thế nào?  A là gì? B là gì? A và B giống nhau khác nhau và liên quan đến nhau như thế nào? 7 .Phương Pháp Nghị Luận        1. 3. Công bằng và bác ái.

” Đời có phải là một trường tranh đấu không? Giá trị của chí phấn đấu. (Loại đề giải thích và trình bày) 8 . E. (Đề thi tú tài 1951) 2.  Bạn nghĩ sao vấn đề A và B.Phương pháp nghị luận  Hai vấn đề A và B có những điểm tương đồng.” Hãy ứng nghiệm câu đó vào cách lập chí của người thanh niên ở đời.  Tại sao lại cần A lẫn B. dị biệt và tương quan như thế nào?  Tại sao A không bằng B. Một văn hào Đức nói: “Tôi là người nghĩa là một kẻ chiến đấu. Giải thích và bình luận câu sau đây: “Người quân tử cầu ở mình. kẻ tiểu nhân cầu ở người. CÁC LOẠI ĐỀ TỔNG HỢP Ngoài bốn loại đề căn bản nói trên những đề tài khác thường ra dưới hình thức tổng hợp giữa các loại đề ấy với nhau hoặc thường dùng bốn loại đề căn bản kèm theo một câu hỏi: Ví dụ: 1.

” Ý chính: Đề cao vai trò ý chí trong việc thành đạt ở đời. kẻ nâng đỡ bảo hộ thế hệ tương lai. Chúng ta là kẻ đồng lao cộng tác với người đương thời. 9 . 2. PHƯƠNG PHÁP TÌM Ý Đối với những đề tài đơn giản Ta chỉ cần đọc kĩ đề tài là ý chính đã hiện ra. Vật liệu càng nhiều càng tốt thì chúng ta càng có hy vọng xây được ngôi nhà cao rộng bền chắc. chúng ta còn phải: a.” Ngoài việc đọc kĩ đề. 1. chủ điểm     Phân tích đề thành nhiều phần nhỏ và dễ hiểu để tìm từng Chúng ta là kẻ thừa hưởng di sản người quá cố. Đối với những đề tài phức tạp Ví dụ: Giải thích câu: “Chúng ta là kẻ thừa hưởng di sản của người quá cố. Ta nhận thấy đề tài gồm 3 chủ điểm nằm trong 3 mệnh đề. I. Ví dụ: Giải thích câu: “Có chí thì nên. kẻ đồng lao cộng tác với người đương thời.Phương Pháp Nghị Luận Chương II: PHƯƠNG PHÁP TÌM Ý Nếu ví việc làm bài văn nghị luận như xây một ngôi nhà. Chúng ta là kẻ nâng đỡ bảo hộ thế hệ tương lai. Gạch dưới những chỗ quan trọng và chú ý để hiểu rõ ý nghĩa của chúng  Giải thích: để phân biệt với bình luận…  Chúng ta: quan trọng nhưng không cần tìm ý nghĩa. b. Mục đích của chương trình này giúp chúng ta tìm được ý chính của đề tài và từ đó dùng phương pháp làm nảy sinh những ý phụ dồi dào khác nữa.  Thừa hưởng: tiếp nhận và sử dụng. thì việc tìm ý được sánh với việc mua sắm vật liệu cần thiết.

Chủ đề là tổng số các chủ điểm hợp lại: Chủ điểm 1: Liên hệ giữa thế hệ hiện tại vói quá khứ Chủ điểm 2: Liên hệ giựa thế hệ hiện tại với nhau Chủ điểm 3: Liên hệ giữa thế hệ hiện tại với tương lai Chủ điểm 4: Liên hệ giữa các thế hệ Ý chính của bài: Bổn phận của chúng ta đối với các thế hệ 3.” Quá trình suy tư tìm ra ý chính: Đề tài nêu lên một tỉ lệ: coi quyển sách như một người bạn. có khi vì lợi ích tinh thần. gìn giữ. Thế hệ tương lai: lớp người đến sau ta.Phương pháp nghị luận         c. bắt chước bạn. Đề tài trên có 3 chủ điểm.” Chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều ý tưởng. ta nên tự giới hạn Ví dụ: Bình luận tư tưởng sau: “Quyển sách là một người bạn. Đồng lao: cùng chịu vất vả. Ví dụ: kết thân với bạn thường vì lí do tâm tình và học hỏi. Đọc sách cũng thường vì lí do giải buồn và tìm hiểu. Trọng tâm bài này ở hai chữ “người bạn. giúp đùm. có khi vì ham mê thú vui. Di sản: các của cải để lại Người quá cố: người đã chết. học bạn. che chở. Bạn có 10 . Nâng đỡ: dìu dắt. Người đương thời: người đang sống với ta. có khi vì lí tưởng đạo lý… Có nhiều vấn đề liên quan đến “bạn” như: chọn bạn. a. chúng ta không nên quá tham lam mà cần tự giới hạn vấn đề. đạt được rất nhiều vấn đề liên quan đến vật chất. Một số trường hợp đặc biệt Đối với những đề tài có vẻ bao quát. Cộng tác: chung sức làm việc. giúp bạn. lấy bạn làm gương cho mình. lừa phản bạn. Bảo hộ. xử sự với bạn. chỉ dẫn cho bạn. nói xấu bạn… Để khỏi lạc trong rừng ý tưởng đó.

Ví dụ: Người ta thường nói: “Có bột mới gột nên hồ”. Đó chỉ là 11 . một việc ai cũng có thể làm được. Đó sẽ là ý chính của đề tài: Ví dụ: Bình luận câu ca dao sau đây: “Một cây làm chẳng nên non. chúng ta có bổn phận suy ra những ý niệm trừu tượng như: một cây trồng riêng sẽ biểu tượng cho sự đơn độc chia rẽ. có cơ hội. c. Ba cây trồng chụm lại biểu tượng cho sự biết nhờ cậy lẫn nhau. Trong các trường hợp này ta phải tìm được những điểm giống nhau giữa hai vật hay hai ý niệm. muốn tạo nên một công nghiệp lớn lao phải cần có đạo đức. phải chọn sách mà đọc. Sách cũng có cuốn xấu cuốn tốt.” Hãy giải nghĩa hai câu ấy và xem chúng có mâu thuẫn với nhau không? Hai câu nói trên không có gì mâu thuẫn:  Câu “Có bột mới gột nên hồ” xác nhận một sự thực thường thấy trong xã hội: Muốn có hồ phải cần có bột. tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan. b. biết gom công góp sức để chuyển thế yếu thành thế mạnh. câu “Nước lã mà vã nên hồ” không phải là xác nhận sự thực thường thấy trong xã hội. Đối với những đề tài có vẻ nghịch ngôn hay mâu thuẫn Ta nên phân biệt phương diện hình thức và phương diện nội dung của các câu nói để thấy chúng không có gì là trái ngược luân lí. ca dao lại có câu “Nước lã mà vã nên hồ.Phương Pháp Nghị Luận người xấu người tốt. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Ý chính của đề tài diễn nhiên không phải là ở điểm trồng trọt loại thảo mộc.  Trái lại. Từ hình ảnh cụ thể đó. Đối với những đề tài có tính cách ám tỷ So sánh gián tiếp một ý nghĩa trừu tượng với một vật cụ thể hay so sánh hai ý niệm trừu tượng. mà chỉ có sự nhấn mạnh vào vấn đề nêu lên hay tính cách bổ khuyết lẫn nhau giữa hai ý niệm tưởng chừng như mâu thuẫn ở đề tài. chúng ta phải chọn bạn mà chơi. Từ đó chúng ta nhận thấy: câu ca dao cho biết sự thiệt hại của chia rẽ và lợi ích của đoàn kết. có thời thế.

 Những trường hợp ngoại lệ không nên nói sự thật: đối với bệnh nhân. quà tặng. Xét ý chính về nhiều phương diện khác nhau Ví dụ: Ý chính là sự xã giao thù tạc. 3. những bí mật quốc phòng. Đặt ý chính trong một quá trình suy luận Ví dụ: Ý chính là tình đoàn kết. 4.  Tai hại của sự dối trá về hai phương diện nói trên. thư từ.Phương pháp nghị luận một trường hợp đặc biệt. những tổ chức văn hoá quốc tế. CÁCH TÌM Ý PHỤ TỪ Ý CHÍNH 1.    2. chúng ta có thể có những ý phụ như sau:  Những phương tiện học hỏi. Tình hữu nghị giữa các quốc gia trong phạm vi quốc tế. Tinh thần đoàn kết của toàn dân trong phạm vi quốc gia. II.  Những nguyên nhân nào làm cho người ta hay nói dối.  Sự xã giao thù tạc về phương diện hình thức: Những nghi thức và tập quán xã giao như thăm viếng. từ đó có những ý phụ như sau:  Ích lợi của sự nói thật về hai phương diện đạo đức và mưu sinh lập nghiệp. một lời khuyến khích đối với những ai có tài trí hơn người. Xét ý chính trong nhiều không gian và thời gian khác nhau Ví dụ: Ý chính là sự học hỏi. nghiên cứu ngày xưa và ngày nay khác nhau như thế nào?  Những tổ chức nghiên cứu khoa học trong phạm vi quốc tế. một lời khen. Đặt ý chính trong nhiều phạm vi khác nhau Tình tương thân tương trợ trong phạm vi gia đình hay học đường. chúng ta có những ý phụ như sau:  Sự xã giao thù tạc về phương diện nội dung: Tình cảm của những người giao dịch với nhau. 12 . sự chân thật hay giả dối. từ đó có thể có những ý phụ như sau: Ví dụ: Ý chính là sự nói thật. những bậc anh hùng tạo thời thế.

2. phương pháp học hỏi ở Đông phương và Tây phương giống và khác nhau ở điểm nào? 5. một triết gia Hy Lạp đã nói: “Một hành vi nhân đức không đủ làm thành đức. cũng bằng cách tương tự. Bình giải câu: “Tu là cõi phúc” Giải thích và bình luận câu: “Ôi gia đình là một học đường rất Bình luận câu: “Học đường là một gia đình” Aristote. từ những ý phụ vừa tìm thấy và sau khi đã chọn lựa kỹ càng. Ai sửa đổi sẽ trở nên hoàn thiện. 4.Phương Pháp Nghị Luận  Những tinh thần học hỏi. Đại để như trên. Sự liên lạc giữa thầy và trò theo quan niệm mới chịu ảnh hưởng tư tưởng tự do và bình đẳng của Tây phương. BÀI TẬP 1. chúng ta có thể có những ý phụ như sau: Sự liên lạc giữa thầy và trò theo quan niệm cũ chịu ảnh hưởng của nho giáo. cũng như một con én không dủ làm thành mùa xuân. chi tiết hơn để có đủ TÀI LIỆU xây dựng một dàn bài. Tình thân trong học đườn. 13 . 3. Giải nghĩa câu: “Tập quán ban đầu là khách qua đường.” Hãy giải thích câu nói trên. 5.” Ý chính của mỗi đề tài là: 1. 2. chúng ta có thể tìm ra những ý phụ khác tỉ mỉ. chúng ta có thể từ một ý chính suy ra nhiều ý phụ khác để chọn lựa thích hợp với từng đề tài. Gia đình là nơi dạy bài học căn bản. và kết cục biến thành một ông chủ nhà khó tính. Xét ý chính qua nhiều quan niệm hay học thuyết khác nhau Ví dụ: Ý chính là sự liên lạc giữa thầy và trò. sau trở nên một người bạn thân ở chung nhà. tốt.” 3. Hơn nữa.

” 2. Giải thích câu châm ngôn: “Lòng ham muốn không nên quá tự do. Bình giải câu “Trăm năm bia đã thì mòn. 5. Bài tập Tìm ý chính của các đề tài sau đây: 1. 14 . vui thú không nên đến cực độ. Giải thích tư tưởng cổ nhân: “Chớ thấy điều thiện nhỏ mà không làm. 3.Phương pháp nghị luận 4. phải lặp lại suốt đời. Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ. chớ thấy điều ác nhỏ mà làm”.” Nhân dức là tập quán tốt. Quá trình hình thành tập quán.

thần bài và kết luận. Hoạ đồ càng tỉ mỉ. Khôn khéo mấy ai. Việc làm dàn bài giúp cúng ta:     I. Nhập đề trực khởi là giới thiệu vấn đề một cách trực Ví dụ: trong bài “Hàn nho phong vị phú”. Phân phối cân đối và hợp lý. tiếp. thường áp dụng trong việc diễn thuyết. b. Có hai cách nhập đề: a. Chém cha cái khó.Phương Pháp Nghị Luận Chương III: PHƯƠNG PHÁP LÀM DÀN BÀI Trong việc xây ngôi nhà luận văn. Lập luận vững vàng. PHƯƠNG PHÁP LÀM NHẬP ĐỀ Nhập đề nghĩa là gì? Nhập đề còn gọi là vào bài hay mở bài là phần đầu tiên của phần nghị luận. 1. làm sao cho người đọc không cần đọc qua đầu bài cũng hiểu được đầu bài muốn nêu lên vấn đề gì. Một dàn bài gồm 3 phần: nhập đề. Ví dụ 1: Khi viết về “số mệnh”. có mục đích giới thiệu vấn đề với độc giả. lập dàn bài được so sánh với việc vẽ hoạ đồ. các nhân công càng dễ thực hiện và ngôi nhà càng chóng hoàn thành. Nhập đề lung khởi là giới thiệu vấn đề một cách gián tiếp và bao quát. Bố cục chặc chẽ. nhưng trong bài luận văn thường khó làm hay được. Xấu xa một nó” Cách nhập đề này gây được hứng thú bất ngờ. nhà văn Dương Minh đã nhập đề như sau: 15 . Nguyễn Công Trứ đã nhập đề: “Chém cha cái khó.

không vội đi vào chi tiết của thân bài. Mào đề: Gồm một câu hay một ý liên quan đến chủ đề. Văn chương cũng là một nghề chơi.  Những người ấy quá tin ở số mệnh. Đó là những đoạn nhập đề kiểu mẫu có đủ những phẩm tính cần thiết đúng với cái trò của nó là: ngắn gọn. đủ ý. gảy đàn. Có 2 cách nêu đề:  Giới thiệu nguyên văn câu nói trong ngoặc kép. Báo đề cần: 16 .  Vậy số mệnh là gì? Có số mệnh không? Và sự cố gắng của con người có ảnh hưởng gì? Ví dụ 2: Luận về lý thú văn chương.Phương pháp nghị luận  Nhiều người không tin ở sự cố gắng của cá nhân. mà nghề chơi lại thanh nhã. uống rượu. b. c. c. lại hữu dụng. Có nhiều mào đề như chúng ta sẽ nói phần sau. chuẩn bị giới thiệu chủ đề. như đánh cờ. b. chơi cung cảnh… Tuy là một cách tiêu khiển nhỏ nhặt. nhưng ngẫm ra thì cũng đều có một lý thú. không cậy ở sức liên hiệp của đoàn thể mà chỉ trông ngóng về trời đất. cho nên cái lý thú cũng to hơn các cuộc chơi khác. nhà văn Phan Kế Bình viết: a. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ về cách nhập đề lung khởi này: 2. Báo đề (hay chuyển đề): Báo cho người đọc biết công việc sẽ làm ở phần thân bài. Phàm về các cuộc chơi của thiên hạ. sát đề và bao quát. Nêu đề: Giới thiệu chủ đề. Muốn biết cái lý thú của văn chương thì trước hết phải biết cái hay của văn chương.  Giới thiệu nguyên ý không dùng ngoặc kép. cuộc nào cũng có một lý thú riêng. nghĩa là không vội cho đáp số trước khi làm bài giải (choán ý của kết luận). Cách nhập đề lung khởi Một nhập đề lung khởi đúng nghĩa và đầy đủ gồm 3 phần: a. nhất là không phê bình giá trị của vấn đề.

2.” Ví dụ 2: Bình luận câu tục ngữ: “Trâu chết để da. Người đời thường nói: “Chết là hết chuyện”: cửa cao nhà rộng công danh phú quí thật chẳng khác gì giấc chiêm bao. để tiếng. dư âm của đời người vẫn còn mãi? 17 . Nêu đề: Vì thế tục ngữ có câu: “Có công mài sắt có ngày Báo đề: Trong bài tiểu luận sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu Nhập đề kiểu tương phản Mào đề nói ngược lại với chủ đề để nhấn mạnh vấn đề chính sẽ giới thiệu. b. nhiều người thiếu bền chí và cố gắng đã phải bỏ việc nửa chừng. Nhưng chết có hết thật không vì tụ ngữ lại có câu: “Trâu …. Ví dụ: (Giải thích) câu “Có công mài sắt có ngày nên kim. câu nói trên. 1. Ví dụ 1: Cùng với đề tài trên. chúng ta có nhiều cách nhập đề lung khởi như sau. Trong cuộc đời tranh đấu. nên kim.” c. Để khuyến khích những người nản chí ấy.  Dựa vào câu hỏi phụ nếu có. nhập đề tương phản sẽ là: a.” Phải chăng sau khi chết. Mào đề: Trong cuộc đời tranh đấu.Phương Pháp Nghị Luận  Dựa vào loại đề. người ta chết để tiếng. tục ngữ có câu: “Có công mài sắt có ngày nên kim.” Ý chính: Sau khi chết người ta vẫn để lại tiếng tốt hay tiếng xấu.” a. bền chí và cố gắng là điều kiện cần thiết để đạt tới những kết quả tốt đẹp. b. Nhập đề kiểu tương đồng Mào đề dựa vào ý chính của đề tài. a. b. Tuỳ theo mào đề thay đổi.

Giải thích câu: “Uống nước nhớ nguồn. học sinh đi học… ai cũng lo làm việc để mưu sinh và xây dựng tương lai. chúng ta sẽ tìm hiểu và đánh giá câu nói trên. Mào đề: Làm việc là định luật tự nhiên của con người trong xã hội (nguyên lý chung): người làm việc. Giải thích câu: “Thua thầy một vạn không bằng kém bạn một ly. BÀI TẬP 1. Sau đây. chúng ta cùng nhau tìm hiểu BÀI TẬP Sau này bạn sẽ chọn nghề gì? Tại sao bạn lại chọn nghề ấy? *** 18 . công chức đi làm. b. sự làm việc còn xua đuổi xa ta ba mối hoạ lớn là: buồn nản. thói hư và túng cực. Báo đề: Tư tưởng trên đây có đúng không.Phương pháp nghị luận c.” a. Giải thích câu: “Quốc gia nào cũng cần có nhiều bàn tay đen và lương tâm trắng. thói hư. a. 3.” Chúng ta phải áp dụng câu nói trên trong đời sống học sinh như thế nào? c. “Biết trách mình là khôn. Ví dụ: Bình giải tư tưởng sau đây của Voltaire: “Sự làm việc xua đuổi xa ta ba mối hoạ lớn: buồn nản. kẻ đi buôn.” b. b.” Làm nhập đề kiểu tương phản a. và túng cực. Chuyển đề: Hơn nữa. Làm nhập đề kiểu tương đồng Trình bày những ích lợi của thú đọc sách. và có giá trị thế nào. 2. c. chỉ trách người là vụng” Nhập đề kiểu suy diễn Mào đề đi từ nguyên lý chung đến các trường hợp riêng trong cuộc sống. theo đại văn hào Voltaire.

ý nói: thứ cỏ thơm trong các loài cỏ. Sách Nho có câu: “Thảo trung chi anh. bạn bè hay thân thuộc thường gửi cho nhau những tấm hình để tỏ tình lưu luyến nhớ nhung (những trường hợp riêng). c. Hai người bạn mới quen nhau thường rủ nhau đi chụp ảnh. khi đi ra ngoài chúng ta có bổn phận phải trang điểm không? *** 5. Sự kiện đó đem lại những ích lợi gì? a. hai chữ đã làm cho bao người mơ tưởng! Theo nghĩa đen. thú trung chi hùng”. “hùng”là một loài thú dũng mãnh.Phương Pháp Nghị Luận 4. Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi. Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi. Hai chữ anh hùng họp lại để chỉ những bậc hơn hẳn các người đồng thời với mình.” 19 Vậy sự kiện đó đem lại những lợi ích gì? . Ví dụ: Người ta thường giữ ảnh bạn bè hay người thân thuộc để là kỷ niệm. Nhập đề kiểu qui nạp Là đi từ những trường hợp riêng trong cuộc sống tới nguyên lý chung. Sống xa cách nhau. ca dao có câu: “Ở đời muôn sự của chung. Nhập đề bằng định nghĩa Thường áp dụng khi đề tài có những danh từ Hán Việt mà ý nghĩa của chúng cần được xác định rõ trước khi bàn luận. “anh” là thứ cỏ thơm. Ví dụ: Bình luận câu ca dao: “Ở đời muôn sự của chung. b.” a. Hai người thân thuộc sắp xa nhau cũng rủ nhau đi chụp hình. Đề cao hai chữ anh hùng. thứ thú dũng mãnh trong các loài thú. b. BÀI TẬP Sự trang điểm có làm tăng giá trị con người không. Việc giữ ảnh bạn bè hay người thân thuộc để làm kỷ niệm đã trở thành một sự kiện xã hội rõ rệt và ngày càng phát triển. “Anh hùng”.

tốt hơn là nên tìm cách nhập đề khác. mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Ví dụ: Giải nghĩa tư tưởng của Nguyễn Bá Học: “Đường đi khó. giải nghĩa hay phê bình tư tưởng hoặc danh nhân nào. có liên quan đến một tác phẩm hay tác giả. đồng thời cũng thường giữ địa vị cao trong xã hội. Nhưng người quân tử là người như thế nào? Theo nghĩa thông thường. cư xử tử tế với hết mọi người. Bài tập: Bình giải hai câu thơ sau đây của Nguyễn Du: 20 . không khó vì ngăn sông cách núi.” Câu ấy có nghĩa gì và chúng ta phải có nhận định thế nào với tư tưởng ấy? 6. Chúng ta hãy giải thích và phê bình câu trên để có thể rút ra bài học trong cuộc sống hàng ngày. Ta chỉ nên làm loại nhập đề này khi biết tường tận những điều muốn nói về nguồn gốc đề tài. cổ nhân có câu: “Người quân tử dè dặt ở lời nói và nhanh nhẹn trong việc làm. Trong bài “Chí mạo hiểm” trích trong tập “Lời khuyên học trò”. có khuynh hướng đạo lý rõ rệt trong những tác phẩm để lại. ông đã viết: “Đường đi khó… ngại núi e sông.” Bài làm Sách vở thường nói đến người quân tử. Nếu còn hồ nghi. có lòng nhân từ bác ái.Phương pháp nghị luận c. Tác giả có lời văn giản dị mà đanh thép. Nhận xét về người quân tử. tác phẩm hay tác giả.” Chúng ta hãy tìm hiểu tư tưởng này để biết cách ứng dụng trong cuộc sống. giới thiệu tác phẩm hay tác giả Loại này thường được áp dụng khi gặp các đề tài văn chương văn học. Thực ra quân tử còn là người có tài năng và kiến thức hơn người khác.” Nhập đề: Đọc văn Nôm bình luận của nước nhà chúng ta không thể quên Nguyễn Bá Học. Bài tập Bình giảng câu: “Người quân tử dè dặt ở lời nói và nhanh nhẹn trong việc làm. hoặc các đề luân lý phổ thông. Nhập đề bằng cách giới thiệu nguồn gốc đề tài. quân tử là người có đức hạnh hơn người khác.

” Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu và nhận xét câu nói trên. Nhân loại đã tìm hết cách để kéo dài đời sống. như một thi sĩ Pháp đã viết: “Chết cho tổ quốc. CHÚ Ý: Để giúp chúng ta hiểu thật rõ các kiểu nhập đề vừa trình bày ở trên. Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. tiền tài… lúc chết cũng chẳng đem theo được. nhà thơ Tố Hữu của Việt Nam đã ca ngợi: “Có những phút làm nên lịch sử. sau đây là một ví dụ khác: Một đề tài có thể nhập đề bằng nhiều cách khác nhau: Ví dụ: Một thi sĩ Pháp đã viết: “Chết cho tổ quốc không phải là một chuyện rủi ro mà tự nhiên làm cho mình thành bất tử bằng một cái chết đẹp đẽ. mà lại trở thành bất tử nhờ một cái chết. Tuy nhiên cũng có hạng người bất tử. một thi sĩ Pháp đã viết: “Chết cho tổ quốc… ” Chúng ta cùng tìm hiểu và nhận định tư tưởng trên.” Nhập đề: Ai đã đọc thi phẩm của Nguyễn Du đều biết đến “Đoạn Trường Tân Thanh” một truyện dài bằng thơ tuyệt tác trong thi ca Việt Nam.Phương Pháp Nghị Luận “Trăm năm trong cõi người ta. Nhập đề kiểu tương phản Tục ngữ có câu: “Chết là hết”: giàu sang. b. ngày nay có người đã nhờ đến khoa học để tiếp hạch. Con người là một vật hữu sinh. có những cái chết hoá thành bất tử… ” cũng trong tâm tình thán phục ấy. Nhập đề kiểu suy diễn Trường sinh bất tử vốn là cái mộng của loài người. Để mở đầu cho tác phẩm.” c. a. Nhập đề kiểu tương đồng Nghĩ về các liệt sĩ hy sinh và đất nước. nhờ bảo hiểm nhân thọ để đề phòng bất trắc. Ngày xưa bao người đã khổ luyện phép tu tiên.” Hãy giải nghĩa và phê bình ý tưởng trên. thi sĩ Tố Như đã viết: “Trăm năm trong cõi người ta. hữu tử. Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. danh vọng. từ chỗ hư vô rồi lại trở về cõi hư vô. Thời gian sẽ xoá nhoà tất cả. cố gắng giữ vệ sinh để tránh bệnh tật… nhưng có 21 .

Spoutnik 1 đã hé mở một thời đại không gian vô cùng hào hứng. với các cuộc chạy đua ào ạt giữa hai khối Tư bản và Cộng sản. ” e. một nhà viết kịch trứ danh đã nêu lên trong những tác phẩm của ông những tâm hồn cao thượng. đó là Corneille.10. Nhưng thế nào là bất tử? Bất tử đây phải chăng là không bao giờ chết. đáng làm gương cho hậu thế noi theo. như lời một thi sĩ Pháp đã viết: “Chết cho tổ quốc… ” d. ” CHÚ Ý: Ngoài sáu kiểu căn bản ta cũng có thể:  Nhập đề bằng một biến cố thời sự nổi tiếng Ví dụ: Tìm hiểu các lợi hại của khoa học không gian.. là sống mãi trên dương gian? Không. Nhưng có những người khôn ngoan đã khéo đi tìm cái chết của mình một ý nghĩa. muôn đời nhân loại không ai tránh nỗi. Chàng thanh niên kia mới công thành danh toại. Nhập đề bằng cách giới thiệu tác phẩm. Cái chết đã trở nên qui luật. Liên xô phóng vệ tinh Spoutnik 1 vào quỹ đạo địa cầu.. đó là hy sinh tính mạng cho tổ quốc.1957. đã bị cơn gió độc đưa về chín suối. vì những câu ca dao được phổ biến ở nước ta.. bất tử ở đây chỉ có nghĩa là được người đời nhớ ơn. Cụ già nọ đang hưởng nhàn bên đàn con cháu bỗng được tử thần mời về chầu tổ tiên.  Ngày 4.. nhắc nhớ tới luôn. có một vị đã nổi danh vì những tác phẩm bi hùng kịch. Nhập đề bằng định nghĩa Người ta thường nói các bậc anh hùng. Một em bé vừa lọt lòng mẹ đã vội vã lìa đời. như một thi sĩ người Pháp đã viết: “Chết cho tổ quốc. vĩ nhân. Nhập đề kiểu qui nạp. văn hào thi bá là những người bất tử. Theo định nghĩa ấy một thi sĩ Pháp đã viết: “Chết cho tổ quốc… ” f. Trong vở kịch “Le Cid” đã được dịch sang Việt ngữ là tuồng “Lôi xích”. làm cho cả thế giới kinh ngạc và phe Tư bản thực sự choáng váng. đã dùng cái chết như cánh cửa mở vào cõi trường sinh bất tử.Phương pháp nghị luận lẽ có một cái làm cho mình bất tử hiệu nghiệm hơn. 22 . tác giả Trong các thi sĩ cổ điển Pháp thế kỷ 17. ông có viết: “Chết cho tổ quốc.

nhưng Mạnh Tử lại bảo “Hoàn toàn tin sách thà chẳng có sách còn hơn” (Tận tín ư thư bất vô thư). từ thấp lên cao. từ gần ra xa. Trên lý thuyết. Thân bài là gì? Thân bài hay còn gọi là “lung đề”hay diễn đề là phần mở rộng chủ đề bằng những lời lẽ giảng giải. những lí lẽ vững chắc được trình bày sau. từ xưa đến nay…) nếu không thân bài sẽ lộn xộn thiếu mạch lạc. Là phần giữa của bài nghị luận. b. lập luận và dẫn chứng để làm sáng tỏ ý chính của đề bài. sau đây chúng ta cần tìm hiểu. học ở trường đời cũng như học ở sách vở.Phương Pháp Nghị Luận  Cuộc tranh tài cao thấp đó đã diễn tiến ra sao và đã đem lại lợi hại gì cho toàn thể nhân loại. Một văn hào đã nói “Một cuốn sách hay là một người bạn tốt”.  Phối hợp các kiểu Nhập đề. việc lập luận dễ trở thành lỏng lẻo. Bài làm như vậy dễ gây hứng thú cho người đọc. hoàn toàn tin sách là gì? Điều đó có hại chi? Và ta phải có thái độ nào khi đọc sách? (kiểu Suy diễn – Tương phản) II. Thân bài phải có sự tăng mạnh dần về lí luận. c. 2. không được lan man nói xa đề hay lạc đề. Học ở nhà trường. PHƯƠNG PHÁP LÀM DÀN Ý – THÂN BÀI 1. Vậy theo nhà hiền triết ấy. Sách là kinh nghiệm của nhiều thế hệ hun đúc lại. thân bài phải đáp ứng những tiêu chuẩn nào? a. Suy diễn + Tương phản… Ví dụ: Muốn tiến bộ chúng ta cần phải học tập. những lí lẽ nhẹ nhàng được trình bày trước. thân bài có nhiệm vụ tiếp theo ý của phần nhập đề chuyển xuống và dọn đường cho việc chuyển ý xuống phần kết luận. 23 . chẳng hạn như: Quy nạp + Tương đồng. Thân bài phải có trật tự nghĩa là những ý tưởng trình bày ở đây phải theo một thứ tự nào đó (Ví dụ: Từ trước đến sau. Thân bài phải sát đề nghĩa là những ý tưởng trình bày trong phần thân bài phải liên quan đến ý chính của đề bài.

 Tiếp theo nói đến những lí lẽ cao xa.  Loại đề trình bày  Trước hết vạch rõ những lý do thấp gần.  Dẫn chứng cho đúng. nghĩa hẹp.  Lập luận cho vững. dùng một bố cục tổng quát để đáp ứng chu cầu của đề ấy.  Loại đề giải thích  Giải nghĩa cho rõ (nghĩa đen. nghĩa rộng). Trong thực hành ta phải làm những công việc gì? Về hình thức Chúng ta căn cứ vào mỗi loại đề. nghĩa bóng.        Loại đề bình luận Giải nghĩa. Giải thích. Dẫn chứng. a. Lập luận.  Sau hết tiến tới những lẽ cao xa hơn nữa. Dẫn chứng. Lập luận.Phương pháp nghị luận 3.  Phần đúng (còn gọi là chính đề hay chủ thuyết)  Phần sai sót (còn gọi là phản đề hay khách thuyết)  Dung hòa (còn gọi là tổng đề hay hợp thuyết) Gồm cả ba phần trên.  Loại đề so sánh  Tìm những điểm giống nhau (tương đồng)  Tìm những điểm khác nhau (dị biệt)  Tìm những điểm liên quan với nhau (tương quan) 24 . phần này có thể đưa vào kết luận.

Về nội dung Sau khi đã tìm được ý chính và các ý phụ (xem chương II). thì sau khi dùng bố cục đúng loại đề rồi. chúng ta cần phải tìm cách trả lời thêm câu hỏi phụ ấy.Phương Pháp Nghị Luận Chú ý:  Nếu đề thuộc loại tổng hợp. Mẫu 1 Cá nhân Gia đình Tổ quốc Xã hội Mẫu 5 Vật chất Tinh thần Mẫu 2 Thể chất Tinh thần Đạo đức Mẫu 6 Lợi Hại Mẫu 3 Quá khứ Hiện tại Tương lai Mẫu 7 Xưa Nay Mẫu 4 Chân Thiện Mỹ Mẫu 8 Đông Tây Cũng có thể phối hợp các mẫu ấy khi cần Ví dụ đề ra: “Có nên chê trách các trò chơi thể thao không?” Cách làm dàn ý phối hợp mẫu 2 và mẫu 6:  Lợi của thể thao    Về phương diện thể chất Về phương diện tinh thần Về phương diện đạo đức 25 . ta phải phối hợp hai bố cục: Ví dụ: giải thích và trình bày.  Nếu đề có câu hỏi phụ. chúng ta có thể lựa chọn một trong những mẫu sau để trình bày cho thứ tự.  Nếu đề có hai hoặc ba chủ điểm thì chúng ta phải coi đó như hai hoặc ba đề luận kết hợp lại. b.

Giải thích cây tục ngữ: “Uống nước nhớ nguồn.” Trình bày lợi hại của vô tuyến truyền hình.” Ta đặt những câu hỏi:  Ai nói câu ấy?  Nói ở lúc nào trong truyện Kiều?  Câu ấy nghĩa là gi?  Tại sao Kim Trọng nói cây ấy?  Có thể áp dụng câu ấy như thế nào chơi đời Kiều. Để giúp đào sâu vấn đề. tìm ra chi tiết cho lí luận và nhiều khi cũng có thể giúp ích. 2. cho người Kim Trọng? Chỗ nào đúng? Chỗ nào sai? Không phải đề nào cũng có thể trả lời hết các kiểu câu hỏi ấy. BÀI TẬP Chọn những mẫu thích hợp cho các đề sau đây rồi làm dàn bài sơ lược: 1.Kipling: What (cái gì). When (khi nào). Who (ai). So sánh công bình và bác ái. có câu chẳng đưa tới đâu.” Bình luận câu tục ngữ: “Cha nào con nấy. BÀI TẬP MẪU Bạn hãy đọc kỹ cá phần quảng diễn sau: 26 . nhưng đó là phương pháp đại cương để đào sâu vấn đề. How (thế nào). Why (tại sao). ta cũng có thể tự đặt ra những câu hỏi theo phương pháp W của nhà văn R. Ví dụ: Bình giảng tư tưởng: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều. 3. 4.Phương pháp nghị luận  Hại của thể thao    Về phương diện thể chất Về phương diện tinh thần Về phương diện đạo đức c.

về sau ông đã trở thành nhà hùng biện trứ danh của Hy lạp. các công cuộc xây dựng lớn lao cũng vậy.Phương Pháp Nghị Luận CHỦ ĐỀ 1: CÓ CÔNG MÀI SẮT CÓ NGÀY NÊN KIM. người muốn trau dồi đạo đức cũng cần bền lòng vững chí mới được. nhưng nếu ta quyết tâm bền chí và gắng sức thục hiện thì cũng sẽ đạt được kết quả mong muốn. nhưng nhờ quyết chí ngậm sỏi gào thét hàng ngày ngoài bãi biển. Việt Vương Câu Tiễn nằm gai nếm mật nuôi chí phục thù. tinh vi và hữu ích. “Anh học trò kiết chùa Long Tuyền Ai ngờ nay đã đỗ giải nguyên. và nhờ đó bộ mặt thế giới đã hoàn toàn đổi mới. tuy biển học mênh mông. Lê Lợi chịu đựng gian khổ. Cũng nhờ chí nhẫn nại mà Kha-luân-bố đã tìm ra Mỹ Châu. Việc đời cũng vậy. nhưng nhờ công phu học tập. 27 . Sắt là kim loại rất cứng. cũng là nhờ ông đã kiên nhẫn dùng hai bình đỗ đen đỗ trắng để kiểm điểm và tự sửa tính hạnh mỗi ngày. hàng đêm phải đốt lá đa thay đèn đọc sách.” Ngày nay. một thiếu nữ đã trở thành lực sĩ về môn chạy đua. Cao hơn nữa. Helen Keller tuy bì mù từ thuở nhỏ. nhưng nếu được mài giũa cẩn thận và lâu ngày. đi diễn thuyết đó đây. Ngày xưa Châu Trí nhà nghèo mà chăm học lắm. Trình Tử sở dĩ trở nên bậc đại hiền. nhưng nếu ta bền chí sách đèn. nhưng nhờ kiên nhẫn tập luyện. Về phương diện tinh thần cũng thế. Suy rộng ra. người đời có thơ khen. bền gan kháng chiến đều là những gương sáng trong sử sách. thì cũng trở nên người thành đạt. Desmosthene bị tật nói lắp từ nhỏ. Một người dù thân thể gầy yếu. Một gia đình nếu mọi người đồng tâm hợp lực và quyết chí xây dựng thì có thể từ nghèo khó dần dần trở nên giàu có được. sắt cũng có thể thành được cái kim bé nhọn. Một quốc gia trở nên hùng cường cũng nhờ toàn dân cương quyết đấu tranh vượt mọi trở lực. đó là trường hợp của một lực sĩ đã đạt huy chương vàng trong thế vận hội năm 1964: Vốn là một người mang bệnh tê liệt. cô đã trở thành một giáo sư nổi tiếng. nhưng đã quyết chí gắng công tập luyện lâu ngày thì cũng có thể nên người tráng kiện. dù cho công việc khó khăn đến đâu. Sau ông thi đậu giải nguyên.

“Suy rộng… có được” Tổ quốc: Lập luận và dẫn chứng: “Một quốc gia… sử sách” Xã hội: Lập luận và dẫn chứng: “Cũng chính… đổi mới” 28 .          c. bạn hãy trả lời câu hỏi sau: 1.Phương pháp nghị luận Sau khi đọc kỹ phần quảng diễn trên.   b. Dàn bài chi tiết a. Cho biết đề luận này thuộc kiểu nào? 2. Đề luận này thuộc loại giải thích. 2. “Ngày xưa… đó đây” Đạo đức: Lập luận: “Cao hơn… mới được” Dẫn chứng: “Trình Tử… mỗi ngày” Phạm vi gia đình. tổ quốc. xã hội  Phạm vi cá nhân Gia đình: Lập luận và dẫn chứng. Giải thích Nghĩa đen: “Sắt là… hữu ích” Nghĩa bóng: “Việc đời… mong muốn” Lập luận và chứng minh Thể chất: Lập luận: “Một người… tráng kiện” Dẫn chứng: “Đó là… của Hy lạp” Tinh thần: Lập luận: “Về phương diện… thành đạt” Dẫn chứng. Phân tích phần quảng diễn thành một dàn bài chi tiết và chỉ rõ giới hạn của mỗi tiểu đoạn? BÀI LÀM 1.

Nói rõ hơn. Trong tác phẩm “Nhị độ mai” Mai Bá Cao khí phách hiên ngang quyết đương đầu với quyền gian. cha mẹ gian xảo thì con cái tránh sao khỏi lưu manh độc ác. Con trai ông là Mai Sinh cũng hăng hái tán thành ý cha. Đức ngạn hầu Nguyễn Tấn là một võ tướng dưới triều Lê? Nhìn sức khỏe con cái. Mai Bá Cao đã phải khen ngợi con. Cha mẹ thông minh. Trước thái độ ấy. cả hai cha con ông đều nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam đầu thế kỷ XX. con cái quả là hình ảnh khá trung thực của cha mẹ. Thật là “Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh. dù có lâm vào nguy hiểm cũng không sờn.Phương Pháp Nghị Luận CHỦ ĐỀ 2: CHA NÀO CON NẤY Câu tục ngữ nói trên tuy ngắn gọn. Ai cũng phải công nhận có sự di truyền huyết thống và ảnh hưởng giáo dục của cha mẹ đối với con cái. Nguyễn Công Trứ suốt đời vùng vẫy lúc tuổi ngoại thất tuần vẫn còn tráng kiện.” Cao hơn nữa. Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp đã không hổ thẹn là con trai văn hào Nguyễn Văn Vĩnh. người ta đoán được hình vóc của cha mẹ chúng. tinh thần đạo đức. học lực uyên bác thường sinh con khôi ngô. Trái lại cha mẹ nhân đức thì con cái lo gì không hiền lành. Thật vậy. Cháu ai mà chẳng giống bà giống ông” 29 . Về phương diện tinh thần cũng vậy. gương đức hạnh của cha ông thường thể hiện qua tư cách đối xử với con cháu. cha mẹ thân hình cao lớn vạm vỡ thường sinh con bụ bẫm mạnh khỏe. Khéo thay tính trẻ cũng y tính già” Xem thế. về phương diện thể chất. Người đời thường nói “Giỏ nhà ai. đơn giản nhưng hàm chứa một ý nghĩa sâu sắc. Nếu cha mẹ nghiện ngập trác táng thì tránh sao con cái khỏi gầy yếu ẻo lả được. học tập xuất sắc. Con cái các lực sĩ hay võ tướng thường có sức mạnh hơn người. quai nhà nấy” là thế. đúng như ca dao Việt Nam có câu: “Con ai mà chẳng giống cha. “Mới hay hổ phụ lân nhi. nếu cha mẹ có những ưu khuyết điểm nào thì con cái cũng thường có những ưu khuyết điểm tương tự. Phải chăng thân phụ ông.

lại có những bậc thánh hiền. ám chúa Lưu Thiện bên trời Đông. Trong lịch sử cổ kim Đông Tây. PHẦN ĐÚNG 1. phải chăng câu tục ngữ Tây phương nói trên hoàn toàn xác đáng và có giá trị tuyệt đối? Nói cách khác. Lập luận và dẫn chứng Phương tiện bật thể chất  Lập luận: Con cái thường giống cha mẹ về thân hình và thể lực  Dẫn chứng: Nguyễn Công Trứ con tướng Nguyễn Côn Tấn. trường hợp này không phải là hiếm Bạn đọc hãy đọc kỹ phần quảng diễn trên và trả lời những câu hỏi sau: 1. BÀI LÀM MẪU A. Đối với hạng con cháu ấy. quai nhà nấy” 30 . hãy lập thành một dàn ý chi tiết “xuôi chiều” 3. Hệ quả: Nhìn sức khỏe con cái đoán được sức khỏe cha mẹ Dẫn chứng: “Giỏ nhà ai.hạn chế hay bổ túc. tục ngữ Trung Hoa có câu: “Hổ phụ sinh khuyển tử”. a. Napoleon II vô tài trời Tây đều là con cháu không xứng đáng với sự nghiệp oai hùng hiển hách của cha ông. Louis XV nổi tiếng ăn chơi. Giải nghĩa (giải thích): Có sự di truyền huyết thống và ảnh hưởng của giáo dục của cha mẹ đối với con cái 2. ở đời “hổ phụ” nào cũng sinh “hổ tử” cả chăng? Trong lịch sử nhân loại chúng ta thấy: biết bao vĩ nhân hào kiệt mà con cháu lại nhu nhược tầm thường. một người vô tài và gàn dở. Hôn quân Cảnh Thịnh. Cho biết đề luận này thuộc loại nào? 2. anh hùng xuất thân từ những gia đình cha mẹ tầm thường: vua Thuấn. bậc chí hiếu nổi danh “thánh chúa” trong lịch sử Trung Hoa lại là con ông Cổ Tẩu. Mặt khác.Phương pháp nghị luận Tuy nhiên. Đoạn phê bình trong phần quảng diễn này có tính cách chỉ trích. Căn cứ vào phần quảng diễn.

Phương diện đạo đức  Lập luận: Gương đức hạnh của Cha ông thường thể hiện qua tư cách đối xử của con cháu. giống ông” B. Lưu Thiện. Napoleon II. 1. Tục ngữ Trung Hoa có câu “Hổ phụ sinh khuyển tử” 2. Phương diện thể chất và tinh thần  Lập luận: nhiều vĩ nhân hào kiệt mà con cháu nhu nhược tầm thường  Dẫn chứng: Cảnh Thịnh. CHỦ ĐỂ 3: CÔNG BÌNH VÀ NHÂN ÁI 31 .  Dẫn chứng: Mai Sinh con của Mai Bá Cao khẳng khái trong tác phẩm “Nhị độ mai. một người gan dở Tóm tắt hạn chế: Những trường hợp con không giống cha cũng thường thấy trong lịch sử.Phương Pháp Nghị Luận b. Phương diện tinh thần Lập luận: Cha mẹ thông minh thường sinh con cái học giỏi Dẫn chứng: Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp con trai thi hào Nguyễn Văn Vĩnh c. Phương diện đạo đức  Lập luận: Có những bậc thánh hiền xuất thân từ Cha mẹ tầm thường.” Tóm tắt phần đúng: Con cái quả là hình ảnh khá trung thực của cha mẹ “Con ai mà chẳng giống cha.  Dẫn chứng: vua Thuấn là con ông Cổ Tẩu. Cháu ai mà chẳng giống bà. Louis XV. PHẦN HẠN CHẾ Câu tục ngữ trên không hoàn toàn xác đáng Đặt vấn đề của việc hạn chế.

Thật vậy. Người hiểu lẽ công bình không xâm phạm tính mạng. hai đức tính ấy cũng không phải là không có những điểm khác biệt. Tuy nhiên. 12). Nguyên tắc công bình định rõ những việc được làm và những việc không được làm.” Còn nhân ái là tình yêu thương giữa người với người. Nguyên tắc này thường được qui định thành luật lệ có tính cách cưỡng bách. Nếu vì một lẽ gì. vật thi ư nhân. Như vậy. Phương châm này chỉ có tính cách khuyến khích cà tự nguyện. tự giác. Trái lại. thì cũng không có tòa án nào xét xử trừng phạt ta. Nói rõ hơn nhân ái là phương châm xử thế. tự do của ai. Để khuyên ta theo lẽ công bình. ta không làm điều nhân ái. Sách Nho có câu: “Kỷ sở bất dục. phải tha thứ kẻ thù. Kinh Thánh có câu: “Hãy là cho người khác điều gì con muốn người được người khác làm cho con”(Mt. không ai có quyền và cũng không có luật lệ nào buộc ta phải giúp đỡ kẻ khó. Nói rõ hơn.Phương pháp nghị luận Theo nguyên nghĩa. Đối với kẻ thù.” Vì nếu lấy oán báo oán thì oán chất chồng lên còn lấy đức báo oán thì oán sẽ tiêu tan. ngoại trừ lương tâm ta tự căn rứt mà thôi. Ai vi phạm các điểm ấy thường không tránh khỏi bị trừng phạt và bồi thường cho những người bị thiệt hại. công bình thuộc về lý.7. khuyến khích mọi người nên thương xót kẻ yếu đuối. chỉ có tính cách tự nguyện 32 . Người giàu lòng nhân ái thường hy sinh công của để xoa dịu nỗi khổ đau của đồng loại và rộng lượng khoan dung cho kẻ thù nghịch. màu da hay chủng tộc. nếu không nói là nghịch với nhau. công bình là đồng đều bằng nhau theo đúng lẽ phải chung. công bình là nguyên tắc minh định phân sự mỗi phần tử trong xã hội. Để nhắc nhở người đời nên có lòng nhân ái. giúp đỡ kẻ khốn cùng và tha thứ kẻ lầm lỗi. tài sản và không làm tổn thương danh dự. công bình và nhân ái là hai phạm vi và có những tính chất khác biệt hẳn nhau: một bên thuộc về luân lý. giúp đỡ đồng loại. không phân biệt giàu nghèo. nhân ái thuộc về tình. Xem thế công bình và nhân ái đề là những đức tính căn bản cần thiết cho sự ổn định trật tự xã hội và đem lại niềm vui hạnh phúc cho nhân loại. Bổn phận mỗi người là tôn trọng quyền lợi vật chất và tinh thần của người khác. sách Phật cũng có câu khuyên ta nên “Dĩ đức báo oán.

33 Bài Làm . thì không phải là không gây ra những điều tai hại. Vì thế tránh sao khỏi những kẻ lợi dụng lòng nhân ái của người khác mà sinh ra lười biếng ỷ lại và phóng túng trên đường tội lỗi. người lỗi lầm không ai khoan thứ… một xã hội như thế sẽ trở thành ích kỷ. trật tự và yên vui. người hoạn nạn không ai an ủi. 2. quyền lợi tinh thần và vật chất của mọi người đều được tôn trọng và điều hòa theo lẽ phải chung. một bên là điều kiện cần thiết để củng cố tổ chức xã hội. Vì vậy. độc ác và tàn nhẫn. Sống ở đời là sống với kẻ khác. Đề luận thuộc loại nào? Làm một dàn ý thân bài Định nghĩa công bình và nhân ái Công bình là đồng đều bằng nhau theo đúng lẽ phải chung. Câu hỏi: Đọc kỹ phần quảng diễn trân và trả lời những câu hỏi sau. một xã hội yên vui. Quả thế nếu không có lòng nhân ái. hai đức tính ấy lại có mối tương quan thật là mật thiết. công bình và nhân ái phải đi song song và bổ túc cho nhau. Nhưng nếu quá thiên về tình cảm mà không chí trọng lẽ công bằng. một bên để phát triển và nâng cao đời sống nhân bản. người có công sẽ bị bỏ quên và kẻ có tội không bị trừng phạt. Vì vậy. Tuy vậy. người nghèo khổ đói khát sẽ bị bỏ rơi. Nhưng nếu xã hội chỉ chú trọng và triệt để theo đúng lẽ công bằng mà lãng quên lòng nhân ái. sống với nhau phải có lòng thương yêu giúp đỡ và tha thứ cho nhau thì cuộc sống mới thêm tươi đẹp. Do đó. ai cũng nhận thấy trong một xã hội. muốn xã hội công bình. a. nếu mọi người theo đúng lẽ công bình thì không ai xâm phạm của ai. 1. không thể thiếu lòng nhân ái được. thì cũng có nhiều tai hại khác: không đúng theo lẽ công bằng thì kỉ luật không được duy trì. 1.Phương Pháp Nghị Luận còn một bên nằm trong phạm vi pháp luật và có tính cách cưỡng chế thi hành.

PHƯƠNG PHÁP LÀM KẾT LUẬN 1. Nhân ái là tình yêu thương giữa người với người. tha thứ kẻ lỗi lầm (tích cực)  Kinh Thánh: “Hãy làm cho kẻ khác điều con muốn kẻ khác làm cho con. vi phạm bị trừng phạt.  Nhân ái thuộc về tình. Vi phạm không ai xét xử trừ lương tâm.”  Sách phật: “Dĩ đức báo oán. Tóm tắt phần tương quan III. 2. Dị biệt  Công bằng thuộc về luân lý. “Kỷ sở bất dục. vật thi ư nhân”  Bác ái: Giúp đỡ đồng loại.” Tóm tắt phần tương đồng b. c. có tính cách tự nguyện. độc ác tàn nhẫn. quy định thành luật cưỡng bách.  Nhân ái thiết công bình: Kỉ luật không được tôn trọng. Điềm tương đồng: Công bình và bác ái là 2 đức tính căn bản cần thiết cho sự ổn định trật tự xã hội và đem lại hạnh phúc cho nhân loại  Công bình: Không xâm phạm quyền lợi kẻ khác (tiêu cực). Tương quan mật thiết  Công bằng thiết nhân ái: Xã hội trở thành ích kỷ. Kết luận là gì? 34 .Phương pháp nghị luận b. không phân biệt giàu nghèo. Tóm tắt phần dị biệt. So sánh công bình và bác ái a. lòng nhân ái bị lạm dụng. màu da hay chủng tộc.

không thể để cho trí ta bị sai lầm những điều mơ mộng. lòng ta đắm đuối vào cõi dục tình. hạn chế. Kết luận có mục đích tóm tắt phần quảng diễn ở thân bài. Một kết luận đầy đủ thường có ba phần  Tóm tắt thân bài: Thâu gọn các chỉ điển của phần quảng diễn. chọn lựa… tùy chủ đề và loại đề. Nhưng chúng ta nên tránh kẻo lại tạo ra một đề luận mới. bổ túc. vừa là những bài học hay gây nên những tính tình tao nhã khiến con người giữ được phẩm cách thanh cao. tùy thi ca cũng có ít bài thuộc loại sầu tình làm mê hoặc tinh thần.  Nêu bài học: Vậy thi ca vẫn có thể được coi là một môn nuôi hồn bổ ích nên đọc nên ngâm. b. chỉ trích (không bằng lòng).  Nêu bài học: Rút ra từ vấn đề nghị luận một bài học để làm những phương châm xử thế. dung hòa. học giả Dương Quảng Hàm viết:  Tóm tắt bài: Tóm lại. Nó cho tác dụng mở ra một khía cạnh mới của vấn đề. khiến ta có nghị lực để làm việc. Ví dụ 2: Viết về “Tục ngữ ca dao” nhà văn Phạm Quỳnh kết luận 35 . cho người đọc một ý rõ rệt về cách lập luận và thái độ của người viết đối với vấn đề nêu lên trong bài. Bài học ấy có thể là: Tán thành. Kết luận còn gọi là kết thúc hay kết bài. Vài ví dụ Ví dụ 1: Kết luận bài “Thi ca đối với tâm hồn con người”. miễn là ta biết lựa chọn và biết suy xét. nhưng phần nhiều có ảnh hưởng tốt: Thi ca vừa là một cách tiêu khiển làm quên được nỗi nhọc nhằn.  Thêm ý mới: Phần này tuy không bó buộc nhưng cũng nên có. c. là phần kết của bài nghị luận. Cách giản tiện nhất là chọn một câu ca dao tục ngữ hay danh ngôn liên hệ với chủ đề và dùng một câu đưa dẫn vào cuối bài luận. Trên phần nhập đề.Phương Pháp Nghị Luận a. đau khổ trên đời. ta đặt ra vấn đề rồi giải quyết trong phần thân bài và cho biết đáp số rõ ràng trong kết luận.

 Kết luận theo kiểu tán thành: Thường dùng trong trường hợp đề bài thuộc loại giải thích. ta thấy các kiểu luận này rất ngắn gọn.Phương pháp nghị luận  Tóm tắt bài: Vậy chúng ta nên trân trọng lấy cái quốc âm quý báu ấy.  Thêm ý mới: Đó cũng là một vấn đề khẩn thiết trong nền giáo dục tương lai. Thêm ý mới: Ta nên nhớ lấy câu: “Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” Ví dụ 3: Học giả Trần trọng Kim đã kết thúc bài viết: “Văn thơ” như sau:  Tóm tắt bài: Vậy lợi hại là ở sự dùng phải hay trái chứ không phải ở văn thơ  Nêu bài học: Tóm lại. “Có công mài sắt có ngày nên kim”  Mẫu tóm tắt bài cho đề giải thích: 36 .hài hòa. nêu lên được bài học thiết thực và gợi ra được một ý mới liên hệ. ứng đáp với phần nhập đề thành một toàn khối chặt chẽ. ta cũng chớ bỏ tổ quốc là thứ tiếng từ khi lọt lòng mẹ ta đã tập nói cho đến lúc hấp hối cũng vẫn còn nói.  Nêu bài học: Dù ta học chữ Tây hay chữ Tàu. Các kiểu kết luận Tùy theo phần nêu bài học với các thái độ khác nhau đối với vấn đề. không bị cụt ngủn mà cũng không lằng nhằng. Ví dụ: Giải thích câu tục ngữ. ra công luyện tập trau dồi cho mỗi ngày một hay một đẹp hơn. 2. So với chiều dài của một bài nghị luận. ta nên xem văn thơ như một bảo vật và nên trau dồi cho được toàn hảo toàn mỹ. Các kết luận đó thâu tóm phần quảng diễn mà không trùng lặp. ta có nhiều kiểu kết luận.

Qua phần quảng diễn trên. chúng ta nhận thấy cây tục ngữ trên tuy có phần hữu lý nhưng không hoàn toàn xác đáng và không có giá trị tuyệt đối. c.”  Kết luận kiểu hạn chế hay giới hạn: thường dùng trong những đề thuộc loại bình luận. Qua những lập luận và chứng minh trên. Vậy chúng ta không nên quá suy tôn hạng con dòng cháu giống. a. Nhưng dầu sao cha mẹ cũng cần tu thân luyện đức để con cháu có được một tâm hồn minh mẫn trong một thân thể tráng kiện. chúng ta nhận thấy tuy cha mẹ có ảnh hưởng trên con cái về thể chất. Vậy chúng ta phải quyết tâm nỗ lực vượt mọi trở ngại để công việc dự định đạt được kết quả tốt đẹp. b.  Mẫu chung cho phần tón tắt bài: Sau khi đã giải thích và phê bình. cũng đừng nên quá thành kiến coi thường những người xuất thân nơi thôn dã. b. 3. Người ta lập trí phải nên kiên. tinh thần đạo đức nhưng cũng không thiếu những trường hợp ngoại lệ trong lịch sử. Riêng học sinh chúng ta nên noi gương Châu Trí và ghi nhớ hai câu ca dao sau: “Ở đời chẳng có việc gì khó.Phương Pháp Nghị Luận Qua những lập luận và chứng minh trên ta thấy câu… vừa là một nhận xét xác đáng vừa nêu lên một bài học quý giá. ta thấy sự bền chí là cửa ngõ dẫn tới thành công. c. Vi dụ: Bình luận câu tục ngữ “Cha nào con nấy” a.” Bạn nghĩ sao? 37 . Kết luận kiểu bổ khuyết Ví dụ: Tục ngữ có câu “Thất bại là mẹ thành công.

c. Qua những nhận xét trên. phải mở rộng tâm hồn để yêu thương giúp đỡ đồng loại. Ví dụ: Người ta thường nói. chúng ta nhận thấy tính chất hẹp hòi và phản tiến hóa của quan niệm ấy. b. Như trên đã trình bày. vì nếu không được chuẩn bị cẩn thận. những ảnh hưởng tai hại của quan niệm “Đèn nhà ai nhà ấy rạng” có thể gây ra trong cuộc sống hiện tại. biết dung hợp pháp luật với đạo lý. “Đèn nhà ai nấy rạng. như một nhà thơ đã viết.” Hãy giải nghĩa và phê bình quan niệm trên trong đời sống xã hội hiện tại. hợp với thực tế nhưng lại trái với nền luân lý đạo đức. công bình và nhân ái mặc dù có nhiều điểm dị đồng nhưng vẫn liên quan mật thiết với nhau. Để nêu cao thái độ sống của dân tộc biết hòa tình cảm với lý trí. một nhà thơ Việt nam đã viết:“Ngoài thì là lý. Sau khi đã so sánh kĩ. Vậy muốn cho thất bại có hy vọng làm mẹ của thành công. Kết luận kiểu phản đối Kiểu kết luận này thường được áp dụng với những đề bài nêu lên một tư tưởng tuy đúng với sự thực. c. “Ai chiến thắng mà không từng chiến bại Ai nên khôn mà không dại đôi lần” 4. Chúng ta hãy luôn tự nhủ mình: Thua keo này bày keo khác! Con người tranh đấu phải coi thường thất bại. chúng ta thấy câu tục ngữ có phần hữu lý nhưng không khỏi thiếu sót. 38 . song trong là tình. a. Chúng ta cần sáng suốt nhận rõ khuyết điểm và thành thực quyết tâm sửa chữa lỗi lầm mới mong chuyển bại thành thắng được. thất bại có thể làm cho con người ngã quỵ. Kết luận kiểu dung hòa hay chiết trung Ví dụ: So sánh công bình và nhân ái a.” 5. b. Vậy chúng ta phải triệt để theo lẽ công bằng và thêm vào đó.Phương pháp nghị luận a. ai cũng công nhận rằng.

Như trên đã trình bày. Cá nhân nào hay đoàn thể nào còn theo quan niệm ấy sẽ lãnh lấy hậu quả tai hại là tự cô lập mình trong xã hội loài người ngày càng biết hợp tác chặt chẽ với nhau. Trong xã hội loài người ngày nay.Phương Pháp Nghị Luận b. 6. giữa dân tộc này với dân tộc khác ngày càng mật thiết. Kết luận kiểu chọn lựa Ví dụ: Tài là gì? Đức là gì? Tại sao tài đức cần phải kiêm toàn? a. Vậy muốn trở nên một người toàn diện chúng ta cần cố gắng rèn tài luyện đức được vẹn toàn. quan niệm trên không thể nào làm kim chỉ nam cho hành động con người được nữa. người có đức được ưu đãi về phương diện luân lý. Nhưng nếu phải chọn lựa thì chúng ta đành chịu kém tài còn hơn là thiếu đức. 39 . người có tài lại nổi bật về hành động. tự thoái bộ và tự tiêu diệt trước bánh xe tiến hóa của nhân loại. b. tương quan giữa các nhân này với cá nhân khác.

vững chắc. gọn gàng. người ta lưu luyến nhau và không thể bỏ nhau được. khiêm tốn. Với mục đích thuyết phục người đọc. Riêng có bậc anh hùng là bình tĩnh nhận định tình hình. Ví dụ: Câu văn viết chưa gọn gàng. tìm mưu kế giúp non sông thoát hiểm.Phương pháp nghị luận Chương IV: PHƯƠNG PHÁP HÀNH VĂN I. văn nghị luận có các đặc tính như: Chính xác. Câu văn viết gọn gàng giản dị hơn: Trong lúc tổ quốc lâm nguy. Gọn gàng giản dị Trong khi nhiều lối văn khác cần cầu kỳ hoa mỹ. người dân thường chỉ biết phàn nàn hay lo lắng. giản dị: Con thuyền quốc gia lúc bấy giờ gặp cơn sóng gió. hay giữ lái cho qua lúc ba đào nguy hiểm. 3. sự lập luận khúc chiết tỏng câu văn. người trong thuyền chỉ biết kêu khóc hay cầu nguyện. khi chìm xuống. 1. riêng có bậc anh hùng là bình tay giữ chèo. Câu văn viết chính xác hơn: Chính vì tình người ta đã lưu luyến nhau. Tự nhiên. tả cảnh. lối văn nghị luận càng rõ ràng chứng nào càng hay chừng ấy. Ví dụ: Câu văn viết thiếu chính xác như: Vì tình nghĩa. khi dâng lên. giản dị. bay bướm… thì lối văn nghị luận cần gọn gàng giản dị. 2. NHỮNG ƯU ĐIỂM VỀ HÀNH VĂN A. tự nhiên. NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA VĂN NGHỊ LUẬN Mối thể văn có mục đích và đặc tính riêng. để cho người đọc dễ nhận thấy những tình tiết tỉ mỉ. súc tích. Chính xác Khác với lối văn mô tả cần uyển chuyển nhịp nhàng như văn tả người. linh động 40 . thanh nhã. nhưng vì nghĩa người ta không thể bỏ nhau được. đanh thép. hùng hồn. linh động.

Câu văn viết chưa súc tích. Ví dụ: Câu văn thiếu tự nhiên. 4. lối văn nghị luận. vững chắc.Phương Pháp Nghị Luận Có nhiều lối văn phải chải chuốt. Câu văn viết cho tự nhiên. chúng ta nên tránh sự dài dòng. cần phải thanh nhã khiêm tốn. miên man và cố gắng súc tích. Câu văn viết súc tích vững vàng hơn: Sự thành công rực rỡ ấy đã đem lại lợi ích cho nhà nước 6. khiêm tốn hơn: Trong cuộc sống hằng ngày. vững chắc Trong lối văn nghị luận. đanh thép 41 . khoa trương như văn diễn thuyết. thiết tưởng ai cũng có thể tin rằng tính hay nói dối đem lại nhiều hậu quả không hay. linh động hơn: Thật là cao quí khi người chiến sĩ đem xương máu đền nợ nước. nhất là trong bài luận văn của người học sinh. Hùng hồn. Câu văn viết thanh nhã. linh động cho bài văn nhẹ nhàng dễ hiểu hơn. linh động: Người chiến sĩ đã đem máu đào. 5. từng bông lúa vàng cho dân tộc. vững chắc như: Kết quả của sự thành công ấy thật là rực rỡ huy hoàng. đem lại nhiều lợi ích cho thân nhân trong gia quyến cũng như mọi người trong nước. Súc tích. Ví dụ: Câu văn thiếu thanh nhã khiêm tốn hơn: Phàm người ta sinh ra ở đời. Thanh nhã khiêm tốn Khác với lối văn mô phạm có tính cách khuyên răn người đời. bỏ tất cả cha mẹ vợ con xóm làng theo tiếng gọi của núi sông. ai lại chẳng biết một cách chắc chắn rằng tính hay nói dối đã đem lại nhiều hậu quả xấu xa. Lối văn nghị luận cần tự nhiên. đem xương trắng ra đổi lấy từng tấc ruộng xanh. Ôi cao quí thay! Ôi đẹp đẽ thay! Những người con yêu của tổ quốc. quên tất cả lạc thú. gia đình để phụng sự dân tộc. Chúng ta nên nhớ rằng: sự lập luận vững vàng đanh thép không hề gây trở ngại cho việc viết câu văn thanh nhã khiêm tốn.

2. cho nên nhiều người không biết kiên nhẫn và cố gắng. vừa đanh thép là câu văn hay. diễn ý nhiều hơn là ở một vài tiếng đưa đẩy nghe thật kêu một cách khoa trương. Bởi thế nên chúng ta luôn phải kiên tâm bền chí. kẻ đi 42 . đanh thép: Chính bởi vì lý do thành công một cách quá ư dễ dàng.Phương pháp nghị luận Văn có hùng hồn đanh thép hay không là do sự lập luận. kín đáo của câu văn trừu tượng. Ví dụ: Câu văn viết chưa hùng hồn. Câu văn viết hùng hồn. Ví dụ: Vị dân biểu hùng hồn lớn tiếng ở nghị trường. CÂU VĂN CỤ THỂ VÀ CÂU VĂN TRỪU TƯỢNG 1. mặc dù gặp những điều ngang trái. bác nông phu cặm cụi đổ mồ hôi trên luống cày. người thợ miệt mài trong xưởng máy. nhiều người không biết kiên nhẫn và cố gắng sống. Đồng thời vừa giữ được thâm trầm. nhưng rút lại không thêm được ý gì cho câu văn. Ví dụ: Học sinh đến trường làm việc chăm chỉ để cuối năm hy vọng thi đậu. Chúng ta nên lấy đó làm gương sửa mình. Trong một bài luận thuộc lối văn nghị luận. đanh thép hơn: Chình vì thành công quá dễ dàng. dễ hiểu của câu văn cụ thể. nên đã thất bại khi gặp khó khăn. B. vừa dài dòng là câu văn dở. chúng ta phân biệt Câu văn cụ thể khi có chủ từ là tiếng cụ thể. Lối viết này có ưu điểm vừa giữ được vẻ sáng sủa. câu văn trừu tượng dùng để diễn tả ý trong đoạn văn lập luận là phần căn bản của bài văn nghị luận dùng để diễn ý trong đoạn văn dẫn chứng hay giới thiệu Tuy nhiên có nhiều trường hợp người viết những câu văn cụ thể nhưng có giá trị trừu tượng. Cũng vì vậy một cây văn vừa hùng hồn. do đó chính họ lại là những người nhận lấy thất bại nếu gặp trường hợp khó khăn. trong khi một câu văn vừa lủng củng vừa nặng nề. Câu văn trừu tượng có chủ từ là tiếng trừu tượng Ví dụ: Sự làm việc chăm chỉ của người học sinh ở trường có thể dẫn đến kết quả thi đậu cuối năm. Về phương diện văn phạm.

cha đối với con. Rất nhiều khi nó chỉ nhằm che giấu chiến thuật yêu thương. Câu văn trừu tượng này có thể viết thành một câu văn cụ thể sau: Khi bị đói rét. các chiến sĩ hiên ngang ôm súng nới chiến địa… chúng ta sẽ hỏi ai giúp ích cho xã hội hơn ai? Câu văn cụ thể này có thể tóm tắt thành một câu văn trừu tượng như sau: Sĩ. Vua có quyền lợi trị dân. Ví dụ: Sự đói rét. Chúng ta có thể lấy làm ví dụ để nhận định rõ vai trò của câu văn cụ thể và câu văn trừu tượng trong một bài văn nghị luận. mà hai quan niệm về nghĩa vụ và quyền lợi. Ví dụ: Sự dịu dàng có vai trò như lá cây ngụy trang trong chiến tranh. binh nghề nào có ích cho xã hội hơn cả? Cũng có những câu văn trừu tượng mà giá trị như những câu văn cụ thể. lại làm cho người đọc thêm phần chú ý hơn. tiêu hủy từng bộ phận. tật bệnh và ngu dốt. nhưng cái quyền ấy là phải gây dựng cho con được nên người. Sau đây là một đoạn văn trích trong tác phẩm “Nghĩa vụ là gì” của Phạm Quỳnh. Không những thế. Lối viết này cũng có ưu điểm như lối viết ở trên. Ngày nay tựa hồ như 43 . trong tạp chí Nam Phong. đều có quyền lợi riêng. vua đối với tôi. làm tê liệt cả khối óc lẫn con tim của nhân loại. người xưa chỉ biết nghĩa vụ mà không hề nghĩ đến quyền lợi. Đại thể các xã hội ngày xưa lấy nghĩa trọng hơn lợi. Lại không những thế. tật bệnh và ngu dốt là những u nhọt đang tàn phá cơ thể xã hội. Chồng có quyền khuyên vợ. nhưng cái quyền ấy là phải mưu cho gia đình được thuận hòa vui vẻ. Trong tình yêu người ta thường dùng thái độ dịu dàng để che giấu tâm tình yêu thương sôi nổi. cũng coi quyền lợi ấy là nghĩa vụ. Chúng là vi trùng len lỏi vào trong từng tế bào. thương. một cá nhân cũng như một tập thể không biết gì là trái phải là yêu thương. nông. những người vì địa vị của mình được có quyền lọi đối với người khác. trong một xã hội.Phương Pháp Nghị Luận buôn xuôi ngược sớm hôm. Cha có quyền dạy con. nhưng cái quyền ấy tức là lo cho dân được an lạc. công. chồng đối với vợ. Nói tóm lại thì ngày xưa quan niệm quyền lợi thuộc về “tiêu cực” mà quan niệm về nghĩa vụ thì thuộc về “tích cực”.

Cha có quyền lợi đối với con. quyền lợi xem ra trọng hơn nghĩa vụ. Chồng có quyền lợi đối với vợ. khởi lên như giáo dựng. XÂY DỰNG MỘT PHÂN ĐOẠN LÀ GÌ? Xây dựng một phân đoạn là đặt câu dùng chữ để xây dựng thành một đoạn văn. tiểu kết. nhưng dân cũng có quyền lợi đối với vua. ta chỉ cần lí luận mà không cần dẫn chứng. PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG MỘT PHÂN ĐOẠN 1. thì phân định làm sao cho được? Ai cũng có quyền lợi cả. Ví dụ:  Ý chính: có kiên nhẫn cố gắng làm việc thì mới thành công. lí luận. (Theo Nguyễn Văn Trung) Cũng có những trường hợp vì lí lẽ minh bạch và sự thật hiển nhiên. nhà văn trong bàn viết. Bấy nhiêu quyền lợi tranh giành xung đột nhau. người mẹ trong gia đình.  Lí luận: Các vĩ nhân trên thế giới sở dĩ thành nên sự nghiệp đều do chí kiên nhẫn và sức cố gắng mà ra cả. nhưng vợ cũng có quyền lợi đối với chồng. Ví dụ:  Ý chính: Nhưng cũng có những thứ tình cảm hỗn loạn. mà duy chỉ có quyền lợi tối yếu là quyền quyết định mọi sự cạnh tranh thì không thuộc về ai! II. Căn cứ vào phương pháp chung.Phương pháp nghị luận phải trái lại: “tiêu cực” chuyển ra “tích cực” và “tích cực” chuyển ra “tiêu cực”. các nhà văn thường xây dựng một đoạn văn gồm 4 phần như sau: ý chính. 44 . Sự chuyển dịch ấy khởi ra tự Châu Âu. dẫn chứng. người y tá trong bệnh viện. làm kinh thiên động địa vì hai chữ “quyền lợi”. Các nước Tây Âu xướng ra nhân quyền. đòi hỏi ta phải kiên nhẫn và gắng sức tới cùng. đưa người ta vào con đường xấu xa tội lỗi.  Dẫn chứng: nhà bác học trong phòng thí nghiệm.  Tiểu kết: Cuộc đời là nơi chiến đấu. Vua có quyền lợi đối với dân. nhưng con cũng có quyền lợi đối với cha. người thợ trong xưởng máy… tất cả đều phải gắng sức kiên nhẫn mới giúp ích cho đời.

vũ trụ nuốt tôi như một điểm con.  Tiểu kết: những kẻ không kìm hãm và làm chủ được tình cảm hộn loạn của mình như vậy sẽ phải gánh lấy hậu quả rất tai hại. Tôi không căn cứ vào không gian để tìm lấy giá trị của tôi. Nhưng dù vũ trụ có đè bẹp người ta. mà trông cậy vào sự quy định tư tưởng một cách hoàn toàn. Ta nên rèn tập để viết tư tưởng cho hay. giả nghĩa. 45 . việc phải dù tính mệnh cũng không từ. thời gian là hai thứ chúng ta không bao giờ làm đầy hay đọ kịp. nhưng là một cây sậy có tư tưởng. a.  Cần gì cả vũ trụ phải tòng hành nhau mới đè bẹp được cây sậy ấy? Một chút hơi. nhờ ở tư tưởng. CHÍ THÀNH  Thành nghĩa là gì? Thành nghĩa là thật lòng. dù tôi có bao nhiêu đất cát cũng chưa phải là “giàu hơn”. việc phi nghĩa dù phú quý cũng không tưởng. vì trong phạm vi không gian này. cây sậy mềm yếu nhất trong tạo hóa. không giả nhân.Phương Pháp Nghị Luận  Lí luận: Đó là những tình cảm ủy mị đưa tới các thứ tình ái bất chính dâm ô. một giọt nước cũng đủ làm chết người được. nhưng trái lại. VÀI ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN KIỂU MẪU GIÁ TRỊ CON NGƯỜI  Người ta chẳng qua là một cây sậy. tôi quan niệm. Ta tự cao dựa vào tư tưởng chứ đừng cậy ở không gian. hoặc những tình cảm thái quá đưa tới sự hiềm khích tranh giành. 2. người ta so với vũ trụ vẫn cao hơn vì khi chết thì biết rằng mình chết chứ không như vũ trụ kia khỏe hơn người nhiều mà không tự biết rằng mình khỏe.  Vậy thì giá trị chúng ta là ở tư tưởng. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này kĩ hơn trong chương về các phương pháp suy tư và lí luận. (Nghiêm Toản dịch theo Pascal) b. (Theo Nguyễn Nam Châu) Trên đây là hai ví dụ đơn giản và điển hình trong việc xây dựng một phân đoạn. cho đúng. bao trùm được vũ trụ. Đó là nền tảng của nhân luân. không dối mình dối người.

vợ ở với chồng. như thế gọi là ngu thành. lời nói vẫn hay. đến khi hoạn nạn hay đổi lòng. tiên.  Chí thành cũng có lúc xử trí. thẳng như ruột ngựa. cũng nên người có nhân có nghĩa. Nếu cứ chắc như đười ươi. mà thân mình cảm ứng là cái chí thành ở trong. việc làm vẫn giỏi. Thánh. chỉ đủ cho người ta đánh lừa hay người ta nói dối. không ra ngoài được. phật cũng bởi cái lòng thành ấy mà nên. (Trích “Lời khuyên học trò”của Nguyễn Bá Học trong Nam Phong tạp chí số 25) 46 . hiền. thì có ai thờ chi ông tượng gỗ. như ông tượng gỗ. Đem lòng thành ấy mà ở với nước thì nên tôi trung. ra đến ngoài không có người tin. Nếu không có thần minh cảm ứng. ở với người đồng loại. có lúc dụng mưu. Suy ra anh ở với em. Cứ giữ thật thà. ở với hết mọi loài. Cho nên người nước ta ở với nhau không có đoàn thể. vàng son rực rỡ là đồ trang sức bên ngoài.” Ấy là lời nói của những người quen lèo lái hàng chợ. có tín có huệ. cũng vì tập nhiễm những câu hủ bại ấy mà mới mất hẳn cái đạo chí thành đi.  Người có chí thành mới là người có giá trị.Phương pháp nghị luận  Đem lòng thành ấy mà ở với cha mẹ thì nên con thảo. không buôn bán được.  Những người có tài mà hay khinh bạc. chúng bạn ở với nhau. gặp lúc kinh quyền hay biến tiết cũng vì không có chí thành làm bản lĩnh.  Người ta thường nói: “Không biết nói dối.

Phương Pháp Nghị Luận BỐ CỤC BÀI “GIÁ TRỊ CON NGƯỜI” 1. a. b. 2. a. người. b. 3. a. b. c. Nêu đại ý bằng cách trưng hai ý tưởng tương phản Người là vật yếu nhất trong tạo hóa. Người có tư tưởng Tác giả chứng minh hai ý trên Người yếu: một giọt nước, một chút hơi có thể giết được Người có tri giác nên hơn vũ trụ vô giác vô tri. KẾT LUẬN Tóm ý: Giá trị con người là ở tư tưởng. Hệ luận: Nền tảng luân lý là sự rèn tập tư tưởng... Tác giả áp dụng vào bản thân.

Hai ý đối chọi nhau bởi chữ “nhưng”.

Hai phần cũng dùng chữ “nhưng”để nói hai ý đối lập.

Toàn bài có thể nhất quán, chứng minh tình trạng mâu thuẫn giữa sự cực thấp và cực cao của con người. Mấy chữ “nhưng” và “vậy thì” cho ta thấy lập luận của Pascal rất chặt chẽ. BỐ CỤC BÀI “CHÍ THÀNH” 1. 2. Định nghĩa chí thành Công dụng của chí thành

a. Khi có chí thành thì làm được những điều cần thiết trong đạo xử thế, tu thân. b. Khi không có chí thành thì hai đạo như thế nào dù lời hay, việc giỏi. 3. Chí thành cần được bổ túc bằng mưu trí 4. Đả phá những lời ngụy biện bác bỏ chí thành trong một vài trường hợp 5. Tiểu kết: Chí thành là căn bản giá trị con người
47

Phương pháp nghị luận Các ý trong bài này xếp theo hình chóp hay vòng đồng tâm mà đỉnh chóp hay tâm điểm là chữ “chí thành”. Thực vậy, đúng về toàn thể, tác giả đi dần dần từ định nghĩa đến công dụng tích cực, tiêu cực, rồi suy ra chí thành cần bổ túc bằng mưu trí và cần được duy trì trong vài trường hợp người ta thường bác bỏ, đã kết thúc với một hình tượng cụ thể, tỏ rõ giá trị con người xây dựng trên đạo chí thành. CHÚ Ý: Cách viết một câu cụ thể có giá trị trừu tượng sang câu trừu tượng.  Giai đoạn 1: Phải hiểu ý tổng quát toàn câu đó.  Giai đoạn 2: Tìm tiếng trừu tượng làm chủ từ hay chủ từ cụ thể.  Cuối cùng xét ý nghĩa toàn câu mới xem còn tương đương với câu cũ không. Ví dụ: “Người ta chẳng qua là một cây sậy, cây sậy mềm yếu nhất trong tạo hoá, nhưng là một cây sậy có tư tưởng.” Câu này có thể viết thành câu trừu tượng bằng nhiều cách:  Sự yếu đuối của con người giống như cây sậy, nhưng giá trị độc đáo của con người là do khả năng tư tưởng.  Khả năng tư tưởng làm nên giá trị của con người vốn yếu đuối về thể chất.  Tư tưởng là lợi thế khiến con người vốn yếu đuối trở nên có giá trị. III. PHƯƠNG PHÁP DẪN CHỨNG 1. DẪN CHỨNG LÀ GÌ? Dẫn chứng là đem những tư tưởng, việc làm, tình trạng để làm sáng tỏ ý tưởng đã diễn tả hay sắp diễn tả. Khi dẫn chứng, chúng ta cần chú ý những điểm sau:  Vì có tính cách phụ thuộc cho phần lập luận, đoạn văn dẫn chứng cần phải vắn tắt, rõ ràng, không được kể lể những chi tiết dài dòng không cần thiết, kẻo biến bài nghị luận thành một bài văn kể chuyện. 48

Phương Pháp Nghị Luận  Dẫn chứng cần có tính chất điển hình, tiêu biểu cho những việc thường xảy ra. Chúng ta không được chọn những trường hợp đặc biệt, những việc cầu kỳ để dẫn chứng.  Để dẫn chứng, chúng ta không nên mượn những nhân vật mẫu như anh A, chị B, ông C, bà D… đồng thời cũng không nên kể đích danh những nhân vật tầm thường không ai biết đến như anh Trần Văn Ba là người kiên nghị, chị Nguyễn Thị Tư là người can đảm. 2. a. CÁC CÁCH DẪN CHỨNG Dẫn chứng một tư tưởng, một câu nói

Trong trường hợp này có hai cách:  Dẫn chứng nguyên văn: Chép nguyên văn tư tưởng hay câu nói của một nhân vật nào và để chúng trong ngoặc kép. Ví dụ: Nguyễn Bá Học đã viết: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông.”  Dẫn chứng nguyên ý: Chỉ ghi lại ý diễn tả trong tư tưởng hay câu nói, không cần chép nguyên văn đầy đủ từng chữ và cũng không cần đến dấu ngoặc kép. Ví dụ: Nguyễn Bá Học đã có dịp khuyên học trò đừng ngại khó, vì sự ngại khó làm nhụt nhuệ khí không cho con người vượt qua trở ngại để tiến tới thành công. b. Dẫn chứng một việc làm, một sự kiện hay một tình trạng  Dẫn chứng bằng một biến cố lịch sử. Ví dụ: Phụ nữ Việt Nam đã từng làm rạng rỡ non sông, những tấm gương Bà Trưng, Bà Triệu đã soi sáng ngàn thế hệ mai sau.  Dẫn chứng bằng một sự kiện Ví dụ: Khoa học đã tiến những bước khổng lồ: Con người đã dùng những phi thuyền thám hiểm không gian và thiết lập chương trình liên lạc với các tinh tú…  Dẫn chứng bằng một tình trạng xã hội:
49

con trai không nghe lời cha mẹ.Phương pháp nghị luận Ví dụ: Sau khi người Pháp xâm chiếm nước ta. c. gái bỏ nhà ra đi. cụm từ. các chiến sĩ tranh đấu với đồng loại nơi trận mạc.  Dẫn chứng bằng nhân vật tiêu biểu cho tầng lớp không cần biết đích danh là ai. thái độ này sang thái độ khác. IV. hai trào lưu tư tưởng cũ và mới đã xung đột nhau gây ra những cảnh ngang trái trong xã hội. Quang Trung. mượn nhân vật này để giãi bày tâm sự: Nguyễn Du có Vương Thuý Kiều.  Dẫn chứng bằng nhân vật trong tác phẩm văn chương Ví dụ: Văn nhân thi sĩ thường ca tụng tài sắc của người đàn bà. đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi đất nước: nam như Lê Lợi. học sinh tranh đấu với bản thân trên ghế nhà trường để chiến thắng sự ngu dốt của chính mình. 50 . bài văn sẽ rời rạc và giảm giá trị một cách tai hại. nữ như Trưng Trắc. CHUYỂN Ý LÀ GÌ? Chuyển ý là dùng một từ. Trưng nhị (không cần nói chi tiết: Lê Lợi đánh nhà Minh. một câu hay một đoạn ngắn để đi từ ý này sang ý khác. Thiếu những dây gân móc xích liên kết. Quang Trung đánh quân nhà Thanh. hai Bà Trưng đánh thái thú Tô Định). PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN Ý 1. Sự chuyển ý giữ một vai trò khá quan trọng trong bài văn. Chúng có thể ví như những dây gân để nối kết các phần của bài văn thành một cơ thể liên tục và duy nhất. lớp thanh niên tân tiến muốn bỏ hẳn nếp sống cũ. Dẫn chứng bằng một nhân vật điển hình  Dẫn chứng bằng nhân vật lịch sử: Cách này thường trùng với cách dẫn chứng bằng một biến cố lịch sử. Ôn Hầu có nàng cung nữ. quan niệm này sang quan niệm khác. Ví dụ: Mọi người đều phải tranh đấu trong cuộc sống gắt gao hằng ngày: Nông phu tranh đấu với thiên nhiên nơi đồng ruộng. Ví dụ: Dân tộc Việt Nam đã có nhiều vị anh hùng cứu quốc.

chúng ta có thể…  Sau khi tìm hiểu. chúng ta thử tìm hiểu câu tục ngữ trên và từ đó rút ra một bài học thực hành trong cuộc sống.  Để kết luận.Tóm lại. chúng ta đã nhận thấy… 3. a. còn về phần thực hành. b... Ví dụ:  Đó là phần lý thuyết. c. chúng ta hãy xem câu nói đó có hoàn toàn xác đáng không? e. chúng ta hãy xem câu nói trên có ý nghĩa gì.Phương Pháp Nghị Luận 2. d.. NHỮNG CHỮ DÙNG ĐỂ CHUYỂN Ý 51 . hoặc: Trước khi bình giải sâu rộng. Ví dụ: Sau đây. người ta thường chuyển ý ở những chỗ sau: Đó chính là phần báo đề. CHUYỂN Ý Ớ ĐÂU VÀ CHUYỂN Ý THẾ NÀO? Cuối phần nhập đề chuẩn bị xuống thân bài Trong bài luận văn. như trên đã trình bày.  Con người đa cảm ấy cũng rất đa tình… Giữa các phân đoạn của thân bài Khi chuyển ý nên có một chút âm vang của đoạn trước. Chuyển từ phần giải thích sang phần bình luận Ví dụ: Sau khi đã tìm hiểu ý nghĩa của câu nói. Đầu phần kết luận Ví dụ: .. ta có thể chuyển ý như sau: Trước hết chúng ta hãy định nghĩa mấy từ quan trọng. Đầu phần thân bài Nếu thân bài bắt đầu bằng định nghĩa.

Sách là kinh nghiệm của nhiều thế hệ hun đúc lại. chúng ta có thể dùng một từ. Tuỳ trường hợp. Một ví dụ mà chúng ta đã gặp trong bài “Cha nào con nấy”. một câu hoặc một đoạn ngắn để chuyển ý sao cho thích hợp. xem thế…. ta hay theo dõi bài tham khảo sau đây: Muốn tiến bộ chúng ta cân phải học tập. nhưng. chuyển ý từ phần đúng sang phần hạn chế một cách khá tự nhiên: “Tuy nhiên. phải chăng câu tục ngữ Tây phương nói trên hoàn toàn xác đáng và có giá trị tuyệt đối? Nói cách khác.  Vấn đề đặt ra là…  Trước hết về phương diện… Tuy nhiên về phương diện…  Trong phạm vi hẹp… nhưng trong phạm vi rộng hơn… nhất là trong phạm vi rộng lớn nhất này…  Thứ nhất là…  Thứ hai là…  Thứ ba và sau chót là… CHÚ Ý: Những câu chuyển ý trên đây chỉ có tính cách gợi ý. nhưng Mạnh Tử lại bảo: “Hoàn toàn tin sách thà chẳng có sách còn hơn”(Tận tín ư thư bất như vô thư). tuy nhiên. Một văn hào đã nói: “Một quyển sách hay là một người bạn tốt”. Sau đây là một số những chữ thường dùng để chuyển ý:  Vậy. thật vậy.Phương pháp nghị luận Những chữ dùng để chuyển ý có rất nhiều. chúng ta không thể kể hết được. càng giấu được mối nối thì bài văn của chúng ta càng thêm đẹp. hoàn toàn tin sách là gì? Điều đó có hại chi? Và ta phải có thái độ như thế nào khi đọc sách? 52 . một cụm từ. hơn nữa. do đó. ở đời “hổ phụ”nào cũng sinh “hổ tử”cả chăng?” Để minh hoạ các loại chuyển ý. Học ở nhà trường. học ở trường đời cũng như học ở sách vở. mặt khác. Vậy theo nhà hiền triết ấy. ta không nên áp dụng cách máy móc mà phải lấy chính các yếu tố riêng của bài để chuyển ý cách khéo léo. như vậy. tuy vậy.

phải chăng là do ảnh hưởng của những loại sách khốc hại đó? Vì vậy. dã sử mà tác giả có ý thức xây dựng. nhưng đối với những sách đúng đắn thì hoàn toàn tin sách có hại không? Tuy rằng không nguy hiểm như loại sách trên. cái gì sách cũng là đúng. Yếu Ly trong dã sử Tàu… có những hành động rất ngoạn ngục. tin và áp dụng một cách máy móc. Từ đó ta dễ có những hành động. Ta thường đọc những loại tiểu thuyết tâm lý. tư tưởng… nhất nhất theo sách. Tin vào chúng thì tình cảm và lý trí chúng ta sẽ bị đầu độc sinh ra những hành động nông nổi điên cuồng. Có những điều ở nơi này thì đúng. hoàn toàn tuân theo những giáo điều trong đó có hại gì không? Giá trị của luân lý cũng thay đổi theo không gian và thời gian. hành động. có khi đi đến chỗ lập dị hay không tưởng… vì nhân vật. phu tử tòng tử). ta sẽ vô tình bắt chước theo các nhân vật trong sách mà hành động phi thực tế. nhiều khi thành ra lỗi thời và lạc hậu. phi thường để hấp dẫn chúng ta. cung cách khác người. bắt chước theo sách một cách mù quáng. là hay. Thuyết Tam Tòng (Tại gia tòng phụ. Những hành động lố lăng. xã hội.Phương Pháp Nghị Luận Trước hết. việc hoàn toàn tin theo không phải là không có hại. Sách nói đúng thì theo đã vậy. ở chỗ khác thì sai. sự kiện trong sách dù cao đẹp đến đâu cũng đều có tính cách điển hình lí tưởng ít nhiều phóng đại và tuỳ theo chủ quan của tác giả. ta hãy xem thế nào là hoàn toàn tin sách? Hoàn toàn tin sách là học theo sách. làm cho ta muốn bắt chước theo. Vậy ta phải phân tách xem hoàn toàn tin sách như thế có hại như thế nào? Đối với loại sách nhảm nhí hoang đường khiêu dâm…cái hại đã quá rõ ràng. Nếu ta cứ chữ. ở chỗ khác thì trái. những vụ tự tử vô lối mà ta thường đọc thấy qua tin tức báo chí. xuất giá tòng phu. Có người cứ xem sách là một tiêu chuẩn. phán đoán. tin theo sách. nhưng sách nói sai cũng chẳng biết. Hạng “người tiểu thuyết”. ở thời này thì phải. quan niệm “Trung quân” 53 . không biết suy xét. Nếu ta tin tưởng một cách mù quáng. Đối với sách không lành mạnh thì như vậy. nhà trường cũng như phụ huynh thường kiểm soát những loại sách của học sinh để tránh cho đầu óc non nớt của chúng khỏi bị đầu độc bởi những hoại thư ấy. lắm khi đi đến thất vọng vì đời không phải là tiểu thuyết! Còn đối với sách luân lý đạo đức. hạng “thanh niên quá mới” nhan nhản trong sách báo ngày nay: Những Kinh Kha. Học như thế Mạnh Tử cho rằng hại nhiều hơn lợi.

Ta cần hiểu rằng: Lý thuyết Khổng Mạnh đến ngàn đời con người cũng chưa thấu đạt hết vì trong ấy chứa đựng bao nhiêu kinh nghiệm thực tế ở đời. cho rằng sách chỉ chứa toàn lý thuyết mà thôi. lựa chọn sách thì sợ gì loại lý thuyết suông. nhưng không phải vì quá thận trọng mà chúng ta thành ra sợ sách. Nhưng đọc sách phải như thế nào cho có ích lợi? Thường có hai cách đọc sách: Đọc nghiền ngẫm và đọc ngấu nghiến. thà chẳng có sách thì hơn! Tuy đọc sách cần cẩn trọng. Hoàn toàn tin vào đó mà không chịu phân tích. mà phải sửa chữa. Vì vậy. quan niệm lại và áp dụng cho thích hợp. Nếu ta biết đọc nghiền ngẫm. ta nghe được tiếng ca hát âm thầm lặng lẽ mà duyên dáng từ nghìn đời. ta học được sự cần lao khả kính của con người. tác hại lý trí… Như thế. Ngay cả đến những sách khoa học phần lớn có tính cách khách quan. thường bị chi phối bởi thế lực của triều đại đương thời hay một giai cấp thống trị. Nhìn vào sách. 54 . Bao nhiêu thế hệ trôi qua. nói chuyện lạt lẽo khó nghe. suy nghĩ cân nhắc cái hay cái dở. dù rằng sách hay mà cứ tin mù quáng vào sách để xa rời thực tế. Học giả Hoàng Đình Kiên đã nói: “Kẻ sĩ phu mà ba ngày không xem sách thì soi gương mặt mũi đáng ghét. ghi chép lại những sưu tầm phát minh của các nhà bác học tiền bối. lạc hậu. chúng ta nhiều khi trở thành lỗi thời. ta sẽ dễ bị nhồi sọ và lạc hướng. bao nhiêu công khó của người thợ in đêm ngày chăm lo từng nét chữ. nhưng sách hãy còn mãi lâu bền. cái phải cái sai trong sách thì thật là điều đáng khuyến khích. viết từng trang. nô lệ tư tưởng.” Một quyển sách để trước mặt ta là hình ảnh của bao người làm ra tờ giấy.Phương pháp nghị luận (quân tử thần tử. Nếu ta chỉ biết đọc ngấu nghiến thì công đọc sách cũng bằng thừa. Lại có những kẻ khinh sách hoàn toàn. ta cũng phải biết đặt thành nghi vấn. Đứng trước một tủ sách. phê phán. thần bất tử bất trung) ngày xưa không thích hợp với ngày nay. Đối với sách chính trị lịch sử. đối chiếu với sự vật để có thể hiểu sâu xa và phát triển thêm sở đắc. sợ gì vàng thau lẫn lộn. chúng ta lại càng phải thận trọng vì phần nhiều các sách ấy hay chủ quan. Nếu ta biết đọc sách.

vào việc học tập hàng ngày của ta. sách hay là một vật quý và cần thiết cho sự mở mang trí óc của con người. Làm thực thì có hại nhiều hơn có lợi. Sách là kinh nghiệm của những gì đã qua. Ta có thể mượn lời sau đây trong sách Trung Dung làm châm ngôn cho việc đọc sách: “Học cho rành. nghĩ cho cẩn thận. Nhưng đọc sách phải biết phân tích phê phán đối chiếu với sự vật.” 55 . hỏi cho kĩ. Dùng kinh nghiệm ấy mà áp dụng vào đời sống. Lúc đó. Nếu cứ tin mù quáng vào sách thì chẳng khác dồn bông vào gối cho cứng. thú vị của việc đọc sách càng lúc càng tăng và con người càng ngày càng thêm tiến bộ vậy. Tóm lại. tạo thêm những kinh nghiệm mới. phân biệt cho sáng tỏ.Phương Pháp Nghị Luận Ta còn phải biết phát triển những điều hay đã thu nhập trong sách. làm cho hết sức.

Họ cũng dễ dàng tha thứ lỗi lầm của anh em và ngay cả sự gian ác của kẻ thù.Phương pháp nghị luận Chương V: PHƯƠNG PHÁP SUY TƯ Các phương pháp suy tư sau đây giúp chúng ta đào sâu từ ý chính ra các ý phụ hoặc dùng để xây dựng phân đoạn. Thứ tự thông thường được áp dụng: Cá nhân – gia đình – quốc gia – nhân loại. Các định luật của sự vật thiên nhiên cũng là định luật của tư tưởng tâm trí ta. sẵn sàng. Ta cũng có thể đảo lộn thứ tự nếu cần. chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu các loại suy tư nhờ quan sát và suy tư nhờ liên tưởng. Trong chương này. cảm thông.  Kết quả: Lòng nhân ái đem lại cho tâm hồn bình an vui sướng. Suy tư quan sát bành trướng Vấn đề được suy tư từ phạm vi hẹp sang phạm vi rộng hoặc từ gần ra xa. SUY TƯ NHỜ QUAN SÁT Quan sát các sự việc trong thiên nhiên. Nó quả là một đoá hoa trong vườn nhân loại. 1. hy sinh. chúng ta thấy mọi việc xảy ra và diễn biến theo một chiều hướng rất trật tự: từ trước đến sau.  Hiện trạng: Lòng nhân ái khiến ta quên mình và chỉ mong cho người xung quanh được hạnh phúc. 56 . Người có lòng nhân ái quí mến. từ hẹp đến rộng. Suy tư quan sát nhân quả Đó là suy tư một vấn đề dưới ba khía cạnh:  Nguyên nhân phát sinh: Trước kia nó là gì?  Hiện trạng: Bây giờ nó như thế nao?  Kết quả: Sau này nó sẽ ra sao? Ví dụ: Suy tư về lòng nhân ái:  Nguyên nhân: Lòng nhân ái phát sinh từ những tâm hồn vị tha quảng đại. Bắt chước những hiện tượng ấy. b. chúng ta có thể suy tư bằng ba cách: a. từ gần ra xa. giúp đỡ và chia sẽ vui buồn cùng kẻ khác.

cũng có thể làm được. phụng sự một mục đích tốt đẹp.   Suy tư quan sát luỹ tiến Thứ tự I: Vật chất . Tiểu kết: Đó thật là mục đích cao cả.Phương Pháp Nghị Luận Ví dụ: Ý chính: làm người phải sống theo một lí tưởng nghĩa là theo đuổi. nghị lực ra thực hiện mục đích tốt đẹp đó. Ngay đến loài cây cỏ vô tri vô giác cũng làm việc không ngừng để đâm chồi nảy lộc: Nhựa sống lưu thông không ngớt trong lớp vỏ thảo mộc – phương chi con người càng cần phải làm việc mới có thực phẩm để ăn và vật dụng để dùng. người khác vì cộng đồng nhân loại. Ý phụ: Các loài vật từ con ong con kiến cho đến chim muông cầm thú cũng phải khó nhọc lắm mới kiếm được miếng mồi sinh sống. tác giả đảo lộn thứ tự với dụng ý làm nổi bật ý chính. Ví dụ: Ý chính: sự làm việc là một công lệ của đời sống. Có 3 loại: a. Các thứ tự thông thường: Trong phân đoạn dưới đây.. Tất cả đều quên mình để mưu ích cho tha nhân. phân loại đồ ăn và phân chất thức ăn. hoá học… Cho đến nay. Suy tư một vấn đề từ thấp đến cao. Suy tư liên tưởng tiếp giáp: Đi từ một sự việc sang một sự việc khác tiếp theo. can đảm. bồi dưỡng gìn giữ sức khoẻ. c. Ví dụ: Từ việc ăn uống. SUY TƯ DO LIÊN TƯỞNG Liên tưởng là suy nghĩ từ một ý này sang ý khác gần đó. Ý phụ: Nên đem hết tài ba. Các vĩ nhân trên thế giới đều sống theo một lí tưởng như vậy: Người vì gia đình. từ đứa bé mới lọt lòng mẹ cho đến những kẻ ngu si tàn tật. Ý phụ: Nhưng muốn biết được cơ nguyên sự tiêu hoá trải qua các giai đoạn nào thì phải học qua sinh lý học. Thứ tự II: Khoáng vật – thực vật – động vật. có biết bao 57 . 2..tinh thần – đạo đức. kẻ vì dân tộc. Ý chính: Ẩm thực là một việc rất thông thường của loài người. ta nghĩ đến việc tiêu hoá.

chơi thuyền… BÀI TẬP 1. nhưng tại sao một đàng thì ham mê. chỉ vì cái gì con người nghe hiểu. một đàng thì biếng nhác? Thực ra. Ngựa không hay thì lắm khi nguy hiểm cho kỵ sĩ: đường muốn rút ngắn hoá đường dài. chúng ta có thể nghĩ đến một ý tưởng trái ngược để tìm thêm ý. trông thấy mà mình muốn bắt chước hay muốn suy nghĩ thêm ra. lấy làm hay làm thích thì con người vui vẻ mà đam mê. Ý phụ: sức sống nhiều phen lồng lộn như ngựa bất kham. dòng thác lội cũng dễ dàng. Chủ đề: Làm việc 58 . luỹ tiến hay bành chướng? a. Ngựa hay thì sườn núi vượt mà không nguy hiểm. b. đá cầu. Ý phụ: Thế thì học với chơi cũng không khác gì nhau. Ví dụ: Ý chính: Học là gì? Học là từ những điều mình nghe thấy. ta có thể tìm một hình ảnh cụ thể giống nhau. không đợi ai phải dạy. c. nhưng tự nó trông thấy mà bắt chước mà làm ngay như: nhảy dây.Phương pháp nghị luận nhà bác học chuyên môn khảo cứu khoa ăn uống mà vẫn chưa biết hết được lý do và giá trị của những thực vật rất thông thường mà con người đã dùng ngay từ thời thượng cổ. Đọc kỹ ba đoạn văn và xem mỗi đoạn văn được gợi ý theo loại suy tư nào: quan sát nhân quả. Suy tư liên tưởng tương phản Từ một ý tưởng đã có. Ví dụ: “Nghị lực” là một khả năng nơi con người có tính cách trừu tượng. thả diều. dốc nhỏ muốn trèo lên mà trèo chẳng nổi. Ý chính: Nghị lực của thanh niên mới thực là có sức sống. cho mình được vui vẻ sung sướng. chúng ta nghĩ đến một con ngựa có sức mạnh. Suy tư liên tưởng tương đồng Từ một ý tưởng trừu tượng. nhảy cầu.

Sau đó. ta mới tạo được cuộc sống tự lập với nhân phẩm cao quý. trước hết chúng ta cần phải luyện tập thân thể khoẻ mạnh. thì gia đình sẽ được thịnh vượng và hạnh phúc. Có làm việc để nuôi thân. người nông dân có dầm mưa dãi nắng ngoài đồng ruộng. Muốn làm tròn bổn phận ấy. Mọi công dân đều phải có bổn phận chịu khó làm việc.Phương Pháp Nghị Luận Người ta ở đời ai cũng đổ mồ hôi lấy chén cơm thì một lẽ công bằng xã hội. mỗi người có một nghề tinh thạo và hành nghiệp chu đáo để góp phần xây dựng xã hội cách thiết thực. Quan trọng nhất trong cuộc sống xây dựng quốc gia. mọi sự chúng ta đều nhờ xã hội. giới thợ thuyền có lam lũ ngoài công trường. nhà ở và mọi tiện nghi nhu cầu khác. Trong gia đình. Chủ đề: Liên lạc với người đồng thời Chúng ta còn là kẻ cùng chịu khó nhọc và chung sức làm việc với người sống cùng thế hệ với ta. trong hầm mỏ hay xưởng máy thì nhân dân mới có cơm ăn áo mặc. 59 . không ai có thể sống lẻ loi được. vui vẻ và hăng hái làm việc. học tập mở mang kiến thức dồi dào và rèn luyện đạo đức thanh cao. Từ những nhu cầu vụn vặt hằng ngày đến những công cuộc tổ chức đời sống sao cho trật tự an vui. Trong cuộc sống phức tạp và khó khăn. b. mỗi người tuỳ tài tuỳ sức.

Sự góp phần hữu hiệu nhất là trực tiếp cầm khí giới tiểu trừ bọn xâm lược hay phiến loạn. Tài nội trợ và sắp đặt khéo léo của người phụ nữ đem lại cho gia đình những bữa cơm dẻo canh ngọt và làm cho nhà cửa gọn gang. b. Người phụ nữ cũng có thể gia nhập các tổ chức lo việc canh phòng. c. Đức tính hiền dịu. tổ kiến to. thì cái họa sụp đổ và cái hố diệt vong đã hiện ra trước mắt dân tộc ấy. nhờ tài đảm đang. Chủ đề: Phụ nữ xây dựng gia đình Thật vậy. Trong quốc gia nếu không có họ mà chỉ có những kẻ cầu an hưởng nhàn. thế mà kiến tha lâu ngày tổ cũng đầy. Chủ đề: Làm việc: Tổ quốc được hùng cường và dân tộc được vẻ vang đều nhờ công sức đóng góp của những người lao động trí óc và chân tay. cây gỗ lớn… Thế mà dây cứa mãi gỗ cũng đứt. Vì vậy. cứu thương hoặc ủy lao các thương binh và gia đình chiến sĩ. sự khôn ngoan và đức hạnh của người phụ nữ. lời nói dịu dàng của người vợ dịu hiền là những liều thuốc thần dịu để an ủi và khuyến khích chồng con trên con đường tranh đấu. ăn không ngồi rồi. nét mặt vui tươi của người mẹ là tấm gương sáng cho con cái. tương đồng hay tương phản? a. Có nhiệm vụ khi quốc biến. người ta định làm việc gì nếu dốc lòng hết sức và nhẫn nại theo đuổi thì ắt sẽ thành công. cho dù công việc khó khăn đến đâu. người phụ nữ cần phải biết rõ vai trò của mình như thế nào trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung. sự hy sinh tận tuỵ của người vợ hiền có thể gây dựng sự nghiệp vinh hiển cho chồng con. tiếp tế. Cử chỉ niềm nở. vui mắt. nhưng nếu ta quyết tâm bền chí và gắng sức thực hiện thì cũng sẽ đạt được kết quả mong muốn. Sự phân khối khéo léo những khoản chi tiêu phù hợp với lợi tức kiếm được bảo đảm mức sống no ấm cho gia đình và tránh cho chồng con khỏi cảnh nợ nần tai tiếng. Chủ đề: kiên nhẫn: Việc đời cũng vậy. 2. Chủ đề: nhiệm vụ phụ nữ khi quốc biến. gia đình có thể được hạnh phúc. 60 . Ai cũng biết rằng sợi dây nhỏ. Đọc kỹ đoạn văn sau đây và xem mỗi đoạn văn ấy được gợi ý nhờ lối suy luận liên tưởng nào: tiếp giáp. Con kiến nhỏ.Phương pháp nghị luận c. Quan trọng hơn cả.

1. Cũng có khi so sánh hai sự kiện có tính chất giống nhau về nguyên nhân.Phương Pháp Nghị Luận Chương VI: PHƯƠNG PHÁP LÝ LUẬN Trước khi tìm hiểu các phương pháp lí luận. vật lí. Nên thi sĩ Nguyễn Du đã chết. những phê phán.  Một vài ý niệm hợp thành ý tưởng. a. Phương pháp diễn dịch hay suy diễn Theo nguyên ngữ. đẹp.  Nếu ý tưởng có tính cách cá nhân thì người ta quen gọi là ý kiến. đen. luận điểm. ta gọi là những luận lý. người ta có thể đoán thêm kết quả tương tự của chúng. ta cần phân biệt rõ vài điều. Ví dụ: Ý kiến bàn về giáo dục nhi đồng. từ nhiều sự kiện riêng đi tới một nguyên lí chung. liên kết thành từng hệ thống duy nhất từ đơn sơ đến phức tạp.  Ý niệm là gì? Ví dụ: Trắng. hóa học… chúng ta thường thấy người ta đi từ nguyên lí chung đi ra các trường hợp riêng. ý tưởng. Ví dụ: Đã là một người ai cũng phải chết. Ta sẽ xét tới hai loại: Lí luận theo khoa học và lí luận theo triết học. LÝ LUẬN THEO KHOA HỌC Trong các khoa học như toán. bàn xét tới các chi tiết tỉ mỉ hơn. xấu… là những ý niệm. ý kiến có giá trị tương đối phụ và chính. Chúng ta sẽ áp dụng loại lí luận khoa học này trong các bài văn nghị luận. Các phương pháp lí luận đề cập tới trong chương này có mục đích giúp chúng ta tìm ý để lập luận cho vững và xây dựng phân đoạn thêm phong phú.  Các ý niệm. Nên Hoàng đế Thần Nông đã chết. những tư tưởng. Ví dụ: Cái bảng trong lớp màu đen. hoặc ngược lại. Nên tất cả hậu thế sẽ vấp phải nấm mồ. Lí luận theo phương pháp diễn dịch khởi từ một nguyên lí chung suy ra các trường hợp riêng hoặc từ một ý tưởng chính bao quát suy rộng ra các điểm phụ khác. diễn là giăng rộng ra và dịch là đi từ ý này sang ý khác. cây hồng nở nhiều hoa đẹp. Nên bao nhiêu người hiện đang hấp hối. 61 . luận chứng.

và đầu cơ tích trữ gây ra nạn chợ đen chợ đỏ làm khổ đồng loại.Phương pháp nghị luận Ví dụ 2: Ý chính: Tiền bạc là ông chủ xấu Quả vậy. vì một bài thơ. Ý chính: Vậy thơ ca cũng là một cách giải trí mà là cách giải trí tao nhã thanh cao. Ngay đến những người làm ăn lam lũ như người đi cày. một khúc đàn hay. (Theo Dương Quảng Hàm). tính tình khô khan. anh phu xe. Người buôn bán sẽ dùng mọi mạnh khỏe để kiếm được nhiều tiền. nếu chỉ vì tiền sẽ không ngần ngại dùng mọi thủ đoạn gian ngoa xảo quyệt để mưu vinh thân phì gia. thì ta sẽ vì tiền làm điều bất chính. Ý phụ: Ta thường nghiệm ra: Sau khi làm việc tinh thần mệt mỏi. chúng ta có thể đi từ nhiều ý phụ đi vào ý chính. nếu coi tiền bạc là trên hết. chị gánh nặng mà cũng thường nghêu ngao vài câu phong dao. Ví dụ 3: Đoạn 1 + 2 của bài “Chí Thành” b. có thể làm tiêu tan được những nỗi nhọc mệt để cho tâm hồn ta lấy lại sinh lực mà làm việc về sau. nạp là gom góp lại. người đi cấy. Phương pháp quy nạp Theo nguyên nghĩa: quy là thu vào. nếu được đọc một bài thơ. 62 . mấy câu Kiều để quên nỗi nhọc nhằn của họ. Ngay cả những kẻ có học thức. một câu ca cũng không khác gì một bức tranh đẹp. ngâm một bài ca. Áp dụng cho bài nghị luận. thì thấy trong lòng khoan khoái thảnh thơi. họ sẽ “làm thưng cháo nấu” hay “buôn đầy bán vơi”.

Tam đoạn luận: là kiểu lí luận dùng 3 mệnh đề 63 . với cá tính cách dân ta. Thợ thuyền căm cụi sớm khuya nếu không có lương tâm sẽ chế tạo hàng hóa mau hỏng. Phương pháp loại suy Theo nguyên nghĩa. LÝ LUẬN TRIẾT HỌC Tiến lên một trình độ cao hơn. Đến ngày quốc ngữ dùng làm quốc văn được thì người nước Nam mới có thể thâu nhặt các khoa học mới mà gây thành một nền học thích hợp với trình độ. 2. Áp dụng vào bài văn nghị luận. Ví dụ: Ý chính: vấn đề quan trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ. Trong khoa Luân lý học. để lý luân của ta khó ai bài bác được. Cái nhân cách ấy hiện nay còn mập mờ phảng phất như ảnh không hình vậy. họ sẽ đầu cơ tích trữ làm tăng giá sinh hoạt khiến cho nhân dân bị đói khổ. liên châu luận và lưỡng đoạn luận. chúng ta có thể áp dụng các phương pháp lí luận thường dùng của khoa Luân lý học. Ý phụ: Vấn đề ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể mở mang. a. gây tai hại làm thiệt mạng nhiều người. nhưng nếu thiếu lương tâm. ta có thể căn cứ vào những điều kiện đã có để suy ra những cái sẽ có thể có sau này. Phương pháp loại suy căn cứ vào hai sự kiện cùng nguyên nhân sẽ có thể có những kết quả tương tự. (Theo Phạm Quỳnh) Ví dụ 2: Lương tâm chức nghiệp Nông dân cày sâu cuốc bẫm có thể sản xuất nông phẩm dồi dào. Đến ngày ấy thì người nước ta mới phát triền được cái nhân cách của mình. công trình kiến trúc của họ kém bền vững. sự tiến hóa sau này mới có thể mong mỏi được. người ta thường dùng Tam đoạn luận.Phương Pháp Nghị Luận c. nhà văn không có lương tâm sẽ sáng tạo những tác phẩm nhảm nhí đầu độc tinh thần dân chúng. Đối với những người làm việc trí óc cũng vậy. loại suy là suy nghĩ để xét tìm những cái cùng loại với nhau.

Ôn Như Hầu… thấy việc gì trái cũng lấy làm đau đớn xót xa phát ra những lời bi sầu thảm thiết. Lưỡng đạo luận Lưỡng đoạn luận còn gọi là Song quan luận.  Mệnh đề II gọi là tiểu tiền đề: Nêu lên một chân lý riêng hẹp liên hệ với đại tiền đề. Sự kiện thứ hai tuy là kết quả của sự kiện thứ nhất. Nhưng cũng có khi tam đoạn luận đặt cơ sở trên nguyên lý đồng nhất giữa các ý niệm: hai ý niệm cùng đồng nhất với một ý niệm thứ ba thì đồng nhất với nhau. phải siêng năng làm việc được sinh lợi. Sinh vật phải sống.” Những người đa sầu đa cảm như Nguyễn Du. nêu lên một nguyên lý chung rộng. 64 . suy ra X=Z Ví dụ: trong văn học: Tây Triết có câu: “Đời người đối với kẻ hay cảm xúc là một bi kịch. Muốn nuôi sồng được no đủ. tam đoạn luận dựa vào giá trị bao hàm của ý niệm: Ý niệm sống bao hàm ý niệm tranh đấu. Muốn sinh sản được đông đúc. Ví dụ trong toán học:X=Y và Y=Z. Ví dụ:  Đại tiền đề: Sống (A) thì tranh đấu (B)  Tiểu tiền đề: Mà chúng ta (C) đang sống (A)  Kết luận: Vậy chúng ta (C) phải tranh đấu (A) Trong ví dụ trên. b. xâu thành một chuỗi ngọc dài… Ví dụ: người ta chẳng qua là giống sinh vật trên mặt đất. nhưng lại trở thành nguyên nhân cho sự kiện thứ ba và cứ thế liên tiếp.  Mệnh đề III gọi là kết luận: Rút ra một chân lý riêng hẹp mới. Liên châu luận Liên châu luận hay “lí luận chuỗi ngọc” là lối lí luận đi từ sự kiện thứ nhất (nguyên nhân) sang sự kiện thứ hai (kết quả). là phép lí luận mở ra hai con đường hai cánh cửa mà người đối thoại thế nào cũng phải chọn một. thịnh cường phải lo nuôi sống cho đầy đủ. Sống phải nuôi và sinh sản.Phương pháp nghị luận  Mệnh đề I gọi là đại tiền đề. ai nghe cũng phải xúc động não lòng. ấy là chủ nghĩa cần lao. (Theo Nguyễn Trọng Thuật) c.

Nói dối là hèn nhát. Đường nào cô ta cũng đáng trách cả. vì yêu nước.Phương Pháp Nghị Luận rồi từ con đường họ đã chọn.” 65 .” Những sách Lễ Ký cũng nói: “Càng học càng biết mình còn kém. cũng hoài ngọc đi. Cũng thành vô dụng. Nhưng khi nói về việc học. Vì kẻ nói dối hoặc là cầu lợi. người nghe có thể cãi lý rằng: có nhiều trường hợp nói dối không phải để cầu lợi hay che giấu tội lỗi mình mà chỉ vì lịch sự.” Hãy tìm hiểu câu danh ngôn và xem hai nhận thức trên đây có trái ngược nhau không? BÀI THAM KHẢO I. Cũng vậy. Con người ta có khác gì. Ví dụ1: Một nữ sinh không làm bài luận văn      Cô ta hoặc không chịu làm hoặc không biết làm. Qua ví dụ “nói dối” trên đây. ta phải thận trọng vì rất dễ bị bác bỏ. xã hội… là nhờ học tập. sách Lễ Ký lại bảo: “Càng học càng thấy mình còn kém. ngu si hư đời. hoặc che đậy tôi lỗi của mình. Cả hai việc đều đáng khinh bỉ. NHẬP ĐỀ Ca dao Việt nam có câu: “Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài. vì nhân đạo. vì lương tâm nghề nghiệp… MỘT SỐ BÀI LUẬN MẪU VÀ ĐỀ LUẬN HƯỚNG DẪN Đề 1: Người đời thường khuyên: “Ta học tập để tiến bộ. gia đình. con người trở nên tiến bộ và hữu dụng cho bản thân. Ví dụ2: Riêng về phép Lưỡng đạo luận. ta đưa ra một kết luận mà họ không chối cãi được. Học hành quí giá.” Viên ngọc kia trở nên quí giá là nhờ mài giũa.

trên trời có bao nhiêu ngôi sao?” Khổng Tử còn đang suy nghĩ. Sau một lúc bị chất vấn mọi điều về sự đời. vẫn có những điều không giải đáp được. hạng người “không thấy mình kém” này rất nhiều. bấy giờ Hạng Thác mới hỏi Khổng Tử: “Ngài thử tính xem trên mặt đất này có bao nhiêu ngôi nhà. lúc nào cũng hô hào. Như vậy. Đó là loại người “ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung”. vì thế có những người vốn học vấn chẳng được là bao mà đã tự cao tự đại. tài giỏi như Đức Khổng Tử mà còn có những điều chưa rõ. Vì bà tự cao tự đại. Họ cũng từng lập đi lập lại câu 66 . Thật vậy. Trong xã hội Việt Nam ta. THÂN BÀI Trước hết. được người đời coi là “vạn thế sự biểu” (vị thầy của muôn thế hệ). Từ Hi Thái Hậu vì tự cho là quá giỏi mà nước nhà đi đến chỗ suy bài. “càng học càng biết mình còn kém” có nghĩa là càng theo đuổi sự học. thế mà đứng trước Hạng Thác. một thần đồng. không dừng lại một giây phút nào. biết hết? Có ai dám tự xưng là đã thông hiểu mọi sự vật trên đời không? Chắc là không! Đức Khổng Tử là bậc tài ba lỗi lạc. Chữ “kém” không có nghĩa ngu dốt mà là chưa theo kịp người. Gần hơn. Hạng Thác liền hỏi tiếp: “Thế trước mắt Ngài có bao nhiêu sợi lông mi?” Đức Khổng Tử đành không trả lời mà nhận rằng: “Hậu sinh khả úy” (kẻ sinh sau đáng sợ). những người tầm thường như chúng ta càng cần thấy được cái kém của mình và câu “càng học càng thấy mình còn kém” càng đáng cho chúng ta suy nghiệm. Vì vậy. cho mình là tài giỏi hơn người. chưa theo kịp người. người dốt hay nói chữ”. xem mình là bậc quán thông thiên hạ nên không thấy sự tiến bộ vượt bực của các nước Tây Phương. còn thua sút người xa. nghe hết. ta phải chú ý đến hai chữ “càng học”. Ta đã thấy. Và “càng biết mình còn kém” có ý nghĩa gì? Chữ “biết” có nghĩa là nhận thức được khả năng. “Càng học” có nghĩa là theo đuổi việc học mãi mãi. ta càng nhận thức rõ ràng hơn là ta còn thua sút.Phương pháp nghị luận Vậy ta hãy tìm hiểu câu danh ngôn này và htử xem nhận thức của sách Lễ Ký có trái ngược với nhận thức của người đời không? II. hiểu rõ sức mình. trên đời này có ai dám tự hào là thấy hết. Ta thường nghe nói: “Người xấu hay làm tốt. ta hãy quan sát nước Trung Hoa dưới triều Từ Hi Thái Hầu. không lo đề phòng nên cuối cùng bị ngoại bang chiếm hết cẳ một miền duyên hải trù phú.

làm người khác khinh ghét không tận tâm giúp đỡ ta trên đường học vấn. Những người ấy làm sao thấy được việc học phức tạp như rừng. Người giỏi còn có người giỏi hơn (cao nhân tắc hữu cao nhân trị). ta mới nỗ lực hơn và việc học tập mới đi đến kết quả tốt đẹp. Có ông thợ rừng nào biết hết các loại cây cũng như ai có thể tự hào mình thấu đáo mọi khía cạnh của học vấn? Những người đó cũng làm sao thấy được việc học mênh mông rộng rãi như đại dương! Ra biển rộng. cây nhỏ. Người hay môn này. thế mà họ không thấy cái phức tạp. bò. Như thế. Có nhận thức được như thế. có kẻ chuyên thao tác nhưng lại kém lí luận. không tiến là lùi”. Hiểu biết được như thế. luôn nhận rằng mình còn kém để cố gắng trau dồi. vì “học tập như đi thuyền ngược nước. chưa hiểu hơn bạn. trái lại. Trong gia đình. có người giỏi lý thuyết nhưng lại kém thực hành. Những học sinh cấp hai ví như người leo núi được nửa chừng. Trong học đường. ta phải thấy mình còn thua kém cha mẹ. Trong phạm vi rộng là như thế. ta phải thấy còn biết bao người tài giỏi hơn mình. phải trải qua nhiều giai đoạn: ngồi. bây giờ ta thử xét phạm vi hẹp hơn. sở dĩ sách Lễ Ký bảo ta “Càng học càng thấy mình còn kém” vì không muốn cho ta lây nhiễm nết xấu tự kiêu tự phụ ngăn trở bước đường tiến tiến thủ của ta. Trong rừng có biết bao nhiêu cây to. ta phải nhận là chưa bằng thầy. ta mới thấy rằng: “Càng học càng biết mình kém” để cố gắng học thêm. đứng… rồi mới đi được. biết bao giờ mình mới tới nơi? Người học tập cũng ví như người đi đường. học hỏi thêm mãi. học mãi. Người học mà cứ ngồi mãi. còn ai nhìn thấy chân trời? Vào biển học. Nhìn xuống họ thấy mọi vật đều nhỏ bé. kẻ giỏi môn nọ. nhưng nhìn lên đỉnh núi lại còn quá cao xa.mà chúng ta phải học? Quy luật của học vấn là tiến triển. đứng… để rồi đi được xa hơn thì việc học đã hỏng mất rồi. Trong việc học cũng có biết bao nhiêu vấn đề khó dễ khác nhau. khó mà biết đâu bến bờ! Có nhận thức được như thế.Phương Pháp Nghị Luận “Rừng Nho biển thánh khôn dò”. không khi nào ta dám tự cho là người hoàn toàn. anh chị ta. cái mênh mông rộng rãi của việc học. Ở đời. trườn. “đi một ngày đàng học một sàng khôn” Trước mắt ta còn biết bao nhiêu sàng khôn nữa . bò. Ngoài xã hội. Người học tập có khác đứa bé tập đi. chẳng thấy mình còn phải trườn. câu này khuyên ta 67 .

Nhưng đứng ở bậc dưới nhìn lên bậc trên mình lại thấy rõ mình còn kém hơn. Có thái độ học tập đúng đắn mới mong đạt được mục đích tiến bộ cao xa. nhận thức sau vạch rõ thái độ học tập. Thái độ tự cao tự phụ. Câu này còn khuyến khích ta nỗ lực và thi đua học tập. lúc nào ta cũng phải khiêm tốn mà nhận rằng: “Đời là một trường học rộng lớn bao la. cứ lên một lớp là tiến một bậc. Cứ như thế.Phương pháp nghị luận nên có một tư cách khiêm tốn mà cầu tiến. nhưng muốn học đến nơi đến chốn phải nhận rõ mình còn kém để mong được tiến bộ hơn. ai cũng thấy mình còn kém cùng tranh nhau chạy tới khắc phục cái kém trước mắt mình thì cuộc chạy đua hào hứng biết bao nhiêu! Trong đời học sinh. Nhận thức trước nêu ra mục đích của việc học. ta nhắm đỉnh cao mà tiến tới thì chẳng mấy lúc thấy mình bỏ xa điểm khởi hành. Muốn trở nên hữu ích cho đời thì cần phải học. 68 . còn ta chỉ là một học sinh nhỏ bé” mà thôi. Như vậy. Nếu trên trên đường học tập. ta thấy đây là một lời khuyên rất chí lí và thực tế. KẾT LUẬN Sau khi đã tìm hiểu câu nói trên. vạch cho người theo đuổi việc học con đường đi tới một tương lai tươi đẹp. III. Do đó. Có tiến bộ mới có điều kiện phục vụ tốt. tự hạ để lấy đà mà nhảy cao vọt lên vậy. Hai nhận thức này hoàn toàn hòa hợp và bổ túc cho nhau. “học tập để tiến bộ” và “càng học càng thấy mình còn kém” là hai nhận thức không trái ngược nhau. ý thức tự hào toàn thiện toàn mỹ là kẻ thù của việc học vậy.

tuy thân tình với chúng ta. ta thấy ngay lời nói là biểu hiện tính chất của con người. tính tình và ngôn ngữ. ta hay giữ gìn ngôn ngữ”. người tin. con người sống một mình cũng dễ bị ngoại cảnh ảnh hưởng. tính tình và ngôn ngữ để trau dồi bản thân và sống hòa hợp với người xung quanh. Người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe. và làm thế nào ta có thể giữ gìn chu đáo? BÀI THAM KHẢO I. Để đạt được ba điểm ấy. tư tưởng của ta. xoay chuyển hay đầu độc tư tưởng mình. Cũng vậy. ta hay giữ gìn tính tình. ta càng phải giữ gìn lời ăn tiếng nói. trong sự tiếp xúc với người ngoài. Rời khỏi ngưỡng cửa gia đình để tiếp xúc với mọi người trong xã hội. Do đó. ta phải biết rèn luyện tính tình. ta hãy xem câu nói ngụ ý gì? Ta thấy cây sống một mình dễ bị gió lay.Phương Pháp Nghị Luận Đề 2: Giải thích câu nói sau: “Ở một mình. trong gia đình. Nhìn rộng hơn. Một khi đã xung đột về tính tình thì hạnh phúc trong gia đình cũng có nguy cơ bị phá hủy.” Thật rõ ràng xã hội đã căn cứ vào ngôn ngữ mà định giá trị con người vậy. chi phối. II. câu nói trên giúp cho chúng ta một phương châm xử kỷ tiếp vật là phải biết thận trọng trong tư tưởng. Vậy. được sống trong gia đình trên thuận dưới hòa và ra xã hội được nhiều kẻ mến.” Những điều giữ gìn đó có lợi ích gì cho đời sống cong người. Ta hãy thử tìm hiểu xem những điều giữ gìn đó có lợi ích gì cho đời sống con người và làm thế nào ta có thể giữ gìn chu đáo tư tưởng. THÂN BÀI Trước hết. nhưng tính tình vẫn có nhiều điểm không hợp với ta. thú sống một mình rất dễ bị sát hại. một câu danh ngôn đã khuyên ta: “Ở một mình. Vì vậy. trong gia đình. ta hay giữ gìn ngôn ngữ. ai cũng mong được làm người có tư tưởng trong sạch. sống trong gia đình. ra ngoài xã hội. do đó xung đột rất dễ nảy sinh. ra ngoài xã hội. ta hay giữ gìn tính tình. ta thấy gia đình là một xã hội nhỏ. NHẬP ĐỀ Ở đời. Những người trong gia đình. ở một mình ta phải thận trọng kiểm soát mọi ý nghĩ. người đời thường nói: “Chim khôn ca tiếng rành rang. ta hay giữ gìn tư tưởng. Vì vậy. cư xử khéo léo để tránh đụng chạm có thể xảy ra. 69 . Bởi thế. ta hay giữ gìn tư tưởng.

Ở một mình ta thường dễ dãi với ta: Khi ta lạc quan thì nhìn đời tươi đẹp. nhân nhượng nhau nên anh em thì “trâu trắng. trụy lạc. ta phải chú trọng rèn luyện cơ thể để có được “một tâm hồn trong sạch một thân thể khỏe mạnh”.” Sự sắp đặt thứ tự. tính tình. có đủ nghị lực sống ở đời. không bi quan chán nản. tề gia. sa đọa. Có nhẫn nhịn ta mới tạo được hạnh phúc gia đình. con buồn cha một điều mà sinh ra bê tha. kèn thổi ngược”. tư tưởng của ta. Chỉ vì không chịu khó tìm hiểu. Tư tưởng sinh ra hành động. tránh khỏi những đổ vỡ đáng tiếc. Trong gia đình. Từ chỗ vui hòa trong tư tưởng. Một người có tư tưởng hư hỏng là mất cả phẩm giá. Có khi người cha chỉ vì giận con một chút mà bỏ mặc con hư hỏng. Và thường thì con người khỏe là tư tưởng khỏe. Ta thấy rõ căn bản của việc giữ gìn tính tình là tinh thần nhẫn nhịn. bình thiên hạ. Nhưng khi ta bi quan thì đời đen tối. Muốn được vui hòa. Đã giữ được tư tưởng trong việc tu thân rồi. khi được triệu đến để trình bày rõ tài tề gia của mình. trâu đen”. ta rất dễ bị sa vào vòng bê tha. điều căn bản trong việc giữ gìn tư tưởng là giữ được sự vui hòa. việc nêu vấn đề tu thân lên hàng đầu chẳng phải là có dụng ý lắm sao? Giữ gìn tư tưởng là điều căn bản của việc tu thân vậy. trong sạch thì ai cũng cần phải cố gắng đạt tới. nhưng một tư tưởng vui hòa. ông Trương Công Nghệ đã dâng lên vua 100 chữ nhẫn. Tuy ta không cần phải có một tư tưởng siêu phàm. không biết tu dưỡng thì chẳng bao lâu những sự đen tối xấu xa sẽ ám ảnh. bất cứ việc gì cũng phải lấy tinh thần xây dựng yêu đời mà nhận xét. tiêu tan đi. nghe bao nhiêu lời nói hay dở. vấn đề được đặt ra là: Chúng ta phải giữ gìn tư tưởng. ta còn phải lo giữ gìn trong việc tề gia nữa. tiếp xúc với đủ mọi hạng người… nếu ta không biết vui hòa. điều đó đã chẳng dạy ta cách giữ gìn tính tình trong gia đình công hiệu nhất hay sao? 70 . Vì vậy. trị quốc. Lúc đó. ta phải luôn luôn bình tĩnh suy nghĩ. sinh ra chán nản và bao nhiêu nghị lực trong người cũng vì thế mà rã rời. ta sẽ đi đến chỗ có một tư tưởng trong sạch. thêm vào đó. không hấp tấp vội vàng. giữ được tính tình là giữ được hạnh phúc. ngôn ngữ như thế nào và bằng cách nào? Tư tưởng là giá trị tinh thần của con người. vợ chồng cha con thì “trống đánh xuôi.Phương pháp nghị luận Nhưng. Hằng ngày ta đọc bao nhiêu sách tốt xấu. Đức Khổng Tử đã dạy: “Tu thân. Bởi thế. đầu độc tâm hồn.

lập đức. đó là một phần của việc lập thân. Nhưng thành phần xã hội vô cùng phức tạp. Đức Khổng Tử đã dạy: “Người không có tín thì không đứng vững được ở đời” (nhân vô tín bất lập). Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. lòng đầy tin tưởng tiến về tương lai tươi sáng. KẾT LUẬN Tóm lại. Có tin được mình thì người khác mới kính yêu. sống ở đời ta phải biết “lập thân. lập đức. không khoác lác. được đức. Vì thế. Giữ gìn ngôn ngữ. tứ mã nan truy” (một lời đã thốt. lúc nào ta cũng phải thận trọng từng lời nói. ta có thể tự hào là người con sung sướng nhất trên đời. đã lọt vào tai ai thì không tài nào rút ra được nữa. 71 . việc giữ gìn ngôn ngữ thật quan trọng Người đời thường nói: “Lời nói chẳng mất tiền mua. tự cao. mọi người kính yêu mến phục vụ và sẽ đạt được thành công trên đường đời. Lập chí là đạt thành ước vọng. ngôn ngữ phải biểu lộ tín nghĩa. không dối người. Vì thề. Đã lập được thân. III. bốn ngựa khó theo). Trong gia đình. được ngôn tức là ta mở rộng con đường đi đến chỗ thành đạt ý tưởng.” Hoặc “nhất ngôn thuyết quá. và như vậy ta mới mong tạo được sự nghiệp ở đời. Và như thế. lừa bạn. thực hiện lí tưởng của ta. Xây dựng tư tưởng. những người cùng huyết thống có thể dễ dàng tha thứ cho ta những sơ xuất. Ta phải nói sao cho người khác kính yêu mình. Sách tả truyện có câu: “Lời nói như tên. nói một cách khiêm tốn. mới nghe theo mình. chúng ta lại càng ao ước cho mình được mọi người thừa nhận. nhưng khi ra ngoài xã hội “lỡ một lời là hỏng một đời”. lập chí”. Tục ngữ pháp dã nói: “Phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” (Iifaut tourner la langue septfics avant de parier) là để dạy ta suy xét và giữ gìn lời nói. ta thấy rõ việc giữ gìn ngôn ngữ cốt lấy điều thận trọng.” Điều đó đủ cho ta thấy việc phát ngôn quan trọng đến chừng nào! Hơn nữa. tình tình. trọng kính. chẳng phải lấy chữ tín dạy con đó sao? Vì vậy.Phương Pháp Nghị Luận Trong gia đình mà chúng ta còn muốn được hạnh phúc thì khi ra ngoài xã hội. lễ độ. không nên bắn bậy. lấy chữ tín làm đầu. Giữ được chữ tín thì ngôn ngữ thông suốt. đó là lập ngôn. Mẹ thầy Mạnh Tử ngày xưa vì đã hứa nên phải mua thịt về cho con ăn. mến yêu.lập ngôn.

tiểu nhân đồng nhi bất hòa” (người quân tử hòa hợp với mọi người mà không bị đồng hóa. chú kiến thì chắt chiu từng hạt tấm. Hòa cũng là sự an vui nội tâm. tĩnh”. sách Cổ ngữ dạy ta bốn điều có thể gọi là nền tảng của thuật dưỡng sinh.đó là sự phòng xa của con người. chú ve chỉ biết lo ca hát. hòa. thời giờ. Đó là thái độ xử thế của người Khổng Tử theo quan niệm Khổng Tử: “Quân tử hòa nhi bất đồng. làm lành lánh dữ: đó là căn bản đạo đức của con người. trong khi chú kiến vẫn no ấm đầy đủ. kiệm. còn kẻ tiểu nhân tuy a-dua theo thiên hạ nhưng chẳng sống hòa thuận được với ai). NHẬP ĐỀ Ở đời ai cũng muốn sống lâu và sợ chết. Ta tiết kiệm sức khỏe. tĩnh làm cho người ta sống lâu. Truyện “Con ve và con kiến” của La Fontaine đã dạy ta một bài học về tiết kiệm cụ thể nhất. kiệm. Một hôm vua Lê Thánh Tông ngự giá ra khỏi hoàng thành thì gặp một ông lão đang nằm. Nội tâm ta mà an vui tức cuộc đời ta hạnh phúc rồi vậy. thương dân như con và khắp thế giới sùng bái lòng từ bi bác ái của Đức Phật. lão. nhưng luôn vui vẻ và êm ái. lỗi lầm. phúc hậu. tiền bạc.Phương pháp nghị luận Đề 3: Sách cổ ngữ có câu: Từ. 72 . rét run lập cập. bệnh của người đời và từ đó nguyện xả thân để cứu độ chúng sinh. Hòa là không ngang trái. Hãy bình luận câu nói ấy và cho biết những gì làm cho con người mau chết. bệnh. không thiếu quá mà cũng không thừa quá. THÂN BÀI Trước hết. II. Bốn điều đó là: “Từ. ta hãy tìm hiểu từng điểm của thuật dưỡng sinh: Từ là nhân đức. yêu thương người xung quanh một cách rộng rãi. giữ tiết độ trong việc ăn chơi… như vậy gọi là kiệm. hòa. Nhưng về thuật sống lâu thì không mấy người có được. Vì thế. Kiệm là có chừng mực. Ta thử xem tại sao bốn điều ấy lại có thể quyết định đời sống của con người và những gì có thể làm cho con người mau chết. BÀI THAM KHẢO I. Người ta thường nói tới nhân từ và từ bi bác ái. tử. Thái Tử Sĩ-Đạt-Đa (tiền thân của đức phật) ngày kia ra thành đã chứng kiến cảnh sinh. Vì thế mùa đông chú ve phải chịu cảnh cơ hàn. Ngài bèn cởi áo ngự bào đắp cho ông. Vì thế vua Lê Thánh Tông nổi tiếng là nhân từ.

Ta không làm việc quá độ không chơi bời quá độ thì tiết kiệm được sức khỏe. Sau. ông lại cười và hỏi: “Thế không phải giày của bác à?” Rồi vui vẻ nhận lại giày. Ông cười nói: “Giày của bác đấy à?” rồi ông đưa giày ngay cho người đó. ta thấy rõ chữ nhân liên hệ mật thiết với sự sống của con người biết chừng nào! Đến như chữ kiệm là một điều hết sức cụ thể. giữ được tĩnh thì lòng vui vẻ thư thái mà công việc cũng được thành công tốt đẹp.” (Gia huấn ca) Điều nhân đức không chỉ tạo ra cái vinh hoa. Đức hòa của ông Lân Sĩ quả đáng khâm phục. Ông Nguyễn Trãi lại nói: “Ở cho có đức. 73 . Sau khi hiểu được ý nghĩa của Từ. Hơn nhau hai chữ nhân nghì là hơn.Phương Pháp Nghị Luận Xưa Thẩm Lân Sĩ đang đi giày thì có người đến nhận. có nhân. có tiền bạc thì ta có thể sống lâu. Làm chủ được nội tâm. không nóng nảy. Xem thế. Kiệm. nhiều kinh nghiệm mà cũng chứng tỏ được sự tự chủ của nội tâm. Cái đức tĩnh của ông tạo ra cái hư hư thực thực. Làm việc gì ta cũng phải giữ điều độ. phú quý của con người mà còn làm cho ta vượt qua hẳn mọi người: May ra ai cũng một thì. Ta không bỏ phí thời giờ vì thời giờ là tiền bạc. (Phan Trần) Thầy Mạnh Tử cũng nói: “Người bất nhân không thể vui sống được lâu ngày”. không quá sức thì Diêm Chúa có thấy mặt ta cũng lờ đi. làm cho Tư Mã Ý là tướng giỏi cũng bị lầm mưu. người láng giềng tìm được giày bèn đem giày của ông trả lại. Đó là thái độ của người già giặn. Tĩnh là thinh lặng. đời sống ta tất được bảo đảm hơn. Có sức khỏe thì sống lâu. Người mà có đức muôn phần vinh hoa. Khi Khổng Minh bị Tư Mã Ý bao vây ở Nhai Đình nếu ông đem quân ra cự ngay thì chắc chắn thất bại nhưng ông rút quân rồi lên lầu ngồi đàn. Nội tâm động sinh loạn. Tĩnh rồi bây giờ ta hãy xem những điều ấy có tác dụng quan trọng như thế nào mà làm cho người sống lâu? “Gia huấn ca” của Nguyễn Trãi nói: “Thương người như thể thương thân” (ái nhân như ái thân) hễ ta yêu người thì người ta yêu lại như thế ta sẽ thêm bạn bớt thù.

như thế thì dễ gì mà sống lâu. nặng nề về 74 . lúc nào cũng bị các ác ám ảnh thì làm sao mà sống lâu cho được? Người xưa bảo: “Cái hại của xa xỉ còn lớn hơn thiên tai”. Tĩnh thật là điều căn bản của thuật sống lâu vậy. Để đạt cái đức ấy đòi hỏi có sự rèn luyện tinh thần. lúc giận nhau vợ móc mắt chồng. Người tĩnh không bị những cơn thịnh nộ làm mất sức khỏe. Vô sự còn hơn hữu sự ru? Lòng thanh thản không thù ghét thì làm gì mà chẳng sống lâu? Hòa với tĩnh vốn gần nhau. làm cho gia đình người khác đau khổ. có thời chứ cái hại của xa xỉ thì thường xuyên. khi hết giận ân hận cũng là thừa. Bởi thế ông Lã Khôn nói: “Ở đời cái gì thong dong thì còn mà cấp bách thì mất việc mà thong dong thì có ý vị. Lúc còn nhỏ ta đã học chuyện vợ chồng nhà gấu. Tĩnh. không kể xiết. Hiểu rõ được những điều căn bản của thuật sống lâu ta cũng cần tìm biết những gì làm cho con người mau chết. Thiên tai có lúc. Đức tĩnh lại làm ta tránh được những cơn uất nộ có hại cho người khác mà cho ta phải hối hận suốt đời. những gì làm cho ta mau chết. Người xa xỉ lúc túng thiếu sinh ra lường gạt. còn có thú vị gì. Xa xỉ là gốc của nghèo khổ và tội lỗi. III. Người ta thường nói: “No mất ngon. trộm cắp. giết người lấy của. rồi bốn đức của thuật sống lâu không phải là thuốc tiên mà ta không mưu cầu được. Đó là chuyện thú vật chứ người thì cái hối hận kia kéo dài suốt đời. lòng nơm nóp lo sợ thì tuy sống trong đống vàng mà chẳng thấy vui gặp lúc nào cùng quẫn không ai thèm giúp đỡ. tĩnh là nộ. nhiều kẻ oán thù. Sự phẫn nộ tiêu diệt đức Hòa. Thầy giáo dạy học trò mà mau chết là vì giận nhiều. KẾT LUẬN Ta đã thấy những gì làm cho ta sống lâu. Hòa. sống như chết rồi. Nhà văn Thạch Lam đã viết chuyện: “Một cơn giận” cho ta thấy rõ chỉ với một cơn giận bất thường ta có thể giết người.Phương pháp nghị luận Giữ được chữ hòa thì ta không sinh sự với ai.” Ta thấy rõ bốn điều Từ. Người đời thường nói: “Ác lai ác báo” (làm ác lại gặp ác) làm điều ác thì nhiều người ghét. Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng ca ngợi sự hòa: Chữ rằng: Nhân dĩ hòa vi quý. Ngược lại với từ là ác. không gây điều thù oán thì lòng ta thảnh thơi vui vẻ còn gì cho sướng bằng. trái với kiệm là xa. Kiệm. giận mất khôn”. người mà thong dong thì sống lâu. đối lập với hòa.

 Đưa ra thực hành giúp ích cho đời. Biến chuyển từ sự đời tới sự học (tri và hành hiệp nhất)  Vấn đề thu nhập kinh nghiệm ngoài đời. Biến chuyển trong chính việc học  Thời kỳ khởi thủy. 2.  Việc phổ biến kinh nghiệm thành học vấn.” Hãy áp dụng câu nói này vào việc học thực tế của chúng ta. một đàng đứng. 2. vì tại một đàng đi.  Thời kỳ chung cuộc. Biến chuyển từ sự học ra sự đời (học và hành)  Về đạo đức.  Về thể dục. THÂN BÀI A. tật xấu như những chất bẩn bao bọc lấy người ta. Đề 4: Giải thích câu nói của Dương Tư: “Trằm sông học biển đến được biển. Nghĩa đen của câu nói: làm nổi bật quan niệm động trong câu (nhấn mạnh chữ đi và đứng). Lập luận và chứng minh 1. nhẹ điều quấy. 3. làm ta yên tĩnh. II. có nhiều đường để đi đến học vấn như sông. Muốn đi đến cái cao rộng của học vấn phải hành:  Thực hành ngay từ lúc còn đi học. Cả trong việc học cũng có sự biến chuyển.Phương Pháp Nghị Luận điều không làm. Giải thích 1. 75 .  Thời kỳ chính giữa. gò nổng học núi không đến được núi. ướp vào mỗi ngày một chút hương đạo đức. người ta khỏe mạnh thì chắc chắn ta sẽ sống được lâu. Nhận xét chung: học vấn rộng như biển.  Về trí dục. DÀN BÀI HƯỚNG DẪN I. NHẬP ĐỀ Kiểu tương đồng: dùng câu có ý nghĩa tương tự để làm nổi ý: sự biến chuyển tất nhiên của vạn vật. Nghĩa bóng: học phải hành  Biến chuyển luôn (đi). gột rửa các thói hư. B. Lòng ta thanh thản trí ta vui tươi.  Thực hành ở ngoài đời.

đi xe. DIỄN ĐỀ Trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu nhận thức của Tôn Trung Sơn. III. có hại cho mình và cũng không giúp ích được cho ai hết. học làm cho mình thêm chủ quan. Học thụ động là tự trói mình mà học.  Ví dụ thứ nhất là việc ăn uống: ăn uống là việc rất thông thường của loài người. không dùng tiền 76 . vật lý học… Hiện nay có biết bao nhà bác học chuyên môn khảo cứu khoa ăn uống mà vẫn chưa tìm biết được lý do và giá trị của những thứ thực phẩm rất thông thường mà người ta biết dùng từ thời thượng cổ đến nay. may mặc phải dùng tiền. thuê nhà. sinh năm 1866 mất năm 1925 là nhà cách mạng đầu tiên ở Á châu đã hoàn thành cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) thực hiện nền dân chủ ở Trung Hoa. KẾT LUẬN Học phải chủ động. từ đứa bé mới lọt lòng mẹ cho đến những người ngu si tàn tật.Phương pháp nghị luận  Rút kinh nghiệm bổ túc cho học vấn.” Bạn tán thành ý kiến nào? BÀI THAM KHẢO I. Phàm người văn minh. ai mà không làm được. tự phụ.” Hai ý thức trên đây tương phản nhau như thế nào? Chúng ta nên theo quan điểm nào? Phần sau đây sẽ trình bày rõ hơn.”  Ví dụ thứ hai của việc tiêu tiền: tiêu tiền có phải là một thứ lương năng của người đâu! Chính là một tập quán của xã hội. Ông lấy rất nhiều ví dụ để chứng minh thuyết mình là đúng. vệ sinh học. Nhưng muốn biết được sự tiêu hóa cũng là nguyên nhân sự nhu cầu các thực phẩm thì phải học qua sinh lý học. Xem thế thì biết “Làm thì dễ mà biết thì khó. y dược học. Ăn uống phải dùng tiền. từ bé cho đến khi chết có khi nào là không dùng đến tiền. II. NHẬP ĐỀ Ông Tôn Văn hiệu là Dật Tiên. Đề 5: Nhà cách mạng Tôn Dật Tiên có nói: “Biết khó mà làm dễ (Tri nan hành dị) nhưng có người lại nói: “Biết dễ mà làm khó. tự là Trung Sơn. Là người có tinh thần duy tân muốn làm cho nước Trung Hoa được tiến triển theo trào lưu của thế giới nên không ngần ngại đưa ra quan niệm: “Biết khó mà làm dễ.

) Mạnh Tử phải nói: “Làm mà không để ý. tài chính học. Vì Trung Hoa là một nước lớn nhất Á châu và trên thế giới nên người Trung Hoa có thái độ tự tôn (phần này không rõ chữ…. Nói đến biết học thì ai----------. thế là học biết rồi vậy.lấy sách thánh hiền đọc cho nhiều.Có gì đâu. đắp thành khai sông.chung thân nói theo mà không hiểu nguyên------------đông người vậy”. Họ giải thích: đi ra đồng cày bừa. giữ điều nhân. biết làm thế nào để trở nên người đứng đắnthì thật là ít ai biết rõ. Nhưng sự lạ là ở một nước văn minh như thế không có một nhà văn nào nghĩ đến “văn pháp” làm một quyển văn pháp. Đó lại là một bằng chứng nữa cho thuyết “Làm dễ biết khó. tập………. Nói đến “biết làm” thì ai cũng ----------. uống. biết sống làm sao cho hợp.Phương Pháp Nghị Luận không được. thậm chí sinh tử. sướng khổ. họa phúc. Những việc ấy người ta làm đã lâu nhưng mãi cho đến bây giờ chờ có khoa học thì mới biết được rõ ràng.”  Ví dụ thứ ba là việc làm văn: làm văn ở Trung Quốc. trí. biết học làm sao cho hay. Chúng ta đã thấy ông Tôn Dật Tiên giải thích và dùng thuyết “Biết khó làm dễ” của mình rồi giờ đây chúng ta xem thử cái “Biết dễ làm khó” của người Trung Hoa thời ấy như thế nào. Nếu hỏi “biết làm người” là gì thì ai cũng cho--------------------sách xưa. vào triều đình -----------------đó là biết làm rồi vậy. buồn vui. phải học qua kinh tế học. ngay cả coi sự làm văn như một thứ tài hơn cả mọi tài! Biết bao người có tài đã bỏ phí tài mình về công nghệ mà mài miệt văn chương! Nước yếu cũng vì người ta thích văn hoa. Vậy sự tiêu tiền là một bằng chứng rất xác đáng cho thuyết “Biết khó mà làm dễ. học cho thuộc. tín là-----------làm sao cho khéo. làm việc vui chơi. Cho nên hễ khi ta hỏi các vị thâm nho về lý tắc văn chương các cụ không giải được rõ ràng. nghĩa. Như thế mới là biết nhưng thật cũng như chưa 77 . không tiền thì phải bó tay cho nên ai cũng trọng đồng tiền. lễ. Bàn đến việc biết sống thì cũng có thể giải thích: sống là ăn. từ xưa đến nay biết bao người đã từng làm! Từ vua đến dân ai cũng thích làm văn. Có tiền tiêu mọi việc xong xuôi. đóng tàu. cải cách đều do tiền mà ra! Nhưng tiền là cái gì? Tiền lưu hành thế nào thì ở đời có mấy người biết? Quả thế muốn biết tiền là gì và sự lưu thông tiền bạc. Đợi đến khi văn minh Âu Tây tràn sang mới có sách nói về văn pháp Trung Hoa phỏng theo những sách văn pháp Thái Tây. Chúng ta tiêu tiền rất tự nhiên.. Xã hội văn minh công thương phát đạt cũng nhờ tiền.” Ngoài ba ví dụ kể trên Tôn Văn còn kể nhiều ví dụ khác như làm nhà.

Văn Công ngạc nhiên hỏi lý do. thế mà khoa y dược Trung Hoa “xưa thế nào nay vẫn thế” không thấy phát triển gì thêm. Quan điểm này còn làm cho con người có tinh thần tri thủ. chính trị. chỉ muốn ngồi không mà đọc sách. ỷ lại vào cái sẵn có. không còn tin tưởng ở sự tiến bộ nữa. Ông lão nói rằng: Tôi cười vì nghĩ đến một chuyện vừa mới xảy ra: Có người dắt vợ đi đường bỗng thấy người con gái đẹp ở dưới đám dâu anh ta bỏ vợ đi xuống nói chuyện. hoạt động để tiến bộ. Trên đường tiến binh bỗng gặp một ông lão cứ nhìn mình mà cười. Đã hiểu qua hai quan điểm “Biết khó làm dễ” và “Biết dễ làm khó” rồi chúng ta đều thấy rằng cần bài bác quan điểm sau và tán thành quan điểm trước. định lý. Biển Thước là bậc danh y. biết cách áp dụng thì mới làm trúng. ngâm thơ thì thật là tai hại vô cùng. Tôn Trug Sơn tiên sinh 78 . Do cái biết nông cạn đó mà người ta mới quan niệm rằng làm là khó vì họ có biết thấu đáo gì đâu để mà làm. Đó chỉ là cái biết đại cương. thương.-----------cái biết chủ quan của những anh mù sờ soi mà thôi. Ngay về khoa đông y thì ai cũng biết ở Trung Hoa từ xưa đã có Hoa Đà. không suy nghĩ trước điều lợi hại. không biết rõ rồi thi họ rằng làm là khó. không ai muốn hoạt động công. Cái hại căn bản của ý thức “Biết dễ làm khó” là làm cho người ta chỉ biết thực hành một cách vụn vặt.Phương pháp nghị luận biết vậy. vào tiền nhân mà không làm được việc gì cả. thế mà sau này phải nhờ đến những phát trọng pháo của ngoại quốc bắn vào mới nhận thức rõ nghề làm súng đạn quan trọng. Như ở Trung Hoa từ đời nhà Chu đã chế tạo được “chỉ nam xa” mà sau này vẫn phải mua địa bàn của ngoại quốc về dùng. Chúng ta bài bác quan điểm “Biết dễ làm khó” là vì nó đưa con người đến chỗ lười biếng là tự cao. cái gì cũng cho là biết nhưng sự thực thì chưa biết rõ cái gì cả. giải quyết được mọi vấn đề cần thiết. người Trung Hoa tìm ra thuốc pháo trước. Thật là buồn cười. Nhưng chúng ta muốn làm một bài toán thì trước đó phải thấu hiểu các qui tắc. Như về thời Ngô Bá Tấn. Cứ như thế. Nghe xong Tấn Văn Công mới giật mình thấy rằng mình muốn đi xâm chiếm nước Vệ tất có nước khác đến chiếm nước mình. bèn kéo quân về nước. Một lúc sau ngẩng đầu lên thì thấy vợ mình đã có người vẫy đi. Quả nhiên nước nhà vừa bị xâm lăng… Chúng ta tán thành quan điểm “Biết khó làm dễ” là vì nó giúp ta thấu hiểu sự vật. con người mất hết sáng kiến. Văn Công tự mang quân đánh nước Vệ.

III. cứ như thế thì bản thân chúng ta cũng như quốc gia. nếu đặt vấn đề lựa chọn giữa hai quan điểm. thì chúng ta nên nhận lấy quan điểm của Tôn Trung Sơn tiên sinh vì đó là một quan điểm tiến bộ.Phương Pháp Nghị Luận nhờ thấu hiểu nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân Trung Quốc mà thực hiện cuộc cách mạng Tân Hợi. hễ biết rõ rồi thì việc làm tất nhiên sẽ dễ dàng. làm việc gì trước hết chúng ta cũng cần phải biết cho thấu đáo. 79 . làm để tìm tòi hiểu biết thêm về việc đang làm và các vấn đề về việc mới khác. KẾT LUẬN Chúng ta thấy rằng. Nhưng chúng ta cũng có thể dung hòa theo đường lối của Vương Dương Minh là: “Tri hành hợp nhất”. Biết rõ để mà làm. xã hội mới có điều kiện phát triển khả quan hơn. đưa dân tộc Trung Hoa bước sang một giai đoạn mới tốt đẹp hơn.

chê trách thầy Tử Lộ mới không lấy làm buồn và nói “Thầy thương ta mà chỉ trích cho ta nên người thì sao ta lại buồn!” Nhưng chữ thầy mà Tuân Tử muốn nói có nghĩa rộng rãi hơn. Việt 80 . người khen ta mà khen phải là bạn ta. Đây là thời mà các chư hầu “tranh thành dĩ chiến. Một cậu bé đánh giày đi đến. chân ở đời mà thận trọng trong việc giao kết. Lại như chuyện Việt Thạch Phú và Án Tử nước Tề. mang ngay bức tranh kia về vẽ lại. một thời buổi loạn lạc. bỏ vào trong ở mãi không ra. sự khen chê cũng trở nên bất thường. người khen ta mà khen phải là bạn ta. và ông đã nói: “Người chê ta mà chê phải là thầy ta. Không chỉ là người trực tiếp chỉ dạy ta nơi học đường mới là thầy mà những ai có ý kiến đúng muốn góp ý kiến ấy để xây dựng cho ta đều có thể xem là thầy ta được. Nơi học đường thầy có chê ta điều này điều khác là vì lợi ích của húng ta mà thôi. khi xưa bị Đức Khổng Tử phê bình.” BÀI THAM KHẢO I. có kinh nghiệm ở đời mà nhất là có ý chí xây dựng cho ta nên người. Ông đem bức tranh ấy lên để cho người qua lại xem mà phê bình và núp sau để nghe ý kiến.Phương pháp nghị luận Đề 6: Bình giảng câu nói của Tuân Tử: “Người chê ta mà chê phải là thầy ta. có cái đáng khen thì lại bị chê. DIỄN ĐỀ Trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu chữ thầy. những kẻ vuốt ve nịnh bợ ta chúng là kẻ thù của ta vậy. Thế nên Tuân Tử phải làm cho con người thấy cái giả. Vì vậy. Như có một học sĩ vừa vẽ xong bức tranh người phi ngựa. tranh địa dĩ chiến”. II. Trong xã hội loạn lạc thì lòng người cũng sinh ra đảo điên. Họ Việt mắc án oan Án Tử gặp giữa đường liền tháo một con ngựa đang đóng xe ra bán chuộc tội cho họ Việt rồi đưa lên xe. sao lại suông đuột như thế này được?” Họa sĩ nghe xong biết mình còn thiếu óc quan sát. Ông ta ngầm nhận đứa trẻ kia là thầy của mình là vậy.” Vậy chúng ta hãy thử bình giảng câu nói của người. Có cái đáng chê thì lại được khen. những kẻ vuốt ve nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy. nhìn bức tranh một lúc rồi nói: “Ông này vẽ sai rồi! Con ngựa phi thì chân trước phải co lại và bắp thịt nó bị dồn phải nở to ra. NHẬP ĐỀ Tuân Tử là một trong bảy ông Hiền thời chiến quốc. Thầy là người thấy xa hiểu rộng hơn ta. Về nhà Án Tử chẳng hỏi han gì nữa.

Bảo Thúc chết Quản Trọng khóc như mưa. Lời ngợi khen của bạn như thế là một chất “kích thích tố” giúp ta phấn khởi. Tại sao nói rằng: “Người khen ta mà khen phải là bạn ta”. Bạn là người cùng trang lứa với ta. Nếu tôi gặp phải người tri kỷ mà vô lễ thì thà rằng tôi ngồi trong chỗ giam trói còn hơn. Tôi nghe người quân tử gặp kẻ bất tri kỷ thì phải cực vào thân. hăng hái hoạt động vì lợi ích chung. Dương dương hề chí tại lưu thủy. Có người hỏi tại sao thì Quản Trọng nói: “Lúc đi buôn chia lãi bao giờ ta cũng lấy phần hơn mà Bảo Thúc không cho là tham. Giờ đây. khi đàn cho Tử Kỳ nghe thì được khen rằng: “Nga nga hề chí tại cao sơn.” Án Tử nghe lời chê của Thạc Phủ lấy làm kính trọng sau tôn ông làm thượng khách. Ta ba lần làm quan là ba lần bị bãi mà Bảo Thúc 81 . thề không đến cửa nữa. sao ông lại cự tuyệt đi như thế? Thạch Phủ nói: “Không phải. Bảo Thúc không cho là nhát mà biết ta có dạ bao dung. Ta bị kẻ dọa nạt. vì biết ta gặp cảnh quẫn bách bất đắt dĩ mà làm thế. cùng học tập giao du với ta. Ta làm việc có việc hỏng mà Bảo Thúc không cho là ngu vì biết con người còn phải tùy thời. Là vì những người ấy không khen ta vì tư lợi mà để khuyến khích ta trên đường học tập hay trên đường sự nghiệp. song cũng gỡ tội được cho ông. Được ông chuộc khỏi tội thì ông là tri kỷ của tôi. Chữ bạn mà Tuân Tử muốn nói ở đây là bạn tốt người mà chúng ta nên kết thân.” Lời khen ấy thật là thấu đáo vì Tử Kỳ không những khen ngợi ngón đàn tuyệt diệu của Bá Nha mà tỏ ta thấu đáo cái tâm trạng sâu kín mà Bá Nha đã gửi vào tiếng đàn kia. Chỉ có những người ấy mới đáng cho ta kết giao mà thôi. Ta làm đúng có khi cũng không nhận thấy rõ được cái đúng của ta. Người xưa đã nói: “Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư” (ba người cùng đi ắt có một người là thầy của ta rồi vậy) là đúng theo nhận thức của thầy Tuân Tử lắm. Thế nên Bá Nha mới xem Tử Kỳ là bạn chung thủy của mình. Tôi bị án oan lại gặp phải kẻ bất tri kỷ.Phương Pháp Nghị Luận Thạch Phủ tức giận bỏ đi. Lại như chuyện Quản Trọng và Bảo Thúc Nha sau đây thật là điển hình. chúng ta hãy tìm hiểu chữ bạn. Xưa Bá Nha gặp Tử Kỳ. gặp người tri kỷ thì được hả dạ. Án Tử nghe nói lật đật ra tạ rằng: “Tôi tuy chẳng ra gì. Cần có lời khen của người bạn tốt là người ở tư thế khách quan thì ta mới thấy cái đúng mà tiếp tục phát triển công việc.

nhưng ngoài mặt thì tỏ ra yêu kính nịnh bợ Ngô Vương. xét vì ta còn mẹ già. ca ngợi ta không ngại miệng và như thế họ sẽ đưa ta đi dần đến chỗ hố sâu tội lỗi mà không hay. nhờ sự hiểu biết của bạn mà Quản Trọng sau này mới trở nên người tài giỏi của nước Tề. ta phải phân biệt đâu là bạn.Phương pháp nghị luận không cho là bất tiếu. Ngô Phù Sai bắt Việt Vương Câu Tiễn về hầu mình. III. Tôn Tẫn là người đạo đức nên được thầy truyền hết binh thư. Ta làm hại họ cứ cho là đúng. Chuyện xưa cũng còn cho ta thấy: Tôn Tẫn và Băng Quyên là hai người bạn cùng học một thầy. có những kẻ ngoài miệng thì ngọt ngào mà trong lòng chứa chấp gươm đao. mới không bị sa ngã hư hỏng.  Tiêu chuẩn giao kết ở đời của ta phải là:  Nghe những lời hay lẽ phải và thâu nhận lấy không chút tự ái. đâu là thù. Chữ kẻ thù mà thầy Tuân Tử dùng ở đây đúng vào hạng thứ hai vậy. Câu Tiễn lại cho người hiến dâng mỹ nữ. Họ tâng bốc ta. làm cho ta vì quá thích thú mà không còn để ý đến âm mưu của họ nữa. Có khi để che giấu âm mưu ám hại của họ mà họ vuốt ve nịnh bợ ta. sau tìm mọi lời ngon ngọt để thuyết phục Tôn Tẫn nhận lấy một chức nhỏ. vì nghĩ là ta chưa gặp vua giỏi. Sau cùng ta tìm hiểu thế nào là kẻ thù? Kẻ thù có hai hạng: hạng công khai sát hại ta. Một hôm Phù Sai đau nặng. vì thế mà Phù Sai tiêu tan sự nghiệp. tổ chức tiệc tùng đàn hát làm cho Ngô Vương đắm say. KẾT LUẬN Xem như trên. Trong xã hội. và hạng âm thầm ám hại ta. Sinh ra ta là cha mẹ ta mà hiểu ta là Bảo Thúc vậy. Ta ra trận ba lần thua cả ba mà Bảo Thúc không cho là bất tài. Câu Tiễn đích thân nếm phân và đoán rằng nhà vua sắp mạnh. Nghĩ rằng Câu Tiễn tự hạ mình như thế là do lòng trung thành với mình. Trong cuộc sống hằng ngày. có như thế thì chúng ta mới tiến triển được mà không phải làm mưu bọn “lưỡi mối môi lằn”. lại tìm cách năn nỉ ỉ ôi để Tôn Tẫn truyền lại binh pháp cho mình. Câu Tiễn nuôi sẵn âm mưu báo thù và phục quốc trong lòng. Băng Quyên vì ham danh lợi nên hạ sơn trước. 82 . Tôn Tẫn tin lời đường mật của bạn nên mới bị Băng Quyên chặt chân. nịnh bợ ta chỉ vì lợi riêng của họ. chúng ta thấy rằng những lời chỉ dạy bảo của thầy Tuân Tử rất đúng. từ đó Ngô Phù Sai không còn nghi ngờ gì nữa.” Chính nhờ sự khen đúng.

hoàn toàn vì ích lợi riêng của họ.Phương Pháp Nghị Luận  Kết thân với những người chân thật. Có như thế ta mới thoát khỏi bị lầm lạc và có thể tiến bộ. 83 . biết khen đúng mà cũng biết chê đúng.  Cố xa lánh những người muốn giao kết với ta. không tâng bốc mà cũng không dìm tài ta.

DIỄN ĐỀ (3 phần) a. nhiều người chu đáo khó hiểu được). truyền bá (như lời nói của các bậc hiền triết được học trò ghi chép lưu truyền đến nay). Tại sao “không lo người chẳng biết mình?”  Người có thực tài thì lời nói ra được người ta khâm phục.  Người có thực tài thì hành động làm cho người chú ý. II. hoạn bất tri nhân ngã). tự phô trương (không thực tài mà phô trương thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ).” (Bất hoạn nhân chi bất kỷ tri. Khiêm tốn học hỏi mọi người để tiến bộ. sẽ bị lộ chân tướng. Câu này có dụng ý khuyên ta điều gì? Ý chính: Phải chống thói hiếu danh.  Không có tài mà hiếu danh. lãnh đạo một phong trào có một thiên chức đặc biệt thì phải làm cho người ta biết mình để làm tròn sứ mạng. sáng chế đều được ca ngợi). xem mình có dở như thế không?  Biết mình đã khó. chỉ lo mình không biết người mà thôi.  Càng có chân tài càng phải khiêm tốn. c.Phương pháp nghị luận Đề 7: Sách Luận Ngữ có nói: “Chẳng lo người không biết mình. ngay khi người ta gặp mình. càng khiêm tốn người ta càng quí mình hơn. DÀN BÀI I. ca tụng (như những nhà phát minh. Tại sao “lo chẳng biết mình”?  Biết người để học lấy cái hay của người (không tự cao mà sẵn sàng nhận lấy). tự đề cao. b. biết người càng khó hơn (người ta thường che giấu bằng cái bề ngoài. Câu này khuyên ta điều gì?  Khuyên ta không nên có tính hiếu danh. PHẢN ĐỀ: Nhưng các nhà cách mạng. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Nêu lên cái tính hiếu danh và cái bệnh chủ quan của người đời. Muốn người biết mình mà ít chịu tìm hiểu người khác.  Biết người để thấy cái dở của người.  Khuyên ta không nên quá chủ quan. tự giới thiệu thì rất lố bịch. 84 . phải thấy người học người đế sửa mình.

cầu vi khả tri dã) Thấy người hay. thấy người dở xem mình có dở thế không. (Kiến hiển tử tế yên. kiến bất hiển như nội tư tỉnh giả). mong cho kịp người. hoan sở dĩ lập. 85 .Phương Pháp Nghị Luận III. biết tìm hiểu người thì mới làm được những công to việc lớn. bất hoạn mạc kỷ tri. TÀI LIỆU Danh ngôn Chẳng lo không tước vị. miễn sao mình giỏi đủ để cho người ta biết đến. KẾT LUẬN Con người biết rèn luyên tài năng. (Bất hoạn vô vị. đừng lo không biết mình. đạo đức. chỉ lo cho có tài đức gì để đứng vào địa vị ấy. Hữu xạ tự nhiên hương.

Phương pháp nghị luận Đề 8: Bình luận câu nói sau đây của Dương Minh: “Người không có chí như thuyền không lái. như ngựa không cương. NHẬP ĐỀ Qui nạp tương đồng bằng những câu: “Hữu chí cánh thành – có chí thì nên.  Người không có chí thì không có nghị lực. ngựa không cương (đi lạc hướng. Bình đề Tại sao nói thế?  Vì người không có chí thì không có lí tưởng. sau được nên người xứng đáng. II. không đạt mục đích). 86 . KẾT LUẬN Cái tài và cái chí phải đi đôi. Ví dụ  Ông Châu Trí đốt lá đa mà học: Đại tướng Dronot nhờ ánh lửa lò bánh mì mà học. DÀN BÀI I. ngựa không cương thì phải chạy bậy. Giải nghĩa đề Hữu chí (tinh thần cố gắng. Thuyền không lái. Vương Dương Minh nói đúng là vì:  Thuyền không lái thì càng chèo mạnh càng đi loanh quanh. 2.  Việt Vương Câu Tiễn nằm gai. trôi dạt lông bông không ra thế nào cả. Có tài mà thiếu chí cũng không thể làm tròn nhiệm vụ. mục đích gì cả nên thường ham xa hoa vật chất dễ hư hỏng. III. dễ hoài nghi. không làm được việc gì đến nơi đến chốn. Giải đề 1. không làm được việc gì đáng kể. 3. kiên nhẫn hành động). nếm mật đánh đổ được Ngô Phù Sai – Trần Hưng Đạo nhờ có chí sau mười năm đuổi được quân Nguyên.” Ý chính: Có chí thì mới đạt được mục đích. thiếu kiên nhẫn. không đi tới mục đích.  Người không có chí thì không có định hướng. DIỄN ĐỀ A.” Giới thiệu đề.

chủ trương thuyết “Tri hành hợp nhất” (1472 . Bình đề (2 điểm)  Câu này khuyên ta điều gì?  Khuyên ta hãy biết hành động theo ý chí của ta (thấy đúng.  Khuyên ta phải biết cái tâm lý bất đồng của người đời: kẻ ưa người ghét. Giới thiệu đề. II. kẻ chê người khen.  Trường hợp có người thành thật muốn khuyên bảo.  Câu này có hoàn toàn đúng không? Có những trường hợp không đúng. thấy thích. Ví dụ: Chuyện ông chủ máy xay.Phương Pháp Nghị Luận TÀI LIỆU:Vương Dương Minh hay Vương Thủ Nhân là một nhà đại chính trị và đại học giả nhà Minh. kẻ thích cái này người thích cái kia. Giải nghĩa Làm nhà bên đường (hay làm bất cứ một việc gì) nghe lời vô tiếng ra thì dễ hỏng việc. DÀN BÀI I. người bảo thấp.1528). kẻ khuyên trình bày kiểu khác. Đề 9: Sách Nho có câu: “Làm nhà bên đường gặp ai cũng bàn. DIỄN ĐỀ 1. con trai ông và con lừa của La Fontaine (Le meunier. bảo trang trí kiểu này. kĩ sư.” Câu này khuyên ta điều gì? Có hoàn toàn đúng không? Ý chính: Không nên quá nghe ý kiến vô trách nhiệm của người đời. có khi vì ganh tỵ mà họ đưa ý kiến phá hoại – ngông nghênh thì chỉ trích quàng xiên. phải hành động theo ý chí của mình. Nếu ta quá chú trọng đến dư luận của kẻ bàng quan thì dễ hỏng việc. nếu cứ ngheo theo thì làm mãi cũng không xong. không ai giống ai. chỉ dẫn cho ta. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Người đời thấy ai làm gì cũng hay khen chê. thì ba năm không xong.  Trường hợp làm một công việc cần có ý kiến của nhà chuyên môn (như bác sĩ. hợp lý thì cứ làm) vì kẻ bàng quan họ góp ý kiến theo ý riêng của họ. 2. luật sư) 87 . Cất nhà không có đồ bản: kẻ bảo cao. son fils et l’âne).

88 . Dầu cho ai có nói gì mặc ai Ý ta. không cho là ngu xuẩn. hai cha con cùng xuống khiêng con lừa thì bị cười. con lão xuống.Phương pháp nghị luận Trong trường hợp này. tuy không là gian những không thể cấm chó không cắn sủa được (Chiến quốc sách). III. Tức quá. Danh ngôn: Người đi đêm. TÀI LIỆU 1. Mẩu chuyện: Xưa có một người chủ máy xay và đứa con. KẾT LUẬN Phải biết phân biệt dư luận đúng sai. đem con lừa ra phiên chợ. ta quyết làm ngay! 2. Ban đầu con lão cưỡi lừa lão dắt. bị người chê. hai cha con quyết định: Từ rày gặp kẻ khen chê. phải có tinh thần sửa chữa khuyết điểm nhưng cần cương quyết làm theo ý chí của mình đến cùng. lão lên thay cũng bị chê.

ta biết rõ nông sâu. đi xe Huê Kỳ. Phản đề Không nhắm mắt bài ngoại. C. DÀN BÀI I. phải biết thu lấy cái hay của người và bỏ cái dở của ta. 2. thu góp cái hay cái đẹp của người là hai yếu tố làm cho nước nhà tiến bộ. 89 . ở nhà Tây. Ví dụ (xem phần kết bài) B.Phương Pháp Nghị Luận Đề 10: Bình giảng câu ca dao: “Ta về ta tắm ao ta. vẫn không sợ hại. ăn chơi trụy lạc.Chuyện cụ Phan Châu Trinh và phong trào Duy Tân. sạch dơ. II. Giải đề 1. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Nêu rõ cái thói quen tự ti của người mình. Bình đề  Nếu văn hóa Âu Châu xâm nhập vào nước ta. KẾT LUẬN Câu này không có giá trị tuyệt đối. Nghĩa bóng: Chúng ta nên trở về với cái sẵn có của ta. trọng người khinh mình (ăn đồ Tàu.  Chống lại cái lố lăng du đãng. ao nhà vẫn hơn.” Ý chính: Hãy bằng lòng với những cái sẵn có của ta. Bảo vệ cái hay cái đẹp của mình. (sản phẩm nội hóa – bảo vệ tiếng Việt – bảo vệ thuần phong mỹ tục). Giới thiệu đề đặt lại một ý thức đúng. Dầu trong dầu đục. Giải nghĩa Nghĩa chính: ao do tay ta đào lấy. DIỄN ĐỀ A. không nên quá trọng người mà khinh mình. đừng quá lệ thuộc vào người mà có hại. TÀI LIỆU Mẩu chuyện: Chuyện chuột nhà chê chuột đồng (chuột đồng chống lại). III.… ). cái hay rất nhiều mà cái xấu cũng lắm. ăn mặc hở hang… )  Ta phải bảo vệ cái ao của nước nhà.  Có những cái ở nước ngoài thì hợp mà ở nước ta thì lố lăng (nhảy đầm.

TÀI LIỆU Mẩu chuyện  Trần Hưng Đạo xin vua chém đầu mình trước rồi hãy hàng quân Nguyên.  Tạo tiếng tốt hơn là tạo cái bia đá tốt. chê tiếng xấu cũng tồn tại mãi. địa vị ghi trên bia đá có thể tiêu mòn với thời gian. B. KẾT LUẬN Đừng sợ người đời sau không biết mình mà lo khắc bia đá ghi công. được tiếng thơm muôn đời. những con người gian ác không tránh được “búa rìu dư luận. Làm điều xấu thì tiếng xấu truyền miệng đến muôn đời. II. 2. NHẬP ĐỀ Người đời thường có khuynh hướng làm điều xấu (cố ý hoặc vô tình ít chú trọng làm điều tốt. Trần Kiện (chê). tiếng dữ đồn gần. Giải đề 1. Để cảnh cáo nên có câu ca dao: (Giới thiệu đề). Giải nghĩa  Bia đá: bia danh cử nhân.” Ý chính: Làm điều tốt thì tiếng thơm còn truyền lại mãi.” III.  Bia miệng: lời đồn đại của người đời: người đời khen thì tiếng khen lưu đến muôn đời. phải mang lấy tiếng nhơ mà không bôi xóa được. Tục ngữ.  Trần Kiện. I. Khuyên ta làm điều phải mà tránh điều quấy. Bình đề  Đừng ham cái địa vị nhất thời mà bêu tiếng xấu cho muôn đời. Trần Ích Tắc đầu hàng giặc Nguyên. DIỄN ĐỀ A. 90 .  Những kẻ bán nước cầu vinh. Mai Kiện. tiến sĩ – Mộ bia ghi chức tước người chết – Công danh.Phương pháp nghị luận Đề 11: Bình giảng câu ca dao: “Trăm năm bia đá thì mòn Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ. bị gọi là Ả Trần. cách ngôn  Tiếng lành đồn xa. Ví dụ  Trần Hưng Đạo (khen)  Trần Ích Tắc.

Bình đề  Cá nhân phải tranh đấu có cơm ấm no. các dân tộc đều phải tranh đấu giành lấy sự sống còn. DIỄN ĐỀ A. (thói hư tật xấu. thay đổi bộ mặt xã hội. III. Có khi phú quí có hồi gian nan. KẾT LUẬN Tranh đấu và chiến thắng nâng cao giá trị con người. DÀN BÀI I. lừa gạt nhau). 91 . mưu cầu danh lợi.  Tranh đấu thanh toán những tư tưởng xấu. NHẬP ĐỀ Quy nạp: Ong. các sự cám dỗ ngoài đời). Không tranh đấu sẽ phải chịu luật đào thải tất nhiên của xã hội. Giải nghĩa  Loài vật trong rừng phải tranh đấu để bảo vệ sự sống (đánh cắn nhau. Giải đề 1.  Con người từ lúc đầu đã phải tranh đấu chống thiên nhiên. kiến. đừng thấy điều ác nhỏ mà làm.” Ý chính: Đời là một cuộc canh tranh. con người. II. B. thoát mọi cạm bẫy xã hội. thỏa mãn đời sống tinh thần lẫn vật chất – chống lại các thú tính.  Con người phải tranh đấu để tìm lấy miếng ăn.Phương Pháp Nghị Luận  Đừng thấy điều thiện nhỏ mà không làm. TÀI LIỆU Văn liệu: “… Sống ở trên đời. Giới thiệu đề. chống bạo tàn…  Xã hộI này phải tranh đấu với xã hội khác (phe Dân chủ phải tranh đấu với phe Cộng sản). lạc hậu trong xã hội. Đề 12: Bình giảng câu tục ngữ Pháp: “Sống là tranh đấu. phải tranh đấu mới sống được. chống ác thú. tạo địa vị.  Có tranh đấu mới có tiến bộ.

2. ta sẽ nên xấu. Đề 13: Bình giảng câu tục ngữ: “Gần mực thì đen. KẾT LUẬN 92 . Giải đề 1. Bình đề  Xét về cá nhân thì giao du với bạn tốt sẽ trở nên tốt. Giải nghĩa  Mực là chất đen. điều tốt. hay tự ái (thấy người ta giỏi cũng muốn giỏi hơn). Phản đề Cũng có trường hợp gần người xấu mà không xấu. B. chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh mình sống – Giới thiệu đề. gần người xấu sẽ xấu. sống trong hoàn cảnh xấu mà không xấu (những người có nghị lực). chọn chỗ ở cho gia đình. Gặp cơn lửa đỏ màu thêm xui.Phương pháp nghị luận Thấp cao đã biết tuổi vàng.” Ý chính: Gần người tốt thì tốt. II. Gần nơi tốt thì tốt.  Ngoài xã hội: chọn nơi gởi con đứng đắn. III. Sống trong hoàn cảnh tốt (gia đình có giáo cụ. DIỄN ĐỀ A. DÀN BÀI I. chỉ người tốt (hoàn cảnh tốt).  Đèn là vật sáng. chất dơ.  Sống trong hoàn cảnh xấu (nơi ăn chơi trụy lạc. chỉ người xấu (hoàn cảnh xấu). Ví dụ Chuyện mẹ thầy Mạnh Tử dời nhà.  Nơi học đường. giao du với người xấu. gần đèn thì sáng.  Đó là con người hay bắt chước (cái xấu tốt thì cũng bắt chước). C.  Cha mẹ xấu có ảnh hưởng nhiều đến con cái (gieo rắc cái xấu cho con cái). phải chọn bạn mà chơi. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Con người là sản phẩm của xã hội.” (Hớn Minh khuyên Lục Vân Tiên). giữa bọn người đầu trộm đuôi cướp) thì sẽ xấu. giới người đứng đắn) thì sẽ tốt. gần nơi xấu thì xấu.

các bậc cha mẹ phải đặc biệt chú ý đến câu này cho con cái. con bắt chước làm thịt theo. Anh em bạn hữu phải nên chọn người. Những người lêu lổng chơi bời. con bắt chước chôn cất. ở gần trại họm. Bà dời nhà về gần trường học để Thầy Mạnh Tử bắt chước đi học.” 93 . Cùng là lười biếng ta thời tránh xa. Ca dao: “Thói thường gần mực thì đen. TÀI LIỆU Mẩu chuyện Mạnh Mẫu nhà ở gần lò heo.Phương Pháp Nghị Luận Những nhà giáo dục. học sinh trở nên những người tốt sau này.

thọ ơn thì phải nhớ ơn. NHẬP ĐỀ Suy diễn: (bằng tiểu sử tác giả): Giới thiệu Đức Khổng Tử là một nhà đạo đức. Giải đề (giải nghĩa và ví dụ đi đôi) 1. trên kính dưới nhường. Lễ: giữ tôn ty trật tự xã hội.  Chuyện Đào Duy Từ đổ nước xuống lỗ sâu để nhặt quả bưởi. Giới thiệu đề. DIỄN ĐỀ A. bênh bạn. B. Ví dụ: Chuyện Khổng Tử xuống xe nói chuyện với Hạng Thác. Nghĩa: làm việc phải.  Có nghĩa: thì được người khâm phục. Bình đề Các đức tính này cần thiết cho việc xử thế hằng ngày như thế nào?  Có nhân: thì được người thương yêu giúp đỡ. nhớ ơn gười thì khi gặp hoạn nạn lại được người giúp đỡ. giữ lời hứa với người xung quanh. Nghĩa. tránh việc quấy. 5. Trí. Ví dụ:  Chuyện Mạc Đĩnh Chi xé tranh chim sẻ đậu trên cành trúc. chuyện Phùng Huyền mua nghĩa cho Mạnh Thường Quân. bớt thù.  Chuyện Nhạc Chinh Tử không chịu mang cái đỉnh giả sang Tề. Tín: tin mình và tin người. Đức Phật xả thân để cứu độ nhân loại. DÀN BÀI I. Nhân: thương người xung quanh bằng tình nhân loại. 4. Trí: thông minh. Ví dụ:  Chuyện Lê Thánh Tôn cởi long bào đắp cho ông lão nằm run rét. 2. II. Ví dụ: Chuyện Vân Tiên trừ cướp cứu Nguyệt Nga. Lễ. Tín mà Đức Khổng Tử đã nêu lên làm căn bản.  Đức Giêsu. 3. có đúng với việc xử thế ngày nay không? Ý chính: Đây là 5 điều căn bản về đạo đức thời xưa để đối nhân xử thế. sáng suốt giải quyết các vấn đề cần thiết.  Có lễ: thì con người hòa nhã ai cũng yêu mến. Giữ được 5 điều này thì giữ được xã hội.Phương pháp nghị luận Đề 14: Tìm hiểu về 5 đức tính căn bản là: Nhân. Ví dụ:  Chuyện Qui Trát giữ lời hứa với vua Tề. 94 .

Phương Pháp Nghị Luận  Có trí: thì không bị người lừa gạt. III. vua Tề biết thế nên khi bảo vua Lỗ dâng cái đỉnh cho mình thì bảo phải Nhạc đem qua mới được. TÀI LIỆU Mẩu chuyện Phùng Huyền sang đất Tiết đòi nợ cho Mạnh Thường Quân. nói là mua nghĩa cho Mạnh. Chúng ta nên rèn luyện từng đức tính một. được đức tính nào cũng đều tốt cả.  Người ta khác giống cầm thú vì có lễ (Chiến quốc sách). vượt qua các cạm bẫy xã hội dễ dàng. KẾT LUẬN Giữ được năm đức tính này thì có thể nên người hoàn toàn. Qua đó cho đốt hết giấy nợ.  Có tín: thì dùng được người. 95 . nhưng Nhạc không nhận. nói rằng: “Bệ hạ quí cái đỉnh thì hạ thần cũng biết trọng chữ tín.  Nhân vô tín bất lập (Người không có tín không đứng vững được ở đời) (Trình Di). bất nhân thì nhục (Mạnh Tử). – Nhạc Chính Tử nước Lỗ là người trọng chữ tín. dám giao công việc quan trọng.  Làm việc bất nghĩa mà giàu sang thì sang giàu ấy ta coi như mây nổi (Luận ngữ). Vua Lỗ cho làm đỉnh giả.” Danh ngôn  Người nhân thì vinh. làm cho người tin mình. Sau khi Mạnh bị cách chức về đất Tiết ai nấy tiếp đón niềm nở mới thấy rõ.

DIỄN ĐỀ A. Giải đề 1. thường cúi lòn. Người quân tử cầu ở mình  Cầu là cậy nhờ. Cầu ở mình có lợi như thế nào?  Khắc phục được bản thân. DÀN BÀI I. Kẻ tiếu nhân chỉ biết dựa vào người. không nhờ vả ai (tự tin. Người quân tử là hạng người cao quí. C. NHẬP ĐỀ Suy diễn: giới thiệu hai hạng người trong xã hội. không đổ lỗi cho ai.  Nếu có tài mà thiếu tự tin thì cũng hỏng.  Tạo cho mình có một nghị lực để vượt khó (có cứng mới đứng đầu gió). Phản đề  Người quân tử phải học hỏi ở người trên mình (Thánh hiền). không tiến bộ.” Ý chính: Người quân tử tin ở sức mình. B. tin vào. tin tưởng ở khả năng của mình. 2. nhờ tay người khác để tạo nên địa vị. chỉ để cho người ta sai khiến. 96 .  Khi lầm lỗi thì tìm cách sửa chữa.  Cầu ở mình là trông cậy vào mình. lợi dân). Giới thiệu đề. tự lực làm việc. Cầu ở người có hại như thế nào?  Suốt đời chỉ là kẻ thuộc vào người  Có thể trở nên hạng nịnh thần. Bình đề 1. nịnh bợ. hèn hạ. nghịch tặc. II.  Có thể làm những việc cao cả (ích quốc. kẻ tiểu nhân là hạng người tầm thường có nhiều thói xấu. tiểu nhân cầu ở ngoài. tự lập). Kẻ tiểu nhân cầu ở người  Kẻ vô tài. 2. tự trọng.Phương pháp nghị luận Đề 15: Bình giảng câu: “Quân tử cầu ở mình.  Không dám tranh đấu bản thân.

Có chí tự lập thì đời mới có nhiều thích thú. TÀI LIỆU Danh ngôn  Tự mình khinh mình trước. 97 .Phương Pháp Nghị Luận  Người quân tử cũng có khi phải cầu người dưới (bất sỉ hạ vẫn) – không sợ nhục khi hỏi người dưới. cúi xuống không thẹn với người: đó là một điều vui sướng.  Ngẩng lên không hổ với trời. III. người ngoài mới khinh mình sau (Mạnh Tử). KẾT LUẬN Ta phải tự tin và tự trong thì mới có thể tự lập được.

 Ta cần biết cái dở của người để xem ta có dở như người không? B. háo danh thì chỉ làm cho người ta ghét mà thôi.  Người có thực tài thì sớm muộn gì người ta cũng biết. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Thói đời là thích phô trương mà ít chịu tìm hiểu người để sửa mình. C. DÀN BÀI I. Giải đề 1.Phương pháp nghị luận Đề 16: Bình giảng câu nói trong Luận Ngữ: “Chẳng lo người chẳng biết mình.  Ở đời hiểu người rất khó. Chẳng lo người chẳng biết mình  Nếu mình giỏi thực sự thì sớm hay muộn gì người ta cũng biết đến (khỏi phải phô trương).  Hiếu danh. Phản đề  Có những trường hợp ta phải làm cho người biết mình (mà không phải là tự phô trương). DIỄN ĐỀ A. ra làm quan để lãnh đạo sĩ phu) 98 . 2. hiểu cái hay. tự đề cao mà kém tài. hoạn bất tri nhân dĩ) Ý chính: Chống thái độ phô trương tự phụ. Lo chẳng biết người  Ta cần biết cái hay của người để làm cho ta hay hơn.” (Bất hoạn nhân chi bất kỷ trỉ. lo chẳng biết người vậy.  Khó chiến thắng lòng tự ái của ta để mà học hỏi người khác  Nói chung: Phải khiêm tốn. cái dở của người càng khó hơn. Giới thiệu đề. tính khiêm tốn. tìm hiểu người thì việc xử thế mới an toàn.  Khi mình còn nhận lãnh một trách vụ lãnh đạo (như Phan Chu Trinh phải thi đỗ. không tự phô trương. Phô trương thì người ghét. Bình đề Tại sao lại nói như thế?  Vì phô trương. nêu cao đạo đức. II. kém đức thì chỉ làm trò cười thiên hạ. chịu học hỏi người khác thì mới mong tiến bộ.

miễn sao mình giỏi đủ cho người ta biết đến (Khổng Tử). Nhưng người có tài phải ra mặt để giúp ích cho đời. chỉ lo cho có tài đức gì để đứng vào địa vị ấy: đừng lo không ai biết mình. 99 . không được nghe lời khôn. III.  Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư. lẽ phải nữa. KẾT LUẬN Câu nói của Khổng Tử là để chỉ trích kẻ bất tài khoe khoang vì danh lợi. chọn điều hay mà bắt chước xét điều dở mà sửa đi). kỳ bất thiện giả nhi cải chi (trong ba người cùng đi tất có thầy ta. TÀI LIỆU Danh ngôn  Hữu xạ tự nhiên hương  Chẳng lo không tước vị. trách kỳ thiện giả nhi tùng chi.Phương Pháp Nghị Luận  Như Khổng Tử đi đến các nước trình bày ý kiến của mình để xây dựng xã hội đi đến thái hòa.  Kẻ tự cho mình là giỏi thì sai.

không đúng với đạo làm người. là khôn. DÀN BÀI I. giữ nghĩa so hồi sấm vang. Giải đề 1. Bình đề Tại sao như thế mà chưa gọi được là khôn? 3. Đạo làm người la theo đúng: “Nhân. Tín và Kần kiệm” B.  Biết làm giàu mà không cần kiệm thì không phải là người trí.  Biết tìm tòi mở mang trí tuệ mà không biết nghĩa “Phụ nghĩa vong ân” thì không đúng đạo làm người. DIỄN ĐỀ A. biết cái nhỏ mà không biết cái lớn thì chưa phải là biết vậy. Noi nhân.Phương pháp nghị luận Đề 17: Bình giảng câu nói của Hoài Nam Tử: “Cái gì cũng biết mà đạo làm người không biết thì chưa gọi là khôn. Trí.  Biết những ngón xảo trá lòe đời. rồi tự tung tự tác. Nghĩa. Cái gì cũng biết: là biết những cái vụn vặt như  Biết xoay xở tiền bạc làm cho mình giàu có. Nhưng biết nhiều. hống hách không biết lễ thì không đúng đạo làm người. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Ai cũng khoe là mình biết nhiều. Lễ. KẾT LUẬN Dùng câu thơ kể chuyện Lục Vân Tiên của Nguyến Đình Chiểu: “Thanh bần giữ phận an vui.” Ý chính: Biết đạo làm người là việc lớn. Chỉ có biết cái quan trọng với cái không quan trọng là đáng kể mà thôi. 2. Giới thiệu đề.  Biết tìm tòi học hỏi làm mở mang trí tuệ. III. II.” TÀI LIỆU Danh ngôn 100 .  Biết vận dụng tạo nên địa vị cao. Vì biết làm cho mình giàu có nhưng “vi phú bất nhân” thì không đúng đạo làm người. biết ít chưa thể phân định hơn kém được.  Biết vận động tạo nên địa vị cao. Những cái biết khác đều là nhỏ.

Phương Pháp Nghị Luận  Đời người phú quí có lễ độ không khó. 101 . có thể thông mới khó: đời người bần tiện có ân huệ không khó. có lễ độ mới khó (Lưu Cao).  Lấy hạnh phúc của người làm hạnh phúc mình là niềm vui tuy đạm bạc nhưng tâm hồn mình được sung mãn (H. Esquerre).

Nước vì mềm mà được toàn  Nghĩa đen: Nước thì chặt không đứt.  Trong việc giáo dục không thay đổi phương pháp thì dễ bị lạc hậu. Càng mềm dẻo càng được người mến nên việc gì cũng xong. 2. Không biết tùy hoàn cảnh thì có hại cho mình. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Mượn câu “Nhu thắng cương. Giải đề 1.  Ẩn ý: Mềm dẻo thì dễ thành công trên đường đời. nước vì mềm mà được toàn. mềm dẻo thì dễ thành công. cây sến trốc gốc mà cây sậy vẫn không hề hấn gì. nhược thắng cường” mà đối chiếu và giới thiệu đề. III. DÀN BÀI I. chì tuy cứng mà có thể bẻ gãy cả. TÀI LIỆU Mẩu chuyện Cây sến và cây sậy của La Fontaine: sây sếu tự hào cứng rắn. B. 102 . KẾT LUẬN Muốn thành công trên đường đời thì phải tập tính mềm dẻo.  Đối xử với người mà cứng rắn quá thì không có bạn (ai cũng e ngại không dám tiếp xúc). đồng. bứt không rời. DIỄN ĐỀ A.  Ẩn ý: Cứng rắn quá thì dễ hỏng việc.” Ý chính: Cứng rắn quá thường khi hỏng việc.Phương pháp nghị luận Đề 18: Bình giảng câu nói của Bảo Phác Tử: “Loài kim vì cứng mà hay gãy. Bình đề  Trong việc làm ăn mà giữ mãi một đường thì có thể phá sản (phải tùy lúc mà thay đổi đường đi).  Chính sách cai trị quá cứng rắn thì dễ gặp phản ứng không tốt. Loài kim vì cứng mà hay gãy  Nghĩa đen: Sắt. Khéo tùy thời thì nên việc. thau. chê cây sậy mềm yếu. II.  Ví dụ: Truyện cây sến và cây sậy của La Fontaine. Nhưng một cơn giông đến.  Đường lối chính trị mà quá cứng rắn thì khó ngoại giao.

 Loài kim cứng thì gãy. 103 . (Lục thao tam nghị). mảnh da căng quá thì rách (Thuyết Uyển). căng quá tất đứt.Phương Pháp Nghị Luận Danh ngôn  Cứng quá tất gãy.

Phương pháp nghị luận Đề 19: Gustave Flaubert: một văn hào Pháp, có nói: “Ở đời, cái gì cũng phải học.” Hãy cho biết tại sao ta cần phải học? Ta cần phải học những gì? Và học tập thế nào để mau tiến bộ? Ý chính: Sự học tập cần thiết cho con người về mọi phương diện. Có học hết mọi việc thì mới tiến bộ được. DÀN BÀI I. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Càng hiểu biết nhiều, càng dễ tiến bộ. Muốn hiểu biết, không có cách nào khác hơn là học tập. Giới thiệu đề. II. DIỄN ĐỀ 1. Tại sao ta cần phải học?  Đời có nhiều vấn đề ta chưa hiểu biết, chưa hiểu thì không làm được, có học tập mới hiểu biết rõ.  Học vấn nâng cao giá trị con người, rèn luyện tư cách , đạo đức cho ta.  Học vấn là phương tiện giúp ta tìm sự sống; có học thì đời sống mới tiến được dễ dàng. 2. Ta cần học những gì?  Dẫn câu nói của người đời: “Học ăn, học nói, học gói, học mở.”  (Từ cái dễ đến cái khó đều phải học)  Học ăn: ăn coi nồi, ngồi coi hướng.  Học nói: lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.  Học gói, học mở: học xoay sở ở đời, thích ứng với mọi hoàn cảnh. Học tập hết mọi phương diện: văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội,…  Văn hóa: học cách nâng cao dân trí.  Chính trị: học tập thực hiện dân chủ.  Kinh tế: học về các khoa tài chính., ngân hàng, tăng gia sản xuất nông nghiệp, công kỹ nghệ.  Xã hội: học tập nâng cao mức sống xã hội. 3. Cách học tập  Học tập về lý thuyết trong sách vở.  Học tập bằng cách thực hành, suy nghiệm để phát hiện những điều mới lạ.  Học tập kinh nghiệm của người đời (cả một kho tàng phong phú). 104

Phương Pháp Nghị Luận III. KẾT LUẬN Cái gì cũng phải học, nhưng học xong phải thực hành. Học và hành phải đi đôi. TÀI LIỆU Ca dao Rừng như bể thánh khôn dò Nhỏ mà không học lớn mò sao ra? Danh ngôn  Hãy nhìn lên, học rộng, luôn luôn tìm cách vươn lên cao (Regarder en haut, apprendre au dela, chercher à s’élever toujours).  Sau cơm gạo, học vấn là nhu cầu cần thiết nhất của con người.

105

Phương pháp nghị luận Đề 20: Bình giảng câu cách ngôn: “Hãy tự giúp mình rồi trời sẽ giúp” Ý chính: có tự tin thì mới thành công được, mới có được sự hỗ trợ bên ngoài. DÀN BÀI I. NHẬP ĐỀ Qui nạp tương đồng bằng câu: “Tận nhân lực tất tri thiên mệnh” (Làm hết sức mình ắt rõ mệnh trời) II. DIỄN ĐỀ 1. Tại sao phải tự giúp?  Có tự tin thì mới hành động (mới tự lực tự cường được).  Có hành động thì người ta mới thấy việc làm của mình mà ủng hộ.  Có sự thất bại thì mới đi đến thành công. 2. Trời giúp mình như thế nào?  Trước tiên là có sự hỗ trợ của người xung quanh (theo ý muốn của trời).  Trời giúp cho ta cái hoàn cảnh may mắn để thành công.  Tin tưởng rằng mình hành động đúng thì thần thánh cũng hộ trợ cho mình (chi thành thông thánh) Ví dụ:  Dân tộc Việt Nam không đứng lên tự giải phóng thì không ai giúp cho mình cả.  Có chiến đấu thì mới thấy rõ lòng dân (ý dân là ý trời mới có sự giúp đỡ của các nước bạn). 3. Tác dụng của câu này  Làm cho ta thêm tự tin, thêm hằng hái, can trường hoạt động.  Không phủ nhận lòng tin tưởng nơi mệnh số, nơi cay đắng vô hình (nhưng không tuyệt đối). III. KẾT LUẬN Làm việc gì cũng phải tự tin. Từ việc nhà đến việc nước, lòng tự tin là một bảo đảm vững chắc cho sự thành công. TÀI LIỆU Tục ngữ Có cứng mới đứng đầu gió Ca dao 106

Phương Pháp Nghị Luận Khi nên trời giúp công cho. Trời sanh. Danh ngôn Mười lần thì có 9 lần thành công. Công danh gặp hội. 107 . Làm trai năm liệu bảy lo mới hào. anh hào ra t ay. nhờ sự tự tin và sự tận tâm làm việc (Wilson). trời chẳng phụ nào.

Tại sao Tổng thống Linconln lại nói như thế?  Vì những điều khuyên bảo kẻ khác thường là điều hay (để tỏ ra mình sành đời). có lợi cho gia đình mình. 2. cho xã hội (thành công mỹ mãn). DÀN BÀI I. đó là yếu tố để thành công ở đời. KẾT LUẬN Nói và làm phải đi đôi. Dẫn chứng cụ thể  Đối với cá nhân: mình khuyên người ta đừng uống rượu. II.Phương pháp nghị luận Đề 21: Bình giảng câu nói của Tổng Thống Mỹ Abraham Linconln: “Một cách hay nhất để thành công ở đời là khởi sự làm những điều mình thường khuyên bảo kẻ khác.” Ý chính: phải tự giác và quyết tâm làm nhiệm vụ của mình thì mới thành công. thiếu kiên nhẫn (không dám làm sợ thất bại. thì mình nên làm trước. DIỄN ĐỀ 1. đừng cờ bạc. Tại sao người ta lại nông nỗi như thế?  Vì biết dễ mà làm khó (biết việc nào là tốt. thấy khó mà không làm).  Đối với xã hội: mình khuyên người ta siêng năng. tương trợ.  Đối với gia đình: mình khuyên người ta cần kiệm thì mình không nên tiêu hoang. 3. Giới thiệu đề (có thể NHậP Đề bằng tiểu sử tác giả). thì mình phải chuyên cần. mới làm được). chỉ dạy cho người khác mà chính mình không làm đúng theo lời chỉ dạy. quyết tâm.  Vì người ta thiếu nghị lực. III.  Vì những điều mình khuyên bảo kẻ khác thường khó làm (phải nhiều kiên nhẫn. mình khuyên người ta thuận hoà thì mình không nên xung đột. ngán làm lâu). NHẬP ĐỀ Suy diễn: người ta hay làm ra vẻ thầy đời. mới có lợi cho xã hội. có lợi cho bản thân. TÀI LIỆU Tục ngữ 108 . cho gia đình. không nên chia rẽ.  Làm được những điều khuyên bảo thì có lợi cho bản thân.

người chủ trương bãi bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ. ta có một mình mà khó thắng. Chú ý điểm tương phản: Người đông mà dễ thắng.Grasset). lần đầu năm 1859. Đề 22: Bình giảng câu nói của người xưa: “Thắng cả vạn quân không khó bằng tự thắng mình”.W. (B. Đừng làm những điều tôi làm. Ý chính: thắng người dễ hơn thắng mình. Bình đề Tại sao nói như thế?  Thắng địch dễ vì địch là những người cụ thể. cái xấu của người không thể tránh được lại cố tránh thật cũng nực cười (Mare aurele). 109 .  Tự thắng mình: tranh đấu bản thân (thắng tật xấu. B. Giải đề  Thắng vạn quân địch: công việc của viên võ tướng chiến thắng một lực lượng hùng hậu.Phương Pháp Nghị Luận Hãy làm những điều tôi nói. DIỄN ĐỀ A. tái cử năm 1864. hung cứ một vùng mà không thắng được cái tính yếu đuối trước lời khuyên ngon ngọt của nữ nhi nên hỏng cả sự việc. Giới thiệu chủ đề. Được bầu làm Tổng thống Hoa Kỳ. mà nên nói đến những gì họ có thể làm. Danh ngôn  Muốn cho một người hoạt động vui lòng thì đừng nói đến những việc gì họ đã làm. Bị ám sát năm 1865 bởi một kẻ cuồng tín duy trì nô lệ là J. II.  Cái xấu của mình có thể tránh đặng lại không thể tránh. sinh năm 1809 ở Harvin. Thắng mình khó vì kẻ thù ẩn trong lòng mình. dễ đánh trúng. DÀN BÀI I. nết hư của mình). Ví dụ: Từ Hải có thể thắng quân triều đình.Booth. NHẬP ĐỀ Trong các cuộc đấu tranh chỉ có cuộc tranh đấu bản thân là gay go nhất. Tiểu sử tác giả Araham Lincoln.

Người đời đủ hạng. người biết suy nghĩ thì ít. mình sẵn có thiện cảm nên dễ tha thứ cho mình. nhưng kẻ thì nông nổi thì nhiều. Đề 23: Bình giảng câu nói của bà De Stael: “Đời dạy bảo nhiều điều hay cho người biết suy nghĩ. Danh ngôn  Luôn luôn sợ thua thì chẳng bao giờ thắng. không biết suy nghĩ thì nhận lấy cái xấu. Phải cương quyết thực hiện cuộc tranh đấu bản thân để trở nên người hữu dụng sau này vượt qua mọi khó khăn.  Phải có tinh thần cầu tiến. trách tự ái cá nhân. Giới thiệu đề. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Đời muôn mặt. DÀN BÀI I. thắng mình khó vì phải dùng nhiều nghị lực.Phương pháp nghị luận  Thắng địch dễ vì mình có binh lực: thắng. chỉ trích của người khác. Thực hiện cuộc tranh đấu bản thân:  Phải thường xuyên tự kiểm điểm.  Phải thành tâm nghe lời phê bình.  Kẻ biết mình là người sáng. Biết suy nghĩ thì thu thập được cái tốt. mình sẵn sàng có mối thù nên dễ đánh mạnh.” Ý chính: đời có cái tốt cái xấu. với mình.  Với địch. TÀI LIỆU Mẩu chuyện  Quan Vân Trường đời Tam Quốc vì không chiến thắng được lòng tự ái “đi đại lộ về đại lộ” nên bị Lữ Mông ám hại. dễ bị hư hỏng. nhưng để làm hư hỏng những kẻ nông nổi. trở lực trên đời. xấu nhiều tốt ít. II. mình khó vì không ai trợ giúp mình được. binh sĩ… ). kẻ biết người là người khôn (Lão Tử). đạn dược.  Trương Phi đời Tam Quốc vì không thắng được tính nóng nảy mà bị bọn thợ may giết chết (thúc giục họ may đồ tang để cử hành tang lễ cho Quan Công). de Musset).  Thắng địch dễ vì mình có thể dùng lực lượng vật chất (súng ống. DIỄN ĐỀ 110 .  Một người không kiên nhẫn cũng như một ngọn đèn không có dầu (A.

B. Văn liệu Dầu ai cũng nghĩ mình trong mình với. KẾT LUẬN Nêu lên bài học ở đời: thận trọng là sống.Phương Pháp Nghị Luận A.  Người nông nổi: những người không biết suy nghĩ. Giải đề  Người biết suy nghĩ: những người trầm tĩnh nhận xét việc đời trên mọi khía cạnh.  Thấy người ta xấu cũng lấy cái xấu mà đáp lại. nông nổi là chết. Thấy thế tình đen bạc mà xử sự một cách thận trọng. mềm dẻo với kẻ xấu … ). 2.  Có nhìn sâu vào đời. tránh được thù hằn vô cớ. Thường già rồi mới khôn. Càng lăn lộn ở đời thì càng từng trải. rốt cuộc trở nên người xấu. 111 . TÀI LIỆU Tục ngữ Thức lâu mới biết đêm dài. thu nhận việc đời một cách bừa bãi. Bình đề 1. cái xấu ở đời. thiện ác. đâu là nơi chính thiện.  Thấy rõ các hạng người trong xã hội để có thái độ đối xử thích hợp (nông hậu với người tốt. Người biết suy nghĩ thu nhập được những điều gì hay ở đời?  Không “thấy người ta ăn khoai” mà “mình vác mai chạy”.  Đời thường hấp dẫn con người bằng danh dự. họ vội vã thu nhập. rồi bị lôi cuốn và chìm đắm (như các phong trào sa hoa vật chất). suy nghĩ kỹ thì mới thấy hết được các khía cạnh tốt xấu. đâu là cạm bẫy ở đời. nhưng lúc nào cũng phải phân biệt cái tốt. đắm mình trong chốn bùn nhơ. III. biết cân nhắc các nghề để lựa chọn nghề thích hợp với khả năng của mình. Người nông nổi dể bị đời làm hư hỏng  Thấy những phong trào mới đến. Người nông nổi vì danh lợi mà quên mất cuộc sống thanh cao.

(Nguyễn Công Trứ) 112 .Phương pháp nghị luận Phải giống sen thà chẳng nhúng bùn.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->