Thanh Trúc

PHƯƠNG PHÁP NGHỊ LUẬN

Luận đề phổ thông và luân lý

Phương pháp nghị luận

MỤC LỤC
Chương I: TÌM HIỂU ĐỀ TÀI.............................................4 Chương II: PHƯƠNG PHÁP TÌM Ý...................................9 Chương III: PHƯƠNG PHÁP LÀM DÀN BÀI.................15 Chương IV: PHƯƠNG PHÁP HÀNH VĂN......................40 Chương V: PHƯƠNG PHÁP SUY TƯ..............................56 Chương VI: PHƯƠNG PHÁP LÝ LUẬN..........................61

2

Phương Pháp Nghị Luận

ĐẠI CƯƠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHỊ LUẬN
Theo định nghĩa, văn nghị luận là loại văn dùng lí lẽ và dẫn chứng để bàn luận, giải quyết một vấn đề làm cho người đọc, người nghe hiểu vấn đề đó để họ có nhận thức đúng, có thái độ đúng và có hành vi đúng. Như thế, văn nghị luận có đặc tính khác hẳn văn miêu tả và thuật chuyện: Văn miêu tả chỉ ghi lại những điều mắt thấy tai nghe, trình bày lại những điều giác quan đã ghi lại được. Văn thuật chuyện chỉ kể ra những ý kiến của mình về một đề mục nào đó cho người khác nghe và tùy người nghe muốn nhận định ra sao cũng được. Văn nghị luận không thế. Nghị luận cần suy nghĩ để bày tỏ ý kiến nhằm mục đích thuyết phục người khác tin ý kiến của ta là xác đáng. Công việc này không mấy dễ dàng vì mỗi người thường chủ quan, chỉ tin lẽ phải của mình, thường nghi ngờ và đánh giá thấp các lí lẽ của người khác. Tuy nhiên, ít ra cũng có một lẽ phải chung hợp với các khuôn khổ suy luận thông thường được đa số công nhận. Để có thể đạt tới phần nào lẽ phải chung đó, khi làm bài văn nghị luận, chúng ta nên dựa vào phương pháp nghị luận được trình bày qua các bước tiến như sau:

3

Ví dụ: Có công mài sắt có ngày nên kim. Bài nghị luận luân lý thường đề cập đến bổn phận mỗi người đối với bản thân. nhân loại. tổ quốc. mới đủ sức giải những bài toán đố khó khăn. Quốc gia nào cũng cần có bàn tay đen và lương tâm trong trắng. 2. xa đề hay trả lời thiếu sót những điều đề yêu cầu. trừ. Công danh chờ đợi. Khi nào đề ra thuộc loại giải thích? Khi nghĩa câu nói tương đối đúng. học đường. không có phần sai lầm quá đáng hoặc thiếu sót một cách rõ rệt. chúng ta có thể chia chúng thành bốn loại đề căn bản sau đây: giải thích. bình luận. Giải thích là gì? 4 . nghề nghiệp. xã hội. Bài nghị luận phổ thông hoặc tổng quát thường bàn đến những tri thức tổng quát như lao động. chúng ta mới có thể giải quyết những loại đề khác. chúng ta sẽ phân biệt các loại đề. Nắm vững phương pháp và giả quyết thành thạo bốn loại đề này rồi. nhân ái… Tuy nhiên phạm vi hai loại bài này có nhiều khu vực xâm nhập nhau và có nhiều điểm tương đồng hơn dị biệt. chia trong số học. Muốn tìm hiểu đề. Chúng có thể ví như bốn phép tính gốc: cộng.Phương pháp nghị luận Chương I: TÌM HIỂU ĐỀ TÀI Tìm hiểu đề tài là việc rất quan trọng vì nó giúp ta khỏi lạc đề. LOẠI ĐỀ GIẢI THÍCH 1. thì đề sẽ thuộc loại giải thích. A. nợ nần chớ lo. Làm trai quyết chi tu thân. thường chỉ là tổng hợp những loại đề trên. du lịch hoặc những khái niệm thông thường như tự do công bằng. gia đình. trình bày và so sánh. nhân. Do đó chúng ta có thể ghép chúng vào đối tượng của phương pháp nghị luận này. Về hình thức hay về công việc làm bài. giống như người đã làm thông thạo bốn phép tính gốc.

phần thiếu sót cần bổ túc. Thất bại là mẹ thành công. (luận) rồi mới cho biết ý kiến (bình) để chỉ trích phần sai lầm. Làm thế nào biết đề ra thuộc loại giải thích? Loại đề này đòi hỏi ta ý nghĩa câu nói. Bình luận là gì? Bình luận theo sát nguyên nghĩa là: suy nghĩ cho hiểu thấu. Có tiền mua tiên cũng được.Phương Pháp Nghị Luận  Theo sát nguyên nghĩa: giải thích là đào sâu cho rõ nghĩa (thích) và mở rộng cho đủ nghĩa (giải)  Yêu cầu: loại đề này chỉ cần ta tìm ý nghĩa câu nói mà không hỏi ý kiến riêng của ta phê phán vấn đề ấy. Yêu cầu: loại đề này không những buộc ta phải làm sáng tỏ ý nghĩa. bổ túc phần thiếu sót. nhưng cũng có phần sai lầm đáng chỉ trích. Giải thích câu… Giải nghĩa câu… Cắt nghĩa câu… Câu này có ý nói gì… Ý nghĩa câu ấy thế nào? Làm sáng tỏ ý nghĩa câu nói ấy… Khi nào đề ra thuộc loại bình luận? B. nói ra cho rõ. hoặc phần quá đáng cần giới hạn thì đề ra sẽ thuộc loại bình luận. 3. Ví dụ:    Cha nào con nấy. 2. nên thường có các dạng thức sau đây:       1. hoặc hạn chế phần quá đáng tùy theo ý nghĩa câu nói. LOẠI ĐỀ BÌNH LUẬN Khi ý nghĩa của câu nói tuy có phần đúng. mà còn đòi hỏi ta phải cho biết ý kiến phê bình câu nói ấy. Làm thế nào để biết đề ra thuộc loại bình luận? 5 . 3.

Bình luận câu… Bình giải câu… Phê bình câu… Nhận xét giá trị câu… Câu ấy có đúng không? Cho biết ý kiến về… Bạn nghĩ sao… Bạn có đồng ý với câu nói ấy không? Khi nào đề ra loại trình bày? C. sự làm việc. tiến bộ khoa học. Dĩ nhiên đề thuộc loại này vẫn có những từ ngữ quan trọng mà ta cần xác định ý nghĩa cho rõ. 3. LOẠI ĐỀ TRÌNH BÀY Khi chủ đề còn nguyên vẹn là một vấn đề chưa qua nhận xét của một ai. nên thường ra dưới dạng thức sau:  Trình bày các tai hại của… 6 . nói thật và nói hết những điều hiểu biết của ta về vấn đề ấy. Trình bày là gì?  Trình bày theo nguyên nghĩa phô diễn ra cho rõ (bày) tất cả những kiến thức của ta về vấn đề nêu ra cho người đọc biết (trình).Phương pháp nghị luận Loại đề này đòi hỏi ta giải thích và phê bình câu nói. bóng bẩy thì đề ra sẽ thuộc loại trình bày. Làm thế nào biết đề ra thuộc loại trình bày? Loại đề này buộc ta kể rõ những kiến thức của ta. Ví dụ: Sự đọc sách. chưa thành một câu nói hàm xúc. nên thường ra các dạng thức sau:         1. 2.  Yêu cầu: loại đề này không bắt ta giải nghĩa hay phê bình vấn đề mà chỉ đòi ta nói thẳng. trước khi trình bày kiến thức của ta.

Tại sao phải… Sau này bạn sẽ chọn nghề gì? Tại sao? Khi nào đề ra thuộc loại so sánh D. là đối chiếu hai vấn đề để làm nổi bật điểm tương đồng. Đem lại những lợi ích gì? Thế nào là. Ví dụ:    2. So sánh là gì?  So sánh theo sát nguyên ngữ. 3. Cần bất như chuyên. Làm thể nào biết đề ra từng loại so sánh Loại đề này bắt ta phải cân nhắc hai vấn đề nên thường ra những dạng thức sau đây:  Thế nào là A? Thế nào là B? A và B liên quan đến nhau như thế nào?  A là gì? B là gì? A và B giống nhau khác nhau và liên quan đến nhau như thế nào? 7 . Tài đức kiệm toàn. nhưng liên quan mật thiết với nhau hoặc hơn kém bổ túc cho nhau thì đề sẽ ra thuộc loại so sánh..  Dĩ nhiên chúng ta phải nắm vững ý nghĩa từ quan trọng trong vấn đề và nêu rõ ý nghĩa ấy trước khi so sánh.Phương Pháp Nghị Luận        1. khác nhau. dị biệt và tương quan nhằm mục đích xác định địa vị hơn kém hay bổ túc lẫn nhau của chúng. Kể rõ các ích lợi của… Cho biết rõ những lợi hại của… Vạch rõ những lý do của… ….. LOẠI ĐỀ SO SÁNH Khi hai vấn đề có những điểm giống nhau. Công bằng và bác ái.

dị biệt và tương quan như thế nào?  Tại sao A không bằng B. kẻ tiểu nhân cầu ở người. (Loại đề giải thích và trình bày) 8 . Giải thích và bình luận câu sau đây: “Người quân tử cầu ở mình.  Tại sao lại cần A lẫn B.” Hãy ứng nghiệm câu đó vào cách lập chí của người thanh niên ở đời.  Bạn nghĩ sao vấn đề A và B. CÁC LOẠI ĐỀ TỔNG HỢP Ngoài bốn loại đề căn bản nói trên những đề tài khác thường ra dưới hình thức tổng hợp giữa các loại đề ấy với nhau hoặc thường dùng bốn loại đề căn bản kèm theo một câu hỏi: Ví dụ: 1. E. Một văn hào Đức nói: “Tôi là người nghĩa là một kẻ chiến đấu.” Đời có phải là một trường tranh đấu không? Giá trị của chí phấn đấu.Phương pháp nghị luận  Hai vấn đề A và B có những điểm tương đồng. (Đề thi tú tài 1951) 2.

Ví dụ: Giải thích câu: “Có chí thì nên. chủ điểm     Phân tích đề thành nhiều phần nhỏ và dễ hiểu để tìm từng Chúng ta là kẻ thừa hưởng di sản người quá cố. 9 . Chúng ta là kẻ nâng đỡ bảo hộ thế hệ tương lai. PHƯƠNG PHÁP TÌM Ý Đối với những đề tài đơn giản Ta chỉ cần đọc kĩ đề tài là ý chính đã hiện ra.” Ý chính: Đề cao vai trò ý chí trong việc thành đạt ở đời. chúng ta còn phải: a. 1. Mục đích của chương trình này giúp chúng ta tìm được ý chính của đề tài và từ đó dùng phương pháp làm nảy sinh những ý phụ dồi dào khác nữa.” Ngoài việc đọc kĩ đề. I. kẻ đồng lao cộng tác với người đương thời. 2. Vật liệu càng nhiều càng tốt thì chúng ta càng có hy vọng xây được ngôi nhà cao rộng bền chắc. Đối với những đề tài phức tạp Ví dụ: Giải thích câu: “Chúng ta là kẻ thừa hưởng di sản của người quá cố.  Thừa hưởng: tiếp nhận và sử dụng. Gạch dưới những chỗ quan trọng và chú ý để hiểu rõ ý nghĩa của chúng  Giải thích: để phân biệt với bình luận…  Chúng ta: quan trọng nhưng không cần tìm ý nghĩa. kẻ nâng đỡ bảo hộ thế hệ tương lai.Phương Pháp Nghị Luận Chương II: PHƯƠNG PHÁP TÌM Ý Nếu ví việc làm bài văn nghị luận như xây một ngôi nhà. b. Ta nhận thấy đề tài gồm 3 chủ điểm nằm trong 3 mệnh đề. Chúng ta là kẻ đồng lao cộng tác với người đương thời. thì việc tìm ý được sánh với việc mua sắm vật liệu cần thiết.

Bạn có 10 . Nâng đỡ: dìu dắt. lừa phản bạn. bắt chước bạn. giúp bạn. Đề tài trên có 3 chủ điểm. Ví dụ: kết thân với bạn thường vì lí do tâm tình và học hỏi.” Quá trình suy tư tìm ra ý chính: Đề tài nêu lên một tỉ lệ: coi quyển sách như một người bạn. Cộng tác: chung sức làm việc. giúp đùm.” Chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều ý tưởng. học bạn. chúng ta không nên quá tham lam mà cần tự giới hạn vấn đề. gìn giữ. có khi vì lí tưởng đạo lý… Có nhiều vấn đề liên quan đến “bạn” như: chọn bạn. có khi vì lợi ích tinh thần. Một số trường hợp đặc biệt Đối với những đề tài có vẻ bao quát. Chủ đề là tổng số các chủ điểm hợp lại: Chủ điểm 1: Liên hệ giữa thế hệ hiện tại vói quá khứ Chủ điểm 2: Liên hệ giựa thế hệ hiện tại với nhau Chủ điểm 3: Liên hệ giữa thế hệ hiện tại với tương lai Chủ điểm 4: Liên hệ giữa các thế hệ Ý chính của bài: Bổn phận của chúng ta đối với các thế hệ 3. che chở. lấy bạn làm gương cho mình. Đồng lao: cùng chịu vất vả. Trọng tâm bài này ở hai chữ “người bạn. đạt được rất nhiều vấn đề liên quan đến vật chất.Phương pháp nghị luận         c. Người đương thời: người đang sống với ta. chỉ dẫn cho bạn. Đọc sách cũng thường vì lí do giải buồn và tìm hiểu. ta nên tự giới hạn Ví dụ: Bình luận tư tưởng sau: “Quyển sách là một người bạn. có khi vì ham mê thú vui. Thế hệ tương lai: lớp người đến sau ta. Bảo hộ. a. Di sản: các của cải để lại Người quá cố: người đã chết. nói xấu bạn… Để khỏi lạc trong rừng ý tưởng đó. xử sự với bạn.

Phương Pháp Nghị Luận người xấu người tốt. Đối với những đề tài có vẻ nghịch ngôn hay mâu thuẫn Ta nên phân biệt phương diện hình thức và phương diện nội dung của các câu nói để thấy chúng không có gì là trái ngược luân lí. Ba cây trồng chụm lại biểu tượng cho sự biết nhờ cậy lẫn nhau. Đối với những đề tài có tính cách ám tỷ So sánh gián tiếp một ý nghĩa trừu tượng với một vật cụ thể hay so sánh hai ý niệm trừu tượng. Sách cũng có cuốn xấu cuốn tốt. b. Đó chỉ là 11 . ca dao lại có câu “Nước lã mà vã nên hồ. phải chọn sách mà đọc. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Ý chính của đề tài diễn nhiên không phải là ở điểm trồng trọt loại thảo mộc. Ví dụ: Người ta thường nói: “Có bột mới gột nên hồ”. một việc ai cũng có thể làm được. Từ đó chúng ta nhận thấy: câu ca dao cho biết sự thiệt hại của chia rẽ và lợi ích của đoàn kết. câu “Nước lã mà vã nên hồ” không phải là xác nhận sự thực thường thấy trong xã hội. Trong các trường hợp này ta phải tìm được những điểm giống nhau giữa hai vật hay hai ý niệm. mà chỉ có sự nhấn mạnh vào vấn đề nêu lên hay tính cách bổ khuyết lẫn nhau giữa hai ý niệm tưởng chừng như mâu thuẫn ở đề tài. biết gom công góp sức để chuyển thế yếu thành thế mạnh. Từ hình ảnh cụ thể đó. muốn tạo nên một công nghiệp lớn lao phải cần có đạo đức. chúng ta phải chọn bạn mà chơi. có thời thế. có cơ hội.” Hãy giải nghĩa hai câu ấy và xem chúng có mâu thuẫn với nhau không? Hai câu nói trên không có gì mâu thuẫn:  Câu “Có bột mới gột nên hồ” xác nhận một sự thực thường thấy trong xã hội: Muốn có hồ phải cần có bột. tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan. chúng ta có bổn phận suy ra những ý niệm trừu tượng như: một cây trồng riêng sẽ biểu tượng cho sự đơn độc chia rẽ.  Trái lại. Đó sẽ là ý chính của đề tài: Ví dụ: Bình luận câu ca dao sau đây: “Một cây làm chẳng nên non. c.

3. Xét ý chính trong nhiều không gian và thời gian khác nhau Ví dụ: Ý chính là sự học hỏi. sự chân thật hay giả dối. nghiên cứu ngày xưa và ngày nay khác nhau như thế nào?  Những tổ chức nghiên cứu khoa học trong phạm vi quốc tế. Tinh thần đoàn kết của toàn dân trong phạm vi quốc gia. Đặt ý chính trong một quá trình suy luận Ví dụ: Ý chính là tình đoàn kết. những tổ chức văn hoá quốc tế.  Tai hại của sự dối trá về hai phương diện nói trên.    2. chúng ta có những ý phụ như sau:  Sự xã giao thù tạc về phương diện nội dung: Tình cảm của những người giao dịch với nhau. chúng ta có thể có những ý phụ như sau:  Những phương tiện học hỏi.  Sự xã giao thù tạc về phương diện hình thức: Những nghi thức và tập quán xã giao như thăm viếng. những bí mật quốc phòng. Tình hữu nghị giữa các quốc gia trong phạm vi quốc tế. Xét ý chính về nhiều phương diện khác nhau Ví dụ: Ý chính là sự xã giao thù tạc. Đặt ý chính trong nhiều phạm vi khác nhau Tình tương thân tương trợ trong phạm vi gia đình hay học đường.Phương pháp nghị luận một trường hợp đặc biệt. 4. từ đó có thể có những ý phụ như sau: Ví dụ: Ý chính là sự nói thật. CÁCH TÌM Ý PHỤ TỪ Ý CHÍNH 1. một lời khen. những bậc anh hùng tạo thời thế. thư từ.  Những nguyên nhân nào làm cho người ta hay nói dối. một lời khuyến khích đối với những ai có tài trí hơn người. quà tặng. từ đó có những ý phụ như sau:  Ích lợi của sự nói thật về hai phương diện đạo đức và mưu sinh lập nghiệp.  Những trường hợp ngoại lệ không nên nói sự thật: đối với bệnh nhân. 12 . II.

BÀI TẬP 1. Bình giải câu: “Tu là cõi phúc” Giải thích và bình luận câu: “Ôi gia đình là một học đường rất Bình luận câu: “Học đường là một gia đình” Aristote. Giải nghĩa câu: “Tập quán ban đầu là khách qua đường.” 3. 3. chúng ta có thể từ một ý chính suy ra nhiều ý phụ khác để chọn lựa thích hợp với từng đề tài. Ai sửa đổi sẽ trở nên hoàn thiện. sau trở nên một người bạn thân ở chung nhà. 2. Xét ý chính qua nhiều quan niệm hay học thuyết khác nhau Ví dụ: Ý chính là sự liên lạc giữa thầy và trò. 13 . từ những ý phụ vừa tìm thấy và sau khi đã chọn lựa kỹ càng. chúng ta có thể có những ý phụ như sau: Sự liên lạc giữa thầy và trò theo quan niệm cũ chịu ảnh hưởng của nho giáo. phương pháp học hỏi ở Đông phương và Tây phương giống và khác nhau ở điểm nào? 5. chúng ta có thể tìm ra những ý phụ khác tỉ mỉ. tốt. và kết cục biến thành một ông chủ nhà khó tính. 4. 2. Tình thân trong học đườn. cũng bằng cách tương tự. một triết gia Hy Lạp đã nói: “Một hành vi nhân đức không đủ làm thành đức. cũng như một con én không dủ làm thành mùa xuân.Phương Pháp Nghị Luận  Những tinh thần học hỏi. Hơn nữa. Gia đình là nơi dạy bài học căn bản. Đại để như trên.” Hãy giải thích câu nói trên. chi tiết hơn để có đủ TÀI LIỆU xây dựng một dàn bài. Sự liên lạc giữa thầy và trò theo quan niệm mới chịu ảnh hưởng tư tưởng tự do và bình đẳng của Tây phương. 5.” Ý chính của mỗi đề tài là: 1.

5. Bình giải câu “Trăm năm bia đã thì mòn. Quá trình hình thành tập quán. 14 . Giải thích tư tưởng cổ nhân: “Chớ thấy điều thiện nhỏ mà không làm. chớ thấy điều ác nhỏ mà làm”. phải lặp lại suốt đời.Phương pháp nghị luận 4.” Nhân dức là tập quán tốt. Bài tập Tìm ý chính của các đề tài sau đây: 1. vui thú không nên đến cực độ. Giải thích câu châm ngôn: “Lòng ham muốn không nên quá tự do. Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ. 3.” 2.

Xấu xa một nó” Cách nhập đề này gây được hứng thú bất ngờ. Một dàn bài gồm 3 phần: nhập đề. các nhân công càng dễ thực hiện và ngôi nhà càng chóng hoàn thành. thường áp dụng trong việc diễn thuyết. Khôn khéo mấy ai. Bố cục chặc chẽ. Nhập đề lung khởi là giới thiệu vấn đề một cách gián tiếp và bao quát. lập dàn bài được so sánh với việc vẽ hoạ đồ. tiếp.Phương Pháp Nghị Luận Chương III: PHƯƠNG PHÁP LÀM DÀN BÀI Trong việc xây ngôi nhà luận văn. làm sao cho người đọc không cần đọc qua đầu bài cũng hiểu được đầu bài muốn nêu lên vấn đề gì. thần bài và kết luận. có mục đích giới thiệu vấn đề với độc giả. PHƯƠNG PHÁP LÀM NHẬP ĐỀ Nhập đề nghĩa là gì? Nhập đề còn gọi là vào bài hay mở bài là phần đầu tiên của phần nghị luận. Ví dụ 1: Khi viết về “số mệnh”. b. Việc làm dàn bài giúp cúng ta:     I. Nguyễn Công Trứ đã nhập đề: “Chém cha cái khó. Có hai cách nhập đề: a. nhưng trong bài luận văn thường khó làm hay được. Lập luận vững vàng. nhà văn Dương Minh đã nhập đề như sau: 15 . Hoạ đồ càng tỉ mỉ. Nhập đề trực khởi là giới thiệu vấn đề một cách trực Ví dụ: trong bài “Hàn nho phong vị phú”. Chém cha cái khó. 1. Phân phối cân đối và hợp lý.

uống rượu. Có nhiều mào đề như chúng ta sẽ nói phần sau. Muốn biết cái lý thú của văn chương thì trước hết phải biết cái hay của văn chương. sát đề và bao quát. chơi cung cảnh… Tuy là một cách tiêu khiển nhỏ nhặt. không vội đi vào chi tiết của thân bài. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ về cách nhập đề lung khởi này: 2. đủ ý. Phàm về các cuộc chơi của thiên hạ. mà nghề chơi lại thanh nhã. Văn chương cũng là một nghề chơi. Nêu đề: Giới thiệu chủ đề.Phương pháp nghị luận  Nhiều người không tin ở sự cố gắng của cá nhân. Cách nhập đề lung khởi Một nhập đề lung khởi đúng nghĩa và đầy đủ gồm 3 phần: a. như đánh cờ.  Vậy số mệnh là gì? Có số mệnh không? Và sự cố gắng của con người có ảnh hưởng gì? Ví dụ 2: Luận về lý thú văn chương.  Những người ấy quá tin ở số mệnh. b. nhà văn Phan Kế Bình viết: a. chuẩn bị giới thiệu chủ đề. cuộc nào cũng có một lý thú riêng. nhưng ngẫm ra thì cũng đều có một lý thú. lại hữu dụng. nhất là không phê bình giá trị của vấn đề. nghĩa là không vội cho đáp số trước khi làm bài giải (choán ý của kết luận). Báo đề cần: 16 .  Giới thiệu nguyên ý không dùng ngoặc kép. Mào đề: Gồm một câu hay một ý liên quan đến chủ đề. không cậy ở sức liên hiệp của đoàn thể mà chỉ trông ngóng về trời đất. b. gảy đàn. c. Đó là những đoạn nhập đề kiểu mẫu có đủ những phẩm tính cần thiết đúng với cái trò của nó là: ngắn gọn. Có 2 cách nêu đề:  Giới thiệu nguyên văn câu nói trong ngoặc kép. c. Báo đề (hay chuyển đề): Báo cho người đọc biết công việc sẽ làm ở phần thân bài. cho nên cái lý thú cũng to hơn các cuộc chơi khác.

” Ý chính: Sau khi chết người ta vẫn để lại tiếng tốt hay tiếng xấu.” Phải chăng sau khi chết. Nêu đề: Vì thế tục ngữ có câu: “Có công mài sắt có ngày Báo đề: Trong bài tiểu luận sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu Nhập đề kiểu tương phản Mào đề nói ngược lại với chủ đề để nhấn mạnh vấn đề chính sẽ giới thiệu. chúng ta có nhiều cách nhập đề lung khởi như sau. Trong cuộc đời tranh đấu. nên kim. 2. tục ngữ có câu: “Có công mài sắt có ngày nên kim. b. Ví dụ: (Giải thích) câu “Có công mài sắt có ngày nên kim. Tuỳ theo mào đề thay đổi. a. Để khuyến khích những người nản chí ấy. Người đời thường nói: “Chết là hết chuyện”: cửa cao nhà rộng công danh phú quí thật chẳng khác gì giấc chiêm bao. người ta chết để tiếng. Nhưng chết có hết thật không vì tụ ngữ lại có câu: “Trâu ….  Dựa vào câu hỏi phụ nếu có. Mào đề: Trong cuộc đời tranh đấu. Nhập đề kiểu tương đồng Mào đề dựa vào ý chính của đề tài. Ví dụ 1: Cùng với đề tài trên. để tiếng.Phương Pháp Nghị Luận  Dựa vào loại đề. b.” c. câu nói trên. 1. b. nhập đề tương phản sẽ là: a. nhiều người thiếu bền chí và cố gắng đã phải bỏ việc nửa chừng.” Ví dụ 2: Bình luận câu tục ngữ: “Trâu chết để da.” a. dư âm của đời người vẫn còn mãi? 17 . bền chí và cố gắng là điều kiện cần thiết để đạt tới những kết quả tốt đẹp.

học sinh đi học… ai cũng lo làm việc để mưu sinh và xây dựng tương lai. theo đại văn hào Voltaire. chỉ trách người là vụng” Nhập đề kiểu suy diễn Mào đề đi từ nguyên lý chung đến các trường hợp riêng trong cuộc sống. Chuyển đề: Hơn nữa. sự làm việc còn xua đuổi xa ta ba mối hoạ lớn là: buồn nản.” Chúng ta phải áp dụng câu nói trên trong đời sống học sinh như thế nào? c. công chức đi làm. và túng cực. b. Giải thích câu: “Quốc gia nào cũng cần có nhiều bàn tay đen và lương tâm trắng. thói hư và túng cực. thói hư. và có giá trị thế nào. c. Làm nhập đề kiểu tương đồng Trình bày những ích lợi của thú đọc sách. Giải thích câu: “Thua thầy một vạn không bằng kém bạn một ly. chúng ta cùng nhau tìm hiểu BÀI TẬP Sau này bạn sẽ chọn nghề gì? Tại sao bạn lại chọn nghề ấy? *** 18 . chúng ta sẽ tìm hiểu và đánh giá câu nói trên.” b.” a. kẻ đi buôn. Báo đề: Tư tưởng trên đây có đúng không. 2. a. BÀI TẬP 1. Giải thích câu: “Uống nước nhớ nguồn.” Làm nhập đề kiểu tương phản a. b. Mào đề: Làm việc là định luật tự nhiên của con người trong xã hội (nguyên lý chung): người làm việc.Phương pháp nghị luận c. Ví dụ: Bình giải tư tưởng sau đây của Voltaire: “Sự làm việc xua đuổi xa ta ba mối hoạ lớn: buồn nản. Sau đây. 3. “Biết trách mình là khôn.

b.Phương Pháp Nghị Luận 4.” 19 Vậy sự kiện đó đem lại những lợi ích gì? . Sống xa cách nhau. Ví dụ: Người ta thường giữ ảnh bạn bè hay người thân thuộc để là kỷ niệm. BÀI TẬP Sự trang điểm có làm tăng giá trị con người không.” a. Sự kiện đó đem lại những ích lợi gì? a. “hùng”là một loài thú dũng mãnh. “Anh hùng”. khi đi ra ngoài chúng ta có bổn phận phải trang điểm không? *** 5. Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi. hai chữ đã làm cho bao người mơ tưởng! Theo nghĩa đen. b. “anh” là thứ cỏ thơm. bạn bè hay thân thuộc thường gửi cho nhau những tấm hình để tỏ tình lưu luyến nhớ nhung (những trường hợp riêng). Hai chữ anh hùng họp lại để chỉ những bậc hơn hẳn các người đồng thời với mình. Nhập đề kiểu qui nạp Là đi từ những trường hợp riêng trong cuộc sống tới nguyên lý chung. Nhập đề bằng định nghĩa Thường áp dụng khi đề tài có những danh từ Hán Việt mà ý nghĩa của chúng cần được xác định rõ trước khi bàn luận. Đề cao hai chữ anh hùng. Hai người thân thuộc sắp xa nhau cũng rủ nhau đi chụp hình. ca dao có câu: “Ở đời muôn sự của chung. thú trung chi hùng”. Ví dụ: Bình luận câu ca dao: “Ở đời muôn sự của chung. Hai người bạn mới quen nhau thường rủ nhau đi chụp ảnh. ý nói: thứ cỏ thơm trong các loài cỏ. Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi. Sách Nho có câu: “Thảo trung chi anh. thứ thú dũng mãnh trong các loài thú. c. Việc giữ ảnh bạn bè hay người thân thuộc để làm kỷ niệm đã trở thành một sự kiện xã hội rõ rệt và ngày càng phát triển.

Trong bài “Chí mạo hiểm” trích trong tập “Lời khuyên học trò”. đồng thời cũng thường giữ địa vị cao trong xã hội. quân tử là người có đức hạnh hơn người khác. cư xử tử tế với hết mọi người. cổ nhân có câu: “Người quân tử dè dặt ở lời nói và nhanh nhẹn trong việc làm. giới thiệu tác phẩm hay tác giả Loại này thường được áp dụng khi gặp các đề tài văn chương văn học. mà khó vì lòng người ngại núi e sông.” Câu ấy có nghĩa gì và chúng ta phải có nhận định thế nào với tư tưởng ấy? 6. Bài tập: Bình giải hai câu thơ sau đây của Nguyễn Du: 20 .Phương pháp nghị luận c.” Nhập đề: Đọc văn Nôm bình luận của nước nhà chúng ta không thể quên Nguyễn Bá Học. có lòng nhân từ bác ái. Nhưng người quân tử là người như thế nào? Theo nghĩa thông thường. giải nghĩa hay phê bình tư tưởng hoặc danh nhân nào.” Bài làm Sách vở thường nói đến người quân tử. Tác giả có lời văn giản dị mà đanh thép. có khuynh hướng đạo lý rõ rệt trong những tác phẩm để lại. Nếu còn hồ nghi. có liên quan đến một tác phẩm hay tác giả. hoặc các đề luân lý phổ thông. Chúng ta hãy giải thích và phê bình câu trên để có thể rút ra bài học trong cuộc sống hàng ngày. ông đã viết: “Đường đi khó… ngại núi e sông. không khó vì ngăn sông cách núi. tốt hơn là nên tìm cách nhập đề khác. tác phẩm hay tác giả. Bài tập Bình giảng câu: “Người quân tử dè dặt ở lời nói và nhanh nhẹn trong việc làm. Nhập đề bằng cách giới thiệu nguồn gốc đề tài.” Chúng ta hãy tìm hiểu tư tưởng này để biết cách ứng dụng trong cuộc sống. Thực ra quân tử còn là người có tài năng và kiến thức hơn người khác. Nhận xét về người quân tử. Ví dụ: Giải nghĩa tư tưởng của Nguyễn Bá Học: “Đường đi khó. Ta chỉ nên làm loại nhập đề này khi biết tường tận những điều muốn nói về nguồn gốc đề tài.

danh vọng. Nhập đề kiểu tương đồng Nghĩ về các liệt sĩ hy sinh và đất nước. Con người là một vật hữu sinh.” Nhập đề: Ai đã đọc thi phẩm của Nguyễn Du đều biết đến “Đoạn Trường Tân Thanh” một truyện dài bằng thơ tuyệt tác trong thi ca Việt Nam. tiền tài… lúc chết cũng chẳng đem theo được. ngày nay có người đã nhờ đến khoa học để tiếp hạch. Nhập đề kiểu suy diễn Trường sinh bất tử vốn là cái mộng của loài người. thi sĩ Tố Như đã viết: “Trăm năm trong cõi người ta. CHÚ Ý: Để giúp chúng ta hiểu thật rõ các kiểu nhập đề vừa trình bày ở trên. hữu tử.” c. a.” Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu và nhận xét câu nói trên.Phương Pháp Nghị Luận “Trăm năm trong cõi người ta. một thi sĩ Pháp đã viết: “Chết cho tổ quốc… ” Chúng ta cùng tìm hiểu và nhận định tư tưởng trên. nhờ bảo hiểm nhân thọ để đề phòng bất trắc. sau đây là một ví dụ khác: Một đề tài có thể nhập đề bằng nhiều cách khác nhau: Ví dụ: Một thi sĩ Pháp đã viết: “Chết cho tổ quốc không phải là một chuyện rủi ro mà tự nhiên làm cho mình thành bất tử bằng một cái chết đẹp đẽ. Nhập đề kiểu tương phản Tục ngữ có câu: “Chết là hết”: giàu sang. Ngày xưa bao người đã khổ luyện phép tu tiên. Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Thời gian sẽ xoá nhoà tất cả. b. cố gắng giữ vệ sinh để tránh bệnh tật… nhưng có 21 . Nhân loại đã tìm hết cách để kéo dài đời sống. Tuy nhiên cũng có hạng người bất tử. có những cái chết hoá thành bất tử… ” cũng trong tâm tình thán phục ấy. Để mở đầu cho tác phẩm. mà lại trở thành bất tử nhờ một cái chết. nhà thơ Tố Hữu của Việt Nam đã ca ngợi: “Có những phút làm nên lịch sử.” Hãy giải nghĩa và phê bình ý tưởng trên. như một thi sĩ Pháp đã viết: “Chết cho tổ quốc. từ chỗ hư vô rồi lại trở về cõi hư vô. Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

vĩ nhân. Nhưng có những người khôn ngoan đã khéo đi tìm cái chết của mình một ý nghĩa. muôn đời nhân loại không ai tránh nỗi.. ” e. ” CHÚ Ý: Ngoài sáu kiểu căn bản ta cũng có thể:  Nhập đề bằng một biến cố thời sự nổi tiếng Ví dụ: Tìm hiểu các lợi hại của khoa học không gian.. Trong vở kịch “Le Cid” đã được dịch sang Việt ngữ là tuồng “Lôi xích”. Spoutnik 1 đã hé mở một thời đại không gian vô cùng hào hứng. tác giả Trong các thi sĩ cổ điển Pháp thế kỷ 17. 22 . vì những câu ca dao được phổ biến ở nước ta.. Liên xô phóng vệ tinh Spoutnik 1 vào quỹ đạo địa cầu. với các cuộc chạy đua ào ạt giữa hai khối Tư bản và Cộng sản. có một vị đã nổi danh vì những tác phẩm bi hùng kịch.  Ngày 4.1957.. bất tử ở đây chỉ có nghĩa là được người đời nhớ ơn.10. như lời một thi sĩ Pháp đã viết: “Chết cho tổ quốc… ” d. Một em bé vừa lọt lòng mẹ đã vội vã lìa đời. Chàng thanh niên kia mới công thành danh toại. một nhà viết kịch trứ danh đã nêu lên trong những tác phẩm của ông những tâm hồn cao thượng. Cái chết đã trở nên qui luật. là sống mãi trên dương gian? Không.Phương pháp nghị luận lẽ có một cái làm cho mình bất tử hiệu nghiệm hơn. đã dùng cái chết như cánh cửa mở vào cõi trường sinh bất tử. văn hào thi bá là những người bất tử. Nhập đề bằng định nghĩa Người ta thường nói các bậc anh hùng. Nhưng thế nào là bất tử? Bất tử đây phải chăng là không bao giờ chết. Cụ già nọ đang hưởng nhàn bên đàn con cháu bỗng được tử thần mời về chầu tổ tiên. ông có viết: “Chết cho tổ quốc. như một thi sĩ người Pháp đã viết: “Chết cho tổ quốc. Nhập đề bằng cách giới thiệu tác phẩm. Nhập đề kiểu qui nạp. Theo định nghĩa ấy một thi sĩ Pháp đã viết: “Chết cho tổ quốc… ” f. nhắc nhớ tới luôn. đó là Corneille. làm cho cả thế giới kinh ngạc và phe Tư bản thực sự choáng váng. đó là hy sinh tính mạng cho tổ quốc. đáng làm gương cho hậu thế noi theo. đã bị cơn gió độc đưa về chín suối.

2. hoàn toàn tin sách là gì? Điều đó có hại chi? Và ta phải có thái độ nào khi đọc sách? (kiểu Suy diễn – Tương phản) II. Thân bài phải có sự tăng mạnh dần về lí luận. c. từ gần ra xa.  Phối hợp các kiểu Nhập đề. việc lập luận dễ trở thành lỏng lẻo. chẳng hạn như: Quy nạp + Tương đồng. b. từ thấp lên cao. Là phần giữa của bài nghị luận. những lí lẽ vững chắc được trình bày sau. Thân bài phải sát đề nghĩa là những ý tưởng trình bày trong phần thân bài phải liên quan đến ý chính của đề bài. Thân bài là gì? Thân bài hay còn gọi là “lung đề”hay diễn đề là phần mở rộng chủ đề bằng những lời lẽ giảng giải. Sách là kinh nghiệm của nhiều thế hệ hun đúc lại. Một văn hào đã nói “Một cuốn sách hay là một người bạn tốt”. nhưng Mạnh Tử lại bảo “Hoàn toàn tin sách thà chẳng có sách còn hơn” (Tận tín ư thư bất vô thư). Vậy theo nhà hiền triết ấy. Bài làm như vậy dễ gây hứng thú cho người đọc. thân bài có nhiệm vụ tiếp theo ý của phần nhập đề chuyển xuống và dọn đường cho việc chuyển ý xuống phần kết luận. Trên lý thuyết. từ xưa đến nay…) nếu không thân bài sẽ lộn xộn thiếu mạch lạc. Suy diễn + Tương phản… Ví dụ: Muốn tiến bộ chúng ta cần phải học tập. thân bài phải đáp ứng những tiêu chuẩn nào? a. 23 . sau đây chúng ta cần tìm hiểu. Học ở nhà trường. PHƯƠNG PHÁP LÀM DÀN Ý – THÂN BÀI 1. không được lan man nói xa đề hay lạc đề. Thân bài phải có trật tự nghĩa là những ý tưởng trình bày ở đây phải theo một thứ tự nào đó (Ví dụ: Từ trước đến sau.Phương Pháp Nghị Luận  Cuộc tranh tài cao thấp đó đã diễn tiến ra sao và đã đem lại lợi hại gì cho toàn thể nhân loại. học ở trường đời cũng như học ở sách vở. lập luận và dẫn chứng để làm sáng tỏ ý chính của đề bài. những lí lẽ nhẹ nhàng được trình bày trước.

phần này có thể đưa vào kết luận. Lập luận. a.  Loại đề so sánh  Tìm những điểm giống nhau (tương đồng)  Tìm những điểm khác nhau (dị biệt)  Tìm những điểm liên quan với nhau (tương quan) 24 . nghĩa hẹp. dùng một bố cục tổng quát để đáp ứng chu cầu của đề ấy. Trong thực hành ta phải làm những công việc gì? Về hình thức Chúng ta căn cứ vào mỗi loại đề. nghĩa rộng).  Phần đúng (còn gọi là chính đề hay chủ thuyết)  Phần sai sót (còn gọi là phản đề hay khách thuyết)  Dung hòa (còn gọi là tổng đề hay hợp thuyết) Gồm cả ba phần trên. nghĩa bóng.  Loại đề trình bày  Trước hết vạch rõ những lý do thấp gần. Lập luận.Phương pháp nghị luận 3.  Sau hết tiến tới những lẽ cao xa hơn nữa. Dẫn chứng.  Tiếp theo nói đến những lí lẽ cao xa.  Dẫn chứng cho đúng.  Lập luận cho vững.  Loại đề giải thích  Giải nghĩa cho rõ (nghĩa đen. Giải thích.        Loại đề bình luận Giải nghĩa. Dẫn chứng.

chúng ta cần phải tìm cách trả lời thêm câu hỏi phụ ấy. Về nội dung Sau khi đã tìm được ý chính và các ý phụ (xem chương II).Phương Pháp Nghị Luận Chú ý:  Nếu đề thuộc loại tổng hợp. thì sau khi dùng bố cục đúng loại đề rồi. Mẫu 1 Cá nhân Gia đình Tổ quốc Xã hội Mẫu 5 Vật chất Tinh thần Mẫu 2 Thể chất Tinh thần Đạo đức Mẫu 6 Lợi Hại Mẫu 3 Quá khứ Hiện tại Tương lai Mẫu 7 Xưa Nay Mẫu 4 Chân Thiện Mỹ Mẫu 8 Đông Tây Cũng có thể phối hợp các mẫu ấy khi cần Ví dụ đề ra: “Có nên chê trách các trò chơi thể thao không?” Cách làm dàn ý phối hợp mẫu 2 và mẫu 6:  Lợi của thể thao    Về phương diện thể chất Về phương diện tinh thần Về phương diện đạo đức 25 . chúng ta có thể lựa chọn một trong những mẫu sau để trình bày cho thứ tự. b. ta phải phối hợp hai bố cục: Ví dụ: giải thích và trình bày.  Nếu đề có hai hoặc ba chủ điểm thì chúng ta phải coi đó như hai hoặc ba đề luận kết hợp lại.  Nếu đề có câu hỏi phụ.

How (thế nào).” Bình luận câu tục ngữ: “Cha nào con nấy. 4. 2. có câu chẳng đưa tới đâu. Giải thích cây tục ngữ: “Uống nước nhớ nguồn. Who (ai). tìm ra chi tiết cho lí luận và nhiều khi cũng có thể giúp ích. nhưng đó là phương pháp đại cương để đào sâu vấn đề. 3. cho người Kim Trọng? Chỗ nào đúng? Chỗ nào sai? Không phải đề nào cũng có thể trả lời hết các kiểu câu hỏi ấy. Để giúp đào sâu vấn đề. BÀI TẬP Chọn những mẫu thích hợp cho các đề sau đây rồi làm dàn bài sơ lược: 1.” Ta đặt những câu hỏi:  Ai nói câu ấy?  Nói ở lúc nào trong truyện Kiều?  Câu ấy nghĩa là gi?  Tại sao Kim Trọng nói cây ấy?  Có thể áp dụng câu ấy như thế nào chơi đời Kiều. BÀI TẬP MẪU Bạn hãy đọc kỹ cá phần quảng diễn sau: 26 .Phương pháp nghị luận  Hại của thể thao    Về phương diện thể chất Về phương diện tinh thần Về phương diện đạo đức c.” Trình bày lợi hại của vô tuyến truyền hình. ta cũng có thể tự đặt ra những câu hỏi theo phương pháp W của nhà văn R. When (khi nào). Ví dụ: Bình giảng tư tưởng: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều. Why (tại sao). So sánh công bình và bác ái.Kipling: What (cái gì).

đi diễn thuyết đó đây. nhưng nếu ta quyết tâm bền chí và gắng sức thục hiện thì cũng sẽ đạt được kết quả mong muốn. 27 . Trình Tử sở dĩ trở nên bậc đại hiền. Cao hơn nữa. nhưng nhờ quyết chí ngậm sỏi gào thét hàng ngày ngoài bãi biển. và nhờ đó bộ mặt thế giới đã hoàn toàn đổi mới. bền gan kháng chiến đều là những gương sáng trong sử sách. Suy rộng ra. tinh vi và hữu ích. nhưng đã quyết chí gắng công tập luyện lâu ngày thì cũng có thể nên người tráng kiện. về sau ông đã trở thành nhà hùng biện trứ danh của Hy lạp.Phương Pháp Nghị Luận CHỦ ĐỀ 1: CÓ CÔNG MÀI SẮT CÓ NGÀY NÊN KIM. thì cũng trở nên người thành đạt. sắt cũng có thể thành được cái kim bé nhọn. Một quốc gia trở nên hùng cường cũng nhờ toàn dân cương quyết đấu tranh vượt mọi trở lực. Một gia đình nếu mọi người đồng tâm hợp lực và quyết chí xây dựng thì có thể từ nghèo khó dần dần trở nên giàu có được. người muốn trau dồi đạo đức cũng cần bền lòng vững chí mới được. đó là trường hợp của một lực sĩ đã đạt huy chương vàng trong thế vận hội năm 1964: Vốn là một người mang bệnh tê liệt.” Ngày nay. Một người dù thân thể gầy yếu. Sau ông thi đậu giải nguyên. nhưng nhờ công phu học tập. nhưng nếu ta bền chí sách đèn. tuy biển học mênh mông. “Anh học trò kiết chùa Long Tuyền Ai ngờ nay đã đỗ giải nguyên. cô đã trở thành một giáo sư nổi tiếng. Lê Lợi chịu đựng gian khổ. Sắt là kim loại rất cứng. nhưng nếu được mài giũa cẩn thận và lâu ngày. Ngày xưa Châu Trí nhà nghèo mà chăm học lắm. người đời có thơ khen. một thiếu nữ đã trở thành lực sĩ về môn chạy đua. Việt Vương Câu Tiễn nằm gai nếm mật nuôi chí phục thù. Desmosthene bị tật nói lắp từ nhỏ. Về phương diện tinh thần cũng thế. các công cuộc xây dựng lớn lao cũng vậy. nhưng nhờ kiên nhẫn tập luyện. cũng là nhờ ông đã kiên nhẫn dùng hai bình đỗ đen đỗ trắng để kiểm điểm và tự sửa tính hạnh mỗi ngày. dù cho công việc khó khăn đến đâu. Helen Keller tuy bì mù từ thuở nhỏ. hàng đêm phải đốt lá đa thay đèn đọc sách. Việc đời cũng vậy. Cũng nhờ chí nhẫn nại mà Kha-luân-bố đã tìm ra Mỹ Châu.

bạn hãy trả lời câu hỏi sau: 1. Đề luận này thuộc loại giải thích. “Ngày xưa… đó đây” Đạo đức: Lập luận: “Cao hơn… mới được” Dẫn chứng: “Trình Tử… mỗi ngày” Phạm vi gia đình. Giải thích Nghĩa đen: “Sắt là… hữu ích” Nghĩa bóng: “Việc đời… mong muốn” Lập luận và chứng minh Thể chất: Lập luận: “Một người… tráng kiện” Dẫn chứng: “Đó là… của Hy lạp” Tinh thần: Lập luận: “Về phương diện… thành đạt” Dẫn chứng. 2. xã hội  Phạm vi cá nhân Gia đình: Lập luận và dẫn chứng. tổ quốc.   b. “Suy rộng… có được” Tổ quốc: Lập luận và dẫn chứng: “Một quốc gia… sử sách” Xã hội: Lập luận và dẫn chứng: “Cũng chính… đổi mới” 28 .          c. Cho biết đề luận này thuộc kiểu nào? 2. Dàn bài chi tiết a.Phương pháp nghị luận Sau khi đọc kỹ phần quảng diễn trên. Phân tích phần quảng diễn thành một dàn bài chi tiết và chỉ rõ giới hạn của mỗi tiểu đoạn? BÀI LÀM 1.

người ta đoán được hình vóc của cha mẹ chúng. đúng như ca dao Việt Nam có câu: “Con ai mà chẳng giống cha. cha mẹ gian xảo thì con cái tránh sao khỏi lưu manh độc ác. Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp đã không hổ thẹn là con trai văn hào Nguyễn Văn Vĩnh. quai nhà nấy” là thế. Con trai ông là Mai Sinh cũng hăng hái tán thành ý cha. Con cái các lực sĩ hay võ tướng thường có sức mạnh hơn người. Ai cũng phải công nhận có sự di truyền huyết thống và ảnh hưởng giáo dục của cha mẹ đối với con cái. Trái lại cha mẹ nhân đức thì con cái lo gì không hiền lành. Người đời thường nói “Giỏ nhà ai. gương đức hạnh của cha ông thường thể hiện qua tư cách đối xử với con cháu. tinh thần đạo đức. học lực uyên bác thường sinh con khôi ngô. con cái quả là hình ảnh khá trung thực của cha mẹ. về phương diện thể chất. Trước thái độ ấy. Phải chăng thân phụ ông. Khéo thay tính trẻ cũng y tính già” Xem thế. Nói rõ hơn.” Cao hơn nữa. Thật vậy. Cháu ai mà chẳng giống bà giống ông” 29 . Về phương diện tinh thần cũng vậy. cả hai cha con ông đều nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đức ngạn hầu Nguyễn Tấn là một võ tướng dưới triều Lê? Nhìn sức khỏe con cái. đơn giản nhưng hàm chứa một ý nghĩa sâu sắc. Nguyễn Công Trứ suốt đời vùng vẫy lúc tuổi ngoại thất tuần vẫn còn tráng kiện.Phương Pháp Nghị Luận CHỦ ĐỀ 2: CHA NÀO CON NẤY Câu tục ngữ nói trên tuy ngắn gọn. Mai Bá Cao đã phải khen ngợi con. Cha mẹ thông minh. dù có lâm vào nguy hiểm cũng không sờn. học tập xuất sắc. “Mới hay hổ phụ lân nhi. Nếu cha mẹ nghiện ngập trác táng thì tránh sao con cái khỏi gầy yếu ẻo lả được. nếu cha mẹ có những ưu khuyết điểm nào thì con cái cũng thường có những ưu khuyết điểm tương tự. cha mẹ thân hình cao lớn vạm vỡ thường sinh con bụ bẫm mạnh khỏe. Thật là “Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh. Trong tác phẩm “Nhị độ mai” Mai Bá Cao khí phách hiên ngang quyết đương đầu với quyền gian.

Trong lịch sử cổ kim Đông Tây. một người vô tài và gàn dở. phải chăng câu tục ngữ Tây phương nói trên hoàn toàn xác đáng và có giá trị tuyệt đối? Nói cách khác.Phương pháp nghị luận Tuy nhiên. Hôn quân Cảnh Thịnh. trường hợp này không phải là hiếm Bạn đọc hãy đọc kỹ phần quảng diễn trên và trả lời những câu hỏi sau: 1. Đoạn phê bình trong phần quảng diễn này có tính cách chỉ trích. BÀI LÀM MẪU A. a. Giải nghĩa (giải thích): Có sự di truyền huyết thống và ảnh hưởng của giáo dục của cha mẹ đối với con cái 2. PHẦN ĐÚNG 1. Napoleon II vô tài trời Tây đều là con cháu không xứng đáng với sự nghiệp oai hùng hiển hách của cha ông. Lập luận và dẫn chứng Phương tiện bật thể chất  Lập luận: Con cái thường giống cha mẹ về thân hình và thể lực  Dẫn chứng: Nguyễn Công Trứ con tướng Nguyễn Côn Tấn. Căn cứ vào phần quảng diễn. ám chúa Lưu Thiện bên trời Đông. Hệ quả: Nhìn sức khỏe con cái đoán được sức khỏe cha mẹ Dẫn chứng: “Giỏ nhà ai. Đối với hạng con cháu ấy. anh hùng xuất thân từ những gia đình cha mẹ tầm thường: vua Thuấn. quai nhà nấy” 30 . Mặt khác. ở đời “hổ phụ” nào cũng sinh “hổ tử” cả chăng? Trong lịch sử nhân loại chúng ta thấy: biết bao vĩ nhân hào kiệt mà con cháu lại nhu nhược tầm thường. bậc chí hiếu nổi danh “thánh chúa” trong lịch sử Trung Hoa lại là con ông Cổ Tẩu. lại có những bậc thánh hiền.hạn chế hay bổ túc. hãy lập thành một dàn ý chi tiết “xuôi chiều” 3. Cho biết đề luận này thuộc loại nào? 2. tục ngữ Trung Hoa có câu: “Hổ phụ sinh khuyển tử”. Louis XV nổi tiếng ăn chơi.

Phương diện đạo đức  Lập luận: Có những bậc thánh hiền xuất thân từ Cha mẹ tầm thường.Phương Pháp Nghị Luận b.  Dẫn chứng: vua Thuấn là con ông Cổ Tẩu. Phương diện tinh thần Lập luận: Cha mẹ thông minh thường sinh con cái học giỏi Dẫn chứng: Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp con trai thi hào Nguyễn Văn Vĩnh c.” Tóm tắt phần đúng: Con cái quả là hình ảnh khá trung thực của cha mẹ “Con ai mà chẳng giống cha. PHẦN HẠN CHẾ Câu tục ngữ trên không hoàn toàn xác đáng Đặt vấn đề của việc hạn chế. Cháu ai mà chẳng giống bà.  Dẫn chứng: Mai Sinh con của Mai Bá Cao khẳng khái trong tác phẩm “Nhị độ mai. Phương diện đạo đức  Lập luận: Gương đức hạnh của Cha ông thường thể hiện qua tư cách đối xử của con cháu. Phương diện thể chất và tinh thần  Lập luận: nhiều vĩ nhân hào kiệt mà con cháu nhu nhược tầm thường  Dẫn chứng: Cảnh Thịnh. Lưu Thiện. 1. CHỦ ĐỂ 3: CÔNG BÌNH VÀ NHÂN ÁI 31 . một người gan dở Tóm tắt hạn chế: Những trường hợp con không giống cha cũng thường thấy trong lịch sử. Tục ngữ Trung Hoa có câu “Hổ phụ sinh khuyển tử” 2. giống ông” B. Napoleon II. Louis XV.

sách Phật cũng có câu khuyên ta nên “Dĩ đức báo oán. công bình là đồng đều bằng nhau theo đúng lẽ phải chung. ta không làm điều nhân ái.” Còn nhân ái là tình yêu thương giữa người với người. Nói rõ hơn. hai đức tính ấy cũng không phải là không có những điểm khác biệt. Đối với kẻ thù. công bình thuộc về lý. công bình là nguyên tắc minh định phân sự mỗi phần tử trong xã hội. Như vậy. vật thi ư nhân. Người hiểu lẽ công bình không xâm phạm tính mạng. Để nhắc nhở người đời nên có lòng nhân ái. không phân biệt giàu nghèo. thì cũng không có tòa án nào xét xử trừng phạt ta. Thật vậy. Sách Nho có câu: “Kỷ sở bất dục. giúp đỡ đồng loại. Trái lại. Tuy nhiên. giúp đỡ kẻ khốn cùng và tha thứ kẻ lầm lỗi. Nói rõ hơn nhân ái là phương châm xử thế.Phương pháp nghị luận Theo nguyên nghĩa. không ai có quyền và cũng không có luật lệ nào buộc ta phải giúp đỡ kẻ khó. Ai vi phạm các điểm ấy thường không tránh khỏi bị trừng phạt và bồi thường cho những người bị thiệt hại. tự giác. Người giàu lòng nhân ái thường hy sinh công của để xoa dịu nỗi khổ đau của đồng loại và rộng lượng khoan dung cho kẻ thù nghịch. nhân ái thuộc về tình. Để khuyên ta theo lẽ công bình. Kinh Thánh có câu: “Hãy là cho người khác điều gì con muốn người được người khác làm cho con”(Mt. màu da hay chủng tộc. phải tha thứ kẻ thù. 12). tự do của ai. Bổn phận mỗi người là tôn trọng quyền lợi vật chất và tinh thần của người khác. công bình và nhân ái là hai phạm vi và có những tính chất khác biệt hẳn nhau: một bên thuộc về luân lý.7. Nguyên tắc này thường được qui định thành luật lệ có tính cách cưỡng bách. Nguyên tắc công bình định rõ những việc được làm và những việc không được làm. Phương châm này chỉ có tính cách khuyến khích cà tự nguyện. nếu không nói là nghịch với nhau. chỉ có tính cách tự nguyện 32 . khuyến khích mọi người nên thương xót kẻ yếu đuối. Nếu vì một lẽ gì. ngoại trừ lương tâm ta tự căn rứt mà thôi.” Vì nếu lấy oán báo oán thì oán chất chồng lên còn lấy đức báo oán thì oán sẽ tiêu tan. Xem thế công bình và nhân ái đề là những đức tính căn bản cần thiết cho sự ổn định trật tự xã hội và đem lại niềm vui hạnh phúc cho nhân loại. tài sản và không làm tổn thương danh dự.

hai đức tính ấy lại có mối tương quan thật là mật thiết. Câu hỏi: Đọc kỹ phần quảng diễn trân và trả lời những câu hỏi sau. 33 Bài Làm . Vì vậy. trật tự và yên vui. sống với nhau phải có lòng thương yêu giúp đỡ và tha thứ cho nhau thì cuộc sống mới thêm tươi đẹp. Vì thế tránh sao khỏi những kẻ lợi dụng lòng nhân ái của người khác mà sinh ra lười biếng ỷ lại và phóng túng trên đường tội lỗi. không thể thiếu lòng nhân ái được. người hoạn nạn không ai an ủi. độc ác và tàn nhẫn. Quả thế nếu không có lòng nhân ái. thì không phải là không gây ra những điều tai hại. người có công sẽ bị bỏ quên và kẻ có tội không bị trừng phạt. a. Tuy vậy. một bên để phát triển và nâng cao đời sống nhân bản. người lỗi lầm không ai khoan thứ… một xã hội như thế sẽ trở thành ích kỷ. Vì vậy. một bên là điều kiện cần thiết để củng cố tổ chức xã hội. người nghèo khổ đói khát sẽ bị bỏ rơi. 2. Nhưng nếu quá thiên về tình cảm mà không chí trọng lẽ công bằng. Nhưng nếu xã hội chỉ chú trọng và triệt để theo đúng lẽ công bằng mà lãng quên lòng nhân ái. ai cũng nhận thấy trong một xã hội. một xã hội yên vui. quyền lợi tinh thần và vật chất của mọi người đều được tôn trọng và điều hòa theo lẽ phải chung. công bình và nhân ái phải đi song song và bổ túc cho nhau. muốn xã hội công bình. 1. thì cũng có nhiều tai hại khác: không đúng theo lẽ công bằng thì kỉ luật không được duy trì. Sống ở đời là sống với kẻ khác.Phương Pháp Nghị Luận còn một bên nằm trong phạm vi pháp luật và có tính cách cưỡng chế thi hành. Do đó. Đề luận thuộc loại nào? Làm một dàn ý thân bài Định nghĩa công bình và nhân ái Công bình là đồng đều bằng nhau theo đúng lẽ phải chung. nếu mọi người theo đúng lẽ công bình thì không ai xâm phạm của ai. 1.

Điềm tương đồng: Công bình và bác ái là 2 đức tính căn bản cần thiết cho sự ổn định trật tự xã hội và đem lại hạnh phúc cho nhân loại  Công bình: Không xâm phạm quyền lợi kẻ khác (tiêu cực). quy định thành luật cưỡng bách. c. vi phạm bị trừng phạt. Dị biệt  Công bằng thuộc về luân lý. Tương quan mật thiết  Công bằng thiết nhân ái: Xã hội trở thành ích kỷ.  Nhân ái thuộc về tình. Vi phạm không ai xét xử trừ lương tâm. So sánh công bình và bác ái a. Nhân ái là tình yêu thương giữa người với người. không phân biệt giàu nghèo. có tính cách tự nguyện. Tóm tắt phần tương quan III.” Tóm tắt phần tương đồng b. lòng nhân ái bị lạm dụng. tha thứ kẻ lỗi lầm (tích cực)  Kinh Thánh: “Hãy làm cho kẻ khác điều con muốn kẻ khác làm cho con.”  Sách phật: “Dĩ đức báo oán. 2. màu da hay chủng tộc. Tóm tắt phần dị biệt. PHƯƠNG PHÁP LÀM KẾT LUẬN 1. vật thi ư nhân”  Bác ái: Giúp đỡ đồng loại. “Kỷ sở bất dục. Kết luận là gì? 34 . độc ác tàn nhẫn.Phương pháp nghị luận b.  Nhân ái thiết công bình: Kỉ luật không được tôn trọng.

tùy thi ca cũng có ít bài thuộc loại sầu tình làm mê hoặc tinh thần. Vài ví dụ Ví dụ 1: Kết luận bài “Thi ca đối với tâm hồn con người”. vừa là những bài học hay gây nên những tính tình tao nhã khiến con người giữ được phẩm cách thanh cao. Kết luận còn gọi là kết thúc hay kết bài. Ví dụ 2: Viết về “Tục ngữ ca dao” nhà văn Phạm Quỳnh kết luận 35 . không thể để cho trí ta bị sai lầm những điều mơ mộng.  Thêm ý mới: Phần này tuy không bó buộc nhưng cũng nên có.  Nêu bài học: Rút ra từ vấn đề nghị luận một bài học để làm những phương châm xử thế. là phần kết của bài nghị luận. chỉ trích (không bằng lòng). Nó cho tác dụng mở ra một khía cạnh mới của vấn đề. chọn lựa… tùy chủ đề và loại đề. dung hòa. ta đặt ra vấn đề rồi giải quyết trong phần thân bài và cho biết đáp số rõ ràng trong kết luận. Nhưng chúng ta nên tránh kẻo lại tạo ra một đề luận mới. khiến ta có nghị lực để làm việc. lòng ta đắm đuối vào cõi dục tình. đau khổ trên đời. c. Cách giản tiện nhất là chọn một câu ca dao tục ngữ hay danh ngôn liên hệ với chủ đề và dùng một câu đưa dẫn vào cuối bài luận. Bài học ấy có thể là: Tán thành.  Nêu bài học: Vậy thi ca vẫn có thể được coi là một môn nuôi hồn bổ ích nên đọc nên ngâm. Một kết luận đầy đủ thường có ba phần  Tóm tắt thân bài: Thâu gọn các chỉ điển của phần quảng diễn. bổ túc. Trên phần nhập đề. miễn là ta biết lựa chọn và biết suy xét. b. nhưng phần nhiều có ảnh hưởng tốt: Thi ca vừa là một cách tiêu khiển làm quên được nỗi nhọc nhằn. cho người đọc một ý rõ rệt về cách lập luận và thái độ của người viết đối với vấn đề nêu lên trong bài. hạn chế. Kết luận có mục đích tóm tắt phần quảng diễn ở thân bài.Phương Pháp Nghị Luận a. học giả Dương Quảng Hàm viết:  Tóm tắt bài: Tóm lại.

“Có công mài sắt có ngày nên kim”  Mẫu tóm tắt bài cho đề giải thích: 36 . ta có nhiều kiểu kết luận. ta cũng chớ bỏ tổ quốc là thứ tiếng từ khi lọt lòng mẹ ta đã tập nói cho đến lúc hấp hối cũng vẫn còn nói. nêu lên được bài học thiết thực và gợi ra được một ý mới liên hệ. Các kiểu kết luận Tùy theo phần nêu bài học với các thái độ khác nhau đối với vấn đề. ta thấy các kiểu luận này rất ngắn gọn. So với chiều dài của một bài nghị luận.  Nêu bài học: Dù ta học chữ Tây hay chữ Tàu. ứng đáp với phần nhập đề thành một toàn khối chặt chẽ. Ví dụ: Giải thích câu tục ngữ.Phương pháp nghị luận  Tóm tắt bài: Vậy chúng ta nên trân trọng lấy cái quốc âm quý báu ấy. Thêm ý mới: Ta nên nhớ lấy câu: “Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” Ví dụ 3: Học giả Trần trọng Kim đã kết thúc bài viết: “Văn thơ” như sau:  Tóm tắt bài: Vậy lợi hại là ở sự dùng phải hay trái chứ không phải ở văn thơ  Nêu bài học: Tóm lại. ra công luyện tập trau dồi cho mỗi ngày một hay một đẹp hơn. không bị cụt ngủn mà cũng không lằng nhằng. ta nên xem văn thơ như một bảo vật và nên trau dồi cho được toàn hảo toàn mỹ.  Thêm ý mới: Đó cũng là một vấn đề khẩn thiết trong nền giáo dục tương lai. Các kết luận đó thâu tóm phần quảng diễn mà không trùng lặp. 2.  Kết luận theo kiểu tán thành: Thường dùng trong trường hợp đề bài thuộc loại giải thích.hài hòa.

Nhưng dầu sao cha mẹ cũng cần tu thân luyện đức để con cháu có được một tâm hồn minh mẫn trong một thân thể tráng kiện. a. Qua phần quảng diễn trên. Vậy chúng ta không nên quá suy tôn hạng con dòng cháu giống. Người ta lập trí phải nên kiên. Qua những lập luận và chứng minh trên. c. 3. Vậy chúng ta phải quyết tâm nỗ lực vượt mọi trở ngại để công việc dự định đạt được kết quả tốt đẹp.Phương Pháp Nghị Luận Qua những lập luận và chứng minh trên ta thấy câu… vừa là một nhận xét xác đáng vừa nêu lên một bài học quý giá. Vi dụ: Bình luận câu tục ngữ “Cha nào con nấy” a. b. ta thấy sự bền chí là cửa ngõ dẫn tới thành công. Kết luận kiểu bổ khuyết Ví dụ: Tục ngữ có câu “Thất bại là mẹ thành công. c.” Bạn nghĩ sao? 37 . chúng ta nhận thấy cây tục ngữ trên tuy có phần hữu lý nhưng không hoàn toàn xác đáng và không có giá trị tuyệt đối. cũng đừng nên quá thành kiến coi thường những người xuất thân nơi thôn dã. tinh thần đạo đức nhưng cũng không thiếu những trường hợp ngoại lệ trong lịch sử. b.  Mẫu chung cho phần tón tắt bài: Sau khi đã giải thích và phê bình. chúng ta nhận thấy tuy cha mẹ có ảnh hưởng trên con cái về thể chất. Riêng học sinh chúng ta nên noi gương Châu Trí và ghi nhớ hai câu ca dao sau: “Ở đời chẳng có việc gì khó.”  Kết luận kiểu hạn chế hay giới hạn: thường dùng trong những đề thuộc loại bình luận.

biết dung hợp pháp luật với đạo lý. ai cũng công nhận rằng. công bình và nhân ái mặc dù có nhiều điểm dị đồng nhưng vẫn liên quan mật thiết với nhau. Chúng ta hãy luôn tự nhủ mình: Thua keo này bày keo khác! Con người tranh đấu phải coi thường thất bại. như một nhà thơ đã viết. phải mở rộng tâm hồn để yêu thương giúp đỡ đồng loại. c. 38 .” 5. thất bại có thể làm cho con người ngã quỵ. Qua những nhận xét trên. song trong là tình.” Hãy giải nghĩa và phê bình quan niệm trên trong đời sống xã hội hiện tại. “Ai chiến thắng mà không từng chiến bại Ai nên khôn mà không dại đôi lần” 4.Phương pháp nghị luận a. chúng ta thấy câu tục ngữ có phần hữu lý nhưng không khỏi thiếu sót. vì nếu không được chuẩn bị cẩn thận. Để nêu cao thái độ sống của dân tộc biết hòa tình cảm với lý trí. những ảnh hưởng tai hại của quan niệm “Đèn nhà ai nhà ấy rạng” có thể gây ra trong cuộc sống hiện tại. b. Vậy chúng ta phải triệt để theo lẽ công bằng và thêm vào đó. Như trên đã trình bày. Kết luận kiểu dung hòa hay chiết trung Ví dụ: So sánh công bình và nhân ái a. c. một nhà thơ Việt nam đã viết:“Ngoài thì là lý. Kết luận kiểu phản đối Kiểu kết luận này thường được áp dụng với những đề bài nêu lên một tư tưởng tuy đúng với sự thực. Vậy muốn cho thất bại có hy vọng làm mẹ của thành công. Chúng ta cần sáng suốt nhận rõ khuyết điểm và thành thực quyết tâm sửa chữa lỗi lầm mới mong chuyển bại thành thắng được. chúng ta nhận thấy tính chất hẹp hòi và phản tiến hóa của quan niệm ấy. “Đèn nhà ai nấy rạng. Ví dụ: Người ta thường nói. a. hợp với thực tế nhưng lại trái với nền luân lý đạo đức. b. Sau khi đã so sánh kĩ.

b. Trong xã hội loài người ngày nay. 39 . tự thoái bộ và tự tiêu diệt trước bánh xe tiến hóa của nhân loại.Phương Pháp Nghị Luận b. quan niệm trên không thể nào làm kim chỉ nam cho hành động con người được nữa. người có tài lại nổi bật về hành động. tương quan giữa các nhân này với cá nhân khác. 6. Vậy muốn trở nên một người toàn diện chúng ta cần cố gắng rèn tài luyện đức được vẹn toàn. Cá nhân nào hay đoàn thể nào còn theo quan niệm ấy sẽ lãnh lấy hậu quả tai hại là tự cô lập mình trong xã hội loài người ngày càng biết hợp tác chặt chẽ với nhau. Kết luận kiểu chọn lựa Ví dụ: Tài là gì? Đức là gì? Tại sao tài đức cần phải kiêm toàn? a. Như trên đã trình bày. người có đức được ưu đãi về phương diện luân lý. Nhưng nếu phải chọn lựa thì chúng ta đành chịu kém tài còn hơn là thiếu đức. giữa dân tộc này với dân tộc khác ngày càng mật thiết.

1.Phương pháp nghị luận Chương IV: PHƯƠNG PHÁP HÀNH VĂN I. vững chắc. bay bướm… thì lối văn nghị luận cần gọn gàng giản dị. súc tích. sự lập luận khúc chiết tỏng câu văn. tìm mưu kế giúp non sông thoát hiểm. Gọn gàng giản dị Trong khi nhiều lối văn khác cần cầu kỳ hoa mỹ. người ta lưu luyến nhau và không thể bỏ nhau được. khiêm tốn. linh động 40 . lối văn nghị luận càng rõ ràng chứng nào càng hay chừng ấy. Chính xác Khác với lối văn mô tả cần uyển chuyển nhịp nhàng như văn tả người. để cho người đọc dễ nhận thấy những tình tiết tỉ mỉ. 3. Riêng có bậc anh hùng là bình tĩnh nhận định tình hình. giản dị. người trong thuyền chỉ biết kêu khóc hay cầu nguyện. Ví dụ: Câu văn viết chưa gọn gàng. tự nhiên. 2. hùng hồn. Với mục đích thuyết phục người đọc. nhưng vì nghĩa người ta không thể bỏ nhau được. hay giữ lái cho qua lúc ba đào nguy hiểm. Câu văn viết chính xác hơn: Chính vì tình người ta đã lưu luyến nhau. Tự nhiên. tả cảnh. Ví dụ: Câu văn viết thiếu chính xác như: Vì tình nghĩa. riêng có bậc anh hùng là bình tay giữ chèo. người dân thường chỉ biết phàn nàn hay lo lắng. khi dâng lên. văn nghị luận có các đặc tính như: Chính xác. linh động. đanh thép. NHỮNG ƯU ĐIỂM VỀ HÀNH VĂN A. thanh nhã. NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA VĂN NGHỊ LUẬN Mối thể văn có mục đích và đặc tính riêng. khi chìm xuống. Câu văn viết gọn gàng giản dị hơn: Trong lúc tổ quốc lâm nguy. gọn gàng. giản dị: Con thuyền quốc gia lúc bấy giờ gặp cơn sóng gió.

thiết tưởng ai cũng có thể tin rằng tính hay nói dối đem lại nhiều hậu quả không hay. miên man và cố gắng súc tích. lối văn nghị luận. ai lại chẳng biết một cách chắc chắn rằng tính hay nói dối đã đem lại nhiều hậu quả xấu xa. vững chắc. Ôi cao quí thay! Ôi đẹp đẽ thay! Những người con yêu của tổ quốc. Câu văn viết chưa súc tích. khiêm tốn hơn: Trong cuộc sống hằng ngày. cần phải thanh nhã khiêm tốn. 5. Súc tích. Hùng hồn. vững chắc Trong lối văn nghị luận.Phương Pháp Nghị Luận Có nhiều lối văn phải chải chuốt. Câu văn viết súc tích vững vàng hơn: Sự thành công rực rỡ ấy đã đem lại lợi ích cho nhà nước 6. bỏ tất cả cha mẹ vợ con xóm làng theo tiếng gọi của núi sông. Câu văn viết cho tự nhiên. linh động: Người chiến sĩ đã đem máu đào. Thanh nhã khiêm tốn Khác với lối văn mô phạm có tính cách khuyên răn người đời. đem lại nhiều lợi ích cho thân nhân trong gia quyến cũng như mọi người trong nước. Chúng ta nên nhớ rằng: sự lập luận vững vàng đanh thép không hề gây trở ngại cho việc viết câu văn thanh nhã khiêm tốn. Ví dụ: Câu văn thiếu thanh nhã khiêm tốn hơn: Phàm người ta sinh ra ở đời. 4. Lối văn nghị luận cần tự nhiên. linh động cho bài văn nhẹ nhàng dễ hiểu hơn. đanh thép 41 . quên tất cả lạc thú. khoa trương như văn diễn thuyết. từng bông lúa vàng cho dân tộc. gia đình để phụng sự dân tộc. Ví dụ: Câu văn thiếu tự nhiên. Câu văn viết thanh nhã. đem xương trắng ra đổi lấy từng tấc ruộng xanh. chúng ta nên tránh sự dài dòng. nhất là trong bài luận văn của người học sinh. linh động hơn: Thật là cao quí khi người chiến sĩ đem xương máu đền nợ nước. vững chắc như: Kết quả của sự thành công ấy thật là rực rỡ huy hoàng.

Câu văn viết hùng hồn. dễ hiểu của câu văn cụ thể. mặc dù gặp những điều ngang trái. người thợ miệt mài trong xưởng máy. Ví dụ: Câu văn viết chưa hùng hồn. vừa đanh thép là câu văn hay.Phương pháp nghị luận Văn có hùng hồn đanh thép hay không là do sự lập luận. diễn ý nhiều hơn là ở một vài tiếng đưa đẩy nghe thật kêu một cách khoa trương. CÂU VĂN CỤ THỂ VÀ CÂU VĂN TRỪU TƯỢNG 1. Lối viết này có ưu điểm vừa giữ được vẻ sáng sủa. Ví dụ: Học sinh đến trường làm việc chăm chỉ để cuối năm hy vọng thi đậu. 2. đanh thép: Chính bởi vì lý do thành công một cách quá ư dễ dàng. vừa dài dòng là câu văn dở. kẻ đi 42 . do đó chính họ lại là những người nhận lấy thất bại nếu gặp trường hợp khó khăn. kín đáo của câu văn trừu tượng. nhiều người không biết kiên nhẫn và cố gắng sống. cho nên nhiều người không biết kiên nhẫn và cố gắng. Cũng vì vậy một cây văn vừa hùng hồn. Bởi thế nên chúng ta luôn phải kiên tâm bền chí. trong khi một câu văn vừa lủng củng vừa nặng nề. Trong một bài luận thuộc lối văn nghị luận. Về phương diện văn phạm. nhưng rút lại không thêm được ý gì cho câu văn. bác nông phu cặm cụi đổ mồ hôi trên luống cày. nên đã thất bại khi gặp khó khăn. câu văn trừu tượng dùng để diễn tả ý trong đoạn văn lập luận là phần căn bản của bài văn nghị luận dùng để diễn ý trong đoạn văn dẫn chứng hay giới thiệu Tuy nhiên có nhiều trường hợp người viết những câu văn cụ thể nhưng có giá trị trừu tượng. B. chúng ta phân biệt Câu văn cụ thể khi có chủ từ là tiếng cụ thể. Chúng ta nên lấy đó làm gương sửa mình. Đồng thời vừa giữ được thâm trầm. Ví dụ: Vị dân biểu hùng hồn lớn tiếng ở nghị trường. đanh thép hơn: Chình vì thành công quá dễ dàng. Câu văn trừu tượng có chủ từ là tiếng trừu tượng Ví dụ: Sự làm việc chăm chỉ của người học sinh ở trường có thể dẫn đến kết quả thi đậu cuối năm.

Câu văn trừu tượng này có thể viết thành một câu văn cụ thể sau: Khi bị đói rét. Vua có quyền lợi trị dân. làm tê liệt cả khối óc lẫn con tim của nhân loại. Ví dụ: Sự đói rét. một cá nhân cũng như một tập thể không biết gì là trái phải là yêu thương. công. Cha có quyền dạy con.Phương Pháp Nghị Luận buôn xuôi ngược sớm hôm. tật bệnh và ngu dốt là những u nhọt đang tàn phá cơ thể xã hội. Sau đây là một đoạn văn trích trong tác phẩm “Nghĩa vụ là gì” của Phạm Quỳnh. binh nghề nào có ích cho xã hội hơn cả? Cũng có những câu văn trừu tượng mà giá trị như những câu văn cụ thể. Lại không những thế. trong một xã hội. lại làm cho người đọc thêm phần chú ý hơn. nông. những người vì địa vị của mình được có quyền lọi đối với người khác. Ví dụ: Sự dịu dàng có vai trò như lá cây ngụy trang trong chiến tranh. nhưng cái quyền ấy là phải gây dựng cho con được nên người. Lối viết này cũng có ưu điểm như lối viết ở trên. thương. Chồng có quyền khuyên vợ. Đại thể các xã hội ngày xưa lấy nghĩa trọng hơn lợi. Nói tóm lại thì ngày xưa quan niệm quyền lợi thuộc về “tiêu cực” mà quan niệm về nghĩa vụ thì thuộc về “tích cực”. nhưng cái quyền ấy tức là lo cho dân được an lạc. nhưng cái quyền ấy là phải mưu cho gia đình được thuận hòa vui vẻ. vua đối với tôi. chồng đối với vợ. người xưa chỉ biết nghĩa vụ mà không hề nghĩ đến quyền lợi. tiêu hủy từng bộ phận. đều có quyền lợi riêng. trong tạp chí Nam Phong. Ngày nay tựa hồ như 43 . Chúng là vi trùng len lỏi vào trong từng tế bào. Trong tình yêu người ta thường dùng thái độ dịu dàng để che giấu tâm tình yêu thương sôi nổi. cũng coi quyền lợi ấy là nghĩa vụ. các chiến sĩ hiên ngang ôm súng nới chiến địa… chúng ta sẽ hỏi ai giúp ích cho xã hội hơn ai? Câu văn cụ thể này có thể tóm tắt thành một câu văn trừu tượng như sau: Sĩ. mà hai quan niệm về nghĩa vụ và quyền lợi. Không những thế. cha đối với con. Rất nhiều khi nó chỉ nhằm che giấu chiến thuật yêu thương. tật bệnh và ngu dốt. Chúng ta có thể lấy làm ví dụ để nhận định rõ vai trò của câu văn cụ thể và câu văn trừu tượng trong một bài văn nghị luận.

nhưng dân cũng có quyền lợi đối với vua. mà duy chỉ có quyền lợi tối yếu là quyền quyết định mọi sự cạnh tranh thì không thuộc về ai! II. Ví dụ:  Ý chính: Nhưng cũng có những thứ tình cảm hỗn loạn. 44 . làm kinh thiên động địa vì hai chữ “quyền lợi”. Các nước Tây Âu xướng ra nhân quyền. Bấy nhiêu quyền lợi tranh giành xung đột nhau. nhưng vợ cũng có quyền lợi đối với chồng. người thợ trong xưởng máy… tất cả đều phải gắng sức kiên nhẫn mới giúp ích cho đời. PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG MỘT PHÂN ĐOẠN 1. người y tá trong bệnh viện. thì phân định làm sao cho được? Ai cũng có quyền lợi cả. Cha có quyền lợi đối với con.  Tiểu kết: Cuộc đời là nơi chiến đấu. Sự chuyển dịch ấy khởi ra tự Châu Âu. các nhà văn thường xây dựng một đoạn văn gồm 4 phần như sau: ý chính. dẫn chứng. Ví dụ:  Ý chính: có kiên nhẫn cố gắng làm việc thì mới thành công. Căn cứ vào phương pháp chung.  Lí luận: Các vĩ nhân trên thế giới sở dĩ thành nên sự nghiệp đều do chí kiên nhẫn và sức cố gắng mà ra cả. khởi lên như giáo dựng. ta chỉ cần lí luận mà không cần dẫn chứng.  Dẫn chứng: nhà bác học trong phòng thí nghiệm.Phương pháp nghị luận phải trái lại: “tiêu cực” chuyển ra “tích cực” và “tích cực” chuyển ra “tiêu cực”. nhà văn trong bàn viết. (Theo Nguyễn Văn Trung) Cũng có những trường hợp vì lí lẽ minh bạch và sự thật hiển nhiên. tiểu kết. lí luận. đòi hỏi ta phải kiên nhẫn và gắng sức tới cùng. quyền lợi xem ra trọng hơn nghĩa vụ. XÂY DỰNG MỘT PHÂN ĐOẠN LÀ GÌ? Xây dựng một phân đoạn là đặt câu dùng chữ để xây dựng thành một đoạn văn. nhưng con cũng có quyền lợi đối với cha. đưa người ta vào con đường xấu xa tội lỗi. Vua có quyền lợi đối với dân. người mẹ trong gia đình. Chồng có quyền lợi đối với vợ.

Ta tự cao dựa vào tư tưởng chứ đừng cậy ở không gian. 45 . không giả nhân. việc phi nghĩa dù phú quý cũng không tưởng. nhưng trái lại. vì trong phạm vi không gian này. vũ trụ nuốt tôi như một điểm con. Nhưng dù vũ trụ có đè bẹp người ta. Ta nên rèn tập để viết tư tưởng cho hay. tôi quan niệm. giả nghĩa. việc phải dù tính mệnh cũng không từ. (Nghiêm Toản dịch theo Pascal) b.  Cần gì cả vũ trụ phải tòng hành nhau mới đè bẹp được cây sậy ấy? Một chút hơi. VÀI ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN KIỂU MẪU GIÁ TRỊ CON NGƯỜI  Người ta chẳng qua là một cây sậy. bao trùm được vũ trụ. người ta so với vũ trụ vẫn cao hơn vì khi chết thì biết rằng mình chết chứ không như vũ trụ kia khỏe hơn người nhiều mà không tự biết rằng mình khỏe. nhưng là một cây sậy có tư tưởng.Phương Pháp Nghị Luận  Lí luận: Đó là những tình cảm ủy mị đưa tới các thứ tình ái bất chính dâm ô. dù tôi có bao nhiêu đất cát cũng chưa phải là “giàu hơn”. Tôi không căn cứ vào không gian để tìm lấy giá trị của tôi. Đó là nền tảng của nhân luân. 2. nhờ ở tư tưởng.  Vậy thì giá trị chúng ta là ở tư tưởng. a. thời gian là hai thứ chúng ta không bao giờ làm đầy hay đọ kịp. cho đúng. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này kĩ hơn trong chương về các phương pháp suy tư và lí luận. một giọt nước cũng đủ làm chết người được. CHÍ THÀNH  Thành nghĩa là gì? Thành nghĩa là thật lòng. không dối mình dối người. (Theo Nguyễn Nam Châu) Trên đây là hai ví dụ đơn giản và điển hình trong việc xây dựng một phân đoạn.  Tiểu kết: những kẻ không kìm hãm và làm chủ được tình cảm hộn loạn của mình như vậy sẽ phải gánh lấy hậu quả rất tai hại. cây sậy mềm yếu nhất trong tạo hóa. mà trông cậy vào sự quy định tư tưởng một cách hoàn toàn. hoặc những tình cảm thái quá đưa tới sự hiềm khích tranh giành.

không ra ngoài được. vàng son rực rỡ là đồ trang sức bên ngoài. ở với hết mọi loài. thì có ai thờ chi ông tượng gỗ.  Người ta thường nói: “Không biết nói dối.” Ấy là lời nói của những người quen lèo lái hàng chợ. vợ ở với chồng. Đem lòng thành ấy mà ở với nước thì nên tôi trung. Suy ra anh ở với em.Phương pháp nghị luận  Đem lòng thành ấy mà ở với cha mẹ thì nên con thảo. ra đến ngoài không có người tin. Nếu cứ chắc như đười ươi. phật cũng bởi cái lòng thành ấy mà nên. Thánh. có lúc dụng mưu.  Những người có tài mà hay khinh bạc. hiền. Cứ giữ thật thà. Cho nên người nước ta ở với nhau không có đoàn thể. đến khi hoạn nạn hay đổi lòng. không buôn bán được. việc làm vẫn giỏi. có tín có huệ. thẳng như ruột ngựa.  Chí thành cũng có lúc xử trí. như ông tượng gỗ. lời nói vẫn hay. mà thân mình cảm ứng là cái chí thành ở trong. (Trích “Lời khuyên học trò”của Nguyễn Bá Học trong Nam Phong tạp chí số 25) 46 .  Người có chí thành mới là người có giá trị. ở với người đồng loại. cũng vì tập nhiễm những câu hủ bại ấy mà mới mất hẳn cái đạo chí thành đi. Nếu không có thần minh cảm ứng. gặp lúc kinh quyền hay biến tiết cũng vì không có chí thành làm bản lĩnh. tiên. chỉ đủ cho người ta đánh lừa hay người ta nói dối. chúng bạn ở với nhau. cũng nên người có nhân có nghĩa. như thế gọi là ngu thành.

Phương Pháp Nghị Luận BỐ CỤC BÀI “GIÁ TRỊ CON NGƯỜI” 1. a. b. 2. a. người. b. 3. a. b. c. Nêu đại ý bằng cách trưng hai ý tưởng tương phản Người là vật yếu nhất trong tạo hóa. Người có tư tưởng Tác giả chứng minh hai ý trên Người yếu: một giọt nước, một chút hơi có thể giết được Người có tri giác nên hơn vũ trụ vô giác vô tri. KẾT LUẬN Tóm ý: Giá trị con người là ở tư tưởng. Hệ luận: Nền tảng luân lý là sự rèn tập tư tưởng... Tác giả áp dụng vào bản thân.

Hai ý đối chọi nhau bởi chữ “nhưng”.

Hai phần cũng dùng chữ “nhưng”để nói hai ý đối lập.

Toàn bài có thể nhất quán, chứng minh tình trạng mâu thuẫn giữa sự cực thấp và cực cao của con người. Mấy chữ “nhưng” và “vậy thì” cho ta thấy lập luận của Pascal rất chặt chẽ. BỐ CỤC BÀI “CHÍ THÀNH” 1. 2. Định nghĩa chí thành Công dụng của chí thành

a. Khi có chí thành thì làm được những điều cần thiết trong đạo xử thế, tu thân. b. Khi không có chí thành thì hai đạo như thế nào dù lời hay, việc giỏi. 3. Chí thành cần được bổ túc bằng mưu trí 4. Đả phá những lời ngụy biện bác bỏ chí thành trong một vài trường hợp 5. Tiểu kết: Chí thành là căn bản giá trị con người
47

Phương pháp nghị luận Các ý trong bài này xếp theo hình chóp hay vòng đồng tâm mà đỉnh chóp hay tâm điểm là chữ “chí thành”. Thực vậy, đúng về toàn thể, tác giả đi dần dần từ định nghĩa đến công dụng tích cực, tiêu cực, rồi suy ra chí thành cần bổ túc bằng mưu trí và cần được duy trì trong vài trường hợp người ta thường bác bỏ, đã kết thúc với một hình tượng cụ thể, tỏ rõ giá trị con người xây dựng trên đạo chí thành. CHÚ Ý: Cách viết một câu cụ thể có giá trị trừu tượng sang câu trừu tượng.  Giai đoạn 1: Phải hiểu ý tổng quát toàn câu đó.  Giai đoạn 2: Tìm tiếng trừu tượng làm chủ từ hay chủ từ cụ thể.  Cuối cùng xét ý nghĩa toàn câu mới xem còn tương đương với câu cũ không. Ví dụ: “Người ta chẳng qua là một cây sậy, cây sậy mềm yếu nhất trong tạo hoá, nhưng là một cây sậy có tư tưởng.” Câu này có thể viết thành câu trừu tượng bằng nhiều cách:  Sự yếu đuối của con người giống như cây sậy, nhưng giá trị độc đáo của con người là do khả năng tư tưởng.  Khả năng tư tưởng làm nên giá trị của con người vốn yếu đuối về thể chất.  Tư tưởng là lợi thế khiến con người vốn yếu đuối trở nên có giá trị. III. PHƯƠNG PHÁP DẪN CHỨNG 1. DẪN CHỨNG LÀ GÌ? Dẫn chứng là đem những tư tưởng, việc làm, tình trạng để làm sáng tỏ ý tưởng đã diễn tả hay sắp diễn tả. Khi dẫn chứng, chúng ta cần chú ý những điểm sau:  Vì có tính cách phụ thuộc cho phần lập luận, đoạn văn dẫn chứng cần phải vắn tắt, rõ ràng, không được kể lể những chi tiết dài dòng không cần thiết, kẻo biến bài nghị luận thành một bài văn kể chuyện. 48

Phương Pháp Nghị Luận  Dẫn chứng cần có tính chất điển hình, tiêu biểu cho những việc thường xảy ra. Chúng ta không được chọn những trường hợp đặc biệt, những việc cầu kỳ để dẫn chứng.  Để dẫn chứng, chúng ta không nên mượn những nhân vật mẫu như anh A, chị B, ông C, bà D… đồng thời cũng không nên kể đích danh những nhân vật tầm thường không ai biết đến như anh Trần Văn Ba là người kiên nghị, chị Nguyễn Thị Tư là người can đảm. 2. a. CÁC CÁCH DẪN CHỨNG Dẫn chứng một tư tưởng, một câu nói

Trong trường hợp này có hai cách:  Dẫn chứng nguyên văn: Chép nguyên văn tư tưởng hay câu nói của một nhân vật nào và để chúng trong ngoặc kép. Ví dụ: Nguyễn Bá Học đã viết: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông.”  Dẫn chứng nguyên ý: Chỉ ghi lại ý diễn tả trong tư tưởng hay câu nói, không cần chép nguyên văn đầy đủ từng chữ và cũng không cần đến dấu ngoặc kép. Ví dụ: Nguyễn Bá Học đã có dịp khuyên học trò đừng ngại khó, vì sự ngại khó làm nhụt nhuệ khí không cho con người vượt qua trở ngại để tiến tới thành công. b. Dẫn chứng một việc làm, một sự kiện hay một tình trạng  Dẫn chứng bằng một biến cố lịch sử. Ví dụ: Phụ nữ Việt Nam đã từng làm rạng rỡ non sông, những tấm gương Bà Trưng, Bà Triệu đã soi sáng ngàn thế hệ mai sau.  Dẫn chứng bằng một sự kiện Ví dụ: Khoa học đã tiến những bước khổng lồ: Con người đã dùng những phi thuyền thám hiểm không gian và thiết lập chương trình liên lạc với các tinh tú…  Dẫn chứng bằng một tình trạng xã hội:
49

Phương pháp nghị luận Ví dụ: Sau khi người Pháp xâm chiếm nước ta. IV. PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN Ý 1. đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi đất nước: nam như Lê Lợi. cụm từ. hai trào lưu tư tưởng cũ và mới đã xung đột nhau gây ra những cảnh ngang trái trong xã hội. c. hai Bà Trưng đánh thái thú Tô Định). quan niệm này sang quan niệm khác. Trưng nhị (không cần nói chi tiết: Lê Lợi đánh nhà Minh.  Dẫn chứng bằng nhân vật tiêu biểu cho tầng lớp không cần biết đích danh là ai. Dẫn chứng bằng một nhân vật điển hình  Dẫn chứng bằng nhân vật lịch sử: Cách này thường trùng với cách dẫn chứng bằng một biến cố lịch sử. CHUYỂN Ý LÀ GÌ? Chuyển ý là dùng một từ. gái bỏ nhà ra đi. các chiến sĩ tranh đấu với đồng loại nơi trận mạc. Thiếu những dây gân móc xích liên kết. bài văn sẽ rời rạc và giảm giá trị một cách tai hại. Ví dụ: Mọi người đều phải tranh đấu trong cuộc sống gắt gao hằng ngày: Nông phu tranh đấu với thiên nhiên nơi đồng ruộng. 50 . Chúng có thể ví như những dây gân để nối kết các phần của bài văn thành một cơ thể liên tục và duy nhất. Sự chuyển ý giữ một vai trò khá quan trọng trong bài văn. thái độ này sang thái độ khác. Quang Trung đánh quân nhà Thanh. Quang Trung. học sinh tranh đấu với bản thân trên ghế nhà trường để chiến thắng sự ngu dốt của chính mình. Ví dụ: Dân tộc Việt Nam đã có nhiều vị anh hùng cứu quốc. Ôn Hầu có nàng cung nữ. con trai không nghe lời cha mẹ. một câu hay một đoạn ngắn để đi từ ý này sang ý khác. nữ như Trưng Trắc.  Dẫn chứng bằng nhân vật trong tác phẩm văn chương Ví dụ: Văn nhân thi sĩ thường ca tụng tài sắc của người đàn bà. lớp thanh niên tân tiến muốn bỏ hẳn nếp sống cũ. mượn nhân vật này để giãi bày tâm sự: Nguyễn Du có Vương Thuý Kiều.

Ví dụ:  Đó là phần lý thuyết. chúng ta thử tìm hiểu câu tục ngữ trên và từ đó rút ra một bài học thực hành trong cuộc sống. chúng ta hãy xem câu nói đó có hoàn toàn xác đáng không? e.  Để kết luận. chúng ta đã nhận thấy… 3. chúng ta có thể…  Sau khi tìm hiểu. CHUYỂN Ý Ớ ĐÂU VÀ CHUYỂN Ý THẾ NÀO? Cuối phần nhập đề chuẩn bị xuống thân bài Trong bài luận văn. ta có thể chuyển ý như sau: Trước hết chúng ta hãy định nghĩa mấy từ quan trọng. d. c.  Con người đa cảm ấy cũng rất đa tình… Giữa các phân đoạn của thân bài Khi chuyển ý nên có một chút âm vang của đoạn trước. Chuyển từ phần giải thích sang phần bình luận Ví dụ: Sau khi đã tìm hiểu ý nghĩa của câu nói.. NHỮNG CHỮ DÙNG ĐỂ CHUYỂN Ý 51 . hoặc: Trước khi bình giải sâu rộng.. người ta thường chuyển ý ở những chỗ sau: Đó chính là phần báo đề..Tóm lại.. Đầu phần kết luận Ví dụ: .Phương Pháp Nghị Luận 2. chúng ta hãy xem câu nói trên có ý nghĩa gì. Đầu phần thân bài Nếu thân bài bắt đầu bằng định nghĩa. b. Ví dụ: Sau đây. như trên đã trình bày. a. còn về phần thực hành.

nhưng Mạnh Tử lại bảo: “Hoàn toàn tin sách thà chẳng có sách còn hơn”(Tận tín ư thư bất như vô thư). Sách là kinh nghiệm của nhiều thế hệ hun đúc lại. nhưng. Sau đây là một số những chữ thường dùng để chuyển ý:  Vậy. chúng ta có thể dùng một từ. một câu hoặc một đoạn ngắn để chuyển ý sao cho thích hợp. Tuỳ trường hợp. ở đời “hổ phụ”nào cũng sinh “hổ tử”cả chăng?” Để minh hoạ các loại chuyển ý. tuy nhiên. chúng ta không thể kể hết được. ta không nên áp dụng cách máy móc mà phải lấy chính các yếu tố riêng của bài để chuyển ý cách khéo léo. càng giấu được mối nối thì bài văn của chúng ta càng thêm đẹp. Một văn hào đã nói: “Một quyển sách hay là một người bạn tốt”. phải chăng câu tục ngữ Tây phương nói trên hoàn toàn xác đáng và có giá trị tuyệt đối? Nói cách khác. xem thế…. chuyển ý từ phần đúng sang phần hạn chế một cách khá tự nhiên: “Tuy nhiên. Học ở nhà trường. ta hay theo dõi bài tham khảo sau đây: Muốn tiến bộ chúng ta cân phải học tập. do đó. tuy vậy. hoàn toàn tin sách là gì? Điều đó có hại chi? Và ta phải có thái độ như thế nào khi đọc sách? 52 . một cụm từ. mặt khác.  Vấn đề đặt ra là…  Trước hết về phương diện… Tuy nhiên về phương diện…  Trong phạm vi hẹp… nhưng trong phạm vi rộng hơn… nhất là trong phạm vi rộng lớn nhất này…  Thứ nhất là…  Thứ hai là…  Thứ ba và sau chót là… CHÚ Ý: Những câu chuyển ý trên đây chỉ có tính cách gợi ý. học ở trường đời cũng như học ở sách vở. như vậy. hơn nữa. thật vậy. Một ví dụ mà chúng ta đã gặp trong bài “Cha nào con nấy”.Phương pháp nghị luận Những chữ dùng để chuyển ý có rất nhiều. Vậy theo nhà hiền triết ấy.

Nếu ta tin tưởng một cách mù quáng. làm cho ta muốn bắt chước theo. nhưng sách nói sai cũng chẳng biết. Hạng “người tiểu thuyết”. ta hãy xem thế nào là hoàn toàn tin sách? Hoàn toàn tin sách là học theo sách. cung cách khác người. Đối với sách không lành mạnh thì như vậy. ở chỗ khác thì trái. tư tưởng… nhất nhất theo sách. nhiều khi thành ra lỗi thời và lạc hậu. Ta thường đọc những loại tiểu thuyết tâm lý. Có những điều ở nơi này thì đúng. tin theo sách. lắm khi đi đến thất vọng vì đời không phải là tiểu thuyết! Còn đối với sách luân lý đạo đức. bắt chước theo sách một cách mù quáng. phải chăng là do ảnh hưởng của những loại sách khốc hại đó? Vì vậy. nhưng đối với những sách đúng đắn thì hoàn toàn tin sách có hại không? Tuy rằng không nguy hiểm như loại sách trên. xuất giá tòng phu. không biết suy xét. ta sẽ vô tình bắt chước theo các nhân vật trong sách mà hành động phi thực tế. Yếu Ly trong dã sử Tàu… có những hành động rất ngoạn ngục. Những hành động lố lăng. ở thời này thì phải. phi thường để hấp dẫn chúng ta. hoàn toàn tuân theo những giáo điều trong đó có hại gì không? Giá trị của luân lý cũng thay đổi theo không gian và thời gian. Có người cứ xem sách là một tiêu chuẩn. quan niệm “Trung quân” 53 . nhà trường cũng như phụ huynh thường kiểm soát những loại sách của học sinh để tránh cho đầu óc non nớt của chúng khỏi bị đầu độc bởi những hoại thư ấy. hạng “thanh niên quá mới” nhan nhản trong sách báo ngày nay: Những Kinh Kha. cái gì sách cũng là đúng. phán đoán. xã hội. tin và áp dụng một cách máy móc. việc hoàn toàn tin theo không phải là không có hại. hành động. những vụ tự tử vô lối mà ta thường đọc thấy qua tin tức báo chí. Vậy ta phải phân tách xem hoàn toàn tin sách như thế có hại như thế nào? Đối với loại sách nhảm nhí hoang đường khiêu dâm…cái hại đã quá rõ ràng. ở chỗ khác thì sai. Thuyết Tam Tòng (Tại gia tòng phụ. Từ đó ta dễ có những hành động. Học như thế Mạnh Tử cho rằng hại nhiều hơn lợi. Tin vào chúng thì tình cảm và lý trí chúng ta sẽ bị đầu độc sinh ra những hành động nông nổi điên cuồng. sự kiện trong sách dù cao đẹp đến đâu cũng đều có tính cách điển hình lí tưởng ít nhiều phóng đại và tuỳ theo chủ quan của tác giả. Nếu ta cứ chữ. dã sử mà tác giả có ý thức xây dựng. phu tử tòng tử). có khi đi đến chỗ lập dị hay không tưởng… vì nhân vật. là hay.Phương Pháp Nghị Luận Trước hết. Sách nói đúng thì theo đã vậy.

Phương pháp nghị luận (quân tử thần tử. Hoàn toàn tin vào đó mà không chịu phân tích. Ngay cả đến những sách khoa học phần lớn có tính cách khách quan. bao nhiêu công khó của người thợ in đêm ngày chăm lo từng nét chữ. 54 . suy nghĩ cân nhắc cái hay cái dở. thà chẳng có sách thì hơn! Tuy đọc sách cần cẩn trọng. Học giả Hoàng Đình Kiên đã nói: “Kẻ sĩ phu mà ba ngày không xem sách thì soi gương mặt mũi đáng ghét. ta nghe được tiếng ca hát âm thầm lặng lẽ mà duyên dáng từ nghìn đời. đối chiếu với sự vật để có thể hiểu sâu xa và phát triển thêm sở đắc. Nhưng đọc sách phải như thế nào cho có ích lợi? Thường có hai cách đọc sách: Đọc nghiền ngẫm và đọc ngấu nghiến. Ta cần hiểu rằng: Lý thuyết Khổng Mạnh đến ngàn đời con người cũng chưa thấu đạt hết vì trong ấy chứa đựng bao nhiêu kinh nghiệm thực tế ở đời. Nếu ta biết đọc sách. nhưng không phải vì quá thận trọng mà chúng ta thành ra sợ sách. chúng ta lại càng phải thận trọng vì phần nhiều các sách ấy hay chủ quan.” Một quyển sách để trước mặt ta là hình ảnh của bao người làm ra tờ giấy. phê phán. tác hại lý trí… Như thế. nhưng sách hãy còn mãi lâu bền. sợ gì vàng thau lẫn lộn. cái phải cái sai trong sách thì thật là điều đáng khuyến khích. ta sẽ dễ bị nhồi sọ và lạc hướng. mà phải sửa chữa. ta cũng phải biết đặt thành nghi vấn. Đối với sách chính trị lịch sử. ta học được sự cần lao khả kính của con người. Nhìn vào sách. lạc hậu. Nếu ta biết đọc nghiền ngẫm. nói chuyện lạt lẽo khó nghe. chúng ta nhiều khi trở thành lỗi thời. lựa chọn sách thì sợ gì loại lý thuyết suông. cho rằng sách chỉ chứa toàn lý thuyết mà thôi. Vì vậy. Đứng trước một tủ sách. thường bị chi phối bởi thế lực của triều đại đương thời hay một giai cấp thống trị. Nếu ta chỉ biết đọc ngấu nghiến thì công đọc sách cũng bằng thừa. Lại có những kẻ khinh sách hoàn toàn. nô lệ tư tưởng. ghi chép lại những sưu tầm phát minh của các nhà bác học tiền bối. quan niệm lại và áp dụng cho thích hợp. dù rằng sách hay mà cứ tin mù quáng vào sách để xa rời thực tế. Bao nhiêu thế hệ trôi qua. thần bất tử bất trung) ngày xưa không thích hợp với ngày nay. viết từng trang.

” 55 . vào việc học tập hàng ngày của ta. Ta có thể mượn lời sau đây trong sách Trung Dung làm châm ngôn cho việc đọc sách: “Học cho rành. Sách là kinh nghiệm của những gì đã qua. Nếu cứ tin mù quáng vào sách thì chẳng khác dồn bông vào gối cho cứng. phân biệt cho sáng tỏ. tạo thêm những kinh nghiệm mới. nghĩ cho cẩn thận. sách hay là một vật quý và cần thiết cho sự mở mang trí óc của con người. Tóm lại. làm cho hết sức. Lúc đó. hỏi cho kĩ. Làm thực thì có hại nhiều hơn có lợi. Dùng kinh nghiệm ấy mà áp dụng vào đời sống. thú vị của việc đọc sách càng lúc càng tăng và con người càng ngày càng thêm tiến bộ vậy.Phương Pháp Nghị Luận Ta còn phải biết phát triển những điều hay đã thu nhập trong sách. Nhưng đọc sách phải biết phân tích phê phán đối chiếu với sự vật.

từ hẹp đến rộng. chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu các loại suy tư nhờ quan sát và suy tư nhờ liên tưởng. Ta cũng có thể đảo lộn thứ tự nếu cần. Suy tư quan sát nhân quả Đó là suy tư một vấn đề dưới ba khía cạnh:  Nguyên nhân phát sinh: Trước kia nó là gì?  Hiện trạng: Bây giờ nó như thế nao?  Kết quả: Sau này nó sẽ ra sao? Ví dụ: Suy tư về lòng nhân ái:  Nguyên nhân: Lòng nhân ái phát sinh từ những tâm hồn vị tha quảng đại. chúng ta thấy mọi việc xảy ra và diễn biến theo một chiều hướng rất trật tự: từ trước đến sau. từ gần ra xa. Suy tư quan sát bành trướng Vấn đề được suy tư từ phạm vi hẹp sang phạm vi rộng hoặc từ gần ra xa. cảm thông.Phương pháp nghị luận Chương V: PHƯƠNG PHÁP SUY TƯ Các phương pháp suy tư sau đây giúp chúng ta đào sâu từ ý chính ra các ý phụ hoặc dùng để xây dựng phân đoạn.  Kết quả: Lòng nhân ái đem lại cho tâm hồn bình an vui sướng. 1.  Hiện trạng: Lòng nhân ái khiến ta quên mình và chỉ mong cho người xung quanh được hạnh phúc. SUY TƯ NHỜ QUAN SÁT Quan sát các sự việc trong thiên nhiên. b. sẵn sàng. giúp đỡ và chia sẽ vui buồn cùng kẻ khác. Bắt chước những hiện tượng ấy. Người có lòng nhân ái quí mến. Các định luật của sự vật thiên nhiên cũng là định luật của tư tưởng tâm trí ta. Nó quả là một đoá hoa trong vườn nhân loại. 56 . Thứ tự thông thường được áp dụng: Cá nhân – gia đình – quốc gia – nhân loại. chúng ta có thể suy tư bằng ba cách: a. hy sinh. Họ cũng dễ dàng tha thứ lỗi lầm của anh em và ngay cả sự gian ác của kẻ thù. Trong chương này.

kẻ vì dân tộc. từ đứa bé mới lọt lòng mẹ cho đến những kẻ ngu si tàn tật. Ví dụ: Ý chính: sự làm việc là một công lệ của đời sống.. ta nghĩ đến việc tiêu hoá. Các vĩ nhân trên thế giới đều sống theo một lí tưởng như vậy: Người vì gia đình. cũng có thể làm được. c. phân loại đồ ăn và phân chất thức ăn. bồi dưỡng gìn giữ sức khoẻ.tinh thần – đạo đức. Ngay đến loài cây cỏ vô tri vô giác cũng làm việc không ngừng để đâm chồi nảy lộc: Nhựa sống lưu thông không ngớt trong lớp vỏ thảo mộc – phương chi con người càng cần phải làm việc mới có thực phẩm để ăn và vật dụng để dùng. Ý phụ: Các loài vật từ con ong con kiến cho đến chim muông cầm thú cũng phải khó nhọc lắm mới kiếm được miếng mồi sinh sống. tác giả đảo lộn thứ tự với dụng ý làm nổi bật ý chính.   Suy tư quan sát luỹ tiến Thứ tự I: Vật chất . Suy tư một vấn đề từ thấp đến cao. Tất cả đều quên mình để mưu ích cho tha nhân. Ý phụ: Nhưng muốn biết được cơ nguyên sự tiêu hoá trải qua các giai đoạn nào thì phải học qua sinh lý học. người khác vì cộng đồng nhân loại. phụng sự một mục đích tốt đẹp. nghị lực ra thực hiện mục đích tốt đẹp đó. 2. Ví dụ: Từ việc ăn uống. SUY TƯ DO LIÊN TƯỞNG Liên tưởng là suy nghĩ từ một ý này sang ý khác gần đó. có biết bao 57 . Ý phụ: Nên đem hết tài ba. Ý chính: Ẩm thực là một việc rất thông thường của loài người. hoá học… Cho đến nay.Phương Pháp Nghị Luận Ví dụ: Ý chính: làm người phải sống theo một lí tưởng nghĩa là theo đuổi. Tiểu kết: Đó thật là mục đích cao cả. Các thứ tự thông thường: Trong phân đoạn dưới đây. Suy tư liên tưởng tiếp giáp: Đi từ một sự việc sang một sự việc khác tiếp theo. Có 3 loại: a.. can đảm. Thứ tự II: Khoáng vật – thực vật – động vật.

nhưng tại sao một đàng thì ham mê. nhưng tự nó trông thấy mà bắt chước mà làm ngay như: nhảy dây. c. một đàng thì biếng nhác? Thực ra. Ngựa không hay thì lắm khi nguy hiểm cho kỵ sĩ: đường muốn rút ngắn hoá đường dài.Phương pháp nghị luận nhà bác học chuyên môn khảo cứu khoa ăn uống mà vẫn chưa biết hết được lý do và giá trị của những thực vật rất thông thường mà con người đã dùng ngay từ thời thượng cổ. Ví dụ: Ý chính: Học là gì? Học là từ những điều mình nghe thấy. lấy làm hay làm thích thì con người vui vẻ mà đam mê. dốc nhỏ muốn trèo lên mà trèo chẳng nổi. đá cầu. Ý phụ: Thế thì học với chơi cũng không khác gì nhau. chúng ta có thể nghĩ đến một ý tưởng trái ngược để tìm thêm ý. Suy tư liên tưởng tương phản Từ một ý tưởng đã có. không đợi ai phải dạy. chỉ vì cái gì con người nghe hiểu. Ngựa hay thì sườn núi vượt mà không nguy hiểm. cho mình được vui vẻ sung sướng. Ví dụ: “Nghị lực” là một khả năng nơi con người có tính cách trừu tượng. Ý chính: Nghị lực của thanh niên mới thực là có sức sống. thả diều. Chủ đề: Làm việc 58 . nhảy cầu. trông thấy mà mình muốn bắt chước hay muốn suy nghĩ thêm ra. Đọc kỹ ba đoạn văn và xem mỗi đoạn văn được gợi ý theo loại suy tư nào: quan sát nhân quả. ta có thể tìm một hình ảnh cụ thể giống nhau. dòng thác lội cũng dễ dàng. b. Suy tư liên tưởng tương đồng Từ một ý tưởng trừu tượng. luỹ tiến hay bành chướng? a. chúng ta nghĩ đến một con ngựa có sức mạnh. chơi thuyền… BÀI TẬP 1. Ý phụ: sức sống nhiều phen lồng lộn như ngựa bất kham.

Phương Pháp Nghị Luận Người ta ở đời ai cũng đổ mồ hôi lấy chén cơm thì một lẽ công bằng xã hội. Trong cuộc sống phức tạp và khó khăn. ta mới tạo được cuộc sống tự lập với nhân phẩm cao quý. Trong gia đình. vui vẻ và hăng hái làm việc. Chủ đề: Liên lạc với người đồng thời Chúng ta còn là kẻ cùng chịu khó nhọc và chung sức làm việc với người sống cùng thế hệ với ta. Từ những nhu cầu vụn vặt hằng ngày đến những công cuộc tổ chức đời sống sao cho trật tự an vui. nhà ở và mọi tiện nghi nhu cầu khác. trong hầm mỏ hay xưởng máy thì nhân dân mới có cơm ăn áo mặc. Quan trọng nhất trong cuộc sống xây dựng quốc gia. mỗi người tuỳ tài tuỳ sức. giới thợ thuyền có lam lũ ngoài công trường. b. mỗi người có một nghề tinh thạo và hành nghiệp chu đáo để góp phần xây dựng xã hội cách thiết thực. không ai có thể sống lẻ loi được. người nông dân có dầm mưa dãi nắng ngoài đồng ruộng. thì gia đình sẽ được thịnh vượng và hạnh phúc. Sau đó. Muốn làm tròn bổn phận ấy. trước hết chúng ta cần phải luyện tập thân thể khoẻ mạnh. mọi sự chúng ta đều nhờ xã hội. học tập mở mang kiến thức dồi dào và rèn luyện đạo đức thanh cao. Có làm việc để nuôi thân. 59 . Mọi công dân đều phải có bổn phận chịu khó làm việc.

vui mắt. gia đình có thể được hạnh phúc. Chủ đề: Phụ nữ xây dựng gia đình Thật vậy. Ai cũng biết rằng sợi dây nhỏ. c. Sự phân khối khéo léo những khoản chi tiêu phù hợp với lợi tức kiếm được bảo đảm mức sống no ấm cho gia đình và tránh cho chồng con khỏi cảnh nợ nần tai tiếng. Đọc kỹ đoạn văn sau đây và xem mỗi đoạn văn ấy được gợi ý nhờ lối suy luận liên tưởng nào: tiếp giáp. thì cái họa sụp đổ và cái hố diệt vong đã hiện ra trước mắt dân tộc ấy. Cử chỉ niềm nở. lời nói dịu dàng của người vợ dịu hiền là những liều thuốc thần dịu để an ủi và khuyến khích chồng con trên con đường tranh đấu. cứu thương hoặc ủy lao các thương binh và gia đình chiến sĩ. người phụ nữ cần phải biết rõ vai trò của mình như thế nào trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung. Vì vậy. 2. Chủ đề: kiên nhẫn: Việc đời cũng vậy. Quan trọng hơn cả. người ta định làm việc gì nếu dốc lòng hết sức và nhẫn nại theo đuổi thì ắt sẽ thành công. cây gỗ lớn… Thế mà dây cứa mãi gỗ cũng đứt. Chủ đề: nhiệm vụ phụ nữ khi quốc biến. tổ kiến to. Tài nội trợ và sắp đặt khéo léo của người phụ nữ đem lại cho gia đình những bữa cơm dẻo canh ngọt và làm cho nhà cửa gọn gang. Sự góp phần hữu hiệu nhất là trực tiếp cầm khí giới tiểu trừ bọn xâm lược hay phiến loạn. nhờ tài đảm đang. Con kiến nhỏ. ăn không ngồi rồi. b. Chủ đề: Làm việc: Tổ quốc được hùng cường và dân tộc được vẻ vang đều nhờ công sức đóng góp của những người lao động trí óc và chân tay. nhưng nếu ta quyết tâm bền chí và gắng sức thực hiện thì cũng sẽ đạt được kết quả mong muốn. Có nhiệm vụ khi quốc biến. tương đồng hay tương phản? a. Đức tính hiền dịu. sự khôn ngoan và đức hạnh của người phụ nữ. sự hy sinh tận tuỵ của người vợ hiền có thể gây dựng sự nghiệp vinh hiển cho chồng con. thế mà kiến tha lâu ngày tổ cũng đầy. Trong quốc gia nếu không có họ mà chỉ có những kẻ cầu an hưởng nhàn. nét mặt vui tươi của người mẹ là tấm gương sáng cho con cái. tiếp tế.Phương pháp nghị luận c. Người phụ nữ cũng có thể gia nhập các tổ chức lo việc canh phòng. cho dù công việc khó khăn đến đâu. 60 .

Phương Pháp Nghị Luận Chương VI: PHƯƠNG PHÁP LÝ LUẬN Trước khi tìm hiểu các phương pháp lí luận. ý kiến có giá trị tương đối phụ và chính. Nên tất cả hậu thế sẽ vấp phải nấm mồ. Ta sẽ xét tới hai loại: Lí luận theo khoa học và lí luận theo triết học. Ví dụ: Đã là một người ai cũng phải chết. Ví dụ: Cái bảng trong lớp màu đen. diễn là giăng rộng ra và dịch là đi từ ý này sang ý khác. đen. Lí luận theo phương pháp diễn dịch khởi từ một nguyên lí chung suy ra các trường hợp riêng hoặc từ một ý tưởng chính bao quát suy rộng ra các điểm phụ khác. luận chứng. những tư tưởng. người ta có thể đoán thêm kết quả tương tự của chúng. từ nhiều sự kiện riêng đi tới một nguyên lí chung.  Nếu ý tưởng có tính cách cá nhân thì người ta quen gọi là ý kiến. Chúng ta sẽ áp dụng loại lí luận khoa học này trong các bài văn nghị luận. luận điểm. LÝ LUẬN THEO KHOA HỌC Trong các khoa học như toán. hoặc ngược lại. ý tưởng. xấu… là những ý niệm. Các phương pháp lí luận đề cập tới trong chương này có mục đích giúp chúng ta tìm ý để lập luận cho vững và xây dựng phân đoạn thêm phong phú. 61 . vật lí. Cũng có khi so sánh hai sự kiện có tính chất giống nhau về nguyên nhân. Nên thi sĩ Nguyễn Du đã chết. bàn xét tới các chi tiết tỉ mỉ hơn.  Một vài ý niệm hợp thành ý tưởng. đẹp. cây hồng nở nhiều hoa đẹp. ta gọi là những luận lý. ta cần phân biệt rõ vài điều.  Ý niệm là gì? Ví dụ: Trắng. 1.  Các ý niệm. hóa học… chúng ta thường thấy người ta đi từ nguyên lí chung đi ra các trường hợp riêng. những phê phán. a. Nên Hoàng đế Thần Nông đã chết. liên kết thành từng hệ thống duy nhất từ đơn sơ đến phức tạp. Nên bao nhiêu người hiện đang hấp hối. Phương pháp diễn dịch hay suy diễn Theo nguyên ngữ. Ví dụ: Ý kiến bàn về giáo dục nhi đồng.

chị gánh nặng mà cũng thường nghêu ngao vài câu phong dao. Áp dụng cho bài nghị luận. thì thấy trong lòng khoan khoái thảnh thơi. anh phu xe. nếu chỉ vì tiền sẽ không ngần ngại dùng mọi thủ đoạn gian ngoa xảo quyệt để mưu vinh thân phì gia. Ngay đến những người làm ăn lam lũ như người đi cày. Phương pháp quy nạp Theo nguyên nghĩa: quy là thu vào. và đầu cơ tích trữ gây ra nạn chợ đen chợ đỏ làm khổ đồng loại. mấy câu Kiều để quên nỗi nhọc nhằn của họ. Ví dụ 3: Đoạn 1 + 2 của bài “Chí Thành” b. Ngay cả những kẻ có học thức. 62 . Người buôn bán sẽ dùng mọi mạnh khỏe để kiếm được nhiều tiền. người đi cấy. (Theo Dương Quảng Hàm). thì ta sẽ vì tiền làm điều bất chính. nạp là gom góp lại. Ý phụ: Ta thường nghiệm ra: Sau khi làm việc tinh thần mệt mỏi. tính tình khô khan. nếu được đọc một bài thơ.Phương pháp nghị luận Ví dụ 2: Ý chính: Tiền bạc là ông chủ xấu Quả vậy. họ sẽ “làm thưng cháo nấu” hay “buôn đầy bán vơi”. một khúc đàn hay. Ý chính: Vậy thơ ca cũng là một cách giải trí mà là cách giải trí tao nhã thanh cao. một câu ca cũng không khác gì một bức tranh đẹp. nếu coi tiền bạc là trên hết. có thể làm tiêu tan được những nỗi nhọc mệt để cho tâm hồn ta lấy lại sinh lực mà làm việc về sau. vì một bài thơ. ngâm một bài ca. chúng ta có thể đi từ nhiều ý phụ đi vào ý chính.

Phương pháp loại suy căn cứ vào hai sự kiện cùng nguyên nhân sẽ có thể có những kết quả tương tự. Ví dụ: Ý chính: vấn đề quan trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ. để lý luân của ta khó ai bài bác được. Đến ngày ấy thì người nước ta mới phát triền được cái nhân cách của mình. sự tiến hóa sau này mới có thể mong mỏi được. Trong khoa Luân lý học. Đến ngày quốc ngữ dùng làm quốc văn được thì người nước Nam mới có thể thâu nhặt các khoa học mới mà gây thành một nền học thích hợp với trình độ. liên châu luận và lưỡng đoạn luận. loại suy là suy nghĩ để xét tìm những cái cùng loại với nhau. nhưng nếu thiếu lương tâm. Cái nhân cách ấy hiện nay còn mập mờ phảng phất như ảnh không hình vậy. Thợ thuyền căm cụi sớm khuya nếu không có lương tâm sẽ chế tạo hàng hóa mau hỏng. gây tai hại làm thiệt mạng nhiều người.Phương Pháp Nghị Luận c. Tam đoạn luận: là kiểu lí luận dùng 3 mệnh đề 63 . 2. Ý phụ: Vấn đề ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể mở mang. Phương pháp loại suy Theo nguyên nghĩa. LÝ LUẬN TRIẾT HỌC Tiến lên một trình độ cao hơn. người ta thường dùng Tam đoạn luận. ta có thể căn cứ vào những điều kiện đã có để suy ra những cái sẽ có thể có sau này. với cá tính cách dân ta. công trình kiến trúc của họ kém bền vững. Đối với những người làm việc trí óc cũng vậy. (Theo Phạm Quỳnh) Ví dụ 2: Lương tâm chức nghiệp Nông dân cày sâu cuốc bẫm có thể sản xuất nông phẩm dồi dào. Áp dụng vào bài văn nghị luận. a. họ sẽ đầu cơ tích trữ làm tăng giá sinh hoạt khiến cho nhân dân bị đói khổ. nhà văn không có lương tâm sẽ sáng tạo những tác phẩm nhảm nhí đầu độc tinh thần dân chúng. chúng ta có thể áp dụng các phương pháp lí luận thường dùng của khoa Luân lý học.

ấy là chủ nghĩa cần lao. Ôn Như Hầu… thấy việc gì trái cũng lấy làm đau đớn xót xa phát ra những lời bi sầu thảm thiết. thịnh cường phải lo nuôi sống cho đầy đủ. nêu lên một nguyên lý chung rộng. Sự kiện thứ hai tuy là kết quả của sự kiện thứ nhất. (Theo Nguyễn Trọng Thuật) c. suy ra X=Z Ví dụ: trong văn học: Tây Triết có câu: “Đời người đối với kẻ hay cảm xúc là một bi kịch. Muốn nuôi sồng được no đủ. 64 .” Những người đa sầu đa cảm như Nguyễn Du. nhưng lại trở thành nguyên nhân cho sự kiện thứ ba và cứ thế liên tiếp.Phương pháp nghị luận  Mệnh đề I gọi là đại tiền đề. b.  Mệnh đề III gọi là kết luận: Rút ra một chân lý riêng hẹp mới. Nhưng cũng có khi tam đoạn luận đặt cơ sở trên nguyên lý đồng nhất giữa các ý niệm: hai ý niệm cùng đồng nhất với một ý niệm thứ ba thì đồng nhất với nhau. Ví dụ:  Đại tiền đề: Sống (A) thì tranh đấu (B)  Tiểu tiền đề: Mà chúng ta (C) đang sống (A)  Kết luận: Vậy chúng ta (C) phải tranh đấu (A) Trong ví dụ trên. Ví dụ trong toán học:X=Y và Y=Z. Sinh vật phải sống. Liên châu luận Liên châu luận hay “lí luận chuỗi ngọc” là lối lí luận đi từ sự kiện thứ nhất (nguyên nhân) sang sự kiện thứ hai (kết quả). Sống phải nuôi và sinh sản. tam đoạn luận dựa vào giá trị bao hàm của ý niệm: Ý niệm sống bao hàm ý niệm tranh đấu. Lưỡng đạo luận Lưỡng đoạn luận còn gọi là Song quan luận.  Mệnh đề II gọi là tiểu tiền đề: Nêu lên một chân lý riêng hẹp liên hệ với đại tiền đề. ai nghe cũng phải xúc động não lòng. Muốn sinh sản được đông đúc. xâu thành một chuỗi ngọc dài… Ví dụ: người ta chẳng qua là giống sinh vật trên mặt đất. phải siêng năng làm việc được sinh lợi. là phép lí luận mở ra hai con đường hai cánh cửa mà người đối thoại thế nào cũng phải chọn một.

Ví dụ1: Một nữ sinh không làm bài luận văn      Cô ta hoặc không chịu làm hoặc không biết làm. Ví dụ2: Riêng về phép Lưỡng đạo luận. Cũng thành vô dụng. cũng hoài ngọc đi. Nói dối là hèn nhát.” 65 . sách Lễ Ký lại bảo: “Càng học càng thấy mình còn kém. con người trở nên tiến bộ và hữu dụng cho bản thân. ta phải thận trọng vì rất dễ bị bác bỏ.” Viên ngọc kia trở nên quí giá là nhờ mài giũa. ngu si hư đời. ta đưa ra một kết luận mà họ không chối cãi được. xã hội… là nhờ học tập. Cả hai việc đều đáng khinh bỉ.” Hãy tìm hiểu câu danh ngôn và xem hai nhận thức trên đây có trái ngược nhau không? BÀI THAM KHẢO I. vì nhân đạo. Nhưng khi nói về việc học. người nghe có thể cãi lý rằng: có nhiều trường hợp nói dối không phải để cầu lợi hay che giấu tội lỗi mình mà chỉ vì lịch sự. hoặc che đậy tôi lỗi của mình.Phương Pháp Nghị Luận rồi từ con đường họ đã chọn. gia đình. Qua ví dụ “nói dối” trên đây. vì yêu nước. Cũng vậy. NHẬP ĐỀ Ca dao Việt nam có câu: “Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài. Học hành quí giá. vì lương tâm nghề nghiệp… MỘT SỐ BÀI LUẬN MẪU VÀ ĐỀ LUẬN HƯỚNG DẪN Đề 1: Người đời thường khuyên: “Ta học tập để tiến bộ. Vì kẻ nói dối hoặc là cầu lợi. Đường nào cô ta cũng đáng trách cả.” Những sách Lễ Ký cũng nói: “Càng học càng biết mình còn kém. Con người ta có khác gì.

THÂN BÀI Trước hết. Sau một lúc bị chất vấn mọi điều về sự đời. cho mình là tài giỏi hơn người. Họ cũng từng lập đi lập lại câu 66 . Và “càng biết mình còn kém” có ý nghĩa gì? Chữ “biết” có nghĩa là nhận thức được khả năng. trên trời có bao nhiêu ngôi sao?” Khổng Tử còn đang suy nghĩ. tài giỏi như Đức Khổng Tử mà còn có những điều chưa rõ. chưa theo kịp người. Đó là loại người “ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung”. ta hãy quan sát nước Trung Hoa dưới triều Từ Hi Thái Hầu. Vì vậy. một thần đồng. ta phải chú ý đến hai chữ “càng học”. được người đời coi là “vạn thế sự biểu” (vị thầy của muôn thế hệ). Như vậy. Thật vậy. trên đời này có ai dám tự hào là thấy hết.Phương pháp nghị luận Vậy ta hãy tìm hiểu câu danh ngôn này và htử xem nhận thức của sách Lễ Ký có trái ngược với nhận thức của người đời không? II. Gần hơn. không lo đề phòng nên cuối cùng bị ngoại bang chiếm hết cẳ một miền duyên hải trù phú. Trong xã hội Việt Nam ta. còn thua sút người xa. thế mà đứng trước Hạng Thác. Ta đã thấy. bấy giờ Hạng Thác mới hỏi Khổng Tử: “Ngài thử tính xem trên mặt đất này có bao nhiêu ngôi nhà. những người tầm thường như chúng ta càng cần thấy được cái kém của mình và câu “càng học càng thấy mình còn kém” càng đáng cho chúng ta suy nghiệm. “Càng học” có nghĩa là theo đuổi việc học mãi mãi. vì thế có những người vốn học vấn chẳng được là bao mà đã tự cao tự đại. hạng người “không thấy mình kém” này rất nhiều. Chữ “kém” không có nghĩa ngu dốt mà là chưa theo kịp người. hiểu rõ sức mình. không dừng lại một giây phút nào. Ta thường nghe nói: “Người xấu hay làm tốt. Vì bà tự cao tự đại. Hạng Thác liền hỏi tiếp: “Thế trước mắt Ngài có bao nhiêu sợi lông mi?” Đức Khổng Tử đành không trả lời mà nhận rằng: “Hậu sinh khả úy” (kẻ sinh sau đáng sợ). nghe hết. Từ Hi Thái Hậu vì tự cho là quá giỏi mà nước nhà đi đến chỗ suy bài. lúc nào cũng hô hào. xem mình là bậc quán thông thiên hạ nên không thấy sự tiến bộ vượt bực của các nước Tây Phương. biết hết? Có ai dám tự xưng là đã thông hiểu mọi sự vật trên đời không? Chắc là không! Đức Khổng Tử là bậc tài ba lỗi lạc. “càng học càng biết mình còn kém” có nghĩa là càng theo đuổi sự học. người dốt hay nói chữ”. ta càng nhận thức rõ ràng hơn là ta còn thua sút. vẫn có những điều không giải đáp được.

thế mà họ không thấy cái phức tạp. chưa hiểu hơn bạn. Người học mà cứ ngồi mãi. luôn nhận rằng mình còn kém để cố gắng trau dồi. khó mà biết đâu bến bờ! Có nhận thức được như thế. học mãi. cây nhỏ.mà chúng ta phải học? Quy luật của học vấn là tiến triển. Ở đời. “đi một ngày đàng học một sàng khôn” Trước mắt ta còn biết bao nhiêu sàng khôn nữa . anh chị ta. đứng… rồi mới đi được. làm người khác khinh ghét không tận tâm giúp đỡ ta trên đường học vấn. Có ông thợ rừng nào biết hết các loại cây cũng như ai có thể tự hào mình thấu đáo mọi khía cạnh của học vấn? Những người đó cũng làm sao thấy được việc học mênh mông rộng rãi như đại dương! Ra biển rộng. nhưng nhìn lên đỉnh núi lại còn quá cao xa. không khi nào ta dám tự cho là người hoàn toàn. chẳng thấy mình còn phải trườn. Trong học đường. Người hay môn này. Người giỏi còn có người giỏi hơn (cao nhân tắc hữu cao nhân trị). bò. bò. câu này khuyên ta 67 . Như thế. Trong rừng có biết bao nhiêu cây to. vì “học tập như đi thuyền ngược nước. Hiểu biết được như thế. ta phải thấy còn biết bao người tài giỏi hơn mình. Những học sinh cấp hai ví như người leo núi được nửa chừng. ta phải thấy mình còn thua kém cha mẹ. ta mới thấy rằng: “Càng học càng biết mình kém” để cố gắng học thêm. không tiến là lùi”. sở dĩ sách Lễ Ký bảo ta “Càng học càng thấy mình còn kém” vì không muốn cho ta lây nhiễm nết xấu tự kiêu tự phụ ngăn trở bước đường tiến tiến thủ của ta. Trong việc học cũng có biết bao nhiêu vấn đề khó dễ khác nhau. Trong gia đình. Nhìn xuống họ thấy mọi vật đều nhỏ bé. Ngoài xã hội. có kẻ chuyên thao tác nhưng lại kém lí luận.Phương Pháp Nghị Luận “Rừng Nho biển thánh khôn dò”. Người học tập có khác đứa bé tập đi. đứng… để rồi đi được xa hơn thì việc học đã hỏng mất rồi. Những người ấy làm sao thấy được việc học phức tạp như rừng. Có nhận thức được như thế. ta phải nhận là chưa bằng thầy. trườn. trái lại. biết bao giờ mình mới tới nơi? Người học tập cũng ví như người đi đường. học hỏi thêm mãi. kẻ giỏi môn nọ. cái mênh mông rộng rãi của việc học. còn ai nhìn thấy chân trời? Vào biển học. Trong phạm vi rộng là như thế. bây giờ ta thử xét phạm vi hẹp hơn. phải trải qua nhiều giai đoạn: ngồi. có người giỏi lý thuyết nhưng lại kém thực hành. ta mới nỗ lực hơn và việc học tập mới đi đến kết quả tốt đẹp.

Thái độ tự cao tự phụ. Do đó. còn ta chỉ là một học sinh nhỏ bé” mà thôi. Nếu trên trên đường học tập. III. “học tập để tiến bộ” và “càng học càng thấy mình còn kém” là hai nhận thức không trái ngược nhau. tự hạ để lấy đà mà nhảy cao vọt lên vậy. Như vậy. lúc nào ta cũng phải khiêm tốn mà nhận rằng: “Đời là một trường học rộng lớn bao la. cứ lên một lớp là tiến một bậc. nhận thức sau vạch rõ thái độ học tập. ý thức tự hào toàn thiện toàn mỹ là kẻ thù của việc học vậy.Phương pháp nghị luận nên có một tư cách khiêm tốn mà cầu tiến. ai cũng thấy mình còn kém cùng tranh nhau chạy tới khắc phục cái kém trước mắt mình thì cuộc chạy đua hào hứng biết bao nhiêu! Trong đời học sinh. Câu này còn khuyến khích ta nỗ lực và thi đua học tập. ta nhắm đỉnh cao mà tiến tới thì chẳng mấy lúc thấy mình bỏ xa điểm khởi hành. Có thái độ học tập đúng đắn mới mong đạt được mục đích tiến bộ cao xa. nhưng muốn học đến nơi đến chốn phải nhận rõ mình còn kém để mong được tiến bộ hơn. Nhận thức trước nêu ra mục đích của việc học. Cứ như thế. Có tiến bộ mới có điều kiện phục vụ tốt. Nhưng đứng ở bậc dưới nhìn lên bậc trên mình lại thấy rõ mình còn kém hơn. Muốn trở nên hữu ích cho đời thì cần phải học. ta thấy đây là một lời khuyên rất chí lí và thực tế. Hai nhận thức này hoàn toàn hòa hợp và bổ túc cho nhau. vạch cho người theo đuổi việc học con đường đi tới một tương lai tươi đẹp. KẾT LUẬN Sau khi đã tìm hiểu câu nói trên. 68 .

tư tưởng của ta. Nhìn rộng hơn. Ta hãy thử tìm hiểu xem những điều giữ gìn đó có lợi ích gì cho đời sống con người và làm thế nào ta có thể giữ gìn chu đáo tư tưởng. Cũng vậy. ta hay giữ gìn tư tưởng. ta hay giữ gìn ngôn ngữ”. người tin. Những người trong gia đình. Do đó. sống trong gia đình. NHẬP ĐỀ Ở đời.” Thật rõ ràng xã hội đã căn cứ vào ngôn ngữ mà định giá trị con người vậy. một câu danh ngôn đã khuyên ta: “Ở một mình. ta phải biết rèn luyện tính tình. Vì vậy. Vậy. được sống trong gia đình trên thuận dưới hòa và ra xã hội được nhiều kẻ mến. tuy thân tình với chúng ta. ở một mình ta phải thận trọng kiểm soát mọi ý nghĩ. trong gia đình. câu nói trên giúp cho chúng ta một phương châm xử kỷ tiếp vật là phải biết thận trọng trong tư tưởng. và làm thế nào ta có thể giữ gìn chu đáo? BÀI THAM KHẢO I. ta hay giữ gìn tư tưởng. Bởi thế. do đó xung đột rất dễ nảy sinh. người đời thường nói: “Chim khôn ca tiếng rành rang. Vì vậy. trong gia đình. ta hay giữ gìn ngôn ngữ. ta càng phải giữ gìn lời ăn tiếng nói. nhưng tính tình vẫn có nhiều điểm không hợp với ta. cư xử khéo léo để tránh đụng chạm có thể xảy ra. ra ngoài xã hội. con người sống một mình cũng dễ bị ngoại cảnh ảnh hưởng. ta hãy xem câu nói ngụ ý gì? Ta thấy cây sống một mình dễ bị gió lay. chi phối. Để đạt được ba điểm ấy. ta hay giữ gìn tính tình. 69 . Một khi đã xung đột về tính tình thì hạnh phúc trong gia đình cũng có nguy cơ bị phá hủy. Người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe. THÂN BÀI Trước hết. Rời khỏi ngưỡng cửa gia đình để tiếp xúc với mọi người trong xã hội. ta thấy gia đình là một xã hội nhỏ. II. thú sống một mình rất dễ bị sát hại. tính tình và ngôn ngữ. ai cũng mong được làm người có tư tưởng trong sạch. xoay chuyển hay đầu độc tư tưởng mình. ta thấy ngay lời nói là biểu hiện tính chất của con người. ra ngoài xã hội.” Những điều giữ gìn đó có lợi ích gì cho đời sống cong người. ta hay giữ gìn tính tình. tính tình và ngôn ngữ để trau dồi bản thân và sống hòa hợp với người xung quanh.Phương Pháp Nghị Luận Đề 2: Giải thích câu nói sau: “Ở một mình. trong sự tiếp xúc với người ngoài.

Từ chỗ vui hòa trong tư tưởng. tư tưởng của ta. không bi quan chán nản. việc nêu vấn đề tu thân lên hàng đầu chẳng phải là có dụng ý lắm sao? Giữ gìn tư tưởng là điều căn bản của việc tu thân vậy. trong sạch thì ai cũng cần phải cố gắng đạt tới. trâu đen”. không hấp tấp vội vàng. Đức Khổng Tử đã dạy: “Tu thân. Lúc đó. điều đó đã chẳng dạy ta cách giữ gìn tính tình trong gia đình công hiệu nhất hay sao? 70 . Nhưng khi ta bi quan thì đời đen tối. ông Trương Công Nghệ đã dâng lên vua 100 chữ nhẫn. trụy lạc. Có khi người cha chỉ vì giận con một chút mà bỏ mặc con hư hỏng. trị quốc. Vì vậy. con buồn cha một điều mà sinh ra bê tha. kèn thổi ngược”. ta sẽ đi đến chỗ có một tư tưởng trong sạch. Có nhẫn nhịn ta mới tạo được hạnh phúc gia đình. ta còn phải lo giữ gìn trong việc tề gia nữa. ta phải luôn luôn bình tĩnh suy nghĩ. Chỉ vì không chịu khó tìm hiểu. Đã giữ được tư tưởng trong việc tu thân rồi. ta rất dễ bị sa vào vòng bê tha.Phương pháp nghị luận Nhưng. nhưng một tư tưởng vui hòa. nghe bao nhiêu lời nói hay dở. vấn đề được đặt ra là: Chúng ta phải giữ gìn tư tưởng. không biết tu dưỡng thì chẳng bao lâu những sự đen tối xấu xa sẽ ám ảnh. đầu độc tâm hồn. tiêu tan đi. bình thiên hạ.” Sự sắp đặt thứ tự. khi được triệu đến để trình bày rõ tài tề gia của mình. ngôn ngữ như thế nào và bằng cách nào? Tư tưởng là giá trị tinh thần của con người. bất cứ việc gì cũng phải lấy tinh thần xây dựng yêu đời mà nhận xét. Muốn được vui hòa. Tư tưởng sinh ra hành động. vợ chồng cha con thì “trống đánh xuôi. Tuy ta không cần phải có một tư tưởng siêu phàm. tránh khỏi những đổ vỡ đáng tiếc. sinh ra chán nản và bao nhiêu nghị lực trong người cũng vì thế mà rã rời. Và thường thì con người khỏe là tư tưởng khỏe. thêm vào đó. tiếp xúc với đủ mọi hạng người… nếu ta không biết vui hòa. ta phải chú trọng rèn luyện cơ thể để có được “một tâm hồn trong sạch một thân thể khỏe mạnh”. Ở một mình ta thường dễ dãi với ta: Khi ta lạc quan thì nhìn đời tươi đẹp. điều căn bản trong việc giữ gìn tư tưởng là giữ được sự vui hòa. giữ được tính tình là giữ được hạnh phúc. có đủ nghị lực sống ở đời. nhân nhượng nhau nên anh em thì “trâu trắng. Trong gia đình. Một người có tư tưởng hư hỏng là mất cả phẩm giá. tính tình. Bởi thế. tề gia. Hằng ngày ta đọc bao nhiêu sách tốt xấu. Ta thấy rõ căn bản của việc giữ gìn tính tình là tinh thần nhẫn nhịn. sa đọa.

lễ độ. Sách tả truyện có câu: “Lời nói như tên. chúng ta lại càng ao ước cho mình được mọi người thừa nhận. tự cao.” Điều đó đủ cho ta thấy việc phát ngôn quan trọng đến chừng nào! Hơn nữa. sống ở đời ta phải biết “lập thân. đã lọt vào tai ai thì không tài nào rút ra được nữa. Nhưng thành phần xã hội vô cùng phức tạp. Ta phải nói sao cho người khác kính yêu mình. Giữ được chữ tín thì ngôn ngữ thông suốt. mọi người kính yêu mến phục vụ và sẽ đạt được thành công trên đường đời. Mẹ thầy Mạnh Tử ngày xưa vì đã hứa nên phải mua thịt về cho con ăn. ta có thể tự hào là người con sung sướng nhất trên đời. lừa bạn. nói một cách khiêm tốn. Xây dựng tư tưởng. lúc nào ta cũng phải thận trọng từng lời nói. những người cùng huyết thống có thể dễ dàng tha thứ cho ta những sơ xuất. lập chí”.lập ngôn. Và như thế.Phương Pháp Nghị Luận Trong gia đình mà chúng ta còn muốn được hạnh phúc thì khi ra ngoài xã hội. lấy chữ tín làm đầu. không khoác lác. và như vậy ta mới mong tạo được sự nghiệp ở đời. ngôn ngữ phải biểu lộ tín nghĩa. trọng kính. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Lập chí là đạt thành ước vọng. lập đức. đó là một phần của việc lập thân. lòng đầy tin tưởng tiến về tương lai tươi sáng. tứ mã nan truy” (một lời đã thốt. III. Đã lập được thân. KẾT LUẬN Tóm lại. thực hiện lí tưởng của ta. Giữ gìn ngôn ngữ. mới nghe theo mình. ta thấy rõ việc giữ gìn ngôn ngữ cốt lấy điều thận trọng. chẳng phải lấy chữ tín dạy con đó sao? Vì vậy. mến yêu. Trong gia đình. được ngôn tức là ta mở rộng con đường đi đến chỗ thành đạt ý tưởng. Vì thế. nhưng khi ra ngoài xã hội “lỡ một lời là hỏng một đời”. lập đức. Vì thề. Có tin được mình thì người khác mới kính yêu. Đức Khổng Tử đã dạy: “Người không có tín thì không đứng vững được ở đời” (nhân vô tín bất lập). Tục ngữ pháp dã nói: “Phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” (Iifaut tourner la langue septfics avant de parier) là để dạy ta suy xét và giữ gìn lời nói. không dối người.” Hoặc “nhất ngôn thuyết quá. không nên bắn bậy. được đức. bốn ngựa khó theo). việc giữ gìn ngôn ngữ thật quan trọng Người đời thường nói: “Lời nói chẳng mất tiền mua. 71 . tình tình. đó là lập ngôn.

Hòa là không ngang trái. kiệm. II. thời giờ. Vì thế mùa đông chú ve phải chịu cảnh cơ hàn. THÂN BÀI Trước hết. hòa.đó là sự phòng xa của con người. Ngài bèn cởi áo ngự bào đắp cho ông. Ta tiết kiệm sức khỏe. Nội tâm ta mà an vui tức cuộc đời ta hạnh phúc rồi vậy. NHẬP ĐỀ Ở đời ai cũng muốn sống lâu và sợ chết. rét run lập cập. Vì thế vua Lê Thánh Tông nổi tiếng là nhân từ. Một hôm vua Lê Thánh Tông ngự giá ra khỏi hoàng thành thì gặp một ông lão đang nằm. Truyện “Con ve và con kiến” của La Fontaine đã dạy ta một bài học về tiết kiệm cụ thể nhất. chú kiến thì chắt chiu từng hạt tấm. không thiếu quá mà cũng không thừa quá. Người ta thường nói tới nhân từ và từ bi bác ái. nhưng luôn vui vẻ và êm ái. giữ tiết độ trong việc ăn chơi… như vậy gọi là kiệm. lỗi lầm. Hãy bình luận câu nói ấy và cho biết những gì làm cho con người mau chết. BÀI THAM KHẢO I. thương dân như con và khắp thế giới sùng bái lòng từ bi bác ái của Đức Phật. tĩnh làm cho người ta sống lâu. Nhưng về thuật sống lâu thì không mấy người có được. hòa. phúc hậu. Hòa cũng là sự an vui nội tâm. Vì thế. kiệm. chú ve chỉ biết lo ca hát. tử.Phương pháp nghị luận Đề 3: Sách cổ ngữ có câu: Từ. Bốn điều đó là: “Từ. lão. Ta thử xem tại sao bốn điều ấy lại có thể quyết định đời sống của con người và những gì có thể làm cho con người mau chết. tĩnh”. 72 . Đó là thái độ xử thế của người Khổng Tử theo quan niệm Khổng Tử: “Quân tử hòa nhi bất đồng. sách Cổ ngữ dạy ta bốn điều có thể gọi là nền tảng của thuật dưỡng sinh. Kiệm là có chừng mực. tiền bạc. yêu thương người xung quanh một cách rộng rãi. Thái Tử Sĩ-Đạt-Đa (tiền thân của đức phật) ngày kia ra thành đã chứng kiến cảnh sinh. trong khi chú kiến vẫn no ấm đầy đủ. bệnh của người đời và từ đó nguyện xả thân để cứu độ chúng sinh. còn kẻ tiểu nhân tuy a-dua theo thiên hạ nhưng chẳng sống hòa thuận được với ai). ta hãy tìm hiểu từng điểm của thuật dưỡng sinh: Từ là nhân đức. làm lành lánh dữ: đó là căn bản đạo đức của con người. bệnh. tiểu nhân đồng nhi bất hòa” (người quân tử hòa hợp với mọi người mà không bị đồng hóa.

Làm việc gì ta cũng phải giữ điều độ. không quá sức thì Diêm Chúa có thấy mặt ta cũng lờ đi. Khi Khổng Minh bị Tư Mã Ý bao vây ở Nhai Đình nếu ông đem quân ra cự ngay thì chắc chắn thất bại nhưng ông rút quân rồi lên lầu ngồi đàn. Kiệm. Có sức khỏe thì sống lâu.” (Gia huấn ca) Điều nhân đức không chỉ tạo ra cái vinh hoa. Người mà có đức muôn phần vinh hoa. không nóng nảy. 73 . Sau. Sau khi hiểu được ý nghĩa của Từ. Đức hòa của ông Lân Sĩ quả đáng khâm phục. ông lại cười và hỏi: “Thế không phải giày của bác à?” Rồi vui vẻ nhận lại giày. (Phan Trần) Thầy Mạnh Tử cũng nói: “Người bất nhân không thể vui sống được lâu ngày”. làm cho Tư Mã Ý là tướng giỏi cũng bị lầm mưu. người láng giềng tìm được giày bèn đem giày của ông trả lại.Phương Pháp Nghị Luận Xưa Thẩm Lân Sĩ đang đi giày thì có người đến nhận. phú quý của con người mà còn làm cho ta vượt qua hẳn mọi người: May ra ai cũng một thì. Ông cười nói: “Giày của bác đấy à?” rồi ông đưa giày ngay cho người đó. Cái đức tĩnh của ông tạo ra cái hư hư thực thực. Hơn nhau hai chữ nhân nghì là hơn. Ta không bỏ phí thời giờ vì thời giờ là tiền bạc. Xem thế. Đó là thái độ của người già giặn. giữ được tĩnh thì lòng vui vẻ thư thái mà công việc cũng được thành công tốt đẹp. Tĩnh là thinh lặng. Làm chủ được nội tâm. ta thấy rõ chữ nhân liên hệ mật thiết với sự sống của con người biết chừng nào! Đến như chữ kiệm là một điều hết sức cụ thể. Ta không làm việc quá độ không chơi bời quá độ thì tiết kiệm được sức khỏe. có tiền bạc thì ta có thể sống lâu. Ông Nguyễn Trãi lại nói: “Ở cho có đức. Nội tâm động sinh loạn. Tĩnh rồi bây giờ ta hãy xem những điều ấy có tác dụng quan trọng như thế nào mà làm cho người sống lâu? “Gia huấn ca” của Nguyễn Trãi nói: “Thương người như thể thương thân” (ái nhân như ái thân) hễ ta yêu người thì người ta yêu lại như thế ta sẽ thêm bạn bớt thù. có nhân. đời sống ta tất được bảo đảm hơn. nhiều kinh nghiệm mà cũng chứng tỏ được sự tự chủ của nội tâm.

người mà thong dong thì sống lâu. có thời chứ cái hại của xa xỉ thì thường xuyên. lúc nào cũng bị các ác ám ảnh thì làm sao mà sống lâu cho được? Người xưa bảo: “Cái hại của xa xỉ còn lớn hơn thiên tai”. không gây điều thù oán thì lòng ta thảnh thơi vui vẻ còn gì cho sướng bằng. Xa xỉ là gốc của nghèo khổ và tội lỗi. Sự phẫn nộ tiêu diệt đức Hòa. Đó là chuyện thú vật chứ người thì cái hối hận kia kéo dài suốt đời. còn có thú vị gì. Lúc còn nhỏ ta đã học chuyện vợ chồng nhà gấu. Người ta thường nói: “No mất ngon. Ngược lại với từ là ác. lòng nơm nóp lo sợ thì tuy sống trong đống vàng mà chẳng thấy vui gặp lúc nào cùng quẫn không ai thèm giúp đỡ. rồi bốn đức của thuật sống lâu không phải là thuốc tiên mà ta không mưu cầu được. không kể xiết. Người tĩnh không bị những cơn thịnh nộ làm mất sức khỏe. trái với kiệm là xa. làm cho gia đình người khác đau khổ. Hòa. KẾT LUẬN Ta đã thấy những gì làm cho ta sống lâu. Tĩnh thật là điều căn bản của thuật sống lâu vậy. lúc giận nhau vợ móc mắt chồng. Người xa xỉ lúc túng thiếu sinh ra lường gạt. giận mất khôn”. nhiều kẻ oán thù. III.Phương pháp nghị luận Giữ được chữ hòa thì ta không sinh sự với ai. sống như chết rồi. Vô sự còn hơn hữu sự ru? Lòng thanh thản không thù ghét thì làm gì mà chẳng sống lâu? Hòa với tĩnh vốn gần nhau. như thế thì dễ gì mà sống lâu. đối lập với hòa.” Ta thấy rõ bốn điều Từ. trộm cắp. Thầy giáo dạy học trò mà mau chết là vì giận nhiều. tĩnh là nộ. khi hết giận ân hận cũng là thừa. Bởi thế ông Lã Khôn nói: “Ở đời cái gì thong dong thì còn mà cấp bách thì mất việc mà thong dong thì có ý vị. Nhà văn Thạch Lam đã viết chuyện: “Một cơn giận” cho ta thấy rõ chỉ với một cơn giận bất thường ta có thể giết người. nặng nề về 74 . Tĩnh. Hiểu rõ được những điều căn bản của thuật sống lâu ta cũng cần tìm biết những gì làm cho con người mau chết. Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng ca ngợi sự hòa: Chữ rằng: Nhân dĩ hòa vi quý. Đức tĩnh lại làm ta tránh được những cơn uất nộ có hại cho người khác mà cho ta phải hối hận suốt đời. Để đạt cái đức ấy đòi hỏi có sự rèn luyện tinh thần. giết người lấy của. Người đời thường nói: “Ác lai ác báo” (làm ác lại gặp ác) làm điều ác thì nhiều người ghét. Kiệm. những gì làm cho ta mau chết. Thiên tai có lúc.

 Việc phổ biến kinh nghiệm thành học vấn. Muốn đi đến cái cao rộng của học vấn phải hành:  Thực hành ngay từ lúc còn đi học. B. NHẬP ĐỀ Kiểu tương đồng: dùng câu có ý nghĩa tương tự để làm nổi ý: sự biến chuyển tất nhiên của vạn vật. Lập luận và chứng minh 1. 75 . Biến chuyển từ sự đời tới sự học (tri và hành hiệp nhất)  Vấn đề thu nhập kinh nghiệm ngoài đời. nhẹ điều quấy. gột rửa các thói hư. Cả trong việc học cũng có sự biến chuyển. 2. Biến chuyển từ sự học ra sự đời (học và hành)  Về đạo đức. làm ta yên tĩnh. 3. vì tại một đàng đi. người ta khỏe mạnh thì chắc chắn ta sẽ sống được lâu. Lòng ta thanh thản trí ta vui tươi. có nhiều đường để đi đến học vấn như sông.  Về thể dục.” Hãy áp dụng câu nói này vào việc học thực tế của chúng ta. 2. Biến chuyển trong chính việc học  Thời kỳ khởi thủy. DÀN BÀI HƯỚNG DẪN I.  Thực hành ở ngoài đời. gò nổng học núi không đến được núi. một đàng đứng. Đề 4: Giải thích câu nói của Dương Tư: “Trằm sông học biển đến được biển.  Thời kỳ chung cuộc. II. Giải thích 1. Nghĩa đen của câu nói: làm nổi bật quan niệm động trong câu (nhấn mạnh chữ đi và đứng).  Thời kỳ chính giữa.  Về trí dục. Nghĩa bóng: học phải hành  Biến chuyển luôn (đi).Phương Pháp Nghị Luận điều không làm.  Đưa ra thực hành giúp ích cho đời. Nhận xét chung: học vấn rộng như biển. ướp vào mỗi ngày một chút hương đạo đức. THÂN BÀI A. tật xấu như những chất bẩn bao bọc lấy người ta.

”  Ví dụ thứ hai của việc tiêu tiền: tiêu tiền có phải là một thứ lương năng của người đâu! Chính là một tập quán của xã hội. từ đứa bé mới lọt lòng mẹ cho đến những người ngu si tàn tật. Ăn uống phải dùng tiền. vật lý học… Hiện nay có biết bao nhà bác học chuyên môn khảo cứu khoa ăn uống mà vẫn chưa tìm biết được lý do và giá trị của những thứ thực phẩm rất thông thường mà người ta biết dùng từ thời thượng cổ đến nay. không dùng tiền 76 .Phương pháp nghị luận  Rút kinh nghiệm bổ túc cho học vấn. Là người có tinh thần duy tân muốn làm cho nước Trung Hoa được tiến triển theo trào lưu của thế giới nên không ngần ngại đưa ra quan niệm: “Biết khó mà làm dễ. sinh năm 1866 mất năm 1925 là nhà cách mạng đầu tiên ở Á châu đã hoàn thành cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) thực hiện nền dân chủ ở Trung Hoa. Phàm người văn minh. từ bé cho đến khi chết có khi nào là không dùng đến tiền. tự phụ. Ông lấy rất nhiều ví dụ để chứng minh thuyết mình là đúng. y dược học. đi xe. có hại cho mình và cũng không giúp ích được cho ai hết. Đề 5: Nhà cách mạng Tôn Dật Tiên có nói: “Biết khó mà làm dễ (Tri nan hành dị) nhưng có người lại nói: “Biết dễ mà làm khó. II.” Bạn tán thành ý kiến nào? BÀI THAM KHẢO I. thuê nhà. vệ sinh học. Xem thế thì biết “Làm thì dễ mà biết thì khó. tự là Trung Sơn. KẾT LUẬN Học phải chủ động. ai mà không làm được. học làm cho mình thêm chủ quan. may mặc phải dùng tiền. III. DIỄN ĐỀ Trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu nhận thức của Tôn Trung Sơn. Nhưng muốn biết được sự tiêu hóa cũng là nguyên nhân sự nhu cầu các thực phẩm thì phải học qua sinh lý học. Học thụ động là tự trói mình mà học.  Ví dụ thứ nhất là việc ăn uống: ăn uống là việc rất thông thường của loài người.” Hai ý thức trên đây tương phản nhau như thế nào? Chúng ta nên theo quan điểm nào? Phần sau đây sẽ trình bày rõ hơn. NHẬP ĐỀ Ông Tôn Văn hiệu là Dật Tiên.

uống. biết học làm sao cho hay. đóng tàu. Xã hội văn minh công thương phát đạt cũng nhờ tiền.Phương Pháp Nghị Luận không được. làm việc vui chơi. cải cách đều do tiền mà ra! Nhưng tiền là cái gì? Tiền lưu hành thế nào thì ở đời có mấy người biết? Quả thế muốn biết tiền là gì và sự lưu thông tiền bạc. giữ điều nhân. Như thế mới là biết nhưng thật cũng như chưa 77 . Có tiền tiêu mọi việc xong xuôi. Đợi đến khi văn minh Âu Tây tràn sang mới có sách nói về văn pháp Trung Hoa phỏng theo những sách văn pháp Thái Tây.chung thân nói theo mà không hiểu nguyên------------đông người vậy”. Chúng ta tiêu tiền rất tự nhiên.) Mạnh Tử phải nói: “Làm mà không để ý. trí. Nói đến biết học thì ai----------. tài chính học. Nói đến “biết làm” thì ai cũng ----------. sướng khổ.”  Ví dụ thứ ba là việc làm văn: làm văn ở Trung Quốc. ngay cả coi sự làm văn như một thứ tài hơn cả mọi tài! Biết bao người có tài đã bỏ phí tài mình về công nghệ mà mài miệt văn chương! Nước yếu cũng vì người ta thích văn hoa.” Ngoài ba ví dụ kể trên Tôn Văn còn kể nhiều ví dụ khác như làm nhà. từ xưa đến nay biết bao người đã từng làm! Từ vua đến dân ai cũng thích làm văn. Đó lại là một bằng chứng nữa cho thuyết “Làm dễ biết khó. biết sống làm sao cho hợp. không tiền thì phải bó tay cho nên ai cũng trọng đồng tiền. họa phúc.Có gì đâu.. Cho nên hễ khi ta hỏi các vị thâm nho về lý tắc văn chương các cụ không giải được rõ ràng. nghĩa. buồn vui. Nếu hỏi “biết làm người” là gì thì ai cũng cho--------------------sách xưa. biết làm thế nào để trở nên người đứng đắnthì thật là ít ai biết rõ. tập……….lấy sách thánh hiền đọc cho nhiều. học cho thuộc. đắp thành khai sông. Những việc ấy người ta làm đã lâu nhưng mãi cho đến bây giờ chờ có khoa học thì mới biết được rõ ràng. Vì Trung Hoa là một nước lớn nhất Á châu và trên thế giới nên người Trung Hoa có thái độ tự tôn (phần này không rõ chữ…. Vậy sự tiêu tiền là một bằng chứng rất xác đáng cho thuyết “Biết khó mà làm dễ. phải học qua kinh tế học. Nhưng sự lạ là ở một nước văn minh như thế không có một nhà văn nào nghĩ đến “văn pháp” làm một quyển văn pháp. lễ. Họ giải thích: đi ra đồng cày bừa. tín là-----------làm sao cho khéo. Chúng ta đã thấy ông Tôn Dật Tiên giải thích và dùng thuyết “Biết khó làm dễ” của mình rồi giờ đây chúng ta xem thử cái “Biết dễ làm khó” của người Trung Hoa thời ấy như thế nào. Bàn đến việc biết sống thì cũng có thể giải thích: sống là ăn. vào triều đình -----------------đó là biết làm rồi vậy. thế là học biết rồi vậy. thậm chí sinh tử.

Cái hại căn bản của ý thức “Biết dễ làm khó” là làm cho người ta chỉ biết thực hành một cách vụn vặt. thế mà sau này phải nhờ đến những phát trọng pháo của ngoại quốc bắn vào mới nhận thức rõ nghề làm súng đạn quan trọng.-----------cái biết chủ quan của những anh mù sờ soi mà thôi. chỉ muốn ngồi không mà đọc sách. không suy nghĩ trước điều lợi hại. Văn Công ngạc nhiên hỏi lý do. Đó chỉ là cái biết đại cương. hoạt động để tiến bộ. ỷ lại vào cái sẵn có. chính trị. Nghe xong Tấn Văn Công mới giật mình thấy rằng mình muốn đi xâm chiếm nước Vệ tất có nước khác đến chiếm nước mình. Ông lão nói rằng: Tôi cười vì nghĩ đến một chuyện vừa mới xảy ra: Có người dắt vợ đi đường bỗng thấy người con gái đẹp ở dưới đám dâu anh ta bỏ vợ đi xuống nói chuyện. Quan điểm này còn làm cho con người có tinh thần tri thủ. Nhưng chúng ta muốn làm một bài toán thì trước đó phải thấu hiểu các qui tắc. định lý. Đã hiểu qua hai quan điểm “Biết khó làm dễ” và “Biết dễ làm khó” rồi chúng ta đều thấy rằng cần bài bác quan điểm sau và tán thành quan điểm trước. Biển Thước là bậc danh y. Chúng ta bài bác quan điểm “Biết dễ làm khó” là vì nó đưa con người đến chỗ lười biếng là tự cao. Văn Công tự mang quân đánh nước Vệ. Như ở Trung Hoa từ đời nhà Chu đã chế tạo được “chỉ nam xa” mà sau này vẫn phải mua địa bàn của ngoại quốc về dùng. vào tiền nhân mà không làm được việc gì cả. giải quyết được mọi vấn đề cần thiết. không ai muốn hoạt động công. thương. ngâm thơ thì thật là tai hại vô cùng. Thật là buồn cười. Trên đường tiến binh bỗng gặp một ông lão cứ nhìn mình mà cười. Do cái biết nông cạn đó mà người ta mới quan niệm rằng làm là khó vì họ có biết thấu đáo gì đâu để mà làm. con người mất hết sáng kiến. bèn kéo quân về nước. cái gì cũng cho là biết nhưng sự thực thì chưa biết rõ cái gì cả. Quả nhiên nước nhà vừa bị xâm lăng… Chúng ta tán thành quan điểm “Biết khó làm dễ” là vì nó giúp ta thấu hiểu sự vật.Phương pháp nghị luận biết vậy. người Trung Hoa tìm ra thuốc pháo trước. Tôn Trug Sơn tiên sinh 78 . Như về thời Ngô Bá Tấn. không còn tin tưởng ở sự tiến bộ nữa. Ngay về khoa đông y thì ai cũng biết ở Trung Hoa từ xưa đã có Hoa Đà. thế mà khoa y dược Trung Hoa “xưa thế nào nay vẫn thế” không thấy phát triển gì thêm. không biết rõ rồi thi họ rằng làm là khó. Cứ như thế. Một lúc sau ngẩng đầu lên thì thấy vợ mình đã có người vẫy đi. biết cách áp dụng thì mới làm trúng.

nếu đặt vấn đề lựa chọn giữa hai quan điểm. KẾT LUẬN Chúng ta thấy rằng. làm để tìm tòi hiểu biết thêm về việc đang làm và các vấn đề về việc mới khác. thì chúng ta nên nhận lấy quan điểm của Tôn Trung Sơn tiên sinh vì đó là một quan điểm tiến bộ.Phương Pháp Nghị Luận nhờ thấu hiểu nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân Trung Quốc mà thực hiện cuộc cách mạng Tân Hợi. III. Biết rõ để mà làm. Nhưng chúng ta cũng có thể dung hòa theo đường lối của Vương Dương Minh là: “Tri hành hợp nhất”. cứ như thế thì bản thân chúng ta cũng như quốc gia. hễ biết rõ rồi thì việc làm tất nhiên sẽ dễ dàng. xã hội mới có điều kiện phát triển khả quan hơn. làm việc gì trước hết chúng ta cũng cần phải biết cho thấu đáo. 79 . đưa dân tộc Trung Hoa bước sang một giai đoạn mới tốt đẹp hơn.

” Vậy chúng ta hãy thử bình giảng câu nói của người. có kinh nghiệm ở đời mà nhất là có ý chí xây dựng cho ta nên người. những kẻ vuốt ve nịnh bợ ta chúng là kẻ thù của ta vậy. chân ở đời mà thận trọng trong việc giao kết. II. Ông đem bức tranh ấy lên để cho người qua lại xem mà phê bình và núp sau để nghe ý kiến. Thế nên Tuân Tử phải làm cho con người thấy cái giả. và ông đã nói: “Người chê ta mà chê phải là thầy ta. chê trách thầy Tử Lộ mới không lấy làm buồn và nói “Thầy thương ta mà chỉ trích cho ta nên người thì sao ta lại buồn!” Nhưng chữ thầy mà Tuân Tử muốn nói có nghĩa rộng rãi hơn. nhìn bức tranh một lúc rồi nói: “Ông này vẽ sai rồi! Con ngựa phi thì chân trước phải co lại và bắp thịt nó bị dồn phải nở to ra. sự khen chê cũng trở nên bất thường. mang ngay bức tranh kia về vẽ lại. Lại như chuyện Việt Thạch Phú và Án Tử nước Tề. người khen ta mà khen phải là bạn ta. Như có một học sĩ vừa vẽ xong bức tranh người phi ngựa. khi xưa bị Đức Khổng Tử phê bình. Đây là thời mà các chư hầu “tranh thành dĩ chiến. Có cái đáng chê thì lại được khen. một thời buổi loạn lạc. Nơi học đường thầy có chê ta điều này điều khác là vì lợi ích của húng ta mà thôi. NHẬP ĐỀ Tuân Tử là một trong bảy ông Hiền thời chiến quốc. bỏ vào trong ở mãi không ra.Phương pháp nghị luận Đề 6: Bình giảng câu nói của Tuân Tử: “Người chê ta mà chê phải là thầy ta. Việt 80 . Trong xã hội loạn lạc thì lòng người cũng sinh ra đảo điên. Ông ta ngầm nhận đứa trẻ kia là thầy của mình là vậy. Về nhà Án Tử chẳng hỏi han gì nữa. Họ Việt mắc án oan Án Tử gặp giữa đường liền tháo một con ngựa đang đóng xe ra bán chuộc tội cho họ Việt rồi đưa lên xe. DIỄN ĐỀ Trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu chữ thầy. Không chỉ là người trực tiếp chỉ dạy ta nơi học đường mới là thầy mà những ai có ý kiến đúng muốn góp ý kiến ấy để xây dựng cho ta đều có thể xem là thầy ta được. những kẻ vuốt ve nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy.” BÀI THAM KHẢO I. người khen ta mà khen phải là bạn ta. Vì vậy. sao lại suông đuột như thế này được?” Họa sĩ nghe xong biết mình còn thiếu óc quan sát. tranh địa dĩ chiến”. có cái đáng khen thì lại bị chê. Một cậu bé đánh giày đi đến. Thầy là người thấy xa hiểu rộng hơn ta.

Bạn là người cùng trang lứa với ta. Được ông chuộc khỏi tội thì ông là tri kỷ của tôi.” Lời khen ấy thật là thấu đáo vì Tử Kỳ không những khen ngợi ngón đàn tuyệt diệu của Bá Nha mà tỏ ta thấu đáo cái tâm trạng sâu kín mà Bá Nha đã gửi vào tiếng đàn kia. Nếu tôi gặp phải người tri kỷ mà vô lễ thì thà rằng tôi ngồi trong chỗ giam trói còn hơn. Bảo Thúc chết Quản Trọng khóc như mưa. song cũng gỡ tội được cho ông. Dương dương hề chí tại lưu thủy. thề không đến cửa nữa. Chỉ có những người ấy mới đáng cho ta kết giao mà thôi. Ta ba lần làm quan là ba lần bị bãi mà Bảo Thúc 81 . Chữ bạn mà Tuân Tử muốn nói ở đây là bạn tốt người mà chúng ta nên kết thân. Có người hỏi tại sao thì Quản Trọng nói: “Lúc đi buôn chia lãi bao giờ ta cũng lấy phần hơn mà Bảo Thúc không cho là tham. khi đàn cho Tử Kỳ nghe thì được khen rằng: “Nga nga hề chí tại cao sơn.Phương Pháp Nghị Luận Thạch Phủ tức giận bỏ đi. Tôi nghe người quân tử gặp kẻ bất tri kỷ thì phải cực vào thân. vì biết ta gặp cảnh quẫn bách bất đắt dĩ mà làm thế. Tại sao nói rằng: “Người khen ta mà khen phải là bạn ta”. Ta làm đúng có khi cũng không nhận thấy rõ được cái đúng của ta. cùng học tập giao du với ta. Là vì những người ấy không khen ta vì tư lợi mà để khuyến khích ta trên đường học tập hay trên đường sự nghiệp. Giờ đây. Tôi bị án oan lại gặp phải kẻ bất tri kỷ. Lời ngợi khen của bạn như thế là một chất “kích thích tố” giúp ta phấn khởi. Thế nên Bá Nha mới xem Tử Kỳ là bạn chung thủy của mình. Xưa Bá Nha gặp Tử Kỳ. hăng hái hoạt động vì lợi ích chung. Án Tử nghe nói lật đật ra tạ rằng: “Tôi tuy chẳng ra gì. gặp người tri kỷ thì được hả dạ. Ta làm việc có việc hỏng mà Bảo Thúc không cho là ngu vì biết con người còn phải tùy thời. Người xưa đã nói: “Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư” (ba người cùng đi ắt có một người là thầy của ta rồi vậy) là đúng theo nhận thức của thầy Tuân Tử lắm. Bảo Thúc không cho là nhát mà biết ta có dạ bao dung. Ta bị kẻ dọa nạt. Lại như chuyện Quản Trọng và Bảo Thúc Nha sau đây thật là điển hình. chúng ta hãy tìm hiểu chữ bạn. Cần có lời khen của người bạn tốt là người ở tư thế khách quan thì ta mới thấy cái đúng mà tiếp tục phát triển công việc.” Án Tử nghe lời chê của Thạc Phủ lấy làm kính trọng sau tôn ông làm thượng khách. sao ông lại cự tuyệt đi như thế? Thạch Phủ nói: “Không phải.

chúng ta thấy rằng những lời chỉ dạy bảo của thầy Tuân Tử rất đúng. xét vì ta còn mẹ già. lại tìm cách năn nỉ ỉ ôi để Tôn Tẫn truyền lại binh pháp cho mình. làm cho ta vì quá thích thú mà không còn để ý đến âm mưu của họ nữa. III. ta phải phân biệt đâu là bạn. từ đó Ngô Phù Sai không còn nghi ngờ gì nữa.” Chính nhờ sự khen đúng. Câu Tiễn nuôi sẵn âm mưu báo thù và phục quốc trong lòng. Có khi để che giấu âm mưu ám hại của họ mà họ vuốt ve nịnh bợ ta. vì thế mà Phù Sai tiêu tan sự nghiệp. và hạng âm thầm ám hại ta. sau tìm mọi lời ngon ngọt để thuyết phục Tôn Tẫn nhận lấy một chức nhỏ. Chữ kẻ thù mà thầy Tuân Tử dùng ở đây đúng vào hạng thứ hai vậy. KẾT LUẬN Xem như trên. vì nghĩ là ta chưa gặp vua giỏi. Ngô Phù Sai bắt Việt Vương Câu Tiễn về hầu mình. Họ tâng bốc ta. Trong xã hội. ca ngợi ta không ngại miệng và như thế họ sẽ đưa ta đi dần đến chỗ hố sâu tội lỗi mà không hay.  Tiêu chuẩn giao kết ở đời của ta phải là:  Nghe những lời hay lẽ phải và thâu nhận lấy không chút tự ái. mới không bị sa ngã hư hỏng. Băng Quyên vì ham danh lợi nên hạ sơn trước. có như thế thì chúng ta mới tiến triển được mà không phải làm mưu bọn “lưỡi mối môi lằn”. Tôn Tẫn là người đạo đức nên được thầy truyền hết binh thư. Nghĩ rằng Câu Tiễn tự hạ mình như thế là do lòng trung thành với mình.Phương pháp nghị luận không cho là bất tiếu. Chuyện xưa cũng còn cho ta thấy: Tôn Tẫn và Băng Quyên là hai người bạn cùng học một thầy. Sinh ra ta là cha mẹ ta mà hiểu ta là Bảo Thúc vậy. Tôn Tẫn tin lời đường mật của bạn nên mới bị Băng Quyên chặt chân. Sau cùng ta tìm hiểu thế nào là kẻ thù? Kẻ thù có hai hạng: hạng công khai sát hại ta. nhờ sự hiểu biết của bạn mà Quản Trọng sau này mới trở nên người tài giỏi của nước Tề. có những kẻ ngoài miệng thì ngọt ngào mà trong lòng chứa chấp gươm đao. Ta làm hại họ cứ cho là đúng. 82 . nhưng ngoài mặt thì tỏ ra yêu kính nịnh bợ Ngô Vương. Ta ra trận ba lần thua cả ba mà Bảo Thúc không cho là bất tài. tổ chức tiệc tùng đàn hát làm cho Ngô Vương đắm say. Một hôm Phù Sai đau nặng. Câu Tiễn lại cho người hiến dâng mỹ nữ. nịnh bợ ta chỉ vì lợi riêng của họ. đâu là thù. Câu Tiễn đích thân nếm phân và đoán rằng nhà vua sắp mạnh. Trong cuộc sống hằng ngày.

hoàn toàn vì ích lợi riêng của họ.Phương Pháp Nghị Luận  Kết thân với những người chân thật.  Cố xa lánh những người muốn giao kết với ta. Có như thế ta mới thoát khỏi bị lầm lạc và có thể tiến bộ. biết khen đúng mà cũng biết chê đúng. 83 . không tâng bốc mà cũng không dìm tài ta.

” (Bất hoạn nhân chi bất kỷ tri. sẽ bị lộ chân tướng. II.  Khuyên ta không nên quá chủ quan. ca tụng (như những nhà phát minh. 84 . Muốn người biết mình mà ít chịu tìm hiểu người khác.  Càng có chân tài càng phải khiêm tốn. sáng chế đều được ca ngợi). Câu này khuyên ta điều gì?  Khuyên ta không nên có tính hiếu danh. xem mình có dở như thế không?  Biết mình đã khó. Khiêm tốn học hỏi mọi người để tiến bộ. Tại sao “không lo người chẳng biết mình?”  Người có thực tài thì lời nói ra được người ta khâm phục. ngay khi người ta gặp mình. b.Phương pháp nghị luận Đề 7: Sách Luận Ngữ có nói: “Chẳng lo người không biết mình. DÀN BÀI I.  Biết người để thấy cái dở của người. Tại sao “lo chẳng biết mình”?  Biết người để học lấy cái hay của người (không tự cao mà sẵn sàng nhận lấy). biết người càng khó hơn (người ta thường che giấu bằng cái bề ngoài.  Không có tài mà hiếu danh. hoạn bất tri nhân ngã). tự phô trương (không thực tài mà phô trương thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ). tự đề cao. càng khiêm tốn người ta càng quí mình hơn. truyền bá (như lời nói của các bậc hiền triết được học trò ghi chép lưu truyền đến nay). DIỄN ĐỀ (3 phần) a. lãnh đạo một phong trào có một thiên chức đặc biệt thì phải làm cho người ta biết mình để làm tròn sứ mạng. tự giới thiệu thì rất lố bịch. c.  Người có thực tài thì hành động làm cho người chú ý. chỉ lo mình không biết người mà thôi. phải thấy người học người đế sửa mình. PHẢN ĐỀ: Nhưng các nhà cách mạng. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Nêu lên cái tính hiếu danh và cái bệnh chủ quan của người đời. nhiều người chu đáo khó hiểu được). Câu này có dụng ý khuyên ta điều gì? Ý chính: Phải chống thói hiếu danh.

bất hoạn mạc kỷ tri. chỉ lo cho có tài đức gì để đứng vào địa vị ấy. đừng lo không biết mình. Hữu xạ tự nhiên hương. TÀI LIỆU Danh ngôn Chẳng lo không tước vị. biết tìm hiểu người thì mới làm được những công to việc lớn. kiến bất hiển như nội tư tỉnh giả). (Bất hoạn vô vị. đạo đức. (Kiến hiển tử tế yên. miễn sao mình giỏi đủ để cho người ta biết đến. KẾT LUẬN Con người biết rèn luyên tài năng. 85 .Phương Pháp Nghị Luận III. mong cho kịp người. thấy người dở xem mình có dở thế không. cầu vi khả tri dã) Thấy người hay. hoan sở dĩ lập.

 Người không có chí thì không có nghị lực. không làm được việc gì đáng kể. Bình đề Tại sao nói thế?  Vì người không có chí thì không có lí tưởng.  Việt Vương Câu Tiễn nằm gai.  Người không có chí thì không có định hướng. mục đích gì cả nên thường ham xa hoa vật chất dễ hư hỏng. II. DÀN BÀI I. thiếu kiên nhẫn. ngựa không cương (đi lạc hướng. dễ hoài nghi. Vương Dương Minh nói đúng là vì:  Thuyền không lái thì càng chèo mạnh càng đi loanh quanh.” Ý chính: Có chí thì mới đạt được mục đích. sau được nên người xứng đáng. 3.” Giới thiệu đề. nếm mật đánh đổ được Ngô Phù Sai – Trần Hưng Đạo nhờ có chí sau mười năm đuổi được quân Nguyên. không đạt mục đích).Phương pháp nghị luận Đề 8: Bình luận câu nói sau đây của Dương Minh: “Người không có chí như thuyền không lái. ngựa không cương thì phải chạy bậy. Thuyền không lái. III. 86 . Có tài mà thiếu chí cũng không thể làm tròn nhiệm vụ. trôi dạt lông bông không ra thế nào cả. NHẬP ĐỀ Qui nạp tương đồng bằng những câu: “Hữu chí cánh thành – có chí thì nên. như ngựa không cương. 2. không đi tới mục đích. kiên nhẫn hành động). Ví dụ  Ông Châu Trí đốt lá đa mà học: Đại tướng Dronot nhờ ánh lửa lò bánh mì mà học. không làm được việc gì đến nơi đến chốn. KẾT LUẬN Cái tài và cái chí phải đi đôi. DIỄN ĐỀ A. Giải nghĩa đề Hữu chí (tinh thần cố gắng. Giải đề 1.

thì ba năm không xong.” Câu này khuyên ta điều gì? Có hoàn toàn đúng không? Ý chính: Không nên quá nghe ý kiến vô trách nhiệm của người đời. luật sư) 87 . nếu cứ ngheo theo thì làm mãi cũng không xong. Giới thiệu đề. con trai ông và con lừa của La Fontaine (Le meunier. DIỄN ĐỀ 1.  Câu này có hoàn toàn đúng không? Có những trường hợp không đúng. Cất nhà không có đồ bản: kẻ bảo cao.1528). Nếu ta quá chú trọng đến dư luận của kẻ bàng quan thì dễ hỏng việc. kĩ sư. Bình đề (2 điểm)  Câu này khuyên ta điều gì?  Khuyên ta hãy biết hành động theo ý chí của ta (thấy đúng. bảo trang trí kiểu này.  Trường hợp có người thành thật muốn khuyên bảo. phải hành động theo ý chí của mình. chủ trương thuyết “Tri hành hợp nhất” (1472 .  Trường hợp làm một công việc cần có ý kiến của nhà chuyên môn (như bác sĩ. hợp lý thì cứ làm) vì kẻ bàng quan họ góp ý kiến theo ý riêng của họ. thấy thích. người bảo thấp. kẻ thích cái này người thích cái kia.Phương Pháp Nghị Luận TÀI LIỆU:Vương Dương Minh hay Vương Thủ Nhân là một nhà đại chính trị và đại học giả nhà Minh. có khi vì ganh tỵ mà họ đưa ý kiến phá hoại – ngông nghênh thì chỉ trích quàng xiên. chỉ dẫn cho ta. kẻ chê người khen. không ai giống ai. Ví dụ: Chuyện ông chủ máy xay. son fils et l’âne). DÀN BÀI I.  Khuyên ta phải biết cái tâm lý bất đồng của người đời: kẻ ưa người ghét. kẻ khuyên trình bày kiểu khác. Giải nghĩa Làm nhà bên đường (hay làm bất cứ một việc gì) nghe lời vô tiếng ra thì dễ hỏng việc. 2. II. Đề 9: Sách Nho có câu: “Làm nhà bên đường gặp ai cũng bàn. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Người đời thấy ai làm gì cũng hay khen chê.

ta quyết làm ngay! 2. Dầu cho ai có nói gì mặc ai Ý ta. đem con lừa ra phiên chợ. bị người chê. phải có tinh thần sửa chữa khuyết điểm nhưng cần cương quyết làm theo ý chí của mình đến cùng. Mẩu chuyện: Xưa có một người chủ máy xay và đứa con. hai cha con quyết định: Từ rày gặp kẻ khen chê. hai cha con cùng xuống khiêng con lừa thì bị cười. lão lên thay cũng bị chê. TÀI LIỆU 1. không cho là ngu xuẩn. con lão xuống. Tức quá. tuy không là gian những không thể cấm chó không cắn sủa được (Chiến quốc sách). Ban đầu con lão cưỡi lừa lão dắt.Phương pháp nghị luận Trong trường hợp này. KẾT LUẬN Phải biết phân biệt dư luận đúng sai. Danh ngôn: Người đi đêm. III. 88 .

DÀN BÀI I.Chuyện cụ Phan Châu Trinh và phong trào Duy Tân. trọng người khinh mình (ăn đồ Tàu. Giải đề 1.Phương Pháp Nghị Luận Đề 10: Bình giảng câu ca dao: “Ta về ta tắm ao ta. (sản phẩm nội hóa – bảo vệ tiếng Việt – bảo vệ thuần phong mỹ tục). KẾT LUẬN Câu này không có giá trị tuyệt đối. 2. 89 .” Ý chính: Hãy bằng lòng với những cái sẵn có của ta. C. Bảo vệ cái hay cái đẹp của mình. sạch dơ. DIỄN ĐỀ A. ăn mặc hở hang… )  Ta phải bảo vệ cái ao của nước nhà. Nghĩa bóng: Chúng ta nên trở về với cái sẵn có của ta. Bình đề  Nếu văn hóa Âu Châu xâm nhập vào nước ta.… ). Giải nghĩa Nghĩa chính: ao do tay ta đào lấy. thu góp cái hay cái đẹp của người là hai yếu tố làm cho nước nhà tiến bộ.  Có những cái ở nước ngoài thì hợp mà ở nước ta thì lố lăng (nhảy đầm. cái hay rất nhiều mà cái xấu cũng lắm. vẫn không sợ hại. phải biết thu lấy cái hay của người và bỏ cái dở của ta. Dầu trong dầu đục. đừng quá lệ thuộc vào người mà có hại. Giới thiệu đề đặt lại một ý thức đúng. Ví dụ (xem phần kết bài) B. ao nhà vẫn hơn. ăn chơi trụy lạc. ta biết rõ nông sâu. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Nêu rõ cái thói quen tự ti của người mình. Phản đề Không nhắm mắt bài ngoại. II. TÀI LIỆU Mẩu chuyện: Chuyện chuột nhà chê chuột đồng (chuột đồng chống lại). III. đi xe Huê Kỳ.  Chống lại cái lố lăng du đãng. không nên quá trọng người mà khinh mình. ở nhà Tây.

Giải nghĩa  Bia đá: bia danh cử nhân. II. KẾT LUẬN Đừng sợ người đời sau không biết mình mà lo khắc bia đá ghi công. Làm điều xấu thì tiếng xấu truyền miệng đến muôn đời. 90 . những con người gian ác không tránh được “búa rìu dư luận.Phương pháp nghị luận Đề 11: Bình giảng câu ca dao: “Trăm năm bia đá thì mòn Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ. cách ngôn  Tiếng lành đồn xa. I.” Ý chính: Làm điều tốt thì tiếng thơm còn truyền lại mãi. bị gọi là Ả Trần. phải mang lấy tiếng nhơ mà không bôi xóa được. chê tiếng xấu cũng tồn tại mãi. Mai Kiện. Trần Ích Tắc đầu hàng giặc Nguyên.” III.  Tạo tiếng tốt hơn là tạo cái bia đá tốt. Giải đề 1. địa vị ghi trên bia đá có thể tiêu mòn với thời gian. tiến sĩ – Mộ bia ghi chức tước người chết – Công danh.  Trần Kiện. Khuyên ta làm điều phải mà tránh điều quấy.  Bia miệng: lời đồn đại của người đời: người đời khen thì tiếng khen lưu đến muôn đời. Tục ngữ.  Những kẻ bán nước cầu vinh. NHẬP ĐỀ Người đời thường có khuynh hướng làm điều xấu (cố ý hoặc vô tình ít chú trọng làm điều tốt. TÀI LIỆU Mẩu chuyện  Trần Hưng Đạo xin vua chém đầu mình trước rồi hãy hàng quân Nguyên. 2. Bình đề  Đừng ham cái địa vị nhất thời mà bêu tiếng xấu cho muôn đời. Để cảnh cáo nên có câu ca dao: (Giới thiệu đề). được tiếng thơm muôn đời. DIỄN ĐỀ A. B. Ví dụ  Trần Hưng Đạo (khen)  Trần Ích Tắc. Trần Kiện (chê). tiếng dữ đồn gần.

đừng thấy điều ác nhỏ mà làm. Giải nghĩa  Loài vật trong rừng phải tranh đấu để bảo vệ sự sống (đánh cắn nhau. B.  Con người từ lúc đầu đã phải tranh đấu chống thiên nhiên. Bình đề  Cá nhân phải tranh đấu có cơm ấm no. Giải đề 1. Có khi phú quí có hồi gian nan. lạc hậu trong xã hội. các dân tộc đều phải tranh đấu giành lấy sự sống còn. III. (thói hư tật xấu. Giới thiệu đề.  Có tranh đấu mới có tiến bộ. KẾT LUẬN Tranh đấu và chiến thắng nâng cao giá trị con người. II. chống ác thú. tạo địa vị.  Con người phải tranh đấu để tìm lấy miếng ăn. các sự cám dỗ ngoài đời). mưu cầu danh lợi. thoát mọi cạm bẫy xã hội. chống bạo tàn…  Xã hộI này phải tranh đấu với xã hội khác (phe Dân chủ phải tranh đấu với phe Cộng sản). lừa gạt nhau).  Tranh đấu thanh toán những tư tưởng xấu. phải tranh đấu mới sống được. 91 . TÀI LIỆU Văn liệu: “… Sống ở trên đời. thỏa mãn đời sống tinh thần lẫn vật chất – chống lại các thú tính.Phương Pháp Nghị Luận  Đừng thấy điều thiện nhỏ mà không làm. thay đổi bộ mặt xã hội. Không tranh đấu sẽ phải chịu luật đào thải tất nhiên của xã hội. DIỄN ĐỀ A. NHẬP ĐỀ Quy nạp: Ong.” Ý chính: Đời là một cuộc canh tranh. Đề 12: Bình giảng câu tục ngữ Pháp: “Sống là tranh đấu. kiến. con người. DÀN BÀI I.

KẾT LUẬN 92 .” (Hớn Minh khuyên Lục Vân Tiên). điều tốt. giao du với người xấu. Giải nghĩa  Mực là chất đen. Phản đề Cũng có trường hợp gần người xấu mà không xấu. gần người xấu sẽ xấu. giữa bọn người đầu trộm đuôi cướp) thì sẽ xấu.” Ý chính: Gần người tốt thì tốt. Gần nơi tốt thì tốt. giới người đứng đắn) thì sẽ tốt. Sống trong hoàn cảnh tốt (gia đình có giáo cụ. gần nơi xấu thì xấu. chỉ người tốt (hoàn cảnh tốt). C. II. chỉ người xấu (hoàn cảnh xấu). 2. DÀN BÀI I. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Con người là sản phẩm của xã hội. chọn chỗ ở cho gia đình.  Cha mẹ xấu có ảnh hưởng nhiều đến con cái (gieo rắc cái xấu cho con cái). Bình đề  Xét về cá nhân thì giao du với bạn tốt sẽ trở nên tốt. gần đèn thì sáng. hay tự ái (thấy người ta giỏi cũng muốn giỏi hơn).  Đèn là vật sáng. sống trong hoàn cảnh xấu mà không xấu (những người có nghị lực). ta sẽ nên xấu. Ví dụ Chuyện mẹ thầy Mạnh Tử dời nhà.  Đó là con người hay bắt chước (cái xấu tốt thì cũng bắt chước). Đề 13: Bình giảng câu tục ngữ: “Gần mực thì đen.  Nơi học đường. phải chọn bạn mà chơi. chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh mình sống – Giới thiệu đề. Giải đề 1.  Sống trong hoàn cảnh xấu (nơi ăn chơi trụy lạc. DIỄN ĐỀ A. Gặp cơn lửa đỏ màu thêm xui.  Ngoài xã hội: chọn nơi gởi con đứng đắn.Phương pháp nghị luận Thấp cao đã biết tuổi vàng. B. III. chất dơ.

Ca dao: “Thói thường gần mực thì đen. ở gần trại họm. TÀI LIỆU Mẩu chuyện Mạnh Mẫu nhà ở gần lò heo. con bắt chước chôn cất.Phương Pháp Nghị Luận Những nhà giáo dục. Cùng là lười biếng ta thời tránh xa. Anh em bạn hữu phải nên chọn người. con bắt chước làm thịt theo.” 93 . Bà dời nhà về gần trường học để Thầy Mạnh Tử bắt chước đi học. Những người lêu lổng chơi bời. học sinh trở nên những người tốt sau này. các bậc cha mẹ phải đặc biệt chú ý đến câu này cho con cái.

Nhân: thương người xung quanh bằng tình nhân loại. Bình đề Các đức tính này cần thiết cho việc xử thế hằng ngày như thế nào?  Có nhân: thì được người thương yêu giúp đỡ. bớt thù. Ví dụ: Chuyện Khổng Tử xuống xe nói chuyện với Hạng Thác. Lễ: giữ tôn ty trật tự xã hội. 3. Tín: tin mình và tin người. Nghĩa: làm việc phải. Ví dụ:  Chuyện Qui Trát giữ lời hứa với vua Tề. Ví dụ:  Chuyện Mạc Đĩnh Chi xé tranh chim sẻ đậu trên cành trúc. Lễ.  Có lễ: thì con người hòa nhã ai cũng yêu mến. 4. giữ lời hứa với người xung quanh. DÀN BÀI I.  Chuyện Đào Duy Từ đổ nước xuống lỗ sâu để nhặt quả bưởi. B. Đức Phật xả thân để cứu độ nhân loại. Giải đề (giải nghĩa và ví dụ đi đôi) 1. thọ ơn thì phải nhớ ơn. bênh bạn. DIỄN ĐỀ A. Nghĩa. 2. Trí: thông minh. Ví dụ: Chuyện Vân Tiên trừ cướp cứu Nguyệt Nga.  Có nghĩa: thì được người khâm phục. Ví dụ:  Chuyện Lê Thánh Tôn cởi long bào đắp cho ông lão nằm run rét. nhớ ơn gười thì khi gặp hoạn nạn lại được người giúp đỡ.  Đức Giêsu. sáng suốt giải quyết các vấn đề cần thiết. Trí. trên kính dưới nhường. Tín mà Đức Khổng Tử đã nêu lên làm căn bản. Giữ được 5 điều này thì giữ được xã hội. tránh việc quấy. có đúng với việc xử thế ngày nay không? Ý chính: Đây là 5 điều căn bản về đạo đức thời xưa để đối nhân xử thế.Phương pháp nghị luận Đề 14: Tìm hiểu về 5 đức tính căn bản là: Nhân. Giới thiệu đề. chuyện Phùng Huyền mua nghĩa cho Mạnh Thường Quân. II. 5. NHẬP ĐỀ Suy diễn: (bằng tiểu sử tác giả): Giới thiệu Đức Khổng Tử là một nhà đạo đức. 94 .  Chuyện Nhạc Chinh Tử không chịu mang cái đỉnh giả sang Tề.

được đức tính nào cũng đều tốt cả. – Nhạc Chính Tử nước Lỗ là người trọng chữ tín. TÀI LIỆU Mẩu chuyện Phùng Huyền sang đất Tiết đòi nợ cho Mạnh Thường Quân.Phương Pháp Nghị Luận  Có trí: thì không bị người lừa gạt. Sau khi Mạnh bị cách chức về đất Tiết ai nấy tiếp đón niềm nở mới thấy rõ. Vua Lỗ cho làm đỉnh giả. nói là mua nghĩa cho Mạnh. 95 .  Nhân vô tín bất lập (Người không có tín không đứng vững được ở đời) (Trình Di). vua Tề biết thế nên khi bảo vua Lỗ dâng cái đỉnh cho mình thì bảo phải Nhạc đem qua mới được. bất nhân thì nhục (Mạnh Tử).  Làm việc bất nghĩa mà giàu sang thì sang giàu ấy ta coi như mây nổi (Luận ngữ). làm cho người tin mình. III.” Danh ngôn  Người nhân thì vinh. nói rằng: “Bệ hạ quí cái đỉnh thì hạ thần cũng biết trọng chữ tín. Qua đó cho đốt hết giấy nợ.  Người ta khác giống cầm thú vì có lễ (Chiến quốc sách).  Có tín: thì dùng được người. nhưng Nhạc không nhận. dám giao công việc quan trọng. KẾT LUẬN Giữ được năm đức tính này thì có thể nên người hoàn toàn. Chúng ta nên rèn luyện từng đức tính một. vượt qua các cạm bẫy xã hội dễ dàng.

96 . Người quân tử là hạng người cao quí.  Tạo cho mình có một nghị lực để vượt khó (có cứng mới đứng đầu gió). B. Cầu ở mình có lợi như thế nào?  Khắc phục được bản thân.  Có thể làm những việc cao cả (ích quốc. 2. Giới thiệu đề.  Không dám tranh đấu bản thân.  Cầu ở mình là trông cậy vào mình. DÀN BÀI I. hèn hạ. Phản đề  Người quân tử phải học hỏi ở người trên mình (Thánh hiền). II. thường cúi lòn. Cầu ở người có hại như thế nào?  Suốt đời chỉ là kẻ thuộc vào người  Có thể trở nên hạng nịnh thần.Phương pháp nghị luận Đề 15: Bình giảng câu: “Quân tử cầu ở mình. Bình đề 1. lợi dân). 2. tin tưởng ở khả năng của mình. nịnh bợ. không đổ lỗi cho ai. C. Kẻ tiểu nhân cầu ở người  Kẻ vô tài. Kẻ tiếu nhân chỉ biết dựa vào người.  Khi lầm lỗi thì tìm cách sửa chữa. tự lập). nhờ tay người khác để tạo nên địa vị. kẻ tiểu nhân là hạng người tầm thường có nhiều thói xấu. Giải đề 1. tiểu nhân cầu ở ngoài.  Nếu có tài mà thiếu tự tin thì cũng hỏng.” Ý chính: Người quân tử tin ở sức mình. không tiến bộ. tự trọng. không nhờ vả ai (tự tin. chỉ để cho người ta sai khiến. tự lực làm việc. Người quân tử cầu ở mình  Cầu là cậy nhờ. tin vào. NHẬP ĐỀ Suy diễn: giới thiệu hai hạng người trong xã hội. DIỄN ĐỀ A. nghịch tặc.

TÀI LIỆU Danh ngôn  Tự mình khinh mình trước. III. Có chí tự lập thì đời mới có nhiều thích thú.  Ngẩng lên không hổ với trời. người ngoài mới khinh mình sau (Mạnh Tử). cúi xuống không thẹn với người: đó là một điều vui sướng. KẾT LUẬN Ta phải tự tin và tự trong thì mới có thể tự lập được. 97 .Phương Pháp Nghị Luận  Người quân tử cũng có khi phải cầu người dưới (bất sỉ hạ vẫn) – không sợ nhục khi hỏi người dưới.

hiểu cái hay. háo danh thì chỉ làm cho người ta ghét mà thôi. chịu học hỏi người khác thì mới mong tiến bộ. tự đề cao mà kém tài.  Khó chiến thắng lòng tự ái của ta để mà học hỏi người khác  Nói chung: Phải khiêm tốn. tính khiêm tốn.  Ta cần biết cái dở của người để xem ta có dở như người không? B.  Ở đời hiểu người rất khó. cái dở của người càng khó hơn. Giới thiệu đề. Giải đề 1. Lo chẳng biết người  Ta cần biết cái hay của người để làm cho ta hay hơn.  Hiếu danh. tìm hiểu người thì việc xử thế mới an toàn.” (Bất hoạn nhân chi bất kỷ trỉ. Chẳng lo người chẳng biết mình  Nếu mình giỏi thực sự thì sớm hay muộn gì người ta cũng biết đến (khỏi phải phô trương).Phương pháp nghị luận Đề 16: Bình giảng câu nói trong Luận Ngữ: “Chẳng lo người chẳng biết mình. kém đức thì chỉ làm trò cười thiên hạ. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Thói đời là thích phô trương mà ít chịu tìm hiểu người để sửa mình. ra làm quan để lãnh đạo sĩ phu) 98 . DÀN BÀI I. DIỄN ĐỀ A.  Khi mình còn nhận lãnh một trách vụ lãnh đạo (như Phan Chu Trinh phải thi đỗ. II. lo chẳng biết người vậy. hoạn bất tri nhân dĩ) Ý chính: Chống thái độ phô trương tự phụ. 2. Phản đề  Có những trường hợp ta phải làm cho người biết mình (mà không phải là tự phô trương). Bình đề Tại sao lại nói như thế?  Vì phô trương. Phô trương thì người ghét. không tự phô trương. C.  Người có thực tài thì sớm muộn gì người ta cũng biết. nêu cao đạo đức.

kỳ bất thiện giả nhi cải chi (trong ba người cùng đi tất có thầy ta. chọn điều hay mà bắt chước xét điều dở mà sửa đi). III.  Kẻ tự cho mình là giỏi thì sai.Phương Pháp Nghị Luận  Như Khổng Tử đi đến các nước trình bày ý kiến của mình để xây dựng xã hội đi đến thái hòa. 99 . trách kỳ thiện giả nhi tùng chi.  Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư. TÀI LIỆU Danh ngôn  Hữu xạ tự nhiên hương  Chẳng lo không tước vị. không được nghe lời khôn. lẽ phải nữa. miễn sao mình giỏi đủ cho người ta biết đến (Khổng Tử). Nhưng người có tài phải ra mặt để giúp ích cho đời. chỉ lo cho có tài đức gì để đứng vào địa vị ấy: đừng lo không ai biết mình. KẾT LUẬN Câu nói của Khổng Tử là để chỉ trích kẻ bất tài khoe khoang vì danh lợi.

 Biết vận động tạo nên địa vị cao. Đạo làm người la theo đúng: “Nhân. rồi tự tung tự tác. Chỉ có biết cái quan trọng với cái không quan trọng là đáng kể mà thôi. III.  Biết tìm tòi mở mang trí tuệ mà không biết nghĩa “Phụ nghĩa vong ân” thì không đúng đạo làm người. Giải đề 1. không đúng với đạo làm người.Phương pháp nghị luận Đề 17: Bình giảng câu nói của Hoài Nam Tử: “Cái gì cũng biết mà đạo làm người không biết thì chưa gọi là khôn. Cái gì cũng biết: là biết những cái vụn vặt như  Biết xoay xở tiền bạc làm cho mình giàu có. DIỄN ĐỀ A. biết cái nhỏ mà không biết cái lớn thì chưa phải là biết vậy.  Biết vận dụng tạo nên địa vị cao. hống hách không biết lễ thì không đúng đạo làm người. biết ít chưa thể phân định hơn kém được. Nghĩa. DÀN BÀI I. Trí. Lễ. Noi nhân. Tín và Kần kiệm” B. II. Bình đề Tại sao như thế mà chưa gọi được là khôn? 3. Giới thiệu đề.  Biết làm giàu mà không cần kiệm thì không phải là người trí. Vì biết làm cho mình giàu có nhưng “vi phú bất nhân” thì không đúng đạo làm người. Nhưng biết nhiều.” TÀI LIỆU Danh ngôn 100 . KẾT LUẬN Dùng câu thơ kể chuyện Lục Vân Tiên của Nguyến Đình Chiểu: “Thanh bần giữ phận an vui. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Ai cũng khoe là mình biết nhiều. giữ nghĩa so hồi sấm vang.” Ý chính: Biết đạo làm người là việc lớn.  Biết tìm tòi học hỏi làm mở mang trí tuệ. 2. Những cái biết khác đều là nhỏ.  Biết những ngón xảo trá lòe đời. là khôn.

Phương Pháp Nghị Luận  Đời người phú quí có lễ độ không khó. có lễ độ mới khó (Lưu Cao). có thể thông mới khó: đời người bần tiện có ân huệ không khó.  Lấy hạnh phúc của người làm hạnh phúc mình là niềm vui tuy đạm bạc nhưng tâm hồn mình được sung mãn (H. Esquerre). 101 .

TÀI LIỆU Mẩu chuyện Cây sến và cây sậy của La Fontaine: sây sếu tự hào cứng rắn. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Mượn câu “Nhu thắng cương. DIỄN ĐỀ A. cây sến trốc gốc mà cây sậy vẫn không hề hấn gì. Càng mềm dẻo càng được người mến nên việc gì cũng xong. B. đồng. Nhưng một cơn giông đến. 102 . mềm dẻo thì dễ thành công.  Đối xử với người mà cứng rắn quá thì không có bạn (ai cũng e ngại không dám tiếp xúc). II. 2.  Trong việc giáo dục không thay đổi phương pháp thì dễ bị lạc hậu. thau. Loài kim vì cứng mà hay gãy  Nghĩa đen: Sắt. Khéo tùy thời thì nên việc.  Ẩn ý: Mềm dẻo thì dễ thành công trên đường đời. chê cây sậy mềm yếu. nhược thắng cường” mà đối chiếu và giới thiệu đề. Giải đề 1. nước vì mềm mà được toàn.” Ý chính: Cứng rắn quá thường khi hỏng việc.  Ví dụ: Truyện cây sến và cây sậy của La Fontaine. Nước vì mềm mà được toàn  Nghĩa đen: Nước thì chặt không đứt.  Chính sách cai trị quá cứng rắn thì dễ gặp phản ứng không tốt. III.  Ẩn ý: Cứng rắn quá thì dễ hỏng việc.Phương pháp nghị luận Đề 18: Bình giảng câu nói của Bảo Phác Tử: “Loài kim vì cứng mà hay gãy.  Đường lối chính trị mà quá cứng rắn thì khó ngoại giao. Không biết tùy hoàn cảnh thì có hại cho mình. KẾT LUẬN Muốn thành công trên đường đời thì phải tập tính mềm dẻo. Bình đề  Trong việc làm ăn mà giữ mãi một đường thì có thể phá sản (phải tùy lúc mà thay đổi đường đi). DÀN BÀI I. bứt không rời. chì tuy cứng mà có thể bẻ gãy cả.

căng quá tất đứt. 103 . (Lục thao tam nghị). mảnh da căng quá thì rách (Thuyết Uyển).Phương Pháp Nghị Luận Danh ngôn  Cứng quá tất gãy.  Loài kim cứng thì gãy.

Phương pháp nghị luận Đề 19: Gustave Flaubert: một văn hào Pháp, có nói: “Ở đời, cái gì cũng phải học.” Hãy cho biết tại sao ta cần phải học? Ta cần phải học những gì? Và học tập thế nào để mau tiến bộ? Ý chính: Sự học tập cần thiết cho con người về mọi phương diện. Có học hết mọi việc thì mới tiến bộ được. DÀN BÀI I. NHẬP ĐỀ Suy diễn: Càng hiểu biết nhiều, càng dễ tiến bộ. Muốn hiểu biết, không có cách nào khác hơn là học tập. Giới thiệu đề. II. DIỄN ĐỀ 1. Tại sao ta cần phải học?  Đời có nhiều vấn đề ta chưa hiểu biết, chưa hiểu thì không làm được, có học tập mới hiểu biết rõ.  Học vấn nâng cao giá trị con người, rèn luyện tư cách , đạo đức cho ta.  Học vấn là phương tiện giúp ta tìm sự sống; có học thì đời sống mới tiến được dễ dàng. 2. Ta cần học những gì?  Dẫn câu nói của người đời: “Học ăn, học nói, học gói, học mở.”  (Từ cái dễ đến cái khó đều phải học)  Học ăn: ăn coi nồi, ngồi coi hướng.  Học nói: lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.  Học gói, học mở: học xoay sở ở đời, thích ứng với mọi hoàn cảnh. Học tập hết mọi phương diện: văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội,…  Văn hóa: học cách nâng cao dân trí.  Chính trị: học tập thực hiện dân chủ.  Kinh tế: học về các khoa tài chính., ngân hàng, tăng gia sản xuất nông nghiệp, công kỹ nghệ.  Xã hội: học tập nâng cao mức sống xã hội. 3. Cách học tập  Học tập về lý thuyết trong sách vở.  Học tập bằng cách thực hành, suy nghiệm để phát hiện những điều mới lạ.  Học tập kinh nghiệm của người đời (cả một kho tàng phong phú). 104

Phương Pháp Nghị Luận III. KẾT LUẬN Cái gì cũng phải học, nhưng học xong phải thực hành. Học và hành phải đi đôi. TÀI LIỆU Ca dao Rừng như bể thánh khôn dò Nhỏ mà không học lớn mò sao ra? Danh ngôn  Hãy nhìn lên, học rộng, luôn luôn tìm cách vươn lên cao (Regarder en haut, apprendre au dela, chercher à s’élever toujours).  Sau cơm gạo, học vấn là nhu cầu cần thiết nhất của con người.

105

Phương pháp nghị luận Đề 20: Bình giảng câu cách ngôn: “Hãy tự giúp mình rồi trời sẽ giúp” Ý chính: có tự tin thì mới thành công được, mới có được sự hỗ trợ bên ngoài. DÀN BÀI I. NHẬP ĐỀ Qui nạp tương đồng bằng câu: “Tận nhân lực tất tri thiên mệnh” (Làm hết sức mình ắt rõ mệnh trời) II. DIỄN ĐỀ 1. Tại sao phải tự giúp?  Có tự tin thì mới hành động (mới tự lực tự cường được).  Có hành động thì người ta mới thấy việc làm của mình mà ủng hộ.  Có sự thất bại thì mới đi đến thành công. 2. Trời giúp mình như thế nào?  Trước tiên là có sự hỗ trợ của người xung quanh (theo ý muốn của trời).  Trời giúp cho ta cái hoàn cảnh may mắn để thành công.  Tin tưởng rằng mình hành động đúng thì thần thánh cũng hộ trợ cho mình (chi thành thông thánh) Ví dụ:  Dân tộc Việt Nam không đứng lên tự giải phóng thì không ai giúp cho mình cả.  Có chiến đấu thì mới thấy rõ lòng dân (ý dân là ý trời mới có sự giúp đỡ của các nước bạn). 3. Tác dụng của câu này  Làm cho ta thêm tự tin, thêm hằng hái, can trường hoạt động.  Không phủ nhận lòng tin tưởng nơi mệnh số, nơi cay đắng vô hình (nhưng không tuyệt đối). III. KẾT LUẬN Làm việc gì cũng phải tự tin. Từ việc nhà đến việc nước, lòng tự tin là một bảo đảm vững chắc cho sự thành công. TÀI LIỆU Tục ngữ Có cứng mới đứng đầu gió Ca dao 106

Làm trai năm liệu bảy lo mới hào.Phương Pháp Nghị Luận Khi nên trời giúp công cho. Danh ngôn Mười lần thì có 9 lần thành công. 107 . Công danh gặp hội. nhờ sự tự tin và sự tận tâm làm việc (Wilson). anh hào ra t ay. Trời sanh. trời chẳng phụ nào.

II.” Ý chính: phải tự giác và quyết tâm làm nhiệm vụ của mình thì mới thành công. có lợi cho gia đình mình. mình khuyên người ta thuận hoà thì mình không nên xung đột. Giới thiệu đề (có thể NHậP Đề bằng tiểu sử tác giả). chỉ dạy cho người khác mà chính mình không làm đúng theo lời chỉ dạy. quyết tâm. thì mình nên làm trước. Tại sao người ta lại nông nỗi như thế?  Vì biết dễ mà làm khó (biết việc nào là tốt.  Vì người ta thiếu nghị lực. III. Tại sao Tổng thống Linconln lại nói như thế?  Vì những điều khuyên bảo kẻ khác thường là điều hay (để tỏ ra mình sành đời).  Làm được những điều khuyên bảo thì có lợi cho bản thân. 2. 3. có lợi cho bản thân. thấy khó mà không làm). tương trợ. thiếu kiên nhẫn (không dám làm sợ thất bại.  Vì những điều mình khuyên bảo kẻ khác thường khó làm (phải nhiều kiên nhẫn. mới làm được). Dẫn chứng cụ thể  Đối với cá nhân: mình khuyên người ta đừng uống rượu.Phương pháp nghị luận Đề 21: Bình giảng câu nói của Tổng Thống Mỹ Abraham Linconln: “Một cách hay nhất để thành công ở đời là khởi sự làm những điều mình thường khuyên bảo kẻ khác. đó là yếu tố để thành công ở đời. cho xã hội (thành công mỹ mãn). KẾT LUẬN Nói và làm phải đi đôi. DIỄN ĐỀ 1. ngán làm lâu). thì mình phải chuyên cần.  Đối với xã hội: mình khuyên người ta siêng năng. không nên chia rẽ. TÀI LIỆU Tục ngữ 108 . cho gia đình. đừng cờ bạc.  Đối với gia đình: mình khuyên người ta cần kiệm thì mình không nên tiêu hoang. mới có lợi cho xã hội. NHẬP ĐỀ Suy diễn: người ta hay làm ra vẻ thầy đời. DÀN BÀI I.

hung cứ một vùng mà không thắng được cái tính yếu đuối trước lời khuyên ngon ngọt của nữ nhi nên hỏng cả sự việc. người chủ trương bãi bỏ chế độ nô lệ ở Mỹ. (B.W. DÀN BÀI I. Danh ngôn  Muốn cho một người hoạt động vui lòng thì đừng nói đến những việc gì họ đã làm. Bị ám sát năm 1865 bởi một kẻ cuồng tín duy trì nô lệ là J. sinh năm 1809 ở Harvin.Grasset). Giới thiệu chủ đề.Booth. Ví dụ: Từ Hải có thể thắng quân triều đình. mà nên nói đến những gì họ có thể làm. Thắng mình khó vì kẻ thù ẩn trong lòng mình.Phương Pháp Nghị Luận Hãy làm những điều tôi nói. DIỄN ĐỀ A. Tiểu sử tác giả Araham Lincoln. Chú ý điểm tương phản: Người đông mà dễ thắng. II. nết hư của mình). Ý chính: thắng người dễ hơn thắng mình. Được bầu làm Tổng thống Hoa Kỳ. cái xấu của người không thể tránh được lại cố tránh thật cũng nực cười (Mare aurele). Giải đề  Thắng vạn quân địch: công việc của viên võ tướng chiến thắng một lực lượng hùng hậu. dễ đánh trúng. lần đầu năm 1859. 109 . Đừng làm những điều tôi làm. ta có một mình mà khó thắng. NHẬP ĐỀ Trong các cuộc đấu tranh chỉ có cuộc tranh đấu bản thân là gay go nhất. Bình đề Tại sao nói như thế?  Thắng địch dễ vì địch là những người cụ thể. Đề 22: Bình giảng câu nói của người xưa: “Thắng cả vạn quân không khó bằng tự thắng mình”. B. tái cử năm 1864.  Cái xấu của mình có thể tránh đặng lại không thể tránh.  Tự thắng mình: tranh đấu bản thân (thắng tật xấu.

II.  Phải có tinh thần cầu tiến. DÀN BÀI I. người biết suy nghĩ thì ít. Đề 23: Bình giảng câu nói của bà De Stael: “Đời dạy bảo nhiều điều hay cho người biết suy nghĩ. de Musset). Thực hiện cuộc tranh đấu bản thân:  Phải thường xuyên tự kiểm điểm. mình sẵn sàng có mối thù nên dễ đánh mạnh.Phương pháp nghị luận  Thắng địch dễ vì mình có binh lực: thắng. DIỄN ĐỀ 110 . thắng mình khó vì phải dùng nhiều nghị lực. mình sẵn có thiện cảm nên dễ tha thứ cho mình. dễ bị hư hỏng. binh sĩ… ). xấu nhiều tốt ít.  Với địch. Phải cương quyết thực hiện cuộc tranh đấu bản thân để trở nên người hữu dụng sau này vượt qua mọi khó khăn. chỉ trích của người khác. không biết suy nghĩ thì nhận lấy cái xấu. đạn dược. Danh ngôn  Luôn luôn sợ thua thì chẳng bao giờ thắng. nhưng kẻ thì nông nổi thì nhiều. trở lực trên đời. nhưng để làm hư hỏng những kẻ nông nổi. Giới thiệu đề.  Kẻ biết mình là người sáng.  Trương Phi đời Tam Quốc vì không thắng được tính nóng nảy mà bị bọn thợ may giết chết (thúc giục họ may đồ tang để cử hành tang lễ cho Quan Công). NHẬP ĐỀ Suy diễn: Đời muôn mặt.  Phải thành tâm nghe lời phê bình.  Một người không kiên nhẫn cũng như một ngọn đèn không có dầu (A. với mình. Người đời đủ hạng. mình khó vì không ai trợ giúp mình được.  Thắng địch dễ vì mình có thể dùng lực lượng vật chất (súng ống. trách tự ái cá nhân. TÀI LIỆU Mẩu chuyện  Quan Vân Trường đời Tam Quốc vì không chiến thắng được lòng tự ái “đi đại lộ về đại lộ” nên bị Lữ Mông ám hại. Biết suy nghĩ thì thu thập được cái tốt.” Ý chính: đời có cái tốt cái xấu. kẻ biết người là người khôn (Lão Tử).

biết cân nhắc các nghề để lựa chọn nghề thích hợp với khả năng của mình. rồi bị lôi cuốn và chìm đắm (như các phong trào sa hoa vật chất). thiện ác.  Người nông nổi: những người không biết suy nghĩ. đâu là nơi chính thiện.  Đời thường hấp dẫn con người bằng danh dự.Phương Pháp Nghị Luận A. nông nổi là chết. Người biết suy nghĩ thu nhập được những điều gì hay ở đời?  Không “thấy người ta ăn khoai” mà “mình vác mai chạy”. Càng lăn lộn ở đời thì càng từng trải.  Thấy người ta xấu cũng lấy cái xấu mà đáp lại. mềm dẻo với kẻ xấu … ). Người nông nổi dể bị đời làm hư hỏng  Thấy những phong trào mới đến. thu nhận việc đời một cách bừa bãi. Giải đề  Người biết suy nghĩ: những người trầm tĩnh nhận xét việc đời trên mọi khía cạnh. TÀI LIỆU Tục ngữ Thức lâu mới biết đêm dài. tránh được thù hằn vô cớ. nhưng lúc nào cũng phải phân biệt cái tốt. 2. Văn liệu Dầu ai cũng nghĩ mình trong mình với. Thấy thế tình đen bạc mà xử sự một cách thận trọng. Bình đề 1. Người nông nổi vì danh lợi mà quên mất cuộc sống thanh cao. III.  Có nhìn sâu vào đời. rốt cuộc trở nên người xấu.  Thấy rõ các hạng người trong xã hội để có thái độ đối xử thích hợp (nông hậu với người tốt. KẾT LUẬN Nêu lên bài học ở đời: thận trọng là sống. Thường già rồi mới khôn. B. họ vội vã thu nhập. cái xấu ở đời. 111 . suy nghĩ kỹ thì mới thấy hết được các khía cạnh tốt xấu. đâu là cạm bẫy ở đời. đắm mình trong chốn bùn nhơ.

(Nguyễn Công Trứ) 112 .Phương pháp nghị luận Phải giống sen thà chẳng nhúng bùn.