P. 1
nghithuctungniem-thichthienthanh

nghithuctungniem-thichthienthanh

|Views: 278|Likes:
Được xuất bản bởishaman0007

More info:

Published by: shaman0007 on Oct 27, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

10/27/2011

pdf

text

original

Sections

  • KỆ KHAI KINH
  • PHẨM PHỔ MÔN
  • NGHI THỨC SÁM HỐI
  • LỄ AN VỊ PHẬT
  • QUÁ ĐƯỜNG
  • CÚNG VONG
  • LỄ PHÓNG SANH
  • LỄ THÀNH HÔN
  • LỄ PHẬT ĐẢN
  • TỤNG KINH DƯỢC SƯ
  • KINH DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC
  • TỤNG KINH KIM CANG
  • CÚNG SAO GIẢI HẠN

Soạn và Dịch: Sa Môn THÍCH THIỆN THANH NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY của hai giới

XUẤT GIA VÀ TẠI GIA Phật Lịch: 2540 – 1997

MỤC LỤC • Lời Dẫn Nhập • Lợi Ích Của Sự Tụng Kinh Niệm Phật • Nghi Thức Công Phu Khuya • Nghi Thức Cầu An • Nghi Thức Cầu Siêu hay Tịnh Độ • Nghi Thức Sám Hối • Nghi Thức Thí Thực Cô Hồn • Nghi Thức Cúng Ngọ • Nghi Thức Lễ An Vị Phật • Nghi Thức Quá Đường • Nghi Thức Cúng Vong • Nghi Thức Lễ Phóng Sanh • Nghi Thức Lễ Thành Hôn • Nghi Thức Lễ Phật Đản • Nghi Thức Lễ Vu Lan • Nghi Thức Tụng Kinh Dược Sư • Nghi Thức Cúng Sao Giải Hạn • 12 Đại Nguyện Của Đức Quán Thế Âm • 48 Lời Nguyện Của Đức Phật A Di Đà • Bài Tống Táng • Khuyến Tu • Các Ngày Vía • Những Ngày Trai • Phương Danh Quý Vị Ấn Tống Kinh

LỜI DẪN NHẬP Phật tử Trung Hoa sáng tác cái gì, trong vườn văn học Phật giáo Việt Nam có cái nấy. Ngoài phần nhập cảng tư tưởng, kinh sách từ Trung Quốc, nhiều học giả và thiền sư Việt Nam sáng tác nhiều bài văn xuôi và văn vần rất hay, như Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông (1225-1258), Phật Tâm Ca của Tuệ Trung Thượng Sĩ (12301291) và nhiều kệ và thơ như bài Mộc Trung Nguyên Hữu Hỏa của Khuông Việt Thái Sư (933-1011), hay Vạn Hạnh Thiền Sư (?-1018) với bài kệ Thân Như Điện Ảnh Hữu Hoàn Vô vân vân, bài nào cũng văn hay ý đẹp, nói lên được ý đạo nhiệm mầu. Một điều được nhấn mạnh nơi đây, lời thơ đẹp văn hay, nhưng không được phổ biến rộng rãi, có lẽ các bậc tiền bối của chúng ta bị trở ngại về văn tự, cách viết, nói một nơi viết một ngả và thiếu phương tiện ấn loát. Tư tưởng Việt, âm điệu Việt, nhưng phải viết bằng chữ Hán. Hán học hay Nho học thuộc văn bác học, của giới trí thức, giới bình dân hay người học ít làm sao hiểu cho nổi. Thành thử Tàng Kim Các của Phật giáo rất lớn, nhiều sách quý, nhưng người học Phật càng ngày càng vơi đi. Lời dạy của Phật, lẽ ra, là món ăn bổ ích cho tâm thần, nhưng vì thiếu sự hiểu biết cho đúng mức, lời dạy đó trở thành “bùa hộ mạng.” Thật vậy, lời hay ý đẹp của Phật dạy để minh tâm kiến tánh, không mấy ai để ý đến, nhưng Kinh Cứu Khổ được in và ấn tống quá nhiều, nhiều đến nỗi không có chỗ để. Nói như thế để quý vị thấy rằng, càng ngày người hiểu Đạo càng ít, nhưng người cầu lợi quá nhiều, dù cái lợi đó dựa vào những lời đồn đãi vu vơ. Từ hậu bán thế kỷ thứ XIX đến nay, chữ viết của người Việt được thay hình đổi dạng, từ gốc Hán, đổi thành gốc Hy La (North semetic + Geek + Latin). Ngày xưa, Trung Hoa có tư tưởng hay danh từ nào, thì Việt Nam có danh từ đó; ngày nay Tây phương có sáng chế máy chữ, máy in, computer, thì Việt Nam sẽ dùng được máy đó, nếu cần thay đổi, chỉ cần thay đổi một bộ phận nhỏ, vì cùng một nguồn gốc chữ viết. Trong khi đó, các dân tộc không cùng một nguồn gốc chữ viết, dù có tiến bộ nhiều nhưng vẫn bị trở ngại. Hay nói một cách khác, người Việt Nam, nhất là những người ở hải ngoại có nhiều phương tiện ấn loát. Vậy thì, nhân dân Việt Nam nói chung, hay Phật tử nói riêng không nên đắm mình trong “hủ nho nhập cảng” bị rỉ sét lâu đời, từ thời Hán tộc xa xưa, thiếu dinh dưỡng để vun vén cây Bồ Đề Việt Nam. Nói cho dễ hiểu, Phật tử nên tụng kinh tiếng Việt để hiểu rõ ý nghĩa kinh mình đang tụng. Lấy lời dạy quý báu đó để sửa tâm tánh cho được thanh tịnh. Muốn hiểu rõ ý kinh, không ngôn ngữ nào hơn là tiếng mẹ đẻ, là tiếng Việt. Chữ Hán khó lắm, nên cất kỹ trong viện bảo tàng. Tử thuở Phật giáo du nhập vào Việt Nam đến nay, các tu sĩ cũng như cư sĩ đều tụng kinh bằng tiếng Hán Việt (1). Dĩ nhiên, trong những thời Phật giáo thịnh hành, các tăng sĩ sáng tác nhiều bài sám nguyện thật hay, nhưng bằng chữ Nôm, một thứ chữ khó hơn chữ Hán, nên không thể phổ biến sâu rộng được trong giới bình dân. Tình trạng này kéo dài cho đến đầu thế kỷ XX, có ba tờ báo Phật giáo rất có giá trị ra đời - tờ Đuốc Tuệ ở Bắc, tờ Hải Triều Âm ở Trung, và tờ Từ Bi Âm ở Nam - được viết bằng Việt ngữ. Trong những số báo đó, có nhiều bài bình luận về giáo lý của Phật, thơ đạo, dĩ nhiên có nhiều đoạn kinh được dịch từ Hán văn cũng được đăng tải. Cách diễn dịch, miêu tả hay chấm phết theo tinh thần Tây phương, người đọc cảm thấy thoải mái và dễ hiểu. Đến đây được xem như khúc quanh lớn trong văn học Phật giáo Việt Nam. Từ Trung, Nam, Bắc có nhiều kinh, sách, báo ra đời, viết bằng Việt ngữ. Đặc biệt về kinh tụng, chúng ta thấy Khóa Tụng Bồ Đề do Chùa Bà Đá, Hà Nội ấn

Hòa thượng Thiện Hoa. Sau đó vài tháng. chỉ có dịch âm. kỳ nguyện. Qua lời phi lộ trên đây. độc giả biết sơ qua Nghi Thức Tụng Niệm của Phật Giáo Việt Nam đã chuyển biến qua từng giai đoạn. và như thế nào? Cũng giống như trong nước vậy. Nội dung cũng giống như Chùa Phật Tổ in trước đây. văn hết sức hay. phóng lớn ra và tái bản. Thành thật mà nói. Hòa thượng Trí Quang. Cũng quyển Chư Kinh Nhật Tụng nầy. Kinh Vu Lan và nhiều bài Sám. không có thì giờ để chơi chữ. không thể nào khép mình trong cái “kẹt” của văn tự. hay những chùa thuộc các tông phái khác đều có nghi thức tụng niệm riêng. Chùa không còn một quyển để tụng. Nghi Thức Tụng Niệm Việt ngữ do Hòa thượng Thích Trí Hải biên soạn. phần cúng hương. chả muốn làm gì cả. có một sự hình thành đổi mới qua từng giai đoạn. Về nội dung quyển NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY nầy giống như quyển Chư Kinh Nhật Tụng và Các Nghi Thức Thông Dụng mà quý vị đã trì tụng . Đọc xong. và bài Sám Hối Phát Nguyện… không đề tên ai sáng tác. có tiến bộ. không có gì mới lạ (2). vân vân. nhưng chỉ trong phạm vi nhỏ hẹp. sám Phát Nguyện. có lẽ do Hòa thượng Thiện Hòa. cầu an vẫn là Kinh Phổ Môn. nhưng thỉnh thoảng xen vào một vài bài sám nguyện bằng Việt ngữ rất hay. trong một vài Phật Học đường. mỗi chùa có mỗi nghi thức khác nhau. Từ năm 1975. trong khả năng học vấn thô thiển. nhưng đà tiến triển quá chậm chạp. và quán tưởng Phật bằng Việt ngữ. rõ ràng. bằng tiếng Hán Việt. Hòa thượng Trường Thạnh chứng minh. hay những chùa ở tỉnh thành. Tại miền Nam. Nhưng có hai quyển nghi thức được nhiều chùa ở ngoại quốc dùng nhiều nhất đó là quyển Nghi Thức Tụng Niệm của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam. và có nhiều bài sám nguyện bằng Việt ngữ phụ đính ở sau. Phật tử di cư ra nước ngoài tụng niệm theo nghi thức nào. ai soạn không đề tên. nên được đa số Phật tử chiếu cố. tôi cố gắng hết sức mình. nay được Phật Học Viện Quốc Tế in lại.hành năm 1950. Hòa thượng Phước Huệ. Nhưng nội dung kinh tụng. Nghi thức tụng niệm của Phật Giáo Việt Nam tuy có chuyển mình từ tiếng Hán Việt ra Việt ngữ. còn các chùa ở miền quê. được Tự Viện Linh Sơn ở Pháp và Phật Học Viện Quốc Tế ở Los Angeles tái bản. và Thượng tọa Nhất Hạnh chủ trương. không đề tên ai soạn. ấn hành tại Hà Nội năm 1950. Kỹ thuật in tốt. Hiện nay. Đến năm 1960. Trước nhu cầu thiết yếu của giới Phật tử hải ngoại. không theo kịp nhịp tiến hóa của xã hội văn minh hiện nay. Quyển này. và bài Khuyến Tu của Thầy Trí Hiền. do Hội Phật Học Nam Việt ấn hành. sau năm 1975. như bài Sám Vu Lan. ngôn ngữ phải được rõ ràng. Quyển thứ hai là Chư Kinh Nhật Tụng và nghi thức thông dụng. Trước sức lớn mạnh của dân tộc. Đây là quyển Nghi Thức Tụng Niệm đầu tiên đầy đủ nhất bằng Việt ngữ của Phật Giáo Việt Nam. Đến năm 1983. phần kinh tụng vẫn là tiếng Hán Việt. không có dịch nghĩa. Các nghi thức được trình bày trong quyển nầy ngắn gọn. xuất xứ từ Kinh Nhật Tụng đã nói trên. Do đó. mạo muội dịch và soạn tất cả 16 NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY của hai giới Xuất Gia và Tại Gia. Kinh Báo Hiếu. Liên Hải Phật Học Đường xuất bản năm 1949. quyển Chư Kinh Nhật Tụng được Chùa Phật Tổ tái bản. cầu siêu vẫn là Kinh Di Đà. vì nhu cầu quá nhiều. có phần canh tân. Hai quyển này là căn bản kinh tụng cho các chùa ở miền Nam sau này. để đáp ứng nhu cầu cho nhiều chùa Việt Nam trên thế giới. quyển Tam Bảo. và thêm Kinh Kim Cang. được Hòa thượng Thiên Ân thêm hay bớt những phần không cần thiết. quyển Tam Bảo Thường Thức. Nay. do Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch âm và nghĩa. Kinh Nhật Tụng do Phật Học Đường Nam Việt ấn hành.

lại không theo âm vận của tiếng Sanskrit. nếu dịch ra văn vần hết cả. nhưng chả có khí văn. nhưng không tìm ra từ để diễn đạt. Ngay người Trung Hoa. độc giả phải làm quen một thời gian mới hiểu rõ được. từ bài Nguyện Hương cho đến Tự Quy Y. 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà. vì là mật ngôn). về phương pháp dịch thuật và sắp xếp. tức đồng ma thuyết. khi tụng niệm. Cú pháp rõ ràng. Còn về các thần chú thì sao? . dịch thì được. tam thế Phật oan. nếu dùng văn vần e khó diễn đạt hết ý nghĩa sâu xa của Phật. môn học có trước kỷ nguyên Dương Lịch. nên dịch giả vẫn để nguyên như là tiếng mẹ Việt Nam nguyên chất vậy. thủ hộ Già Lam chư Thánh chúng” – thiên là trời. khi dịch dùng thể văn xuôi diễn đạt chưa lột hết ý nghĩa kinh. Hoàn toàn không có đoạn Hán Việt. đồng thời với tiếng Hán Việt. văn xuôi. như chữ xxx. âm thanh nghe không được chỉnh. nhưng một số danh từ Hán Việt đã được Việt hóa lâu đời. . Đặc biệt về Phật học. không theo nghĩa (đã là chú không ai dịch nghĩa. ly kinh nhứt tự. Người Trung Hoa dịch âm ra tiếng của họ (đồng với chữ Hán hay chữ Nho của chúng ta). Họ tụng. lời văn bình dị. có ai thấy đâu. động đất (earthquake). Ngày xưa. Phật tử tụng chú. rồng được giữ đất chùa (già lam). khi thành rồng thì được bay lên trời. các cụ không biết. Tôi cũng xin thưa cùng chư Tôn Đức Tăng. và nhiều bài Sám Nguyện của Chư Tổ đều được dịch ra Việt ngữ. Trung Hoa. là tiếng của mẹ Việt Nam.từ trước đến nay. chen vào một đoạn Việt ngữ như trong một vài quyển Nghi Thức Tụng Niệm vào buổi giao thời. Dĩ nhiên trong lãnh vực nào cũng có một số danh từ đặc biệt của lãnh vực đó. từ đầu quyển kinh cho đến hết. âm vận gần tiếng Sanskrit hơn người Việt. người Ấn Độ. Phật tử tụng dễ nhớ. tác giả đi quá trớn. và những bài phụ đính như 12 câu nguyện của Đức Quán Thế Âm. Do đó.” Qua bao năm trở ngại. Khi dịch tôi nhớ lời dạy của chư Tổ: “y kinh giải nghĩa. như đoạn: “hồi hướng Tam Bảo chúng long thiên. cho là cù dậy. hay phê bình trúng trật. được người tụng kinh hồi hướng công đức để đền ơn. không biết quý vị tụng tiếng gì. Có khác là quyển NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY hoàn toàn bằng Việt ngữ. nhưng nghĩ lại có một vài điều không hay. nếu dịch “thân mang 1 sợi chỉ”. Có nhiều câu trong Hán văn. dịch giả chỉ đưa ra một vài điều khó khăn trong khi dịch cho có chút xíu ánh sáng khoa học. đôi khi muốn bỏ cuộc chỉ vì một vài câu mất cả tháng trời. một chữ viết giống nhau. Vả lại. Thoạt tiên tôi nghĩ là dịch ra văn vần hết. e rằng không tránh khỏi mùi vị cải lương. Kim Cang. kinh văn vần tôi dịch ra văn vần. không phải không hiểu ý kinh. ngay cả người Việt Nam có học chữ Nho. chỉ có quý Thầy thuộc lòng chú. tôi dịch ra văn xuôi. âm điệu nhẹ nhàng thanh thoát để tất cả mọi người tụng niệm lãnh hội được ý nghĩa một cách dễ dàng. không dám nói nhiều. trời có thể gìn giữ đất chùa. Ni và Phật tử bốn phương rõ. Từ trước đến nay. khi Phật tử Việt Nam tụng. Tuy quyển Kinh nầy hoàn toàn bằng Việt ngữ. Những kinh nghĩa lý sâu xa như Bát Nhã. vì người Việt tụng theo âm tiếng Hán Việt. Muốn hiểu tường tận. sợ tội. như câu: “thân phi nhứt lủ” trong nghi thức Quá Đường. mới biết quý vị tụng chú mà thôi. tu chưa thành thì làm cù nằm trong lòng đất. Cũng như quan niệm xưa. Nếu căn cứ vào nghĩa của từng câu từng chữ để dịch. mặc dầu tất cả chú đều được sáng tác bằng tiếng Sanskrit. trong suốt 17 Nghi Thức. rồng là con vật của tiền sử. nhưng phát âm lại khác nhau. tôi cố gắng hết sức.Cả sự huyền bí và phức tạp. khi phục nguyện. Còn nhiều chỗ nữa. Nếu dịch ra. đã thấm nhuần vào tư tưởng và ngôn ngữ Việt Nam. quý thầy chắc không khỏi bụm miệng. Đây không phải là bài bình luật văn chương. Phức tạp ở chỗ.

bậc A La Hán. thuở xưa phát âm theo miền nào.Người Quảng Đông phát âm “Sực xx” không giống người Hải Nam phát âm “chíaxx”. để quý vị có cái nhìn trung trực. không qua tiếng Hán Việt: “Nam mô bha ga va tê. bát lặt bà hắt ra xà dã.” Qua sự so sánh trên. jyu lu bi lyou li. nhưng dịch giả không dám làm. bhai sát gia. không phiên âm qua tiếng Hán Việt.” Đọc theo âm Việt ngữ. Do đó. sự tụng niệm kinh chú của Phật Giáo đồ Việt Nam là một vấn đề nan giải cho những người có trách nhiệm. bi sha she. bậc Giác Ngộ Tối Thượng. nghe Phật tử tụng là biết Sanskrit ngay. người Ấn Độ nghe. bi sha shr. Nan. đát điệt tha. san myau san pu two ye. bệ sát thệ. khi thì Quán Thế Âm Bồ Tát vân vân. e la he di. tam một yết đế tá ha. để đánh dấu một bước tiến mạnh. Thầy ấy khen tiếng Việt Nam thật đầy đủ âm vận. Vả lại. ta dy da tha. Mong thay! Còn cách tụng niệm các thần chú trong quyển NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY nầy thì sao? – Xin thưa. chỉ biết các ngài ở Trường An mà thôi. độc giả thấy cách đọc theo âm Việt ngữ thật xác với âm vận của tiếng Sanskrit. đát tha yết đa da. bệ sát xã. Người có học Sanskrit. một ngôn ngữ âm thanh uyển chuyển dễ truyền cảm. bi sha shr. Án. he la she ye. để vậy tụng có nhiều công năng hơn.vai đu ri da. Tôi có tụng thử cho Thầy Lokananda. bwo la pwo.) “Con xin tỏ lòng tôn kính Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Nghĩa của Chú Chuẩn Đề: (chỉ tạm dịch thôi. Um. đã là chơn ngôn. bi sha she. da two jye dwo ye. bhai sát giê. cẩn phải có sự sửa đổi cách phát âm các Thần Chú. khi thì Quán Tự Tại Bồ Tát. bhai sát gia gu ru. Sau đây tôi xin nêu chú Chuẩn Đề. xin cầu nguyện cho sự trị bệnh. lại khác với tiếng Phổ Thông (Mandarin) là “sưxx” và Việt Nam là “thựcxx” vân vân (3). Người Việt đọc tiếng Hán Việt có nhiều âm na ná với tiếng Trung Quốc. a ra ha đế. đâu là trúng và đâu là sai: Nguyên văn chũu Sanskrit: “Namo bhagavate bhaisajyaguru-vaidurya prabhàràjàya tathàgatàya arhate samyak-sambuddhàya tadyathà.” Âm của người Trung Hoa: “Na mwo bwo chye fa di. mật ngữ không nên dịch. chúng ta không biết những vị dịch ra như Ngài Nghĩa Tịnh. Qua những thắng điểm vừa nêu trên. xin cầu nguyện cho sự trị bệnh. vì những lý do như sau: . Tôi xin mạnh dạn đề nghị nên có một đại hội Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam toàn thế giới để chư Tôn Đức. chư thức giả Phật giáo đồng thanh phiên âm các thần chú từ tiếng Sanskrit ra thẳng âm Việt ngữ. và để sửa đổi một vài chỗ không nhất thống trong kinh tụng hằng ngày. san mwo jye di swo he. a ra ha tê. không phải qua tiếng Hán Việt như từ trước đến giờ. bhai sát giê. biết sở trường và sở đoản vừa nêu trên. Sau khi nghe. da jr two. được viết trực tiếp từ tiếng Sanskrit.” Đọc theo âm tiếng Hán Việt: “Nam mô Bạt dà phạt đế. bệ sát xả lu lô thích lưu ly. Om bhaisajye bhaisajye bhaisajya-samudgate svàhà. tam miệu tam bột đà da. bệ sát thệ. sam mu ga tê soa ha” (4). và xin được sự trị bệnh tối thắng của Đức Dược Sư. và cách phát âm mới bằng Việt ngữ. dịch thẳng từ tiếng Sanskrit. ta tha ga ta da. Ngài Huyền Trang vân vân. về cách phát âm giữa Phật tử Việt Nam và Phật tử Trung Quốc. pra bha ra gia da. tiến đúng mức của Phật Giáo Đồ Việt Nam. sam dát sam bút đa da.

nhưng về lâu về dài cảm thấy thích hợp hơn. như bh. Vả lại. để khi tái bản được hoàn hảo hơn. nên tôi nêu lên một vài điểm có thể đúng. xin dâng lên chư Tôn Đức. ở giai đoạn đầu. (3) Xin đọc theo tiếng Việt cho dễ phát âm. Tuy chưa thực hiện được trong quyển NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY nầy. Camponsom (Cambodia). và có thể sai.” Hay là : « Tất cả các pháp hữu vi Như là mộng huyển. xin đọc liền nhau. Đây không phải là một tác phẩm vĩ đại. Và vào đầu thế kỷ thứ VIII. hoặc trực tiếp hay gián tiếp giúp tôi hoàn thành quyển NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY nầy. và Phật tử bốn phương. 2.C. khi vào Chùa tụng niệm. Nhưng trên đường giác ngộ giải thoát. nhưng dịch giả vẫn thao thức. và toàn thể chúng sanh. Mùa Vu Lan 2332 – 1998 Sa Môn THÍCH THIỆN THANH Ghi Chú : (1) Trong quyển The Hindu Colonies of the Far East. Không có sự đồng ý của đại đa số chư Tôn Giáo Phẩm. Trên cương vị dịch giả. đã dịch thuật. đã sáng tác. (2) Đây không phải là bài phê bình văn học Phật giáo vào thời chuyển tiếp. Majumdar (Ramesh Chandra Majumdar). vào đầu thế ký I. chắc quý vị cũng như chúng tôi cảm thấy bỡ ngỡ khi tụng niệm bằng tiếng Việt. theo giáo sư R. soạn giả. có dạy tiếng Sanskrit cho người địa phương. con em của chúng ta ở hải ngoại nói tiếng Việt không rành. một thời đồng giác ngộ. dạy người Việt tụng Kinh bằng tiếng Sanskrit. Có gì đâu… Trước khi dứt lời. khác chi bóng hình Như sấm chớp. để đóng góp vào vườn văn học Việt Nam.từ cách tụng niệm bằng âm tiếng Hán Việt ra cách tụng niệm bằng tiếng Việt nguyên chất – Dĩ nhiên. e rằng khổ công làm ra chỉ gây xáo trộn đức tin thiêng liêng của toàn thể quý vị. chỉ là sự sưu tập. Cả hai lần đó đều không thành công. thư viện di cư nghèo nàn của Chùa Phật Tổ không cho phép tôi viết gì đầy đủ hơn. Vả lại. hay các Phật tử xa gần. sự tiến bộ phi thường để đánh dấu khúc quanh quan trọng trong giai đoạn chuyển tiếp . xin đọc như Việt ngữ. và vạn duyên thắng ý. trước kỷ nguyên Tây lịch. như âm thinh Quán xem các pháp như hình không hoa ». tác tạo văn hóa. nhưng là NGHI THỨC CĂN BẢN. chỉ là lời dẫn nhập dón gọn. và Chân Lạp (nay là các tỉnh miền Tây Nam Phần). Những phụ âm ghép. nếu có nguyên âm ghép vào. như lời Phật dạy: “Nếu dùng sắc thấy ta Dùng âm thinh cầu ta Người ấy tu đạo tà Chắc là không thấy ta. Tăng Ni đã chỉ dạy. Cầu nguyện hương linh Nguyễn Văn Xướng. dịch thuật. nguyên lũy. giải thoát. vì ngôn ngữ cũng như văn hóa của người Việt đã ảnh hưởng văn hóa người Trung Hoa rất nhiều. Huỳnh Thị Thâu. một vài quyển Nghi Thức Tụng Niệm có trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyển NGHI THỨC TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY nầy mà thôi. Chờ sự tán đồng của đại đa số quý vị. . làm sao chúng hiểu được ý nghĩa kinh. miền Trung Việt Nam. quân Hồi giáo tràn ngập xứ Ấn. pr. có một số giáo sĩ lánh nạn sang Na Khom Ba Thủm (Thái Lan). Kính dâng công đức lên quý vị hiện tiền được vạn sự an lành. Ngưỡng mong các vị thức giả chỉ giáo cho. có một số tu sĩ Ấn Độ giáo và Phật giáo sang Champa.1. (4) Xin đọc chữ « v » theo giọng của người miền Bắc.

nghiệp chướng khổ đau không còn nữa. Khi tụng niệm nên giữ cho trang nghiêm. NGHI THỨC CÔNG PHU KHUYA [Kinh Lăng Nghiêm (Sùrampaga Sùtra)] GỒM CÓ : • Chú Tịnh Pháp Giới. để cảnh tỉnh trần thế mê hoặc. và tụng niệm cho đúng cách. Lợi ích của sự tụng kinh niệm Phật – ngoài công đức cho kẻ còn người mất – còn nói lên NẾP SỐNG ĐẠO. không thích hợp với Phật Pháp. để dễ cảm thông với các Đấng Thiêng Liêng. và cảm hóa mọi người đang sống trong cảnh u tối lầm than. không nên tụng niệm trước chỗ thờ quỷ thần. hoặc nơi thích hợp chính đáng. thì nghiệp chướng tích lũy trong nhiều đời nhiều kiếp sẽ dứt trừ. giúp họ xa lìa cảnh giới tối tăm. tâm và miệng hợp nhất. cúng cá thịt. nhờ sức chú nguyện thanh tịnh. đốt vàng mã theo tục lệ mê tín dị đoan. và tránh được những tai ương hạn ách có thể xảy ra trong bất cứ lúc nào. Vì những lợi ích trên. và được sanh về thế giới An Lạc. Nếp sống cố hữu của tổ tiên chúng ta là Tụng Kinh Niệm Phật để tích phước cho con cháu. sự Tụng Kinh Niệm Phật còn đem lại nhiều lợi ích thiết thực như sau : • Tụng Kinh Niệm Phật giữ cho tâm được an lành. • Tụng Kinh Niệm Phật để cầu an. Tụng Niệm rất dễ dàng huân tập các điều suy nghĩ tốt vào tâm thức. tránh mọi sự ồn ào phức tạp. Tụng Kinh Niệm Phật của hàng xuất gia hay tại gia để tỉnh thức tâm linh. và Tịnh Tam Nghiệp • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật • Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ • Kinh Lăng Nghiêm • Đại Bi và Thập Chú . tham luyến trần tục. hoán đổi tâm niệm xấu của người chết đã tạo. hoặc nơi trang nghiêm. • Tụng Kinh Niệm Phật để cầu siêu. • Tụng Kinh Niệm Phật để giữ cho thân. trang nghiêm và chính đáng. • Tụng Kinh Niệm Phật để tỏ lòng ăn năn sám hối trước Phật đài. tâm niệm của mình được thanh tịnh. Niệm là nhớ) là miệng đọc tâm nhớ. Chỉ tụng niệm trước Tam Bảo. đắm lợi mê danh. người đã tin Phật phải tụng kinh niệm Phật. và kể từ nay. tránh mọi điều làm kích động tâm ý. và kiến tạo cho chính mình một cuộc sống an hòa. mai nầy chúng sẽ được phú quý vinh hoa. • Tụng Kinh Niệm Phật để ôn lại những lời dạy của Phật. Hơn nữa. trong Đào Tràng thanh tịnh. miệng và ý được thanh tịnh. Lấy đó làm kim chỉ nam cho nếp sống đạo. • Tụng Kinh Niệm Phật để Pháp Âm ngân vang. nhất tâm đọc và nhớ lời Kinh và Danh Hiệu của Phật.LỢI ÍCH TỤNG KINH NIỆM PHẬT Tụng Kinh Niệm Phật (Tụng là đọc.

Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. bà phạ truật độ hám. người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) . trong đêm khuya vắng vẻ. CÚNG HƯƠNG Nguyện dâng hương mầu nầy Cúng dường tất cả Phật Tôn Pháp. đứng ngay ngắn. nghiệp chướng sâu dày. giác tha. cầm 3 cây hương dâng ngang trán. NGHI THỨC CÔNG PHU KHUYA (Thắp đèn đốt hương. tự giác. Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật. từ bi gia hộ chúng con. trì tụng để dứt hết oan khiên. giác hạnh viên mãn. đạt mạ ta phạ. một thời đồng chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. xá 1 xá) KHEN NGỢI PHẬT Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời. (3 lần) CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP Án ta phạ bà phạ. trì tụng nhiều Thần Chú sẽ được sáng láng minh mẫn. u mê ám chướng. bồ đề tâm kiên cố. đã tác tạo lũy kiếp về trước. tác đại chứng minh.• Kinh Bát Nhã Ba La Mật • Hồi Hướng Công Đức • Sám Quy Mạng • Tán Lễ • Tam Quy DÙNG CHO: Người chân tu. chắp tay ngang ngực. (1 tiếng chuông. xá 1 xá) CẦU NGUYỆN Đệ tử chúng con nguyện thập phương thường trú Tam Bảo. (3 lần) (Quì ngay thẳng. cùng pháp giới chúng sanh. (1 tiếng chuông. chủ lễ mật niệm). CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI Án lam xoa ha. chư Bồ Tát Thinh Văn và Duyên Giác Cùng các bậc Thánh Hiền Duyên khởi đài sáng chói Khắp xông mười phương cõi Tỏa ngát các chúng sanh Đều phát tâm Bồ Đề Xa lìa các vọng nghiệp Trọn nên Đạo Vô Thượng Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát. không bị tà ma nhiễu hại. Hơn nữa người nhiều tối tăm. đời sống được an lành hạnh phúc. chủ lễ niệm bài cúng hương). truật đà ta phạ.

hiện. Đại Thế Chí Bồ Tát. chút phần báo ơn. buồn. (3 lần. Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 1 tiếng chuông) Tâm Chánh Định như như bất động Phật Ba Thân nhân thế khó tìm Trăm ngàn muôn kiếp đảo điên Vô minh dứt sạch. Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (1 tiếng chuông. Đại Lực. si. Đại Từ Bi Giúp con dứt sạch sân. (1 tiếng chuông. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (1 tiếng chuông) - . (1 tiếng chuông. phiền Để sớm được lên miền Thượng Giác Ngồi Đạo Tràng bát ngát mười phương Hư không có thể tiêu tan Nguyện con kiên cố không hề lung lay (1 tiếng chuông) Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật Nam mô Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát Nam mô Kim Cang Tạng Bồ Tát. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. chứng liền Pháp Thân Nay con nguyền chứng ngôi Chánh Giác Độ chúng sanh như cát Sông Hằng Thân. lạy 1 lạy) KINH LĂNG NGHIÊM NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật. Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. tâm nầy nát như trần (bụi) Hồng ân chư Phật. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông) Cung thỉnh Thế Tôn lại chứng minh Đời năm trược con xin vào trước Một chúng sanh quả Phật chưa thành Con nguyền không chứng Vô Sanh Niết Bàn Đại Hùng. đại chúng đồng tụng) - ĐẢNH LỄ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá. vị lai thập phương chư Phật.

tát ra bà bộ đa yết ra ha. đa tha già đa da. ma đát rị già noa. khuất tô mẫu bà yết ra đa na. Nam mô bà già bà đế. ba ra ha ra noa ra xà da. a địa mục đế. Xá ba noa yết ra ha ta ha ta ra ma tha nẩm. a ra ha đế. ấn thố na mạ mạ tỏa. thi ma xá na nê bà tất nê. yết ra ha nhã xà. Nam mô ma ni cu ra da. tỳ đà ra ba noa ca ra da. xá kê dã mẫu na duệ. ô ma bát đế. Hổ hồng. bác ra đế vương kỳ ra. Yết ra ha ta ha tát ra nhã xà. giả đô ra thất đế nẩm. a rị da đa ra. tát bà xá đô lô nể bà ra nhã xà. Nam mô tất đà da tỳ địa da đà ra ly sắt nỏa. Đại chúng trông thấy. đa tha già đa da. dạ ra thố sắt ni sam tỳ chiết lam bà ma ni giá. ta bệ ra sám. tát đác tha già đô sắc ni sam. lô đà ra da. ma ha bạt ra bàn đà ra bà tất nể a rị da đa ra. a sắc tra nẩm. bàn giá ma ha tam mộ đà ra. Nam mô bà già bà đế. đô lô ung chiêm bà na. đô lô ung tất đam bà na. ông bưng núi. tỳ . a ca ra mật rị trụ. na xoa sát đác ra nhã xà. ma ra chế bà bác ra chất đa. lặc đác na kê đô ra xà da. đa tha già đa da. Nam mô ta yết rị đà già di nẩm. ma ha yết ra ha nhã xà. tát đác đa bác đác lam. cu lam đà rị. tô ma lô ba. lô xà na bạt xà ra đốn trỉ giá. ma ha ca ra da. a kiết ni ô đà ca ra nhã xà. đô lô ung. (1 tiếng chuông) ĐỆ II Ô hồng. Nam mô bà già bà đế. bát ra bà ra xà da. ma ha thuế đa xà bà ra. Nam mô tát bà bột đà bột địa. tỳ xá lô đa. ế đàm bà già bà đa. tam miệu già ba ra để ba đa na nẩm. Nam mô tất yết rị đa da. Nam mô già xà cu ra gia. nam mô tát yết rị đa. tỳ xá ra giá. đa tha già đa da. na ra dả noa da. Nam mô bà già bà đế. đứng khắp cõi hư không. tam miệu tam bồ đà da. tát đát tha già đô sắc ni sam. đa tha già đa tha. Nam mô bà già bà đế. tỳ địa gia kiền giá na ma rị ca. Hổ hồng. ma ha thuế đa. a ra ha đế. tỳ rị cu tri. Nam mô nhơn đà ra da. a ra ha đế. Nam mô bà già bà đế. mẫu đà ra yết noa. ông cầm xử vân vân. phiến đa xá bệ đề bà bổ thị đa. Hổ hồng. tỳ đa băng tát na yết rị. Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đà cu tri nẩm. ma ha đế xà. bạt xà ra ca na ca ba ra bà. hô lam đột tất phạp nan giá na xá ni. Đế biều. đa tha già đa cu ra da. tam miệu tam bồ đà da. Trong mỗi hoa sen. từ nhục kế của Phật phóng ra hào quang trăm báu với hoa sen ngàn cánh. Nam mô tất yết rị đa da.Lúc bấy giờ. thệ bà tỳ xà da. bạt xà ra chế hắt na a giá. ba ra tát đà na yết rị. Nam mô bà già bà đế. bát rị đát ra da nảnh yết rị. bạt xà ra cu ma rị. bí sa xá tất đác ra. bạc xà ra thiện trì. tát bà dược xoa hắt ra sát ta. tát ra bà bàn đà na mục xoa ni. Nam mô tô lô đa ba na nẩm. đa tha già đa da. ma ha điệp đa. Nam mô a bà ra thị đam. ma ha bà ra a bác ra. Hổ hồng. nam mô a di đa bà da. Nam mô bà già bà đế. tỳ đa băng ta na yết rị. Nam mô bạt xà ra cu ra da. bột đà dõng ca. a ra ha đế. từ đảnh Hóa Phật phóng ra mười đạo hào quang trăm báu. quật phạm đô. a sô bệ da. bạt xà ra hắc tát đa giá. tam bổ sư bí đa tát lân nại ra lặc xà da. Nam mô bà già bà đế. a ra ha đế. tam miệu tam bồ đà da. tát ra bà đột sắc tra. Nam mô đề bà ly sắt nỏa. ĐỆ I Nam mô tát đát tha tô già đa da a ra ha đế tam miệu tam bồ đà tỏa. Tát đát tha Phật đà câu tri sắc ni sam. địa rị bác lặc na già ra. Nam mô bạt ra ha ma ni. tát đa bệ tệ. bệ lô giá na cu rị da. Nam mô lô kê a la hán đa nẩm. đô lô ung ba ra sắc địa da tam bác xá noa yết ra. tam miệu tam bồ đà da. đột tất phạp bát na nể phạt ra ni. đều cầu Phật thương xót che chở. Nam mô bà già bà đế. cu lô phệ trụ rị da. ni yết ra ha yết ca ra ha ni bạc ra bí địa da sất đà nể. Nam mô bà già bà đế. bạt xà ra thương yết ra chế bà. bác lặc xá tất đa. rị sắt yết noa. có Hóa Phật ngồi. ế đế di đế. ta hê dạ da. a bát ra thị đa cu ra ma ha bác ra chiến trì. đế rị trà du ra tây na. Nam mô lô kê tam miệu già đa nẩm. bạc xà ra ma lễ để. thuế đa giá ca ma ra sát xa thi ba ra bà. và một lòng lắng nghe Phật nói thần chú: (1 tiếng chuông). vừa mừng vừa sợ. đa tha dà đa da. a sắc tra băng xá đế nẩm. bệ sa xà da. Ta xá ra bà ca tăng già nẩm. Mỗi đạo hào quang hiện ra nhiều Thần Kim Cang Mật Tích. tam miệu tam bồ đà da. Nam mô bát đầu ma cu ra da.

tát bà a bá tất ma lê tệ phấn. cưu bàn trà yết ra ha. kê ra dạ di. yết la ra đát rị duệ phấn. man trà ra. sân đà dạ di. na yết na xá ra bà noa hất rị đởm. ba ra điểm xà kiết rị. sách hê dạ hất rị đởm.đằng băng tát na yết ra. bạt xà ra thương yết ra dạ. tỳ đà dạ xà. tỷ sắc noa tỳ duệ phấn. xá tát đa ra bà dạ. a ba ra đề ha đa phấn. ô hồng. chất đa ha rị nữ. (1 tiếng chuông) ĐỆ V . đô lô ung. đát đỏa già lô trà tây hất rị đởm. kê ra dạ di. ma ha ca ra da. tát bà yết ra ha nẩm. kê ra dạ di. bà đa ha rị nẩm. tỳ rị dương hất rị tri. tát bà địa đế kê tệ phấn. sân đà dạ di. na già bà dạ. kê ra dạ di. ca tra bổ đơn na tệ phấn. ma ha ca ra ma đát rị già noa hất rị đởm. a kỳ ni duệ phấn. phấn tra. giả đô ra. tát bà xá ra bà noa tệ phấn. bộ đa yết ra ha. tỳ đà dạ xà. ta tất đế bạc bà đô. kê ra dạ di.. sân đà dạ di. a tệ đề thị bà rị đa. a xá nể bà dạ. giả đốt ra bà kỳ nể hất rị đởm. tỳ đà dạ xà. tỳ đà dạ xà. ty đà dạ xà. xà đa ha rị nữ. Hổ hồng hổ hồng. yết bà ha rị nẩm. tát bà đề bệ tệ phấn. ra xoa tư yết ra ha. chủ ra bạt dạ. tỳ đằng băng tát na ra. mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa. tỳ đà dạ xà. tỳ đà dạ xà. a địa mục chất đa ca thi ma xá na bà tư nể duệ phấn. ta ha. a tất đa na ra lặc ca. hê hê phấn. tỳ đà dạ xà. sân đà dạ di. a la hán hất rị đởm. a kỳ ni bà dạ. tỳ ca tát đát đa bát đế rị. lao đát rị duệ phấn. yết ra đàn trì duệ phấn. giá văn trà duệ phấn. kê ra dạ di. ma ha ba ra đinh dương xoa tỳ rị tệ phấn. thập Phật ra thập Phật ra. tát bà thập bà lê tệ phấn. a du giá ha ri nữ. bà già phạm tát đát tha già đô sắc ni sam. tát bà ra tha ta đà kê tệ phấn. ba ra trượng kỳ ra xà da phấn. phấn tra. tỳ đà dạ xà. thị tỷ đa ha rị nẩm. a ca ra mật rị trụ bà dạ. tát bà dược xoa tệ phấn. kê ra dạ di. cu hê dạ cu hê dạ. sân đà dạ di. ma ha yết rị duệ phấn. sân đà dạ di. tỳ xá giá yết ra ha. diễn kiết chất. bà ra chước yết ra bà dạ. bà dà phạm. tần đà ra tần đà ra sân đà sân đà. kê ra dạ di. ca địa bát đế hất rị đởm. ba ra ba ra đà phấn. mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa. đế sam tát bệ sam. tỳ đà dạ xà. tỳ đa ha rị nẩm. cu tri ta ha tát nê đế lệ. tất kiền độ yết ra ha. kê ra dạ di. giả đô ra thi để nẫm. lặc xà đàng trà bà dạ. sân đà dạ di. bạt xà ra cu ma rị. tỳ đà dạ xà. ba rị bạt ra giả ca hất rị đởm. tỳ xa bà dạ. ma ha mạt đát rị ca noa. tát bà tỳ đà da ra thệ giá lê tệ phấn. a tố ra tỳ đà ra ba ca phấn. sân đà dạ di. phược kỳ nể tệ phấn. phấn tra. nan đà kê sa ra. Nam mô ta yết rị đa dạ phấn. tát đỏa bà tỏa. tỳ địa dạ. ô đàn ma đà yết ra ha. bạt xà ra ba nể. tỳ đà dạ ra thệ tệ phấn. kê ra dạ di. ca ba rị ca hất rị đởm. sân đà dạ di. sân đà dạ di. lô địa ra ha rị nẩm. ba ra bà tất phổ tra. mê đà ha rị nẩm. đà ra ni bộ di kiếm ba già ba đà bà dạ. tra tra anh ca ma ha bạt xà lô đà ra. ca bác rị duệ phấn. ma độ yết ra tát bà ra tha ta đạt na hất rị đởm. (1 tiếng chuông) ĐỆ III Ra xà bà dạ. kê ra dạ di. tát bà na già tệ phấn. tát bà đát ma đà kê tệ phấn. đột sắc xoa bà dạ. yết ra ha. giá lê tệ phấn. ấn thố na mạ mạ tỏa. tỳ điều đát bà dạ. bột ra ha mâu ni duệ phấn. sân đà dạ di. đô lô ung. Hổ hồng. tỳ đà dạ xà. tỳ đa ra già hất rị đởm. a mâu ca da phấn. tát đát đa bác đác ra. sân đà dạ di. tỳ đà dạ xà. na ra dạ noa hất ri đởm. đế rị bồ bà na. sân đà dạ di. tất rị đa yết ra ha. trà diễn ni hất rị đởm. sân đà dạ di. dược xoa yết ra ha. miệc đát rị duệ phấn. dà noa bác đế. Hổ hồng. nam mô tý đô đế. ma ha bát du bác đát dạ. kê ra dạ di. a bá tất ma ra yết ra ha. xa dạ yết ra ha. ca tra bổ đơn na yết ra ha. ma ha ta ha tát ra. kê ra dạ di. xà dạ yết ra. ta ha tát ra nẫm. bổ đơn na yết ra ha. hê rị bà đế yết ra ha. ra xoa. đà ra đà ra. tát bà kiền thát bà tệ phấn. xà dạ yết ra ma độ yết ra. tỳ đà dạ xà. tô ba ra noa bà dạ. lô đà ra hất rị đởm. sân đà dạ di. tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn. kê ra dạ di. phấn tra. ô ra ca bà đa bà dạ. kê ra dạ di. mang ta ha rị nẩm. bột thọ ta ha tát ra thất rị sa. phấn tra. ty đà dạ xà.tát bà đột sáp tỷ lê hất sắc đế tệ phấn. tát bà bổ đơn na tệ phấn. (1 tiếng chuông) ĐỆ IV Bà già phạm. xã đa ha rị nẩm. ra thoa vỏng. ma xà ha rị nẩm. ô đà ca bà dạ.

xà đa ha ra. ô lô du lam. bà lô kiết đế thước bát ra da. Ma ha tất đà dạ. tát bà tát đa. bàn đà bàn đà nể. lao đà ra nan địa ca yết ra ha. hô lô hô lô ma ra. ta bà ha. ma ha phạt xà da đế. Mạ mạ phạt ma ra. độ lô độ lô phạt xà da đế. phệ đế sam ta bệ sam. yết noa du lam. ta bà ha. Ma bà lị thắng kiết ra dạ. a na lệ. Nam mô a rị da. a kỳ ni ô đà ca. (1 tiếng chuông) CHÚ ĐẠI BI Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. đát điệt tha. mạt ra thị. ô xà ha ra. Án a bà lô hê. ma hê ma hê rị đà dựng. mạt đà bệ đạt lô chế kiếm. cưu bàn trà yết ra ha. kiến đốt lô kiết tri. ta nể bác đế ra. thất lô kiết đế. thất lệ sắt mật ca. (1 tiếng chuông) THẬP CHÚ 1. CHÚ NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG Nam mô Phật Đà Da . ta ra ta ra. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. ca ra đế. yết ra ha yết lam. (3 lần. bạt đà du lam. trà kỳ ni thập bà ra. địa rị ni. bệ ra bạc xà ra đà rị. ta bà ha. ô đát ma đà yết ra ha. tỷ rị sắc chất ca. yết ra rị dược xoa. thất Phật ra da. y hê di hê. địa rị sắc ni na. bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. ha lăng già. cu lô cu lô kiết mông. ta bà ha. ta bà ha. đế thù bàn đàm ca lô di. tỳ xá đề. ma xà ha ra. lô địa ra ha ra. ma ha ca lô ni ca da. bộ đa tỷ đa trà. tỳ xá giá yết ra ha. giả đột thác ca. a lam bà yết ra ha. tỷ lật sắc tra du lam. ta bà ha. đột sắc tra chất đa. xà di ca yết ra ha. ta bà ha. 1 tiếng chuông) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da. Tất ra tăng a mục khư gia. ma ra ma ra. bà lô kiết đế. tất kiền đà yết ra ha. di hê rị. ô đà ra du lam. đà ra đà ra. bộ đa yết ra ha. dược xoa yết ra ha. đản đa du lam. xá cu ni yết ra ha. ta bà ha. đác điệt tha. lao đà ra chất đa. dá ra dá ra. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. mạt mạ du lam. Hổ hồng đô lô ung phấn. hát tất đa du lam. kiền độ ba ni yết ra ha. xa dạ yết ra ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ. ta bà ha. tất rị tất rị. bồ đề tát đỏa bà da. ma ha bác lặc trượng kỳ lam. Ma ra na ra.na ma bà dà. bồ đà dạ bồ đà dạ. ta bà ha. kiền đà ha ra. bạt xà ra bàn ni phấn. số đát na đát tỏa. mạt ra bệ ra kiến đa ra. tỷ sam ma thập phạt ra.ta bà ha. tri đế dược ca. rị Phật đế yết ra ha. bà tỏa ha ra. bác đát ra. Tất đà dạ. bạc lược dạ ha ra. a ca ra mật rị đốt đát liểm bộ ca. phả ra ha ra. tỷ để ca. Na ra cẩn trì. du sa đát ra. tát bà a tha đậu thâu bằng. già bà ha ra. bế lệ đa yết ra ha. bồ đề dạ bồ đề dạ. tô rô tô rô. ta bà ha.Giả kiết ra a tất đà dạ. ta bà ha. đác ra sô. yết rị đột lô kiềm. na ma bà tát đa . a thệ dựng. tứ dẫn già tệ. ta bà ha. Nam mô na ra cẩn trì hê rị. hô lô hô lô hê rị. ta bà ha. ra sát ta yết ra ha. thị tỷ đa ha ra. bạt tất đế du lam. xá dụ xà na. bác ba chất đa. Nam mô a rị da. ma phạt đạt đậu. di đế rị dạ. ta na yết ra. đát lệ đế dược ca. bát ra tỳ đà bàn đàm ca lô di. Ta bà ma ha a tất đà dạ. thước bàn ra dạ. tát bà thập phạt ra. tất đát đa. lô ca đế. Phật ra xá da. Án. phạt sa phạt sâm. mạn đa ra. bạt rị thất bà du lam. biện đát lệ noa. trạch khê trách trà kỳ ni yết ra ha. bạt đà dạ. tỳ sa dụ ca. ni đề thập phạt ra. a ỷ lô kiềm. ma ha bàn đa sa mế. bố sử ba ha ra. ma ha bạc xà lô sắc ni sam. a mạt đát rị chất đa. tỳ đà da bàn đàm ca lô di. a bá tất ma ra yết ra ha. đà đột lô ca. Thập phạt ra yên ca hê ca. bà lộ đa tỳ tát bác lô. thất bàn ra dạ. Án. tát bàn ra phạt duệ. Án tất điện đô.Đột sắc tra chất đa. a ra sâm Phật ra sá lợi. na ra cẩn trì. hất rị dạ du lam. thất na thất na. ma ha bồ đề tát đỏa. Tất đà du nghệ. địa lật lặc tra. ta phòng án già bác ra trượng già du lam. mục khê lô kiềm. mục đế lệ. tát bà na cu ra. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. tát bà tát bà. yết tri du lam. ta bà ha ra. dạ ba đột đà. ma ha tát đỏa bà da. ba dạ ma na. thường già du lam. bạc để ca.

khê khê. bót rị thuật đạp. để sắc sá. (1 tiếng chuông) 10. Nam mô tát đa nẩm. tô tất nể. Án. tất đô rô. đát nể dã tháp. tỷ thuật đế. chiết lệ chủ lệ. (1 tiếng chuông) 6. chấn đa mạt ni. cu chi nẩm. dà di nị. tang mã ngột cả đế. tất đạt rị. CHÚ PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ Khể thủ quy y tô tất đế. . a ra hát đế. rô rô rô rô. Án tát rị ba. ta phấn tra. tam mạn đà. ta ba ngỏa. CHÚ CÔNG ĐỨC BẢO SƠN Nam mô Phật Đà Da Nam mô Đạt Ma Da Nam mô Tăng Già Da. (1 tiếng chuông) 5. ba ra. cả cả nại. bát ra nhập phạ ra. Nam Mô Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát. nạp bốc rị. a bát ra để. đa tha dà đa dạ. đát nể dã tha. nhập phạ ra. thiệt chấp đạp. khê hế. a ưu rị a nạp. ma ha dà đế. ma ha ca rị dã. phiến để ca. tất đam bà tỳ. a ba ra mật đạp. chỉ đa ca lệ. ni ha ra đế. tam một yết đế tá ha. (1 tiếng chuông) 4. (1 tiếng chuông) 8. Án. tam miệu tam bột đà da. thước ra hồng. CHÚ QUÁN ÂM LINH CẢM Án ma ni bát di hồng. mã hát nại dã. bát lặc đà. chấn đa mạc ni. bố rô rị. chơn lăng càng đế. ma hát nghê nha nạp. ma ha bát đẳng mế. đát tháp cả đạt dã. đầu diện đảnh lễ thất cu chi. phấn ta ha. Án. chỉ rị ba. sắc trí rị. bát rị ngỏa rị tá hát. bát lặc bà hát ra xà dã. ta bà ha. bốc rị tất tháp cát. chiết yết ra phạt để. thuyết ra da. điệp tả ra tể dã. Án. bệ sát xã. đà ra ni đế. Án. a di rị đô. kiết rị bà. Án. nại ma lô kiết. tỳ ca lan đa. nạp bổ ra nạp. sa dạ hồng. ba nể. đát điệt tha. cụ đại bi tâm giả. hồng hồng. để sắc tra. CHÚ DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH Nam mô bạt dà phạt đế bệ sát xả lụ lô thích lưu ly. bát ra nhập phạ ra. tỳ ca lan đế.Nam mô Đạt Ma Da Nam mô Tăng Già Da. CHÚ VÃNG SANH TỊNH ĐỘ Nam mô a di đa bà dạ. (1 tiếng chuông) 7. thất rị duệ. Án tất đế hộ rô rô. hạ đa xá. ta bà ha. a di rị đa. (1 tiếng chuông) 9. a di rị đa. đạt xá ni. ta phạ ha. ta nẳng nẩm. tỳ lê nể đế. ta bà ha. bà tỳ. đát điệt tha. (1 tiếng chuông) 3. CHÚ TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG Nẳng mồ tam mãn đa. a ra ha đế. tích đô đạt ba đạt. giá lỵ tam mạn đà. thưu thát ban nạp. tam dược tam bất đạt dã. ta phạ ha. đa địa dạ tha. ma ha để tỷ da. tát nhi cáng nhi tháp. thước ra a yết rị. Chuẩn Đề. tang tư cát rị. bát đẳng mế hồng. sắc trí rị. ta phấn tra. (1 tiếng chuông) 2. bệ sát thệ. a di rị đa. ma ha tỳ ha ra dà đế. đát tha yết đa da. tích đặt ta nạp. ba nể. dà dà na. để sắc sá. duy nguyện từ bi thùy gia hộ. bát đạp ma. bệ sát thệ. tam miệu tam bồ đề. tỳ ni dà đế. khê hế. cầu ha cầu ha đế. CHÚ THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ QUYẾT ĐỊNH QUANG MINH VƯƠNG Án nại ma ba cát ngỏa đế. CHÚ THẤT PHẬT DIỆT TỘI Ly bà ly bà đế. tá ha. CHÚ THIỆN THIÊN NỮ Nam mô Phật Đà Nam mô Đạt Mạ Nam mô Tăng Già Nam mô thất lỵ. ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề. mẫu đà nẫm. đát điệt tha. ba lỵ phú lâu na. đạt ra mã đế. vi đạt rị cát. đát điệt tha. nhập phạ ra.

trừ được hết thảy khổ. qua hết thảy khổ ách. ”Này Ông Xá Lợi Phất. không có vô minh. nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. không có khổ. (1 tiếng chuông) . hành. tu bác lê đế. nên trong ”chân không”. thiên Có công gìn giữ tôn nghiêm Phật đường Xa lìa khổ: ba đường. ma ha tỳ cổ tất đế. Trong vũ trụ không ai hơn Phật Mười phương xa không thể sánh bằng Thế gian con thấy hết rằng Tất cả không có ai bằng Thế Tôn. không có nhãn giới. cũng không có chứng đắc. đạt tới cứu cánh Niết Bàn. hê đế tỷ. mộng tưởng. cũng không có cái hết già chết.” Vì vậy. không có trí huệ. tám nạn Đền ơn sâu: thầy. thinh. được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Ngài soi thấy năm uẩn đều không. ma ha Di Lặc đế. tập. ba la yết đế. đà la ni. là Đại Minh Chú. không có sắc. (1 tiếng chuông) KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa. tam mạn dà. cho đến không có già chết. diệt. tai. nên không sợ hãi. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. không tức là sắc. pháp. không có sắc. tam mạn đà. ba la tăng yết đế. xúc. lâu phả tăng kỳ đế. không có thọ. không chẳng khác sắc. không sạch. sắc tức là không. không có mắt. Vì không ngăn ngại. mũi. vị. Thức cũng đều như thế. (1 tiếng chuông) Đại chúng gắng tu cầu giải thoát Chóng lên bờ Chánh Giác dễ dàng Ba môn dứt hết tai nàn Người tin theo Phật phước càng thâm sâu. tổ. không bớt. Có thể biết sát trần tâm niệm Có thể uống nước cả đại dương Hư không có thể đo lường Công Đức chư Phật vô phương nghĩ bàn. tưởng.” (1 tiếng chuông) HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC Đại chúng hiện tiền tâm thanh tịnh Phúng tụng các Chú và Lăng Nghiêm Hồi hướng công đức đến nhân. ý. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú.tát rị phạ lạt tha. Tưởng. sắc chẳng khác không. đạt ma đế. không dơ. không thêm. cha Quốc gia thế giới an hòa Can qua dứt sạch. hương. bồ đề tát bà ha. cho đến không có ý thức giới. dạo. lưỡi. Vì không có chỗ chứng đắc. cửa nhà yên vui.” ”Này Ông Xá Lợi Phất. liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: ”Yết đế. Thọ. tăng kỳ hê đế. thức. tâm không ngăn ngại. phú lệ na. chân thật không hư. là Vô Thượng Chú. là Vô Đẳng Đẳng Chú. Hành. a rị na. xa hẳn điên đảo. vua. cũng không có cái hết vô minh. không diệt. ”tướng không của mọi pháp” không sanh. a tha a nậu. thân. yết đế.

Ngược dòng chơn tánh từ lâu Chúng con trôi nổi trên đầu sông mê Biết đâu là chốn đường về Bập bềnh sống nước không hề đoái lui Nguyên nhân hữu lậu gây rồi Bao nhiêu nghiệp chướng lâu đời tạo ra Biết đâu nẻo chánh đường tà Oan khiên nghiệp chướng thật là nặng sâu Nay con khẩn thiết cúi đầu Phơi bày sám hối cần cầu hồng ân Chí thành cầu đấng Năng Nhơn Từ Bi cứu vớt trầm luân mọi loài Nguyện cùng thiên hữu ra khơi Cùng lên bờ giác lìa nơi não phiền Kiếp nầy xin nguyện xây thêm Cao tòa phước Đức vững bền đạo tâm Chờ mong đạo nghiệp vun trồng Từ Bi cứu độ nở mầm tốt tươi Kiếp sau xin được làm người Sanh ra gặp Pháp sống đời chân tu Dắt dìu nhờ bậc minh sư Nương vào chánh tín.Chúng con nguyền theo đấng Đạo Sư. thầy dạy khắp trời. Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát Nam Mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ Tát. hiện trăm ngàn hóa thân. niệm mỗi danh hiệu Bồ Tát 3 lần. SÁM QUY MẠNG Quy mạng mười phương Vô Thượng Giác Pháp mầu vi diệu đã tuyên dương Thánh Tăng tứ quả tam thừa độ Hiển hiện tay vàng nguyện xót thương. 1 tiếng chuông). hạnh từ xuất gia Lục căn tam nghiệp thuận hòa Không vương tục lụy theo đà thế nhân Một lòng tấn đạo nghiêm thân Giữ gìn phạm hạnh nghiệp trần lánh xa Oai nghi phong độ chói lòa Lòng từ hộ mạng trước là vị sanh Lại thêm đầy đủ duyên lành Bao nhiêu tai nạn biến thành hư không Bồ Đề nguyện kết một lòng Đài sen Bát Nhã chơn không hiện tiền . cha lành chung bốn loại. đại chúng vừa niệm Bổn Sư vừa đi kinh hành. người. khi đứng lại. Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.) (1 tiếng chuông.

(1 tiếng chuông) TÁN LỄ Xưng tán Đức Thế Tôn . Phát lời nguyện ước cao siêu (1 tiếng chuông) Muôn ngàn khổ địa thảy đều tiêu tan Bao nhiêu nghiệp trái hàm oan Bao nhiêu đau khổ trong hàng súc sinh Bao nhiêu thần lực oai linh Sương tan núi biếc bình minh rạng ngời Thuốc thang cứu cấp cho đời Áo cơm cứu giúp cho người bần dân Bao nhiêu lợi ích hưng sùng An vui thực hiện trong vòng trầm luân Bao nhiêu quyến thuộc thân an Cùng nguyền vượt biển trần gian nổi chìm Xa lìa ái nhiễm liên miên Đoạn trừ những nỗi phược triền chơn tâm Vun trồng đạo nghiệp thiện nhân Cùng bao loài khác phát tâm hướng về Hư không dù có chuyển di Nguyện con muôn kiếp chẳng hề lung lay Nguyện cầu vạn pháp xưa nay Hoàn thành trí nghiệp đến nơi Bồ Đề.Nhờ công tu tập tinh chuyên Đại thừa liễu ngộ chứng truyền chơn tâm Thoát ngoài kiếp ải trầm luân Hoằng khai lục độ hạnh môn cứu người Pháp tràng dựng khắp nơi nơi Lưới nghi phá hết trong ngoài sạch không Tà ma hàng phục đến cùng Truyền đăng Phật pháp nối dòng vô chung Vâng làm Phật sự mười phương Không vì lao nhọc nản đường tinh chuyên Bao nhiêu diệu Pháp thâm uyên Thảy đều thông đạt siêu nhiên độ mình Rồi đem khắp độ chúng sanh Chứng nên Phật quả hoàn thành Pháp thân Tùy cơ ứng biến cõi trần Phân thân vô số độ dần chúng sanh Nước từ rưới khắp nhân thiên Mênh mông bể hận lời nguyền độ tha Khắp hòa thế giới gần xa Diễn dương diệu Pháp trước là hiện thân Những nơi khổ thú trầm luân Hào quang chiếu diệu hiện thân tốt lành Chỉ cần thấy dạng nghe danh Muôn loài thoát khỏi ngục hình đớn đau.

lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp. sao Mai hiện Chứng nên Đạo Bồ Đề Liền chuyển bánh xe Pháp Độ muôn loài chúng sanh Hàng tam Thừa quy ngưỡng Đạo Vô Sanh viên thành. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng. (1 tiếng chuông. tất cả không ngại. (1 tiếng chuông) TAM QUY Con nương theo Phật. (1 tiếng chuông) Giã từ ngôi quốc vương Ngồi gốc Đại Bồ Đề Phá hết chúng ma quân Một sáng. lạy 1 lạy) NGHI THỨC CẦU AN [Phẩm Phổ Môn (Avalokitesvara varga)] GỒM CÓ: • Chú Tịnh Pháp Giới. trí huệ như biển. cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp. và Tịnh Tam Nghiệp • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật • Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ • Tán Dương Chi • Chú Đại Bi • Kệ Khai Kinh • Phẩm Quán Thế Âm (Phổ Môn) • Ngợi Khen Đức Quán Âm • Kinh Bát Nhã Ba La Mật • Nguyện An Lành • Sám Cầu An • Hồi Hướng • Phục Nguyện .Đấng vô thượng Năng Nhơn Từng trải vô lượng kiếp Tu nhân lành giải thoát Từ Đẩu Xuất giáng thần. Bốn loài. tám nạn đảo điên Nương vào “biển tuệ” vô biên sáng ngời. cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. phát lòng vô thượng. chín cõi đồng về Mười phương cõi Phật bốn bề trang nghiêm Ba đường. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông.

chủ lễ mật niệm). cầm 3 cây hương dâng ngang trán. đứng ngay ngắn. Tri Kiến Hương Sáng ngời. Tụng Phẩm Phổ Môn để được bình an. xa lìa khổ ách. chiếu khắp mười phương Hiện tiền Tam Bảo. Năm Hương cúng dường. (1tiếng chuông. phiền não dứt sạch. Kinh Dược Sư để cầu nguyện cho được bình an. ngưỡng nguyện mười phương Tam Bảo. và Huệ Hương Giải Thoát. bị cướp giựt vân vân. cùng hết thảy chúng sanh. chủ lễ niệm bài cúng hương). đạt mạ ta phạ. lạy 1 lạy) . xưng tán Hồng Danh. nghiệp chướng tiêu trừ. (1 tiếng chuông. trì tụng Phổ Môn Kinh Chú. đại chúng đồng tụng) - ĐẢNH LỄ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá. xá 1 xá) CẦU NGUYỆN Hôm nay. tu hành công đức. người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật. truật đà ta phạ. một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. từ bi gia hộ… (quý danh đệ tử chúng đẳng). (3 lần) CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP Án ta phạ bà phạ. dứt hết những tật bịnh từ thân thể mình có ra. CÚNG HƯƠNG Giới Hương. chắp tay ngang ngực. (3 lần. thường được an lành. Giải Thoát. như đau yếu. CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI Án lam xoa ha. bà phạ truật độ hám. chiêm bao vân vân. NGHI THỨC CẦU AN (Thắp đèn đốt hương. (3 lần) (Quì ngay thẳng. chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. (1 tiếng chuông. đứng dậy. 1 tiếng chuông. xá 1 xá. phụng trì di giáo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Định Hương. như đụng xe. vị lai thập phương chư Phật. Phật tử nên phân biệt. đệ tử chúng con. hiện. Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. vượt thoát những tai nạn do hoàn cảnh bên ngoài tạo nên. Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát.• Tam Quy DÙNG ĐỂ: Cầu nguyện cho tai qua nạn khỏi. chỉ chủ lễ xướng) KHEN NGỢI PHẬT Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời. gia đình bình an.

ma hê ma hê rị đà dựng. ta bà ha. bà lô kiết đế. ma phạt đạt đậu. hô lô hô lô hê rị. ta bà ha. bạt đà dạ. lô ca đế. đà ra đà ra. ma ha bồ đề tát đỏa. Ma bà lị thắng kiết ra dạ. liền từ chỗ ngồi đứng dậy. Đại Thế Chí Bồ Tát. (1 tiếng chuông) - KỆ KHAI KINH Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu. độ lô độ lô phạt xà da đế. (3 lần. Con nay nghe thấy chuyên trì niệm. trịch áo vai mặt. ma ra ma ra. Phật ra xá da. tát bà tát bà. na ma bà dà. 1 tiếng chuông) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. (3 lần. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. phạt sa phạt sâm. (1 tiếng chuông. chắp tay hướng Phật và bạch rằng: “Thế Tôn! Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát do nhơn duyên gì mà tên là Quán Thế Âm?” (1 tiếng chuông) . lạy 1 lạy) TÁN DƯƠNG CHI Cành dương nước tịnh nhiệm mầu Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau Chư Thiên mát mẻ. Án. bồ đà dạ bồ đà dạ. ma ha tát đỏa bà da. Mạ mạ phạt ma ra. bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. na ra cẩn trì. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. Ta bà ma ha a tất đà dạ. tát bà a tha đậu thâu bằng. ta bà ha. bồ đề dạ bồ đề dạ. (3 lần. tát bàn ra phạt duệ. ta bà ha. a ra sâm Phật ra sá lợi. Ma ha tất đà dạ. ta bà ha. thước bàn ra dạ. di đế rị dạ. tất rị tất rị. địa rị ni. Ba đà ma kiết tất đà dạ. bà lô kiết đế thước bát ra da. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. ta bà ha. Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. cảnh an nhàn Cam lồ rưới khắp trần gian Lửa sân dứt sạch. ca ra đế. thất bàn ra dạ. Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. di hê rị. y hê di hê. Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. mạn đa ra. Nam mô na ra cẩn trì. hê rị ma ha bàn đa sa mế. sen vàng nở hoa. ta bà ha. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. Nam mô a rị da. Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. Án tất điện đô. ta bà ha. thất Phật ra da. ta ra ta ra. 1 tiếng chuông) CHÚ ĐẠI BI Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. ta bà ha. Ma ra na ra. bồ đề tát đỏa bà da. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. ba dạ ma na. Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu. ta bà ha. thất na thất na. ta bà ha. Án a bà lô hê. xá 1 xá) PHẨM PHỔ MÔN PHẬT NÓI KINH PHÁP HOA PHẨM PHỔ MÔN THỨ HAI MƯƠI LĂM Nam Mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần. Na ra cẩn trì. tâm thanh tịnh Nhân thế vui tươi. ma ha ca lô ni ca da. Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. (1 tiếng chuông. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. địa rị sắc ni na. Tất đà dạ. 1 tiếng chuông.- Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. dá ra dá ra. na ma bà tát đa. ta bà ha. 1 tiếng chuông) Lúc bấy giờ. số đát na đát tỏa. a thệ dựng. tô rô tô rô. ta bà ha. đát điệt tha. Nam mô a rị da. Tất đà du nghệ. tát bà tát đa. mục đế lệ. cu lô cu lô kiết mông. ma ha phạt xà da đế. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. hô lô hô lô ma ra. Tất ra tăng a mục khê da.

phước đức chẳng mất. trói buộc nơi thân. các quỉ đó không thể dùng mắt dữ nhìn người huống lại làm hại đặng. nghe người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. vân vân. trân châu. dầu vào trong lửa lớn.” Đoàn người buôn nghe xong. thảy đều đứt rã. thời những người kia đều đặng thoát khỏi nạn quỉ La Sát.” Nhờ xưng danh hiệu Bồ Tát. mọi người kính mến. Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. có một người nói rằng: “Các thiện nam tử. (1 tiếng chuông) Nếu lại có người sắp bị hại. trong trăm nghìn muôn ức kiếp không thể cùng tận. Nếu chúng sanh cung kính lễ lạy Quán Thế Âm Bồ Tát. (1 tiếng chuông) Nếu có người thương gia dắt đoàn người buôn.” Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ Tát dạo đi trong cõi Ta Bà như thế nào? Phương tiện thuyết Pháp của Ngài ra sao?” (1 tiếng chuông) Phật bảo Vô Tận Ý Bồ Tát: “Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật để độ thoát. đều xưng niệm: “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. liền hết tham lam. Trong số đó. lưu ly. hay đem pháp Vô Úy. lửa chẳng cháy đặng. thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. xưng danh hiệu Bồ Tát liền đặng đến chỗ cạn. hay một lòng xưng danh Quán Thế Âm Bồ Tát liền được giải thoát. mang theo nhiều của báu. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Đại Bồ Tát có sức oai thần rộng lớn như thế! Nếu chúng sanh nhiều tham lam. tên là Quán Thế Âm. y phục. hổ phách. cho nên chúng sanh thường phải một lòng tưởng nhớ đến Ngài. Nơi đáng dùng thân Bích Chi Phật để độ thoát. nhiều sự lợi ích như thế. chớ có sợ sệt! Các ông phải nên một lòng xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát.Phật bảo Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát: “Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các sự khổ não. Trong số đó. thoáng nghe Quán Thế Âm Bồ Tát. mã não. xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức oai thần rộng lớn. hoặc không tội. Bồ Tát liền hiện thân Bích Chi Phật để nói . Nếu quỉ Dạ xoa cùng La Sát đầy trong cõi Tam Thiên Đại Thiên muốn đến hại người. liền đặng thoát khỏi. xa cừ. thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. lại trọn đời cúng dường thức ăn uống. thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Do nhơn duyên đó. liền hết giận hờn. vị Bồ Tát đó. liền sanh con trai phước đức trí huệ. Ý ông nghĩ sao? Công đức của thiện nam tín nữ đó có nhiều chăng? (1 tiếng chuông) Vô Tận Ý thưa: “Bạch Thế Tôn! Rất nhiều. Vô Tận Ý! Thọ trì danh hiệu của Quán Thế Âm Bồ Tát được vô lượng vô biên phước đức lợi ích như thế. đi ngang qua đường hiểm trở. Nếu người nhiều giận hờn. thí cho chúng sanh. nếu các ông xưng danh hiệu Ngài sẽ được thoát khỏi nơi oán tặc nầy. nên họ được thoát khỏi. thuốc thang. bèn sanh con gái có tướng xinh đẹp. nếu có một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát.” Phật dạy: “Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. nhẩn đến một thời lễ lạy cúng dường. Lại có người hoặc có tội. (1 tiếng chuông) Nếu có người nữ muốn cầu con trai. vào trong biển lớn. liền đặng thoát khỏi. cho nên chúng sanh đều phải thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. như: vàng bạc. muốn cầu con gái. gông cùm xiềng xích. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức oai thần như thế! Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh tự của sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát. Nếu người nhiều ngu si. Giả sử gió bão thổi ghe thuyền của kẻ kia trôi tắp nơi nước của quỉ La Sát. xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Phật để nói Pháp. thời dao gậy của người kia cầm gãy từng khúc. lễ lạy cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát.nhờ sức oai thần của Bồ Tát. Nếu bị nước lớn cuốn trôi. thời phước đức của hai người đó bằng nhau không khác. Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm các thứ châu báu. nhiều kẻ oán tặc. san hô. giường nằm. liền hết ngu si.

A Tu La. Nơi đáng dùng thân Tự Tại Thiên để độ thoát. Ca Lầu La. Nơi đáng dùng thân Bà La Môn để độ thoát. Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con nay xin cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát. Nhơn và Phi Nhơn vân vân. Khẩn Na La. Tỳ kheo Ni. Bồ Tát liền hiện thân Bà La Môn để nói pháp. Bồ Tát liền hiện thân Ðế Thích để nói pháp. Bồ Tát liền hiện thân Cư Sĩ để nói pháp. để độ thoát. Nơi đáng dùng thân Trưởng Giả để độ thoát. Nơi đáng dùng thân Tiểu Vương để độ thoát. Vì vậy. A Tu La. Nơi đáng dùng thân Đế Thích để độ thoát. Bồ Tát liền hiện thân Thiên Đại Tướng Quân để nói pháp. Quán Thế Âm Bồ Tát thương hàng Tứ Chúng. Dạ Xoa. Nơi đáng dùng thân Tỳ kheo. Nơi đáng dùng thân Đồng Nam. Rồng. Nơi đáng dùng thân Thiên Đại Tướng Quân để độ thoát. Bồ Tát liền hiện thân Tiểu Vương để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Tỳ Sa Môn để độ thoát. Rồng.” Khi ấy. Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát trọn nên công đức như thế. một phần để vào tháp của Đức Phật Đa Bửu. Bồ Tát liền hiện thân Tự Tại Thiên để nói pháp. Bồ Tát liền hiện thân Đại Tự Tại Thiên để nói pháp. để độ thoát chúng sanh. cùng Trời. Phật bảo Quán Thế Âm Bồ Tát: “Ông nên thương Vô Tận Ý và hàng tứ chúng. Càn Thát Bà. Nơi đáng dùng thân Thần Chấp Kim Cang để độ thoát. Rồng. Bồ Tát liền hiện thân Thinh Văn để nói pháp. Bồ Tát liền hiện thân Tỳ kheo. Ca Lâu La. Nơi đáng dùng thân Cư Sĩ để độ thoát. Bồ Tát liền hiện thân Tỳ Sa Môn để nói pháp.” Lúc đó. Bồ Tát liền hiện thân Đồng Nam. Bồ Tát liền hiện thân phụ nữ để nói pháp.” Bấy giờ. vân vân. các ông phải một lòng cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát. Ưu Bà Tắc. Nơi đáng dùng thân phụ nữ của Trưởng Giả. Ngài Vô Tận Ý lại thưa Quán Thế Âm Bồ Tát: “Xin Ngài vì thương chúng tôi mà nhận chuỗi ngọc nầy. Bồ Tát liền hiện thân Phạm Vương để nói pháp. Bà La Môn để độ thoát. dùng nhiều thân hình dạo đi trong các cõi nước.” (1 tiếng chuông) Tức thời. nên trong cõi Ta Bà nầy. Ngài có tên là Thí Vô Úy. giá trị trăm nghìn lượng vàng nơi cổ đem cúng dường cho Ngài Quán Thế Âm. Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát hỏi Phật rằng: (1 tiếng chuông) “Thế Tôn đủ tướng tốt! Con nay được thăm hỏi Phật tử nhơn duyên gì Tên là Quán Thế Âm?” Đức Phật trả lời rằng : . Bồ Tát liền hiện thân Trưởng Giả để nói pháp. và nói rằng: “Xin Ngài nhận chuỗi ngọc trân bảo pháp thí nầy. (1 tiếng chuông) Ở trong chỗ tai nạn. Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng chịu nhận chuỗi. Ma Hầu La Dà. Khẩn Na La. Nơi đáng dùng thân Trời. nhận chuỗi ngọc đó và chia làm hai phần: một phần dưng cúng Đức Thích Ca Mâu Ni. Nhơn cùng Phi Nhơn. Ưu Bà Di để nói pháp. Nhơn và Phi Nhơn vân vân. Ưu Bà Di để độ thoát. mà nhận chuỗi ngọc nầy. Đồng Nữ để độ thoát. Tể Quan. Ưu Bà Tắc. sợ sệt. Cư Sĩ. Nơi đáng dùng thân Thinh Văn để độ thoát. Ngài liền mở chuỗi ngọc bằng các châu báu. Nơi đáng dùng thân Phạm Vương để độ thoát. Bồ Tát liền hiện thân Tể Quan để nói pháp. Bồ Tát liền hiện những thân đó để nói pháp. Bồ Tát liền hiện thân Thần Chấp Kim Cang để nói pháp. Dạ Xoa. Càn Thán Bà. Tỳ kheo Ni. Quán Thế Âm Bồ Tát hay ban cho sự vô úy. Trời. Nơi đáng dùng thân Đại Tự Tại Thiên để độ thoát. Đồng Nữ để nói pháp. Nơi đáng dùng thân Tể Quan để độ thoát. Ma Hầu La Già.pháp. “Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức oai thần tự tại hiện thân khắp cõi Ta Bà như thế.

Hoặc tù cấm xiềng xích Tay chơn bị gông cùm Do sức niệm Quán Âm Tháo rã đặng thoát khỏi. rồng Do sức niệm Quán Âm Sóng mòi chẳng chìm đặng. các loài quỉ Do sức niệm Quán Âm . Giả sử sanh lòng hại Xô rớt hầm lửa lớn Do sức niệm Quán Âm Hầm lửa biến thành ao. Lời thề sâu như biển Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn Hầu nhiều nghìn Đức Phật. Hoặc ở chót Tu Di Bị người xô rớt xuống Do sức niệm Quán Âm Như mặt nhựt treo không. Phát nguyện thanh tịnh lớn Ta vì Ông lược nói Nghe tên cùng thấy thân Tâm niệm chẳng luống qua Hay diệt khổ các nơi.« Nầy ông Vô Tận Ý Ông nghe hạnh Quán Âm Hiện thân khắp các nơi. cá. Nguyền rủa. (1 tiếng chuông) Hoặc gặp oán tặc vây Đều cầm dao làm hại Do sức niệm Quán Âm Đều liền sanh lòng lành. (1 tiếng chuông) Hoặc gặp La Sát dữ Rồng độc. Hoặc bị người dũ rượt Rớt xuống núi Kim Cang Do sức niệm Quán Âm Chẳng tổn đến mảy lông. các thuốc độc Muốn hại đến kẻ khác Do sức niệm Quán Âm Trở lại nơi người hại. Hoặc bị khổ nạn vua Khi hành hình sắp chết Do sức niệm Quán Âm Dao liền gẫy từng đoạn. Hoặc trôi dạt biển lớn Các nạn quỉ.

khói lửa đốt Do sức niệm Quán Âm Nghe tiếng tự bỏ đi. chết khổ Lần lần đều dứt hết. Chơn quán. xối mưa lớn Do sức niệm Quán Âm Liền được tiêu tan cả. (1 tiếng chuông) Cãi kiện qua chỗ quan Trong quân trận sợ sệt Do sức niệm Quán Âm Cừu oán đều lui tan. Quán Thế Âm Phạm Âm. quỉ. Mây sấm nổ sét đánh Tuôn giá. Hải Triều Âm Tiếng hơn thế gian kia Cho nên thường phải niệm Niệm niệm chớ sanh nghi . Diệu Âm. Lòng bi răn như sấm Ý từ diệu dường mây Xối mưa Pháp Cam Lộ Dứt trừ lửa phiền não. (1 tiếng chuông) Đầy đủ sức thần thông Rộng tu trí phương tiện Các cõi nước mười phương Không cõi nào chẳng hiện Các loài trong đường dữ Địa ngục. thanh tịnh quán Trí huệ quán rộng lớn Bi quán và từ quán Thường nguyện thường chiêm ngưỡng Sánh thanh tịnh không nhơ Huệ nhật phá các tối Hay phục tai khói lửa Khắp soi sáng thế gian. Chúng sanh bị khổ ách Vô lượng khổ bức thân Quán Âm sức trí diệu Hay cứu khổ thế gian. già. súc sanh Sanh. bịnh. Rắn độc cùng bò cạp Hơi độc. Hoặc thú dữ vây quanh Nanh vút nhọn đáng sợ Do sức niệm Quán Âm Vội vàng bỏ chạy thẳng.Liền đều không dám hại.

vị. không dơ. được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. không thêm. qua hết thảy khổ ách. Thức cũng đều như thế. là Vô Đẳng Đẳng Chú. nên trong ”chân không”. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú. thức. Hành. xúc. không có mắt. 1 tiếng chuông) LỤC TỰ ĐẠI MINH CHƠN NGÔN Án. nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. không có khổ. Vì không có chỗ chứng đắc. (1 tiếng chuông) Bấy giờ. thinh. mũi. (3 lần.” ”Này Ông Xá Lợi Phất. không có vô minh. pháp. lưỡi. ta bà ha.” (1 tiếng chuông) Khi Phật nói phẩm Phổ Môn nầy. đa rị đa rị. tưởng. Ngài soi thấy năm uẩn đều không. Vì không ngăn ngại. cũng không có cái hết vô minh. liền từ chỗ ngồi đứng dậy. ba la yết đế. ý. tập. yết đế. không chẳng khác sắc. 1 tiếng chuông) NGỢI KHEN ĐỨC QUÁN ÂM Phổ Môn thị hiện Cứu khổ nhân sinh Thuyền từ lướt sóng Bốn biển điêu linh Trùng dương vọng tiếng hồn kinh Quán Âm ứng hiện. không có trí huệ. ba la tăng yết đế. cho đến không có già chết. là Vô Thượng Chú. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa.” Vì vậy. là Đại Minh Chú. PHẬT NÓI KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA PHẨM PHỔ MÔN CHƠN NGÔN VIẾT Án. Nam mô Thánh Quan Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát. phải biết công đức của người đó chẳng ít. không có thọ. bồ đề tát bà ha. dạo. đốt đốt đa rị. nên không sợ hãi. chân thật không hư. Tưởng. đốt đa rị. thân. mộng tưởng. ma ni bát minh hồng. tâm không ngăn ngại. cũng không có cái hết già chết. Đủ tất cả công đức Mắt lành trông chúng sanh Biển phước lớn không lường Chúng ta nên đảnh lễ. đến trước Phật và bạch rằng: “Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nào nghe đạo nghiệp và sự thị hiện thần thông tự tại của Quán Thế Âm Bồ Tát nầy. liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: ”Yết đế.” (1 tiếng chuông) NGUYỆN AN LÀNH . sắc chẳng khác không. hành. diệt. đạt tới cứu cánh Niết Bàn. không diệt. xa hẳn điên đảo. hương. trong hội có tám muôn bốn ngàn chúng sanh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. xin mở trang số 514). không có sắc. không tức là sắc. không sạch. (3 lần. cho đến không có ý thức giới.Quán Âm bực Tịnh Thánh Nơi khổ não nạn chết Ngài là nơi nương cậy. ”Này Ông Xá Lợi Phất. cũng không có chứng đắc. 1 tiếng chuông) (Muốn tụng thêm 12 đại nguyện của Đức Quán Thế Âm. KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa. Ngài Trì Địa Bồ Tát. trừ được hết thảy khổ. (7 lần. tai. sắc tức là không. không có sắc. không bớt. không có nhãn giới. ”tướng không của mọi pháp” không sanh. chúng sinh thoát nàn. Thọ.

ngày đêm sáu thời luôn an lành. tất cả thời gian luôn an lành. (1 tiếng chuông) Mau mau niệm Phật Quán Âm Tai qua nạn khỏi định tâm sáng lòa Đương cơn lửa cháy đốt ta Niệm danh Bồ Tát hóa ra sen vàng. Thọ trường hưởng phước nhàn ca Phổ Môn kinh tụng trong nhà thảnh thơi Quán Âm phò hộ vuil chơi Mười hai câu niệm độ đời nên danh. ngày đêm sáu thời luôn an lành. Nương theo Bồ Tát trở về Thấy mình ngồi gốc Bồ Đề giống in Tay cầm bầu nước tịnh bình Tay cầm nhành liễu quang minh thân vàng Cam lồ rưới khắp thế gian Tốt tươi mát mẻ mười phương thanh nhàn . Tà ma quỉ báo khùng điên Niệm danh Bồ Tát mạnh liền khôn ngoan. ngưỡng mong Bổn sư ban an lành. ngày đêm sáu thời luôn an lành. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (mỗi câu 3 lần. ngưỡng mong Bổn sư ban an lành.Nguyện ngày an lành đêm an lành. Bị trù bị ếm mê man Quán Âm niệm niệm vái van tịnh bình Quán Âm thọ ký làm tin Tùy duyên thuyết Pháp độ mình hết mê. Vào rừng cọp rắn nghinh ngang Niệm danh Bồ Tát nó càng chạy xa. 1 tiếng chuông) Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ Tát. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (1 tiếng chuông) Nguyện ngày an lành đêm an lành. SÁM CẦU AN Con quỳ lạy Phật chứng minh Hai hàng Phật tử tụng kinh cầu nguyền Cầu cho tín chủ hiện tiền Nội gia quyến thuộc bình yên điều hòa. Gió đông đi biển chìm thuyền Niệm danh Bồ Tát sóng tan hết liền. (1 tiếng chuông) Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Nam Mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. Thiện nam tín nữ lòng thành Ăn chay niệm Phật làm lành vái van Quán Âm xem xét thế gian Rước người chìm nổi mười phương tiêu trầm. ngưỡng mong Bổn sư ban an lành. (1 tiếng chuông) Nguyện ngày an lành đêm an lành. tất cả thời gian luôn an lành. Tội tù ngục tối khảo tra Quán Âm tưởng niệm thả ra nhẹ nhàng. tất cả thời gian luôn an lành.

lạy 1 lạy) NGHI THỨC CẦU SIÊU hay TỊNH ĐỘ [Kinh A Di Đà (Amitàyus Sùtra)] GỒM CÓ: • Chú Tịnh Pháp Giới. tật bệnh bình an. trọn thành Phật quả. đứng dậy) TAM QUY Con nương theo Phật. và Tịnh Tam Nghiệp • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật • Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ . (1 tiếng chuông) HỒI HƯỚNG Cầu an công đức. trì tụng Kinh Chú xưng tán Hồng Danh. hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sinh trong pháp giới Hướng về Phật pháp tỏ Đạo Mầu. đệ tử chúng con. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. nghiệp chướng tiêu tan. cầu nguyện cho Phật tử (tên họ… pháp danh… tại…). đương đời phiền não dứt sạch. Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả. pháp giới chúng sinh. (1 tiếng chuông. một dạ chí thành. (1 tiếng chuông. chỉ chủ lễ phục nguyện) PHỤC NGUYỆN Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát. cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp. Tam Bảo chứng minh.Quán Âm cứu hết tai nàn Độ đời an lạc mười phương thái bình Quán Âm điểm đạo độ mình Quán Âm Bồ Tát chứng minh độ đời. gia đình thịnh đạt. oai thần hộ niệm. phát lòng vô thượng. lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp. tất cả không ngại. đồng niệm) Nam Mô A Di Đà Phật. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông. cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng. quyến thuộc khương ninh. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng. xá 1 xá. Nguyện cho ba chướng tiêu tan Phiền não dứt sạch. (1 tiếng chuông. trí huệ như biển. huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời Hành Bồ Tát Đạo. thân tâm thường lạc. (1 tiếng chuông. hôm nay. cứu đời lầm than.

chắp tay ngang ngực. Hồi Hướng. NGHI THỨC CẦU SIÊU hay TỊNH ĐỘ (Thắp đèn đốt hương. Chú Vãng Sanh. đạt mạ ta phạ. khi cha mẹ hay thân nhân qua đời. Sám Nguyện. CÚNG HƯƠNG Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ Tâm Bồ Đề kiên cố Xa bể khổ nguồn mê Chóng quay về bờ giác. 1 tiếng chuông. Độ là cõi hay nước) có nghĩa là cõi Phật. Thời kinh nầy thường tụng vào mỗi tối. Nam Mô Hương cúng dường Bồ Tát Ma Ha Tát. Bát Nhã. (3 lần) (Quì ngay thẳng. bà phạ truật độ hám. chủ lễ mật niệm). Niệm Phật. sớm về nơi cõi Phật. CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI Án lam xoa ha. truật đà ta phạ. cầm 3 cây hương dâng ngang trán. Ở đây. chữ Tịnh Độ là một thời tụng kinh chỉ cầu nguyện sanh về cõi Tịnh Độ mà thôi. Tịnh Độ (Tịnh là trong sạch. (3 lần) CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP Án ta phạ bà phạ. và Tam Quy. xá 1 xá) CẦU NGUYỆN . đứng ngay ngắn. các phần khác được lược bớt. là người con hiếu nên đưa hương linh vào Chùa làm lễ cầu siêu. Thường thì chỉ tụng Kinh Di Đà.• Tán Hương Cúng Phật • Chú Đại Bi • Xướng và đọc sớ (nếu có) • Quy Y Linh • Pháp Ngữ Sám Hối • Kệ Khai Kinh • Kinh A D Đà • Thệ Nguyện Của Phật A Di Đà • Kinh Bát Nhã Ba La Mật • Chú Vãng Sanh • Niệm Phật • Sám Từ Vân • Hồi Hướng • Phục Nguyện • Tam Quy DÙNG ĐỂ: Cầu nguyện cho những người quá cố được siêu thoát cảnh khổ đau. Vì vậy. (3 lần. chủ lễ niệm bài cúng hương).

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. xá 1 xá) KHEN NGỢI PHẬT Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời. lạy 1 lạy) TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT Lư hương vừa ngún chiên đàn. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông. dứt sạch nghiệp chướng sâu dày. được sanh về thế giới an lành. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. đạo tràng mười phương. (3 lần. vị lai thập phương chư Phật. tâm thành kính dâng. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Án. ngưỡng cầu Tam Bảo. 1 tiếng chuông. Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. chúng con một dạ chí thành. lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đại Sư A Di Đà Phật. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. Nam mô na ra cẩn trì. tại: …. bồ đề tát đỏa bà da. số đát na đát tỏa. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. Nam mô a rị da. (3 lần. phát tâm Bồ Đề rộng lớn. (1 tiếng chuông. Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. hiện. Khắp xông pháp giới. Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. Đại Thế Chí Bồ Tát. Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. 1 tiếng chuông) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. Chứng minh hương nguyện. ma ha tát đỏa bà da. Từ Bi gia hộ cho hương linh. Nam Mô Tiếp Dẫn hương linh A Di Đà Phật tác đại chứng minh. đại chúng đồng tụng) - ĐẢNH LỄ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá. người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật. Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát.Nay có Phật tử tên là: …. Quyện thành mây báu kiết tường. Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thành. thệ thế ngày: …. (1 tiếng chuông. tát bàn ra phạt duệ. hê rị ma ha bàn . (3 lần. bà lô kiết đế thước bát ra da. ma ha ca lô ni ca da. Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát (Ma Ha Tát). lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Pháp thân ảnh hiện rành rành. 1 tiếng chuông) CHÚ ĐẠI BI Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát.

thất bàn ra dạ. ta bà ha. thước bàn ra dạ. ma ra ma ra. xá 1 xá) QUY Y LINH Hương linh quy y Phật. Tất đà du nghệ. thất Phật ra da. Hương linh đã quy y Pháp. Ma bà lị thắng kiết ra dạ. ta bà ha. Ma ha tất đà dạ.đa sa mế. Bậc tu hành cao tột. ta ra ta ra. ta bà ha. ta bà ha. ma hê ma hê rị đà dựng. nguyện đời đời kiếp kiếp. dâng sớ. mục đế lệ. Na ra cẩn trì. dá ra dá ra. di đế rị dạ. ma ha phạt xà da đế. Hương linh quy y Pháp. nếu không bớt phần nầy) XƯỚNG SỚ Như Lai tướng tốt Không thể nghĩ bàn Con nay. ta bà ha. cầu an. không quy y thiên. na ra cẩn trì. bồ đà dạ bồ đà dạ. lô ca đế. di hê rị. Ba đà ma kiết tất đà dạ. ba dạ ma na. thất na thất na. Hương linh quy y Tăng. mạn đa ra. y hê di hê. Ma ra na ra. ta bà ha. đát điệt tha. vật. tát bà tát bà. Ta bà ma ha a tất đà dạ. bạt đà dạ. ta bà ha. tất rị tất rị. Hương linh quy y Pháp. a ra sâm Phật ra sá lợi. bà lô kiết đế. ta bà ha. Án tất điện đô. (1 tiếng chuông) (Nếu có sớ. ta bà ha. tô rô tô rô. địa rị sắc ni na. ta bà ha. Hương linh quy y Phật. a thệ dựng. bồ đề dạ bồ đề dạ. Hương linh quy y Tăng. (cúng dàng. . Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Hương linh đã quy y Tăng. phạt sa phạt sâm. Hương linh quy y Tăng. ta bà ha. ta bà ha. Tất đà dạ. (1 tiếng chuông. ma ha bồ đề tát đỏa. cu lô cu lô kiết mông. (1 tiếng chuông) Hương linh vốn tạo các nghiệp ác. Đấng phước trí vẹn toàn. Đạo thoát ly tham dục. độ lô độ lô phạt xà da đế. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. quỉ. hô lô hô lô ma ra. Án a bà lô hê.. không quy y tổn hữu ác đảng. na ma bà tát đa. (1 tiếng chuông) Hương linh quy y Phật. tát bà tát đa. tát bà a tha đậu thâu bằng. na ma bà dà. ma phạt đạt đậu. Tất ra tăng a mục khê da. Mạ mạ phạt ma ra. cầu siêu…) Cúi xin Phật Tổ. Phật ra xá da. chủ lễ xướng rồi đọc. ta bà ha. không quy y ngoại đạo tà giáo. đà ra đà ra. ca ra đế.. hô lô hô lô hê rị. lâm đàn chứng minh. Nam mô a rị da. thần. Hương linh quy y Pháp. địa rị ni. Hương linh đã quy y Phật. nguyện đời đời kiếp kiếp. nguyện đời đời kiếp kiếp.

chỉ chủ lễ nguyện) . sân.Vãng sanh Cực Lạc Quốc. chỉ chủ lễ nguyện) . (1 tiếng chuông. Từ thân. tay mặt bắc ấn. Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. ý phát sanh ra. tiếp độ hương linh. Tội vong. 1 tiếng chuông) (Làm phép sái tịnh cho tang chủ. tội thời diệt vong. Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu. miệng. Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. đại chúng đồng hòa) .Vãng sanh Cực Lạc Quốc. Chơn tâm sám hối. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. Thường Trú Tam Bảo. si. Vị Lai. đại chúng đồng tụng) Hương linh vốn tạo các nghiệp ác. tội đồng tiêu tan. si. Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. Từ thân. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.Nguyện: Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. KỆ KHAI KINH Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu. (3 lần. hương linh đều sám hối. (1 tiếng chuông. Tất cả. (1 tiếng chuông. hương linh đều sám hối. tay trái bưng bát nước Cam Lồ. (1 tiếng chuông. miệng. miệng. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông. hương linh đều sám hối. (3 lần. si. đại chúng đồng tụng) Hương linh vốn tạo các nghiệp ác. đại chúng đồng hòa) . Hiền Thánh Tăng. (3 lần. (1 tiếng chuông. Tất cả. 1 tiếng chuông) . tiếp độ hương linh.Đều bởi vô thỉ tham. Đại Thế Chí Bồ Tát. (1 tiếng chuông. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. sân. ý phát sinh ra. Tôn Pháp. Từ thân. Thập Phương Chư Phật. (Chủ lễ.Tội tiêu diệt. Tất cả. Đều bởi vô thỉ tham. Hiện.Nguyện: Nam Mô Tận Hư Không Biến Pháp Giới Quá. tâm diệt đều không. Đều bởi vô sỉ tham. Nam Mô cầu sám hối Bồ Tát Ma Ha Tát. đại chúng đồng hòa) . chỉ chủ lễ xướng) . Con nay nghe thấy chuyên trì niệm. 1 tiếng chuông) Nam Mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát. (1 tiếng chuông. sân.Nguyện: Nam Mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát.Nguyện hương linh từ vô thỉ đến ngày nay. ý phát sinh ra. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. đại chúng đồng hòa) .Vãng sanh Cực Lạc Quốc. tiếp độ hương linh. và xướng) PHÁP NGỮ SÁM HỐI Hương linh hãy lắng nghe: Tội do tâm tạo bao đời. Đem tâm sám hối. chỉ chủ lễ nguyện) .

Cấp Cô Độc nước Xá Vệ. thảy đều niệm Phật. niệm Tăng! Xá Lợi Phất! Ông chớ cho rằng những giống chim đó do tội báo sanh ra. Chúng sanh trong cõi đó. xa cừ. bảy từng hàng cây. Xá Lợi. Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc trọn nên công đức trang nghiêm dường ấy. làm vang ra tiếng vi diệu. có hoa sen lớn như bánh xe. Ngũ Lực. mầu nhiệm thơm tho trong sạch. Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lơn. soi sáng các nước trong mười phương không bị chướng ngại. niệm Tăng. Ca Lưu Đà Di. hiện nay đương nói pháp. gió nhẹ lung lay các hàng cây báu. Thường Tinh Tấn Bồ Tát. sắc vàng thời ánh sáng vàng. Trong thế giới đó. thường trỗi nhạc trời. Xá Lợi Phất! Trong cõi nước của Đức Phật đó. ngày đêm sáu thời rưới hoa Trời Mạn Đà La. niệm Pháp. mã não. (1 tiếng chuông) Bấy giờ. Xá Lợi Phất! Đức Phật đó và nhân dân của Ngài sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp. Ca Diếp. đất bằng vàng ròng. không có tên ba đường dữ huống gì lại có sự thật. Ca Chiên Diên. Thất Bồ Đề Phần. chỉ hưởng những điều vui. Đức Phật ở vườn Kỳ Thọ. Vàng bạc. đều là bậc Đại A La Hán. vì thế nên hiệu là A Di Đà. Ly Bà Đa. vì thế nên nước đó tên là Cực Lạc. niệm Pháp. như là: Trưởng lão Xá Lợi Phất. Ma Ha Kiếp Tân Na. (1 tiếng chuông) Lại nữa. Đức Phật bảo ngài trưởng lão Xá Lợi Phất: “Từ đây qua phương tây quá mười muôn ức cõi Phật. bạc lưu ly. . trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng vàng. Khổng Tước. pha lê hiệp thành những thềm đường ở bốn bên ao.” Xá Lợi Phất! Cõi đó vì sao tên là Cực Lạc? Vì chúng sanh trong cõi đó không có bị những sự khổ. đáy ao thuần dùng cát vàng trải làm đất. với vô lượng chư thiên như ông Thích Đề Hoàn Nhơn vân vân. Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc trọn nên công đức trang nghiêm dường ấy. Bạc Câu La. Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc. A Nan Đà. toàn thể đều đến dự hội. ăn cơm xong. lưu ly. Châu Lợi Bàn Đà Già. Mục Kiền Liên. Tiếng chim đó diễn nói Pháp mầu như Ngũ Căn. đều sanh lòng niệm Phật. và hàng Đại Bồ Tát: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. đi kinh hành.PHẬT NÓI KINH A DI ĐÀ Ta nghe như vầy: Một thuở nọ. Ca Lăng Tần Già. Càn Đà Ha Đề Bồ Tát. các vị Đại Bồ Tát như thế. nên nước đó tên là Cực Lạc. cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị Đại Tỳ Kheo. Cọng Mạng. như trăm nghìn thức nhạc đồng hòa một lúc. Chúng sanh trong cõi đó. Anh Võ. vân vân. A Dật Đa Bồ Tát. Những giống chim đó do Đức Phật A Di Đà muốn cho tiếng Pháp được tuyên lưu mà biến hóa ra. Ma Ha Câu Hy La. và mành lưới báu. có ao bằng bảy chất báu. những giống chim đó. Xá Lợi Phất! Lại trong cõi nước của Đức Phật đó. đến giờ ăn. bảy từng mành lưới. pha lê. La Hầu La. Nan Đà. thường mang hoa tốt cúng dường mười muôn ức Đức Phật ở phương khác. ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã. nghe tiếng chim xong. trong ao đầy đủ Nước Tám Công Đức. A Nâu Lâu Đà. Người nghe tiếng đó. Xá Lợi Phất! Cõi đó thường có những giống chim màu sắc xinh đẹp lạ thường. Kiều Phạm Ba Đề. sắc trắng thời ánh sáng trắng. sáng sớm. Vì sao? Vì cõi của Đức Phật đó không có ba đường dữ. nào chim Bạch Hạc. sắc đỏ thời ánh sáng đỏ. đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng. nên hiệu là A Di Đà. Xá Lợi Phất! Cõi Đức Phật A Di Đà trọn nên công đức trang nghiêm dường ấy! (1 tiếng chuông) Xá Lợi Phất! Ý Ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di Đà? Xá Lợi Phất! Đức Phật đó. Trong ao. có Đức Phật hiệu là A Di Đà. có thế giới tên là Cực Lạc. Bát Thánh Đạo Phần. xích châu. Tân Đầu Lư Phả La Đọa. hào quang sáng chói vô lượng. liền trở về bổn quốc. hoa sắc xanh thời ánh sáng xanh. những vị đại đệ tử như thế.

Chư Phật thường hộ niệm. có Diệm Kiên Phật. Xá Lợi Phất! Nếu có chúng sanh nào. Bửu Hoa Đức Phật. Đức Phật A Di Đà cùng hàng thánh chúng hiện thân trước người đó. Pháp Tràng Phật. Danh Quang Phật. hằng hà sa số Đức Phật như thế. Ta La Thọ Vương Phật. chẳng phải tính đếm mà biết được. hoặc sáu ngày. Chư Phật thường hộ niệm. đều ở tại nước mình. Xá Lợi Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sanh về cõi đó. Tịnh Quang Phật. Nhựt Sanh Phật. hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên kính tín và khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn của Kinh nầy. hoặc ba ngày. Diệu Âm Phật. Danh Văn Phật. có Sư Tử Phật. hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên. Tu Di Tướng Phật. Tu Di Quang Phật. Đại Quang Phật. Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam. hoặc bảy ngày. Nan Trở Phật. nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên kính tín và khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn của Kinh nầy. Đại Tu Di Phật. Chư Phật thường hộ niệm. Đại Diệm Kiên Phật. Tạp Sắc Bửu Hoa Nghiêm Thân Phật. có Phạm Âm Phật. tâm thần không điên đảo. Xá Lợi Phất! Lại Đức Phật đó có vô lượng vô biên Thinh Văn đệ tử đều là bậc A La Hán. hằng hà sa số Đức Phật như thế.” (1 tiếng chuông) Xá Lợi Phất! Thế giới Phương Tây. nghe những lời lợi ích trên đây nên phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc. Vô Lượng Tinh Tấn Phật. đã được mười kiếp. nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên kính tín và khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn của kinh nầy. Võng Minh Phật. Đại Minh Phật. Tối Thắng Âm Phật. Tú Vương Phật. hằng hà sa số Đức Phật như thế đều ở tại nước mình. tín nữ nghe nói Đức Phật A Di Đà. hoặc một ngày. hoặc năm ngày. nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên kính tín và khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn của Kinh nầy. có Vô Lượng Thọ Phật. Chư Phật thường hộ niệm. hoặc bốn ngày. hằng hà sa số Đức Phật như thế. cũng có A Súc Bệ Phật. Xá Lợi Phất! Cõi nước của Đức Phật đó trọn nên công đức trang nghiêm dường ấy! (1 tiếng chuông) Xá Lợi Phất! Những chúng sanh trong cõi Cực Lạc đều là bực bất thối chuyển. chỉ có thể dùng số vô lượng vô biên a tăng kỳ để nói thôi! Xá Lợi Phất! Chúng sanh nào nghe những điều trên đây.Xá Lợi Phất! Đức Phật A Di Đà từ ngày thành Phật đến nay. một lòng không tạp loạn. trì niệm danh hiệu của Đức Phật đó. Vì sao? Vì được câu hội một chỗ với các bực thượng thiện nhơn. hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên. chẳng phải tính đếm mà biết được. Hương Thượng Phật. có rất nhiều vị nhứt sanh bổ xứ. . đều ở tại nước mình. Trong đó. Danh Văn Quang Phật. người đó liền được vãng sanh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên. Phương Đông.” (1 tiếng chuông) Xá Lợi Phất! Thế giới Phương Bắc. đều ở tại nước mình. hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên kính tín và khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn của Kinh nầy. Trì Pháp Phật. Lúc chết.” (1 tiếng chuông) Xá Lợi Phất! Thế giới Phương Dưới. số đó rất đông. nên phát nguyện sanh về nước đó.” (1 tiếng chuông) Xá Lợi Phất! Thế giới Phương Nam. đến lúc lâm chung.” (1 tiếng chuông) Xá Lợi Phất! Thế giới Phương Trên. hoặc hai ngày. Xá Lợi Phất! Như ta hôm nay ngợi khen công đức lợi ích không thể nghĩ bàn của Đức Phật A Di Đà. hằng hà sa số Đức Phật như thế. Tu Di Đăng Phật. Chư Phật thường hộ niệm. Vô Lượng Tướng Phật. Bửu Tướng Phật. đều ở tại nước mình. có Nhựt Nguyệt Đăng Phật. hàng Bồ Tát cũng đông như thế. Vô Lượng Tràng Phật. Đạt Ma Phật.

tín nữ nào có lòng tin. thân. tâm không ngăn ngại. Xá Lợi Phất! Phải biết rằng – trong đời ác năm trược. Vì không ngăn ngại. đảnh lễ và lui ra. (1 tiếng chuông) NGỢI KHEN CÔNG ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ Giáo chủ cõi Tây Phương Đức Phật A di Đà Phát bốn mươi tám nguyện Hướng dẫn đường chúng sanh. cũng không có cái hết già chết. Thế Chí. sắc chẳng khác không. Xá Lợi Phất! Thiện nam. phiền não trược. tập. không có sắc. kiến trược. và chư Phật cũng ngợi khen công đức không thể nghĩ bàn của Ta. thực hành việc khó nầy. không có mắt. cho đến không có già chết. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. không có vô minh. ý. và sẽ phát nguyện sanh về cõi của Đức Phật A Di Đà. không có thọ. Ngài chứng được ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. đang phát nguyện. dạo. Đài sen rực rỡ sẵn sàng Quán Âm. thời người ấy được chư Phật ủng hộ và được giác ngộ giải thoát. hương. hành. không dơ. được đạo quả vô thượng . diệt. Ngài nói Pháp nầy. ”Này Ông Xá Lợi Phất. vì sao chư Phật thường khen ngợi Kinh nầy? Xá Lợi Phất! Nếu có người nào nghe Kinh nầy mà thọ trì và nghe danh hiệu của các Đức Phật. nên không sợ hãi. rất ít có ngay trong cõi Ta Bà đầy năm ác trược: kiếp trược. tất cả trong đời. đều ở tại nước mình. ngợi khen công đức không thể nghĩ bàn của chư Phật. sắc tức là không.” (1 tiếng chuông) Xá Lợi Phất! Ý của ông nghĩ thế nào. mộng tưởng. không tức là sắc.” ”Này Ông Xá Lợi Phất. Ta nói Pháp khó tin nầy. ”tướng không của mọi pháp” không sanh. xúc. Ngài soi thấy năm uẩn đều không. Thọ. không bớt. vị.Kiến Nhứt Thiết Nghĩa Phật. Trời. nên phát nguyện sanh về cõi kia. không có sắc. đạt tới cứu cánh Niết Bàn. nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên Kính tín và khen ngợi công đức không thể nghĩ bàn của Kinh nầy Chư Phật thường hộ niệm. không có trí huệ. thời những người ấy đều đặng không thối chuyển nơi Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì không có chỗ chứng đắc. Đức Phật nói kinh nầy xong. Thức cũng đều như thế. hai hàng tiếp nghinh. không có nhãn giới. cũng không có cái hết vô minh. Hành. Như Tu Di Sơn Phật. A Tu La vân vân. mũi. nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. tất cả thế gian đều khó tin. xin mở trang số 519) KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa. Ngài Xá Lợi Phất cùng các vị Tỳ Kheo. hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên. Người. thức. Vì các chúng sanh. xa hẳn điên đảo. Xá Lợi Phất! Nếu có người đã phát nguyện. hằng hà sa số Đức Phật như thế. thinh. nghe lời của Đức Phật dạy. qua hết thảy khổ ách. cho đến không có ý thức giới. không thêm. Nam Mô Tịnh Độ Phẩm Bồ Tát Ma Ha Tát. chúng sanh trược. không diệt. tai. Xá Lợi Phất! Như Ta hôm nay. Tưởng. như: “Đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm được việc rất khó khăn. Thật khó thay! Vì tất cả thế gian. cũng không có chứng đắc. không chẳng khác sắc. mạng trược. nên trong ”chân không”. đều vui mừng tin nhận. không sạch. không có khổ. tưởng. Ta thành bậc Vô Thượng Chánh Giác. lưỡi. Xá Lợi Phất! Cho nên các ông đều phải tin nhận lời của ta và của các Đức Phật nói. pháp. (3 lần. tiếng chuông) (48 lời nguyện của Ngài.

Tu Di uyển chuyển. Cha lành vốn thiệt Di Đà Soi hào quang tịnh chói lòa thân con Thẳm sâu ơn Phật hằng còn Con nay chánh niệm lòng son một bề Nguyện làm nên Đạo Bồ Đề Chuyên lòng niệm Phật cầu về Tây Phương. SÁM TỪ VÂN Một lòng mỏi mệt không nài Cầu về Cực Lạc ngồi đài Liên Hoa. là Vô Đẳng Đẳng Chú. Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. yết đế. (mỗi câu 3 lần. đa tha dà đa dạ. (1 tiếng chuông) Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.” (1 tiếng chuông) CHÚ VÃNG SANH Nam mô a di đa bà dạ.chánh đẳng chánh giác. Vô số Bồ Tát hiện ở trong. Mày trắng tỏa. chỉ đa ca lệ ta bà ha. Nam Mô A Di Đà Phật. a di rị đa tì ca lan đa. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú. là Đại Minh Chú. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Tướng tốt rực rỡ. ba la tăng yết đế. 1 tiếng chuông) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. đa địa dạ tha. a di rị đa tất đam bà tì. chân thật không hư. là Vô Thượng Chú. liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: ”Yết đế. ba la yết đế. 1 tiếng chuông) NIỆM PHẬT A Di Đà Phật thân sắc vàng. Chín phẩm sen vàng lên giải thoát. (1 tiếng chuông) Phật xưa lời thệ tỏ tường Bốn mươi tám nguyện dẫn đường chúng sanh Nguyện rằng: ai phát lòng lành . a di rị đa tì ca lan đế. Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. trừ được hết thảy khổ. bốn biển long lanh. Ở phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh.” Vì vậy. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. dà di nị dà dà na. Mắt trong ngần. (3 lần. Qui mạng lễ A Di Đà Phật. hào quang sáng ngời. a di rị đô bà tì. bồ đề tát bà ha. Ánh hào quang hóa vô số Phật. Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh.

Nguyện sanh Tây Phương. Tội mòn như đá mài dao Phước lành thêm lớn càng cao càng dày Cầu cho con thoát biết ngày Biến giờ biết khắc biết rày tánh linh Cầu cho bịnh khổ khỏi mình Lòng không tríu mến chuyện tình thế gian Cầu cho thần thức nhẹ nhàng Y như Thiền Định họ Bàn thuở xưa. Cầu về Tịnh Độ một nhà Hoa sen chín phẩm là cha mẹ mình Hoa nở rồi biết tánh linh Các vị Bồ Tát bạn lành với ta. Bởi vì tin tưởng Như Lai Có duyên tưởng Phật sống dai vô cùng Lời thệ biển rộng mênh mông Nhờ nương Đức Phật thoát vòng trần lao. sen vàng chín phẩm sanh Hoa nở. thấy Phật. (1 tiếng chuông) HỒI HƯỚNG Cầu siêu công đức. Đài vàng tay Phật bưng chờ Các vị Bồ Tát bây giờ đứng trông Rước tôi thật đã rất đông Nội trong giây phút thảy đồng về Tây. hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sanh trong pháp giới Hướng về Phật Pháp tỏ đạo mầu. quả viên thành Các vị Bồ Tát bạn lành với ta. cõi Lạc Bang Cha mẹ. Nguyện đem công đức lành Đệ tủ hướng tâm thành . Xem trong cõi Phật tốt thay Hoa sen đua nở tánh nay sạch trần Hồi nầy thấy Phật chân thân Đặng nghe Pháp nhiệm tâm thần sáng trưng Quyết tu độ hết phàm dân Giữ lời thệ nguyện Phật ân rộng dài Phật thệ chắc thật không sai Người nào niệm Phật lên ngay sen vàng.Nước Ta báu vật để dành các ngươi Thiện nam tín nữ mỗi người Chí thành tưởng Phật niệm mười tiếng ra Ta không rước ở nước Ta Thệ không làm Phật chắc là không sai.

. Nguyện hương linh: . lạy 1 lạy) NGHI THỨC SÁM HỐI (Ksamà Uposatha Vidhi) GỒM CÓ: • Chú Tịnh Pháp Giới. cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng. (1 tiếng chuông. TAM QUY Con nương theo Phật. Thuyền Bát Nhã thênh thang. lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp. và Tịnh Tam Nghiệp • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật • Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ • Tán Dương Chi • Chú Đại Bi • Kệ Khai Kinh • Kinh Hồng Danh • Kinh Bát Nhã Ba La Mật • Niệm Phật • Sám Hối Phát Nguyện • Chú Thất Phật Diệt Tội • Hồi Hướng • Phục Nguyện • Tam Quy • Pháp Ngữ Sám Hối DÙNG ĐỂ: Dứt hết các tội lỗi đã gây ra. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng. đồng thành Phật quả. đồng niệm) Nam Mô A Di Đà Phật. ba cõi sông mê lặn hụp. NGHI THỨC SÁM HỐI . sáu đường dốc ngược đèo ngang. (1 tiếng chuông. hương linh không đủ phước vãng sanh. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông. sen vàng chín phẩm nở hoa. nay được an lành. pháp thân hiện Di Đà thọ ký. vượt qua bể khổ. thảm nỗi oan khiên lắm lúc. và ngăn ngừa các điều xấu có thể xảy ra trong tương lai.. phát lòng vô thượng. thoát khỏi Ta Bà. tất cả không ngại. trí huệ như biển. chỉ chủ lễ phục nguyện) PHỤC NGUYỆN Xe Tam Thừa lộng lẫy. (1 tiếng chuông. pháp giới chúng sanh.Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. nghe kinh kệ siêu thăng Tịnh Độ. Âm siêu dương thới. cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp.

chứng minh cho chúng con. đạt mạ ta phạ. báng Phật. (1 tiếng chuông. đứng ngay ngắn. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần) CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP Án ta phạ bà phạ. vị lai thập phương chư Phật. xá 1 xá) KHEN NGỢI PHẬT Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời. bà phạ truật độ hám. truật đà ta phạ. gây nhiều tội ác. căn lành thêm lớn. CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI Án lam xoa ha. chủ lễ niệm bài cúng hương). nhủ lòng lân mẫn. (1 tiếng chuông.Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá. tâm tánh hôn mê. cùng pháp giới chúng sanh. ngưỡng mong oai đức Từ Bi. Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. chẳng kể chánh tà. người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật. tội chướng tiêu trừ. hiện. cầm 3 cây hương dâng ngang trán. chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. hôm nay một dạ chí thành. Pháp. Tăng. nguyện xin sám hối. Đức Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật. chủ lễ mật niệm).(Thắp đèn đốt hương. (1 tiếng chuông. (3 lần) (Quì ngay thẳng. 1 tiếng chuông. Chúng con lâu đời lâu kiếp. gia hộ cho chúng con. xá 1 xá) CẦU NGUYỆN Đệ tử chúng con nguyện ngôi Tam Bảo thường trú trong mười phương. (3 lần. chắp tay ngang ngực. trang nghiêm phước huệ. lạy 1 lạy) . tu Đạo Bồ Đề. Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ Tâm Bồ Đề kiên cố Xa bể khổ nguồn mê Chóng quay về bờ giác. đại chúng đồng tụng) ĐẢNH LỄ . tổn người hại vật.

đà ra đà ra. (1 tiếng chuông. Ta bà ma ha a tất đà dạ. xá 1 xá) - . Ba đà ma kiết tất đà dạ. Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu. Ma ra na ra. dá ra dá ra. (3 lần. 1 tiếng chuông) CHÚ ĐẠI BI Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. tâm thanh tịnh Nhân thế vui tươi. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. na ra cẩn trì. Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. 1 tiếng chuông) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. ta bà ha. Án. Đại Thế Chí Bồ Tát. địa rị ni. di đế rị dạ. 1 tiếng chuông) KINH HỒNG DANH Nam Mô Hồng Danh Hội Thượng Phật Bồ Tát. tát bà tát bà. Tất đà dạ. ta ra ta ra. Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. lô ca đế. ta bà ha. bà lô kiết đế. lạy 1 lạy) TÁN DƯƠNG CHI Cành dương nước tịnh nhiệm mầu Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau Chư Thiên mát mẻ. bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. bồ đà dạ bồ đà dạ. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Ma bà lị thắng kiết ra dạ. (3 lần. di hê rị. Nam mô na ra cẩn trì. ma ha phạt xà da đế. Nam mô a rị da. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. 1 tiếng chuông) Đại Từ Đại Bi thương chúng sanh Đại Hỉ Đại Xả cứu muôn loài Thân vàng tướng tốt sáng ngời Chúng con đảnh lễ Phật thời chứng minh. Mạ mạ phạt ma ra. a thệ dựng. Án tất điện đô. ta bà ha. y hê di hê. ma ha ca lô ni ca da. ta bà ha. Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. thất Phật ra da. ma hê ma hê rị đà dựng. phạt sa phạt sâm. ma ha tát đỏa bà da. hô lô hô lô ma ra. bạt đà dạ. mạn đa ra. Tất ra tăng a mục khê da. a ra sâm Phật ra sá lợi. tát bàn ra phạt duệ. thất na thất na. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần. tất rị tất rị. mục đế lệ. ta bà ha.- Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. na ma bà dà. ma ra ma ra. Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. ta bà ha. ta bà ha. Tất đà du nghệ. hô lô hô lô hê rị. hê rị ma ha bàn đa sa mế. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. bồ đề dạ bồ đề dạ. Nam mô a rị da. Án a bà lô hê. na ma bà tát đa. Ma ha tất đà dạ. tát bà a tha đậu thâu bằng. tát bà tát đa. ma phạt đạt đậu. Con nay nghe thấy chuyên trì niệm. thất bàn ra dạ. độ lô độ lô phạt xà da đế. Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. (1 tiếng chuông) KỆ KHAI KINH Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu. ca ra đế. Phật ra xá da. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. bồ đề tát đỏa bà da. Na ra cẩn trì. ma ha bồ đề tát đỏa. số đát na đát tỏa. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. ta bà ha. thước bàn ra dạ. ta bà ha. (1 tiếng chuông. ba dạ ma na. ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. sen vàng nở hoa. đát điệt tha. cảnh an nhàn Cam lồ rưới khắp trần gian Lửa sân dứt sạch. tô rô tô rô. cu lô cu lô kiết mông. ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. (1 tiếng chuông. ta bà ha. ta bà ha. bà lô kiết đế thước bát ra da. địa rị sắc ni na. (3 lần.

Nam Mô Thiện Tịch Nguyện Âm Diệu Tôn Trí Vương Phật. (mỗi câu. Nam Mô Hoan Hỉ Tạng Ma Ni Bửu Tích Phật. Nam Mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật. Thiện Thệ. Minh Hạnh Túc. quy y Pháp. Nam Mô Đại Cường Tinh Tấn Dõng Mãnh Phật. Nam Mô Nhựt Nguyệt Châu Quang Phật. 1 tiếng chuông. Nam Mô Huệ Cự Chiếu Phật. quy y Tăng. Con xin quy y khắp mười phương cùng tận cõi hư không tất cả Tôn Pháp. Thế Tôn. . Nam Mô Phổ Hiện Sắc Thân Quang Phật. (1 tiếng chuông) Con xin quy y khắp mười phương cùng tận cõi hư không tất cả các Đức Phật. Nam Mô Ma Ni Tràng Phật. Nam Mô Lưu Ly Trang Nghiêm Vương Phật. lạy 1 lạy) Nam Mô Phổ Quang Phật. Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhơn Sư. Nam Mô Phổ Minh Phật. Phật. Nam Mô Hiền Thiện Thủ Phật. đồng chứng ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nam Mô Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Phật.Nam mô quy y Kim Cang Thượng Sư. Nam Mô Hải Đức Quang Minh Phật. cùng một lúc. con chỉ phát lòng Bồ Đề rộng lớn nguyện cho chúng sanh trong pháp giới. Nam Mô Nhứt Thiết Thế Gian Nhạo Kiến Thượng Đại Tinh Tấn Phật. Nam Mô Đại Bi Quang Phật. Nam Mô Ma Ni Tràng Đăng Quang Phật. Nam Mô Chiên Đàn Khốt Trang Nghiêm Thắng Phật. Nam Mô Phổ Tịnh Phật. quy Phật. Nam Mô Nhựt Nguyệt Quang Phật. Nam Mô Từ Lực Vương Phật. Nam Mô Hư Không Bửu Hoa Quang Phật. Nam Mô Như Lai. Chánh Biến Tri. Nam Mô Kim Hoa Quang Phật. Nam Mô Thiện Ý Phật. Nam Mô Bất Động Trí Quang Phật. Nam Mô Tài Quang Minh Phật. Nam Mô Di Lặc Tiên Quang Phật. Nam Mô Hàng Phục Chúng MaVương Phật. Nam Mô Kim Cang Lao Cường Phổ Tán Kim Quang Phật. Nam Mô Huệ Tràng Thắng Vương Phật. Nam Mô Quảng Trang Nghiêm Vương Phật. Nam Mô Từ Tạng Phật. nhẫn đến các quả vị Bồ Tát tối cao. Nam Mô Trí Huệ Thắng Phật. Nam Mô Bửu Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương Phật. Ứng Cúng. Vô Thượng Sĩ. Con nay phát tâm chẳng vì tự cầu phước báo nơi chốn Nhơn Thiên hay quả Thinh Văn. Thế Gian Giải. Con xin quy y khắp mười phương cùng tận cõi hư không tất cả Hiền Thánh Tăng. Nam Mô Thế Tịnh Quang Phật. Nam Mô Chiên Đàn Quang Phật. Duyên Giác.

Nam Mô Sư Tủu Hẩu Tự Tại Lực Vương Phật. Nam Mô Diệu Âm Thắng Phật. Nam Mô Thường Quang Tràng Phật. Nam Mô Quang Thế Đăng Phật. Nam Mô Huệ Oai Đăng Vương Phật. Nam Mô Pháp Thắng Vương Phật. Nam Mô Tu Di Quang Phật. Nam Mô Tu Ma Na Hoa Quang Phật. Nam Mô Ưu Đàm Bát La Hoa Thù Thắng Vương Phật. Nam Mô Đại Huệ Lực Vương Phật. Nam Mô A Súc Tỳ Hoan Hỉ Quang Phật. Nam Mô Vô Lượng Âm Thanh Vương Phật. Nam Mô Tài Quang Phật. Nam Mô Kim Hải Quang Phật. Nam Mô Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Phật. Nam Mô Đại Thông Quang Phật. Nam Mô Nhứt Thiết Pháp Tràng Mãn Vương Phật. Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam Mô Kim Cang Bất Hoại Phật. Nam Mô Bửu Quang Phật. Nam Mô Long Tôn Vương Phật. Nam Mô Tinh Tấn Quân Phật. Nam Mô Tinh Tấn Hỷ Phật. Nam Mô Bửu Hỏa Phật. Nam Mô Bửu Nguyệt Quang Phật. Nam Mô Hiện Vô Ngu Phật. Nam Mô Bửu Nguyệt Phật. Nam Mô Vô Cấu Phật. Nam Mô Ly Cấu Phật. Nam Mô Dõng Thí Phật. Nam Mô Thanh Tịnh Phật. Nam Mô Ta Lưu Na Phật. Nam Mô Thủy Thiên Phật. Nam Mô Kiên Đức Phật. Nam Mô Chiên Đàn Công Đức Phật. Nam Mô Vô Lượng Cúc Quang Phật. Nam Mô Quang Đức Phật. Nam Mô Vô Ưu Đức Phật. Nam Mô Na La Diên Phật. Nam Mô Công Đức Hoa Phật. Nam Mô Liên Hoa Quang Du Hí Thần Thông Phật. Nam Mô Tài Công Đức Phật. Nam Mô Đức Niệm Phật. Nam Mô Thiện Danh Xưng Công Đức Phật. Nam Mô Hồng Diệm Đế Tràng Vương Phật. Nam Mô Thiện Du Bộ Công Đức Phật.

Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật. Nam Mô Thiện Du Bộ Phật. Nam Mô Châu Tráp Trang Nghiêm Công Đức Phật. Nam Mô Bửu Hoa Du Bộ Phật. Nam Mô Bửu Liên Hoa Thiện Trụ Ta La Thọ Vương Phật. Nam Mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật. (3 tiếng chuông, lạy 1 lạy, đồng tụng) Các Đức Phật, thường trụ trong đời, nên thương xót chúng con. Hoặc đời nầy của con, hoặc đời trước của con, con từ vô thỉ, sống chết đến nay, gây nhiều tội lỗi, hoặc tự con làm, hoặc bảo người làm, hoặc thấy người làm, con vui mừng theo. Đồ vật của chùa, đồ vật của Thầy hay của các Thầy, hoặc tự con lấy, hoặc bảo người lấy, hoặc thấy người lấy, con vui mừng theo. Năm tội vô gián, hoặc tự con làm, hoặc bảo người làm, hoặc thấy người làm, con vui mừng theo. Mười điều bất thiện, hoặc tự con phạm, hoặc bảo người phạm, hoặc thấy người phạm, con vui mừng theo. Bao nhiêu tội chướng của con gây ra, hoặc có che dấu, hoặc không che dấu, đáng đọa địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh cùng các ác thú, chốn biên địa, hạng hạ tiện, kẻ khốn cùng. Những tội chướng đáng đọa vào các nơi khổ báo như thế, nay con đều sám hối. (1 tiếng chuông) Nay, chư Phật nên chứng biết cho con. Con lại đối trước chư Phật tác bạch rằng: "Hoặc đời nầy của con, hoặc đời khác của con đã từng bố thí, hoặc giữ giới trong sạch, nhẫn thí cho chim muông một vắt cơm, hoặc đã tu hạnh thanh tịnh có bao nhiêu căn lành, thành tựu chúng sanh có bao nhiêu căn lành, tu hành Đạo Bồ Đề có bao nhiêu căn lành, cho đến đã từng phát tâm vô thượng Phật trí có bao nhiêu căn lành, tất cả căn lành đó, con đều hồi hướng về Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bao tội đều sám hối, các phước trọn vui theo, và công đức thỉnh phật, cầu nên trí vô thượng. Khứ, lai, hiện tại Phật, hơn tất cả chúng sanh, công đức không thể lường, con nay xin đảnh lễ: Trong bao nhiêu mười phương cõi nước Cả ba đời các Đức Như Lai Ba nghiệp thanh tịnh hôm nay Chúng con đảnh lễ, xin Ngài chứng minh. (1 tiếng chuông) Sức oai thần Phổ Hiền hạnh nguyện Trước Như Lai khắp hiện tự thân Mỗi thân lại hiện trần thân Thân nhân lễ khắp sát trần Thế Tôn. Trong một trần có trần số Phật. Đều thật là các bậc Thượng Nhơn Khắp cùng pháp giới xa gần Kính tin chư Phật, muôn phần vinh hoa. Biển âm thanh đều hòa trọn vận Diệu ngôn từ vô tận khắp vang Vị lai muôn kiếp trăm ngàn Ngợi khen Phật đức, phước càng thâm sâu. (1 tiếng chuông) Tràng hoa đẹp rất xinh thơm ngát Cùng hương hoa, kỹ nhạc lộng tàn Bao nhiêu đồ tốt trang hoàng Cúng dường chư Phật, con toàn kính dâng.

Y tối thắng cùng hương tối thắng Với đuốc đèn, hương phấn, hương xông Đều nhiều như Diệu Cao phong Cúng dường chư Phật, con đồng dâng lên. Tâm thắng giải mênh mông con dụng Phật ba đời thảy cũng tin kiên Con nương hạnh nguyện Phổ Hiền Cúng dường chư Phật khắp miền Lạc Bang. Các tội ác xưa con lầm lỡ Do tham sân muôn thuở gây nên Từ thân miệng ý phát ra Nay con sám hối báo đền lỗi xưa. (1 tiếng chuông) Chúng sanh khắp mười phương các cõi Hàng Nhị Thừa „Có Học Cùng Không” Như Lai Bồ Tát rất đông Có bao công đức con đồng vui theo. Trong mười phương có người chứng quả Quả ban đầu là quả Bồ Đề Con xin cung kính thỉnh về Diễn dương chánh pháp Bồ Đề cao siêu. Các Đức Phật muôn toan nhập diệt Con chí thành mãi miết ân cần Cúi xin ở mãi kiếp trần Để cho lợi lạc khắp quần sanh linh. (1 tiếng chuông) Bao nhiêu phước cúng dường bái lạy Thỉnh Phật cùng ở tại thế gian Vui mừng sám hối được an Con cầu Phật Đạo huy hoàng nơi nơi. Nguyện đem công đức có từ lâu Pháp giới vô biên, con nguyện cầu Tánh, tướng Tam Bảo nhiệm mầu Hải Ấn Tam Muội dung vào Tục, Chơn. Biển công đức không sao kể xiết Nay, con nguyền tha thiết cầu cho: Chúng sanh nghiệp chướng quá to Thảy đều dứt sạch buồn lo miên trường. Trí huệ khắp sáng soi muôi cõi Độ chúng sanh chẳng nệ mỏi mòn Dù cho thế giới không còn Nguyện con vẫn giữ sắc son đời đời. Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông) KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách.

sắc chẳng khác không. sắc tức là không. được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. hương.”Này Ông Xá Lợi Phất. tưởng. ba la tăng yết đế. tập. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú. đạt tới cứu cánh Niết Bàn. tai. Tướng tốt rực rỡ. liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: ”Yết đế. thức. không diệt. Tưởng. Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.” (1 tiếng chuông) NIỆM PHẬT A Di Đà Phật thân sắc vàng. nên không sợ hãi. không sạch. Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. Vì không ngăn ngại. Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh. mũi. hành. không dơ. không có sắc. cũng không có cái hết vô minh. không có thọ. dạo. không có sắc. thân. không thêm. Thức cũng đều như thế. cho đến không có ý thức giới. xa hẳn điên đảo. Vô số Bồ Tát hiện ở trong. bồ đề tát bà ha. Ở phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh. cũng không có cái hết già chết. là Đại Minh Chú. Chín phẩm sen vàng lên giải thoát. 1 tiếng chuông) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (1 tiếng chuông) Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. Mắt trong ngần. Qui mạng lễ A Di Đà Phật. Ánh hào quang hóa vô số Phật. nên trong ”chân không”. (mỗi câu 3 lần. pháp. Đệ tử lâu đời lâu kiếp Nghiệp chướng nặng nề Tham giận kiêu căng Si mê lầm lạc . ý. không bớt.” ”Này Ông Xá Lợi Phất. hào quang sáng ngời. xúc. tâm không ngăn ngại. không có trí huệ. mộng tưởng. ba la yết đế. diệt.” Vì vậy. cho đến không có già chết. trừ được hết thảy khổ. ”tướng không của mọi pháp” không sanh. Vì không có chỗ chứng đắc. Thọ. là Vô Thượng Chú. không chẳng khác sắc. không có mắt. không có vô minh. chân thật không hư. cũng không có chứng đắc. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. Nam Mô A Di Đà Phật. SÁM HỐI PHÁT NGUYỆN Đệ tử kính lạy Đức Phật Thích Ca Phật A Di Đà Thập phương chư Phật Vô lượng Phật Pháp Cùng Thánh Hiền Tăng. nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. lưỡi. Tu Di uyển chuyển. không có nhãn giới. không có khổ. không tức là sắc. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. bốn biển long lanh. vị. yết đế. Hành. thinh. Mày trắng tỏa. là Vô Đẳng Đẳng Chú.

(1 tiếng chuông) PHỤC NGUYỆN Đệ tử (chúng con). hiện tiền (chư) Phật tử. tỳ lê nê đế. chuyên vì cầu nguyện. chơn lăng càng đế. đồng niệm) Nam Mô A Di Đà Phật. chí thành lễ Phật Hồng Danh. Nguyện cho ba chướng tiêu tan Phiền não dứt sạch. trí tánh thường minh. phước huệ trang nghiêm. trọn thành Phật quả. sám hối công đức. cứu đời lầm than. tội diệt phước sanh. nhiều đời nhiều kiếp. thảy đều dứt hết. .. pháp giới chúng sanh. cầu ha cầu ha đế. quả viên thành Các vị Bồ Tát bạn lành với ta. ta bà ha. Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả.. nơi hóa sanh Hoa nở. huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời Hành Bồ Tát đạo. nghiệp chướng oan khiên. thấy Phật. Nguyện sanh Tây Phương. (3 lần. ni ha ra đế. đà ra ni đế. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông) CHÚ THẤT PHẬT DIỆT TỘI Ly bà ly bà đế. 1 tiếng chuông) HỒI HƯỚNG Sám hối công đức. cõi Lạc Bang Chín phẩm sen vàng.Ngày nay nhờ Phật Biết sự lỗi lầm Thành tâm sám hối. ma ha dà đế. hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sanh trong pháp giới Hướng về Phật Pháp tỏ đạo mầu. (1 tiếng chuông) Thề tránh điều dữ Nguyện làm việc lành Ngửa trông ơn Phật Từ Bi gia hộ Thân không tật bệnh Tâm không phiền não Hằng ngày an vui tu tập Pháp Phật nhiệm mầu Để mau ra khỏi luân hồi Minh tâm kiến tánh Trí huệ sáng suốt Thần thông tự tại Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng Cha mẹ anh em Thân bằng quyến thuộc Cùng tất cả chúng sanh Đồng thành Phật Đạo. căn lành thêm lớn.

Tội vong. 1 tiếng chuông) HẾT NGHI THỨC THÍ THỰC CÔ HỒN (Preta Àhàra Pùjà) GỒM CÓ: • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Án Thỉnh Cô Hồn • Mông Sơn Thí Thực • Kinh Bát Nhã Ba La Mật • Chú Vãng Sanh • Niệm Phật • Sám Cầu Siêu • Tán Lễ • Khuyến Tu • Tam Quy DÙNG ĐỂ: Cúng thí các cô hồn. phát lòng vô thượng. tội đồng tiêu tan. vợ. mẹ.) (Quì ngay thẳng. lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp. nên theo đúng nghi thức nầy. lạy 1 lạy) PHÁP NGỮ SÁM-HỐI Tội do tâm tạo bao đời. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng. Nam Mô cầu sám hối Bồ Tát Ma Ha Tát. (1 tiếng chuông. tất cả không ngại. Hồng Danh và Đại Hạnh để cúng cháo. (3 lần. (1 tiếng chuông. Chơn tâm sám hối.) CÚNG HƯƠNG Nguyện dâng hương mầu nầy Cúng dường tất cả Phật Tôn Pháp. nên tụng Di Đà. Nghi Thức THÍ THỰC CÔ HỒN (Công phu chiều hằng ngày. trí huệ như biển. tội thời diệt vong. chư Bồ Tát . Oan hồn vất vưởng thê lương. tâm diệt đều không. Phật tử nên phân biệt cô hồn và hương hồn hay vong hồn. không nơi nương tựa.TAM QUY Con nương theo Phật. những người chết bất đắc kỳ tử. con hay thân bằng quyến thuộc thờ cúng tại nhà hay tại chùa. cầm 3 cây hương dâng ngang trán. cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. bà con họ hàng không ai hay biết. Đại chẩn tế cô hồn còn nghi thức khác nữa. cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng. chủ lễ niệm bài cúng hương. Cô hồn như vừa nói trên. Nếu cúng vào những ngày đặc biệt. (1 tiếng chuông. là những người sau khi chết có cha. Đem tâm sám hối. Hương hồn hay hương linh.

Tất cả oan hồn yểu tử. câu kinh giải nàn. phảng phất lời xưa Hồn ơi. (1 tiếng chuông. chỉ chủ lễ nguyện) (3 lần. hồn còn nghe kinh Hỡi hồn ở đầu gành cúôi bãi Nương gió mây. nay mời về núp bóng Từ Quang. hoặc nơi sông sâu biển rộng. sớm được siêu sinh Tịnh Độ. xá. hoặc nơi chiến trường hoang dã. cúng thí Âm Hồn Các Đảng. chủ lễ xướng) ÁN THỈNH CÔ HỒN Hỡi cô hồn trước sau tề tựu Nghe lời khuyên để sửa lỗi mình Quán Âm. rắn độc gấu beo. hồn hỡi tránh chừa . xá 1 xá. không nơi nương tựa. xá 1 CẦU NGUYỆN Hôm nay. đứng dậy. Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa Chết phong ba. (1 tiếng chuông) Hỡi hương hồn chết chìm đáy biển Và bao người ngộ độc bỏ thân Nghe chuông thức tỉnh dần dần Đừng ham danh lợi phù trần nhiễu nhương. xé nát thân ra. Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất Noi tâm lành của Phật làm gương Ta Bà cực khổ trăm đường Mau tu thì được Phật thương cứu độ. Địa Tạng oai linh Thích Ca Phật Tổ. Cắm hương xong. xá 1 xá) Nam Mô Hương Cúng Dường Tiêu Diện Đại Sĩ Bồ Tát Ma Ha Tát. chết giữa núi non Khi nghe chuông giục boong boong Hương thơm tỏa khắp. Phật tử chúng con…. từ bi gia hộ. đói khát thảm thương. dự đàn thí thực. vất vưởng thê lương. tại…. 1 tiếng chuông. từng manh miếng nhỏ. ngã gục tan thây.Thinh Văn và Duyên Giác Cùng các bậc Thánh Hiền Duyên khởi đài sáng chói Khắp xông mười phương cõi Tỏa ngát các chúng sanh Đều phát tâm Bồ Đề Xa lìa các vọng nghiệp Trọn nên Đạo Vô Thượng. hoặc nơi thâm sơn cùng cốc. cá sấu vây quang. (1 tiếng chuông. Hỡi cô hồn chết thiêu chết chém Hổ giảo thân bị yểm bị trù Kíp tìm kinh kệ sớm tu Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan. câu kinh. không nhà không cửa. nương nhờ Phật lực. Ngưỡng mong oai đức cao dày. sắm sửa hương hoa phẩm vật.

Các hồn bị gấu. 1 tiếng chuông) CHÚ THỈNH CÔ HỒN Nam mô bộ bộ đế rị dà rị đa rị đát đa nga đa da. Nam mô thường trụ thập phương Tăng. (1 tiếng chuông. Xin hồn tỉnh hướng về Phật Tổ Ngài từ bi cứu độ vong linh Bao hồn sinh tử tử sinh Hôm nay hồn được nghe Kinh Pháp mầu. (3 lần. rắn cắn Cùng những hồn số vắn vô danh Hãy nghe Kinh Kệ ăn năn Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi. (3 lần. Nam mô khải giáo A Nan Đà Tôn Giả. (3 lần.” CHÚ PHÁ ĐỊA NGỤC Án dà ra đế da ta bà ha. 1 tiếng chuông) Nam mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. (3 lần.Những người gian ác lối dừa Phật tiên. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Quy y Pháp rồi. Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. lời vàng Phật liền chỉ lối chỉ đàng hồn tu. . 1 tiếng chuông) Quy y Phật. 1 tiếng chuông) Nam mô thường trụ thập phương Phật. Hỡi những hồn vì lời dèm xiểm Đã hủy mình chết lụn căm gan Sớm nghe Kinh Kệ. 1 tiếng chuông) CHÚ GIẢI OAN KIẾT Án tam đà ra dà đà ta bà ha. tụng 3 lần. (3 lần. (7 câu trên. đồng tụng) MÔNG SƠN THÍ THỰC Nam Mô Diệm Nhiên Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô thường trụ thập phương Pháp. quy y Pháp. 1 tiếng chuông) Lửa đói đốt thành sắt chảy Cô hồn đói khát than van Muốn sanh về chốn Lạc Bang Hoa Nghiêm phúng tụng vài hàng như sau: “Nếu muốn biết rõ: Ba đời chư Phật Quán “Pháp Giới Tánh” Đều do tâm tạo. quy y Tăng. beo. Quy y Phật rồi. Nam mô Minh Dương Cứu Khổ Địa Tạng Vương Bồ Tát. Quy y Phật đấng phước trí vẹn toàn Quy y Pháp Đạo thoát ly tham dục Quy y Tăng bậc tu hành cao tột.

Chúng sanh không số lượng. (3 lần. Phật Đạo không gì hơn. Thệ nguyện trọn viên thành. 1 tiếng chuông) CHÚ NHỨT TỰ THỦY LUÂN Án noan noan noan noan noan. (3 lần. từ thân. (3 lần. 1 tiếng chuông) Phật tử đã tạo các nghiệp ác. (3 lần. Thệ nguyện đều độ hết. (3 lần. 1 tiếng chuông) CHÚ BIẾN THỰC Nam mô tát phạ đát tha. tam bạt ra hồng. ý phát sinh ra. sân. sân. Thệ nguyện đều dứt sạch. Chúng sanh đã tạo các nghiệp ác. bát ra tô rô. 1 tiếng chuông) CHÚ DIỆT ĐỊNH NGHIỆP Án bát ra mạt lân đà nảnh ta bà ha. từ thân. si. miệng. đều bởi vô thỉ tham. bát ra tô rô. (3 lần. (3 lần. Phật Đạo không gì hơn. Con nguyện đều độ hết. Phiền não không cùng tận. tham. 1 tiếng chuông) CHÚ KHAI YẾT HẦU Án bộ bộ đế rị dà rị đa rị đát đa nga đa da. Pháp môn không kể xiết. đều bởi vô thỉ. 1 tiếng chuông) Chúng sanh không số lượng. 1 tiếng chuông) CHÚ DIỆT NGHIỆP CHƯỚNG Án a lổ lặc kế ta bà ha. Cô hồn đã tạo các nghiệp ác. án tam bạt ra. miệng. tham. sân. đát điệt tha. Con nguyện đều tu học. Con nguyện trọn viên thành. ta bà ha. đều bởi vô thỉ. Phiền não không cùng tận. tất cả Phật tử đều sám hối. si. si. nga đa phạ lồ chỉ đế. tất cả chúng sanh đều sám hối. tất cả cô hồn đều sám hối. Pháp môn không kể xiết. ý phát sinh ra. Thệ nguyện đều tu học. 1 tiếng chuông) (3 lần. từ thân.Quy y Tăng rồi. 1 tiếng chuông) Nam mô Đa Bảo Như Lai Nam mô Bảo Thắng Như Lai Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai Nam mô Quảng Bát Thân Như Lai Nam mô Ly Bố Úy Như Lai . CHÚ CAM LỒ THỦY Nam mô tô rô bà da. 1 tiếng chuông) CHÚ NHŨ HẢI Nam mô tam mãn đa mẫu đà nẩm án noan. (3 lần. đát tha nga đa da. miệng. án tô rô tô rô. Con nguyện đều dứt sạch. (3 lần. (3 lần. 1 tiếng chuông) CHÚ TAM MUỘI DA GIỚI Án tam muội da tát đoa phạm. ý phát sinh ra.

rốt ráo trọn nên bậc Vô Thượng. (7 câu trên. 1 tiếng chuông) CHÚ PHỔ CÚNG DƯỜNG Án nga nga nẳng tam bà. công đức không lường ở vị lai. Tất cả chúng hữu tình Tôi nay nguyện cúng dường Cơm nầy biến khắp mười phương Hữu tình các loại miên trường ấm no. tất cả Phật tử Đồng Pháp Thực. cúng thí vô số chúng cô hồn. (nước mát) biến thành nước cam lồ. cúng thí vô số chúng Phật tử. thoát khỏi u Minh về cõi Tịnh. công đức không lường ở vị lai. 1 tiếng chuông) KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa. Nguyện đem công đức nầy Hướng về khắp tất cả Tôi và các cô hồn Đều trọn thành Phật Đạo. Nguyện đem công đức nầy Hướng về khắp tất cả Tôi và các Phật tử Đều trọn thành Phật Đạo. Ngài soi thấy năm uẩn đều không. thoát khỏi U Minh về cõi Tịnh. CHÚ THÍ VÔ GIÁ THỰC Án mục lực lăng ta bà ha. miên trường ấm no. hết xan tham. 1 tiếng chuông) Oai linh thần chú phi thường. thoát khỏi U Minh về cõi Tịnh. cầu cho no ấm.Nam Mô Cam Lồ Vương Như Lai Nam mô A Di Đà Như Lai. Oai linh thần chú phi thường. phạ phiệt nhựt ra hồng. công đức không lường ở vị lai. quy y Tam Bảo rõ Đạo mầu. Tất cả chúng cô hồn Tôi nay nguyện cúng dường Cơm nầy biến khắp mười phương Cô hồn các loại miên trường ấm no. tất cả cô hồn Đồng Pháp Thực. quy y Tam Bảo rõ Đạo mầu. Nguyện đem công đức nầy Hướng về khắp tất cả Tôi và các chúng sanh Đều trọn thành Phật Đạo. rốt ráo trọn nên bậc Vô Thượng. (Thế Pháp) biến thành Pháp Thí Thực. . quy y Tam Bảo rõ Đạo mầu. tất cả chúng sanh Đồng Pháp Thực. Oai linh thần chú phi thường. (3 lần. cầu cho no ấm. hết xan tham. cầu cho no ấm hết xan tham. tụng 3 lần. rốt ráo trọn nên bậc Vô Thượng. cúng thí vô số loài chúng sinh. Tất cả chúng Phật tử Tôi nay nguyện cúng dường Cơm nầy biến khắp mười phương Các hàng Phật tử. qua hết thảy khổ ách. (thực phẩm) biến thành Tịnh Pháp Thực. (3 lần.

không thêm. đạt tới cứu cánh Niết Bàn. được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. không có vô minh. không có khổ. không bớt. xa hẳn điên đảo. Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. không có thọ. sắc chẳng khác không. là Đại Minh Chú. tập. xúc. hành. lưỡi. bốn biển long lanh.” Vì vậy. Chín phẩm sen vàng lên giải thoát. không có mắt. cũng không có chứng đắc. hương.”Này Ông Xá Lợi Phất. không có sắc. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. tưởng. là Vô Thượng Chú. Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. a di rị đa tất đam bà tì. nên trong ”chân không”. Ánh hào quang hóa vô số Phật. sắc tức là không. không dơ. vị. Tướng tốt rực rỡ. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Vì không có chỗ chứng đắc. mộng tưởng. ba la tăng yết đế. thức. trừ được hết thảy khổ. a di rị đô bà tì. là Vô Đẳng Đẳng Chú. Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh. không có nhãn giới.” ”Này Ông Xá Lợi Phất. Thức cũng đều như thế. bồ đề tát bà ha. a di rị đa tì ca lan đế. (mỗi câu 3 lần. không tức là sắc. cũng không có cái hết già chết. pháp. mũi. tâm không ngăn ngại. Vô số Bồ Tát hiện ở trong. dà di nị dà dà na. thinh. ”tướng không của mọi pháp” không sanh. Hành. đa địa dạ tha. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. tai. hào quang sáng ngời. yết đế. không sạch. Tu Di uyển chuyển. (1 tiếng chuông) Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. 1 tiếng chuông) NIỆM PHẬT A Di Đà Phật thân sắc vàng. cũng không có cái hết vô minh. cho đến không có ý thức giới. Ở phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh. cho đến không có già chết. Mày trắng tỏa. Tưởng. Nam Mô A Di Đà Phật. không chẳng khác sắc. (3 lần. liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: ”Yết đế. thân. đa tha dà đa dạ. Qui mạng lễ A Di Đà Phật. SÁM CẦU SIÊU . dạo. không diệt. Vì không ngăn ngại. không có sắc. nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. không có trí huệ. a di rị đa tì ca lan đa.” (1 tiếng chuông) CHÚ VÃNG SANH Nam mô a di đa bà dạ. chân thật không hư. nên không sợ hãi. chỉ đa ca lệ ta bà ha. 1 tiếng chuông) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. ý. diệt. Mắt trong ngần. ba la yết đế. Thọ. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú.

Vẫn biết chữ “tử quy sanh ký” Người trần ai ai dễ sống lâu Nhân vì nghĩa nặng ân sâu Thương tình đồng loại với nhau một giòng Sanh bất hạnh nhầm đời mạt Pháp Chịu trăm bề khốn khổ xiết bao Sống thời vất vả lao đao Chết không toàn thể thây giao tử thần. Nay hết lúc hồn vương ảo ảnh Kíp trở về thắng cảnh Tây Phương Oan hồn nương khói hương thơm Tiêu diêu Cực Lạc sớm hôm an nhàn.Trên bảo tọa khói hương nghi ngút Tấm lòng thành chí thiết từ đây Mây lành năm sắc phủ vây Chở che nhân loại lắm thay oan hồn. Nay (chúng con) hết lòng cầu khẩn Xin Phật từ cứu độ vong linh Ngưỡng nhờ chư Phật cao minh Xót thương nhân loại phù sinh vô thường. vô thường Có không không có là phường phù du. Dầu tài sắc trăm năm vẫn thế Kiếp phu sinh há dễ sống lâu Oan hồn trôi nổi đâu đâu Ráng nghe kinh kệ ngõ hầu siêu thăng. (1 tiếng chuông) TÁN LỄ Tán lễ Tây Phương Cực Lạc thanh lương Sen vàng chín phẩm ngát hương Cây báu bảy hàng Nhạc trời reo vang A Di Đà Phật Phóng ánh hào quang Hóa Đạo chúng sanh vô lượng Đến bờ giải thoát an vui Hiện tiền đệ tử xưng dương Cầu sanh An Dưỡng Hiện tiền đại chúng tán dương Đồng sanh An Dưỡng. Xin kíp đến quy y Tam Bảo Nước nhành dương rửa sạch lòng trần Gội nhuần Phật Đức thâm ân Bao nhiêu tội chướng cũng lần tiêu tan. chỉ chủ lễ xướng) . Hễ có sinh là có bi thương Kiếp luân hồi lắm nẻo tai ương Hữu hình hữu hoại. (1 tiếng chuông.

đứng ngay ngắn. và Tịnh Tam Nghiệp • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật • Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ • Tán Hương Cúng Phật • Kinh Bát Nhã Ba La Mật • Cúng Dường • Pháp Ngữ Cúng Phật • Phục Nguyện • Tam Quy DÙNG ĐỂ: Cúng dường chư Phật. đại chúng đồng tụng) TAM QUY Con nương theo Phật. (3 lần) (Quì ngay thẳng. đạt mạ ta phạ. cầm 3 cây hương dâng ngang trán. bà phạ truật độ hám. truật đà ta phạ. (3 lần) CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP Án ta phạ bà phạ. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng. cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng. cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông.KHUYẾN TU Ngày nay lại đã qua rồi Mạng căn huyết mạch lần hồi khô khan Dường như cá cạn ở ao Khổ thêm thời có chút nào vui đâu Cần tu cứu lửa cháy đầu Đừng cho sái buổi như chầu đế vương Biết thân mỏng mảnh không thường Sớm còn tối mất lo phương cứu mình. chư Tôn Pháp. (1 tiếng chuông. trí huệ như biển. chắp tay ngang ngực. tất cả không ngại. lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp. (1 tiếng chuông. phát lòng vô thượng. và chư Hiền Thánh Tăng Nghi Thức CÚNG NGỌ (Thắp đèn đốt hương. chủ lễ mật niệm) CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI Án lam xoa ha. lạy 1 lạy) NGHI THỨC CÚNG NGỌ (BUDDHA PÙJÀ) GỒM CÓ: • Chú Tịnh Pháp Giới. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. CÚNG HƯƠNG . chủ lễ niệm bài cúng hương).

1 tiếng chuông. phát tâm Bồ Đề rộng lớn. chúng con một dạ chí thành. 1 tiếng chuông. (3 lần. thiết lễ CÚNG NGỌ. xá 1 xá. người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật. tại: …. dứt sạch nghiệp chướng sâu dày. ngưỡng mong Tam Bảo chứng minh và gia hộ cho chúng con. chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. xá 1 xá) CẦU NGUYỆN (Cho Cầu An) Hôm nay. thệ thế ngày: …. một dạ chí thành. Nam Mô Tiếp Dẫn Hương Linh A Di Đà Phật tác đại chứng minh. vị lai thập phương chư Phật. và tất cả chúng sanh. Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo.Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ Tâm Bồ Đề kiên cố Xa bể khổ nguồn mê Chóng quay về bờ giác. hiện. đứng dậy) KHEN NGỢI PHẬT Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời. (1 tiếng chuông. Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ Tát. (3 lần. ngưỡng cầu Tam Bảo. (1 tiếng chuông. Từ Bi gia hộ cho hương linh. nghiệp chướng tiêu tan. (1 tiếng chuông xá 1 xá) - ĐẢNH LỄ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá. đương đời phiền não dứt sạch. lạy 1 lạy) . xá 1 xá) (Cho Cầu Siêu) Nay có Phật tử tên là: …. mạng vị bình an. chúng con phụng trì di giáo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. thân tâm thường lạc. được sanh về thế giới an lành.

không có nhãn giới. 1 tiếng chuông. là Vô Đẳng Đẳng Chú. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. lưỡi. tâm không ngăn ngại. không có sắc. cũng không có cái hết vô minh. Đại Thế Chí Bồ Tát. cũng không có cái hết già chết. Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. hương. Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. xá 1 xá) KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT NAM MÔ BÁT NHÃ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT (3 lần. yết đế. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. Ngài soi thấy năm uẩn đều không. Vì không ngăn ngại. thân. 1 tiếng chuông) Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa. chân thật không hư. là Vô Thượng Chú. Hành. xúc. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. sắc chẳng khác không. vị. ba la yết đế. mũi. không có trí huệ. không tức là sắc. qua hết thảy khổ ách. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. nên trong ”chân không”. Thức cũng đều như thế. không có sắc. thinh. cho đến không có già chết. liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: ”Yết đế. thức. ba la tăng yết đế. ”tướng không của mọi pháp” không sanh. sắc tức là không. mộng tưởng. không dơ. lạy 1 lạy) TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT Hương trầm vừa đốt Thơm ngát mười phương Thành kính cúng dường Mười phương Tam Bảo.- Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. không chẳng khác sắc. tưởng. dạo. tai. không bớt. ”Này Ông Xá Lợi Phất. trừ được hết thảy khổ. (1 tiếng chuông.” (1 tiếng chuông) (Đại chúng đồng quỳ để tụng cúng dường) - CÚNG DƯỜNG Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Phật Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Pháp Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tăng Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật Nam Mô Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật Nam Mô Thập Phương Tam Thế Nhứt Thiết Chư Phật Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát . là Đại Minh Chú. không sạch. cũng không có chứng đắc. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. (1 tiếng chuông. nên không sợ hãi. được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tưởng. ý. diệt. không có thọ. đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú. không có vô minh. cho đến không có ý thức giới. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. không diệt. bồ đề tát bà ha.” Vì vậy.” ”Này Ông Xá Lợi Phất. xa hẳn điên đảo. Thọ. Vì không có chỗ chứng đắc. hành. không có mắt. không có khổ. không thêm. tập. (3 lần. pháp. Nam Mô Hương cúng dường Bồ Tát Ma Ha Tát. nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa.

. Nguyện hương linh: . hương linh không đủ phước vãng sanh. (3 lần. nghiệp chướng tiêu tan.) (Cho Cầu An) Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tác đại chứng minh. tật bịnh bình an.Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát Nam Mô Già Lam Thánh Chúng Bồ Tát Nam Mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ Tát. phạ phiệt nhựt ra hồng. trong dịp Lễ Cầu An. đương đời phiền não dứt sạch.. 1 tiếng Nam mô tô rô bà da. bát ra tô rô.. (3 lần. (1 tiếng chuông. cúng dường chư Phật Cùng các Hiền Thánh Tăng Dưới. (1 tiếng chuông) Án. thảm nỗi oan khiên lắm lúc. (1 tiếng chuông. (Đứng lên. sen vàng chín phẩm nở hoa. (1 tiếng chuông) Hôm nay. (1 tiếng chuông. đồng niệm. 3 lần) Nam Mô Phổ cúng dường Bồ Tát. (1 tiếng chuông) Nam mô tát phạ đát tha. đồng niệm) Nam Mô A Di Dà Phật. cầu nguyện cho Phật tử (Tên:. trong dịp Lễ Cầu Siêu. TAM QUY Con nương theo Phật. thân tâm thường lạc. 1 tiếng chuông) Thức ăn tươi tốt nầy Trên. ta bà ha. Pháp danh: . đều thành Phật quả. ba cõi sông mê lặn hụp. đồng niệm) Nam Mô A Di Dà Phật. chỉ chủ lễ phục nguyện) PHỤC NGUYỆN (Nếu Cúng Ngọ. nga nga nẳng tam bà. nên phục nguyện Cầu An.). Chú. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. niệm Phật công đức. 1 tiếng chuông) PHÁP NGỮ CÚNG PHẬT Con nay dâng cúng Cam Lồ Sắc hương mỹ vị biến đầy hư không Thành tâm tha thiết ngưỡng mong Đức Từ nạp thọ tấc lòng kính dâng. vượt qua bể khổ.. gia đình thịnh đạt. tam bạt ra hồng. thoát khỏi Ta Bà. ba đường Với tâm thành hiến dâng Cầu mong được bảo mãn. nên phục nguyện cầu siêu. an tam bạt ra. đát tha nga đa da. nay được an lành. Thuyền Bát Nhã thênh thang. đồng lạy. phát lòng vô thượng. pháp giới chúng sanh. án tô tô tô rô. chuông) (3 lần. hưởng cảnh an nhàn. Âm siêu dương thới. đồng thành Phật quả. nghe kinh kệ siêu thăng Tịnh Độ. (Cho Cầu Siêu) Xe Tam Thừa lộng lẫy. tất cả chúng sanh Trong sáu nẻo. nga đa phạ lồ chỉ đế. pháp thân hiện Di Đà thọ ký. sáu đường dốc ngược đèo ngang.. đát điệt tha. bát ra tô rô... trì tụng Kinh. Cúng Phật đã xong Cầu cho chúng sanh Trọn nhờ Pháp Phật Thể nhập Chân Như. thiên thượng nhân gian. 1 tiếng chuông. hay tùy mỗi trường hợp.. chúng con một dạ chí thành.

(1 tiếng chuông. lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp. bà phạ truật độ hám. trí huệ như biển. hay bất cứ nơi nào muốn thờ Phật. cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng. tất cả không ngại. chủ lễ niệm bài cúng hương). đạt mạ ta phạ. chắp tay ngang ngực. NGHI THỨC LỄ AN VỊ PHẬT (Thắp đèn đốt hương. chủ lễ mật niệm) CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI Án lam xoa ha. cầm 3 cây hương dâng ngang trán. (1 tiếng chuông. truật đà ta phạ. lạy 1 lạy) NGHI THỨC LỄ AN VỊ PHẬT GỒM CÓ: • Chú Tịnh Pháp Giới. CÚNG HƯƠNG Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ Tâm Bồ Đề kiên cố . và Tịnh Tam Nghiệp • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật • Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ • Tán Dương Chi • Tựa của Kinh Lăng Nghiêm • Xướng và đọc sớ (nếu có) • Pháp Ngữ Sái Tịnh • Kinh Bát Nhã Ba La Mật • Nguyện An Lành • Sám Phát Nguyện • Hồi Hướng • Phục Nguyện • Tam Quy DÙNG ĐỂ: Cử hành Lễ An Vị Phật ở tư gia. cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp. (1 tiếng chuông. (3 lần) CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP Án ta phạ bà phạ. (3 lần) (Quì ngay thẳng. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng. đứng ngay ngắn.

tâm tánh hôn mê. chứng minh cho Phật tử…. Pháp. tổn người hại vật. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật. đương đời tội chướng tiêu trừ. Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. (1 tiếng chuông. Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát tác đại chứng minh. gia hộ cho Phật tử…. Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. cảnh an nhàn Cam lồ rưới khắp trần gian Lửa sân dứt sạch. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. lạy 1 lạy) TÁN DƯƠNG CHI Cành dương nước tịnh nhiệm mầu Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau Chư Thiên mát mẻ. hôm nay một dạ chí thành. đứng dậy) KHEN NGỢI PHẬT Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời. (1 tiếng chuông. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. cung thỉnh và an vị tôn tượng Đức…. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. báng Phật. xá 1 xá.Xa bể khổ nguồn mê Chóng quay về bờ giác. chẳng kể chánh tà. cùng pháp giới chúng sanh. trang nghiêm phước huệ. xá 1 xá) CẦU NGUYỆN Hôm nay đệ tử chúng con nguyện ngôi Tam Bảo thường trú trong mười phương. Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. tu Đạo Bồ Đề. - . ngưỡng mong đấng Từ Bi. Đại Thế Chí Bồ Tát. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 tiếng chuông. Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. lâu đời lâu kiếp. Tăng. căn lành thêm lớn. vị lai thập phương chư Phật. chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. (1 tiếng chuông. một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. gây nhiều tội ác. Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. tâm thanh tịnh Nhân thế vui tươi. (1 tiếng chuông. đồng niệm) - ĐẢNH LỄ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá. hiện. (1 tiếng chuông xá 1 xá. sen vàng nở hoa. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. nhủ lòng lân mẫn. Đức Tiếp Dẫn Đạo Sư Di Đà Phật.

Đại Từ Bi Giúp con dứt sạch sân. ông bưng núi. nếu không bớt phần nầy) Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo. 1 tiếng chuông. bệ ra bạc xà ra đà rị. lâm đàn chứng minh. Cung thỉnh Thế Tôn lại chứng minh Đời năm trược con xin vào trước Một chúng sanh quả Phật chưa thành Con nguyền không chứng Vô Sanh Niết Bàn (1 tiếng chuông) Đại Hùng. tai ương . si. phiền Để sớm được lên miền Thượng Giác Ngồi Đạo Tràng bát ngát mười phương Hư không có thể tiêu tan Nguyện con kiên cố không hề lung lay (1 tiếng chuông) Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật Nam mô Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát Nam mô Kim Cang Tạng Bồ Tát. Án. đứng khắp cõi hư không. (3 lần. từ nhục kế của Phật phóng ra hào quang trăm báu với hoa sen ngàn cánh. vừa mừng vừa sợ. bạt xà ra bàn ni phấn. đều cầu Phật thương xót che chở. Đại chúng trông thấy. Đại Lực. (3 lần. buồn.Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. chủ lễ xướng và đọc. có Hóa Phật ngồi. chỉ chủ lễ xướng tiếp) Như Lai tướng tốt Không thể nghĩ bàn Con nay dâng sớ Cầu An Cúi xin Phật tổ. chút phần báo ơn. tâm nầy nát như trần (bụi) Hồng ân chư Phật. (3 lần. a na lệ. ta bà ha. và một lòng lắng nghe Phật nói thần chú: (1 tiếng chuông). tỳ xá đề. chứng liền Pháp Thân Nay con nguyền chứng ngôi Chánh Giác Độ chúng sanh như cát Sông Hằng Thân. Hổ hồng đô lô ung phấn. đọc sớ xong. bàn đà bàn đà nể. chủ lễ xướng tiếp) PHÁP NGỮ SÁI TỊNH Cành dương nước tịnh rưới gia đường Linh thiêng thấm mát khắp mười phương Tiêu trừ cấu uế. từ đảnh Hóa Phật phóng ra mười đạo hào quang trăm báu. (1 tiếng chuông. 1 tiếng chuông) KINH LĂNG NGHIÊM NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT. 1 tiếng chuông) XƯỚNG SỚ (Nếu có sớ. Mỗi đạo hào quang hiện ra nhiều Thần Kim Cang Mật Tích. (1 tiếng chuông) Lúc bấy giờ. (3 lần. 1 tiếng chuông) Tâm Chánh Định như như bất động Phật Ba Thân nhân thế khó tìm Trăm ngàn muôn kiếp đảo điên Vô minh dứt sạch. Trong mỗi hoa sen. ông cầm xử vân vân.

ba la yết đế. Thức cũng đều như thế. không bớt. diệt. nên trong ”chân không”. được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. là Đại Minh Chú. pháp. nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. không có vô minh.” Vì vậy. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. không tức là sắc. không có sắc. không sạch. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú. bồ đề tát bà ha. từ lâu vất vưởng Hôm nay trông thấy đạo huy hoàng Xin hướng về núp bóng từ quang Lạy Phật Tổ soi đường dẫn bước Bao tội khổ trong đường ác trược . xúc. không chẳng khác sắc. đồng tụng) KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa. ngày đêm sáu thời luôn an lành. hành. Thọ. ngưỡng mong Tam Bảo ban an lành. không có sắc. nên không sợ hãi. cũng không có cái hết già chết. chân thật không hư. thức. cũng không có cái hết vô minh. cho đến không có già chết. không có mắt. cho đến không có ý thức giới. tất cả thời gian luôn an lành. ngày đêm sáu thời luôn an lành. (mỗi câu 3 lần. Tưởng. sắc tức là không. không có thọ. Nguyện ngày an lành đêm an lành. ngưỡng mong Bổn Sư ban an lành. Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát. mũi. ”tướng không của mọi pháp” không sanh. Ngài soi thấy năm uẩn đều không. không có khổ. Nguyện ngày an lành đêm an lành. cũng không có chứng đắc. không dơ. là Vô Đẳng Đẳng Chú. là Vô Thượng Chú. dạo. Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. không có nhãn giới. tất cả thời gian luôn an lành. không diệt. không có trí huệ. Vì không có chỗ chứng đắc. tâm không ngăn ngại. đạt tới cứu cánh Niết Bàn. ý. SÁM PHÁT NGUYỆN Đệ tử chúng con từ vô thỉ Gây bao tội ác bởi lầm mê Đắm trong sinh tử đã bao lần Nay đến trước đài Vô Thượng giác Biển trần khổ lâu đời luân lạc Với sanh linh vô số điêu tàn Sống u hoài trong kiếp lầm than Con lạc lõng không nhìn phương hướng Đoàn con dại.” ”Này Ông Xá Lợi Phất. ”Này Ông Xá Lợi Phất. tai. ba la tăng yết đế. thinh. không thêm. (Chủ lễ làm phép sái tịnh xong. sắc chẳng khác không. ngày đêm sáu thời luôn an lành. qua hết thảy khổ ách. yết đế. xa hẳn điên đảo. tông đường bình an.” (1 tiếng chuông) NGUYỆN AN LÀNH Nguyện ngày an lành đêm an lành. Hành.Đức Từ phò hộ. 1 tiếng chuông) Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ Tát. Vì không ngăn ngại. Nam Mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. vị. mộng tưởng. lưỡi. ngưỡng mong Hộ Pháp giúp an lành. tưởng. tất cả thời gian luôn an lành. tập. hương. trừ được hết thảy khổ. liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: ”Yết đế. thân.

hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sanh trong Pháp giới Hướng về Phật pháp tỏ đạo mầu Nguyện cho ba chướng tiêu tan Phiền não dứt sạch. cõi Lạc Bang Chín phẩm sen vàng. sân. (1 tiếng chuông) HỒI HƯỚNG An vị công đức. Phật A Di Đà thân kim sắc Tướng tốt quang minh tự trang nghiêm Năm Tu Di uyển chuyển bạch hào Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc Trong hào quang hóa vô số Phật Vô số Bồ Tát hiện ở trong Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh Chín phẩm sen vàng lên giải thoát Quy mạng lễ A Di Đà Phật Ở phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh Cúi xin đức Từ Bi tiếp độ. huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời Hành Bồ Tát Đạo. Trí huệ quang minh như nhựt nguyệt Từ bi vô lượng cứu quần sanh Ôi! Từ lâu ba chốn ngục hình Giam giữ mãi con nguyền ra khỏi Theo gót Ngài vượt qua khổ ải Nương thuyền từ vượt bể ái hà Nhớ tới Ngài: “bờ giác không xa” Hành thập thiện cho đời tươi sáng Bỏ việc ác cho đời quang đãng Đem phúc lành gieo rắc phàm nhân Lời ngọc vàng ghi mãi bên lòng Con nguyện được sống đời rộng rãi Con niệm Phật để lòng nhớ mãi Hình bóng người cứu khổ chúng sanh Để theo Ngài trên bước đường lành Chúng con khổ nguyện xin cứu khổ Chúng con khổ nguyện xin tự độ Ngoài tham lam. si. nơi hóa sanh .Vì tham. Nguyện sanh Tây Phương. cứu đời lầm than. mạn gây nên Thì hôm nay giữ trọn lời nguyền Xin sám hối để lòng thanh thoát. sân hận ngập trời Phá si mê trí huệ tuyệt vời Con nhớ Đức Di Đà Lạc quốc.

. mỗi khi dùng cơm. để cầu phước cho người tín cúng. chỉ chủ lễ phục nguyện) PHỤC NGUYỆN Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tác đại chứng minh. thiên thượng nhân gian. cầu nguyện cho Phật tử (Tên. trí huệ như biển. chúng con một dạ chí thành.) đương đời phiền não dứt sạch. tất cả không ngại.. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông. thân tâm thường lạc. Uống Nước • Chú Kiết Trai • Phục Nguyện • Kinh Hành Niệm Phật • Sám Phổ Hiền • Tam Quy DÙNG CHO: Chư Tăng thọ trai. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. (1 tiếng chuông. nghiệp chướng tiêu tan. thấy Phật.Hoa nở... cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp. cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng. NGHI THỨC QUÁ ĐƯỜNG . lạy 1 lạy) NGHI THỨC QUÁ ĐƯỜNG [Punnyànumodana] GỒM CÓ: • Quán niệm • Cúng Dường • Xuất sanh • Tống Thực • Xướng Tăng Bạt • Ba Nguyện • Năm Quán • Chú Tráng Bát.. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông. đồng niệm) Nam Mô A Di Đà Phật. quả viên thành Các vị Bồ Tát bạn lành với ta. Xỉa Răng. Chú. trì tụng Kinh. tật bịnh bình an. niệm Phật công đức. đều thành Phật quả. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng. TAM QUY Con nương theo Phật. theo đúng nghi qui của Thiền Môn. (1 tiếng chuông) Hôm nay. Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả. Người tu tại gia cũng có thể dùng nghi thức nầy để nhiếp tâm. phát lòng vô thượng. lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp. Pháp danh.

xá 1 xá. Án phạ tất ba ra a ni bát ra ni ấp đa da tá ha. chư hiền thánh Tăng. Thiên bá ức hóa thân Thích Ca Mâu Ni Phật. Viên mãn báo thân Lô Xá Na Phật. con . Thức ăn tinh khiết. Thầy cả niệm: ) XUẤT SANH Pháp lực khó nghĩ bàn Từ Bi không chướng ngại Cơm ít hóa thành nhiều Thí khắp mười phương cõi Đồng không. cầu cho chúng sanh. (1 tiếng chuông. Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật. quỉ mẹ. cúng dường chư Phật. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. để chén chung trong lòng bàn tay trái. Đại Trí VănThù Sư Lợi Bồ Tát.(Đại chúng đứng hai hàng. pháp giới hữu tình. lau khô. ngồi vào ghế. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (Đổ nước tráng bát. (tay trái bưng bát cơm. BÁT KHÔNG Nếu thấy bát không Cầu cho chúng sanh Hoàn toàn trong sạch Không có buồn lo. đồng tụng bài cúng dường) CÚNG DƯỜNG Cúng dường Thanh tịnh pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật. nghe tiếng chuông. hành “Thiền Duyệt Thực. Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật. Án tư ma ni tá ha. Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát. Thập phương tam thế nhứt thiết chư Phật. Khi đang dùng cơm. để cơm vào.) MẶC NIỆM BÁT CƠM ĐẦY Khi thấy bát đầy Cầu cho chúng sanh Vui vẻ làm nên Tất cả việc lành. dơ ngang trán. tay mặt bắt ấn. Ma ha bát nhã ba la mật. GIỞ BÁT Bình bát của Như Lai Con nay được mở bày Cúng dường cho tất cả Xin nguyện được an vui. tay phải gắp 7 hạt cơm để vào chung. nhiếp tâm đọc thầm những pháp ngữ sau đây:) NGỒI THẲNG Thân ngồi ngay thẳng Cầu cho chúng sanh Ngồi tòa Bồ Đề Tâm không đắm nhiễm.” đầy đủ an vui. thảy đều cúng dường.

đại chúng đồng niệm) Nam Mô A Di Đà Phật (1 tiếng chuông. niệm thầm:) Tay bưng bình bát (bát cơm) Cầu cho chúng sanh Trọn nên Pháp khí Thọ thiên nhơn cúng. (1 tiếng chuông. để chén xuống. Án độ lợi ích ta ha. cân phân rõ ràng. đôi đũa gác ngang bát cơm. nhờ nương Pháp mầu. Án mục lục lăng tá ha. 1 tiếng chuông. đi ra nơi cúng. muỗng thứ ba: Nguyện độ tất cả chúng sanh. ăn 3 muỗng hay đũa. mỗi đũa niệm như sau: ) BA NGUYỆN muỗng thứ nhứt: Nguyện dứt tất cả điều ác. (3 lần. hay muỗng cắm giữa bình bát. ốm o gầy mòn. bốn là : Uống ăn là thuốc nhiệm mầu Chữa lành thân bịnh. 1 tiếng chuông. 1 tiếng chuông. (3 lần. ba là : Ngăn ngừa tội lỗi đã làm Sân. năm là : . (7 lần. Thầy cả xướng:) TĂNG BẠT Phật dạy tỳ kheo (chúng tăng) Giữ tròn năm quán Khi ăn tâm loạn Tín thí khó tiêu Đại chúng thảy đều Nhất tâm niệm Phật. 1 tiếng chuông.Đại Bàng Kim Sí Điểu Tất cả đều no đủ. và đọc) TỐNG THỰC Tất cả chúng quỉ thần Tôi nay nguyện cúng dường Cơm nầy biến khắp mười phương Quỉ thần no đủ. (7 lần. muỗng thứ hai: Nguyện làm tất cả điều lành. tay bưng bát giơ ngang trán. đại chúng tiếp) Tam bạt ra dà đa. Án chỉ rị chỉ rị phạ nhựt ra hồng phấn tra. si là gốc. thị giả bưng chung. niệm thầm:) NĂM QUÁN một là: So lường công đức tu hành Người kia mang đến cơm canh cúng dàng. (1 tiếng chuông. hai là : Xét xem đức hạnh của mình Thọ dụng nhiều ít. tham lam đứng đầu.

CHÚ XỈA RĂNG Khi đang xỉa răng Cầu cho chúng sanh Thân tâm thanh tịnh Dứt hết phiền não. Dùng xong. vui mừng bố thí Sau. a mộ dà di ma lê. (3 lần. nghe 1 tiếng chuông. đồng tụng) Nam Mô A Di Đà Phật. chỉ thầy cả phục nguyện) PHỤC NGUYỆN Chiếc áo thô do cô chức nữ Tô cơm tẻ nhờ bác nông phu Người nào thọ dụng để tu Nhớ ơn chức nữ. xá 1 xá rồi dùng cơm. nông phu.Quyết chắc Đạo nghiệp vuông tròn Cơm nầy thọ dụng. 1 tiếng chuông. nhĩ phạ ca ra. của báu vô phương. (1 tiếng chuông. ta phạ ha. (3 lần. ta bà ha. Án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề. cu chi nẩm. ngày ngày. không còn quả. bát đầu ma câu ma ra. đại chúng đổ nước vào tráng bát. và tiếp: ) Người phát tâm cúng dường Lợi ích không thể lường Nay. (để bát xuống. đà ra dà ra. (Uống nước xong. 1 tiếng chuông đồng tụng) CHÚ KIẾT TRAI Nam mô tát đa nẫm. Án. nhĩ phạ ca ra tăng thâu đà da. và đọc : ) CHÚ TRÁNG BÁT Nước dùng tráng bát Cam lồ thơm ngát Thí các quỉ thần Đều được no đủ. Án ma hưu ra tất tá ha. nhân. (Phần quá đường đến đây xong. Dùng cơm đã xong Cầu cho chúng sanh Trọn nhờ Pháp Phật Thể nhập chân như. tố di ma lệ. 1 tiếng chuông. Nếu đi kinh hành. Thầy cả xướng tiếp:) . Án phạ tất ba ra ma ni tá ha. tăng du đà nể. tam miệu tam bồ đề. CHÚ UỐNG NƯỚC Phật xem một bát nước Có hơn tám muôn trùng Nếu uống không niệm chú Như ăn thịt chúng sanh. PHỔ NGUYỆN Đàn na tín cúng Lợi lạc hiện tiền Đầy đủ phúc duyên Chứng nên Phật quả. đát điệt tha.

Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. Ở phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh. vừa đi kinh hành. Mười là nguyện khắp trong đời Xoay mình lướt tới thẳng đời Lạc Bang. Chín là nguyện trước nhớ sau Thuận theo thế tục dám đâu trái lời. hào quang sáng ngời. Ai là nguyện lạy Như Lai Cầu cho già trẻ gái trai làm lành. Tu Di uyển chuyển. Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh. bốn biển long lanh. khắp nhà đặng nghe. niệm mỗi câu 3 lần. Qui mạng lễ A Di Đà Phật. (1 tiếng chuông) Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.NIỆM PHẬT A Di Đà Phật thân sắc vàng. Tám là nguyện bạn ở chung Mấy lời Phật dạy học cùng với nhau. Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. Mắt trong ngần. Sáu là nguyện Phật nói ra Xoay vần chánh Pháp. thầy tà lánh xa. (Vừa niệm Di Đà. Bốn là nguyện dứt nghiệp oan Vượt qua biển khổ ba đường thoát ra. khi đứng lại. (1 tiếng chuông) . Mày trắng tỏa. Vô số Bồ Tát hiện ở trong. 1 tiếng chuông) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Ba là nguyện phát chí thành Cúng dường Tam Bảo tứ sanh khỏi nàn. Tướng tốt rực rỡ. Tôn sư diễn nghĩa ít hàng Cầu cho bá tánh Tây Phang mau về. Năm là nguyện học thiền na Bạn lành nương cậy. Ánh hào quang hóa vô số Phật. Bảy là nguyện Phật chở che Ở lâu dạy bảo người nghe tỏ lòng. SÁM PHỔ HIỀN Đệ tử chúng con Tùy thuận tu tập Mười điều nguyện lớn Của Đức Phổ Hiền : (1 tiếng chuông ) Một là nguyện Phật thần thông Chứng minh đệ tử thành công lâu dài. Chín phẩm sen vàng lên giải thoát.

dâng hương ngang trán. cắm hương xong. lạy 1 lạy) NGHI THỨC CÚNG VONG GỒM CÓ : • Hương Linh Lễ Phật (gia chủ lạy thế) • Thỉnh Hương Linh • Thỉnh Đức Quán Thế Âm Tiếp Dẫn… • Thỉnh Đức A Di Đà Tiếp Dẫn… • Thỉnh Đức Địa Tạng Tiếp Dẫn… • Xướng và Đọc Tiệp (nếu có) • Cúng Cơm và Nước • Niệm Phật • Sám Di Đà • Tiễn Đưa Hương Linh • Phục Nguyện DÙNG ĐỂ : Cúng các hương linh. (cầm 3 cây hương. (1 tiếng chuông. như hương linh Ông. hữu ban tiếp: ) Hồ quỳ. chờ tang chủ lạy thế cho hương linh xong. NGHI THỨC CÚNG VONG (Đồ cúng chỉnh tề. (1 tiếng chuông. Cúng ở nhà hay ở chùa cũng được. Mẹ...TAM QUY Con nương theo Phật. (1 tiếng chuông. (3 tiếng chuông. chủ lễ cử tán: ) THỈNH HƯƠNG LINH Chơn ngôn thần lực dẫn hương linh Từ chốn U Minh về Dương Thế An tọa linh đường để nghe kinh Tang môn hiếu tử linh đình cúng dâng.. lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp. Chủ lễ bái: Hương hoa thỉnh. cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp. (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng. (1 tiếng chuông.. chủ lễ xướng) HƯƠNG LINH LỄ PHẬT Tây Phương tiếp độ hương hồn. tất cả không ngại. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. vái tên họ người chết. chủ lễ xướng tiếp) Vong tựu Phật tiền. cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng. đảnh lễ tam (1 tiếng chuông. chúng hòa: ) bái. chúng đồng niệm) Nam Mô A Di Đà Phật. phát lòng vô thượng. tang chủ quỳ gối. vân vân. THỈNH ĐỨC QUÁN ÂM TIẾP DẪN. Cha. trí huệ như biển. Bà. (1 tiếng chuông. .

tay cầm nhành liễu. lễ Phật nghe Kinh. hương thơm ngào ngạt. sanh. hương thơm ngào ngạt. nên đổi chữ Gia Đường lại là. Chủ lễ thỉnh: Nhất tâm phụng thỉnh: Sông mê rào rạt sóng tình Biển đau lênh láng lệ mình khóc than Muốn mau thoát khỏi trần gian Hãy nên niệm Phật tiêu tan khổ nàn.... độ thoát chúng sanh không còn. Tả Ban: Duy Nguyện: Thân cử bước thênh thang Tâm tự tại an nhàn Tới lui không vướng mắc Vượt thoát cảnh trần gian. cung thỉnh hương linh(lần I).Chủ lễ thỉnh: Nhất tâm phụng thỉnh: Đức Quán Âm tu hành nhiều kiếp Với lời nguyền tha thiết độ sanh Khắp muôn nơi cầu nguyện chí thành Ngài ứng hiện muôn hình tế độ. cung thỉnh hương linh... Chuông) Cung vi.. tiếp dẫn hương linh (tên họ: ... (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh.. phóng hào quang tiếp dẫn hương linh... Pháp danh: .. hôm nay là Lễ. chết ngày: ... (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. Cung vi: Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.. (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh.. [Nếu không cúng tại nhà.). Bồ Đề nguyện lớn vuông tròn Chứng nên Phật quả không còn tử.... (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. (Đàn Tràng)]... sinh ngày: . (tên họ: .. Tiểu Tường. Chủ lễ tiếp: Hương hoa thỉnh. (1 tiếng chuông).. Hương hoa thỉnh. (Thọ Tang. Hữu Ban: Duy nguyện: Hồn về Dương Thế Phách ở nơi nao? Mau mau tỉnh ngộ Vượt thoát trần lao. tay bưng kim đài. (1 tiếng chuông) THỈNH ĐỨC DI ĐÀ TIẾP DẪN. tại:..).. tại: . Cung vi: ... Tứ Cửu. trở lại gia đình. chết ngày: . Bách Nhật. Nam mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát.) hôm nay là Lễ ... trở lại gia đình.... (1 t. (1 tiếng chuông). dứt hết ngục hình Dương gian.. Chủ lễ tiếp: Hương hoa thỉnh... (lần II). Hương hoa thỉnh. Đại Tường. (1 tiếng chuông) THỈNH ĐỨC ĐỊA TẠNG TIẾP DẪN… Chủ lễ thỉnh: Nhất tâm phụng thỉnh: U Minh... Pháp danh: .. lễ Phật nghe Kinh.. sinh ngày: .

tam bạt ra. tam bạt ra hồng. Chủ lễ tiếp: Hương hoa thỉnh. phóng hào quang tiếp độ hương linh (Tên họ: …. vị biến đầy hư không Thành tâm tha thiết ngưỡng mong Hương linh nạp thọ. (1 tiếng chuông) Đại chúng đồng tụng: Ba lần cung thỉnh Hương linh đã về Hồn thiêng an tọa linh sàn Tang môn hiếu tử thiết đàn kính dâng. cúng cơm. (3 lần. Tang chủ gắp thức ăn. dâng cúng cơm nầy Sắc. mỗi thứ một chút. (1 tiếng chuông) Hữu Ban: Duy nguyện: Được nương nhờ oai thần chư Phật Nay về đây thính Pháp văn Kinh Hồn thiêng thụ hưởng linh đình Nén hương. 1 tiếng chuông) Chủ lễ xướng: Hiến trà. (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. Mỹ Thanh trai Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần. Hữu Ban tiếp: Hương hoa thỉnh. chết ngày: …. gác ngang đôi đũa. (2 tiếng chuông) Hữu ban tiếp: Hồ quỳ. sinh ngày: …. hương. hôm nay là Lễ…. (1 tiếng chuông) Chúng hòa: Hương hoa triệu thỉnh. chắp tay vái cúng) CÚNG CƠM VÀ NƯỚC Đồng tụng: Nam Mô Đa Bảo Như Lai Nam Mô Bảo Thắng Như Lai Nam Mô Diệu Sắc Thân Như Lai Nam Mô Quảng Bát Thân Như Lai Nam Mô Ly Bố Úy Như Lai Nam Mô Cam Lồ Vương Như Lai Nam Mô A Di Đà Như Lai. hương thơm ngào ngạt. tay cầm tích trượng. Tả Ban: Tang chủ lễ nhị Chúng hòa: bái. 1 tiếng chuông) Nam Mô tát phạ đát tha. (3 lần. bát nước. trở lại gia đình. tấc lòng nhớ thương. (rót trà cúng. mỹ. cung thỉnh hương linh (lần III). (1 tiếng chuông) (Đọc điệp xong. Pháp danh: …. 1 tiếng chuông) Hôm nay. để vào bát cơm lưng. nga đa phạ lồ chỉ đế.Nam Mô U Minh Giáo Chủ Bổn Tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát. ân (thâm) tình cúng dâng. lần thứ nhứt) Hữu Ban tiếp: Cúc cung lễ nhị . lễ Phật nghe Kinh. Án. XƯỚNG VÀ ĐỌC ĐIỆP (nếu có) Chủ lễ xướng: Âm dương đồng nhứt lý Sanh tử chia đôi đàng Điệp tang họp thời dọc Cầu chư Phật chứng minh. tại: …) .

Chủ lễ xướng: Hiến trà. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (3 lần. đồng tụng) Án. đôi nến gần tàn Cúi xin chư Phật dẫn đàng hồn đi. Mày trắng tỏa. (1 tiếng chuông) Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. Chín phẩm sen vàng lên giải thoát. Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (mỗi câu 3 lần. nga nga nẳng tam bà. Vô số Bồ Tát hiện ở trong. Mắt trong ngần. (1 tiếng chuông. đồng tụng) Nam Mô Cam Lồ Vương Bồ Tát. 1 tiếng chuông) Hữu Ban xướng: Cam lồ một giọt linh thiêng Tiêu trừ đói khát triền miên Mật ngôn mầu nhiệm. bốn biển long lanh. 1 tiếng chuông). (2 tiếng chuông. phạ phiệt nhựt ra hồng. (rót trà cúng. Nam Mô A Di Đà Phật. hào quang sáng ngời. bát ra tô rô. Hữu Ban xướng: Ruột se thắt. hồn phách về đâu!? Chủ lễ xướng: Hiến trà. đát điệt tha. đồng tụng: ) Nam mô tô rô bà da. SÁM DI ĐÀ Muốn đi có một đường nầy . đồng niệm) NIỆM PHẬT A Di Đà Phật thân sắc vàng. lần thứ ba) Tả Ban tiếp: Cúc cung lễ nhị Chúng hòa: bái. Ánh hào quang hóa vô số Phật. tô rô tô rô. (rót nước cúng lần thứ nhì) Tả Ban tiếp: Cúc cung lễ nhị Chúng hòa: bái. đát tha nga đa da.Chúng hòa: bái. 1 tiếng chuông) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. hồn thiêng an lành. (1 tiếng chuông.1 tiếng chuông) Hữu ban xướng: Hồn sắp thoát dương gian Chốn U Minh mờ hiện Âm dương chia đôi đàng Bát hương. (2 tiếng chuông) Tả Ban: Hồ Quỳ. Tướng tốt rực rỡ. Án. Ở phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh. Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh. bát ra tô rô. Tu Di uyển chuyển. (2 tiếng chuông) Hữu Ban: Hồ Quỳ. (3 lần. Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 tiếng chuông. Qui mạng lễ A Di Đà Phật. âm dương xa cách Ngậm ngùi thay. (3 lần. ta bà ha.

(1 tiếng chuông) Bỏ ngôi bỏ nước vô chùa mà tu Xét ra từ kiếp đã lâu Hiệu là Pháp Tạng tỳ kheo đó mà Trong khi ngài mới xuất gia Bốn mươi tám nguyện phát ra một lần.Nhứt tâm niệm Phật khó gì thoát ra Vậy nên phải niệm Di Đà Hồng danh sáu chữ thiệt là rất cao Hay trừ tám vạn trần lao Tham thiền quá tưởng pháp nào cũng thua. Di Đà xưa cũng làm vua. gió khuya nhạc trời. cảnh nào cũng thua Phong quang vui vẻ bốn mùa Nước reo Pháp Phật. Di Đà có thệ một lời Mở ra cõi ấy tiếp người vãng sanh Mười phương ai phát lòng thành Nhất tâm mà niệm Hồng Danh của Ngài Hằng ngày trong lúc hôm mai Niệm từ mười tiếng đến vài ba trăm Khi đi. Nguyện nào cũng lắm oai thần Nguyện nào cũng trọng về phần độ sanh Vì thương thế giới bất bình Nên chi đầu Phật mà đành bỏ ngôi Thầy là Bảo Tạng Như Lai Bạn là Bảo Hải tức Ngài Thích Ca. có chim rất kỳ Lạ lùng cái cảnh Phương Tây Mười phương cảnh Phật. ngày ngày vui chơi Sống lâu kiếp kiếp đời đời . Thích Ca nguyện độ Ta Bà (1 tiếng chuông) Di Đà nguyện mở cửa nhà Lạc Bang Mở Ao Chín Phẩm sen vàng Xây thành Bá Bửu đổ đàng thất trân Lưu ly quả đất sáng ngần Lầu châu cát ngọc mười phần trang nghiêm Hoa trời rưới cả ngày đêm Có cây rất báu. khi đứng. khi nằm Chuyên trì niệm Phật lòng chăm phát nguyền Nguyện sanh về chín phẩm liên Là nơi Cực Lạc ở miền Tây Phương Đến khi thọ mạng vô thường Thì Ngài phóng ngọn hào quang rước liền Biết bao phước đức nhơn duyên Đã về Cực Lạc còn phiền não chi Sự vui trời cũng chẳng bì Đêm đêm thong thả.

đa tha dà đa dạ. a di rị đô. (1 tiếng chuông) (Khi đang tụng chú Vãng Sanh. (4 tiếng chuông. tỳ ca lan đa. lui ra). CHÚ VÃNG SANH TỊNH ĐỘ Nam mô a di đa bà dạ. vĩnh biệt cõi đời Quán Âm.. tất đam bà tỳ. đa địa dạ tha. tỳ ca lan đế. Hữu Ban xướng: Tang Chủ tựu vị lễ tứ. a di rị đa. dà dà na. nếu có sớ nên đốt) 9. (1 tiếng chuông. Sớm về cõi Phật Hưởng cảnh thanh bình Pháp giới chúng sinh Trọn thành Phật quả. dà di nị. a di rị đa. a di rị đa.. (Chủ lễ tiếp:) PHỤC NGUYỆN Hồn siêu nơi cõi Tịnh Nghiệp dứt chốn trần ai Hoa sen chín phẩm vừa khai Phật bèn thọ ký cho ngay nhứt thừa Cầu xin chư Phật tiếp đưa Hồn về Cực Lạc say sưa Pháp mầu Nguyện cho hương linh. Thế Chí đón mời hồn đi. chỉ ca ca lệ. và Tịnh Tam Nghiệp • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật • Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ • Tán Hương Cúng Phật • Chú Đại Bi • Kệ Giải Nghiệp • Niệm Phật • Chú Nguyện • Hồi Hướng • Phục Nguyện . NGHI THỨC LỄ PHÓNG SANH (Sattva abhayadàna vidhi) GỒM CÓ: • Chú Tịnh Pháp Giới. ta bà ha.Không già không chết không dời đi đâu. đại chúng đồng niệm:) Nam Mô A Di Đà Phật. hào quang sáng ngời Chắp tay. Chúng hòa: bái. 1 tiếng chuông) TIỄN ĐƯA HƯƠNG LINH Chỉ chủ lễ xướng: Hồn về Cực Lạc Tây Phương Ngát hương sen nở. bà tỳ. tang chủ lạy 4 lạy. (3 lần.

CÚNG HƯƠNG Giới Hương. và người quá vãng được siêu thăng cõi Phật. Tri Kiến Hương Sáng ngời. Giải Thoát. thân tâm thường lạc.• Tam Quy DÙNG ĐỂ: Thả các loài súc vật để chúng được tự do. chỉ mặc niệm bài “CHÚ NGUYỆN” 3 lần. ngưỡng mong Tam Bảo chứng minh và gia hộ cho: (tên người mua sinh vật).) (Thắp đèn đốt hương. (3 lần. chắp tay ngang ngực. người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật. rồi thả ngay. thiết lễ phóng sanh. truật đà ta phạ. khi có nhiều người tham dự. Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát. xá 1 xá. cầm 3 cây hương dâng ngang trán. 1 tiếng chuông. chúng con phụng trì di giáo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Để cầu phước cho người hiện tiền được sống lâu. chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. Nam Mô Tiêu Tai Duyên Thọ Dược Sư Phật tác đại chứng minh. chủ lễ niệm bài cúng hương). đương đời phiền não dứt sạch. (3 lần) (Quì ngay thẳng. Trong trường hợp đặc biệt. chủ lễ mật niệm) CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI Án lam xoa ha. nghiệp chướng tiêu tan. đại chúng đồng tụng) ĐẢNH LỄ . Định Hương. (3 lần. một dạ chí thành. Năm Hương cúng dường. chiếu khắp mười phương Hiện tiền Tam Bảo. (1 tiếng chuông. (3 lần) CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP Án ta phạ bà phạ. và Huệ Hương Giải Thoát. 1 tiếng chuông. đạt mạ ta phạ. bà phạ truật độ hám. NGHI THỨC LỄ PHÓNG SANH (Ứng dụng nghi thức nầy. đứng ngay ngắn. và tất cả chúng sanh. xá 1 xá) CẦU NGUYỆN Hôm nay. Phúc báo cũng vô lượng vô biên. đứng dậy) KHEN NGỢI PHẬT Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời. mạng vị bình an. một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Nam mô na ra cẩn trì. tất rị tất rị. ta bà ha. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Ma ha tất đà dạ. a ra sâm Phật ra sá lợi. ta bà ha. Án. hiện. địa rị sắc ni na. Ba đà ma kiết tất đà dạ. địa rị ni. da. Ma bà lị thắng kiết ra dạ. Nam mô a rị da. Tất ra tăng a mục khê da.- Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. ta bà ha. (1 tiếng chuông. na ma bà tát đa. ma ha ca lô ni ca da. (1 tiếng chuông) KỆ GIẢI NGHIỆP Chúng sanh đấy có bấy nhiêu Lắng tai nghe lấy những điều dạy răn Các ngươi trước lòng trần tục lắm Nên kiếp nầy chìm đắm sông mê Bấy lâu chẳng biết tu trì Gây bao tội ác lại về mình mang. ta bà ha. ta bà ha. Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. tát bà tát bà. đạo tràng mười phương. Tất đà du nghệ. (3 lần. bà lô kiết đế thước bát ra da. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. lô ca đế. Khắp xông pháp giới. na ra cẩn trì. Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thành. bồ đề dạ bồ đề dạ. ma ha phạt xà da đế. Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. tâm thành kính dâng. (3 lần. Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. Án tất điện đô. bạt đà dạ. ta bà ha. Quyện thành mây báu kiết tường. bồ đề tát đỏa bà da. thước bàn ra dạ. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. mạn đa ra. sừng có đỡ được đâu Dù là bay trước lặn sau - . thất na thất na. bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. ba dạ ma na. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. ma ra ma ra. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. đà ra đà ra. Phật ra xá da. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. hô lô hô lô hê rị. Tất đà dạ. Án a bà lô hê. đát điệt tha. tát bàn ra phạt duệ. a thệ dựng. Na ra cẩn trì. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. ca ra đế. di hê rị. Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. ta ra ta ra. ta bà ha. số đát na đát tỏa. Ma ra na ra. Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. na ma bà dà. tát bà a tha đậu thâu bằng. ma ha tát đỏa bà da. dá ra dá ra. ta bà ha. 1 tiếng chuông) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. tát bà tát đa. ma hê ma hê rị đà dựng. (1 tiếng chuông. Nam mô a rị da. y hê di hê. ma phạt đạt đậu. vị lai thập phương chư Phật. Chứng minh hương nguyện. hô lô hô lô ma ra. mục đế lệ. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. ta bà ha. ta bà ha. Sống đọa đầy chết thường đau khổ Lông. Mạ mạ phạt ma ra. thất Phật ra da. lạy 1 lạy) TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT Lư hương vừa ngún chiên đàn. ta bà ha. di đế rị dạ. Pháp thân ảnh hiện rành rành. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. thất bàn ra dạ. bà lô kiết đế. ma ha bồ đề tát đỏa. hê rị ma ha bàn đa sa mế. tô rô tô rô. độ lô độ lô phạt xà da đế. cu lô cu lô kiết mông. (1 tiếng chuông. bồ đà dạ bồ đà dạ. Đại Thế Chí Bồ Tát. 1 tiếng chuông) CHÚ ĐẠI BI Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. phạt sa phạt sâm. ta bà ha. ta bà ha.

Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh. Chúng sanh quy y Tăng Không đọa bàng sanh.Lưới dây tên bắn lưỡi câu thả mồi Tát cạn bắt cùng hơi hun độc Lúc đó dù kêu khóc ai thương Nằm trên chốc thớt lạ thường Hồn còn phảng phất nấu rang xong rồi. Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. (1 tiếng chuông) Quy rồi tội chướng sạch băng Trí khôn sáng tỏ tưng bừng khắp nơi Phát tâm tu. Vô số Bồ Tát hiện ở trong. Muôn phần chết nay ngươi cầm chắc May sao nhờ các bận thiện nhân Cứu cho ngươi được thoát thân Đến đây lại được nhờ ân Pháp mầu. Mày trắng tỏa. (1 tiếng chuông) . Vậy ngươi kíp hồi đầu quy Phật Cùng dốc lòng quy Pháp quy Tăng. 1 tiếng chuông) Chúng sanh quy y Phật rồi Chúng sanh quy y Pháp rồi Chúng sanh quy y Tăng rồi. sau rồi được hưởng Về phương Tây sung sướng đời đời Lên tòa sen hưởng thảnh thơi Không hề luân chuyển yên vui tháng ngày. (3 lần. hào quang sáng ngời. Không đọa địa ngục. Xin đại chúng ra tay cứu khổ Pháp tâm cầu Phật độ chúng sanh Cùng nhau dốc một lòng thành Cầu cho thoát khỏi trong vành trầm luân. Tu Di uyển chuyển. (1 tiếng chuông. bốn biển long lanh. đại chúng đồng tụng) NIỆM PHẬT A Di Đà Phật thân sắc vàng. Chúng sanh quy y Pháp Không đọa ngạ quỷ. Mắt trong ngần. Tướng tốt rực rỡ. Ánh hào quang hóa vô số Phật. 1 tiếng chuông) Chúng sanh quy y Phật. Ở phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh. (3 lần. Chín phẩm sen vàng lên giải thoát. Qui mạng lễ A Di Đà Phật. Chúng sanh quy y Phật Chúng sanh quy y Pháp Chúng sanh quy y Tăng.

trí huệ như biển. bỏ thân nầy. hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sanh trong pháp giới Hướng về Phật pháp tỏ đạo mầu. đời sau gặp gỡ Ngôi Tam Bảo tu hành. (1 tiếng chuông) Nguyện cho ba chướng tiêu tan Phiền não dứt sạch. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng.. quả viên thành Các vị Bồ Tát bạn lành với ta. phát lòng vô thượng. hưởng cảnh an nhàn. trì tụng Kinh. Hôm nay.. Sau khi đắc Đạo rồi. huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời Hành Bồ Tát đạo. thân tâm thường lạc. kiếp mãn viên trần. (1 tiếng chuông. TAM QUY Con nương theo Phật. thiên thượng nhân gian. Pháp: . Nam Mô A Di Đà Phật. Nguyện sanh Tây phương. Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát cứu thoát chúng sanh. (Niệm 3 lần. thấy Phật.. lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp. Chú. chứng quả Bồ Đề.). tất cả không ngại. chúng con một dạ chí thành. cá.. ta sẽ độ cho ngươi được giải thoát. niệm Phật công đức. (1 tiếng chuông. chủ lễ mật niệm) Nguyện cho (các) ngươi (chim. CHÚ NGUYỆN (Mang sinh vật ra ngoài.) đời đời tội diệt phước sanh. chỉ chủ lễ phục nguyện) PHỤC NGUYỆN Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tác đại chứng minh. chứng vi viên tướng. (1 tiếng chuông. để hồi hướng) HỒI HƯỚNG Phóng sinh công đức. cầu nguyện cho Phật tử (Tên:. rùa. chủ lễ thả sinh vật. (1 tiếng chuông. lạy 1 lạy) . nơi hóa sanh Hoa nở. 1 tiếng chuông) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. cõi Lạc Bang Chín phẩm sen vàng. cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng. cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp. đương đời phiền não dứt sạch. (1 tiếng chuông. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (mỗi câu 3 lần.. cứu đời lầm than. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. Bồ Đề Đạo độ chúng sanh. tật bịnh bình an. Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. đồng niệm) Nam Mô A Di Đà Phật. Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Trở lại bàn Phật..Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. gia đình thịnh đạt. nghiệp chướng tiêu tan.. đều thành Phật quả.

Chúng con một dạ chí thành. người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật. chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. thấm nhuần Pháp Nhủ Hồng Ân.) cung đối Phật tiền.... NGHI THỨC LỄ THÀNH HÔN (Bên trai bên gái ngồi hay đứng cân phân hai bên.NGHI THỨC LỄ THÀNH HÔN (Àvàha-vivàha vidhi) GỒM CÓ: • Chú Tịnh Pháp Giới.. cô dâu chú rể đứng giữa. chủ lễ bắt đầu:) CẦU NGUYỆN Nay có Phật tử (tên họ:. pháp danh:.. KHEN NGỢI PHẬT Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời. phát nguyện kết hôn với (tên họ:.. và Tịnh Tam Nghiệp • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật • Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ • Tựa Kinh Lăng Nghiêm • Lạy Báo Ân • Bạch Phật • Pháp Ngữ Sái Tịnh • Lễ Trao Nhẫn • Nguyện An Lành • Tam Quy DÙNG ĐỂ: Cử hành lễ cưới.. pháp danh:.. cho đúng với luật lệ hiện hành. thọ hưởng Cam Lồ Cát Khánh. sắt cầm duyên hiệp.. ngưỡng cầu Tam Bảo từ bi gia hộ cho hai họ được Loan Phụng hòa minh. Ngưỡng mong Phật trí cao vời từ bi gia hộ. ..).

Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. tỳ xá đề. phiền Để sớm được lên miền Thượng Giác Ngồi Đạo Tràng bát ngát mười phương Hư không có thể tiêu tan Nguyện con kiên cố không hề lung lay Nam mô Thường Trụ Thập Phương Phật Nam mô Thường Trụ Thập Phương Pháp Nam mô Thường Trụ Thập Phương Tăng Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật Nam mô Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát Nam mô Kim Cang Tạng Bồ Tát. Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. vị lai thập phương chư Phật. có Hóa Phật ngồi. 1 tiếng chuông) Tâm Chánh Định như như bất động Phật Ba Thân nhân thế khó tìm Trăm ngàn muôn kiếp đảo điên Vô minh dứt sạch. vừa mừng vừa sợ. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. bạt xà ra bàn ni phấn. Mỗi đạo hào quang hiện ra nhiều Thần Kim Cang Mật Tích. Đại chúng trông thấy. chứng liền Pháp Thân Nay con nguyền chứng ngôi Chánh Giác Độ chúng sanh như cát Sông Hằng Thân. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông) Lúc bấy giờ. Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. ông bưng núi. lạy 1 lạy) KINH LĂNG NGHIÊM NAM MÔ LĂNG NGHIÊM HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT. Án. (1 tiếng chuông. Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. tâm nầy nát như trần (bụi) Hồng ân chư Phật. (3 lần. đứng khắp cõi hư không. a na lệ. Đại Thế Chí Bồ Tát. xá 1 xá) - ĐẢNH LỄ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá. ta bà ha. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. Trong mỗi hoa sen. Hổ hồng đô lô ung phấn. và một lòng lắng nghe Phật nói thần chú: (1 tiếng chuông). đều cầu Phật thương xót che chở. từ nhục kế của Phật phóng ra hào quang trăm báu với hoa sen ngàn cánh. si. từ đảnh Hóa Phật phóng ra mười đạo hào quang trăm báu. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. chút phần báo ơn. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. Đại Lực. 1 tiếng chuông) - . ông cầm xử vân vân. (1 tiếng chuông) Cung thỉnh Thế Tôn lại chứng minh Đời năm trược con xin vào trước Một chúng sanh quả Phật chưa thành Con nguyền không chứng Vô Sanh Niết Bàn Đại Hùng. buồn. bàn đà bàn đà nể. Đại Từ Bi Giúp con dứt sạch sân. bệ ra bạc xà ra đà rị. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. hiện. (1 tiếng chuông. (3 lần.(1 tiếng chuông.

(3 lần. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh. ĐIỀU V: Con nguyện sống đời sống hằng ngày sao cho xứng đáng với đạo đức của ông bà và nghĩa vụ của Tổ Quốc đã đặt hy vọng vào con. lạy 1 lạy) ... (1 tiếng chuông.) cung đối Phật tiền. nếu không. Ngưỡng mong Đức Từ gia hộ cho hai họ được: Loan Phụng hòa minh. (3 lần. hay lời chúc mừng của quan khách. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông. để xây dựng hạnh phúc với em (tên họ. và đọc lớn những điều sau đây:) Tôi (tên họ). tai ương Đức Từ phò hộ. nguyện suôt đời vâng giữ 5 điều sau đây. nhứt bái. hướng về Phật.LẠY BÁO ÂN (Nếu hai họ đã làm lễ tạ Song Đường ở nhà rồi. ĐIỀU IV: Con nguyện đời đời sống bên nhau. và đọc lớn những điều sau đây:) Tôi (tên họ). tông đường bình an. bằng trí huệ sáng suốt..Chí tâm đảnh lễ.. gái..) NĂM ĐIỀU CHỒNG ĐỐI VỚI VỢ (Chú rể tay cầm quyển kinh. bằng hữu tương giao chi nghĩa nhứt bái.Chí tâm đảnh lễ sư trưởng giáo huấn chi ân.). (1 tiếng chuông.. làm chủ lễ. .” Sau khi cô dâu chú rể phát nguyện và trao nhẫn cho nhau xong.. và bằng đức tánh kiên nhẫn. Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tat Ma Ha Tát. người giám hộ. nhựt nguyệt chiếu lâm chi đức. thọ hưởng Cam Lồ Kiết Khánh. .. 1 tiếng chuông. xá 1 xá. nên có lời khuyên của cha mẹ bên trai. Ngưỡng mong Phật trí cao vời từ bi gia hộ. Pháp danh: . phần nầy nên bỏ qua.. thấm nhuần Pháp Nhủ Hồng Ân. đứng dậy) PHÁP NGỮ SÁI TỊNH Cành dương nước tịnh rưới gia đường Linh thiêng thấm mát khắp mười phương Tiêu trừ cấu uế. LỄ TRAO NHẪN (Chủ lễ nên giảng ý nghĩa chữ “trao nhẫn.Chí tâm đảnh lễ đại thiện tri thức chi ân. chủ lễ xướng 4 câu sau đây cho cô dâu chú rể lạy báo ân). (1 tiếng chuông.. để xây dựng hạnh phúc gia đình với anh (tên họ. 1 tiêng chuông. thủy thổ thành thục chi đức. phát nguyện kết hôn với (tên họ: ... ĐIỀU III: Con nguyện chia xẻ với vợ trong việc săn sóc con cái.).. và chăm nom gia đình. nguyện suốt đời vâng giữ 5 điều sau đây..) ĐIỀU I: Con nguyện luôn luôn tín cẩn và thương yêu vợ. lạy 1 lạy) . xá 1 xá. lâm đàn chứng minh: (1 tiếng chuông. cần cầu con Tỳ kheo Thích. bằng tình thương chân thật. chánh phủ ủng hộ chi ân. phụ mẫu sanh thành chi đức.Chí tâm đảnh lễ... nhứt bái. nhứt bái.... lạy 1 lạy) BẠCH PHẬT Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo. hướng về Phật. chủ lễ tiếp) Ngưỡng khải Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật – nay có Phật tử (tên họ: . chủ lễ làm phép sái tịnh cho cô dâu chú rể). ĐIỀU II: Con nguyện bàn thảo mọi việc với vợ trong tinh thần tôn trọng và hòa thuận. lạy 1 lạy) . chỉ chủ lễ quỳ gối và xướng tiếp:) Như Lai tướng tốt Không thể nghĩ bàn Con nay tác bạch cầu an Cúi xin Phật tổ. (3 lần. sắt cầm duyên hiệp. thiên địa phú tải chi ân. xá 1 xá) NĂM ĐIỀU VỢ ĐỐI VỚI CHỒNG (Cô dâu tay cầm quyển kinh.. Pháp danh:...

cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng. (1 tiếng chuông. ĐIỀU IV: Con nguyện đời đời sống bên nhau. (mỗi câu 3 lần. tất cả thời gian luôn an lành. (1 tiếng chuông) Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. xá 1 xá) ĐIỀU V: Con nguyện sống đời sống hằng ngày sao cho xứng đáng với đạo đức của ông bà. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. bằng tình thương chân thật. ngưỡng mong Bổn sư ban an lành.ĐIỀU I: Con nguyện luôn luôn ân cần và chiều chuộng chồng. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp. tất cả thời gian luôn an lành. (Phát nguyện xong. lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp. (1 tiếng chuông. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. và tiếp nối dòng họ của Tổ Tiên đã đặt kỳ vọng vào con. trí huệ như biển. (1 tiếng chuông. ngày đêm sáu thời luôn an lành. ngưỡng mong Bổn sư ban an lành. và bằng đức tánh kiên nhẫn. TAM QUY Con nương theo Phật. Nam Mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 tiếng chuông) Nguyện ngày an lành đêm an lành. tất cả không ngại. (1 tiếng chuông) Nguyện ngày an lành đêm an lành. bằng trí huệ sáng suốt. tất cả thời gian luôn an lành. 1 tiếng chuông) Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ Tát. ngưỡng mong Bổn sư ban an lành. ĐIỀU III: Con nguyện bảo vệ. ngày đêm sáu thời luôn an lành. lạy 1 lạy) NGHI THỨC LỄ PHẬT ĐẢN (Buddha Jayantì) GỒM CÓ: • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật • Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ • Bài Tụng Khánh Đản • Xưng Tán Hồng Danh • Kinh Bát Nhã Ba La Mật • Tam Quy • Hồi Hướng DÙNG ĐỂ: Cử hành Đại Lễ PHẬT ĐẢN hằng năm.) NGUYỆN AN LÀNH Nguyện ngày an lành đêm an lành. . ĐIỀU II: Con nguyện luôn luôn hòa nhã thảo luận công việc với chồng. ngày đêm sáu thời luôn an lành. chăm lo gia đình một cách chu đáo. phát lòng vô thượng. cô dâu và chú rể trao nhẫn cưới cho nhau. (1 tiếng chuông. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng.

nghiệp chướng tiêu trừ. Chúng con một dạ vui mừng. (1 tiếng chuông. Kính dâng một nén tâm hương. xá 1 xá) CẦU NGUYỆN Nay chính là ngày Đức Thích Tôn giáng thế để hóa độ chúng sanh. cúi đầu đảnh lễ. vị lai thập phương chư Phật.NGHI THỨC LỄ PHẬT ĐẢN (Quì ngay thẳng. (1 tiếng chuông. Lâm Tì Ni Thị Hiện. người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. quyết theo Phật làm lành. (3 lần. đại chúng đồng tụng) - ĐẢNH LỄ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá. chủ lễ mật niệm bài cúng hương. Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. nguyện y lời Phật dạy. Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. mau chứng quả Vô Thượng Bồ Đề. xá 1 xá. cầm 3 cây hương dâng ngang trán. lạy 1 lạy) . ba nghiệp tinh cần. chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. báo đền công ơn hóa độ. Tâm Bồ Đề kiên cố. (1 tiếng chuông. Ta Bà Giáo Chủ. hiện. đứng dậy) KHEN NGỢI PHẬT Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời. Nam Mô Hương cúng dường. căn lành viên mãn. Ngưỡng mong Phật tổ cao vời từ bi gia hộ. cùng pháp giới chúng sanh. 1 tiếng chuông. cúng dường kỷ niệm.) CÚNG HƯƠNG Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ Tâm Bồ Đề kiên cố Xa bể khổ nguồn mê Chóng quay về bờ giác. tụng kinh niệm Phật chuyên cần. chí tu học vững bền.

Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.- Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. lạy 1 lạy) BÀI TỤNG Đệ tử hôm nay Gặp ngày Khánh Đản Một dạ vui mừng Cúi đầu đảnh lễ Thập phương Tam Thế Điều ngự Như Lai Cùng Thánh. Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. (1 tiếng chuông. Nay nhờ Phật Tổ Năng Nhơn Dũ lòng lân mẫn Không nỡ sinh linh thiếu phước Nặng kiếp luân hồi Đêm dày tăm tối Đuốc tuệ rạng soi Nguyện cứu muôn loài Pháp dùng phương tiện Ta Bà thị hiện Thích chủng thọ sanh Thánh Ma Gia mộng ứng điềm lành Vua Tịnh Phạn phước sanh con thảo Ba mươi hai tướng tốt Vừa mười chín tuổi xuân Lòng từ ái cực thuần Chí xuất trần quá mạnh Ngai vàng quyết tránh Tìm lối xuất gia Sáu năm khổ hạnh rừng già Bảy thất nghiêm tinh thiền tọa Chứng thành đạo quả Hàng phục ma binh Ba cõi đều dậy tiếng hoan nghênh . Đại Thế Chí Bồ Tát. Hiền. Tăng Chúng con cùng pháp giới chúng sanh Bởi thiếu căn lành Thảy đều sa đọa Tham. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 tiếng chuông. lạy 1 lạy) - Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. sân chấp ngã Quên hẳn đường về Tình ái si mê Tù trong lục đạo Trăm dây phiền não Nghiệp báo không cùng.

sắc tức là không. Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. tùy theo số người tắm Phật. thân. nên không sợ hãi. Nam Mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ Tát. lạy 1 lạy) . không có nhãn giới. là Vô Thượng Chú. lưỡi. không bớt. phát lòng vô thượng. cho đến không có già chết. không chẳng khác sắc. xa hẳn điên đảo. cũng không có chứng đắc. thức. cũng không có cái hết vô minh. không có khổ. bồ đề tát bà ha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Thức cũng đều như thế. nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. không có thọ. đại chúng đồng tụng) Nam Mô Ta Bà Thế Giới. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. Tưởng. diệt. chân thật không hư. người hớn hở dâng hoa cúng dường Báu thân rực rỡ phi thường Mâu Ni là Đấng Pháp Vương cứu đời.” Vì vậy. ba la yết đế. KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa. tai. ba la tăng yết đế. tập. (Niệm Hồng Danh Đức Bổn Sư nhiều hay ít. yết đế. là Đại Minh Chú. trừ được hết thảy khổ. mộng tưởng. sắc chẳng khác không. không có sắc. Vì không có chỗ chứng đắc. Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. đạt tới cứu cánh Niết Bàn. được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. không có mắt. tưởng. thinh. xúc. không có vô minh. mũi. cho đến không có ý thức giới.Muôn vật thảy nhờ ơn tế độ Chúng con nguyền Dứt bỏ dục tình ngoan cố Học đòi đức tánh quang minh Cúi xin Phật Tổ giám thành Từ Bi gia hộ Chúng con cùng pháp giới chúng sanh Chóng thành Đạo Cả. cũng không có cái hết già chết. Thiên Bá Ức Hóa Thân. không sạch. không thêm. Tứ Sinh Từ Phụ. không có trí huệ. (1 tiếng chuông. nên trong ”chân không”. Ngài soi thấy năm uẩn đều không. không diệt. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. vị. ”Này Ông Xá Lợi Phất. Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.” (1 tiếng chuông) TAM QUY Con nương theo Phật. Nhơn Thiên Giáo Chủ. Hành. dạo. Tam Giới Đạo Sư. Thọ. 1 tiếng chuông). hương. ”tướng không của mọi pháp” không sanh. liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: ”Yết đế. (1 tiếng chuông. không dơ. không có sắc. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú.” ”Này Ông Xá Lợi Phất. Vì không ngăn ngại. tâm không ngăn ngại. ý. qua hết thảy khổ ách. (1 tiếng chuông. pháp. các Hồng Danh sau đây niệm 3 lần. chỉ chủ lễ xướng) XƯNG TÁN HỒNG DANH Thích Ca thị hiện Ta Bà Trời. không tức là sắc. hành. là Vô Đẳng Đẳng Chú.

Khi tụng kinh. xá 1 xá) NGHI THỨC LỄ VU LAN [Kinh Vu Lan Bồn (Ullambana Sùtra)] GỒM CÓ: • Chú Tịnh Pháp Giới. tất cả không ngại. và gương hiếu hạnh của Tôn giả Mục Kiền Liên. chủ lễ mật niệm) CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI Án lam xoa ha. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng. và Tịnh Tam Nghiệp • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật • Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ • Tán Hương cúng Phật • Chú Đại Bi • Kệ Khai Kinh • Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu • Kinh Vu Lan Bồn • Khen Ngợi Đức Mục Kiền Liên • Kinh Bát Nhã Ba La Mật • Chú Vãng Sanh • Niệm Phật • Sám Vu Lan • Hồi Hướng • Phục Nguyện • Tam Quy DÙNG ĐỂ: Tụng niệm trong mùa Vu Lan. chắp tay ngang ngực. (1 tiếng chuông. cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp. lục thân quyến thuộc vân vân. lạy 1 lạy) HỒI HƯỚNG Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả. (3 lần) . NGHI THỨC LỄ VU LAN (Thắp đèn đốt hương. được sớm siêu thăng Phật quốc. trí huệ như biển. đứng ngay ngắn. nhớ lại công ân sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. đa sanh phụ mẫu. Phật tử nên chí thành cầu chư Phật và Hiền Thánh Tăng từ bi gia hộ cho cửu huyền thất tổ. (1 tiếng chuông. cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng.Con nương theo Pháp. (1 tiếng chuông.

cầm 3 cây hương dâng ngang trán. siêu thăng Lạc Quốc. 1 tiếng chuông) KHEN NGỢI PHẬT Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời. Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật. Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (3 lần) (Quì ngay thẳng. đem đức lành chú nguyện chúng sanh. xót thương tiếp độ. Đại Hạnh Phổ . chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. thoát vòng mê muội. vị lai thập phương chư Phật. CÚNG HƯƠNG Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ Tâm Bồ Đề kiên cố Xa bể khổ nguồn mê Chóng quay về bờ giác. (1 tiếng chuông. chủ lễ niệm bài cúng hương). chúng con một dạ chí thành. cùng tất cả chúng sanh. xá 1 xá) CẦU NGUYỆN Hôm nay là ngày chư Tăng xuất hạ.CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP Án ta phạ bà phạ. Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo tác đại chứng minh. hiện. Ngưỡng mong oai đức cao dày. ngưỡng nguyện Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. cùng các vị Bồ Tát. xin đem công đức nầy. truật đà ta phạ. người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật. tịnh đức chúng Tăng từ bi gia hộ cho hương linh Phật tử:…. sớm rõ đường lành. đại chúng đồng tụng) - ĐẢNH LỄ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá. (1 tiếng chuông. (3 lần. thiết lễ hương hoa cúng dường và trì tụng kinh chú. 1 tiếng chuông. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. đạt mạ ta phạ. (3 lần. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. ra khỏi u đồ. bà phạ truật độ hám.

thất Phật ra da. dá ra dá ra. ma ra ma ra. na ra cẩn trì. tiếng chuông. (3 lần. tát bà tát bà. (3 lần. Tất đà dạ. bạt đà dạ. mạn đa ra. Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. ta bà ha. Khắp xông pháp giới. ma hê ma hê rị đà dựng. ta bà ha. Thế Tôn an trụ Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung Chư Tăng câu hội rất đông Tính ra đến số hai muôn tám ngàn Lại cũng có các hàng Bồ Tát Hội tại đây đủ mặt thường thường. di hê rị. Ma bà lị thắng kiết ra dạ. Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu. ta bà ha. na ma bà dà. Na ra cẩn trì. lạy 1 lạy) (1 Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. ma ha ca lô ni ca da. ma ha phạt xà da đế. ma ha tát đỏa bà da. Án. ta bà ha. Nam mô na ra cẩn trì. Tất đà du nghệ. Pháp thân ảnh hiện rành rành. Bây giờ. Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. hô lô hô lô ma ra. Phật lại lên đường - . ta bà ha. Nam mô a rị da. bồ đề dạ bồ đề dạ. Ma ha tất đà dạ. ta bà ha. thất bàn ra dạ. Tất ra tăng a mục khê da. ta bà ha. số đát na đát tỏa. ta bà ha. tát bà a tha đậu thâu bằng. Phật ra xá da. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. lạy 1 lạy) TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT Lư hương vừa ngún chiên đàn. Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thành. Nam mô a rị da. Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. di đế rị dạ. tát bàn ra phạt duệ. y hê di hê. địa rị ni. na ma bà tát đa. bồ đà dạ bồ đà dạ. a ra sâm Phật ra sá lợi. Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. hô lô hô lô hê rị. Đại Thế Chí Bồ Tát.Hiền Bồ Tát. bà lô kiết đế thước bát ra da. tát bà tát đa. ta bà ha. ma ha bồ đề tát đỏa. mục đế lệ. Con nay nghe thấy chuyên trì niệm. Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát. đạo tràng mười phương. hê rị ma ha bàn đa sa mế. lô ca đế. ta ra ta ra. Mạ mạ phạt ma ra. bà lô kiết đế. Án tất điện đô. ta bà ha. ca ra đế. cu lô cu lô kiết mông. Ta bà ma ha a tất đà dạ. bồ đề tát đỏa bà da. xá 1 xá) Phật nói KINH BÁO HIẾU PHỤ MẪU Một thuở nọ. ma phạt đạt đậu. Ba đà ma kiết tất đà dạ. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Án a bà lô hê. Chứng minh hương nguyện. (1 tiếng chuông. (3 lần. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. a thệ dựng. địa rị sắc ni na. Quyện thành mây báu kiết tường. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. tất rị tất rị. 1 tiếng chuông. ta bà ha. độ lô độ lô phạt xà da đế. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. tô rô tô rô. ba dạ ma na. đà ra đà ra. (1 tiếng chuông) KỆ KHAI KINH Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu. 1 tiếng chuông) CHÚ ĐẠI BI Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. phạt sa phạt sâm. ta bà ha. thất na thất na. thước bàn ra dạ. tâm thành kính dâng. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. Ma ra na ra. ta bà ha. 1 tiếng chuông) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. đát điệt tha.

bốn đấu sữa hòa nuôi con Vì cớ ấy hao mòn thân thể . tử sinh Lục thân đời trước thi hài còn đây Ta lễ bái kính người tiền bối Và ngậm ngùi nhớ tới kiếp xưa Đống xương hỗn tạp chẳng vừa Không phân trai gái bỏ bừa khó coi Ngươi chịu khó xét soi cho kỹ Phân làm hai. Đức A Nan tủi lòng ái ngại Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương? Vội vàng xin Phật dạy tường Thầy là Tự Phụ ba phương. Ngươi có biết cớ chi đen nhẹ? Bởi đàn bà sinh đẻ mà ra Sanh con ba đấu huyết ra Tám hộc. bên nữ bên nam Để cho phân biệt cốt phàm Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng Đức A Nan trong lòng tha thiết Biết làm sao phân biệt khỏi sai Ngài bèn xin Phật chỉ bày Khó lòng chọn lựa gái trai lúc này Còn sinh tiền dễ bề sắp đặt Cách đứng đi ăn mặc phân minh Đến khi rã xác tiêu hình Xương ai như nấy khó nhìn khó phân Phật mới bảo A Nan nên biết: (1 tiếng chuông) Xương nữ nam phân biệt rõ ràng Đàn ông xương trắng nặng hoằng Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn. bốn loài Ai ai cũng kính Thầy dường ấy Cớ sao Thầy lại lạy xương khô? Phật rằng: trong các môn đồ Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công Bởi chưa biết đục trong cho rõ Nên vì ngươi ta rõ đuôi đầu: (1 tiếng chuông) Đống xương dồn dập bấy lâu Cho nên trong đó biết bao cốt hài Chắc cũng có ông bà cha mẹ Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sinh Luân hồi sanh tử. rành rành mắt thấy Núi xương khô bỏ đấy lâu đời Thế Tôn bèn vội đến nơi Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng.Cùng hàng đại chúng Nam phương tiến hành Đến giữa đường.

lóng nghe Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc Sanh đặng con mười tháng cưu mang Tháng đầu thai đậu tợ sương Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường Tháng thứ nhì dường như sữa đặc Tháng thứ ba như cục huyết ngưng Bốn tháng đã tượng ra hình Năm tháng ngũ thể hiện sinh rõ ràng Tháng thứ sáu lục căn đều đủ Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương Lại thêm đủ lỗ chơn lông Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ Chín tháng thì đầy đủ vóc hình Mười tháng thì đến kỳ sinh Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu Nó vẫy vùng. Thứ sáu – sú nước nhai cơm Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê. Điều thứ ba – thâm ân nuôi dưỡng Cực đến đâu bền vững chẳng lay. Thứ tám . sự khổ không cùng tỏ phân Khi sinh sản muôn phần an lạc Cũng ví như được bạc. Điều thứ năm . khô ráo phần con.giữ gìn thai giáo Mười tháng trường châu đáo mọi bề. Thứ hai – sinh sản gớm ghê Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần.Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai A Nan nghe vậy bi ai Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo Phương pháp nào báo hiếu song thân? Thế Tôn mới giảng ân cần: (1 tiếng chuông) Vì ngươi ta sẽ phân trần. Thứ tư – ăn đắng nuốt cay Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con. được vàng Thế Tôn lại bảo A Nan: (1 tiếng chuông) Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin Điều thứ nhứt .lại còn khi ngủ Ướt mẹ nằm.chẳng nỡ chia riêng . Điều thứ bảy – không chê ô uế Giặt đồ dơ của trẻ không phiền. đạp quấu lung tung Làm cho cha mẹ hãi hùng Sự đau.

Con ốm đau tức thì lo chạy Dầu tốn hao đến mấy cũng đành Khi con căn bệnh đặng lành Thì cha mẹ mới an thần định tâm. Mẹ sanh con cưu mang mười tháng Cực khổ dường gánh nặng trên vai Uống ăn chẳng đặng vì thai Cho nên thân thể hình hài kém suy. Phật lại bảo. A Nan nên biết: (1 tiếng chuông) Trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người Mười phần mê muội cả mười Không tường ơn trọng đức dày song thân Chẳng kính mến quên ơn trái đức Không xót thương dưỡng dục cù lao Ấy là bất hiếu mặc giao Những hạng người ấy đời nào nên thân. Điều thứ mười . bùi.chẳng ham trau chuốt Dành cho con các cuộc thanh nhàn Thương con như ngọc như vàng Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn. cay. Công dưỡng dục sánh bằng non biển . bị giam. Điều thứ chín .miễn cho con sướng Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam Tính sao có lợi thì làm Chẳng màng tội lỗi. con nằm phía ráo Sợ cho con ướt áo. Trọn ba năm bú nương sữa mẹ Thân gầy mòn nào nệ với con Khi con vừa được lớn khôn Cha mẹ dạy bảo cho con vỡ lòng Con đi học mở thông trí tuệ Dựng vợ chồng cho dễ làm ăn Ước mong con được nên thân Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi. bị cầm. ngọt phần con Phải tắm phải giặt rửa trôn Biết rằng dơ dáy. mẹ không ngại gì. mẹ lo. Nằm phía ướt. Con còn nhỏ lo toan chăm sóc Ăn đắng. Khi sinh sản hiểm nguy chi xiết Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề Ví như thọc huyết trâu dê Nhất sinh thập tử nhiều bề gian nan. ướt chăn Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân Ắt con phải chịu trăm phần thảm thương.Nếu con đi vắng cha phiền.

Hay tin dữ bà con cô bác Cùng mẹ cha xao xác buồn rầu Thương con than khóc ưu sầu Có khi mang bịnh đui mù vấn vương Hoặc bịnh nặng vì thương quá lẽ Phải bỏ mình làm quỉ giữ hồn Hoặc nghe con chẳng lo lường Trà đình tửu điếm phố phường ngao du Cứ mải miết con đường bất chính Chẳng mấy khi thần tỉnh mộ khan Làm cho cha mẹ than van . hoặc là bài bạc Phạm tội hình. tù rạc phải vương Hoặc khi mang bệnh giữa đường Không người nuôi dưỡng. lại bày ngỗ ngang Hỗn cha mẹ phùng mang trợn mắt Khi trưởng huynh. Ấy là nói những người có chí Chớ phần nhiều du hí mà thôi Sau khi phá hết của rồi Phải tìm phương kế kiếm đôi đồng xài. quên mẹ tình thâm Quê hương xứ sở lâu năm không về. Theo trộm cướp. Vì lỗ mãng tánh quen làm bướng Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn Lớn lên theo thói hung hăng Đã không nhẫn nhịn. Lời dạy bảo song đường không kể Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng Trái ngang chóng báng mọi đàng Ra vào lui tới mắng càn người trên. bỏ thân ngoài đồng.Cớ sao con chẳng biết ơn nầy Hoặc khi lầm lỗi bị rầy Chẳng tuân thì chớ. tìm kế sinh nhai Hoặc đi buôn bán kiếm lời Hoặc vào quân lính với đời lập công. Vì ràng buộc đồng công mối nợ Hoặc trở ngăn vì vợ. lại càng làm hung. Bỏ bạn lành. vì con Quên cha. theo cùng chúng dữ Nết tập quen. nộ nạt thê nhi Bà con chẳng kể ra chi Không tuân sư phụ lễ nghi chẳng tường. Trước còn tập theo thời theo thế Thân lập thân. làm sự trái ngang Nghe lời dụ dỗ huyênh hoang Bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người.

bỏ liều chẳng thương. dễ khiến hơn là nam nhi. chẳng sá bên mình Trước còn lai vãng đến thăm Lần lần nguội lạnh biệt tăm biệt nhà. Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ Nói không cùng nghiệp dữ phải mang Nghe Phật chỉ rõ mọi đàng Tất cả đại chúng lòng càng thảm thay. vào hông Làm cho các lỗ chân lông Thảy đều rướm máu ướt dầm cả thân Đến hôn mê tâm thần bất định Một giây lâu mới tỉnh than rằng: Bọn ta quả thật tội nhân Xưa nay chẳng rõ. Gieo xuống đất. Trước Phật tiền ai cầu trấn tố Xin Thế Tôn mẫn cố bi lân Làm sao báo đáp thâm ân Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình? Phật bèn dùng phạm thinh sáu món Phân tỏ cùng đại chúng lóng nghe Ân cha. Quên dưỡng dục song thân ân trọng Không nhớ công mang nặng đẻ đau Chẳng lo báo bổ cù lao Làm cho cha mẹ tuôn trào lệ rơi. nghĩa mẹ nặng nề Không phương báo đáp cho vừa sức đâu. Nếu mẹ cha la rầy quở mắng Trở sanh lòng hờn giận chẳng kiên Đến khi chồng đánh liên miên Thì cam lòng chịu chẳng phiền chẳng than. lấy cây lấy củi Đập vào mình. Ví có người ân sâu dốc trả . vào mũi. Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc Ruột gan dường như nát như tan Tội tình khó nỗi than van Làm sao trả đặng muôn ngàn ân sâu. không hơn người mù. Song đến lúc tùng phu xuất giá Lo bên chồng.Sinh con bất hiếu phải mang tiếng đời. Phận con gái khi nương cha mẹ Còn có lòng hiếu để thuận hòa Cần lao phục dịch trong nhà Dễ sai. Hoặc cha mẹ đến hồi già yếu Không ai nuôi thốn thiếu mọi điều Ốm đau đói rách kêu rêu Con không cấp dưỡng.

Ví có người vì công dưỡng dục Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan Làm cho thân thể tiêu tan Đến trăm ngàn kiếp chưa ngang ơn nầy. Ví có người cầm dao thiệt bén Mổ bụng ra rút hết tâm can Huyết ra khắp đất chẳng than Đến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng. Nghe Phật nói thảy đều kinh khủng Giọt lệ trần khó nỗi cầm ngăn Đồng thanh bạch với Phật rằng Làm sao trả đặng thâm ân song đường? Phật mới bảo các hàng Phật tử: (1 tiếng chuông) Phải lắng nghe ta chỉ sau nầy Chúng ngươi muốn đáp ơn dày Phải nên biên chép kinh đây lưu truyền. chẳng chừa món chi. thịt nát chẳng phiền Đến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng. Ví có người gặp cơn đói rét Nuôi song thân dâng hết thân nầy Xương nghiền thịt nát phân thây Trải trăm ngàn kiếp ân đây chưa đồng. Vì cha mẹ trì chuyên phúng tụng Cùng ăn năn những tội lỗi xưa Cúng dường Tam Bảo sớm trưa Cùng là tu phước. cúng Phật thế đèn Cứ treo như vậy trọn năm Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền Ví có người xương nghiền ra mỡ Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình Xương tan. Ví có người vì công sanh dưỡng Tự tay mình khoét thủng song ngươi Chịu thân mù tối như vầy Đến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đâu. Rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ Mười phương Tăng đều dự lễ nầy Sắm sanh lễ vật đủ đầy . Ví có người dùng ngàn mũi nhọn Đâm vào mình bất luận chỗ nào Tuy là sự khó biết bao Trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền Ví có người vì ân dưỡng dục Tự treo mình.Cõng mẹ cha tất cả hai vai Giáp vòng hòn núi Tu Di Đến trăm ngàn kiếp ân kia chưa vừa.

Nhứt là phải kinh nầy biên chép .Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng Đặng cầu nguyện song đường trường thọ Hoặc sanh về Tịnh Độ an nhàn Ấy là báo đáp thù ân Sanh thành dưỡng dục song thân của mình. Một vá đủ cho người thọ khổ Lột thịt da đau thấu tâm can Lại còn chó sắt cắn gang Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhân. Trong ngục nầy hằng ngày lửa cháy Đốt tội nhân hết thảy thành than Có lò nấu sắt cho tan Rót vào trong miệng tội nhân hành hình. bị đày vào ngục Ngũ Vô gián cũng gọi A Tỳ Ngục nầy trong núi Thiết Vi Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề. thật là trọng thay. Móc bằng sắt thương đao gươm giáo Trên không trung đổ xuống như mưa Gặp ai chém nấy chẳng chừa Làm cho thân thể như dưa chín muồi. Nếu chết được. phân trần ở trên. Những hình phạt vô phương kể hết Mỗi ngục đều có cách trị riêng Như là xe sắt phân thây Chim ưng mổ bụng trâu cày lưỡi le. chết liền cho đỡ Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân Ngày đêm sống chết muôn lần Đến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây. Ở trong ngục có giường bằng sắt Bắt tội nhơn nằm khắp đó xong Rồi cho một ngọn lửa hồng Nướng quay chúng nó da phồng thịt thau. Phật tử phải cần chuyên trì giới Pháp Tam Quy. ngũ giới giữ gìn Những lời ta dạy đinh ninh Phải nên vâng giữ thi hành đừng sai. Được như vậy mới là khỏi tội Bằng chẳng thì ngục tối phải sa Trong năm đại tội kể ra Bất hiếu thứ nhứt. Sự hành phạt tại A Tỳ ngục Rất nặng nề ngỗ nghịch song thân Chúng ngươi đều phải ân cần Thừa hành lời dạy. Sau khi chết.

Nếu in đặng nghìn muôn quyển ấy Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên Tùy theo phước báo lưu truyền Chư Phật ủng hộ sở nguyền viên dung. Sau khi Phật dạy đành rành Bốn hàng Phật tử tâm thành vui theo. (3 lần.Truyền bá ra cho khắp Đông Tây Như ai chép một quyển nầy Cũng bằng đặng thấy một vì Thế Tôn. 1 tiếng chuông) PHẬT NÓI KINH VU LAN BỒN Một thuở nọ Thế Tôn an trụ Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung Mục Liên mới đặng sáu thông Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân. Lại phát nguyện dù thân nầy nát Ra bụi tro muôn kiếp chẳng nài Dầu cho kéo lưỡi trâu cày Đến trăm ngàn kiếp lời thầy không quên Ví như bị trăm ngàn dao mác Khắp thân nầy bằm nát như tương Trải trăm ngàn kiếp khôn lường Chúng con gìn giữ như phương thuốc mầu. Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát. Cùng một lòng vâng lời Phật dạy Và kính thành tin chắc vẹn truyền Đồng nhau tựu lại Phật tiền Nhất tâm đảnh lễ. Đức A Nan âu sầu đảnh lễ Cầu Thế Tôn đặt để hiệu kinh Dễ bề truyền bá chúng sanh Chuyên trì phúng tụng tu hành mai sau. Cha mẹ đặng xa miền khốc lãnh Lại hóa sanh về cảnh thiên cung Nghe lời Phật giảng vừa xong Khắp trong tứ chúng một lòng kính vâng. Công dưỡng dục thâm ân dốc trả Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền Làm con hiếu hạnh vi tiên Bèn dùng huệ nhãn dưới trên kiếm tìm. . rồi liền lui ra. Các ngươi phải giữ gìn châu đáo Để đời sau y giáo phụng hành. Phật mới bảo A Nan nên biết : Quyển kinh nầy quả thiệt cao xa Đặt tên « BÁO HIẾU MẸ CHA » Cùng là ‘ÂN TRỌNG’ thật là chơn kinh.

Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu Đặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu Thấy cơm mẹ rất lo âu Tay tả che đậy. Chư Đại đức mười phương thọ thực Trong bảy đời sẽ được siêu thăng Lại thêm cha mẹ hiện tiền Đặng nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn. hữu hầu bốc ăn. đèn đuốc. nhang. Phật mới bảo rõ ràng căn cội (1 tiếng chuông) Rằng mẹ ngươi gốc tội kết sâu Dầu ngươi thần lực nhiệm mầu Một mình không thể khấn cầu được đâu. nuốt mà được đâu. bốn vì Thiên Vương Cộng ba cõi sáu phương tu tập Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi Muốn cho cứu được mạng người Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng. Lại phải sắm giường nằm nệm lót Cùng thau. Thấy như vậy âu sầu thê thảm Mục Kiền Liên bi thảm xót thương Mau mau về chốn giảng đường Bạch cùng Sư Phụ tìm phương giản nàn. Pháp cứu tế ta toan giảng nói Cho mọi người thoát khỏi ách nàn Bèn kêu Mục thị đến gần Truyền cho diệu pháp ân cần thiết thi : Rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ (1 tiếng chuông) Mười phương Tăng đều dự lễ này Phải toan sắm sửa chớ chầy Thức ăn trăm món. trái cây năm màu. bồn.Thấy vong mẫu sanh làm ngạ quỷ Không uống ăn tiều tụy hình hài Mục Liên thấy vậy bi ai Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm. Lòng hiếu thảo của ngươi dầu lớn Tiếng vang đồn thấu đến Cửu Thiên Cùng là các bực Thầy kỳ Tà ma ngoại đạo. Lòng bỏn xẻn tiền căn chưa dứt Sợ chúng ma cướp giựt của bà Cơm đưa chưa đến miệng đà Hóa thành lửa đỏ. dầu Món ăn trong sạch báu mầu Đựng trong bình bát vọng cầu kính dâng. Vì ngày ấy Thánh Tăng đều đủ Dầu ở đâu cũng hội tụ về .

Mục Liên bạch với Phật rằng : (1 tiếng chuông) Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn . Như còn cha mẹ hiện tiền Nhờ đó cũng được bá niên thọ trường. Phàm Đồng lòng thọ lãnh bát cơm lục hòa Người nào có sắm ra vật thực Để cúng dường Tự Tứ Tăng thời Hiện tiền phụ mẫu của người Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn. rất tịnh Đạo đức dày chánh định chơn tâm Tất cả các bực Thánh.Như người thiền định sơn khê Tránh điều phiền não chăm về thiền na Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả Công tu hành nguyện thỏa vô sanh Hoặc người thọ hạ kinh hành Chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tòng Hoặc người được lục thông tấn phát Và những hàng Duyên Giác. Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên. Như cha mẹ bảy đời quá vãng Sẽ hóa sanh về cõi thiên cung Người thời tuấn tú hình dung Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu thân. nên an vật thực Trước Phật đài hoặc tự tháp trung Chư Tăng chú nguyện viên dung Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt Mục Liên cùng Bồ Tát chư Tăng Đồng nhau tỏ dạ vui mừng Mục Liên cũng hết khóc thương buồn rầu Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan. Thinh Văn Hoặc chư Bồ Tát mười phương Hiện hình làm sãi ở gần chúng sanh Đều trì giới rất thanh. Phật dạy bảo mười phương tăng chúng Phải tuân theo thể thức sau nầy : (1 tiếng chuông) Trước khi thọ thực đàn chay Phải cầu chú nguyện cho người tín gia Cầu thất thế mẹ cha thí chủ Định tâm thần quán đủ đừng quên Cho xong định ý hành thiền Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dưng Khi thọ dụng.

chúng Tăng cúng dường Đặng cầu nguyện song đường trường thọ Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi Cùng cầu thất thế đồng thời Lìa nơi ngạ quỷ. (1 tiếng chuông) KHEN NGỢI ĐỨC MỤC KIỀN LIÊN Mục Liên Tôn Giả Thay Phật tuyên hành Gậy vàng vừa gõ .Lại cùng nhờ oai thần Tam Bảo Nếu không thời nạn khổ khó ra Như sau Phật tử xuất gia Vu Lan Bồn pháp dùng mà độ sanh Độ cha mẹ còn đương tại thế Hoặc bảy đời có thể được không ? Phật rằng : Lời hỏi rất thông Ta vừa muốn nói. Đại thần Tam Công. Thiện nam tử. Bá quan Cùng hàng lê thứ vạn dân cõi trần Như chí muốn đền ơn cha mẹ Hiện tại cùng thất thế tình thâm Đến rằm tháng bảy mỗi năm Sau khi kiết hạ. ngươi liền hỏi theo. Tỳ kheo nam nữ Cùng Quốc vương. Lễ cứu tế chí thành sắp đặt Ngõ cúng dường chư Phật chư Tăng Ấy là báo đáp thù ân Sanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu. Đệ tử Phật lo âu gìn giữ Mới phải là Thích tử Thiền môn. chư Tăng tựu về Chính ngày ấy Phật đà hoan hỷ Phải sắm sanh bá vị cơm canh Đựng trong bình bát tinh anh Chờ giờ Tự Tứ. Vừa nghe dứt pháp Lan Bồn Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan Mục Liên với bốn ban Phật tử Nguyện một lòng tín sự phụng hành. thiên Đặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp Lại xa lìa nạn khổ cực thân Môn sanh Phật tử ân cần Hạnh tu hiếu thuận phải cần phải chuyên Thường cầu nguyện thung huyên an hảo Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sanh Ngày rằm tháng bảy mỗi năm Vì lòng hiếu thảo ân thâm phải đền. Thái tử. Tể tướng. sanh về nhơn.

Vô số Bồ Tát hiện ở trong. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. không dơ. Vì không ngăn ngại. là Đại Minh Chú. không có sắc. (3 lần. 1 tiếng chuông) KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa. cho đến không có già chết. Ở phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh. pháp. xúc. tai. a di rị đa. hào quang sáng ngời. Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: ”Yết đế. nên trong ”chân không”. ”tướng không của mọi pháp” không sanh. qua hết thảy khổ ách. Mày trắng tỏa. bồ đề tát bà ha. tâm không ngăn ngại. 1 tiếng chuông) NIỆM PHẬT A Di Đà Phật thân sắc vàng.” ”Này Ông Xá Lợi Phất.” (1 tiếng chuông) CHÚ VÃNG SANH Nam mô a di đa bà dạ. đạt tới cứu cánh Niết Bàn. không sạch. sắc tức là không. bốn biển long lanh. dà dà na. tất đam bà tỳ. 1 tiếng chuông) Nam Mô A Di Đà Phật. cũng không có chứng đắc. không bớt. a di rị đô. không thêm. không chẳng khác sắc. Tướng tốt rực rỡ. Ánh hào quang hóa vô số Phật. tỳ ca lan đế. Vì không có chỗ chứng đắc. yết đế. thức. cũng không có cái hết vô minh. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú. a di rị đa. Tu Di uyển chuyển. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. bà tỳ. diệt. thân. tưởng. Chín phẩm sen vàng lên giải thoát. không diệt. Hành. không tức là sắc. chỉ đa ca lệ. vị. nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. ba la yết đế. ta bà ha. là Vô Đẳng Đẳng Chú. cho đến không có ý thức giới. ba la tăng yết đế. mũi. dạo. (1 tiếng chuông) Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (mỗi câu 3 lần. nên không sợ hãi. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. không có khổ. xa hẳn điên đảo. tập.” Vì vậy. không có trí huệ. dà di nị. được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. không có sắc. (3 lần. Tưởng. hành. chân thật không hư. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. a di rị đa. Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát. không có nhãn giới. trừ được hết thảy khổ. ý. đa địa dạ tha. mộng tưởng. Thọ. Ngài soi thấy năm uẩn đều không. cũng không có cái hết già chết. không có vô minh. . hương. thinh. là Vô Thượng Chú. đa tha dà đa dạ. Thức cũng đều như thế. Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh. sắc chẳng khác không. ”Này Ông Xá Lợi Phất. Qui mạng lễ A Di Đà Phật. Mắt trong ngần. tỳ ca lan đa. không có thọ. lưỡi. không có mắt.Cửa ngục băng thanh Tội nhơn giải thoát Tịnh Độ hóa sinh Phúc huệ mãi an lành.

SÁM VU LAN Đệ tử chúng con Vâng lời Phật dạy Ngày rằm tháng bảy Gặp hội Vu Lan Phạm Vũ huy hoàng Đốt hương đảnh lễ Mười phương tam thế Phật. Pháp.Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. Hiền Noi gương đức Mục Kiền Liên Nguyện làm con thảo (1 tiếng chuông) Lòng càng áo não Nhớ nghĩa thân sanh Con đến trưởng thành Mẹ dày đau khổ Ba năm nhũ bộ Chín tháng cưu mang Không ngớt lo toan Quên ăn bỏ ngủ Ấm no đầy đủ Cậy có công cha Chẳng quản yếu già Sanh nhai lam lũ Quyết cùng hoàn vũ Phấn đấu nuôi con Giáo dục vuông tròn Đem đường học đạo Đệ tử ơn sâu chưa báo Hổ phận kém hèn Giờ này quỳ trước đài sen Chí thành cung kính Đạo tràng thanh tịnh Tăng Bảo trang nghiêm Hoặc thừa tự tứ Hoặc hiện tham thiền Đầy đủ thiện duyên Dũ lòng lân mẫn Hộ niệm cho: (1 tiếng chuông) Bảy kiếp cha mẹ chúng con Đượm nhuần mưa Pháp Còn tại thế: Thân tâm yên ổn Phát nguyện tu trì Đã qua đời: Ác đạo xa lìa . Thánh.

Âm siêu dương thới. thấy Phật. (3 lần. cứu đời lầm than. Nguyện cho ba chướng tiêu tan Phiền não dứt sạch. pháp thân hiện Di Đà thọ ký. lạy 1 lạy) NGHI THỨC TỤNG KINH DƯỢC SƯ (Bhaisajayaguru Sùtra) GỒM CÓ: . tất cả không ngại. Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả.Chóng thành Phật quả Ngưỡng mong các đức Như Lai Khắp cõi hư không Từ bi gia hộ. cõi Lạc Bang Cha mẹ. Nguyện hương linh: .. đồng niệm) Nam Mô A Di Đà Phật. nay được an lành. (1 tiếng chuông. sáu đường dốc ngược đèo ngang. trí huệ như biển. xá 1 xá) Xe Tam Thừa lộng lẫy. chỉ chủ lễ phục nguyện) PHỤC NGUYỆN Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Tát Đại Chứng Minh. TAM QUY Con nương theo Phật. Thuyền Bát Nhã thênh thang. (1 tiếng chuông. quả viên thành Các vị Bồ Tát bạn lành với ta. phát lòng vô thượng. vượt qua bể khổ. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông) HỒI HƯỚNG Cầu siêu công đức. pháp giới chúng sanh. huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời Hành Bồ Tát đạo. hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sanh trong pháp giới Hướng về Phật Pháp tỏ đạo mầu. cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng. nghe kinh kệ siêu thăng Tịnh Độ.. (1 tiếng chuông. lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. thảm nỗi oan khiên lắm lúc. đồng thành Phật quả. hương linh không đủ phước vãng sanh. 1 tiếng chuông. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng. ba cõi sông mê lặn hụp. sen vàng chín phẩm nở hoa. (1 tiếng chuông. thoát khỏi Ta Bà. Nguyện sanh Tây Phương. sen vàng chín phẩm sanh Hoa nở. cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp.

bà phạ truật độ hám. hay bị bùa chú ếm đối vân vân. (3 lần. và Tịnh Tam Nghiệp • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật • Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ • Tán Dương Chi • Chú Đại Bi • Kệ Khai Kinh • Kinh Dược Sư • Chú Dược Sư Quán Đảnh • Kinh Bát Nhã Ba La Mật • Niệm Phật • Sám Dược Sư • Hồi Hướng • Phục Nguyện • Tam Quy DÙNG ĐỂ: Cầu nguyện cho những người đau liệt giường liệt chiếu. người đó thành tâm tụng Kinh Dược Sư. tu hành công đức. CÚNG HƯƠNG Giới Hương. và Huệ Hương Giải Thoát. đứng ngay ngắn. 1 tiếng chuông) CẦU NGUYỆN Hôm nay. phụng trì di giáo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. xưng tán Hồng Danh. đệ tử chúng con. cầm 3 cây hương dâng ngang trán. Vì nhiều điều lợi lạc vừa kể trên. Hơn nữa. từ bi gia hộ cho (tên họ…). (1 tiếng chuông. xa lìa khổ ách. hay những bệnh nan y.• Chú Tịnh Pháp Giới. trì tụng Dược Sư Kinh chú. và cầu nguyện Đức Dược Sư. đạt mạ ta phạ. chiếu khắp mười phương Hiện tiền Tam Bảo. (3 lần) (Quì ngay thẳng. Năm Hương cúng dường. thuốc men không thể chữa trị. chủ lễ mật niệm) CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI Án lam xoa ha. chắp tay ngang ngực. đương đời phiền não dứt sạch. ngưỡng nguyện mười phương Tam Bảo. Tri Kiến Hương Sáng ngời. xá 1 xá) KHEN NGỢI PHẬT . NGHI THỨC TỤNG KINH DƯỢC SƯ (Thắp đèn đốt hương. Định Hương. thường được an lành. Ngài sẽ phò hộ cho. người hay chiêm bao thấy những cảnh tượng rùng rợn. chủ lễ niệm bài cúng hương). (3 lần) CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP Án ta phạ bà phạ. nên kinh nầy thường được tụng vào mỗi đầu năm. bệnh nhân sẽ được khỏi. cùng hết thảy chúng sanh. truật đà ta phạ. một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát. Giải Thoát. nghiệp chướng tiêu trừ. nếu gia đình người bệnh thành tâm tụng kinh nầy.

ma ha bồ đề tát đỏa. (3 lần. ma ra ma ra. 1 tiếng chuông) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. số đát na đát tỏa. đại chúng đồng tụng) - ĐẢNH LỄ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá. lạy 1 lạy) TÁN DƯƠNG CHI Cành dương nước tịnh nhiệm mầu Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau Chư Thiên mát mẻ. Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. lô ca đế.Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời. Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. hô lô hô lô ma ra. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. bồ đề tát đỏa bà da. bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. (1 tiếng chuông. Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. 1 tiếng chuông) CHÚ ĐẠI BI Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. thất na thất na. Phật ra xá da. độ lô độ lô phạt xà da đế. mục đế lệ. hiện. Án. ta ra ta ra. tát bà a tha đậu thâu bằng. ma hê ma hê rị đà dựng. (3 lần. Án a bà lô hê. (1 tiếng chuông. ma ha phạt xà da đế. cảnh an nhàn Cam lồ rưới khắp trần gian Lửa sân dứt sạch. ma ha ca lô ni ca da. (1 tiếng chuông. dá ra dá ra. ca ra đế. a thệ dựng. (1 tiếng chuông. ma ha tát đỏa bà da. a ra sâm Phật ra sá lợi. cu lô cu lô kiết mông. tát bà tát bà. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. tát bàn ra phạt duệ. địa rị ni. Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. thất Phật ra da. tâm thanh tịnh Nhân thế vui tươi. na ma bà dà. Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. Mạ mạ phạt ma ra. phạt sa phạt sâm. sen vàng nở hoa. Đại Thế Chí Bồ Tát. vị lai thập phương chư Phật. bà lô kiết đế thước bát ra da. đà ra đà ra. ma phạt đạt đậu. tát bà tát đa. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. tô rô tô rô. Nam mô a rị da. hô lô hô lô hê rị. người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật. chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Nam mô na ra cẩn trì. na ma bà tát đa. đát điệt tha. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. - . Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. di hê rị. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. y hê di hê. tất rị tất rị. hê rị ma ha bàn đa sa mế.

ông Mạn Thù Thất Lợi pháp vương tử nhờ oai thần của Phật. lợi ích an vui trong đời tượng pháp. ta bà ha. khi chứng được quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác. cách đây hơn mười căn dà sa. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Ma ra na ra. Con nay nghe thấy chuyên trì niệm. Án tất điện đô. Trời. các hàng Quốc Vương. tỏ hơn vừng nhật nguyệt. cung kính thỉnh Ngài thuyết pháp. khi đặng Đạo Bồ Đề. ta sẽ vì Ông mà nói. ta bà ha. muốn đi đến chỗ nào để làm nên sự nghiệp. chắp tay hướng về Phật và bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. bạt đà dạ. tinh sạch hoàn toàn. Người. Ma ha tất đà dạ. tâm trí được mở mang. thân ta như ngọc lưu ly. Thế Gian Giải. ta bà ha. ta bà ha. ta bà ha. để cho những người đang nghe Pháp. cùng những công đức thù thắng của chư Phật. ba dạ ma na. khi còn tu hạnh Bồ Tát có phát mười hai nguyện lớn. ba vạn sáu ngàn vị đại Bồ Tát. na ra cẩn trì. mạn đa ra. chiếu khắp vô số thế giới. Phật. (3 lần. địa rị sắc ni na. ta bà ha. vì muốn cho chúng hữu tình khỏi bị nghiệp chướng ràng buộc. khiến cho chúng hữu tình đều có đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi tướng phụ như thân của Ta vậy. ta bà ha. cả thảy đồng vây quanh Phật. trong ngoài sáng suốt. Nầy Mạn Thù Thất Lợi: “Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. ta bà ha. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Minh Hạnh Viên Mãn. Vô Thượng Sĩ. vén áo bên hữu và gối bên mặt quì sát đất. Thiện Thệ. cùng với tám ngàn vị đại Bí Sô. Mạn Thù Thất Lợi! Ngươi lấy lòng đại bi yêu cầu ta nói danh hiệu và bổn nguyện công đức của chư Phật. Điều Ngự Trượng Phu.bồ đề dạ bồ đề dạ. Tất ra tăng a mục khê da. Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu. (1 tiếng chuông) KỆ KHAI KINH Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu. Nam mô a rị da.” (1 tiếng chuông) Nguyện thứ nhất: “Ta nguyện đời sau. ta bà ha. công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng.” Nầy Ông Mạn Thù Thất Lợi: “Ở phương Đông. Bạt Già Phạm. ánh quang minh chói lọi khắp nơi. (1 tiếng chuông) Lúc bấy giờ.” . không có chút nhơ bợn. những bổn nguyện rộng lớn. Thiên Nhân Sư. ta bà ha.” Đức Thế Tôn khen Ông Mạn Thù Thất Lợi: “Hay thay. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. bồ đà dạ bồ đà dạ. đến thành Quảng Nghiêm. Tất đà du nghệ. thất bàn ra dạ. Chúng sanh trong cõi U minh đều nhờ ánh sáng ấy. 1 tiếng chuông) PHẬT NÓI KINH DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC Ta nghe như vầy: một thuở nọ. thước bàn ra dạ. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Na ra cẩn trì. Thiên Long Bát Bộ. khiến cho chúng hữu tình cầu chi được nấy. sẽ được như ý. thân ta có hào quang sáng chói. các hàng Cư Sĩ. di đế rị dạ. ta bà ha. ta bà ha. từ chỗ ngồi đứng dậy. ở nghỉ dưới cây Nhạc Âm. Ứng Chánh Đẳng Giác. bà lô kiết đế. Đức giáo chủ cõi ấy hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Ba đà ma kiết tất đà dạ. ta bà ha.và để cho chúng hữu tình ở đời tượng pháp được nhiều lợi lạc về sau. Bà La Môn. nghiệp chướng tiêu trừ.” Nguyện thứ hai: “Ta nguyện đời sau. Ma bà lị thắng kiết ra dạ. cúi mong Ngài nói rõ những danh hiệu. Đại Thần. Tất đà dạ. Nay ngươi nên lóng nghe và suy nghĩ cho kỹ. có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly. Đức Bạt Già Phạm đi châu du giáo hóa ở các nước.

buồn rầu. Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai khi còn tu hạnh Bồ Tát phát những lời nguyện rộng lớn và những công đức trang nghiêm ở cõi Ngài. nếu có chúng hữu tình. khi chứng Đạo Bồ Đề. và sau ta đem giáo pháp nhiệm mầu kiến lập cho họ cảnh giới an lạc hoàn toàn.Nguyện thứ ba: “Ta nguyện đời sau. và dần dần dạy họ tu tập theo các hạnh Bồ Tát đặng mau chứng Đạo Bồ Đề. nghe được danh hiệu Ta. tất cả những bịnh hoạn khổ não đều tiêu trừ. nếu nghe và trì niệm danh hiệu Ta. Độc Giác.” Nguyện thứ năm: “Ta nguyện đời sau.” Nguyện thứ mười một: “Ta nguyện đời sau. hoặc bị nhiều tai nạn nhục nhã. độ cho chúng hữu tình. Ta dẫn họ trở về với chánh kiến. dùng trí huệ. ngày đêm khổ bức. tay chân tật nguyền. được chuyển thân gái thành thân trai. nếu có phụ nữ nào bị trăm điều hèn hạ khổ sở. tràng hoa.” (1 tiếng chuông) Nầy Mạn Thù Thất Lợi. nói năng ngọng liệu. khi đặng Đạo Bồ Đề. khỏi sa vào đường ác. nếu nghe danh hiệu Ta một lần.” Nguyện thứ bảy: “Ta nguyện đời sau. cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ Đề. khiến mọi người có đủ các vật dụng. bảo vật trang nghiêm. nóng lạnh giãi dầu. dẫn dắt chúng hữu tình ra khỏi vòng lưới ma nghiệp. không nhà cửa. tai điếc. buồn rầu. lát hủi. khi chứng Đạo Bồ Đề. đó là mười hai lời nguyện nhiệm mầu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. đánh đập.” Nguyện thứ tư: “Ta nguyện đời sau. khi chứng Đạo Bồ Đề. nếu nghe danh hiệu Ta. khi đặng Đạo Bồ Đề. phấn sáp thơm ngát. các căn đầy đủ. được giải thoát tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo. nếu có chúng hữu tình nào bị nhà vua xiềng xích. của cải sung túc. Mạn Thù Thất Lợi. nếu có chúng hữu tình tu theo tà đạo. sanh tâm nhàm chán. chịu những bịnh khổ ấy. nếu có chúng hữu tình nào thân hình hèn hạ. hoặc bị lao tù. đều được giải thoát tất cả những nỗi ưu khổ ấy. nếu nghe danh hiệu Ta. liền được thân hình đoan chánh. khi chứng Đạo Bồ Đề. mắt đui. Lại nữa. bực tức. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến. không ai phải chịu sự thiếu thốn. vì tìm miếng ăn phải tạo các nghiệp dữ. ta khiến họ quay về an trụ trong Đạo Bồ Đề. không bà con. khi chứng Đạo Bồ Đề. hoặc bị chém giết. không gặp thuốc. nếu có chúng hữu tình nào bị những chứng bệnh hiểm nghèo không ai cứu chữa. Ta sẽ giúp họ giữ được giới pháp hoàn toàn đầy đủ. theo giáo pháp của Ta. có đủ hình tướng trượng phu. Nếu có người bị tội hủy phạm giới pháp. thân tâm an lạc.” Nguyện thứ tám: “Ta nguyện đời sau. ta giảng dạy cho họ. Ứng Chánh Đẳng Giác phát ra trong khi tu hạnh Bồ Tát.” Nguyện thứ sáu: “Ta nguyện đời sau. nếu nghe danh hiệu Ta. xấu xa. không ai để nương nhờ. người đó sẽ được thanh tịnh. dùng giáo lý Đại Thừa. nếu có chúng hữu tình nào nghèo đến nỗi không có áo che thân. không gặp thầy. khi đặng Đạo Bồ Đề. các căn không đủ. nhờ sức oai thần phước đức của Ta. chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khổ. nếu có chúng hữu tình nào bị sự đói khát hoành hành. thân tâm chịu những nỗi khổ. cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ Đề. khi chứng Đạo Bồ Đề. muốn thưởng thức thứ nào cũng được thỏa mãn cả. Ta sẽ giúp cho người đó được như ý muốn: các thứ y phục tốt đẹp. bị muỗi mòng cắn đốt. Hoặc có những người tu theo hạnh Thinh Văn.” Nguyện thứ chín: “Ta nguyện đời sau. khờ khạo. trống nhạc ca múa. tâm tánh khôn ngoan. bứt rứt. muốn bỏ thân ấy. và phương tiện vô lượng vô biên. tu hạnh thanh tịnh. nếu nghe danh hiệu Ta. không còn những bịnh khổ ấy nữa. trước hết Ta dùng các món ăn ngon ban bố cho họ được no đủ. dầu Ta . gia quyến sum vầy. chuyên niệm thọ trì. điên cuồng. khi chứng Đạo Bồ Đề.” Nguyện thứ mười: “Ta nguyện đời sau.” Nguyện thứ mười hai: “Ta nguyện đời sau.

và đến tiếng khổ cũng không. Đức Thế Tôn lại bảo Đồng Tử Mạn Thù Thất Lợi rằng: “Có những chúng sanh không biết điều lành dữ. vô số Bồ Tát. mắt. Lại nữa. đường xa chở nặng. không chê bai chánh pháp. còn nói chi đến sự đem của ấy thí cho cha mẹ. liền từ cõi ấy thoát sanh trở lại làm người. dường như lắt thịt cho người vậy. địa ngục. cố chấp cho mình là phải. Ở cõi ấy đất toàn bằng chất lưu ly. hoặc có kẻ tuy chẳng phá giới và phép tắc mà lại hủy hoại chánh kiến. liền sanh lại cõi người phải làm thân trâu. lạc đà. hoặc có kẻ tuy không hủy hoại chánh kiến mà lại bỏ sự đa văn. bị trôi lăng trong các đường địa ngục. chơn hay máu thịt của thân mình. trong chúng hữu tình có người thọ giới của Phật để tu học mà lại phá giới hoặc có kẻ không phá giới mà lại phá phép tắc. khiến cho người khác cũng sa vào hố nguy hiểm. người khác là quấy. Mạn Thù Thất Lợi. ngạ quỉ. nhưng nhờ đời trước. thường bị người hành hạ. nên người đó không ưa đắm dục lạc. chỉ lo tích trữ của cải cho nhiều mà tự mình không dám ăn tiêu. chẳng khác gì những công đức trang nghiêm ở cõi Tây Phương Cực Lạc vậy. tự mình đã theo tà kiến. tu theo các pháp lành. tôi tớ và những kẻ nghèo hèn đến xin. may đặng làm thân người. thấy ai đến xin. lòng đã không muốn. thiếu hẳn đức tin. súc sanh. sẽ chứng được đạo quả Bồ Đề. nên không hiểu được nghĩa lý sâu xa trong kinh Phật nói. không có đàn bà. Mạn Thù Thất Lợi. lìa được thói tăng thượng mạn. vợ con. Những kẻ tham lam ấy. họ liền bỏ những hạnh dữ. lừa. Cõi Phật ấy. Lại có chúng hữu tình tham lam.nói mãn một kiếp cũng không thể hết được. nếu chúng hữu tình có tánh tham lam tật đố. Giả sử có người không thể bỏ những hạnh dữ và không tu theo những pháp lành mà phải bị đọa vào ác thú thì cũng nhờ oai lực và bổn nguyện của Đức Dược Sư. dần dần tu theo hạnh Bồ Tát. Khi đã hết sự đau khổ đó. Nhưng ta có thể nói ngay rằng – cõi Phật kia một bề thanh tịnh. Những chúng hữu tình ấy. cứ ôm lòng bỏn xẻn. do thói tăng thượng mạn ấy che lấp tâm tánh. nay lại còn nhớ niệm danh hiệu của Ngài. nhưng nếu cực chẳng đã phải đưa của ra thì đau đớn mến tiếc. ngựa. chê bai chánh pháp. Mặc dù ở trong ác thú. Lại nữa. hay khen mình chê người. hoặc có kẻ tuy đa văn mà có thói tăng thượng mạn. mãi bị sai sử. Mạn Thù Thất Lợi. sống trong cõi nhơn gian đã từng nghe qua danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. sẽ bị đọa vào ba đường dữ. đêm ngày bo bo gìn giữ. đường đi có dây bằng vàng giăng làm ranh giới. tay. hiểu rõ nghĩa lý sâu sa. có hai vị đại Bồ Tát là Nhật Quang Biến Chiếu và Nguyệt Quang Biến Chiếu. có thể đem cả đầu. không bè bạn với ma. Nếu nghe được danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. không tham tiếc món gì. cực nhọc muôn phần. khéo điều hòa tâm ý. bố thí cho những kẻ đến xin. tinh tấn tu hành chân chánh. ngạ quỉ. mái hiên cửa sổ cho đến các lớp lưới bao phủ cũng toàn bằng đồ thất bảo làm ra. bàng sanh không khi nào cùng. đánh đập và bị đói khát dày vò. lại bị sanh vào hạng hạ tiện. biết sợ sự đau khổ. chịu nhiều sự đau đớn khổ sở. Khi đã được làm người lại nhớ đến kiếp sống trong đường ngạ quỉ súc sanh. Lúc ấy. cũng không có đường dữ. trải qua không biết mấy nghìn năm mới hết. ngu si vô trí. và lại là nhũung bậc sắp bổ xứ làm Phật. là hai bực thượng thủ trong vô lượng. vì thế những kẻ thiện nam tín nữ nào có lòng tin vững chắc thì nên nguyện sanh về thế giới của Ngài. khi chết bị đọa vào đường ngạ quỉ hay bàng sinh. lại ham chứa chất của cải cho nhiều. không khi nào được . xuất gia tu học giáo pháp của Như Lai. thành quách cung điện. không biết bố thí và cũng không biết quả báo của sự bố thí là gì. Hai vị nầy đều giữ kho báu chánh pháp của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. làm tôi tớ cho kẻ khác. liền từ nơi ác thú đó được sanh vào cõi người. khỏi bị đọa vào ác thú nữa. muốn tự mình làm việc bố thí.

” Khi Ngài nhập định. lại thêm đa văn. Vô Tận Ý Bồ Tát. Ngài liền nhập định để: “diệt trừ tất cả khổ não của chúng sanh. hoặc theo lối ếm đối hay dùng những đồ độc. đồ độc. ý tạo thêm ác nghiệp. hết lòng thọ trì danh hiệu ấy. các căn thông lợi. Muốn những chứng bệnh ấy được tiêu trừ và lòng mong cầu của chúng hữu tình được mãn nguyện. kho đụn tràn đầy. Quán Thế Âm Bồ Tát. oai đức tự tại. người đó lại sanh trong chốn nhân gian. hoặc biên tên họ hay làm hình tượng của người cừu oán. thường làm những việc không nhiêu ích để mưu hại lẫn nhau. tín nữ đều thọ trì tám giới cấm. bát lặt bà hát ra xà dã. bệ sát xã. được thoát khỏi sanh. được sanh lên cõi trời. để nghe chánh pháp. quyến thuộc sum vầy. tranh đấu. Lại nữa. Lúc đó. người đó sẽ được an vui. Di Lặc Bồ Tát từ trên không trung đi đến đưa đường chỉ lối. các thứ tà ác kia không thể hại được. cảm nhiệt. trí huệ sáng suốt. khẩu. Mạn Thù Thất Lợi. Ô Ba Tư Ca và những thiện nam. cả đại địa rúng động.chút tự do. đập nát vỏ vô minh. Nếu những người ấy đời trước đã từng nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Lại. tam miệu tam bột đà da. Nếu những kẻ ác tâm đó khởi lòng từ bi làm việc lợi ích an vui cho kẻ khác. Khi tuổi thọ ở cõi trời đã mãn. ngày nay nhớ lại. nếu trong hàng tứ chúng: Bí Sô. đát tha yết đa da. bệ sát thệ. Đắc Đại Thế Bồ Tát. nhưng nếu chưa quyết định. đát điệt tha. vân vân. nếu nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. lão. thường gặp bạn lành. Dược Vương Bồ Tát. để hại người. Bà La Môn hay cư sĩ đại cô. đem căn lành nầy nguyện sanh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. kiện cáo lẫn nhau. thương hàn. nhờ thần lực của Ngài gia hộ. hằng cầu thắng pháp. không còn ý tổn não và hiềm giận. Bảo Đàn Hoa Bồ Tát. người nào bị những tai nạn ấy. bệ sát thệ. hoặc bị chết non. hoặc sanh vào dòng Sát Đế Ly. tử. từ trong nhục kế phóng ra luồng ánh sáng lớn. Bí Sô Ni. chú pháp hại người. Hoặc nếu có kẻ. do sức Bổn nguyện mà Ngài quan sát biết chúng hữu tình gặp phải các thứ bịnh khổ như da vàng. tát cạn sông phiền não. dứt hết bịnh khổ. a ra hát đế. không còn sanh lại những đường ác nữa. nhờ nguyện lực của Đức Dược Sư. đem thân. Án. nếu chúng hữu tình có tánh ưa sự ngang trái chia lìa. phóng ra ánh đại quang minh làm cho tất cả chúng sanh. trong luồng ánh sáng ấy nói đại đà la ni: (1 tiếng chuông) Nam Mô bạt già phạt đế. người đó liền được sanh trong những hoa báu đủ màu. khi mạng chung. Còn nếu có người phụ nữ nào nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. hễ nghe danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Này Mạn Thù Thất Lợi! Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai khi đã chứng đạo Bồ Đề. vâng giữ giới pháp làm nơi y chỉ tu học. do nhân lành ấy. giáo hóa cho vô lượng trăm ngàn chúng hữu tình theo đường thập thiện. dùng phép chú thuật tà ác trù ẻo cho chết. Ô Ba Sách Ca. hoặc mỗi năm ba tháng. của tiền dư dật. thần sông. tướng mạo đoan trang. sẽ có tám vị đại Bồ Tát như Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. bệ sát xã lu lô tích lưu ly. hoặc trúng phải những thứ ếm đối. lại được thông minh trí huệ. . đời đời dứt hẳn lưới ma. bịnh. tam một yết đế xoa hoa. hưởng được an vui. gầy ốm. hoặc trong một năm. nữa. thần cây. và những nỗi đau khổ lo buồn. thống nhiếp cả bốn châu thiên hạ. xoay qua trở lại. làm não loạn cho mình và người. luồng ánh sáng diễn chú nầy rồi. dõng mãnh oai hùng như người đại lực sĩ. và lại nhờ căn lành sẵn có. Dược Thượng Bồ Tát. hoặc làm bậc Luân Vương. chí tâm quy y Ngài. được thoát khỏi mọi khổ não. đời sau sẽ không làm thân gái nữa. hoặc giết chúng sanh lấy huyết thịt cúng tế quỉ Dược Xoa và quỉ La Sát để cậy quỉ hại người. hoặc bị hoạnh tử. Mạn Thù Thất Lợi. hoặc cáo triệu thần núi.

không giận dữ. quét dọn một nơi sạch sẽ. hoặc đem giảng nói. rải bông. thiết lập một cái đài cao để lên. ác thần đoạt lấy tinh khí. và thường trì tụng chú nầy đừng lãng quên. Vậy nên. liền có bốn vị Thiên Vương quyến thuộc. không còn phải lo sợ. các thứ hương đốt. con gái.Nầy Mạn Thù Thất Lợi! Nếu thấy người nào đang mắc bịnh. Mạn Thù Thất Lợi đồng tử bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. bày tỏ cho người khác. khiến cho những thiện nam tín nữ có lòng tin trong sạch. tràng hoa. đánh răng. khi thức thấy những ác tướng. nếu kinh nầy lưu hành đến chỗ nào có người thọ trì và nghe được danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. được giàu sang. người đó được toại ý việc mong cầu – như cầu sống lâu. Ứng Chánh Đẳng Giác. được quan vị. đã không bệnh lại được sống lâu. tôi sẽ dùng đủ chước phương tiện. thờ như thế trong bảy ngày bảy đêm. thì được sanh con trai. Mạn Thù Thất Lợi! Chúng hữu tình hết lòng ân cần tôn trọng. cũng không bị những ác quỉ. một lòng thọ trì để thấu rõ nghĩa lý. tắm gội sạch sẽ. Nếu có người nào trong giấc ngủ thấy những điềm chiêm bao dữ. không sát hại. Nếu có người mong cầu việc gì. hoặc dùng hàng ngũ sắc làm đãy đựng kinh này. thân tâm khỏe mạnh như thường. và vì họ nhứt tâm tụng chú nầy một trăm lẻ tám biến. làm cho họ được lợi ích an vui. không còn thối chuyển. xong lại thắp hương. cũng được hoàn lại. suy nghiệm nghĩa lý. cầu sanh con trai. dùng các thứ tràng phan trang nghiêm. phướng lọng. ác tướng và những điềm xấu ấy thảy đều ẩn hết. cung kính cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. thức tỉnh nơi tai cho họ rõ biết. ăn đồ thanh tịnh. nếu có thiện nam tín nữ nào được thấy hình tượng Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. hoặc tự mình hay dạy người biên chép kinh nầy. trong thuốc uống. để trên tòa cao sạch sẽ. cầu giàu sang. mỗi sớm mai. nên cúng dường tất cả những vật dụng cần thiết. nghĩ nhớ công đức bổn nguyện đọc tụng kinh nầy. Người đó phải thọ tám giới. cùng âm nhạc hát múa để cúng dường. tôi cũng dùng danh hiệu của Đức Phật nầy. khai thị cho người khác biết. nên dạy người khác hay tự mình biên chép ra.nếu có thiện nam tín nữ nào muốn cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. đốt các thứ hương. những ác mộng. qua thời kỳ tượng pháp. đối với tất cả loài hữu tình phải khởi tâm bình đẳng. con gái. súc miệng. Bi. y phục chỉnh tề. dầu có bị đoạt lấy. Làm như vậy. như chim đậu gần nhà. nếu ai thọ trì đọc tụng kinh này. hoặc chỗ ở hiện ra trăm điều quái dị. chỉ nhất tâm tụng chú nầy. các món kỹ nhạc để cúng dường hình tượng. đủ cả tâm Từ. Lúc bấy giờ. rải dầu thơm. trước phải tạo lập hình tượng Ngài. cả đến trong giấc ngủ của họ. và vô lượng trăm ngàn thiên chúng ở các cõi Trời khác đều đến đó cúng dường và thủ hộ. khuyên họ tắm gội sạch sẽ. tắm gội sạch sẽ. với vị pháp sư giảng nói kinh pháp. hay trong nước không vi trùng. rồi dần dần chứng quả Bồ Đề. được sống lâu. Lại nữa. đi nhiễu quanh tượng Phật. cầu quan vị. sau khi mạng chung. nhờ công đức bổn nguyện của Ngài. người ấy nên dùng của báu cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. chỗ ấy không bị bịnh hoạnh tử. những bệnh khổ ấy đều dứt hết. chú nguyện trong thức ăn.” “Bạch Đức Thế Tôn. Xả. Hỉ. hễ hết lòng như vậy. người đó được sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly. chư Phật sẽ phò hộ người đó được mãn nguyện mọi sự mong cầu. được nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. dầu thơm. với kinh nầy. đều được như ý muốn. giữ lòng thanh tịnh. hết lòng cung kính tôn trọng. đánh nhạc ca hát ngợi khen. dùng bông thơm. cho họ uống.” “Bạch Đức Thế Tôn. anh lạc. .” (1 tiếng chuông) Phật bảo Mạn Thù Thất Lợi: thật đúng như lời ngươi nói .

Bồ Tát mười giới trọng. chí tâm thọ trì. thân người khó đặng. đến thời kỳ Tượng Pháp có những chúng sanh bị nhiều hoạn . (1 tiếng chuông) Lúc ấy. người đó cũng được thoát khỏi những nạn ấy. giữ gìn năm giới. đó là công hạnh rất sâu xa của chư Phật. mãi ở trong cảnh đêm dài tăm tối. Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai tu không biết bao nhiêu hạnh Bồ Tát. Tỳ kheo Tăng hai trăm năm mươi giới. Tỳ kheo Ni ba trăm bốn mươi tám giới. mà đọa vào ác thú. đối với Khế Kinh của Như Lai nói. nếu có thiện nam tín nữ nào từ khi phát tâm thọ giới cho đến ngày chết. gươm. thuốc độc và các cầm thú dữ gây sự sợ hãi như: voi. mặt trời. người đó sẽ khỏi những sự đau khổ ấy. nhớ niệm và cung kính Đức Dược Sư. nay ngươi lãnh thọ được. trở sanh lòng hủy báng. khó hiểu thấu được. Bạch Đức Thế Tôn. Đức Thích Ca bảo A Nan: “Như Ta đã khen ngợi công hạnh của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. nhiễu hại. nếu có hủy phạm những giới pháp đã thọ. ý của Như Lai đều thanh tịnh. gấu. vậy ngươi có tin chăng?” A Nan bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn. không bao giờ tôi sanh tâm nghi hoặc. lợi căn thông minh. khó hiểu. khi sanh con ra được vuông tròn. lại còn bị đọa lạc trong các đường ác thú. thì kiếp số đó có thể mau hết. đó là công hạnh rất mầu nhiệm của chư Phật. nếu ta nói ra trong một kiếp hay hơn một kiếp. Tại sao? Vì những nghiệp thân.” (1 tiếng chuông) “Này A Nan. đao. xưng danh hiệu. nên họ phải mất nhiều điều lợi ích. lễ bái và hết lòng cung kính cúng dường Đức Dược Sư. gối bên mặt quì sát đất.Nếu người nào gặp tai nạn nguy hiểm như nạn nước. lửa. trộm cướp rối loạn. trịch vai áo bên hữu. người đó được thoát khỏi những sự sợ hãi ấy. chớ những hạnh nguyện và những phương tiện khéo léo của Đức Dược Sư. mười giới. không khi nào nói cho hết được. sư tử. Lại nữa. Tăng. lưu chuyển không cùng. nhưng những lời của chư Phật nói ra không bao giờ sai được. hết lòng nhớ niệm và cung kính cúng dường Đức Dược Sư. phát không biết bao nhiêu nguyện rộng lớn. khẩu. chỉ một lòng nương theo Phật.” “Này A Nan. núi Diệu Cao có thể lay động. huống chi nghe được danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai lại còn khó hơn nữa. Bạch Đức Thế Tôn nếu có chúng sanh nào tín căn không đầy đủ. tướng mạo đoan nghiêm. an ổn ít bịnh hoạn. hoặc nếu bị các nước khác xâm lăng. không thờ những vị Trời nào.” “Này A Nan. nhưng hết lòng tin kính tôn trọng ngôi Tam Bảo còn khó hơn. rắn độc. cọp.” (1 tiếng chuông) Lúc bây giờ trong chúng hội có một vị Đại Bồ Tát tên là Cứu Thoát Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy. rít. đó là nhờ oai lực của Như Lai vậy. chỉ trừ những bậc Nhất Sanh Sở Hệ Bồ Tát mới tin hiểu được mà thôi. không sanh lòng nghi hoặc. sói. sên. mặt trăng có thể rơi xuống. bốn mươi tám giới khinh.” “Này A Nan. người đó quyết định không thọ sanh trong ba đường ác. sợ đọa vào ác thú. bò cạp. thì nghĩ rằng: “Làm sao chỉ niệm danh hiệu của một đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mà được nhiều công đức thắng lợi ngần ấy?” Vì sự không tin đó. thì thật vô lý vậy. Lại nếu có người nữ nào đương lúc sanh sản phải chịu sự cực khổ đau đớn. lằn muỗi. Pháp. nếu chuyên niệm và cung kính cúng dường Đức Dược Sư. dùng không biết bao nhiêu phương tiện khéo léo. Độc Giác và các bậc Bồ Tát chưa lên đến bậc Sơ Địa đều không thể tin đúng như thật. nghe nói đến những công hạnh sâu xa của chư Phật. cúi đầu chắp tay bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn.” Phật lại bảo A Nan: “Những chúng hữu tình ấy nếu nghe danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. tất cả các hàng Thinh Văn. khó tin. Mạn Thù Thất Lợi. ai thấy cũng vui mừng và không bị quỉ cướp đoạt tinh khí.

Vậy nên. phải phóng sinh bốn mươi chín loài vật khác nhau. mắt thấy đen tối. cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. mỗi ngọn lớn như bánh xe. hoặc liền trong lúc ấy. nhiều vô lượng. buông lung vô độ. những thiện nam tín nữ phải một lòng trì niệm danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Ba là chơi bời trụy lạc. thân hình gầy ốm. trù ẻo và bị quỉ Tử Thi làm hại. tấu với thần minh. môi cổ khô ran. A Nan hỏi Cứu Thoát Bồ Tát rằng: “Nên cung kính cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly như thế nào. vua phán hỏi và kê tính những tội phước của người kia đã làm mà xử đoán. bị nước khác xâm lăng. săn bắn. tự mình nhớ biết những nghiệp lành. thần thức người kia được trở lại như vừa tỉnh giấc chiêm bao. muốn khỏi bịnh khổ.” Lúc bấy giờ. ngày đêm sáu thời. phóng sanh. phá hoại phép vua tôi. người đó cũng không dám tạo những nghiệp ác nữa. nhân dân bị bịnh dịch. dâng lên vua Diêm Ma. . nếu trong giòng Sát Đế Lỵ có những vị quốc vương đã làm lễ quán đảnh mà gặp lúc có nạn. Còn những hoạnh tử khác. điên đảo quỉ mị. tướng chết hiện ra. giết hại sanh linh. bà con.” Lúc bấy giờ. Nếu trong lúc đó. tin theo tà kiến. đốt đèn bảy từng. trước mỗi hình tượng để bảy ngọn đèn. đời đời không ra khỏi. bốn mươi chín ngày. Chín là bị chết vì đói khát khốn khổ. hay bị nạn tinh tú biến ra nhiều điềm quái dị: như nhựt thực. gây thêm tội lỗi. tên tuổi. Bởi si mê lầm lạc. người bịnh ấy sẽ qua khỏi ách nạn. Mê Súy La đại tướng. hủy nhục Ngôi Tam Bảo. thần phang được làm bằng hàng ngũ sắc. thần Cu Sanh ghi tội phước của người đó. nguyệt thực. tội nặng nhẹ mà hành phạt. đọa vào địa ngục. bảy đêm. vì người bịnh ấy. cha mẹ. bị loài quỉ đoạt mất tinh khí. bề dài bốn mươi chín gang tay. phân biệt chánh tà. trong chúng hội có mười hai vị Dược Xoa đại tướng: Cung Tì La đại tướng. treo thần phang tục mạng năm sắc. còn đèn và phang tục mạng phải làm sao?” (1 tiếng chuông) Cứu Thoát Bồ Tát nói: “Nếu có người bịnh nào. quy y với Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và thỉnh chúng tăng đọc tụng kinh nầy. Thân bịnh nằm đó. lại tạo bảy hình tượng Đức Dược Sư. ân xá cho tội nhơn bị giam cầm. kính lễ Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. tội phước trong thế gian. động đất vân vân. nghiệp dữ và quả báo đã thọ. bạn bè quen biết. bị nội loạn. không còn bị hoạnh tử và các loài quỉ nhiễu hại. Chính đã thấy rõ những nghiệp báo như vậy.” “Lại nữa A Nan. hạn hán. nhưng không thể được. chửi rủa. mưa gió trái mùa. Tám là bị chết vì thuốc độc. tật bịnh luôn luôn. khi đó. bói khoa chú thuật. ngũ nghịch.nạn. để xin ban phước. dầu có gặp phải những tai nạn nguy hiểm đến tánh mạng. Bảy là bị sa từ trên cao xuống. ba mươi lăm ngày. ăn uống không được. đốt luôn trong bốn mươi chín ngày đêm đừng cho tắt. nên bị hoạnh tử. Hai là bị phép vua tru lục. chỉ gặp những điều vui. Năm là bị chết đắm. tu phước để khỏi các khổ ách. Sáu là bị các thú dữ ăn thịt. Phạt Chiếc La đại tướng.” Lúc bấy giờ. không thể nói hết được. đã thấy quỉ sứ đến dẫn thần thức. Liền khi ấy. ếm đối. mong được sống lâu. các vị quốc vương phải đem lòng từ bi. đam mê tửu sắc. vái van vọng lượng.” (1 tiếng chuông) “Lại nữa A Nan. Bốn là bị chết thiêu. Vì thế Ta khuyên mọi người nên thắp đèn làm phang. đọc tụng Kinh nầy bốn mươi chín biến và thắp bốn mươi chín ngọn đèn. tùy theo sức mình sắm sửa thức ăn uống và các thứ cần dùng để cúng dường chư Tăng. Như Lai nói ra. nhờ không còn tự chủ. vua Diêm Ma kia là thủ lãnh ghi chép sổ bộ. Đó là chín hoạnh tử. hoặc trải qua bảy ngày. Nếu có người nào ăn ở bất hiếu. bà con của họ phải thọ trì tám phần trai giới trong bảy ngày. khốn khổ. hai mươi mốt ngày. đem lại trước vua Diêm Ma. bà con quen biết. thương xót tất cả nhân dân. vây quanh khóc lóc.

An Để La đại tướng, Át Nể La đại tướng, San Để La đại tướng, Nhơn Đạt La đại tướng, Bi Da La đại tướng, Ma Hổ La đại tướng, Chơn Đạt La đại tướng, Chiêu Đỗ La đại tướng, Tỳ Yết La đại tướng. (1 tiếng chuông) mười hai vị đại tướng này, mỗi vị đều có bảy ngàn quyến thuộc Dược Xoa đồng cất tiếng bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay, chúng tôi nhờ oai lực của Phật, được nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, không còn sợ sệt các đường ác thú nữa. Chúng tôi đồng một lòng trọn đời quy y Phật, Pháp, Tăng, thề sẽ gánh vác cho chúng hữu tình, làm việc nghĩa lợi đưa đến sự nhiêu ích an vui. Trong làng xóm, thành, nước, hoặc trong rừng cây vắng vè, nếu có kinh nầy lưu bố đến, hay có có người thọ trì danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và cung kính cúng dường Ngài, chúng tôi cùng quyến thuộc đồng hộ vệ người ấy thoát khỏi tất cả ách nạn và khiến họ cầu việc chi cũng được thỏa mãn. Nếu có ai bị bịnh hoạn khổ ách, muốn cầu cho khỏi, nên đọc tụng kinh nầy và lấy chỉ ngũ sắc gút danh tự chúng tôi, khi đã được như lòng mong cầu thì mới mở gút ra.” Lúc ấy, Đức Thích Ca khen các vị Dược Xoa đại tướng rằng: “Hay thay! Hay thay! Đại Tướng Dược Xoa, các ngươi muốn báo đáp công hạnh của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai nên phát nguyện làm những việc lợi ích an vui cho tất cả chúng hữu tình như vậy.” Đồng thời, A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, pháp môn nầy gọi tên là gì? Và chúng tôi phải phụng trì như thế nào?” (1 tiếng chuông) Phật bảo A Nan: “Pháp môn nầy gọi là Bổn Nguyện và Công Hạnh của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cũng gọi là Kiết Nguyện Thần Chú của mười hai Thần Tướng, và cũng gọi là Con Đường Dứt Trừ Tất Cả Nghiệp Chướng. Nên đúng như vậy mà thọ trì.” Khi Phật nói lời ấy rồi, các hàng Đại Bồ Tát, Thinh Văn, Quốc Vương, Đại Thần, Bà La Môn, Cư Sĩ, Thiên, Long, Dược Xoa, Kiền Thát Bà, A Tố Lạc, Yết Lộ Trà, Khẫn Nại Lạc, Mạc Hô Lạc Dà, Người cùng các loài quỉ thần, tất cả đại chúng đều hết sức vui mừng và đồng tin giữ vâng làm. (1 tiếng chuông) CHÚ DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH Nam Mô bạt dà phạt đế, bệ sát xã lu lô tích lưu ly, bát lặc bà hát ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế xoa ha. (3 lần, 1 tiếng chuông) Giải kiết, giải kiết, giải oan kiết, Nghiệp chướng bao đời đều giải hết, Rửa sạch lòng trần, phát tâm thành kính, Đối trước Phật đài, cầu xin giải kiết, Dược Sư Phật, Dược Sư Phật, Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật, Tùy Tâm Mãn Nguyện Dược Sư Phật, Tùy Tâm Mãn Nguyện Dược Sư Phật.

Nam Mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật. (3 lần, 1 tiếng chuông) KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách. ”Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.” ”Này Ông Xá Lợi Phất, ”tướng không của mọi pháp” không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ”chân không”, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, dạo, không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thượng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư.” Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: ”Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.” (1 tiếng chuông) NIỆM PHẬT A Di Đà Phật thân sắc vàng, Tướng tốt rực rỡ, hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần, bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật, Vô số Bồ Tát hiện ở trong, Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật, Ở phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. (1 tiếng chuông) Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. Nam Mô A Di Đà Phật. (mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. SÁM DƯỢC SƯ Cúi đầu trước mười phương chư Phật Chúng con nguyền chân thật kính tin Phát lời thệ nguyện độ sinh Y theo Giáo Pháp, Luật, Kinh chỉ bày: Ngày nào cũng lắm thay công việc Vì ngu mê mãi miết ân cần

Ngày đêm lo tảo bán tần Trăm mưu ngàn kế, vô ngần thảm thương. Lạc một bước sa đường xuống hố Bị vô minh lắm độ truân chuyên Vào ra sáu cõi triền miên Mang thân tứ đại thảm phiền biết bao! Vậy nhân thế hãy mau xét kỹ Kiếp phù sinh chớ nghĩ lẳng lơ Khuyên đừng đem dạ tưởng mơ Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây. Rút gươm huệ dứt dây tham ái Kíp tìm thầy thọ phái quy y Giữ gìn ngũ giới tam quy Mở lòng từ mẫn, sân si quyết chừa. Rèn lòng kinh kệ sớm trưa Nguyện con ra khỏi nắng mưa cõi trần. Ngưỡng cầu chư Phật thi ân Đệ tử phát nguyện ân cần thiết tha: Một là: Nguyện Đức Di Đà (1 tiếng chuông) Cầu xin bá tánh trẻ già khắp nơi Làm lành lánh dữ kịp thời Nhà nhà an lạc, nơi nơi thái hòa. Hai là: Nguyện Đức Thích Ca Trở đời ly loạn hóa ra thái bình Mở mang vận hội văn minh Tâm thần thơ thới, nhơn tình trung lương. Ba là: Nguyện Chuẩn Đề Vương Thần thông dẹp hết bốn phương chiến trường Độ người ngỗ nghịch bạo cường Bỏ tà quy chánh, theo đường thiện tâm. Bốn là: Nguyện Đức Quán Âm Độ người thù oán cừu thâm thuận hòa Giúp bao tai nạn xảy ra Cùng người tật bịnh đều hòa an thuyên. Năm là: Nguyện Đức Phổ Hiền Độ người chân chánh, giữ qưyền an dân Bốn phương tương ái tương thân Đồng tuân pháp nước, nhân dân kính nhường. Sáu là: Nguyện Địa Tạng Vương Độ người xiêu lạc bốn phương được về Cùng là người chết thảm thê Hồn linh độ hết đưa về Tây Phương. Kìa, Cực Lạc là nơi an dưỡng (1 tiếng chuông) Đất lưu ly vô lượng khiết tinh Có Ao Thất Bảo quang minh Có Sen Chín Phẩm như hình bánh xe.

và Tịnh Tam Nghiệp • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật . Chim nói Pháp hôm mai êm dịu Hoa trên không lểu nhểu cúng dường. cứu đời lầm than. chỉ chủ lễ phục nguyện) PHỤC NGUYỆN Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tác đại chứng minh. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng. đoái thương cứu độ. tật bịnh bình an.). (1 tiếng chuông. Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả. đều trọn thành Phật quả. TAM QUY Con nương theo Phật. trì tụng Dược Sư Kinh. (1 tiếng chuông. Chú. thiên thượng nhân gian. (1 tiếng chuông. lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp.. Nguyện cho ba chướng tiêu tan Phiền não dứt sạch. niệm Phật công đức. trí huệ như biển. nghiệp chướng tiêu tan. hưởng cảnh an nhàn. lạy 1 lạy) NGHI THỨC TỤNG KINH KIM CANG (Vajracchedikà – Pràjnàpàramità – Sùtra) GỒM CÓ: • Chú Tịnh Pháp Giới. Bồ Đề nảy búp ngát hương Cúi xin chư Phật. Pháp danh: . huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời Hành Bồ Tát Đạo.. gia đình thịnh đạt.. hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sinh trong pháp giới Hướng về Phật pháp tỏ Đạo Mầu. đương đời phiền não dứt sạch. chúng con một dạ chí thành. cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp. cầu nguyện cho Phật tử (tên họ:. tất cả không ngại. đồng niệm) Nam Mô A Di Đà Phật. cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng. (1 tiếng chuông.. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. thân tâm thường lạc..Ao Thất Bảo ngỏa nguê đẹp đẽ Nước Bát Công sạch sẽ tinh vi Bảy hàng cây báu lưu ly Lan can bảy lớp ma ni sáng ngời. (1 tiếng chuông) HỒI HƯỚNG Cầu an công đức. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông) Hôm nay. phát lòng vô thượng.

xá 1 xá) CẦU NGUYỆN Hôm nay. NGHI THỨC TỤNG KINH KIM CANG (Thắp đèn đốt hương. 1 tiếng chuông. trì tụng Kim Cang Kinh Chú. (1 tiếng chuông. phiền não dứt sạch. Giải Thoát. Định Hương. thường được an lành.). xá 1 xá). (3 lần. đứng ngay ngắn. (3 lần) (Quì ngay thẳng. CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI Án lam xoa ha. và đạt đến bờ Giác Ngộ dễ dàng. và Huệ Hương Giải Thoát. đạt mạ ta phạ. chiếu khắp mười phương Hiện tiền Tam Bảo. Năm Hương cúng dường. Tụng Kinh Kim Cang. và Phổ Cúng Dường • Phụng Thỉnh Tám Vị Thần Kim Cang • Phụng Thỉnh Bốn Vị Đại Bồ Tát • Văn Phát Nguyện • Thỉnh Phật Thuyết Pháp • Kinh Kim Cang • Chú Kim Cang • Kệ Khen Ngợi • Kinh Bát Nhã Ba La Mật • Niệm Phật • Sám Ngã Niệm • Hồi Hướng • Tam Quy DÙNG ĐỂ: Phá ngã chấp. khi thân hoại mạng chung. từ bi gia hộ: (tên họ. vạn sự đắc thành như ý.• Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ • Tán Hương Cúng Phật • Chú Tịnh Khẩu Nghiệp và Tịnh Tam Nghiệp • Chú An Thổ Địa. nghiệp chướng tiêu trừ. đệ tử chúng con. Tri Kiến Hương Sáng ngời. đương đời trí tuệ sáng suốt. chủ lễ niệm bài cúng hương). phụng trì di giáo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần) CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP Án ta phạ bà phạ. lưỡi không bị hư rã... dứt hết phiền não mau lẹ. KHEN NGỢI PHẬT Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời. Vì đặc tính đó. Hơn nữa. người thọ trì Kinh nầy. ngưỡng nguyện mười phương Tam Bảo. người . tu hành công đức. bà phạ truật độ hám. truật đà ta phạ. xưng tán Hồng Danh. có người tụng để trị bịnh tà ma. hiểu được nghĩa lý rốt ráo. cầm 3 cây hương dâng ngang trán. Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát. chủ lễ mật niệm). và nhờ đó gia đình không bị xào xáo. chắp tay ngang ngực. xa lìa khổ ách. CÚNG HƯƠNG Giới Hương.

vị lai thập phương chư Phật. (3 lần. Phụng thỉnh Xích Thinh Hỏa Kim Cang. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. bà phạ truật độ hám. 1 tiếng chuông) CHÚ PHỔ CÚNG DƯỜNG Án nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng. Nam Mô Hương cúng dường Bồ Tát Ma Ha Tát. 1 tiếng chuông) PHỤNG THỈNH - TÁM VỊ THẦN KIM CANG Phụng thỉnh Thanh Trừ Tai Kim Cang. Phụng thỉnh Bạch Tịnh Thủy Kim Cang. (1 tiếng chuông. địa vỷ ta bà ha. 1 tiếng chuông) CHÚ TỊNH KHẨU NGHIỆP Tu rị tu rị. Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. Phụng thỉnh Định Trì Tai Kim Cang. (3 lần. (3 lần. án độ rô độ rô. Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát. Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. Phụng thỉnh Tử Hiền Kim Cang. 1 tiếng chuông) CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP Án ta phạ bà phạ. truật đà ta phạ. đại chúng đồng tụng) - ĐẢNH LỄ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá. Phụng thỉnh Bích Độc Kim Cang. (3 lần. đạt ma ta phạ. hiện. tát bà ha. Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. lạy 1 lạy) TÁN HƯƠNG CÚNG PHẬT Hương trầm vừa đốt Thơm ngát mười phương Thành kính cúng dường Mười phương Tam Bảo. (1 tiếng chuông. (3 lần. 1 tiếng chuông) CHÚ AN THỔ ĐỊA Nam mô tam mãn đa một đà nẫm. chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y. Phụng thỉnh Huỳnh Tùy Cầu Kim Cang. Đại Thế Chí Bồ Tát. (1 tiếng chuông. . ma ha tu rị tu tu rị. lạy 1 lạy) Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật. (1 tiếng chuông.

(1 tiếng chuông) VĂN PHÁT NGUYỆN Đảnh lễ đấng Trung Tôn Quy mạng mười phương Phật Con nay phát hoằng nguyện Trì tụng Kinh Kim Cang Trên đền đáp bốn ân Dưới cứu khổ ba đường Nếu có kẻ thấy nghe Xin phát lòng Bồ Đề Khi mãn báo thân nầy Đồng sanh về cõi Phật. Nam Mô Bát Nhã Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần. Đức Phật trở về Tịnh Xá. cùng với chúng đại Tỳ Kheo. Lúc đó. Con nay nghe thấy chuyên trì niệm. Phụng thỉnh Kim Cang Sách Bồ Tát. bạch Phật rằng: . CHỖ PHẬT NÓI KINH Ta nghe như vầy: Một thuở nọ. 1 tiếng chuông) PHẬT NÓI KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT 1. Phụng thỉnh Kim Cang Ngữ Bồ Tát. Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu. Đức Phật trải tòa ngồi. cung kính chắp tay. ÔNG TU BỒ ĐỀ HỎI PHẬT Bấy giờ. 1 tiếng chuông) KỆ KHAI KINH Thăm thẳm cao siêu Pháp nhiệm mầu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu. Theo thứ tự ghé từng nhà khất thực rồi. (1 tiếng chuông) THỈNH PHẬT THUYẾT PHÁP Tụng Kinh nầy thế nào Được giác ngộ giải thoát? Tu sao được sống lâu Thân Kim Cang không hoại? Lại tu như thế nào Được sức mạnh vô biên? Xin Phật vì đại chúng Diễn nói Pháp nhiệm mầu. (1 tiếng chuông) 2. trịch áo vai hữu và gối bên hữu quỳ sát đất. (1 tiếng chuông) PHỤNG THỈNH BỐN VỊ ĐẠI BỒ TÁT Phụng thỉnh Kim Cang Quyến Bồ Tát. liền từ chỗ ngồi đứng dậy. ở trong đại chúng. đức Phật ở tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. cất y bát và rửa chơn. Phụng thỉnh Kim Cang Ái Bồ Tát.Phụng thỉnh Đại Thần Kim Cang. (3 lần. nước Xá Vệ. gần đến giờ ăn. Dùng cơm xong. Đức Thế Tôn đắp y bưng bát vào thành Xá Vệ khất thực. một nghìn hai trăm năm mươi vị. ông Trưởng Lão Tu Bồ Đề.

Đức Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát và khéo phó chúc cho các vị Bồ Tát. đúng nơi Pháp. và hàng phục tâm như thế nào?” Đức Phật dạy: “Hay thay! Hay thay! Nầy Tu Bồ Đề. Phật bảo Tu Bồ Đề: “Phàm có tướng đều là hư vọng cả. thọ giả tướng thời chẳng phải là Bồ Tát. Vì sao? Vì Bồ Tát không trụ trước nơi tướng để bố thí. Tại sao vậy? Nầy Tu Bồ Đề.Bạch Đức Thế Tôn. nếu thấy các tướng đều không phải là tướng. Bồ Tát nên bố thí như thế.” (1 tiếng chuông) 4. ông nên lóng nghe. Độ vô lượng. CHÁNH TÍN RẤT HI HỮU - Ông Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. không thể suy lường được. vô số. hoặc loài không hình sắc. không thể suy lường được.” (1 tiếng chuông) 6. ta sẽ vì ông mà nói. Bồ Tát không trụ trước nơi tướng để bố thí. Bạch Đức Thế Tôn. Dưới chăng? . như có chúng sanh nào được nghe được những câu. Vì sao? Vì Đức Như Lai nói thân tướng mà chẳng phải thân tướng. chẳng trụ trước nơi tướng. hoặc thai sanh. nếu Bồ Tát còn có ngã tướng. có thể suy lường được cõi hư không ở phương Nam. Nầy Tu Bồ Đề.“Hi hữu thay Đức Thế Tôn. có người trì giới tu phước có thể sanh lòng tin nơi những câu trong bài nầy mà cho đó là thật. hoặc loài có tư tưởng.Tu Bồ Đề. ý của ông nghĩ sao? Căn cứ trên thân tướng có thể thấy Như Lai không? . không trụ trước nơi thinh. chính là thấy Như Lai. hoặc loài có hình sắc. Bắc. Nay. Sau khi Như Lai diệt độ. có sanh lòng tin thật chăng?” Phật bảo Tu Bồ Đề: “Ông chớ nói lời ấy. DIỆU HẠNH VÔ TRỤ Lại nữa. nếu có thiện nam hay tín nữ nào phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thời phải trụ tâm như thế nào. bài giảng như vậy. hoặc loài chẳng phải có tư tưởng mà cũng chẳng phải không tư tưởng.Bạch Đức Thế Tôn. . . hoặc thấp sanh. không thể suy lường được. (1 tiếng chuông) 3.Bạch Đức Thế Tôn. cõi hư không ở bốn hướng cạnh và cõi hư không ở Trên. thời phước đức cũng lại như thế. vị. nghĩa là không trụ trước nơi hình sắc mà bố thí. hoặc loài không tư tưởng. Tu Bồ Đề. Tu Bồ Đề. ĐẠI THỪA CHÁNH TÔN Phật bảo ngài Tu Bồ Đề: “Các vị đại Bồ Tát phải hàng phục tâm mình như thế nầy: nhiều loài chúng sanh. phải trụ tâm như thế nầy phải hàng phục tâm như thế nầy. Nếu có thiện nam hay tín nữ nào phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Con vui mừng muốn nghe. nhơn tướng. hoặc là noãn sanh. . Bồ Tát nên đúng như lời Ta dạy mà trụ. ý của ông nghĩ sao? Có thể suy lường được cõi hư không ở phương Đông chăng? . hai Đức . phải biết rằng người ấy chẳng phải vun trồng căn lành nơi một Đức Phật.Tu Bồ Đề. hương. pháp mà bố thí. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát và khéo phó chúc cho các vị Bồ Tát. thời phước đức nhiều không thể suy lường. THẤY CHƠN THẬT ĐÚNG LÝ Tu Bồ Đề.” Bạch Đức Thế Tôn. xúc. mà không có chúng sanh là kẻ được độ. (1 tiếng chuông) 5. hoặc hóa sanh. Ta đều độ chúng chứng được Vô Dư Niết Bàn. vị Bồ Tát. không thể căn cứ trên thân tướng thấy được Đức Như Lai. Tây. vô biên chúng sanh như thế. chúng sanh tướng.Tu Bồ Đề. đúng như lời của ông vừa nói. không có chỗ trụ trước để bố thí. năm trăm năm sau.

Phật.” .Còn như có người thọ trì kinh nầy nhẫn đến một bài kệ bốn câu vân vân. lại giảng nói cho người khác. tất cả các Đức Phật và Giáo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của các Ngài đều từ kinh này có ra. nhơn. vị. Này Tu Bồ Đề. Tu Bồ Đề. không thể được. thọ giả tướng. rất nhiều. pháp. nhơn. các ông phải biết Pháp của Ta nói ra.” . Vì sao? Vì những chúng sanh đó nếu trong lòng chấp tướng thời chính là chấp ngã. Như Lai đều thấy đều biết những chúng sanh đó đặng phước đức vô lượng. chúng sanh. không thể được.” . hương. Vì sao? Vì vị A Na Hàm gọi là bực Bất Lai. cũng không có phi pháp tướng. (1 tiếng chuông) 9. vì thế cho nên chẳng nên chấp Pháp và chẳng nên chấp phi Pháp.” (1 tiếng chuông) 8. mà thật không có tướng bất lai. không phải thật phước đức cho nên Đức Như Lai nói là phước đức nhiều. chẳng phải không phải Pháp.Tu Bồ Đề.Tu Bồ Đề. nhơn. không vào sắc. thời không có Pháp nào nhứt định gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. nhơn tướng. không có pháp tướng. Y PHÁP XUẤT SANH CÔNG ĐỨC . phước đức của người đó có nhiều không? Tu Bồ Đề bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. Vì sao? Nầy Tu Bồ Đề. mà người đó đã vun trồng căn lành từ nơi vô lượng nghìn muôn ức Đức Phật rồi. Như có ai nghe những câu trong bài nầy. chúng sanh.” . chẳng phải Pháp. vị Tu Đà Hoàn có thể tự nghĩ là mình chứng quả Tu Đà Hoàn không? Tu Bồ Đề bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. huống nữa là phi Pháp. sanh lòng tin trong sạch. Vì sao? Vì những chúng sanh đó không còn có ngã tướng. nên gọi là Tư Đà Hàm. chúng sanh. ý ông nghĩ thế nào? Vị A Na Hàm có thể tự nghĩ rằng mình chứng quả A Na Hàm không? Tu Bồ Đề bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn không thể được. nên gọi là A Na Hàm. Vì sao? Vì Pháp của Đức Như Lai nói đều không thể vin lấy. ý của ông nghĩ thế nào? Vị Tư Đà Hàm có thể tự nghĩ rằng mình chứng quả Tư Đà Hàm không? Tu Bồ Đề bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. nên Như Lai thường dạy rằng: “Nầy các Tỳ Kheo. thọ giả. Pháp còn phải xả bỏ. thời phước đức nầy nhiều hơn phước đức trước. cũng như thuyền bè. ý của ông nghĩ thế nào? Vị A La Hán có thể tự nghĩ rằng mình đắc Đạo A La Hán không? . bốn. trong khoảng một niệm. nên gọi là Tu Đà Hoàn. Cùng ý nghĩa đó. mà thật không nhập vào nơi đâu. thinh.” Vì sao? Vì vị Tu Đà Hoàn gọi là bực Nhập Lưu. ý của ông nghĩ thế nào? Như có người đem bảy thứ báu đầy cả cõi Tam Thiên Đại Thiên để làm việc bố thí. xúc. không thể nói được. năm Đức Phật. Vì sao? Vì phước đức đó. Đức Như Lai có thể nói được. thọ giả.” (1 tiếng chuông) 7. Vì sao? Vì tất cả Hiền Thánh đều do nơi “Pháp vô vi” mà có khác nhau. Vì sao? Vì vị Tư Đà Hàm gọi là bực Nhứt Vãng Lai. NHỨT TƯỚNG KHÔNG CÓ TƯỚNG -Tu Bồ Đề. VÔ ĐẮC VÔ THUYẾT .Tu Bồ Đề. Nếu chấp pháp tướng thời chính là chấp ngã. chúng sanh tướng. Phật Pháp nói đó chính chẳng phải là Phật Pháp. mà thật không có vãng lai. cũng không có Pháp nào nhứt định. ý của ông nghĩ thế nào? Như Lai có chứng được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không? Như Lai có nói Pháp không? Tu Bồ Đề bạch rằng: “Như con hiểu ý nghĩa của Đức Phật nói. thọ giả và vì nếu chấp phi pháp tướng thời cũng chính là chấp ngã.Tu Bồ Đề.Tu Bồ Đề. ba.

con không tự nghĩ rằng mình đắc Đạo A La Hán. rất lớn. có người thọ trì đọc tụng trọn cả kinh nầy. nên gọi là thân lớn. tên kinh nầy gọi là gì? Chúng con phải phụng trì thế nào?” Phật bảo Tu Bồ Đề rằng: “Kinh nầy tên là Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật. ông nên theo danh tự nầy mà phụng trì. PHƯỚC ĐỨC VÔ VI THÙ THẮNG . và pháp mà sanh tâm. và giảng nói cho người khác nghe. nơi chỗ đó.Tu Bồ Đề bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn không thể được. Bạch Đức Thế Tôn.Bạch Đức Thế Tôn: Không. nên không chỗ trụ trước mà sanh tâm thanh tịnh. nếu vị A La Hán nghĩ thế nầy: Ta đắc Đạo A La Hán. nhẫn đến một bài kệ bốn câu vân vân. chẳng phải Bát Nhã Ba La Mật.” Phật bảo Tu Bồ Đề: “Nếu có thiện nam hay tín nữ nào thọ trì kinh nầy nhẫn đến một bài kệ bốn câu vân vân. số sông Hằng lại nhiều như số cát đó. là bực A La Hán ly dục thứ nhứt.Nầy Tu Bồ Đề.Tu Bồ Đề. Vì sao? Nầy Tu Bồ Đề. Thuở Phật Nhiên Đăng. . nay Ta bảo ông: nếu có thiện nam hay tín nữ nào đem bảy thứ báu đầy cả ngần ấy sông Hằng để làm việc bố thí. chỗ đó có Phật hoặc có Đệ Tử của Phật đáng được tôn kính.Nầy Tu Bồ Đề. Bạch Đức Thế Tôn. THỌ TRÌ ĐÚNG NHƯ PHÁP Bấy giờ. ý của ông nghĩ thế nào? Bồ Tát có trang nghiêm Phật độ chăng? . A Tu La. nên gọi Tu Bồ Đề là ưa hạnh tịch tịnh.Nầy Tu Bồ Đề. tất cả Trời. thời chính là chấp trước tướng: ngã.” . huống nữa là số cát trong sông. Người. Bạch Đức Thế Tôn. Như Lai có chứng được Pháp không?” . chắc Đức Thế Tôn chẳng nói Tu Bồ Đề là người ưa hạnh tịch tịnh. TRANG NGHIÊM TỊNH ĐỘ Đức Phật bảo Tu Bồ Đề: “Ý của ông nghĩ thế nào? Thuở Đức Phật Nhiên Đăng. (1 tiếng chuông) 11. Nầy Tu Bồ Đề. Chỗ nào có kinh nầy. Huống nữa. chúng sanh. Ý của ông nghĩ thế nào? Số cát trong những sông Hằng đó có nhiều không? Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn.” (1 tiếng chuông) 10. thọ giả. chính chẳng phải trang nghiêm.Nầy Tu Bồ Đề. đó gọi là Bát Nhã Ba La Mật. vị. rất nhiều. đó gọi là trang nghiêm. là bực nhứt trong mọi người. chẳng nên trụ trước nơi thinh. nên cúng dường như là tháp miếu thờ Phật. Số sông Hằng đã nhiều rồi. ví thế các vị đại Bồ Tát nên sanh tâm thanh tịnh như vầy: chẳng nên trụ trước nơi sắc mà sanh tâm. (1 tiếng chuông) 13. lại nữa. nhơn. hương. Vì Tu Bồ Đề thật không mống niệm. Như Lai nói Bát Nhã Ba La Mật. Vì sao? Vì trang nghiêm Phật độ. rất nhiều.” (1 tiếng chuông) 12. Vì sao? Vì Đức Phật nói chẳng phải thân. Vì sao? Vì thật không có Pháp chi gọi là A La Hán. Đức Phật dạy rằng con được Vô Tránh Tam Muội. như trong sông Hằng có bao nhiêu cát. xúc. thời phước đức nầy hơn phước đức trước kia. ý ông nghĩ thế nào? Thân có người đó có lớn chăng? Tu Bồ Đề bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. người đó được phước có nhiều không? Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. Đức Như Lai thật không chứng được Pháp.Bạch Đức Thế Tôn: Không. Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. phải biết người ấy trọn nên Pháp tối thượng hi hữu bậc nhứt. Nầy Tu Bồ Đề. TÔN TRỌNG CHÁNH GIÁO . . . ví như có người thân lớn như núi Tu Di. tùy chỗ giảng nói kinh nầy.

Tu Bồ Đề. con tin hiểu thọ trì. thời Ta mống lòng hờn giận. không có thọ giả tướng. Bồ Tát phải bố thí như thế. Nếu lại có người theo kinh nầy thọ trì. phải biết người đó rất là hi hữu.Tu Bồ Đề. nếu Ta có ngã tướng. Nầy Tu Bồ Đề. vị. không có thọ giả tướng. nhẫn nhục Ba La Mật.Tu Bồ Đề. đó gọi là ba mươi hai tướng tốt. từ trước ngày được huệ nhãn đến nay. Bạch Đức Thế Tôn. VẮNG LẶNG LÌA TƯỚNG Bấy giờ. nhơn tướng. có lòng tin thanh tịnh. Tu Bồ Đề nghe Phật nói kinh nầy. nay được nghe kinh nầy.Nầy Tu Bồ Đề. Như Lai nói chẳng phải vi trần. Nầy Tu Bồ Đề. Bạch Đức Thế Tôn. Ta không chấp ngã tướng. pháp mà sanh tâm. như có thiện nam hay tín nữ nào đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí. Ta không có ngã tướng. Nầy Tu Bồ Đề. thời người ấy chính là hi hữu bực nhứt. không chấp thọ giả tướng. ý của ông nghĩ thế nào? Có thể căn cứ trên ba mươi hai tướng tốt cho là Như Lai chăng? . thuở xưa. không chấp chúng sanh tướng. Vì sao? Vì Đức Như Lai nói ba mươi hai tướng tốt chẳng phải tướng tốt. chính không phải chúng sanh. hiểu thấu nghĩa của kinh. thật tướng đó chính chẳng phải tướng. cho đến bài kệ bốn câu vân vân. Như Lai nói chẳng phải nhẫn nhục Ba La Mật.Tu Bồ Đề. Vì sao? Vì người ấy không có ngã tướng. không e sợ. thuở quá khứ. Ta làm vị Tiên nhẫn nhục. Đức Như Lai không có nói Pháp. ý của ông nghĩ thế nào? Vi trần trong cõi Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới có nhiều không? Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. không có nhơn tướng. Nên sanh tâm không trụ vào đâu cả. những vi trần ấy. chính đó gọi là chư Phật. cho nên Đức Như Lai gọi là thật tướng. phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. chẳng phải Ba La Mật thứ nhứt. Vì sao? Vì lúc thân bị chặt rời rã. Vào khoảng năm trăm năm sau. vì thế nên Bồ Tát phải xa lìa tất cả tướng. trong lúc đó. chẳng nên trụ nơi thinh. đó gọi là thế giới. Chẳng nên trụ nơi sắc mà sanh tâm. không chấp nhơn tướng. Nếu như tâm có trụ. cho nên Đức Phật nói tâm của Bồ Tát chẳng nên trụ nơi sắc mà bố thí. đó gọi là vi trần. Phải biết người ấy trọn nên công đức hi hữu bực nhứt. Vì sao? Vì ngã tướng không phải tướng. Như Lai nói thế giới cũng chẳng phải thế giới. Nầy Tu Bồ Đề. không có chúng sanh tướng. ý của ông nghĩ thế nào? Như Lai có nói Pháp không?” Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. thời chính là sanh thật tướng. Vì sao? Nầy Tu Bồ Đề. thọ giả tướng đều cũng không phải tướng. không cảm thấy khó. không nhút nhát. rồi tin hiểu thọ trì. Ta lại nhớ. đó gọi là nhẫn nhục Ba La Mật. Chẳng thể căn cứ trên ba mươi hai tướng tốt cho là Như Lai. chính chẳng phải trụ. . vì lợi ích cho tất cả chúng sanh.” .Bạch Đức Thế Tôn: không. không có nhơn tướng. hương. giảng nói cho người khác nghe. chúng sanh nào được nghe kinh nầy. Phật nói kinh rất sâu xa dường ấy. nên ông buồn khóc. Như Lai nói Ba La Mật thứ nhứt. rất nhiều. thời phước của người nầy nhiều hơn người trên. (1 tiếng chuông) 14. xúc. không có chúng sanh tướng. thọ giả tướng. nếu lại có người nào được nghe kinh nầy. chúng sanh tướng. . Như Lai nói tất cả các tướng. đó gọi là Ba La Mật thứ nhứt. và bạch Phật rằng: “Hi hữu thay Đức Thế Tôn. Trong bao nhiêu đời đó. Ta bị vua Ca Lợi chặt đứt thân thể.” . Vì sao? Nầy Tu Bồ Đề. Phật bảo Tu Bồ Đề: “Đúng thế! Đúng thế! Lại như có người được nghe kinh nầy mà lòng không kinh hãi. Bạch Đức Thế Tôn. con chưa từng được nghe như thế nầy. Vì sao? Vì xa lìa tất cả tướng. trong năm trăm đời. lại nói tất cả chúng sanh.

(1 tiếng chuông) 16. và không thể nghĩ bàn được. thọ trì. phải hàng phục tâm mình như thế nào?” . bị người khinh chê. thiện nam hay tín nữ nào phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu có người nào thọ trì. RỐT RÁO KHÔNG NGÃ Bấy giờ. nếu bị người khinh chê. có kẻ nghe. đem thân mạng bằng số cát sông Hằng để bố thí. vì nghĩa lý của kinh nầy không thể nghĩ bàn. đều thấy rõ người ấy. thời công đức của người ấy được nhiều hơn muôn ức lần công đức cúng dường các Đức Phật của Ta trong thuở trước. nên không những tội nghiệp đã gây ra trong đời trước được tiêu diệt. nên quả báo cũng không thể nghĩ bàn. Nầy Tu Bồ Đề. buổi sáng. nếu tâm của Bồ Tát trụ nơi Pháp để làm việc bố thí. Những người như thế sẽ gánh vác Pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Như Lai. đọc tụng. nếu có thiện nam hay tín nữ nào. lại có người nghe kinh nầy. nói cho người khác nghe. CÔNG ĐỨC TRÌ KINH Nầy Tu Bồ Đề. đều thấy rõ người ấy. đời sau. (1 tiếng chuông) 17. nhưng trong đời nay. trong lòng sẽ cuồng loạn nghi ngờ không tin. lại đem thân mạng bằng số cát sông Hằng để bố thí. A Tu La vân vân. không trái. Vì sao? Nầy Tu Bồ Đề. như người vào chỗ tối tăm. nếu những nơi nào có kinh nầy. pháp ấy không thiệt không hư. thời Như Lai đều biết rõ người ấy. Nầy Tu Bồ Đề. Như Lai sẽ biết rõ người ấy. đáng lẽ người đó sẽ phải đọa vào ác đạo. Nếu tâm của Bồ Tát không trụ nơi pháp để làm việc bố thí. vì người nào ham ưa pháp tiểu thừa chấp trước ngã tướng. Nầy Tu Bồ Đề. Chỗ đó. Nầy Tu Bồ Đề. Nầy Tu Bồ Đề. giảng nói rộng ra cho người khác nghe. Nầy Tu Bồ Đề. Ta được hầu hạ cúng dường tám trăm bốn nghìn muôn ức na do tha các Đức Phật. nói tóm lại. nên cung kính lễ lạy. Về đời sau. sanh lòng tin. vì người phát tâm tối thượng mà nói. Nầy Tu Bồ Đề. vô lượng vô số kiếp về quá khứ. thời người ấy không thể nghe nhận. sẽ được thành tựu công đức vô lượng vô biên. đi nhiểu chung quanh. lời không phỉnh phờ. như thiện nam hay tín nữ nào đọc tụng kinh nầy. tất cả Trời. Người. Như Lai vì người phát tâm đại thừa mà nói. cũng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng để bố thí. phải trụ tâm như thế nào. lời đúng đắn. thời kinh nầy có vô lượng công đức không thể nghĩ bàn. Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn. (1 tiếng chuông) 15. vì tội nghiệp đã gây ra trong đời trước. nếu có thiện nam hay tín nữ nào đọc tụng kinh nầy. như người có mắt sáng lại có ánh sáng mặt trời chiếu đến. sẽ được trọn nên công đức không thể cân lường. Đức Phật Nhiên Đăng ra đời. công đức của người ấy được. nếu có thiện nam hay tín nữ nào thọ trì đọc tụng kinh nầy. buổi chiều. nếu có người thọ trì đọc tụng kinh nầy. không thể cân lường được. chúng sanh tướng. nầy Tu Bồ Đề. nếu Ta nói hết cả ra. TRỪ HẾT NGHIỆP CHƯỚNG Lại nữa. rải các món hương hoa trên đó để cúng dường. trong vô lượng trăm nghìn muôn ức kiếp đem thân mạng bố thí như thế. người ấy còn được Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. về đời sau. pháp của Như Lai chứng đặng. chính là pháp thờ Đức Phật. thấy đủ hình sắc. thời phước của người nầy hơn phước của người trước kia.Nầy Tu Bồ Đề. không thấy chi cả. đều nên cúng dường. Như Lai nói lời chơn chánh. lời không sai khác. đọc tụng. thọ giả tướng. Ta nhớ lại thuở trước. lời chắc thật. buổi trưa. đọc tụng và giảng nói kinh nầy cho người khác nghe được. nhơn tướng. huống chi là biên chép. Nầy Tu Bồ Đề. không luống bỏ qua.

” Nếu có người nói: “Như Lai chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.” Vì sao? Vì Như Lai đó chính nghĩa là “Các Pháp. vị ấy không được gọi là Bồ Tát. thật ra không có Pháp chi để Ta chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.” Sự thật. Nầy Tu Bồ Đề. Như Lai nói đó. ý của ông nghĩ thế nào? Như Lai có nhục nhãn không? . đúng thế. đúng thế. thời Đức Thế Tôn ở với Đức Phật Nhiên Đăng không có Pháp chi để chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. thọ giả tướng. không nhơn. chính chẳng phải thân người cao lớn. Vì sao? Nầy Tu Bồ Đề. thời phải sanh tâm như vầy: Ta phải cứu độ tất cả chúng sanh. đúng thế. Nầy Tu Bồ Đề. không thọ giả.” Nầy Tu Bồ Đề. XEM ĐỒNG MỘT THỂ Nầy Tu Bồ Đề.Bạch Đức Thế Tôn: Không. thật không có pháp chi để Như Lai chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì sao? Vì Như Lai nói trang nghiêm Phật độ. chúng sanh tướng. nếu Bồ Tát có ngã tướng.Nầy Tu Bồ Đề. ông sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. nhơn tướng. Vì sao? Nầy Tu Bồ Đề. thật không có Pháp chi gọi là Bồ Tát. . Nầy Tu Bồ Đề. . cho nên Đức Nhiên Đăng đã thọ ký cho Ta và nói lời nầy: “Đời sau.Bạch Đức Thế Tôn.Phật bảo Tu Bồ Đề: “Thiện nam hay tín nữ nào phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. cứu độ tất cả chúng sanh xong. thời Đức Nhiên Đăng chẳng thọ ký cho Ta như sau: “Đời sau.Bạch Đức Thế Tôn. Đức Như Lai có Phật nhãn. Nếu nói lời như vầy: Ta sẽ cứu độ vô lượng chúng sanh. chính chẳng phải trang nghiêm. Nầy Tu Bồ Đề. ý của ông nghĩ thế nào? Vào thuở Như Lai ở với Đức Phật Nhiên Đăng có Pháp chi để chứng Chánh Đẳng Chánh Giác không? . Nầy Tu Bồ Đề. . chính chẳng phải tất cả Pháp.Nầy Tu Bồ Đề. ý của ông nghĩ thế nào? Như Lai có pháp nhãn không? . vị đó không được gọi là Bồ Tát. Phật dạy rằng: “Đúng thế! Đúng thế! Nầy Tu Bồ Đề. tất cả Pháp. đó gọi là thân người cao lớn. Đức Như Lai có huệ nhãn. ý của ông nghĩ thế nào? Như Lai có huệ nhãn không? . Vì thế. cho nên gọi là tất cả Pháp. đúng thế. . vì thế Như Lai nói “Tất Cả Các Pháp Đều Là Phật Pháp.Bạch Đức Thế Tôn. Đức Như Lai nói thân người cao lớn. Ta nói tất cả Pháp là không ngã. vì thật ra không có pháp chi phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. ý của ông nghĩ thế nào? Như Lai có thiên nhãn không? . Nầy Tu Bồ Đề. ví như thân người cao lớn. Đức Như Lai có thiên nhãn. Đức Như Lai có nhục nhãn. thời chẳng phải Bồ Tát. không có Pháp chi để chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. (1 tiếng chuông) 18. nếu có Pháp để Như Lai chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.Nầy Tu Bồ Đề.” . nếu Bồ Tát thông đạt được “Pháp Vô Ngã” thời Như Lai mới gọi là Bồ Tát.Bạch Đức Thế Tôn.Bạch Đức Thế Tôn. Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Như Lai chứng được không thật. Vì sao? Nầy Tu Bồ Đề. Như Lai có pháp nhãn. . ông sẽ đặng thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. không chúng sanh. nhưng không có một chúng sanh nào được cứu độ. nếu Bồ Tát nói như thế nầy: Ta phải trang nghiêm Phật độ. đúng thế. không hư. đó gọi là trang nghiêm. Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. Tu Bồ Đề.Nầy Tu Bồ Đề. ý của ông nghĩ thế nào? Như Lai có Phật nhãn không? . Bồ Tát cũng như thế.Nầy Tu Bồ Đề. như chỗ con hiểu nghĩa của Đức Thế Tôn nói.

đó mới gọi là tâm. người đó được phước rất nhiều. Vì không ngã. không hiểu nghĩa lý của Như Lai nói. đời sau. nầy Tu Bồ Đề. những chúng sanh đó. Vì sao? Nầy Tu Bồ Đề. ý của ông nghĩ thế nào? Như bao nhiêu cát trong sông Hằng.Bạch Đức Thế Tôn: Rất nhiều. cũng chẳng phải là không phải chúng sanh. nên Như Lai nói là phước đức nhiều. THÔNG HÓA PHƯỚC ĐỨC Nầy Tu Bồ Đề. là không có chỗ để chứng phải không?” Phật dạy: “Đúng thế. KHÔNG PHÁP CHI CÓ THỂ ĐƯỢC Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. (1 tiếng chuông) 23. mới gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.Nầy Tu Bồ Đề. thuyết pháp. ý của ông nghĩ thế nào? Có thể do sắc thân cụ túc thấy được Phật không? . ý của ông nghĩ thế nào? Như có người đem bảy thứ báu đầy cả cõi Tam Thiên Đại Thiên để bố thí. Vì sao? Vì Như Lai nói các tướng cụ túc. Vì sao? Vì Như Lai nói các thứ tâm đều chẳng phải tâm. Vì sao? Vì nếu người nào nói rằng: Như Lai có thuyết pháp. không nhơn. nếu phước đức có thật. Nầy Tu Bồ Đề. đó gọi là sắc thân cụ túc. Như Lai đều biết rõ. Vì sao? Nầy Tu Bồ Đề. đó gọi là các tướng cụ túc. tâm hiện tại không có. chẳng phải các tướng cụ túc. Vì không có phước đức. (1 tiếng chuông) 21. nầy Tu Bồ Đề. chẳng phải sắc thân cụ túc. Như Lai có nói là cát chăng? . có chúng sanh nào nghe pháp nầy mà sanh lòng tin chăng?” Phật dạy rằng: “Nầy Tu Bồ Đề. Ta ở nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nhẫn đến không có Pháp nhỏ nào để có thể gọi là chứng.” (1 tiếng chuông) 22. CHẲNG PHẢI NĂNG THUYẾT SỞ THUYẾT . TỊNH TÂM HÀNH THIỆN Lại nữa. . Không thể do các tướng cụ túc mà thấy được Đức Như Lai. Đức Lai nói là cát. người ấy có phước nhiều không? .Bạch Đức Thế Tôn.Nầy Tu Bồ Đề. . Pháp đó bình đẳng không có cao thấp. chúng sanh đó chẳng phải chúng sanh. LÌA SẮC TƯỚNG . đó gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.. . không thọ giả. Không thể do sắc thân cụ túc mà thấy được Đức Như Lai. thật không có pháp chi nói được. ông chớ nói rằng Như Lai nghĩ thế nầy: Ta nên thuyết pháp. ý của ông nghĩ thế nào? Như bao nhiêu cát trong một sông Hằng. Như Lai nói chẳng phải chúng sanh.Nầy Tu Bồ Đề. Bấy giờ. trong nhiều sông Hằng. đó gọi là chúng sanh. ý của ông nghĩ thế nào? Có thể do các tướng cụ túc mà thấy được Phật không? . tâm vị lai không có.Bạch Đức Thế Tôn: Không. Phật bảo Tu Bồ Đề: “Bao nhiêu tâm niệm của tất cả chúng sanh trong ngần ấy cõi nước. tâm quá khứ không có.Nầy Tu Bồ Đề. Vì sao? Vì Đức Như Lai nói sắc thân cụ túc.Nầy Tu Bồ Đề. cõi Phật như số cát trong những sông Hằng đó có nhiều không? .Nầy Tu Bồ Đề. ông đừng nghĩ như thế.Bạch Đức Thế Tôn. Như Lai không nói phước đức ấy nhiều. không chúng sanh. . đúng thế. (1 tiếng chuông) 19. Huệ Mạng Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. đó gọi là thuyết pháp. (1 tiếng chuông) 20.Bạch Đức Thế Tôn: Không. Phật chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. thời là hủy báng Như Lai.

công đức của người nầy sánh với công đức của người trì tụng hay giảng nói một bài kệ bốn câu trong kinh Bát Nhã Ba La Mật nầy cho người khác nghe. thời Chuyển Luân Thánh Vương là Như Lai sao?” Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. thời Như Lai còn có tướng: ngã. (1 tiếng chuông) 27. ý của ông nghĩ thế nào? Các ông chớ cho rằng Như Lai nghĩ như vầy: Ta phải hóa độ chúng sanh. KHÔNG ĐOẠN KHÔNG DIỆT Nầy Tu Bồ Đề. Nầy Tu Bồ Đề. Ông đừng nghĩ như thế. PHÁP THÂN KHÔNG PHẢI SẮC TƯỚNG Nầy Tu Bồ Đề. nên nói chẳng nhận lấy phước đức. (1 tiếng chuông) 26. Nầy Tu Bồ Đề. Nầy Tu Bồ Đề. Pháp lành được Như Lai nói đó. đó gọi là pháp lành. Vì sao? Vì thật không có chúng sanh nào được Như Lai độ cả. ông đừng nghĩ như thế. kẻ phàm phu lại cho có ngã. (1 tiếng chuông) 28. nếu ông nghĩ thế nầy: Như Lai không do tướng cụ túc chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. chính chẳng phải ngã. ý của ông nghĩ thế nào? Có thể căn cứ trên ba mươi hai tướng tốt mà cho là Như Lai chăng? Tu Bồ Đề bạch rằng: “Đúng thế! Đúng thế Căn cứ trên ba mươi hai tướng tốt cho là Đức Như Lai. Nầy Tu Bồ Đề. Nếu có chúng sanh để Như Lai độ. vì các vị Bồ Tát không nhận lấy phước đức. Như Lai nói ngã. (1 tiếng chuông) 24. con hiểu nghĩa Phật muốn nói. CHẲNG NHẬN LẤY CHẲNG THAM Nầy Tu Bồ Đề. Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. Bồ Tát có làm việc phước đức chẳng nên tham trước. Vì sao? Vì người phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nói Pháp không nói tướng đoạn diệt. ông đừng nghĩ Như Lai không do tướng cụ túc. Vị Bồ Tát nầy được công đức hơn phước đức của vị Bồ Tát trước. OAI NGHI VẮNG LẶNG . nếu có người góp bảy thứ báu lại nhiều như số núi Tu Di trong cõi Tam Thiên Đại Thiên để bố thí.” Phật dạy rằng: “Nầy Tu Bồ Đề. chẳng phải pháp lành. nếu Bồ Tát đem bảy thứ báu đầy cả những cõi nước bằng số cát sông Hằng để làm việc bố thí. tại sao các vị Bồ Tát không nhận lấy phước đức?” . vì thế. thì công đức của người sau lớn gấp trăm ngàn lần công đức của người trước. nếu do ba mươi hai tướng tốt mà xem là Như Lai. thọ giả. phàm phu đó Như Lai nói chẳng phải phàm phu. “chẳng nên căn cứ trên ba mươi hai tướng tốt mà cho là Đức Như Lai. đó gọi là phàm phu.Nầy Tu Bồ Đề. Nếu lại có Bồ Tát biết “Pháp Vô Ngã” của tất cả Pháp mà được thành nhẫn trí.lại tu tất cả Pháp lành. nhơn.” Bấy giờ. 25. nếu ông nghĩ như vầy: Chánh Giác nói các Pháp đều đoạn diệt. (1 tiếng chuông) 29. Nầy Tu Bồ Đề. PHƯỚC ĐỨC TRÍ HUỆ KHÔNG CHI SÁNH BẰNG Nầy Tu Bồ Đề. Đức Thế Tôn liền nói kệ rằng: Nếu dùng sắc thấy Ta Dùng âm thinh cầu Ta Người ấy tu đạo tà Chắc là không thấy Ta. chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. chúng sanh. HÓA ĐỘ KHÔNG NGƯỜI ĐƯỢC HÓA ĐỘ Nầy Tu Bồ Đề. Vì sao? Nầy Tu Bồ Đề. nên chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nầy Tu Bồ Đề.

như như chẳng động. hoặc nằm.” đó gọi là “một hiệp tướng. chúng sanh kiến.” .Bạch Đức Thế Tôn: Không. hoa. tất cả Trời. thọ giả kiến.” chẳng phải “một hiệp tướng. nghe những lời của đức Phật nói. đó gọi là ngã kiến. (3 lần. Bạch Đức Thế Tôn. tự mình thọ trì đọc tụng hay giảng cho kẻ khác nghe. Vì sao? Vì nếu số bụi đó thật có.Nầy Tu Bồ Đề. . Ưu Bà Tắc. chẳng phải ngã kiến. hoặc ngồi. (3 lần. xoa ha. (1 tiếng chuông) 30. đó gọi là pháp tướng. (1 tiếng chuông) 32. Trưởng Lão Tu Bồ Đề và các vị Tỳ Kheo. khác chi bóng hình Như sấm chớp. chúng sanh kiến. nhơn kiến.” (1 tiếng chuông) Đức Phật nói kinh nầy xong. Vì sao? Vì Phật nói ngã kiến. (1 tiếng chuông) 31. thời là “một hiệp tướng. Người ấy không hiểu nghĩa của Phật nói. không thể nói được. 1 tiếng chuông) KỆ KHEN NGỢI Kim Cang diệu lý khó đo lường Như Lai giác ngộ đã tuyên dương Người nghe hiểu rõ “chân thường” Hương. đó gọi là bụi. (1 tiếng chuông) CHÚ KIM CANG Án. như có thiện nam hay tín nữ đem cõi Tam Thiên Đại Thiên đập nát ra thành bụi. Ưu Bà Di. Cách giảng nói cho người khác nghe như thế nào? Không chấp nơi tướng. thọ giả kiến. thọ giả kiến. Tỳ Kheo Ni. nhơn kiến. tin hiểu như thế. Vì sao? Vì Như Lai không từ nơi nào lại. nếu có người nói: Đức Như Lai hoặc đến. hô rô hô rô. thảy đều vui mừng tin nhận và làm theo. chỉ kẻ phàm phu tham trước việc ấy thôi. chẳng phải bụi. NGHĨA LÝ NHỨT HIỆP TƯỚNG Nầy Tu Bồ Đề. Người. ý của ông nghĩ thế nào? Người ấy hiểu nghĩa của Phật nói không? . nơi tất cả Pháp. A Tu La vân vân. nhẫn đến một bài kệ bốn câu vân vân. Vì sao? Vì Đức Phật nói bụi. như có người nói: Phật nói ngã kiến. Đức Như Lai nói chẳng phải thế giới. Nam Mô Kỳ Viên Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát. thời Đức Phật chẳng nói là số bụi. Nầy Tu Bồ Đề. nên gọi là thế giới.Nầy Tu Bồ Đề. thọ giả kiến. Như Lai nói pháp tướng đó. Vì sao? Vì nếu thế giới là thật có. Lại có thiện nam hay tín nữ nào phát tâm Bồ Đề thọ trì kinh nầy. chúng sanh kiến. ý của ông nghĩ thế nào? Số bụi đó có nhiều không? Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn. đảnh lễ cúng dường Trung Tôn. cõi Tam Thiên Đại Thiên. ỨNG HÓA KHÔNG PHẢI CHƠN THẬT Nầy Tu Bồ Đề. như âm thinh Quán xem “các pháp” như hình “không hoa. như có người đem bảy thứ báu đầy cả vô lượng vô số cõi nước để làm việc bố thí. nhơn kiến. nên gọi là Như Lai. hoặc đi. chúng sanh kiến. nhơn kiến. “một hiệp tướng” đó. người phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác phải biết như thế.” Đức Như Lai nói “một hiệp tướng.Nầy Tu Bồ Đề. người ấy không hiểu nghĩa của Như Lai nói.Nầy Tu Bồ Đề. chẳng sanh pháp tướng. cũng không đi về đâu. 1 tiếng chuông) KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT . không phải pháp tướng. Vì sao? Vì: Tất cả các “pháp hữu vi” Như là mộng huyễn. xả duệ mục khê. thời phước đức của người nầy hơn người trước. CHỖ THẤY BIẾT KHÔNG SANH . rất nhiều.

là Đại Minh Chú. không có khổ. ”tướng không của mọi pháp” không sanh. bồ đề tát bà ha. hào quang sáng ngời. Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. Tưởng. dạo. bốn biển long lanh. Tướng tốt rực rỡ. trừ được hết thảy khổ. Thọ. ”Này Ông Xá Lợi Phất. sắc tức là không. không bớt. cho đến không có ý thức giới. mộng tưởng. Thức cũng đều như thế. ba la tăng yết đế. diệt. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. không có sắc. Vô số Bồ Tát hiện ở trong. vị. cũng không có cái hết vô minh. (mỗi câu 3 lần. phá giới tạo ra tội nhiều . sắc chẳng khác không. cũng không có chứng đắc. không có trí huệ. pháp. không có vô minh. Ở phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh. Qui mạng lễ A Di Đà Phật. xúc. tập. Vì không ngăn ngại. không chẳng khác sắc. liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: ”Yết đế. không có mắt. nên không sợ hãi. thức. nên trong ”chân không”. đạt tới cứu cánh Niết Bàn. hành. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. Ngài soi thấy năm uẩn đều không. Hành. Tu Di uyển chuyển. không có nhãn giới. cũng không có cái hết già chết. mũi. Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh. không tức là sắc. tai. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. yết đế. không có sắc. không thêm. cho đến không có già chết. 1 tiếng chuông) Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. hương. (1 tiếng chuông) Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. Mắt trong ngần.Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa. ý. Mày trắng tỏa.” (1 tiếng chuông) NIỆM PHẬT A Di Đà Phật thân sắc vàng. Nam Mô A Di Đà Phật. xa hẳn điên đảo. là Vô Thượng Chú. chân thật không hư. không sạch. không có thọ.” ”Này Ông Xá Lợi Phất. qua hết thảy khổ ách.” Vì vậy. thân. Chín phẩm sen vàng lên giải thoát. tưởng. lưỡi. thinh. được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. không diệt. Ánh hào quang hóa vô số Phật. là Vô Đẳng Đẳng Chú. tâm không ngăn ngại. không dơ. Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. SÁM NGÃ NIỆM Con từ kiếp trước không lường Mất chơn bản tánh nên vương cõi trần Luân hồi sanh tử chút thân Thay hình đổi dạng bao lần đắng cay Phước dư nhờ chút thiện nầy Thân người được gặp theo Thầy xuất gia Cạo đầu mặc áo cà sa Hủy trai. Vì không có chỗ chứng đắc. ba la yết đế.

Sát sanh hại vật đủ điều Ăn nhai uế tạp đắm yêu thân hình Của người riêng chiếm vào mình Nhờ duyên Tam Bảo dụng tình tiêu hoang Bôn xu cầu cạnh đủ đường Rượu ngon, gái đẹp lòng thường say sưa. (1 tiếng chuông) Khinh tăng, hủy báng Phật thừa Mẹ cha, thầy bạn u ơ bạc tình Khoe hay, dấu dốt của mình Sự người tốt đẹp lại sinh chê dèm Lợi danh dối trá đã quen Thị phi nhơn ngã đua chen với đời Tưởng rằng chẳng lúc nào ngơi Tấm lòng tán loạn suốt đời hư sinh Việc người mách lẻo thời tinh Việc mình lạy Phật tụng kinh thời lười Bề ngoài đạo đức lòe đời Mà trong ngã mạng khinh người gớm ghê Biếng lười chỉ thích ngủ nghê Tham lam bủn xỉn ai chê cũng liều Gốc nhơ trồng cấy đã nhiều Cánh bèo biển khổ theo chiều gió đưa! Đã không chút thiện nương nhờ Trong ba đường dữ bao giờ tránh qua? Ngưỡng trông Đức Phật Di Đà (1 tiếng chuông) Quán Âm, Thế Chí đôi tòa thần thông Từ bi lượng cả bao dong Cứu con tội cáu sạch không mọi màu Đời nầy cho chí đời sau Sáu căn, ba nghiệp sạch làu như gương Rỗng không tội tánh mọi đường Khắp trong pháp giới chẳng vương bụi trần. (1 tiếng chuông) HỒI HƯỚNG Tụng kinh công đức, hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sinh trong pháp giới Hướng về Phật pháp tỏ Đạo Mầu. (1 tiếng chuông) Nguyện cho ba chướng tiêu tan Phiền não dứt sạch, huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời Hành Bồ Tát Đạo, cứu đời lầm than. (1 tiếng chuông) Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả.
(1 tiếng chuông, chỉ chủ lễ phục nguyện)

TAM QUY

Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.
(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng, trí huệ như biển.
(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.
(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

NGHI THỨC

CÚNG SAO GIẢI HẠN
(Duhkha vimukti) GỒM CÓ: • Chú Tịnh Pháp Giới và Tịnh Tam Nghiệp • Cúng Hương • Cầu Nguyện • Khen Ngợi Phật • Quán Tưởng Phật • Đảnh Lễ • Tán Dương Chi • Chú Đại Bi • Xướng và Đọc Sớ • Bài Cúng Sao Giải Hạn • Chú Tiêu Tai • Chú Dược Sư • Sám Tiêu Tai Giải Hạn • Nguyện An Lành • Hồi Hướng • Phục Nguyện • Tam Quy DÙNG ĐỂ: Cầu nguyện cho khỏi xui xẻo, tai nạn, và những điều xấu trong năm. Thêm vào đó, người bị sao hạn phải bố thí, phóng sanh, và làm nhiều vỉệc lành, lợi mình lợi người. Bỏ hết tham, sân, si sẽ được tai qua nạn khỏi. NGHI THỨC

CÚNG SAO GIẢI HẠN
(Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm).

CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI Án lam xoa ha. (3 lần) CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám. (3 lần)
(Quì ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm bài cúng hương).

CÚNG HƯƠNG Nguyện đem lòng thành kính Gởi theo đám mây hương Phảng phất khắp mười phương

Cúng dường ngôi Tam Bảo Thề trọn đời giữ Đạo Theo tự tánh làm lành Cùng pháp giới chúng sanh Cầu Phật từ gia hộ Tâm Bồ Đề kiên cố Xa bể khổ nguồn mê Chóng quay về bờ giác. (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá) CẦU NGUYỆN Đệ tử chúng con, nhân ngày... (Nguyên Đán) một dạ chí thành, thiết lễ Cầu An, Nhương Tinh Giải Hạn, ngưỡng nguyện Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, chư đại Bồ Tát, cùng Thánh, Hiền, Tăng từ bi gia hộ cho Phật tử:..., đương đời phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu trừ, thường được an lành, xa lìa khổ ách, và cùng pháp giới chúng sanh, một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ Tát tác đại chứng minh. (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá) KHEN NGỢI PHẬT Đấng Pháp Vương vô thượng Ba cõi chẳng ai bằng Thầy dạy khắp trời, người Cha lành chung bốn loại Quy y tròn một niệm Dứt sạch nghiệp ba kỳ Xưng dương cùng tán thán Ức kiếp không cùng tận (1 tiếng chuông xá 1 xá) QUÁN TƯỞNG PHẬT Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn Lưới đế châu ví đạo tràng Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời Trước bảo tọa thân con ảnh hiện Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.
(1 tiếng chuông, đại chúng đồng tụng)

-

ĐẢNH LỄ Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (1 tiếng chuông,
lạy 1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1
tiếng chuông, lạy 1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy) TÁN DƯƠNG CHI Cành dương nước tịnh nhiệm mầu Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau Chư Thiên mát mẻ, tâm thanh tịnh

-

địa rị sắc ni na. ta bà ha. a bát ra để. ma ha tát đỏa bà da. ta bà ha. Nam mô a rị da. Trung Ngũ Đẩu. 1 tiếng chuông) Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni. đà ra đà ra. CHÚ TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG Nẳng mồ tam mãn đa. lâm đàn chứng minh. ma ra ma ra. ba dạ ma na. dá ra dá ra. (3 lần. 1 tiếng chuông) Như Lai tướng tốt Không thể nghĩ bàn Con nay dâng sớ cầu an Cúi xin Phật Tổ. Án. ta bà ha. tam một yết đế xoa ha. để sắc sá. Na ra cẩn trì. (3 lần. sắc trí rị. ma ha ca lô ni ca da. Án a bà lô hê. Ma bà lị thắng kiết ra dạ. hồng hồng. ta bà ha. bà lô kiết đế thước bát ra da. độ lô độ lô phạt xà da đế. ta phạ ha. thất Phật ra da. ta ra ta ra. TiêuTai Xí Thạnh Quang Vương Phật. ta phấn tra. Ma ha tất đà dạ. ma hê ma hê rị đà dựng. đát điệt tha. sắc trí rị. thất na thất na. Ba đà ma kiết tất đà dạ. nhập phạ ra. Bàn Lâm Chủ Chiếu. Nguyện Giáng Kiết Tường. na ma bà dà. nếu không bớt phần nầy) XƯỚNG SỚ Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo. Đại Bi Đại Nguyện. bát lặc bà hát ra xà dã. lô ca đế. nhập phạ ra. ta bà ha. Bột. tát bà tát bà. La. Nguyện Tiêu Tai Chướng. Phật Quang Chủ Chiếu. tam miệu tam bột đà da. y hê di hê. bồ đề tát đỏa bà da. hạ đa xá. sen vàng nở hoa. đát tha yết đa da. tất rị tất rị. cu lô cu lô kiết mông. Hỏa. Đức Tinh Quân. Châu Thiên Thất Thập Nhị Cung Thần. hô lô hô lô hê rị. hê rị ma ha bàn đa sa mế. tô rô tô rô. mục đế lệ. Ma ra na ra. tát bà tát đa. ma ha phạt xà da đế. đát điệt tha. tát bàn ra phạt duệ. ta bà ha. mạn đa ra. di hê rị. Tiểu Hạn Tinh Quân. tát bà a tha đậu thâu bằng. Đại Vận. bát ra nhập phạ ra. xá 1 xá) BÀI CÚNG SAO GIẢI HẠN Chí Tâm Quy Mạng Lễ. chủ lễ xướng rồi đọc. khê hế. Mộc. số đát na đát tỏa. hô lô hô lô ma ra. ta phấn tra. bạt đà dạ. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. a ra hát đế. ta bà ha. Nam mô na ra cẩn trì. bệ sát xã. khê hế. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. a thệ dựng. Tất ra tăng a mục khê da. bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. phạt sa phạt sâm. (3 lần. bồ đà dạ bồ đà dạ. Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. Án. ta nẳng nẩm.Nhân thế vui tươi. địa rị ni. để sắc sá. Mạ mạ phạt ma ra. bát ra nhập phạ ra. Nhị Thập Bát Tú Liệt Phương Ngung. Cửu Diệu Thất Tinh Chư Thánh Chúng. bà lô kiết đế. Nguyệt. Đông. Tất đà dạ. Nam. ma ha bồ đề tát đỏa. ta bà ha. (1 tiếng chuông. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Tiểu Vận Tôn Thần. ta bà ha. Tây. Nam mô a rị da. di đế rị dạ. 1 tiếng chuông) . Phật ra xá da. phiến để ca. bồ đề dạ bồ đề dạ. ma phạt đạt đậu. Bổn Mạng Nguyên Thần. ta bà ha. bệ sát thệ. đát điệt tha. a ra sâm Phật ra sá lợi. Bắc. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Thổ. mẫu đà nẫm. (3 lần. Án tất điện đô. Kế. Tất đà du nghệ. ta bà ha.1 tiếng chuông) CHÚ DƯỢC SƯ Nam mộ bạt dà phạt đế bệ sát xã lu lô tích lưu ly. ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Đại Thánh Đại Từ. mỗi lần 1 tiếng chuông) 2. khê khê. Kim. thước bàn ra dạ. ta bà ha. na ma bà tát đa. Đại Hạn. cảnh an nhàn Cam lồ rưới khắp trần gian Lửa sân dứt sạch. Án. (3 lần. ca ra đế. bệ sát thệ. thất rị duệ. thất bàn ra dạ. (1 tiếng chuông) (Nếu có sớ. 1 tiếng chuông) CHÚ ĐẠI BI Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. na ra cẩn trì. (3 lần. Thủy.

Giải kiết giải kiết giải oan kiết. Quán Âm phò hộ cửa nhà bình yên. an nhàn thảnh thơi. Thái Dương tiền bạc kiếm ra Tháng Mười. mới là chân tu. cửa nhà bình an. Một Đức. Nghiệp chướng bao đời đều giải hết. . Dược Sư Phật. Tùy tâm mãn nguyện Dược Sư Phật. Tháng Bảy vô vàn điều linh Con nguyền học Đạo sửa mình Sân si dứt sạch. Nguyện cho Đại Hạn tiêu tan Tiểu Hạn hết sạch. Vân Hớn dù có nói chơi Tháng Hai. cầu xin giải kiết. phóng sinh Để cho hết thảy gia đình bình an. phát tâm thành kính. Tháng Tám thiếu gì nhiễu nhương Cúi xin Phật Tổ xót thương (1 tiếng chuông) Giúp cho con được gia đường bình yên. Dược Sư Phật. của tiền khá ra Khuyên người theo chánh bỏ tà Trau giồi đức hạnh. tháng Tám bị lời thị phi Con nguyền học Đạo Từ Bi Nhớ lời Phật dạy. Thủy Diệu sầu bi Tháng Tư. Thái Âm. thanh bình. phúc lộc. Thổ Tú. Tháng Chín. hưởng vui. Thái Bạch hết sạch cửa nhà Tháng Năm tan tác vào ra bực mình Khẩn cầu Cửu Diệu Thất Tinh Cứu con thoát khỏi điêu linh cửa nhà. Nam Mô Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật. Con hằng tâm nguyện vái van Cầu cho con được an nhàn thảnh thơi. mười một truân chuyên Tháng Chín tốt đẹp. Phúc Tinh phò trì. (1 tiếng chuông) Gắng lo bố thí. xa chồng xa cha Khấn cầu Đức Phật Thích Ca. (3 lần. Rửa sạch lòng trần. Kế Đô gia thất long đong Tháng Ba. 1 tiếng chuông) SÁM TIÊU TAI GIẢI HẠN Con nay dốc hết tâm thành Kính lạy Đức Phật Xí Thạnh Quang Vương Nếu con sắp bị tai ương Cúi xin chư Phật đoái thương giải nàn: La Hầu hay bị tai oan Tháng Giêng. tháng Sáu. bổn mạng không xui Tháng Chạp. khắc ghi vào lòng. Đối trước Phật đài.

quyến thuộc khương ninh. đương đời phiền não dứt sạch. hôm nay đệ tử chúng con. lạy 1 lạy) PHẦN PHỤ ĐÍNH . ngưỡng mong Bổn sư ban an lành. cầu cho chúng sanh Thấu rõ Kinh Tạng. cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. cứu người lầm than. hạnh nhiệm mầu Thắng phước bao nhiêu con nguyện cầu Tất cả chúng sinh trong pháp giới Hướng về Phật pháp tỏ Đạo Mầu. xưng tán Hồng Danh. (1 tiếng chuông) PHỤC NGUYỆN Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh. (1 tiếng chuông. TAM QUY Con nương theo Phật. cứu đời lầm than. một dạ chí thành. tất cả thời gian luôn an lành. niệm 3 lần. lạy 1 lạy) Con nương theo Tăng. trọn thành Phật quả. nghiệp chướng tiêu tan. ngày đêm sáu thời luôn an lành. Nhương Tinh Giải Hạn. ngày đêm sáu thời luôn an lành. phát lòng vô thượng. Nguyện đem công đức lành Đệ tử hướng tâm thành Cầu cho khắp chúng sanh Đều chứng thành Phật quả. tất cả thời gian luôn an lành.. (1 tiếng chuông) Nguyện ngày an lành đêm an lành.. (1 tiếng chuông) Nguyện ngày an lành đêm an lành. trì tụng kinh chú. cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp. đồng niệm) Nam Mô A Di Đà Phật. thân tâm thường lạc.. ngày đêm sáu thời luôn an lành. tất cả thời gian luôn an lành. trí huệ như biển. (1 tiếng chuông. HỒI HƯỚNG Cầu an công đức. (1 tiếng chuông) Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. (mỗi câu sau đây. gia đình thịnh đạt. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát..Nguyện cho con được đời đời Hành Bồ Tát đạo. (1 tiếng chuông) NGUYỆN AN LÀNH Nguyện ngày an lành đêm an lành.. lạy 1 lạy) Con nương theo Pháp.. ngưỡng mong Bổn sư ban an lành. xá 1 xá) Tam Bảo chứng minh oai thần hộ niệm. 1 tiếng chuông) Nam Mô Tiêu Tai Giáng Kiết Tường Bồ Tát. tất cả không ngại. Pháp danh: . Nam Mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 tiếng chuông. Nguyện cho ba chướng tiêu tan Phiền não dứt sạch. (1 tiếng chuông. huệ căn sáng ngời Cầu cho con được đời đời Hành Bồ Tát Đạo. cầu nguyện cho Phật tử:. tật bệnh bình an. ngưỡng mong Bổn sư ban an lành. (1 tiếng chuông. pháp giới chúng sanh.

thú dữ vây quanh Quán Âm thị hiện. ưu phiền tiêu tan. lạy 1 lạy) NGUYỆN THỨ HAI: không nài gian khổ Quyết một lòng cứu độ chúng sanh Luôn luôn thị hiện biển Đông Vớt người chìm đắm. (1 tiếng chuông. kỹ nhạc. lạy 1 lạy) NGUYỆN TỨ TƯ: hay trừ yêu quái Bao nhiêu loài ma quỉ gớm ghê Độ cho chúng hết si mê Dứt trừ nguy hiểm. ngạ quỉ. không hề nhiễu nhương. thoát ra nhẹ nhàng. lạy 1 lạy) NGUYỆN THỨ BẢY: dứt ba đường dữ Chốn ngục hình. súc sanh Cọp beo. lạy 1 lạy) NGUYỆN THỨ NĂM: tay cầm Dương liễu Nước cam lồ rưới mát nhân thiên Chúng sanh điên đảo. lạy 1 lạy) NGUYỆN THỨ CHÍN: cứu vớt hàm linh Trên con thuyền Bát Nhã lênh đênh Bốn bề biển khổ chông chênh Quán Âm độ hết.12 Đại Nguyện của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. đưa lên Niết Bàn. lạy 1 lạy) NGUYỆN THỨ TÁM: giải thoát còng la Nếu tội nhân sắp bị khảo tra Thành tâm lễ bái thiết tha Quán Âm phò hộ. mau mau cứu liền. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông. 48 Lời Nguyện Của Đức Phật A Di Đà Bài Tống Táng Khuyến Tu Các Ngày Vía Những Ngày Trai MƯỜI HAI ĐẠI NGUYỆN CỦA ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT NGUYỆN THỨ NHỨT: khi thành Bồ Tát Danh hiệu tôi: Tự Tại Quán Âm Mười hai lời nguyện cao thâm “Nghe tiếng cứu khổ. (1 tiếng chuông.” Quán Âm thề nguyền. lạy 1 lạy) NGUYỆN THỨ MƯỜI: Tây Phương tiếp dẫn Tràng hoa thơm. bảo cái trang hoàng • • • • • • . khi giông gió nhiều. lạy 1 lạy) NGUYỆN THỨ BA: Ta Bà ứng hiện Chốn U Minh nhiều chuyện khổ đau Oan oan tương báo hại nhau Nghe tiếng than thở. đảo điên An vui mát mẻ. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông. lạy 1 lạy) NGUYỆN THỨ SÁU: thường hành bình đẳng Lòng từ bi thương xót chúng sanh Hỷ xả tất cả lỗi lầm Thường hành bình đẳng. chúng sanh mọi loài. chúng sanh thoát nàn. (1 tiếng chuông. (1 tiếng chuông. lộng tàn Tràng phang.

phải lau nhọc nhằn. NGUYỆN THỨ CHÍN . giầy Thảy đều hóa đủ trưng bày Khỏi mua. NGUYỆN THỨ HAI – nhân dân trong nước Đều hóa sanh từ “Chín Phẩm Liên” Nương theo nguyện lực tinh chuyên Đến khi thọ mạng.chỉ nghe điều thiện . lạy 1 lạy) BỐN MƯƠI TÁM LỜI NGUYỆN CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ (Khi Ngài còn là Pháp Tạng Tỳ Kheo) NGUYỆN THỨ NHỨT:. hồ đồ ngu si.Quán Âm tiếp dẫn.khi tôi thành Phật Trong nước tôi. NGUYỆN THỨ TƯ – y phục mỗi ngày Muốn bao nhiêu: áo. giúp đỡ lẫn nhau Không lời qua lại trước sau Không ganh. thương nhau vô vàn. cung điện nguy nga Bảy hàng cây báu đơm hoa Hương thơm ngào ngạt. điều dở bỏ đi Nếu ai muốn nói chuyện gì Người kia hiểu ý. lạy 1 lạy) NGUYỆN THỨ MƯỜI HAI: tu hành tinh tấn Dù thân nầy tan nát cũng đành Thành tâm nghiêm chỉnh thực hành Mười hai câu nguyện độ sanh đời đời. sen liền nở hoa. lạy 1 lạy) NGUYỆN THỨ MƯỜI MỘT: Di Đà thọ ký Cảnh Tây Phương tuổi thọ khôn lường Chúng sanh muốn sống niên trường Quán Âm nhớ niệm. Tây Phương mau về. mũ. dâm ô Cũng không có tiếng tục thô Cùng là nóng giận. dép. súc sanh Không bao giờ có sanh thành nơi đây. khỏi phải tìm cầu Dùng xong. Tôi nguyện không được như vầy Thề không thành Phật lời nầy không sai. không ghét. tức thì khỏi phân. NGUYỆN THỨ NĂM – thành trì bát ngát Nhiều lâu đài. đưa đàng về Tây. NGUYỆN THỨ BẢY – nhân dân trong nước Không có lòng uế trược. (1 tiếng chuông. NGUYỆN THỨ BA – hóa ra vật thực Nhiều thứ ngon. vật dụng liền thâu Không cần phải rửa. khỏi may cực lòng. tỏa ra nhẹ nhàng. (1 tiếng chuông. NGUYỆN THỨ SÁU – kính mến tương giao Không sang tham. không có ngục hình Hay loài ngạ quỷ. (1 tiếng chuông. khỏi giặt. NGUYỆN THỨ TÁM – chuyên trì chánh niệm Nhớ điều hay.

công trình hơn ai. NGUYỆN HAI MƯƠI – “cái nghe” rõ ràng Ở phương xa.. khó phân khó lường.Có hơi đâu. nhân. Chân Nguyên tỏ bày. NGUYỆN MƯỜI BẢY . thiên Chứng quả Duyên Giác. Thinh Văn không lường. NGUYỆN THỨ MƯỜI . NGUYỆN MƯỜI MỘT . NGUYỆN MƯỜI HAI – Thinh Văn..thực hành Đạo cả Suốt đêm ngày ròng rã độ sinh Thiết tha nói Pháp tụng kinh Hoằng khai Phật Đạo.trời. người tuy khác Hình dung đồng một sắc vàng y Người người nghiêm chỉnh phương phi Mặt mày đẹp đẽ. cao sang Như người vượt thoát trần gian Lậu hoặc dứt hết.biết được kiếp trước Hễ vừa sanh vào cõi nước tôi Người người rõ chuyện xa xôi Trăm. muôn kiếp qua rồi đều thông. NGUYỆN MƯỜI BA – dân số Phật Đà Không còn có số tính ra cho bằng Nhiều như số cát sông Hằng Tại An Dưỡng Quốc. Duyên Giác Nhờ chuyên cần tu tập hành thiền Cho đến động vật. NGUYỆN MƯỜI BỐN . NGUYỆN MƯỜI CHÍN – “cái thấy” thông suốt Dân chúng tôi có thể xa trông Toàn thể vũ trụ mênh mông Rõ ràng trước mặt. Lạc Bang vui vầy. vô vàn điêu linh. chư Phật nói kinh Thảy đều nghe rõ âm thinh .sống đời trường thọ Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên Không sao tính được vận niên Sống lâu vô lượng. ngàn. đều không trở ngại.biết thân nầy huyển Thì không nên tham luyến thế gian Khổ thay trần thế không an Xin đừng tham đắm. NGUYỆN MƯỜI LĂM . NGUYỆN MƯỜI TÁM . không chi sánh bằng. nghĩ chuyện dông dài Chuyên tâm tu niệm hằng ngày Rồi ra nghiệp chướng dứt ngay không còn. vô biên đời đời.hưởng lạc an nhàn Trọn sống đời cực lạc. NGUYỆN MƯỜI SÁU – thanh tịnh trang nghiêm Hẳn xa lìa vọng tưởng triền miên Sống đời tịch tịnh an nhiên Niết Bàn hiển hiện.

Pháp. Lạc Bang sanh về. muôn năm thọ hình. được về Tây phương. NGUYỆN BA MƯƠI . đêm ngày Khi nào mãn báo thân nầy Tôi và Thánh chúng đông dầy Phóng quang tiếp dẫn.trời. NGUYỆN HĂM HAI – thong dong tự tại Những tận đâu. NGUYỆN HĂM BỐN – quang minh chiếu dịu Nơi đảnh tôi rực rỡ vô ngần Sáng hơn nhật nguyện muôn lần Luôn luôn tỏ rạng. NGUYỆN HĂM LĂM – hào quang chói lọi Đến tận nơi các cõi U Minh Chư thiên cho đến bàng sinh Thấy hào quang sáng. tự mình quy y. khó phân đêm ngày. NGUYỆN HĂM BẢY – vãng sanh Tịnh Độ Cho những người giữ giới. Trừ những kẻ tánh tình ngỗ nghịch Cùng những người báng Phật. NGUYỆN HĂM CHÍN – chúng sanh các cõi Nếu dốc lòng ra khỏi bến mê Tên tôi mười niệm không hề Xao lãng chánh niệm. trần thiết huy hoàng Ngày đêm tưởng niệm vái van Người ấy sẽ được. không nhầm mảy may. như hình đây đây. NGUYỆN HĂM TÁM . đại chúng đồng thanh Nhất tâm vui vẻ hiền lành Lâm chung sẽ được hóa sanh Sen Vàng. ăn chay Đến những ai thiền định. chẳng ngại đường xa Chỉ trong khoảnh khắc vượt qua Mười phương các cõi như là dạo chơi.mọi điều như ý Kiếp trước đây tạo nghiệp không lành Hôm nay. Tăng Ra vào tập tánh hung hăng Chắc đọa địa ngục. người các cõi Nghe danh tôi. phát nguyện tu hành . NGUYỆN HĂM BA – công đức vui mừng Khen ngợi tôi. lên ngay Sen Vàng.Nghìn muôn ức cõi.biết rõ tâm người Cách trăm ngàn thế giới xa xăm Chúng sanh vừa mới mống tâm Dân tôi đều biết. NGUYỆN HĂM MỐT . NGUYỆN HĂM SÁU – quang minh cảm hóa Khắp mười phương các cõi nhân dân Hào quang chiếu đến bản thân Từ hòa tâm tánh hơn dân cõi Trời.

quy hàng.Tây Phương Cực Lạc. không người sánh phân. tài tình cao siêu. về liền chưa trưa.mọi đường công đức . muốn xem chư Phật Mười phương các cõi ở xa Hiển hiện trước mặt như là soi gương. trân châu Mang đi khắp cả. thoát vòng trầm luân. NGUYỆN BĂM SÁU . NGUYỆN BĂM LĂM – các hàng Bồ Tát Muốn cúng dường chư Phật những đâu Hương. tán dương. “Tịch Diệt. người kính nể. NGUYỆN BỐN MỐT . kim thân sáng ngời. NGUYỆN BĂM TÁM .được như ý nguyện Nếu ước muốn mọi vật có liền Đưa đi khắp cả các miền Cúng dường chư Phật.quốc độ trang nghiêm Trong cây báu. anh lạc.chứng liền Đạo Quả bậc “Nhật Sanh Bổ Xứ” chứng liền Lại còn những vị siêu nhiên Muốn sanh cõi khác. NGUYỆN BĂM BA .” “Phạm Hạnh” cần chuyên thi hành Rồi ra giáo hóa chúng sanh Chứng nên Phật quả. hoa. NGUYỆN BĂM CHÍN – nhân dân trong nước Ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm Kim cang thần lực vô biên In như chư Phật. đảnh lễ cúng dàng Người đó sẽ được dễ dàng Trời. Giúp cho hạnh nguyện Phổ Hiền. NGUYỆN BĂM BẢY – thông minh trí tuệ Hàng Bồ Tát phúng tụng các kinh Liền được trí huệ thông minh Diễn dương Chánh Pháp. viên thành nguyền xưa. tôi liền giúp cho. NGUYỆN BĂM BỐN – nhân dân trong nước Muốn sanh về cõi khác độ sanh Nếu không như nguyện. NGUYỆN BỐN MƯƠI .biện tài vô ngại Chư Tôn Bồ Tát huệ sáng ngời Giảng kinh thuyết Pháp khắp nơi Biện tài vô ngại. cầu sanh dễ dàng. cũng không Đọa ba đường dữ. NGUYỆN BĂM MỐT .mọi người cung kính Nghe tên tôi. NGUYỆN BĂM HAI – sanh làm nam giới Những đàn bà con gái chán đời Phát tâm tín niệm danh tôi Thân sau sẽ khỏi luân hồi nữ nhi. vừa hầu bữa ăn.

NGUYỆN BỐN BẢY – dân số đông dầy Hàng hàng lớp lớp về đây tu hành Người người nguyện thỏa vô sanh Vào hàng Bất Thối. Nếu chí muốn cúng dường chư Phật Trong khoảnh khắc khắp cả các phương Đường xa tuy khó đo lường Nương nhờ thần lực. trí huệ oai linh Trên đảnh có ánh quang minh Biện tài nói Pháp. kỹ nhạc. NGUYỆN BỐN HAI .người. có rồi hoàn không! Chiêm bao khéo khuấy lạ lùng Mơ màng trong một giấc nồng mà chi . NGUYỆN BỐN BA ..Bồ Tát nào chưa được hoàn toàn Có thể biết được Đạo Tràng Bề cao cho đến bốn ngàn do tha. số đông không lường. mỗi vật tịnh minh Dù chứng thiên nhãn. viên thành nơi đây. chẳng nhìn hết đâu. nhị. đồ vật. NGUYỆN BỐN BỐN . lộng tàn Cúng dường Giáo Chủ Lạc Bang Di Đà.. NGUYỆN BỐN LĂM . Mỗi người. hoa. vật khôn lường Quốc độ tôi. NGUYỆN BỐN SÁU – Chư Tôn Bồ Tát Ở phương xa. theo tình thế gian. NGUYỆN BỐN TÁM – hoàn thành Pháp Nhẫn Người người đều thành khẩn quy y Hoàn thành nguyện lớn một khi Nhất. trên đường thong dong. Kinh Tự nhiên có sẵn âm thinh Không cần mời thỉnh. tam nhẫn hành trì luôn luôn. Thinh Văn Trong nước tôi. Pháp tạng phát nguyện vừa xong Mười phương các cõi thảy đồng hân hoan Hương. giải thoát chứng xong Thường thấy chư Phật.Bồ Tát. in hình Thế Tôn.mọi người trong nước Chí mong cầu nghe được Pháp. tinh tấn tu hành Tam muội. chúng sinh. BÀI TỐNG TÁNG Cuộc hồng trần xoay vần quá ngán Kiếp phù sanh tụ tán mấy luân hồi Người đời có biết chăng ôi Thân người tuy có.mười phương Bồ Tát Nghe tên tôi phát nguyện quy y Lại thêm thiền định hành trì Liền được giải thoát không gì vướng ngăn.

Khi nào ra trướng vào màn Bây giờ nhà cửa xóm làng cách xa. Khi nào du lịch giang hồ Bây giờ nhắm mắt mà vô quan tài. Khi nào mẹ mẹ cha cha Bây giờ bóng núi cách xa muôn trùng. Khi nào cốt nhục vẹn mười Bây giờ lá héo nhành tươi vui gì. Khi nào cháu cháu con con Bây giờ hai ngã nước non xa vời. Khi nào lược giắt trâm cài Bây giờ gởi xác ra ngoài gò hoang. Khi nào vợ vợ chồng chồng Bây giờ trăng khuyết còn mong chi tròn. Sự đời nên chán nên chê Tầm nơi giải thoát mà về mới khôn . Xưa ông Bàng Tổ sống đời Tám trăm tuổi thọ nay thời còn đâu! Sang mà đến bực Công Hầu Giàu mà đến bực bấy lâu Thạch Sùng. Nghèo mà đói khát lạnh lùng Khổ mà tóc cháy da phòng trần ai Phù du sớm tối một mai Giàu sang cũng thác. Khi nào bạn hữu sum vầy Bây giờ chén rượu cuộc kỳ vắng thiu. xạt xài cũng vong. Khi nào mắt đẹp mày thanh Bây giờ. Biển trần nhiều nỗi gay go Mau mau nhẹ gót qua đò sông mê. Khi nào ngực lọc xe lừa Bây giờ mây rước trăng đưa mơ màng.Làm cho buồn bã thế ni Hình dung mới đó bữa nay đâu rồi? Khi nào đứng đứng ngồi ngồi Bây giờ thiêm thiếp như chồi cây khô. Khi nào lên các xuống lầu Bây giờ một nắm cỏ sầu xanh xanh Khi nào liệt liệt oanh oanh Bây giờ một trận tan tành gió mưa. thấy dạng thấy hình là đâu. Cái thân như tấc bóng chiều Như chùm bọt nước phập phều ngoài khơi. Khi nào trau ngọc chuốt vàng Bây giờ một nắm xương tàn lạnh tanh. Thông minh tài trí anh hùng Si mê dại dột cũng chung một gò.

có đâu luân hồi. Tánh xưa nay đã tỏ rồi Gương xưa rày đã lau chùi trần ô Tu hành phải đợi kiếp mô Nguồn tình biển ái đã khô bao giờ Lựa là phải ngộ thiền cơ Mà đèn trí huệ dễ lờ đi đâu. có kim lầu Có chim nói pháp nhiệm mầu dễ nghe. mấy duyên cũng tròn. không chết. có trống. không sầu Không già. tay bưng kim đài Với cùng Thế Chí các ngài Cũng đều khuyến thỉnh lên ngai sen vàng. không oán. Phật như thể mẹ tìm con Con mà gặp mẹ lại còn lo chi Lầu vàng đài các thiếu gì Ăn thì cơm ngọc. Quán Âm Bồ Tát vui mừng Tay cầm nhành liễu. bảy vành lưới châu Có ngân các. . có đàn ngọc xây Có Trời các cõi truy tùy Có đờn. có hương ngũ phần Lưu ly có đất sáng ngần Ma ni có nước trong tần chảy quanh Thất trân có bảy lớp thành Bảy hàng cây báu. Mấy lời hộ niệm trước sau Nguyện cho thành Phật mau mau nữa mà Phân thân ra khỏi Ta Bà Từ bi tiếp độ những là chúng sanh. Nghe rồi tỏ đạo Bồ Đề Bao nhiêu nghiệp chướng hồn mê dứt liền. mặc thì áo châu Không ơn. Rước về đến cảnh Tây Phương Có ao Thất bảo. Đã sanh về chín phẩm sen Mấy tai cũng xảy. rước đi một đường. Có bảo cái. hỡi vong hồn Cuộc đời nay biển mai cồn tỉnh chưa? Tỉnh rồi một giấc say sưa Sẽ xin niệm Phật mà đưa hồn về Hồn về Cực Lạc nước kia Cho xa hang quỉ mà lìa kiếp ma Nhờ ơn Đức Phật Di Đà Phóng ra một ngọn chói lòa hào quang Trong khi tiếp dẫn rõ ràng Dắt hồn ra khỏi sáu đàng nghiệp nhơn.Vong hồn ơi. có tràng phan Có mùi hương lạ.

Lắm cơ mưu đeo đuổi yêu hoa. Những mãn tưởng ngày xanh muôn tuổi. Đầu xương sọ cài trâm thắt lụa. Nẻo luân hồi muôn kiếp đắng cay. Sánh phong lưu phô vẻ y quan. móng khác chi đất bợn. Gốc răng long điềm chỉ qui âm. Làn tóc bạc đưa tin quỉ sứ. Tóc. Chất huyễn hư giọt lệ lòng hoa. Xót duyên kiếp vì sao ngắn ngủi. Nào hay vui vẫn là nhân chác sầu. Mạng người hô hấp kinh thay? Nghĩ cơn vĩnh biệt tiền đài mà đau. Ngờ đâu tai điếc. gân. Kẻ khờ cũng học đài trang Để lòng điên đảo theo đàng sắc thanh. Kiếp phù thế bóng câu cửa sổ. Trách người thế mê chi lắm nhẽ. Dứt lòng tham luyến. Cuộc vui những ước vô ngần. Bên ngoài rệp đúc. muỗi đeo. càng dâm. Đôi mươi trẻ. Chấp thân chi để tủi cho thân. khởi lòng thoát ly. Cơn lạnh lùng đêm giá trời đông.KHUYẾN TU Vóc bào ảnh lắm người yêu tiếc. Cuộc hành lạc một thời thương tiếc. Diêm Vương sắp ruớc đến tòa U Minh. Da bao những thịt. Số phần yểu thọ khó qua vô thường. Đảy da hôi ướp xạ xông hương. Thịt xương đau nhức. mắt lòa. Chỉ tuồng che lớp vô thường hôi tanh. Càng tài. dãi. Yêu tiếc thân cho thiệt vì thân. Mũi. Khéo đòi nhung gấm phô trương. Xét thân nhơ khổ vô cùng. đàm nên tởm xiết bao. Đến khi sắp xuống diêm đài. tay chân rụng rời. Thân nầy dường thể đóng phân sạch gì. Sống ngày nay dễ biết ngày mai. chín mươi già. Vợ lưu luyến đầy vơi giọt lệ. Càng cho đọa lạc càng lầm mà thôi. càng sắc. Dép dưới giường lên giường vội biệt. răng. . Bên trong sán lãi lẫn vào nhớp chưa? Nỗi nóng bức ngày trưa tiết hạ. xương.

Kiếp tài hoa hình bóng bạch vân. Nghĩ thôi rơi lệ chạnh lòng. Người chết đi dong ruổi phát hồn. Xương. Kiếp sừng lông nhiều nỗi đa mang. Có tiền mua lớp áo quan. Chầy trong bảy tháng sớm thời ít hôm. Đọa đày khổ sở xiết chi. Âm ty đã trải trăm đường hỏi tra.Con thảm thương kể lể khóc than. Tào quan xử thét la chẳng vị. Ngục tốt hờn tay chùy. Mặc chàng hay báng Phật khinh Tăng. Trả đền cho dứt nghiệp oan. Mới mong thoát khỏi con đường long đong. Người nhân đức cho vào cửa phước. Giấy tiền treo đó còn ghi mối sầu. Mà nay một nấm cô phần lạnh tanh. Quỉ môn sang ghê gốc tiếng thương. Thời oanh liệt hùng anh đâu tá. da. Kẻ hung hoang giải trước hình ty. Bảy ngày lìa quá cõi dương. Phất phơ cành liễu xanh rì. Nại hà đến lạnh tê gió lốc. tay xoa. Chẳng qua đối trước Diêm quân. Tấm hình hài lần hóa tanh hôi. Cúi đầu co gối chịu phần xử tra. Có ai thay đổi cho chàng được chăng? Kẻ sống ở nặng quằn gánh tủi. Đài gương nghiệp cảnh sáng lòa. Dù cho quyến thuộc trăm ngàn. Không tiền vùi chốn núi hoang lạnh lùng. Mới hay nhân quả mấy khi sai lầm. Nét kiều diễm chập chờn xuân mộng. Soi tường thiện ác chối qua được nào. Khi xưa. Dù ai có to lòng lớn mật. Trông ra quạnh quẽ bồn chồn thảm thê. sắc mười phân. Hồn phách đã xa chơi âm giới. Cuộc ái ân hư giả còn chi. Thi hài còn ở cõi dương gian. Bia mồ trơ một chiếc vắng không. . Bóng chiều rũ xuống màu cỏ biếc. thịt sẽ cùng tan rã. tài. Chỉ trong chầy sớm mà thôi. Đường âm mờ tựa đêm hôm. Rừng đao kiếm bao năm hết tội.

14. và sanh thêm các tánh hung dữ. LỤC TRAI: Mỗi tháng sáu ngày: Mồng 8. kiếp chóng tu chơn. 24. Biết miền chơn. 14.. Tháng Mười. Bỏ điều ác xin làm theo thiện. 15. Sáu chữ Phật cùng nhau gắng niệm.. Cùng khuyên già trẻ sớm mau tu trì. Dần dà tính thiệt so hơn. Nguyền xin dốc tưởng tin lời Thánh. Tháng Bảy. hẹ. Những ngày trai không nên dùng các món gia vị như: hành. Gái. tỏi..v. Chớ nên mình phụ lấy mình. Khiến mỗi kẻ đồng quy bến giác. 28. ngày: 8. 29. Giữ lòng thiện. Rằm Thượng Nguyên THÁNG HAI. 15. Dù trong lao khổ dám nề. Kiếp nầy chẳng chịu lo tu.Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Chừa lỗi xưa tu tiến đường sau. Lại vì quyến thuộc bảo nhau. Trách sao Diêm lão vô tình chẳng dung. ngày: 1. Chín phẩm đài sen chiếm ngôi vinh. 6. tục đều ham tu hành. NHỊ TRAI: Mỗi tháng hai ngày: Mồng 1. Vía Đức Phổ Hiền Bồ Tát. Ví chăng biết tìm nơi giải thoát. 15.Đời người đến thế là xong một đời. TAM NGOẠT TRAI: Một năm 3 tháng: Tháng Giêng. TỨ TRAI: Mỗi tháng bốn ngày: Mồng 1.Vía Phật Thích Ca nhập diệt.. 19. ngày: . CÁC NGÀY VÍA THÁNG GIÊNG. khêu gợi dục tình.Vía Phật Thích Ca xuất gia. 23. người tu hành ăn các món này thì tụng kinh trì chú không linh nghiệm. Đất Từ Bi gieo giống Hoa Đàm. Tăng. 21. Dám đổ cho rảnh rỗi ưu du. NHỮNG NGÀY TRAI THẬP TRAI: Mỗi tháng mười ngày: Mồng 1. nén. 15. 15. Luân hồi hẳn dứt có khi. 8. xa cừ (một loại gia vị ở Ấn Độ) v. Đài sen đốt mảnh hương thề nguyền xin. 30 (nếu tháng thiếu thì kể cả ngày 27). 29. Nương về ngôi Chánh Giác Quy Y. Cho mọi người đều thoát sông mê. dứt lòng tham. THÁNG BA. 30. Lối ma quỉ đừng riêng mưu sống. 18. Vía Nhiên Đăng Cổ Phật. Rõ cảnh mộng chớ quanh đường mộng. 14. Còn e kiếp khác công phu lỡ làng.. Vía Đức Di Lặc. trai. Bên trời Bát Nhã còn chi lo phiền. Tuổi xuân qua mất để hờn về sau. 23. 30. 15 .

Oan ức không cần biện bạch. Giao tiếp đừng cầu lợi mình. THÁNG MƯỜI MỘT. THÍCH GIÁC TOÀN Biên tập nội dung : TT. đừng cầu không bệnh khổ. vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường. ngày: 15. THÁNG CHẠP. 1. BỞI VẬY ĐỨC PHẬT DẠY: Lấy bịnh khổ làm thuốc thần. Với người thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình. 15. ngày: 8. Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Vía Đức Văn Thù Bồ Tát. THÁNG SÁU. 20. vì không bệnh khổ thì dục vọng dễ sanh. ngày: 19. THÁNG BẢY. THÍCH ĐỒNG BỔN Sửa bản in : MINH THANH Kỹ thuật in : CHÚC THANH NGHI THỨC TỤNG NIỆM Soạn dịch: THÍCH THIỆN THANH * .Vía Phật Thích Ca giáng sanh. 30. Bồ Tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân. THÁNG CHÍN. Vía Đức Địa Tạng Bồ Tát. Lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ. Coi thi ân như đôi dép bỏ. Lấy ma quân làm bạn đạo. 30. THÁNG TƯ. vì được thuận theo ý mình thì tất kiêu ngạo. Việc làm đừng mong dễ thành. Vía Phật Dược Sư. Xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng. Vía Phật Thích Ca thành đạo. 15. vì biện bạch là nhân quả chưa xả.16. vì lợi mình thì mất đạo nghĩa. Đ. vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo. vì cầu đền đáp là thi ân có ý mưu đồ. THÍCH THIỆN MINH Đ. THÁNG MƯỜI. Thi ân thì đừng cầu đền đáp. ngày: 4. Lấy người chống đối làm nơi giao du. ngày: 13. Lễ Vu Lan Bồn (Rằm tháng Bảy). Lấy khó khăn làm thích thú. ngày: 19. Lấy khúc mắc làm thú vị.Vía Đức Đại Thế Chí Bồ Tát. Cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc. Lấy sự xả lợi làm vinh hoa. Lấy oan ức làm cửa ngỏ đạo hạnh. Ở đời đừng cầu không hoạn nạn. Hiệp Kỵ Chư Tổ và các vị hữu công với Phật giáo đồ. LUẬN BẢO VƯƠNG TAM MUỘI Chịu trách nhiệm bản thảo: TT. vì không hoạn nạn thì kiêu sa nổi dậy. vì việc dễ thành thì lòng khinh thường kiêu ngạo. Thấy lợi đừng nhúng vào. (nhằm ngày 11-6-1963). ngày: 17. MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM Nghĩ đến thân thể. vì nhúng vào thì si mê phải động. Lấy hoạn nạn làm giải thoát. Vía Đức Chuẩn Đề Bồ Tát. Vía Phật A Di Đà.

8242067 NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Xuất bản Địa chỉ: 62 Nguyễn Thị Minh Khai. Địa chỉ: TỔ IN ẤN – PHÁT HÀNH KINH SÁCH Chùa Xá Lợi.1 ĐT: 8225340 – 8296764 – 8222726 – 8223637 – 8296713 Đánh máy: Nhuận Giai Proofread: Giác Viên . HỒ CHÍ MINH Chịu trách nhiệm xuất bản. Q.THÀNH HỘI PHẬT GIÁO TP. 3 ĐT: 8292438 . 89 Bà Huyện Thanh Quan – Q.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->