P. 1
Phan Tich Tinh Hinh Va Hieu Qua Su Dung Von Tai Cong Ty XNKNSTP

Phan Tich Tinh Hinh Va Hieu Qua Su Dung Von Tai Cong Ty XNKNSTP

4.64

|Views: 13,434|Likes:
Được xuất bản bởiapi-3820597

More info:

Published by: api-3820597 on Oct 18, 2008
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

03/18/2014

pdf

text

original

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

MỞ ĐẦU
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách kinh tế, các chính sách về tự do hóa thương mại - đầu tư và hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam đã và đang hoàn thiện dần cơ chế nhằm đảm bảo cho nền kinh tế phát triển phù hợp với quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa. Song song với việc cải cách kinh tế, Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chuẩn bị cho lộ trình gia nhập AFTA, một sân chơi khu vực nhiều thuận lợi nhưng cũng đầy khó khăn. Thực tiễn đặt ra như vậy, đòi hỏi nền kinh tế của Việt Nam trong những năm tiếp theo phải thật sự vững mạnh, thật sự phát triển. Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với công cuộc cải cách mậu dịch, tự do hóa trong thương mại đòi hỏi nhu cầu về vốn cho nền kinh tế và cho từng doanh nghiệp đang là vấn đề lớn. Thực tiễn cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam hiện đang phải cạnh tranh hết sức khốc liệt để có thể tồn tại, để có được chỗ đứng trên thương trường mà một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công của doanh nghiệp là sử dụng đồng vốn hiệu quả nhất, là làm thế nào huy động nguồn ngân quỹ với chi phí thấp, điều kiện và phương tiện thanh toán nhanh nhất…. Tựu trung lại, doanh nghiệp phải hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì mới có thể đứng vững được trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai. Như chúng ta đã biết, kinh doanh xuất nhập khẩu là lĩnh vực hoạt động không thể thiếu ở bất kỳ một quốc gia nào, là chiếc cầu nối giữa thị trường quốc gia và thị trường quốc tế. Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, năng suất lao động tăng lên, tăng cường khả năng cạnh tranh, tăng thu nhập cho người lao động… giữ vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng và phát triển kinh tế của một đất nước. Việt Nam nói chung, An Giang nói riêng nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Mặt hàng nông sản, thực phẩm xuất khẩu hằng năm chiếm một vị trí quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Để duy trì được thành quả này “buộc” các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nông sản phải hoạt động thật sự hiệu quả, phải sử dụng hợp lý nguồn lực sẵn có, cải tiến máy móc, thiết bị để không ngừng nâng cao năng suất lao

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 1

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành…. Và vấn đề trên hết là phải sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh. Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, được sự đồng tình của ban lãnh đạo công ty, Trường Đại Học An Giang, Khoa Kinh Tế Quản Trị Kinh Doanh và sự nhiệt tình chỉ dẫn của thầy Nguyễn Trí Tâm, tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “Phân Tích Tình Hình Và Hiệu Quả Sử Dụng Vốn tại Công Ty Xuất Nhập Khẩu Nông Sản Thực Phẩm An Giang”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Để thấy được tình hình và hiệu quả sử dụng vốn, đề tài đặt ra những mục tiêu cần nghiên cứu sau: Thực trạng sử dụng vốn của công ty. Thông qua kết quả kinh doanh để thấy được hiệu quả sử dụng vốn. Một số biện pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Quá trình tiếp xúc tại công ty cho chúng ta có cái nhìn tổng quan về công ty, đánh giá khách quan hoạt động kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, thấy được cách thức sử dụng vốn tại công ty, nguồn vốn đó được huy động ra sao, được sử dụng như thế nào trong những năm qua, có mang lại hiệu quả như mong muốn hay không, hiệu quả mang lại cao hay thấp…. Tóm lại, mục tiêu muốn nghiên cứu là hiệu quả sử dụng vốn của công ty, cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh, từ đó đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu sử dụng vốn để đạt được hiệu quả kinh doanh tốt hơn trong những năm tiếp theo.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 2

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp có thể rõ hơn thông qua hiệu quả hoạt động kinh doanh. Như chúng ta đã biết, hoạt động kinh doanh chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan như: chính sách, pháp luật của Nhà nước, áp lực cạnh tranh, thị trường…, nhân tố chủ quan như: chi phí, giá cả, lợi nhuận…, nhưng một chừng mực nào đó đề tài chỉ đi sâu phân tích những nội dung sau: − Cấu trúc vốn của công ty. − Tình hình biến động của công ty. − Khả năng đảm bảo nguồn vốn. − Kết quả kinh doanh của công ty. − Phân tích một số chỉ tiêu tài chính. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Có nhiều phương pháp tiếp cận để phân tích vấn đề về vốn của công ty. Đề tài đã chọn những phương pháp sau: Thu thập số liệu Khi thực tập tại công ty, để có được những thông tin sơ cấp, tôi thường tiếp xúc với nhân viên, quan sát cách làm việc của họ tại công ty. Liên hệ với các phòng ban để có được các báo cáo tài chính, tìm thêm thông tin trên mạng, các tạp chí tài chính, báo đài…. Xử lý số liệu Phương pháp thống kê Chỉ tiêu thống kê là sự biểu hiện một cách tổng hợp đặc điểm về mặt lượng trong sự thống nhất về mặt chất của tổng thể hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể. Phương pháp thống kê được xử dụng chủ yếu là thu thập các số liệu từ các báo cáo tài chính, tổng hợp lại theo trình tự để thuận lợi cho quá trình phân tích. Phương pháp so sánh Đây là phương pháp được áp dụng rất phổ biến. So sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hóa có cùng một nội dung, có tính chất tương tự để xác định xu hướng biến động của các chỉ tiêu. Nó cho ta tổng hợp được những cái chung, tách ra được những nét riêng của chỉ tiêu được so sánh. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể đánh giá được một cách khách quan

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 3

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

tình hình của công ty, những mặt phát triển hay chưa phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả, để từ đó đưa ra cách giải quyết, các biện pháp nhằm đạt được hiệu quả tối ưu. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Kinh doanh là một quá trình phức tạp, diễn ra liên tục, lâu dài. Muốn đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp cần phải có thời gian nghiên cứu, đi sâu vào thực tiễn, vào từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Song, hạn chế về mặt thời gian đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi vốn cố định và vốn lưu động của công ty và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua 3 năm, từ đó cho thấy cách sử dụng vốn và hiệu quả của chúng.

CHƯƠNG 1

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 4

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1.1 Khái niệm vốn kinh doanh Hoạt động kinh doanh đòi hỏi cần phải có vốn đầu tư. Có thể nói rằng, vốn là tiền đề cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Như chúng ta đã biết, trước khi đi vào hoạt động, doanh nghiệp phải đăng ký vốn pháp định, vốn điều lệ. Vốn kinh doanh phải có trước khi diễn ra các hoạt động kinh doanh. Vốn được xem là số tiền ứng trước cho kinh doanh. Trong điều kiện hiện nay, doanh nghiệp có thể vận dụng các hình thức huy động và đầu tư vốn khác nhau để đạt được mức sinh lời cao nhất nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Vốn được biểu hiện là một khoản tiền bỏ ra nhằm mục đích kiếm lời. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện của toàn bộ tài sản doanh nghiệp bỏ ra cho hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi. Vốn kinh doanh được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Hai nguồn cơ bản hình thành nên vốn kinh doanh là: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. 1.1.1.1 Vốn chủ sở hữu Nguồn vốn chủ sở hữu biểu hiện quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp đối với các tài sản hiện có ở doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu được tạo nên từ các nguồn: Số tiền đóng góp của nhà đầu tư - chủ doanh nghiệp. Lợi nhuận chưa phân phối - số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngoài hai nguồn chủ yếu trên, vốn chủ sở hữu còn bao gồm chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá, các quỹ dự phòng… 1.1.1.2 Nợ phải trả Nợ phải trả bao gồm các khoản vay ngắn hạn, dài hạn, các khoản phải trả phải nộp khác nhưng chưa đến kỳ hạn trả, nộp như: phải trả người bán, phải trả công nhân viên, phải trả khách hàng, các khoản phải nộp cho Nhà nước.

1.1.2 Phân loại vốn

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 5

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Như khái niệm đã nêu, chúng ta thấy vốn có nhiều loại và tùy vào căn cứ để chúng ta phân loại vốn: Căn cứ vào hình thái biểu hiện, vốn được chia làm hai loại: Vốn hữu hình và vốn vô hình. Căn cứ vào phương thức luân chuyển, vốn được chia làm hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động. Căn cứ vào thời hạn luân chuyển, vốn được chia làm hai loại: Vốn ngắn hạn và vốn dài hạn. Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn được hình thành từ hai nguồn cơ bản: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Căn cứ vào nội dung vật chất, vốn được chia làm hai loại: Vốn thực (còn gọi là vốn vật tư hàng hóa) và vốn tài chính (hay còn gọi là vốn tiền tệ).

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một quá trình với các chu kỳ được lập đi lập lại, mỗi chu kỳ được chia làm nhiều giai đoạn từ chuẩn bị sản xuất, sản xuất và tiêu thụ. Trong mỗi giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn được luân chuyển và tuần hoàn không ngừng, trên cơ sở đó nó hình thành vốn cố định và vốn lưu động mà chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn vai trò của chúng. 1.1.2.1 Vốn cố định Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải có tư liệu lao động, đó chính là đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị… chúng giữ vai trò là môi giới trong quá trình lao động. Trong nền sản xuất hàng hóa, việc mua sắm hay quản lý tư liệu lao động phải sử dụng tiền tệ. Chính vì lẽ đó, doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động kinh doanh phải ứng trước một số tiền vốn nhất định về tư liệu lao động. Số vốn này được luân chuyển theo mức hao mòn dần của tư liệu lao động. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, tư liệu lao động vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, trong thời gian sử dụng chúng bị hao mòn dần. Vì vậy, giá trị của tư liệu lao động phụ thuộc vào mức độ hao mòn vật chất được chuyển dịch dần từng bộ phận vào sản phẩm mới. Bộ phận giá trị chuyển dịch của tư liệu lao động hợp thành một yếu tố chi phí sản xuất của doanh nghiệp và được bù đắp mỗi khi sản phẩm được thực hiện. Vì có đặc điểm trong

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 6

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

quá trình luân chuyển, hình thái vật chất của tư liệu lao động không thay đổi, còn giá trị thì luân chuyển dần, cho nên bộ phận vốn ứng trước này là vốn cố định. Từ những nhận định đã nêu ta thấy: Vốn cố định của doanh nghiệp là số vốn ứng trước về những tư liệu lao động chủ yếu mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng bộ phận giá trị vào sản phẩm mới cho đến khi tư liệu lao động hết thời hạn sử dụng thì vốn cố định mới hoàn thành một lần luân chuyển (hoặc hoàn thành một vòng tuần hoàn). Vốn cố định phản ánh bằng tiền bộ phận tư liệu lao động chủ yếu của doanh nghiệp. Tư liệu lao động lại là cơ sở vật chất của nền sản xuất xã hội. Chính vì thế, vốn cố định có tác dụng rất lớn đối với việc phát triển nền sản xuất xã hội. Tài sản cố định và vốn cố định của doanh nghiệp có sự khác nhau ở chổ: khi bắt đầu hoạt động, doanh nghiệp có vốn cố định giá trị bằng giá trị tài sản cố định. Về sau, giá trị của vốn cố định thấp hơn giá trị nguyên thủy của tài sản cố định do khoản khấu hao đã trích. Trong quá trình luân chuyển, hình thái hiện vật của vốn cố định vẫn giữ nguyên (đối với tài sản cố định hữu hình), nhưng hình thái giá trị của nó lại thông qua hình thức khấu hao chuyển dần từng bộ phận thành quỹ khấu hao. Do đó, trong công tác quản lý vốn cố định phải đảm bảo hai yêu cầu: một là bảo đảm cho tài sản cố định của doanh nghiệp được toàn vẹn và nâng cao hiệu quả sử dụng của nó; hai là phải tính chính xác số trích lập quỹ khấu hao, đồng thời phân bổ và sử dụng quỹ này để bù đắp giá trị hao mòn, thực hiện tái sản xuất tài sản cố định. Sau khi đã ứng trước một số vốn cho tư liệu lao động, để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có đối tượng lao động và sức lao động. Đây chính là vốn lưu động tại doanh nghiệp. 1.1.2.2 Vốn lưu động Vốn lưu động là số vốn ứng trước về đối tượng lao động và tiền lương. Trong thực tế vận động, chúng thể hiện thông qua hình thái tồn tại như nguyên vật liệu ở khâu dự trữ sản xuất, sản phẩm đang chế tạo ở khâu trực tiếp sản xuất, thành phẩm, hàng hóa, tiền tệ ở khâu lưu thông. Đối tượng lao động ở doanh nghiệp biểu hiện thành hai bộ phận: một bộ phận là vật tư dự trữ để chuẩn bị sản xuất, một bộ phận là những vật tư đang trong quá trình chế biến (sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm tự chế). Hình

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 7

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

thái hiện vật của hai bộ phận này là tài sản lưu động. Tài sản lưu động phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất là tài sản lưu động sản xuất. Trong hoạt động kinh doanh, không phải lúc nào sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ ngay. Thực tế cho thấy, sau khi sản phẩm hoàn thành, doanh nghiệp phải chọn lọc, đóng gói, tích lũy thành lô hàng, thanh toán với khách hàng… nên hình thành một số khoản vật tư và tiền tệ (thành phẩm, vốn bằng tiền, khoản phải trả…). Những khoản vật tư và tiền tệ phát sinh trong quá trình lưu thông gọi là tài sản lưu thông. Do tính chất liên tục của hoạt động kinh doanh, mọi doanh nghiệp phải có một số vốn thỏa đáng để mua sắm tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông. Cả hai loại tài sản này thay thế lẫn nhau vận động không ngừng để quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thuận lợi. Trong nền kinh tế hàng hóa, tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ. Số vốn ứng trước cho những tài sản này gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Vậy vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng trước về đối tượng lao động và tiền lương tồn tại dưới các hình thái nguyên vật liệu dự trữ, sản phẩm đang chế tạo, thành phẩm, hàng hóa và tiền tệ hoặc đó là số vốn ứng trước về tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông ứng ra bằng số vốn lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thực hiện thường xuyên liên tục. Vốn lưu động luân chuyển giá trị toàn bộ ngay trong một lần và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình sản xuất kinh doanh. Do đặc điểm tuần hoàn của vốn lưu động trong cùng một lúc nó phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Để tổ chức hợp lý sự tuần hoàn của các tài sản ở doanh nghiệp, để quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục doanh nghiệp phải có đủ vốn để đầu tư vào các hình thái khác nhau như đã nêu làm cho các hình thái này có mức tồn tại hợp lý và đồng bộ. Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và kiểm tra quá trình vận động của vật tư. Trong doanh nghiệp, sự vận động của vốn phản ánh sự vận động của vật tư. Vốn lưu động nhiều hay ít phản ánh số lượng vật tư hàng hóa dự trữ ở các khâu nhiều hay ít. Mặt khác, vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh số lượng vật tư sử dụng có tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông có hợp lý hay không. Vì thế, thông qua tình hình luân chuyển

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 8

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

vốn lưu động còn có thể kiểm tra một cách toàn diện việc cung cấp, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Vốn lưu động là một bộ phận quan trọng của tài sản quốc gia. Tại doanh nghiệp, tổng số vốn lưu động và tính chất sử dụng của nó có quan hệ chặt chẽ với những chỉ tiêu công tác cơ bản của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đảm bảo đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất, ra sức tiết kiệm vốn, phân bổ vốn hợp lý trên các giai đoạn luân chuyển, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thì với số vốn ít nhất có thể đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm là điều kiện để thực hiện tốt nghĩa vụ với ngân sách, trả nợ vay, thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. 1.1.3 Cấu trúc vốn của doanh nghiệp Cấu trúc vốn của doanh nghiệp được thể hiện trên bảng cân đối kế toán, ở đó nó mô tả sức mạnh tài chính của doanh nghiệp: những thứ doanh nghiệp hiện có và các thứ doanh nghiệp còn nợ tại một thời điểm. Dựa vào bảng cân đối kế toán, cụ thể bên phần nguồn vốn sẽ cho ta thấy được cấu trúc vốn của doanh nghiệp: doanh nghiệp đã sử dụng vốn chủ sở hữu bao nhiêu, vốn vay bao nhiêu và những nguồn vốn được tài trợ từ các lĩnh vực khác bao nhiêu. 1.1.4 Vấn đề bảo toàn vốn kinh doanh Bước vào lĩnh vực kinh doanh là để kiếm lời, phần thu về trước hết phải bù đắp phần vốn đã bỏ ra. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp bảo toàn được vốn, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Biểu hiện trên thực tế là quy mô của doanh nghiệp được mở rộng, đời sống nhân viên được cải thiện, mối quan hệ với khách hàng ngày càng tốt đẹp, hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước. Thông qua những biểu hiện nêu trên, cho thấy doanh nghiệp đang thịnh vượng, đang trên đà phát triển rất tốt. Một lần nữa có thể khẳng định rằng, vấn đề bảo toàn vốn là mục tiêu phấn đấu hàng đầu của tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Tóm lại, phần phân tích trên đã cho thấy khái quát các vấn đề về cơ cấu vốn ở doanh nghiệp. Phần tiếp theo chúng ta tiến hành nghiên cứu tình hình tài chính tại doanh nghiệp.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 9

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

1.2 PHÂN TÍCH CHUNG VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH Phân tích chung tình hình tài chính là đánh giá khái quát sự biến động cuối năm so với đầu năm về tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, đồng thời xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn nhằm rút ra những nhận xét ban đầu về tình hình tài chính doanh nghiệp. 1.2.1 Đánh giá khái quát sự biến động về tài sản và nguồn vốn Thông tin trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, chúng ta tiến hành: So sánh tổng tài sản giữa đầu năm và cuối năm để đánh giá sự biến động về quy mô của doanh nghiệp. So sánh giá trị và tỷ trọng các bộ phận cấu thành tài sản giữa đầu năm và cuối năm để thấy được nguyên nhân ban đầu ảnh hưởng đến tình hình trên. So sánh tổng nguồn vốn giữa đầu năm và cuối năm để đánh giá mức độ huy động vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất, kinh doanh. So sánh giá trị và tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nguồn vốn để phát hiện nguyên nhân ban đầu ảnh hưởng đến tình hình trên.

-

1.2.2 Phân tích tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn Xem xét mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, nhằm đánh giá tình hình huy động, phân bổ và sử dụng các loại vốn và nguồn vốn. Theo quan điểm luân chuyển vốn, xét về mặt lý thuyết vốn chủ sở hữu đủ trang trải các loại tài sản đảm bảo cho các hoạt động chủ yếu tại doanh nghiệp mà không cần phải đi vay hay chiếm dụng của đơn vị khác. Do đó, ta có cân đối sau: B.NV = [I+II+IV+(2,3)V+VI] A.TS+[I+II+III] B.TS (1.1) Trong đó, NV: nguồn vốn. TS: tài sản. Cân đối trên chỉ mang tính chất lý thuyết, thực tế cho thấy, trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, cân đối (1.1) xảy ra một trong hai trường hợp sau: Trường hợp1: vế trái > vế phải. Đây là trường hợp vốn chủ sở hữu sử dụng không hết và doanh nghiệp đang bị đơn vị khác chiếm dụng vốn. Chúng ta cần xem xét số vốn bị chiếm dụng có hợp lý hay không.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 10

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Trường hợp 2: vế trái < vế phải. Đây là trường hợp vốn chủ sở hữu không đủ trang trải cho các hoạt động chủ yếu, doanh nghiệp phải đi vay hay chiếm dụng vốn. Vấn đề đặt ra là vốn đi vay hay chiếm dụng có hợp lý hay không. Ta có cân đối: [(1,2)I+II] A.NV+B.NV = [I+II+IV+(2,3)V+VI] A.TS+[I+II+II] B.TS (1.2) Cân đối (1.2) cho thấy vốn vay và vốn chủ sở hữu đủ trang trải cho các hoạt động của doanh nghiệp, nhưng trên thực tế cân đối này ít xảy ra, mà chủ yếu xảy ra một trong hai trường hợp sau: Trường hợp 1: vế trái > vế phải. Vốn đi vay và vốn chủ sở hữu doanh nghiệp sử dụng không hết vào các hoạt động và bị đơn vị khác chiếm dụng. Trong trường hợp này, doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn nhỏ hơn vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng. Trường hợp 2: vế trái < vế phải. Vốn vay và vốn chủ sử hữu không đủ trang trải doanh nghiệp phải đi chiếm dụng vốn của đơn vị khác. Trong trường hợp này, vốn đi chiếm dụng lớn hơn vốn bị chiếm dụng. Vốn đi chiếm dụng [(3→8)I+III] A.NV Vốn bị chiếm dụng [III+(1,4,5)V] A.TS+IV B.TS

Vậy, qua phân tích ta có cân đối chung thể hiện tinh thần của bảng cân đối kế toán là: (A + B)TS = (A + B)NV (1.3)

Sau khi đã có những nhận định ban đầu về tình hình tài chính, ta tiến hành phân tích hiệu quả sử dụng vốn. 1.3 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn. Đó là nhân tố quyết định cho sự tồn tại và tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp. Tính hiệu quả của việc sử dụng vốn nói chung là tạo ra nhiều sản phẩm tăng thêm lợi nhuận nhưng không tăng vốn; hoặc đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh thu nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng vốn. Một số chỉ tiêu cần xem xét khi phân tích hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn kinh doanh:

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 11

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Số vòng quay toàn bộ vốn

=

Doanh thu thuần Tổng vốn sử dụng bình quân

(1.4)

Chỉ tiêu này cho thấy hiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp, nghĩa là vốn quay bao nhiêu vòng trong năm. Hệ số này càng cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả.
Tỷ lệ hoàn vốn (ROI: Return On Investment) ROI = Lợi nhuận sau thuế Tổng vốn sử dụng bình quân (1.5)

Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng vốn sử dụng bình quân trong kỳ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy vốn sử dụng có hiệu quả. 1.3.1 Chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận 1.3.1.1 Chỉ tiêu doanh thu Doanh thu là toàn bộ số tiền doanh nghiệp thu về từ các hoạt động của mình trong kỳ kinh doanh, bao gồm: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập bất thường. Chỉ tiêu doanh thu có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp (trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh, chỉ tiêu doanh thu luôn đứng đầu): Doanh thu là nguồn chủ yếu để trang trải các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong kỳ kinh doanh. Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động kinh doanh cũng như mở rộng quy mô kinh doanh. Là nguồn đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. Ở khía cạnh nào đó chỉ tiêu doanh thu còn phản ánh “chữ tín trong kinh doanh” của doanh nghiệp.

-

1.3.1.2 Chỉ tiêu lợi nhuận Lợi nhuận của doanh nghiệp là số tiền dôi ra giữa tổng thu và tổng chi trong hoạt động của mình hoặc đó là phần dôi ra của một hoạt động sau khi đã trừ chi phí của hoạt động đó.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 12

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

-

Chỉ tiêu lợi nhuận phản ánh kết quả kinh doanh cuối cùng trong kỳ. Là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất xã hội. Lợi nhuận cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sức mạnh và triển vọng tài chính của doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu “hấp dẫn” để thu hút vốn đầu tư.

Từ hai chỉ tiêu trên, chúng ta tính được các tỷ số về doanh lợi. Đây là chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận, phản ánh kết quả của hàng loạt các chính sách và quyết định của doanh nghiệp, là đáp số cuối cùng về hiệu năng quản trị doanh nghiệp. Doanh lợi tiêu thụ (ROS: Return On Sale) Doanh lợi tiêu thụ phản ánh mức sinh lời trên doanh thu, cứ 100 đồng doanh thu thuần thì sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Có thể dùng nó để so sánh với tỷ số của các năm trước hay của doanh nghiệp khác cùng ngành.

ROS =

Lợi nhuận sau thuế Doanh Thu thuần

(1.6)

Lợi nhuận sau thuế (lợi nhuận ròng): là khoản lời còn lại của doanh nghiệp sau khi đã trừ tổng chi phí và thuế thu nhập. Sự thay đổi mức sinh lời phản ánh những thay đổi về hiệu quả, đường lối sản phẩm hoặc loại khách hàng mà doanh nghiệp phục vụ. Doanh lợi vốn tự có (ROE: Return On Equity) Doanh lợi vốn tự có phản ánh hiệu quả của vốn tự có hay chính xác hơn là đo lường mức sinh lời đầu tư của vốn chủ sở hữu.

ROE

=

Lợi nhuận sau thuế Vốn tự có

(1.7)

Các nhà đầu tư rất quan tâm đến tỷ số này, bởi đây là khả năng thu nhập mà họ có thể nhận được nếu họ quyết định đầu tư vào doanh nghiệp. 1.3.2 Hiệu quả kinh doanh 1.3.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh Trong điều kiện kinh tế hiện nay, hiệu quả luôn là vấn đề được mọi doanh nghiệp và toàn xã hội quan tâm. Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế để thực hiện mục tiêu đề ra.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 13

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Hiệu quả kinh doanh

=

Kết quả “đầu ra” Chi phí “đầu vào”

(1.8)

Hiệu quả chính là lợi ích tối đa thu được trên chi phí tối thiểu. Hiệu quả kinh doanh là kết quả “đầu ra” tối đa trên chi phí “đầu vào” tối thiểu. Vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh là toàn bộ quá trình doanh nghiệp sử dụng hợp lý các nguồn lực sẵn có của mình: vốn, lao động, kỹ thuật… trong hoạt động kinh doanh để đạt được kết quả mong muốn, cụ thể là lợi nhuận được tối đa hóa. 1.3.2.2 Vai trò của hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng. Hiệu quả kinh tế chính là mục tiêu hàng đầu mà mọi cá nhân, mọi tổ chức khi tiến hành kinh doanh đều mong muốn đạt được. Hiệu quả kinh tế được thể hiện thông qua lợi nhuận thu được tối đa trên chi phí tối thiểu, nó góp phần bổ sung vốn kinh doanh, tăng quy mô sản xuất, tích lũy ngoại tệ, tăng thu ngân sách, cải thiện đời sống nhân dân, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là lĩnh vực kinh doanh quan trọng của đất nước. Hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu góp phần nâng cao năng lực sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh, tăng thu nhập nâng cao đời sống cho người lao động, góp phần cũng cố cán cân thanh toán quốc tế của đất nước. Tóm lại, mỗi đơn vị kinh doanh là một tế bào của nền kinh tế, do vậy đơn vị hoạt động có hiệu quả thì nền kinh tế cũng đạt hiệu quả. Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước. 1.3.3 Hiệu quả sử dụng vốn cố định Vốn cố định biểu hiện giá trị bằng tiền của các loại tài sản cố định ở doanh nghiệp, thể hiện quy mô của doanh nghiệp. Tài sản cố định nhiều hay ít, chất lượng hay không chất lượng, sử dụng chúng có hiệu quả hay không đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp. Một số chỉ tiêu cần phân tích để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định. Hiệu suất sử dụng vốn cố định: đo lường việc sử dụng vốn cố định.
Hiệu suất sử dụng = vốn cố định Doanh thu Vốn cố định sử dụng bình quân (1.9)

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 14

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Tỷ lệ sinh lời vốn cố định: cho biết một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỷ lệ sinh lời vốn cố định = Lợi nhuận Vốn cố định sử dụng bình quân x 100% (1.10)

Tài sản cố định là bộ phận không thể thiếu ở bất kỳ một doanh nghiệp. Tỷ trọng tài sản cố định thay đổi tùy theo quy mô, ngành nghề kinh doanh. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định phần nào phản ánh hiệu quả sử dụng vốn. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định: cho biết 100 đồng tài sản cố định bỏ ra mang về cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Hiệu quả sử dụng TSCĐ = Lợi nhuận Giá trị TSCĐ x 100%

(1.11)

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định: đo lường việc sử dụng tài sản cố định như thế nào, càng cao càng tốt.
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu Giá trị TSCĐ

(1.12)

1.3.4 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn lưu động Vốn tiền tệ là vốn bằng tiền, các khoản phải thu, tạm ứng…. Đây chính là hình thái biểu hiện của vốn lưu động tại doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn lưu động được biểu hiện bằng chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn lưu động. Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn lưu động còn được gọi là hiệu suất luân chuyển vốn lưu động. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm, nói lên tình hình tổ chức các mặt hoạt động của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp có hợp lý hay không hợp lý, các khoản vật tư dự trữ có hiệu quả hay không hiệu quả. Hiệu suất luân chuyển vốn lưu động là một trong những chỉ tiêu tổng hợp, nó được dùng để đánh giá chất lượng công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp có thể dùng các chỉ tiêu sau:

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 15

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

-

Số vòng quay vốn lưu động: cho biết tốc độ luân chuyển vốn lưu động trong kỳ (thường là một năm)
Số vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần trong kỳ Vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ

(1.13)

-

Kỳ luân chuyển bình quân vốn lưu động: cho biết số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện được một vòng quay trong kỳ.
Kỳ luân chuyển bình quân vốn lưu động = Số ngày trong kỳ Số vòng quay vốn lưu động

(1.14)

-

Hiệu suất một đồng vốn hàng tồn kho: cho biết một đồng vốn hàng tồn kho bình quân góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
= Doanh thu thuần trong kỳ Vốn hàng tồn kho bình quân trong kỳ

Hiệu suất một đồng vốn hàng tồn kho

(1.15)

-

Mức doanh lợi vốn lưu động: cho biết một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế.
Mức doanh lợi vốn lưu động = Lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế) Vốn lưu động bình quân trong kỳ

(1.16)

1.3.5 Hiệu quả sử dụng lao động Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng của đất nước nói chung và của doanh nghiệp nói riêng, đội ngũ nhân lực có tài và được sử dụng hợp lý sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động: Năng suất lao động bình quân (NSLĐBQ): cho biết một nhân viên làm ra bao nhiêu tiền trong năm.
NSLĐBQ = Doanh thu Số LĐBQ

(1.17)

Lương bình quân: bình quân người lao động nhận được bao nhiêu tiền/tháng.
Lương bình quân = Tổng quỹ lương 12 x Số LĐBQ

(1.18)

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 16

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Hiệu quả sử dụng tiền lương: chỉ tiêu này cho thấy chi phí trả 1 đồng tiền lương cho người lao động tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Hiệu quả sử dụng = tiền lương Lợi nhuận Tổng quỹ lương x 100%

(1.19)

Sau khi đã thấy được khái quát tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Để hoạt động kinh doanh được duy trì liên tục ta phải làm rõ tình hình thanh toán và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Đây là vấn đề thực sự cho thấy doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả hay không. 1.4 TÌNH HÌNH THANH TOÁN VÀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN 1.4.1 Tình hình thanh toán Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn tồn tại các khoản phải thu và phải trả. Tình hình thanh toán có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân tích tình hình thanh toán để đánh giá tính hợp lý về các khoản phải thu, phải trả, tìm ra những nguyên nhân của sự đình trệ trong thanh toán, giúp doanh nghiệp làm chủ được tình hình tài chính, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển. 1.4.1.1 Phân tích các khoản phải thu:
Tỷ lệ các khoản phải = thu và tổng vốn Các khoản phải thu Tổng vốn x 100%

(1.20)

Đây là chỉ tiêu cho thấy có bao nhiêu % vốn thực chất không tham gia vào hoạt động kinh doanh trong tổng vốn huy động được, phản ánh mức độ vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp. Để thấy rõ hơn tình hình thu hồi công nợ, ta cần so sánh tổng giá trị các khoản phải thu với giá trị từng khoản phải thu giữa đầu năm và cuối năm. 1.4.1.2 Phân tích các khoản phải trả:
Tỷ số Nợ = Tổng nợ phải trả Tổng tài sản x 100%

(1.21)

Chỉ tiêu này cho thấy mức độ nợ trong tổng tài sản của doanh nghiệp, từ đó cho thấy phần sở hữu thật sự của doanh nghiệp là bao nhiêu.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 17

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Các chủ nợ thường mong muốn tỷ số này thấp vừa phải. Ngược lại, doanh nghiệp lại muốn tỷ số này cao. Để thấy được tình hình chi trả, ta cần so sánh tổng nợ phải trả với từng khoản nợ phải trả giữa đầu năm và cuối năm. 1.4.2 Khả năng thanh toán 1.4.2.1 Khả năng thanh toán ngắn hạn Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn là cho thấy tài sản của doanh nghiệp có đủ trang trải các khoản nợ ngắn hạn hay không. Mọi doanh nghiệp đều phải duy trì một mức vốn luân chuyển hợp lý để đáp ứng kịp thời nợ ngắn hạn, duy trì đủ các loại hàng tồn kho để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được thuận lợi. Vốn luân chuyển là số chênh lệch giữa tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn với nợ ngắn hạn. Vốn luân chuyển phản ánh bằng số tiền được tài trợ từ các nguồn lâu dài mà không đòi hỏi chi trả trong khoảng thời gian ngắn. Tuy nhiên, quy mô của vốn luân chuyển chưa phải là căn cứ tốt để đánh giá khả năng thanh toán ở doanh nghiệp. Do đó, để đánh giá khả năng thanh toán ta cần xét đến các chỉ tiêu sau. Khả năng thanh toán hiện hành (Rc) Rc = Tài sản lưu động Nợ ngắn hạn (1.22)

Tỷ số này cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Trong nhiều trường hợp, tỷ số này phản ánh không chính xác khả năng thanh khoản; bởi nếu hàng tồn kho là loại hàng khó bán, doanh nghiệp khó biến chúng thành tiền để trả nợ. Do đó, chúng ta cần xét đến khả năng thanh toán khi không có sự tham gia của hàng tồn kho. Khả năng thanh toán nhanh (Rq) Tỷ số này cho biết khả năng thanh toán thật sự của doanh nghiệp và được tính theo công thức: Rq = Tài sản lưu động - Hàng tồn kho Nợ ngắn hạn (1.23)

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 18

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Khả năng thanh toán bằng tiền (Rm)
Rm = Tiền + Đầu tư tài chính ngắn hạn Nợ ngắn hạn

(1.24)

Cho thấy lượng tiền dùng để thanh toán. Hệ số quay vòng các khoản phải thu: phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt.
H = Doanh thu thuần Số dư bình quân các khoản phải thu

(1.25)

Hệ số H càng cao chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, điều này là tốt cho doanh nghiệp vì không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu. Tuy nhiên, H quá cao đồng nghĩa với kỳ hạn thanh toán ngắn, có ảnh hưởng lớn đến việc tiêu thụ sản phẩm. Kỳ thu tiền bình quân: đo lường khả năng thu hồi vốn trong thanh toán tiền hàng. Cho thấy khi sản phẩm tiêu thụ thì bao lâu doanh nghiệp thu được tiền.
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu Doanh thu thuần x 360

(1.26)

Các khoản phải thu ở đây chủ yếu là khoản phải thu khách hàng. Vòng quay tồn kho: là số lần mà hàng hóa tồn kho được bán ra trong kỳ.
Vòng quay tồn kho = Doanh thu thuần Tồn kho

(1.27)

Hệ số này cao chứng tỏ hàng tồn kho của doanh nghiệp luân chuyển nhanh, không bị ứ động. Tuy nhiên, nếu vòng quay tồn kho rất cao thì việc duy trì mức tồn kho thấp có thể khiến cho mức tồn kho đó không đủ đáp ứng kịp thời cho những hợp đồng tiêu thụ của kỳ sau, làm ảnh hưởng đến uy tín kinh doanh của doanh nghiệp.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 19

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

1.4.2.2 Khả năng thanh toán dài hạn Khả năng thanh toán lãi vay: đo lường mức độ mà lợi nhuận phát sinh do việc sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi vay như thế nào.
Tỷ số thanh toán = lãi vay Lợi nhuận trước thuế + lãi vay Lãi vay

(1.28)

Chỉ tiêu này là cơ sở để đánh giá khả năng đảm bảo nợ vay dài hạn của doanh nghiệp. Các chủ nợ cho vay dài hạn, một mặt quan tâm đến khả năng trả lãi vay, mặt khác họ chú trọng đến sự cân bằng hợp lý giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
Tỷ lệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu = Nợ phải trả Vốn chủ sở hữu x 100%

(1.29)

Tóm lại, qua đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn và dài hạn cũng như hiện trạng thanh toán của doanh nghiệp, một lần nữa cho chúng ta thấy khả năng đảm bảo vốn kinh doanh của đơn vị, thấy được hiệu quả của việc sử dụng vốn.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 20

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU NÔNG SẢN THỰC PHẨM AN GIANG
2.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH Công ty Xuất nhập khẩu nông thủy sản An Giang được Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ký Quyết định thành lập số 71/QĐ_UBTC, ngày 01/02/1990 do sự sáp nhập của 3 công ty: Công ty Chăn nuôi, Công ty Xuất nhập khẩu thủy sản và Xí nghiệp Khai thác chế biến thủy sản. Đến năm 1992 căn cứ điều 12 Quy chế thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước ban hành kèm theo Nghị định 388_HĐBT ngày 20/11/1991 và NĐ 156 HĐBT ngày 07/5/1992 của HĐBT, theo đó giải thể Công ty Lâm sản tách một bộ phận nhập vào Công ty Xuất nhập khẩu nông thủy sản An Giang. UBND tỉnh An Giang sau khi thống nhất với Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm đã có Quyết định số 528/QĐUB ngày 02/11/1992 thành lập Công ty Xuất nhập khẩu nông thủy sản An Giang. Trong thời gian này công ty liên tục phát triển, hoạt động kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế tỉnh nhà, vào ngân sách địa phương, thu hút nhiều lao động nhàn rỗi, khai thác tốt các thế mạnh của tỉnh, trở thành một trong những công ty nhà nước hàng đầu của địa phương. Để phù hợp với tình hình thực tế, nhằm đẩy mạnh quá trình phát triển cũng như khả năng quản lý. UBND tỉnh đã tách bộ phận thủy sản của công ty hình thành một đơn vị mới và ra Quyết định số 69/QĐUB ngày 29/01/1996 đổi tên thành Công ty Xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm An Giang. Những năm qua, Công ty Xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm An Giang đã từng bước vượt khó khăn, thách thức để đứng vững trên thương trường và tiếp tục phát triển. - Tên giao dịch: Công ty Xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm An Giang (ANGIANG AGRICULTURE AND FOODS IMPORT – EXPORT COMPANY). - Tên viết tắc: ANGIANG AFIEX CO. - Trụ sở chính: 34_36 Hai Bà Trưng. TP. Long Xuyên. Tỉnh An Giang.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 21

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

- Điện thoại: 076.841021_076.841590 - Email: xnknstpagg@hcm.vnn.vn.

Fax: 076.843199

- Chi nhánh đại diện tại TP. Hồ Chí Minh: 32/3 Nguyễn Huy Lượng. Quận Tân Bình. TP. Hồ Chí Minh. - Điện thoại: 08.8431472_08.8431473 - Email: afiex@fmail.vnn.vn. - Vốn pháp định (2003): 66.999.403.402 đồng. Chia theo nguồn hình thành: - Ngân sách cấp: - Tự bổ sung: 50.222.026.099 đồng. 16.776.377.303 đồng. Fax: 08.8412639.

Chia theo mục đích sử dụng: - Vốn cố định: - Vốn lưu động: 55.133.639.396 đồng. 11.865.764.006 đồng.

2.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN 2.2.1 Chức năng Công ty Afiex chuyên sản xuất, chế biến, kinh doanh gạo, nông sản, thủy sản, thực phẩm chế biến, sản phẩm chăn nuôi, thức ăn cho gia súc và thủy sản, thuốc thú y, thi công xây dựng công trình và kinh doanh vật liệu xây dựng, khai thác chế biến lâm sản, kinh doanh đồ gỗ gia dụng, hàng bách hóa tổng hợp, hàng điện máy và thiết bị điện tử, phân bón, giống cây trồng vật nuôi, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, dịch vụ khai báo Hải quan và giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu. Thời gian qua công ty đã triển khai những dự án tập trung cho chế biến nông thủy sản và phát triển sản xuất giống cây trồng, vật nuôi phục vụ mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh nhà. Hoạt động xuất nhập khẩu: - Xuất khẩu: gạo, nông sản, thủy sản… - Nhập khẩu: phân bón, thuốc thú y, nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc, hóa chất, hàng kim khí điện máy và hàng tiêu dùng khác.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 22

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Hoạt động liên doanh: - Công ty TNHH Sài Gòn – An giang (SAGICO): liên doanh trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh siêu thị tại An Giang. Vốn góp 15 tỷ đồng. - Công ty Dầu khí MEKONG: liên doanh giữa tổng Công ty Dầu khí Việt Nam và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Công ty góp vốn 3,7 tỷ đồng. 2.2.2 Nhiệm vụ - Chấp hành luật pháp, tuân thủ chặt chẽ các chính sách quản lý kinh tế, tài chính, quản lý xuất nhập khẩu của nhà nước. - Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch xuất, nhập khẩu của công ty. - Sử dụng hiệu quả tiềm năng sẵn có. - Thực hiện đầy đủ các cam kết của hợp đồng mua bán ngoại thương và các vấn đề có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty. - Thực hiện tốt các chính sách về tiền lương, phân công lao động hợp lý, đảm bảo công bằng xã hội, các chế độ về quản lý tài sản. - Không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ quản lý, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho nhân viên. 2.2.3 Quyền hạn - Công ty có quyền quản lý và sử dụng vốn, đấi đai, tài nguyên và các nguồn lực khác theo quy định của pháp luật để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ được giao. - Công ty được quyền kinh doanh xuất, nhập khẩu và xuất, nhập khẩu ủy thác các mặt hàng nông sản thực phẩm, hóa chất và một số mặt hàng tiêu dùng khác. - Được chủ động ký kết các hợp đồng xuất, nhập khẩu trong khuôn khổ chức năng ngành nghề pháp luật cho phép. - Tổ chức thu mua, gia công chế biến các mặt hàng xuất khẩu, trao đổi mua bán trong nước theo quy định hiện hành. - Công ty có quyền đầu tư, liên doanh, góp vốn cổ phần. - Mở rộng quy mô kinh doanh tùy theo khả năng của mình, tự lựa chọn thị trường xuất, nhập khẩu.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 23

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

- Tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức kinh doanh phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ của từng thời kỳ, tạo điều kiện thuận lợi làm cơ sở cho sự phát triển bền vững, lâu dài. 2.3 CƠ CẤU TỔ CHỨC Cơ cấu tổ chức của công ty được xây dựng theo mô hình trực tuyến chức năng. Ban Giám Đốc Chỉ đạo, quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh doanh xuất, nhập khẩu và các mặt công tác khác trong công ty. Giám đốc là người chịu trách nhiệm toàn bộ về mọi hoạt động của công ty trước UBND tỉnh. Khối nghiệp vụ: có các phòng ban Phòng Tổ chức hành chính tổng hợp: - Quản lý đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty, thực hiện chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội và các chế độ, chính sách khác theo quy định. - Tham mưu cho giám đốc về xây dựng, tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của công ty và các phòng, ban. Thực hiện việc tiếp nhận, điều động, bố trí, sắp xếp, nâng lương, bổ nhiệm khen thưởng và kỷ luật theo quy định của Nhà nước. - Lập kế hoạch tiền lương và xây dựng cơ chế khoán quỹ lương hàng năm. Phòng Kế toán tài vụ: - Thực hiện chế độ kế toán theo quy định hiện hành. - Quản lý vốn, nguồn vốn, tài sản, vật tư, hàng hóa, bảo toàn và phát triển vốn. - Hạch toán kinh doanh chính xác, phân tích hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu hàng năm. - Xây dựng kế hoạch tài chính hàng năm. Phòng Kế hoạch và đầu tư: - Lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh xuất, nhập khẩu. - Thẩm định các dự án đầu tư và theo dõi thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 24

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

- Tham mưu cho Giám đốc về các kế hoạch sản xuất kinh doanh và đề trình các dự án đầu tư. Ngoài ra, công ty còn tham gia góp vốn liên doanh, thành lập hai công ty liên doanh: - Liên doanh Thương mại SAGICO. - Công ty Liên doanh dầu khí Mekong. Khối sản xuất: gồm các xí nghiệp trực thuộc: Xí nghiệp Xuất khẩu lương thực: - Với 10 cụm kho tồn trữ, bảo quản và chế biến lương thực. - Năng lực kho chứa: 65.000 tấn gạo. - Công suất chế biến: 250.000 tấn gạo/năm. Xí nghiệp Chế biến thức ăn gia súc: - Nhà máy chế biến thức ăn gia súc, công suất 30.000 tấn/năm. - Hệ thống máy sấy 20 tấn/giờ. - Kho chứa hàng hóa, nguyên vật liệu: 10.000 tấn. Xí nghiệp Đông lạnh thủy sản: Nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh, công suất 4.000 tấn thành phẩm/năm, có thể mở rộng 8.000 tấn/năm. Xí nghiệp Bột mì: - Nhà máy chế biến tinh bột khoai mì, công suất chế biến 18.000 tấn bột/năm, gắn liền việc quản lý trực tiếp và đầu tư nguyên liệu. - Diện tích: 4.000 ha chuyên canh trồng khoai mì. Xí nghiệp Xây dựng và chế biến lâm sản: - Có nhiệm vụ khai thác, vận chuyển và chế biến gỗ, lâm sản; nhận thực hiện thầu, thi công các công trình, kho bãi, trang trí nội thất và quy hoạch khu dân cư. - Doanh thu xây lắp hàng năm đạt gần 15 tỷ đồng.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 25

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Xí nghiệp Dịch vụ chăn nuôi: - Chuyên cung cấp heo giống và heo thịt. Số lượng đàn gia súc có mặt thường xuyên là 1.000 con đực và nái giống. Các Trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, cá: - Trại heo giống Vĩnh Khánh, quy mô 1.000 con heo nái sinh sản. - Trại bò giống Tri Tôn, quy mô 1.000 con bò cái giống lai Sind. - Trại bò sữa Châu Thành, quy mô 300 con bò sữa. Khối kinh doanh: Các cơ sở thuộc khối kinh doanh: Phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu. Cửa hàng kinh doanh bách hóa tổng hợp. Cửa hàng điện máy & thiết bị điện tử. Cửa hàng thức ăn gia súc và thuốc thú y. Những bộ phận này thực hiện các chức năng sau: - Thực hiện đầu ra cho sản phẩm. - Giao dịch với khách hàng trong và ngoài nước. - Mở rộng quan hệ hợp tác. - Tiếp thị để hỗ trợ sản xuất phát triển.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 26

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY

Ban Giám Đốc

KHỐI NGHIỆP VỤ

KHỐI SẢN XUẤT

KHỐI KINH DOANH

Phòng Kế hoạch đầu tư

Phòng Tổ chức hành chính

Phòng Kế toán tài vụ

XN Xuất khẩu lương thực XN Thức ăn gia súc

Phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu

Cửa hàng bách hóa tổng hợp

XN Đông lạnh thủy sản

Cửa hàng thức ăn gia súc, thuốc thú y

XN Bột mì Cửa hàng điện máy XN Xây dựng chế biến lâm sản XN Dịch vụ chăn nuôi Các Trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, cá

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 27

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

2.4 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 2.4.1 Kết quả kinh doanh từ năm 2001 đến 2003 Những năm qua, thị trường có nhiều chuyển biến phức tạp, gây khó khăn cho hoạt động của công ty, nhất là thị trường xuất, nhập khẩu. Song, công ty đã cố gắng duy trì mức hoạt động và tiếp tục phát triển, thể hiện qua kết quả sau: Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh từ năm 2001 đến năm 2003
Chỉ tiêu Doanh thu (tỷ đồng) Lợi nhuận (tỷ đồng) 2001 448,80 3,52 2002 571,78 4,04 2003 774,35 3,81 2002/2001 ±∆ % 122,98 27,40 0,53 14,93 2003/2002 ±∆ % 202,57 35,43 -0,23 -5,70

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2001 đến 2003 Đồ thị 2.1: Doanh thu của công ty từ năm 2001 đến 2003
Tỷ đồng 800 700 600 500 400 300 200 100 2001 2002
Doanh thu

774,35

571,78

448,80

2003

Năm

Đồ thị 2.2: Lợi nhuận của công ty từ năm 2001 đến 2003
Tỷ đồng 4,10 4,00 3,90 3,80 3,70 3,60 3,50 3,40 3,30 3,20 2001 2002 2003 Năm
3,52

4,04

3,81

Lợi nhuận

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 28

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Doanh thu cả năm 2002 tăng 112,98 tỷ đồng, tương ứng 27,40% và lợi nhuận tăng 0,53 tỷ đồng, tương ứng 14,93% so năm 2001; năm 2003 là 774,35 tỷ đồng, tăng 35,43%, tương ứng 202,57 tỷ đồng so năm 2002, lợi nhuận năm 2003 giảm so năm 2002, chỉ đạt 3,81 tỷ đồng, giảm 0,23 tỷ đồng, tương ứng 5,7%. Để thấy rõ nguyên nhân của sự biến động này, chúng ta đi vào tình hình hoạt động cụ thể của công ty. Bảng 2.2: Kết quả doanh thu xuất khẩu và nội địa Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu Doanh thu xuất khẩu Doanh thu nội địa Tổng Doanh thu 2001 Giá trị % 196,10 43,69 252,70 56,31 448,80 100 2002 Giá trị % 241,22 42,19 330,57 57,81 571,78 100 2003 Giá trị % 270,02 34,87 504,33 65,13 774,35 100

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh xuất nhập khẩu Bảng 2.3: Tình hình tăng giảm doanh thu xuất khẩu và nội địa Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu Doanh thu xuất khẩu Doanh thu nội địa Tổng Doanh thu 2002/2001 ±∆ % 45,12 23,01 77,86 30,81 122,98 27,4 2003/2002 ±∆ % 28,8 11,94 173,77 52,57 202,57 35,43

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh xuất nhập khẩu Biến động doanh thu của công ty qua bảng số liệu như sau: Năm 2001, doanh thu của công ty đạt 448,8 tỷ đồng, trong đó doanh thu xuất khẩu chiếm 43,69%, tương đương 196,10 tỷ đồng. Doanh thu nội địa chiếm 56,31% trong cơ cấu tỷ trọng doanh thu của công ty. Sang năm 2002, tổng doanh thu của công ty đạt 571,78 tỷ đồng, tăng 122,98 tỷ đồng hay tăng 27,40% so năm 2001. Trong năm này, dù sản lượng gạo xuất khẩu giảm, nhưng sự bù đắp kịp thời từ mặt hàng thủy sản đã làm cho doanh thu xuất khẩu tăng 23,01%, tương đương 45,12 tỷ đồng, bên cạnh đó giá cả một số sản phẩm thức ăn gia súc tăng, tạo hiệu ứng chung cho hoạt động kinh doanh, thúc đẩy sản xuất thức ăn gia súc phát triển, sản lượng tiêu thụ tăng cao, doanh thu bán lẽ tăng dẫn đến doanh thu nội địa tăng đạt 330,57 tỷ đồng, tăng 30,81% so năm 2001, tương ứng 77,86 tỷ đồng.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 29

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Năm 2003, doanh thu của công ty tiếp tục tăng đạt 774,35 tỷ đồng, tăng 35,43% so năm 2002. Mặc dù doanh thu xuất khẩu có tăng, nhưng tỷ trọng trong tổng doanh thu của năm giảm, chỉ chiếm 34,87%. Nguyên nhân chủ yếu do: vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa tại Mỹ; các rào cản kỹ thuật khi nhập vào thị trường EU; sản lượng tiêu thụ giảm… Tuy nhiên, đây cũng là năm mà các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu nói chung đã bắt đầu khai thác thị trường nội địa. Doanh thu nội địa của công ty 504,33 tỷ đồng, chiếm 65,13% tổng doanh thu, tăng 52,57%, tương đương 173,77 tỷ đồng so năm 2002. Tóm lại, doanh thu của công ty có biến động theo chiều hướng gia tăng. Năm 2003, dù gặp khó khăn nhưng doanh thu vẫn đạt ở mức cao, đây là biểu hiện tốt, cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh ngày càng tốt hơn. 2.4.2 Kết quả xuất, nhập khẩu 2.4.2.1 Kim ngạch xuất, nhập khẩu theo cơ cấu mặt hàng Bảng 2.4: Cơ cấu mặt hàng xuất, nhập khẩu Đơn vị: USD
Chỉ tiêu I. XUẤT KHẨU 1. Gạo 2. Thủy sản 3. Tinh bột 4. Nếp II. NHẬP KHẨU 1. Bã đậu nành 2. Cám các loại 3. Bột các loại 4. Bắp vàng 5. Heo giống 6. Gỗ 7. Khác 2001 2002 2003 Giá trị % Giá trị % Giá trị 13.719.656 100 16.004.790 100 16.957.720 12.243.011 89,24 11.202.780 70,00 10.058.060 1.476.646 10,76 4.802.010 30,00 6.245.010 497.690 156.960 5.156.813 100 3.630.940 100 5.964.100 2.359.890 45,76 2.177.500 59,97 4.569.510 79.000 1,53 1.117.370 22.241 0,43 133.210 3,67 212.010 958.392 18,58 823.350 22,68 53.400 1,47 52.400 80.265 1,56 147.970 4,08 12.810 1.657.025 32,13 295.510 8,14 % 100 59,31 36,83 2,93 0,93 100 76,62 18,73 3,55 0,88 0,21

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh xuất nhập khẩu Đối với xuất khẩu: Mặt hàng xuất khẩu chủ lực của công ty là gạo và thủy sản, bên cạnh đó còn có tinh bột và nếp. Qua bảng số liệu ta thấy kim ngạch xuất khẩu luôn biến động, cụ thể:

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 30

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Năm 2001 kim ngạch xuất khẩu đạt 13.719.656 USD với hai mặt hàng chủ lực là gạo 12.243.011 USD, chiếm 89,24% kim ngạch xuất khẩu năm; thủy sản 1.476.646 USD, chiếm 10,76%. Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu của công ty tăng 2.285.134 USD, tương đương tăng 16,66%, chủ yếu từ mặt hàng thủy sản gấp 2,25 lần năm 2001. Tóm lại, mặt hàng xuất khẩu chủ lực của công ty là gạo và thủy sản. Tuy nhiên, hai mặt hàng này đang chịu cạnh tranh rất quyết liệt trên thị trường nên công ty đã chủ động đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu, tìm thêm thị trường mới nhằm đảm bảo kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng. Đối với nhập khẩu: Tổng kim ngạch nhập khẩu của công ty năm 2001 là 5.156.813 USD, trong đó bã đậu nành chiếm tỷ trọng cao nhất 45,76%, tương đương 2.359.890 USD, được dùng để chế biến thức ăn gia súc và tiêu thụ nội địa. Tiếp đến là bắp vàng nhập từ Trung Quốc đạt 958.392 USD, chiếm 18,58%; các mặt hàng còn lại là cám, bột các loại, gỗ. Trong năm, sở dĩ kim ngạch nhập khẩu đạt ở mức cao là do công ty nhập thiết bị xáng thổi của Hà Lan trị giá 1.634.344 USD, chiếm 31,69% tỷ trọng. Năm 2002, kim ngạch nhập khẩu chỉ đạt 3.630.940 USD, giảm 1.525.873 USD. Nguyên nhân là do cơ cấu mặt hàng nhập ít và giảm hơn năm 2001, cụ thể bã đậu nành, các mặt hàng cám và bột các loại. Năm 2003, kim ngạch tăng trở lại đạt 5.964.100 USD do nhu cầu sản xuất và chế biến thức ăn gia súc tăng, lượng tiêu thụ nội địa tăng. Tóm lại, trong cơ cấu mặt hàng nhập khẩu, công ty đã hạn chế nhập những mặt hàng trong nước có khả năng cung ứng, các mặt hàng còn lại chủ yếu là nguyên liệu dùng cho sản xuất xuất khẩu và phục vụ thị trường nội địa.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 31

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

2.4.2.2 Kim ngạch xuất, nhập khẩu theo loại hình kinh doanh Bảng 2.5: Kim ngạch xuất, nhập khẩu theo loại hình kinh doanh Đơn vị: USD
Chỉ tiêu I. Xuất Khẩu - Trực tiếp - Ủy thác II. Nhập Khẩu - Trực tiếp - Ủy thác 2001 Giá trị 13.719.657 9.116.957 4.602.700 5.156.813 5.156.813 % 100 66,45 33,55 100 2002 Giá trị 16.004.790 7.882.260 8.122.530 3.630.940 3.630.940 % 100 49,25 50,75 100 2003 Giá trị 16.957.720 14.591.780 2.365.940 5.964.100 5.964.100 % 100 86,05 13,95 100

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh xuất nhập khẩu Bảng 2.6: Tình hình tăng giảm kim ngạch xuất, nhập khẩu Đơn vị: USD
Chỉ tiêu I. Xuất Khẩu - Trực tiếp - Ủy thác II. Nhập Khẩu - Trực tiếp - Ủy thác 02/01 Giá trị 2.285.133 -1.234.697 3.519.830 -1.525.873 -1.525.873 % 16,66 -13,54 76,47 -30 -30 03/02 Giá trị 952.930 6.709.520 -5.756.590 2.333.160 2.333.160 % 5,62 85,12 -70,87 64,26 64,26

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh xuất nhập khẩu Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu đạt 13.719.657 USD, trong đó xuất khẩu trực tiếp chiếm 66,45%. Năm 2002 xuất khẩu tăng 16,66% tương ứng 2.285.133 USD. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu trực tiếp giảm do một số bạn hàng truyền thống giảm sản lượng nhập khẩu, công ty phải cạnh tranh với một số nước xuất khẩu trong khu vực như Thái Lan, Ấn Độ… Thị trường xuất khẩu trực tiếp trong năm 2003 có những chuyển biến tích cực, kim ngạch đạt 14.591.780 USD, tăng 85,12% so năm trước. Tuy gặp phải một số khó khăn nhất định nhưng công ty đã chủ động tìm đối tác mới và tranh thủ lại các khách hàng cũ như một số nước Châu Âu là Anh, Hà Lan, Bỉ… Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu của công ty trong những năm qua đạt được tương đối khá. Tuy nhiên, công ty cần phải chủ động tìm bạn hàng xuất khẩu trực tiếp nhiều hơn, vì đây là loại hình kinh doanh mang lại lợi nhuận cao.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 32

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

2.5 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN 2.5.1 Thuận lợi - Công ty luôn được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh trong định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là sự chỉ đạo sâu sát theo cơ chế quản lý xuất, nhập khẩu của Chính phủ. - Được ưu đãi về thuế xuất khẩu, được khấu trừ đầu vào theo quy định của thuế VAT, các thiết bị nhập về để đầu tư cho phát triển sản xuất và xuất khẩu thì được miễn thuế nhập khẩu. - Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành nghề đã giúp bổ sung, duy trì được doanh thu mỗi khi một lĩnh vực gặp bất lợi, nhất là đối với xuất khẩu. Do tổ chức hoạt động khép kín từ sản xuất, thu mua, chế biến đến tiêu thụ đã góp phần hạn chế được rủi ro và những bất lợi của thị trường. - Được sự hỗ trợ nhiệt tình của các đơn vị và các ngành có liên quan nhất là những ngân hàng như cho vay tín dụng đầu tư phát triển với lãi suất ưu đãi, tài trợ thu mua, tạm trữ lúa gạo nên đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh. - Thời gian gần đây, công ty được ngành thương mại hỗ trợ kinh phí xúc tiến thương mại trong và ngoài nước. - An Giang nằm ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long nên thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp. Những năm gần đây, nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn, sản xuất được nhiều sản phẩm hơn. - Công ty đang tập trung đầu tư cho lĩnh vực chế biến các mặt hàng nông, thủy sản gắn với việc phát triển thị trường nên từng bước đã chiếm lĩnh được thị phần, xác lập các khu vực tiêu thụ trong và ngoài nước. 2.5.2 Khó khăn Bên cạnh những thuận lợi chủ yếu nói trên, công ty còn gặp một số khó khăn như sau: - Thông tin thị trường nước ngoài còn hạn chế, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và các nguồn thông tin đại chúng. - Công ty với các bạn hàng truyền thống là chính, chưa có đủ khả năng và kinh phí để tiếp cận và mở rộng thị trường mới.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 33

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

- Thị trường nội địa được quảng bá, đầu tư nhiều, nhưng còn hạn hẹp. Một số mặt hàng tiêu thụ nội địa như thức ăn gia súc đang bị cạnh tranh về giá và chính sách khuyến mãi của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. - Không đủ khả năng về vốn trước khi thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu (thu mua, chủ động nguồn hàng…), nguồn vốn lưu động chỉ đáp ứng 10 – 12% so với nhu cầu. - Thị trường xuất khẩu gạo đang bị cạnh tranh gay gắt từ các nước trong khu vực như Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc… - Giá cả nguyên liệu thường xuyên biến động ảnh hưởng đến giá thành xuất, nhập khẩu. - Bên cạnh việc thực hiện vai trò chủ đạo trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh trọng yếu để thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh, công ty còn được giao nhiệm vụ triển khai các dự án phục vụ mục tiêu chuyển dịch như: khoai mì, bò giống, bò sữa… các dự án này có thời gian hoàn vốn khá dài, khả năng sinh lời thấp, công ty phải bù lỗ ở những năm đầu trong giai đoạn ổn định đàn và năng suất. 2.6 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY NĂM 2004 2.6.1 Mục tiêu chủ yếu Từ kết quả sản xuất, kinh doanh đã đạt được trong năm 2003, trên cơ sở đánh giá khả năng và nhu cầu thị trường công ty đặt ra những mục tiêu chủ yếu phải đạt được trong năm 2004 như sau: Tổng doanh thu cả năm là 655.000 triệu đồng, trong đó doanh thu xuất khẩu là 396.580 triệu đồng, hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực là gạo và thủy sản đông lạnh. Lợi nhuận ước tính của cả năm 2004 là 5.000 triệu đồng. Ngoài ra, công ty còn có các dự án mở rộng sản xuất kinh doanh trong năm 2004 như: đầu tư mở rộng nâng công suất nhà máy Chế biến đông lạnh; đầu tư nhà máy Chế biến viên cá nổi, các dự án khu dân cư đô thị…

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 34

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

2.6.2 Định hướng hoạt động Ban lãnh đạo công ty nhận định, năm 2004 sẽ có những thuận lợi cơ bản, nhưng đồng thời tiếp tục phát sinh nhiều khó khăn thách thức. Công ty đề ra những giải pháp cơ bản để hoàn thành mục tiêu đặt ra. Về thị trường: Tập trung mở rộng thị trường trong và ngoài nước, xem thị trường trong nước có ý nghĩa ổn định lâu dài. - Triển khai ngay các sản phẩm thủy sản đã qua chế biến và thành lập bộ phận chuyên trách thị trường nội địa tại xí nghiệp Đông lạnh. - Đi đôi với việc tạo sản phẩm, công ty đang xúc tiến việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu, quảng bá tiếp thị, xây dựng mạng lưới và kênh phân phối sản phẩm. - Tiếp tục củng cố mối quan hệ với khách hàng truyền thống và từng bước mở rộng thị trường mới, khách hàng mới. Về tổ chức phát triển sản xuất: - Trong công tác tổ chức phát triển sản xuất, từng đơn vị phải rà soát lại năng lực sản xuất của mình và nhanh chóng điều chỉnh các khâu bất hợp lý với mục tiêu giảm chi phí, hạ giá thành. - Xí nghiệp Đông lạnh, xí nghiệp Lương thực phải khẩn trương rà soát lại năng lực thu mua nguyên liệu, năng lực chế biến để chủ động nguồn cung ứng. Xí nghiệp Đông lạnh cần nâng cao tính chuyên nghiệp trong công tác tiếp thị và sẵn sàng cho cuộc bầu chọn danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao trong năm 2004. Về công tác quản lý và điều hành: - Duy trì mối quan hệ thông tin thường xuyên giữa bộ phận nghiệp vụ văn phòng công ty và các đơn vị trực thuộc. - Trong quan hệ giữa các đơn vị tham gia xuất khẩu với Phòng kinh doanh, cần nhanh chóng củng cố, thống nhất việc chỉ đạo điều hành đảm bảo thông suốt trong giao dịch với khách hàng. - Chú trọng đầu tư cho nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập cho lực lượng cán bộ chủ chốt và lực lượng chất xám thông qua việc trả lương; thành lập Hội đồng thi đua khen thưởng, Hội đồng hòa giải của công ty theo quy định.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 35

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU NÔNG SẢN THỰC PHẨM AN GIANG
3.1 ĐÁNH GIÁ CƠ CẤU VỐN CỦA CÔNG TY 3.1.1 Cơ cấu vốn của công ty Afiex Bảng 3.1: Cơ cấu vốn của công ty từ năm 2001 đến 2003 Đơn vị: Triệu đồng
Năm Chỉ tiêu Vốn chủ sở hữu Nợ phải trả Tổng vốn Giá trị 63.108 235.364 298.473 2001 % 21,14% 78,86% 100% Giá trị 88.429 254.397 342.826 2002 % 25,79% 74,21% 100% Giá trị 79.828 240.368 320.197 2003 % 24,93% 75,07% 100%

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Năm 2001, tổng vốn của công ty là 298.473 triệu đồng, trong đó vốn chủ sở hữu là 63.108 triệu đồng, chiếm 21,14% trong tổng vốn, để hoạt động kinh doanh diễn ra bình thường công ty phải đi vay và chiếm dụng vốn của đơn vị khác, nợ phải trả của công ty trong năm là 235.364 triệu đồng, chiếm 78,86%. Năm 2002, tổng vốn của công ty là 342.826 triệu đồng, tăng 14,86% so năm trước; trong đó nguồn vốn chủ sở hữu 88.429 triệu đồng, chiếm 25,79% trong tổng vốn. Năm 2003, quy mô vốn của công ty có chiều hướng giảm, cụ thể tổng vốn trong năm là 320.197 triệu đồng; trong đó vốn chủ sở hữu 79.828 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 24,93%. Tóm lại, qua phân tích cơ cấu vốn của công ty cho chúng ta thấy được khái quát sự thay đổi về quy mô vốn của công ty. 3.1.2 Phân tích chung về tình hình tài chính của công ty Afiex 3.1.2.1 Đánh giá khái quát sự biến động về tài sản và nguồn vốn Tài sản và nguồn vốn của công ty luôn biến động qua các năm, đánh giá khái quát sự biến động về tài sản và nguồn vốn cho chúng ta thấy những nguyên nhân ban đầu ảnh hưởng đến tình hình biến động đó.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 36

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Bảng 3.2: Cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Đơn vị: Triệu đồng
2001 Tổng Tài Sản TSLĐ&ĐTNH TSCĐ&ĐTDH Tổng Nguồn Vốn VỐN CSH NỢ PHẢI TRẢ 298.473 147.894 150.578 298.473 63.108 235.364 2002 342.826 188.612 154.215 342.826 88.429 254.397 2003 320.197 176.464 143.733 320.197 79.828 240.368 2002/2001 Giá trị 44.354 40.717 3.636 44.354 25.321 19.033 % 14,86 27,53 2,41 14,86 40,12 8,09 2003/2002 Giá trị -22.630 -12.148 -10.482 -22.630 -8.601 -14.029 % -6,60 -6,44 -6,80 -6,60 -9,73 -5,51

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Thông qua bảng cân đối kế toán chúng ta rút ra được những nhận định ban đầu như sau: Tổng tài sản của công ty năm 2002 tăng lên so năm 2001 là 44.354 triệu đồng, điều này cho thấy công ty đã mở rộng quy mô kinh doanh; trong năm, công ty đã mua sắm thêm tài sản cố định dẫn đến tài sản cố định và đầu tư dài hạn của công ty tăng 2,41% tương ứng 3.636 triệu đồng, tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn tăng đáng kể 40.717 triệu đồng về số tuyệt đối hay tăng 27,53% về số tương đối so năm trước; tổng nguồn vốn của công ty năm 2002 tăng lên so năm 2001 là 44.354 triệu đồng, nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăng về tổng nguồn vốn là do vốn chủ sở hữu tăng 40,12% tương ứng 25.321 triệu đồng, nợ phải trả tăng 8,09% tương ứng 19.033 triệu đồng, việc gia tăng vốn chủ sở hữu và nợ phải trả cho thấy công ty đã cố gắng phát huy khả năng huy động vốn, tiếp tục bổ sung thêm vốn kinh doanh đảm bảo cho các hoạt động của công ty được diễn ra một cách bình thường. Năm 2003 tổng tài sản của công ty giảm 22.630 triệu đồng là do công ty đã thanh lý bớt một số tài sản cố định không cần thiết, giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn giảm 10.482 triệu đồng, hay giảm 6,8%; tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn trong năm cũng giảm 12.148 triệu đồng, tương ứng 6,44%; tổng nguồn vốn giảm 22.630 triệu đồng. Cho thấy quy mô kinh doanh có chiều hướng thu hẹp lại; thêm vào đó là khả năng huy động vốn cũng giảm, cụ thể vốn chủ sở hữu đã giảm 9,73%, tương ứng với 8.601 triệu đồng, nợ phải trả giảm 14.029 triệu đồng, hay giảm 5,51%. Để đánh giá cụ thể tình hình biến động trên ta đi vào phân tích tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 37

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

3.1.2.2 Tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn Theo quan điểm của vốn luân chuyển, vốn chủ sở hữu hoàn toàn có khả năng trang trải cho mọi hoạt động của công ty. Điều này có xảy ra đối với công ty Afiex hay không chúng ta tiến hành xét cân đối sau: Xét mối quan hệ cân đối giữa B.Nguồn vốn (vế trái) với [I+II+IV+(2,3)V+VI] A.Tài sản+[I+II+III] B.Tài sản (vế phải). Căn cứ vào từng khoản mục trên bảng cân đối kế toán của công ty, thay vào (1.1) ta có được bảng số liệu sau: Bảng 3.3: Tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Vế trái 63.108 88.429 79.828 Vế phải 220.377 245.364 233.561 Chênh lệch -157.269 -156.935 -153.733

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Năm 2001 nhu cầu về vốn cho các hoạt động của công ty 220.377 triệu đồng, vốn chủ sở hữu chỉ đáp ứng 63.108 triệu đồng không đảm bảo được cho các hoạt động của công ty là 157.269 triệu đồng, do đó công ty phải đi vay hoặc chiếm dụng vốn của đơn vị khác. Năm 2002 nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh lên đến 245.364 triệu đồng, vì vậy vốn chủ sở hữu cũng tăng, đạt 88.429 triệu đồng, mức cao nhất từ trước đến nay; tuy nhiên, vốn chủ sở hữu vẫn không kham nổi, công ty phải đi vay hoặc chiếm dụng vốn của đơn vị khác để đáp ứng cho nhu cầu vốn để kinh doanh là 156.935 triệu đồng. Năm 2003 vốn chủ sở hữu không đủ trang trải, công ty lại phải tiếp tục đi vay vốn của các đơn vị khác; mặc dù vậy mức độ không đảm bảo của vốn chủ sở hữu đã giảm, cụ thể công ty chỉ đi vay thêm 153.733 triệu đồng. Tóm lại, qua phân tích chúng ta nhận thấy: vốn chủ sở hữu của công ty qua các năm không có khả năng đảm bảo cho các hoạt động chủ yếu, công ty phải đi vay và chiếm dụng thêm vốn từ các đơn vị khác. Tuy nhiên, mức độ đảm bảo của vốn chủ sở hữu có xu hướng tăng dần; bên cạnh đó, công ty đang có khuynh hướng thu hẹp quy mô kinh doanh.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 38

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Như vậy, qua các năm công ty phải đi vay và chiếm dụng thêm vốn để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Để đánh giá cụ thể hơn khoản đi vay và chiếm dụng có hiệu quả hay không ta xem xét cân đối sau: Xét mối quan hệ cân đối giữa [(1,2)I+II] A.Nguồn vốn + B. Nguồn vốn (vế trái) với [I+II+IV+(2,3)V+VI] A.Tài sản+[I+II+III] B.Tài sản (vế phải). (1.2) Sau khi xét quan hệ của cân đối (1.2), ta tiếp tục xem xét vốn công ty đi chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng. Căn cứ vào từng khoản mục trên bảng cân đối kế toán của công ty, thay vào (1.2) ta có được bảng số liệu sau: Bảng 3.4: Vốn chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng Đơn vị: Triệu đồng
Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Vế trái 258.125 296.896 279.361 Vế phải 220.377 245.364 233.561 Chênh lệch 37.748 51.532 45.800

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Bảng 3.5: Vốn chiếm dụng và bị chiếm dụng Đơn vị: Triệu đồng
Vốn đi chiếm dụng
[(3→8)I+III] A. Nguồn vốn

Vốn bị chiếm dụng
[III+(1,4,5)V] A.Tài sản+IV B.Tài Sản

Chênh lệch

Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003

40.347 45.930 40.835

78.095 97.462 86.635

37.748 51.532 45.800

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Năm 2001 công ty thiếu một lượng vốn 157.269 triệu đồng, công ty phải đi vay 195.017 triệu đồng. Với khoản vay này cùng với vốn chủ sở hữu công ty sử dụng không hết và đã bị đơn vị khác chiếm dụng. Qua bảng số liệu trên cho thấy: vốn công ty đi chiếm dụng 40.347 triệu đồng; vốn công ty bị chiếm dụng 78.095 triệu đồng; số vốn công ty thực sự bị chiếm dụng là 37.748 triệu đồng (78.095 – 40.347). Năm 2002 vốn chủ sở hữu đạt mức cao nhất từ trước đến nay, tuy nhiên, do thiếu một lượng vốn 156.935 triệu đồng, công ty đi vay một khoản 208.476 triệu đồng; như vậy, vốn chủ sở hữu kết hợp với khoản vay làm cho công ty thừa một lượng vốn, phần vốn thừa này công ty đã bị đơn vị khác chiếm dụng. Trong

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 39

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

năm này, vốn công ty đi chiếm dụng 45.930 triệu đồng, vốn công ty bị đơn vị khác chiếm dụng 97.462 triệu đồng; vốn công ty thật sự bị chiếm dụng là 51.532 triệu đồng. Năm 2003, nhu cầu vốn kinh doanh của công ty thiếu 153.733 triệu đồng, công ty tiếp tục đi vay 199.533 triệu đồng; với khoản vay thêm này kết hợp với vốn chủ sở hữu đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, bên cạnh đó còn thừa 45.800 triệu đồng đã bị đơn vị khác chiếm dụng. Tóm lại, qua việc đánh giá chung về tình hình tài chính của công ty Afiex từ năm 2001 đến 2003, chúng ta rút ra được nhận xét: vốn chủ sở hữu mặc dù đã có sự bổ sung, điều chỉnh kịp thời nhưng vẫn không đảm bảo cho nhu cầu vốn kinh doanh ngày càng cao, đòi hỏi công ty phải huy động thêm một lượng vốn khá lớn để đáp ứng cho nhu cầu đó, chủ yếu là vay ngắn hạn và vay dài hạn. Những năm gần đây, thị trường thế giới có nhiều chuyển biến phức tạp theo chiều hướng bất lợi cho công tác quản lý vốn của công ty. Giá cả nguyên vật liệu thường xuyên biến động theo hướng tăng lên gây khó khăn cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, các khoản phải thu của công ty luôn tăng do khách hàng chậm thanh toán. Mặt khác, phân tích chi tiết các khoản chiếm dụng, ta thấy có những khoản công nợ bị chiếm dụng quá hạn so với hợp đồng: ở bộ phận xây dựng công trình; ở bộ phận xuất khẩu thủy sản. Từ đó làm tăng chi phí sử dụng vốn của công ty. 3.1.3 Khả năng đảm bảo nguồn vốn Qua phân tích chung tình hình tài chính của công ty, ta nhận thấy khả năng đảm bảo nguồn vốn của công ty thông qua bảng số liệu sau: Bảng 3.6: Khả năng đảm bảo nguồn vốn từ năm 2001 đến 2003 Đơn vị: Triệu đồng
Vốn chủ sở hữu Tổng vốn Khoản vay&Chiếm dụng 2001 63.108 298.472 235.364 2002 88.429 342.826 254.397 2003 79.828 320.197 240.368

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Bảng số liệu cho thấy, cũng như hầu hết các doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn của công ty Afiex không đủ trang trải cho các hoạt động, công ty đi vay và chiếm dụng thêm vốn.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 40

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Tuy nhiên, như đã phân tích, việc đi vay và chiếm dụng thêm vốn của công ty chưa thật hợp lý. Công ty đi vay thêm vốn không sử dụng hết đã để đơn vị khác chiếm dụng, công ty cần phải có những biện pháp thích hợp hơn để cải thiện tình hình trên. 3.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY AFIEX 3.2.1 Tình hình quản lý và sử dụng vốn cố định Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng vốn cố định là xem sự ủy thác vốn ở hiện tại để đầu tư vào những mục đích khác nhau trong tương lai có hợp lý hay không. 3.2.1.1 Kết cấu vốn cố định Trước tiên chúng ta xem xét các bộ phận cấu thành vốn cố định của công ty thông qua bảng số liệu sau: Bảng 3.7: Kết cấu vốn cố định từ năm 2001 đến 2003 Đơn vị: Triệu đồng
Vốn Cố Định
1. Tài Sản Cố Định - Nguyên giá - Khấu Hao 2. Đầu Tư TCDH - Đầu tư chứng khoán dài hạn - Góp vốn liên doanh - Đầu tư dài hạn khác 3. CPXDCBDD TỔNG 2001 Giá trị 125.142 162.163 (37.021) 12.711 12.697 14 12.726 150.578 % 83,11 107,69 -24,59 8,44 8,43 0,01 8,45 100% 2002 Giá trị 127.212 173.218 (46.006) 13.309 13.289 20 13.694 154.215 % 82,49 112,32 -29,83 8,63 8,62 0,01 8,88 100% 2003 Giá trị 122.989 185.278 (62.289) 4.049 4049 % 85,57 128,90 -43,34 2,82 2,82

16.695 143.733

11,62 100%

Nguồn: Bảng cấn đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Như đã phân tích, năm 2002 là năm công ty kinh doanh đạt hiệu quả, có xu hướng mở rộng quy mô. Năm 2003 do bất lợi khách quan từ phía thị trường quy mô kinh doanh lại được thu hẹp. Tài Sản Cố Định: Công ty có quan tâm đầu tư tài sản cố định, nguyên giá tài sản cố định tăng lên qua các năm. Cụ thể, năm 2001 giá trị tài sản cố định là 125.142 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 83,11% trong vốn cố định. Năm 2002 giá trị tài sản cố định tăng

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 41

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

về số tuyệt đối, nhưng tỷ trọng chiếm trong tổng vốn cố định giảm là do công ty đã tăng đầu tư tài chính dài hạn, xây dựng xong một số công trình và sửa chữa một số máy móc thiết bị, tài sản cố định trong năm chiếm tỷ trọng 82,49%. Năm 2003 mặc dù nguyên giá tài sản cố định tăng (công ty mua sắm thêm tài sản), khoản khấu hao công ty trích khá lớn (17.807 triệu đồng) làm cho giá trị tài sản cố định trong năm giảm 4.223 triệu đồng, nhưng lại tăng tỷ trọng trong vốn cố định chiếm 85,57%. Điều này phù hợp với xu hướng chung của hoạt động sản xuất kinh doanh, thể hiện quy mô sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật gia tăng, trình độ sản xuất được nâng cao. Đầu tư tài chính dài hạn: Năm 2001 công ty đã góp vốn liên doanh 12.967 triệu đồng, các khoản đầu tư dài hạn khác của công ty là 14 triệu. Tỷ trọng đầu tư tài chính dài hạn của công ty trong tổng vốn cố định là 8,44%. Năm 2002 công ty đã mở rộng đầu tư ra bên ngoài, mở rộng liên doanh, liên kết công ty đến 13.289 triệu đồng, các khoản đầu tư dài hạn khác cũng tăng lên, từ đó làm khoản đầu tư tài chính dài hạn của công ty tăng 598 triệu đồng hay tăng 4,7%. Năm 2003 công ty đã thu hẹp còn một dự án góp vốn liên doanh, và tham gia mua chứng khoán dài hạn. Trong năm công ty đã đầu tư 4.049 triệu đồng vào chứng khoán, khoản đầu tư tài chính dài hạn của công ty chỉ chiếm tỷ trọng 2,82%; trong năm này công ty đã có bước chuẩn bị tài chính lành mạnh để tiến hành cổ phần hóa vào năm 2005. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang (CPXDCBDD): Những năm qua, công ty không ngừng nâng cấp, sửa chữa máy móc thiết bị, đầu tư các xí nghiệp, nhà máy… Cụ thể, năm 2001 CPXDCBDD của công ty chỉ đạt 12.726 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 8,45% trong vốn cố định. Năm 2002 công ty đầu tư sửa chữa một số tài sản, xây dựng thêm một số nhà xưởng và chuẩn bị cho nâng cấp một số nhà máy, xí nghiệp như: nhà máy Đông lạnh thủy sản, nhà máy Chế biến thức ăn thủy sản… giá trị CPXDCBDD lên đến 13.694 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 8,88%. Năm 2003 công ty đã đầu tư mở rộng nâng công suất nhà máy Đông lạnh, kho lương thực Vĩnh An – Châu Thành, bổ sung thiết bị chế biến tinh bột mì. CPXDCBDD trong năm 16.695 triệu đồng, chiếm 11,62% tổng vốn cố định, tăng 21,92%, tương ứng 3.001 triệu đồng so năm 2002. Tóm lại, trong kết cấu vốn cố định của công ty, tài sản cố định chiếm tỷ trọng cao nhất. Do tăng cường khả năng sản xuất, kinh doanh, hoạt động lâu dài việc đầu tư vào tài sản cố định là điều hợp lý. Công ty không ngừng đầu tư cho

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 42

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao trình độ tổ chức sản xuất. Bên cạnh đó tiếp tục nâng cấp máy móc thiết bị hiện có, nâng công suất nhà máy, xí nghiệp, tạo điều kiện để máy móc, thiết bị hoạt động đạt công suất, gia tăng số lượng cũng như chất lượng sản phẩm, đang tập trung nội lực để khẳng định vị thế của mình. 3.2.1.2 Khả năng đảm bảo nguồn vốn cố định Nguồn vốn cố định chủ yếu huy động từ các khoản vay, vốn chủ sở hữu có tăng nhưng không đảm bảo. Bảng 3.8: Khả năng đảm bảo nguồn vốn cố định (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
Năm Chỉ tiêu Nguồn vốn chủ sở hữu NVCĐ Chênh lệch 2001 63.108 150.578 -87.470 2002 88.429 154.215 -65.786 2003 79.828 143.733 -63.905

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Nguồn vốn cố định của công ty năm 2001 là 150.578 triệu đồng, trong đó nguồn vốn chủ sở hữu 63.108 triệu đồng, thiếu hụt 87.470 triệu đồng nên công ty đã đi vay dài hạn 56.078 triệu đồng, nợ dài hạn khác 12.476 triệu đồng, vay ngắn hạn 18.876 triệu đồng và chiếm dụng 40 triệu đồng. Năm 2002 nguồn vốn cố định tăng 2,42%, đạt 154.215 triệu đồng, mặc dù vốn chủ sở hữu tăng lên nhưng vẫn thiếu hụt 65.786 triệu đồng nên công ty đã vay dài hạn 49.116 triệu đồng, nợ dài hạn khác 13.393 triệu đồng, vay ngắn hạn 2.921 triệu đồng và chiếm dụng 356 triệu đồng. Năm 2003 thiếu hụt 63.905 triệu đồng, giảm 1.881 triệu đồng, hay giảm 2,86%, nguồn vốn chủ sở hữu giảm 9,73%, chỉ đạt 79.828 triệu đồng; khoản thiếu hụt này công ty đi vay dài hạn 42.228 triệu đồng, nợ dài hạn khác 13.676 triệu đồng, vay ngắn hạn 7.456 triệu đồng và chiếm dụng 545 triệu đồng. Qua việc phân tích khả năng đảm bảo nguồn vốn cố định, một lần nữa cho thấy, mặc dù nguồn vốn cố định thuộc nguồn vốn chủ sở hữu có được bổ sung, các khoản thiếu hụt có xu hướng giảm dẫn đến các khoản vay giảm, nhưng vẫn đòi hỏi công ty phải hoạt động hiệu quả hơn để tăng khả năng đảm bảo về mặt tài chính, giảm áp lực phải trả nợ vay.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 43

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Xem xét tình hình trang bị tài sản cố định Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty, số lượng và giá trị của nó phản ánh năng lực hiện có, trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật… Tài sản cố định được thể hiện qua bảng sau: Bảng 3.9: Tình hình trang bị và tình trạng kỹ thuật của TSCĐ (Từ năm 2001 đến 2003)
Năm Chỉ tiêu Nguyên giá (triệu) Khấu hao (triệu) Số lao động BQ (người) Hệ số hao mòn Nguyên giá/1 lao động (triệu đồng/người) 2001 162.163 37.021 513 0,23 316,11 2002 173.218 46.006 604 0,27 286,78 2003 185.278 62.289 743 0,34 249,36 2002/2001 Giá trị 11.055 8.985 91 0,04 -29,32 % 6,82 24,27 17,74 16,34 -9,28 2003/2002 Giá trị 12.059 16.283 139 0,07 -37,42 % 6,96 35,39 23,01 26,58 -13,05

Nguồn: Tổng kết báo cáo tài chính từ năm 2001 đến 2003 Tình hình trang bị: Bảng số liệu trên cho thấy, nguyên giá tài sản cố định bình quân cho một lao động đang có xu hướng giảm. Năm 2002 giảm 29,32 triệu đồng/người hay giảm 9,28%. Năm 2003 tiếp tục giảm 13,05%, tương ứng 37,42 triệu đồng/người. Nguyên nhân chủ yếu do tốc độ tăng số lượng nhân viên nhanh hơn tốc độ tăng của nguyên giá tài sản cố định. Trình trạng kỹ thuật: Đặc trưng cơ bản của tài sản cố định là trong quá trình sử dụng bị hao mòn dần, đánh giá đúng mức độ hao mòn, xem xét tài sản còn mới hay cũ nhằm đưa ra những biện pháp để tái sản xuất tài sản cố định. Cũng từ bảng trên cho thấy: Năm 2002 giá trị khấu hao của tài sản cố định 46.006 triệu đồng, tăng 24,27%, trong khi nguyên giá của tài sản cố định chỉ tăng 6,82%, điều này dẫn đến hệ số hao mòn tài sản cố định tăng 16,34% về số tương đối đạt 0,27 và đang có chiều hướng tiến dần về 1. Năm 2003 giá trị hao mòn của tài sản tiếp tục tăng lên 35,39% trong khi nguyên giá chỉ tăng 6,69%, điều này tương tự như năm 2002, hệ số lên đến 0,34. Như vậy, hệ số hao mòn của tài sản cố định ở công ty đang có xu hướng tiến dần về 1 chứng tỏ tài sản ở công ty đã cũ, mặc dù đơn vị có quan tâm đầu tư,

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 44

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

thay đổi và sửa chữa máy móc thiết bị nhưng nhìn chung mức độ đầu tư vẫn còn thấp, công ty cần phải có biện pháp để tái sản xuất tài sản cố định, phấn đấu đạt năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao. 3.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động Tại một thời điểm nhất định, vốn lưu động chỉ rõ mức độ an toàn mà công ty có được nhằm tài trợ cho các chu kỳ kinh doanh. Vốn lưu động ám chỉ các khoản đầu tư của công ty vào tài sản ngắn hạn như: tiền mặt, các khoản phải thu, tồn kho. 3.2.2.1 Kết cấu vốn lưu động Phân tích kết cấu vốn lưu động cho thấy công ty phân bổ vốn lưu động vào các khoản mục qua các chu kỳ kinh doanh có hợp lý hay không, để từ đó có biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 45

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Bảng 3.10: Kết cấu vốn lưu động từ năm 2001 đến 2003 Đơn vị: Triệu đồng
VỐN LƯU ĐỘNG I. VỐN BẰNG TIỀN 1. Tiền mặt 2. Tiền gửi ngân hàng 3. Tiền đang chuyển II. CÁC KHOẢN ĐTTCNH III. CÁC KHOẢN PHẢI THU 1. Phải thu khách hàng 2. Trả trước cho người bán 3. Thuế GTGT được khấu trừ 4. Phải thu nội bộ 5. Phải thu khác 6. Dự phòng phải thu khó đòi IV. HÀNG TỒN KHO 1. Hàng mua đang đi đường 2. Nguyên vật liệu 3. Công cụ dụng cụ 4. Chi phí sản xuất KDDD 5. Thành phẩm tồn kho 6. Hàng hóa tồn kho 7. Hàng gửi đi bán 8. Dự phòng giảm giá HTK V.TSLĐ KHÁC 1. Tạm ứng 2. Chi phí trả trước 3. Chi phí chờ kết chuyển 4. Tài sản thiếu chờ xử lý 5. Cầm cố, ký quỹ, ký cược ngắn hạn TỔNG 2001 Giá trị 1.979 407 1.572 % 1,34 0,28 1,06 2002 Giá trị 5.042 2.113 2.929 % 2,67 1,12 1,55 2003 Giá trị 7.797 681 7.116 5.000 84.691 69.628 3.923 % 4,42 0,39 4,03 2,83 47,99 39,46 2,22

75.785 53.887 5.143 8.206 8.549 64.526 1.257 1.439 25.551 19.194 13.440 3.644 5.604 1.563 3.294

51,24 36,44 3,48 5,55 5,78 43,63 0,85 0,97 17,28 12,98 9,09 2,46 3,79 1,06 2,23

90.171 68.906 13.309 130 7.887 -61 84.460 12 2.018 1.029 22.866 35.199 24.404 1.379 -2.447 8.938 5.171 1.412 235 2.120 188.612

47,81 36,53 7,06 0,07 4,18 -0,03 44,78 0,01 1,07 0,55 12,12 18,66 12,94 0,73 -1,30 4,74 2,74 0,75 0,12 1,12 100

12.428 -1.288 75.062 1.235 1.874 18.425 31.943 22.854 201 -1.469 3.914 1.577 1.277 692 367 171.464

7,04 -0,73 42,54 0,70 1,06 10,44 18,10 12,95 0,11 -0,83 2,22 0,89 0,72 0,39 0,21 100

747 147.894

0,51 100

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Vốn bằng tiền: Vốn bằng tiền của công ty có xu hướng tăng. Năm 2001, tiền tồn quỹ của công ty 1.979 triệu, đồng chiếm 1,34% tổng vốn lưu động. Năm 2002, vốn bằng tiền tăng 154,76%, tương ứng 3.063 triệu đồng, chiếm 2,67% tổng vốn lưu động. Tiền tồn quỹ tiếp tục tăng trong năm 2003 đạt 7.797 triệu đồng, trong đó tiền mặt tồn quỹ giảm, nhưng tiền gởi ngân hàng tăng lên do lượng khách hàng thanh toán

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 46

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

tiền cho công ty qua hệ thống này tăng. Vốn bằng tiền có xu hướng tăng, điều này không tốt do công ty đã dự trữ một lượng tiền quá lớn không đưa nó vào sản xuất kinh doanh, tăng nhanh tốc độ quay vốn, hoàn trả nợ. Thực tế, tiền gửi ngân hàng 7.116 triệu đồng năm 2003 lý do là tiền khách hàng thanh toán về Ngân hàng Ngoại thương An Giang vào cuối ngày 31/12/2003 và cán bộ ngân hàng chưa kịp thông báo cho công ty. Vì vậy, công ty cần liên hệ chặt chẽ hơn về tình hình thanh toán tài khoản tiền gửi trong những ngày cuối năm. Ở một khía cạnh khác, vốn bằng tiền tăng cho thấy khả năng thanh toán nhanh của công ty được đảm bảo nhất là khả năng thanh toán bằng tiền, bên cạnh đó công ty dự trữ một lượng tiền đủ lớn để mua hàng được hưởng chiết khấu, tận dụng các cơ hội trong kinh doanh, đề phòng rủi ro… Đầu tư tài chính ngắn hạn Năm 2003 công ty bắt đầu đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn, giá trị đầu tư là 5 tỷ đồng chiếm 2,83% tổng vốn lưu động, công ty đã quan tâm đến liên doanh, đầu tư vào đơn vị khác. Các khoản phải thu Khoản phải thu là tiền chưa thu và bị đơn vị khác chiếm dụng. Nhiệm vụ của nhà quản trị là làm sao giảm các khoản phải thu. Năm 2001 các khoản phải thu của công ty 75.785 triệu đồng, chiếm 51,24% tổng giá trị vốn lưu động. Các khoản phải thu trong năm 2002 đã tăng 18,98%, tương ứng 14.386 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 47,81%, tuy về số tuyệt đối có tăng nhưng các khoản phải thu giảm tỷ trọng trong tổng giá trị vốn lưu động. Năm 2003 các khoản phải thu của công ty giảm 5.480 triệu đồng hay giảm 6,08%, nhưng tỷ trọng lại tăng lên đạt 47,99% tổng vốn lưu động. Các khoản phải thu của công ty luôn biến động, chiếm tỷ trọng cao trong vốn lưu động chứng tỏ công ty bị chiếm dụng một lượng vốn khá lớn, vốn ứ động làm chậm vòng quay vốn, đành rằng trong kinh doanh khó tránh khỏi vốn bị chiếm dụng. Trong các khoản phải thu, hạng mục phải thu khách hàng liên tục tăng cả về số tuyệt đối lẫn tỷ trọng. Nguyên nhân chủ yếu do công ty mở rộng quan hệ hợp tác kinh doanh, doanh thu bán chịu tăng dẫn đến các khoản phải thu khách hàng tăng. Tuy nhiên, hạng mục này tăng thì mức độ rủi ro trong thu hồi nợ cao, các khoản dự phòng phải thu của công ty tăng theo. Do đó, công ty nên có biện pháp

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 47

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

thích hợp để thu hồi các khoản này mà không làm ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác lâu dài. Hàng tồn kho Tồn kho của công ty năm 2001 là 64.526 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 43,63%. Năm 2002 quy mô của công ty mở rộng đòi hỏi phải dự trữ một lượng hàng hóa tồn kho lớn 84.460 triệu đồng, tăng 30,89%, chiếm tỷ trọng 44,78%, trong đó thành phẩm chiếm tỷ trọng cao nhất 18,66%, ngoài ra công ty còn dự trữ một lượng hàng hóa là 24.404 triệu đồng dự trù sẽ bán ra trong năm 2003. Năm 2003 hàng tồn kho của công ty giảm 9.398 triệu đồng hay giảm 11,13% do quy mô có chiều hướng thu hẹp, việc giảm hàng tồn kho là hợp lý; trong đó các hạng mục như: thành phẩm, hàng hóa tồn kho, hàng gửi bán đều giảm so năm 2002, điều này cho thấy công ty đã tiêu thụ được sản phẩm dự trữ của kỳ trước, tránh được tình trạng ứ động vốn, làm cho tiền tồn quỹ và các khoản phải thu tăng lên. Tóm lại, việc dự trữ hàng hóa để đáp ứng kịp thời cho nhu cầu kinh doanh là tất yếu. Tuy nhiên, hàng tồn kho chủ yếu là hàng thủy sản và tinh bột mì, do vậy công ty phải tốn chi phí lưu kho, chi phí bảo quản, lãi vay tài trợ cho tồn kho, dự phòng khi hàng hóa bị lỗi thời… Nhìn chung, công ty phải khắc phục lượng hàng tồn kho chiếm tỷ trọng cao, phải xúc tiến nhanh chóng quá trình tiêu thụ sản phẩm để tiết kiệm tối đa chi phí đầu tư cho hàng tồn kho, góp phần làm tăng vòng quay vốn. Tài sản lưu động khác Tài sản lưu động khác của công ty chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, Năm 2001 khoản này chiếm tỷ trọng 3,79% trong vốn lưu động. Năm 2002 công ty đã tạm ứng một khoản tiền khá lớn cho công nhân viên với số tiền là 5.171 triệu đồng, chiếm 2,74% trong tổng vốn lưu động là chưa tốt, công ty cần khắc phục. Năm 2003, công ty đã giảm khoản tạm ứng còn 1.577 triệu đồng, công ty đã nhận ra tồn tại ở năm 2002 và có biện pháp khắc phục kịp thời. Tóm lại, trong quá trình quản lý và sử dụng vốn lưu động, công ty đã đầu tư nhiều vào các khoản phải thu và tồn kho, lượng tiền tồn quỹ là khá lớn. Công ty cần phải xúc tiến nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm, tăng cường công tác tiếp thị. Sản phẩm bán chạy công ty giảm bớt được chi phí lưu kho, bảo quản… Bên cạnh việc doanh thu bán chịu tăng lên, nó sẽ dẫn đến sự gia tăng của các khoản phải thu, vì lẽ đó mà công ty cần có biện pháp hữu hiệu trong việc thu hồi công nợ, tránh tình trạng vốn bị ứ động như hiện nay.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 48

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

3.2.2.3 Khả năng đảm bảo nguồn vốn lưu động Nguồn vốn lưu động chủ yếu là vốn vay ngắn hạn và đi chiếm dụng trong khi vốn chủ sở hữu không có khả năng đảm bảo. Bảng 3.11: Khả năng đảm bảo nguồn vốn lưu động (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng Năm Chỉ tiêu Vay ngắn hạn Chiếm dụng NVLĐ 2001 107.587 40.307 147.894 2002 143.037 45.574 188.611 2003 136.174 40.290 176.464

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Năm 2001 nhu cầu vốn lưu động 147.894 triệu đồng, công ty đã đi vay ngắn hạn 107.587 triệu đồng để đảm bảo cho nhu cầu kinh doanh, phần còn lại công ty đi chiếm dụng 40.307 triệu đồng. Năm 2002 nhu cầu vốn lưu động lên đến 188.611 triệu đồng, công ty phải tăng khoản vay ngắn hạn thêm 35.450 triệu đồng và tiếp tục sử dụng khoản chiếm dụng để đảm bảo cho nhu cầu tăng thêm của vốn lưu động. Năm 2003 nhu cầu cho vốn lưu động giảm nên các khoản vay ngắn hạn và chiếm dụng cũng giảm; trong năm, công ty đã vay 136.174 triệu đồng và đi chiếm dụng 40.290 triệu đồng để đảm bảo cho nhu cầu hoạt động kinh doanh được thường xuyên, liên tục. Việc sử dụng nhiều vốn vay sẽ làm cho khả năng tự chủ về tài chính của công ty giảm thấp, công ty phải thường xuyên đối mặt với việc thanh toán lãi vay. Về lâu dài, công ty cần cải thiện tình hình này từ việc không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, tăng tích lũy từ nội bộ. 3.2.3 Tình hình quản lý và sử dụng vốn của toàn công ty Theo hướng quản trị doanh nghiệp hiện đại, mọi việc đều có tương quan dây chuyền và mọi hoạt động của doanh nghiệp phải được nhìn nhận một cách tổng thể.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 49

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

3.2.3.1 Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn của công ty Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn của công ty là xem việc phân bổ vốn của toàn công ty cho từng khoản mục vốn cố định và vốn lưu động như thế nào. Bảng 3.12: Phân tích tình hình phân bổ vốn (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Vốn Sử Dụng I. Vốn lưu động 1. Vốn bằng tiền 2. ĐTTCNH 3. Các khoản phải thu 4. Tồn kho 5. TSLĐ khác II. Vốn cố định 1. Tài sản cố định 2. ĐTTCDH 3. CPXDCBDD Tổng vốn Giá trị 147.894 1.979 75.785 64.526 5.604 150.578 125.142 12.711 12.726 298.473 % 49,55 0,66 25,39 21,62 1,88 50,45 41,93 4,26 4,26 100 2002 Giá trị 188.612 5.042 90.171 84.460 8.938 154.215 127.212 13.309 13.694 342.826 % 55,02 1,47 26,30 24,64 2,61 44,98 37,11 3,88 3,99 100 2003 Giá trị 176.464 7.797 5.000 84.691 75.062 3.914 143.733 122.989 4.049 16.695 320.197 % 55,11 2,44 1,56 26,45 23,44 1,22 44,89 38,41 1,26 5,21 100

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Tổng giá trị tài sản của công ty năm 2002 tăng lên 44.354 triệu đồng điều này cho thấy quy mô sản xuất kinh doanh được mở rộng, quy mô về vốn tăng. Trong đó: Vốn lưu động tăng 40.717 triệu đồng (188.612 - 147.894), số tỷ trọng tăng 5,47% (55,02% - 49,55%). Nguyên nhân dẫn đến tình hình này là do: - Vốn bằng tiền của công ty tăng 3.063 triệu đồng, số tỷ trọng tăng 0,81%. Do tiền mặt và tiền gửi ngân hàng của công ty tăng, công ty cần phải đưa nhanh lượng tiền này vào quá trình lưu thông. - Các khoản phải thu tăng 14.386 triệu đồng, số tỷ trọng tăng 0,91%, do công ty đã đầu tư nhiều vào các khoản phải thu, tình hình thu hồi công nợ chưa tốt, vốn bị ứ khá lớn.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 50

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

- Hàng tồn kho tăng 19.934 triệu đồng, số tỷ trọng tăng 3,03%. Do trong năm công ty dự trữ một lượng hàng hóa, thành phẩm lớn, hàng hóa gửi bán nhiều. - Tài sản lưu động khác tăng 3.334 triệu đồng, số tỷ trọng tăng 0,73%, chủ yếu do gia tăng từ các khoản tạm ứng, đây là biểu hiện chưa tốt. Vốn cố định của công ty tăng 3.636 triệu đồng, tuy nhiên số tỷ trọng giảm 5,47%, bởi vì trong năm công ty chỉ chú trọng đầu tư vào tài sản lưu động vốn lưu động. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến các khoản mục trong vốn cố định. Cụ thể: - Tài sản cố định tăng 2.070 triệu đồng, số tỷ trọng giảm 4,82%, mặc dù vậy tài sản cố định trong năm vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị tài sản. - Đầu tư tài chính dài hạn: cũng giống như tài sản cố định các khoản đầu tư tài chính dài hạn tăng về số tuyệt đối 598 triệu đồng, nhưng tỷ trọng giảm 0,38%, tuy công ty có quan tâm đến liên doanh, liên kết và đầu tư ra bên ngoài nhưng mức độ chưa cao và hiệu quả từ việc liên doanh liên, kết còn thấp. - Chi phí xây dựng cơ bản dở dang: tương tự như các khoản mục khác trong vốn cố định, chi phí xây dựng cơ bản dở dang tăng 968 triệu đồng, tỷ trọng giảm 0,27%. Công ty đã đầu tư thêm vào một số công trình và một số khác đã hoàn tất đưa vào sử dụng làm tăng giá trị tài sản cố định. Tóm lại, trong năm 2002 công ty đã mở rộng quy mô kinh doanh, tăng quy mô vốn trong đó chú trọng đầu tư vào vốn lưu động. Năm 2003, tổng giá trị tài sản của công ty giảm 22.630 triệu đồng, tương ứng giảm 6,6% so năm 2002 do những bất lợi khách quan từ phía thị trường công ty đã thu hẹp quy mô kinh doanh, giảm đầu tư thêm vốn. Vốn lưu động trong năm giảm 12.148 triệu đồng, nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị tài sản của công ty, tỷ trọng tăng 0,09%. Mặc dù quy mô thu hẹp lại nhưng với tiềm lực và năng lực của mình công ty vẫn tích cực hoạt động để tăng cường hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh. - Vốn bằng tiền tăng 2.755 triệu đồng, tỷ trọng giảm 0,96% chủ yếu do tiền gửi ngân hàng tăng 4.187 triệu đồng (7116 - 2929). Việc gia tăng này làm cho lãi suất tiền gửi của công ty tăng, tuy nhiên cần phải xem lãi suất tiền gửi ngân hàng với lãi suất của hoạt động kinh doanh. Nếu lãi suất tiền gửi nhỏ hơn lãi suất từ hoạt động kinh doanh thì sẽ không hợp lý, công ty cần phải đưa nhanh lượng tiền

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 51

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

ứ động này vào chu kỳ sản xuất, kinh doanh. Xét về khía cạnh thanh toán, lượng tiền tồn quỹ lớn sẽ làm tăng khả năng thanh toán tức thời của công ty. - Đầu tư tài chính ngắn hạn, công ty bắt đầu mua chứng khoán ngắn hạn với giá trị là 5 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 1,56% cho thấy công ty vẫn có xu hướng mở rộng đầu tư. Tuy nhiên, chưa đánh giá được vấn đề này do phải chờ xem hiệu quả đầu tư nếu tăng lên thì việc đầu tư vào chứng khoán là tích cực. - Các khoản phải thu giảm 5.480 triệu đồng. Đây là biểu hiện tốt, cho thấy công ty đã thu hồi được công nợ của năm trước, tuy nhiên số tỷ trọng vẫn tăng 0,15% do khách hàng mua hàng thiếu chịu của công ty vẫn còn ở mức cao. - Hàng tồn kho giảm 9.398 triệu đồng, tỷ trọng cũng giảm 1,19%, chủ yếu do thành phẩm và hàng hóa tồn kho giảm, hàng hóa công ty gửi bán đã được tiêu thụ, khách hàng đã thanh toán hay đã chấp nhận thanh toán. Điều này khiến tiền gửi ngân hàng và thu khách hàng tăng lên. - Tài sản lưu động khác giảm 5.025 triệu đồng, tỷ trọng giảm 1,38%, chủ yếu do giảm các khoản tạm ứng, điều này được xem là tích cực, công ty cần phát huy. Với nguồn lực đầu tư có giới hạn, xu hướng đầu tư cho vốn lưu động tăng thì tất yếu việc đầu tư vào vốn cố định giảm. Cụ thể năm 2003 vốn cố định giảm 10.482 triệu đồng, tỷ trọng giảm 0,09%. Nguyên nhân của tình trạng này do: - Giá trị tài sản cố định giảm 4.223 triệu đồng, nhưng tỷ trọng tăng 1,3% và chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị tài sản (38,41%). Mặc dù thu hẹp quy mô nhưng công ty vẫn chú tâm đầu tư cho tài sản cố định, quan tâm đến khả năng kinh doanh lâu dài. - Đầu tư tài chính dài hạn giảm 9.260 triệu đồng, tỷ trọng giảm 2,62% cho thấy công ty đã thu hẹp đầu tư ra bên ngoài, hạn chế việc liên doanh, liên kết mà sử dụng nguồn lực để đầu tư xây dựng nhà xưởng, sửa chữa máy móc, nâng cấp các cơ sở sản có của mình. - Chi phí xây dựng cơ bản dở dang tăng 3.001 triệu đồng, tỷ trọng tăng 1,22%. Trong năm, ngoài một số công trình đã hoàn thành đưa vào sử dụng, công ty còn đầu tư vào một số công trình khác và nâng cấp một số xí nghiệp. Tóm lại, năm 2003 công ty đã thu hẹp quy mô kinh doanh, hạn chế đầu tư ra bên ngoài chỉ chú trọng đầu tư nâng cấp những cái sẵn có.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 52

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Nhận xét chung: Tình hình phân bổ vốn của công ty có biến động, xu hướng chung vẫn là vốn lưu động tăng dần, vốn cố định giảm dần. Công ty vẫn quan tâm đầu tư vào tài sản cố định, chú trọng công tác xây dựng cơ sở vật chất cho sản xuất. Việc tăng đầu tư vào vốn lưu động của công ty là điều tất yếu, bởi lẽ suy cho cùng lợi nhuận tạo ra trong kinh doanh chủ yếu là do luân chuyển của tài sản lưu động, vốn lưu động mang lại. Thông qua quá trình luân chuyển vốn lưu động, chúng ta có thể kiểm tra toàn diện các hoạt động kinh doanh của công ty như việc cung ứng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. 3.2.3.2 Phân tích tình hình nguồn vốn Phân tích tình hình nguồn vốn là đánh giá sự biến động của các loại nguồn vốn của công ty nhằm thấy được tình hình huy động và sử dụng các loại vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, bên cạnh đó còn cho thấy thực trạng tài chính của công ty.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 53

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Bảng 3.13: Phân tích tình hình nguồn vốn (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
NĂM CHỈ TIÊU A- NỢ PHẢI TRẢ I. NỢ NGẮN HẠN 1. Vay ngắn hạn 2. Nợ dài hạn đến hạn trả 3. Phải trả người bán 4. Người mua trả trước 5. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước 6. Phải trả công nhân viên 7. Phải trả nội bộ 8. Các khoản phải trả, phải nộp khác II. NỢ DÀI HẠN III. NỢ KHÁC B- VỐN CHỦ SỞ HỮU I. VỐN - QUỸ 1. Vốn kinh doanh 2. Chênh lệch đánh giá lại tài sản 3. Chênh lệch tỷ giá 4. Quỹ đầu tư phát triển 5. Quỹ dự phòng tài chính 6. Lãi chưa phân phối 7. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản II. NGUỒN KINH PHÍ - QUỸ KHÁC 1. Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc 2. Quỹ khen thưởng, phúc lợi TỔNG NGUỒN VỐN 2001 Giá trị 235.364 161.692 126.463 6.069 13.174 9.278 720 5.989 68.554 5.118 63.108 63.198 54.268 1.668 960 192 2.391 3.719 -89 130 -219 298.473 % 78,86 54,17 42,37 2,03 4,41 3,11 0,24 2,01 22,97 1,71 21,14 21,17 18,18 0,56 0,32 0,06 0,80 1,25 -0,03 0,04 -0,07 100 2002 Giá trị 254.397 172.889 145.958 9.868 10.760 576 905 4.822 62.509 18.999 88.429 88.201 75.728 1.521 1.787 357 2.749 6.058 228 212 16 342.826 % 74,21 50,43 42,57 2,88 3,14 0,17 0,26 1,41 18,23 5,54 25,79 25,73 22,09 0,44 0,52 0,10 0,80 1,77 0,07 0,06 0,00 100 2003 Giá trị 240.368 178.920 143.629 21.121 3.882 1.362 1.315 7.612 55.904 5.544 79.828 80.018 66.999 % 75,07 55,88 44,86 6,60 1,21 0,43 0,41 2,38 17,46 1,73 24,93 24,99 20,92

2.662 532 2.733 7.091 -189 300 -489 320.197

0,83 0,17 0,85 2,21 -0,06 0,09 -0,15 100

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Bảng số liệu trên cho thấy: Năm 2002 nguồn vốn của công ty tăng 44.354 triệu đồng. Nguyên nhân dẫn đến tình hình này là:

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 54

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Nguồn vốn chủ sở hữu tăng 25.321 triệu đồng, tỷ suất tự đầu tư tăng 4,65% (25,79% – 21,14%). Đây là biểu hiện tích cực, cho thấy tính tự chủ về tài chính của công ty được nâng cao. Công ty đã chủ động được một số hoạt động kinh doanh của mình. Nguồn vốn chủ sở hữu biến động động trong năm do: - Vốn kinh doanh tăng 21.460 triệu đồng, tỷ trọng tăng 3,91%, đây là biểu hiện tốt công ty hoạt động hiệu quả, tích lũy từ nội bộ tăng lên, có khả năng mở rộng liên doanh, liên kết ra bên ngoài. - Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản tăng 2.340 triệu đồng, tỷ trọng tăng 0,52%. Đây cũng là một biểu hiện tích cực trong năm, công ty hoạt động có hiệu quả đã trang bị thêm cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị phục vụ sản xuất. Các khoản mục còn lại như lãi chưa phân phối, các quỹ của công ty đều tăng cả về số tuyệt đối lẫn tỷ trọng, một lần nữa cho thấy công ty hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả. Nợ phải trả của công ty trong năm cũng tăng về số tuyệt đối, nhưng lại giảm về tỷ trọng, cho ta thấy rõ hơn khả năng tự chủ về tài chính của công ty. - Nguồn vốn tín dụng tăng 13.450 triệu đồng, nhưng tỷ trọng lại giảm 4,53%. Cụ thể, các khoản vay ngắn hạn tăng 19.495 triệu đồng, tỷ trọng tăng 0,2%, trong khi vay dài hạn giảm 6.045 triệu đồng, tỷ trọng giảm 4,73%. Nguồn vốn tín dụng giảm về tỷ trọng trong khi vốn chủ sở hữu và tổng vốn của công ty tăng, đây là biểu hiện tích cực, công ty đã thanh toán được tiền lãi vay ngân hàng, giảm bớt áp lực trả lãi vay. - Nguồn vốn chiếm dụng tăng lên về số tuyệt đối, nhưng tỷ trọng trong tổng nguồn vốn lại giảm. Cụ thể, các khoản đi chiếm dụng tăng 5.583 triệu đồng, tỷ trọng lại giảm 0,12%. Vốn tín dụng giảm tỷ trọng trong khi vốn kinh doanh và quy mô tổng vốn tăng lên, điều này được đánh giá là tích cực, cho thấy công ty hoạt động hiệu quả, thực hiện tốt các kỹ luật tín dụng, tự chủ được cơ bản về mặt tài chính. Tóm lại, năm 2002 là năm công ty hoạt động khá thành công, đã tích lũy được từ nội bộ, thanh toán bớt lãi vay ngân hàng và phần nào tự chủ được về mặt tài chính. Năm 2003 là năm thực sự khó khăn đối với công ty, tổng vốn trong năm giảm 22.630 triệu đồng. Nguyên nhân chủ yếu do:

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 55

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Nguồn vốn chủ sở hữu giảm 8.601 triệu đồng, tỷ trọng giảm 0,86%, công ty đang gặp khó khăn về mặt tài chính, phải đi vay tín dụng. - Nguồn vốn kinh doanh giảm 8.729 triệu đồng, tỷ trọng giảm 1,17% đây là biểu hiện không tốt, cho thấy công ty không tích lũy được từ nội bộ, khả năng tự chủ về tài chính thấp. - Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản tăng 1.033 triệu đồng, tỷ trọng tăng 0,45% do công ty đang chú trọng trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất. Mặc dù quy mô kinh doanh thu hẹp nhưng công ty vẫn đầu tư cải tiến trang thiết bị hiện có, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nhà máy, xí nghiệp… - Các nguồn khác như quỹ đầu tư phát triển, các khoản dự trữ, lãi chưa phân phối đều tăng tỷ trọng nhưng không nhiều. Công ty hoạt động đạt hiệu quả chưa cao. Công ty thu hẹp quy mô kinh doanh, nợ phải trả giảm 14.029 triệu đồng, nhưng tỷ trọng tăng 0,86% do vốn chủ sở hữu giảm (như đã trình bày) “buộc” công ty phải đi vay tín dụng để bù đắp cho nhu cầu kinh doanh. Xu hướng chung là các khoản vay giảm về số tuyệt đối nhưng lại tăng về tỷ trọng. Cụ thể, biểu hiện của nợ phải trả trong năm như sau: - Nguồn vốn tín dụng giảm 8.933 triệu đồng, nhưng tỷ trọng tăng 1,51%. Nguồn vốn tín dụng giảm là do vay ngắn hạn giảm 2.329 triệu đồng, vay dài hạn giảm 6.604 triệu đồng. Tuy giảm về số tuyệt đối, nhưng vì vốn chủ sở hữu không đủ đáp ứng làm tỷ trọng các khoản tín dụng chiếm trong tổng nguồn vốn tăng lên là điều tất yếu. - Các khoản đi chiếm dụng giảm về số tuyệt đối lẫn tỷ trọng. Trong năm, khoản chiếm dụng của công ty giảm 5.095 triệu đồng, tỷ trọng giảm 0,64%, chủ yếu do các khoản chi phí phải trả, tài sản thừa chờ xử lý… giảm. Trong khoản đi chiếm dụng, phải trả người bán lại tăng 11.253 triệu đồng, tỷ trọng tăng 3,72%, điều này sẽ gây không ít khó khăn cho công ty trong việc thanh toán nợ cho nhà cung cấp. Tóm lại, nguồn vốn của công ty thu hẹp lại, công ty đã thanh toán được một số khoản tín dụng, trả bớt lãi vay ngắn hạn kể cả dài hạn. Việc thanh toán này làm giảm khả năng tích lũy của công ty, giảm tỷ trọng của nguồn vốn chủ sở hữu chiếm trong tổng vốn gây bất lợi về mặt tài chính.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 56

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Như vậy, phân tích tình hình nguồn vốn của công ty qua các năm 2001, 2002, 2003 cho thấy công ty hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả nhưng chưa cao. Công ty chưa có khả năng đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động của mình. Nguồn vốn chủ sở hữu chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, các khoản vay tín dụng qua các năm có biểu hiện giảm nhưng tỷ trọng chiếm trong tổng nguồn vốn rất cao (cao hơn rất nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu). Điều này khiến công ty liên tục đối mặt với lãi nợ vay, khả năng tự chủ về mặt tài chính giảm. 3.3 ĐÁNH GIÁ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG Việc đánh giá tốc độ tăng trưởng là cần thiết và rất quan trọng, nó cho biết khả năng phát triển của công ty. Để đánh giá tốc độ tăng trưởng người ta thường sử dụng các chỉ tiêu doanh thu, giá vốn hàng bán và lãi gộp. Bảng 3.14: Kết quả kinh doanh từ năm 2001 đến 2003 Đơn vị: Triệu đồng
Năm Chỉ tiêu Doanh thu Giá vốn hàng bán Lãi gộp 2000 535.571 476.392 59.178 2001 448.395 410.863 37.532 2002 570.647 501.609 69.038 2003 767.344 714.076 53.268

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2001 đến 2003 Nếu chọn năm 2000 làm gốc thì tốc độ tăng trưởng qua các năm như sau: Bảng 3.15: Bảng phân tích tốc độ tăng trưởng (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: %
Năm Chỉ tiêu Doanh thu Giá vốn hàng bán Lãi gộp 2000 100 100 100 2001 84 86 63 2002 107 105 117 2003 143 150 90

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2001 đến 2003

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 57

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Đồ thị 3.1: Tốc độ tăng trưởng từ năm 2001 đến 2003
160 140 120 100 80 60 40 20 0 2000 Doanh thu 2001 2002 2003 Lãi gộp

Giá vốn hàng bán

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2001 đến 2003 Doanh thu của công ty giảm trong năm 2001 rồi liên tục tăng qua các năm 2002, 2003. Bên cạnh đó giá vốn của hàng bán cũng tăng lên không kém. Tuy nhiên, do tốc độ tăng của giá vốn hàng bán lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu, vì thế lãi gộp bị kìm hãm, tốc độ tăng trưởng chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Điều này cũng có lý do tích cực là công ty đã chuyển từ phương thức xuất khẩu chủ yếu từ FOB sang CIF; từ chỉ có L/C at sight sang có L/C after sight, đa dạng phương thức bán hàng và phương thức thanh toán. Nhưng cũng có lý do tiêu cực là giá vốn của tinh bột mì có tốc độ giảm chậm hơn tốc độ giảm của giá bán ra, công ty cần có biện pháp quản lý chi phí tốt hơn. 3.4 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THANH TOÁN VÀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN 3.4.1 Tình hình thanh toán Trong quá trình hoạt động công ty luôn tồn tại các khoản phải thu và phải trả. Xem xét sự biến động của các khoản này để từ đó tìm ra được nguyên nhân dẫn đến sự đình trệ trong thanh toán, giúp công ty làm chủ được tình hình tài chính, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 58

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

3.4.1.1 Phân tích các khoản phải thu Bảng 3.16: Phân tích các khoản phải thu (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
Năm Chỉ tiêu 1. Phải thu khách hàng 2. Trả trước 3. Tạm ứng 4. Thu khác Tổng CKPT Nguồn vốn CKPT/NV 2001 53.887 5.143 1.563 8.362 68.955 298.473 23,10% 2002 68.906 13.309 5.171 7.887 95.273 342.826 27,79% 2003 69.628 3.923 1.577 11.140 86.269 320.197 26,94% ±∆ 02/01 15.019 8.166 3.608 -475 26.318 44.354 4,69% ±∆ 02/03 722 -9.385 -3.594 3.253 -9.004 -22.630 -0,85%

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Bảng số liệu trên cho thấy vốn không tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh qua 3 năm đều trên 20%. Cụ thể: năm 2001 là 68.955 triệu đồng, chiếm 23,1% tổng vốn, tỷ lệ này tăng lên đến 27,79% năm 2002 và 26,94% năm 2003. Nguyên nhân do các khoản phải thu tăng lên, nhất là khoản phải thu khách hàng do mở rộng quy mô kinh doanh công ty tăng doanh số bán chịu và ứng trước cho nhà cung cấp. Việc tạm ứng cho nhà cung cấp và cho công nhân viên khá cao, công ty phải tính toán lại để giảm khoản vốn bị chiếm dụng này. Khoản phải thu khách hàng quá lớn sẽ dẫn đến rủi ro cao, do vậy công ty phải lập dự phòng phải thu khó đòi và cần có biện pháp xử lý để tăng nhanh tốc độ thu hồi công nợ, giảm chi phí quản lý, thu hồi nợ… góp phần tăng vòng quay vốn, tăng hiệu quả kinh doanh.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 59

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

3.4.1.2 Phân tích các khoản phải trả Bảng 3.17: Phân tích các khoản phải trả (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
Năm Chỉ tiêu I. Nợ dài hạn - Vay dài hạn - Nợ dài hạn II. Nợ ngắn hạn 1. Vay ngắn hạn 2. Phải trả người bán 3. Người mua trả trước 4. Phải trả CNV 5. Thuế & CKPN NN 6. Phải trả khác Tổng các khoản phải trả Nguồn vốn CKPTr/NV 2001 68.554 56.078 12.476 152.077 126.463 6.069 13.174 168 225 5.978 220.631 298.473 73,92% 2002 62.509 49.116 13.393 172.760 145.958 9.868 10.760 905 446 4.822 235.268 342.826 68,63% 2003 55.904 42.228 13.676 178.920 143.629 21.121 3.882 1.315 1.362 7.612 234.825 320.197 73,34% ±∆ 02/01 -6.045 -6.962 917 20.683 19.495 3.799 -2.413 737 221 -1.156 14.638 44.354 -5,29% ±∆ 03/02 -6.604 -6.888 283 6.161 -2.329 11.253 -6.879 410 916 2.790 -444 -22.630 4,71%

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Số liệu trên cho thấy tỷ số nợ của công ty luôn ở mức cao, cụ thể: Năm 2002, mặc dù đã có sự bổ sung thêm vốn, nhưng do nhu cầu về vốn cao, công ty phải đi vay và chiếm dụng thêm vốn, đáng kể nhất là vay ngắn hạn tăng 19.495 triệu đồng, tăng 15,42%; phải trả người bán tăng 3.799 triệu đồng, tương ứng tăng 62,6%. Năm 2003 công ty gặp khó khăn, tích lũy từ nội bộ không còn như trước, công ty phải đi vay thêm để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, tỷ số nợ của công ty 73,34%, tăng 4,71% so năm 2002 cho thấy trong tổng tài sản của mình phần tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty rất ít, phần lớn là từ nợ vay. Qua phân tích ta thấy rằng tỷ số nợ của công ty rất cao (trên 65%), mức độ tự chủ về tài chính của công ty thấp, tính rủi ro nhiều, thêm vào đó công ty phải trả lãi vay hàng năm với một lượng rất lớn. Tuy có gặp khó khăn về tài chính, nhưng nhìn chung quá trình hoạt động kinh doanh cũng được liên tục và đạt hiệu quả.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 60

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

3.4.2 Khả năng thanh toán Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài thì phải có khả năng thanh toán các khoản nợ khi chúng đến hạn. Nếu không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì doanh nghiệp sẽ bị thiếu hụt tài chính, hoạt động sẽ rất khó khăn. 3.4.2.1 Khả năng thanh toán ngắn hạn Khả năng thanh toán ngắn hạn là chỉ tiêu cho thấy tài sản của công ty có đủ trang trải các khoản nợ ngắn hạn hay không. Khả năng thanh toán hiện thời (Rc) Đây là chỉ tiêu chỉ ra phạm vi, quy mô mà yêu cầu của các chủ nợ được trang trải bằng tài sản lưu động có thể chuyển đổi thành tiền trong thời kỳ phù hợp với thời hạn trả nợ. Bảng 3.18: Khả năng thanh toán hiện thời. (Từ năm 2001 đến năm 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Tài sản lưu động Nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán hiện thời (Rc) 147.894 161.692 0,91 2002 188.612 172.889 1,09 2003 176.464 178.920 0,99 02/01 ±∆ 40.717 11.197 0,18 % 27,53 6,92 19,27 03/02 ±∆ -12.148 6.031 -0,10 % -6,44 3,49 -9,59

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến năm 2003 Hệ số thanh toán hiện thời của công ty có chiều hướng tăng. Năm 2002 là 1,09 tức là cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì có 1,09 đồng tài sản lưu động dùng để trả nợ trong khi năm 2001 chỉ có 0,91 đồng, tăng 0,18 đồng, tương ứng với 19,27%; tài sản lưu động của công ty tăng 40.717 triệu đồng, tương ứng 27,53% so năm 2001, trong đó tiền mặt, các khoản phải thu và tồn kho của công ty đều tăng, nợ ngắn hạn của công ty cũng tăng 11.197 triệu đồng nhưng tốc độ tăng chỉ 6,92% nên khả năng thanh toán hiện hành tăng theo. Sang năm 2003 hệ số này giảm 9,59%, tức là có 0,98 đồng tài sản lưu động dùng để thanh toán 1 đồng nợ ngắn hạn, sở dĩ thế do nợ ngắn hạn trong năm tăng 3,94%, tương ứng 6.031 triệu đồng, trong khi tài sản lưu động giảm 6,44%, tương ứng 12.148 triệu đồng, làm giảm khả năng thanh toán của công ty.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 61

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Nhìn chung, khả năng thanh toán hiện thời của công ty có xu hướng gần bằng 1, điều này thể hiện những cố gắng của công ty trong việc thanh toán công nợ. Công ty cần phải duy trì và nâng cao khả năng này hơn. Khả năng thanh toán nhanh Chỉ tiêu này cho thấy các tài sản mà khi cần có thể chuyển đổi thành tiền một cách nhanh chóng, nó không bao gồm hàng tồn kho. Bảng 3.19: Khả năng thanh toán nhanh (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Tài sản lưu động trừ hàng tồn kho Nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán nhanh 147.894 64.526 83.369 161.692 0,52 2002 188.612 84.460 104.152 172.889 0,60 2003 176.464 75.062 101.402 178.920 0,57 02/01 ±∆ 40.717 19.934 20.783 11.197 0,09 % 27,53 30,89 24,93 6,92 16,84 03/02 ±∆ -12.148 9.398 -2.750 6.031 0,04 % -6,44 -11,13 -2,64 3,49 -5,92

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Hệ số thanh toán nhanh năm 2002 cao hơn năm 2001 là 0,09, tăng 16,84%, khả năng thanh toán nhanh tăng lên, công ty hoàn toàn có khả năng thanh toán nợ đến hạn. Sang năm 2003 chỉ tiêu này giảm còn 0,57, giảm 5,92% do tài sản có khả năng chuyển đổi nhanh chóng thành tiền mặt của công ty giảm 2.750 triệu đồng, tương ứng với 2,64%, trong khi nợ ngắn hạn tăng lên 3,49% đã làm cho khả năng thanh toán nhanh của công ty giảm. Nhìn chung, khả năng thanh toán nhanh của công ty có chiều hướng gia tăng kể từ năm 2001, cho thấy công ty đã có cố gắng thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, hệ số còn thấp, công ty phải giải phóng nhanh lượng hàng tồn kho bị ứ động, để nhanh chóng chuyển chúng thành những tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền một cách nhanh nhất.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 62

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Khả năng thanh toán bằng tiền Bảng 3.20: Khả năng thanh toán bằng tiền (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Tiền + ĐTTCNH Nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán bằng tiền 1.979 161.692 0,012 2002 5.042 172.889 0,029 2003 12.797 178.920 0,072 02/01 ±∆ 3.063 11.197 0,017 % 154,76 6,92 138,26 03/02 ±∆ 7.755 6.031 0,042 % 153,80 3,49 145,24

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Năm 2002 khả năng thanh toán bằng tiền là 0,029, trong khi năm 2001 chỉ 0,012 như vậy khả năng thanh toán trong mức độ khắt nghiệt đã tăng 0,017, hay tăng 138,26%, lượng tiền tồn quỹ của công ty tăng lên rất nhiều, cụ thể lượng tiền năm 2002 là 5.042 triệu đồng, trong khi năm 2001 chỉ 1.979 triệu đồng, tăng 3.063 triệu đồng, tương ứng 154,76%, cho thấy công ty hoạt động kinh doanh có hiệu quả bổ sung thêm tiền vào quỹ tiền mặt. Lượng tiền tồn quỹ tiếp tục tăng lên trong năm 2003, thêm vào đó công ty tham gia mua chứng khoán ngắn hạn làm cho các khoản tương đương tiền của công ty tăng 7.755 triệu đồng, khả năng thanh toán của công ty tăng 0,042, tức 145,24% so năm 2002. Khả năng thanh toán bằng tiền qua các năm có sự cải thiện đáng kể, công ty có nhiều cố gắng trong việc nắm giữ một lượng tiền nhằm đảm bảo tốt cho khả năng thanh toán. Tóm lại, qua phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn cho thấy công ty luôn có đủ khả năng thực hiện tốt nghĩa vụ trả nợ. Song, khả năng thanh toán này còn ở mức thấp, đòi hỏi cần phải cải thiện tốt hơn trong thời gian tới. 3.4.2.2 Khả năng thanh toán nợ dài hạn Vốn phục vụ cho các hoạt động của công ty chủ yếu từ các khoản vay. Chính vì vậy mà công ty thường xuyên phải đối mặt với việc thanh toán lãi vay, muốn biết công ty sẵn sàng trả lãi tiền vay đến mức độ nào ta xem xét khả năng thanh toán lãi vay của công ty.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 63

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Bảng 3.21: Khả năng thanh toán lãi vay (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay Lãi vay Hệ số thanh toán lãi vay 2001 19.891 16.374 1,21 2002 20.047 16.005 1,25 2003 18.125 14.313 1,27

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2001 đến 2003 Lợi nhuận công ty tạo ra do việc sử dụng vốn qua các năm đều thấp hơn lãi nợ vay phải trả, điều này được thể hiện thông qua khả năng thanh toán lãi vay ở các năm đều thấp (nhỏ hơn 2). Nó cho thấy khả năng sinh lời của vốn không cao, hiệu quả sử dụng vốn còn thấp. Xét ở gốc độ hoạt động kinh doanh lâu dài, kết quả trên cho thấy khả năng thanh toán lãi vay tăng dần, cụ thể: Năm 2001 khả năng thanh toán lãi vay thấp, chỉ đạt 1,21 lần. Sang năm 2002 khả năng này lên đến 1,25 lần và tiếp tục tăng vào năm 2003 để đạt 1,27 lần. Nhìn chung, khả năng thanh toán dài hạn đang dần được cải thiện; lãi vay phải trả đã giảm dần cho thấy công ty cố gắng thanh toán bớt nợ dài hạn, song công ty cần có nhiều cố gắng hơn nữa. Tóm lại, khả năng thanh toán lãi vay rất thấp, công ty sử dụng vốn chưa đạt hiệu quả. Tuy nhiên, khả năng này có chiều hướng tăng lên đây là một biểu hiện tốt. Cần phải thấy rằng, do hoạt động của công ty chủ yếu dựa vào phần vốn vay, vì vậy việc trả lãi vay nhiều là tất yếu, nó trực tiếp làm giảm lợi nhuận của công ty.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 64

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này phản ảnh tính cân bằng giữa nợ vay và vốn chủ sở hữu, thể hiện cơ cấu tài chính của công ty. Ta có bảng số liệu sau: Bảng 3.22: Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Nợ phải trả Vốn chủ sở hữu Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu 235.364 63.108 3,73 2002 254.397 88.429 2,88 2003 240.368 79.828 3,01 02/01 ±∆ 19.033 25.321 -0,85 % 8,09 40,12 -22,86 03/02 ±∆ -14.029 -8.601 0,13 % -5,51 -9,73 4,67

Nguồn: Bảng cân đối tài sản từ năm 2001 đến 2003 Bảng số liệu cho thấy hệ số này luôn ở mức cao. Năm 2001 là 3,73 lần, nghĩa là vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng 21,14% trong tổng vốn. Năm 2002 hệ số này giảm 0,85 lần, nghĩa là vốn chủ sở hữu chiếm trong tổng vốn lên đến 25,79%, tăng 40,12% so năm 2001. Sang năm 2003, hệ số này tăng trở lại đạt 3,01 lần, mức độ đầu tư của vốn chủ sở hữu giảm, chỉ chiếm 24,93% trong tổng vốn. Cơ cấu tài chính của công ty qua các năm chủ yếu được tài trợ từ các khoản vay. Điều này làm khả năng tự chủ về mặt tài chính giảm. Tuy nhiên, xét ở khía cạnh hoạt động kinh doanh hiệu quả, có lợi nhuận thì việc đi vay thêm nhiều nợ là điều hợp lý. Tỷ lệ nợ tăng lên trong khi công ty hoạt động có lợi nhuận thì suất sinh lời của vốn chủ sở hữu tăng (sẽ được nghiên cứu ở phần sau). Mặt khác, công ty phải trả lãi vay trước khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp; do đó, khi tỷ lệ cao làm cho thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp giảm. Một số nhà phân tích cho rằng, đây là lá chắn thuế của lãi vay.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 65

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Hệ số quay vòng các khoản phải thu (H) Chỉ tiêu này phản ảnh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. Ta có bảng số liệu sau: Bảng 3.23: Hệ số quay vòng các khoản phải thu (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Doanh thu Số dư bình quân Các khoản phải thu Hệ số H 448.395 75.853 5,91 2002 570.647 82.978 6,88 2003 767.344 87.431 8,78 02/01 ±∆ 122.252 7.125 0,97 % 27,26 9,39 16,34 03/02 ±∆ 196.697 4.453 1,90 % 34,47 5,37 27,62

Nguồn: Tổng kết báo cáo tài chính từ năm 2001 đến 2003 Hệ số quay vòng các khoản phải thu (H) có chiều hướng gia tăng cho thấy tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, đây là biểu hiện tốt. Năm 2001 hệ số H 5,91 lần, tức là bình quân cứ 1 đồng các khoản phải thu trong năm thì thu được 5,91 đồng doanh thu. Năm 2002 hệ số này tăng lên 0,97 lần, tương ứng 16,34%, tốc độ tăng doanh thu cao hơn nhiều so tốc độ tăng của số dư bình quân các khoản phải thu: doanh thu tăng 122.252 triệu đồng, tốc độ tăng 27,26%, trong khi số dư bình quân các khoản phải thu chỉ tăng 7.125 triệu đồng, tốc độ tăng 9,39%, đây là biểu hiện tốt, cho thấy công ty không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu. Sang năm 2003, hệ số H tiếp tục tăng, bình quân cứ 1 đồng các khoản phải thu thì công ty thu được 8,78 đồng doanh thu, tăng 27,62%. Như vậy, tốc độ tăng doanh thu qua các năm lớn hơn tốc độ tăng số dư bình quân các khoản phải thu làm cho hệ số quay vòng các khoản phải thu liên tục tăng, điều này là tốt công ty cần phát huy. Tuy nhiên, công ty cũng cần phải xem xét kỳ hạn thanh toán như thế nào để không ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm, đến sự tin cậy lẫn nhau giữa công ty và khách hàng.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 66

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Kỳ thu tiền bình quân Bảng 3.24: Kỳ thu tiền bình quân (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Doanh thu Các khoản phải thu Kỳ thu tiền bình quân 448.395 53.887 43,26 2002 570.647 68.906 43,47 2003 767.344 69.628 32,67 02/01 ±∆ 122.252 15.019 0,21 % 27,26 27,87 0,48 03/02 ±∆ 196.697 722 -10,80 % 34,47 1,05 -24,85

Nguồn: Tổng kết báo cáo tài chính từ năm 2001 đến 2003 Các khoản phải thu ở đây chủ yếu là các khoản phải thu khách hàng do công ty bán chịu cho các doanh nghiệp khác. Kỳ thu tiền bình quân của công ty năm 2002 cao hơn năm 2001 nhưng không đáng kể, chỉ tăng 0,21 lần, mức chênh lệch này có thể chấp nhận và được đánh giá khá tốt, bởi vì công ty mở rộng quy mô hợp tác kinh doanh thì doanh thu bán chịu sẽ tăng và việc thu tiền bình quân tăng là điều hợp lý. Năm 2003 khả năng thu hồi tiền tăng lên, số ngày mà doanh thu chưa thu chỉ còn 32,67 ngày, có nghĩa là khi sản phẩm tiêu thụ thì trong khoảng 33 ngày công ty thu hồi được, đây là biểu hiện tích cực công ty cần phát huy. Tóm lại, kỳ thu tiền bình quân có chiều hướng giảm cho thấy tốc độ thu hồi các khoản công nợ của công ty tăng. Tuy nhiên, công ty cần phải theo dõi tình hình bán chịu và thu tiền của mình có ảnh hưởng đến quan hệ làm ăn lâu dài với khách hàng hay không.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 67

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Số vòng quay hàng tồn kho Chỉ tiêu này phản ảnh số lần mà hàng tồn kho được bán ra trong năm. Ta có bảng sau: Bảng 3.25: Vòng quay hàng tồn kho (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Doanh thu Tồn kho Vòng quay tồn kho 448.395 64.526 6,95 2002 570.647 84.460 6,76 2003 767.344 75.062 10,22 02/01 ±∆ 122.252 19.934 -0,19 % 27,26 30,89 -2,77 03/02 ±∆ 196.697 -9.398 3,47 % 34,47 -11,13 51,30

Nguồn: Tổng kết báo cáo tài chính từ năm 2001 đến 2003 Năm 2002 số lần bán ra của hàng hóa tồn kho đạt thấp chỉ 6,76 lần, giảm 2,77% so năm 2001 là do công ty phải dự trữ một lượng hàng hóa lớn đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năm 2003 (tồn kho năm 2002 đạt 84.460 triệu đồng, tăng 19.934 triệu đồng, tương ứng 30,89% so năm 2001). Năm 2003 lượng hàng hóa tồn trong kho được tiêu thụ khá, số vòng quay trong năm đạt 10,22 lần, tăng 3,47 lần so năm 2002, hàng hóa tồn kho thấp, công ty sử dụng tồn kho hiệu quả, đây là điểm mạnh công ty cần phát huy. Tuy vậy, công ty cần tính toán lại xem việc dự trữ tồn kho như thế có quá cao so nhu cầu tiêu thụ để giảm bớt các khoản chi phí phải đầu tư cho hàng tồn kho.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 68

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

3.5 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 3.5.1 Các tỷ số lợi nhuận Chỉ tiêu lợi nhuận chưa phản ánh được hết hiệu quả hoạt động của công ty, vì thế, chúng ta cần xét đến các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận, nó phản ánh kết quả của hàng loạt các quyết định và biện pháp kinh doanh của công ty. 3.5.1.1 Doanh lợi tiêu thụ (ROS) Bảng 3.26: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: triệu đồng
2001 Lợi nhuận sau thuế Doanh thu ROS 2.391 448.395 0,53% 2002 2.749 570.647 0,48% 2003 2.733 767.344 0,36% 02/01 ±∆ 357 122.252 -0,05% % 14,93 27,26 -9,69 03/02 ±∆ -15 196.697 -0,13% % -0,55 34,47 -26,04

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2001 đến 2003 Năm 2001 tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 0,53%, nghĩa là cứ 100 đồng doanh thu thì công ty sẽ thu được 0,53 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2002 tỷ suất này giảm 0,05% về số tuyệt đối, hay giảm 9,69% về số tương đối do tốc độ tăng doanh thu cao hơn tốc độ tăng lợi nhuận, trong năm cứ 100 đồng doanh thu thuần, công ty chỉ thu được 0,48 đồng lợi nhuận sau thuế. Sang năm 2003 doanh thu tăng lên 196.679 triệu đồng, tăng 34,47% trong khi lợi nhuận giảm 0,55% khiến tỷ suất lợi nhuận doanh thu giảm 26,04%, nghĩa là cứ 100 đồng doanh thu công ty thu về được chỉ có 0,36 đồng lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận doanh thu của công ty qua các năm có chiều hướng giảm, đây là biểu hiện không tốt, mặc dù doanh thu tăng, nhưng do chi phí còn quá cao cần phải có biện pháp quản lý các loại chi phí nhằm giảm thấp chi phí gia tăng suất sinh lời.

3.5.1.2 Doanh lợi vốn tự có

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 69

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Bảng 3.27: Doanh lợi vốn tự có (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: triệu đồng
2001 Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu ROE 2.391 63.108 3,79% 2002 2.749 88.429 3,11% 2003 2.733 79.828 3,42% 02/01 ±∆ 357 25.321 -0,68% % 14,93 40,12 -17,98 03/02 ±∆ -15 -8.601 0,32% % -0,55 -9,73 10,16

Nguồn: Tổng kết báo cáo tài chính từ năm 2001 đến 2003 Doanh lợi vốn tự có của công ty năm 2002 giảm 0,68%, tương ứng 17,98% do trong năm công ty đã bổ sung tăng vốn chủ sở hữu, tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu 40,12% trong khi tốc độ tăng của lợi nhuận thấp hơn chỉ có 14,93%, các nhân tố này tác động làm cho ROE giảm. Năm 2003 chỉ tiêu lên đến 3,42%, tăng 10,16%, do lợi nhuận giảm 0,55% trong khi vốn chủ sở hữu chỉ còn 79.828 triệu đồng, giảm 9,37%. Tốc độ giảm lợi nhuận thấp hơn tốc độ giảm vốn chủ sở hữu làm cho doanh lợi vốn tự có tăng. Các chỉ tiêu vừa phân tích phản ánh cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư công ty thu được 3,79 đồng lợi nhuận trong năm 2001, sang năm 2002 giảm xuống chỉ còn 3,11 đồng lợi nhuận và đến năm 2003 lên đến 3,42 đồng lợi nhuận. Qua phân tích chỉ tiêu ROE có thể khẳng định: khi công ty hoạt động kinh doanh hiệu quả, có lợi nhuận thì việc sử dụng ít vốn tự có và tăng sử dụng nợ vay sẽ làm cho tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tăng và việc sử dụng nhiều nợ vay được xem là hợp lý. 3.5.2 Các tỷ số về hiệu quả sử dụng vốn Phân tích hiệu quả sử dụng vốn để có thể đánh giá kết quả tình hình sử dụng vốn và khả năng sản xuất của đồng vốn.

Hiệu suất sử dụng vốn

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 70

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Bảng 3.28: Hiệu suất sử dụng vốn (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Doanh thu Vốn sử dụng BQ Hiệu suất sử dụng vốn 448.395 289.750 1,55 2002 570.647 320.650 1,78 2003 767.344 331.512 2,31 02/01 ±∆ 122.252 30.900 0,23 % 27,26 10,66 15,00 03/02 ±∆ 196.697 10.862 0,54 % 34,47 3,39 30,06

Nguồn: Tổng kết báo cáo tài chính từ năm 2001 đến 2003 Hiệu suất sử dụng vốn của toàn công ty tăng dần qua các năm. Năm 2001 số vòng quay vốn 1,55 lần. Sang năm 2002 số vòng quay vốn tăng lên 15%, đạt 1,78 lần do tốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của vốn sử dụng bình quân (27,26% > 10,66%). Đến năm 2003 doanh thu tiếp tục tăng 34,47%, trong khi tốc độ tăng của vốn chỉ là 3,39% dẫn đến hiệu suất sử dụng vốn tăng 30,06% đạt 2,31 vòng, nghĩa là 1 đồng vốn bình quân bỏ ra trong năm 2001 thu về 1,55 đồng doanh thu, năm 2002 là 1,78 đồng và năm 2003 đạt 2,31 đồng. Qua phân tích số vòng quay vốn cho thấy số lần vốn luân chuyển trong năm có tăng, tuy còn thấp, nhưng đây là biểu hiện tốt cho thấy công ty sử dụng vốn đạt hiệu suất cao, cần phát huy nhiều hơn nữa. Hiệu quả sử dụng vốn: hay còn gọi là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) Bảng 3.29: Hiệu quả sử dụng vốn (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Lợi nhuận Vốn sử dụng bình quân Hiệu quả sử dụng vốn 2.391 289.750 0,825 2002 2.749 320.650 0,857 2003 2.733 331.512 0,825 02/01 ±∆ 357 30.900 0,032 % 14,93 10,66 3,86 03/02 ±∆ -15 10.862 -0,033 % -0,55 3,39 -3,81

Nguồn: Tổng kết báo cáo tài chính từ năm 2001 đến 2003 Nhìn chung, hiệu quả sử dụng vốn có chiều hướng tăng, cụ thể: năm 2001 tỷ lệ hoàn vốnđầu tư đạt 0,825%; năm 2002 tăng lên 3,86% về số tương đối, hay

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 71

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

tăng 0,032% về số tuyệt đối do công ty kinh doanh có hiệu quả, lợi nhuận sau thuế tăng lên 14,93%, vốn sử dụng bình quân cũng tăng nhưng chỉ 10,66% khiến tỷ lệ hoàn vốn đầu tư tăng lên đạt 0,857%; năm 2003 lợi nhuận của công ty giảm 0,55% trong khi vốn sử dụng bình quân tăng lên 3,39% làm cho hiệu quả sử dụng vốn giảm, chỉ đạt 0,825% có nghĩa là cứ 100 đồng bỏ vào đầu tư thì công ty chỉ thu được 0,825 đồng lợi nhuận mà trước đó đã đạt 0,857 đồng. Qua phân tích hiệu quả sử dụng vốn của công ty chúng ta rút ra được những nhận xét sau: doanh thu của công ty qua các năm đều tăng, và cao hơn tốc độ tăng của vốn đầu tư làm cho số vòng quay vốn của công ty tăng lên, đây là biểu hiện tốt công ty cần phát huy. Tốc độ tăng lợi nhuận thấp hơn tốc độ tăng doanh thu làm cho doanh lợi tiêu thụ của công ty giảm thấp, sử dụng vốn của công ty kém hiệu quả. Mặc dù doanh thu tăng, nhưng do không tiết kiệm được chi phí (chi phí sử dụng vốn còn cao) nên lợi nhuận giảm. Do vậy, công ty cần có biện pháp quản lý chi phí để tăng lợi nhuận nâng cao khả năng sinh lời của đồng vốn. Mục 3.2 đã phân tích tình hình sử dụng vốn cố định và vốn lưu động, ở đây ta xét đến hiệu quả sử dụng chúng. 3.5.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn cố định Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của các loại tài sản cố định và đầu tư dài hạn thể hiện quy mô, cơ sở vật chất để tiến hành kinh doanh. Bảng 3.30: Hiệu quả sử dụng vốn cố định (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Doanh thu Lợi nhuận Vốn cố định bình quân Hiệu suất sử dụng vốn Hiệu quả sử dụng vốn 448.395 3.517 145.348 3,085 2,420 2002 570.647 4.042 152.396 3,744 2,652 2003 767.344 3.812 148.974 5,151 2,559 02/01 ±∆ 122.252 525 7.048 0,660 0,233 % 27,26 14,93 4,85 21,38 9,62 03/02 ±∆ 196.697 -231 -3.423 1,406 -0,094 % 34,47 -5,70 -2,25 37,56 -3,54

Nguồn: Tổng kết báo cáo tài chính từ năm 2001 đến 2003 Hiệu suất sử dụng tài sản của công ty tăng lên qua các năm, đây là biểu hiện tốt cho thấy vốn cố định đã đem về doanh thu ngày càng tăng. Cụ thể: năm 2002 hiệu suất sử dụng vốn cố định 3,744 lần, tăng 21,38% so năm 2001 do trong năm công ty đã đầu tư thêm tài sản cố định, một số công trình vừa hoàn thành và đưa
trang 72

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

vào sử dụng khiến vốn cố định tăng 4,85% so năm 2001, tuy nhiên, tốc độ tăng của vốn cố định quá nhỏ so tốc độ tăng của doanh thu (27,26%), nghĩa là cứ đầu tư 1 đồng vốn cố định sẽ thu về 3,085 đồng (năm 2001) và tăng lên 0,66 đồng (năm 2002); năm 2003 công ty thu hẹp quy mô đầu tư ra bên ngoài và thanh lý một số tài sản cố định không cần thiết làm cho vốn cố định của công ty giảm 2,25%, trong khi doanh thu tiếp tục tăng 34,47% so năm 2002 dẫn đến hiệu suất sử dụng vốn cố định tăng 37,56%, tương ứng tăng 1,406 lần; tức công ty bỏ ra 1 đồng vốn cố định thì đã mang về 5,151 đồng doanh thu, đây là một biểu hiện tốt công ty cần phát huy. Qua bảng số liệu ta nhận thấy rằng, việc sử dụng vốn cố định của công ty mang lại hiệu quả tương đối khá: năm 2002 hiệu quả sử dụng vốn cố định đạt 2,652%, nghĩa là cứ 100 đồng vốn cố định mang về 2,652 đồng lợi nhuận, tăng 0,233 đồng so năm 2001 do tốc độ tăng của lợi nhuận 14,93% trong khi tốc độ tăng của vốn cố định chỉ 4,85% đưa đến hiệu quả sử dụng vốn cố định năm 2002 cao hơn 2001. Sang năm 2003 tốc độ này giảm 2,25%, tốc độ tăng của lợi nhuận giảm nhiều hơn, lợi nhuận giảm 5,7% điều này làm cho việc sử dụng vốn cố định không đạt hiệu quả, theo đó cứ 100 đồng vốn cố định chỉ mang về 2,559 đồng lợi nhuận sau thuế, giảm 0,094 đồng, tương ứng 3,54%. Tóm lại, tình hình sử dụng vốn cố định có đạt hiệu quả nhưng còn thấp, công ty chưa thực hiện tốt việc tiết kiệm chi phí khi sử dụng vốn cố định, đòi hỏi cần có biện pháp thích hợp để tăng hiệu quả sử dụng vốn cố định trong tương lai.

Hiệu quả sử dụng tài sản cố định: Bảng 3.31: Hiệu quả sử dụng tài sản cố định

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 73

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

(Từ năm 2001 đến năm 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Doanh thu Lợi nhuận Tài sản cố định Hiệu suất sử dụng TSCĐ Hiệu quả sử dụng TSCĐ 448.395 3.517 125.142 3,58 2,810 2002 570.647 4.042 127.212 4,49 3,177 2003 767.344 3.812 122.989 6,24 3,099 02/01 ±∆ 122.252 525 2.070 0,903 0,367 % 27,26 14,93 1,65 25,19 13,06 03/02 ±∆ 196.697 -231 -4.223 1,753 -0,078 % 34,47 -5,70 -3,32 39,09 -2,47

Nguồn: Tổng kết báo cáo tài chính từ năm 2001 đến 2003 Là một bộ phận cấu thành nên vốn cố định và chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị tài sản, qua bảng số liệu ta nhận thấy việc sử dụng vốn cố định chủ yếu là sử dụng tài sản cố định. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của công ty qua các năm đều tăng. Năm 2002 là 4,49 lần, tăng 25,19% so năm 2001 và hiệu suất sử dụng tiếp tục tăng 39,09% về số tương đối ở năm 2003, hiệu suất sử dụng tài sản cố định đạt 6,24 lần. Việc sử dụng tài sản cố định của công ty đạt kết quả tốt. Các chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng tài sản cố định cho thấy cứ 1 đồng tài sản cố định tạo ra được 3,58 đồng doanh thu (năm 2001), đạt 4,49 đồng (năm 2002) và đạt 6,24 đồng (năm 2003). Nguyên nhân chủ yếu do tốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng tài sản cố định. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định: thể hiện cứ 100 đồng tài sản cố định tạo ra được mấy đồng lợi nhuận. Năm 2001 cứ 100 đồng tài sản cố định tạo ra được 2,810 đồng lợi nhuận; hiệu quả sử dụng tài sản cố định tăng lên trong năm 2002 khi công ty thu về được 3,177 đồng lợi nhuận do lợi nhuận tăng thêm lớn hơn tài sản tăng thêm (14,93% > 1,65%), đây là biểu hiện tốt; Sang năm 2003 do khó khăn, lợi nhuận của công ty giảm 5,7% trong khi mức độ đầu tư vào tài sản cố định chỉ giảm 3,32% nên việc sử dụng tài sản cố định đạt hiệu quả chưa cao, trong năm này công ty chỉ thu về 3,099 đồng từ 100 đồng đã đầu tư cho tài sản cố định. 3.5.2.2 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 74

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động được biểu hiện bằng chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn lưu động. Tốc độ luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh tình hình tổ chức các mặt hoạt động của quá trình kinh doanh có hợp lý hay không. Bảng 3.32: Tốc độ luân chuyển vốn lưu động (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Doanh thu VLĐ bình quân Tốc độ luân chuyển Kỳ luân chuyển Bình quân 448.395 144.402 3,105 116 2002 570.647 168.253 3,392 106 2003 767.344 182.538 4,204 86 02/01 ±∆ 122.252 23.851 0,286 -10 % 27,26 16,52 9,22 -8,44 03/02 ±∆ 196.697 14.285 0,812 -21 % 34,47 8,49 23,95 -19,32

Nguồn: Tổng kết báo cáo tài chính từ năm 2001 đến 2003 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động tăng lên thì số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện một vòng quay trong năm giảm xuống. Năm 2001 tốc độ này là 3,105 vòng, năm 2002 đạt 3,392 vòng, tăng 0,286 vòng so năm 2001 do tốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng vốn lưu động (năm 2002 tốc độ tăng doanh thu 27,26%, tốc độ tăng của vốn lưu động 16,52%); tốc độ luân chuyển vốn lưu động tăng thì chu kỳ luân chuyển bình quân vốn lưu động giảm (năm 2001 để thực hiện một vòng luân chuyển phải mất 116 ngày, năm 2002 số ngày để luân chuyển vốn lưu động chỉ còn 106 ngày, giảm 10 ngày so năm 2001), đây thật sự là biểu hiện tốt. Sang năm 2003, số ngày luân chuyển vốn lưu động tiếp tục giảm chỉ còn 86 ngày (giảm 20 ngày so năm 2002) dẫn đến số vòng quay tăng lên; tốc độ luân chuyển vốn lưu động đạt 4,204 vòng, tăng 0,812 vòng, hay tăng 23,95% do doanh thu tăng 34,47%, trong khi tốc độ tăng vốn lưu động chỉ đạt 8,49% điều đó còn cho thấy cứ 1 đồng vốn lưu động kinh doanh thì sau một năm sẽ thu về 3,105 đồng (năm 2001), thu được 3,392 đồng (năm 2002) và 4,204 đồng (năm 2003).

Hiệu suất một đồng vốn hàng tồn kho

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 75

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Bảng 3.33: Hiệu suất sử dụng vốn hàng tồn kho (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Doanh thu Vốn HTK bình quân Hiệu suất sử dụng Vốn HTK 448.395 60.300 7,44 2002 570.647 74.493 7,66 2003 767.344 79.761 9,62 02/01 ±∆ 122.252 14.193 0,224 % 27,26 23,54 3,02 03/02 ±∆ 196.697 5.268 1,960 % 34,47 7,07 25,59

Nguồn: Tổng kết báo cáo tài chính từ năm 2001 đến 2003 Hiệu suất sử dụng một đồng vốn hàng tồn kho tăng cho thấy việc quản trị vốn hàng tồn kho tốt. Năm 2002 một đồng vốn đầu tư vào hàng tồn kho khi được tiêu thụ mang về cho công ty 7,66 đồng doanh thu trong khi đó ở năm 2001 con số này là 7,44 đồng và nó tiếp tục tăng lên trong năm 2003 khi đạt đến 9,62 đồng do sản phẩm tồn kho của công ty tiêu thụ khá, doanh thu tăng, tốc độ tăng doanh thu qua các năm đều lớn hơn tốc độ tăng của vốn hàng tồn kho (năm 2002 tốc độ tăng của vốn hàng tồn kho 23,54% so với 27,26% tốc độ tăng của doanh thu. Năm 2003 doanh thu lại tăng với tốc độ là 34,47% trong khi tốc độ tăng của vốn hàng tồn kho bình quân chỉ là 7,07%) đây là một biểu hiện tốt công ty cần phát huy. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động Phản ảnh về hiệu năng quản trị trong công tác quản lý vốn lưu động. Bảng 3.34: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Lợi nhuận VLĐ bình quân Hiệu quả sử dụng vốn lưu động 3.517 144.402 2,435 2002 4.042 168.253 2,402 2003 3.812 182.538 2,088 02/01 ±∆ 525 23.851 -0,033 % 14,93 16,52 -1,36 03/02 ±∆ -231 14.285 -0,314 % -5,70 8,49 -13,08

Nguồn: Tổng kết báo cáo tài chính từ năm 2001 đến 2003 Không như hiệu suất sử dụng, hiệu quả sử dụng vốn lưu động có chiều hướng giảm xuống. Đây là biểu hiện chưa tốt do công ty sử dụng vốn lưu động

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 76

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

đạt hiệu suất, nhưng không đạt hiệu quả mà nguyên nhân chính vẫn là chi phí còn cao, làm cho lợi nhuận công ty giảm. Năm 2001 hiệu quả sử dụng vốn lưu động 2,435%, tức 100 đồng vốn lưu động kinh doanh mang về 2,435 đồng lợi nhuận. Năm 2002 công ty chỉ thu về được 2,402 đồng lợi nhuận, giảm 1,36% do lợi nhuận tăng 14,93% trong khi vốn lưu động tăng 16,52%. Sang năm 2003, do gặp khó khăn lợi nhuận công ty giảm 5,7%, trong khi vốn lưu động lại tăng lên 8,49% khiến cho số tiền thu về giảm, công ty chỉ thu được 2,088 đồng lợi nhuận từ việc bỏ ra 100 đồng vốn lưu động để kinh doanh. Tóm lại, qua phân tích tình hình và hiệu quả sử dụng vốn lưu động cho thấy công ty đạt hiệu suất sử dụng cao, nhưng hiệu quả chưa cao. Đây là biểu hiện chưa tốt, công ty cần phải có biện pháp tích cực hơn trong công tác quản lý chi phí. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của công ty qua các năm chúng ta rút ra được những nhận xét sau: - Hiệu suất sử dụng vốn của công ty đạt khá trong khi hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Doanh thu của công ty tăng qua các năm cho thấy việc tiêu thụ sản phẩm của công ty tốt, hàng hóa bán được nhiều, tuy nhiên, tốc độ tăng của doanh thu vẫn còn chậm so tốc độ tăng của chi phí (năm 2003 là 37,66% trong khi tốc độ tăng doanh thu chỉ là 34,47%) làm cho lợi nhuận của công ty qua các năm có xu hướng giảm. - Việc tăng thêm vốn đầu tư nhưng lợi nhuận tăng thêm nhỏ hơn, thậm chí còn giảm như vậy là không đạt hiệu quả. Công ty cần có biện pháp quản lý chi phí tốt hơn, nhất là tiết kiệm tối đa chi phí sử dụng vốn. - Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được bình thường, sản phẩm tiêu thụ nhiều hơn sẽ góp phần tăng doanh thu cao hơn tăng chi phí, tối đa hóa lợi nhuận.

3.5.3 Hiệu quả sử dụng lao động

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 77

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Hiệu quả sử dụng các yếu tố lao động cho thấy việc bố trí sử dụng nhân viên như thế nào để đạt được kết quả cao trong quá trình kinh doanh. Bảng 3.35: Hiệu quả sử dụng lao động (Từ năm 2001 đến 2003) Đơn vị: Triệu đồng
2001 Doanh thu Lợi nhuận Số lao động bình quân Quỹ lương Năng suất lao động bình quân Lương bình quân (x 1.000) Hiệu quả sử dụng tiền lương 448.395 3.517 513 5.650 874,06 918 62,25% 2002 570.647 4.042 604 7.251 944,78 1.000 55,75% 2003 767.344 3.812 743 10.672 1.032,76 1.197 35,72% 02/01 ±∆ 122.252 525 91 1.601 70,72 82,610 -6,5% % 27,26 14,93 17,74 28,34 8,09 9,00 -10,44 03/02 ±∆ 196.697 -231 139 3.421 87,985 196,535 -20% % 34,47 -5,70 23,01 47,18 9,31 19,65 -35,93

Nguồn: Tổng kết báo cáo tài chính từ năm 2001 đến 2003 Năm 2001 số lao động bình quân 513 người, năm 2002 604 người, tăng 91 người và tiếp tục tăng, năm 2003 đạt 743 người. Để đánh giá hiệu quả sử dụng lao động chúng ta phải đặt mức biến động tương đối số lượng lao động trong mối quan hệ với kết quả sản xuất kinh doanh. Năm 2001 để đạt 448.395 triệu đồng doanh thu thì công ty cần 513 lao động, trong khi năm 2002 để đạt được doanh thu 570.647 triệu đồng lẽ ra công ty phải sử dụng đến 653 lao động nhưng trên thực tế chỉ sử dụng 604 lao động, như vậy đã tiết kiệm được 49 lao động. Tương tự như thế năm 2003 công ty phải cần đến 812 lao động để tạo ra được 767.344 triệu đồng doanh thu, thực tế chỉ sử dụng 743 lao động, tiết kiệm được 69 lao động. Qua đó, việc sử dụng lao động của công ty đạt hiệu quả, tiết kiệm được lao động là cơ sở làm tăng suất lao động. Cụ thể: một lao động năm 2001 tạo ra 874,06 triệu đồng doanh thu và tăng lên 70,72 triệu đồng trong năm 2002 tương ứng tăng 8,09%; năng suất lao động tiếp tục tăng lên trong năm 2003 khi một lao động bình quân tạo ra được 1.032,76 triệu đồng, tăng 9,31% so năm 2002. Sử dụng lao động tạo nên năng suất lao động tăng đã biểu hiện cho việc bố trí và sử dụng nhân viên hiệu quả, công ty cần phát huy điểm mạnh này.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 78

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Cũng dựa vào bảng số liệu trên thì mức lương bình quân một người lao động nhận được tăng lên, điều này cho thấy sự quan tâm của công ty trong việc bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực, chăm lo đời sống cho nhân viên. Năm 2001 bình quân một nhân viên nhận được 918 ngàn đồng/tháng; năm 2002 là 1 triệu đồng/tháng, tăng 9% do tốc độ tăng tổng quỹ lương lớn hơn tốc độ tăng số lao động bình quân (tốc độ tăng tổng quỹ lương năm 2002 so năm 2001 là 28,34% trong khi tốc độ tăng của lao động 17,74%); tương tự như thế vào năm 2003 tốc độ tăng quỹ lương 47,18% trong khi tốc độ tăng của lao động 23,01% nên mức lưong bình quân tăng lên (năm 2003 bình quân 1 lao động nhận được 1.197 ngàn đồng/tháng, tăng 19,65% so năm 2002). Ta nhận thấy tổng quỹ lương của công ty gia tăng từng năm, nhưng đặt trong mối quan hệ doanh thu tăng lên thì việc tăng của tổng quỹ lương như vậy là hợp lý chưa. Để đánh giá ta cần so sánh mức biến động của tổng quỹ lương qua các năm. Năm 2001 để đạt được doanh thu 448.395 triệu đồng thì tiền lương phải trả là 5.650 triệu đồng, với những điều kiện tương tự như vậy thì trong năm 2002 công ty chỉ cần trả 7.190 triệu đồng tiền lương để đạt được doanh thu 570.647 triệu đồng, nhưng trên thực tế công ty đã chi ra 7.251 triệu đồng để trả lương cho nhân viên, như vậy, công ty đã trả nhiều hơn số phải trả là 61 triệu đồng; cũng với điều kiện như thế sang năm 2003 công ty chỉ cần trả 9.750 triệu đồng tiền lương để đạt doanh thu 767.344 triệu đồng, thực tế công ty đã trả 10.672 triệu đồng nhiều hơn số phải trả là 922 triệu đồng. Nhìn chung, ở gốc độ tiết kiệm chi phí sự gia tăng của tổng quỹ lương nhanh hơn sự gia tăng về doanh thu. Nhưng trên phương diện tổng hợp, tiền lương có quan hệ đến chỉ số lạm phát thì mức tăng này là không cao; việc chi thêm tiền cho nhân viên khi họ làm việc với năng suất lao động ngày càng cao là tất yếu thể hiện được sự quan tâm hỗ trợ của công ty đối với nhân viên. Hiệu quả sử dụng chi phí tiền lương trong năm 2001 là 62,25% thì sang năm 2002 giảm xuống còn 55,75% và tiếp tục giảm còn 35,72% vào năm 2003. Chỉ tiêu này cho thấy, 100 đồng tiền lương trả cho công nhân viên thì tạo ra được 62,25 đồng lợi nhuận (năm 2001), việc tiếp tục trả lương như vậy làm cho lợi nhuận giảm 6,49 đồng vào năm 2002 và tiếp tục giảm chỉ còn 35,72 đồng lợi nhuận vào năm 2003 do tốc độ tăng lợi nhuận qua các năm đều thấp hơn tốc độ tăng tổng quỹ lương, đòi hỏi công ty cần xem xét lại các hoạt động chưa mang lại lợi nhuận để khắc phục tình trạng trên.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 79

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Tổng hợp kết quả phân tích trên cho ta cái nhìn tổng quát về việc quản lý và sử dụng lao động ở công ty như sau: công ty sử dụng lao động đạt năng suất, hiệu quả. Song, có đơn vị trực thuộc công ty làm ăn không hiệu quả, nhưng chi lương không giảm tương ứng với mức độ lỗ, công ty cần chấn chỉnh lại hoạt động của các đơn vị này để tránh tình trạng hiệu quả sử dụng tiền lương chưa cao.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 80

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU NÔNG SẢN THỰC PHẨM AN GIANG
Quá trình phân tích tình hình và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm An Giang chúng ta đã nắm bắt được tình hình quản lý, cách thức huy động và sử dụng vốn, những thành công cũng như những tồn tại trong quá trình sử dụng vốn. 4.1 ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CHỦ YẾU TRONG QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG VỐN 4.1.1 Những ưu điểm chủ yếu: - Bổ sung và điều chỉnh kịp thời nhu cầu vốn cho kinh doanh, phù hợp với yêu cầu và quy mô hoạt động của công ty trong từng giai đoạn. - Nguồn vốn chủ yếu của công ty là vốn vay, vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ. Công ty đã cải thiện đòn cân nợ bằng việc bổ sung thêm vốn chủ sở hữu và hạn chế nợ vay, nâng cao dần tính tự chủ của công ty trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. - Công ty hoạt động đạt hiệu quả, thu được lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tăng lên qua các năm. Điều này cho thấy khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu là rất cao. - Hiệu quả sử dụng vốn của công ty có những chuyển biến tích cực. Số vòng quay vốn tăng lên qua các năm. Doanh thu đạt ở mức cao, lợi nhuận thu về tương đối khá, đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho công nhân viên. 4.1.2 Những hạn chế chủ yếu: - Với cơ cấu vốn như hiện tại, vốn vay chiếm tỷ trọng quá cao cho thấy mức độ tự chủ của công ty còn thấp. - Vốn vay nhiều làm cho công ty phải gánh một tỷ lệ nợ cao, chi phí nhiều để thanh toán lãi vay hằng năm, khả năng thanh toán dài hạn của công ty thấp. - Hiệu suất sử dụng vốn cao, song hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Doanh thu hằng năm tăng lên, nhưng công ty chưa tiết kiệm được chi phí, tốc độ tăng chi phí cao hơn tốc độ tăng doanh thu làm cho lợi nhuận giảm.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 81

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

- Vốn công ty luôn bị chiếm dụng, mức độ đầu tư vào hàng hóa tồn kho cũng như các khoản phải thu cao. 4.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU NÔNG SẢN THỰC PHẨM AN GIANG 4.2.1 Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung tại Công ty Xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm An Giang - Lập kế hoạch kinh doanh, xác định tương đối chính xác nhu cầu về vốn hằng năm. Nghiên cứu và dự đoán nhu cầu thị trường để đảm bảo không thừa lượng nguyên vật liệu, vật tư, hàng hóa… nhằm làm cho vốn không bị ứ động, tăng tốc độ chu chuyển vốn. - Nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm, hạ giá thành để tăng sức cạnh tranh, xúc tiến nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm. Thực hiện tăng doanh thu phải đi đôi với tiết kiệm chi phí. - Chủ động ký kết các hợp đồng xuất khẩu trực tiếp, không trông chờ vào sự ủy thác của Chính phủ, cũng như bị động chờ khách hàng đến ký kết. Công ty nên cử nhân viên đi khai thác, tìm hiểu thị trường nước ngoài để tìm cơ hội kinh doanh nhằm gia tăng số lượng hàng hóa tiêu thụ cũng như số lượng hợp đồng. - Phát triển kênh phân phối trực tiếp bằng cách lập Văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại nước cần nhập, tránh xuất khẩu qua trung gian, tiết kiệm được chi phí cho việc tiêu thụ sản phẩm. - Duy trì mối qua hệ tốt đẹp với khách hàng truyền thống. Bên cạnh đó, tìm kiếm thêm thị trường mới. - Tổ chức thu mua nguyên liệu tại vùng chuyên canh để giảm giá thu mua. Rà soát lại năng lực thu mua. - Để tránh hiện tượng biến động về giá nguyên liệu (gạo, cá) công ty cần chủ động ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm của nông dân, ngư dân thông qua các hợp tác xã, tổ liên kết sản xuất, câu lạc bộ thủy sản, Hiệp hội thủy sản (AFA)…

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 82

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

4.2.2 Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định. - Định kỳ phải xem xét, đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định, điều chỉnh kịp thời phù hợp với giá cả thị trường. Đánh giá tài sản cố định thấp hơn giá trị thực của nó thì không thực hiện tái sản xuất tài sản cố định; ngược lại, nếu như đánh giá cao hơn giá trị thực thì sẽ nâng giá thành sản xuất, sản phẩm tạo ra được định giá cao, mất đi tính cạnh tranh và khó tiêu thụ. Đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định giúp cho nhà quản lý nắm bắt được tình hình biến động vốn của công ty để có những giải pháp đúng đắn đối với loại vốn này như lập kế hoạch khấu hao, thanh lý hoặc nhượng bán một số tài sản cố định không cần thiết, tài sản sử dụng không hiệu quả góp phần bổ sung nguồn vốn lưu động. - Thực hiện chế độ bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn tài sản cố định theo qui định. Một mặt đảm bảo cho tài sản cố định duy trì năng lực hoạt động bình thường, tránh được tình trạng hư hỏng. Mặt khác, thông qua việc bảo quản, bảo dưỡng, đầu tư mới, công ty có cơ sở để quản lý tốt hơn các khoản trích chi phí xây dựng cơ bản dở dang, tránh tình trạng vốn cố định ở công ty nhiều, nhưng hiệu quả mang lại không cao. - Đẩy mạnh công tác phân tích tình hình sử dụng tài sản trong các xí nghiệp trực thuộc, qua đó xác định được mặt tốt cũng như chưa tốt để có biện pháp quản lý và sử dụng vốn cố định ngày càng tốt hơn. + Đầu tư mở rộng, nâng công suất một số nhà máy hoạt động có hiệu quả để tăng hiệu suất sử dụng vốn cố định cũng như tài sản cố định. Trên cơ sở đó tăng cường hiệu quả sử dụng bằng cách tiết kiệm được chi phí cố định trên một đơn vị sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm với giá thành hạ, sản phẩm có sức cạnh tranh cao (công ty có được sự chủ động trong việc định giá bán sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh), tăng cường khả năng tích lũy. + Đầu tư mới khi đã xác định khá chính xác nhu cầu thị trường cũng như dung lượng thị trường, khả năng hoạt động kinh doanh lâu dài của thiết bị được đầu tư mới. + Giảm thiểu tối đa thời gian thiệt hại trong sản xuất. Chẳng hạn như, khi thiếu nguyên liệu cho sản xuất thì máy móc ngừng hoạt động, do đó công tác chuẩn bị nguồn nguyên liệu có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn cố định (công ty phải chủ động được nguồn cung cấp). Đồng thời, khi thiết bị bị hỏng thì phải nhanh chóng khắc phục sửa chữa, đưa nhanh trở lại vào quá trình sản xuất.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 83

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

+ Trước khi áp dụng những biện pháp, kỹ thuật mới, hiện đại cũng như việc đầu tư mới, công ty cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách, nâng cao tay nghề cho công nhân. Nắm rõ tình trạng kỹ thuật của tài sản cố định sẽ giúp họ quản lý và sử dụng tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn. + Để giảm bớt lượng vốn ứ động, công ty có thể xem xét thuê những tài sản sử dụng trong thời gian ngắn (thay vì phải vay thêm nợ để mua nhưng lại sử dụng không hết công suất); cho thuê những tài sản hiện tại chưa cần thiết sử dụng, thậm chí bán cả những tài sản sử dụng không hiệu quả. 4.2.3 Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động - Một số biện pháp quản lý vốn lưu động: + Định kỳ phải kiểm kê, đánh giá lại toàn bộ vật tư, hàng hóa, vốn bằng tiền, các khoản phải thu để xác định số vốn lưu động hiện có. Trên cơ sở đó đối chiếu với sổ sách để có hướng điều chỉnh hợp lý. + Tính toán tương đối chính xác nhu cầu vốn lưu động cho năm kế hoạch cũng như có kế hoạch sử dụng số vốn đó. + Xác định nhu cầu vốn lưu động để công ty chủ động tìm các nguồn tài trợ. Muốn có nguồn vốn ổn định cho hoạt động kinh doanh (vốn lưu động cũng như vốn cố định), công ty phải thường xuyên thiết lập các mối quan hệ với các đơn vị tài chính, ngân hàng, có chiến lược thu hút vốn từ ngân sách nhà nước cũng như từ nội bộ. Đối với ngân hàng: công ty cần có kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm để xin vay vốn ngắn hạn tạm trữ vật tư hàng hóa…Công ty phải thiết lập và trình bày các dự án có tính khả thi cao nhằm tìm kiếm các khoản vay dài hạn với lãi suất ưu đãi phục vụ cho đầu tư chiều sâu và phát triển lâu dài. Đối với ngân sách: công ty cần đưa ra những phương hướng phát triển, các luận án kinh tế vừa phát triển công ty vừa phát triển kinh tế tỉnh nhà. Thu hút vốn nhàn rỗi trong nội bộ bằng cách phát hành trái phiếu công ty cho công nhân viên.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 84

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

- Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động: + Lập kế hoạch thu chi tiền mặt, xác định lượng tiền dự trữ hợp lý không phải quá cao như hiện nay; không để lượng tiền nhàn rỗi nhiều, phải nhanh chóng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng vòng quay vốn. Công ty có thể sử dụng mua hàng trả tiền sớm để hưởng chiết khấu, giảm giá, trả bớt các khoản nợ… + Cần kiểm tra chặt chẽ hơn tình hình thanh toán, lên kế hoạch thu hồi công nợ, đôn đốc, nhắc nhở việc thu hồi nợ nhanh tránh tình trạng vốn bị chiếm dụng quá lâu. Sau khi thu hồi công nợ, phải đưa nhanh vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động. + Lựa chọn phương thức thanh toán thuận lợi, an toàn, tránh tình trạng khách hàng từ chối thanh toán, dây dưa trong thanh toán. + Có biện pháp mua hàng thanh toán ngay được hưởng ưu đãi, hoa hồng giảm giá, hưởng các khoản chiết khấu khi thanh toán trước hạn… Trong chừng mực nhất định chi tiền cho việc thu tiền sẽ làm cho thời gian thu tiền ngắn lại, giảm các khoản phải chi để dự trù phải thu nợ khó đòi, giảm tổn thất nợ khó đòi sẽ tiết kiệm được chi phí. + Tính toán nhu cầu tiêu thụ để dự trữ vật tư, hàng hóa hợp lý, tránh được tình trạng hàng tồn kho quá cao. + Những vật tư, hàng hóa tồn động lâu ngày do kém phẩm chất hoặc không phù hợp với nhu cầu sử dụng, công ty cần chủ động giải quyết. Hàng hóa ứ động trước đây quá cao thì nên giảm giá để giảm giá trị của lượng hàng hóa này, phần chênh lệch thiếu phải được xử lý và kịp thời bù đắp góp phần bổ sung nguồn vốn lưu động. + Công ty cũng có thể giảm lượng hàng ký gửi ở các của hàng, đại lý bằng cách cho họ hưởng hoa hồng cao hơn nếu như họ có biện pháp giải quyết nhanh lượng hàng hóa này.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 85

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

- Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dụng lao động: + Công ty nên tinh gọn lại bộ máy quản lý, phải chú trọng vào công tác sắp xếp, bố trí công việc phù hợp với khả năng, đảm bảo đúng người, đúng việc được như vậy thì mới có khả năng nâng cao năng suất lao động. + Khoán quỹ lương trên cơ sở lợi nhuận. Kích thích tính năng động, chủ động nâng cao năng suất lao động của từng đơn vị cũng như của mỗi cá nhân. + Đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân, nâng cao năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt, có chính sách đãi ngộ lao động hợp lý… Các biện pháp trên hy vọng rằng sẽ mang lại những tác dụng nhất định góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty. Tuy nhiên, nó sẽ vô hiệu nếu như không được triển khai và tiến hành đồng bộ.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 86

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

KẾT LUẬN
Quá trình phân tích tình hình và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm An Giang cho thấy trong lĩnh vực này đang được cải thiện dần; hoạt động sản xuất, kinh doanh đi vào ổn định, có hiệu quả, luôn mang lại lợi nhuận, điều này thể hiện sự nỗ lực, gắng bó của tập thể cán bộ công nhân viên trong công tác. Công ty đạt hiệu suất sử dụng vốn cao, nhưng hiệu quả chưa cao do phí còn lớn trong quá trình hoạt động, chưa tiết kiệm được tối đa các khoản chi phí này, vì vậy mà hiệu quả kinh doanh chưa cao. Hiệu quả kinh doanh là thước đo trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh. Nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh là vấn đề “sống còn” đối với một doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh cao, tức lợi nhuận càng cao. Công ty hoàn toàn có điều kiện đầu tư mua sắm máy móc, thiết bị hiện đại, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất tạo ra sản phẩm có chất lượng ngày càng cao, gia tăng sản lượng tiêu thụ, tiếp tục thu về lợi nhuận cao hơn, đời sống công nhân viên ngày càng được cải thiện, thực hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước. Để đạt được mục tiêu này công ty cần phát huy tối đa những mặt mạnh đồng thời khắc phục các yếu kém, hạn chế trong công tác tiếp thị, tìm kiếm thị trường… và quan trọng hơn hết là công ty phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn do hiện nay công ty đang trong tình trạng thiếu vốn phải gánh vác một tỷ lệ nợ cao, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận. Thời gian tới đòi hỏi công ty phải nổ lực nhiều hơn nữa từ chính bản thân mình, đồng thời tranh thủ được sự chỉ đạo, hỗ trợ của Tỉnh Ủy, UBND tỉnh và các ban ngành có liên quan để đạt được hiệu quả cao trong sử dụng vốn, trong sản xuất, kinh doanh, đưa đơn vị phát triển bền vững về mọi mặt.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 87

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

KIẾN NGHỊ
Tiến trình hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu, khách quan. Bên cạnh những thuận lợi, công ty đang phải đương đầu với các thách thức lớn, trong đó có sự cạnh tranh gay gắt không chỉ ở thị trường nội địa mà cả nước ngoài. Qua nghiên cứu tình hình sử dụng vốn của công ty, tác giả xin có một số kiến nghị sau: Đối với Nhà nước: - Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất, nhập khẩu. Có các chính sách ưu đãi về thuế, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu. - Nhà nước cần giúp đỡ các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm và thâm nhập thị trường xuất khẩu. Hỗ trợ kinh phí xúc tiến thương mại trong và ngoài nước. - Thành lập Quỹ hỗ trợ cho hàng nông sản xuất khẩu để giúp đỡ các doanh nghiệp kinh doanh xuất, nhập khẩu nông sản khi mặt hàng nông sản bị giảm giá. - Tiếp tục duy trì và phát triển mô hình liên kết “bốn nhà”, gắn kết doanh nghiệp với nông, ngư dân trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. - Hiện nay, tình trạng tranh mua, tranh bán giữa các doanh nghiệp kinh doanh xuất, nhập khẩu nói chung, kinh doanh xuất, nhập khẩu nông sản nói riêng rất hỗn loạn, gây không ít thiệt hại cho kinh doanh xuất, nhập khẩu Việt Nam. Vì vậy, Nhà nước nên có đầu mối thông tin về giá cả, thị trường cho người sản xuất, xuất, nhập khẩu biết. - Ngân hàng cần có chính sách tín dụng cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất, nhập khẩu nông sản, cho vay phù hợp chu kỳ sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi. Tạo điều kiện cho những doanh nghiệp tập trung vốn đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ, phát huy tối đa khả năng của nguồn vốn vay.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 88

Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang

GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm

Đối với công ty: - Định hướng lại thị trường tương lai, tự tìm thị trường xuất khẩu trực tiếp, không phụ thuộc quá nhiều vào một khu vực thị trường. Tăng cường công tác nghiên cứu, tham gia các kỳ hội chợ, xúc tiến thương mại với bạn hàng nước ngoài, nhưng phải chọn lọc và đánh giá được hiệu quả tham gia. - Thị trường nội địa có nhiều tiềm năng tiêu thụ mặt hàng thủy sản chế biến, công ty cần có kế hoạch khai thác và đầu tư hợp lý vào thị trường rộng lớn này. - Xúc tiến nhanh việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu, quảng bá thương hiệu, tiếp thị, mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm. - Đối với các nhà máy, xí nghiệp hoạt động kém hiệu quả, phải bù lỗ, công ty cần có hướng khắc phục, nếu không chuyển biến tích cực đề nghị giải thể. - Nghiên cứu và đề xuất lộ trình cổ phần hóa đối với những đơn vị hội đủ điều kiện cổ phần hóa.

SVTH: Nguyễn Duy Hùng

trang 89

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->