P. 1
Chinh Luan Ve Nhung Noi Dung Co Ban Dai Hoi Dang X

Chinh Luan Ve Nhung Noi Dung Co Ban Dai Hoi Dang X

|Views: 620|Likes:
Được xuất bản bởiapi-3827750

More info:

Published by: api-3827750 on Oct 18, 2008
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

03/18/2014

pdf

text

original

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 1

Chính luận về những nội dung cơ bản Đại hội Đảng X

Mục lục
Con thuyền "kinh tế thị trường" ra khơi với tay lái vững Thế trận tổng lực các thành phần kinh tế Nhiệm vụ then chốt Phát triển văn hoá-nền tảng tinh thần của xã hội Dân chủ và quyền lực Hội nhập sâu rộng để tăng tốc Quốc phòng vững mạnh, quốc thái dân an

http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 2

Con thuyền "kinh tế thị trường" ra khơi với tay lái vững

Lời toà soạn: Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị trọng đại. Tại Đại hội này, Đảng ta đã xác định chiến lược tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, đưa đất nước phát triển với tốc độ nhanh hơn và bền vững hơn. Các văn kiện của Đại hội đảng X là kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Để phục vụ cho việc nghiên cứu, quán triệt các văn kiện của Đại hội Đảng X, bắt đầu từ số báo hôm nay (24-7-2006), báo Quân đội nhân dân xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc loạt bài chuyên luận về những nội dung cơ bản nhất trong các văn kiện đó. Các tác giả tham gia viết loạt bài này là những cây bút chính luận quen biết của báo Quân đội nhân dân Khi xem xét mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một số người e ngại cụm từ định hướng xã hội chủ nghĩa đi bên cạnh cụm từ kinh tế thị trường có dung hợp với nhau không? Có người thì ca ngợi vế “kinh tế thị trường” đã góp phần giải phóng sức sản xuất nhưng phê phán vế “định hướng xã hội chủ nghĩa” là yếu tố cản trở phát triển (!). Lại có người nghĩ rằng, đã chọn phát triển kinh tế thị trường thì không tránh khỏi con đường đi đến chủ nghĩa tư bản vì chỉ có chủ nghĩa tư bản mới sử dụng kinh tế thị trường. Những ý kiến trên đều không đúng. Thực ra, kinh tế thị trường không đồng nhất hoặc là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản. Bất cứ ở đâu, trong nền kinh tế có sản xuất và trao đổi hàng hóa trên các nguyên tắc của thị trường và được quyết định bởi quan hệ cung-cầu của thị trường thì ở đó kinh tế thị trường tồn tại và phát triển. Và thực tế đã cho thấy kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường có thể tồn tại và phát triển ở các chế độ xã hội khác nhau,
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 3

cả trong chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội.

-Định hướng xã hội chủ nghĩa là tất yếu Để hiểu rõ thêm vì sao chúng ta không lựa chọn kinh tế thị trường nói chung mà lựa chọn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần nhìn lại quá trình hình thành đường lối đổi mới ở nước ta 20 năm qua. Từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, từ những tư tưởng đổi mới mang tính chất từng mặt và từng bộ phận thừa nhận sản xuất hàng hóa và những quy luật của sản xuất hàng hóa sau Đại hội V, Đảng ta đã có bước chuẩn bị quan trọng tạo tiền đề cho bước phát triển nhảy vọt về tư duy kinh tế ở Đại hội VI. Tại đại hội này, Đảng ta đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, dứt khoát từ bỏ mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, mô hình kinh tế phi hàng hóa, phi thị trường, chuyển sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Năm 1991, Cương lĩnh của Đảng khẳng định “phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước”. Đến Đại hội VIII, Đảng ta đưa ra quan niệm mới rất quan trọng: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng". Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy lý luận của Đảng ta. Đến Đại hội IX, Đảng ta khẳng định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt . Gần đây nhất, tại Đại hội X, Đảng ta tiếp tục nhất trí quan điểm: Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải tuân theo các nguyên tắc và quy luật phổ biến của kinh tế thị trường, đồng thời phải mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo ra chất lượng mới của
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 4

phát triển. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam về bản chất khác với nền kinh tế thị trường ở nhiều nước khác: Đó là nền kinh tế được xây dựng ở một chế độ xã hội do nhân dân làm chủ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, nhằm mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy có thể thấy, đường lối đổi mới của Đảng ta là vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sau thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Đảng ta liên tục nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo, đi đến nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trên cơ sở xác định tính chất và những đặc trưng cơ bản về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, Đại hội X tiếp tục khẳng định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát cho suốt thời kỳ quá độ và coi việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề có tính nguyên tắc để bảo đảm thành công của chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Như vậy, Đảng Cộng sản Việt không lựa chọn phát triển kinh tế thị trường để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa mà là vận dụng mặt tích cực của kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội theo nhận thức đổi mới. Và định hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt . -Kinh tế thị trường vì “dân giàu, nước mạnh” Mục tiêu phát triển và tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta quy định, quá trình phát triển kinh tế thị trường phải là quá trình thực hiện "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn. Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 5

là phát triển lực lượng sản xuất, huy động cao nhất mọi nguồn lực, mọi tiềm năng vật chất và tinh thần, tạo ra những động lực mới, những đột phá mới trong phát triển, xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, sớm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển và cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Đồng thời, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại phải gắn với xây dựng quan hệ sản xuất mới tiên tiến. Nước ta đang ở chặng đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lực lượng sản xuất còn yếu kém nên việc sử dụng cơ chế thị trường cùng với các hình thức và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường là nhằm kích thích sản xuất, khuyến khích tinh thần năng động, sáng tạo của người lao động, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy công nghiệp hóa-hiện đại hóa, từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, tính năng động xã hội của đa số các tầng lớp dân cư được phát huy, các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế đều tìm mọi cách khai thác các tiềm năng về vốn, kỹ thuật, tri thức, kinh nghiệm để lo liệu cuộc sống của bản thân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng đất nước. Tính năng động xã hội trở thành “phép lạ” nhanh chóng đẩy lùi tình trạng trì trệ, suy thoái, thụ động, dựa dẫm, ỷ lại, trông chờ vào bao cấp và trợ cấp trước đây, làm chuyển biến rõ rệt tình hình sản xuất và đời sống ở cả thành thị và nông thôn. Đảng và Nhà nước khuyến khích mọi người dân trong xã hội làm giàu một cách hợp pháp. Người giàu trước tạo điều kiện giúp đỡ người khác cùng giàu lên, dân giàu thì nước mạnh. Như vậy, “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh” vừa là mục tiêu, vừa là nội dung của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Một nền kinh tế thị trường với nhịp độ tăng trưởng cao sẽ góp phần tạo ra những cơ sở kinh tế, kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội cho việc thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, khắc phục bất bình đẳng xã hội. Chúng ta chỉ có được sự phát triển bền vững khi tăng trưởng cao đi đôi với tiến bộ xã hội. Nền kinh tế thị trường định hướng
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 6

xã hội chủ nghĩa không chấp nhận hy sinh tiến bộ xã hội để đạt được tăng trưởng kinh tế cao. Sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo, tình trạng thất nghiệp, các tệ nạn xã hội... không thể là bạn đồng hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

-Kinh tế nhà nước: Chủ đạo nhưng không bao cấp Để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, Đảng ta chủ trương giải phóng triệt để mọi lực lượng sản xuất, giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu và thành phần kinh tế, làm cho tiềm năng kinh tế của mọi công dân, mọi vùng kinh tế, mọi ngành kinh tế, mọi thành phần kinh tế đều được phát huy mạnh mẽ có hiệu quả. Đại hội X khẳng định, một trong những nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta là phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc trong nền kinh tế quốc dân. Có ý kiến băn khoăn trước việc xác định vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước, lo ngại việc "phân vai" ai chủ đạo, ai là chính, liệu có diễn ra sự bao cấp với kinh tế nhà nước và sự phân biệt đối xử và thiên vị giữa các thành phần kinh tế? Thực tế, Đảng ta đã nhận thấy nguồn lực phát triển cực kỳ to lớn là sức mạnh của nhân dân và quyết tâm dân chủ hóa mạnh mẽ các chính sách kinh tế nhằm khơi thông, thu hút mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển đất nước. Đảng ta đánh giá, các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu cần phải xóa bỏ, Nhà nước chỉ thực hiện sự ưu đãi hoặc hỗ trợ phát triển đối với một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm, một số mục tiêu (như xuất khẩu gạo, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, khắc phục những rủi ro...), một số địa bàn, doanh nghiệp
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 7

nhỏ và vừa. Tuy nhiên, trong một nền kinh tế hỗn hợp được cấu thành từ nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống nhất, kinh tế nhà nước phải nắm giữ vai trò chủ đạo với nội dung là đòn bẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm lực lượng vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô. Các doanh nghiệp nhà nước phải tập trung vào một số ngành và lĩnh vực then chốt, vừa bảo đảm an ninh, quốc phòng, vừa phục vụ lợi ích công cộng. Thực tiễn đã chứng tỏ, nếu không có kinh tế nhà nước đủ mạnh thì Nhà nước không thể điều tiết các thành phần kinh tế khác vươn lên trong hợp tác và cạnh tranh với nhau và với các đối tác nước ngoài. Vấn đề đã và đang được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm là đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa. Các doanh nghiệp nhà nước sẽ được cơ cấu lại, tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực như: kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng, một số lĩnh vực công ích. Những năm tới sẽ thúc đẩy hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, tầm cỡ khu vực, có sự tham gia cổ phần của nhà nước, của tư nhân trong và ngoài nước, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư... trong đó Nhà nước giữ cổ phần chi phối. Yêu cầu đặt ra là nhanh chóng hoàn thiện cơ chế, chính sách, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong môi trường cạnh tranh, công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả. Xoá bỏ mọi độc quyền và đặc quyền sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là vấn đề có tính nguyên tắc và cũng là sự khác biệt về bản chất giữa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa so với các mô hình kinh tế thị trường khác và cũng là điều kiện để bảo đảm tính định hướng
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 8

xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển. -Kinh tế tư nhân: Khuyến khích phát triển nhưng không phải "tư nhân hóa" Vì lợi ích của đất nước và chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước ta chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân trong mọi ngành nghề mà luật pháp không cấm, kể cả kinh tế tư nhân quy mô lớn. Nhìn vào mức độ và nhịp độ phát triển cũng như mức đóng góp của kinh tế tư nhân những năm qua, có thể thấy sự phát triển của kinh tế tư nhân là vượt trội nhất. Nhất là từ sau khi thực hiện Luật Doanh nghiệp, kinh tế tư nhân có bước phát triển mạnh, đóng góp quan trọng vào GDP, xuất khẩu, đầu tư, phát triển công nghiệp, dịch vụ, tạo việc làm... Trong 5 năm tới, định hướng chung là tiếp tục phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân, tạo điều kiện cho các loại hình kinh tế tư nhân đầu tư phát triển theo quy định của pháp luật, không hạn chế về quy mô, ngành nghề, lĩnh vực địa bàn. Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử, bảo đảm thực sự bình đẳng, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ kinh doanh được trực tiếp tiếp cận các nguồn vốn tại các tổ chức tín dụng của Nhà nước kể cả quỹ hỗ trợ phát triển, được đáp ứng thuận lợi nhu cầu sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh. Để khu vực kinh tế tư nhân nước ta có điều kiện vượt qua ngưỡng cửa khu vực chỉ dựa trên cá thể là chủ yếu, Đảng ta khuyến khích phát triển các doanh nghiệp lớn của tư nhân, các tập đoàn kinh tế tư nhân có nhiều chủ sở hữu với hình thức công ty cổ phần. Đồng thời khuyến khích tư nhân mua cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước, tham gia đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế. Để tháo gỡ những băn khoăn, e ngại của các doanh nghiệp tư nhân, loại bỏ những cản trở có thể đối với môi trường pháp lý, tâm lý cho khu vực tư nhân hoạt động, Đại hội X khẳng định, sẽ bảo vệ tài sản hợp pháp của công dân và doanh nghiệp, loại bỏ các quy định về việc khám xét nơi ở và làm việc, tịch thu hoặc tạm giữ tài sản của công dân và doanh nghiệp. Các cơ quan có thẩm quyền phải đền
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 9

bù thích đáng cho công dân và doanh nghiệp về những thiệt hại cả về danh dự và vật chất do những quy định trái pháp luật gây ra. Cần hiểu rõ, Đảng ta xác định, kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài, có vị trí xứng đáng trên bản đồ doanh nghiệp Việt Nam, đóng góp cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả của nền kinh tế, góp phần xóa đói nghèo, nâng cao tính năng động và tính hiệu suất của nền kinh tế nhưng khuyến khích, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển mạnh hơn nữa không có nghĩa là "tư nhân hóa" nền kinh tế. Chúng ta không nghĩ rằng, chỉ có tư nhân hóa mới dẫn đến thành công. Do vậy, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là để tránh nguy cơ của khuynh hướng tư bản chủ nghĩa. -Tăng trưởng đi đôi với công bằng xã hội Đây là nội dung quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta. Trong mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội Đảng ta xác định rõ: Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở và điều kiện thuận lợi cho phát triển xã hội; ngược lại phát triển xã hội là động lực, là mục tiêu của phát triển kinh tế. Đảng ta chủ trương tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển và trong suốt quá trình phát triển. Do đó mỗi chính sách kinh tế đều nhằm mục tiêu phát triển xã hội và mỗi chính sách xã hội đều bao chứa nội dung kinh tế dù trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hay lâu dài. Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với thực tế là tăng trưởng kinh tế cao đã đi liền với sự gia tăng chênh lệch về phát triển và bất bình đẳng. Khi chuyển từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường, sự gia tăng chênh lệch phát triển là cần thiết, xét về mặt tạo động lực phát triển và tạo lập cơ chế cạnh tranh. (Khác với cơ chế phân phối bình quân trước kia). Tuy nhiên, cần kiểm soát sự
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 10

gia tăng chênh lệch phát triển không để dẫn đến bất ổn xã hội. Trong kinh tế thị trường, một bộ phận dân cư giàu lên nhanh chóng nhờ biết cách tổ chức sản xuất, kinh doanh hiệu quả, làm ăn đúng pháp luật, có nguồn thu hợp pháp. Cần ủng hộ, khuyến khích, nêu gương tầng lớp giàu có chân chính này. Đối với những kẻ giàu lên nhanh chóng do làm ăn phi pháp, tham ô, tham nhũng, buôn lậu... cần có biện pháp răn đe, giáo dục và trừng trị thích đáng. Giải pháp đổi mới hoàn thiện cơ chế, chính sách giảm bớt, tiến tới loại bỏ những khe hở cho tham nhũng, buôn lậu cần đi đôi với các biện pháp giáo dục luật pháp, giám sát, phát hiện và xử lý kiên quyết những kẻ làm trái pháp luật. Mục tiêu tốt đẹp của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là xây dựng một xã hội có nhiều người giàu, không có người nghèo đói hoặc có người nghèo nhưng được xã hội trợ giúp, quan tâm. Chương trình xóa đói giảm nghèo của nước ta trong những năm qua đạt được những kết quả cực kỳ ấn tượng. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa-hiện đại hóa, nói cho cùng, vì sự phát triển của con người và góp phần thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Tăng trưởng kinh tế cao là cơ sở để thực hiện các chính sách xã hội, tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được tiếp cận với các loại cơ hội chủ yếu như cơ hội có việc làm và thu nhập; cơ hội được chăm sóc sức khỏe; cơ hội được học tập và đào tạo; cơ hội được tham gia vào quá trình dân chủ hóa đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước... Mở rộng cơ hội và nâng cao năng lực lựa chọn cơ hội phát triển cho mọi người để họ từng bước có cuộc sống khá giả và giàu có về vật chất và văn hóa tinh thần là nét đặc trưng thuộc về bản chất của sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. -Nâng cao vai trò của Nhà nước do Đảng lãnh đạo Nội dung không kém phần quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta là phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 11

Đảng. Sự khác biệt về bản chất của Nhà nước ta và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình phát triển là tiền đề cho sự khác biệt giữa mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta với mô hình kinh tế thị trường của các nước khác. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta là vấn đề có tính nguyên tắc nhằm tăng cường sự tác động của yếu tố chính trị xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường chính là nhằm kết hợp tính định hướng và cân đối của kế hoạch với tính năng động và nhạy cảm của thị trường, khắc phục dần tình trạng cạnh tranh vô chính phủ, độc quyền đã từng tồn tại trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Nhiều người đặt vấn đề, vì sao đã chuyển sang kinh tế thị trường mà thời gian qua, nhà nước vẫn thực thi các biện pháp hành chính trong việc huy động và phân bổ các nguồn lực, duy trì cơ chế "xin-cho", cấp phát...? Điều này được lý giải, hiện nay cơ chế thị trường của ta chưa hoàn thiện, các loại thị trường yếu tố mới hình thành sơ khai, do vậy nhà nước không thể không làm những việc mà đáng ra là của thị trường. Một khi thị trường đã phát triển và hoàn thiện, thì nhà nước có thể tập trung làm tốt những việc của mình trong vai trò người cầm lái, người trọng tài, người hỗ trợ. Chức năng của nhà nước trong quản lý kinh tế thị trường ở nước ta là định hướng phát triển bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc của thị trường; tạo môi trường pháp lý và cơ chế chính sách thuận lợi để phát huy mọi nguồn lực xã hội cho phát triển, các chủ thể hoạt động kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, có trật tự, kỷ cương. Nhà nước tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế chính sách và các công cụ kinh tế, sử dụng kịp thời có hiệu quả một số biện pháp cần thiết khi thị trường trong nước hoạt động không hiệu quả hoặc khi thị trường thế giới, khu vực có biến động lớn. Thực hiện quản lý nhà
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 12

nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường, tách chức năng quản lý hành chính của Nhà nước khỏi chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, tách hệ thống hành chính công khỏi cơ quan hành chính sự nghiệp, xóa bỏ "chế độ chủ quản"... Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta đã được cụ thể hóa bằng một hệ thống luật và pháp lệnh, tạo khung khổ pháp lý ban đầu cho các yếu tố thị trường hình thành và vận hành từng bước. Nhà nước đã thể chế hóa thành cơ chế chính sách về đất đai, tín dụng, ưu đãi thuế... góp phần tích cực cho quá trình phát triển kinh tế thị trường trong 20 năm qua. Nhà nước cũng đã từng bước tách chức năng quản lý nhà nước về kinh tế của các cơ quan nhà nước, chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước của Nhà nước và chức năng kinh doanh của doanh nghiệp, chuyển từ quản lý cụ thể các hoạt động của nền kinh tế sang quản lý tổng thể nền kinh tế quốc dân, chuyển từ can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế sang can thiệp gián tiếp thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô khác. Vấn đề đặt ra hiện nay là nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, kiện toàn bộ máy nhà nước vững mạnh, trong sạch, có hiệu lực, hiệu quả, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước vừa có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, vừa có giác ngộ về chính trị, tinh thần trách nhiệm, công tâm, tận tụy với công việc, có đạo đức lối sống trong sạch lành mạnh, đồng thời tiến hành đấu tranh kiên quyết và có hiệu quả với tệ nạn tham nhũng trong bộ máy Nhà nước. Cần khẳng định sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường không hề mâu thuẫn hay cản trở kinh tế thị trường phát triển mà ngược lại tính chính trị, tính định hướng thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển, hạn chế sự bất công, bóc lột, chăm lo và bảo vệ lợi ích đại đa số người lao động. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phương
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 13

thức phát triển mới mà Đảng ta lựa chọn để đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Nền kinh tế đó mới đang hình thành và phát triển, còn đang bộc lộ nhiều khó khăn, yếu kém, cần được khắc phục, hoàn thiện. Đưa con thuyền kinh tế thị trường ra khơi, chúng ta biết phía trước không chỉ có sóng yên biển lặng mà có cả sóng to gió lớn. Để đưa con thuyền kinh tế thị trường về đích - chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải kiên trì hướng đi và đòi hỏi tay lái luôn vững vàng Đảng ta đã nhiều lần khẳng định, phải kiên quyết đổi mới vì "đổi mới là sống còn", nhưng phải làm từng bước vững chắc, thận trọng, có nguyên tắc, luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và không xa rời mục tiêu.. Phúc Nguyên

http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 14

Thế trận tổng lực các thành phần kinh tế
Chưa bao giờ trên đất nước ta lại có cuộc ra quân hào hùng đến như vậy của tất cả các thành phần kinh tế. Bằng chính cảm nhận từ thực tiễn hằng ngày, có thể thấy những sản phẩm và dịch vụ ngày càng phong phú, gần hơn với nhu cầu cuộc sống. Nếu có nhu cầu cho dù là khá riêng tư, tinh tế thì doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã hoặc tư nhân sẽ có sản phẩm, dịch vụ đáp ứng khá kịp thời. Người tiêu dùng có thể lựa chọn những gì phù hợp với khả năng tài chính, thói quen, ý thích của mình và gia đình. Và chỉ sau một thời gian ngắn, các sản phẩm và dịch vụ ấy được hoàn thiện, đưa đến người tiêu dùng bởi các cách thức khuyến mãi, của nhiều loại doanh nghiệp khác nhau. Điều này mươi, hai mươi năm trước nằm mơ cũng không có. Ấy là đối với cuộc sống thường ngày. Còn với nền kinh tế quốc gia, cơ cấu thành phần kinh tế chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng và đan xen nhiều hình thức sở hữu của nhiều thành phần kinh tế. Khu vực kinh tế nhà nước đang được tổ chức lại, đổi mới, sắp xếp, nâng cao chất lượng và hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt, tập trung hơn vào những lĩnh vực chủ yếu. Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, trong đó kinh tế hợp tác và hợp tác xã phát triển khá đa dạng. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thương quốc tế…Những kết quả đó góp phần quan trọng vào thành tựu đưa nền kinh tế vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và phát triển tương đối toàn diện. Đó là bằng chứng sinh động của quá trình liên tục đổi mới tư duy: Ngay từ ại hội VI, ảng ta đã chủ trương "phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần". Qua mỗi kỳ ại hội, chủ trương đó lại được đánh giá khẳng định lại và bổ sung, hoàn thiện, cụ thể
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 15

hóa hơn. ến ại hội X, một trong những bài học của thành tựu đổi mới được khẳng định: iều có ý nghĩa quyết định là phải có chính sách phù hợp để phát huy tối đa khả năng về vật chất, trí tuệ và tinh thần của mọi người dân, của các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân - một nguồn lực giàu tiềm năng của dân tộc ta - để góp phần quan trọng giải quyết việc làm, đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế- xã hội. Mặc dù vậy, dễ nhận thấy rằng các thành phần kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Có thể đó là cái cớ cho những ý kiến rằng không thể đi lên chủ nghĩa xã hội bằng một nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần mà chỉ có thể bằng nền kinh tế đặc thù của chủ nghĩa xã hội, với hai thành phần chủ lực là quốc doanh và tập thể…Loại ý kiến này là cũ kỹ nhưng nó vẫn tồn tại dai dẳng vì đánh thẳng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nếu không tiếp tục khẳng định rõ con đường đi lên thì dễ dẫn đến sự chệch hướng, chông chênh quan điểm từ tả sang hữu hoặc ngược lại, từ hữu sang tả, là mầm mống của sự thất bại. Có lẽ, bất kỳ ai trên đất nước này, kể cả bạn bè quốc tế hiểu rõ tình hình thì cũng hiểu rằng Việt Nam đi lên Chủ nghĩa xã hội từ một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, xã hội tiền tư bản, có những yếu tố giai đoạn đầu tư bản chủ nghĩa với nền sản xuất nhỏ là phổ biến, bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa. Từ điểm xuất phát này mà nội dung, hình thức, bước đi và thời gian đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta có đặc điểm riêng. Chúng ta phải thực hiện kiểu "quá độ gián tiếp" lên Chủ nghĩa xã hội với nhiều khâu trung gian, bước quá độ, hình thức tổ chức kinh tế - xã hội có tính chất quá độ, đan xen nhau. ó là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, với nhiều chặng đường. Cương lĩnh năm 1991 nêu 7 phương hướng cơ bản chỉ đạo quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nhờ thực tiễn 20 năm đổi mới, ảng ta đã bổ sung, phát triển, cụ thể hóa những phương hướng đó. ại hội Đảng X khẳng định: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất sáng tạo của ảng ta, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt . Trong đó,
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 16

có việc phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Như vậy thì không cần bàn cãi gì thêm nữa về sự phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần trên con đường đi lên. Chúng ta đồng tình với Nghị quyết ại hội Đảng X, rằng: Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh. Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Vai trò của kinh tế nhà nước thể hiện chủ yếu thông qua doanh nghiệp quốc doanh. Đây là một điểm nóng mà lắm ý kiến chĩa mũi dùi vào để nêu ý kiến rằng, không nên xác định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, nó không đủ sức đảm đương vai trò đó lại tạo sự không bình đẳng cùng cạnh tranh không lành mạnh với các thành phần kinh tế khác. Dù còn nhiều ý kiến chê bai nhưng thực tiễn đã khẳng định rằng kinh tế nhà nước đã, đang và sẽ tiếp tục được đổi mới, phát huy vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế, bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta. Trong giai đoạn 2001-2005, kinh tế nhà nước luôn chiếm tỷ trọng và có tốc
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 17

độ tăng trưởng cao trong cơ cấu và tốc độ tăng trưởng được tính theo thành phần kinh tế. Năm 2005, doanh nghiệp nhà nước đóng góp 39% GDP và một nửa tổng ngân sách nhà nước. Do đó, phải tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước, theo hướng hình thành loại hình công ty nhà nước đa sở hữu, chủ yếu là các công ty cổ phần. Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối. ẩy mạnh và mở rộng diện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, kể cả các tổng công ty, nhằm tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, để vốn nhà nước được sử dụng có hiệu quả và ngày càng tăng lên, đồng thời thu hút mạnh các nguồn lực trong, ngoài nước cho phát triển. Thu hẹp tối đa diện Nhà nước độc quyền kinh doanh, xóa bỏ đặc quyền kinh doanh của doanh nghiệp. Cũng không ít người phủ nhận vai trò của kinh tế tập thể, trong đó có hợp tác xã và tổ hợp tác. Cái ấn tượng về mô hình kinh tế tập thể thời bao cấp còn ám ảnh về một kiểu tổ chức sản xuất không kinh doanh mang lợi, khép kín, “góp gạo nấu cơm chung” còn dai dẳng đến ngày nay. Rồi lại qua bước trầm suốt thời gian qua, khiến một số người cho rằng không nên để tồn tại loại hình này. Thế nhưng họ cũng không đủ cơ sở để bác bỏ thành phần kinh tế tập thể. Bởi vì, về cả lý luận và thực tiễn, hợp tác xã và tổ hợp tác vẫn là những hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh chủ yếu của kinh tế tập thể, không chỉ từng phát huy vai trò quan trọng trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở nước ta mà đã và sẽ tiếp tục có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường, nhất là ở khu vực nông thôn. Chúng ta thừa nhận còn những bất cập của mô hình hợp tác xã và tổ hợp tác trong cơ chế thị trường, song không vì vậy mà xoá bỏ hoặc mặc nó tồn tại một cách tự phát. Không còn nghi ngờ gì nữa, hợp tác xã là hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh thực thụ, phù hợp và trở thành một bộ phận của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Còn
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 18

trong thực tế thì sao? Có thể trả lời như sau: Hàng loạt hợp tác xã, tổ hợp tác kiểu cũ đã được chuyển đổi thành hợp tác xã, tổ hợp tác kiểu mới, đứng vững và phát triển trong kinh tế thị trường, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp phát triển đất nước. Nó đã chứng tỏ được rõ hơn vai trò, vị trí đối với kinh tế hộ trong sản xuất hàng hoá và đang có chiều hướng phục hồi. Năm 2005, kinh tế tập thể đã đóng góp 8% GDP. Thời gian tới, cần tiếp tục đổi mới, tạo động lực phát triển có hiệu quả các loại hình kinh tế tập thể. Đổi mới chính sách để khuyến khích, thúc đẩy phát triển mạnh các loại hình kinh tế tập thể với những hình thức hợp tác đa dạng, tự nguyện, đáp ứng nhu cầu của các thành viên, phù hợp với trình độ phát triển của các ngành, nghề, trên các địa bàn. Tiếp tục nghiên cứu xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới trên cơ sở tổng kết các đơn vị làm tốt để tăng sức hấp dẫn, tạo động lực cho kinh tế tập thể, nhất là đối với nông nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp. a dạng hóa hình thức sở hữu trong kinh tế tập thể (có sở hữu pháp nhân, thể nhân). Phát triển các loại hình doanh nghiệp trong hợp tác xã và các hình thức liên hiệp hợp tác xã. Có ý kiến cho rằng cần tư nhân hoá hoạt động kinh tế, chỉ có kinh tế tư nhân là đủ khả năng thúc đẩy nền kinh tế vươn lên hội nhập và phát triển đất nước. Không thể phát triển trong thời kỳ mới nếu không tư nhân hoá mạnh mẽ nền kinh tế…Câu trả lời của chúng ta là không coi nhẹ nhưng cũng không tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân. Đó là một thành phần kinh tế năng động, có hiệu quả đáng kể đối với sự phát triển của xã hội nói chung và nền kinh tế nói riêng. Đảng ta khẳng định: Tiếp tục phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân. Ông Giô - na - than Pin - cớt chuyên gia của Chương trình phát triển Liên hợp quốc tại Việt đánh giá: Báo cáo Chính trị đề cập việc đảng viên làm kinh tế tư nhân là một thông điệp cho thấy Đảng Cộng sản Việt rất cởi mở. Đó cũng là một bước tiến nữa tiến tới chế độ pháp quyền, theo đó tất cả mọi người, không kể đảng viên hay không phải là đảng viên, đều phải tuân thủ pháp luật. Nhiều người khác cũng hoan nghênh chủ trương này. Đó
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 19

cũng là điểm rất mới trong xây dựng ảng. Nhưng lại nảy sinh băn khoăn trong chính cán bộ, đảng viên và nhân dân ta là: Làm như vậy sẽ có thể dẫn đến sự tha hóa, biến chất trong ảng? Sự phát triển của kinh tế tư nhân tất yếu tích tụ những nguy cơ chệch hướng sang tư bản chủ nghĩa… Cần phải thấy rằng, ảng ta không coi kinh tế tư nhân gắn với chủ nghĩa tư bản, mà lãnh đạo kinh tế tư nhân phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quyết định cho đảng viên làm kinh tế tư nhân, nhưng phải gương mẫu chấp hành luật pháp, chính sách của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành iều lệ ảng và quy định của Ban Chấp hành Trung ương là đúng đắn và sáng suốt. Nhờ vậy mà vừa phát huy khả năng làm kinh tế của đảng viên vừa giữ được tư cách của đảng viên, không làm biến chất ảng. Chế tài cũng đề ra rõ ràng, minh bạch: Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải là những người không thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh công chức và Luật Phòng, chống tham nhũng; đảng viên không ở trong biên chế của hệ thống chính trị, không tại ngũ quân đội và công an. Họ cũng phải trực tiếp tham gia lao động: lao động chân tay, lao động quản lý, lao động điều hành sản xuất, lao động kỹ thuật ở doanh nghiệp do đảng viên làm chủ... Nhưng ngay từ khi Đảng ta chưa cho đảng viên làm kinh tế tư nhân thì thành phần kinh tế này đã được khuyến khích phát triển mạnh, nhất là sau khi có Luật doanh nghiệp năm 2000. Sau gần 5 năm, cả nước có gần 108.300 doanh nghiệp mới đăng ký, đưa tổng số doanh nghiệp đăng ký lên khoảng 150.000, tăng gấp gần 2 lần so với 9 năm trước (1991-1999). Chỉ trong một thời gian không dài, đến nay lao động làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp tư nhân gần bằng tổng số lao động trong các doanh nghiệp nhà nước. Họ đang tích cực sản xuất, kinh doanh, đem lại việc làm và thu nhập cho mình và xã hội, tạo sức sống mới cho toàn bộ nền kinh tế. Năm 2005, kinh tế tư nhân đã đóng góp 37,7% GDP, tốc độ tăng GDP luôn cao nhất so với các thành phần kinh tế khác. Trong thời gian tới, Nhà nước tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho các loại hình kinh tế tư nhân đầu tư phát triển theo quy định của
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 20

pháp luật, không hạn chế về quy mô, ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn. Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử; bảo đảm thực sự bình đẳng, tạo thuận lợi để các doanh nghiệp tư nhân, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ kinh doanh được tiếp cận các nguồn vốn tại các tổ chức tín dụng của Nhà nước, kể cả quỹ hỗ trợ phát triển; được đáp ứng thuận lợi nhu cầu sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh. Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp lớn của tư nhân, các tập đoàn kinh tế tư nhân có nhiều chủ sở hữu với hình thức công ty cổ phần. Tổng kết và có chính sách, giải pháp thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển. Theo tinh thần đổi mới, cuộc ra quân tổng lực của các thành phần kinh tế được triển khai mạnh mẽ, tạo nên sự bứt phá của nền kinh tế tiến nhanh vào thời kỳ mới. Không chỉ đơn thuần mang lại cơm áo gạo tiền nhiều hơn, cuộc tiến quân này tạo thêm thế và lực cho đất nước thoát khỏi tình trạng của một nước kém phát triển, hoà chung bướ tiến thời đại, đưa dân tộc ta: sánh vai với các cường quốc năm châu, như lời dặn của Bác Hồ, cũng là ý Đảng-lòng dân Việt Nam. Việt Ân

http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 21

Nhiệm vụ then chốt
Hơn 70 năm qua, kể từ ngày thành lập, chưa bao giờ công tác xây dựng Đảng lại trở nên cấp thiết, được sự quan tâm rộng rãi của toàn Đảng, toàn dân với một tinh thần trách nhiệm cao như trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Báo cáo Chính trị tại Đại hội khẳng định xây dựng Đảng "là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của dân tộc". Khác với các kỳ Đại hội trước, tai Đại hội X, về công tác xây dựng Đảng ngoài kiểm điểm, đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, Báo cáo còn tổng kết những bài học kinh nghiệm chủ yếu qua 20 năm đổi mới. Đây là lần đầu tiên Đảng ta nhìn lại toàn diện chặng đường đổi mới đã qua, rút ra nhiều bài học bổ ích, mà thành tựu nổi bật là trong bối cảnh giữa những năm tám mươi của Thế kỷ trước, tình hình thế giới và trong nước hết sức phức tạp, khó khăn, nhưng Đảng ta đã khởi xướng, lãnh đạo thắng lợi công cuộc đổi mới, từng bước đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế. Đất nước càng đổi mới thì nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH càng sáng tỏ hơn và những giá trị tốt đẹp của CNXH càng được khẳng định, như ổn định chính trị; xoá đói giảm nghèo; phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đạt được thành tựu quan trọng đó chính là do Đảng ta đã giữ vững lập trường, quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội (CNXH) trong hoạch định xây dựng đường lối đổi mới toàn diện đất nước; thực hiện "đổi mới nhưng không đổi màu"; đổi mới xuất phát từ đặc điểm, tình hình đất nước, từ quyền lợi, nguyện vọng của nhân dân. Nhất là bằng phương pháp luận "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật", Đại hội Đảng VI - Đại hội khởi xướng sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước - đã phân tích, đánh giá tình hình, "mổ xẻ" thực tiễn, tìm ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, sai lầm, khuyết điểm, kể cả khuyết điểm, sai lầm trong nhận thức, trong
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 22

thực hiện Nghị quyết, làm cơ sở đúng cho công tác xây dựng Đảng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, khẳng định phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Đây là bước đổi mới tư duy lý luận chính trị quan trọng của Đảng, làm cơ sở cho đổi mới công tác tổ chức - cán bộ; đổi mới phong cách công tác. Đại hội VI đã thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót của Đảng trong bố trí cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, phân phối lưu thông, cải tạo XHCN… Đảng dũng cảm nhận, đó "là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện", mà "bắt nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng". Tưởng như phân tích, công khai những thiếu sót khuyết điểm thì dân mất niềm tin vào Đảng. Nhưng ngược lại, hàng triệu đảng viên chân chính và đồng bào cả nước lại càng hiểu Đảng hơn, tin yêu Đảng hơn, đoàn kết chặt chẽ với BCH Trung ương hơn. Còn kẻ thù thì run sợ, tiên lượng thấy sức mạnh của một chính Đảng khi dám nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật. Đây là bài học còn nguyên giá trị, mang tính thời sự cho hôm nay trong quán triệt, học tập, vận dụng đưa Nghị quyết Đại hội X của Đảng vào cuộc sống. Hiện thực khách quan được Đảng nhìn nhận, đánh giá đúng, đã đem lại luồng sinh khí mới trong toàn xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên. Đó là Nghị quyết về phân phối lưu thông, bỏ "ngăn sông cấm chợ"; là Nghị quyết về "khoán 10" thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhanh, toàn diện; là lập lại trật tự kỷ cương, giữ ổn định chính trị, xã hội; là làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức Đảng; đổi mới quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, với phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"… Cũng từ bài học rút ra về công tác xây dựng Đảng cho thấy sau 20 năm đổi mới, Đảng ta đã có bước nhận thức đúng đắn hơn về Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là con đường đi lên CNXH hoàn toàn không phải là con đường bằng
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 23

phẳng, dễ dàng, không thể chủ quan, nóng vội, xa rời thực tế, áp đặt một cách máy móc kinh nghiệm của những nước khác, cho dù đối với nước đó là đúng. Đảng cũng đã cơ bản khắc phục được những suy nghĩ duy ý chí còn sót lại trong nhận thức ở bộ phận này, bộ phận kia, đòi có ngay một hình thái kinh tế - xã hội của CNXH trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, thiếu thốn như nước ta. Và Đảng cũng ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về vị trí của công tác xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, phải đặc biệt đề phòng sự suy thoái, cửa quyền, mất dân chủ trong Đảng; Đảng phải tự đổi mới, đủ phẩm chất và năng lực mới không bị mất độc quyền lãnh đạo của mình… Hàng loạt chủ trương, đường lối chính sách đúng của Đảng đã được toàn Đảng, toàn dân ủng hộ, tạo nên sự đồng thuận trong xã hội, phát huy tài năng, khuyến khích mọi người hăng hái lao động sản xuất. Số đông tổ chức Đảng, đảng viên trung kiên đầu tàu gương mẫu, đặc biệt là trên mặt trận Quốc phòng, an ninh, luôn luôn là điểm tựa, chỗ dựa tin cậy nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân cả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta cũng kiên trì sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm, kiên quyết đấu tranh loại trừ ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hoá biến chất, tham ô, tham nhũng làm mất thanh danh, uy tín của Đảng, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Có nhiều tổ chức Đảng, đảng viên nổi lên như là "điểm sáng" trong thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, trong đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, như ở thành phố Đà Nẵng, xã An Đồng (Thái Bình)… Các đồng chí đảng viên, cựu chiến binh chống tiêu cực bảo vệ rừng Tánh Linh (Bình Thuận), Đồ Sơn (TP Hải Phòng), Xí nghiệp dược (Bô Y tế)...những đảng viên là Bộ đội Biên phòng, Công an trên mặt trận chống tệ nạn xã hội, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình để giành lại cuộc sống bình yên cho nhân dân… Tuy nhiên, Đảng cũng nghiêm khắc kiểm điểm, chỉ ra những hạn chê,ë thiếu sót cả trong nhận thức và thực tiễn. Văn kiện Đại hội Đảng X đã chỉ ra: "Nổi lên là năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng còn nhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; chậm làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội ở nước ta, về sự lãnh đạo của Đảng với công tác xây dựng Đảng…
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 24

tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu" Nhất là "nguy cơ tham nhũng, quan liêu đã nổi lên như một mối đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ". Những yếu kém khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng tác động lẫn nhau, đan xen nhau hết sức phức tạp vừa cản trở công cuộc đổi mới, vừa làm mất lòng tin nghiêm trọng trong nhân dân. Đúng như tổng kết của Đảng trong Văn kiện Đại hội X nhận định: Nếu như những thành tựu đổi mới đã làm hạn chế tác động tiêu cực của "bốn nguy cơ" thì ngược lại, những thiếu sót khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng lại làm cho "bốn nguy cơ" đó trở nên phức tạp hơn! Các văn kiện về xây dựng Đảng cũng tập trung giải đáp câu hỏi: Tại sao Đảng ta lãnh đạo công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế đất nước 20 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà công tác xây dựng Đảng - nhiệm vụ được xác định là then chốt - lại còn nhiều yếu kém? Tại sao trước đây đất nước còn nhiều khó khăn, dân "bữa no, bữa đói" thì đảng viên lại lặn lội với phong trào, bám sát quần chúng? Nguyên nhân của mọi nguyên nhân là Chủ nghĩa cá nhân trong Đảng chưa được đẩy lùi, trong khi trách nhiệm với tập thể, tinh thần "mình vì mọi người" lại sút giảm; một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đi ngược lại với phẩm chất của người đảng viên, phai nhạt lý tưởng, thoái hóa biến chất, nói không đi đôi với làm. Văn kiện Đại hội X nghiêm khắc chỉ ra: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt, yếu kém về phẩm chất và năng lực, vừa thiếu tính tiền phong, gương mẫu, vừa không đủ trình độ hoàn thành nhiệm vụ…" Đó là cán bộ, đảng viên, còn tổ chức Đảng, nhất là cấp cơ sở thì cũng không ít nơi rệu rã, sinh hoạt hình thức, mất dân chủ và thủ tiêu đấu tranh, "thậm chí có những tổ chức cơ sở Đảng tê liệt, mất sức chiến đấu…". Chính vì tổ chức Đảng yếu kém nên đã không quản lý được đảng viên. Có cơ sở để khẳng định rằng hầu hết những cán bộ đảng viên bị khởi tố trong thời gian qua, trước khi bị pháp luật xử lý, đều là cán bộ đảng viên được tổ chức Đảng xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vu, mặc dù thời gian thực hiện hành vi phạm tội khá dài. Và hành vi phạm tội của những đảng viên đó cũng không do tổ chức Đảng trực tiếp quản lý phát giác. Một tổ
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 25

chức Đảng vững mạnh thì tình hình phải là ngược lại… Nếu như tại Đại hội Đảng VI, yếu kém được chỉ ra là trong hoạch định đường lối phát triển kinh tế; trong tư duy xây dựng đất nước thì những hạn chế được chỉ ra ở Đại hội X chính là tình trạng sa sút phẩm chất đảng viên trong Đảng. Và đây cũng là kẻ thù nguy hiểm nhất đang thách đố vai trò lãnh đạo của Đảng. Hạn chế của công tác tư tưởng trong những năm qua là chưa tuyên truyền cho toàn Đảng, toàn dân nhận mặt đầy đủ kẻ thù nguy hiểm nhất đó của Đảng. Thậm chí còn có luồng ý kiến rất sai lầm cho rằng, tham nhũng là khó loại trừ, là "chất nhờn" rà trơn tổ chức lãnh đạo Đảng ở cơ sở (!). Nghị quyết Đại hội X cũng đã đề ra 9 nhiệm vụ và giải pháp lớn trong công tác xây dựng Đảng của nhiệm kỳ tới. Nhưng thực tiễn cho thấy để thực hiện được, nhất là chống suy thoái trong Đảng còn đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của toàn Đảng, toàn dân. Bởi lẽ, đây không phải là lần đầu tiên những hạn chế, yếu kém của Đảng được chỉ ra mà nó đã được phê phán, cảnh báo ngay từ Đại hội Đảng VI (1986). Thậm chí, ở nhiệm kỳ Đại hội VIII, Đảng ta đã từng đề ra riêng một Nghị quyết lãnh đạo chuyên đề - Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhưng kết quả thì "chưa đạt yêu cầu đề ra, chưa tạo được chuyển biến cơ bản, chưa góp phần tích cực ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu". (Báo cáo công tác xây dựng Đảng Đại hội X). Phải nói rằng đấu tranh với những tha hóa, biến chất trong Đảng là một mặt trận vô cùng khó khăn và phức tạp, khó khăn phức tạp hơn rất nhiều trên các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế, xã hội. Vì đây là cuộc đấu tranh với chính mình, với chính đồng chí, đồng đội mình, cuộc chiến với "giặc nội xâm", trong khi "đồng tiền và quyền lực" lại có sức cám dỗ, quyến rũ như một thứ thuốc nghiện…Ví dụ như, năm 1986 Đảng ta phát hiện sai lầm trong đường lối kinh tế dẫn đến "ngăn sông, cấm chợ" chia cắt thị trường, thì ngay lập tức những giải pháp đề ra để tháo gỡ được toàn Đảng, toàn dân đồng tình ủng hộ, tạo nên phong trào, cùng nhau "xắn tay" vào thực hiện - ý Đảng hợp với lòng dân. Còn
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 26

chống tham nhũng, tiêu cực mặc dù cũng được toàn Đảng, toàn dân đồng tình, nhưng trong số những người có điều kiện tham nhũng, tiêu cực thì chưa phải tất cả đã ủng hộ. Thậm chí, những người đã "trót nhúng chàm" còn tìm mọi cách đối phó quyết liệt, cho dù bên ngoài vẫn "lớn tiếng" ủng hộ, chấp hành Nghị quyết của Đảng. Vì chống tham nhũng, tiêu cực đồng nghĩa với loại họ ra khỏi bộ máy lãnh đạo của Đảng, loại khỏi quyền lực, mất bổng lộc… Đảng ta nhận thấy rõ điều đó, lẽ ra phải trên cơ sở phân tích biện chứng đó để có biện pháp xử lý tương ứng, nhưng vừa qua, các biện pháp xử lý kỷ luật của Đảng có lúc, có nơi chưa nghiêm. Nhiều trường hợp vi phạm, xử lý còn chậm, rườm rà trong thủ tục hành chính. Cá biệt có trường hợp khuyết điểm ở vị trí này, lại "bắn" sang vị trí khác, còn quan trọng hơn… Đây thực chất là kết quả của "những toan tính cá nhân", những quan hệ giằng dịt thiếu trong sáng, chứ không có cơ quan quản lý, tổ chức cán bộ nào của Đảng lại chỉ đạo đưa cán bộ kỷ luật ở nơi này, sang nơi khác; lại chỉ đạo đề bạt bổ nhiệm, đưa vào "nguồn" cả cán bộ có đơn kiện cáo, phẩm chất yếu kém…Đúng như kiểm điểm của Đảng đã chỉ ra: "vẫn còn tình trạng "chạy chức", "chạy quyền", "chạy tội", "chạy bằng cấp". Một nguyên nhân nữa là trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm người đứng đầu không được xác định rõ, mọi khuyết điểm, yếu kém đều đổ lỗi cho tập thể. Đây là vấn đề Đại hội Đảng X nghiêm khắc chỉ ra để khắc phục.
*

Sau 20 năm đổi mới, chưa bao giờ thời cơ, vận hội dân tộc lại lớn như hiện nay. Có ý kiến nhận định là "thời cơ vàng". Thời cơ, vận hội của dân tộc cũng chính là thời cơ, vận hội của Đảng. Cách mạng là đổi mới. Con tàu đổi mới đang tiến về phía trước, hợp với xu thế thời đại, bằng tốc lực thắng lợi thần thánh của các cuộc kháng chiến trường kỳ; bằng tốc lực "thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử" của 20 năm đổi mới... Đảng ta là Đảng cầm quyền, Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới và hiện nay Đảng ta tiếp tục lãnh đạo công cuộc đổi mới. Nhưng cũng chính vì thế mà lịch sử đòi hỏi Đảng phải tự đổi mới mình để đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng với yêu cầu của công cuộc đổi mới. Và đương nhiên, trước hết Đảng ta phải "tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, hoàn thiện đường lối đổi mới, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện…", nhất là cần cụ thể hóa cương lĩnh, đường lối,
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

*

*

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 27

chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc nhằm gắn kết chặt chẽ và đồng bộ các nhiệm vụ, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội. Văn kiện Đại hội Đảng X cũng chỉ ra nhiệm vụ của Đảng "phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc… chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc đổi mới vô nguyên tắc, chủ quan, nóng vội"… Nhất là Đảng phải khắc phục bằng được sự sa sút phẩm chất của một bộ phận trong Đảng thì Đảng mới phát triển được. Đảng là "lực lượng tinh hoa nhất của dân tộc". Tôn chỉ, mục đích trước sau như một của Đảng là: Đảng không có lợi ích gì khác ngoài lợi ích của giai cấp, của dân tộc và của nhân dân. Hơn bao giờ hết, lúc này Đảng phải nhìn thẳng vào sự thật để "bốc thuốc" chữa căn bệnh thoái hoá trong Đảng. Lê-nin cũng căn dặn: "Chúng ta (Đảng) phải cải tiến bộ máy của chúng ta, thành một cơ quan thực sự gương mẫu" (Bàn về kiểm kê kiểm soát, tr 204, NXB Chính trị quốc gia, 1998)…Văn kiện của Đảng cũng chỉ ra phải chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng. Đã đến lúc, bằng thực tiễn, Đảng phải khẳng định được cán bộ cấp cao, cơ quan cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ không có biểu hiện suy thoái, không tham nhũng tiêu cực, tiến tới làm trong sạch cán bộ đảng viên chủ chốt cấp Bộ, cấp tỉnh, ngành… làm thường xuyên, làm liên tục, từng bước "cuốn chiếu" đến từng đảng viên ở cơ sở, thì nhất định tham nhũng tiêu cực sẽ được từng bước đẩy lùi, lòng tin của nhân dân với Đảng ngày càng được củng cố và tăng cường. Nghị quyết Đại hội Đảng X đã chỉ rõ: "Xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai theo kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với những cán bộ và công chức tham nhũng, bao che cho tham nhũng, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của nhân dân, dù người đó ở chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu. Tịch thu tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng…" Làm được như thế mới hạn chế được thất thoát, mới ngăn chặn được tình trạng chạy án, mới giúp được cơ quan chức năng điều tra khách quan,
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 28

mới tạo điều kiện cho cấp dưới và nhân dân mạnh dạn đấu tranh… Với tinh thần lấy phòng ngừa là chính, đi đôi với "chống", Đảng ta phải rất coi trọng "xây", kịp thời biểu dương khuyến khích, phát động học tập, nhân rộng những tập thể, cá nhân điển hình gương mẫu, chấp hành kỷ luật Đảng, dũng cảm đấu tranh và có những cách làm tốt nhằm phát huy dân chủ, chống tham nhũng tiêu cực. Đây là một trong những nhiệm vụ mà có lúc chưa được coi trọng đúng mức. Đảng phải chọn được đội ngũâ những người làm công tác cán bộ từ Trung ương đến cơ sở vừa cóá tâm, vừa có tầm, đủ đức, đủ tài để tham mưu cho Đảng bổ nhiệm, đề bạt được những cán bộ, đảng viên có đức, có tài vào nắm giữ các cương vị lãnh đạo của Đảng và kịp thời đưa ra khỏi tổ chức những đảng viên thoái hoá, biến chất. Đề cập về đổi mới công tác cán bộ trong nhiệm kỳ Đại hội X, Đảng ta đã khẳng định "Nhiệm vụ quan trọng nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược và người đứng đầu tổ chức các cấp, các ngành của hệ thống chính trị…" Một điểm nhấn mới trong tư tưởng chỉ đạo của Đảng là tăng cường vai trò giám sát, phản biện của nhân dân và các tổ chức xã hội đối với các hoạt động của Đảng, để công tác xây dựng Đảng không chỉ là nhiệm vụ của Đảng mà còn là của toàn dân. Và khi được toàn dân tham gia xây dựng Đảng thì nhất định những suy thoái trong Đảng sẽ được khắc phục, như trong Diễn văn bế mạc Đại hội X, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nhấn mạnh: "Chúng ta nhất quyết tạo nên một sự chuyển biến rõ rệt và đạt tới chất lượng cao hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ then chốt xây dựng Đảng, làm cho Đảng ta luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam…". Huy Thiêm

http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 29

Phát triển văn hoá-nền tảng tinh thần của xã hội
Phát triển văn hoá- nền tảng tinh thần của xã hội là một nội dung quan trọng được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X nêu lên trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn 2006-2010. Nội dung trên vừa thể hiện sự tổng kết khái quát nhất qui luật sinh tồn và phát triển của dân tộc ta trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, vừa mang ý nghĩa thời sự trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay... Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X còn khẳng định vai trò, vị trí của phát triển văn hoá trong mối quan hệ của các nhiệm vụ trọng tâm: "Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hoá- nền tảng tinh thần của xã hội".

Nền tảng tinh thần của xã hội Nền tảng tinh thần là yếu tố cơ bản nhất quyết định số phận của dân tộc ta trước những thử thách nghiệt ngã, sống còn của các cuộc chiến tranh xâm lược cũng như trước các biến cố nội tại lớn lao có tính cách mạng. Nền tảng tinh thần với những giá trị văn hoá tinh thần được hình thành từ sự vận động của dân tộc, ở mỗi thời kỳ lịch sử lại có những yêu cầu, sắc thái riêng cần được bồi đắp, hoàn thiện. Thời kỳ Hùng Vương dựng nước là kết quả tất yếu, là đỉnh cao của sự phát triển của các nền văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn, văn hoá Đông Sơn, văn hoá Sông Hồng. Thời kỳ dựng nước đầu tiên ấy lại tạo nên tiền đề cơ bản cho công cuộc đấu tranh vừa chống ách nô lệ, sự đồng hoá của hàng ngàn năm Bắc thuộc, vừa tiếp nhận, học hỏi các yếu tố văn minh, tiến bộ từ bên ngoài để quật khởi giành lại độc lập tự chủ vào thế kỷ 10 và xây dựng nên các
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 30

nền văn minh Đại Việt thời Lý- Trần, Lê- Nguyễn ở các thế kỷ tiếp theo. Cũng chính nền độc lập tự chủ gắn với những nền văn minh phát triển cao đó tạo dựng, củng cố vững chắc nền tảng văn hoá tinh thần của dân tộc Việt Nam, tạo nên sức mạnh chiến thắng mọi đạo quân xâm lược trong lịch sử. Cũng chính nền tảng tinh thần với những giá trị hàng đầu là lòng yêu nước, ý chí bất khuất của dân tộc Việt Nam đã được Đảng ta khơi dậy bằng đường lối đúng đắn, tổ chức khoa học để phát huy đến cao độ cùng các nội dung mới của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa làm nên sức mạnh chưa từng có của Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Nền tảng tinh thần là cội nguồn sức mạnh để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành liên tiếp các cuộc kháng chiến thần thánh đánh thắng ba đế quốc to, giành lại trọn vẹn non sông bờ cõi, độc lập và thống nhất Tổ quốc, cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Không có nền tảng tinh thần- sức mạnh của ý chí độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội, hàng triệu, hàng triệu người con Việt không thể sẵn sàng đổ máu, hi sinh vì thắng lợi trong kháng chiến. Không có nền tảng tinh thần của cả dân tộc, không có đường lối và nghệ thuật tiến hành chiến tranh chắc thắng, biết đánh và biết giành thắng lợi từng bước tiến đến giành thắng lợi hoàn toàn. Nền tảng tinh thần, trong bất cứ hoàn cảnh lịch sử nào cũng là động lực mạnh mẽ, quí báu nhất, thiêng liêng nhất của mỗi quốc gia- dân tộc. Sau thắng lợi huy hoàng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, những sai lầm của căn bệnh chủ quan duy ý chí và tác động tiêu cực của sự duy trì quá lâu cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp cùng với những biến động trong tình hình khu vực và thế giới, nền kinh tế đất nước đã lâm vào khủng hoảng, kéo theo những khó khăn nhiều mặt trong xã hội và cuộc sống của nhân dân. Những khó khăn, trì trệ, yếu kém trong sự điều hành, quản lý
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 31

kinh tế và đời sống đã nảy sinh những suy nghĩ dao động, hoài nghi ở một số người về tương lai của đất nước. Song khát vọng và niềm tin vượt khỏi khủng hoảng, chiến thắng đói nghèo, lạc hậu vẫn cháy bỏng trong các cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân ta. Đổi mới tư duy kinh tế- xã hội phát hiện những nhân tố mới, điển hình mới, sáng kiến, cách làm mới từ cuộc sống, Đảng ta đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đổi mới- một sự nghiệp có ý nghĩa cách mạng đã diễn ra trên toàn đất nước ta hơn hai mươi năm qua là một sự nghiệp của "ý Đảng lòng Dân" hợp qui luật và đã đưa lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo nên những biến đổi sâu sắc trong mọi mặt đời sống xã hội, tạo nên những tiền đề vững chắc để đất nước ta tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã sớm khẳng định "văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội" (Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 4, khoá VII, tháng 1-1993), khẳng định vai trò động lực của văn hoá trong công cuộc Đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đến hội nghị BCH Trung ương lần thứ 5, khoá VIII (tháng 71998) đã đề cập một cách toàn diện những nội dung cốt lõi nhất của vấn đề xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc... Cùng với những Nghị quyết về xây dựng chỉnh đốn Đảng và các nghị quyết, chỉ thị liên quan khác, hệ thống các quan điểm của Đảng ta nhằm xây dựng văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội trong thời kỳ mới đã được hoàn thiện, làm cơ sở cho việc phát triển văn hoá, phát huy vai trò của văn hoá trong việc tạo nên sự đồng thuận của xã hội, phát huy tính tích cực của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đối với đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, quyết tâm đưa công cuộc đổi mới trở thành hiện thực sinh động trên khắp mọi lĩnh vực, trên mọi vùng quê hương đất nước.

http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 32

Bản lĩnh và bản sắc văn hoá Việt , con người Việt Công nghiệp hoá, hiện đại hoá thực chất là một cuộc cách mạng kinh tế- xã hội, khoa học kỹ thuật và văn hoá lớn lao và sâu sắc. Cuộc cách mạng này không chỉ làm thay đổi cơ bản phương thức làm ra của cải vật chất mà còn làm thay đổi cả lối sống dựa trên nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, phân tán. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với nền kinh tế thị trường phát triển và quá trình đô thị hoá diễn ra với tốc độ cao đã, đang và sẽ làm thay đổi bộ mặt của đất nước từ hệ thống cơ sở hạ tầng chung đến những điều kiện, cách thức làm việc, quan hệ xã hội và sinh hoạt hàng ngày. Thị trường, công nghiệp, đô thị đã và đang "tấn công" vào mỗi ngõ xóm làng quê, mọi góc phố, khu dân cư, những phương tiện và phương thức mới trong ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp xã hội đã và đang đến với mỗi gia đình, mỗi người. Cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn, nhiều phương tiện hơn. Nhiều giá trị truyền thống có thể bị thay đổi... Những đổi thay lớn và nhỏ, nhỏ đến từng chi tiết, hành vi đã diễn ra ở các nước tiến hành công nghiệp hoá trên khắp các châu lục ngoài những điều tốt đẹp trong thực tế đều dẫn đến những biến động xã hội, văn hoá to lớn, đều ít nhiều có những tác động tiêu cực, thậm chí đổ vỡ. Sự phân hoá theo hai cực giàu- nghèo, sự tác động của đồng tiền, sự phát triển của lối sống cá nhân, thực dụng, sự thay đổi và rạn nứt ngay trong gia đình, sự "bỏ rơi" người già, người ít khả năng hiểu biết, nắm bắt và xử lý thông tin... Tất cả những khả năng đó đều có thể xảy ra, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế- xã hội của một nước nghèo, hậu quả chiến tranh còn nặng nề như nước ta. Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng gắn liền với quá trình hội nhập quốc tế. Sự tác động từ bên ngoài trên nhiều hướng, nhiều lĩnh vực trong đó có văn hoá, lối sống, trong đó có cả "sự xâm lăng văn hoá"
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 33

thực tế là những nguy cơ làm mai một, nhạt nhoà bản sắc văn hoá và ở một góc độ, một chừng mực nào đó là bản lĩnh con người Việt Nam. Tất cả những khả năng trên đều là những nguy cơ, những thách thức mới đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải xây dựng, củng cố vững chắc nền tảng tinh thần của xã hội để luôn luôn làm chủ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động thực hiện hội nhập quốc tế, để văn hóa thực sự "vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế- xã hội". Kiểm điểm quá trình thực hiện đổi mới toàn diện đất nước, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đánh giá: "Hoạt động văn hoá, thông tin phát triển đa dạng hơn, góp phần nâng cao đời sống văn hoá của nhân dân, làm tăng hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phổ biến pháp luật; phong trào xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở phát triển sâu rộng hơn. Hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình được đổi mới về nội dung, tăng qui mô, mở rộng phạm vi tới vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và ra nước ngoài". Đồng thời, Báo cáo chính trị cũng nêu rõ: "Lĩnh vực văn hoá, xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc chậm được giải quyết". Cụ thể là: "Việc xây dựng nếp sống văn hoá chưa được coi trọng đúng mức. Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ. Quản lý nhà nước về văn hoá còn nhiều sơ hở, yếu kém. Đấu tranh ngăn ngừa văn hoá phẩm độc hại chưa được chú ý đầy đủ, còn nhiều khiếm khuyết, bất cập". Nguyên nhân của những yếu kém, khiếm khuyết và bất cập trên được Đảng ta thẳng thắn chỉ ra. Đó là so với đổi mới tư duy kinh tế, việc đổi mới tư duy về các vấn đề văn hoá và xã hội, về cơ chế quản lý văn hoá, xã hội và về hội nhập văn hoá, xã hội còn chậm, vẫn nặng tư tưởng coi việc giải quyết các vấn đề xã hội là trách nhiệm của Nhà nước, chưa thu hút được các thành phần kinh tế, các nguồn lực cho phát triển, nhiều quyết định đề ra nhưng thực
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 34

hiện không đạt kết quả như mong muốn. Trong bối cảnh của đời sống mọi mặt đang có nhiều đổi thay nhanh chóng, không ai trong chúng ta không nhận thấy và không lo âu, bức xúc trước những diễn biến, những hiện tượng tiêu cực không lành mạnh đang diễn ra có nguyên do ở sự suy thoái, xuống cấp của tư tưởng, đạo đức và lối sống. Sự nhạt phai lý tưởng, lối sống cá nhân, thực dụng, chạy theo đồng tiền, vô trách nhiệm, vô cảm, tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí cùng các tệ nạn xã hội khác đã len lỏi và lây lan khá mạnh trong cuộc sống của chúng ta. Những thói tật hưởng thụ, đua đòi xô bồ cùng sự yếm thế cũng đang tồn tại và có nguy cơ lây lan kìm hãm chí tiến thủ trong một bộ phận thanh thiếu niên... Nhận thức rõ những khó khăn và nguy cơ tác động xấu từ mặt trái của sự phát triển, tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, đánh giá đúng những kết quả, tiến bộ trong văn hoá cùng thực tế sa sút trong đạo đức, lối sống của một bộ phận xã hội và sự lệch lạc, hạn chế bất cập trong quản lý, điều hành, Đảng ta đã nêu lên quan điểm phát triển bền vững, gắn kết sự tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển con người. Báo cáo chính trị tại Đại hội X đã khẳng định nhiệm vụ phát triển văn hoá đã được nêu lên trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10 năm 2001-2010 là "làm cho văn hoá thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới của con người Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc ta và tiếp thụ tinh hoa văn hoá của loài người, tăng sức đề kháng chống văn hoá đồi trụy, độc hại. Nâng cao tính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân". Định hướng cơ bản phát triển văn hoá- nền tảng tinh thần của xã hội, Báo cáo chính trị của BCH Trung ương tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nêu rõ: "Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 35

hội và con người trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hoá- nền tảng tinh thần của xã hội. Đặc biệt coi trọng nâng cao văn hoá lãnh đạo và quản lý, văn hoá trong kinh doanh và văn hoá trong nhân cách của thanh niên, thiếu niên, chống những hiện tượng phản văn hoá, phi văn hoá... ". Định hướng cơ bản trên không chỉ nhấn mạnh vị trí, vai trò của phát triển văn hoá là một trong ba nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn phát triển mới của đất nước mà còn khẳng định việc bảo đảm sự gắn kết giữa các nhiệm vụ đó. Định hướng trên là sự tiếp nối nhất quán với quan điểm và đường lối cách mạng, đường lối văn hoá của Đảng ta trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đồng thời là sự phát triển mới, khẳng định nhân tố con người là trung tâm, khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân trong mọi giai đoạn cách mạng và phát triển đất nước và ý nghĩa thực tiễn "văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế- xã hội". Trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trước thực tế lãnh đạo quản lý còn nhiều hạn chế, bất cập, hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển mới mẻ và sôi động cùng những lệch lạc, yếu kém bộc lộ rõ nét trong lối sống xã hội và đời sống văn hoá, định hướng văn hoá của Đảng ta đặc biệt coi trọng nâng cao văn hoá lãnh đạo và quản lý, văn hoá trong kinh doanh và văn hoá trong nhân cách của thanh niên, thiếu niên, chống những hiện tượng phản văn hoá, phi văn hoá. Định hướng phát triển văn hoá- nền tảng tinh thần của xã hội cũng nêu lên những phương hướng, nhiệm vụ cụ thể đẩy mạnh việc xây dựng đời sống văn hoá đại chúng và môi trường văn hoá lành mạnh. Bồi dưỡng các tài năng văn hoá, khuyến khích sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật cùng các nhiệm vụ phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin đại chúng, xúc tiến xã hội hoá các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thông tin và mở rộng giao lưu văn hoá, thông tin với thế giới.
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 36

* * *

Định hướng phát triển văn hoá- nền tảng tinh thần của xã hội là sự tổng kết lý luận và thực tiễn cách mạng, đổi mới và phát triển của đất nước ta cùng với những bài học và kinh nghiệm phát triển của các nước trên thế giới, vừa phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vừa phù hợp với quan điểm tiên tiến nhất của thế giới về phát triển nói chung và phát triển văn hoá nói riêng. Thực tế sống động của công cuộc đổi mới và bước đầu tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá hơn hai mươi năm qua diễn ra trên đất nước ta là sự thể hiện chân xác sự đúng đắn các quan điểm về đường lối phát triển của Đảng ta về kinh tế chính trị, văn hoá, xã hội, là cơ sở cho nhận thức, niềm tin của cán bộ, đảng viên và mọi đối tượng nhân dân ta vào những định hướng phát triển mới. Thực tế sự tăng trưởng kinh tế chung của đất nước đã không những không tách rời với phát triển văn hoá, xã hội mà đã tạo điều kiện thúc đẩy các tiến bộ trong văn hoá xã hội. Những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc ta tiếp tục được phát huy trong điều kiện mới. Cùng với nhiều nghìn tỉ đồng từ ngân sách Nhà nước mỗi năm cung cấp để bảo đảm thực hiện các công tác chính sách, hàng nghỉn tỉ đồng khác từ ngân sách các địa phương và đặc biệt, đạo lý "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ người trồng cây", lá lành đùm lá rách" luôn thường trực trong đời sống tình nghĩa của nhân dân ta. Khắp mọi miền quê đất nước, ở đâu cũng có người ăn nên làm ra, giàu có lên nhưng không ở đâu không có những hình ảnh, nhưng tấm gương, những câu chuyện tình người "đền ơn đáp nghĩa", "thương người như thể thương thân". Đói nghèo, hoạn nạn, thiên tai của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi thôn xóm bản
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 37

làng đều được cộng đồng, được cả nước quan tâm, chia xẻ, đỡ đần. Những khó khăn, tiêu cực và tệ nạn xã hội nảy sinh làm cuộc sống thêm nhiều bức xúc, làm đây đó có những người dao động, suy giảm niềm tin nhưng cả xã hội đồng thuận với những quyết sách, những biện pháp giải quyết của Đảng và Nhà nước, chung lòng chung sức đấu tranh... Ý chí, khát vọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vượt qua đói nghèo, lạc hậu, độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội hướng tới mục tiêu "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" vẫn luôn luôn bùng cháy trong mỗi con người Việt Nam. Đó là nền tảng tinh thần vững chắc, là bản sắc, bản lĩnh của con người Việt , văn hoá Việt trong vận hội mới. Mạnh Hùng

http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 38

Dân chủ và quyền lực
Đất nước đang bước vào một thời kỳ phát triển mới trong một bối cảnh chưa từng có. Có thể nói, chúng ta đang ở vào thời điểm mà mỗi cơ hội đều tiềm ẩn thách thức và ngược lại. Cơ cấu quyền lực cũng như cơ chế vận hành bộ máy quyền lực của đất nước đang đứng trước những đòi hỏi mới vô cùng nóng bỏng. Nhân dân ta thực hiện quyền làm chủ đất nước thực sự của mình như thế nào? Việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN trong điều kiện Đảng độc tôn lãnh đạo ra sao? Chúng ta phải làm gì để tạo ra một cơ chế khoa học và hữu hiệu giải phóng được sức lao động sáng tạo sung mãn của con người Việt ? Từ nhiều năm nay, những câu hỏi đó vẫn luôn trăn trở trong tâm trí ta và giờ đây dường như chúng đã mang nội hàm lớn hơn nhiều. Biết bao nguồn lực quí giá của đất nước đang bị tắc nghẽn, bị tước đoạt, hủy hoại làm lòng ta đau thắt. Làm gì để chặn đứng tình trạng nguy hại đó, làm gì để khơi mở các nguồn lực cho đất nước có thể cất cánh? Chưa bao giờ thế và lực của nước ta mạnh như bây giờ, nhưng đó là khi chúng ta so sánh với chính mình, còn với thế giới thì Việt Nam vẫn đang ở trong "vùng trũng" về trình độ phát triển, đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn. Chúng ta đã xác lập cơ chế đúng đắn Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, nhưng việc vận hành cơ chế này sao cho khoa học, nhịp nhàng, thông suốt và có hiệu quả là cả tổng thể một loạt vấn đề rất hệ trọng vì nó liên quan, tác động trực tiếp đến những khía cạnh nhạy cảm, phức tạp và căn cốt nhất của thể chế, của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Vận mệnh của chế độ XHCN, tương lai của đất nước đòi hỏi chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật, vừa thấy được thành tựu, vừa nhận diện thật rõ những bất cập, những sai lầm, thiếu sót, những trở lực để hóa giải, khắc phục với những bước đi phù hợp. Chúng ta không có sự lựa chọn
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 39

nào khác! Thực tiễn xây dựng Nhà nước trong hơn 60 năm qua đã chứng tỏ dân chủ XHCN là bản chất của chế độ mới ở nước ta. Điều gì đã giúp cho Nhà nước ta vượt qua tất cả những thử thách cam go, tình thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc” trong các cuộc chiến tranh cứu nước trước đây cũng như ở thời điểm “chuyển dời dâu bể” sau khi chế độ XHCN sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu? Một trong những nhân tố quan trọng nhất, đó chính là sự gắn bó của toàn dân ta với Nhà nước XHCN của mình. Dù chưa hoàn thiện và còn mang trong mình nhiều khuyết tật, nhưng đó là Nhà nước do chính dân ta gây dựng nên và Nhà nước đó lại phục vụ chính dân ta. Dân chủ là bản chất xã hội tiến bộ, là thước đo trình độ phát triển của mỗi xã hội. Cách đây vài chục năm, có người nói, chúng ta đang “tập sự dân chủ”. Còn bây giờ, có lẽ cũng chưa thể nói chúng ta đã hoàn toàn ra khỏi tình trạng đó. Vì vậy, xây dựng nền dân chủ XHCN vẫn là một trong những nhiệm vụ lâu dài và trọng yếu.Vấn đề cốt yếu là phải xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Không có gì khác hơn là dân chủ phải được thể hiện và thực hiện chủ yếu và trực tiếp nhất qua Nhà nước, bằng Nhà nước, hay nói cách khác, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân chủ đã là một thực tiễn sống động và đang trên đà phát triển với các thành tựu của sự nghiệp đổi mới. Khí sắc Việt Nam hôm nay không chỉ biểu hiện ở tỷ lệ tăng trưởng 8,4% GDP, không chỉ là bộ mặt các khu công nghiệp, đô thị mới, các công trình lớn... mà còn lắng sâu trong sự bình yên xã hội, yên ấm dưới những nếp nhà. Đổi mới không phải là một khẩu hiệu chính trị khô khan mà đã trở thành cây đời ăn sâu bén rễ trong lòng người. Dù đất nước còn nghèo, người dân còn phải sớm tối bươn chải, lo toan, nhưng nhịp sống khẩn trương, lành mạnh thường nhật và sự gắn kết của khối đại đoàn kết dân tộc xung quanh hạt nhân lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam đang thắp lên niềm hy vọng lớn về tương lai tươi
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 40

sáng của dân tộc. Có thể khẳng định, ở nước ta, dân chủ đang được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị, tư tưởng. Rõ ràng, việc bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN không chỉ phụ thuộc vào việc các quyền tự do dân chủ được quy định trong pháp luật như thế nào, mà phụ thuộc rất nhiều vào việc trong Nhà nước đó, các quyền tự do dân chủ được thực hiện trên thực tế ra sao. Nhưng không thể không nhận thấy rằng trong xã hội ta vẫn còn tồn tại tình trạng "mù mờ luật pháp", người dân không biết thật sự mình có quyền gì, còn không ít người trong bộ máy công quyền thì lợi dụng sự "mù mờ luật pháp" đó của người dân cũng như những khe hở của luật pháp để tự cho mình quyền hành xử sai trái. Bên cạnh đó, tình trạng “phép vua thua lệ làng” đã và đang trở thành một lề thói nghiêm trọng tại nhiều ngành, địa phương- nơi mà họ tự đặt ra nhiều qui định trái khoáy, nhiều loại “giấy phép con”, vô hiệu hóa các văn bản luật định, gây cản trở, đảo lộn trật tự pháp lý. Vì thế, một đòi hỏi cấp bách là Nhà nước pháp quyền XHCN cần sớm xây dựng hệ thống quy định đầy đủ, minh bạch các quyền và nghĩa vụ công dân cũng như trách nhiệm của Nhà nước trong việc quản lý xã hội, tôn trọng và bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân. Trong xã hội mà pháp luật có vị trí tối thượng thì công dân có quyền được biết một cách công khai, rõ ràng mình có quyền gì và phải thực hiện nghĩa vụ gì. Đặc biệt, trong Nhà nước pháp quyền XHCN, hoạt động lập pháp về quyền, nghĩa vụ công dân cần hướng tới nguyên tắc quan trọng: công dân được phép làm những gì pháp luật không cấm; còn trong quan hệ với công dân thì cơ quan Nhà nước, công chức chỉ được làm những gì pháp luật quy định. Báo cáo chính trị Đại hội X của Đảng ta khẳng định: Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân. Xác định các hình thức tổ chức và có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 41

Mặc dù Đảng luôn xác định dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của chế độ ta, nhưng trên thực tế, hiện tượng hạn chế, vi phạm quyền dân chủ của người dân không phải là cá biệt, thậm chí có những nơi tình trạng này diễn ra rất nhức nhối. Cần phải khẳng định tình trạng đó không bắt nguồn từ bản chất của nền dân chủ XHCN, từ “chế độ độc đảng” như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, mà trước hết do sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức và những sơ hở, bất cập của cơ chế, chính sách cùng những thiếu sót trong công tác chỉ đạo, lãnh đạo. Mặt khác, có một thực trạng nữa không kém phần nghiêm trọng là trong khi “mở rộng dân chủ” thì nhiều nơi lại kéo theo sự buông lỏng quản lý, coi thường kỷ cương, phép nước. Nhận rõ điều này, trong văn kiện Đại hội X, Đảng đã gắn kết 2 vấn đề căn cốt nhất của chế độ ta: Phát huy dân chủ XHCN phải gắn chặt với xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Đã từng có một thời, không ít người ngộ nhận rằng Nhà nước pháp quyền là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, nên nếu có ai đó quá nhấn mạnh đến pháp quyền thì đôi khi khó tránh khỏi bị qui kết là nhiễm “đầu óc tư sản”, “pháp lý đơn thuần”. Phải thấy rõ, thực hiện pháp quyền là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của Nhà nước XHCN. Còn Nhà nước XHCN khác về bản chất với nhà nước tư sản ở chỗ: pháp quyền dưới chủ nghĩa xã hội là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật, điều đó có nghĩa là việc sử dụng bất cứ công cụ nào cũng phải trong khuôn khổ pháp luật. Một vấn đề đích thực thuộc bản chất Nhà nước pháp quyền là xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp, đồng thời định rõ cơ chế, cách thức bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống kinh tế-xã hội của đất nước. Tính “tối thượng” của pháp luật là điều cốt lõi nhất của Nhà nước pháp quyền. Không có bất cứ cơ quan nào, không có bất cứ ai được phép đứng trên, hoặc đứng ngoài pháp luật. Đảng ta lãnh đạo xã hội, đất nước, nhưng Đảng ta hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Vì thế, Đảng không đứng trên, đứng ngoài pháp luật. Đại hội X đã chỉ rõ,
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 42

quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật và các công cụ khác, nhưng việc sử dụng bất cứ công cụ nào cũng phải trong khuôn khổ pháp luật. Trên thực tế, ở bất cứ ngành nào, địa phương nào ta cũng thường dễ nhận ra sự chồng chéo, vướng víu giữa lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành. Khâu mấu chốt cần tập trung hiện nay là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ phẩm chất và năng lực vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Để mọi quyền lực của Nhà nước đều thuộc về nhân dân thì vấn đề nhân dân thực hiện giám sát hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước là một vấn đề đặc biệt quan trọng. Có một thực tế là từ trung ương đến địa phương, vẫn còn tình trạng lúng túng trong việc làm sao để tránh chồng chéo cũng như tránh lạm quyền trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong việc xác lập và thực hiện cơ chế bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Nhà nước. Đã từng có ý kiến cho rằng chừng nào cán bộ và tổ chức vẫn do cấp uỷ quyết định, kinh phí hoạt động do Nhà nước cấp thì các thiết chế này khó phát huy được vai trò kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội. Nhưng lại không thể không thấy rằng, trong chế độ ta, các thiết chế này nằm trong hệ thống chính trị, nằm trong cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, do Đảng lập ra để phục vụ sự nghiệp của Đảng, của nhân dân thì Đảng phải tăng cường lãnh đạo, còn Nhà nước thì phải bảo đảm điều kiện cho các thiết chế này hoạt động là một yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, trên thực tế, phương thức tổ chức, phong cách hoạt động của các tổ chức, đoàn thể xã hội nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi tình trạng bị “hành chính hoá”, còn các thành viên của các tổ chức, đoàn thể ăn lương Nhà nước
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 43

này lại bị “công chức hoá”. Vì vậy, việc xác lập mối quan hệ hợp lý giữa Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể chính trị-xã hội thông qua hệ thống cơ chế thích hợp, để tránh chồng chéo, tăng cường được tính chủ động của từng tổ chức và cả hệ thống chính trị là một đòi hỏi ngày càng cấp thiết. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội là các tổ chức đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, vừa tượng trưng cho khối đoàn kết toàn dân tộc, vừa thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội đối với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Thực tiễn cho thấy, trong điều kiện Đảng cộng sản độc tôn lãnh đạo, nếu kết hợp tốt giữa nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng với nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong hệ thống Mặt trận thì sẽ làm phong phú thêm sinh hoạt dân chủ trong xã hội, làm phong phú thêm nền dân chủ ở nước ta. Trong nhiều năm qua, không chỉ đảng viên, mà nhân dân thuộc mọi thành phần xã hội, trong nước cũng như ngoài nước, đã được nghiên cứu, thảo luận, góp ý các văn kiện quan trọng của Đại hội Đảng X. Nhiều ý kiến đóng góp xác đáng của nhân dân, trong đó có các nhân sĩ, trí thức, đã được đưa vào văn kiện chính thức của Đảng. Rõ ràng, đây là một sự khảo nghiệm, phản biện và đóng góp trí tuệ rộng rãi, cầu thị và dân chủ, và nó đã được Đảng ta tiến hành nghiêm túc. Thử hỏi: Các đảng tư sản và thiết chế dân chủ tư sản - vốn có truyền thống dân chủ và đang tự coi mình là tấm gương dân chủ - đã bao giờ làm được một điều tương tự? Có một thực trạng là không ít những người nắm quyền lực thường dễ rơi vào tình trạng “không muốn nghe lời ngược”. Khi họ thuyết giáo thì luôn đúng đạo lý, nhưng đến khi làm thì lại tìm cách thoái thác trách nhiệm, chỉ nghĩ đến lợi ích bản thân. Vì thế, ngoài quy chế dân chủ ở cơ sở đang thực hiện, hiện nay việc xây dựng đề án phản biện xã hội của MTTQ là nhằm tạo ra một cơ chế hiệu lực đối với các cấp có quyền lực. Các tổ chức, đơn vị, cán bộ, nhân viên chính quyền phải làm theo luật định, chứ không thể làm theo kiểu “ban ơn”, không ai giám sát được. Khi đã có một cơ chế phản biện rõ ràng thì MTTQ và các đoàn thể
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 44

đủ điều kiện để phản biện lại trước các quyết định không phù hợp, đưa ra những chứng lý có sức thuyết phục cao. Như thế cũng có nghĩa là không phải đợi khi chính sách đã đưa vào cuộc sống, thấy sai rồi mới phản biện. Mặc dù chúng ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, nhưng không thể không vạch ra rằng vẫn còn nhiều bất cập, nhiều căn bệnh trầm kha đang huỷ hoại và làm tắc nghẽn những nguồn lực quí giá của đất nước. Việc cải cách nền hành chính quốc gia đã được tiến hành từ mấy năm nay nhưng kết quả còn rất hạn chế. Bộ máy hành chính cồng kềnh, nhiều tầng nhiều nấc không hợp lý làm cho việc quản lý các hoạt động kinh tế-xã hội chậm trễ và kém hiệu quả. Tệ quan liêu, tham nhũng, thói nhũng nhiễu, đặc quyền đặc lợi, sự tù đọng trong tư duy và hành động... đang là những mầm bệnh cực kỳ nguy hại. Những năm qua, một loạt kẻ phạm tội không kể ở cấp nào đã bị đưa ra xét xử nghiêm minh trong một số vụ án lớn. Những biện pháp chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực được triển khai một cách mạnh bạo, tích cực ở một số ngành, địa phương, dù được dư luận cả nước đồng tình ủng hộ, nhưng cũng chỉ như những chồi non mới nhú cần được tiếp tục bảo vệ, cổ vũ, khích lệ mạnh mẽ hơn nữa để dần dần trở thành một hiện thực sống động và vững chắc lan rộng ra nhiều vùng miền, như ánh sáng xua tan dần bóng tối. Coi tham nhũng là quốc nạn, đe doạ sự tồn vong của chế độ và Nhà nước XHCN, tại Đại hội X, Đảng ta khẳng định: Các cán bộ lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, của từng đơn vị, tổ chức cơ sở đảng và từng đảng viên trực tiếp tham gia và đi đầu trên mặt trận phòng ngừa và chống tham nhũng. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong hai bài phát biểu trước và sau khi được bầu vào cương vị mới, đã cam kết “kiên quyết, kiên trì thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xem đây là một trọng tâm công tác của Chính phủ thời gian tới”. Nói đi đôi với làm, ngay sau khi nhậm chức, Thủ tướng đã chỉ đạo tập trung làm rõ trách nhiệm, cũng như đình chỉ chức vụ của một số cán bộ cấp cao thuộc Thanh tra Chính phủ và Văn phòng Chính phủ. Như vậy, tân Thủ tướng đã liên tiếp ra tay vào những vụ bùng nhùng suốt thời gian qua. Ý nghĩa lớn nhất của
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 45

việc này không phải chỉ là nó có tác dụng thúc đẩy việc giải quyết dứt diểm các vụ nhạy cảm có liên quan đến cán bộ cấp cao, mà hơn thế, đang tiếp tục tạo niềm tin sâu sắc trong nhân dân về quyết tâm của lãnh đạo Đảng và Nhà nước tuyên chiến với tệ nạn tiêu cực và tham nhũng, được thể hiện trước hết bằng việc loại bỏ dứt khoát “vùng cấm” trong xử lý tiêu cực cho dù liên quan đến ai, ở bất cứ cương vị nào. Tại Hội nghị lần thứ 3 BCHTƯ Đảng khóa X, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nhấn mạnh cần đẩy mạnh cuộc đấu tranh toàn diện chống tham nhũng, lãng phí. Tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN không tách rời cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu. Có thể nói, tệ quan liêu đang bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó không chỉ diễn ra trong bộ máy Nhà nước mà đã lan sang cả bộ máy Đảng, bộ máy các tổ chức chính trị-xã hội. Không khó gì để vạch ra vô số biểu hiện của chủ nghĩa quan liêu: đưa ra các quyết định bốc đồng, không tưởng; quy hoạch tràn lan; quá nhiều văn bản, thủ tục rườm rà; thông tư, chỉ thị lấn át, vô hiệu hoá các đạo luật, pháp lệnh; chỉ đạo, điều hành chung chung, đại khái; cấm đoán tràn lan; đùn đẩy, ngâm việc, trả lời lấy lệ; tính cục bộ; thói hám danh lợi, chức tước; bệnh thành tích chủ nghĩa; mệnh lệnh chính thức thì không có hiệu lực, nhưng mệnh lệnh không chính thức thì lại có hiệu lực lớn; che giấu sự thật; bóp nghẹt, đàn áp phê bình… Chúng ta đã quen sống với chủ nghĩa tập thể, nhưng đáng buồn thay, ở nhiều nơi, đó không phải là chủ nghĩa tập thể lành mạnh đích thực mà là chủ nghĩa tập thể hình thức, đồng nghĩa với cào bằng mọi thứ, đồng nghĩa với "cha chung không ai khóc". Chế độ trách nhiệm cá nhân không rõ ràng trong một cơ chế bùng nhùng là cái nôi nuôi dưỡng thói vô trách nhiệm, đố kỵ ghen ăn tức ở. Chính là trong cái vỏ của chủ nghĩa tập thể hình thức mà chủ nghĩa cá nhân tìm được đất sống lý tưởng. Cuộc đấu tranh chống tệ quan liêu là một bộ phận của quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cải cách bộ máy nhà nước, đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội. Đại hội X đã chỉ rõ: Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 46

tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại… Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức và đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu nâng cao chất lượng về năng lực và phẩm chất đạo đức. Có cơ chế đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những công chức không xứng đáng, kém phẩm chất và năng lực. Quốc hội thường được coi như biểu tượng của dân chủ và quyền lực của một nước. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội để cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất này thực hiện tốt hơn chức năng lập pháp, nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao là một trong những khâu quan trọng bậc nhất trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI vừa bầu một loạt chức danh vào các cơ quan lãnh đạo Nhà nước và Chính phủ. Trên một nghĩa nào đó, kỳ họp Quốc hội này có khía cạnh “không thông thường” khi mà một số chức danh chủ chốt của Nhà nước được thay đổi sớm hơn nhiệm kỳ của Quốc hội hơn một năm. Có người nói cái “không thông thường” này lại biểu thị một mức tiến bộ rõ ràng của cơ quan lập pháp, quyền lực cao nhất nước, tức không theo thông lệ cũ mà lấy điểm chốt từ yêu cầu xử lý việc nước trong những điều kiện cần linh hoạt. Điều đáng ghi nhận nữa như một bước tiến dân chủ trong sinh hoạt của Quốc hội về đổi mới phong cách lề lối làm nhân sự, đó là khi miễn nhiệm một số thành viên Chính phủ, Quốc hội đã không đồng tình “cào bằng” giữa miễn nhiệm người thôi nhiệm vụ vì lý do tuổi tác hay thay đổi vị trí công tác với những người thực sự có khuyết điểm… Chỉ còn hơn hai tháng nữa (tháng 10-2006), nước ta sẽ chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Đây là bước hội nhập sâu rộng chưa từng có, mở ra những triển vọng to lớn và đồng thời đặt nước ta trước những thách thức hết sức gay gắt. Có nhà nghiên cứu đã nói rằng WTO là một cỗ xe thiết kế không có số lùi, tốc độ hội nhập chỉ ngày càng tăng lên, không cho phép một ai chần chừ hay thoái lui. Toàn thể hệ thống cần được nâng cấp lên trình độ mới. Hiệu quả và năng lực cạnh tranh ngày
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 47

càng phụ thuộc vào sự vận hành nhịp nhàng của từng bộ phận trong toàn bộ guồng máy: từ Giáo dục-Đào tạo, tổ chức cán bộ để đất nước có những nhà quản lý năng động, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm, quyết đoán chứ không phải những người trì trệ, dựa dẫm, luồn lọt, tiến thân bằng chạy chức chạy quyền, bằng rởm. Chúng ta không thể thắng trong cuộc chiến chống tụt hậu nếu bộ máy của ta quá rườm rà, đủng đỉnh, nếu chúng ta không loại bỏ được những kẻ tham ô hám lợi, vô trách nhiệm, vô cảm đang chốt chặt trong các mắt xích của bộ máy công quyền. Công cuộc đổi mới đã trải qua chặng đường 20 năm đầy thách đố và sáng tạo. Chặng đường đó một lần nữa làm ngời sáng thêm những phẩm giá Việt . Đổi mới đang trở thành sức mạnh lan tỏa trong lòng mỗi con người, được nhân lên và cộng hưởng trong cộng đồng dân tộc. Sức mạnh Việt sẽ được nhân lên nếu chúng ta xây dựng được một Nhà nước pháp quyền XHCN vững mạnh. Bản lĩnh và trí tuệ Việt cần được huy động ở mức cao nhất để tạo ra một cơ chế giải phóng và phát huy được sức lao động, sáng tạo sung mãn của con người Việt . Đó chính là cái chốt của cuộc chạy đua trong thời đại hội nhập để trước hết tránh nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn, từ đó đưa nước ta dần sánh vai với các nước trong khu vực và năm châu. Quang Lợi

http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 48

Hội nhập sâu rộng để tăng tốc
Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta cho thấy lĩnh vực ngoại giao luôn có một vai trò quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong thời đại mới, đường lối đối ngoại luôn là bộ phận hữu cơ của sự nghiệp cách mạng Việt , ngoại giao luôn là một mặt trận góp phần làm nên chiến thắng chung của cả dân tộc. Đại hội X của Đảng đã xác định mục tiêu và phương hướng tổng quát trong 5 năm tới là đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng phát triển... Đây có thể coi là kim chỉ nam trong hành động đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, với tất cả các cấp, các ngành, trong đó có ngoại giao. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ của công tác đối ngoại được nêu trong nghị quyết của Đại hội là “giữ vững và củng cố môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”. Nhiệm vụ mới thật nặng nề, chẳng khác nào như một đỉnh dốc đầy thử thách nữa mà ngành ngoại giao phải vượt qua. Tuy nhiên, việc xác định nhiệm vụ đối ngoại như vậy không phải là sự ngẫu nhiên bởi đây là sự kế thừa có chọn lọc, sự phát triển một cách sáng tạo chính sách đối ngoại được khởi xướng từ Đại hội VI và được hoàn thiện qua các Đại hội VII, VIII và IX. Thêm vào đó, công cuộc đổi mới, sự nghiệp cách mạng do Đảng khởi xướng và lãnh đạo trong 20 năm qua mà kết quả của nó đã dẫn đến những đổi thay to lớn có ý nghĩa lịch sử đối với đất nước, đã cho thấy những khả năng và tiềm năng to lớn của công tác đối ngoại, tạo cơ sở để ngành ngoại giao vững bước vào tương
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 49

lai. Quả thực, nếu coi “đổi mới” như trận đánh tổng thể trong thời bình, thì nỗ lực “mở cửa” với sự tham gia trực tiếp của ngành ngoại giao nhằm phá thế bao vây cô lập, giúp Việt Nam hội nhập thành công chính là một trong những cú đột phá có tính quyết định cho chiến thắng của trận đánh đó. Có thể khẳng định như vậy bởi nếu quay lại một chút với quá khứ, đặt mình vào thời điểm đầy khó khăn thử thách với đất nước và dân tộc trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước, chúng ta mới thấy hết tầm vóc của cuộc chuyển đổi mạnh bạo thoát khỏi tư duy đối ngoại vốn bó hẹp trong các khuôn mẫu cũ, tháo bỏ những chuẩn mực luôn nhìn nhận các hiện tượng, xử lý mọi vấn đề qua lăng kính “thế giới hai cực” vốn được phân định rõ ràng, để đưa “con tàu Việt Nam” vượt qua cơn sóng cả của khủng hoảng kinh tế trong nước cùng những biến động thời cuộc, hòa nhập vào đại dương mênh mông là thế giới đầy sôi động. Đây là bước nhảy vọt từ quan niệm phát triển “khép kín” trong thế đối đầu sang chiến lược phát triển dựa vào mở cửa, mở rộng hợp tác quốc tế theo phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và cạnh tranh phát triển dựa trên cơ sở phát huy nội lực. Giờ đây, chúng ta đầy tự tin để khẳng định rằng, chưa bao giờ Việt Nam lại có được quan hệ đối ngoại rộng mở và môi trường quốc tế thuận lợi như hiện nay, chưa bao giờ địa vị và uy tín của đất nước lại được khẳng định và nâng cao đến như vậy trên trường quốc tế. Cú đột phá “mở cửa” đã tạo một thế và lực hoàn toàn mới cho Việt mà cả thế giới chứng kiến và khâm phục. Chỉ xin điểm lại một vài dấu ấn đáng nhớ: Lần đầu tiên trong hai thế kỷ, Việt được công nhận đầy đủ và có quan hệ chính thức với tất cả các cường quốc và hầu hết quốc gia trên thế giới, thật sự trở thành thành viên có vị thế nhất định trong cộng đồng quốc tế. Lần đầu tiên trong hai thế kỷ, Việt trở thành một quốc gia xuất
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 50

khẩu và trên thực tế có quan hệ kinh tế, thương mại với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử, tất cả các cường quốc trên thế giới là đối tác kinh tế quan trọng, là thị trường quan trọng của Việt . Nói tóm lại, trong lịch sử tồn tại của mình, đây là lần đầu tiên Việt Nam xác lập được quan hệ đối tác và đứng trước cơ hội lớn mở rộng sự hợp tác của mình với tất cả các cường quốc và các nước khác trên thế giới. Thời cơ vàng đang mở ra cho đất nước mà chúng ta không thể bỏ qua. Tiếp tục mở cửa và hội nhập sâu rộng và toàn diện hơn đã trở thành nhu cầu khách quan, một yếu tố quyết định để thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước vượt lên trong cuộc tranh đua toàn cầu. Đường lối đối ngoại thời kỳ mới mà Đại hội Đảng X chỉ ra đã bám rất chắc vào mục tiêu lớn đó với nội dung cụ thể “tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế với phương châm Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”. Đây thực chất là đường lối tranh thủ các nguồn ngoại lực, là nỗ lực tập hợp lực lượng quốc tế để thực hiện mục tiêu chiến lược lâu dài. Thực tế cho thấy đối với những nước nhỏ và vừa như Việt Nam, làm sao tìm được các đồng minh và đối tác tin cậy, tạo dựng và tập hợp lực lượng có lợi cho mình, lựa chọn thế nào thời điểm, hình thức và mức độ tham gia vào các cuộc tập hợp lực lượng quốc tế sẵn có như các tổ chức, các diễn đàn quốc tế, liên khu vực và khu vực, nói tóm lại là tranh thủ sự đồng tình của các nước trong cộng đồng quốc tế, luôn là vấn đề vừa mang tính chiến lược, vừa là sách lược quan trọng . Thế nhưng, xử lý thế nào để có được lời giải hài hòa cho hàng loạt câu hỏi đầy tế nhị đặt ra trong cuộc tập hợp lực lượng này lại là điều không đơn giản với ngành ngoại giao với tư cách là một trong những lực lượng đi tiên phong trong việc thực hiện.
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 51

Trong trật tự thế giới mới còn đang rất manh nha, nếu tiếp cận một cách máy móc, giản đơn, nếu lúc nào cũng đòi hỏi mọi sự việc đều phải được phân định rạch ròi thì nguy cơ sa vào những bất lợi là điều khó tránh khỏi. Cuộc sống của nhân loại hiện tại còn không ít những hiện tượng, quá trình phức tạp khó có thể lý giải nếu như chỉ vận dụng những chuẩn mực cũ. Những gì diễn ra xung quanh cuộc chiến I-rắc cho thấy một số nước về bản chất giai cấp không có mâu thuẫn đối kháng song lại có thể rơi vào mâu thuẫn căng thẳng đến mức trở thành những kình địch của nhau trong các quyết sách lớn. Ngược lại, những cuộc tranh chấp thương mại, những nỗ lực xác lập các liên minh lợi ích kinh tế lại có thể đưa những nước đối nghịch nhau về bản chất chế độ hợp tác chống lại những nước cùng chế độ với bên này hay bên kia. Nguồn gốc các cuộc xung đột tôn giáo, sắc tộc, chủ nghĩa khủng bố cũng còn đang đòi hỏi những lý giải thấu đáo hơn. Có thể nói vào thời điểm đầy thử thách như vậy, tìm ra tiêu chí chung nhất, định ra chuẩn mực linh hoạt nhất làm cơ sở xác định phương hướng, xử lý các hành động cụ thể trong cuộc tập hợp lực lượng quốc tế là thành công vừa thể hiện sức sáng tạo, vừa khẳng định sự mạnh bạo, lòng dũng cảm dám vượt lên của Đảng ta. Trên cơ sở kế thừa và phát triển đường lối đối ngoại của thời kỳ đổi mới, được khởi xướng từ Đại hội VI và khẳng định rõ thêm tại Đại hội X của Đảng, ngành ngoại giao đã chỉ rõ “sợi chỉ đỏ xuyên suốt việc xác định mục tiêu đối ngoại, hoạch định biện pháp, chính sách cụ thể và triển khai thực hiện đường lối đối ngoại là lợi ích tối cao của dân tộc, là yêu cầu bảo vệ và thực hiện tốt nhất những lợi ích ấy”. Đó chính là chiếc la bàn chỉ hướng trong hành động, là thước đo chuẩn xác nhất cho hiệu quả trong công tác đối ngoại. Đi vào cụ thể, tiêu chí chung đó có thể hiểu rõ hơn thông qua phương
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 52

châm “5 không” theo lời của nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên: Một là, không đánh giá sai, không dự báo sai (không đánh giá sai tình hình quốc tế, không đánh giá sai các đối tác, đối tượng, phải hiểu đúng chính sách của họ). Hai là, không để bị động, bất ngờ, lúng túng, rơi vào thế đối phó trước những diễn biến của tình hình. Ba là, không để mất thời cơ mà phải tận dụng thời cơ và chủ động tạo dựng thời cơ. Bốn là, không để mất vai trò trong các tổ chức khu vực và quốc tế. Năm là, không bị kéo vào xung đột, tranh chấp quyền lợi giữa các nước lớn. Chúng ta lại viết tiếp truyền thống đối ngoại khôn khéo của cha ông, vận dụng sáng tạo tư tưởng, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh “thêm bạn, bớt thù”, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “Biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự” trong giai đoạn thử thách của đất nước. Cách tiếp cận như vậy với thế giới bên ngoài vừa kế thừa những đặc điểm nổi bật của “trường phái ngoại giao Việt Nam”, vừa phản ánh thực tế rất đa dạng, đầy biến động trong thế giới ngày nay, giúp cho việc xác định đối tượng, hình thức quan hệ và chủ thể tham gia hoạt động đối ngoại trở nên linh hoạt và uyển chuyển hơn bao giờ hết. Từ tư tưởng “thêm bạn bớt thù”, tiến tới khẩu hiệu “Việt Nam không chỉ sẵn sàng là bạn mà còn sẵn sàng là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”, rồi cụ thể hóa thông qua những khái niệm rất mới về đối tượng – đối tác, hợp tác - đấu tranh trong quan hệ quốc tế với cách phân tích đầy biện chứng rằng, trong mỗi đối tượng vẫn có mặt cần tranh thủ, hợp tác, trong một số đối tác vẫn có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh, trong tương lai chúng ta tiếp tục thiết lập và phát triển quan hệ với các đối tượng là mọi quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Cũng với tinh thần ấy, về phía Đảng và đoàn thể quần chúng, chúng ta có thể thiết lập quan hệ ở mức độ khác nhau với nhiều đảng phái, tổ chức, lực lượng khác nhau. Quan hệ đối ngoại
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 53

không dừng ở các chủ thể quốc gia mà là mở rộng quan hệ với các đảng cộng sản, các đảng công nhân cũng như các phong trào chính trị, các đảng cầm quyền, các tổ chức quốc tế và khu vực, các tổ chức phi chính phủ quốc tế... Điều đó không có nghĩa là chúng ta theo chủ nghĩa trung dung, thái độ ba phải, không phân biệt trắng – đen. Chúng ta vẫn phải lấy thước đo giai cấp và dân tộc để phân biệt phải trái, song trong hành xử thì có cách tiếp cận hết sức biện chứng và linh hoạt trên cơ sở lấy lợi ích cao nhất của dân tộc làm thước đo, lấy mục tiêu của đấu tranh không phải để phá vỡ sự hợp tác mà nhằm làm cho sự hợp tác lành mạnh hơn. Trên nền tảng vững chắc đó, những vấn đề về đồng minh và đối tác, lợi ích trước mắt và lâu dài, riêng và chung, ưu tiên hay không ưu tiên, cơ hội và thách thức đều có thể tìm được lời giải một cách có nguyên tắc, hợp lý hợp tình. Chính nhờ chính sách ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt đó, đến nay, Việt Nam đã lập quan hệ ngoại giao với 167 nước, quan hệ thương mại với 221 nước và vùng lãnh thổ. Việt đã gia nhập ASEAN, ASEM, APEC và đang tiến gần tới mục tiêu gia nhập WTO. Tuy nhiên, bên cạnh việc đẩy mạnh chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, trong tương lai, chúng ta vẫn định ra một số trọng tâm, trọng điểm cần được chú trọng. Với nhận thức “họ hàng xa không bằng láng giềng gần”, chúng ta luôn dành ưu tiên cao cho việc xây dựng và củng cố quan hệ láng giềng hữu nghị với các nước láng giềng trên cả ba tầng nấc: Các nước có chung biên giới, các nước trong khu vực Đông - Nam Á và các nước châu Á - Thái Bình Dương. Một thực tế nữa là các nước và các trung tâm lớn như Liên minh châu Âu, Bắc Mỹ, Đông Bắc Á… luôn đóng vai trò rất quan trọng trong thế giới ngày nay, kể cả đối với an ninh và sự phát triển của nước ta, do đó chúng ta không thể không dành mối quan tâm thỏa đáng tới quan hệ với họ.
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 54

Cũng với cách tiếp cận đó mà về hình thức quan hệ, ngoại giao không chỉ tập trung vào quan hệ chính trị mà các nội dung kinh tế, văn hóa và quốc phòng - an ninh chiếm vị trí ngày càng quan trọng. Các mối quan hệ này gắn quyện với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ chính trị là tiền đề, quan hệ kinh tế là cơ sở, quan hệ văn hóa là nhân tố góp phần gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Trong tiến hành hoạt động ngoại giao, chủ thể tham gia không chỉ riêng là ngành ngoại giao mà phải huy động nhiều lực lượng trên mọi lĩnh vực và dưới nhiều hình thức khác nhau, kết hợp ngoại giao Nhà nước, ngoại giao Đảng, ngoại giao nhân dân, ngoại giao Quốc hội, ngoại giao an ninh - quốc phòng... Chỉ bằng cách đó thì mới có thể tạo nên sức mạnh tổng hợp trong hoạt động đối ngoại. Vượt qua chính mình, chủ động mở cửa bước vào cuộc chơi toàn cầu, sẵn sàng chấp nhận những thách thức mà quá trình hội nhập đặt ra đã là một việc khó, tạo dựng cho mình ảnh hưởng và tiềm lực đủ lớn để người khác phải mở cửa đón nhận mình, để cho dòng hàng Việt Nam đủ sức hấp dẫn, vượt qua mọi rào cản tiến vào thị trường các nước lại càng khó hơn. Chúng ta đã vượt qua giai đoạn thực hiện các cam kết ban đầu, nay quá trình hội nhập đòi hỏi phải đi vào chiều sâu với những cam kết mạnh bạo hơn. Đã qua rồi thời kỳ Việt chỉ đến với các sân chơi như người quan sát. Giờ đây, sự cạnh tranh gay gắt trong cuộc đua toàn cầu đòi hỏi chúng ta phải là đối thủ thực thụ, chứ không thể là tay đua nghiệp dư để sớm bị hạ đo ván. Đổi mới đã đem đến một diện mạo hoàn toàn mới cho Việt . Thế nhưng thực ra, trong cuộc đua toàn cầu, thực lực của chúng ta vẫn còn rất khiêm tốn. Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới, năm 2003, xét về chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 60 trong tổng số 101 nước và nền kinh tế
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 55

được xếp hạng. Năm 2004, chỉ số của Việt bị tụt xuống vị trí 79/104 và năm 2005 là 81/117. Kim ngạch xuất khẩu của Việt chỉ bằng 1/3 kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan và 2/3 của Phi-líp-pin, trong khi dân số Việt lại đông hơn Thái Lan và Phi-líp-pin. Nguy cơ tụt hậu mà Đảng đã cảnh báo vẫn là nguy cơ lớn mà chúng ta không thể coi nhẹ. Trong khi đó, cơn gió toàn cầu hóa thổi ngày càng mạnh, đưa hội nhập toàn cầu trở thành xu thế tất yếu mà không ai có thể đứng ngoài, nếu không chủ động tham gia thì chỉ có thua thiệt. Lịch sử tồn tại của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) – sân chơi lớn nhất toàn cầu – cho thấy tổ chức này chưa bao giờ phải chủ động mời ai tham gia. Chính sự hấp dẫn của WTO cũng như nhu cầu nội tại của các nền kinh tế buộc họ phải tự nguyện tham dự. Cũng chưa thấy ai đã là thành viên WTO lại làm đơn xin rút khỏi tổ chức này. Quá khứ 20 năm đổi mới cũng là một bằng chứng cho thấy hội nhập đã đem lại những lợi ích không thể phủ nhận với Việt . Các con số thống kê cho thấy trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2005, xuất khẩu của Việt Nam đã tăng từ 2,4 tỷ USD lên 32 tỷ USD, hàng chục tỷ USD vốn FDI và ODA đã được đổ vào Việt Nam, đưa nền kinh tế đất nước phát triển với tốc độ luôn thuộc nhóm đứng đầu thế giới. Đó là lý do để Việt không thể đứng ngoài quá trình hội nhập đang diễn ra ngày càng sôi động trên toàn cầu. Trên cơ sở nhận rõ nhu cầu cấp thiết này, Đại hội X của Đảng đã xác định rõ “Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn vào các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương trên cơ sở lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất”. Đặt cao nhiệm vụ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta xuất phát từ nhu cầu nội tại của nền kinh tế nước ta cần mở rộng
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 56

thị trường, tranh thủ thêm vốn và công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường xuất khẩu, đối tác đầu tư… phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, để mục tiêu này trở thành hiện thực, để những dòng đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI), các khoản viện trợ không hoàn lại (ODA) chảy mạnh, để Việt Nam thực sự trở thành một miền đất hứa thì không thể chỉ bằng lời quảng cáo. Tạo môi trường pháp lý thuận lợi, cải thiện môi trường đầu tư, kết hợp hài hòa giữa chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại mới là cách để khơi thông nguồn ngoại lực từ bên ngoài, góp phần nhân lên sức mạnh của nguồn nội lực phục vụ cho chiến lược phát triển đất nước. Với thế và lực đã lớn mạnh, giờ đây Việt Nam phải đến các diễn đàn đa phương ở khu vực và trên thế giới không chỉ với tư cách góp mặt, mà phải chủ động tham gia vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu thì mới tìm được các cơ hội củng cố, nâng cao vai trò, vị thế của đất nước, mới tiếp cận được các nguồn ngoại lực cần thiết cho phát triển. Những hội nghị thượng đỉnh ASEAN, Á-Âu diễn ra đầy ấn tượng và hiệu quả ở Hà Nội phải là cơ sở để ngành ngoại giao vững tin trong các mục tiêu tiếp theo như tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC 14 vào tháng 11- 2006 tại Hà Nội, phấn đấu trở thành ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an LHQ khóa 2008 – 2009, nâng cao hơn nữa vai trò của Việt Nam trong ASEAN, đẩy mạnh sự tham gia và đóng góp của Việt Nam vào Phong trào Không liên kết và xa hơn là bước đầu tham gia có chọn lọc vào một số hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ... Tuy nhiên, muốn khai thác, tiếp thu ngoại lực, nội lực ta phải mạnh. Nói cách khác, nếu không chuẩn bị tốt bên trong, thì ngoại lực dù có mạnh, có nhiều đến đâu, cũng không phát huy được tác dụng, chưa nói là có thể tác động ngược lại. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy một quốc gia đóng cửa hoặc bị bao
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 57

vây cấm vận thì kinh tế không thể phát triển được, nhưng một quốc gia mở cửa hoàn toàn phụ thuộc vào bên ngoài như các nước Mỹ La-tinh đã làm trong thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ trước thì rất dễ rơi vào chao đảo khi thị trường thế giới biến động lớn, hay khi bị các nước lớn và các tổ chức tài chính gây sức ép. Ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chỉ mang tính bổ trợ cho nội lực, góp phần nhân lên sức mạnh của nội lực. Ngoại giao đã góp phần quan trọng tạo nên cú đột phá đưa Việt Nam thoát khỏi thế bao vây cấm vận, hội nhập thành công với thế giới, thì chắc chắn sẽ khẳng định tiếp vai trò của mình trong thử thách mới đối với đất nước là phải tạo ra có cú đột phá mới đưa con tàu Việt Nam tăng tốc đến mục tiêu xa hơn là thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Mạnh Tường

http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 58

Quốc phòng vững mạnh, quốc thái dân an
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nêu "Về quốc phòng và an ninh, cần thực hiện mọi biện pháp cần thiết, có hiệu quả để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa..." Quan điểm của Đảng trong thời kỳ đổi mới đã chỉ rõ xây dựng nền Quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân hùng mạnh, không chỉ để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc mà còn là bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ và cuộc sống yên bình của nhân dân ta. Lịch sử chứng minh, không có quốc gia nào và cũng không có thời đại nào, trong quá trình chăm lo xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội, lại không đi đôi với kế sách củng cố quốc phòng, an ninh để bảo vệ sự tồn vong của chế độ đó. Với dân tộc Việt , bài học về dựng nước phải đi đôi với giữ nước, luôn luôn là bài học thời sự nóng hổi, xuyên suốt chiều dài lịch sử. Lịch sử của dân tộc ta, trước hết và trên hết là lịch sử chống giặc ngoại xâm. Thời buổi nào cũng vậy, cả quá khứ và hiện đại, đều cho thấy, nhân dân ta luôn luôn mong muốn có độc lập, khát khao hòa bình để dưng xây đất nước, nhưng các thế lực thù địch lại luôn lăm le dòm ngó để âm mưu cướp nước ta hoặc để lái con đường của dân tộc đi theo quỹ đạo của họ. Ra khỏi cuộc trường chinh suốt 30 năm, đổ biết bao hy sinh xương máu để chiến thắng kẻ thù, giành toàn vẹn độc lập tự do cho Tổ quốc, nhiều người trong chúng ta tưởng sẽ không bao giờ đất nước phải đối đầu với âm mưu phá hoại thù địch, để bình yên xây dựng cuộc sống. Nhưng thực tế đã chứng tỏ ngay sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, chúng ta phải đối phó với hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới và 20 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, cùng với chính sách mở cửa thân thiện, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai của chúng ta, với xu thế
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 59

hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế không thể cưỡng lại được, chúng ta lại phải đối mặt từng ngày, từng giờ với mọi toan tính thâm độc của các thế lực thù địch chống phá quyết liệt sự nghiệp phục hưng đất nước của nhân dân ta, nhằm xóa bỏ chế độ XHCN của chúng ta. Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, hệ thống XHCN lâm vào thoái trào, thì các nước XHCN còn lại, hiển nhiên là mục tiêu tiến công trực tiếp của các thế lực thù địch. Trong đó Việt là một trong những mục tiêu hàng đầu. Không nhận rõ điều đó thì cực kỳ nguy hiểm. Chiến lược "diễn biến hòa bình" từng làm tan vỡ Liên Xô-thành trì phe XHCN, làm sụp đổ cả một hệ thống chính trị thế giới, mà đối phương gần như không tốn một viên đạn, đủ cho thấy tính hiệu quả của chiến lược cực kỳ thâm độc này, như cựu tổng thống Mỹ Ních-xơn từng ngạo mạn tiên đoán: Năm 1999 chiến thắng không cần chiến tranh! Đáng nói là chiến lược diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch được tiến hành trong môi trường hòa hoãn quốc tế, trong sự bắt tay hợp tác kinh tế và giao lưu văn hóa. Nó không trực diện như đối mặt ở chiến trường, nên hoặc là không nhận thấy hoặc là nhận thấy nhưng không thấy hết tính nguy hiểm của nó. Cái khó nhất là thời bình, toàn Đảng, toàn dân lại phải tập trung trí tuệ, công sức cho cuộc bứt phá chống nghèo nàn, thì việc lơ là phòng thủ, coi nhẹ chăm lo củng cố quốc phòng là điều thường dễ xảy ra. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng X đã chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, công chức và cho toàn dân... Xây dựng thế trận lòng dân làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc". Để làm tốt chủ trương thực hiện mọi biện pháp cần thiết, có hiệu quả, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân hùng mạnh, thì điều quan trọng đầu tiên là phải tập trung tuyên truyền, giáo dục để toàn dân hiểu rõ những âm mưu thủ đoạn chống phá của địch, những thách thức đang rình rập từng ngày,
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 60

hiểu rõ tầm quan trọng của ý thức cảnh giác, chăm lo củng cố nền quốc phòng; xây dựng thế trận phòng thủ, xây dựng LLVT nhân dân hùng mạnh để Tổ quốc không thể bị bất ngờ. Bồi đắp được ý thức cảnh giác, ý thức phòng vệ, phòng thủ đất nước của toàn dân, chính là xây dựng được "thế trận lòng dân", yếu tố sâu xa bền vững nhất của thế trận chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta đã có những bài học vô giá về kinh nghiệm xây dựng thế trận lòng dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thấm nhuần quan điểm "dù đốt cháy dãy Trường Sơn cũng quyết giành tự do độc lập", nên nhân dân ta mới có quyết tâm "cả nước là chiến trường, toàn dân là lính", mới hy sinh "nhà tan cửa nát cũng ừ, quyết tâm đánh Mỹ cực chừ sướng sau". Ngày ấy, một người lính sợ gian khổ quay trở về, thì chỉ với nỗi đau tinh thần của gia đình, với lời khuyên chí tình của làng xóm, hầu hết họ lại tự giác quay trở lại chiến trường đầy hy sinh gian khổ. Sức mạnh của thế trận lòng dân chính là ở đấy. Chúng ta không được để mai một bài học vô giá đó, chúng ta không thể vì bất cứ lý do gì, để người dân lơ là mất cảnh giác. Một dân tộc mất cảnh giác thì không thể đổ lỗi cho con em mình cầm súng thiếu cảnh giác sẵn sàng chiến đấu khi Tổ quốc lâm nguy. Báo cáo chính trị cũng nêu rõ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, trong hoàn cảnh thời bình, chính là xây dựng thế trận bố phòng với các khu vực phòng thủ tỉnh huyện, xã. Sao cho việc bố trí lực lượng, thế trận, công tác cơ động, ứng cứu, công tác bảo đảm hậu cần, vận tải, cứu thương... phải được tập dượt hoàn chỉnh, để mỗi làng xã là một pháo đài kiên cường trong pháo đài của huyện, mỗi huyện là một pháo đài kiên cường trong pháo đài của tỉnh. Địch đổ bộ ở bất cứ đường nào, hướng nào, thì nơi ấy, địa phương ấy phải là trận đồ bát quái để tiêu diệt địch tại chỗ. Đó chính là thế trận phòng thủ của chiến tranh nhân dân. Chúng ta cần phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế: cấp ủy Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu. Các cuộc diễn tập ở nhiều địa phương cho thấy, mỗi năm, cơ chế này ngày một hoàn thiện, đặc biệt là sự “vào cuộc” thật sự của các cấp ủy Đảng và chính quyền. Tuy nhiên qua một
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 61

số cuộc diễn tập lớn cấp tỉnh, cũng còn bộc lộ không ít hạn chế, mang tính hình thức, nhất là sự phối hợp thiếu đồng bộ, thiếu ăn ý của các ban, ngành, đoàn thể, trong hệ thống chính trị của địa phương, cơ sở. Chăm lo phát triển kinh tế đang là nhiệm vụ trọng tâm của cả nước, của từng địa phương. Đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, phân bổ lại các vùng chuyên canh, đất đai, dân cư. Bất cứ một chủ trương, giải pháp nào đều phải được tính đến yếu tố bảo đảm ưu tiên cho quốc phòng khi có tình huống chiến tranh. Mải lo phát triển kinh tế mà coi nhẹ, thậm chí không đếm xỉa đến việc kết hợp với yếu tố phòng thủ thì cũng ví như xây nhà cao tầng, chỉ chăm lo bề nổi mà không quan tâm đến nền móng chìm sâu dưới đất. Và như thế thì hoặc là công trình đồ sộ làm xong có khi phải dỡ ra làm lại bảo đảm chiến lược phòng thủ khi có tình huống, hoặc sẽ có tội với lịch sử do việc phát triển kinh tế không kết hợp, không đi đôi với việc xây dựng thế trận bố phòng. Không phải là không có cán bộ chủ chốt cấp Bộ, ngành, địa phương đã không đặt lên bàn cân về quốc phòng và kinh tế, về phát triển và phòng thủ. Cũng không phải không có người tìm mọi giải pháp để thu hồi đất quốc phòng, mặc dù biết đó là đất sân bay, là trường bắn, bãi tập huấn luyện, nhưng vẫn nhìn từ góc độ kinh tế. Trước mắt có thể không thấy hại hoặc không có gì xảy ra, nhưng di họa thì các thế hệ con cháu sẽ phải gánh chịu. Về việc này, chỉ xin dẫn ra hai ví dụ nhỏ. Một trận địa cao xạ ở huyện H, do sự phát triển của các dãy nhà cao tầng của khu dân cư, đã "vô hiệu hóa" tầm ngắm của trận địa. Sân bay T của một tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, do địa phương quy hoạch chia đất cho dân xây dựng, đã khiến đường bay dã chiến quân sự hoàn toàn mất khả năng hạ cánh. Như vậy, câu nói "kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế" nghe thật dễ hiểu, nhưng thực tế chứng minh đây còn là điều rất xa vời. Có thể nói nó là tiêu biểu nhất cho khoảng cách xa vời giữa lý luận và thực tiễn, giữa chủ trương và hành động, giữa lời nói và việc làm,
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 62

trong quá trình phát triển kinh tế ở nhiều địa phương, mà chúng ta không thể không kịp thời kiểm tra, chấn chỉnh, rút kinh nghiệm. Trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, những năm gần đây, hàng loạt mô hình các khu kinh tế quốc phòng của quân đội được triển khai ở nhiều địa bàn, đặc biệt là các vùng trọng điểm, vùng biên giới là thật sự có hiệu quả, cả về trước mắt và lâu dài. Chính phủ cần tạo điều kiện để Bộ Quốc phòng tiếp tục nhân rộng và phát triển các mô hình này. Đương nhiên, chăm lo xây dựng thế trận phòng thủ phải đi đôi với xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, đặc biệt là Quân đội nhân dân hùng mạnh. Nói đến quân đội, là nói đến niềm tin yêu của toàn Đảng, toàn dân ta. Sau chiến thắng vĩ đại năm 1975, đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn đã từng nói: "Thành quả vĩ đại nhất trong 30 năm qua là chúng ta đã xây dựng được một Quân đội nhân dân cách mạng, anh hùng". Thời bình, quân đội nước nào cũng tinh giản biên chế, tổ chức gọn nhẹ, coi đó là vấn đề có tính quy luật. Quân đội ta cũng vậy. Sự tinh giản biên chế, tổ chức trang bị, sắp xếp lại lực lượng, trong 20 năm đất nước đổi mới, cho thấy là chủ trương hoàn toàn đúng đắn và sức mạnh quân đội ngày càng được tăng cường, đặc biệt là nhân tố chính trị, tinh thần của quân đội ngày càng được thử thách rèn luyện và nâng cao. Việc khôi phục chế độ chính ủy-chính trị viên gắn với chế độ một người chỉ huy, càng bảo đảm cho sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với quân đội được coi trọng và tăng cường. Tình hình chính trị thế giới nhiễu nhương, đất nước rình rập nhiều hiểm họa, sự kiên định vững vàng về bản lĩnh, dày dạn kinh nghiệm tác chiến của quân đội là một bảo đảm không gì thay thế được về niềm tin của toàn dân đối với việc bảo vệ chế độ XHCN của chúng ta. Những năm đổi mới, với sự bức xúc của dân tình tại nhiều điểm nóng, với sự giật dây của kẻ phá hoại gây ra các vụ bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên, và với thiên tai bão lũ dồn dập, trong những hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng ấy, nổi bật
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 63

nhất là vai trò của bộ đội lăn lộn hòa giải cùng dân, đi đầu xông pha trong cứu hộ, cứu nạn... đã làm cho sau 30 năm chiến tranh, hình ảnh cao đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ một lần nữa lại tỏa sáng trong dân. Cùng với việc chăm lo xây dựng quân đội về chính trị là yếu tố quan trọng hàng đầu, chúng ta cũng còn phải giải quyết nhiều vấn đề cấp bách trong việc nâng cao sức mạnh tổng hợp và sức chiến đấu của quân đội. Đó là việc ngăn chặn tình trạng vi phạm kỷ luật, là chất lượng huấn luyện với dự báo chiến tranh công nghệ cao, là việc đầu tư kinh phí cần thiết cho mua sắm trang bị, là chiến lược phát triển công nghiệp quốc phòng... Và một điều cũng đang là một thực trạng cần phải được các cấp, các ngành chức năng nhìn nhận thấu đáo, để có quyết sách lâu dài. Đó là việc ưu tiên, chăm lo cho đời sống cán bộ, chiến sĩ, dù được ưu ái vẫn đang còn là khoảng cách xa so với sự phát triển của thực tiễn. Có thể nói, với đa số cán bộ trong quân đội đồng lương thực tế đã không thể bảo đảm để họ chu cấp cho cuộc sống gia đình. Chúng ta không thể chỉ nhìn nhận đời sống sĩ quan, chiến sĩ quân đội ở các trung tâm thành phố. Họ chỉ là một phần nhỏ trong tổng số sĩ quan, chiến sĩ quân đội đang có mặt ở tất cả những nơi xung yếu, những nơi khó khăn gian khổ nhất của Tổ quốc. Nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, không chỉ nói về bộ đội chủ lực, còn một lực lượng khổng lồ, trùng trùng điệp điệp, đó là quân dự bị động viên và dân quân tự vệ. Với chế độ nghĩa vụ 18 tháng, tỷ lệ thanh niên đến tuổi được rèn luyện qua "trường học lớn" quân đội là vô cùng lớn. Họ là những người lính hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về, có mặt ở tất cả các ngành, các địa phương cơ sở. Đó là nguồn bổ sung cán bộ vô cùng quý báu cho mọi cấp. Song điều đặc biệt quan trọng, nhìn ở góc độ phòng thủ quốc gia, họ chính là đạo quân chinh chiến, là những người lính được "gửi" vào dân, là đạo quân "ngụ binh ư nông" trong kế sách giữ nước của cha ông ta. Tuy nhiên, nhận thức và giải quyết vấn đề
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

Nội dung cơ bản của Đại hội Đảng X

Trang 64

này còn chưa được coi trọng, chưa thật thấu đáo, "đạo quân" gửi trong dân này đang "bay nhảy" tứ phương để tìm kế mưu sinh. Việc quản lý họ đúng chuyên ngành quân sự, tổ chức tập trung để huấn luyện theo định kỳ, tuy có làm được nhưng còn là một tỷ lệ rất thấp và với nguồn kinh phí èo ọt, động viên quân dự bị, chỉ như là "ví dụ". Với lực lượng dân quân tự vệ cũng có tình trạng tương tự, trừ những trung đội dân quân tự vệ thường trực được tổ chức ở địa phương, số đông còn lại chưa được coi trọng tổ chức, tập huấn và phát huy tác dụng đúng mức. Hầu hết các cuộc tập trung học tập, huấn luyện của dân quân, tự vệ còn mang nặng tính hình thức, hiệu quả thấp. Chưa bao giờ, đất nước đứng trước thời cơ lớn để cất cánh bay xa như hôm nay. Nhưng chúng ta cũng thấy rõ, những thách thức về sự tồn vong của chế độ cũng cận kề. "Cần thực hiện mọi biện pháp cần thiết có hiệu quả để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện". Đó là quan điểm tư tưởng lớn của Đảng tại đại hội Đảng X. Đó là trách nhiệm không chỉ của riêng lực lượng quân đôi, công an. Đó phải là trách nhiệm chung của Đảng, Nhà nước, của các Bộ, Ban ngành, đoàn thể, của địa phương, cơ sở. Đó là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị của chúng ta trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Quang Thống

Thông tin về eBook
eBook created by LAH Nguồn: Báo Quân Đội Nhân Dân Hà Nội – 9/2006
http://www.esnips.com/web/LAHeBooks

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->