Vùng Tây Bắc (Việt Nam) Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía Tây của miền

Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc. Sơ lược về vùng Tây Bắc: Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000 m. Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1800 m. Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà. Hành chính Về mặt hành chính, vùng Tây Bắc gồm 6 tỉnh với diện tích trên 5,64 triệu ha với 3,5 triệu dân:
• • • • • •

Hòa Bình Sơn La Điện Biên Lai Châu Lào Cai Yên Bái

Lịch sử Tại vùng Tây Bắc thời Pháp thuộc đã lập ra xứ Thái tự trị. Năm 1955, Khu tự trị Thái-Mèo được thành lập, gồm 3 tỉnh Lai Châu, Sơn La và Nghĩa Lộ, và đến năm 1962 gọi là Khu tự trị Tây Bắc. Khu tự trị này giải thể năm 1975. Nói đến Tây Bắc , không thể không nói đến mái nhà sàn hình khum mu rùa với đôi "khau cút" độc đáo, thấp thoáng đâu đó chiếu khăn piêu sặc sỡ mà duyên dáng cùng những hàng cúc bướm phập phồng, đoi xà tích lấp lánh. Vùng văn hoá Tây Bắc là vùng văn hoá ẩm thực độc đáo với món cá nướng "pa pỉnh tộp", món xôi nếp tan thơm dẻo cùng các thức chấm "chặm chéo", nồi "thắng cố" sôi sùng sục cùng thứ rượu trong "lạu sâu" Điện Biên, rượu ngô Bắc Hà....

Văn hoá Tây Bắc là văn hoá của các làn điệu diễn xướng "khắp" (Thái), "đang" Mường, khèn (Hmông)... Tục lệ Tục đeo vòng vía của người Mông - Lào Cai Việc trẻ ốm yếu cúng giải hạn hoặc gửi cửa theo số của nó đều không được thì thầy cúng sẽ xem số và đeo vòng vía cho trẻ. Nghi lễ đeo vòng vía cho trẻ của người Mông hoa ở Cát Cát tương tự như nghi lễ đeo vòng vía cho trẻ của nhóm người Mông trắng ở Bảo Phố - Bắc Hà.

Xên Bản - Nét văn hóa truyền thống của dân tộc Thái Trong truyền thống văn hóa của các dân tộc Tây Bắc, cúng giỗ, lễ hội đã trở thành một phong tục, tập quán truyền từ đời này qua đời khác, trong đó có Xên bản của dân tộc Thái.

bắt đầu một vụ lúa mới. Lễ cúng kéo dài khoảng 30 phút. quý. tân. lễ xong người đại diện mang mâm lễ vật về nhà. Xên bản là một phong tục còn giữ được những nét văn hóa truyền thống . nến. Lễ vật gồm một đầu lợn (phải là lợn đen). cuộc sống ấm no cho mọi nhà. Hằng năm. Sau đó. Sau lễ Xên. bính. Thầy mo lấy một bung thóc. bổ đôi rồi tung lên. một quả trứng.Tiếng Thái. nhâm. thầy mo lấy một đoạn tre. kỷ). ném còn. mùa vụ tốt tươi. mùa màng bội thu. một chiếc búa đặt lên bàn cúng rồi đọc tục mo (lời cúng) cầu cho mưa thuận gió hòa. một chiếc chài quăng cá. hai con gà. “Xên” có nghĩa là cúng. mậu. ất. đinh. chơi tó má lẹ. Lễ Xên bản thường kèm theo hội đánh trống. ai ném còn vào vòng tròn buộc trên ngọn một cây tre dựng giữa sân sẽ được thưởng một chén rượu. xuống mạ. bát gạo. giáp. đem lại sức khỏe. năm nay được tổ chức vào ngày 17/4 dương lịch. hương. Thanh niên nam nữ chia hai bên. lấy một chung rượu cần mời thầy mo và bà con dân bản cùng ngồi ăn uống vui vẻ. Xên bản được tổ chức vào ngày Bính của tháng 4 (theo lịch 10 ngày của dân tộc Thái gồm: canh. bà con trong bản ra đồng cày bừa. xua đuổi tà ma. rộng hơn là cầu cho mưa thuận gió hòa.

đứng thành hàng sát mép ngoài lan can. Tục cầu mưa của người Thái ở Hòa Bình . Gõ sạp tạo bầu không khí sôi động. Tục gõ sạp đón khách của người Thái ở Yên Bái Gõ sạp đón khách là một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo của đồng bào Thái vùng phía tây tỉnh Yên Bái. là nữ trẻ. Số người tham gia gõ sạp từ 9 đến 12 người. náo nhiệt khi trong bản. tiếc rằng truyền thống này đang dần bị mai một. Trong số đó. có một người điều khiển trống cái và số còn lại mỗi người cầm một đôi ống tre hoặc nứa cắt bỏ mấu ở hai đầu. trong mỗi nhà tổ chức các cuộc vui có đông khách tham dự.của dân tộc Thái. giỏi văn nghệ. Đây là một tập tục văn hóa cần lưu giữ cho muôn đời sau.

được nhiều người biết đến. Cơm xôi ăn với ''Pa Pỉnh Tộp'' của người Thái cũng được ví như cơm tám nấu niêu đất ăn với cá bống kho của người miền xuôi vậy. Sau khi mổ cá và bỏ mật cá bắt đầu ướp và nhồi gia vị. Tục ngữ Thái có câu: ''Cáy măn mọk má ha. Trước khi mổ phải cạo sạch vảy để khi ướp gia vị ngấm đều vào cá. Để làm được món ''Pa Pỉnh Tộp''. thơm lừng với cơm nếp xôi dẻo ta mới thấy hết cái vị ngọt béo của cá. . hễ trời đại hạn là người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình) lại tổ chức ngày hội cầu mưa. vị cay của quả ớt. Tuy chỉ là món ăn dân dã. Tham gia tổ chức hội đông nhất là nam nữ thanh niên. người ta chọn loại cá chép nặng khoảng 0. Hội tổ chức theo từng bản vào những đêm trăng có quầng đỏ quầng vàng . không bằng pa pỉnh tộp đem cho''. tháng tư hằng năm. Nếu sau ngày hội cầu mưa. Thưởng thức miếng cá nướng vàng rộm. Báu to pa pỉnh tộp ma sú'' nghĩa là: '' Gà tơ tần đem đến. các làng lại tổ chức tiếp với hình thức như lần hội kỳ trước. Còn lớp người trung niên và già cả thì ở nhà để sẵn sàng đón tiếp đoàn hát cầu mưa.Vào tháng ba. xanh của rau thơm lẫn màu vàng của cá nướng. Ẩm Thực Pa pỉnh tộp – cá suối nướng Pa pỉnh tộp (cá nướng) là món ăn cổ truyền của đồng bào dân tộc Thái vùng Tây Bắc. Người ta không mổ cá đằng bụng mà lại mổ đằng dọc sống lưng để khi gấp úp con cá mềm mại gấp dễ dàng hơn và để phần gia vị nhồi trong bụng cá khi tiếp xúc với than hồng sẽ toả mùi thơm ngấm vào thịt cá. Cá nướng này trân quí không chỉ bởi giá trị ẩm thực mà còn ước lượng chuẩn xác và bàn tay khéo léo của người làm ra nó.điềm báo trời đại hạn kéo dài. nhưng pa pỉnh tộp từ lâu đã nổi tiếng như một món ăn đặc trưng của ẩm thực dân tộc Thái. cay của quả mắc khén. màu xanh của hành.5kg trở lên. trời vẫn nắng hạn thì đến tháng trăng sau. béo và còn tươi sống.

cảm ơn quý khách chủ nhà sẽ mời và chia một phần ''Pa Pỉnh Tộp'' cho khách và mọi người với ý niệm: đây là món ăn quý. mến khách. chấm muối ớt giã (chẳm chéo). vì vậy bạn đừng bỏ qua nếu có cơ hội đến thăm bản của người Thái. sau khi đôi lời chia vui.Mỗi khi có khách quý tới nhà. "Pa Pỉnh Tộp" cũng còn vừa món ăn đời thường. Vừa là món ăn dành để đãi khách quý. . cùng với can nước mát thật giản dị mà ngon miệng. hẹn gặp lại không bao giờ quên. Cơm xôi ăn với cá nướng. Giờ đây món ''Pa Pỉnh Tộp'' của người Thái đã trở nên nổi tiếng và trở thành nhu cầu được thưởng thức đối với du khách. rất thuận tiện cho việc gói cơm đi làm nương rẫy hàng ngày.

Thắng cố .

sau đó là cảm giác êm dịu. bùi và rất giàu dinh dưỡng. bù lại hạt mềm. ngô . hay ở chợ phiên. năng suất không cao. lúc mới uống nghe hương vị thơm nồng.Thắng cố là món ăn đặc trưng truyền thống của người H'mông. thịt ngựa và thịt lợn. Ngô dùng nấu rượu Bản Phố không phải trồng ở nương rẫy hoặc thung lũng. dòng họ. chảo vẫn để trên bếp đun. vàng. những ngày có đông người như hội làng. Đây là món ăn thường được làm vào các ngày lễ hội. Loại ngô này cho bắp chắc. tiết. Rượu ngô Bản Phố Rượu ngô Bản Phố hay còn gọi là rượu ngô Bắc Hà là một thứ rượu ngon đặc sản của người Mông ở Bản Phố. Lào Cai. cao nguyên Bắc Hà. Rượu ngô Bản Phố hương thơm thì nồng nàn. Khi ăn. Cùng với rượu Táo Mèo và rượu San Lùng. uống vào không gắt. được cho vào chảo nước đun nhừ. mà ở trên núi đá cao heo hút. Rượu ngô Bản Phố nấu từ nước lấy từ suối Hang Dế. tim. thịt. không chua. ăn đến đâu múc ra bát đến đó. Sau khi thu hoạch. quyến rũ. có thể cho thêm các loại rau. thịt trâu. lễ ăn thề bảo vệ rừng. Các bộ phận như: lòng. Thịt nấu thắng cố được chế biến từ thịt bò. Rượu ngô nơi đây say lâu nhưng không làm người ta ngu muội mà cảm giác vẫn sảng khoái. xương. gan. rượu Bản Phố có màu trong như nước suối. rượu ngô Bản Phố là các danh tửu của Lào Cai.

ý nghĩa thấm sâu và hào hứng mà những lúc khác không có rượu chưa nói được.được giữ nguyên bắp. cùng với bằng hữu. Nếu uống vào buổi tối. nói lên được những điều mới mẻ. rượu như có sợi dây vô hình ràng buộc tình yêu thương khăng khít. Bí quyết tạo nên sự khác biệt của rượu ngô Bản Phố với các loại rượu khác là lên men bằng bột bông của cây "pa". phơi khô và bảo quản để nấu rượu dần. Người Mông nơi đây cho rằng:" uống rượu Bản Phố vào buổi sáng sẽ có thêm sức mạnh." . ý đẹp. trong lòng mọi người trào dâng lời hay. tựa như có một vị thần dũng mãnh hỗ trợ làm việc đồng áng suốt ngày không cảm thấy mệt mỏi.

cách trình diễn thơ ca.. làn điệu dân ca.. Những lời khắp có vần vè như thơ nhưng hơn nữa nó còn có nhạc điệu và tiết tấu rất cao. TÂY BẮC VÀ TIẾNG KHÈN H’MÔNG .Văn hóa – văn nghệ Khắp .một hình thức sinh hoạt độc đáo của dân tộc Thái (Cà Chung) Khắp nghĩa thực là hát. nhưng còn có nghĩa là thơ ca.

chân leo dốc cao. đời sống tâm linh của người dân tộc H’Mông và nó có sức lây lan.. Điện Biên. xuống chợ. tay cầm khèn. lên nương. Bởi vậy mà nhạc sĩ Hồng Thao phải thốt lên rằng: “Tiếng khèn Mông làm cho Ngọc hoàng phải động lòng thương cảm với những người nghèo khổ. con nhím đang đào hang cũng phải lắng tai nghe. chim rừng thôi hót. Sơn La…. . làm cho suối ngàn ngừng chảy. khiến con nai đang đi tìm nước uống cũng quên khát chạy lại.. bên cạnh là các cô gái xúng xính váy hoa. Khèn gắn liền với đời sống hàng ngày.Lưng đeo gùi nặng trĩu.”. truyền cảm rất mãnh liệt. tay cầm dù…đó là hình ảnh rất quen thuộc của các chàng trai H’Mông mà ta có thể bắt gặp ở bất kỳ bản làng nào tại các tỉnh vùng cao Tây bắc: Lai Châu.

. tạo nên những hoa văn. hoạ tiết như: Búp cây guột – “cút lo ngong. vừa gợi sự liên tưởng tới sự chắc chắn. hoạ tiết trang trí cho “Khau cút có một vẻ đẹp hoàn hảo. đóng trên hai đầu đòn nóc – tiếng Thái là “tiêu bôn”. hình trăng khuyết – “bươn hai bín…” Khau cút trước hết để chắn gió cho mái tranh hai đầu hồi – “pảy lốm”. hoa sen – “bók bua”. Khau cút gồm hai thanh gỗ bắt chéo nhau hình chữ X. bằng trí tưởng tượng phong phú và bàn tay tài hoa của mình đã mô phỏng tự nhiên. dần dần các nghệ sỹ dân gian. vừa tạo dáng. chuyên chở những ý nghĩa nhân sinh cao đẹp.Nhà cửa Hình tượng “Khau Cút” của người Thái đen Tây Bắc Ngôi nhà sàn của người Thái Đen – Tây Bắc bao giờ hai đầu hồi cũng có cấu trúc khum khum như mai rùa – tiếng Thái gọi là “tụp cống”. bền vững. Trên “Khau cút” được trang trí nhiều hoa văn.

Dao Tam đảo. Dao Ðại bản). Dao Lô gang (Dao Thanh phán. Dao sừng. Dao Dụ lạy. người. Dao Cóc Mùn). động vật. . Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu. họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ. Dao Tiểu bản). váy hoặc quần.Trang phục Vẻ đẹp trang phục phụ nữ Tây Bắc Miền núi phía Bắc không chỉ có phong cảnh hùng vĩ trữ tình. Trong dân tộc Dao có các nhóm địa phương như: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng. Dao Tiền (Dao Ðeo tiền... Dao Thanh Y. rang trí trang phục. thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Đây là các thiếu nữ người Dao. Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng. thường mặc áo dài yếm. Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển. Y phục rất sặc sỡ với nhiều loại hoa văn như chữ vạn. Dao Nga hoàng. cây thông. Dao Quần trắng (Dao Họ).. hình chim. mà còn là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số mang bản sắc riêng độc đáo. Dụ Cùn). lá cây.. Dao áo dài).

Mông Xanh. váy. Thiếu nữ dân tộc Mông Hoa ở Mường Khương . áo. Người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chảy rồi in lên vải. tạp dề đằng trước và sau váy. Mông Ðen. Người Mông có các nhóm: Mông Trắng.Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Trang phục phụ nữ Mông do chính họ làm ra. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm. Mông Ðỏ. Na Miẻo. đồ trang sức… Váy của phụ nữ Mông thường hình nón cụt. Dù rất đa dạng nhưng bắt buộc phải có những thứ như: khăn đội đầu. thắt lưng. xà cạp. Mông Hoa. xếp nếp xoè rộng.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm. in hoa văn bằng sáp ong. trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. . vấn tóc cùng tóc giả. áo xẻ nách. Ðể tóc dài. Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong. áo xẻ ngực.Nụ cười vùng cao Bắc Hà Phụ nữ Mông Trắng thì trang phục thường làm bằng vải lanh trắng và áo thường xẻ ngực có thêu hoa văn ở cánh tay và yếm sau lưng.

hoa văn thêu phổ biến là hình con ốc. hình chữ thập… . cài bằng lược móng ngựa. hình vuông.Thiếu nữ dân tộc Mông Đen ở Sa Pa Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng. Trang trí trên y phục của họ chủ yếu bằng đắp ghép vải màu. hình quả trám. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu.

Thu Lao và Pa Dí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần. Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt. . nhuộm chàm. Phén.Thiếu nữ dân tộc Tày Nhóm địa phương của người Tày gồm: Thổ. Ngạn. hầu như không thêu thùa. có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. trang trí.

Vai khoác túi thêu chỉ màu với hoa văn là những đường gấp khúc. hò áo và cổ tay áo viền những dải vải khác màu. . áo cánh 5 thân xẻ tà.Thiếu nữ dân tộc Giáy Phụ nữ Giáy thường mặc quần màu chàm có dải vải đỏ đắp trên phần cạp. cài khuy bên nách phải. dài quá mông. Tóc vấn quanh đầu với những sợi chỉ hồng thả theo đuôi tóc.

ngực áo và hai ống tay áo. Phụ nữ Hà Nhì mặc áo dài 5 thân. Khăn. Hà Nhì đen. Áo bằng vải bông nhuộm chàm màu đen. cùng những đường nét hoa văn. Lào Cai. là nơi để chị em phô diễn kỹ nghệ thêu móc và trình độ thẩm mỹ của mình thông qua cách bố trí các khoanh vải có màu sắc tương phản nhau. Trên ngực áo phía phải. Cồ Chồ. xẻ từ sườn xuống chân. màu xanh. . gắn thêm những đồng xu bằng bạc hoặc cúc bằng nhôm.Người Hà Nhì cư trú ở Lai Châu. Nhóm địa phương gồm: Hà Nhì. Hà Nhì La Mí.

Bộ y phục truyền thống là chiếc áo dài tứ thân xẻ giữa. vòng tay. Mán.Thiếu nữ dân tộc La Chí Người La Chí còn gọi là Thổ Ðen. thắt lưng bằng vải. Nữ giới dùng khăn đội đầu dài gần 3 mét. Phụ nữ La Chí mặc quần. Xá. một số ít mặc váy. yếm thêu. đeo vòng tai. . màu chàm đen.

Nùng Inh. Nùng Dín..Hai cô gái dân tộc Nùng ở Bắc Hà Nhóm địa phương của người Nùng gồm: Nùng Giang. Nùng Xuồng.. thường làm bằng vải thô tự dệt. . Nùng Lòi. Áo năm thân. cài cúc bên nách phải. Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản. dài quá hông. Nùng Cháo. Nùng Phàn Slình. Nùng An. Nùng Quy Rịn. nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí.

Trang phục nam .