P. 1
Thực trạng và giải pháp hạn chế nhập siêu hàng hóa tại Việt Nam

Thực trạng và giải pháp hạn chế nhập siêu hàng hóa tại Việt Nam

|Views: 820|Likes:
Được xuất bản bởiJonny Sun Rise

More info:

Published by: Jonny Sun Rise on Nov 07, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

11/05/2012

pdf

text

original

Nghiên cứu khoa học

LỜI NÓI ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài . Kinh tế Việt Nam trong vài năm trở lại đây đang có những bước chuyển biến tích cực như tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân luôn ở mức cao so với khu vực và thế giới, giai đoạn 1991 – 2009 là 7.56% , chỉ đứng sau Trung Quốc và Ấn Độ; GDP bình quân đầu người tăng cao, bình quân 13,6% trong cùng kỳ từ năm 1991 – 2009 và được đánh dấu bởi cột mốc năm 2008 khi nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình. Song song với những chuyển biến tích cực đó thì một thực trạng đáng báo động trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam từ những thập niên 90 tới nay là tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai xuất phát chủ yếu từ thâm hụt cán cân thương mại ngày càng gia tăng. Nếu như xuất khẩu tăng trưởng đều đặn mỗi năm (đặc biệt, xuất siêu vào năm 1992) nhờ xuất những mặt hàng chủ lực như: nguyên vật liệu thô (dầu mỏ, than đá…), nông sản (gạo, hạt điều, hạt tiêu…), thủy hải sản, hàng gia công mỹ nghệ… thì khi đề cập vấn đề nhập khẩu ta sẽ thấy điều hoàn toàn trái ngược. Xét khía cạnh kim ngạch và quy mô nhập khẩu thì tốc độ tăng trưởng nhập khẩu bình quân giai đoạn 1991 - 2000 là 17,5%, giai đoạn 2001 – 2006 là 19%, giai đoạn 2007 – 2009 là 11% . Nhìn chung tăng trưởng nhập khẩu của nước ta không ổn định qua các thời kỳ, thậm chí còn vượt xuất khẩu rất nhiều mặc dù đã có sự can thiệp của Chính Phủ trong việc điều tiết thị trường, gia tăng tỷ trọng các mặt hàng công nghiệp, đề ra các chính sách kích thích tăng trưởng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu ... Tuy vậy, các biện pháp đó vẫn chưa thực sự hiệu quả trong việc kiềm chế hiện tượng nhập siêu quá nóng hiện nay.

1

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Chỉ xét riêng thị trường trong nước, nhập siêu đã gây tác động không nhỏ đến các doanh nghiệp trong nước khi chiếm lĩnh thị phần đầu vào và đầu ra khiến những sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra khó cạnh tranh trên thị trường do giá bán cao, gây thiệt hại nặng; bên cạnh đó, nhập siêu còn tạo ra sự phụ thuộc vào nước ngoài, làm mất cân đối cán cân thanh toán, ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái … Trước tình hình đó, đòi hỏi chúng ta cần phải sớm tìm ra những chính sách hợp lý hơn để kiềm chế nhập siêu, tiến tới cân bằng cán cân thanh toán và thặng dư thương mại.

2.

Mục đích nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu này là nhằm đưa ra những đề suất tốt nhất cho Chính

phủ trong việc tiếp tục ra các chính sách mới kiềm chế nhập siêu, tăng cường xuất khẩu để tiến tới cân bằng cán cân thương mại và xa hơn là thặng dư thương mại ở các giai đoạn tiếp theo của nền kinh tế nước nhà.

3.

Nhiệm vụ nghiên cứu. Để thực hiện được mục đích đã đề ra, đề tài nghiên cứu cần hoàn thành

được những nhiệm vụ sau:

– – – – 4.

Khát quát hóa cơ sở lý luận về nhập siêu. Đưa ra thực trạng nhập siêu trong nước và những kinh nghiệm hạn Dự báo tình hình nhập siêu của Việt Nam trong những năm tiếp theo. Đưa ra các giải pháp, công cụ để hạn chế nhập siêu. Phạm vi nghiên cứu. Đó là lĩnh vực nhập khẩu hàng hóa (không bao gồm lĩnh vực nhập

chế nhập siêu của các quốc gia khác làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

khẩu dịch vụ). Trong nhập khẩu hàng hóa, cũng chỉ đi sâu nghiên cứu, phân tích một số khía cạnh chủ yếu ở giai đoạn 2001 – 2009, như: tốc độ tăng trưởng và qui mô nhập khẩu, cơ cấu mặt hàng nhập khẩu, cơ cấu thị 2 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

trường nhập khẩu, các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực nhập khẩu, các điều kiện ảnh hưởng đến nhập khẩu và kinh nghiệm của các quốc gia đã kiềm chế được tình trạng nhập siêu. Từ đó đề suất các giải pháp kiềm chế nhập siêu cho Chính phủ trong giai đoạn sau 2010.

5.

Phương pháp nghiên cứu. Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: phương pháp hệ

thống hóa, thống kê, tổng hợp, so sánh dẫn giải, phân tích…

6.

Kết cấu của đề tài. Kết cấu đề tài gồm ba chương chính, bao gồm: Chương I: Khái lược về nhập siêu, dự báo nhập siêu của Việt

Nam trong thời gian tới và kinh nghiệm của một số nước về giải quyết vấn đề nhập siêu. Chương II: Thực trạng vấn đề nhập siêu của Việt Nam trong thời gian qua. Chương III: Các biện pháp kiềm chế nhập siêu của Việt Nam trong thời gian tới.

CHƯƠNG I

3

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

KHÁI LƯỢC VỀ NHẬP SIÊU, THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

I.

KHÁI NIỆM VỀ NHẬP SIÊU, NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHẬP

SIÊU VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHẬP SIÊU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ. 1. Khái niệm, đặc điểm và các quan niệm về nhập siêu. 1.1. Khái niệm nhập siêu. Nhập siêu là khoản thiếu hụt của giá trị xuất khẩu hàng hoá so với giá trị nhập khẩu hàng hoá của một nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường tính theo năm). Nói cách khác, nhập siêu là khoản thiếu hụt cán cân thanh toán thương mại hàng hoá của một nền kinh tế trong quan hệ trao đổi hàng hoá với phần còn lại của thế giới trong một khoảng thời gian xác định (thường là một năm). Tỷ lệ nhập siêu là quan hệ so sánh giữa khoản giá trị nhập siêu với tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá của nước đó trong cùng thời gian, được tính bằng số phần trăm (%). Cán cân thương mại (hay còn gọi là cán cân xuất nhập khẩu hàng hoá) là mối tương quan giữa giá trị các khoản nhập khẩu hàng hoá được tính theo giá CIF, tức là giá trj cả hàng hoá (cost), chi phí bảo hiểm (insurance) và chi phí vận chuyển (freight) với giá trị các khoản xuất khẩu hàng hoá được tính theo giá FOB (free on board), tức là chỉ tính theo giá mua được khách hàng nước ngoài chấp nhận, không tính chi phí bảo hiểm và vận chuyển. Nói cách khác, cán cân thương mại Việt Nam là mức chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu hàng hoá và giá trị nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam với các nước trong một thời kì nhất định. Trong cán cân thương mại hàng hoá, trị giá XK được tính theo giá FOB, trị giá NK được tính theo giá CIF. Khi trị giá XK lớn hơn trị giá NK thì cán cân thương mại mang dấu dương (+) hay còn gọi là

4

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

xuất siêu; khi trị giá NK lớn hơn trị giá XK thì cán cân thương mại mang dấu âm (-) hay còn gọi là nhập siêu. Cán cân thanh toán quốc tế theo định nghĩa của IMF – là một bản

thống kê cho một thời kì nhất định (thường là một năm) trình bày: a) các luồng trao đổi hàng hoá, dịch vụ và thu nhập giữa nền kinh tế trong nước và thế giới bên ngoài; b) những thay đổi về quyền sở hữu và những thay đổi khác về vàng, quyền vay vốn đặc biệt trong nền kinh tế, những khoản có và khoản nợ của nước đó với các nước khác trên thế giới; c) những khoản chuyển tiền không phải bồi hoàn và những khoản thu nhập tương đương cần phải được cân bằng. Nói cách khác, cán cân thanh toán quốc tế là bảng thống kê tất cả những giao dịch giữa những người cư trú cả một nước (như Việt Nam) với những người cư trú của nước khác (những người không cư trú ở Việt Nam) trong một thời kì nhất định, thường là một năm. Trong đó, các giao dịch kinh tế được hiểu là sự trao đổi tự nguyện quyền sở hữu hàng hoá, dịch vụ hoặc tài sản chính giữa những người cư trú và những người không cư trú (đối với các giao dịch không đòi hỏi thanh toán như quà tặng và các di chuyển đơn phương khác về tiền giữa những người cư trú và những người không cư trú cũng được đưa vào CCTTQT). Người cư trú được hiểu là những thể nhân hoặc pháp nhân cư trú đang ở quốc gia được xét lâu hơn một năm, không phụ thuộc vào quốc tịch của họ (các nhà ngoại giao, các chuyên gia quân sự ở bên ngoài lãnh thổ của họ cũng như các tổ chức quốc tế không phải là người cư trú của nơi họ làm việc). Theo IMF, CCTTQT gồm hai tài khoản chính là cán cân thanh toán vãng lai (gọi tắt là tài khoản vãng lai) và cán cân tài khoản vốn. I.2. Đặc điểm của nhập siêu Đặc điểm về qui mô, mức độ nhập siêu.

5

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Qui mô nhập siêu của nền kinh tế được xác định bằng giá trị đo bằng ngoại tệ chuyển đổi sau khi thực hiện phép trừ đại số của tổng giá trị XK hàng hoá với tổng giá trị NK hàng hoá trong một giai đoạn nhất định (thường là một năm). Ví dụ, đối với trường hợp Việt Nam, qui mô nhập siêu được tính bằng Đô la Mỹ. Mức độ nhập siêu của nền kinh tế được xác định bằng quan hệ tỷ lệ phần trăm (%) giữa giá trị nhập siêu tính bằng ngoại tệ (đôla Mỹ) với tổng giá trị (hay kim ngạch) XK hàng hoá tính bằng ngoại tệ chuyển đổi (đôla Mỹ) trong cùng một giai đoạn (thường là một năm). sau: Nhập siêu để tăng trưởng (là dạng thái tích cực của nhập siêu): Đây là trường hợp do đầu tư phát triển nhanh, đòi hỏi phải tăng nhanh nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu “đầu vào” của sản xuất nhưng năng lực sản xuất trong nước đang trong quá trình hấp thụ đầu tư chưa kịp chuyển hoá thành năng lực XK của nền kinh tế trong ngắn hạn, nên XK chưa tăng trưởng kịp tốc độ của NK, dẫn đến nhập siêu. Tuy nhiên, nếu sản xuất trong nước hấp thụ tốt vốn đầu tư, đầu tư có chọn lợc và hiệu quả, từ đó tăng năng lực sản xuất hàng XK thì nhập siêu cao có thể là tiền đề của tăng trưởng XK trong dài hạn, tạo hiệu ứng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế ở giai đoạn tiếp theo. Nhập siêu để tiêu dùng : Đây là trường hợp do sản xuất trong nước bị trì trệ, lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất trong nước không đủ cho tiêu dung trong nước (Tổng cung < Tổng cầu) phải tăng NK để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong nước, trong khi hàng XK có sức cạnh tranh yếu, tăng trưởng XK chậm hơn tăng trưởng NK dẫn đến nhập siêu (có xu hướng ngày càng cao). Nguyên nhân của tình trạng này có thể do mức bảo hộ quá cao và cơ 6 Lớp QTDN.A/K11 Đặc điểm về các dạng thái của nhập siêu .

Nếu theo mục đích, nhập siêu của các nền kinh tế thường ở 4 dạng thái chủ yếu

Nghiên cứu khoa học

cấu bảo hộ bất hợp lý; duy trì tỷ giá và lãi suất thấp trong một thời gian dài; qui mô của khu vực kinh tế Nhà nước vượt quá khả năng chi tiêu của Nhà nước; hoặc/và chính sách tiền tệ lỏng lẻo, chính sách quản lý nhập khẩu không dựa trên các dự báo khoa học về cung – cầu, tạo khuynh hướng nhập khẩu hàng tiêu dùng, đầu cơ. Dạng thái nhập siêu này có thể được gọi là tiêu cực, nó để lại hậu quả lâu dài cho nền kinh tế. Nhập siêu chu kỳ : Đây là dạng thái nhập siêu bị tác động bởi tính chu kỳ của nền kinh tế. Khi nền kinh tế ở giai đoạn suy thoái, nhu cầu NK giảm mạnh trong khi đó các nước muốn xuất khẩu nhiều hơn và do đó có thể có xuất siêu. Ngược lại, khi nền kinh tế bước vào thời kỳ tăng trưởng thì đầu tư tăng, nhu cầu nhập khẩu tăng theo nhưng năng lực xuất khẩu chưa tăng ngay theo kịp tốc độ tăng trưởng nhập khẩu, nên thường phải nhập siêu. Một số công trình nghiên cứu cho thấy, trong thời kỳ phát triển bùng nổ của nền kinh tế thường xảy ra nhập siêu. Trong khi đó, trong thời kỳ khủng hoảng lại có thể có xuất siêu, điều này cũng phần nào giúp phục hồi trở lại cho chu kỳ kinh tế. Tuy nhiên, điều này chỉ có tính tương đối, bởi có những trường hợp, khi nền kinh tế ở thời kỳ suy thoái, nhưng vẫn xảy ra nhập siêu trầm trọng. Nhưng nhìn chung, khi nền kinh tế tăng trưởng trở lại, đầu tư tăng nhu cầu nhập khẩu cũng tăng theo, hiện tượng nhập siêu xuất hiện là tín hiệu tích cực vì nó lại có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng, tăng năng lực sản xuất hàng XK, khi đó nhập siêu cao lại là tiền đề tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn phát triển tiếp theo của nền kinh tế. Nhập siêu lợi thế so sánh : Đây là dạng thái nhập siêu xảy ra trong trường hợp một nước nào đó có lợi thế so sánh phát triển XK một số ngành sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) nên chỉ tập trung phát triển sản xuất và xuất khẩu các ngành đó; do đó phải tăng nhập khẩu các ngành sản phẩm kém lợi thế hơn để đáp ứng nhu cầu trong nước nên cán cân thương mại hàng hoá bị thâm hụt,

7

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

nhưng nước này lại có thể đạt thặng dư cán cân dịch vụ để bù đắp mà vẫn đạt mục tiêu hiệu quả chung của nền kinh tế. Đặc điểm về cơ cấu nhập siêu: Từ góc độ can thiệp của Nhà nước nhằm quản lý, điều tiết hoạt động nhập khẩu, cơ cấu mặt hàng nhập khẩu gồm 3 nhóm lớn: 1) nhóm mặt hàng cần thiết nhập khẩu; 2) nhóm mặt hàng cần kiểm soát nhập khẩu; 3) nhóm mặt hàng cần hạn chế nhập khẩu. Theo dây chuyền (chu trình) phát triển giữa nhập khẩu và xuất khẩu và cân đối nhập – xuất theo từng ngành sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế; ví dụ: ngành hàng sản phẩm hoá dầu, ngành sản phẩm thông tin, ngành sản phẩm cà phê … và/hoặc theo các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn được xác định tại quyết định số 55/2007/QĐ-TTG ngày 23/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Theo mục đích sử dụng hàng nhập khẩu, gồm: các mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản xuất (vật tư, máy móc thiết bị,…); và các mặt hàng tiêu dùng của dân cư. Theo thông kê hàng hoá nhập khẩu: theo danh mục thống kê. Theo tính chất của sản phẩm, gồm: sản phẩm hoàn chỉnh, bán thành phẩm. Theo trình độ kỹ thuật và công nghệ của sản phẩm như: sản phẩm có hàm lượng lao động cao, sản phẩm có hàm lượng vốn cao, sản phẩm có hàm lượng chất xám cao. + Cơ cấu chủ thể nhập khẩu, gồm: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư trong nước. 8 Lớp QTDN.A/K11

+ Cơ cấu nhóm hàng, ngành hàng, mặt hàng được phân nhóm như sau:

Nghiên cứu khoa học

+ Cơ cấu thị trường nhập siêu, gồm: Cơ cấu nhập siêu theo khu vực thị trường nhập khẩu (châu Á – Thái Bình Dương): châu Phi, Tây Á, Nam Á, châu Âu, châu Mỹ. Cơ cấu nhập siêu theo các thị trường nhập siêu chính là các thị trường có qui mô nhập siêu lớn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị nhập siêu I.3. Một số quan niệm về nhập siêu trong lịch sử các học thuyết kinh tế. Trước thế kỷ XX, các nhà kinh tế và Chính phủ các nước chủ yếu chú trọng tới sự cân bằng các khoản nhập khẩu và các khoản xuất khẩu hàng hoá của một nước. Từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay, vấn đề xác lập cán cân thương mại, giải quyết vấn đề nhập siêu của các nước gắn với việc xác lập CCTTQT, thực hiện các chiến lược kinh tế như chiến lược thay thế NK, chiến lược hướng về XK, chiến lược công nghiệp hoá và hiện đại hoá, chiến lược nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững … Mặt khác, cách tiếp cận giải quyết vấn đề cán cân thương mại, vấn đề nhập siêu của các nước thường gắn liền với việc điều chỉnh quan hệ thương mại với các đối tác chiến lược cạnh tranh quốc tế và chiến lược thị trường quốc tế, điều chỉnh quan hệ thương mại với các đối tác chiến lược, điều chỉnh cơ cấu hàng hoá xuất và nhập khẩu, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, cơ cấu công nghệ, điều chỉnh tỷ giá và lãi nhập khẩu, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, cơ cấu công nghệ, điều chỉnh tỷ giá và lãi suất … Trong thời kỳ này, có hai trường phái kinh tế ảnh hưởng mạnh đến các nước trong việc hình thành quan niệm về nhập siêu và giải quyết vấn đề nhập siêu.

9

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Trường phái kinh tế tân cổ điển

cho rằng, đường lối công

nghiệp hoá thay thế nhập khẩu được hầu hết các nước đang phát triển thực hiện cho đến đầu những năm 70 đã tạo ra những bất hợp lý và ảnh hưởng xấu đến cơ cấu thương mại nói riêng, cán cân thanh toán vãng lại nói chung. Họ cho rằng, có 4 nguyên nhân chính dẫn đến nhập siêu và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai của các nước là: (1) Mức bảo hộ quá cao kết hợp với cơ cấu bảo hộ bất hợp lý (chủ yếu bảo hộ hàng công nghiệp tiêu dùng) đã làm cho giá cả trong nước cao hơn giá trên thị trường quốc tế nên không khuyến khích các nhà sản xuất đẩy mạnh XK mà ngược lại, các nhà sản xuất được khuyến khích việc nhập khẩu các nguyên liệu và máy móc để sản xuất các mặt hàng công nghiệp tiêu dùng, do đó nhu cầu về chi tiêu ngoại tệ có thể vượt quá khả năng cung ứng. (2) Việc duy trì tỷ giá và lãi suất thấp trong một thời gian dài đã không phản ánh đúng giá của tiền tế và tiền vốn nên một mặt làm thui chột khả năng cạnh tranh và xuất khẩu; mặt khác, khuyến khích nhập khẩu và các nhà doanh nghiệp xây nhà máy với qui mô lớn, sử dụng nhiều vốn trái với lợi thế so sánh của các Nhà nước đang phát triển, cùng với hiện tượng sử dụng năng lực sản xuất không hết công suất cũng trở nên phổ biến. (3) Qui mô của khu vực kinh tế Nhà nước nhanh chóng mở rộng vượt ngoài khả năng chi tiêu của Nhà nước, một phần không nhỏ chi tiêu của Nhà nước đã phải dựa vào phần vốn vay của nước ngoài với lãi suất cao, các doanh nghiệp Nhà nước phải gánh chịu phần chủ yếu nợ nước ngoài nhưng lại hoạt động kém hiệu quả làm cho khả năng trả nợ xấu thêm, gây ảnh hưởng xấu tới thâm hụt cán cân thanh toán. (4) Chính sách tiền tệ lỏng lẻo trở thành nguồn gốc tạo nên nguồn vốn bù đắp bội chi ngân sách của Chính phủ đã góp phần mở rộng thêm sự thâm hụt cán cân thanh toán. Do đó, để cải thiện cán cân thanh toán vãng lai, khắc phục tình trang nhập siêu và thiết lập lại cân 10 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

bằng cán cân thương mại của nền kinh tế, cần thực hiện 5 cách thức chủ yếu sau: • Thắt chặt cung ứng tiền tệ, giảm chi tiêu của ngân sách Nhà nước. • Phá giá đồng tiền nội để khuyến khích tận dụng năng lực sản xuất cho nhập khẩu và thay thế nhập khẩu. • Tự do hoá giá cả, đặc biệt là giá sản phẩm nông nghiệp; và nâng lãi suất để khuyến khích tăng tiết kiệm, tăng đầu tư (theo quan niệm trường phái kinh tế này thì tiết kiệm và đầu tư luôn cân bằng). • Tự do hoá thương mại, thực sự khuyến khích XK, tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước. Trường phái kinh tế cơ cấu cho rằng, hiện tượng nhập siêu và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai của các nước đang phát triển là khó tránh khỏi do những nguyên nhân khách quan từ nội tại của nền kinh tế các nước này và những yếu tố bất lợi trên thị trường quốc tế. Có 4 lí do chủ yếu sau: (1) Nền kinh tế các nước đang phát triển phụ thuộc nặng nề vào bên ngoài về máy móc, thiết bị, công nghệ sản xuất và một phần quan trọng là các nguyên liệu cơ bản (kể cả dầu mỏ), cho nên nhập khẩu ở qui mô lớn không chỉ là điều kiện tiên quyết để phát triển, mà còn để duy trì sự sản xuất bình thường của các nước đang phát triển. (2) Trong điều kiện khả năng XK còn ở mức hạn chế do tính giới hạn của xuất khẩu nông sản và các nguyên liệu thô là những mặt hàng XK chủ yếu của nền kinh tế, độ nhạy cảm về cung của những mặt hàng này là rất nhỏ bé… thì những biện pháp nhằm tăng cường cho XK như phá giá đồng tiền, tăng đầu tư… sẽ không mang lại kết quả mong muốn, hoặc cần một thời gian khá dài. (3) Điều kiện thương mại quốc tế và cạnh

11

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

tranh thương mại toàn cầu ảnh hưởng bất lợi đối với các nước đang phát triển (cánh kéo giá cả nông sản và sản phẩm thô với hàng công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao có xu hướng xoạc rộng; giá cả xuất khẩu hàng nông sản và nguyên lieu thô giảm tương đối…) đã làm cho cầu về những mặt hàng XK của các nước đang phát triển giảm xuống. Điều đó không chỉ làm giảm giá mà còn làm giảm tương đối khối lượng sản phẩm XK từ các nước đang phát triển. Do thuế nhập khẩu chiếm một vị trí quan trọng trong tổng thu về thuế của ngân sách Nhà nước các nước đang phát triển nên giảm nhập khẩu để thu hẹp thâm hụt cán cân thương mại có thể sẽ làm giảm thu ngân sách và cũng có thể làm giảm sản xuất trong nước, từ đó ảnh hưởng xấu đến nguồn thu ngân sách Nhà nước. (4) Trong cơ cấu kinh tế của các nước đang phát triển, hàm lượng nhập khẩu của các mặt hàng xuất khẩu thường khá lớn. Do đó, giảm nhập khẩu cũng có thể làm giảm cả kim ngạch xuất khẩu của nước đó. Như vậy, theo các nhà kinh tế cơ cấu thì khả năng tăng xuất khẩu ở các nước đang phát triển không thể tăng lên một cách nhanh chóng, và phụ thuộc vào cả khả năng nhập khẩu. Mặt khác, nếu giảm nhập khẩu để cải thiện cán cân thương mại lại làm tăng thâm hụt ngân sách và giảm kim ngạch xuất khẩu; hậu quả của nó không chỉ làm trầm trọng thêm thâm hụt cán cân thanh toán mà còn giảm cả nhịp độ tăng trưởng kinh tế, tăng thêm thất nghiệp. Do đó, phương thức cơ bản để cải thiện cán cân thanh toán, giảm nhập siêu là tăng đầu tư có hiệu quả, cơ bản cải thiện cán cân thanh toán, giảm nhập siêu là tăng đầu tư có hiệu quả, là điều kiện cho sự phát triển lâu dài của các nước đang phát triển. Đầu tư có hiệu quả để thay đổi căn bản lợi thế so sánh là một trong những điều kiện tiên quyết để giải quyết vấn đề nhập siêu, thâm hụt cán cân thanh toán trong dài hạn của các nước đang phát triển. Hiện nay, trường phái kinh tế cơ cáu vẫn đang có ảnh hưởng rất lớn đối với các tổ chức 12 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

tài chính tiền tệ quốc tế như IMF, W.B, ADB nên các nhà hoạch định chính sách kinh tế của Việt Nam chú trọng đến quan điểm này. 2. Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến nhập siêu và ảnh hưởng của nhập siêu đối với nền kinh tế. 2.1. Các nhân tố ảnh hưởng và là nguyên nhân dẫn đến nhập siêu: 2.1.1. Nhóm nhân tố nội tại về qui mô và trình độ phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng đến nhập siêu: (1) Qui mô sản xuất trong nước còn nhỏ, phân tán; trình độ phát triển sản xuất còn thấp, công nghệ lạc hậu, năng suất thấp, sản phẩm hàng hoá sản xuất trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường nội địa (Tổng cung nhỏ hơn Tổng cầu). (2) Nền kinh tế phụ thuộc nặng nề vào bên ngoài về máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất và một phần quan trọng là các nguyên liệu cơ bản (như dầu mở, than, hoá chất cơ bản, phân bón,…) nên phải NK ở qui mô lớn để duy trì sản xuất bình thường. (3) Sức cạnh tranh quốc tế của sản phẩm hàng hoá sản xuất trong nước còn yếu nên không cạnh tranh được với hàng nhập khẩu có sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường trong nước và hàng hoá XK cũng có sức cạnh tranh chủ yêu trên thị trường trong nước và hàng hoá XK cũng có sức cạnh tranh yếu trên thị trường thế giới nên qui mô XK nhỏ, tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK chậm hơn so với tăng trưởng kim ngạch NK dẫn đến nhập siêu. (4) Cơ cấu sản xuất trong nước và cơ cấu hàng hoá xuất khẩu còn lạc hậu, giá trị gia tăng thấp nên khả năng XK còn ở mức hạn chế do tính giới hạn (cả về khối lượng và giá trị) của XK nông sản và các nguyên liệu thô là những mặt hàng XK chủ yếu của nền kinh tế, độ nhạy cảm về cung của những mặt hàng này rất nhỏ bé, không thích ứng kịp thời với những biến đổi mau lẹ của thị trường thế giới. Do tính giới hạn đó của nền kinh tế nên qui mô XK nhỏ, 13 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

không có khả năng tăng trưởng nhanh, không thể cân đối được cán cân thương mại và xảy ra nhập siêu có tính dài hạn. (5) Đầu tư là một trong những nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến cán cân thương mại, ảnh hưởng đến nhập siêu. Khi đầu tư phát triển sản xuất tăng cao (cả đầu tư trong nước và đầu tư của nước ngoài vào trong nước) làm tăng nhu cầu sử dụng các yếu tố đầu vào của sản xuất nên nhập khẩu tăng nhanh trong khi năng lực XK chưa tăng kịp so với NK, dẫn đến nhập siêu. (6) Thu nhập quốc dân trong và ngoài nước : Thu nhập quốc dân tỷ lệ thuận với thu nhập trong nước, do đó cán cân thương mại tỷ lệ nghịch với thu nhập trong nước. Trong khi đó, thu nhập nước ngoài và cán cân thương mại tỷ lệ thuận với nhau do thu nhập nước ngoài tăng sẽ khuyến khích XK. Thu nhập trong nước và giá hàng hoá nhập khẩu là những nhân tố quyết định đối với cầu nhập khẩu của một nền kinh tế. (7) Lạm phát : Ảnh hưởng của lạm phát đối với cân cân thương mại thể hiện qua cơ chế giá. Lạm phát tăng làm hàng hoá sản xuất trong nước đắt hơn so với hàng nhập khẩu, từ đó khuyến khích nhập khẩu. Lạm phát tăng cũng quan hệ đến giá cả đầu vào của hàng hoá sản xuất tạo nguồn hàng XK, làm giá thành hàng hoá XK cao hơn trước, làm giảm lợi thế cạnh tranh về giá. Như thế, với sự ảnh hưởng của lạm phát, nhập khẩu tăng, xuất khẩu giảm sẽ khiến cho cán cân thương mại xấu đi, nhập siêu có thể tăng cao trong điều kiện lạm phát. (8) Cán cân ngân sách của Chính phủ : Động thái cán cân ngân sách của Chính phủ có ảnh hưởng nhất định đến cán cân thương mại. Theo quan niệm truyền thống, thâm hụt ngân sách là một nguyên nhân chính gây nên thâm hụt cán cân thương mại. Và do đó, trong trường hợp nền kinh tế đang nhập siêu thì sự thâm hụt ngân sách sẽ tác động đồng biến, làm cho nhập siêu có thể trầm trọng hơn. Vì thế, để giảm nhập siêu, cải thiện cán cân thương mại thì cần phải giảm thâm hụt ngân sách với việc tăng thuế. Khi thực hiện chính sách như vậy sẽ làm giảm chi tiêu từ XK ròng, từ đó giúp giảm nhập siêu, cải thiện cán cân 14 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

thương mại. Tuy nhiên, có quan điểm ngược lại cho rằng chỉ tăng thuế sẽ không giải quyết được vấn đề nhập siêu, mà để cải thiện cán cân thương mại thì việc tăng thuế phải đi đôi với việc cắt giảm chi tiêu của Chính phủ. (9) Tiết kiệm và đầu tư : Khi bị thâm hụt cán cân thương mại hàng hoá và dịch vụ, điều đó có nghĩa là quốc gia chi nhiều hơn so với thu nhập của mình. Ngược lại, cán cân thương mại thặng dự quốc gia chị tiêu ít hơn so với thu nhập của mình. Cán cân thương mại còn biểu thị cho tổng tiết kiệm ròng của quốc giá, chính là chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư của quốc gia đó. Mối quan hệ giữa cán cân thương mại, đầu tư và tiết kiệm được biểu thị bằng biểu thức: e – m = (S – I) + (T – G) Trong đó, S là mức tiết kiệm, I là mức đầu tư, T là thu nhập từ thuế và G là chi tiêu của Chính phủ. Cán cân thương mại thâm hụt có nghĩa là tiết kiệm quốc gia ít hơn đầu tư và ngược lại, nếu cán cân thương mại thặng dư, quốc gia tiết kiệm nhiều hơn so với đầu tư. (10) Tiết kiệm và tiêu thụ: Sự gia tăng tiết kiệm sẽ làm giảm bớt thâm hụt hoặc sẽ thặng dư cán cân thương mại. Do đó muốn đạt được sự gia tăng vốn tiết kiệm chúng ta cần có những thay đổi trong hệ thống thuế và những cải cách nhằm cải thiện sự hoạt động hữu hiệu của hệ thống tài chính quốc gia. Sự thâm hụt cán cân thương mại lâu dài sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng tiêu dùng của thế hệ tương lai. Mặt khác, sự gia tăng tiêu dùng của dân cư hiện tại cũng ảnh hưởng đến nhập siêu theo chiều hướng xấu. (11) Năng suất lao động: Năng suất lao động cũng góp phần ảnh hưởng lên cán cân thương mại vì sự gia tăng năng suất lao động sẽ làm cho giá thành sản phẩm rẻ hơn có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế, từ đó gia tăng hàng hoá XK đem lại thằng dư cho cán cân thương mại hoặc giảm bớt sự thâm hụt; trong khi năng suất lao động thấp làm giá thành sản xuất cao khó cạnh tran với hàng hoá nước ngoài, trong khi nhu cầu nhập khẩu gia tăng sẽ làm cán cân 15 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

thương mại bị thâm hụt thêm hoặc giảm bớt thặng du nếu có. Do đó việc xây dựng cơ sở hạ tầng vất chất cũng như phát triển nguồn tài nguyên nhân lực vừa đề cập ở trên cũng là yếu tố thiết yếu có tác động tốt đến cán cân thương mại. 2.1.2. Nhóm nhân tố có tính khác quan (bên ngoài) ảnh hưởng đến nhập siêu: (1) Giá thế giới của hàng hoá xuất nhập khẩu Giá cả luôn là một nhân tố quan trọng trong việc xác định mức cầu của thị trường đối với một loại hàng hoá. Khi giá hàng hoá sản xuất trong nước của một quốc gia thấp hơn giá thế giới thì quốc giá đó có tính cạnh tranh tương đối về giá với các quốc gia khác, và do đó sẽ khuyến khích hoạt động xuất khẩu. Ngược lại, khi giá hàng hoá trong nước cao hơn giá thế giới thì có thể làm cho hàng hoá nước ngoài tràn vào thị trường trong nước, dẫn đến nhập siêu. Như vậy có thể thấy, giá hàng hoá NK tăng làm xấu đi cán cân thương mại thông qua hiệu ứng giá làm tăng NK và làm giảm tiết kiệm quốc dân. (2) Hiệp ước thương mại song phương và đa phương: Những hiệp ước thương mại ký kết giữa hai quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp lên cán cân thương mại; tuy nhiên vấn đề cán cân thương mại của mỗi quốc gia sẽ thặng dư hay thâm hụt hoàn toàn tuỳ thuộc vào cơ cấu kinh tế và khả năng sản xuất của quốc gia đó dựa trên nguồn tài nguyên thìên nhiên và con người cũng như trình độ phát triển khoa học kỹ thuật. (3) Hợp đồng thương mại quốc tế: Các doanh nghiệp trong nước có thể ký những hợp đồng thương mại quốc tế với các doanh nghiệp nước ngoài trong việc mua bán hàng tiêu dùng cũng như những phương tiện cần thiết trong sản xuất kinh doanh. Các hợp đồng này cũng 16 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

có ảnh hưởng trực tiếp lên cán cân thương mại tuỳ vào tính chất mua hoặc bán sản phẩm với đối tác nước ngoài. Tuy nhiên, các hợp đồng này bị giới hạn bởi những ràng buộc của chính sách thương mại luật lệ quốc gia. 2.1.3. Nhóm nhân tố có tính chủ quan trong quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhằm điều tiết cán cân thanh toán quốc tế, cán cân thương mại ảnh hưởng đến nhập siêu: (1) Chính sách tỷ giá hối đoái: Theo lý thuyết co giãn, phá giá tiền tệ có thể cải thiện cán cân thương mại nếu điều kiện Marshll- Lerner được thoả mãn (tổng hệ số co dãn XK và hệ số co giãn NK với tỷ giá phải lớn hơn 1). Tuy nhiên, trong ngắn hạn có thể xảy ra hiệu ứng giá cả và hiệu ứng khối lượng lên XK hàng hoá. Theo cách tiếp cận của trường phái tiền tệ, ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đối với cán cân thương mại chỉ là tạm thời. Sự can thiệp của ngân hàng trung ương để làm giảm giá trị tiền đồng so với tiền tệ các nước khác nhằm giảm bớt áp lực cho những doanh nghiệp xuất khẩu cũng không làm giảm được sự thâm hụt cán cân thương mại vì nó có thể làm gia tăng giá cả sinh hoạt. Ngay cả khi chính sách tiền tệ được áp dụng để ngăn ngừa sự tăng giá này thì ảnh hưởng của nó cũng chỉ có được trong ngắn hạn. (2) Chính sách đầu tư: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là bộ phận quan trọng của tài khoản vốn. Việc gia tăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài có tác dụng bù đắp thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai. Nếu chính sách bảo hộ thiên lệch đối với XK sẽ làm cán cân thương mại thâm hụt. Lúc này khi luồng FDI vào tăng lên sẽ làm thay đổi tương quan giữa cung và cầu ngoại tệ; nếu Chính phủ không can thiệp sẽ dẫn đến khuynh hướng đồng nội tệ tăng giá, gây hậu quả là hạn

17

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

chế XK và khuyến khích NK, và việc thâm hụt cán cân thương mại là khó tránh. Chính sách đầu tư trong nước theo hướng XK hay thay thế NK đều ảnh hưởng đến cán cân thương mại. Thêm vào đó hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư cũng ảnh hưởng đáng kể đến cán cân thương mại. Chẳng hạn, việc xem nhẹ đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ làm tăng NK, nguyên nhiên, phụ liệu đã làm giảm khả năng cạnh tranh hàng XK, hạn chế thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Hiệu quả kinh tế thấp của các dự án đầu tư sẽ làm suy yếu khả năng cạnh tranh XK và thay thế NK do có mức chi phí cao hơn mức quốc tế. Điều này gây cản trở cho việc cải thiện cán cân thương mại và trong trường hợp cụ thể có thể những dự án đầu tư không hiệu quả sẽ trở thành gánh nặng cho nền kinh tế, đặc biệt là trong dài hạn. (3) Chính sách thương mại: Chính sách thương mại thường ít ảnh hưởng lên sự thâm hụt cán cân thương mại vì nó không tác dụng trực tiếp đến nguồn tiết kiệm và đầu tư trong nước. Tuy vậy, cho dù rào cản thương mại được áp dụng một cách triệt để giới hạn mọi hàng hoá NK để không còn sự thâm hụt cán cân thương mại, nhưng sự ngừng giảm NK hay xuất khẩu sẽ làm tê liệt mọi hoạt động kinh tế và gây nên sự sụp đổ hoàn toàn hệ thống kinh tế của một quốc gia. Điều tiết cán cân thương mại có liên quan chặt chẽ tới khuyến khích xuất khẩu và quản lý NK. Trong điều kiện thâm hụt cán cân thương mại, chính sách của các nước thường là khuyến khích xuất khẩu và hạn chế NK. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hạn chế NK không phải là giải pháp hiệu quả điều chỉnh cán cân thương mại. Nhập khẩu cạnh tranh là biện pháp hiệu quả nhất để điều tiết cán cân thương mại trong dài hạn. Về cơ bản, chính sách thương mại của các nước được chia làm hai loại chính: chính sách bảo hoọ thương mại và chính sách tự do thương mại. Chính 18 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

sách bảo hộ thương mại là chính sách bảo hộ sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài bằng cách đánh thuế hàng nhập khẩu hoặc hạn chế số lượng hàng hoá và dịch vụ được phép NK. Mục đích của thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu là chuyển dịch chi tiêu trong nước từ hàng nhập khẩu vào. Nhập siêu cao thường dẫn tới thâm hụt cán cân vãng lai, đe doạ tới cán cân tổng thể hoặc tăng gánh nặng nợ nước ngoài, dễ bùng phát khủng hoảng cán cân vãng lai. Khi nhập siêu của một nước trở nên trầm trọng, Chính phủ nước đó sẽ rơi vào một thách thức khi phải tăng lượng dự trữ ngoại tệ hay tín dụng để giải quyết vấn đề cân bằng cán cân thanh toán, đồng thời vẫn phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm khôi phục lòng tin của nhà đầu tư. Việc thắt chặt tiền tệ để hạn chế nhập siêu là biện pháp đúng đắn mà nhiều các quốc gia lựa chọn. Tuy nhiên, nó lại có thể tạo ra áp lực với các ngành ngân hàng và doanh nghiệp vay vốn trong cuộc cạnh tranh lãi suất căng thẳng. Về lâu dài, một số nước thường kiềm chế nhập siêu bằng đẩy mạnh xuất khẩu và thực hiện chiến lược công nghiệp hoá mở rộng sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, đồng thời, cân bằng cán cân thanh toán qua việc huy động các nguồn tiết kiệm dài hạn, phát triển mạnh thị trường chứng khoán và trái phiếu. Tuy nhiên, việc cán cân thương mại bị thâm hụt có thực sự là một điều xấu hay không liên quan tới chu kỳ kinh tế của nền kinh tế. Trong thời kỳ khủng hoảng, các nước muốn XK nhiều hơn, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thêm nhu cầu. Trong thời kỳ tăng trưởng, các nước muốn nhập khẩu nhiều hơn, tạo nên sự cạnh tranh về giá cả, từ đó kiềm chế lạm phát và vẫn có thể cung cấp hàng hoá vượt trên cả khả năng của nền kinh tế mà không cần phải tăng giá nhiều. Như vậy, trong suốt thời kỳ khủng hoảng, nhập siêu không phải là điều tốt, nhưng lại có tác dụng tích cực trong thời kỳ tăng trưởng. Đối với một số nước cụ thể, đặc biệt là các quốc gia phát triển, nhập siêu tăng cao và theo đó là thâm hụt cán cân vãng lai trong ngắn hạn là điều không 19 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

đáng lo ngại. Kinh nghiệm các nước cho thấy, nếu đầu tư trong nước hấp thụ vốn đầu tư tốt, đầu tư một cách chọn lọc và có hiệu quả, từ đó tăng năng lực sản xuất hàng xuất khẩu thì nhập siêu tăng cao có thể là tiền đề của tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tiếp theo. Nhìn từ góc độ này, nhập siêu là một dấu hiệu tích cực của nền kinh tế. II. Dự báo nhập siêu của Việt Nam trong thời gian tới và kinh nghiệm

của 1 số nước về giải quyết vấn đề nhập siêu. 1. Dự báo nhập của Việt Nam với một số đối tác thương mại song phương 1.1. Việt Nam – Trung Quốc: Xét theo cơ cấu nhập khẩu hiện tại, ba nhóm mặt hàng mà Việt Nam đang nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc là máy móc thiết bị, sắt thép; vải sợi và nguyên phụ liệu dệt may da. Trong tương lai nhu cầu trong nước đối với ba nhóm mặt hàng này vẫn sẽ tiếp tục tăng lên trong khi sản xuất trong nước chưa thể đáp ứng được toàn bộ nhu cầu. Do đó, nhập khẩu từ những nhóm mặt hàng này từ Trung Quốc sẽ còn tiếp tục tăng. Việc các dự án lớn trong lĩnh vực lọc hoá dầu, sản xuất hoá chất, chất dẻo nguyên liệu và sắt thép đang được triển khai thực hiện cho thấy có khả năng trong tương lại tốc độ tăng nhập khẩu những mặt hàng này từ Trung Quốc sẽ chậm lại, thậm chí đối với một số mặt hàng có thể sẽ giảm bớt do sản xuất trong nước đáp ứng được một phần nhu cầu trong nước. Động lực chính tăng xuất khẩu đối với thị trường Trung Quốc trong tương lai nhiều khả năng sẽ là nhóm hàng sản phẩm điện tử và linh kiện khi các nhà máy sản xuất linh kiện điện tử của các tập đoàn đa quốc gia đầu tư tại Việt Nam đi vào hoạt động. Các mặt hàng nông sản cũng sẽ tiếp tục đóng góp một phần cho tăng trưởng xuất khẩu sang Trung Quốc, mặc dù tăng trưởng xuất khẩu của những mặt hàng này có khả năng sẽ không thể tạo được sự đột phá trong xuất khẩu của ta sang Trung Quốc. 20 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

1.2.

Việt Nam – Hàn Quốc: Tính đến hết năm 2010, Hàn Quốc có tổng số 2.605 dự án còn hiệu lực,

với tổng vốn đầu tư đăng ký 23 tỷ USD, đứng đầu cả về số dự án và vốn đăng ký trong tổng số 88 các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Các dự án đầu tư của Hàn Quốc tiếp tục được triển khai, nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ từ Hàn Quốc cho các dự án đàu tư này có khả năng sẽ còn tiếp tục tăng lên. Việt Nam cũng sẽ tiếp tục thực hiện lộ trình giảm thuế nhập khẩu theo cam kết của mình trong Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Hàn Quốc (AKFFTA). Do tác động của lộ trình giảm thuế, hàng hoá nhập khẩu từ Hàn Quốc sẽ cạnh tranh hơn so với hàng nhập khẩu từ các nước khác. Vì thế, nhu cầu nhập khẩu nhiều mặt hàng trong diện giảm thuế từ Hàn Quốc có thể sẽ tăng lên. Trong khi đó, nhập khẩu xăng dầu từ Hàn Quốc có khả năng sẽ giảm bớt khi các dự án lọc hoá dầu của Việt Nam tại Nhơn Hội, Phú Yên, Nghi Sơn lần lượt đi vào hoạt động, đáp ứng một phần nhu cầu xăng dầu trong nước. Do làm tốt công tác kiểm dịch, xuất khẩu thuỷ sản sang Hàn Quốc sẽ vẫn tiếp tục có tốc độ tăng trưởng tốt, thuỷ sản vẫn tiếp tục là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Hàn Quốc. Tuy nhiên, do giới hạn về sản lượng khai thác, xuất khẩu thuỷ sản sang Hàn Quốc khó có khả năng tăng trưởng đột biến. Nếu làm tốt công tác kiểm dịch giống như hàng thuỷ sản, xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam sang Hàn Quốc sẽ có tốc độ tăng trưởng cao trong ngắn hạn. Tuy nhiên, do giới hạn về diện tích canh tác và năng suất cùng với việc Hàn Quốc chắc chắn sẽ duy trì nhiều biện pháp bảo hộ để bảo vệ người nông dân trong nước, trong dài hạn xuất khẩu nông sản khó có thể trở thành một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ta sang thị trường này.

21

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Do chi phí nhân công tăng cao, Hàn Quốc đang có xu hướng đầu tư chuyển dịch ngành công nghiệp dệt may ra nước ngoài, chỉ giữ lại trong nước sản xuất các sản phẩm dệt may cao cấp. Vì thế, trong tương lai xuất khẩu hàng dệt may sang Hàn Quốc có khả năng sẽ tăng nhanh do thị trường Hàn Quốc có vẫn có nhu cầu đối với các sản phẩm dệt may có chất lượng trung bình, giá cả vừa phải. Nhiều nhà máy dệt Hàn Quốc đã chuyển sang Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Châu Á khác sản xuất xuất khẩu sang nước thứ ba hoặc xuất trở lại Hàn Quốc. Tiềm năng xuất khẩu sang Hàn Quốc của nhiều mặt hàng thuộc nhóm hàng công nghiệp chế tạo như dây điện, dây cáp điện, sản phẩm nhựa, sản phẩm điện tử và linh kiện còn lớn. Mức độ tăng kim ngạch xuất khẩu của những mặt hàng trong nhóm này sẽ phụ thuộc nhiều vào đầu tư của các công ty nước ngoài, đặc biệt là của các công ty Hàn Quốc, trong các lĩnh vực này tại Việt Nam. 1.3. Việt Nam – Đài Loan: Việt Nam đang nhập khẩu một khối lượng lớn xăng dầu từ Đài Loan. Nhập khẩu xăng dầu đến cuối năm 2010 đạt 109,5 triệu USD, chiếm 1,6% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Đài Loan. Do đó, khi các nhà máy lọc dầu của Việt Nam lần lượt đi vào hoạt động, nhiều khả năng nhập khẩu xăng dầu từ Đài Loan sẽ giảm, dẫn đến tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Đài Loan sẽ chậm lại. Mặc dù vậy, do Đài Loan vẫn là một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn tại Việt Nam nên nhập khẩu các mặt hàng tư liệu sản xuất từ Đài Loan như máy móc thiết bị phụ tùng, nguyên phụ liệu dệt may da, chất dẻo nguyên liệu, phôi thép, sản phẩm điện tử… sẽ vẫn tiếp tục tăng. 1.4. Việt Nam – Hồng Kong:

22

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Với vai trò là một thị trường chuyển tải, xuất khẩu sang Hồng Kông trong giai đoạn tới sẽ khó có khả năng tăng mạnh vì nhiều mặt hàng của Việt Nam đã xuất khẩu trực tiếp đi các thị trường khác. Trong khi đó, nhập khẩu sản phẩm điện tử, máy móc thiết bị phụ tùng và nguyên phụ liệu dệt may da từ Hồng Kông sẽ tiếp tục tăng mạnh để phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước, đặc biệt là của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Do đó, nhập siêu từ Hồng Kông sẽ còn tiếp tục tăng lên. Tuy nhiên, tốc độ tăng của nhập siêu có thể không cao do dần dần các ngành công nghiệp của Việt Nam sẽ đáp ứng được một phần cầu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất trong nước. 1.5. Việt Nam – Singapore: Singapore đang là nguồn cung cấp xăng dầu lớn nhất của Việt Nam với hơn một nửa lượng xăng dầu nhập khẩu của Việt Nam là từ Singapore. Sauk hi các nhà máy lọc dầu của Việt Nam lần lượt đi vào hoạt động, chắc chắn kim ngạch nhập khẩu từ Singapore sẽ giảm xuống do kim ngạch nhập khẩu xăng dầu giảm. Tuy nhiên, do xuất khẩu dầu thô chiếm đến trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Singapore nên xuất khẩu sang Singapore cũng sẽ giảm mạnh vì dầu thô trước đây xuất khẩu nay được cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trong nước. Mặc dù vậy, do kim ngạch xuất khẩu dầu thô sang Singapore nhỏ hơn nhiều so với kim ngạch nhập khẩu xăng dầu từ Singapore nên nhiều khả năng mức độ nhập siêu vẫn sẽ được thu hẹp lại. Do đầu tư của Singapore vào Việt Nam tương đối lớn, nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất từ Singapore phục vụ cho các dự án đầu tư này còn tiếp tục ở mức cao. Mặt khác, Singapore vẫn là một trong những cửa ngõ cung cấp các loại nguyên vật liệu mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu. Do đó, kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển thì nhu cầu nhập khẩu hàng hoá từ Singapore sẽ vẫn tiếp tục tăng vững. 23 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

1.6.

Việt Nam – Thái Lan: Cùng với xu hướng các tập đoàn đa quốc gia tiếp tục chuyển dịch sản

xuất, xây dựng các nhà máy tại Việt Nam, nhập khẩu nguyên vật liệu, linh kiện từ Thái Lan để thực hiện các công đoạn chế tạo, gia công, lắp ráp tiếp theo tại Việt Nam vẫn sẽ có xu hướng tăng lên. Đây sẽ là một thách thức đối với Việt Nam. Nếu ta không phát triển thành công các ngành công nghiệp phụ trợ thì nhập khẩu từ Thái Lan sẽ còn tiếp tục tăng hơn nữa. Việc đưa vào vận hành những nhà máy lọc dầu sẽ làm giảm đáng kể kim ngạch nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam từ thế giới nói chung và từ Thái Lan nói riêng. Mặt khác, xuất khẩu dầu thô của ta sang Thái Lan cũng sẽ giảm do nguồn dầu thô xuất khẩu được chuyển sang cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trong nước. Hiện tại, nhiều dự án đầu tư lớn trong lĩnh vực sản xuất hoá chất, chất dẻo nguyên liệu, sắt thép đang được triển khai thực hiện. Khi những dự án này hoàn thành và đi vào hoạt động sẽ giải quyết được một phần nhu cầu nhập khẩu phục vụ sản xuất trong nước. Do đó, tốc độ tăng nhập khẩu những mặt hàng này từ Thái Lan sẽ không còn cao như trong giai đoạn vừa qua. 1.7. Việt Nam – Indonesia: Trong số hai mặt hàng xuất khẩu lớn nhất từ Indonesia là gạo và dầu thô, xuất khẩu gạo có khả năng duy trì về khối lượng và tăng về giá trị do giai đoạn tới sản lượng lương thực của Indonesia vẫn chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu của người dân, đồng thời tình trạng thiếu lương thực trên thế giới sẽ giữ giá gạo ở mức cao. Xuất khẩu dầu thô có khả năng giảm vì dầu thô xuất khẩu được chuyển sang cung cấp cho các nhà máy lọc dầu trong nước. Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Indonesia trong giai đoạn trước mắt có thể sẽ không thay đổi nhiều. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu 24 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

lớn từ Indonesi sẽ là sản phẩm điện tử và linh kiện, linh kiện ôtô, máy móc thiết bị phụ tùng, sắt thép, chất dẻo nguyên liệu, cao su định chuẩn kỹ thuật và hạt điều nguyên liệu. Là một nước xuất khẩu dầu mỏ lớn, lại có vị trí địa lý gần với Việt Nam, có thể trong tương lai xa Việt Nam sẽ nhập khẩu dầu mỏ từ Indonesia. 1.8. Việt Nam – Ấn Độ: Dự đoán kim ngạch xuất khẩu Việt Nam - Ấn Độ chủ yếu là các mặt hàng hạt tiêu, quế, sắt thép, sản phẩm điện tử và linh kiện, hàng thủ công mỹ nghệ, giày dép … Kim ngạch XK hàng hóa của Việt Nam sang Ấn Độ có thể đạt khoảng 0,9 - 1,0 tỷ USD vào năm 2015. Trong giai đoạn 2011-2-15, mức tăng nhập khẩu từ Ấn Độ dự kiến sẽ đạt nhịp độ bình quân trên 20%/năm do sản xuất trong nước đạt những tiến bộ nhất định nhờ vào hàng loạt các biện pháp cải tiến kỹ thuật, nâng câo năng suất và các dự án đầu tư nước ngoài đi vào hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, thép, hóa chất … Riêng các mặt hàng tân dược, đây là mặt hàng thế mạnh của Ấn Độ mà không chỉ Việt Nam chịu nhập siêu mà nhiều nước trên thế giới cũng phải nhập siêu từ Ấn Độ do Ấn Độ có lợi thế cạnh tranh đối với lĩnh vực này. Dự báo nhập khẩu tân dược từ Ấn Độ sẽ tiếp tục tăng với mức 10% giai đoạn 2011-2015. Một số mặt hàng có nhiều khả năng Việt Nam sẽ phải nhập khẩu với khối lượng lớn nhưng khá ổn định từ Ấn Độ như: nguyên liệu dệt may và da giày; hóa chất, nguyên liệu và các sản phẩm hóa chất, sản phẩm từ sắt thép. 2. Dự báo nhập siêu của Việt Nam theo một số ngành nghề. - Cán cân thương mại nhóm hàng nông lâm thủy sản XK và NK nguyên liệu đầu vào

25

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Do tính giới hạn về sản xuất nên xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam giai đoạn tới tuy vẫn tăng chậm về số tuyệt đối nhưng sẽ giảm về số tương đối. Trong khi đó nhu cầu NK vật tư cơ bản cho xản suất hàng nông lâm thủy sản thời kỳ tới vẫn tăng cả số tuyệt đối và số tương đối. Vì thế, tỷ lệ NK các nguyên liệu đầu vào sẽ vẫn chiếm khoảng 32-34% kim ngạch XK của nhóm hàng này. Giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề nhập siêu của các nhóm hàng này là phát triển sản xuất phân bón, thức ăn gia súc và nguyên liệu, thuốc bảo vệ thực vật (có nguồn gốc hữu cơ) trong nước để thay thế hàng nhập khẩu. - Nhóm ngành sản phẩm XK dệt may, giày da và NK nguyên phụ liệu đầu vào Mặc dù đây là nhóm ngành hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của VN trong giai đoạn tới (dự báo giai đoạn 2011-2015 chiếm gần 19%) nhưng khả năng sản xuất trong nước về các nguyên vật liệu đầu vào cho nhóm ngành hàng xuất khẩu này của Việt Nam còn hạn chế nên nhu cầu nhập khẩu nguyên phụ liệu đáp ứng sản xuất hàng xuất khẩu vẫn rất cao, chiếm khoảng 63% kim ngạch XK nhóm hàng này. - Nhóm sản phẩm gỗ Mặc dù đây là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, nhưng do 80% gỗ nguyên liệu nước ta phải nhập khẩu và đồ gỗ cao cấp nhập khẩu có xu hướng tăng trong những năm qua (do thu nhập của dân cư tăng lên) nên dự kiến trong 2 năm tới thặng dư thương mại của mặt hàng đồ gỗ chỉ bằng khoảng 55% KNXK. Để nâng cao tỷ lệ xuất khẩu nhóm sản phẩm đồ gỗ thì trước hết phải nâng cao được tỷ trọng và chất lượng gỗ nguyên liệu trong nước, nâng cao cấp độ chế biến để tăng tỷ trọng của nhóm sản phẩm đồ gỗ cao cấp để xuất khẩu sang EU, Nhật, Bắc Mỹ … 26 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

- Nhóm sản phẩm điện tử, máy tính và linh kiện Cũng sẽ tiếp tục nhập siêu trong những năm tới nhưng tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu sẽ có xu hướng giảm đáng kể. - Nhóm sản phẩm cơ khí Sẽ có xu hướng nhập siêu giảm nhẹ hoặc khá ổn định để đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất trong nước trong khi năng lực cạnh tranh nhóm sản phẩm này của Việt Nam còn yếu, dự báo tỷ lệ nhập siêu so với nhóm hàng này sẽ tăng. - Nhóm sản phẩm chế tác Vừa tiếp tục có xuất siêu trong khi nhóm sản phẩm phwong tiện vận tải tuy giá trị nhập siêu vẫn cao nhưng tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu sẽ giảm dần. Theo các số liệu dự báo về cán cân thương mại giai đoạn 2011-2015: nhóm hàng thiết bị điện và chế tác có giá trị xuất khẩu khả quan (cả 2 nhóm này đều xuất siêu). Đối với nhóm hàng máy tính, cơ khí, phương tiện vận tải, số liệu dự báo cho thấy giai đoạn 2011-2015 các mặt hàng này có giá trị xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng, vẫn xảy ra tình trạng nhập siêu nhưng có tỷ lệ Nhập siêu/ Xuất khẩu giảm dần. - Dự báo cán cân thương mại ngành hàng nhựa Sự phát triển của ngành dầu khí sẽ tăng khả năng đáp ứng nhu cầu nguyên liệu nhựa. Giai đoạn 2011-2020, ngoài nhà máy lọc dầu Dung Quất – Quảng Ngãi, sẽ có thêm một số nhà máy lọc dầu khác đi vào hoạt đông như công ty TNHH lọc dầu Nghi Sơn – Thanh Hóa (khởi công tháng 5/2008, dự kiến đi vào hoạt động năm 2013), dự án tổ hợp hóa dầu Long Sơn Bà Rịa – 27 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Vũng Tàu (giai đoạn 1: năm 2011 vận hành; giai đoạn 2: 2013) dự án tổ hợp hóa dầu Naphtha Cracking Phú Yên (giai đoạn 1: năm 2014 vận hành; giai đoạn 2: 2024 vận hành). Các khu tổ hợp hóa dầu, lọc dầu này hoạt động, các dự án qui hoạch nguyên liệu nhựa đến năm 2010 chưa thực hiện sẽ được thực hiện trong giai đoạn 2011-2015. Phấn đấu thực hiện các dự án trên, đến giai đoạn này sản lượng nguyên liệu nhựa trong nước đạt khoảng 2 triệu tấn/năm. Nếu sản lượng nhựa ngành này có thể tăng 10%/năm thì tới năm 2015 sẽ đạt 5 triệu tấn/năm, đáp ứng 40% nhu cầu nguyên liệu nhựa cả nước. Vì vậy, ngành nhựa vẫn cần phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu. Tỷ trọng nhập siêu/xuất khẩu sẽ vẫn cao 60,5%. Nhưng giảm nhập siêu bằng biện pháp giảm nhập nguyên liệu trong khi sản xuất nguyên liệu trong nước chưa đáp ứng được thì sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu. Vì vậy không thể giảm nhập siêu bằng cách này mà phải bằng cách tăng cường xuất khẩu. - Nhóm sản phẩm từ dầu mỏ Do các nhà máy lọc dầu đã dần dần đi vào hoạt động, nên kim ngạch nhập khẩu xăng dầu sẽ giảm dần. mức thâm hụt cán cân thương mại của ngành sản phẩm dầu khí sẽ dần được cải thiện. Dự đoán 2011-2015 nhập siêu chỉ còn 6,0%. 3. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về giải quyết vấn đề nhập siêu, điều chỉnh cán cân thanh toán và bài học đối với Việt Nam. 3.1. Một số khuynh hướng giải quyết vấn đề nhập siêu, tạo lập cán cân thương mại hợp lý của một số nhóm nước. 3.1.1. Một số NIEs – Châu Á. Từ thập kỷ 60-70, các nước NIEs Châu Á đã chuyển nhanh từ chiến lược thay thế nhập khẩu sang thực hiện chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu trên cơ 28 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

sở xây dựng và thực hiện tốt chiến lược thu hút kỹ thuật tuần hoàn, phát triển nhập khẩu theo hướng chủ đạo là hình thành dây chuyền phát triển giữa nhập khẩu với xuất khẩu, không ngừng nâng cấp trình độ kỹ thuật của nền kinh tế, nâng cấp sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu, tăng nhanh kim ngạch và hiệu quả xuất khẩu tạo lập thế mới cho cán cân thương mại để dần chuyển nhập siêu sang xuất siêu một cách vững chắc từ sau thập kỷ 80 đến nay. Chiêu thức cơ bản của chiến lược thu hút kỹ thuật tuần hoàn là nhập khẩu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của nước ngoài, sử dụng lực lượng lao động khoa học kỹ thuật ở trong nước để tiếp thu tiến lên đổi mới, sáng tạo mở mang kỹ thuật, hình thành dây chuyền phát triển: Nhập vào – tiếp thu – sáng tạo – phát triển – xuất khẩu kỹ thuật (luân chuyển xuất ra sản phẩm). Đồng thời, dùng kỹ thuật nhập khẩu đã tiếp thu và sáng tạo phát triển để cải tiến hệ thống kỹ thuật sản xuất công – nông nghiệp, nâng cao hiệu ích kinh tế và hàm lượng kỹ thuật của sản phẩm xuất khẩu. Từ đó, làm cho sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, tăng kim ngạch và hiệu quả xuất khẩu, phần vốn do kỹ thuật xuất khẩu (đã luân chuyển ra sản phẩm) thu được hàng năm lại có thể bắt đầu vòng tuần hoàn mới: Nhập vào – tiếp thu – sáng tạo – phát triển – xuất khẩu kỹ thuật (luân chuyển xuất ra sản phẩm) ở thời điểm kỹ thuật cao hơn (phát triển nhập khẩu – xuất khẩu theo đường xoáy trôn ốc). Đây là chiêu thức chủ động giải quyết vấn đề nhập siêu tạo lập thế cân bằng cán cân thương mại, chuyển sang xuất siêu một cách vững chắc và dài hạn, nâng cao chất lượng tăng trưởng xuất nhập khẩu, tạo lập nền xuất khẩu qui mô lớn trên cơ sở kỹ thuật ngày càng cao, kết cấu sản nghiệp ngày càng vững chắc, vốn không ngừng tích tụ, trình độ kỹ thuật trong nền kinh tế ngày càng cao … của các NIEs Châu Á. Vì thế, nếu như trước năm 1987, Hàn Quốc luôn nhập siêu thì từ năm 1987 đã chuyển sang xuất siêu ngày càng lớn, năm 1987 xuất siêu 6,2 tỷ USD, đến năm 2004, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Hàn Quốc đạt 254 tỷ USD, xuất siêu 30 tỷ USD. Tương tự, Singapore từ năm 1983 đến nay đã chuyển sang xuất siêu ngày càng lớn (năm 29 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

2004 kim ngạch xuất khẩu của Singapore đạt 179,6 tỷ USD, xuất siêu đạt 15,6 tỷ USD). 3.1.2. Một số nước đang phát triển Châu Á (Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ). Khuynh hướng chủ yếu trong giải quyết vấn đề nhập siêu, tạo lập thế cân bằng cán cân thương mại và chuyển nhanh sang xuất siêu của các nước này là mở cửa thu hút FDI, kết hợp với chính sách tự do hóa thương mại, sử dụng hiệu quả nguồn vốn thu hút được từ bên ngoài để đẩy mạnh xuất khẩu, sử dụng công cụ tỷ giá linh hoạt để tác động hỗ trợ xuất khẩu. - Đối với trường hợp của Trung Quốc :

Trong suốt thời kỳ mở của của nền kinh tế (sau năm 1978), FDI luôn là yếu tố chính làm tăng xuất khẩu, giảm nhập siêu và chuyển sang thặng dư cán cân thương mại của Trung Quốc. Theo kết quả thống kê của WB về Trung Quốc từ năm 1982-2006, thì FDI và xuất khẩu có mối quan hệ đồng biến giữa tăng FDI và tăng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc, tương ứng với 1 USD vào Trung Quốc đã tác động đến thặng dư cán cân thương mại ở mức tăng hơn 1 USD. Vì thế, trong thời kỳ 1986-1990, Trung Quốc vẫn nhập siêu bình quân đến 9,18%/năm so với kim ngạch xuất khẩu nhưng từ sau năm 1990, với hiệu ứng của FDI đã thu hút được trong thời kỳ trước đó (cộng dồn vốn FDI đã thực hiện đến năm 1990 đạt 24.762 triệu USD), kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng rất nhanh và nước này đã chuyển nhanh sang xuất siêu. Trong thời kỳ 1990-2001, nhịp độ tăng trưởng vốn FDI Trung Quốc thu hút được đạt bình quan 22.95%/năm (năm 2001 cộng dồn vốn FDI đã thực hiện tại Trung Quốc đạt 395.192 triệu USD) thì nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá của Trung Quốc cũng đạt mức bình quân 12,95%/năm và mức thặng dư thương mại tăng trưởng với nhịp độ bình quân 11,55%/năm. Trong giai đoạn 200230 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

2006, nhịp độ tăng vốn FDI thu hút được của Trung Quốc đạt bình quan 13,1%/năm (năm 2006 đạt 95,92 tỷ USD gấp 2 lần FDI thu hút được của năm 2002 là 51,82 tỷ USD) thì nhịp độ tăng trưởng mức thặng dư bình quân 37,65%/năm. Nếu tính cộng dồn thì đến năm 2006, tổng FDI Trung Quốc thu hút và sử dụng được đạt trên 737 tỷ USD và tổng mức thặng dư thương mại của Trung Quốc đạt được (1990-2006) là 765 tỷ USD (hệ số FDI/thặng dư cán cân thương mại đạt mức1/1,03 lần). Điểm đáng chú ý là hiệu ứng của FDI đối với thặng dư cán cân thương mại của Trung Quốc ngày càng lớn: nếu năm 2001, tỷ lệ giá trị thặng dư thương mại (xuất siêu) mới bằng 8,6% tổng giá trị vốn FDI thu hút được (34,017 tỷ USD thặng dư thương mại so với 395,192 tỷ USD tổng vốn FDI thu hút đến năm 2001) thì năm 2006 tỷ lệ này tăng lên 289,54% (năm 2006 mức thặng dư cán cân thương mại của Trung Quốc dạt 217,746 tỷ USD so với 765 tỷ USD vốn FDI thu hút được đến năm 2006). Để tạo lập được cán cân thương mại tích cực, tăng hiệu ứng của FDI đối với nền kinh tế nói chung, phát triển xuất khẩu nói riêng trong giai đoạn quá độ từ nhập siêu sang xuất siêu, chính phủ Trung Quốc đã sử dụng khá đồng bộ các công cụ, biện pháp quản lý kinh tế, quản lý hoạt động xuất nhập khẩu. Với mục tiêu Trung Quốc trở thành một trung tâm chế xuất hàng xuất khẩu lớn của thế giới, chính phủ đã qui hoạch và khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ, khuyến khích đầu tư phát triển và mở rộng sản xuất hàng xuất khẩu với dây chuyền sản xuất liên tục được đổi mới thông qua kỹ thuật mới để đi sâu vào mức độ gia công, chế biến làm cho các ngành công nghiệp chuyển hướng từ chỗ lấy các ngành công nghiệp dùng nhiều nguyên liệu làm chính (thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90) sang lấy các ngành công nghiệp chế biến làm chính (nửa sau thập kỷ 90), không ngừng nâng cao tỷ lệ giá trị chế biến, nhất là từ sau 2000. Đến năm 2000, trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Trung Quốc, nhóm sản phẩm chế biến và chế tạo đã chiếm 88,23%, nhóm sản phẩm thô gồm nông lâm thuỷ sản và khoáng sản chỉ còn chiếm 11,56%. Cũng trong giai đoạn quá độ chuyển 31 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

từ nhập siêu sang xuất siêu (1985-2004), chính phủ đã thực hiện “liệu pháp mạnh”, bắt đầu phá giá đồng Nhân dân tệ (CNY) để đẩy mạnh xuất khẩu, sử dụng công cụ tỷ giá hối đoái làm “đòn bẩy” để hỗ trợ mạnh cho xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Với danh nghĩa là định giá lại đồng CNY (mà thực chất là làm cho CNY trượt giá tới 50%). Từ năm 1994 đến năm 2004, chính phủ đã ổn định tỷ giá ở mức 8,2-8,3 CNY/1 USD và coi đấy là cơ chế tỷ giá thả nổi có kiểm soát (thực chất đây là một chế độ tỷ giá cố định mới). Chỉ từ sau năm 2005 đến nay, do áp lực của các đối tác thương mại lớn (Mỹ, EU, Nhật,…) và đã đạt được mục tiêu thặng dư thương mịa ở mức cao, vững chắc (năm 2007 thặng dư thương mại của Trung Quốc đạt 262,2 tỷ USD, bằng 27,4% kim ngạch xuất khẩu). Chính phủ Trung Quốc mới điều chỉnh tỷ giá CNY/USD theo hướng tăng dần giá CNY (năm 2004: 8,19CNY/1USD, năm 2005: 7,79CNY/1USD, năm 2006: 7,79CNY/1USD, và năm 2008: 7,50CNY/1USD). Hiệu ứng đối ngẫu của quá trình đó là dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đã tăng rất nhanh, năm 2006 đạt 403,2 tỷ USD (đứng thứ 2 thế giới, sau Nhật Bản) và đến tháng 6 năm 2008 đã đạt 470,6 tỷ USD. Đồng thời, nguồn vốn FDI đổ vào Trung Quốc cũng ngày càng tăng (năm 2001: 6,5 tỷ USD, năm 2002: 52 tỷ USD, và năm 2007: 53,5 tỷ USD).

- Trường hợp Thái Lan : Trước khủng hoảng tài chính- tiền tệ (1997), nền kinh tế Thái Lan đã duy trì được nhịp độ tăng trưởng cao 9,4%/năm (1995-1996), một phần quan trọng do có ngành chế biến, chế tạo phát triển, mà chủ yếu do khu vự FDI tạo ra. Khi nền kinh tế “bong bóng” của Thái Lan bị vỡ, xảy ra khủng hoảng năm 1997, mặc dù thị trường bất động sản bị đóng băng (do các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn hoặc không đầu tư tiếp), nhưng một phần do có ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã phát triển và quán tính của một thời gian khá dài thực hiện chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu cùng với chính sách ngoại giao mềm dẻo 32 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

đã giúp Thái Lan duy trì được quan hệ thương mại với các bạn hàng lớn (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Đài Loan …) nên xuất khẩu của Thái Lan tăng trưởng mạnh ngay những năm sau khủng hoảng (năm 2000: tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 131,8 tỷ USD, xuất siêu 7,4 tỷ USD). Để khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng (1987-1988), chính phủ Thái Lan đã một mặt cải thiện môi trường đầu tư (lượng vốn FDI tăng từ 11,5 tỷ USD năm 2003 lên 20,4 tỷ USD năm 2006), cải thiện cơ cấu chính sách thương mại, mở rộng quan hệ thương mại với các nước Châu Á thông qua các Hiệp định AFTA khu vực và song phương, hình thành mạng lưới kinh doanh voíư những thoả thuận ưu đãi song phương (với Oxtraylia, Braxin, Ấn Độ, Nhật Bản, Peru, Newzeland…) mặt khác, phá giá mạnh đồng Baht để tác động mạnh đến cán cân thanh toán quốc tế (đã ảnh hưởng nặng nề bởi khủng hoảng năm 19871988). Trước năm 1996, Thái Lan áp dụng chính sách tỷ giá cố định so với đồng USD, khiến giá trị đồng Baht tăng cao so với đồng USD trong khi giá trị của đồng USD lại tăng mạnh so với đồng Yên Nhật và một số đồng ngoại tệ khác khiến sức mua của đồng Baht giảm 20% (theo lý thuyết ngang giá sức mua). Vì thế, chỉ sau một ngày khi chính phủ tuyên bố phá giá (2/7/1997) đồng Baht đã mất 20% giá trị rồi tiếp tục giảm xuống sau đó (tỷ giá Baht/USD đã tăng lên từ 25.61 Baht/1USD lên 47,25 Baht/1USD). Tỷ giá đó đã làm tăng khả năng xuất khẩu của Thái Lan, hạn chế nhập khẩu, giảm nhập siêu từ mức 9,5 tỷ USD năm 1991 xuống còn 4,5 tỷ USD năm 1997 và tiến tới xuất siêu 12,3 tỷ USD năm 1998 (chủ yếu do giảm đầu tư nên nhập khẩu giảm mạnh). Đến năm 2006, mặc dù đồng Baht tăng giá lên 24% nhưng Thái Lan vẫn xuất siêu tới 10% so với GDP. - Kinh nghiệm của Ấn Độ về giải quyết vấn đề nhập siêu và rút ra bài học cho Việt Nam. 33 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Do nhu cầu nhập khẩu lớn nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu sản xuất ngày càng lớn của nền kinh tế, Ấn Độ cũng phải chịu tình trạng nhập siêu trong nhiều năm qua dù chính phủ đã quan tâm và thực hiện rất nhiều các biện pháp nhằm cải thiện tình trạng nhập siêu của nước này. Trước tình hình nhập siêu ngày càng lớn, chính phủ Ấn Độ đã đưa ra hàng loạt các biện pháp kiềm chế nhập khẩu và tăng cường xuất khẩu, các nhóm biện pháp cơ bản bao gồm: + Xây dựng chiến lược xuất khẩu tổng thể và cho từng ngành hàng đối với từng nước cụ thể trong đó tập trung vào hàng loạt các sáng kiến tiếp cận thị trường có sự phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ cụ thể của Chính phủ dành cho các tổ chức xúc tiến xuất khẩu, cơ quan xúc tiến thương mại, các cơ quan khác thuộc chính phủ có chức năng và nhiệm vụ phối hợp trong công tác xúc tiến xuất khẩu, các viện nghiên cứu, các trường đại học, các phòng thí nghiệm, và các nhà xuất khẩu…nhằm hiện thực hoá hiệu quả chiến lược tăng cường xuất khẩu. + Các dự án quảng bá và tiếp thị hàng Ấn Độ qui mô lớn trong và ngoài nước, bao gồm việc xây dựng các phòng giới thiệu sản phẩm, tổ chức lễ hội quảng bá thương hiệu hàng Ấn Độ, tham gia ở cấp quốc gia những sự kiện lớn trên toàn thế giới, đăng ký những ấn phẩm qui mô toàn cầu quản bá hàng hoá Ấn Độ, hỗ trợ các tổ chức và nhà xuất khẩu tiếp thị hàng Ấn Độ ở các nước ngoài. + Xây dựng năng lực cạnh tranh, bao gồm việc hỗ trợ cho các nhà xuất khẩu nói chung và các nhà xuất khẩu nói riêng vào từng thị trường cụ thể; hỗ trợ kinh phí cho việc tăng cường cải tiến năng xuất, chất lượng sản phẩm và các chương trình nghiên cứu phát triển sản phẩm tại các phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu, các trường đại học, phát triển các 34 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

trung tâm chuyên ngành về thiết kế mẫu mã chung cho sản phẩm, đóng gói cho sản phẩm … chi phí cho việc thuế tư vấn tại các nước nhập khẩu tiềm năng. + Hỗ trợ với các yêu cầu tiêu chuẩn hoá các sản phẩm có xuất xứ từ Ấn Độ phù hợp với luật pháp của nước nhập khẩu như chi phí thử nghiệm sản phẩm cơ khí tại nước ngoài, phí đăng ký dược phẩm, sản phẩm công nghệ sinh học, trang thiết bị dược phẩm. + Hỗ trợ cho công tác nghiên cứu, bao gồm các nghiên cứu liên qua đến thương mại như nghiên cứu thị trường, sáng kiến về các nhóm nghiên cứu chung, các hiệp định thương mại tự do, hiệp định thương mại khu vực. + Phát triển dự án, bao gồm các nghiên cứu liên quan đến thương mại như nghiên cứu thị trường, sáng kiến về các nhóm nghiên cứu chung, các hiệp định thương mại tự do, hiệp định thương mại khu vực. 3.1.3. Một số nước công nghiệp phát triển Tây Âu (Hoa Kỳ, Anh, Pháp) Khuynh hướng giải quyết vấn đề nhập siêu tạo lập cán thương mại của các nước này là giải quyết vấn nhập siêu trong tổng thể của vấn đề cán cân thanh toán bằng cách đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ để lấy thặng dư cán cân dịch vụ bù đắp phần thâm hụt cán cân thương mại nhằm hướng mục tiêu chung là giải quýêt vấn đề các cân thanh toán vãng lai. Chẳng hạn như trường hợp của Hoa Kỳ năm 2004, nước này thâm hụt cán cân thương mại tới 707 tỷ USD, nhưng lại thặng dư cán cân dịch vụ 58,3 tỷ USD; năm 2006, nước này thâm hụt cán cân thương mại tới 881 tỷ USD, nhưng lại thặng dư cán cân dịch vụ tới 75 tỷ USD. Trưòng hợp nước Anh cũng tương tự như Hoa Kỳ: năm 2001, Anh 35 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

thâm hụt cán cân dịch vụ 16,8 tỷ USD; năm 2004 nước này thâm hụt cán cân thương mại tới 110 tỷ USD, nhưng lại thặng dư cán cân dịch vụ đạt 35,7 tỷ USD. 3.2. Một số nhận định rút ra từ thực tiễn giải quyết vấn đề nhập siêu, tạo

lập cán cân thương mại của một số nước trên thế giới.  Một số nhận định tổng quát Với tư cách là một hiện tượng kinh tế, nhập siêu là một quá trình kinh tế có tính khách quan với sự phát sinh, phát triển và chuyển hoá. Qua khảo cứu thực tiễn, ngoại thương của các nền kinh tế phần lớn đều trải qua một quá trình tổng quát sau: - Nhập siêu thường xuất hiện ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá và phát triển kinh tế, do sản xuất trong nước yếu kém không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và chưa cạnh tranh được trên thị trường quốc tế. - Giảm dần nhập siêu nhờ phát triển sản xuất trong nước theo hướng công nghiệp hoá, tăng sức cạnh tranh cho hàng hoá, khuyến khích xuất khẩu, áp dụng chính sách bảo hộ và tài trợ cho các ngành sản xuất trong nước. - Tiến tới cân bằng cán cân thương mại và xuất siêu do xuất khẩu tăng nhanh hơn nhập khẩu, hàng hoá có sức cạnh tranh do công nghiệp trong nước đã vững mạnh nhờ chính sách hỗ trợ của Chính phủ hoặc do đầu tư lớn của nước ngoài. - Xuất siêu tăng mạnh nhờ công nghiệp trong nước phát triển mạnh, sản phẩm có sức cạnh tranh cao và giá trị gia tăng lớn hơn, tỷ giá tiền tệ được điều chỉnh linh hoạt theo hướng giảm giá đồng tiền càng có lợi cho xuất khẩu.

36

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

- Trải qua giai đoạn thặng dư thương mại tăng giảm thất thường do biến động thị trường, các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, sức ép mở cửa thị trường buộc Chính phủ phải tìm hướng đi mới, tăng cường phát triển các ngành sản xuất công nghệ cao, công nghệ mới, đổi mới cơ cấu kinh tế.  Khu vực kinh tế có đóng góp chính tạo nên thặng dư thương mại của các nền kinh tế - Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: Trung Quốc, Malayxia. - Công nghiệp trong nước: Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản. - Cả hai khu vực kinh tế nhưng FDI thể hiện vai trò lớn: Inđonesia, Thái Lan, Singapore. Những nền kinh tế đạt thặng dư thương mại do đóng góp của khu vực kinh tế trong nước như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản đều là những nền kinh tế không được ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, đều bị tàn phá bởi chiến tranh do vậy con đường duy nhất phát triển kinh tế là công nghiệp hoá nhanh chóng, tự lực tự cường. Đối với những nền kinh tế đạt được thặng dư thương mại do đóng góp từ khu vực FDI và công nghiệp trong nước đều có ưu thế về tài nguyên thiên nhiên như đất đại, khoáng sản, khí hậu (Trung Quốc, Malayxia, Thái Lan, Indonesia) hoặc ưu thế về địa lý (Singapore).  Cơ cấu ngành hàng đóng góp chính vào thặng dư thương mại của các nền kinh tế Ngành công nghiệp chế tạo, công nghiệp cao, giá trị gia tăng cao: trường hợp như Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.

37

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Các nền kinh tế này đều không có tài nguyên thiên nhiên đáng kể, buộc phải nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất hàng hoá tiêu dùng trong nước và hàng xuất khẩu. Để tạo ra thặng dư thương mại, các nền kinh tế trên hướng đến phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng ngày càng cao, tạo nên mức chênh lệch giữa nhập khẩu đầu vào và giá trị xuất khẩu thành phẩm đầu ra. Sản phẩm công nghiệp chế tạo giữ được mức giá ổn đinh, thị trường tiêu thụ rộng, không phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên (khí hậu, thời tiết) dễ dàng bảo quản, vận chuyển, có khả năng tăng sản lượng nhanh chóng nhờ mở rộng cơ sở sản xuất và tăng năng suất thông qua cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới. Do đó, xuất khẩu sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng cao nên thặng dư thương mại ổn định, có tiềm năng tăng trưởng lớn, làm thay đổi sâu sắc cơ cầu và nền tảng phát triển kinh tế theo hướng có sức cạnh tranh cao hơn, đưa kinh tế phát triển nhanh chóng, bền vững, tạo nên mức thu nhập quốc dân trên đầu người cao. Thặng dư thương mại từ xuất khẩu sản phẩm công nghiệp chịu ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới (nhu cầu các thị trường qui mô lớn) và mức giá nguyên nhiên vật liệu chính (giá dầu, giá khoáng sản…). Ngành công nghiệp, công nghiệp nhẹ, gia công lắp ráp (Thái Lan, Đây là 4 nền kinh tế đang phát triển trong khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi trong ngành nông nghiệp, có tài nguyên khoáng sản nhất định và nhân lực giá rẻ hỗ trợ cho ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp gia công lắp ráp, nông lâm thủy sản và chế biến nông lâm thuỷ sản. Sản phẩm xuất khẩu của 4 nền kinh tế này do vậy và bảo gồm chủ yếu hàng nông lâm thuỷ sản (dầu cọ, cao su thiên nhiên, bột giấy, tôm đông lạnh…), nguyên nhiên liệu (dầu khí, phôi thép…), hàng gia công (dệt may, giày dép, đồ chơi…) và hàng lắp ráp (thiết bị nghe nhìn và phụ tùng ô tô xe máy, đồ gia dụng, điện tử tiêu dùng…). Các sản phẩm này có đặc điểm là phụ thuộc điều kiện tự nhiên (thời tiết ảnh 38 Lớp QTDN.A/K11 Malayxia, Indonesia, Philippin):

Nghiên cứu khoa học

hưởng đến thu hoạch của nông thuỷ sản), giá trị gia tăng thấp và sử dụng nhiều lao động (công nghiệp nhẹ, hàng lắp ráp), có giới hạn đến diện tích canh tác (nông thuỷ sản) hoặc trữ lượng (dầu khí, bột giấy). Thặng dư thương mại do xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp giá trị thấp phụ thuộc nhiều yếu tố biến động hơn, khó tăng nhanh và mạnh, không tạo được chuyển biến lớn về cơ cấu và sức cạnh tranh của nền kinh tế, không tạo được thu nhập quốc dân trên đầu người cao.  Đặc điểm chung về chính sách, cơ chế quản lý kinh tế của các nền kinh tế đạt được thặng dư thương mại. - Về chính sách kinh tế: Phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá ngày càng sâu, rộng. Nền kinh tế được chuyển đổi cơ cấu một cách sâu sắc và toàn diện từ nông nghiệp sang phát triển công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, công nghiệp có hàm lượng giá trị gia tăng cao, công nghệ cao. Định hướng đúng cho các ngành sản xuất hướng mạnh xuất khẩu. Xây dựng và thực hiện các chiến lược và các kế hoạch kinh tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển và kịp thời điều chỉnh khi có biến động kinh tế bên ngoài hoặc không đạt được các chỉ tiêu đề ra. Các kế hoạch kinh tế đã góp phần quan trọng trong việc gây dựng và phát triển các ngành sản xuất công nghiệp. Đầu tư lớn và hiệu quả thiết lập các nền tảng vững chắc phục vụ phát triển kinh tế: đào tạo nguồn nhân lực tốt (giáo dục), nâng cao trình độ công nghiệp (phát triển khoa học kỹ thuật, nhập khẩu công nghệ nguồn và công nghệ cao), xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ (cầu, đường, cảng, kho, bãi, trung tâm nghiên cứu, hệ thống thông tin liên lạc …). Nâng đỡ và phát triển khu vực kinh tế tư nhân năng động, giảm dần vai trò và tỷ trọng của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế (tư nhân hoá 39 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

các doanh nghiệp nhà nước hoặc duy trì một số doanh nghiệp nhà nước trong một vài ngành trọng yếu), giảm dần sự can thiệp của Nhà nước vào vận hành và hoạt động của nền kinh tế. - Về chính sách tỷ giá: Duy trì chế độ tỷ giá thời gian đầu, sau đó thả nổi có kiểm soát: đó là nền kinh tế phụ thuộc vào nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu như Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hoặc do ưu tiên duy trì ổn định vĩ mô như Malayxia. Giảm giá đồng tiền nội tệ để hỗ trợ xuất khẩu: đó là trường hợp Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia. - Về chính sách thương mại: Hoạch định, phối hợp và thực hiện hiệu quả các chính sách kinh tế, thương mại, tiền tệ toàn diện, linh hoạt có tác dụng khuyến khích phát triển các ngành sản xuất hướng về xuất khẩu với mức tăng trưởng cao trong khi có biện pháp kiềm chế mức tăng nhập khẩu. Có chính sách hỗ trợ tốt cho hoạt động xuất khẩu thông qua nhiều hình thức như tín dụng xuất khẩu, xúc tiến thương mại, bảo hiểm xuất khẩu … Chủ động tham gia thương mại quốc tế, tận dụng tốt các lợi ích của xu hướng mở cửa và tự do thương mại. Tạo nên sức cạnh tranh quốc tế trong một số lĩnh vực nhất định.  Trong điều kiện phát triển của Việt Nam hiện nay, một số kinh nghiệm có thể xem xét khả năng áp dụng bao gồm: - Về chính sách kinh tế:

40

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Cần coi trọng việc hoạch định chính sách cơ cấu và chính sách cạnh tranh theo qui tắc lợi thế so sánh để phát triển sản xuất trong nước: thay thế hàng nhập khẩu và lựa chọn sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế. Xây dựng chính sách phát triển kinh tế tổng thể, có tầm nhìn dài hạn, đặt trọng tâm vào hỗ trợ các ngành công nghiệp mà trong nước có ưu thế nhất định và mạnh dạn phát triển các ngành công nghiệp tiên tiến, công nghiệp mới, giá trị gia tăng cao, phát triển mạnh công nghiệp phụ trợ làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu và giảm nhập khẩu nguyên phụ liệu, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào phát triển công nghiệp phụ trợ. Tạo điều kiện ưu đãi và thủ tục thông thoáng, môi trường thuận lợi thu hút FDI vào các ngành công nghiệp có chọn lọc; Kiểm soát đầu tư không hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nước; Tận dụng các lợi ích của hội nhập kinh tế quốc tế để thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường; hạn chế việc vay vốn thương mại vào những lĩnh vực sản xuất thay thế NK kém hiệu quả. Quan trọng nhất là cải cách hệ thống giáo dục, đào tạo dạy nghề để nhanh chóng nâng cao trình độ, kỹ năng của lực lượng lao động, phát triển nhân tài cho cả khu vực Nhà nước và tư nhân. Nhân tài là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của cả nền kinh tế. - Về chính sách tỷ giá: Do nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu và bán thành phẩm, trong ngắn hạn cần duy trì tỷ giá ổn định trong biên độ được kiểm soát chặt chẽ. Trong trung và dài hạn cần xem xét giảm dần tỷ giá VND so với các ngoại tệ của các đối tác thương mại lớn và các đối thủ cạnh tranh chính theo lộ trình có tính toán nhằm tăng sức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu, chỉ sử dụng biện

41

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

pháp tỷ giá hỗ trợ và kích thích xuất khẩu ở

những thời điểm thích hợp nhất

định như là giải pháp tình thế để điều chỉnh sự thâm hụt thương mại quá sức an toàn của nền kinh tế; và sự điều chỉnh đó phải bắt nguồn từ yếu tố tiền tệ chứ không sử dụng trong trường hợp có sự bất hợp lý từ cơ cấu kinh tế. - Về chính sách thương mại: Nền kinh tế đang hội nhập nên việc mở cửa thị trường là tất yếu, tuy nhiên cần có chính sách hỗ trợ sản xuất hàng xuất khẩu và kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu phù hợp với các qui định của WTO (chống gian lận thương mại, xây dựng hàng rào bảo hộ phù hợp với đặc thù nền kinh tế…) Áp dụng biện pháp hạn chế tối đa việc xuất khẩu các nguyên liệu thô. Tập trung khuyến khích hỗ trợ xuất khẩu hàng qua chế biến, sản phẩm công nghiệp chế tạo, hàng có giá trị gia tăng cao. Liên kết các ngành hàng, tăng cường vai trò các Hiệp hội trọng định hướng cho doanh nghiệp và đề xuất chính sách với Chính phủ. Tăng cường vai trò đầu mối kiểm soát và khả năng định hướng của Bộ chủ quản ngành thương mại (Bộ Công thương). Lập quỹ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. Tận dụng các ưu đãi thương mại dành cho các nước đang phát triển (GSP), ưu đãi của các khu mậu dịch tự do (AFTA, AJCEP, AKFTA, ACFTA …) để tăng xuất khẩu vào các thị trường chính. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại có hệ thống thông qua việc mở mạng lưới các văn phòng xúc tiến thương mại tại các nước và khu vực quan trọng, tổ chức các chương trình xúc tiến chuyên ngành theo định kỳ.

42

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

43

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

I.

PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ 2001 – 2009.

1. Phân tích thực trạng cơ cấu nhập siêu của Việt Nam thời kỳ 2001 – 2009 theo nhóm hàng, mặt hàng nhập khẩu. 1.1. Cơ cấu nhập siêu theo nhóm hàng nhập giai đoạn thời kỳ 2001 – 2009. Nếu như giai đoạn 1996 – 2000, tổng KNNK là 61,49 tỷ USD thì tổng KNNK giai đoạn 2001 – 2005 đạt mức 130,1 tỷ USD, tăng gấp 2,1 lần so với giai đoạn 1996 – 2000. Tổng giá trị NS của cả giai đoạn là 19,2 tỷ USD, tỷ lệ NS so với KNXK là 17,2%. Bảng 1: Tình hình nhập khẩu theo nhóm hàng từ 2001 – 2005 Đơn vị: Triệu USD
S T T Tổng KNNK Nhóm nguyên, 1 nhiên sản vật xuất liệu phục vụ trong nước. Nhóm 2 và nghệ. máy công 4.457 22,6 % 6.335 25,1 % 6.591 20,6 % 6.987 18,9 % 27.778 21,4% 10.545 53,4 % 13.101 51,9 % 18.030 56,4 % 21.656 58,3 % 71.982 55,3% 19.733 Tên hàng Năm 2002 KNNK Tỷ trọng 100% Năm 2003 KNNK 25.227 Tỷ trọng 100% Năm 2004 KNNK 31.954 Tỷ trọng 100% Năm 2005 KNNK 36.978 Tỷ trọng 100% 2001 – 2005 Tỷ KNNK trọng 130.05 4 100%

móc thiết bị

44

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

3

Nhóm hàng tiêu dùng.

4.731

24%

5.792

23%

7.332

23%

8.426

22,8 %

30.294

23,3%

Nguồn: Tổng cục Hải Quan. Trong 5 năm 2001 – 2005, cơ cấu nhóm hàng NK chưa có sự chuyển dịch tích cực, nhóm hàng tiêu dùng vẫn chiếm tỷ trọng cao và khá ổn định ở mức 23%, nhóm nguyên nhiên vật liệu và máy móc, thiết bị, công nghệ chiếm 77%; riêng máy móc thiết bị và công nghệ có xu hướng giảm, thay vào đó là nhóm nguyên nhiên vật liệu tăng lên đáng kể (xem Bảng 1). Bảng 2: Tăng trưởng nhập khẩu của các nhóm hàng 2001 – 2005. Đơn vị: Triệu USD
S T T Tổng KNNK Nhóm nguyên, nhiên vật 1 liệu phục vụ sản xuất trong nước Nhóm máy móc, thiết bị và công nghệ Nhóm hàng tiêu dùng 22,10% 20,62% 27,84% 24,24% 26,67% 37,62% 15,72% 19,61% Tên hàng 02/01 % tăng trưởng 03/02 04/03 05/04

2 3

30,82% 17,86%

42,14% 22,43%

4,04% 26,59%

6,01% 14,92%

Nguồn: Tổng cục Hải quan. Như thế, sự sụt giảm cả về tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng nhập khẩu của nhóm máy móc thiết bị và công nghệ là một khía cạnh tiêu cực của nhập siêu trong giai đoạn này vì nó làm giảm hiệu ứng của nhập khẩu đối với năng lực cạnh tranh của hàng sản xuất trong nước, nhất là hàng xuất khẩu. 1.2. Phân tích cơ cấu nhập siêu theo nhóm hàng, mặt hàng giai đoạn 2006 – 2009. 45 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Ngay sau khi các cam kết WTO có hiệu lực, tổng trị giá KNNK năm 2006, năm 2007 đã tăng rất nhanh so với giai đoạn trước. Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu năm 2006 tăng 21,4% so với năm 2005, năm 2007 tăng 39,6% so với năm 2006, năm 2008 tăng 32% so với năm 2007, năm 2009 tăng 30% so với năm 2008. Các mặt hàng đóng góp vào tăng kim ngạch nhập khẩu chủ yếu vẫn là mặt hàng máy móc, linh kiện và phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; xăng dầu các loại; hóa chất và các sản phẩm hóa chất; chất dẻo nguyên liệu; thức ăn gia súc và nguyên liệu; kim loại thường khác … Bảng 3: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam 2006 – 2008
Đơn vị Tr.USD % Tr.USD % Tr.USD 2006 39.826 22,8 44.891 21,4 -5.065 2007 48.561 21,9 61.682 39,6 -14.121 2008 64.000 31,8 81.500 32,1 -17.500

Xuất khẩu Tốc độ tăng xuất khẩu Nhập khẩu Tốc độ tăng nhập khẩu Cán cân thương mại

Nguồn: Tổng cục Hải quan.

– Nhóm hàng thiết yếu phải nhập khẩu:
Nhóm hàng thiết yếu phải nhập khẩu chủ yếu là các mặt hàng máy móc, trang thiết bị, công nghệ phục vụ cho sản xuất, phát triển và các nguyên liệu cơ bản phục vụ cho đời sống. Kinh tế phát triển, đầu tư trong nước và FDI tăng dẫn đến nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên, vật liệu cũng tăng mạnh trong giai đoạn 2007 – 2009. Bên cạnh đó, nhập khẩu nhiên liệu, nguyên, vật liệu phục vụ sản xuất tăng rất cao (kể cả cho sản xuất công nghiệp và nông nghiệp). Đây chính là nhóm hàng có kim ngạch nhập khẩu cao nhất, cụ thể kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng này như sau: 46 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Bảng 4: Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng thiết yếu phải nhập khẩu 2006 – 2008. Đơn vị: Triệu USD
STT

Tên mặt hàng Tổng trị giá NK Xăng dầu các loại Clinke Hóa chất các loại Các sản phẩm hóa chất Chất dẻo nguyên liệu Phân bón các loại Thuốc trừ sâu và nguyên liệu Nguyên phụ liệu dệt may da Sắt thép Phôi thép Kim loại thường khác Máy VT. sản phẩm điện tử và linh kiện Máy móc, TB, DC và PT Ô tô và linh kiện (trừ loại dưới 12 chỗ) Gỗ và nguyên phụ liệu gỗ Thức ăn gia súc và NPL chế biến Bột giấy Cao su

2006 29.432 5.970 110 1.042 1.007 1.866 687 305 1.951 2.936 750 1.460 2.048 6.628 663 775 737 81 416

2007 42.239 7.710 119 1.466 1.285 2.585 2.507 1.000 383 2.152 5.112 1.885 2.958 11.123 775 1.016 1.181 85 379

2008 55.000 12.060 173 2.000 1.700 3.130 1.740 50 2.450 5.050 1.890 1.790 3.500 14.000 1.405 1.160 1.800 130 520

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18

Nguồn: Tổng cục Hải quan.

47

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Theo bảng trên, kim ngạch nhập khẩu của 18 nhóm hàng máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu đã lên tới 126,6 tỷ USD trong cả giai đoạn 2007 – 2009, chiếm trên 67% trong tổng kim ngạch nhập khẩu cả giai đoạn, trong đó năm 2006, tổng trị giá kim ngạch nhập khẩu nhóm này chỉ ở mức 29,4 tỷ USD, năm 2007 đã lên tới 42,2 tỷ USD, và đến năm 2008, dự kiến kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng thiết yếu cần phải nhập khẩu này đạt mức 55,9 tỷ USD. Như vậy, ta có thể thấy mức tăng trưởng đáng kể của nhóm hàng này với tỷ lệ tăng trưởng bình quân 37%/năm.

– Nhóm hàng cần thiết phục vụ an sinh xã hội

:

Đây là một số mặt hàng thiết yếu phục vụ cho chăm sóc sức khỏe con người như tân dược, nguyên phụ liệu dược phẩm, sữa và các sản phẩm từ sữa. Ngoài ra, một số mặt hàng phục vụ cho nhu cầu xã hội khác như giấy các loại, dầu mỡ động thực vật, lúa mì, bột mì cũng được đưa vào nhóm hàng này. Các mặt hàng thuộc nhóm này phụ thuộc nhiều vào mặt bằng giá thế giới và sự thay đổi tỷ giá của đồng EUR và USD nên kim ngạch nhập khẩu trong giai đoạn này tăng thêm mang nhiều yếu tố khách quan. Bảng 5: Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng cần thiết phục vụ an sinh xã hội giai đoạn 2006 – 2008. Đơn vị: Triệu USD STT 1 2 3 4 5 Tên mặt hàng Tổng trị giá NK Tân dược Nguyên phụ liệu dược phẩm Giấy các loại Sữa và các sản phẩm sữa Dầu mỡ động thực vật 48 2006 1.068 548 133 475 321 257 2007 2.775 703 158 600 462 485 2008 3.293 850 180 690 500 770 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

6 Lúa mì 7 Bột mì Nguồn: Tổng cục Hải quan.

225 9

343 24

276 27

Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng cần thiết phục vụ an sinh xã hội giai đoạn 2006 – 2009 đạt 8 tỷ USD, chiếm tỷ trọng thấp (4,1%) trong tổng kim ngạch nhập khẩu cả giai đoạn, nhưng mức tăng trưởng qua các năm cũng tương đối cao. Kim ngạch nhập khẩu 2007 tăng thêm 807 triệu so với năm 2006, là 2,77 tỷ USD (tương đương tăng 41% về mặt tương đối), tuy nhiên, năm 2008, kim ngạch chỉ tăng ở mức 3,2 tỷ USD, tăng khoảng 19% so với cùng kỳ năm 2007.

– Nhóm hàng hóa tiêu dùng cần hạn chế NK

:

Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng tăng khá mạnh qua các năm trong giai đoạn này. Tổng kim ngạch nhập khẩu cả giai đoạn là 11.4 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 5,8% trong tổng kim ngạch nhập khẩu. Năm 2007, trị giá nhập khẩu là 3,6 tỷ USD, tăng 68% so với năm 2006, năm 2008 là 5,6 tỷ USD, tăng 2 tỷ USD (tương đương tăng 56% so với năm 2007). + Mặt hàng điện tử tiêu dùng: Trong nhóm hàng nêu trên, nhập khẩu hàng điện tử tiêu dùng (trong đó có cả điện thoại di động) chiếm tỷ trọng lớn nhất (38,1%), kim ngạch nhập khẩu cả giai đoạn là 4,3 tỷ USD. Năm 2007, nhóm hàng điện tử tiêu dùng là 1,2 tỷ USD, tăng 54% so với năm 2006, làm tăng 432 triệu USD kim ngạch nhập khẩu tăng thêm so với năm 2006. Riêng năm 2008, là 2,3 tỷ USD nhập khẩu, tăng 86% so với cùng kỳ 2007. Bảng 6: Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng tiêu dùng giai đoạn 2006 – 2009 Đơn vị: Triệu đồng STT Tên mặt hàng 2006 2007 2008

49

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

1 2 3 4 5 6

Tổng trị giá NK Hàng điện tử tiêu dùng Ô tô và linh kiện sản xuất dưới 12 chỗ Ô tô nguyên chiếc dưới 12 chỗ Linh kiện sản xuất ô tô dưới 12 chỗ Xe máy nguyên chiếc Linh kiện và phụ tùng xe

2.148 802 318 38 280 68

3.616 1.234 726 193 533 145

5.630 1.300 1.140 400 740 150 680 210

481 580 máy 7 Nguyên phụ liệu thuốc lá 161 205 Nguồn: Tổng cục Hải quan và Vụ XNK Bộ Công Thương. + Mặt hàng ô tô và linh kiện ô tô dưới 12 chỗ:

Nhập khẩu nhóm hàng này cũng tăng mạnh, kim ngạch nhập khẩu 2007 tăng gấp đôi so với năm trước, làm tăng kim ngạch nhập khẩu thêm 408 triệu USD. Năm 2008, nhập khẩu là 1,14 tỷ USD, tăng 57% so với cùng kỳ năm 2007. Xét riêng mặt hàng ô tô nguyên chiếc dưới 12 chỗ, cho dù tốc độ tăng trưởng nhập khẩu rất cao, tăng gấp 5 lần so với năm 2006 (từ mức 38 triệu USD lên 193 triệu USD) nhưng về số tuyệt đối thì kim ngạch tăng thêm không nhiều, chỉ là 155 triệu USD. Tuy nhiên, năm 2008, kim ngạch nhập khẩu ô tô đạt 400 triệu USD, về tương đối chỉ tăng 107% so với năm 2007, nhưng về số tuyệt đối thì tăng 207 triệu USD. Các sản phẩm điện tử có thuế suất nhập khẩu giảm theo lộ trình cam kết, giá bán trong nước giảm mạnh khuyến khích nhu cầu tiêu thụ tăng khiến cho kim ngạch nhập khẩu tăng cao. Tuy nhiên, đối với ô tô dưới 12 chỗ ngồi, do đang có nhu cầu cao và thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng nên mặc dù giá bán trong nước không giảm, nhưng kim ngạch nhập khẩu vẫn tăng mạnh.

50

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

2. Phân tích, đánh giá thực trạng cơ cấu nhập siêu của Việt Nam thời kỳ 2001 – 2009 theo khu vực thị trường nhập khẩu và thị trường nhập siêu. 2.1. Phân tích thực trạng cơ cấu nhập siêu của Việt Nam thời kỳ 2001 – 2009 theo khu vực thị trường nhập khẩu. Trong giai đoạn 2001 – 2009, hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam từ gần 200 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới nhưng với qui mô không đồng đều. Cơ cấu thị trường nhập khẩu cả giai đoạn 2001 – 2009 vẫn phân chia rõ rệt, với tỷ lệ cao nhất là khu vực châu Á, đặc biệt là Nhật Bản, Trung Quốc, các nước trong khu vực ASEAN. Bảng 7: Nhập khẩu theo châu lục của Việt Nam giai đoạn 2002 – 2008 Đơn vị: Triệu USD
Thị trường Tổng kim ngạch NK I. Châu Á Tỷ trọng Trong đó: ASEAN Tỷ trọng II. Châu Âu Tỷ trọng Trong đó: EU Tỷ trọng III. Châu Mỹ Tỷ trọng IV. Châu Phi Tỷ trọng V. Châu Đại Dương Tỷ trọng Năm 2002 19.746 15.741,1 79,7 4.769,3 24,2 2.179,0 13,4 1.884,8 9,5 600,6 3,4 60,2 0,3 353,5 1,8 Năm 2003 25.256 19.520,3 77,3 5.949,4 23,6 2.785,2 14,1 2.566,2 10,2 673,1 5,9 137,3 0,5 383,3 2,2 Năm 2004 31.954 25.139,5 78,7 7.766,5 24,3 3.625,2 14,4 2.671,4 8,4 1.480,0 4,9 181,2 0,6 590,0 1,8 Năm 2005 36.978 29.844,4 81,0 9.035,8 24,5 4.301,4 13,5 3.098 8,4 1.562,7 4,3 268 0,7 648 1,8 Năm 2006 44.891 35.834,0 79,8 12.480,0 27,8 4.528,2 12,3 3.200 7,1 1.569,4 4,2 350 0 1.259 2,8 Năm 2007 62.682 50.195 80,1 15.814 25,2 4.976 11,1 4.922 7,9 1.881 3,3 520 0,1 1.360 2,1 Năm 2008 81.500 67.000 82,2 18.000 22,1 6.599 10,5 6.500 7,9 2.087 3,6 600 0,73 1.800 2,2

Nguồn: Vụ XNK, Bộ Công Thương.

51

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Nhìn vào bảng trên, ta có thể thấy rất rõ cơ cấu thị trường nhập khẩu giai đoạn 2001 – 2009 nói chung. Châu Á luôn dẫn đầu với mức kim ngạch nhập khẩu cao qua các năm, tỷ trọng bình quân cả giai đoạn luôn ở mức 78 – 80% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước. trong khu vực châu Á, nhóm các nước ASEAN, Việt Nam trong việc nhập khẩu các loại máy vi tính, linh kiện điện tử, xăng dầu các loại … Bên cạnh đó, phải kể đến Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hồng Kong. Phần lớn nguyên liệu cho sản xuất hay những hàng tiêu dùng thiết yếu của Việt Nam được nhập khẩu từ các nước Châu Á với cơ cấu hàng như sau: Xăng dầu các loại, vải nguyên phụ liệu dệt may, máy móc thiết bị và phụ tùng, sắt thép các loại, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Nhập siêu của khu vực Châu Á tăng dần đều qua các năm. Khởi nguồn từ năm 2001, mức nhập siêu của khu vực này chỉ ở mức 4,2 tỷ USD, đến năm 2005, kim ngạch nhập siêu của Chấu Á đã lên tới 13,5 tỷ USD, cao gấp 3 lần so với mức nhập siêu năm 2001. Năm 2008, nhập siêu của Việt Nam từ khu vực Châu Á lên tới 40,0 tỷ USD, tăng 140,0% so với cùng kỳ năm 2007. Riêng đới với khu vực ASEAN, đây là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục ở mức bình quân 25 – 30 tỷ USD những năm gần đây, chiếm tới 25% tổng trị giá xuất nhập khẩu của Việt Nam. Trong giao dịch thương mại với các nước ASEAN, chúng ta vẫn liên tục nhập siêu ở mức cao do nhập khẩu từ các nước này rất lớn. Mức nhập siêu bình quân của Việt Nam từ các nước ASEAN giai đoạn 2001 – 2009 luôn ở gần mức 4 tỷ USD, từ năm 2006 trở đi, mức nhập siêu này càng cao hơn, năm 200 sẽ vào khoảng trên 6 tỷ USD. Khu vực Châu Âu thực chất lại là khu vực xuất siêu đối với Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu luôn cao hơn kim ngạch nhập khẩu trong cả giai đoạn. Tuy nhiên, với điều kiện kinh tế và thị trường biến động trong 2 năm gần đây, khả năng xuất khẩu của Việt Nam vào khu vực này sẽ khó khăn và gây chiều 52 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

hướng nhập siêu xuất hiện. Bốn mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu từ EU lớn nhất, đó là máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; tân dược; sữa và các sản phẩm từ sữa; nguyên phụ liệu dệt may da.

Bảng 8: Nhập siêu của Việt Nam với các châu lục thời kỳ 2001 – 2008 Đơn vị: Tỷ USD
Châu Á Châu Âu Châu Mỹ Châu Phi Châu Đại Dương 2001 -4,243 +1,336 +742 +132 +659 2002 -7,057 +854 +2,101 +71 +1,016 2003 -9,765 +700 +2,847 +73 +1,072 2004 -12,505 +1,110 +4,080 +246 +1,289 2005 -13,461 +1,344 +5,341 +412 +1,928 2006 -18,848 +2,347 +6,588 +400 +2,446 2007 -29,195 +2,921 +9,573 +900 +2,318 2008 -40,000 +3,700 +11,800 +1,600 +3,400

Nguồn: Vụ XNK, Bộ Công Thương Tương tự như khu vực Châu Âu, 3 khu vực còn lại là Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Đại Dương đều là các khu vực xuất siêu với Việt Nam. Hàng nhập khẩu từ các châu lục này chủ yếu là thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu chế biến; máy móc thiết bị và phụ tùng … Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sang các khu vực này tăng nhanh hơn so với kim ngạch nhập khẩu nên đây vẫn là các khu vực xuất siêu với chúng ta. 2.2. Phân tích thực trạng cơ cấu nhập siêu hàng hóa giai đoạn 2001 – 2009 theo thị trường nhập siêu.
Cán cân thương mại của Việt Nam theo các khu vực kinh tế 1995 – 2008 (triệu USD)

53

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê 2009

Thị trường Trung Quốc

: Đây chính là đối tác hàng đầu về nhập khẩu

và là đối tác thứ ba về xuất khẩu của Việt Nam. Trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, Việt Nam luôn ở thế nhập siêu rất lớn. Năm 2001, mức kim ngạch nhập siêu đối với Trung Quốc chỉ khiêm tốn với mức 211 nghìn USD, thì đến những năm tiếp theo, mức nhập siêu tăng với cấp số nhân. Năm 2006 là 4,3 tỷ USD và đến năm 2007, nhập siêu với Trung Quốc đã lên tới con số kỷ lục là 9,1 tỷ USD, gấp 2 lần so với mức NS năm trước. Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc tập trung vào vải các loại, bông các loại, sợi các loại, nguyên phụ liệu dệt may, xăng dầu các loại, máy móc thiết bị và phụ tùng, sắt thép, phân bón và hóa chất. Thị trường Nhật Bản : Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam về xuất khẩu và cũng là một trong các thị trường nhập siêu đối với Việt Nam. Tuy nhiên, trong quan hệ thương mại với Nhật Bản, Việt Nam đang chuyển dần từ vị thế là nước nhập siêu sang nước xuất siêu. Trong hai năm từ 2003 – 2004, chúng ta liên tục nhập siêu từ Nhật Bản với mức 50 đến 85 triệu USD, nhưng sang năm 2005, 2006 đã xuất siêu sang thị trường này. Đến năm 2007, xu hướng nhập siêu với Nhật Bản lại quay trở lại với mức nhập siêu đạt

54

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

108 triệu USD. Đây cũng là con số nhập siêu lớn nhất cả giai đoạn đối với thị trường này. Thị trường Đài Loan: Nằm trong số những thị trường có mức kim

ngạch nhập siêu cao đối với Việt Nam (trên 4 tỷ USD), Đài Loan là một thị trường cung cấp chủ yếu là xăng, dầu các loại, sắt thép, vải, sợi và nguyên phụ liệu dệt may; chất dẻo nguyên liệu; máy móc thiết bị và phụ tùng cho Việt Nam. Mức nhập siêu của Việt Nam đối với thị trường Đài Loan tăng tương đối ổn định và đồng đều trong giai đoạn này, với khởi đầu là 1,2 tỷ USD năm 2001, năm 2003 là 2,2 tỷ USD, năm 2004 là 2,8 tỷ USD. Tăng gần 1 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2005, mức nhập siêu năm 2006 ở ngưỡng 3,9 tỷ USD và năm 2007 đã lên đến 5,8 tỷ USD, tăng 48,7% so với năm 2006. Thị trường Hàn Quốc: tính trung bình trong giai đoạn 2001 – 2009,

Hàn Quốc là thị trường mà tỷ lệ nhập siêu của Việt Nam trên tổng kim ngạch xuất khẩu giữa hai nước cao nhất (66,2%). Tuy nhiên, trong ba năm gần đây, tốc độ tăng xuất khẩu luôn cao hơn tốc độ tăng của nhập khẩu. Kể cả năm 2007, khi nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc tăng đến 37,8% thì xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc cũng tăng đến 48,6%. Thị trường Singapore: Trong giai đoạn 2001 – 2009, mức độ nhập siêu

của Việt Nam từ Singapore tương đối cao cả về số tuyệt đối và về tỷ lệ. Kim ngạch nhập siêu của Việt Nam từ Singapore đã tăng từ 1,4 tỷ USD năm 2001 lên 5,4 tỷ USD năm 2007. Nhìn chung, tỷ lệ nhập siêu của Việt Nam trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước ở mức 40 – 45% trong giai đoạn 2001 – 2005, nhưng sau đó đã tăng lên đến 58,7% vào năm 2006 và 55,1% vào năm 2007. Nhập khẩu của Việt Nam từ Singapore luôn giữ mức tăng trưởng dương, thậm chí trong giai đoạn 2004 – 2007 luôn giữ ở mức trên 20%. Đặc 55 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

biệt năm 2006, trong khi xuất khẩu sang Singapore giảm 14,9% thì nhập khẩu từ Singapore tăng 40%, khiến năm 2006 là năm có tỷ lệ nhập siêu của Việt Nam trong tổng kim ngạch nhập khẩu giữa hai nước ở mức cao nhất. Thị trường Thái Lan: Trong giai đoạn 2001 – 2009, nhập siêu của Việt

Nam từ Thái Lan có xu hướng tăng cả về số tuyệt đối cũng như về tỷ lệ. Năm 2001, Việt Nam nhập siêu từ Thái Lan 469,5 triệu USD, tương đương với 42,1% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước. Năm 2004, Việt Nam nhập siêu từ Thái Lan 1,34 tỷ USD, tương đương với 56,4% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước. Năm 2007, Việt Nam nhập siêu từ Thái Lan 2,7 tỷ USD, tương đương với 56,7% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước. Thị trường Hồng Kong: Mức độ nhập siêu của Việt Nam từ thị trường

Hồng Kong có xu hướng mở rộng do tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hồng Koong hơn tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ thị truongf này. Trong giai đoạn 2001 – 2009, xuất khẩu của ta sang Hồng Kong chỉ tăng trung bình 10,7%/năm trong khi nhập khẩu từ Hồng Kong tăng trung bình 23,6%/năm. Do đó, nhập siêu tính theo số tuyệt đối đã tăng từ 220 triệu USD năm 2001 lên 1,3 tỷ USD năm 2009. Tỷ lệ nhập siêu trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu song phương cũng tăng từ 25,8% lên 52,95%. Trong cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Hồng Kong, ba mặt hàng có kim ngạch lớn nhất lần lượt là nguyên phụ liệu dệt may – da, sản phẩm điện tử - linh kiện và máy móc thiết bị phụ tùng. Thị trường Malaysia: Mức độ nhập siêu của Việt Nam từ thị trường

Malaysia không lớn nếu so sánh với nhiều thị trường khác, đặc biệt là các thị trường thuộc khu vực Đông Bắc Á. Trong những năm 2005, 2006, cán cân 56 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

thương mại của Việt Nam với Malaysia tương đối cân bằng, nhập siêu chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 10% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước. Năm 2007, do có sự tăng trưởng đột biến của nhập khẩu từ Malaysia, nhập siêu đã tăng lên 1 tỷ USD, tương đương 27,1% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước. Thị trường Ấn Độ: Cán cân thương mại của Việt Nam với Ấn Độ luôn

ở trong tình trạng nhập siêu với mức độ ngày càng lớn. Nếu như năm 2001 , Việt Nam chỉ nhập siêu từ Ấn Độ 184 triệu USD, chiếm 67% tổng KNXNK thì đến năm 2007 các chỉ số tương ứng là 1.171 triệu USD và 76,4%. Trong cơ cấu hàng NK của Việt Nam từ Ấn Độ, nhóm hàng thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu chế biến, sắt thép các loại, các chất dẻo nguyên liệu, nguyên phụ liệu dệt may và da dày là nhóm hàng có kim ngạch cao nhất và có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định ở mức trung bình 50%/năm; riêng thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu (chiếm 33% kim ngạch NK năm 2007) tăng khoảng 80%/năm từ 2005 đến nay. 3. Phân tích đánh giá thực trạng cơ cấu nhập siêu của Việt nam thời kỳ 2001 – 2009 theo nhóm chủ thể nhập siêu. Tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, phải kể đến 2 nhóm chủ thể nhập khẩu quan trọng nhất, đó là nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước và nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI). Bảng 9: Tốc độ tăng nhập khẩu của các nhóm chủ thể giai đoạn 2001 – 2008
Tên chủ thể NK Tổng kim ngạch Tốc độ tăng so với ĐVT Tr.USD % 2001 16,218 3,7 2002 19,733 21,7 2003 25,227 27,8 2004 31,95 4 26,7 2005 36,97 8 15,7 2006 44,89 1 21,4 2007 62,68 2 39,6 2008 81,500 32,1

57

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

năm trước. 1. DN có vốn đầu tư trong nước Tốc độ tăng so với năm trước 2. DN có vốn ĐT nước ngoài Tốc độ tăng so với năm trước

Tr.USD % Tr.USD %

11,233 -0,5 4,985 14,5

13,029 156,0 6,704 34,5

16,412 26,0 8,815 31,5

20,86 9 27,2 11,80 5 25,8

23,33 8 11,8 13,64 0 23,0

28,40 2 21,7 16,48 9 20,9

40,96 7 44,2 21,71 5 31,7

55,000 34,2 25,740 18,5

Nguồn: Tổng cục Hải quan và Vụ XNK Bộ Công Thương. Nếu xét riêng về nhập khẩu, ta có thể thấy rõ vị trí của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước luôn chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng kim ngạch nhập khẩu so với doanh nghiệp FDI. Năm 2001, kim ngạch nhập khẩu của nhóm doanh nghiệp đầu tư trong nước chỉ ở mức 11,2 tỷ USD, thì đến năm 2005, mức nhập khẩu đã tăng hơn gấp đôi so với năm 2001 và dự kiến năm 2008, kim ngạch nhập khẩu của rieng nhóm doanh nghiệp trong nước đã ở mức 55,0 tỷ USD, tăng 34,2% so với năm 2007 và tăng 5 lần so với 2001, chiếm 67% tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu của cả nước. Tuy xét về mặt tuyệt đối, kim ngạch nhập khẩu của nhóm doanh nghiệp FDI không cao như doanh nghiệp trong nước nhưng càng những năm cuối giai đoạn 2001 – 2009, tốc đô tăng trưởng nhập khẩu của nhóm chủ thể này đã cao hơn những năm trước, bình quân ở mức 23%/năm. Trong đó, về xuất khẩu, Nhật Bản là thị trường hàng đầu, chiếm 19% kim ngạch xuất khẩu toàn khối và chiếm 48% trị giá xuất khẩu sang Nhật Bản của cả nước. Đối với nhập khẩu, Đài Loan là đối tác lớn nhất, chiếm 17% kim ngạch nhập khẩu của khu vực FDI và 53% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Đài Loan. Tốc độ tăng nhập siêu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài luôn luôn thấp hơn so với tốc độ tăng nhập siêu của cả nước cũng như của khu vực doanh nghiệp đầu tư trong nước, thậm chí có những lúc xuất siêu. 58 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Trong suốt 3 năm 2001 – 2003, khu vực FDI luôn xuất siêu, điều này chứng tỏ trong giai đoạn này, khu vực FDI đang tăng trưởng xuất khẩu và tốc độ tăng xuất khẩu nhanh hơn tốc độ nhập khẩu. Giai đoạn 2004 - 2009, là giai đoạn đầu tư cho các dự án FDI, khu vực này nhập khẩu tương đối nhiều, và đỉnh điểm nhập siêu là năm 2007. Nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI tập trung vào một số mặt hàng chủ lực, trong đó có 6 mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ USD, trị giá nhập khẩu của 6 mặt hàng này là hơn 11 tỷ USD, chiếm hơn 50% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Khu vực này nhập khẩu chủ yếu từ Châu Á và tập trung vào các mặt hàng mang tính chất đầu tư sản xuất như máy móc thiết bị phụ tùng, các sản phẩm điện tử và linh kiện … Năm 2007, do sự chênh lệch lớn về tốc độ tăng nên tỷ trọng nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước tăng từ 61,7% lên 70,1%, ngược lại các doanh nghiệp FDI lại giảm từ 38,8% năm 2006 xuống 29,9% so với cả nước trong năm 2007. Năm 2008, khu vực FDI lại xuất siêu và đạt sự nổi trội hiệu quả với kim ngạch xuất khẩu là 35,5 tỷ USD. 4. Phân tích thực trạng nhập siêu của Việt Nam thời kỳ 2001 – 2009 theo địa phương nhập khẩu. Trong số hơn 60 tỉnh, thành có doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu, có khoảng ½ trong số đó có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tương đối. Xuất khẩu “đầu tầu” của cả nước phải kể đến những tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng … Tính đến năm 2007, có hơn nửa số tỉnh , thành đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trên 30% so với năm 2006. Khu vực trọng điểm kinh tế phía nam bao gồm TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai tiếp tục đi đầu trong xuất khẩu với mức đóng góp khoảng 60% kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước.

59

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Đóng vai trò là “đầu tầu” của khu vực phía Bắc, thủ đô Hà Nội luôn giữ vị trí quan trọng về tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu của thủ đô Hà Nội luôn tăng đều và mang tính chất ổn định. Năm 2001, kim ngạch xuất nhập khẩu của Hà Nội đạt 1,48 tỷ USD, trong khi nhập khẩu đạt mức 4,83 tỷ USD, đưa Hà Nội thành một trong những tỉnh, thành có mức nhập siêu cao (2,6 tỷ USD). Đến năm 2007, kim ngạch nhập khẩu của Hà Nội ở mức 18,4 tỷ USD, kim ngạch XK đạt 4,95 tỷ USD, nhập siêu tới 13,5 tỷ USD về mặt tuyệt đối, gấp 4 lần kim ngạch XK. Bên cạnh đó, xu hướng tăng trưởng nhập khẩu nhanh hơn tăng trưởng xuất khẩu của các tỉnh, thành phía Bắc đã làm cho các tỉnh, thành phía Bắc cũng lần lượt đứng vào danh sách nhập siêu cao như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang, Hưng Yên, Phú Thọ … Đại diện cho khu vực phía Nam, TP Hồ Chí Minh tiếp tục là địa phương có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất cả nước. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của TP Hồ Chí Minh đóng góp vào tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước chiếm tỷ trọng cao nhất (38,8%). Tuy nhiên, TP Hồ Chí Minh lại là khu vực xuất siêu trong cả giai đoạn với tốc độ tăng xuất siêu tương đối ổn định. Bắt đầu giai đoạn 2001 – 2009, TP Hồ Chí Minh khởi điểm với kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 7,4 tỷ USD, trong khi kim ngạch nhập khẩu chỉ là 5,9 tỷ USD, xuất siêu 1,5 tỷ USD. Tính đến năm 2006, xuất siêu của TP Hồ Chí Minh ở mức 0,66 tỷ USD (kim ngạch xuất khẩu là 16,8 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu là 17,46 tỷ USD). Đi cùng với xu hướng nhập khẩu mạnh các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, các loại máy móc thiết bị phụ tùng, phục vụ sản xuất cho các dự án đầu tư, TP Hồ Chí Minh ngày càng rút ngắn xuất siêu và có khả năng sẽ trở thành tỉnh, thành nhập siêu. Tính đến hết năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của TP Hồ Chí minh chỉ ở mức 18,8 tỷ USD, trong khi kim ngạch nhập khẩu đã lên tới 18,3 tỷ USD, xuất siêu chỉ đạt 0,5 tỷ USD, thu hẹp khoảng cách giữa nhập khẩu và xuất khẩu của TP Hồ Chí minh như dầu giai đoạn. 60 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Bảng 10: Số liệu xuất nhập khẩu của một số tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long 2007
Năm 2007 Xuất khẩu 48.451.353 3.808.513 507.423 131.355 640.858 196.472 685.702 349.958 224.936 128.078 Nhập khẩu 62.682.228 2.055.600 85.119 28.326 655.265 442.084 682.302 25.573 66.502 70.429 Nhập siêu -14.120.875 +1.752.913 +422.304 +103.029 +14.407 -245.612 +3.400 +324.385 +158.434 +57.649

S T T Tổng KN cả nước Tổng KN các tỉnh 1 2 3 4 5 6 7 8 ĐBSCL An Giang Bến Tre Cần Thơ Đồng Tháp Long An Sóc Trăng Tiền Giang Vĩnh Long Tên thành phố

Đơn vị tính Nghìn USD Nghìn USD Nghìn USD Nghìn USD Nghìn USD Nghìn USD Nghìn USD Nghìn USD Nghìn USD Nghìn USD

Nguồn: Vụ XNL, Bộ Công Thương. Cũng trong khu vực phía Nam, hai tỉnh lớn nhất về đóng góp kim ngạch xuất nhập khẩu thuộc vùng Đông Nam Bộ là Bình Dương và Đồng Nai có xu hướng khác nhau. Bình Dương với kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 5,1 tỷ, cao hơn kim ngạch nhập khẩu 200 triệu USD đã đưa tên mình vào khu vực các tỉnh, thành xuất siêu. Tuy nhiên, Đồng Nai lại nhập siêu do kim ngạch nhập khẩu đạt 6,3 tỷ USD, cao hơn kim ngạch xuất khẩu là 1,2 tỷ USD ( kim ngạch xuất khẩu là 5,1 tỷ USD). Khu vực đồng bằng Sông Cửu Long hầu hết đều là khu vực tỉnh, thành xuất siêu với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao hơn tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu. Đà Nẵng cũng là thành phố nhập siêu duy nhất trong khu vực miền Trung với kim ngạch nhập khẩu là 574 triệu USD, cao hơn kim ngạch xuất khẩu 85 triệu USD năm 2007. Ngoài ra, các tỉnh khác trong khu vực này như

61

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Đăk Lak, Lâm Đồng … đều chủ yếu là tỉnh, thành xuất siêu với mặt hàng chủ lực là cà phê, tiêu, điều …

II.

PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ NGUYÊN NHÂN NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM.

1. Nhận định những nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến nhập siêu của Việt Nam. 1.1. Các nguyên nhân có tính khách quan. 1.1.1. Sự biến động của môi trường kinh tế và kinh doanh toàn cầu trong 10 năm quá đã tác động theo chiều hướng bất lợi lên cán cân thương mại của Việt Nam. Chỉ trong 10 năm (1989 – 2009), nền kinh tế hướng về xuất khẩu của Việt Nam còn rất non yếu đã bị tác động mạnh của ba cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính trên thế giới, ảnh hưởng trực tiếp và rõ nét nhất là lĩnh vực hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa. Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đông Nam Á (năm 1997 – 1998) sau đó lan rộng cả khu vực châu Á – Thái Bình Dương – khu vực thị trường chiếm gần 60% kim ngạch XK của Việt Nam – đã làm mất đà tăng trưởng xuất khẩu mà Việt Nam đã tạo ra được từ 5 năm trước. Năm 1996 tốc độ tăng trưởng kim ngạch đạt 33,1%, năm 1997 giảm còn 24,7% và năm 1998 tụt xuống còn 3%. Mặc dù tốc độ tăng trưởng kim ngạch NK cũng bị giảm mạnh (4%/năm 1997, 3%/năm 1998 và 1,1%/năm 1999 và ngay sau đó đã tăng vọt lên 34,5% vào năm 2000) và năm 1999 kim ngạch XK cũng đã tăng 23,6% nhưng điều quan trọng là nó đã làm “đứt đọan” tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. Ngay sau đó, cuộc suy thoái kinh tế thế giới năm 2001 – 2002 (do sự kiện khủng bố 11/9 tại Mỹ) đã tác động làm giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam từ mức 25,4% năm 2000 xuống còn 3,8% năm 2001 và 9,8% năm 2002, trong khi đó tốc độ tăng trưởng NK năm 2001 đã đạt 62 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

22,1% (mặc dù năm 2001, khi kinh tế Mỹ suy thoái thì thị trường này chỉ chiếm gần 4% kim ngạch XK của Việt Nam). Từ tháng 09/2008 đến nay, cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ đang lan rộng đẩy nền kinh tế thế giới vào cuộc suy thoái mới, đang tác động ngày càng mạnh theo chiều hướng bất lợi lên cán cân thương mại của Việt Nam. Từ 20/08/2008 đến nay, tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK đang giảm mạnh (tính từ kỳ 2 tháng 9 so với kỳ 2 tháng 8 tăng trưởng 15,11%, kỳ 2 tháng 10 so với kỳ 2 tháng 9 chỉ còn 10,9% và kỳ 2 tháng 11 so với kỳ 2 tháng 10 chỉ còn 8,9%). Tuy các nền kinh tế khác cũng bị ảnh hưởng tiêu cực của các cuộc khủng hoảng nêu trên, nhưng đối với nền kinh tế - thương mại còn non yếu như Việt Nam thì khi bị tác động sẽ rất khó khăn trong việc phục hồi để phát triển trở lại. Bởi lẽ, một mặt, trong điều kiện suy thoái kinh tế thế giới, tổng cầu sẽ giảm mạnh, nước nào cũng muốn đẩy mạnh XK để tránh bị khủng hoảng thừa và nhanh chóng phục hồi kinh tế để thoát ra khỏi suy thoái, cạnh tranh quốc tế trở nên khốc liệt hơn và hàng hóa XK có sức cạnh tranh yếu của Việt Nam đã không thể duy trì được khối lượng XK như trước và bị thu hẹp thị trường. Mặt khác, do phần lớn sản phẩm XK của Việt Nam là của ngành nông nghiệp và công nghiệp gia công, độ nhạy cảm về cung rất nhỏ, thích ứng chậm hơn với thị trường thế giới nên khi xảy ra suy thoái kinh tế thế giới, sản xuất trong nước không điều chỉnh kịp, để duy trì sản xuất, vẫn phải tiếp tục nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu “đầu vào” nhưng sản phẩm đầu ra bị thu hẹp thị trường xuất khẩu, tăng trưởng nhập khẩu vẫn cao hơn tăng trưởng xuất khẩu, không thể tránh khỏi nhập siêu. 1.1.2. Nhu cầu và tiềm lực của nền kinh tế nước ta. Trong tiến trình hội nhập với sự trợ lực của FDI đã tăng đáng kể từ sau năm 2002, khi mà nền kinh tế đã bước hẳn sang kinh tế thị trường và điểm khởi 63 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

phát đã ở nấc thang cao hơn đầu những năm 90 đã tạo ra nhu cầu nhập khẩu lớn đối với các yếu tố vật chất “đầu vào” cho sản xuất thay thế nhập khẩu và hướng mạnh về xuất khẩu. Đây là nguyên nhân khách quan quan trọng nhất dẫn đến hiện tượng nhập siêu tăng nhanh trong những năm vừa qua. Trong điều kiện nguồn tài nguyên có hạn, chỉ đáp ứng được nhu cầu phát triển một số ngành sản phẩm có giá trị gia tăng thấp, để thực hiện chiến lược chuyển dịch cơ cấu hàng XK theo hướng đa dạng hóa, nâng cao giá trị gia tăng và để hấp thu được nguồn vốn FDI đổ vào ngày càng lớn thì nhu cầu nhập khẩu vật tư thiết bị, nguyên phụ liệu cao là tất yếu và tích cực. Nền kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng ở mức khá cao, GDP bình quân 5 năm đặt trên 7%, sản xuất công nghiệp và xuất khẩu tăng trưởng 16,2%, vốn FDI và ODA thực hiện đạt khá. Riêng năm 2005, FDI vào Việt Nam đạt trên 4,6 tỷ USD, tổng số vốn của FDI giai đoạn 5 năm 2001 – 2005 đạt khoảng 17.16 tỷ USD dẫn đến nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất phục vụ nền kinh tế tăng mạnh. Chẳng hạn nhập khẩu máy móc thiết bị đạt 22,44 tỷ USD, bằng 17% tổng kim ngạch nhập khẩu. 1.1.3. Các tập đoàn đa quốc gia khi đầu tư vào Việt Nam thì các cơ sở sản xuất của họ ở một số nước ASEAN (Thái Lan, Malaysia) là nguồn cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện để thực hiện các công đoạn chế tạo, gia công, lắp ráp tiếp theo tại Việt Nam. Vì thế, khi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng thì nhập khẩu các mặt hàng như chất dẻo nguyên liệu, linh kiện ô tô, xe máy, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng, vải sợi, nguyên phụ liệu dệt may da giày từ những nước kể trên cũng sẽ tăng theo để làm đầu vào cho các nhà máy sản xuất có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Khi Việt Nam chưa phát triển được các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ sản xuất thì nhu cầu nhập khẩu những mặt hàng này vẫn là tất yếu.

64

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

1.1.4. Qui mô sản xuất trong nước một số ngành hàng còn nhỏ, năng lực sản xuất chưa đạt qui mô thay thế hoàn toàn hàng nhập khẩu, cung trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu nội địa vẫn phải nhập khẩu với khối lượng lớn. Chẳng hạn ngành hàng giấy các loại đến nay sản xuất trong nước mới đáp ứng được 83% tổng nhu cầu nội địa, dầu mỡ động thực vật sản xuất trong nước mới đáp ứng được 68% tông rnhu cầu nội địa; sản phẩm sữa năng lực sản xuất trong nước mới đáp ứng được 78% tổng nhu cầu nội địa; sản phẩm phương tiện vận tải sản xuất trong nước mới đáp ứng được khoảng trên 50% nhu cầu; năng lực sản xuất phân bón các loại cũng chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu trong nước.

1.1.5. Các ngành công nghiệp phụ trợ và ngành công nghiệp dệt của Việt Nam chưa phát triển nên ta vẫn phải nhập một khối lượng lớn vải, sắt thép cũng như phụ tùng, linh kiện ô tô, xe máy, các loại phụ tùng máy móc khác … để phục vụ sản xuất trong nước. (Trong cơ cấu nhập giai đoạn vừa qua, nhóm hàng NK là nguyên phụ liệu, phụ kiện …, chiếm khoảng 60% tổng giá trị nhập siêu. Mặt khác, dịch vụ Logistics của Việt Nam chưa phát triển nên phí bảo hiểm và vận tải hàng nhập khẩu cao, chiếm trên 50% kim ngạch NK dịch vụ (năm 2007 trị giá 2,8 tỷ USD, và 6 tháng đầu năm 2008 đạt 2,3 tỷ USD) cũng tác động làm tăng nhập siêu. 1.1.6. Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới cũng gây ra những khó khăn không nhỏ cho hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng như hàng Việt Nam tiêu thụ trên thị trường nội địa. Việt Nam và một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia có nhiều mặt hàng xuất khẩu tương đồng nên sự cạnh tranh rất cao. Một số thị trường xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam cũng có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các đối thủ lớn hoặc cạnh tranh với chính hàng nội địa của thị trường đó. Sự cạnh tranh quyết liệt còn thể hiện ở các mặt hàng thô, 65 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

sơ chế mà ta có thế mạnh, mặc dù có giá trị gia tăng thấp và phụ thuộc vào giá cả trên thị trường thế giới nhưng cũng vấp phải sự cạnh tranh gay gắt với các nước khác. Còn trên thị trường Việt Nam thì hàng giá rẻ, phong phú, chất lượng tốt, quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam từ Trung Quốc, Thái Lan đã đe dọa trực tiếp tới hàng nội địa và làm tăng qui mô nhập siêu.

1.2.

Các nguyên nhân có tính chủ quan

. .

1.2.1. Nhập siêu tăng cao trong 9 năm qua có nguyên nhân quan trọng từ các yếu tố và quan hệ giữa một số yếu tố kinh tế vĩ mô Nguyên nhân của thâm hụt tài khoản vãng lai trong 9 năm qua (23,4 tỷ USD) không nằm ở chính sách thương mại, mà có nguồn gốc ở các yếu tố kinh tế vĩ mô của nền kinh tế. Đó là các yếu tố về đầu tư tăng cao, tỷ giá hối đoái ủng hộ nhập khẩu mà không khuyến khích xuất khẩu, mức tiết kiệm thấp, thâm hụt ngân sách …

– Đầu tư tăng cao nhưng hiệu quả đầu tư thấp

:

Một trong những nguyên nhân gây ra nhập siêu cao và là thành tố chính tạo ra thâm hụt tài khoản vãng lai là do nhu cầu đầu tư của khu vực tư nhân cao hơn mức tiết kiệm trong nền kinh tế. Nếu thâm hụt là do nhu cầu đầu tư nhiều vào nhà xưởng, máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất, thì trong tương lai năng suất sẽ cao hơn, sản xuất nhiều hơn và hàng hóa sản xuất ra có thể để tăng xuất khẩu nhằm cân bằng cán cân thương mại và tài khoản vãng lai (trả nợ). Tuy nhiên, nếu nhu cầu đầu tư tăng cao là vào khu vực bất động sản, thì lại càng đáng lo ngại, vì khu vực này thường không làm tăng năng suất (nhu cầu đầu tư máy móc, thiết bị), cũng như tạo ra các sản phẩm có thể dùng để trả nợ (thông qua xuất khẩu). Do đầu tư kém hiệu quả, năng suất, chất lượng, hiệu quả thấp, dẫn đến chi phí sản xuất cao, làm cho sức cạnh tranh của sản phẩm và của nền kinh tế 66 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

thấp. Đây là nguyên nhân cơ bản hết sức quan trọng gây nên nhập siêu cao ở nước ta. Chúng ta đã qua một thời gian tương đối dài chủ yếu tăng trưởng nhờ vốn đầu tư. Hiện nay, mức đầu tư từ ngân sách Nhà nước khoảng 20% tổng GDP. Tổng đầu tư xã hội khoảng 40,2%, một mức cao so với nhiều quốc gia trên thế giới, song hiệu quả không cao. Theo số liệu công bố năm 2007 tổng vốn đầu tư khoảng 461.000 tỷ đồng, nếu tỷ lệ lãng phí thất thoát chỉ chiếm 10%, thì tổng số vốn đầu tư bị mất đi là khá lớn. Tính chung ICOR của Việt Nam trong thời kỳ 1991 – 2008 là 4,86 lần, cao hơn nhiều so với 2,7 lần của Đài Loan (trong thời kỳ 1961 – 1980); 3 lần của Hàn Quốc (trong thời kỳ 1981 – 1995); 3,7 lần so với Indonesia (trong thời kỳ 1981 – 1995); 4 lần của Trung Quốc (trong thời kỳ 2001 – 2006); 4,1 lần của Thái Lan (trong thời kỳ 1981 – 1985); cũng cao hơn 4,6 lần của Malaysia (trong thời kỳ 1981 – 1995). Điều đó chứng tỏ hiệu quả đầu tư của Việt Nam rất thấp. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp còn hạn chế, thể hiện chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm còn cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Điều này được thể hiện chỉ số tiêu hao nguyên nhiên liệu, vật tư cho sản xuất chiếm tỷ lệ cao so với các nước làm tăng nhu cầu nhập khẩu không hiệu quả. Do vậy khi giá cả của các loại vật tư, nguyên nhiên liệu thế giới tăng, càng làm cho chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của chúng ta tăng cao hơn nhiều. Chính những điều này đã lý giải tại sao trong bối cảnh giá cả thế giới tăng cao, lạm phát nước ta lại tăng nhiều hơn các nước trên thế giới và song trùng với lạm phát là nhập siêu cũng tăng cao.

– Mức tiết kiệm thấp:
Nhìn chung ở giai đoạn mới bắt đầu phát triển, các nước đang phát triển thường có mức tiết kiệm khá thấp so với nhu cầu đầu tư trong nước (do thu nhập thấp). Với mức tiết kiệm vốn dĩ không cao, trong thời gian vừa qua mức độ tiết kiệm của Việt Nam còn trở nên thấp hơn nữa do tiêu dùng tăng cao đột biến. Theo số liệu thống kê của W.B cho thấy, mức tăng trưởng tiết kiệm trung 67 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

bình của nước ta trong giai đoạn 1995 – 2000 là 8,5%, tuy nhiên sang giai đoạn 2001 – 2008 thì tỷ lệ này hầu như không có sự thay đổi (chỉ cao hơn 0,1%). Trong khi đó, tổng chi tiêu của quốc gia đã gia tăng trung bình từ 1,7% lên 2,3% trong thời kỳ tương ứng. Tiêu dùng của dân cư cũng tăng đột biến, năm 2007 so với năm 2006, kim ngạch nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc tăng 171,8%, riêng dưới 12 chỗ tăng 408%. Tương tự, 6 tháng đầu năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007, kim ngạch nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc tăng 357%, riêng xe dưới 12 chỗ tăng 556%, linh kiện ô tô tăng 271%. Trong năm 2006 và 2007, có nhiều nguyên nhân dẫn tới có sự thay đổi lớn trong mức tiêu dùng của người dân Việt Nam. Một trong những nguyên nhân là hiệu ứng tăng tài sản, do sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường chứng khoán bùng nổ đã kéo theo một lượng vốn đầu tư gián tiếp lớn ở mức kỷ lục đã chảy vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Về ngắn hạn, đồng tiền chảy vào đã làm cho người dân giàu có hơn, dẫn đến việc tăng tiêu dùng và giảm tiết kiệm. Tương tự như thị trường chứng khoán, giá bất động sản tăng trưởng mạnh làm cho khu vực dân chúng trở nên giàu có hơn và cũng làm cho mức tiết kiệm suy giảm. Ngoài hai yếu tố trên, trong những năm qua, với sự phát triển của hệ thống ngân hàng, các sản phẩm tài chính mới như ngân hàng bán lẻ và tín dụng tiêu dùng cũng góp phần làm cho mức tiết kiệm giảm mạnh. Nếu mức tiêu dùng tăng cao và tiết kiệm thấp trong khu vực tư nhân (bao gồm tiết kiệm cá nhân và tiết kiệm của doanh nghiệp) là do những lý do nêu trên, thì trong giai đoạn hiện nay với sự sụt giảm của thị trường chứng khoán và sự đóng băng của thị trường bất động sản, mức tiếu dùng sẽ giảm xuống. Trong gói biện pháp mà Chính phủ đưa ra có biện pháp tăng cường tiết kiệm, hạn chế nhập lãng phí là rất đúng đắn. Cùng với việc thắt chặt tiền tệ và tăng lãi suất như hiện nay các khoản tín dụng tiêu dùng chắc chắn sẽ bị giảm (Tỷ lệ đầu tư tăng vọt lên mức 44,6% GDP, trong khi tỷ lệ tiết kiệm giảm còn 20% GDP). 68 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

– Thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai:
Một trong những nguyên nhân gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai chính là thâm hụt ngân sách Nhà nước. Một trong nhưng nguy cơ gây ra khủng hoảng kinh tế, đó là vấn đề thâm hụt kép: Vừa tham hụt tài khoản vãng lai lớn, lại vừa thâm hụt ngân sách Chính phủ cũng lớn. Hiện nay, theo các báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), dường như Việt Nam đang gặp phải vấn đề này. Tăng tiết kiệm của khu vực tư nhân sẽ cải thiện tài khoản vãng lai. Và như vật, nếu các yếu tố khác không thay đổi thì rất có thể chính thâm hụt ngân sách sẽ dẫn tới thâm hụt tài khoản vãng lai. Các nước phát triển, như Hoa Kỳ , cũng gặp phải vấn đề thâm hụt kép và nhiều nhà kinh tế học cho rằng việc tăng chi tiêu Chính phủ Hoa Kỳ là nguyên nhân của việc thâm hụt tài khoản vãng lai của nước này. Để giảm được thâm hụt ngân sách thì chúng ta có thể (i) giảm chi tiêu của Chính phủ; và (ii) tăng thu ngân sách. Hiện nay Chính phủ Việt Nam đang có chương trình tăng thu ngân sách thông qua việc tăng cường hiệu quả tính thuế (với sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới). Hy vọng trong tương lai, nguồn thu ngân sách của Chính phủ sẽ tốt hơn với sự hoạt động hiệu quả hơn của bộ máy thuế và điều này cũng sẽ giảm bớt áp lực của thâm hụt ngân sách thì điều hiển nhiên là phải cắt giảm chi tiêu của Chính phủ. Theo con số chính thức, thâm hụt ngân sách của Việt Nam hiện nay đang ở 5%. Tuy nhiên, theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) ước tính thì con số thâm hụt ngân sách của Việt Nam lên tới 7% và có thể lên tới 10% trong năm 2008. 1.2.2. Nhập siệu tăng cao trong 9 năm qua có nguyên nhân từ chính sách và cơ chế quản lý, điều hành hoạt động NK . Sự phối hợp giữa các cơ quan ban hành chính sách, cơ quan thực thi và cơ quan kiểm tra, giám sát hoạt động NK còn chưa chặt chẽ và đồng bộ. Có quá nhiều Bộ, Ngành tham gia vào công tác ban hành chính sách, điều hành và 69 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

quản lý Nhà nước về NK, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, chưa tạo ra sự nhất quán và hợp lý. Một số văn băn pháp luật, hiệp định quốc tế chưa thực sự phát huy và triển khai hiệu quả như việc áp dụng trị giá tính thuế theo ACV còn chậm; pháp lệnh chống bán phá giá, pháp lệnh chống trợ cấp, pháp lệnh tự vệ chưa phát huy tác dụng trong thực tiễn; các biện pháp quản lý mới được các nước áp dụng từ sớm như ngạch thuế quan, nhãn sinh thái, đánh giá sự phù hợp về tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật đối với hàng hóa XNK … thì Việt Nam mới đưa vào áp dụn, nhiều biện pháp vẫn còn đang trong dạng chủ trương nghiên cứu mà chưa được triển khai áp dụng … Hệ thống pháp luật về quản lý nhập khẩu còn phức tạp, chưa có sự đồng bộ, có quá nhiều văn bản liên quan đến quản lý nhập khẩu gây khó khăn cho cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Việc sử dụng công cụ thuế quan để hạn chế NK một số mặt hàng (như ô tô và linh phụ kiện lắp ráp …) chưa có sự chủ động, thời điểm không thích hợp gây nên hiện tượng đầu cơ làm nhập khẩu tăng cao. Chất lượng thông tin dự báo thị trường phục vụ quản lý điều hành hoạt động còn thấp, làm ảnh hưởng đến chất lượng công tác quản lý Nhà nước về hoạt động XNK. Việt Nam chưa tận dụng và khai thác tốt những lợi ích của GSP dành cho các nước đang phát triển và AISP. 2. Phân tích đánh giá nguyên nhân nhập siêu của Việt Nam theo khu vực thị trường nhập siêu. 2.1. Nguyên nhân nhập siêu của Việt Nam với khu vực thị trường Châu Á – Thái Bình Dương. (1) Tình hình thu hút FDI từ khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Việt Nam trong những năm gần đây tăng mạnh, do đó, nhu cầu nhập khẩu các 70 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

nguyên nhiên liệu, máy móc – thiết bị phục vụ sản xuất xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các dự án hợp tác sử dụng tín dụng ưu đãi tăng cao. Kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài năm 2007 đạt 19,5 tỷ USD, chiếm 34,6% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Các nước châu Á – Thái Bình Dương có FDI lớn tại Việt Nam gồm: Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc. (2) Vị trí địa lý thuận lợi là một nguyên nhân quan trọng khiến Việt Nam nhập khẩu nhiều từ khu vực châu Á – Thái Bình Dương hơn là từ các khu vực khác như châu Âu, châu Mỹ. Chẳng hạn như nhập khẩu từ Thái Lan có chi phí vận chuyển thấp, thời gian ngắn; Malaysia có vị trí thuận lợi và là nguồn nhập khẩu nguyên vật liệu quan trọng bù đắp cho sự thiếu hụt trong nước; Singapore vẫn luôn là nguồn cung xăng dầu gần ta và đảm bảo; Indonesia với vị trí thuận lợi cũng là nguồn cung nguyên liệu đầu vào quan trọng, có tính cạnh tranh của Việt Nam. (3) Các doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng hết các cơ hội do WTO và các FTA khác mà Việt Nam tham gia mang lại để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Chẳng hạn như, theo chương trình thu hoạch sớm trong khuôn khổ ACFTA, thuế suất nhập khẩu của Trung Quốc đối với hàng rau quả và thủy hải sản về cơ bản là 0% kể từ 01/01/2006. Hoặc với các ưu đãi thuế trong CEPT/AFTA, khi hàng Việt Nam có tính cạnh tranh không cao, chưa tận dụng được hết cơ hội xuất khẩu thì hàng của Thái Lan, Malaysia, Indonesia, vốn có chất lượng tốt, quen với người tiêu dùng Việt Nam, nay lại càng trở nên rẻ và cạnh tranh hơn so với hàng các nước khác, dẫn tới gia tăng áp lực nhập siêu từ các thị trường này. (4) Mặc dù đứng trước xu thế mở cửa và tự do hóa thương mại nhưng nhiều nước vẫn dựng lên những rào cản thương mại gây trở ngại cho việc thúc đẩy xuất khẩu những sản phẩm thế mạnh của Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu. Chẳng hạn, một số trường hợp các nước áp dụng các 71 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

rào cản thương mại như: Hàn Quốc bảo hộ rất cao hàng nông sản; Đài Loan áp dụng nhiều biện pháp phi thuế như hạn ngạch, giấy phép, kiểm dịch … ; Thái Lan áp dụng hạn ngạch thuế quan với một số mặt hàng nông sản của Việt Nam … (5) Các hoạt động xúc tiến thương mại của ta còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa thật cao đối với các doanh nghiệp tham gia, ta chưa chú trọng vào khâu tổ chức một cách chuyên nghiệp các đoàn giao thương và cung cấp thông tin thị trường, mặt hàng tới doanh nghiệp, còn nhiều chương trình khảo sát thị trường mang tính nhỏ lẻ … Trái lại, một số nước trong khu vực lại có hoạt động xúc tiến thương mại rất mạnh. 2.2. Nguyên nhân nhập siêu của Việt Nam với một số đối tác song phương.
Diễn biến nhập siêu từ Trung Quốc và ASEAN và đầu tư nước ngoài của Việt Nam, 1995 – 2008 (Triệu USD)

Chú thích: (*) Bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục thống kê, 2009

2.2.1. Nguyên nhân nhập siêu từ thị trường Trung Quốc: 72 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

(1) Trung Quốc là “đại công xưởng của thế giới” với tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ, trình độ sản xuất qui mô lớn. Hàng hóa Trung Quốc, kể cả nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, gia công xuất khẩu đại đa số giá rẻ, phong phú và có tính cạnh tranh cao hơn hàng của nhiều nước khác nên không chỉ Việt Nam mà rất nhiều thị trường khác cũng chịu nhập siêu từ Trung Quốc như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Ấn Độ. (2) Chưa có nhiều tập đoàn đa quốc gia lớn thiết lập cơ sở sản xuất cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại Việt Nam. Đây chính là điểm khác biệt giữa Việt Nam với các nước ASEAN 6. Do các nước này đã thu hút được nhiều tập đoàn đa quốc gia đặt cơ sở sản xuất của khu vực tại nước mình nên kim ngạch xuất khẩu linh kiện điện tử, máy móc, thiết bị điện và cơ khí chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước này sang Trung Quốc. (3) Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam đại bộ phận tương đồng với Trung Quốc, trong khi chất lượng lại kém hơn nên không thể cạnh tranh được với hàng Trung Quốc và hàng của các đối thủ khác tại thị trường Trung Quốc. Ngoài ra, giá cả tại thị trường Trung Quốc đối với một số mặt hàng ta có thể xuất sang nước này như dầu thô, dệt may, giầy dép, hàng thủ công mỹ nghệ không cao như tại một số thị trường khác. Vì vậy, các doanh nghiệp của ta có xu hướng xuất khẩu các mặt hàng này sang các thị trường như EU, Mỹ, Nhật Bản thay vì xuất sang Trung Quốc. Điều này cũng góp phần hạn chế xuất khẩu sang Trung Quốc và làm tăng trị giá nhập siêu. (4) Các ngành công nghiệp phụ trợ và ngành công nghiệp dệt may của Việt Nam chưa phát triển nên ta vẫn phải nhập một khối lượng lớn vải cũng như phụ tùng, linh kiện ô tô, xe máy và các loại phụ tùng máy móc khác từ Trung Quốc để phục vụ sản xuất trong nước. 2.2.2. Nguyên nhân nhập siêu từ thị trường Hàn Quốc. 73 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

(1) Hàn Quốc là một trong những nước đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam. Tính theo số lượng dự án và tổng vốn đầu tư, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 1857 dự án với số vốn 14,4 tỷ USD. Tính theo vốn thực hiện, Hàn Quốc cũng vẫn là nhà đầu tư lớn thứ tư với số vốn 2,7 tỷ USD. Do đó, nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng từ Hàn Quốc phục vụ cho các dự án có vốn đầu tư của Hàn Quốc luôn ở mức cao. Chẳng hạn như năm 2007, khi có một làn sóng đầu tư mới của các doanh nghiệp Hàn Quốc sang Việt Nam (chỉ riêng năm 2007 đã có thêm 424 dự án đầu tư của Hàn Quốc ở Việt Nam với tổng vốn đầu tư 4,8 tỷ USD), nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng của Việt Nam từ Hàn Quốc đã tăng 84,2%, từ 457 triệu USD năm 2006 lên 842 triệu USD năm 2007. Đầu tư của Hàn Quốc tăng mạnh cũng khiến nhập khẩu các mặt hàng nguyên vật liệu từ Hàn Quốc để phục vụ sản xuất tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc tăng mạnh. (2) Hàn Quốc là một thị trường có mức độ bảo hộ tương đối cao đối với các mặt hàng nông sản. Vì thế, các mặt hàng nông sản vốn là thế mạnh xuất khẩu của ta gặp nhiều khó khăn khi xuất khẩu sang Hàn Quốc do gặp phải hàng rào kiểm dịch chặt chẽ cũng như chế độ hạn ngạch thuế quan và các chính sách mang tính chất hạn chế nhập khẩu khác của Hàn Quốc.

2.2.3. Nguyên nhân nhập siêu từ thị trường Đài Loan. (1) Cũng giống như nhiều thị trường khác, nhập siêu từ Đài Loan chịu ảnh hưởng của yếu tố đầu tư nước ngoài. Đài Loan đứng thứ ba trong số các nước và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư vào Việt Nam. Gần đây Đài Loan đầu tư ngày càng nhiều các dự án lớn với vốn đầu tư lên đến hàng tỷ đô la và chủ yếu nằm trong lĩnh vực công nghiệp, điện tử như: Dự án của tập đoàn sản xuất linh

74

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

kiện máy tính lớn nhất thế giới Foxconn với tổng vốn đầu tư lên đến 5 tỷ USD, Dự án sản xuất thép của tập đoàn Taiwan Steel có tổng vốn đầu tư trị giá 1 tỷ USD vào khu công nghiệp Dung Quất. Ngoài ra còn có một số dự án lớn khác như: VN JIN WEN ENTER 524,5 triệu USD, Doanh nghiệp Hưng Nghiệp Formosa 482,2 triệu USD, Công ty Xi măng Ching Fong Hải Phòng 450,3 triệu USD, Công ty Vedan Việt Nam 387 triệu USD … Nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ cho các dự án của Đài Loan khiến kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Đài Loan tăng cao. (2) Đài Loan hầu như không nhập khẩu dầu thô từ Việt Nam. Dầu thô là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, giúp Việt Nam cân bằng hoặc giảm bớt thâm hụt cán cân thương mại. Vì vậy, việc không xuất khẩu dầu thô sang Đài Loan khiến mức độ nhập siêu của Việt Nam với Đài Loan càng lớn.

2.2.4. Nguyên nhân nhập siêu từ thị trường Hồng Kong. (1) Hồng Kong là một trong những trung tâm buôn bán của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, Hồng Kong vẫn là nơi cung cấp hàng nhập khẩu chính của họ, đặc biệt về các mặt hàng sản phẩm điện tử và máy móc thiết bị. (2) Thực chất thị trường Hồng Kong là một thị trường có dung lượng nhỏ, nhu cầu tiêu thụ nội địa không lớn nhưng lại đóng vai trò như một thị trường trung chuyển hàng hóa. Do hạn chế về dung lượng thị trường, xuất khẩu của Việt Nam sang Hồng Kong khó có thể tăng mạnh như xuất khẩu sang các thị trường khác.

75

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

2.2.5. Nguyên nhân nhập siêu từ thị trường Singapore. (1) Singapore là một trong những nguồn cung cấp xăng dầu chủ yếu cho nền kinh tế Việt Nam. Khoảng một nửa lượng xăng dầu tiêu thụ tại Việt Nam được nhập khẩu từ Singapore. Vì vậy, khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước tăng cao thì nhập khẩu xăng dầu từ Singapore cũng tăng lên. Thêm vào đó, giá xăng dầu trên thế giới cũng tăng khiến kim ngạch nhập khẩu xăng dầu từ Singapore càng tăng. (2) Singapore hiện là nước có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng thứ 2 tại Việt Nam. Tính đến 31/12/2007, Singapore có 549 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng số vốn đầu tư 11 tỷ USD, vốn thực hiện 3,9 tỷ USD. Do đó, nhu cầu nhập khẩu từ Singapore để mở rộng sản xuất và xuất khẩu của các công ty có vốn đầu tư của Singapore tại Việt Nam vẫn đang tiếp tục tăng. (3) Dung lượng thị trường Singapore không lớn (dân số khoảng 4 triệu người), Singapore lại là một thị trường mở hoàn toàn nên hàng hóa của Việt Nam muốn thâm nhập được thị trường này phải chịu cạnh tranh bình đẳng với hàng hóa của tất cả các đối thủ khác, đặc biệt là hàng của Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ. Vì thế, khả năng tăng khối lượng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này không nhiều.

2.2.6. Nguyên nhân nhập siêu từ thị trường Thái Lan. (1) Các công ty đa quốc gia trong chiến lược đầu tư của mình từ lâu đã xác định Thái Lan là một trong những trung tâm chế tạo của họ tại khu vực Đông Nam Á. Khi các công ty này quyết định đầu tư vào Việt Nam thì các cơ sở sản xuất của họ ở Thái Lan là nguồn cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện để

76

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

thực hiện các công đoạn chế tạo, gia công, lắp ráp tiếp theo tại Việt Nam. Vì thế, khi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng thì nhập khẩu các mặt hàng như chất dẻo nguyên liệu, linh kiện ô tô xe máy, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng, vải sợi nguyên phụ liệu dệt may da giày từ Thái Lan cũng sẽ tăng theo để làm đầu vào cho các nhà máy sản xuất có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Khi Việt Nam chưa phát triwwnr được các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ sản xuất thì nhu cầu nhập khẩu những mặt hàng này vẫn là tất yếu. (2) Thái Lan có vị trí địa lý thuận lợi gần với Việt Nam nên chi phí vận tải thấp, thời gian vận chuyển nhanh. Hàng hóa của Thái Lan với giá cả hợp lý, chất lượng đảm bảo đã tạo được ấn tượng và quen thuộc của người tiêu dùng Việt Nam. Vì thế, khi kinh tế phát triển, mức sống người dân nâng cao thì nhu cầu nhập khẩu nhiều mặt hàng tiêu dùng của Thái Lan cũng tăng lên. (3) Thái Lan thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại rất mạnh và hiệu quả. Thái Lan tổ chức nhiều hội chợ triển lãm hàng Thái Lan tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh định kỳ hàng năm. Đối với các hội chợ triển lãm những mặt hàng mà Thái Lan có thế mạnh được tổ chức tại Thái Lan.

2.2.7. Nguyên nhân nhập siêu từ thị trường Ấn Độ.

(1) Ấn Độ là một trong những nước có qui mô nền kinh tế lớn nhất trong khu vực Nam Á với tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ. Cơ cấu hàng hóa Ấn Độ tương đối giống Việt Nam nhưng có sức cạnh tranh cao hơn cả về chất lượng lẫn giá cả. Giá cả tại thị trường Ấn Độ đối với một số mặt hàng ta có thể xuất sang nước này như: dệt may, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ không cao như

77

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

tại một số thị trường khác. Vì vậy, các doanh nghiệp của ta có xu hướng xuất khẩu các mặt hàng này sang các thị trường như EU, Mỹ, Nhật Bản thay vì xuất khẩu sang Ấn Độ. Điều này cũng góp phần hạn chế xuất khẩu hàng Việt Nam sang Ấn Độ và làm tăng trị giá nhập siêu. (2) Do nhu cầu phát triển sản xuất, chăn nuôi trong nước, nguồn nguyên liệu trong nước không đủ cung cấp, chi phí để khai thác, tạo nguồn nguyên liệu còn cao, thậm chí cao hơn việc nhập khẩu nguyên liệu nên Việt Nam đã nhập số lượng lớn một số loại hàng hóa từ Ấn Độ có giá cả cạnh tranh cao như thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu, sắt thép, nguyên liệu dược phẩm, máy móc trang thiết bị, bông các loại. Đây chính là những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Ấn Độ, làm tăng nhập siêu trong những năm gần đây. (3) Tình hình thu hút FDI, trong đó có FDI từ Ấn Độ, trong những năm gần đây tăng mạnh, điển hình là các dự án lớn về thép, khai thác dầu khí, khoáng sản của các tập đoàn Ấn Độ như TATA, ESSAR, ONGC nên nhu cầu nhập khẩu các nguyên liệu phục vụ sản xuất xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư Ấn Độ tăng cao. (4) Các ngành công nghiệp phụ trợ và ngành công nghiệp dệt của Việt Nam chưa phát triển nên ta vẫn phải nhập một khối lượng lớn nguyên phụ liệu cho ngành dệt may và da giày cũng như các loại phụ tùng máy móc khác từ Ấn Độ để phục vụ sản xuất trong nước.

78

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

79

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ TỚI. I. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NHẬP SIÊU, KIỀM CHẾ NHẬP SIÊU TRONG THỜI GIAN TỚI. Trong thời kỳ tới, các giải pháp kiềm chế nhập siêu cần theo các quan điểm sau: (1) Nỗ lực nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam được coi là phương thức cơ bản để đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, cải thiện cán cân thương mại và kiềm chế nhập siêu. (2) Sử dụng đồng bộ các công cụ, biện pháp điều tiết kinh tế vĩ mô để kích thích xuất khẩu, quản lý nhập khẩu phù hợp với các thông lệ quốc tế và cam kết đa phương, song phương của Việt Nam nhằm kiềm chế nhập siêu. (3) Điều chỉnh hợp lý mối quan hệ giữa đầu tư và tiết kiệm, nâng cao hiệu quả đầu tư theo định hướng, giảm thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai, duy trì cán cân thanh toán tổng thể trong tầm kiểm soát được nhằm hạn chế nhập siêu. (4) Ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao tính độc lập tự chủ của nền kinh tế, nhưng phải đảm bảo khả năng thích ứng của nền kinh tế với những biến động của tình hình quốc tế, giảm thiểu những tổn thương không tránh được là điều kiện tiên quyết cho việc ngăn ngừa tăng nhập khẩu đột biến, kiềm chế nhập siêu. 80 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

(5) Nhập siêu để tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế Việt Nam là sự cần thiết khách quan trong giai đoạn hiện nay nhưng phải đảm bảo chất lượng và tính hướng đích của nhập siêu. (6) Chú trọng hoạt động ngoại giao kinh tế để đạt được các thỏa thuận song phương về cán cân thương mại, trước hết là với các thị trường đang nhập siêu cao. (7) Chủ động kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu một số ngành hàng trong nước đã có đủ năng lực thay thế hàng hóa nhập khẩu trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử, không dẫn tới bóp méo thương mại. II. CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ NHẰM KIỀM CHẾ NHẬP SIÊU TRONG THỜI KỲ TỚI. 1. Giải pháp phát triển xuất khẩu hàng hóa, tạo hiệu ứng tích cực của xuất khẩu đến nhập khẩu nhằm giải quyết vấn đề nhập siêu của Việt Nam trong dài hạn. 1.1. Về phía Chính phủ và các Bộ, Ngành. Trong các giai đoạn tới, bên cạnh những cơ chế, chính sách đã và đang được thực hiện, Chính phủ và các Bộ, ngành cần tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau đây: – Các giải pháp nhằm hỗ trợ kinh doanh cho doanh nghiệp: Xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên – phụ liệu: Triển khai xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên –phụ liệu, đóng vai trò là đầu mối tổ chức nhập khẩu và cung ứng nguyên – phụ liệu cho các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, điện tử … nhằm nâng cao khả năng cung ứng nguyên liệu cho sản xuất một cách kịp thời và với chi phí thấp hơn. Vấn đề này mặc dù đã được đặt ra nhiều năm nay đối với nhiều mặt hàng, ngành hàng nhưng cho đến nay kết quả vẫn rất khiêm tốn. Trong 81 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

thời gian tới đề nghị nhà nước cho phép triển khai các khu tập trung như những khu công nghiệp, khu bảo thuế, trung tâm buôn bán nguyên phụ liệu (dệt may, giày dép …) và cho phép các nhà đầu tư phân phối hàng hóa trong nước và nước ngoài vào hoạt động. Những trung tâm này có thể là trung tâm tổng hợp. Mở cửa thị trường dịch vụ, cho phép sự tham gia một cách mạnh mẽ hơn nữa của các doanh nghiệp nước ngoài vào hoạt động kinh doanh cung ứng các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu tại Việt Nam như dịch vụ logistic, dịch vụ vận tải đa phương thức, dịch vụ gia nhận, kho vận … Thực hiện chương trình hiện đại hóa và cải cách thủ tục hải quan: Xây dựng lộ trình rút ngắn thời gian tiến hành các thủ tục hai quan cho hàng hóa xuất – nhập khẩu để phấn đấu đến năm 2010 giảm thời gian tiến hành các thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất – nhập khẩu của Việt Nam xuống đạt mức trung bình của khu vực ASEAN thông qua việc tăng cường áp dụng các biện pháp để tiến hành hải quan điện tử, hải quan một cửa … Triển khai ký kết các thỏa thuận song phương và công nhận lẫn nhau về kiểm dịch thực vật, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là các thị trường xuất khẩu trọng điểm như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Australia, New Zealand …để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong việc thanh toán cũng như đáp ứng các tiêu chuẩn về kiểm dịch thực vật, vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là đối với các mặt hàng nông, thủy sản. Tổ chức tốt công tác dự báo thông tin tình hình thị trường hàng hóa trong nước và thế giới, rà soát chi phí đầu vào cho sản xuất để có giải pháp kịp thời giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh cả trên thị trường trong và ngoài nước; nghiên cứu, triển khai các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp không trái với quy định WTO, trước mắt nghiên cứu triển khai hình thức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu …

82

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính, tín dụng và đầu tư phục vụ xuất khẩu.

Thành lập Quỹ bảo hiểm xuất khẩu: Hình thức bảo hiểm xuất khẩu (hỗ trợ của Chính phủ) được áp dụng phổ biến tại các nước phát triển như Đức, Áo, Italy, Nhật Bản – nhưng chưa được áp dụng tại Việt Nam, trong khi thực tiễn kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều rủi ro. Do vậy, áp dụng biện pháp bảo hiểm xuất khẩu để hỗ trợ doanh nghiệp, khuyến khích đẩy mạnh xuất khẩu là cần thiết và phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Điều chỉnh tỷ giá hối đoái, kiềm chế lạm phát: Tỷ giá hối đoái có tác dụng tích cực hoặc hạn chế đến công tác xuất nhập khẩu. Do đó, điều tiết tỷ giá hợp lý sao cho vừa thu hút được vốn nước ngoài, vừa khuyến khích doanh nghiệp đầu tư hướng tới khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu phục vụ cho việc tăng trưởng kinh tế và vẫn kiểm soát được lạm phát ở mức hợp lý là cần thiết. Mặt khác, các Bộ ngành sản xuất cần thực hiện các biện pháp hỗ trợ nâng cao hiệu quả đầu tư sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hóa xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu của các nước bạn hàng làm cho tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu có thể tăng lên khi tăng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu thông qua tăng tỷ giá. Với Việt Nam, là một nước nhỏ nên hiệu ứng từ việc phá giá đến xuất khẩu là không lớn trong khi áp lực lên lạm phát là rõ rệt nên cần cân nhắc mức độ phá giá ở mức hợp lý khi điều hành tỷ giá trong các bối cảnh cụ thể để tránh áp lực lạm phát quá lớn gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế nói chung. Tăng cường các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ một cách thận trọng, linh hoạt, phù hợp chủ trương tăng trưởng bền vững, kiểm soát lạm phát; chỉ đạo các tổ chức tín dụng huy động và sử dụng vốn hiệu quả, giảm chi phí để ổn định lãi suất cho vay đối với hoạt động xuất khẩu; điều hành linh hoạt tỷ giá nhằm bảo đảm khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát mức tăng nhập khẩu phù 83 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

hợp yêu cầu tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát; phát triển thị trường ngoại hối nhằm phục vụ tốt các nhu cầu mua, bán ngoại tệ và phòng ngừa rủi ro về tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu. Đẩy mạnh tuyên truyền và khuyến khích các doanh nghiệp đa dạng hóa đồng tiền thanh toán và phòng ngừa rủi ro về tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu. – Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến xuất khẩu: Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại cấp nhà nước để thúc đẩy hợp tác đầu tư và buôn bán với các nền kinh tế; thu hút các tập đoàn đa quốc gia nhằm tạo sự chuyển dịch đầu tư vào Việt Nam các lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu có nhiều tiềm năng; nâng cao khả năng dự báo, chất lượng phân tích thông tin thị trường, giá cả; tập trung xúc tiến thương mại đối với các thị trường trọng điểm, các ngành hàng có sức cạnh tăng trưởng, có tiềm năng tăng trưởng cao. Đổi mới công tác tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại theo hướng chú trọng vào khâu tổ chức và cung cấp thông tin thị trường, giảm bớt các chương trình khảo sát thị trường mang tính nhỏ lẻ. Tập trung xúc tiến thương mại tại các thị trường trọng điểm có kim ngạch nhập khẩu lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, một số nước EU … và các mặt hàng trọng điểm mà khả năng sản xuất trong nước không bị hạn chế nhưng thiếu thị trường tiêu thụ. Tập trung nguồn vốn xúc tiến thương mại đối với những mặt hàng có sự tăng trưởng, có sự đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu. 1.2. Về phía doanh nghiệp.

– Các giải pháp nhằm xây dựng và củng cố mối liên kết với người cung
ứng nguyên liệu phục vụ sản xuất: 84 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Các Bộ thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước của mình để chỉ đạo các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, có vị thế trên thị trường xây dựng phương án liên kết với người sản xuất nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu, bảo đảm ổn định chất lượng và nguồn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất. Trên cơ sở đó sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác xây dựng mối liên kết với người nông dân. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu trong lĩnh vực dệt may, giày dép, đồ gỗ, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ động tiến hành việc lập đề án xây dựng các trung tâm nguyên phụ liệu để được vay vốn từ Ngân hàng phát triển để xây dựng các trung tâm này.

– Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của doanh
nghiệp: Các doanh nghiệp cần tích cực triển khai việc áp dụng các mô hình quản trị doanh nghiệp, mô hình quản lý chất lượng trong tổ chức sản xuất và kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Đổi mới công tác quản trị nhân lực trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhằm tiêu chuẩn hóa hoạt động tuyển dụng, đánh giá và sử dụng lao động trong các doanh nghiệp này để nâng cao khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn điều kiện về lao động đặt ra từ phía các nhà nhập khẩu. Khai thác hiệu quả những tiện ích của công nghệ thông tin và đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường, nắm bắt nhanh chóng nhu cầu của khách hàng, tiết kiệm chi phí giao dịch, quảng cáo để thông qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh. Nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật thương mại quốc tế để sẵn sàng đối phó với tranh chấp thương mại trên thị trường ngoài nước cũng như chủ động

85

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

yêu cầu Chính phủ có biện pháp xử lý khi các đối tác nước ngoài có các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường Việt Nam (bán phá giá, trợ cấp). Tăng cường sử dụng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất và kinh doanh như dịch vụ tư vấn, dịch vụ nghiên cứu và thăm dò thị trường, dịch vụ pháp lý … để nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính chuyên nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm tránh rủi ro trong kinh doanh và khai thác tiềm năng tại các thị trường mới. Không nên quá phụ thuộc vào một số thị trường mà một mặt duy trì, phát triển các thị trường Mỹ, EU, mặt khác phải quan tâm tới thị trường khác như Châu Á Thái Bình Dương, ASEAN hay Trung Đông. 2. Giải pháp điều tiết kinh tế vĩ mô nhằm giải quyết vấn đề nhập siêu của Việt Nam Để ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo độ an toàn cho nền kinh tế, duy trì mức thâm hụt tài khoản vãng lai và nhập siêu trong tầm kiểm soát được cần thực hiện một số biện pháp sau: (1) Tăng cường kiểm soát đầu tư tràn lan của các doanh nghiệp nhà nước. Với những lợi thế về tiếp cận nguồn vốn, đất đai, tài nguyên, khu vực doanh nghiệp nhà nước đã mở rộng đầu tư vào nhiều lĩnh vực mà lẽ ra tư nhân có thể thực hiện được với hiệu quả cao (tối đa hóa đầu tư). Đây cũng chính là lý do lý giải một phần tại sao hệ số ICOR của Việt Nam lại cao hơn các nước khác khi trình độ chưa phát triển bằng các nước này. (2) Thực hiện các giải pháp tài chính – tiền tệ thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ để tăng nguồn cung ngoại tệ, tài trợ cho thâm hụt cán cân thương mại. Cùng với việc thực hiện các giải pháp phát triển XK đã nêu trên (mục 3.2), trọng tâm của giải pháp tài chính tiền tệ là điều hành linh hoạt tỷ giá 86 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

theo hướng hỗ trợ xuất khẩu và kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu; các ngân hàng thương mại đáp ứng đủ vốn tín dụng cho các nhu cầu có khả năng hoàn trả nợ để sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu; hướng dẫn doanh nghiệp xuất khẩu giảm sự phụ thuộc vào việc thanh toán bằng đồng USD để tránh tác động bất lợi của tỷ giá đối với xuất khẩu bằng cách đa dạng hóa các loại tiền sử dụng trong thanh toán quốc tế. Phát triển các ngành dịch vụ theo hướng tăng thu xuất khẩu; tiếp tục thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn kiều hối để cait thiện cán cân vãng lai, tình trạng găm giữ ngoại tệ trong dân cư. (3) Thực hiện các biện pháp hạn chế nhập khẩu, giảm nhập siêu, giảm cầu ngoại tệ. Xây dựng các tiêu chuẩn, hàng rào kỹ thuật như bổ sung các hàng hóa và danh mục kiểm tra chất lượng; thực hiện thanh tra chuyên ngành về chất lượng hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, bảo vệ người tiêu dùng; tổ chức kiểm tra chất lượng hàng hóa trước khi thông quan; nghiên cứu việc cấp giấy chứng nhận hàng hóa đủ điều kiện lưu thông trên thị trường Việt Nam. Sử dụng các biện pháp hạn chế nhập siêu đối với từng nhóm hàng, mặt hàng cụ thể. Có chiến lược và biện pháp để giảm nhập siêu đối với các đối tác Việt Nam có nhập siêu lớn như Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc, Ấn Độ … Kiểm soát chặt chẽ tiền tệ nhằm hạn chế tăng trưởng tín dụng không quá 30%, thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt thông qua giảm chi tiêu thường xuyên, nâng cao hiệu quả đầu tư công, giảm áp lực tăng cầu về tiêu dùng và đầu tư của khu vực doanh nghiệp và cá nhân, từ đó thu hẹp thâm hụt giữa tiết kiệm và đầu tư, góp phần cai thiện cán cân vãng lai. (4) Quản lý các luồng vốn nước ngoài theo hướng tránh rủi ro. Nâng cao chất lượng thống kê luồng vốn vào ra, đảm bảo độ tin cậy, làm cơ sở cho phân tích và đề xuất các biện pháp giám sát luồng vốn nước ngoài. 87 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Theo dõi, giám sát chặt chẽ luồng vốn ngắn hạn gồm vay nợ thương mại ngắn hạn của các doanh nghiệp dưới hình thức nhập hàng trả chậm, vay nước ngoài, huy động tiền gửi từ nước ngoài của các ngân hàng thương mại để chủ động điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá. Tích cực thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Cải tiến thủ tục hành chính để đẩy nhanh tốc độ giải ngân vốn FDI và ODA cho các dự án đầu tư vào các ngành thiên về sử dụng nhiều vốn hoặc nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài. (5) Tập trung các nguồn vốn ngoại tệ từ xuất khẩu dầu thô, mua ngoại tệ từ các tổ chức quốc tế, chủ động về thời gian và tính lượng ngoại tệ mua vào hợp lý sát với diễn biến thị trường ngoại hối, đảm bảo tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước ở mức an toàn. 3. Giải pháp cấp bách nhằm cải thiện cán cân thương mại, kiềm chế nhập siêu của Việt Nam với một số thị trường nhập khẩu. 3.1. Trung Quốc. Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh như: cao su, rau quả, thủy sản … Phát triển sản xuất các mặt hàng tiềm năng khác như: điện và cáp điện, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, sản phẩm nhựa, dầu thực vật; khảo sát thị trường tìm kiếm các mặt hàng xuất khẩu mới; nước quả, tranh sơn mài … Lợi thế của Việt Nam trong trao đổi thương mại với Trung Quốc là các loại hình dịch vụ vận tải, thông tin, điện, kho vận, cầu cảng, du lịch … Do vậy, cần tập trung khai thác lợi thế này để phát triển các loại hình dịch vụ thích hợp, sử dụng các tuyến hành lang kinh tế với tính chất là các dịch vụ quá cảnh của Trung Quốc và các nước lân cận thông qua cảng biển Hải Phòng. Thu hút các doanh nghiệp Trung Quốc lớn và có thực lực vào Việt Nam đầu tư trực tiếp trong lĩnh vực năng lượng, nguyên phụ liệu dệt may da, phân 88 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

bón, vật tư nông nghiệp, hóa chất … hoặc hỗ trợ gia công chế biến sản phẩm từ cao su, nông sản nhiệt đới, rau quả, đồ uống, rau quả thực phẩm sau đó xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc. Vừa hạn chế được nhập khẩu nguyên vật liệu, phụ kiện, nâng cao giá trị gia tăng hàng xuất khẩu, vừa thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu vào thị trường này. Mở rộng xuất khẩu sang các tỉnh nằm sâu trong lục địa Trung Quốc như: Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Quý Châu (khu vực Tây Nam), Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Thượng Hải, Bắc Kinh, Triết Giang, Sơn Đông (khu vực Miền Đông). Tận dụng lực lượng Hoa Kiều ở Việt Nam và Việt Kiều ở Trung Quốc làm cầu nối để Việt Nam tiếp cận thị trường Trung Quốc. Tận dụng thị trường Hồng Koong, Đài Loan, Singapore để làm địa bàn trung chuyển xuất khẩu sang Trung Quốc. Tận dụng chính sách ưu đãi biên mậu cho tỉnh Vân Nam (giảm 50% thuế nhập khẩu và thuế VAT), còn tỉnh Quảng Tây bỏ ưu đãi này từ 01/01/2004. Tuy nhiên, chính quyền tỉnh Quảng Tây vẫn áp dụng “Chính sách ưu đãi biên mậu nửa vời” nhằm thu hút nguyên liệu của Việt Nam để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu đầu vào cho các ngành sản xuất và kiểm soát lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam và thị trường mình (việc ưu đãi này không có văn bản chính thức). Nhìn ngắn hạn thì các doanh nghiệp của ta có thể được hưởng lợi từ chính sách này của Quảng Tây nhưng nếu nhìn dài hạn thì Việt Nam lại bất lợi vì hoàn toàn bị động trong việc cung ứng dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp của ta bị ép cấp ép giá, thua lỗ, không có đầu ra ổn định … Căn cứ theo quy định về áp dụng quy chế biên mậu thì Trung Quốc đang vi phạm các quy định của WTO. Tuy nhiên, trong thời gian tới Trung Quốc chưa xóa bỏ chính sách ưu đãi biên mậu mà họ đang dành cho tỉnh Vân Nam, ta nên tiếp tục vận dụng những ưu đãi mà nó đem lại, đẩy mạnh xuất khẩu. Đề nghị phía Trung Quốc tiếp tục áp dụng chính sách ưu đãi biên mậu này. 89 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

3.2.

Hàn Quốc. Trong các cuộc hội đàm cấp cao, ta vẫn phải nêu vấn đề nhập siêu và đề

nghị phía Hàn Quốc luôn cần có ưu tiên và tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam được tham gia xuất khẩu vào Hàn Quốc các mặt hàng theo chế độ nhập khẩu của Hàn Quốc nhằm hạn chế bớt mức độ nhập siêu của Việt Nam từ Hàn Quốc. Đẩy mạnh việc tìm các thị trường mới, mặt hàng mới, nghiên cứu các phân khúc thị trường và tìm kiếm kênh phân phối giúp các doanh nghiệp liên hệ, giao dịch với đối tác. Đối với nhóm hàng nguyên liệu, hàng sơ chế, hàng thủ công, nông nghiệp hoặc công nghiệp nhẹ: do đây là các mặt hàng mà nhiều nước trong khu vực cũng có thế mạnh, cần cải thiện mẫu mã, nâng cao giá trị gia tăng bằng cách tăng hàm lượng chế biến trong sản phẩm, cải thiện chất lượng và vấn đề vệ sinh an toàn của sản phẩm, xây dựng hình ảnh/ thương hiệu mang đặc trưng Việt Nam để tạo sự khác biệt với các sản phẩm cùng loại của các nước khác. Đối với hàng thủy sản: tăng xuất khẩu thủy sản chất lượng cao như tôm, cá đông lạnh, thủy sản chế biến, tận dụng hạn ngạch thuế quan TRQ, tích cực tham gia Hội chợ thủy sản tại Hàn Quốc. Đối với hàng rau quả: nâng cao chất lượng và độ đồng đều, áp dụng kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch, đề nghị Hàn Quốc đẩy nhanh việc xem xét cho phép nhập khẩu quả tươi. Đối với hàng công nghiệp chế tạo: do vấn đề công nghệ, thiết bị, sự phù hợp về tiêu chuẩn mang tính chuyên biệt của Hàn Quốc và vốn đầu tư hạn chế của các doanh nghiệp trong nước nên cần khuyến khích các doanh nghiệp lớn của Hàn Quốc hợp tác đầu tư sản xuất các sản phẩm linh kiện, đồ điện tử, dây cáp và cáp điện, sản phẩm cơ khí … để xuất sang Hàn Quốc. Để đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu một cách bền vững và lâu dài, cần tạo ra các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao hơn vì Hàn Quốc nhập khẩu chủ 90 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

yếu là các mặt hàng công nghiệp và nguyên nhiên liệu. Trong bối cảnh chi phí sản xuất gia tăng tại Hàn Quốc và sự mở cửa thị trường tự do sức ép của các đối tác thương mại, các cam kết trong FTA mà Hàn Quốc tham gia, nhiều nhà máy chế tạo cỡ nhỏ của Hàn Quốc sẽ phải đóng cửa hoặc di chuyển sang các nước có chi phí thấp hơn. Hàn Quốc sẽ phải nhập khẩu ngày càng nhiều hàng tiêu dùng cũng như các linh kiện, sản phẩm chế tạo. Ta cần tận dụng xu hướng này để thu hút các nhà máy của Hàn Quốc. Sự xuất hiện nhóm hàng dây và cáp điện, linh kiện máy tính và điện tử cho thấy thành công của việc thu hút đầu tư của các công ty Hàn Quốc để tạo nguồn hàng xuất khẩu. 3.3. Đài Loan Tăng cường công tác xúc tiến thương mại của các địa phương, ngành, doanh nghiệp, nhất là tham gia các cuộc triển lãm hội trợ chuyên ngành tại Đài Loan. Với lực lượng cô dâu và lao động tại Việt Nam khá đông, ta có thể hợp tác với doanh nghiệp Đài Loan thành lập siêu thị tại 3 miền của Đài Loan để bán hàng cho người Việt Nam nhằm thâm nhập vào thị hiếu người Đài Loan. Tích cực khuyến khích các nhà đầu tư Đài Loan vào các lĩnh vực chế tạo, có hàm lượng công nghệ cao nhằm nâng cao giá trị gia tăng hàng xuất khẩu sang Đài Loan. Tập trung thu hút các dự án đầu tư lớn có chính sách ưu tiên hỗ trợ triển khai những dự án sản xuất công nghệ cao, dự án có vốn đầu tư khá lớn để nhanh chóng tăng kim ngạch xuất khẩu cũng như giá trị gia tăng trong hàng xuất khẩu. 3.4. Hồng Kong. Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan quản lý xúc tiến thương mại giữa hai bên để qua đó đề nghị phía Hồng Kong có các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia các hoạt động hội chợ, triển lãm tổ chức tại Hồng Kong. 91 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm thực phẩm, nông thủy sản xuất khẩu phù hợp với các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh của phía Hồng Kong. Cần chú ý khẩu bảo quản, kiểm tra và nâng cao chất lượng các mặt hàng truyền thống được thị trường chấp nhận như: lợn sữa, lợn choai, hải sản tươi sống và cấp đông rau quả … Thông qua thị trường Hồng Kong đẩy mạnh việc bán hàng vào thị trường Trung Quốc, Châu Âu, Mỹ và Nhật. Hồng Kong là thị trường tự do không thuế xuất nhập khẩu, tạo điều kiện dễ dàng cho các doanh nghiệp Hồng Kong tạm nhập tái xuất sang nước thứ 3. Thị trường xuất khẩu chính của Hồng Kong là Trung Quốc (49%); Châu Âu (14%); Mỹ (13%) và Nhật (5%). Sử dụng Hồng Kong là một trong những đầu mối quảng bá xúc tiến xuất khẩu. Trong mấy năm vừa qua, nhiều hiệp hội ngành hàng Việt Nam đã chọn Hồng Kong là nơi tổ chức các buổi diễn đàn, các cuộc hội thảo chuyên đề về xuất khẩu, thu hút được nhiều doanh nghiệp nước ngoài có văn phòng tại Hồng Kong đến dự. Thông qua các cuộc Hội thảo, hội chợ để gặp gỡ và tìm kiếm được khách hàng tiềm năng lâu dài, nắm bắt được xu hướng nhu cầu thị trường và tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh ở các nước trong khu vực. Thu hút các nhà đầu tư của Hồng Kong trong lĩnh vực nguyên liệu may mặc và dệt đến Việt Nam đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất để phát triển công nghiệp sệt may nội địa, thay thế hàng nhập khẩu vì đây là một trong những thế mạnh của Hồng Kong. Đón nhận có chọn lọc dòng đầu tư của Hồng Kong dịch chuyển từ Trung Quốc đại lục sang Việt Nam khi chính phủ Trung Quốc đang có chính sách giảm dần thương mại gia công. 3.5. Singapore Các doanh nghiệp cần nghiên cứu khả năng thiết lập các liên doanh với đối tác Singapore để hợp tác sản xuất và xuất khẩu trở lại Singapore hoặc đi 92 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

nước thứ ba. Các công ty Việt Nam cần tích cực liên kết với các công ty Singapore nhằm tận dụng các FTA Singapore đã ký với các nước trên thế giới. Tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai các thỏa thuận đã ký giữa hai nước, đặc biệt là kinh tế Việt Nam – Singapore ký kết tháng 12/2005, trong đó cần quan tâm tới việc ký kết các hiệp định công nhận lẫn nhau đối với hàng nông sản. 3.6. Thái Lan Cần có các hoạt động xúc tiến thương mại Quốc gia với thị trường Thái Lan, đặc biệt là khu vực Đông Bắc Thái Lan để khai thác lợi ích của tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây. Phía Việt Nam cần nêu mạnh mẽ với Chính phủ Thái Lan (ở cấp cao), đề nghị hợp tác với ta nhằm kìm hãm hoặc thu hẹp mức độ nhập siêu hiện nay, bao gồm việc tạo điều kiện dễ dàng, thuận lợi hơn nữa cho hàng Việt Nam xuất khẩu sang nước Thái Lan (qua các cơ chế ưu đãi AISP trong ASEAN) thúc đẩy các doanh nghiệp Thái Lan đầu tư sản xuất hàng thay thế nhập khẩu tại Việt Nam. Duy trì cơ chế họp tiểu ban thương mại giữa hai nước để thông qua đó cùng phía Thái Lan tìm các giải pháp tích cực cho sự phát triển thương mại giữa hai nước cũng như các biện pháp hạn chế nhập siêu từ thị trường này. 3.7. Ấn Độ Tăng cường và nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến thương mại sang Ấn Độ: tăng cường thực hiện công tác xúc tiến thương mại tại những khu vực, vùng, miền khác nhau trên toàn Ấn Độ thay vì chỉ tập trung vào một số thành phố lớn. Đổi mới công tác tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại theo 93 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

hướng chú trọng vào khâu tổ chức và cung cấp thông tin thị trường, giảm bớt các chương trình khảo sát thị trường mang tính nhỏ lẻ. Cục quản lý cạnh tranh kết hợp với Bộ ngành hữu quan xây dựng các hàng rào kỹ thuật đạt chuẩn Quốc tế và phù hợp với cam kết của WTO đối với một số mặt hàng nhập từ Ấn Độ để ta có ngăn chặn hàng loạt hàng hóa từ Ấn Độ vào ta, hạn chế nhập khẩu từ các nhà sản xuất chất lượng không đảm bảo từ Ấn Độ trong đó có việc sử dụng các biện pháp tự vệ, áp đặt thuế chống bán phá giá. Nhóm hàng hóa cụ thể có áp dụng các biện pháp trên bao gồm: thức ăn gia súc và nguyên liệu, sắt thép các loại, kim loại thường, nguyên phụ liệu dệt may. 4. Giải pháp giảm nhập siêu một số ngành hàng. (1) Ngành hàng điện, điện tử, máy tính và linh kiện máy tính, cơ khí, chế tác, phương tiện vận tải. Hạn chế quyền tiếp cận ngoại tệ: Đối với các mặt hàng có nhập siêu: máy tính và linh kiện máy tính; cơ khí; phương tiện vận tải, có thể đề xuất hạn chế quyền tiếp cận ngoại tệ theo hướng sau: + Ưu tiên cân đối ngoại tệ phục vụ các mặt hàng thiết yếu mà trong nước chưa sản xuất được: linh kiện để lắp ráp mát tính; máy móc thiết bị phục vụ ngành cơ khí; đối với phương tiện vận tải chỉ cân đối ngoại tệ cho doanh nghiệp nhập khẩu ô tô tải, không áp dụng cho ô tô du lịch loại trong nước đã sản xuất được. + Không khuyến khích cấp tín dụng hoặc bảo lãnh tín dụng cho các loại hàng tiêu dùng thuộc các nhóm hàng trên. Áp dụng một số biện pháp giảm nhập khẩu:

94

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

+ + +

Nâng thuế suất thuế NK tới trần khung thuế NK theo cam kết (đối Tiếp tục áp dụng nộp thuế NK trước khi nhận hàng (biện pháp này Không cấp tín dụng và bảo lãnh cho hàng trả chậm.

với những sản phẩm trong nước đã sản xuất được). đã áp dụng đối với ô tô nguyên chiếc).

(2) Nhóm hàng phân bón hóa chất. Hạn chế nhập khẩu một số hóa chất trong nước đã sản xuất được hoặc nhập khẩu các loại hóa chất với một số điều kiện về tiêu chuẩn kỹ thuật (theo danh mục và tiêu chuẩn kỹ thuật hóa chất nhập khẩu ban hành kèm theo thông tư số 01/2006/TT-BCN). Không nhập khẩu một số loại phân bón: Các loại phân chứa lân; phân bón tổng hợp NPK trong nước đã sản xuất đủ, đáp ứng đủ nhu cầu phục vụ nông nghiệp. Riêng phân bón DAP Đình Vũ Hải Phòng đã đi vào sản xuất tháng 6 năm 2008. Tăng cường sản xuất trong nước: Đẩy nhanh tiến độ các dự án đã được phê duyệt đang triển khai dự án đạm Ninh Bình, dự án đạm Cà Mau, dự án đạm Bắc Giang, dự án DAP Hải Phòng, DAP số 2. Tăng cường đầu tư chiều sâu, nâng công suất các nhà máy đang có như dự án sản xuất NPK Hiệp Phước, dự án săm lốp cao su, dự án sản xuất kháng sinh … (3) Nhóm hàng dầu mỏ và các mặt hàng có nguồn gốc dầu mỏ. Nâng cao năng lực khai thác và đẩy mạnh nhanh tiến độ các công trình dầu khí: Để hoàn thành sản lượng khai thác kế hoạch năm 2008 và nhằm tìm kiếm các giải pháp nhập siêu, Bộ Công Thương tăng cường chỉ đạo Tập đoàn dầu khí Việt Nam nỗ lực tối đa, ưu tiên khoan và sửa chữa trước nhưng giếng có khả năng cho sản lượng cao để tăng quỹ giếng khai thác, đẩy nhanh tiến độ xây dựng phát triển các mỏ để đưa vào khai thác theo tiến độ đề ra. Tổ chức 95 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

khai thác an toàn và hiệu quả các mỏ đang khai thác, đưa 05 mỏ mới vào khai thác. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình trọng điểm về dầu khí, đưa nhà máy lọc dầu Dung Quất vào vận hành theo đúng tiến độ, tối ưu hóa và giảm thời gian chạy thử nhà máy nhằm mục đích khẩn trương đưa các sản phẩm xăng dầu của nhà máy lưu thông ra thị trường, giảm tối thiểu lượng sản phẩm không đạt phẩm cấp trong quá trình chạy thử nhà máy. Tìm kiếm, thăm dò ở nước ngoài: Tiếp tục đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò dự án mới ở nước ngoài, đặc biệt ưu tiên việc mua mỏ đang khai thác ở nước ngoài nhằm góp phần gia tăng sản lượng. Các công tác tuyên truyền, vận động và thực hành tiết kiệm phối hợp với các đơn vị chức năng khuyến khích chương trình tiết kiệm năng lượng đối với các mặt hàng xăng dầu, đẩy nhanh các dự án sản xuất nhiên liệu sinh học (Ethanol, Biodiesel) nhằm góp phần giảm lượng xăng dầu nhập khẩu. Đẩy nhanh các chương trình tự lực và phát triển cơ khí quốc gia nhằm triển khai thực hiện các dự án đóng mới, giàn khoan đóng tàu chứa dầu, gia tăng tỷ trọng trong việc chế tạo các thiết bị phi tiêu chuẩn và các thiết bị chuyên dụng phục vụ cho các công trình dầu khí và các nhà máy lọc hóa dầu. Tăng cường công tác chỉ đạo sát sao Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty xăng dầu Việt Nam và các đầu mối nhập xăng dầu trong việc điều tiết việc sản xuất và nhập khẩu các sản phẩm xăng dầu. (4) Ngành hàng thép. Phát triển ngành thép Việt Nam phải gắn chặt với hiệu quả kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc tế: ảnh hưởng dài hạn của các Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với Trung Quốc (ASEAN+1) và giữa ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (ASEAN+3) cũng như tác động của việc gia nhập WTO đến phát triển công nghiệp Việt Nam là rất lớn. Bảo hộ không còn là công cụ hữu hiệu hỗ trợ ngành thép. Như vậy ngành thép Việt Nam sẽ 96 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

phải cạnh tranh trực tiếp trên thị trường nội địa với các cường quốc sản xuất thép. Phát triển ngành thép nước ta trong giai đoạn tới đảm bảo có hiệu quả, có năng lực cạnh tranh quốc tế và bền vững. Tự do hóa đầu tư phát triển ngành thép, khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước phát huy đầu tư, khai thác hiệu quả nội lực hiện có (thị trường, tài nguyên khoáng sản, vốn, lao động) đồng thời đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài (vốn, công nghệ) phát triển những công trình quy mô lớn. Đẩy mạnh đầu tư phát triển sản xuất ở công đoạn thượng nguồn (sản xuất gang, phôi thép) và các sản phẩm thép dẹt: Nhằm khắc phục dần tình trạng mất cân đối giữa năng lực sản xuất ở thượng nguồn và ở hạ nguồn (cán thếp và gia công sau cán), giữa sản phẩm thép dài và thép dẹt cần đẩy mạnh đầu tư phát triển sản xuất ở công đoạn thượng nguồn (sản xuất gang, phôi thép) và các sản phẩm thép dẹt. Khuyến khích hợp tác với nước ngoài để phát triển một số liên hợp mở luyện kim, liên hợp luyện kim và nhà máy cán sản phẩm dẹt quy mô lớn: Đây là những công trình trọng điểm của ngành thép trong giai đoạn đến năm 2025 có quy mô công suất hàng triệu tấn/năm, vốn đầu tư trên 500 triệu USD với trình độ kỹ thuật kinh tế cao, có tác động lan tỏa lớn trong cả nước. Cơ cấu lại ngành thép theo hướng đa sở hữu, liên kết liên ngành nhằm gia tăng tích tụ về quy mô sản xuất kinh doanh. Về xuất khẩu một số sản phẩm: thị trường xuất khẩu thép của nước ta còn hạn chế, mới giới hạn ở một số nước trong khu vực. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là gang đúc, thép cán dài, ống thép và một số ít tôn mạ. Phấn đấu và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm dẹt khác ngoài những mặt hàng truyền thống như: thép không rỉ, thép cuộn, lá cán nguội … (5) Ngành hàng giấy

97

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Để tiếp tục phát triển và cân bằng cung cầu các loại giấy in báo, giấy in viết sản xuất trong nước đề nghị giảm 5% thuế nhập khẩu đối với giấy in báo, giấy in và viết có xuất xứ từ các nước ASEAN. Khi đó thuế xuất nhập khẩu sẽ là 0% để hỗ trợ các nhà in báo, các nhà sản xuất sách và các nhà sản xuất văn phòng phẩm nhập khẩu lượng giấy mà nhà sản xuất trong nước chưa đáp ứng kịp. Cần có chính sách khuyến khích giấy tái chế: Thuế GTGT đối với giấy thu gom trong nước bằng 0%, hoặc khấu trừ thuế GTGT đối với nguyên liệu là giấy thu gom trong nước, nếu không khi thuế nhập khẩu là 0% vô hình chung chỉ khuyến khích nhập khẩu giấy các loại không khuyến khích thu gom tái chế trong nước, vừa tiết kiệm tài nguyên môi trường vừa giảm ô nhiễm môi trường. Giảm thuế nhập khẩu phải đi đôi với tăng giá bán trong nước tương đương với giá nhập khẩu để hạn chế nhập siêu, khuyến khích đầu tư và sản xuất trong nước. Khuyến khích đầu tư vùng nguyên liệu, sản xuất bột giấy và giấy cao cấp. Áp dụng công nghệ tiến tiến thân thiện với môi trường. (6) Ngành Da – Giày Nhà nước áp dụng các biện pháp ưu đãi xuất khẩu đối với ngành Da – Giày để ngành này vượt qua khó khăn kho không được hưởng GPS của EU nữa. Khi ngành Da – Giày Việt Nam không được hưởng thuế ưu đãi theo hệ thống ưu đãi thuế quan (GSP) của EU thì ngành và các doanh nghiệp sẽ phải bị thiệt hại nặng nề hơn nhiều, lý do: + Mức thuế ưu đãi khi xuất khẩu sang thị trường EU áp dụng cho toàn bộ các sản phẩm dày dép xuất khẩu của Việt Nam (mức thuế chỉ bằng 70% mức thuế thông thường) tùy từng chủng loại giày dép, mức được ưu đãi dao động từ 3,5 – 5,5%. 98 Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

+

Trong thời gian qua, ngành tiếp nhận sự chuyển dịch sản xuất

mạnh mẽ từ các nước trong khu vực, từ các nhà đầu tư nước ngoài do các lợi thế về mức thuế ưu đãi nêu trên, khi lợi thế này không còn, sức cạnh tranh nội lực của các doanh nghiệp còn yếu, ngành sẽ phải đối mặt với sức ép các đơn đặt hàng sẽ được chuyển sang các nước khác, cho nên, nhiều doanh nghiệp trong nước sẽ đầu tư sang lĩnh vực khác. + Sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam được mở rộng, song đối với ngành da – giày, thị phần xuất khẩu sang các thị trường khác không lớn, chủ yếu vẫn là thị trường EU, nếu không được ưu đãi khi xuất khẩu vào EU, tỷ trọng xuất khẩu sang EU sẽ giảm, các doanh nghiệp sẽ phải thu hẹp sản xuất. Chính phủ đàm phán để EC xem xét, xóa bỏ việc áp thuế CBPG các loại dày có mũ từ da vì việc EC áp thuế CBPG đi ngược lại với tinh thần tự do hóa thương mại do chính EC khởi xướng và làm tổn hại đến lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp và công nhân ngành công nghiệp da – giày Việt Nam. (7) Ngành nhựa Các doanh nghiệp ngành nhựa cần tiếp tục đầu tư, đổi mới công nghệ, giảm chi phí nâng cao chất lượng sản phẩm và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến. Các doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư vào các nhóm hàng có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm kỹ thuật có yếu tố khoa học cao, công nghệ cao. Mặt khác, các doanh nghiệp cần tận dụng tốt cơ hội, các cam kết ưu đãi trong hiệp định thương mại song phương và đa phương mà các nước ta tham gia (AFTA, ACFTA, AKFTA, AJCEP …).

99

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại quảng bá thương hiệu để tăng cơ hội xuất khẩu trực tiếp cho các nước nhập khẩu giảm dần việc xuất khẩu phải qua trung gian để nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Tăng cường hợp tác liên kết giữa các doanh nghiệp để tránh bị ép giảm giá xuất khẩu. Hiệp hội nhựa Việt Nam làm đầu mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp để thực hiện sự hợp tác này với hiệu quả cao nhất. Đẩy nhanh việc thực hiện các dự án xây dựng nhà máy xử lý phế liệu nhựa thành nguyên liệu: Kết hợp cùng với Bộ tài nguyên môi trường nghiên cứu cơ chế chính sách để ngành nhựa có điều kiện tốt hơn trong việc nhập khẩu nhựa phế liệu giải quyết một phần khó khăn về nguyên liệu đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn vệ sinh môi trường. (8) Đối với ngành hàng vật liệu xây dựng Xây dựng danh mục mặt hàng sản xuất trong nước chưa đủ khả năng thay thế nhập khẩu để quản lý nhập khẩu ngành hàng vật liệu xây dựng, xác định nhu cầu nhập khẩu các nhóm sản phẩm sau: + Thiết bị đồng bộ cho sản xuất xi măng, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng. + Nguyên liệu cho sản xuất vật liệu như: Soda cho sản phẩm kính; Frit để làm men cho sản xuất gạch; Cera-mic sứ vệ sinh nguyên liệu sản xuất sơn xây dựng; các loại nguyên liệu … sản xuất vật liệu chống thấm, nguyên liệu sản xuất tấm lợp kim loại aminang xi măng, các loại phụ gia cho bê tông, các loại bông thủy tinh. + Nhập khẩu sản phẩm Vật liệu xây dựng chủ yếu là các sản phẩm Việt Nam chưa sản xuất được như vải kỹ thuật, tấm vải chống thấm, vật liệu cách nhiệt, phản nhiệt, các loại kính đặc biệt …

100

Lớp QTDN.A/K11

Nghiên cứu khoa học

Giải pháp kiềm chế nhập siêu một số ngành hàng VLXD: + Giảm nhập khẩu thiết bị đồng bộ trong sản xuất xi măng bằng cách tăng phần chế tạo thiết bị trong nước. Trong những năm gần đây các doanh nghiệp đầu tư xi măng thường áp dụng hình thức tổng thầu EPC; thuê nước ngoài xây lắp, cung cấp thiết bị vật tư; giải pháp này đã mang lại hiệu quả là đẩy nhanh tiến độ đầu tư. + Với mỗi nhà máy sản xuất xi măng và các nhà máy sản xuất VLXD thì nhu cầu phụ tùng thay thế hàng năm tương đối lớn. Hiện nay chủ yếu phụ tùng nhập ngoại. Điều này gây ra sự lãng phí lớn vừa đọng vốn do phải dự trữ, vừa hạn chế đến việc chế tạo trong nước. Vì vậy phải nhanh chóng thành lập các doanh nghiệp Việt Nam hoặc liên doanh để sản xuất thiết bị phụ tùng, đặc biệt là thiết bị cho ngành sản xuất xi măng như công ty lắp máy 69-3 của Lilama đang làm để chủ động trong việc chế tạo và lắp đặt thay thế phụ tùng trong sản xuất xi măng. + Đối với một số sản phẩm VLXD cao cấp (tấm cách nhiệt phản nhiệt …) sau nhiều năm nhập khẩu các nhà kinh doanh cũng đang chuyển sang đầu tư sản xuất trong nước nhằm giảm chi phí lưu thông, vận tải, tăng sức cạnh tranh. Đối với các sản phẩm nhập khẩu mà trong nước đã sản xuất được thì cũng đang có xu hướng tăng lượng sản xuất trong nước về cả chất lượng và số lượng bằng cách đầu tư đổi mới công nghệ và thay đổi mẫu mã. + Một trong các hướng giảm nhập siêu là phải đẩy mạnh sản xuất trong nước, phải tổ chức lại công tác xuất khẩu để tạo sức mạnh và tạo ra các doanh nghiệp xuất khẩu lớn.

101

Lớp QTDN.A/K11

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->