P. 1
Chu trình Cacbon trong tự nhiên

Chu trình Cacbon trong tự nhiên

|Views: 3,879|Likes:
Được xuất bản bởiNuong Nguyen

More info:

Published by: Nuong Nguyen on Nov 10, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

12/25/2012

pdf

text

original

Chu trình Cacbon trong tự nhiên

Môi trường đất, nước và không khí được liên kết thông qua chu trình Cacbon (C) nhờ quá trình quang hợp, góp phần làm giảm hàm lượng CO2 trong khí quyển. Các quá trình chính trong chu trình tuần hoàn C gồm quá trình quang hợp, quá trình phân hủy các sản phẩm bài tiết. Ngoài ra còn có quá trình hô hấp, quá trình khuyếch tán khí CO2 trong khí quyển. Vòng tuần hoàn Cacbon trong tự nhiên Khí quyển là nguồn cung cấp C chính trong chu trình tuần hoàn C (chủ yếu ở dưới dạng CO2). CO2 đi vào hệ sinh thái nhờ quá trình quang hợp và trở lại khí quyển nhờ quá trình hô hấp và quá trình đốt cháy. Thực vật lấy khí cacbonic (CO2) từ không khí dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời tạo ra chất hữu cơ.

Chu trình cacbon trong tự nhiên

Quá trình phong hóa đá và phân hủy chất hữu cơ tạo ra C trong đất và chảy vào các sông suối khi mưa xuống tạo nên chu trình C trong nước, sau một loạt các

sinh hoạt đời sống làm tăng CO2 trong khí quyển. Việc chặt phá rừng cũng làm tăng hàm lượng CO2 do không còn thực vật hấp thụ CO2 trong khí quyển nữa. than. CO2 được sử dụng cho các quá trình hô hấp của thực vật thủy sinh và quá trình quang hợp của nước. Sự nóng lên toàn cầu gây ra biến đổi khí hậu. Cơ thể thực vật được động vật ăn và chúng dùng các amino acid từ các protein của thực vật để tổng hợp nên amino acid. biển cả và đại dương có vai trò rất lớn trong chu trình C toàn cầu. tảo phù du sản xuất dimetyl sunfit cung cấp cho quá trình tạo mưa trong khí quyển. đảm bảo sự sống cho sinh vật trên trái đất. khí. do tác dụng của điện và cố định quang học. Hài hòa và ổn định Tất cả các thành phần khí quyển. Chỉ khi con người phá hủy nó đã gây ra sự suy giảm và đặc biệt là sự đảo lộn. thay đổi độ pH của đất. Những vi khuẩn hoại sinh . ảnh hưởng đến cây trồng và nông nghiệp. gây mưa acid (pH<4. Phản Nitrate là quá trình ngược lại. hồ ao. địa quyển. tuyến tiết muối giúp cho cây mắm sống trong môi trường nước biển mặn…Tất cả đều hài hòa. CHU TRÌNH NITƠ Chu trình đạm là chu trình trong đó không khí là kho dự trữ đồng thờI là van bảo hiểm của hệ thống. Hàm lượng CO2 được duy trì vừa đủ để tạo nên hiệu ứng nhà kính giữ ấm cho trái đất. phát triển công nghiệp. khí đốt trong giao thông vận tải. C có thể tồn tại thời gian dài ở các dạng vô cơ như CO2 (hòa tan và dạng khí). phù hợp với tập tính của các cơ thể sống. dầu. làm cá chết. là chất đệm giữ pH môi trường nước trung tính. gây ra sự quá tải hàm lượng CO2 trong tự nhiên dẫn đến hiện tượng hiệu ứng nhà kính làm cho trái đất nóng lên. các hệ sinh thái thủy vực kể cả sông suối. Đó là việc sử dụng quá nhiều nhiên liệu hóa thạch như than đá. Việc tăng khí CO2 và một số chất ô nhiễm khác như Nox. đôi khi gây ra hậu quả không thể lường trước được do chính sự thiều hiểu biết của con người. CaCO3 được tích lũy trong vỏ nhuyễn thể. nucleic acid và các hợp chất nitơ khác của riêng mình. CO2 cùng với nước tham gia tổng hợp chất hữu cơ. acid acetic. ảnh hưởng đến nông nghiệp. CaCO3 cacbonat calcium…hoặc dạng hữu cơ như glucose. Và vai trò của CO2 trong sự sống cũng vậy. thủy quyển…đều được “Tự nhiên” điều chỉnh ở trạng thái hài hòa. dầu mỏ. Nguồn nitơ để tổng hợp các amino acid và protein được lấy từ đất và nước bởi cây ở dạng nitrate.phản ứng khá phức tạp giữa CO2 và đá vôi CaCO3 và nước. protein. và rất nhiều mặt trong cuộc sống của con người. nó tuần hoàn một cách hài hòa trong chu trình cacbon.0). Các nghiên cứu cho thấy. SOx. H2CO3 (hòa tan). Giữa chu trình và không khí có sự trao đổi thường xuyên: đạm phân tử chuyển thành đạm kết hợp qua các quá trình cố định đạm sinh học. Khi chu trình bị phá vỡ Các hoạt động kinh tế của con người đang làm đảo lộn chu trình C.

sẽ biến đổi những hợp chất nitơ đó thành amoniac khi các động vật hoặc thực vật chết. CHU TRÌNH PHOSPHOR Chu trình sử dụng phosphor và các nguyên tố khác cũng được vạch ra. Lân và các nguyên tố khác quan hệ với đất nhiều hơn là đạm. . Một số các amoniac được biến đổi sang Nitơ không khí bởi các thành phần vi khuẩn khử nitrate. nhưng lại có khả năng làm được việc này nhờ hợp tác với tế bào của rễ cây họ đậu hay một vài loại rau củ khác. Các động vật cũng thải ra nhiều loại chất thải chứa ure. gấp nhiều lần sự cố định N của vi khuẩn đất (18kg/ha/năm). creatinin và amoniac. quá trình rửa trôi ra biển làm giảm lượng lân ở lục địa. Mỏ được khai thác từ trầm tích đáy biển và được sử dụng lại một lần nữa nhờ những vận động địa chất đưa lên tầng mặt hoặc thành các mỏ. Những nốt sần vi khuẩn đó có khả năng cố định được trên 150kg N/ha/năm. Vì vậy các cây họ đậu thường được trồng để phục hồi độ phì nhiêu của đất sau khi loài cây khác được trồng ở đó nhiều vụ. Những amoniac này được biến đổi bởi các vi khuẩn nitrite sang nitrite và tiếp tục biến đổi thành nitrate nhờ các vi khuẩn nitrate. acid uric. Con người và các động vật khác đánh bắt và ăn cá cũng lấy lại phosphorus từ biển. Một số các amoniac được biến đổi sang Nitơ không khí bởi các thành phần vi khuẩn khử nitrate. Chim biển có vai trò quan trọng trong chu trình phosphorus vì phân thải của chúng giàu phosphate. Khi các cơ thể của vi khuẩn cố định nitơ chết. Một số loài vi khuẩn khác thuộc giống rhizobium mặc dù tự mình không cố định được nitơ không khí. Các vi khuẩn phân hủy biến đổi acid uric và ure thành amoniac. nucleic acid và lipid. các amino acid được đồng hóa thành amoniac và sau đó được biến đổi sang nitrite và nitrate nhờ các vi khuẩn nitrite và nitrate hóa. Vi khuẩn xâm nhập vào rễ cây và kích thích cây họ đậu hình thành các nốt sần ở rễ. Nitơ khí quyển cũng còn được cố định nhờ năng lượng điện hoặc sấm sét tự nhiên. Ngoài sự trao đổi lân giữa các vật sống và đất. Mặc dù nitơ chiếm 4/5 khí của khí quyển. Nitơ không khí đến lượt mình có thể được biến đổi sang amino acid và các hợp chất nitơ hữu cơ khác bởi một số tảo và vi khuẩn đất. Các phosphate ở cơ thể động vật và thực vật chết và các chất thải hữu cơ được mang tới các trầm tích đáy biển nhanh hơn và chúng được đưa trả lại mặt đất nhờ tác dụng của chim và cá biển. Cả động vật và thực vật sử dụng phosphate vô cơ và biến đổi chúng sang dạng phosphate hữu cơ với vai trò trung gian sự đồng hóa các glucid. Sự hợp tác của tế bào cây họ đậu và tế bào vi khuẩn để có khả năng cố định đạm là một quá trình không thể thực hiện được một mình. nhưng chỉ có một vài loại thực vật có khả năng dùng được nitơ phân tử.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->