P. 1
To Chuc Thuong Mai the Gioi

To Chuc Thuong Mai the Gioi

|Views: 777|Likes:
Được xuất bản bởiapi-3849435

More info:

Published by: api-3849435 on Oct 19, 2008
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

03/18/2014

pdf

text

original

CHƯƠNG 1

Những nét chính Sự ra đời của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là kết quả của những cuộc đàm phán; tất cả những gì tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phán. 1. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là gì? Nói một cách đơn giản, WTO là nơi đề ra những qui định điều tiết hoạt động thương mại của các quốc gia trên qui mô toàn thế giới hoặc gần như toàn thế giới. Tuy nhiên, đó chưa phải là tất cả… Trước tiên, WTO là một khuôn khổ để đàm phán… WTO là diễn đàn, nơi các quốc gia thành viên thương lượng giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa họ. Bước giải quyết tranh chấp đầu tiên là thảo luận. WTO ra đời từ các cuộc đàm phán và tất cả những gì tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phán. Các hoạt động mà WTO đang xúc tiến hiện nay chủ yếu xuất phát từ những cuộc đàm phán diễn ra từ năm 1986 đến 1994, mang tên Vòng đàm phán Uruguay, và từ những cuộc đàm phán trước đó trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Hiện nay, WTO đang tổ chức rất nhiều cuộc đàm phán mới trong khuôn khổ “Chương trình phát triển Doha” được khởi xướng từ năm 2001. Hệ thống thương mại “đa biên”… … là hệ thống do WTO điều hành. Phần lớn các quốc gia trên thế giới – trong đó gồm hầu hết các cường quốc thương mại chính của thế giới – là thành viên của hệ thống này. Tuy vậy, có một số nước không gia nhập hệ thống nên thuật ngữ “thế giới” đã được thay thế bằng thuật ngữ “đa biên” để nêu lên đặc điểm này. Đối với WTO, thuật ngữ này còn bao hàm một nghĩa quan trọng khác. Tại đây, “đa biên” có nghĩa là các hoạt động được triển khai trên qui mô thế giới hoặc gần như toàn thế giới (đặc biệt đối với các nước thành viên WTO), thuật ngữ được sử dụng nhằm đối lập với những biện pháp sử dụng trong phạm vi khu vực hoặc trong một số nhóm quốc gia. ("Đa biên" được sử dụng khác với "đa phương" vẫn thường được sử dụng trong những lĩnh vực quan hệ quốc tế khác, theo đó, một cơ chế an ninh “đa phương” có thể mang tính chất toàn khu vực.) Đối với những nước gặp phải những rào cản trong thương mại và muốn vượt qua chúng, thì đàm phán góp phần thúc đẩy tự do hoá thương mại. Tuy nhiên, WTO không chỉ tập trung vào mục tiêu tự do hoá thương mại, trong một số trường hợp, WTO còn đề ra những qui định ủng hộ việc duy trì rào cản thương mại, ví dụ như trong trường hợp bảo vệ người tiêu dùng hay ngăn chặn sự lan tràn của một dịch bệnh nào đó. WTO là tập hợp những qui định… Nòng cốt của tổ chức là các Hiệp định WTO được phần lớn các cường quốc thương mại trên thế giới đàm phán và ký kết. Những văn bản này tạo thành qui định pháp lý nền tảng của thương mại quốc tế. Đó chủ yếu là những hợp đồng theo đó chính phủ các nước cam kết duy trì chính sách thương mại trong khuôn khổ những vấn đề đã thoả thuận. Mặc dù do các chính phủ đàm phán và ký kết, song mục tiêu của những bản hiệp định này là giúp đỡ các nhà sản xuất hàng hoá, dịch vụ cũng như các nhà xuất, nhập khẩu triển khai các

hoạt động của mình, đồng thời vẫn cho phép chính phủ các nước đáp ứng được những mục tiêu xã hội và tiêu chuẩn môi trường. Mục tiêu trọng tâm của hệ thống là góp phần tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tự do thương mại mà vẫn tránh được những tác hại không mong muốn. Đó là xoá bỏ những rào cản, thông báo những qui định thương mại hiện hành trên thế giới cho các cá nhân, doanh nghiệp, và cơ quan nhà nước, đồng thời đảm bảo với họ rằng sẽ không có thay đổi đột ngột nào trong các chính sách đang được áp dụng. Nói cách khác, các qui định phải “minh bạch” và dễ dự đoán. Và cuối cùng WTO giúp các nước giải quyết tranh chấp… Đây chính là hoạt động quan trọng thứ ba của WTO. Quan hệ thương mại thường làm nảy sinh những lợi ích mâu thuẫn nhau. Tất cả các hiệp định, kể cả những hiệp định đã được các nước thành viên WTO đàm phán một cách kỹ lưỡng đều cần phải được giải thích. Cách tốt nhất để giải quyết tranh chấp là đưa ra một thủ tục trung gian dựa trên cơ sở pháp lí đã thoả thuận. Đây chính là mục tiêu của quá trình giải quyết tranh chấp nêu trong các Hiệp định của WTO. Mới ra đời vào năm 1995 nhưng WTO đã thực sự lớn mạnh WTO được thành lập vào năm 1995 nhưng hệ thống thương mại mà tổ chức này đại diện thì gần như đã tồn tại từ hơn nửa thế kỷ nay. Năm 1948, Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT: “General Agreement on Tarrifs and Trade”) đã đề ra hàng loạt các qui định cho hệ thống thương mại. Vào tháng 5 năm 1998, tại Hội nghị bộ trưởng WTO lần thứ hai tổ chức tại Giơnevơ, hệ thống này đã kỷ niệm 50 năm ngày ra đời của mình. Hiệp định chung đã nhanh chóng cho ra đời một tổ chức thương mại quốc tế không chính thức, tồn tại trên thực tế với tên gọi không chính thức là GATT. Theo thời gian, GATT đã trưởng thành qua nhiều vòng đàm phán. Là vòng đàm phán cuối cùng và cũng là vòng đàm phán quan trọng nhất của GATT, vòng đàm phán Urugoay, diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994, cuối cùng đã cho ra đời WTO. Nếu như trước kia GATT chỉ bao quát thương mại hàng hoá thì ngày nay, WTO, cùng những Hiệp định của mình đang tiến tới thương mại dịch vụ cũng như trao đổi sáng chế, phát minh, thiết kế và mô hình (sở hữu trí tuệ). 2. Những nguyên tắc làm nền tảng cho tổ chức thương mại Các Hiệp định của WTO rất dài và phức tạp vì đó là những văn bản pháp lí qui định rất nhiều lĩnh vực hoạt động như: nông nghiệp, hàng dệt may, hoạt động ngân hàng, viễn thông, thị trường công, tiêu chuẩn công nghiệp, tính an toàn của sản phẩm, qui định liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm, sở hữu trí tuệ, và còn rất nhiều lĩnh vực khác nữa… Tuy nhiên, có một số nguyên tắc đơn giản và cơ bản làm kim chỉ nam của tất cả các lĩnh vực này, và trở thành nền tảng của hệ thống thương mại đa biên. Các nguyên tắc Hệ thống thương mại phải · Không phân biệt đối xử: không một nước nào được có sự phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại của mình (nghĩa là phải dành cho họ một cách công bằng qui chế “đãi ngộ tối huệ quốc” hay còn gọi là qui chế MFN) cũng như không được phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ và người nước mình với hàng hoá, dịch vụ và người nước ngoài (nghĩa là phải giành cho họ qui

chế “đối xử quốc gia”); · Tự do hơn: xoá bỏ rào cản thông qua con đường đàm phán.

· Dễ dự đoán: phải đảm bảo cho các công ty, các nhà đầu tư và chính phủ nước ngoài rằng sẽ không áp dụng một cách tuỳ tiện các hàng rào cản trở thương mại (gồm hàng rào thuế quan và phi thuế quan); phần trăm thuế nhập khẩu và các cam kết được “ràng buộc” tại WTO. · Cạnh tranh hơn: hạn chế những biện pháp thương mại không lành mạnh như trợ cấp xuất khẩu, bán phá giá, nghĩa là bán với giá thấp hơn giá thành sản phẩm nhằm mục đích chiếm thị phần; · Dành ưu đãi cho các nước kém phát triển: cho họ một thời hạn dài và linh động hơn, cùng một số đặc quyền thương mại. Thương mại không phân biệt đối xử 1. Qui chế tối huệ quốc (MFN): đối xử bình đẳng với các nước khác. Theo các Hiệp định của WTO, về nguyên tắc, các quốc gia không thể phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình. Nếu bạn trao cho một nước nào đó một đặc quyền thương mại (ví dụ như giảm thuế nhập khẩu đối với một trong số sản phẩm của nước này) thì bạn cũng phải đối xử tương tự như vậy với tất cả các thành viên còn lại của WTO. Nguyên tắc này có tên gọi Tối huệ quốc (MFN) (xem phần đóng khung). Đây là nguyên tắc quan trọng vì nó được qui định ngay tại điều đầu tiên của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại, hiệp định đóng vai trò điều tiết thương mại hàng hoá. Đây cũng là điều khoản ưu tiên của các Hiệp định quan trọng của WTO. Mặc dù mỗi hiệp định sử dụng những thuật ngữ đôi chút khác nhau : điều 2 của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS), điều 4 của Hiệp định về những vấn đề của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPs). Ba hiệp định trên đồng thời chi phối ba lĩnh vực mậu dịch chính mà WTO can thiệp. Tại sao người ta lại nói tới “Quy chế tối huệ quốc”? Điều này có vẻ như là mâu thuẫn. Nó làm cho người ta nghĩ rằng WTO áp dụng một chế độ đãi ngộ đặc biệt. Tuy nhiên, đối với WTO, nguyên tắc này thực ra dùng để chỉ sự không phân biệt đối xử, nghĩa là đối xử công bằng với hầu hết các nước khác. Sau đây là cơ chế hoạt động của nguyên tắc này. Mỗi thành viên phải đối xử với các thành viên khác trong tổ chức một cách công bằng, như những đối tác thương mại “ưu tiên nhất”. Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một số ưu đãi thì nước đó phải đối xử tương tự như vậy với tất cả các thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia đều “được ưu tiên nhất”. Qui chế tối huệ quốc không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc bình đẳng trong đối xử. Các hiệp ước song phương đầu tiên qui định về qui chế này đã cho ra đời những câu lạc bộ chỉ dành cho các đối tác thương mại “ưu tiên nhất” của một nước. Trong khuôn khổ của GATT mà nay là WTO, câu lạc bộ tối huệ quốc không còn bị hạn chế nữa. Theo nguyên tắc MFN, mỗi quốc gia phải đối xử một cách bình đẳng với toàn bộ 140 thành viên khác của WTO. Tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ…

Một số trường hợp ngoại lệ miễn trừ được phép. Chẳng hạn, một số nước có thể ký kết một hiệp định thương mại tự do chỉ được áp dụng đối với những hàng hoá trao đổi trong nội bộ một nhóm - đây là một hình thức phân biệt đối xử đối với hàng hoá của các nước ngoài nhóm. Một ví dụ khác: một số nước có thể tạo cơ hội đặc biệt để hàng hoá của các nước đang phát triển dễ dàng tiếp cận thị trường nước mình. Tương tự, một nước cũng có thể tăng hàng rào đối với sản phẩm của nước mà mình cho rằng có sử dụng những biện pháp thương mại không bình đẳng. Đối với lĩnh vực dịch vụ, trong một số trường hợp nhất định, các nước có thể áp dụng biện pháp phân biệt đối xử. Tuy nhiên, các hiệp định của WTO cũng qui định rằng chỉ được phép như vậy với các điều kiện nghiêm ngặt. Nói một cách khái quát, MFN có nghĩa là khi một nước giảm bớt hàng rào thuế quan hay mở cửa thị trường nước mình thì nước này phải dành sự đãi ngộ tương tự như vậy với cùng loại hàng hoá và dịch vụ của tất cả các đối tác thương mại, cho dù đối tác đó giàu hay nghèo, mạnh hay yếu. 2. Nguyên tắc đối xử quốc gia: đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước ngoài và sản phẩm nội địa. Hàng nhập khẩu và hàng nội địa phải được đối xử bình đẳng, ngay sau khi hàng nhập khẩu đã thâm nhập vào thị trường. Nguyên tắc này cũng được áp dụng đối với lĩnh vực dịch vụ, thương hiệu, bản quyền, bằng sáng chế nước ngoài cũng như trong nước. Nguyên tắc đối xử quốc gia (dành cho các nước khác chế độ đãi ngộ tương tự như chế độ đãi ngộ trong nước) cũng được thể hiện trong cả ba Hiệp định chính của WTO (điều 3 của GATT, điều 17 của GATS và điều 3 của TRIPS), mặc dù trong trường hợp này cũng vậy, các thuật ngữ sử dụng trong các hiệp định không hoàn toàn thống nhất với nhau. Nguyên tắc đối xử quốc gia chỉ được áp dụng khi một sản phẩm, dịch vụ hay một yếu tố sở hữu trí tuệ đã gia nhập vào thị trường. Do vậy, việc đánh thuế nhập khẩu không vi phạm vào nguyên tắc này ngay cả khi không có một loại thuế tương đương nào đánh vào sản phẩm nội địa. Tự do hoá thương mại: từng bước và bằng con đường đàm phán Một trong những biện pháp hiển nhiên nhất nhằm khuyến khích mậu dịch là giảm bớt hàng rào cản trở thương mại, ví dụ như hàng rào thuế quan và những chiêu bài như cấm nhập khẩu hay hạn ngạch nhập khẩu nhằm hạn chế định lượng nhập khẩu. Theo định kỳ, những vấn đề khác như thủ tục hành chính rườm rà và các chính sách hối đoái cũng được đưa ra xem xét. Từ khi GATT ra đời năm 1947-1948 đã diễn ra 8 vòng đàm phán thương mại. Thời kỳ đầu, các vòng đàm phán xoay quanh vấn đề cắt giảm thuế áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu. Nhờ vậy, vào khoảng giữa thập niên 90, tại các nước công nghiệp phát triển, thuế đánh vào hàng công nghiệp đã được giảm xuống dưới mức 4%. Tuy nhiên, đến thập niên 80, phạm vi đàm phán đã được mở rộng, bao trùm cả những vấn đề liên quan tới hàng rào bảo hộ phi thuế quan cản trở thương mại hàng hoá, rồi cả những lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Mở cửa thị trường có thể đem lại nhiều thuận lợi nhưng nó cũng đòi hỏi phải có một số điều chỉnh nhất định. Các Hiệp định của WTO cho phép các quốc gia thành viên từng bước thay đổi chính sách của mình, thông qua “lộ trình tự do hoá từng bước”. Các nước đang phát triển thường được hưởng một thời hạn dài hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ. Dễ dự đoán: nhờ ràng buộc cam kết cùng chính sách minh bạch Có lẽ đôi khi lời hứa không tăng thêm rào cản cũng quan trọng không kém lời hứa giảm rào cản thương mại bởi vì điều này giúp doanh nghiệp thấy được rõ hơn khả năng phát triển của mình

trong tương lai. Chính sách ổn định và minh bạch sẽ khuyến khích đầu tư, tạo việc làm; người tiêu dùng cũng tận dụng được nhiều lợi thế nhờ tự do cạnh tranh, nghĩa là họ có thêm nhiều cơ hội lựa chọn và được hưởng một mức giá thấp. Hệ thống thương mại đa biên cụ thể hoá những nỗ lực của chính phủ các quốc gia thành viên nhằm tạo một môi trường thương mại ổn định và dễ dự đoán. Đối với WTO, việc các quốc gia thành viên thoả thuận mở cửa thị trường hàng hoá hay dịch vụ đồng nghĩa với việc ràng buộc các cam kết. Trong lĩnh vực hàng hoá, ràng buộc cam kết thể hiện ở việc ấn định mức thuế suất tối đa. Có thể xảy ra trường hợp, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, mức thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu thấp hơn mức thuế ràng buộc. Còn đối với các nước phát triển, mức thuế áp dụng thực tế và mức thuế ràng buộc thường tương đương nhau. Một nước có thể sửa đổi cam kết, nhưng chỉ sau khi đàm phán thành công với các đối tác thương mại của mình, nghĩa là có thể nước đó phải chấp nhận một khoản bồi thường cho các đối tác do làm mất các cơ hội thương mại của họ. Việc thực hiện cam kết của các quốc gia thành viên WTO sau các cuộc đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ Vòng đàm phán Uruguay đã mở rộng mức thuế ràng buộc (xem bảng). Hiện nay, trong lĩnh vực nông nghiệp, tất cả hàng nông sản đều được áp dụng mức thuế ràng buộc. Nhờ vậy, thị trường trở nên đảm bảo hơn rất nhiều đối với các bên đàm phán cũng như với các nhà đầu tư. WTO cũng đã rất nỗ lực trong việc sử dụng nhiều biện pháp khác nhằm tăng cường tính minh bạch và ổn định. Ví dụ WTO có thể hạn chế việc sử dụng hạn ngạch và các biện pháp hạn chế định lượng nhập khẩu: quản lí hạn ngạch có thể làm gia tăng nạn quan liêu và nảy sinh tình trạng lạm dụng các biện pháp thương mại không lành mạnh. WTO cũng có thể tìm cách làm cho các qui tắc thương mại của các quốc gia thành viên trở nên thật rõ ràng và công khai (“minh bạch”). Rất nhiều Hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ các quốc gia thành viên công bố trên phạm vi toàn quốc hoặc thông báo cho WTO những giải pháp và biện pháp được thông qua. Việc thường xuyên giám sát chính sách thương mại của từng nước thành viên thông qua Cơ chế rà soát chính sách thương mại cũng là một biện pháp nhằm tăng cường tính minh bạch trên cả bình diện quốc gia lẫn bình diện thế giới. Thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng Một số người cho rằng WTO là một thể chế thương mại tự do nhưng điều này không hoàn toàn chính xác. Hệ thống này cho phép áp dụng thuế nhập khẩu, thậm chí trong một số trường hợp nhất định, nó còn cho phép áp dụng một số hình thức bảo hộ khác. Như vậy sẽ là chính xác hơn nếu nói rằng đây là một hệ thống những qui định nhằm đảm bảo cạnh tranh mở, bình đẳng và không có sai phạm. Những qui định liên quan đến nguyên tắc không phân biệt đối xử - Qui chế tối huệ quốc và đối xử quốc gia – nhằm mục tiêu đảm bảo những điều kiện thương mại bình đẳng, cũng như những qui định về việc bán phá giá (xuất khẩu với giá thấp hơn giá thành sản phẩm nhằm chiếm thị phần) và trợ cấp. Đối với những vấn đề phức tạp như thế này, các qui định của WTO giúp xác định trường hợp nào là bình đẳng và trường hợp nào là không bình đẳng, cũng như biện pháp trả đũa mà chính quyền có thể sử dụng, bằng cách thu thuế nhập khẩu phụ thu để có thể bù đắp những tổn thất do các biện pháp thương mại không lành mạnh gây ra. WTO cũng có rất nhiều Hiệp định khác nhằm tăng cường cạnh tranh bình đẳng, ví dụ trong lĩnh vực nông nghiệp, sở hữu trí tuệ và dịch vụ. Hiệp định về thị trường công (đây là một hiệp định đa

phương vì chỉ có một số ít quốc gia thành viên WTO ký vào hiệp định này) mở rộng các qui định về cạnh tranh đối với những thị trường có sự tham gia của hàng nghìn thực thể có tư cách “chính phủ” tồn tại trong nhiều quốc gia. Có thể kể ra ở đây rất nhiều ví dụ khác nữa. Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế Hệ thống của WTO góp phần vào quá trình phát triển của các quốc gia. Tuy nhiên, các nước đang phát triển cần một thời hạn linh động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của hệ thống. Bản thân các Hiệp định của WTO ngày nay cũng đều lấy lại những điều lệ của GATT trước đây theo đó qui định việc dành một sự trợ giúp đặc biệt cùng các chính sách thương mại thuận lợi cho các nước đang phát triển. Vòng đàm phán Uruguay đã làm tăng số lượng các ràng buộc Tỷ lệ phần trăm thuế ràng buộc trước và sau các cuộc đàm phán từ năm 1986 đến năm 1994 Trước 78 21 73 Sau 99 73 98

Các nước phát triển Các nước đang phát triển Các nước đang trong quá trình chuyển đổi

(Đây là những dòng thuế được tính toán sao cho tỷ lệ phần trăm không bị ảnh hưởng bởi khối lượng và giá trị thương mại.) Các nước đang phát triển và các nước trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế chiếm hơn 3/4 số nước thành viên của WTO. Trong suốt bảy năm rưỡi hoạt động của Vòng đàm phán Uruguay, hơn 60 nước này đã triển khai một cách tự chủ các chương trình tự do hoá thương mại của WTO. Cũng tại Vòng đàm phán này, các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế đã giữ vai trò tích cực và có trọng lượng hơn trong những vòng đàm phán trước, và hiện nay, trong khuôn khổ Chương trình phát triển Doha, vai trò này còn được tăng cường hơn nữa. Kết thúc Vòng đàm phán Uruguay, các nước đang phát triển đã được động viên đảm đương phần lớn những nghĩa vụ thuộc phận sự của các nước phát triển. Tuy nhiên, các Hiệp định cũng đề ra một số thời hạn cho phép các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nghèo - các nước kém phát triển – có thể thích nghi dần dần trong thời kỳ chuyển đổi với những điều khoản không mấy phổ biến, và thậm chí còn khó hơn cả Hiệp định về WTO. Một quyết định cấp bộ trưởng được thông qua tại các cuộc đàm phán cũng qui định rằng các nước giàu phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện cam kết cho phép hàng hoá của các nước kém phát triển thâm nhập thị trường nước mình, ngoài ra các nước kém phát triển cũng được hưởng một sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật ngày càng tăng. Mới đây, các nước phát triển đã bắt đầu đồng ý miễn thuế nhập khẩu và không áp dụng hạn ngạch đối với hầu hết các sản phẩm đến từ các nước kém phát triển. Về vấn đề này, WTO và các quốc gia thành viên vẫn còn đang trong giai đoạn tập sự. Chương trình phát triển Doha hiện nay rất quan tâm tới những vấn đề khó khăn mà các nước đang phát triển gặp phải trong quá trình thực hiện các hiệp định được ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay. 3. Những lý do của tự do hoá thương mại

Theo quan điểm kinh tế, luận chứng cho một hệ thống thương mại mở được dựa trên những thoả thuận đa phương rất đơn giản và chủ yếu xuất phát từ mặt tích cực của thương mại. Không những thế, nó còn được ủng hộ bởi sự phát triển của thương mại quốc tế và sự tăng trưởng kinh tế từ sau thế chiến thứ hai. Mức thuế đánh vào hàng công nghiệp đã được giảm một cách rõ rệt, trung bình ở dưới mức 5% tại các nước phát triển. Trong vòng 25 năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, tăng trưởng kinh tế thế giới đạt mức bình quân 5%/năm, có được mức tăng này một phần là nhờ việc giảm bớt hàng rào cản trở thương mại. Thương mại thế giới tăng trưởng với tốc độ chóng mặt hơn, với tỷ lệ trung bình khoảng 8% trong giai đoạn hiện nay. Số liệu thống kê cho thấy có một mối liên hệ không thể phủ nhận giữa tự do hoá thương mại và tăng trưởng kinh tế. Theo học thuyết kinh tế, mối liên hệ này được lý giải một cách hết sức khoa học. Tất cả các nước, kể cả các nước nghèo đều có những nguồn lực như nhân lực, công nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, tài chính mà họ có thể khai thác để sản xuất hàng hoá và dịch vụ phục vụ thị trường nội địa hoặc nước ngoài. Khoa học kinh tế dạy chúng ta rằng chúng ta có thể tận dụng thương mại hàng hoá và dịch vụ này. Nói một cách dễ hiểu, nguyên tắc “lợi thế so sánh” chỉ ra rằng các nước làm giàu trước tiên bằng cách tận dụng các nguồn lực sẵn có để tập trung sức lực vào những lĩnh vực mà họ có điều kiện sản xuất tốt nhất, tiếp đến bằng cách trao đổi những sản phẩm này lấy những sản phẩm mà những nước khác có thể sản xuất với những điều kiện tốt nhất. Sự phục hồi của ngành thương mại và sản xuất trên thế giới Cả thương mại và GDP đều sụt giảm vào cuối những năm 20, sau đó lấy lại đà tăng trưởng vào năm 1932. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cả hai lĩnh vực này đều đạt một mức phục hồi cấp số nhân, trong đó thương mại thường tăng trưởng nhanh hơn GDP. (1950 = 100. Thương mại và GDP: tỷ lệ logarit).

Nói cách khác, chính sách thương mại tự do hay chính sách đảm bảo cho hàng hoá và dịch vụ tự do lưu thông là làm gia tăng cạnh tranh, khuyến khích khả năng sáng tạo và tạo ra thành công. Chính sách thương mại tự do này giúp người ta thu được thêm nhiều lợi nhuận từ việc sản xuất ở điều kiện tốt nhất, với kế hoạch hoàn hảo nhất và giá thành thấp nhất.

Tuy nhiên, thành công trong thương mại không phải là một hiện tượng tĩnh. Một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh hoàn hảo đối với một sản phẩm nào đó có thể trở nên kém cạnh tranh hơn một doanh nghiệp khác khi thị trường phát triển hay khi công nghệ mới cho phép tạo ra những sản phẩm với giá rẻ hơn và chất lượng tốt hơn. Nhà sản xuất được khuyến khích thay đổi để tự thích nghi từng bước và tránh bị tổn thất. Họ có thể tạo ra các sản phẩm mới, tìm thấy cơ hội làm ăn mới trong lĩnh vực hoạt động sẵn có của mình hay lao vào một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ. Kinh nghiệm cho thấy khả năng cạnh tranh cũng có thể chuyển từ nước này sang nước khác. Một nước có nhiều điều kiện thuận lợi nhờ giá nhân công rẻ hoặc nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú có thể bị mất khả năng cạnh tranh đối với một số hàng hoá và dịch vụ với sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, nhờ tác dụng khuyến khích của việc mở cửa nền kinh tế, nước này có thể lại trở nên cạnh tranh đối với hàng hoá hay dịch vụ khác. Nói chung, đây là một quá trình dần dần. Tuy nhiên, ý định từ chối đương đầu với thách thức mà các mặt hàng nhập khẩu có khả năng cạnh tranh đặt ra vẫn tồn tại dai dẳng. Và chính phủ các nước giàu có thể bị cám dỗ bởi các biện pháp bảo hộ nhằm có được lợi thế về mặt chính trị ngắn hạn thông qua việc trợ cấp, đề ra những thủ tục hành chính rắc rối, viện cớ vì các mục đích chung hợp pháp như gìn giữ môi trường hay bảo vệ người tiêu dùng nhằm bảo hộ cho các nhà sản xuất trong nước. Bảo hộ làm cho các nhà sản xuất trong nước trở nên cồng kềnh, không hiệu quả, cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm lỗi thời hoặc kém hấp dẫn. Và cuối cùng, mặc dù được nhà nước bảo hộ và trợ cấp, các nhà máy vẫn phải đóng cửa và cắt giảm việc làm. Nếu chính phủ các nước khác trên thế giới cũng áp dụng những chính sách tương tự thì thị trường sẽ bị thu hẹp và hoạt động kinh tế thế giới sẽ trở nên trì trệ. Một trong những mục tiêu mà chính phủ các nước theo đuổi tại các cuộc đàm phán của WTO là ngăn chặn để không bị trượt vào cái dốc bảo hộ, vốn được xem là một biện pháp đi ngược lại với mục đích mà các quốc gia thành viên đang tìm kiếm. Lợi thế so sánh Chắc chắn rằng đây là học thuyết nổi tiếng nhất của khoa học kinh tế. Giả sử rằng nước A giỏi hơn nước B về chế tạo ô tô và nước B làm bánh mì ngon hơn nước A (các nhà lý luận cho rằng so sánh như vậy là khập khiễng). Rõ ràng, vì lợi ích của mình, A sẽ chuyên vào việc sản xuất ô tô còn B chuyên vào việc làm bánh mì, sau đó hai bên trao đổi sản phẩm với nhau. Đây là ví dụ về lợi thế tuyệt đối. Nhưng điều gì xảy ra nếu một nước không có thế mạnh trong bất cứ một lĩnh vực nào? Vậy thì thương mại có gạt bỏ tất cả các nhà sản xuất của nước này ra khỏi thị trường không? Theo Ricardo thì không. Điều này được lý giải bằng nguyên tắc lợi thế so sánh. Theo nguyên tắc này, các nước A và B luôn luôn mong muốn trao đổi thương mại với nhau, ngay cả khi A giỏi về mọi mặt. Nếu A là một nước sản xuất ô tô rất giỏi và chỉ là một nước sản xuất bánh mì tương đối giỏi, A sẽ luôn mong muốn đầu tư vào lĩnh vực mà mình giỏi hơn cả - nghĩa là sản xuất ô tô - và xuất khẩu ô tô sang B, nước tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực mà mình nắm rõ nhất – nghĩa là làm bánh mì - và bán sản phẩm đó sang A, cho dù B làm bánh không giỏi bằng A. Như vậy thương mại vẫn có lợi cho cả hai bên. Một nước không cần phải giỏi trong lĩnh vực nào mới có thể tận dụng được thương mại. Đó là lợi thế so sánh.

Học thuyết này do nhà kinh tế học David Ricardo tìm ra. Đây là một trong những học thuyết được nhiều nhà kinh tế chấp nhận nhất. Học thuyết này cũng gây ra nhiều nhầm lẫn nhất đối với giới kinh tế không chuyên vì họ luôn nhầm học thuyết này với lợi thế tuyệt đối. Chẳng hạn chúng ta thường nghe nói rằng một số nước chẳng có lợi thế so sánh nào cả. Thực tế, điều này không bao giờ xảy ra. Hãy suy ngẫm mà xem… Những người đứng đầu hệ thống: Các tổng giám đốc của GATT và WTO: · · · · · · Ngài Eric Wyndham White (Vương quốc Anh) 1948-1968 Olivier Long (Thụy sĩ) 1968-1980 Arthur Dunkel (Thụy sĩ) 1980-1993 Peter Sutherland (Ai-len) GATT: 1993-1994; WTO: 1995 Renato Ruggiero (ý) 1995-1999 Mike More (Niu-di-lân) 1999-2002

- Supachai Panitchpakdi (Thái lan) 2002 4. Lịch sử tồn tại của GATT: từ Hiến chương La Havana đến Tuyên bố Marrakech Sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 1/1/1995 đã đánh dấu một bước cải cách chưa từng thấy của thương mại quốc tế kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Tổ chức này cũng đã cụ thể hoá được mục tiêu mà Dự thảo thành lập một Tổ chức thương mại quốc tế (ITO) đã đề ra từ năm 1948 nhưng không thực hiện được. Lịch sử 47 năm hoạt động này chủ yếu được ghi dấu tại Giơnevơ. Tuy nhiên, nó cũng có một hành trình trải rộng khắp các châu lục, từ những bước đi ngập ngừng đầu tiên vào năm 1948 tại La Havana (Cuba), đến Annecy (Pháp), Torquay (Vương quốc Anh), Tokyo (Nhật bản), Punta del Este (Uruguay), Montreal (Canada), Bruxelles (Bỉ) và cuối cùng tới Marrakech (Maroc) năm 1994. Trong suốt quãng thời gian này, GATT - hiệp định được duy trì sau ý định thành lập ITO không thành - đã điều tiết hoàn toàn hệ thống thương mại. GATT đã góp phần thiết lập một hệ thống thương mại đa biên vững chắc, thịnh vượng và ngày càng tự do hơn sau mỗi vòng đàm phán thương mại. Tuy nhiên, đến những năm 80, việc cải cách toàn diện hệ thống đã trở nên cần thiết, mở đường cho sự ra đời Vòng đàm phán Uruguay và tiếp sau là WTO. GATT: một hiệp định “tạm thời” tồn tại suốt gần nửa thế kỷ Từ năm 1948 đến năm 1994, Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) đã đề ra những luật lệ điều tiết phần lớn thương mại thế giới. Đây là thời kỳ thương mại quốc tế đã đạt

được một vài kỷ lục tăng trưởng. Tưởng như được thiết lập một cách vững chắc, nhưng trong suốt 47 năm tồn tại của mình, GATT chỉ là một hiệp định và một tổ chức tạm thời. Ban đầu, các nước nhen nhóm ý tưởng thành lập một tổ chức thứ ba phụ trách lĩnh vực thương mại và hợp tác kinh tế quốc tế, tồn tại độc lập với hai thể chế tài chính của Bretton Woods là Ngân hàng thế giới và Quĩ tiền tệ quốc tế. Hơn 50 nước đã tham gia đàm phán nhằm thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO), một thể chế chuyên trách của Liên hiệp quốc. Bản dự thảo Hiến chương ITO rất tham vọng. Ngoài những qui định về thương mại quốc tế, bản dự thảo còn gồm những điều khoản qui định về việc làm, hiệp định về hàng hoá, biện pháp thương mại hạn chế, đầu tư quốc tế và dịch vụ. Ngay trước khi kết thúc thảo luận vào năm 1946, 23 trong số 50 nước tham dự đã quyết định tiến hành đàm phán để giảm và thực hiện ràng buộc thuế quan. Cuộc chiến thế giới thứ hai vừa kết thúc và các nước này mong muốn thúc đẩy ngay lập tức tiến trình tự do hoá thương mại, đồng thời bắt tay vào việc loại bỏ nhiều biện pháp bảo hộ vẫn được áp dụng từ đầu những năm 1930. Hàng loạt cuộc đàm phán thương mại đầu tiên đã mở đường cho 45.000 nhượng bộ thuế quan liên quan tới khoảng 1/5 thương mại thế giới, tương đương 10 tỉ đô la mỹ. 23 nước tham dự cũng đã thoả thuận chấp nhận một số qui định thương mại qui định tại dự thảo hiến chương ITO, nhanh chóng áp dụng những qui định này nhưng chỉ trong chừng mực “tạm thời” để bảo vệ thành quả của cuộc đàm phán (nhượng bộ thuế quan). Toàn bộ các qui định thương mại và nhượng bộ thuế quan đó đã tạo thành Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại, có hiệu lực từ tháng 1 năm 1948, trong khi đó hiến chương thành lập ITO vẫn nằm trên bàn đàm phán. 23 quốc gia tham dự đàm phán đó trở thành những thành viên sáng lập ra GATT (với tên gọi chính thức là “các bên ký kết”). Mặc dù Hiến chương ITO cuối cùng cũng được thông qua tại Hội nghị Liên hiệp quốc về thương mại và việc làm tổ chức tại La Havana năm 1948, song nó lại không được nghị viện một số nước phê chuẩn. Bên phản đối mạnh mẽ nhất là Hạ viện Hoa kỳ, bất chấp nỗ lực đấu tranh ủng hộ việc thành lập ITO của chính quyền nước này. Năm 1950, chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố rằng Hạ viện nước này đã quyết định không phê chuẩn Hiến chương La Havana, điều này đồng nghĩa với việc ITO không thể trở thành hiện thực. Mặc dù chỉ mang tính chất tạm thời nhưng GATT vẫn là hiệp định đa phương duy nhất điều tiết thương mại quốc tế từ năm 1948 cho đến khi WTO ra đời vào năm 1995. Trong suốt gần 1/2 thế kỷ, phần lớn các văn bản pháp lí cơ bản của GATT đều là những văn bản được qui định từ năm 1948. Có một số văn bản bổ sung dưới dạng một qui định về phát triển được đưa vào trong những năm 60, rồi dưới dạng một số hiệp định “nhiều bên” (nghĩa là với sự tham gia tự nguyện của các bên ký kết) trong những năm 70, ngoài ra các nước cũng theo đuổi những nỗ lực nhằm tiếp tục cắt giảm thuế quan. Đa phần những kết quả thu được trong lĩnh vực này đều đạt được từ hàng loạt các vòng đàm phán. Những tiến bộ quan trọng nhất của quá trình tự do hoá thương mại quốc tế đều có được nhờ những vòng đàm phán diễn ra trong khuôn khổ GATT. Những vòng đàm phán thương mại đầu tiên xoay quanh việc cắt giảm thuế quan. Đến giữa những năm 60, Vòng đàm phán Kennedy đã cho ra đời Hiệp định về chống bán phá giá của GATT và một qui định về phát triển. Vào những năm 70, Vòng đàm phán Tokyo đã đưa ra một ý tưởng táo bạo nhằm dỡ bỏ những hàng rào phi thuế quan cản trở thương mại và các biện pháp cải thiện hệ thống. Vòng đàm phán Uruguay diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994 là vòng đàm

phán thứ tám, vòng đàm phán cuối cùng và cũng là vòng đàm phán tham vọng nhất trong số tất cả các vòng đàm phán của GATT. Vòng đàm phán này đã dẫn đến việc thành lập WTO và thông qua một loạt các hiệp định mới. Các vòng đàm phán thương mại của GATT Năm 1947 1949 1951 1956 1960-1961 1964-1967 1973-1979 1986-1994 Địa điểm/Tên gọi Geneve Annecy Torquay Geneve Geneve/vòng đàm Dillon Geneve/Vòng phán Kennedy Geneve/Vòng phán Tokyo Geneve/Vòng phán Uruguay Lĩnh vực bao trùm Thuế quan Thuế quan Thuế quan Thuế quan phánThuế quan đàmThuế quan và biện pháp chống bán phá giá đàmThuế quan, biện pháp phi thuế và “hiệp định khung” đàmThuế quan, biện pháp phi thuế quan, qui định, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, dệt may, nông nghiệp, thành lập WTO, v.v… Số nước tham dự 23 13 38 26 26 62 102 123

Vòng đàm phán Tokyo: ý tưởng đầu tiên về cải tổ hệ thống Với sự tham gia của 102 nước, Vòng đàm phán Tokyo 1973 - 1979 tiếp tục những nỗ lực mà GATT theo đuổi nhằm từng bước giảm bớt hàng rào thuế quan. Nhờ vậy, mức thuế quan đã được giảm đi khoảng 1/3 tại 9 thị trường công nghiệp chính của thế giới, đưa mức thuế bình quân áp dụng đối với hàng công nghiệp giảm xuống còn 4,7%. Việc cắt giảm thuế quan, chia thành nhiều giai đoạn trong vòng 8 năm cũng đã tạo ra được một sự hài hoà hoá nhất định, vì những loại thuế cao nhất đã được cắt giảm mạnh nhất. Trong những lĩnh vực khác, vòng đàm phán Tokyo đã không thu được kết quả nào: không giải quyết được những vấn đề cơ bản gây ảnh hưởng tới thương mại hàng nông sản, cũng không đi tới ký kết một hiệp định sửa đổi liên quan đến các biện pháp bảo hộ (biện pháp khẩn cấp liên quan đến vấn đề nhập khẩu). Tuy nhiên nhờ có các cuộc đàm phán này mà hàng loạt các hiệp định về hàng rào bảo hộ phi thuế đã được thông qua. Đôi khi đó là những hiệp định giải thích những qui định mà GATT đã đề ra trước đó, có khi lại là những hiệp định hoàn toàn mới. Thường thì chỉ có một số ít các quốc gia thành viên, chủ yếu là các nước phát triển ký vào những bản hiệp định và thoả thuận này. Do không được đa số thành viên của GATT thông qua nên những văn bản này thường được gọi một cách không chính thức là “Điều lệ”. Đó không phải là những văn bản mang tính chất đa phương mà chỉ là một bước khởi đầu cho văn bản đa phương. Trên thực tế, nhiều điều lệ sau này cũng đã được đem ra sửa đổi tại vòng đàm phán Uruguay và trở thành những văn bản đa phương được tất cả các thành viên WTO thông qua. Chỉ có 4 trong số các điều lệ này vẫn còn mang tính chất nhiều bên: đó là những thoả thuận về thị trường công, thịt bò, sản phẩm sữa và máy bay dân sự. Năm 1997, các nước thành viên WTO đã quyết định chấm dứt các thoả thuận về thịt, sữa và chỉ tiếp tục duy trì hai thoả thuận còn lại. GATT có thành công không ?

Mặc dù chỉ là hiệp định mang tính chất tạm thời với một lĩnh vực can thiệp hạn chế, song không thể phủ nhận rằng trong suốt 47 năm tồn tại, GATT đã thành công trong việc thúc đẩy và đảm bảo tự do hoá phần lớn thương mại thế giới. Chỉ riêng việc cắt giảm liên tục thuế nhập khẩu cũng đã góp phần duy trì mức tăng trưởng rất sôi động của mậu dịch thế giới – trung bình khoảng 8%/năm – trong những năm 50 và 60. Hơn nữa, đà tăng trưởng mà phong trào tự do hoá thương mại đạt được đã góp phần làm cho tốc độ tăng trưởng của thương mại luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng của sản xuất trong suốt quá trình GATT tồn tại, điều này chứng tỏ rằng số các nước tham gia trao đổi thương mại với nhau và thu được lợi nhuận từ hoạt động này ngày càng gia tăng. Sự gia nhập ồ ạt của các thành viên mới tại Vòng đàm phán Uruguay đã chứng tỏ rằng hệ thống thương mại đa biên đã được công nhận là một trụ cột của phát triển, một công cụ cải cách kinh tế và thương mại. Những Điều lệ của Vòng đàm phán Tokyo · · · · · · Trợ cấp và các biện pháp bù trừ – giải thích điều 6, 16 và 23 của GATT Hàng rào kỹ thuật cản trở thương mại – đôi khi được gọi là Điều lệ bình thường hoá Thủ tục cấp phép nhập khẩu Thị trường công Định giá hải quan – giải thích điều 7 Các biện pháp chống bán phá giá - giải thích điều 6 và thay thế Điều lệ chống bán phá giá

được soạn thảo từ Vòng đàm phán Kennedy · · Thoả thuận về thịt bò Thoả thuận quốc tế về lĩnh vực sữa

Thương mại máy bay dân dụng Nhưng không phải cái gì cũng hoàn hảo cả. Cùng với thời gian, một số vấn đề mới cũng đã nảy sinh. Vào những năm 70, Vòng đàm phán Tokyo đã có ý định giải quyết những vấn đề này nhưng nó chỉ thu được những kết quả hạn chế, và cho thấy sẽ còn có nhiều khó khăn. Vấn đề không chỉ dừng lại ở sự lắng xuống của bầu không khí chính trị thương mại. Vào đầu những năm 80, cục diện thương mại thế giới đã không còn giống như những năm 40, vì thế Hiệp định chung đã trở nên không phù hợp với thực tế thương mại thế giới nữa. Trước tiên, mậu dịch thế giới đã trở nên phức tạp và quan trọng hơn 40 năm về trước. Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới được đẩy nhanh, thương mại dịch vụ – vốn không thuộc diện điều tiết của GATT – bắt đầu trở thành một mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia, đầu tư quốc tế cũng gia tăng. Sự tăng trưởng của thương mại dịch vụ cũng có mối liên hệ mật thiết với sự tăng trưởng của thương mại hàng hoá. Mặt khác, các điều lệ của GATT bị cho là chưa đủ. Ví dụ trong lĩnh vực nông

nghiệp, những lỗ hổng của hệ thống thương mại đa biên đã bị tận dụng một cách triệt để, nỗ lực tự do hoá thương mại không thu được nhiều kết quả. Trong lĩnh vực dệt may, một điều khoản ngoại lệ của GATT đã được đàm phán trong những năm 60 và đầu năm 70, dẫn tới sự ra đời của Hiệp định đa sợi. Ngay cả cơ cấu thể chế và hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT cũng là một mối bận tâm. Tất cả các yếu tố này cùng một số yếu tố khác đã thúc đẩy các thành viên của WTO cần phải nỗ lực một lần nữa để củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên. Nỗ lực này đã được thể hiện ở Vòng đàm phán Uruguay, Tuyên bố Marrakech và sự ra đời của WTO. Các vòng đàm phán thương mại: một cách tiếp cận tổng thể vì sự tiến bộ Các vòng đàm phán thương mại thường kéo dài trong nhiều năm – vòng đàm phán Uruguay đã kéo dài bảy năm rưỡi – nhưng như thế lại có thể phát huy được lợi ích của cách tiếp cận tổng thể, đôi khi được xem là đảm bảo cho thành công hơn là những vòng đàm phán chỉ xoay quanh một vấn đề cụ thể. · Với qui mô đàm phán của mình, cách tiếp cận tổng thể thú vị hơn vì nó cho phép các bên tham gia yêu cầu và đạt được nhiều lợi ích trong rất nhiều vấn đề. · Nếu sử dụng cách tiếp cận tổng thể, việc ký kết một hiệp định sẽ trở nên dễ dàng hơn nhờ có những thoả ước vì mỗi bên có thể sẽ tìm thấy ở đó những qui định phù hợp, có thể có tác động tới phương diện chính trị và kinh tế của nước mình. Chính phủ một nước có thể sẽ đồng ý nhượng bộ, chỉ đối với một lĩnh vực chẳng hạn, vì nước này có thể thu được những lợi ích về mặt kinh tế. Nhưng trên phương diện chính trị, chính phủ nước này có thể cho rằng nhượng bộ làm nước này khó mà bảo vệ được những lợi ích của mình. Cách tiếp cận tổng thể sẽ cho phép đạt được những lợi ích hấp dẫn về mặt chính trị và kinh tế trong những lĩnh vực khác, có thể bù lại những lợi ích bị mất đi trong một lĩnh vực nào đó. Như vậy, việc cải cách trong những lĩnh vực nhạy cảm về mặt chính trị với thương mại thế giới có thể được thực hiện một cách dễ dàng trong khuôn khổ đàm phán bằng cách tiếp cận tổng thể nhiều vấn đề. Hiệp định cải cách thương mại hàng nông sản đạt được tại Vòng đàm phán Uruguay là một minh chứng cho nhận định này. · Các nước đang phát triển và các nước tham gia ít có ảnh hưởng khác sẽ có nhiều cơ hội gây sức ép đối với hệ thống đa biên trong những vòng đàm phán tổng thể hơn là trong khuôn khổ quan hệ song phương với các cường quốc thương mại lớn. Tuy nhiên, qui mô đàm phán rộng có thể vừa tích cực lại vừa tiêu cực. Cùng với thời gian, một câu hỏi đặt ra là: Liệu tập trung đàm phán vào duy nhất một lĩnh vực có đơn giản hơn không? Kinh nghiệm trong những năm gần đây vẫn chưa đưa ra một kết luận nào về vấn đề này. Đã có lúc, Vòng đàm phán Uruguay bị nhìn nhận là một cơ chế trì trệ đến nỗi tất cả các quốc gia tham gia dường như không thể đi đến nhất trí về bất cứ một chủ đề thảo luận nào. Dù sao, vòng đàm phán cũng kết thúc tốt đẹp vào năm 1993-1994. Tuy nhiên, trong vòng hai năm sau đó, các cuộc đàm phán chỉ xoay quanh vấn đề vận tải đường biển lại không đi đến một hiệp định nào. Liệu có nên tin rằng các cuộc đàm phán tổng thể là con đường duy nhất dẫn đến thành công? Không, vào năm 1997, các cuộc đàm phán theo từng lĩnh vực về viễn thông cơ sở, trang thiệt bị cho công nghệ thông tin và dịch vụ tài chính đã dẫn tới việc ký kết các hiệp định liên quan.

Cuộc tranh luận vẫn chưa được khép lại. Cho dù xuất phát từ đâu thì lý do cũng không hề đơn giản. Chìa khoá của thành công có thể nằm trong việc lựa chọn phương thức tiến hành đàm phán phù hợp với từng bối cảnh và từng thời điểm khác nhau. 5. Vòng đàm phán Uruguay Vòng đàm phán Uruguay đã kéo dài trong 7 năm rưỡi, gần gấp đôi khoảng thời gian dự kiến. Tới giai đoạn cuối cùng, vòng đàm phán đã quy tụ 123 nước tham gia. Các cuộc thảo luận đề cập tới hầu hết các lĩnh vực của trao đổi quốc tế, từ bàn chải đánh răng đến tàu du lịch, từ hoạt động ngân hàng đến lĩnh vực viễn thông, từ việc cấy ghép gen lúa đến phương pháp điều trị bệnh sida. Đây thực sự là vòng đàm phán lớn nhất của mọi thời đại, hay nói rộng ra, là vòng đám phán lớn nhất trong lịch sử đàm phán từ trước tới nay. Đã có những lúc vòng đàm phán tưởng như cầm chắc thất bại song tổng kết lại, nó đã cho phép thực hiện cuộc cải cách lớn nhất trong hệ thống thương mại toàn cầu kể từ khi ra đời hệ thống Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) sau cuộc chiến tranh thế giới thứ 2. Mặc dù gặp nhiều khó khăn song vòng đám phán đã nhanh chóng thu được một số kết quả. Chỉ trong vòng hai năm, các bên tham gia đàm phán đã đi đến thỏa thuận về một hệ thống miễn giảm thuế quan đối với các sản phẩm nhiệt đới, chủ yếu do các nước đang phát triển xuất khẩu. Các bên đàm phán đã sửa đổi các điều luật liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại và một số trong đó đã lập tức được đưa vào áp dụng. Các nhà thương thuyết cũng đi đến quyết định là các nước thành viên GATT phải báo cáo định kỳ về chính sách thương mại của mình. Điều này được coi như một sáng kiến quan trọng bảo đảm tính minh bạch cho các hệ thống thương mại trên toàn thế giới. Chương trình nghị sự năm 1986 15 chủ đề đầu tiên được đưa vào chương trình nghị sự của vòng đàm phán Uruguay Thuế quan Hàng rào phi thuế Sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên Sản phẩm dệt may Nông nghiệp Sản phẩm nhiệt đới Các điều luật của GATT Các điều luật của Vòng đàm phán Tokyo Các biện pháp chống bán phá giá Trợ cấp Sở hữu trí tuệ Các biện pháp thúc đẩy đầu tư Giải quyết tranh chấp Hệ thống hiệp định chung Dịch vụ

Vòng đàm phán Uruguay - Những mốc đáng nhớ 9/1986 12/1988 Punta des Este: phát động đàm phán Montréal: họp hội nghị Bộ trưởng đánh giá giữa kỳ

4/1989 12/1990 12/1991 11/1992

Giơnevơ: Kết thúc đánh giá giữa kỳ Bruxelles: Hội nghị Bộ trưởng rơi vào bế tắc Giơnevơ: soạn thảo dự thảo “Văn bản cuối cùng” Washington: Mỹ và Uỷ ban châu Âu ký kết hiệp định Blair House, dọn đường cho việc giải quyết vấn đề nông nghiệp Tokyo: các nước nhóm bộ tứ tìm ra lối thoát cho vấn đề mở cửa thị trường nông sản Giơnevơ: phần lớn các cuộc đàm phán kết thúc , trừ một số vấn đề liên quan đến mở cửa thị trường Marrakech: ký kết các hiệp định Giơnevơ: Thành lập tổ chức thương mại thế giới, các hiệp định bắt đầu có hiệu lực

7/1993 12/1993

4/1994 1/1995

Chặng đường vất vả Ý tưởng về Vòng đàm phán Uruguay được nhen nhóm vào tháng 11 năm 1982 tại một hội nghị cấp Bộ trưởng của các nước thành viên GATT tại Giơnevơ. Bấy giờ, các vị Bộ trưởng đã dự định tiến hành một vòng đàm phán lớn nhưng hội nghị lúc đó đã không vượt qua được rào cản quá lớn là vấn đề nông nghiệp và bị coi như thất bại. Song trên thực tế, một chương trình làm việc mới đã được lên kế hoạch và đây chính là tiền đề cho chương trình vòng đàm phán Uruguay. Tuy nhiên, phải mất bốn năm vất vả cùng nhiều nỗ lực tìm kiếm và làm sáng tỏ những vấn đề cần bàn cũng như quyết tâm tiến tới thỏa thuận thì các vị bộ trưởng mới đi đến quyết định tiến hành vòng đàm phán mới. Quyết định này được đưa ra vào tháng 9 năm 1986 tại Punta del Este (Uruguay). Các vị bộ trưởng cuối cùng cũng thống nhất một chương trình đàm phán đề cập đến hầu như toàn bộ các vấn đề về chính sách thương mại còn bỏ ngỏ cho tới thời điểm bấy giờ. Các cuộc đàm phán có nhiệm vụ thúc đẩy việc mở rộng thương mại đến nhiều lĩnh vực mới, đặc biệt là thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ, đồng thời cải tổ các chính sách thương mại đối với những sản phẩm nhạy cảm như nôngosản và hàng dệt may. Tất cả các điều khoản của GATT cũng sẽ được đưa ra xem xét lại. Đây sẽ là vòng đàm phán lớn nhất từ trước tới nay và các vị bộ trưởng đã nhất trí dành tới 4 năm để thực hiện nó một cách tốt đẹp. Hai năm sau, vào tháng 12 năm 1988, các vị bộ trưởng lại một lần nữa nhóm họp tại Montréal (Canađa) để đánh giá những tiến bộ đã đạt được sau nửa chặng đường thực hiện vòng đàm phán. Nhiệm vụ lúc bấy giờ là xây dựng kế hoạch hành động cho hai năm còn lại của lịch trình đàm phán. Tuy nhiên các cuộc thương thảo đã đi vào ngõ cụt và mãi tới tháng 4 năm sau, các quan chức cấp cao mới lại gặp mặt nhau tại Giơnevơ để tranh luận một cách bình tĩnh hơn. Tại hội nghị Montréal, bất chấp một số tồn tại, các vị bộ trưởng đã cùng công nhận một loạt các thành tựu đầu tiên, đặc biệt là sự nhượng bộ về thị trường cho sản phẩm của các quốc gia phương Nam để giúp đỡ các nước đang phát triển cũng như hợp lý hóa hệ thống giải quyết tranh chấp và thiết lập cơ chế kiểm tra đầu tiên mang tính chất toàn diện, hệ thống và định kỳ các

chính sách và hoạt động thương mại của các nước thành viên GATT. Các cuộc đàm phán lẽ ra sẽ kết thúc vào thời điểm diễn ra hội nghị bộ trưởng tháng 12 năm 1990 tại Bruxelles. Nhưng các vị bộ trưởng đã không thành công trong việc đàm phán về cải cách thương mại đối với nông phẩm và quyết định kéo dài thời gian tranh luận. Vòng đàm phán Uruguay lúc này bước vào giai đoạn tồi tệ nhất. Cho dù triển vọng về mặt chính trị tỏ ra không mấy sáng sủa, các công tác chuẩn bị vẫn được tiếp tục khẩn trương để cho ra đời bản dự thảo công cụ có hiệu lực pháp lý cuối cùng. Arthur Dunkel, bấy giờ là tổng giám đốc GATT, nhân vật chủ trì các cuộc đàm phán cấp cao là người đã soạn thảo dự thảo “Văn kiện cuối cùng”. Văn bản này được trình bày trước các bên tham gia đàm phán tại Giơ ne vơ tháng 12 năm 1991. Văn bản này giống hoàn toàn với văn bản được soạn thảo tại Punta del Este, chỉ thiếu danh sách cam kết của các quốc gia về vấn đề giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị trường dịch vụ. Bản dự thảo này là cơ sở xây dựng hiệp định chính thức. Trong 2 năm tiếp theo, các cuộc đàm phán đã diễn ra hết sức khó khăn, thành công và thất bại đều hết sức mong manh. Tiến trình đàm phán thường chậm hơn so với tiến độ. Cùng với nông nghiệp, những vấn đề khác như thương mại dịch vụ, thâm nhập thị trường, luật chống bán phá giá hay thậm chí việc thiếp lập một thể chế kinh tế mới cũng trở thành những chủ đề gây xung đột. Sự bất đồng giữa Mỹ và liên minh châu Âu là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến sự thành công rất được trông đợi của các cuộc thảo luận. Tháng 11 năm 1992, Mỹ và Uỷ ban châu Âu đã vượt qua phần lớn những bất đồng về nông nghiệp giữa hai bên để cùng đi đến một hiệp định chung mang tên “Hiệp định Blair House”. Tháng 7 năm 1993, các nước trong nhóm bộ tứ (Mỹ, Uỷ ban châu Âu, Nhật, Canađa) thông báo đã có những tiến bộ đáng kể trong đàm phán về thuế quan và những vấn đề liên quan (mở cửa thị trường). Phải đợi đến ngày 15 tháng 1 năm 1993 thì tất cả các vấn đề mới được giải quyết và các cuộc bàn thảo về việc mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ mới kết thúc, dù rằng đối với những vấn đề này, nhân tố mang tính chất quyết định một tuần sau đó mới ngã ngũ. Ngày 15 tháng 4 năm 1994, các vị bộ trưởng của gần 123 quốc gia tham gia đàm phán đã ký kết các hiệp định này trong một cuộc họp diễn ra tại Marraketch (Maroc). Sự chậm trễ liên tiếp trong các cuộc đàm phán cũng có mặt tích cực của nó. Đối với một số vấn đề về dịch vụ, sở hữu trí tuệ hay thậm chí việc hình thành tổ chức thương mại thế giới sẽ không thể tiến xa đến thế nếu đàm phán được tiến hành vào năm 1990. Tuy nhiên, việc phải làm còn quá nhiều và những nhân vật chịu trách nhiệm về các vấn đề thương mại của các quốc gia bắt đầu mỏi gối chùn chân. Việc đi đến một hiệp định chung cho hầu hết các vấn đề thương mại tỏ ra hết sức khó khăn khiến một số người cho rằng tổ chức một vòng đàm phán ở quy mô lớn đến thế là điều không tưởng. Trong khi ấy, rất nhiều vấn đề đã được lên lịch trình bàn bạc trong các hiệp định ký kết trong khuôn khổ vòng đàm phán Uruguay. Năm 1996, một số quốc gia đã dứt khoát yêu cầu xúc tiến một vòng đàm phán mới vào đầu thế kỷ 21. Phản ứng trước yêu cầu này không thống nhất song rõ ràng hiệp định Marraketch đã tập hợp những cam kết mở lại đàm phán về các vấn đề nông nghiệp và dịch vụ vào cuối thế kỷ 20. Các cuộc đàm phán được bắt đầu vào năm 2000 và đặt trong khuôn khổ vòng đàm phán Doha vì sự phát triển. Điều gì đã xảy ra với GATT?

Tổ chức thương mại thế giới đã thay thế GATT với tư cách một tổ chức quốc tế song những gì đạt được sau vòng đàm phán Uruguay cho thấy thực tế, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại vẫn tồn tại và có hiệu lực vì nó là hiệp định khung của tổ chức thương mại thế giới trong các vấn đề về trao đổi hàng hóa. Các luật gia thương mại để ý đến sự khác nhau giữa GATT năm 1994 với những phần của GATT được giữ đến ngày hôm nay và GATT của năm 1947 (GATT 1947 vẫn luôn là nền tảng của GATT 1994). Đây liệu có phải là một sự thay đổi? Đối với đa số, chỉ cần nói GATT là đủ. Chương trình lập kế hoạch sau vòng đàm phán Uruguay Rất nhiều hiệp định được ký kết trong khuôn khổ vòng đàm phán Uruguay có một phần xác định lịch trình cho những việc phải làm trong tương lai. Một số việc được tiến hành lập tức sau đó. Đối với một số lĩnh vực, việc phải làm là tiếp tục đàm phán hoặc xúc tiến những cuộc đàm phán mới. Một số lĩnh vực khác lại yêu cầu đánh giá tình hình triển khai hiệp định vào những thời điểm cụ thể. Một số cuộc đàm phán kết thúc rất chóng vánh, đặc biệt là về vấn đề hạ tầng viễn thông và dịch vụ tài chính (chính phủ các nước đã rất nhanh chóng đi đến thống nhất về việc mở cửa thị trường thương mại sản phẩm công nghệ thông tin, vấn đề vượt ra ngoài khuôn khổ của chương trình bộ phận này). Sau vòng đàm phán Uruguay, đã có những sửa đổi và mở rộng nội dung đối với văn bản gốc về chương trình kế hoạch. Một chương trình kế hoạch bao gồm hơn 30 phần. Sau đây là một số vấn đề đáng chú ý: 1996 · Dịch vụ vận tải hàng hải: kết thúc đàm phán về mở cửa thị trường (tiến hành vào ngày 30 tháng 6 năm 1996, hoãn lại tới năm 2000, sau chuyển sang chương trình phát triển Doha) Dịch vụ và môi trường: xác định thời hạn báo cáo kết quả của nhóm công tác (hội nghị bộ trưởng tháng 12 năm 1996) Dịch vụ công: tiến hành đàm phán

· · 1997 · · ·

Hạ tầng viễn thông: kết thúc đàm phán (15 tháng 2) Dịch vụ tài chính: kết thúc đàm phán (30 tháng 12) Sở hữu trí tuệ: thiết lập hệ thống đóng dấu và đăng ký mã vùng đối với các sản phẩm rượu vang: tiến hành đàm phán, trở thành một bộ phận trong chương trình đàm phán vì sự phát triển Doha

1998 · · · Hàng dệt may: một giai đoạn mới bắt đầu vào ngày 1/1 Dịch vụ : (các biện pháp khắc phục kịp thời) : áp dụng kết quả đàm phán liên quan đến các biện pháp khắc phục kịp thời (trước 1/1/1998, hoãn lại đến tháng 3/2004) Luật về xuất xứ sản phẩm : chương trình làm việc đi đến sự thống nhất tương đối giữa luật về xuất xứ sản phẩm của các quốc gia (20/7/1998)

· · 1999 • 2002 · · ·

Thị trường công: mở những cuộc đàm phán mới để cải thiện hệ thống luật và thủ tục (trước năm 1998) Giải quyết tranh chấp: xem xét kỹ về luật và thủ tục giải quyết tranh chấp (trước năm 1998)

Sở hữu trí tuệ : bắt đầu xem xét một số ngoại lệ đối với việc cấp bằng sáng chế và bảo vệ đa dạng thực vật

Nông nghiệp : bắt đầu tiến hành đàm phán, thuộc Chương trình phát triển Doha Dịch vụ : Bắt đầu một loạt các cuộc đàm phám mới, thuộc chương trình phát triển Doha Ràng buộc thuế quan: xem xét lại khái niệm ‘nhà cung cấp chính’ tại điều 28 trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại về quyền của người tham gia đàm phán đối với việc sửa đổi ràng buộc Sở hữu trí tuệ : Lần đầu tiên đã có kiểm tra định kỳ (2 năm một lần) việc thực thi hiệp định

· 2002 · 2005 ·

Dệt may : bắt đầu giai đoạn đầu tiên (1/1)

Dệt may : áp dụng hoàn toàn trong khuôn khổ GATT và chấm dứt thời gian hiệu lực của hiệp định (1/1)

CHƯƠNG 2
Các hiệp định Tổ chức thương mại thế giới (WTO) hoạt động « dựa trên các luật lệ » và các luật lệ của WTO chính là các hiệp định đã được đàm phán. 1. Khái quát chung : Người hoa tiêu Các hiệp định của WTO điều chỉnh thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Chúng đề ra những nguyên tắc về tự do hoá và những ngoại lệ được phép áp dụng; nêu lại cam kết của từng nước về giảm thuế quan và các trở ngại khác đối với thương mại, về mở cửa và tiếp tục mở cửa thị trường dịch vụ; qui định thủ tục giải quyết tranh chấp; quy định các nước đang phát triển phải được đối xử đặc biệt; buộc các chính phủ phải đảm bảo minh bạch trong chính sách thương mại và phải thông báo cho WTO biết những luật lệ hiện hành và các biện pháp được áp dụng trong nước, song song với các báo cáo định kỳ của Ban thư ký về chính sách thương mại của các nước. Các “chi tiết bổ sung”

Các hiệp định và phụ lục này điều chỉnh những lĩnh vực hoặc những vấn đề cụ thể dưới đây: Đối với hàng hoá (trong khuôn khổ GATT) · · · · · · · · · · · · Nông nghiệp Các quy định về vệ sinh dịch tễ đối với nông sản Hàng dệt may Các tiêu chuẩn đối với sản phẩm Các biện pháp liên quan đến đầu tư Các biện pháp chống phá giá Các biện pháp định giá hải quan Kiểm hoá trước khi xuất Các quy định về xuất xứ hàng hoá Giấy phép nhập khẩu Trợ cấp và các biện pháp đối kháng Các biện pháp tự vệ

Đối với dịch vụ (các phụ lục của GATS) • • • • • Các quy định về di trú đối với thể nhân Vận tải hàng không Các dịch vụ tài chính Vận tải đường biển Viễn thông

Các hiệp định này thường được gọi là các luật lệ thương mại của WTO và WTO thường được miêu tả là một hệ thống hoạt động « dựa trên các luật lệ ». Tuy nhiên cũng cần nhắc lại rằng trên thực tế các luật lệ của WTO chính là các hiệp định đã được chính phủ các nước đàm phán. Chương này sẽ tập trung đề cập các hiệp định của vòng đàm phán Uruguay, nền tảng của toàn bộ hệ thống WTO hiện nay. Hiện WTO đang tiến hành một số cuộc đàm phán bổ sung trên cơ sở những quyết định của các Hội nghị bộ trưởng, đặc biệt là của Hội nghị Bộ trưởng Đô-ha tháng 11/2001, hội nghị khởi động cho những cuộc đàm phán mới và một số công việc khác (xem chi tiết về Chương trình Đô-ha ở các phần sau) Cấu trúc gồm sáu phần

Mục lục của cuốn « Kết quả của các cuộc đàm phán thương mại đa biên thuộc vòng đàm phán Uruguay – những văn kiện pháp lý » đã liệt kê khoảng 60 hiệp định, phụ lục, quyết định và bản ghi nhớ. Thực ra, các hiệp định được xây dựng theo một cấu trúc đơn giản, gồm sáu phần : một hiệp định khung (Hiệp định thành lập WTO); các hiệp định điều chỉnh ba lĩnh vực lớn (hàng hoá, dịch vụ và sở hữu trí tuệ); giải quyết tranh chấp; và xem xét chính sách thương mại của chính phủ các nước. Mặc dù đôi khi có những khác biệt lớn về nội dung chi tiết, các hiệp định điều chỉnh hai lĩnh vực chính – hàng hoá và dịch vụ - đều được xây dựng theo cùng một mô hình ba cấp như sau : • Chúng đều bắt đầu bằng phần nêu các nguyên tắc cơ bản : Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT) (đối với hàng hoá) và Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS). (Tương tự như vậy đối với lĩnh vực thứ ba, các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS). Tuy nhiên, hiện nay Hiệp định TRIPS chưa có phần bổ sung nào) Tiếp đến là các hiệp định bổ sung và các phụ lục bao gồm các điều khoản đặc biệt liên quan đến những ngành hoặc những vấn đề chuyên biệt. Cuối cùng là danh mục dài và chi tiết nêu cam kết của mỗi nước mở cửa thị trường nội địa của mình cho các nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ nước ngoài. Các danh mục ở phần phụ lục của GATT bao gồm các cam kết có tính ràng buộc về thuế quan đối với thương mại hàng hoá nói chung, về thuế quan và về hạn mức đối với thương mại một số sản phẩm nông nghiệp. Trong các danh mục ở phần phụ lục của GATS, cam kết phải nêu rõ mức độ mở cửa thị trường trong một số ngành cụ thể cho các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài cũng như các loại dịch vụ mà nước đó sẽ không áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử, tức nguyên tắc tối huệ quốc.

• •

Việc giải quyết tranh chấp dựa trên các hiệp định và cam kết cùng với việc xem xét một cách công khai các chính sách thương mại chính là nền tảng của WTO. Các cuộc đàm phán thuộc vòng Uruguay tập trung chủ yếu vào hai phần đầu tiên: các nguyên tắc chung và các nguyên tắc được áp dụng trong một số lĩnh vực chuyên ngành. Đồng thời các nước tham gia có thể đàm phán về mở cửa thị trường cho các sản phẩm công nghiệp. Một khi các nguyên tắc đã được xác lập, các nước có thể tiếp tục đàm phán về cam kết đối với một số lĩnh vực như nông nghiệp và dịch vụ. Tóm lại Cấu trúc cơ bản của các hiệp định WTO nhằm mục đích kết hợp hài hoà sáu lĩnh vực chính (Hiệp định khung về WTO, hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp và đánh giá chính sách thương mại). Khuôn khổ Hàng hoá Sở hữu trí tuệ Các nguyên tắc GATT Dịch vụ

GATS cơ bản Chi tiết bổ sung

TRIPS

Các hiệp định khác và phụ lục liên quan đến hàng hoá

Các phụ lục liên quan đến dịch vụ Danh mục cam kết của các nước (và các lĩnh vực được miễn áp

Các cam kết về mở cửa thị trường dụng

Danh mục cam kết của các nước

nguyên tắc tối huệ quốc) Giải quyết tranh chấp Đảm bảo sự minh bạch Các hiệp định bổ sung Cũng cần kể ra đây một số hiệp định quan trọng khác không được nêu trong bảng trên : đó là hai hiệp định (liên quan đến máy bay dân sự và mua sắm chính phủ), tuy « nhiều bên » nhưng không được tất cả các thành viên của WTO ký kết. Một số điều chỉnh khác trong tương lai: Chương trình Đô-ha Các hiệp định trên không phải là bất biến: đôi khi chúng được đàm phán lại và có thể được bổ sung bằng những hiệp định mới. Hiện nay, nhiều hiệp định đang được đàm phán trong khuôn khổ chương trình Đô-ha về phát triển (chương trình được các Bộ trưởng thương mại của các nước thành viên WTO phát động tại Đô-ha (Qatar) vào tháng 11 năm 2001). 2. Thuế quan: thêm nhiều mức thuế trần và nhiều mức thuế gần bằng không Kết quả quan trọng nhất của vòng đàm phán Uruguay chính là 22.500 trang danh mục cam kết của các nước đối với một số loại hàng hoá và dịch vụ cụ thể, nhất là các cam kết giảm thuế và “xác định mức thuế trần” đối với nhập khẩu hàng hoá. Trong một số trường hợp, thuế quan được giảm xuống còn không. Đồng thời có thêm rất nhiều mức thuế “trần”, tức là những mức thuế đã được cam kết tại WTO và các nước khó có thể nâng trở lại. Giảm thuế quan Các nước phát triển chấp thuận giảm từng bước phần lớn thuế quan trong vòng 5 năm kể từ ngày 1/1/1995. Kết quả là thuế nhập khẩu đối với sản phẩm công nghiệp của các nước này đã

giảm 40%, từ trung bình 6,3% xuống còn 3,8%. Và giá trị các sản phẩm công nghiệp được nhập vào các nước phát triển mà không phải chịu thuế sẽ tăng mạnh, từ mức 20% lên tới 44%. Đồng thời số lượng sản phẩm phải chịu thuế suất cao sẽ giảm đi. Nói chung, tỉ lệ các sản phẩm nhập khẩu vào các nước phát triển phải chịu thuế suất cao hơn 15% sẽ giảm từ 7% xuống còn 5%. Tỉ lệ hàng hoá xuất khẩu của các nước đang phát triển sang các nước công nghiệp hoá đang phải chịu thuế suất trên 15% sẽ giảm từ 9% xuống còn 5%. Kết quả của vòng đàm phán Uruguay đã được đẩy lên một bước. Ngày 26/3/1997, 40 nước, chiếm hơn 92% giá trị buôn bán toàn cầu các sản phẩm công nghệ thông tin, đã thoả thuận giảm thuế nhập khẩu và các loại thuế khác đánh vào các sản phẩm này từ nay đến năm 2000 (đến năm 2005 đối với một số ít trường hợp). Tương tự như đối với các cam kết thuế quan khác, mỗi nước tham gia thoả thuận sẽ áp dụng đồng nhất cam kết của mình đối với hàng hoá nhập khẩu của tất cả các nước thành viên WTO (phù hợp với điều khoản tối huệ quốc), thậm chí cả với những nước thành viên chưa đưa ra cam kết. Xác định mức thuế “trần” Các danh mục mở cửa thị trường không chỉ đơn giản là những barem về thuế quan. Chúng chính là cam kết không tăng thuế vượt quá một mức nào đó, tức mức thuế “trần”. Tại các nước phát triển, mức thuế “trần” thường là mức thuế đang được áp dụng trên thực tế. Còn đa phần các nước đang phát triển thì lại đặt mức thuế “trần” cao hơn một chút so với các mức đang áp dụng. Một nước có thể phá bỏ cam kết (tức nâng thuế quan cao hơn mức thuế “trần”), nhưng không phải là dễ. Để làm được điều này, nước đó phải đàm phán với các nước liên quan và có thể bị buộc phải bù đắp thiệt hại về cơ hội thương mại mà các đối tác phải gánh chịu.

Công cụ này được gọi là gì?

Không có bất cứ hiệp định có tính ràng buộc pháp lý nào đặt ra các mục tiêu giảm thuế quan (tức là tỉ lệ giảm thuế phải áp dụng sau vòng Uruguay). Thay vào đó, mỗi nước lập danh mục các cam kết mà mình đã đưa ra. Danh mục này sau đó được đưa vào phần phụ lục của Nghị định thư Ma-ra-két và Nghị định thư Ma-ra-két lại chính là phụ lục của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994. Văn bản này như vậy đã trở thành công cụ pháp lý có tính ràng buộc đối với việc giảm thuế quan. Sau đó, các nước thành viên cũng đưa thêm một số cam kết khác trong khuôn khổ Hiệp định về công nghệ thông tin năm 1997. Thêm nhiều mức thuế “trần” Các nước phát triển đã gia tăng số lượng hàng hoá nhập khẩu phải chịu mức thuế « trần » (tức mức thuế đã được cam kết và khó có thể nâng lên được nữa), từ 78% lên đến 99% các loại mặt hàng. Các nước đang phát triển cũng tăng thêm không kém: từ 21% lên tới 73%. Mức tăng của các nước có nền kinh tế chuyển đổi, tức các nước vừa từ bỏ kinh tế kế hoạch hoá, là từ 73% lên 98%. Như vậy là đối với các doanh nhân và nhà đầu tư, thị trường đã trở nên an toàn hơn rất nhiều. Và nông nghiệp...

Thuế quan đánh vào tất cả các sản phẩm nông nghiệp hiện đều ở mức “trần”. Hầu hết các biện pháp hạn chế nhập khẩu khác như quota chẳng hạn đều được chuyển thành thuế suất. Đây còn được gọi là quá trình “thuế hoá”, giúp nâng cao rõ rệt khả năng dự báo đối với các thị trường nông nghiệp. Trước kia, hơn 30% các sản phẩm nông nghiệp phải chịu hạn chế định mức hoặc các biện pháp hạn chế nhập khẩu khác. Giai đoạn đầu tiên của quá trình “thuế hoá” là nhằm thay thế các hạn chế này bằng những mức thuế quan có giá trị bảo hộ tương đương. Tiếp đó, trong vòng 6 năm, từ 1995 đến 2000, các mức thuế quan này được giảm dần từng bước (đối với các nước đang phát triển, giai đoạn giảm thuế sẽ được hoàn thành vào năm 2005). Những cam kết về mở cửa thị trường trong lĩnh vực nông nghiệp cũng dẫn đến xoá bỏ việc cấm nhập khẩu đối với một số hàng hoá. Ngoài ra, các danh mục này cũng nêu lại cam kết của các nước giảm hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu đối với các sản phẩm nông nghiệp. (Xem phần về nông nghiệp) Thế nào là “bóp méo cạnh tranh”? Đây là một vấn đề lớn. Nền thương mại sẽ bị bóp méo khi giá cả được duy trì ở mức cao hay thấp hơn mức bình thường và khi khối lượng hàng hoá được sản xuất, mua và bán cũng nhiều hay ít hơn mức bình thường (mức bình thường có nghĩa là mức được duy trì trên các thị trường có cạnh tranh). Chẳng hạn, những cản trở đối với nhập khẩu và các khoản trợ cấp trong nước có thể làm tăng giá của các sản phẩm nông nghiệp trên thị trường nội địa của một nước. Giá tăng thì lại kích thích sản xuất dư thừa. Nếu muốn bán lượng hàng hoá dư thừa ra thị trường thế giới, nơi giá cả vốn thấp hơn, thì cần phải có trợ cấp xuất khẩu. Kết quả là các nước có chính sách trợ cấp lại có thể sản xuất và xuất khẩu được nhiều hơn mức thông thường. Để biện minh cho chính sách hỗ trợ và bảo hộ nông dân của mình, ngay cả khi điều đó làm tổn hại đến việc buôn bán nông sản, chính phủ các nước thường vin vào ba lí do sau : · · nhằm đảm bảo sản xuất đủ lương thực để đáp ứng nhu cầu quốc gia, nhằm bảo vệ người nông dân khỏi những tác động xấu của thời tiết cũng như những biến động giá cả trên thị trường thế giới, nhằm bảo vệ xã hội nông thôn.

·

Tuy nhiên, các chính sách được áp dụng lại thường rất tốn kém, gây ra sản xuất dư thừa, dẫn đến chiến tranh về trợ cấp xuất khẩu. Còn nước nào mà có ít khả năng trợ cấp thì phải chịu thua thiệt. Trong các cuộc đàm phán, các nước thường thảo luận về việc liệu có khả năng đạt được ba mục tiêu trên mà vẫn không bóp méo cạnh tranh hay không. 3. Nông nghiệp: các thị trường công bằng hơn đối với nhà nông Khi ra đời, GATT vốn dĩ được áp dụng cho cả các sản phẩm nông nghiệp, nhưng hiệp định này có những kẽ hở. Chẳng hạn, nó cho phép các nước được áp dụng một số biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch nhập khẩu và trợ cấp. Thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp do đó đã bị

bóp méo, đặc biệt là do trợ cấp xuất khẩu (về nguyên tắc trợ cấp xuất khẩu đáng lẽ ra cũng phải bị cấm trong lĩnh vực công nghiệp). Vòng đàm phán Uruguay đã cho ra đời hiệp định đa phương đầu tiên về lĩnh vực này. Hiệp định này đánh dấu một bước phát triển đáng kể, hướng tới lập lại trật tự và cạnh tranh lành mạnh trong một lĩnh vực ít « lệch lạc ». Hiệp định đã được thực hiện trong vòng 6 năm (và vẫn đang được các nước đang phát triển triển khai với thời hạn 10 năm) kể từ năm 1995. Hiệp định còn bao gồm cam kết tiếp tục cải tổ trên cơ sở tiến hành các cuộc đàm phán mới. Các cuộc đàm phán này đã được khởi động từ năm 2000 như Hiệp định về nông nghiệp quy định. Tham khảo Các cuộc đàm phán trong khuôn khổ chương trình Đô-ha Hiệp định về nông nghiệp: các quy định và cam kết mới Hiệp định về nông nghiệp có mục tiêu cải cách thương mại trong lĩnh vực này và củng cố vai trò của thị trường là yếu tố định hướng cho việc thực thi chính sách. Điều này sẽ giúp nâng cao khả năng phán đoán và mức độ an toàn cho các nước nhập khẩu cũng như cho các nước xuất khẩu. Các cam kết và quy định mới tập trung vào các vấn đề sau: · Tiếp cận thị trường – các hạn chế nhập khẩu · Hỗ trợ trong nước - trợ cấp và các chương trình khác, kể cả những chương trình nhằm tăng hoặc đảm bảo giá cả sản xuất và thu nhập cho người làm nông nghiệp. Hiệp định này được gọi là gì? Trong phần lớn các điều khoản thì đó là Hiệp định về nông nghiệp Trong các cam kết về thuế quan, hạn ngạch thuế quan, hỗ trợ trong nước, và trợ cấp xuất khẩu thì đó là các danh mục phụ lục của Nghị định thư Ma-ra-két đính kèm Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1994. Xem thêm : Quyết định (cấp bộ trưởng) về các biện pháp xử lý các tác động tiêu cực mà chương trình cải cách gây ra cho các nước kém phát triển và đang phát triển phải nhập khẩu lương thực. (Xem thêm cả « Thể thức xây dựng các cam kết có tính ràng buộc và chuyên ngành trong khuôn khổ chương trình cải tổ », (MTN.GNG/MA/W/24.) · Trợ cấp cho xuất khẩu và các phương pháp khác nhằm đảm bảo một cách giả tạo khả năng cạnh tranh cho hàng xuất khẩu. Hiệp định về nông nghiệp cho phép các chính phủ được hỗ trợ khu vực nông thôn, nhưng nên bằng những biện pháp tác động tối thiểu đến cạnh tranh. Hiệp định cũng tỏ ra mềm dẻo đối với việc triển khai các cam kết. Các nước đang phát triển không bị buộc phải giảm trợ cấp hoặc thuế suất bằng với mức của các nước phát triển và lại có thêm thời gian để thực hiện các cam kết của mình. Còn các nước kém phát triển thì hoàn toàn không bị ràng buộc gì. Có một số điều khoản đặc biệt quy định về lợi ích của các nước bị buộc phải nhập khẩu lương thực thiết yếu và đề cập đến những quan tâm của các nước kém phát triển. Các mục tiêu cụ thể đối với nông nghiệp

Tại vòng đàm phán Uruguay, các nước đã thoả thuận được về mức độ giảm trợ cấp và bảo hộ đối với sản phẩm nông nghiệp như sau (Hiệp định về nông nghiệp chỉ nêu các con số cụ thể về giảm trợ cấp xuất khẩu): Các nước phát triển 6 năm (1995-2000) Thuế quan Mức giảm trung bình đối với tất cả các sản phẩm nông nghiệp Mức giảm tối thiểu đối với mỗi sản phẩm Hỗ trợ trong nước Giảm tổng mức hỗ trợ đối với toàn bộ lĩnh vực (giai đoạn được tính làm cơ sở: 19861990) Xuất khẩu Giá trị trợ cấp Khối lượng được trợ cấp (giai đoạn được tính làm -36% Các nước đang phát triển 10 năm (1995-2004) -24%

-15%

-10%

-20%

-13%

-36% -21%

-24% -14%

cơ sở: 1986-1990)
Các nước kém phát triển không phải đưa ra cam kết nào về giảm thuế hoặc giảm trợ cấp. Cơ sở để tính mức độ giảm thuế là thuế suất trần trước ngày 1/1/1995 hoặc, đối với những mức thuế chưa được cam kết, thì là thuế suất được áp dụng thực tế vào tháng 9/1986, khi bắt đầu vòng đàm phán Uruguay. Hiệp định về nông nghiệp có một điều khoản “hoà hoãn” nhằm giảm thiểu nguy cơ tranh chấp hoặc bất đồng về trợ cấp nông sản trong vòng chín năm, cho đến cuối năm 2003. Mở cửa thị trường: đề nghị “chỉ áp dụng thuế quan mà thôi” Nguyên tắc mới đối với mở cửa thị trường nông nghiệp là “chỉ áp dụng thuế quan mà thôi”. Trước vòng đàm phán Uruguay, việc nhập khẩu một số hàng nông sản bị hạn chế bởi các hạn ngạch và các biện pháp phi thuế quan khác. Tuy nhiên, các biện pháp này đã được thay thế bằng thuế quan. Thuế quan cho phép đảm bảo một mức bảo hộ tương đương: nếu biện pháp trước đây sẽ làm tăng 75% giá hàng hoá trên thị trường nội địa so với giá trên thị trường thế giới, thì thuế suất mới áp dụng có thể lên đến 75% (cách thức chuyển hoá hạn ngạch và các biện pháp phi quan thuế khác sang thuế quan còn được gọi là quá trình “thuế hoá”) Nhưng đó chưa phải là tất cả. Hiệp định cũng quy định rằng những hàng hoá đã được nhập khẩu trước khi hiệp định có hiệu lực có thể vẫn tiếp tục được nhập khẩu và, nhờ vào một hệ thống “hạn ngạch thuế quan”, hiệp định đảm bảo sẽ không áp dụng mức thuế quá cao đối với một lượng hàng hoá nhập khẩu bổ sung nào đó: đối với một lượng hàng hoá nhập khẩu nhất định thì thế quan áp dụng sẽ thấp hơn, còn đối với lượng hàng hoá nhập khẩu vượt quá hạn mức thì thuế quan áp dụng sẽ cao hơn (thậm chí đôi khi còn cao hơn rất nhiều) .

Những cam kết mới về thuế quan và hạn ngạch thuế quan được áp dụng cho tất cả các sản phẩm nông nghiệp và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1995. Các nước tham gia vòng đàm phán Uruguay đã thoả thuận rằng các nước phát triển sẽ giảm trung bình 36% thuế (còn đối với trường hợp sử dụng hạn ngạch thuế quan, thì phải giảm mức thuế suất cao nhất đánh vào lượng hàng hoá vượt quá hạn ngạch) chia đều trong 6 năm. Các nước đang phát triển sẽ giảm thuế 24% trong 10 năm. Một số nước đang phát triển cũng đã chọn phương án chào các mức thuế trần đối với những sản phẩm mà thuế quan chưa được “ràng buộc” (tức mức thuế chưa được cam kết theo các quy định của GATT hoặc WTO) trước vòng đàm phán Uruguay. Các nước kém phát triển không phải cam kết giảm thuế. (Các mức giảm này không xuất hiện trong Hiệp định về nông nghiệp. Các nước tham gia đàm phán đã sử dụng chúng làm cơ sở xây dựng danh mục cam kết của mình. Đó là những cam kết được nêu lại trong các danh mục có tính ràng buộc về pháp lý). Hạn ngạch thuế quan Dưới đây là biểu đồ của một hạn ngạch thuế quan:

Mức thuế suất

Giới hạn hạn ngạch

80% 10%

Ngoài giới hạn hạn ngạch Trong giới hạn hạn ngạch

Thuế suất áp dụng: 10% 1000 tấn

Thuế suất áp dụng 80% Khối lượng nhập khẩu

Hàng hoá nhập khẩu trong giới hạn hạn ngạch (cho đến 1000 tấn) thì được hưởng thuế suất 10%. Lượng hàng nhập khẩu ngoài quota thì phải chịu thuế suất 80%. Theo hiệp định về nông nghiệp, giới hạn hạn ngạch ở mức 1000 tấn được tính toán dựa trên lượng hàng nhập khẩu trong giai đoạn cơ sở hoặc dựa trên mức độ mở cửa tối thiểu đã được thương lượng.

Đối với những sản phẩm trước kia bị hạn chế bằng quota nay bị đánh thuế quan, các nước được phép áp dụng những biện pháp khẩn cấp đặc biệt (gọi là “tự vệ đặc biệt”) nhằm bảo vệ nông dân trước việc giá cả sụt giảm đột ngột hay việc hàng nhập khẩu tăng mạnh. Tuy nhiên, hiệp định cũng nêu rõ khi nào và như thế nào thì các biện pháp khẩn cấp này có thể được áp dụng (chẳng

hạn, các biện pháp này không được áp dụng đối với hàng nhập khẩu theo chế độ hạn ngạch thuế quan). Đến nay đã có 4 nước sử dụng tới các điều khoản về “đối xử đặc biệt” để hạn chế nhập khẩu các sản phẩm đặc biệt nhạy cảm (chủ yếu là gạo) trong giai đoạn triển khai hiệp định (tới năm 2000 đối với các nước phát triển và 2004 đối với các nước đang phát triển), nhưng phải thoả mãn một số điều kiện ngặt nghèo, đặc biệt là việc phải bảo đảm mức độ mở cửa tối thiếu đối với các nhà cung ứng nước ngoài: đó là các nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Philípin (đối với nhập khẩu gạo), và Ixraen (đối với nhập khẩu thịt cừu, sữa bột nguyên chất và một số loại phomát). Đến nay, Nhật Bản và Ixraen đã từ bỏ đặc quyền này. Nhưng một thành viên mới của WTO là Đài Loan thì vẫn đang được hưởng quyền ưu đãi đặc biệt này trong nhập khẩu gạo, giống như Hàn Quốc và Philípin. Hỗ trợ trong nước: khi nào thì được phép và khi nào thì không được phép Các biện pháp trợ giá trong nước hoặc trợ cấp sản xuất thường bị chỉ trích là khuyến khích sản xuất dư thừa, dẫn tới đẩy lùi các sản phẩm nhập khẩu ra khỏi thị trường nội địa, kéo theo trợ cấp xuất khẩu và bán phá giá trên thị trường thế giới. Hiệp định về nông nghiệp phân biệt rõ các chương trình hỗ trợ có tác dụng kích thích trực tiếp sản xuất với các chương trình bị coi là không có tác động trực tiếp. Các nước buộc phải giảm bớt những biện pháp có tác động trực tiếp tới sản xuất và trao đổi hàng hoá. Các nước thành viên WTO đã ước tính mức hỗ trợ mỗi năm cho nông nghiệp dưới dạng này (bằng việc tính toán “biện pháp hỗ trợ tổng thể”) trong giai đoạn cơ sở 1986-1988. Các nước phát triển đã chấp nhận giảm 20% trong vòng 6 năm kể từ năm 1995. Các nước đang phát triển thì cam kết giảm 13% trong vòng 10 năm. Các nước kém phát triển không bị bắt buộc phải giảm. (Hình thức hỗ trợ trong nước này đôi khi còn được gọi là “hộp vàng”, liên tưởng đến hình ảnh đèn giao thông màu vàng báo hiệu cần phải đi “chậm lại”). Các biện pháp ít gây ảnh hưởng tới trao đổi hàng hoá có thể được tự do thông qua và được xếp vào “hộp xanh” (giống như tín hiệu đèn xanh cho phép tiếp tục giao thông). Các biện pháp này bao gồm những dịch vụ được nhà nước đảm bảo như nghiên cứu, y tế công cộng, cơ sở hạ tầng và an ninh lương thực. Chúng cũng gồm những khoản bồi thường được rót trực tiếp cho nông dân nhưng không nhằm mục đích khuyến khích sản xuất, ví dụ như một số hình thức trực tiếp hỗ trợ thu nhập, trợ cấp cho việc tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, và những khoản chi trả trực tiếp trong khuôn khổ chương trình bảo vệ môi trường và hỗ trợ phát triển các vùng. Các biện pháp sau cũng được phép áp dụng: một số khoản đền bù trực tiếp cho nông dân khi họ bị buộc phải hạn chế sản xuất (có lúc được gọi là các biện pháp “hộp xanh lam”), một số chương trình trợ giúp của Nhà nước cho phát triển nông nghiệp và nông thôn tại các nước đang phát triển và các biện pháp hỗ trợ khác có quy mô khiêm tốn (nguyên tắc “minimis” - không đáng kể) so với tổng giá trị của sản phẩm hoặc của các sản phẩm được trợ cấp (dưới 5% đối với các nước phát triển và dưới 10% đối với các nước đang phát triển). Trợ cấp xuất khẩu: hạn chế mức trợ cấp và khối lượng hàng hoá được trợ cấp Hiệp định về nông nghiệp cấm việc trợ cấp cho xuất khẩu nông sản, trừ phi chúng được nêu rõ trong các danh mục cam kết của các nước thành viên. Trong trường hợp đó, các nước sẽ bị buộc phải giảm đồng thời mức trợ cấp và khối lượng hàng hoá xuất khẩu được trợ cấp. Với cơ sở là mức trợ cấp trung bình của giai đoạn 1986-1990, các nước phát triển chấp nhận giảm 36%

giá trị các khoản trợ cấp xuất khẩu trong vòng 6 năm kể từ năm 1995 (24% trong vòng 10 năm đối với các nước đang phát triển). Các nước phát triển cũng thoả thuận giảm 21% khối lượng hàng hoá xuất khẩu được trợ cấp trong vòng 6 năm (14% trong vòng 10 năm đối với các nước đang phát triển). Các nước kém phát triển không cần phải có bất cứ cam kết gì về vấn đề này. Trong 6 năm thực hiện, các nước đang phát triển vẫn được phép sử dụng trợ cấp nhằm mục đích giảm chi phí bán và vận chuyển các sản phẩm xuất khẩu, nhưng phải tuân thủ một số điều kiện nhất định. Các nước kém phát triển và các nước phải lệ thuộc vào lương thực nhập khẩu Hiệp định về nông nghiệp quy định rằng các thành viên của WTO phải giảm dần lượng hàng hoá xuất khẩu được trợ cấp. Tuy vậy, một số nước nhập khẩu vẫn đang bị lệ thuộc vào lương thực nhập khẩu giá rẻ và được trợ cấp của các nước công nghiệp chủ chốt. Trong số đó có một vài nước thuộc nhóm nghèo nhất thế giới. Tuy giá cả tăng, nhờ cắt giảm trợ cấp xuất khẩu, có thể có tác động tốt tới ngành sản xuất nông nghiệp của họ nhưng các nước này có thể vẫn cần được giúp đỡ tạm thời để có thể tiến hành những điều chỉnh cần thiết giúp họ thanh toán hàng hoá nhập khẩu đắt đỏ và nếu được thì tiến tới xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của mình. Một quyết định đặc biệt cấp bộ trưởng đã nêu ra những mục tiêu và một số biện pháp liên quan đến việc trợ giúp lương thực và trợ giúp phát triển nông nghiệp. Quyết định này cũng nêu khả năng Quỹ tiền tệ thế giới và Ngân hàng thế giới hỗ trợ thanh toán lương thực nhập khẩu. 4. Tiêu chuẩn và an toàn Điều 20 Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT) cho phép các nước được can thiệp vào trao đổi hàng hoá nhằm bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của người và động vật và bảo tồn các loài thực vật, với điều kiện các nước không được phân biệt đối xử và không được lạm dụng nhằm bảo hộ trá hình. Ngoài ra, hiện WTO có riêng hai hiệp định điều chỉnh mức độ an toàn của lương thực, sức khoẻ và sự an toàn cho các loài động thực vật, cũng như tiêu chuẩn kỹ thuật đối với một số sản phẩm. Các tiêu chuẩn quốc tế này là gì? Phụ lục của Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ nêu rõ đó là những tiêu chuẩn đã được các cơ quan sau soạn ra: · Codex Alimentarius, Uỷ ban hỗn hợp của Tổ chức nông lương Liên hợp quốc và Tổ chức y tế thế giới (FAO/WHO): áp dụng cho lương thực · Tổ chức thế giới về sức khoẻ động vật (Cơ quan quốc tế về bệnh dịch động vật): áp dụng cho sức khoẻ động vật · Ban thư ký Công ước quốc tế về bảo vệ các loại thực vật: áp dụng cho việc bảo tồn các loài thực vật. Chính phủ các nước có thể bổ sung vào danh sách này tất cả những tổ chức hay hiệp định quốc tế khác mà tất cả các thành viên của WTO đều có thể tham gia. Lương thực, động vật và thực vật: một sản phẩm an toàn có thực sự an toàn hay không?

Vấn đề đặt ra ở đây là phải làm gì để đảm bảo cung ứng cho người tiêu dùng trong nước các sản phẩm lương thực hết sức an toàn, theo những tiêu chuẩn thích hợp? Đồng thời phải làm sao để tránh việc sử dụng các quy định chặt chẽ về vệ sinh dịch tễ như một cái cớ để bảo hộ các nhà sản xuất trong nước? Các quy tắc nền tảng về vấn đề này đã được nêu trong một hiệp định chuyên biệt an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ đối với động thực vật (Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch vệ sinh dịch tễ hay gọi tắt là các biện pháp SPS) Hiệp định cho phép các nước xây dựng cho mình những tiêu chuẩn riêng, song cũng quy định các tiêu chuẩn này phải có căn cứ khoa học. Các quy định về vệ sinh dịch tễ chỉ có thể được áp dụng trong chừng mực cần thiết để bảo vệ sức khoẻ của con người và các loài động thực vật. Chúng cũng không được gây ra phân biệt đối xử tuỳ tiện hoặc vô căn cứ giữa các quốc gia có điều kiện giống hệt nhau hoặc tương tự như nhau. Các nước thành viên WTO được khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn, đường hướng hoặc khuyến nghị quốc tế sẵn có. Tuy vậy, các nước vẫn có thể thông qua những biện pháp đặt tiêu chuẩn cao hơn nếu họ có cơ sở khoa học. Họ cũng có thể xây dựng những tiêu chuẩn khắt khe hơn dựa trên việc đánh giá hợp lý các rủi ro, với điều kiện phương pháp tiến hành phải chặt chẽ và không tuỳ tiện. Trong một chừng mực nào đó, các nước này có thể áp dụng “nguyên tắc phòng ngừa”, cách tiếp cận theo kiểu “an toàn là trên hết” trong trường hợp chưa có căn cứ khoa học chắc chắn. Điều 5 khoản 7 Hiệp định SPS cho phép các nước đưa ra các biện pháp “phòng ngừa” tạm thời. Cũng theo hiệp định này, các nước vẫn được áp dụng các tiêu chuẩn khác nhau và các phương pháp kiểm hoá khác nhau. Làm thể nào một nước xuất khẩu có thể chắc chắn rằng những tiêu chuẩn, phương pháp mà mình áp dụng cho các sản phẩm xuất khẩu của mình sẽ được nước nhập khẩu chấp thuận? Nếu nước xuất khẩu chứng minh được rằng các biện pháp mà nước này áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu có cùng mức độ bảo vệ sinh dịch tễ với nước nhập khẩu thì nước nhập khẩu về nguyên tắc phải chấp nhận các tiêu chuẩn và phương pháp mà nước xuất khẩu áp dụng. Hiệp định về vệ sinh dịch tễ còn có các điều khoản về thủ tục kiểm tra, giám định và công nhận độ an toàn. Chính phủ các nước phải thông báo trước những quy định mới hoặc được sửa đổi về vệ sinh dịch tễ mà mình sẽ áp dụng và thiết lập một cơ sở thông tin quốc gia. Hiệp định này bổ sung cho Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại.

Các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật Các quy định về mặt kỹ thuật và các tiêu chuẩn công nghiệp đóng một vai trò quan trọng, nhưng mỗi nước lại đưa ra những quy định và tiêu chuẩn khác nhau. Việc có quá nhiều tiêu chuẩn khác nhau như vậy thường gây khó khăn cho các nhà sản xuất và xuất khẩu. Nếu các tiêu chuẩn được quy định một cách tuỳ tiện thì chúng có thể được sử dụng như là phương tiện bảo hộ. Do đó, các tiêu chuẩn kỹ thuật có thể trở thành những rào cản cho thương mại. Hiệp định về những rào cản kỹ thuật đối với thương mại có mục đích làm sao để các quy định pháp luật, tiêu chuẩn và quy trình thử nghiệm và công nhận không gây ra những trở ngại không cần thiết.

Hiệp định thừa nhận quyền của các nước được đưa ra những chuẩn mực mà họ cho là thích hợp, chẳng hạn để bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của người và động vật, để bảo tồn các loài thực vật, bảo vệ môi trường hay các quyền lợi khác của người tiêu dùng. Hơn nữa, các nước thành viên cũng không bị cấm thông qua các biện pháp cần thiết để đảm bảo việc tuân thủ các chuẩn mực này. Để tránh có sự chênh lệch quá lớn, hiệp định khuyến khích các nước áp dụng những tiêu chuẩn quốc tế khi chúng tỏ ra phù hợp, nhưng hiệp định không bắt buộc họ vì thế mà phải thay đổi mức độ bảo vệ của mình. Hiệp định cũng bao gồm một bộ luật ứng xử qui định việc soạn thảo, thông qua và áp dụng các chuẩn mực của các cơ quan trung ương của các nước thành viên. Trong hiệp định này còn có các quy định về cách thức các cơ quan địa phương và các tổ chức phi chính phủ được áp dụng các quy định riêng của mình: nói một cách tổng quát thì họ phải tuân thủ các nguyên tắc được áp dụng cho các cơ quan trung ương. Hiệp định quy định rằng các qui trình đánh giá liệu một sản phẩm có tuân thủ các tiêu chuẩn của một nước hay không phải được tiến hành một cách công bằng và thoả đáng. Hiệp định quy định không áp dụng các phương pháp thiên vị đối với các sản phẩm trong nước. Hiệp định cũng khuyến khích các nước công nhận các quy trình thử nghiệm của nhau. Như thế thì một sản phẩm có thể được đưa ra thử nghiệm ngay trong nước sản xuất nhằm đánh giá liệu nó có tuân thủ các chuẩn mực của nước nhập khẩu. Các nhà sản xuất và xuất khẩu cần phải được thông tin về các tiêu chuẩn mới được ban hành tại những thị trường mà họ đang tìm cách xâm nhập. Để tạo dễ dàng cho việc tiếp cận các thông tin này, các nước thành viên WTO phải thiết lập các cơ sở thông tin quốc gia. 5. Dệt may : quay trở lại cơ chế bình thường Cũng giống như nông sản, hàng dệt may là một trong những nội dung đàm phán gay gắt nhất tại WTO cũng như trong hệ thống GATT trước kia. Hiện nay, hàng dệt may đang ở trong giai đoạn thay đổi căn bản, trải dài trong 10 năm theo một lịch trình đã được vạch ra tại vòng đàm phán Uruguay. Hệ thống các hạn ngạch nhập khẩu, từng thống trị buôn bán trong lĩnh vực này từ đầu những năm 60, nay đang dần được xoá bỏ. Từ năm 1974 đến cuối vòng đàm phán Uruguay, thương mại hàng dệt chịu sự điều chỉnh của Hiệp định đa sợi (MFA). Hiệp định này tạo khung pháp lý cho việc thiết lập các hạn ngạch nhập khẩu trên cơ sở các thoả thuận song phương hoặc bằng các biện pháp đơn phương, nhằm hạn chế nhập khẩu vào các nước mà ngành sản xuất có nguy cơ bị đình đốn do sự lan tràn của hàng nhập khẩu. Các hạn ngạch là phần nổi nhất của hệ thống này. Chúng đi ngược lại nguyên tắc chung của GATT đó là khuyến khích áp dụng thuế quan hơn là các biện pháp hạn chế định lượng. Chúng cũng tạo nên một ngoại lệ đối với nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa tất cả các đối tác thương mại trong hệ thống của GATT, bởi chúng quy định rõ khối lượng hàng hoá mà nước nhập khẩu có thể chấp nhận đối với từng nước xuất khẩu. Từ năm 1995, Hiệp định dệt may của WTO (ATC) đã thay thế cho Hiệp định đa sợi. Từ nay đến 1/1/2005, ngành dệt may cần phải áp dụng hoàn toàn hệ thống các luật lệ thông thường của GATT. Đặc biệt, các nước phải xoá bỏ hạn ngạch, và các nước nhập khẩu không được đối xử phân biệt giữa các nước xuất khẩu. Bản thân Hiệp định dệt may cũng sẽ chấm dứt hiệu lực vào thời điểm đó : đây là hiệp định duy nhất của WTO quy định về việc tự chấm dứt hiệu lực.

Bốn giai đoạn trong vòng 10 năm Các nước đã xây dựng một lịch trình xoá bỏ các hạn ngạch nhập khẩu đánh vào hàng dệt may (và đưa ngành này hoà nhập vào hệ thống các quy định của GATT), cũng như tiến trình nới rộng những hạn ngạch hiện nay. Các con số đưa ra trong ví dụ dưới đây được tính toán dựa trên hệ số gia tăng hàng năm thường được áp dụng theo quy định của Hiệp định đa sợi trước kia, tức là 6%. Đối với các sản phẩm khác nhau, các hệ số được áp dụng trên thực tế theo Hiệp định ATC cũng khác nhau.

Giai đoạn

Giai đoạn 1: 1/1/1995 – 31/12/1997
Giai đoạn 2: 1/1/1998 – 31/12/2001 Giai đoạn 3: 1/1/2002 – 31/12/2004 Giai đoạn 4: 1/1/2005 Đưa những hạn ngạch cuối cùng vào hệ thống GATT (tỉ lệ tối đa và xoá bỏ hoàn toàn các hạn ngạch) Hiệp định dệt may chấm dứt hiệu lực.

Tỉ lệ hàng hoá phải đưa vào hệ Hệ số gia tăng của các hạn thống GATT (kể cả những ngạch còn lại, nếu hệ số áp hàng hoá mà hạn ngạch nhập dụng năm 1994 là 6% khẩu bị xoá bỏ) 16% 6,96% (tỉ lệ tối thiểu tính trên lượng hàng nhập khẩu năm 1990) 17% mỗi năm 8,7% mỗi năm 11,05% mỗi năm Xoá bỏ hoàn toàn

48%

49% (tối đa)

Công thức áp dụng trên thực tế đối với việc tăng hàng nhập khẩu chịu hạn ngạch là như sau: 0,1 x hệ số gia tăng trước năm 1995 đối với giai đoạn đầu; 0,25 x hệ số gia tăng giai đoạn 1, đối với giai đoạn 2; và 0,27 x hệ số gia tăng giai đoạn 2, đối với giai đoạn 3. Hoà nhập : từng bước quay lại các quy tắc của GATT Hàng dệt may sẽ được đưa vào phạm vi điều chỉnh của hệ thống GATT trong vòng 10 năm. Quá trình này được tiến hành từng bước, theo 4 giai đoạn, nhằm cho phép cả nước nhập khẩu lẫn nước xuất khẩu có một khoảng thời gian cần thiết để thích nghi với tình hình mới. Một số sản

phẩm dệt may trước kia đã phải chịu hạn ngạch nhập khẩu. Và tất cả các hạn ngạch được áp dung cho đến ngày 31/12/1994 đều được đưa lại vào Hiệp định mới. Đối với các sản phẩm chịu hạn ngạch, kết quả của quá trình tái hoà nhập vào GATT là việc xoá bỏ các hạn ngạch này. Hiệp định đưa ra tỉ lệ các sản phẩm phải được vào hệ thống GATT trong từng giai đoạn. Trong số đó, những sản phẩm nào đang phải chịu hạn ngạch thì các hạn ngạch phải bị xoá bỏ. Các tỉ lệ này được tính toán dựa trên khối lượng trao đổi hàng dệt may của nước nhập khẩu vào năm 1990. Hiệp định cũng quy định phải tăng hàng năm khối lượng hàng nhập khẩu phải chịu hạn ngạch. Tốc độ tăng hạn ngạch được xác định theo công thức sử dụng hệ số gia tăng của Hiệp định đa sợi trước kia (xem bảng). Trong 3 giai đoạn đầu tiên, các sản phẩm được đưa vào GATT phải thuộc 4 loại sản phẩm dệt may chính sau : sợi, vải, hàng may mặc và quần áo. Tất cả những hạn chế khác không được quy định trong Hiệp định đa sợi và trái với các hiệp định của WTO sẽ phải được điều chỉnh cho phù hợp với hệ thống luật lệ của WTO trước năm 1996 hoặc bị xoá bỏ từ nay đến năm 2005. Nếu trong giai đoạn chuyển tiếp này, ngành sản xuất trong nước lại bị thiệt hại thì hiệp định cho phép nước đó áp dụng tạm thời các hạn chế bổ sung nhưng phải tuân thủ những điều kiện khắt khe. Các « biện pháp tự vệ trong thời kỳ chuyển tiếp » này không giống với các biện pháp tự vệ thông thường được GATT cho phép bởi chúng có thể được áp dụng đối với một vài nước xuất khẩu nhất định. Tuy vậy, nước nhập khẩu phải chứng minh được rằng ngành sản xuất trong nước mình đang phải chịu hoặc có nguy cơ phải chịu thiệt hại nghiêm trọng. Nước đó cũng phải chứng minh được rằng thiệt hại này do 2 yếu tố sau gây ra : lượng hàng nhập khẩu nói chung gia tăng và lượng hàng nhập khẩu đến từ nước xuất khẩu có liên quan gia tăng mạnh và đột biến. Biện pháp tự vệ có tính chất hạn chế có thể được áp dụng hoặc trên cơ sở 2 nước có tham vấn và đạt được thoả thuận hoặc một cách đơn phương. Biện pháp này sẽ được Cơ quan giám sát về dệt may xem xét. Đối với hệ thống hạn ngạch nhằm vào một số nước xuất khẩu nhất định, các nước xuất khẩu đôi khi cũng tìm cách lách hạn ngạch bằng cách xuất hàng thông qua một nước thứ ba hoặc khai báo sai lệch về xuất xứ hàng hoá. Hiệp định có các quy định nhằm giải quyết tiêu cực này. Hiệp định dệt may còn quy định dành đối xử đặc biệt cho một số nhóm nước, chẳng hạn những nước mới gia nhập thị trường, các nước xuất khẩu ít và các nước kém phát triển. Cơ quan giám sát về dệt may có nhiệm vụ giám sát việc triển khai hiệp định. Cơ quan này bao gồm một chủ tịch và 10 thành viên làm việc với tư cách cá nhân. Cơ quan theo dõi việc áp dụng các biện pháp được đưa ra trong khuôn khổ hiệp định nhằm đảm bảo rằng các biện pháp này phù hợp với hiệp định và báo cáo lên Hội đồng về thương mại hàng hoá. Hội đồng này sẽ xem xét sự vận hành của hiệp định trước khi bắt đầu một giai đoạn hoà nhập mới. Cơ quan giám sát về dệt may cũng có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến Hiệp định dệt may. Nếu được giải quyết, các tranh chấp được chuyển sang Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO. 6. Dịch vụ: những luật lệ vì tăng trưởng và đầu tư Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) là tập hợp đầu tiên và duy nhất những quy định đa biên điều chỉnh thương mại dịch vụ thế giới. Được đàm phán trong vòng Uruguay, hiệp định được soạn thảo trong bối cảnh ngành dịch vụ đạt mức tăng trưởng nhanh chóng trong vòng 30 năm qua và đang có thêm nhiều tiềm năng phát triển nhờ cuộc cách mạng thông tin.

Dịch vụ là lĩnh vực tăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế thế giới; chúng chiếm 60% sản xuất trên toàn thế giới, tạo ra 30% việc làm và chiếm gần 20% thương mại. Khi ý tưởng đưa các quy định về dịch vụ vào hệ thống thương mại đa biên được nêu ra vào đầu và giữa những năm 80, một số nước đã tỏ ra nghi ngại, thậm chí còn phản đối. Họ cho rằng một hiệp định như vậy có thể ảnh hưởng xấu tới khả năng các chính phủ theo đuổi những mục tiêu chính sách quốc gia và hạn chế khả năng điều tiết của chính phủ. Tuy vậy, hiệp định đã được soạn thảo một cách hết sức mềm dẻo, cả về mặt quy định chung lẫn những cam kết cụ thể về tiếp cận thị trường. Những nguyên tắc cơ bản • • • • • • • • Hiệp định GATS điều chỉnh tất cả các loại dịch vụ. Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc được áp dụng cho tất cả các dịch vụ, trừ các trường hợp ngoại lệ tạm thời và mang tính hạn chế. Đối xử quốc gia chỉ được áp dụng trong những lĩnh vực có cam kết. Các nước phải đảm bảo tính minh bạch về mặt luật pháp, thiết lập các điểm thông tin. Luật pháp quốc gia trong lĩnh vực này phải khách quan và hợp lý. Về nguyên tắc, thanh toán quốc tế không phải chịu hạn chế. Cam kết của các nước phải được đàm phán và được ràng buộc. Quá trình tự do hoá từng bước được tiến hành thông qua các cuộc đàm phán mới.

Giải thích hiệp định GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ bao gồm ba phần: văn bản chính của hiệp định nêu ra những nghĩa vụ và quy định chung, phần phụ lục bao gồm các quy định được áp dụng cho các lĩnh vực khác nhau và các cam kết cụ thể của các nước nhằm đảm bảo mở cửa thị trường nội địa, kể cả những chỉ dẫn đối với trường hợp các nước tạm thời từ bỏ nguyên tắc không phân biệt đối xử, nền tảng của điều khoản tối huệ quốc. Các nghĩa vụ và quy định chung Hiệp định điều chỉnh thương mại tất cả các loại dịch vụ. GATS được áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ được trao đổi trên thế giới, chẳng hạn như các dịch vụ ngân hàng, viễn thông, du lịch, các dịch vụ chuyên nghiệp ... Hiệp định cũng định nghĩa 4 phương thức trao đổi dịch vụ: · Một nước cung ứng dịch vụ cho một nước khác (chẳng hạn các cuộc gọi quốc tế), được gọi tên chính thức là “cung ứng dịch vụ qua biên giới” (hay “phương thức 1” theo ngôn từ của WTO) Người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tại một nước khác (ví dụ như du lịch), được gọi tên chính thức là “tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài” (“phương thức 2”) Doanh nghiệp nước ngoài lập chi nhánh hoặc công ty con tại một nước nhằm cung ứng dịch vụ tại nước đó (chẳng hạn các giao dịch của ngân hàng nước ngoài tại một nước), được gọi tên chính thức là “hiện diện thương mại” (“phương thức 3”)

· ·

·

Các cá nhân rời khỏi một nước để sang cung ứng dịch vụ tại một nước khác (ví dụ như hoạt động của người mẫu thời trang hoặc nhà tư vấn), được gọi tên chính thức là “hiện diện của tự nhiên nhân” (“phương thức 4”)

Đối xử tối huệ quốc (MFN). Ưu đãi nào đã được dành cho một nước thì phải được dành cho tất cả các nước khác. Nguyên tắc MFN có nghĩa là tất cả các đối tác thương mại được đối xử công bằng, theo đúng nguyên tắc không phân biệt đối xử. Trong khuôn khổ của GATS, nếu một nước mở cửa một lĩnh vực cho cạnh tranh nước ngoài thì nước đó sẽ phải dành cơ hội đồng đều cho các nhà cung ứng dịch vụ của tất cả các nước thành viên WTO. (Nguyên tắc này được áp dụng ngay cả khi một nước không đưa ra cam kết cụ thể nào về mở cửa thị trường của mình cho các công ty nước ngoài trong khuôn khổ WTO). Điều khoản tối huệ quốc được áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ, nhưng các nước được phép tạm thời miễn áp dụng điều khoản này đối với một số ngành đặc biệt. Khi GATS có hiệu lực, một số nước đã ký trước đó với các đối tác thương mại những hiệp định ưu đãi về dịch vụ, trong khuôn khổ song phương hoặc giữa một nhóm nước nhất định. Các thành viên của WTO cho rằng cần duy trì các ưu đãi này trong một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, các nước tự dành quyền tiếp tục đối xử ưu đãi hơn đối với một số nước nào đó trong một lĩnh vực dịch vụ nhất định bằng cách liệt kê các “ngoại lệ đối với nghĩa vụ MFN” đồng thời với các cam kết ban đầu của mình. Để bảo vệ nguyên tắc tối huệ quốc, các nước đã quyết định ngoại lệ chỉ được chấp nhận một lần duy nhất và không được bổ sung thêm. Hiện nay các ngoại lệ đang được xem xét lại như đã quy định và về nguyên tắc thời hạn của chúng là 10 năm. Các cam kết mở cửa thị trường và đối xử quốc gia. Cam kết của các nước về mở cửa thị trường nội địa – và mức độ mở cửa – trong các lĩnh vực cụ thể chính là kết quả của các cuộc đàm phán. Các cam kết này được liệt kê lại trong các “danh mục” các ngành sẽ được mở cửa, mức độ mở cửa đối với mỗi ngành (những hạn chế đối với sự tham gia của đối tác nước ngoài được nêu rõ nếu cần) và các hạn chế có thể có đối với nguyên tắc đối xử quốc gia (tức khi một số ưu đãi được dành cho các công ty trong nước nhưng không dành cho các công ty nước ngoài). Ví dụ: nếu cho phép các ngân hàng nước ngoài hoạt động trên thị trường nội địa, chính phủ một nước nào đó đã đưa ra cam kết về mở cửa thị trường. Nếu chính phủ đó hạn chế số lượng giấy phép được cấp thì đó chính là hạn chế mở cửa thị trường. Cuối cùng, nếu chính phủ đó tuyên bố các ngân hàng nước ngoài chỉ có thể lập một chi nhánh duy nhất trong khi các ngân hàng trong nước lại có thể lập nhiều chi nhánh thì đó được coi là một ngoại lệ của nguyên tắc đối xử quốc gia. Những cam kết này được qui định rõ ràng và được “ràng buộc”: cũng giống như các mức thuế quan “trần” trong thương mại hàng hoá, các cam kết trong thương mại dịch vụ chỉ có thể được thay đổi sau khi đã thương lượng với các nước liên quan. Do rất khó bị phá vỡ, các cam kết này chính là sự đảm bảo đối với điều kiện hoạt động của các nhà xuất khẩu nước ngoài, các nhà nhập khẩu trong nước cũng như các nhà đầu tư trong lĩnh vực này. Các dịch vụ công được loại khỏi hiệp định và không có qui định nào của GATS buộc các cơ quan công quyền phải tư nhân hoá các ngành công nghiệp dịch vụ. Trên thực tế, thuật ngữ “tư nhân hoá” thậm chí cũng không tồn tại trong văn bản của GATS. GATS cũng không cấm độc quyền của nhà nước và độc quyền của tư nhân. Ngoại lệ này tạo thành một cam kết rõ ràng từ phía các chính phủ thành viên WTO cho phép dùng quỹ công tài trợ cho các dịnh vụ trong những lĩnh vực cơ bản thuộc trách nhiệm của các

chính phủ. Trong hiệp định, các dịch vụ công được định nghĩa là các dịch vụ được cung ứng không mang tính thương mại hay cạnh tranh với các nhà cung ứng dịch vụ khác. Các dịch vụ này không chịu sự điều chỉnh của GATS, chúng không được đưa ra đàm phán, và các cam kết về mở cửa thị trường và đối xử quốc gia (tức đối xử như nhau đối với các công ty trong và ngoài nước) không được áp dụng cho các loại dịch vụ này. Theo cách tiếp cận của GATS đối với các cam kết, các nước thành viên không bị buộc phải đưa ra cam kết về tất cả các ngành dịch vụ. Một chính phủ có thể không muốn cam kết về mức độ cạnh tranh nước ngoài trong một ngành nhất định, bởi họ cho rằng đó là một chức năng cơ bản của chính phủ hoặc vì bất cứ lý do gì khác. Trong trường hợp này, các chính phủ chỉ tuân thủ những nghĩa vụ tối thiểu như đảm bảo sự minh bạch trong cách thức điều tiết ngành dịch vụ này và không được phân biệt đối xử giữa các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài với nhau. Tính minh bạch. Theo GATS, các chính phủ phải công bố tất cả các luật, quy định xác đáng và thiết lập các điểm thông tin trong các cơ quan hành chính của mình. Từ các điểm thông tin này, các công ty và chính phủ nước ngoài có thể lấy thông tin liên quan đến các qui định điều chỉnh ngành dịch vụ này hay ngành dịch vụ khác. Các nước thành viên cũng phải thông báo cho WTO tất cả những thay đổi về qui định điều chỉnh các ngành dịch vụ là đối tượng của các cam kết cụ thể. Các qui định: Khách quan và hợp lý: Do qui định trong nước chính là công cụ tác động và kiểm soát đối với thương mại dịch vụ, Hiệp định quy định chính phủ các nước phải điều tiết các ngành dịch vụ một cách hợp lý, khách quan và công bằng. Khi đưa ra một quyết định hành chính tác động đến dịch vụ thì chính phủ cũng phải lập cơ chế công minh cho phép xem xét lại quyết định này (như thông qua toà án chẳng hạn). GATS không buộc các nước phải dỡ bỏ mọi quy định trong bất cứ ngành dịch vụ nào. Các cam kết tự do hoá không làm phương hại đến quyền của các nước được ấn định những chuẩn mực về chất lượng, độ an toàn hay giá cả cũng như quyền được đưa ra các qui định nhằm theo đuổi bất cứ mục tiêu chung nào mà họ cho là phù hợp. Chẳng hạn một cam kết về đối xử quốc gia chỉ có nghĩa là các quy định được áp dụng như nhau cho các nhà cung ứng trong nước và nước ngoài. Đương nhiên là các nước vẫn có quyền đưa ra các quy định về trình độ chuyên môn của các bác sỹ hay luật sư và ấn định các chuẩn mực nhằm đảm bảo sức khoẻ và sự an toàn cho người tiêu dùng. Công nhận. Khi hai (hay nhiều) chính phủ ký các hiệp định công nhận hệ thống chất lượng của nhau (chẳng hạn trong việc cấp giấy phép hoặc chứng nhận cho các nhà cung ứng dịch vụ), thì GATS quy định rằng họ phải tạo điều kiện cho các thành viên khác được đàm phán với họ về các thoả thuận tương tự. Việc công nhận hệ thống chất lượng của các nước không được mang tính phân biệt đối xử cũng như mang tính bảo hộ trá hình. Các hiệp định phải được thông báo cho WTO. Thanh toán và chuyển tiền quốc tế: Một khi đã cam kết mở cửa một ngành dịch vụ cho cạnh tranh nước ngoài thì về nguyên tắc chính phủ không được hạn chế việc chuyển tiền ra nước ngoài dưới danh nghĩa chi trả cho các dịch vụ đã tiêu dùng (“giao dịch vãng lai”) trong ngành này. Chỉ có một trường hợp ngoại lệ duy nhất được quy định trong hiệp định đó là một nước có thể áp dụng các hạn chế khi gặp khó khăn về cán cân thanh toán, nhưng ngay cả trong trường hợp này

thì các hạn chế chỉ có thể được áp dụng tạm thời và phải tuân thủ những hạn chế và điều kiện khác. Tự do hoá từng bước: Vòng đàm phán Uruguay chỉ là bước khởi đầu. GATS quy định rằng các nước sẽ tiến hành các vòng đàm phán mới. Các vòng đàm phán này đã được khởi động từ đầu năm 2000 và từ nay chúng nằm trong chương trình đàm phán phát triển Doha. Mục tiêu chính là thúc đẩy hơn nữa tự do hoá bằng cách tăng mức độ cam kết ghi trong các danh mục. Các phụ lục: Các ngành dịch vụ không giống nhau Thương mại hàng hoá quốc tế là một khái niệm khá đơn giản: đó là một sản phẩm được vận chuyển từ nước này sang nước khác. Thương mại dịch vụ thì đa dạng hơn. Các công ty điện thoại, ngân hàng, các công ty hàng không và các văn phóng kế toán cung ứng dịch vụ của họ theo các cách rất khác nhau. Các phụ lục của GATS sẽ giúp chúng ta hiểu được đôi chút sự đa dạng này. Các quy định về di trú đối với tự nhiên nhân: Phụ lục này liên quan đến kết quả đàm phán về quyền của các cá nhân được tạm thời lưu lại một nước để cung ứng một dịch vụ. Phụ lục nêu rõ hiệp định không áp dụng cho những người đang tìm kiếm một việc làm thường xuyên cũng như không được sử dụng như một điều kiện đã được đáp ứng để xin quy chế công dân, lưu trú hoặc một công việc thường xuyên. Dịch vụ tài chính: Sự bất ổn của hệ thống ngân hàng có thể làm phương hại tới toàn bộ nền kinh tế. Theo phụ lục về dịch vụ tài chính thì các chính phủ có toàn quyền áp dụng các biện pháp phòng ngừa, chẳng hạn để bảo vệ các nhà đầu tư, người gửi tiền và người mua bảo hiểm, để đảm bảo tính thống nhất và ổn định của hệ thống tài chính. Phụ lục cũng quy định rõ hiệp định không áp dụng đối với các dịch vụ được cung cấp nhằm thực thi quyền lực của chính phủ đối với hệ thống tài chính, ví dụ như các dịch vụ do các ngân hàng trung ương cung cấp. Viễn thông: Ngành viễn thông đóng một vai trò kép, nó vừa là một ngành hoạt động kinh tế riêng biệt vừa là một thành tố của hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho các hoạt động kinh tế khác (chẳng hạn như việc chuyển tiền điện tử). Theo phụ lục này, chính phủ các nước phải đảm bảo cho các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài được sử dụng các mạng viễn thông công cộng mà không phải chịu bất cứ sự phân biệt đối xử nào. Các dịch vụ vận tải hàng không: Theo như phụ lục này quy định, các quyền không lưu và các hoạt động đi kèm với chúng không thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS. Chúng được điều chỉnh bởi các hiệp định song phương. Tuy nhiên phụ lục cũng nêu rõ GATS sẽ được áp dụng cho các dịch vụ sửa chữa và bảo trì máy bay, cho việc thương mại hoá các dịch vụ vận tải hàng không và cho các dịch vụ của hệ thống đặt vé qua mạng. Hiện nay các nước thành viên đang xem xét lại phụ lục này. Các cuộc đàm phán hiện nay GATS đã xây dựng một chương trình làm việc bao gồm đầy đủ các nội dung. Đối với một số nội dung thì các cuộc đàm phán đã được bắt đầu ngay từ năm 1995 theo quy định, sau khi GATS có hiệu lực vào tháng 1/1995. Các cuộc đàm phán nhằm tiếp tục tiến trình tự do hoá thương mại dịch vụ thế giới đã được bắt đầu vào năm 2000, song song với các công việc khác như nghiên cứu và xem xét lại các quy định.

Các cuộc đàm phán (điều 19): Các cuộc đàm phán nhằm tiếp tục tục tiến trình tự do hoá thương mại dịch vụ thế giới đã bắt đầu vào năm 2000, như GATS quy định (tại điều 19). Giai đoạn đàm phán đầu tiên đã kết thúc thành công vào tháng 3/2001, trong đó các nước thành viên đã thoả thuận được phương hướng chỉ đạo và các thể thức đàm phán. Đây là thành tố cơ bản của nhiệm vụ đàm phán. Đồng thời, các nước thành viên cũng đã xác định rõ ràng và cân bằng các mục tiêu, mức độ và cách thức đàm phán. Các nước cũng đã nhất trí một số nguyên tắc nền tảng của GATS: quyền của các nước thành viên được điều chỉnh việc cung cấp dịch vụ và thông qua các quy định mới nhằm đáp ứng những mục tiêu quốc gia; quyền được quy định rõ các ngành dịch vụ mà họ muốn mở cửa cho các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài và với những điều kiện gì; và nguyên tắc mềm dẻo có tính sống còn cần dành cho các nước đang và kém phát triển. Như vậy, các phương hướng chỉ đạo đã tính đến những mối quan tâm lợi ích chung trong các ngành quan trọng như chăm sóc y tế, giáo dục công và văn hoá. Chúng cũng nhấn mạnh tới tầm quan trọng của tự do hoá nói chung và đảm bảo rằng các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài được thực sự tiếp cận thị trường nội địa. Tuyên bố của Hội nghị bộ trưởng Đôha năm 2001 đã đưa các cuộc đàm phán này vào khuôn khổ của Chương trình đàm phán phát triển Đôha . Do đó, các cuộc đàm phán này phải được hoàn thành theo như quy định, muộn nhất là vào 1/1/1995. Từ tháng 7/2002, tiến trình đàm phán song phương về mở cửa thị trường đã được khởi động. Các cuộc đàm phán về quy định của GATS (các điều 10, 13 và 15): Các cuộc đàm phán bàn về việc soạn thảo một số quy định mới chưa có trong GATS - tức những quy định về các biện pháp tự vệ khẩn cấp, mua sắm chính phủ và trợ cấp – đã được bắt đầu vào năm 1995 và vẫn đang được tiếp tục. Đến nay, trọng tâm là các biện pháp tự vệ. Các biện pháp này tạm thời hạn chế mở cửa thị trường nhằm đối phó với sự rối loạn của thị trường. Do vậy, các cuộc đàm phán nhằm mục đích xây dựng các thủ tục và khuôn khổ mà các chính phủ phải tuân theo nếu muốn áp dụng các biện pháp này. Các cuộc đàm phán - vốn rất gay go - phải hoàn thành vào tháng 3/2004, nhưng kết quả của chúng sẽ chỉ có hiệu lực đồng thời với kết quả của các cuộc đàm phán hiện nay về dịch vụ. Các cuộc đàm phán về quy định trong nước (điều 6:4): Năm 1995 đã bắt đầu các cuộc đàm phán nhằm xây dựng khuôn khổ cho việc điều tiết trong nước, tức là các quy định luật pháp mà các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài phải tuân theo để có thể hoạt động trên một thị trường nào đó. Các cuộc đàm phán chú trọng tới những quy định và thủ tục liên quan đến việc thẩm định năng lực, tiêu chuẩn kỹ thuật và những quy định về giấy phép. Tháng 12/1998, các thành viên đã thoả thuận được về các quy tắc điều tiết trong nước đối với ngành dịch vụ kế toán. Trên cơ sở đó, các nước thành viên sẽ cố gắng soạn ra các quy định chung cho tất cả các ngành dịch vụ chuyên nghiệp và các quy định bổ sung cho từng ngành, nếu thấy cần thiết. Tất cả các quy định này sẽ được đưa vào GATS và trở thành những quy định có tính ràng buộc pháp lý sau khi các cuộc đàm phán về dịch vụ kết thúc. Ngoại lệ đối với nghĩa vụ tối huệ quốc (phụ lục của điều 2): Các cuộc đàm phán về nội dung này đã được bắt đầu vào năm 2000. Khi GATS có hiệu lực năm 1995, các nước thành viên chỉ được yêu cầu miễn áp dụng một lần duy nhất nguyên tắc tối huệ quốc giữa các đối tác thương mại. Biện pháp này được nêu rõ trong danh mục các ngoại lệ của các thành viên, trong đó chỉ rõ nguyên tắc đối xử tối huệ quốc sẽ được áp dụng cho thành viên nào và trong khoảng thời gian nào. Về nguyên tắc, các ngoại lệ không được vượt quá 10 năm. Theo như GATS quy định, tất cả

các ngoại lệ này đang được xem xét lại để xác định liệu những điều kiện lý giải ban đầu đối với các ngoại lệ này có còn tồn tại hay không . Và dù thế nào chăng nữa thì các ngoại lệ này cũng là một nội dung của các cuộc đàm phán về dịch vụ. Tự do hoá một cách “tự nguyện” (điều 19): Những nước đã tự mở cửa kể từ các cuộc đàm phán đa biên gần đây nhất muốn rằng điều này phải được tính đến trong các cuộc đàm phán về mở cửa thị trường trong lĩnh vực dịch vụ. Những phương hướng chỉ đạo và thể thức đàm phán trong khuôn khổ GATS đã được các nước thành viên thoả thuận vào tháng 3/2001. Các nước cũng kêu gọi xây dựng các tiêu chí cho phép tính đến các quyết định tự do hoá “tự nguyện” hoặc đơn phương. Các tiêu chí này cuối cùng đã được soạn thảo ngày 6/3/2003. Đối xử đặc biệt với các nước kém phát triển (điều 19): GATS đã giao nhiệm vụ cho các nước thành viên là xác định phương thức dành đối xử đặc biệt cho các nước kém phát triển trong các cuộc đàm phán (các “thể thức`` liên quan tới mức độ đối xử đặc biệt và các phương pháp đối xử). Các nước kém phát triển đã bắt đầu thảo luận từ tháng 3/2002, khi họ thông báo cho WTO một cách không chính thức một số yếu tố chính mà họ đề nghị đưa vào các thể thức. Sau các cuộc thảo luận tiếp đó, các nước kém phát triển đã đưa ra một dự thảo văn kiện chính thức vào đầu tháng 5/2003. Các nước thành viên đang tiếp tục thảo luận về dự thảo này. Đánh giá thương mại dịch vụ (điều 19): Công tác chuẩn bị cho nội dung này đã bắt đầu từ đầu năm 1999. GATS quy định rằng các nước thành viên phải tiến hành đánh giá thương mại dịch vụ, kể cả mục tiêu đã đề ra là tăng cường sự tham gia của các nước đang phát triển vào thương mại dịch vụ. Các phương hướng chỉ đạo về đàm phán đã tái khẳng định điều lại này và nêu rõ các cuộc đàm phán sẽ được điều chỉnh theo kết quả đánh giá. Nhìn chung, các nước thành viên thừa nhận do thiếu số liệu thống kê và do các vấn đề về phương pháp luận cho nên không thể tiến hành đánh giá dựa trên các số liệu đầy đủ. Tuy vậy, các nước vẫn tiếp tục thảo luận trên cơ sở những tài liệu do Ban thư ký cung cấp. Các dịch vụ vận tải hàng không: Hiện nay, một phần lớn ngành vận tải hàng không - gồm quyền không lưu và các dịch vụ đi kèm quyền không lưu - đang nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của GATS. Tuy vậy, GATS cũng quy định rằng các nước thành viên phải xem xét tình hình này. Quá trình xem xét đã được bắt đầu từ năm 2000 nhằm xác định xem liệu có nên đưa thêm một số dịch vụ vận tải hàng không khác vào phạm vi điều chỉnh của GATS hay không. Quá trình này có thể sẽ chuyển thành một cuộc đàm phán thực chất và dẫn tới sửa đổi GATS bởi vì phạm vi điều chỉnh của GATS sẽ được mở rộng ra một số ngành dịch vụ mới và danh mục cam kết của mỗi quốc gia sẽ được bổ sung thêm một số cam kết cụ thể về các ngành dịch vụ mới này.

7. Sở hữu trí tuệ: bảo hộ và tôn trọng các quyền sở hữu trí tuệ Hiệp định của WTO về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) được đàm phán trong Vòng Uruguay từ năm 1986 đến năm 1994. Với hiệp định, lần đầu tiên những qui định về sở hữu trí tuệ được đưa vào hệ thống thương mại đa biên.

Các quyền sở hữu trí tuệ Các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh

của TRIPS • • • • • • • Bản quyền và quyền liên quan Nhãn hiệu hàng hoá và thương hiệu Chỉ dẫn địa lý Bản vẽ và kiểu dáng công nghiệp Bằng sáng chế Sơ đồ bố trí mạch tích hợp Bảo vệ thông tin bí mật

Khởi nguồn: sự cần thiết hội nhập vào hệ thống thương mại dựa trên luật lệ Các ý tưởng và tri thức đang chiếm phần ngày càng quan trọng trong hệ thống thương mại. Giá trị của các loại dược phẩm mới và các sản phẩm công nghệ cao khác nằm ở nỗ lực phát minh, cải tiến, tìm tòi, chế tạo và thử nghiệm cho phép sản xuất chúng. Phim ảnh, băng đĩa nhạc, sách báo, phần mềm tin học và các dịch vụ trên mạng được mua bán nhờ vào khối lượng thông tin và tính sáng tạo đã được đưa vào các sản phẩm này, chứ không phải là nhờ các chất liệu nhựa, giấy, hay kim loại được sử dụng để sản xuất ra chúng. Nhiều sản phẩm trước kia còn được xếp vào loại hàng hoá có hàm lượng công nghệ thấp thì nay lại có giá trị cao nhờ vào những phát minh và thiết kế: ví dụ như quần áo mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc các giống cây trồng mới. Các nhà phát minh sáng chế có thể có quyền không cho người khác sử dụng các phát minh, bản vẽ, mẫu mã hay bất cứ sáng tạo nào khác của mình. Họ có thể dùng quyền đó để thương lượng khoản thù lao mà họ được hưởng trong trường hợp người thứ ba muốn sử dụng các phát minh, sáng chế của họ. Các quyền này được gọi là “quyền sở hữu trí tuệ”. Chúng có nhiều hình thức: bản quyền, chẳng hạn đối với các ấn phẩm sách báo, phim và tranh ảnh; bằng phát minh; nhãn hiệu hàng hoá hoặc thương phẩm đối với tên hiệu và lôgô sản phẩm, v.v. Chính phủ và quốc hội các nước đã trao quyền này cho các nhà phát minh sáng chế để khuyến khích họ đưa ra nhiều ý tưởng phục vụ lợi ích của toàn xã hội. Mức độ bảo vệ và tôn trọng các quyền này ở các nước rất khác nhau; do sở hữu trí tuệ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong thương mại nên những khác biệt đó đang trở thành nguyên nhân gây căng thẳng trong quan hệ kinh tế quốc tế. Việc xây dựng các quy định thương mại mới trên phạm vi toàn thế giới nhằm điều chỉnh quyền sở hữu trí tuệ đã trở thành một phương tiện giúp củng cố trật tự, khả năng dự báo, cũng như giải quyết tranh chấp một cách có hệ thống hơn. Vòng đàm phán Uruguay đã cho phép đạt được kết quả này. Hiệp định TRIPS của WTO có mục tiêu là giảm bớt sự khác biệt trong cách thức bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên thế giới và đưa ra các quy định quốc tế chung điều chỉnh sự bảo vệ này. Hiệp định ấn định các mức độ bảo vệ tối thiểu mà mỗi quốc gia thành viên phải đảm bảo cho quyền sở hữu trí tuệ của các quốc gia thành viên khác. Trên cơ sở đó, hiệp định tạo sự cân bằng giữa lợi ích lâu dài và chi phí ngắn hạn đối với xã hội. Do việc bảo vệ sở hữu trí tuệ sẽ khuyến khích các phát minh sáng chế cho nên xã hội sẽ được hưởng lợi ích lâu dài, nhất là khi hết thời hạn bảo vệ, các phát minh sáng chế được chuyển sang cho Nhà nước quản lý. Chính phủ các nước được phép giảm bớt các chi phí ngắn hạn bằng nhiều cách khác nhau, ví dụ như để đối phó với các vấn đề y tế công cộng. Hơn nữa,

hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO từ nay cũng cho phép giải quyết các tranh chấp thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Các quyền sở hữu khác nhau Bản quyền , các bằng phát minh sáng chế, các nhãn hiệu hàng hoá và thương hiệu, v.v., được áp dụng cho các loại hình phát minh sáng chế khác nhau. Chúng cũng được điều chỉnh khác nhau. Các bằng phát minh sáng chế, các bản vẽ và kiểu dáng công nghiệp, các sơ đồ bố trí các mạch tích hợp, các chỉ dẫn địa lý và các nhãn hiệu hàng hoá hay thương hiệu đều phải được đăng ký nếu muốn được bảo hộ. Để đăng ký cần mô tả rõ điều cần bảo hộ - phát minh, bản vẽ hay mẫu mã, nhãn hiệu, lô gô... Chi tiết mô tả cần phải được công bố. Bản quyền và các bí mật thương mại mặc nhiên được bảo vệ với điều kiện cụ thể. Chúng không cần phải được đăng ký, cho nên không cần phải công bố chẳng hạn như cách thức viết phần mềm vi tính được bảo vệ bản quyền tác giả. Các điều kiện khác của bảo vệ sở hữu trí tuệ có thể không giống nhau, chẳng hạn như đối với thời hạn bảo vệ.

Hiệp định đề cập tới 5 nội dung chính: · · · · · Làm thế nào để các nguyên tắc cơ bản của hệ thống thương mại và các hiệp định quốc tế khác về sở hữu trí tuệ được áp dụng; Làm thế nào để bảo đảm mức độ bảo hộ thích hợp đối với quyền sở hữu trí tuệ; Làm thế nào để các nước đảm bảo cho các quyền này được tôn trọng một cách thoả đáng trên lãnh thổ của mình; Làm thế nào để giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ giữa các nước thành viên WTO Các thoả thuận đặc biệt trong thời gian chuyển tiếp được áp dụng trong giai đoạn triển khai hệ thống mới.

Các nguyên tắc cơ bản: đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc và bảo hộ cân bằng Cũng như trong các hiệp định GATT và GATS, Hiệp định TRIPS dựa trên một số nguyên tắc cơ bản. Và cũng giống như trong hai hiệp định trên, TRIPS nhấn mạnh tới nguyên tắc không phân biệt đối xử: đối xử quốc gia (bình đẳng đối xử giữa người trong nước và người nước ngoài) và đối xử tối huệ quốc (bình đẳng đối xử giữa kiều dân của tất cả các nước thành viên khác của WTO). Đối xử quốc gia cũng là một nguyên tắc mấu chốt đối với các hiệp định khác về sở hữu trí tuệ được ký kết ngoài khuôn khổ WTO. Hiệp định TRIPS còn đưa ra một nguyên tắc quan trọng khác, đó là bảo vệ sở hữu trí tuệ phải góp phần cải tiến kỹ thuật và chuyển giao công nghệ. Bảo vệ sở hữu trí tuệ phải đem lại lợi ích cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng, góp phần gia tăng sự no ấm về kinh tế và xã hội. Bảo hộ sở hữu trí tuệ như thế nào : một số nguyên tắc cơ bản chung

Phần hai của Hiệp định TRIPS đề cập tới các quyền hữu trí tuệ khác nhau và cách thức bảo vệ. Tức là làm sao để các quy định phù hợp về bảo vệ được tất cả các nước thành viên WTO áp dụng. Ở đây, nền tảng của hiệp định là những nghĩa vụ được nêu trong các hiệp định quốc tế ký kết trong khuôn khổ Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, trước khi WTO ra đời: · · Công ước Paris về bảo vệ sở hữu công nghiệp (văn bằng, bản vẽ công nghiệp, v.v.) Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật (Bản quyền tác giả)

Một số lĩnh vực không thuộc phạm vi điều chỉnh của hai công ước này. Trong một số trường hợp, các quy định về bảo vệ sở hữu trí tuệ bị coi là chưa đầy đủ. Hiệp định TRIPS cho phép bổ sung thêm một số lượng lớn quy định mới, chặt chẽ hơn. Bản quyền tác giả Hiệp định TRIPS quy định các chương trình máy tính sẽ được bảo vệ như các tác phẩm văn học theo đúng Công ước Berne và nêu rõ cách thức các cơ sở dữ liệu cần phải được bảo vệ như thế nào. Hiệp định cũng mở rộng phạm vi điều chỉnh của các quy định quốc tế về bản quyền tác giả đối với quyền thuê lại. Tác giả của các chương trình máy tính và các nhà thu âm phải có quyền cấm cho công chúng thuê các tác phẩm của họ. Độc quyền tương tự cũng được dành cho các tác phẩm điện ảnh. Việc kinh doanh cho thuê đã khiến các tác phẩm điện ảnh bị sao chép rất nhiều, khiến người nắm giữ quyền tác giả không thu được hết lợi nhuận mà mình đáng được hưởng. Hiệp định cũng quy định rằng người phiên dịch hoặc người biểu diễn phải có quyền ngăn không cho thu âm, sao chép và phổ biến rộng rãi các hoạt động của họ nếu không được phép ít nhất là trong vòng 50 năm. Các nhà sản xuất băng đĩa cũng phải có quyền ngăn không cho sao lại các sản phẩm của họ nếu không được phép trong vòng 50 năm. Nhãn hiệu hàng hoá hoặc thương hiệu Hiệp định chỉ ra đâu là các loại dấu hiệu cần được bảo vệ như là nhãn hiệu hàng hoá hoặc thương hiệu và đâu là quyền tối thiểu cần phải dành cho chủ sở hữu. Hiệp định quy định rằng các nhãn hiệu dịch vụ phải được bảo vệ như nhãn hiệu hàng hoá. Các nhãn hiệu nổi tiếng ở nước này hay nước khác cần được bảo vệ thêm. Chỉ dẫn địa lý Tên một địa danh đôi khi được sử dụng để nhận dạng một sản phẩm. “Chỉ dẫn địa lý” này không những chỉ ra nơi sản phẩm được sản xuất mà đặc biệt nó còn chỉ ra các đặc tính của sản phẩm có được từ nguồn gốc của nó. Các tên “Sâm-panh”, “scốt”, “te-ki-la” và “rốc-cơ-fo” là những ví dụ mà ai cũng biết. Những nhà sản xuất rượu vang và rượu mạnh đặc biệt coi trọng việc sử dụng tên địa danh để nhận dạng các sản phẩm này. Tên địa danh được một số điều khoản đặc biệt của hiệp định TRIPS điều chỉnh. Tuy vậy đây cũng là một vấn đề quan trọng đối với các loại hàng hoá khác. Việc sử dụng tên một địa danh khi sản phẩm được sản xuất ở nơi khác hoặc không có được những tính năng vốn có của sản phẩm sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và dẫn tới cạnh tranh không lành mạnh. Hiệp định TRIPS quy định rằng các nước thành viên phải ngăn cấm việc sử dụng bừa bãi các tên địa danh.

Đối với rượu vang và rượu mạnh, Hiệp định quy định mức độ bảo vệ cao hơn, tức là ngay cả khi không có nguy cơ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Hiệp định cho phép một số ngoại lệ, đặc biệt khi tên địa danh đã được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu sản phẩm hoặc thương hiệu hoặc khi nó đã trở thành tên chung. Ví dụ từ “cheddar” ngày nay được dùng để chỉ một loại pho-mát đặc biệt không nhất thiết phải được sản xuất ở vùng Cheddar thuộc nước Anh. Tuy nhiên, nước nào muốn nêu ngoại lệ vì những lý do này đều phải tiến hành đàm phán với những nước cũng muốn bảo hộ chỉ dẫn địa lý đó. Hiệp định quy định sẽ có các cuộc đàm phán mới tại WTO nhằm tạo lập một hệ thống đa phương về thông báo và đăng ký các chỉ dẫn địa lý đối với rượu vang. Các cuộc đàm phán này là một phần của chương trình Đôha về phát triển và bao gồm cả rượu mạnh. Hiện WTO cũng đang thảo luận xem liệu có nên đàm phán mở rộng mức độ bảo hộ cao này sang các sản phẩm khác hay không. Bản vẽ và mãu mã công nghiệp Theo Hiệp định TRIPS, các bản vẽ và mẫu mã công nghiệp phải được bảo hộ ít nhất là trong vòng 10 năm. Chủ sở hữu các bản vẽ được bảo hộ phải có quyền ngăn cấm việc xản xuất, bán hoặc nhập khẩu các sản phẩm có mang hoặc có chứa hình vẽ giống với hình vẽ đã được bảo hộ. Bằng phát minh sáng chế Hiệp định quy định các phát minh có thể được bảo vệ thông qua bằng phát minh trong vòng ít nhất 20 năm. Cả sản phẩm lẫn phương thức sản xuất đều được bảo vệ trong hầu hết các lĩnh vực công nghệ. Chính phủ các nước có thể từ chối cấp bằng phát minh nếu việc khai thác kinh doanh chúng bị cấm vì vi phạm trật tự công cộng hoặc đạo đức. Họ cũng có thể không cấp bằng cho các phương pháp chẩn đoán, điều trị và phẫu thuật, các loại thực vật và động vật (không phải là các vi sinh vật), và các phương pháp sinh học sản xuất giống cây trồng và vật nuôi (không phải là các phương pháp vi sinh). Tuy nhiên, các giống cây phải được bảo vệ bằng các bằng phát minh hoặc bằng một hệ thống đặc biệt (như hệ thống bảo vệ các quyền của người được cấp phép được quy định trong các công ước của Liên minh quốc tế bảo vệ các phát minh về giống cây trồng). Hiệp định đề ra các quyền tối thiểu dành cho người sở hữu bằng phát minh. Tuy nhiên hiệp định cũng qui định một số ngoại lệ. Có thể xảy ra trường hợp người sở hữu bằng phát minh lạm dụng các quyền của mình, như không cung ứng sản phẩm cho thị trường. Trong trường hợp đó, theo Hiệp định, chính phủ các nước có thể cấp “giấy phép bắt buộc” cho phép một đối thủ cạnh tranh được sản xuất sản phẩm này hoặc được phép sử dụng quy trình sản xuất đã được bảo vệ. Tuy nhiên, chính phủ các nước cũng đồng thời phải đáp ứng một số điều kiện; qui định này nhằm mục đích bảo vệ lợi ích chính đáng của người giữ bằng sáng chế. Nếu đó là bằng sáng chế về quy trình sản xuất thì các sản phẩm được sản xuất trực tiếp bằng qui trình này cũng được bảo vệ. Trong một số trường hợp, người vi phạm có thể bị buộc phải chứng minh trước toà rằng họ không sử dụng quy trình đã được cấp bằng sáng chế. Từ bấy lâu nay, đối với việc bảo vệ các dược phẩm đã được cấp bằng sáng chế, chúng ta vẫn tự hỏi làm thể nào để vừa không cản trở các nước nghèo tiếp cận với các loại thuốc chữa bệnh, vừa duy trì được vai trò của các bằng sáng chế là khuyến khích hoạt động nghiên cứu - phát

triển trong ngành dược phẩm. Một số quy định mềm dẻo, như khả năng nhượng lại « giấy phép bắt buộc », đã được đưa vào hiệp định TRIPS. Tuy nhiên, một số chính phủ đang đặt ra câu hỏi cần phải diễn giải các quy định này như thế nào, và làm thế nào để bảo đảm quyền sử dụng các quy định này. Vấn đề này đã được giải quyết phần lớn khi các Bộ trưởng các nước thành viên WTO thông qua một tuyên bố đặc biệt tại Hội nghị Đôha vào tháng 11/2001. Các Bộ trưởng nhất trí rằng Hiệp định TRIPS sẽ không ngăn cản và không được ngăn cản các nước thành viên áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khoẻ cộng đồng. Họ nhấn mạnh các nước có thể sử dụng các quy định mềm dẻo trong Hiệp định TRIPS và nhất trí tiếp tục miễn cho các nước kém phát triển phải bảo vệ các dược phẩm đã được cấp bằng sáng chế cho tới năm 2016. Đối với vấn đề còn tồn đọng, các Bộ trưởng cũng giao cho Hội đồng TRIPS làm sao để các qui định trở nên mềm dẻo hơn nữa nhằm giúp các nước không có khả năng tự sản xuất dược phẩm có thể nhập khẩu thuốc được sản xuất theo « giấy phép bắt buộc ». Sơ đồ bố trí mạch tích hợp Hiệp định TRIPS quy định việc bảo vệ sơ đồ bố trí mạch tích hợp trên cơ sở hiệp định Washington về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích hợp (Hiệp định được thông qua trong khuôn khổ Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới). Tuy đã được thông qua vào năm 1989 nhưng hiệp định này vẫn chưa có hiệu lực. Hiệp định TRIPS bổ sung thêm một số điều khoản, chẳng hạn như mạch tích hợp phải được bảo vệ ít nhất là 10 năm. Thông tin mật và bí quyết thương mại Bí quyết thương mại và các loại “thông tin mật” khác có giá trị thương mại phải được bảo vệ nhằm ngăn chặn việc lạm dụng lòng tin và các hành vi khác trái với nguyên tắc làm ăn trung thực. Tuy vậy cũng cần phải đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm bảo vệ bí mật của các thông tin này. Nếu được cung cấp các kết quả thử nghiệm trong quá trình cấp phép dược phẩm hoặc sản phẩm hoá học phục vụ nông nghiệp thì chính phủ phải bảo vệ các kết quả này nhằm ngăn ngừa việc khai thác thương mại bất hợp pháp. Cuộc chiến chống hành vi phản cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ Chủ sở hữu quyền tác giả, văn bằng hoặc bất cứ quyền sở hữu trí tuệ nào khác đều có thể cho phép một người khác sản xuất hay sao chép nhãn hiệu hàng hoá hoặc thương hiệu, tác phẩm, phát minh, bản vẽ hoặc các mẫu mã được bảo hộ. Hiệp định công nhận rằng trong số các điều kiện của hợp đồng chuyển giao, người chủ sở hữu có thể hạn chế cạnh tranh hoặc cản trở việc chuyển giao công nghệ. Hiệp định quy định chính phủ các nước, trong một số điều kiện nhất định, có quyền áp dụng các biện pháp nhằm ngăn ngừa hành vi phản cạnh tranh và lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực nhượng bản quyền. Hiệp định cũng quy định chính phủ các nước phải sẵn sàng tham khảo nhau nhằm chống lại các hành vi này. Phương thức đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ: những quy định chặt chẽ nhưng công bằng Có được các luật về sở hữu trí tuệ là chưa đủ, các nước còn phải làm sao để luật lệ được tuân thủ chặt chẽ. Vấn đề này đã được đề cập tới trong phần ba của hiệp định TRIPS, trong đó quy định rằng chính phủ các nước phải làm sao để luật pháp nước mình bảo vệ được quyền sở hữu trí tuệ và các trường hợp vi phạm phải được trừng trị thích đáng. Các thủ tục áp dụng phải hợp pháp, công bằng và không được tỏ ra phức tạp và tốn kém một cách không cần thiết. Các thủ tục

này không được đề ra thời hạn hoặc gây chậm trễ một cách vô lý. Những người có liên quan phải được phép yêu cầu toà án xem xét lại một quyết định hành chính hoặc khiếu nại một bản án của toà cấp dưới. Hiệp định mô tả chi tiết các công cụ đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là các quy định liên quan tới việc thu thập chứng cứ, các biện pháp tạm thời, mệnh lệnh của toà án, các khoản bồi thường thiệt hại và các biện pháp xử phạt khác. Hiệp định quy định trong một số điều kiện nhất định, toà án phải có quyền ra lệnh đưa ra khỏi hệ thống phân phối hoặc tiêu huỷ các loại hàng giả, hàng nhái. Các hành vi cố ý làm giả, nhái nhãn mác hoặc thương hiệu trong kinh doanh, gây phương hại tới quyền tác giả, phải bị coi là hành vi phạm tội mang tính hình sự. Chính phủ các nước phải làm sao để người nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ được các cơ quan hải quan hỗ trợ nhằm ngăn không cho hàng giả hoặc hàng nhái được nhập khẩu vào lãnh thổ quốc gia. Chuyển giao công nghệ Các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, cho rằng chuyển giao công nghệ là một phần của thị trường, trong đó họ thoả thuận bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ. Hiệp định TRIPS có một số điều khoản quy định về vấn đề này. Chẳng hạn, hiệp định yêu cầu chính phủ các nước phát triển khuyến khích các doanh nghiệp nước mình chuyển giao công nghệ cho các nước kém phát triển. Các điều khoản chuyển tiếp: thời hạn 1 năm, 5 năm, 11 năm hoặc hơn thế Khi các hiệp định của WTO bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1/1/1995, các nước phát triển có thời hạn một năm để điều chỉnh hệ thống luật pháp và thực tiễn của mình cho phù hợp với Hiệp định TRIPS. Các nước đang phát triển và các nước đang chuyển đổi (với một số điều kiện) có 5 năm để thực hiện việc điều chỉnh này, tức là tới năm 2000. Còn đối với các nước kém phát triển, thời hạn này là 11 năm, tức là tới năm 2006; riêng các văn bằng bảo hộ dược phẩm, thời hạn này được kéo dài tới năm 2016. Khi hiệp định TRIPS bắt đầu có hiệu lực (1/1/1995), những nước đang phát triển nào chưa có quy định bảo vệ bằng phát minh sáng chế trong một lĩnh vực công nghệ nào đó thì có thời hạn 10 năm để thông qua các quy định như vậy. Tuy nhiên, đối với dược phẩm và hoá chất dùng trong nông nghiệp, các nước này phải chấp nhận các đơn xin cấp bằng sáng chế ngay từ khi bắt đầu giai đoạn chuyển tiếp dù rằng văn bằng sẽ chỉ được cấp vào cuối giai đoạn này. Nếu chính phủ một nước đã cho phép một dược phẩm hoặc hoá chất dùng trong nông nghiệp được lưu thông trên thị trường trong giai đoạn chuyển tiếp thì nước đó, với một số điều kiện nhất định, phải cấp giấy phép độc quyền khai thác sản phẩm đó trong thời gian 5 năm hoặc cho đến khi sản phẩm đó được cấp bằng sáng chế (nếu bằng sáng chế được cấp trong khoảng thời gian này). Trừ một vài ngoại lệ, nguyên tắc chung là các nghĩa vụ có trong hiệp định phải được áp dụng cho tất cả các quyền sở hữu trí tuệ, cũ cũng như mới. 8. Các biện pháp chống phá giá, trợ cấp, tự vệ: đối phó với tình huống không lường trước được Xác định mức thuế quan « trần » và áp dụng chúng một cách bình đẳng giữa tất cả các đối tác thương mại (đối xử tối huệ quốc) giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động của thương mại hàng hoá. Các hiệp định của WTO khẳng định những nguyên tắc này nhưng chúng cũng đồng thời cho phép có một số ngoại lệ trong hoàn cảnh nhất định; đặc biệt là trong ba trường hợp sau:

· ·

Các biện pháp chống bán phá giá (bán hạ giá một cách không lành mạnh) Trợ cấp và thuế “đối kháng” đặc biệt nhằm vô hiệu hoá tác dụng của trợ cấp

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời hạn chế nhập khẩu nhằm “cứu vãn” các ngành sản xuất trong nước. Các biện pháp chống bán phá giá Nếu một doanh nghiệp xuất khẩu một sản phẩm với mức giá thấp hơn mức giá mà doanh nghiệp đó áp dụng trên thị trường nội địa thì người ta gọi đó là phương thức bán “phá giá”. Liệu đó có phải là một kiểu cạnh tranh không lành mạnh hay không? Quan điểm của các nước rất khác nhau về vấn đề này, nhưng chính phủ nhiều nước đang đưa ra những biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ các ngành sản xuất trong nước của mình. Hiệp định của WTO về chống phá giá không nêu quan điểm về vấn đề này. Hiệp định chủ yếu nhằm xác định khi nào thì các nước có thể và không thể có biện pháp trả đũa hành vi phá giá; hiệp định đề ra các quy định điều chỉnh các biện pháp chống phá giá; hiệp định thường được gọi là “Hiệp định chống phá giá”. (Cách tiếp cận này chỉ quan tâm tới biện pháp trả đũa của các nước đối với hành vi phá giá và như vậy, khác hẳn với cách tiếp cận của Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng). Hiệp định này được gọi là gì? Hiệp định về việc triển khai điều VI (6) của Hiệp định chung về thương mại và thuế quan năm 1994

Định nghĩa pháp lý được nêu rất cụ thể trong hiệp định, nhưng vắn tắt, chúng ta có thể nói rằng Hiệp định của WTO về chống phá giá cho phép chính phủ các nước có biện pháp chống bán phá giá khi ngành sản xuất trong nước thực sự bị thiệt hại (thiệt hại “nhiều”) do việc bán phá giá. Muốn vậy, chính phủ nước có liên quan phải chứng minh được là có hành vi bán phá giá, tính được quy mô bán phá giá (giá xuất khẩu thấp hơn giá lưu hành trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu như thế nào) và chứng minh được rằng việc bán phá giá đang gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại. GATT (điều 6) cho phép các nước thành viên áp dụng các biện pháp chống phá giá. Hiệp định về chống phá giá nêu một cách rõ ràng và cụ thể về điều khoản này cũng như về hai hiệp định được áp dụng đồng thời. Hai hiệp định này đều cho phép các nước có những biện pháp mà bình thường bị coi là đi ngược lại các nguyên tắc của GATT, tức áp dụng mức thuế quan « trần » và không phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại. Biện pháp chống phá giá thường là đánh thuế quan bổ sung lên sản phẩm bị coi là bán phá giá nhằm đẩy giá của sản phẩm đó ngang bằng với “giá trị thông thường” hoặc nhằm chấm dứt thiệt hại mà ngành sản xuất của nước nhập khẩu phải chịu. Các nước có thể áp dụng nhiều phương pháp tính toán khác nhau để biết liệu một sản phẩm bị phá giá nhiều hay ít. Hiệp định chỉ cho phép có 3 phương pháp tính toán “giá trị thông thường” của một sản phẩm, phương pháp chính dựa trên mức giá được áp dung trên thị trường của nước xuất khẩu. Nếu phương pháp này không áp dụng được thì có thể sử dụng 2 cách sau: hoặc dựa trên mức giá mà nhà xuất khẩu áp dụng tại một nước khác; hoặc tính mức giá theo chi

phí sản xuất, các chi phí khác và mức lợi nhuận thông thường của nhà xuất khẩu. Hiệp định cũng quy định rõ làm thế nào để so sánh một cách công bằng mức giá của nhà xuất khẩu với mức giá có thể được coi là bình thường. Nếu chỉ tính mức bán phá giá của một sản phẩm thôi thì chưa đủ. Một biện pháp chống phá giá chỉ được áp dụng nếu việc phá giá gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất của nước nhập khẩu. Do đó, trước khi áp dụng biện pháp chống phá giá, nước nhập khẩu phải tiến hành điều tra kỹ càng, phù hợp với những quy định cụ thể. Cuộc điều tra phải cho phép đánh giá được tất cả các yếu tố kinh tế cần thiết có ảnh hưởng tới tình hình của ngành sản xuất bị thiệt hại. Nếu điều tra cho thấy có hiện tượng bán phá giá và ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại thì doanh nghiệp xuất khẩu có thể cam kết nâng giá bán của mình lên mức thoả thuận để tránh phải chịu thuế chống phá giá khi đưa hàng vào nước nhập khẩu. Hiệp định quy định chi tiết các thủ tục liên quan tới việc khởi kiện việc bán phá giá, cách thức tiến hành điều tra và những điều kiện phải tuân thủ nhằm đảm bảo cho tất cả các bên liên quan quyền được đưa bằng chứng có lợi cho mình. Các biện pháp chống phá giá phải chấm dứt sau 5 năm kể từ ngày đưa vào áp dụng, trừ phi có một cuộc điều tra khác chứng minh rằng việc bãi bỏ biện pháp này có thể gây ra thiệt hại. Các cuộc điều tra chống phá giá phải chấm dứt ngay lập tức nếu cơ quan có thẩm quyền xác định được rằng mức bán phá giá là quá nhỏ (tức dưới 2% giá xuất). Các điều kiện khác cũng được nêu ra trong Hiệp định. Ví dụ, cơ quan có thẩm quyền cũng phải chấm dứt điều tra nếu hàng hoá nhập khẩu được bán phá giá với số lượng không đáng kể (tức nếu lượng hàng xuất khẩu bán phá giá của một nước thấp hơn 3% tổng giá trị nhập khẩu của sản phẩm đó; tuy nhiên các cuộc điều tra có thể được tiếp tục nếu tổng lượng hàng xuất khẩu bán phá giá của những nước thuộc diện này chiếm ít nhất 7% tổng giá trị nhập khẩu). « Thuế chống bán phá giá - Thuế đối kháng »?

Chúng ta thường gộp 2 khái niệm thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng làm một, nhưng giữa hai khái niệm này có những khác biệt cơ bản. Hành vi bán phá giá và trợ cấp – cũng như các biện pháp chống phá giá và đối kháng – có một số điểm chung. Tại nhiều nước, hai vấn đề này có khi do cùng một văn bản luật điều chỉnh, với những thủ tục giống hệt nhau và do cùng một cơ quan điều tra. Đôi khi, hai uỷ ban của WTO về các vấn đề này cũng tiến hành họp chung. Những biện pháp chống bán phá giá và trợ cấp thường là đánh thuế đặc biệt vào hàng nhập khẩu để bù đắp (thuế đối kháng trong trường hợp trợ cấp). Thuế này được đánh vào hàng hoá đến từ một số nước nhất định và như vậy là trái với các nguyên tắc của GATT (xác định mức thuế « trần » và đối xử công bằng giữa tất cả các đối tác thương mại). Cả hai hiệp định cùng quy định chỉ có một trường hợp duy nhất không phải chịu các biện pháp chống bán phá giá. Cả hai cũng quy định rằng trước khi đánh thuế, nước nhập khẩu phải tiến hành điều tra chi tiết để chứng minh một cách hợp lý rằng ngành sản xuất trong nước phải chịu thiệt hại do các hành vi phá giá hoặc trợ cấp. Tuy vậy cũng có những khác biệt căn bản giữa hai hiệp định này. Phá giá là hành vi của một doanh nghiệp. Trong khi đó trợ cấp là hành vi của chính phủ hoặc của

một cơ quan của chính phủ trực tiếp rót trợ cấp hay buộc các doanh nghiệp phải trợ cấp cho một số khách hàng. Vậy mà, WTO lại là một tổ chức có thành viên là các quốc gia và chính phủ. Đối tượng của WTO không phải là các doanh nghiệp và WTO không thể điều chỉnh hoạt động của họ, về bán phá giá chẳng hạn. Hiệp định chống phá giá do đó chỉ nhằm vào các biện pháp mà chính phủ các nước thành viên áp dụng để chống phá giá. Trong trường hợp trợ cấp, chính phủ các nước can thiệp từ cả hai phía : họ trợ cấp và họ chống trợ cấp của các chính phủ khác. Hiệp định về trợ cấp do đó điều chỉnh cả hành vi trợ cấp và các biện pháp chống trợ cấp. Hiệp định quy định rằng các nước thành viên phải báo cáo nhanh chóng và chi tiết tất cả các biện pháp phá giá tạm thời hoặc lâu dài lên Uỷ ban về các hành vi bán phá giá. Các nước cũng phải gửi báo cáo mỗi năm hai lần về tất cả các cuộc điều tra chống phá giá. Trong trường hợp có tranh chấp, các nước thành viên được khuyến khích tiến hành tham vấn lẫn nhau. Họ cũng có thể sử dụng qui trình giải quyết tranh chấp của WTO. Trợ cấp và các biện pháp đối kháng Hiệp định này có chức năng kép : thiết lập kỷ cương đối với trợ cấp của các quốc gia, và quy định các biện pháp mà các nước có thể áp dụng nhằm bù đắp các hậu quả của trợ cấp. Hiệp định quy định rằng một nước có thể sử dụng thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO để đòi nước khác phải chấm dứt trợ cấp hoặc loại bỏ những hệ quả bất lợi của trợ cấp. Nước này cũng có thể tự mở điều tra và trên cơ sở đó, có thể áp đặt một mức thuế bổ sung (được gọi là « thuế đối kháng ») đối với hàng nhập khẩu được trợ cấp mà nước nhập khẩu cho rằng đã gây thiệt hại cho ngành sản xuất nước mình. Hiệp định đưa ra định nghĩa về trợ cấp. Hiệp định cũng định nghĩa khái niệm trợ cấp « chuyên biệt », tức là trợ cấp dành cho một doanh nghiệp, một ngành sản xuất, một nhóm các doanh nghiệp hay một nhóm các ngành sản xuất của nước trợ cấp. Các biện pháp chế tài của hiệp định này chỉ áp dụng cho các loại trợ cấp chuyên biệt, có thể là trợ cấp trong nước hoặc cho xuất khẩu. Hiệp định này được gọi là gì? Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng Hiệp định xác định hai loại trợ cấp: trợ cấp bị cấm và những trợ cấp có thể bị kiện. Ban đầu, còn có loại thứ ba : đó là các trợ cấp không bị kiện. Loại trợ cấp thứ ba đã tồn tại trong vòng 5 năm, tới ngày 31/12/1999, và không được gia hạn. Hiệp định được áp dụng cho cả sản phẩm nông nghiệp lẫn công nghiệp, trừ những trường hợp mà trợ cấp được phép chiểu theo “điều khoản hoà hoãn” của Hiệp định về nông nghiệp (điều khoản này sẽ hết hiệu lực vào năm 2003). • Các trợ cấp bị cấm: Đó là các khoản trợ cấp có kèm điều kiện buộc người hưởng trợ cấp phải đạt được một số mục tiêu về xuất khẩu hoặc ưu tiên sử dụng hàng sản xuất trong nước hơn là hàng nhập khẩu. Trợ cấp loại này bị cấm vì chúng rõ ràng được sử dụng để bóp méo cạnh tranh trong thương mại quốc tế và do đó có nguy cơ gây hại cho thương mại của các nước khác. Chúng có thể bị kiện trong khuôn khổ thủ tục giải quyết tranh chấp nhanh của WTO. Nếu cơ quan giải quyết tranh chấp đi đến kết luận rằng đây

là một loại trợ cấp bị cấm thì nước áp dụng phải ngừng ngay trợ cấp nếu không sẽ phải chịu các biện pháp trả đũa của bên nguyên. Nếu nhà sản xuất trong nước bị thiệt hại do hàng nhập khẩu được trợ cấp, thì nước nhập khẩu có thể áp dụng thuế đối kháng. • Các trợ cấp có thể bị kiện: Ở đây, nước đệ đơn kiện phải chúng minh được rằng loại trợ cấp này có hậu quả xấu đối với lợi ích của mình. Nếu không loại trợ cấp này vẫn được cho phép. Hiệp định nêu ra ba loại thiệt hại có thể có. Các khoản trợ cấp của một nước có thể gây ảnh hưởng tới ngành sản xuất trong nước của một nước khác. Chúng có thể gây thiệt hại cho các nhà xuất khẩu của một nước khác nếu hai nước đang cạnh tranh trên thị trường một nước thứ ba. Cuối cùng, trợ cấp của một nước có thể gây thiệt hại cho nhà xuất khẩu đang cạnh tranh trên thị trường nội địa của nước đó. Nếu cơ quan giải quyết tranh chấp xác định được rằng khoản trợ cấp thực sự gây ra hậu quả xấu, thì nước trợ cấp phải chấm dứt trợ cấp hoặc khắc phục những hậu quả xấu này. Ngay cả trong cả trường hợp này, nếu nhà sản xuất trong nước phải chịu thiệt hại do hàng nhập khẩu được trợ cấp thì nước nhập khẩu có thể áp dụng thuế đối kháng.

Hiệp định qui định một số biện pháp chế tài giống với Hiệp định chống phá giá. Nếu nước nhập khẩu đã tiến hành một cuộc điều tra chi tiết tương tự như điều tra đối với các biện pháp chống phá giá, thì nước đó có thể được áp dụng thuế đối kháng. Hiệp định có các quy định chi tiết giúp xác định liệu có tồn tại hoạt động trợ cấp hay không (mà việc tính toán chẳng phải lúc nào cũng dễ dàng), các tiêu chí được áp dụng nhằm xác định liệu việc nhập khẩu hàng được trợ cấp có gây hại (“gây thiệt hại”) cho ngành sản xuất trong nước, các thủ tục cần tuân thủ nhằm mở và tiến hành các cuộc điều tra cũng như việc áp dụng và thời gian áp dụng (thường tối đa là 5 năm) các biện pháp đối kháng. Nhà xuẩt khẩu được trợ cấp cũng có thể thoả thuận tăng giá xuất khẩu để tránh bị đánh thuế đối kháng. Trợ cấp có thể đóng vai trò quan trọng đối với các nước đang phát triển, trong quá trình chuyển đổi cácnền kinh tế từ kế hoạch hoá sang kinh tế thị trường. Những nước kém phát triển và đang phát triển mà tổng thu nhập quốc dân (GNP) trên đầu người thấp hơn 1000 đô la một năm thì không phải chịu chế tài khi áp dụng các biện pháp trợ cấp xuất khẩu bị cấm. Các nước đang phát triển khác có thời hạn tới năm 2003 để chấm dứt trợ cấp cho xuất khẩu. Cho tới năm 2003, các nước kém phát triển sẽ phải chấm dứt các khoản trợ cấp nhằm thay thế hàng nhập khẩu (tức trợ cấp dành để giúp ngành sản xuất trong nước và để tránh phải nhập khẩu); các nước đang phát triển khác phải làm việc này muộn nhất là năm 2000. Các nước đang phát triển vẫn được hưởng đối xử ưu đãi khi hàng xuất khẩu của họ đang bị điều tra để áp dụng thuế đối kháng. Các nước đang chuyển đổi phải chấm dứt các loại trợ cấp bị cấm vào năm 2002. Tự vệ: Bảo hộ chống lại hàng nhập khẩu trong trường hợp khẩn cấp Một nước thành viên của WTO có thể tạm thời hạn chế nhập khẩu một sản phẩm (áp dụng các biện pháp « tự vệ ») nếu việc gia tăng nhập khẩu sản phẩm này gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước. Thiệt hại ở đây phải là thiệt hại nghiêm trọng. Các biện pháp tự vệ trước kia vẫn được GATT cho phép (điều 19). Những các biện pháp này rất hiếm khi được áp dụng, một số chính phủ thích bảo vệ ngành sản xuất nước họ bằng các biện pháp thuộc « vùng xám » hơn. Trong các cuộc thương lượng song phương ngoài GATT, họ khuyến khích các nước xuất khẩu « tự nguyện » hạn chế xuất khẩu hoặc chấp nhận các phương pháp phân chia thị trường khác. Các hiệp định loại này đã được ký kết đối với một số lượng lớn các mặt hàng như ô tô, thép và chất bán dẫn chẳng hạn.

Hiệp định này được gọi là gì? Hiệp định về các biện pháp tự vệ Hiệp định về tự vệ của WTO đã có bước cải tiến bằng việc cấm các biện pháp thuộc « vùng xám » và hạn chế thời gian áp dụng các biện pháp tự vệ (« điều khoản hết hạn »). Hiệp định quy định rằng các nước thành viên sẽ không tìm cách áp dụng, sẽ không áp dụng và cũng không duy trì các biện pháp tự hạn chế xuất khẩu, các thoả thuận thương mại hoá được sắp đặt hay tất cả các biện pháp tương tự khác đánh vào xuất nhập khẩu. Các biện pháp song phương không được điều chỉnh để phù hợp với Hiệp định đã bị xoá sổ vào cuối năm 1998. Các nước thành viên được phép duy trì một trong số các biện pháp nói trên thêm một năm (tới năm 1999), nhưng chỉ Liên minh Châu Âu viện dẫn điều khoản này để duy trì các hạn chế đối với nhập khẩu ô tô của Nhật Bản. Để có thể lý giải cho việc áp dụng biện pháp tự vệ, hàng nhập khẩu phải tăng mạnh thực sự (tăng tuyệt đối), hoặc đơn thuần là tăng thị phần trên một thị trường đang giảm sút, ngay cả khi khối lượng nhập khẩu không tăng (tăng tương đối). Các ngành sản xuất hoặc các doanh nghiệp có thể yêu cầu chính phủ nước mình áp dụng biện pháp tự vệ. Hiệp định tự vệ đề ra các quy định liên quan tới quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ. Hiệp định nhấn mạnh tới tính minh bạch và sự tuân thủ luật lệ và các thực tiễn sẵn có, cũng như sự cần thiết phải tránh các phương pháp tuỳ tiện. Cơ quan điều tra phải thông báo công khai sẽ tổ chức các cuộc điều trần vào thời điểm nào và tạo cho các bên liên quan những điều kiện cần thiết cho phép họ đưa ra bằng chứng, nhất là các lập luận cho thấy việc áp dụng các biện pháp tự vệ có phù hợp với lợi ích chung hay không. Hiệp định đề ra các tiêu chí phải tuân theo khi xác định có tồn tại hay không « thiệt hại nghiêm trọng » hoặc nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng và chỉ rõ những yếu tố cần tính đến khi đánh giá tác động của nhập khẩu đối với sản xuất trong nước. Một biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng trong phạm vi cần thiết để ngăn ngừa, giải quyết thiệt hại nghiêm trọng và tạo điều kiện cho ngành sản xuất trong nước điều chỉnh cơ cấu. Khi các hạn chế định lượng (hạn ngạch) được áp dụng thì về nguyên tắc chúng không được kéo lượng hàng nhập khẩu xuống dưới mức trung bình của 3 năm tiêu biểu gần nhất (và cũng là 3 năm có đầy đủ số liệu thống kê), trừ phi nước nhập khẩu chứng minh được rõ ràng rằng điều đó là cần thiết để ngăn ngừa hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng. Về nguyên tắc, các biện pháp tự vệ không được đánh vào hàng xuất khẩu của một nước cụ thể. Tuy nhiên, Hiệp định chỉ rõ phương thức phân chia hạn ngạch giữa các nước xuất khẩu, kể cả trong trường hợp đặc biệt, khi hàng hoá nhập khẩu từ một số nước tăng với tốc độ quá nhanh. Một biện pháp tự vệ không được áp dụng quá 4 năm. Tuy nhiên, thời hạn này có thể được kéo dài tới 8 năm, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định rằng biện pháp này vẫn cần thiết và họ có bằng chứng cho thấy ngành sản xuất trong nước đang tiến hành điều chỉnh cơ cấu. Các biện pháp tự vệ dài hơn 1 năm phải được nới lỏng dần dần. Khi hạn chế nhập khẩu để cứu vớt ngành sản xuất trong nước thì một nước, về nguyên tắc, phải đánh đổi một điều gì đó. Hiệp định quy định rằng nước hoặc các nước xuất khẩu có thể yêu cầu được bồi thường thông qua con đường tham vấn. Nếu các bên không đi đến thoả thuận thì nước xuất khẩu có thể áp dụng các biện pháp trả đũa tương đương. Chẳng hạn nước này có thể tăng

thuế đánh vào hàng xuất khẩu của nước áp dụng biện pháp tự vệ. Trong một số trường hợp, khi biện pháp tự vệ được áp dụng phù hợp với qui định của Hiệp định sau khi hàng xuất khẩu của một nước gia tăng trên một thị trường nào đó, thì nước xuất khẩu phải đợi 3 năm, kể từ khi biện pháp tự vệ được áp dụng đối với hàng hoá của mình, mới được trả đũa. Xuất khẩu của các nước đang phát triển được hưởng một sự bảo vệ nhất định khỏi các biện pháp tự vệ. Một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hoá của nước đang phát triển nào chiếm hơn 3% thị trường nhập khẩu mặt hàng đó của nước đó hoặc của các nước đang phát triển nào là thành viên của WTO chiếm tổng cộng hơn 9% thị trường nhập khẩu hàng hoá đó cho dù bản thân mỗi nước chỉ chiếm chưa đầy 3%. Uỷ ban về tự vệ của WTO giám sát việc triển khai hiệp định cũng như sự tôn trọng cam kết của các nước thành viên. Các nước thành viên phải thông báo để Uỷ ban xem xét tất cả các giai đoạn điều tra cũng như các quyết định về việc áp dụng biện pháp tự vệ. 9. Các trở ngại phi quan thuế: các thủ tục hành chính rườm rà,... Có nhiều hiệp định điều chỉnh những vấn đề kỹ thuật, hành chính hoặc pháp lý gây trở ngại cho thương mại: • • • • • cơ chế giấy phép nhập khẩu các quy định về định giá hải quan đối với hàng hoá kiểm hoá trước khi xuất: một phương thức kiểm soát nhập khẩu các quy định về xuất xứ: được sản xuất tại... các biện pháp liên quan tới đầu tư

Giấy phép nhập khẩu: các thủ tục rõ ràng Mặc dù hiện nay chúng ít được sử dụng hơn so với trước đây, nhưng các cơ chế giấy phép nhập khẩu vẫn được luật lệ của WTO điều chỉnh. Hiệp định về các thủ tục cấp phép nhập khẩu quy định rằng các cơ chế này phải hết sức đơn giản, rõ ràng và minh bạch. Ví dụ, hiệp định quy định rằng chính phủ các nước phải công bố thông tin đầy đủ để người kinh doanh có thể biết vì sao cần xin giấy phép và xin như thế nào. Hiệp định cũng quy định rõ cách thức mà theo đó các nước phải thông báo cho WTO biết việc xây dựng các cơ chế cấp phép cũng như những sửa đối đối với các cơ chế hiện hành. Hiệp định cũng chỉ dẫn cách chính phủ các nước xử lý các đơn xin cấp phép nhập khẩu. Một số giấy phép phải mặc nhiên được cấp ngay khi đơn xin phép đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện. Hiệp định nêu ra các tiêu chí áp dụng trong trường hợp này sao cho các thủ tục được áp dụng không gây hạn chế đối với thương mại. Một số loại giấy phép khác không phải mặc nhiên là được cấp. Hiệp định nhằm mục tiêu giảm thiểu gánh nặng mà các thủ tục xin cấp phép gây ra đối với nhà nhập khẩu, làm sao để việc quản lý cơ chế cấp phép không tự nó góp phần hạn chế hoặc gây sai lệch cho hoạt động nhập khẩu. Các cơ quan hữu quan không được xem xét một đơn xin cấp phép quá 30 ngày hoặc 60 ngày nếu tất cả các đơn được xét cùng một lúc. Các quy định về định giá hải quan đối với hàng hoá

Đối với nhà nhập khẩu, qui trình xác định giá hải quan đối với một sản phẩm có thể gây nhiều rắc rối tương tự như qui trình thu thuế. Hiệp định WTO về định giá hải quan nhằm mục đích xây dựng một hệ thống xác định giá trị hải quan của hàng hoá một cách công bằng, thống nhất và khách quan, phù hợp với các thực tiễn thương mại và ngăn cấm việc sử dụng những mức giá tuỳ tiện hay giả định. Hiệp định đưa ra một loạt các quy định về định giá, đồng thời mở rộng và làm rõ những điều khoản tương đương có trong hiệp định GATT ban đầu. Theo một quyết định cấp Bộ trưởng được thông qua tại vòng đàm phán Uruguay về vấn đề này, cơ quan hải quan có quyền yêu cầu cung cấp thêm thông tin nếu họ có lý do để nghi ngờ về tính chính xác của giá trị hàng hoá nhập khẩu được khai báo. Sau khi nhận được hoá đơn chứng từ bổ sung, nếu có lý do để nghi ngờ, thì cơ quan hải quan có thể cho rằng giá trị của hàng hoá nhập khẩu không thể được xác định trên cơ sở giá trị khai báo.

Hiệp định này được gọi là gì? « Hiệp định về việc thực hiện điều VII của Hiệp định chung về thương mại và thuế quan năm 1994 » và các quyết định cấp Bộ trưởng kèm theo; ‘Quyết định về các trường hợp cơ quan hải quan có lý để nghi ngờ tính xác thực hoặc chính xác của giá khai báo » và « Quyết định về các văn bản qui định giá trị tối thiệu và hàng hoá nhập của các đại lý, cơ sở phân phối và nhà thầu độc quyền ». Kiểm hoá trước khi xuất: một phương thức kiểm soát nhập khẩu Kiểm hoá trước khi xuất là một thực tiễn thương mại, trong đó nước nhập khẩu yêu cầu các công ty chuyên môn tư nhân (hay còn gọi là các “cơ quan độc lập”) kiểm định hàng hoá được nước ngoài đặt hàng, chủ yếu là về giá cả, chất lượng và số lượng, trước khi xuất. Hệ thống này thường được chính phủ các nước đang phát triển sử dụng. Nó nhằm mục đích bảo vệ lợi ích tài chính quốc gia (nhằm ngăn chặn chảy vốn ra nước ngoài, gian lận thương mại và trốn thuế, chẳng hạn) và bù đắp cho những lỗ hổng trong cơ cấu hành chính. Hiệp định về kiểm hoá trước khi xuất thừa nhận rằng các nguyên tắc và nghĩa vụ của GATT được áp dụng cả cho hoạt động của các cơ quan kiểm hoá được các chính phủ uỷ quyền. Các chính phủ (được gọi là « người sử dụng » dịch vụ kiểm hoá ») phải làm sao để các cơ quan này tiến hành kiểm hoá một cách không phân biệt đối xử và minh bạch, bảo vệ được thông tin mật về thương mại, tránh những chậm trễ không đáng có, tuân thủ những chỉ thị cụ thể về kiểm tra giá cả và tránh xung đột lợi ích. Đặc biệt, các nước xuất khẩu là thành viên của WTO phải có nghĩa vụ không được áp dụng một cách phân biệt đối xử luật và quy định trong nước đối với những « người sử dụng », công bố không chậm trễ các luật và quy định này và hỗ trợ về mặt kỹ thuật khi được yêu cầu. Hiệp định đặt ra một cơ chế xem xét độc lập các tranh chấp. Cơ chế này do Liên đoàn các công ty kiểm hoá quốc tế (IFIA), đại diện cho các công ty kiểm hoá, và Phòng thương mại quốc tế (ICC), đại diện cho các nhà xuất khẩu, phối hợp điều hành. Cơ chế có mục đích giải quyết tranh chấp giữa nhà xuất khẩu và công ty kiểm định. Các quy định về xuất xứ: sản xuất tại...

Các “quy định về xuất xứ” là các tiêu chí được áp dụng để xác định nơi mà sản phẩm được sản xuất. Chúng là một yếu tố cơ bản đối với các luật lệ thương mại bởi vì có một số biện pháp dẫn đến sự phân biệt đối xử giữa các nước xuất khẩu: hạn ngạch, thuế quan ưu đãi, biện pháp chống bán phá giá, thuế đối kháng (được thu để bù đắp những thiệt hại do trợ cấp xuất khẩu gây ra),... Các quy định về xuất xứ cũng được dùng để thống kê thương mại và tạo các nhãn mác (Sản xuất tại...) dán trên sản phẩm. Quá trình toàn cầu hoá đang làm cho mọi thứ trở nên phức tạp hơn. Nó cũng làm phức tạp cách thức mà một sản phẩm được chế biến cùng lúc tại nhiều khác nhau trước khi được đưa ra thị trường. Hiệp định về các quy định xuất xứ buộc các nước thành viên WTO phải làm sao để các quy định về xuất xứ của họ đảm bảo được tính minh bạch; để các quy định này không hạn chế, làm méo mó hoặc làm rối loạn hoạt động thương mại quốc tế; để chúng được triển khai một cách đồng bộ, thống nhất, công bằng và thoả đáng; và để chúng được xây dựng trên nền tảng là một tiêu chí tích cực (nói một cách khác, các quy định này nhằm xác định khi nào thì xuất xứ của một sản phẩm được công nhận chứ không phải để xác định khi nào thì nó không được công nhận). Về lâu về dài, hiệp định nhằm xây dựng những quy định chung về xuất xứ (“hài hoà hoá các quy định”), được áp dụng cho tất cả các thành viên của WTO, trừ một số trao đổi ưu đãi; chẳng hạn, các nước thuộc khu vực thương mại tự do được phép áp dụng những quy định về xuất xứ khác nhau đối với hàng hoá được trao đổi trong khối. Hiệp định xây dựng một chương trình làm việc để hài hoà hoá các quy định. Việc hài hoà hoá được tiến hành trên cơ sở tổng thể các nguyên tắc, đặc biệt là sự cần thiết phải làm sao để các quy định về xuất xứ có tính khách quan, dễ hiểu và rõ ràng. Chương trình làm việc đáng lẽ phải được hoàn thành vào tháng 7/1998, nhưng các nước đã không hoàn thành một số thời hạn. Hiện nay Uỷ ban về các quy định xuất xứ của WTO và một Uỷ ban về kỹ thuật đang triển khai các công việc dưới sự bảo trợ của Liên minh hải quan thế giới ở Brúcxen. Chắc chắn kết quả sẽ là tạo ra được những quy định xuất xứ chung, được áp dụng trong mọi hoàn cảnh và trong bối cảnh không phải nước thành viên nào cũng dành các điều kiện thương mại ưu đãi cho các nước khác. Hiệp định có một phụ lục ghi nhận “tuyên bố chung” về các quy định xuất xứ được áp dụng để xác định khi nào thì hàng hoá được hưởng đối xử ưu đãi. Các biện pháp đầu tư: giảm bớt những méo mó trong thương mại Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại (TRIMs) chỉ được áp dụng cho các biện pháp gây ảnh hưởng đến trao đổi hàng hoá. Hiệp định thừa nhận một số biện pháp có thể gây hạn chế hoặc làm méo mó thương mại. Hiệp định quy định rằng không một thành viên nào được phép áp dụng những biện pháp phân biệt đối xử đối với người hoặc hàng hoá nước ngoài (tức là vi phạm nguyên tắc “đối xử quốc gia” của GATT). Hiệp định cũng cấm áp dụng các biện pháp đầu tư làm hạn chế khối lượng trao đổi (trái với một nguyên tắc khác của GATT). Hiệp định lập danh mục các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại bị coi là trái với các điều khoản của GATT. Danh mục này bao gồm các biện pháp yêu cầu một doanh nghiệp phải mua một tỷ lệ sản phẩm sản xuất trong nước nào đó (“các yêu cầu về hàm lượng hàng nội địa”). Hiệp định cũng không khuyến khích các nước áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu đối với một doanh nghiệp hoặc đặt ra cho doanh nghiệp những mục tiêu xuất khẩu (các yêu cầu về cân bằng trong trao đổi”). Theo hiệp định, các nước thành viên phải thông báo cho các nước khác, thông qua WTO, tất cả những biện pháp đầu tư nào không phù hợp với hiệp định. Các biện pháp này cần bị xoá bỏ

trong thời hạn 2 năm đối với các nước phát triển (tức tới cuối năm 1996), 5 năm đối với các nước đang phát triển (tới cuối năm 1999) và 7 năm đối với các nước kém phát triển. Tháng 7/2001, Hội đồng về thương mại hàng hoá đã nhất trí kéo dài giai đoạn chuyển tiếp này đối với một số nước đang phát triển có yêu cầu. Hiệp định lập ra một Uỷ ban về các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại TRIMs. Uỷ ban có trách nhiệm giám sát việc triển khai các cam kết. Hiệp định cũng quy định rằng các thành viên của WTO sẽ xem xét, muộn nhất là vào 1/1/2000, liệu có nên bổ sung vào hiệp định một số điều khoản về chính sách đầu tư và cạnh tranh hay không. Quá trình xem xét này từ nay cũng nằm trong khuôn khổ Chương trình Đôha về phát triển. 10. Các hiệp định nhiều bên : dành cho một nhóm nhỏ các nước Về cơ bản, tất cả các nước thành viên của WTO đều phải tuân thủ các hiệp định của WTO. Tuy nhiên, sau khi kết thúc vòng đàm phán Uruguay, vẫn còn 4 hiệp định, được đàm phán từ vòng Tokyo, chỉ được áp dụng cho một nhóm nhỏ các nước ký kết và được biết đến dưới cái tên « các hiệp định nhiều bên ». Tất cả các hiệp định khác của vòng Tokyo đều trở thành các công cụ pháp lý đa phương có tính ràng buộc (tức ràng buộc tất cả các thành viên của WTO) khi Tổ chức thương mại thế giới được thành lập vào năm 1995. 4 hiệp định nhiều bên đề cấp tới các vấn đề sau : • • • • mua bán máy bay dân sự mua sắm chính phủ sản phẩm sữa thịt bò

Hai hiệp định cuối cùng đã bị huỷ bỏ vào năm 1997 Sự lành mạnh trong hoạt động mua bán máy bay dân sự Hiệp định về mua bán máy bay dân sự có hiệu lực từ ngày 1/1/1980. Hiện nay có 30 nước ký kết. Hiệp định quy định xoá bỏ thuế nhập khẩu đánh vào tất cả các loại máy bay không phải là máy bay quân sự cũng như vào các sản phẩm có liên quan khác : động cơ máy bay dân sự, linh kiện và phụ tùng của động cơ, tất cả các linh kiện và bộ phận của máy bay dân sự cũng như các thiết bị dạy bay, bộ phận, phụ tùng và linh kiện của thiết bị. Hiệp định đề ra các quy định liên quan đến việc mua sắm máy bay dân sự của các cơ quan công quyền, đến các ưu đãi mua cũng như đến hỗ trợ tài chính mà các chính phủ dành cho ngành sản xuất máy bay dân sự. Mua sắm chính phủ: mở cửa cho cạnh tranh Tại phần lớn các nước, Nhà nước và cơ quan Nhà nước chính là những khách hàng lớn đối với tất cả các chủng loại hàng hoá, từ nguyên liệu tới vật liệu công nghệ cao. Đồng thời, có thể có những sức ép chính trị lớn buộc các chính phủ phải dành ưu tiên cho nhà cung ứng trong nước hơn là các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Một Hiệp định về mua sắm chính phủ ban đầu được đàm phán tại vòng Tokyo và có hiệu lực vào ngày 1/1/1981. Hiệp định có mục tiêu mở cửa thị trường mua sắm chính phủ nhiều nhất có thể được cho cạnh tranh quốc tế. Hiệp định nhằm mục đích làm sao để các luật, quy định, thủ tục và thực tiễn trong mua sắm chính phủ trở nên minh bạch hơn, không bảo hộ các sản phẩm hoặc

nhà cung ứng trong nước hoặc dẫn tới sự phân biệt đối xử đối với các sản phẩm và nhà cung ứng nước ngoài. 28 thành viên WTO đã ký hiệp định. Hiệp định một mặt chứa đựng những quy định và nghĩa vụ chung, mặt khác bao gồm danh sách các thực thể nhà nước của tất cả các nước thành viên chịu trách nhiệm mua sắm chính phủ trong những lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định. Một phần lớn các quy định và nghĩa vụ chung có liên quan tới các thủ tục gọi thầu. Hiệp định hiện nay và các cam kết liên quan đã được đàm phán tại vòng Uruguay. Sau các cuộc đàm phán, phạm vi điều chỉnh của Hiệp định đã tăng lên gấp bội với việc mở cửa thị trường mua sắm của trung ương và địa phương cho cạnh tranh quốc tế. Mỗi năm tổng giá trị của thị trường này lên đến hàng trăm tỉ đô la. Hiệp định mới cũng mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ (kể cả các dịch vụ xây dựng), các khoản mua sắm của các chính quyền dưới cấp trung ương (ví dụ các Bang, các tỉnh) và các khoản mua sắm phục vụ cho các dịch vụ công ích. Hiệp định mới đã có hiệu lực từ ngày 1/1/1996. Ngoài ra, hiệp định còn tăng cường các quy định đảm bảo không phân biệt đối xử và cạnh tranh quốc tế lành mạnh. Ví dụ các chính phủ thành viên phải xây dựng các thủ tục trong nước cho phép những nhà bỏ thầu tư nhân nào cho rằng mình bị thiệt thòi được đâm đơn kiện các quyết định giao thầu và được bồi thường nếu như các quyết định này trái với các quy định của hiệp định. Hiệp định được áp dụng cho các thị trường có giá trị vượt quá một số ngưỡng nào đó. Đối với các khoản mua sắm hàng hoá và dịch vụ của các chính quyền trung ương, ngưỡng này là 130.000 DTS (quyền rút vốn đặc biệt, tức là khoảng 185.000 đô la vào tháng 6/2003). Đối với mua sắm hàng hoá và dịch vụ của các cơ quan thuộc chính quyền dưới cấp trung ương, thì có nhiều ngưỡng khác nhau, nhưng nhìn chung là vào khoảng 200.000 DTS. Đối với các dịch vụ công ích, ngưỡng này nằm ở khoảng trên dưới 400.000 DTS và, đối với các thị trường xây dựng, thì là ở khoảng trên dưới 500.000 DTS. Ngành sản xuất sữa và thịt bò : chấm dứt các hiệp định vào năm 1997 Hiệp định quốc tế về ngành sản xuất sữa và Hiệp định quốc tế về thịt bò đã chấm dứt hiệu lực vào cuối năm 1997. Các nước ký kết quyết định rằng các ngành này sẽ được điều chỉnh tốt hơn trong khuôn khổ các hiệp định về nông nghiệp và các biện pháp vệ sinh dịch tễ. Một số khía cạnh của chương trình đàm phán đã không được triển khai do số lượng các nước ký kết quá ít. Ví dụ, một số nước xuất khẩu sản phẩm sữa lớn trên thế giới đã không ký Hiệp định về ngành sản xuất sữa, do đó không thể có sự hợp tác về vấn đề giá tối thiểu và việc áp dụng giá tổi thiểu đã bị đình chỉ vào năm 1995. 11. Kiểm điểm chính sách thương mại : đảm bảo tính minh bạch Các thể nhân và các công ty tham gia vào hoạt động thương mại phải được thông tin càng nhiều càng tốt về các điều kiện kinh doanh. Do đó, đảm bảo tính minh bạch cho các quy định và chính sách là điều quan trọng tối cần thiết. Tại WTO, sự minh bạch này được đảm bảo bằng 2 cách: các chính phủ phải thông báo cho WTO và các thành viên khác các chính sách hoặc đạo luật cụ thể thông qua thủ tục “báo cáo” định kỳ và WTO sẽ tiến hành nghiên cứu định kỳ chính sách thương mại của các nước khác nhau – trong khuôn khổ thủ tục kiểm điểm các chính sách thương mại. Quá trình kiểm điểm được quy định trong hiệp định của Vòng đàm phán Uruguay nhưng đã được bắt đầu triển khai từ trước khi vòng đàm phán kết thúc (Quá trình kiểm điểm cũng là một trong những kết quả đàm phán đầu tiên của Vòng Uruguay). Các nước tham gia

đàm phán đã quyết định thiết lập một cơ chế kiểm điểm tại cuộc họp cấp bộ trưởng vào tháng 12/1988, cuộc họp đánh giá kết quả giữa kỳ của Vòng đàm phán Uruguay. Lần kiểm điểm đầu tiên đã diễn ra vào năm sau đó. Ban đầu, quá trình được triển khai trong khuôn khổ của GATT, và cũng như GATT, nó tập trung chủ yếu vào trao đổi hàng hoá. Cùng với sự ra đời của WTO năm 1995, phạm vi kiểm điểm đã được mở rộng ra dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Tầm quan trọng mà các nước dành cho việc kiểm điểm chính sách thương mại được thể hiện ở vị trí của Cơ quan phụ trách kiểm điểm chính sách thương mại trong cơ cấu của WTO. Thực chất, đây chính là Đại hội đồng của WTO họp với danh nghĩa là Cơ quan phụ trách kiểm điểm chính sách thương mại . Các mục tiêu đặt ra bao gồm: • • • nâng cao tính minh bạch và sự hiểu biết về các chính sách và thực tiễn thương mại nhờ theo dõi thường xuyên; nâng cao chất lượng của các cuộc thảo luận trong công luận và giữa các chính phủ về các vấn được đặt ra; cho phép đánh giá một cách đa phương hệ quả của các chính sách đối với hệ thống thương mại toàn cầu.

Các đợt kiểm điểm chủ yếu nhằm vào các chính sách và thực tiễn thương mại của các nước thành viên. Nhưng chúng cũng tính đến nhu cầu chung của các nước trong lĩnh vực kinh tế và phát triển, các chính sách và mục tiêu của họ cũng như môi trường kinh tế bên ngoài mà họ phải đối mặt. Việc kiểm tra chéo này, tức là các nước thành viên kiểm điểm lẫn nhau, khuyến khích các chính phủ tôn trọng nhiều hơn các quy định và phép tắc của WTO và thực hiện các cam kết của mình. Cụ thể các nước được 2 cái lợi cơ bản: giúp các nước thành viên khác hiểu được chính sách và tình hình của một nước và cung cấp cho nước bị kiểm điểm những thông tin phản hồi về mức độ hiệu quả của họ trong hệ thống WTO. Tất cả các thành viên của WTO đều phải được định kỳ đưa ra kiểm điểm. Chu kỳ kiểm điểm phụ thuộc vào tầm cỡ của từng nước: • • • Đối với 4 cường quốc hàng đầu về thương mại – Liên minh châu Âu, Mỹ, Nhật và Canađa (“nhóm 4 bên”) - việc kiểm điểm được tiến hành khoảng 2 năm một lần. Đối với 16 nước xếp sau (theo tỷ lệ của mỗi nước trong thương mại thế giới), việc kiểm điểm được tiến hành 4 năm một lần. Đối với các nước khác, việc kiểm điểm được tiến hành 6 năm một lần, các nước kém phát triển có thể có chu kỳ kiểm điểm dài hơn.

Đối với mỗi đợt kiểm điểm, hai văn bản sau được đưa ra xem xét: tuyên bố về chính sách chung do chính phủ nước liên quan soạn thảo và báo cáo chi tiết do Ban thư ký của WTO soạn thảo một cách độc lập. Sau đó, hai báo cáo này cùng với biên bản các cuộc thảo luận của Cơ quan phụ trách kiểm điểm chính sách thương mại sẽ được công bố công khai..

CHƯƠNG 3
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

Ưu tiên giải quyết tranh chấp chứ không đưa ra phán quyết Thoả thuận đó tên là gì ? Bản ghi nhớ về các nguyên tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp 1. Một “đóng góp chưa từng có” Việc giải quyết tranh chấp là cơ sở của hệ thống thương mại đa phương và là sự đóng góp chưa từng có của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho sự ổn định của nền kinh tế thế giới. Nếu không có các phương tiện giải quyết tranh chấp, hệ thống thương mại dựa trên các qui tắc có lẽ sẽ không còn có ích vì các quy tắc đó không thể được áp dụng. Thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO nhằm bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật và làm cho hệ thống thương mại vững chắc hơn và có thể dự báo được. Hệ thống dựa trên các quy tắc đã được xác định rõ ràng, kèm theo một lịch trình cụ thể để xem xét một vụ kiện. Các quyết định ban đầu được một Nhóm chuyên gia đưa ra và sau đó được phê chuẩn (hoặc bác bỏ) bởi toàn bộ các thành viên của WTO. Cũng có thể yêu cầu kháng cáo đối với một số điểm liên quan đến pháp luật. Tuy nhiên, đây không phải là việc đưa ra phán quyết mà giành ưu tiên giải quyết tranh chấp nếu có thể bằng cách tham khảo ý kiến. Tính đến tháng 5/2003, chỉ có khoảng 1/3 trong số các vụ kiện đi đến giai đoạn được nhóm chuyên gia thụ lý. Phần lớn trong số các vụ kiện còn lại đều được thông báo là đã được giải quyết thông qua thương lượng hoặc vẫn ở giai đoạn tham vấn kéo dài, có vụ từ năm 1995. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và giải pháp được các bên chấp nhận Các tranh chấp được WTO giải quyết liên quan chủ yếu tới việc không giữ lời hứa. Các thành viên của WTO thoả thuận sẽ sử dụng cơ chế đa phương để giải quyết tranh chấp thay vì thực thi các biện pháp đơn phương nếu họ cho rằng các thành viên khác vi phạm các quy tắc thương mại. Nói cách khác, họ sẽ áp dụng các thủ tục đã được thoả thuận và tôn trọng các phán quyết được đưa ra. Một tranh chấp nảy sinh khi một nước thành viên WTO áp dụng một biện pháp thuộc chính sách thương mại hoặc một lĩnh vực khác bị vị một hoặc một số thành viên khác là đã vi phạm các hiệp định của WTO hoặc không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình. Một nhóm nước thứ ba có thể tuyên bố có lợi ích trong vụ kiện và đòi được hưởng một số quyền lợi Nhóm chuyên gia Một Nhóm chuyên gia giống như một toà án. Nhưng khác với các thẩm phán của toà án, các thành viên của ban này thường được chọn bằng cách tham khảo ý kiến các nước liên quan tới vụ tranh chấp. Chỉ khi nào các bên liên quan không thể nhất trí thì họ mới được Tổng Giám đốc WTO chỉ định. Nhóm chuyên gia gồm ba thành viên (có thể là 5 người) đến từ các nước khác nhau có nhiệm vụ kiểm tra các bằng chứng và quyết định xem nước nào sai và nước nào đúng. Báo cáo của họ được trình bày tại Cơ quan giải quyết tranh chấp và chỉ bị Cơ quan này bác bỏ khi có sự đồng thuận.

Các thành viên của một Nhóm chuyên gia chịu trách nhiệm về một vụ kiện đặc biệt được chọn ra trong số các chuyên gia có năng lực chuyên môn Việc giải quyết một tranh chấp được tiến hành như thế nào? Cơ quan giải quyết tranh chấp (Đại hội đồng nhóm họp với chức năng giải quyết tranh chấp), gồm tất cả các thành viên của WTO, chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp. Đây là cơ quan duy nhất có thẩm quyền lập ra các “Nhóm chuyên gia” (gồm các chuyên gia chịu trách nhiệm xem xét vụ kiện), để thông qua hay bác bỏ các kết luận điều tra của các Nhóm chuyên gia và kết quả các quá trình xét xử phúc thẩm. Cơ quan này giám sát việc thực hiện các quyết định và khuyến nghị và có quyền cho phép thông qua các biện pháp trả đũa nếu một nước không tuân thủ quyết định do Cơ quan này đưa ra. · Giai đoạn 1: Giai đoạn tham vấn (kéo dài trong khoảng 60 ngày). Trước khi áp dụng các biện pháp khác, các bên liên quan đến vụ tranh chấp phải thảo luận với nhau để biết được liệu họ có thể hoà giải hay không. Nếu các cuộc tham vấn này không có kết quả, họ có thể yêu cầu Tổng Giám đốc WTO can thiệp với tư cách là nhà hoà giải hoặc bằng các cách thức khác. Giai đoạn 2: Nhóm chuyên gia (thời hạn dự kiến để lập ra một Nhóm chuyên gia là 45 ngày và họ có 6 tháng để hoàn thành công việc của mình). Nếu các tham vấn không có kết quả, nước đi kiện có thể yêu cầu lập ra một nhóm chuyên gia. Và nước bị kiện có thể ngăn cản việc thành lập ban này lần thứ nhất nhưng tới cuộc họp thứ hai của Cơ quan giải quyết tranh chấp, nước bị kiện không thể làm việc đó (trừ khi có một sự đồng thuận chống lại việc thành lập nhóm chuyên gia).

·

Cần bao nhiêu thời gian để giải quyết một vụ kiện? Các thời hạn nêu dưới đây phù hợp với thời gian dự kiến cho mỗi giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp. Bản ghi nhớ tỏ ra mềm dẻo về vấn đề này. Ngoài ra, các nước có thể tự mình giải quyết tranh chấp ở bất cứ thời điểm nào. Tất cả các mốc tổng thời gian dự kiến cũng chỉ là tương đối 60 ngày Tham vấn, hoà giải, v.v… 45 ngày Thành lập nhóm chuyên gia và chỉ định các thành viên của ban 6 tháng Trình bày báo cáo cuối cùng của ban hội thẩm cho các bên liên quan 3 tuần Trình bày báo cáo cuối cùng của nhóm chuyên gia cho các thành viên WTO 60 ngày Cơ quan giải quyết tranh chấp thông qua báo cáo (nếu không có xét xử phúc thẩm) Tổng số thời gian: 1 năm (nếu bản báo cáo không bị kháng cáo) 60-90 ngày Trình bày báo cáo phúc thẩm 30 ngày Cơ quan giải quyết tranh chấp thông qua báo cáo phúc thẩm Tổng số thời gian: 1 năm 3 tháng (nếu bản báo cáo bị kháng cáo)

Nhóm chuyên gia chính thức có nhiệm vụ giúp đỡ Cơ quan giải quyết tranh chấp đưa ra những quyết định hoặc khuyến nghị nhưng vì bản báo cáo của Nhóm chuyên gia chỉ có thể bị bác bỏ bằng hình thức nhất trí nên rất khó bác bỏ các kết luận điều tra của ban này. Các nhận xét của Nhóm chuyên gia phải dựa trên các hiệp định được viện dẫn. Bản báo cáo cuối cùng của Nhóm chuyên gia về nguyên tắc phải được thông báo tới các bên liên quan đến tranh chấp trong thời gian 6 tháng. Trong trường hợp khẩn cấp, nhất là khi liên quan đến các vật phẩm dễ hỏng, thời hạn này giảm xuống còn ba tháng.

Bản ghi nhớ nêu một cách chi tiết lịch trình công tác của nhóm chuyên gia. Các giai đoạn chính trong công việc của Nhóm chuyên gia như sau: · · Trước cuộc họp đầu tiên: mỗi bên liên quan tới tranh chấp trình bày các lý lẽ của mình bằng văn bản cho nhóm chuyên gia. Cuộc họp đầu tiên: các lập luận của bên khiếu kiện và bên bị kiện: một hay nhiều nước khiếu kiện, nước bị kiện và những nước tuyên bố có lợi ích trong vụ tranh chấp, trình bày lý lẽ của mình tại cuộc họp đầu tiên của nhóm chuyên gia. Phản bác: các nước liên quan trình bày những phản bác bằng văn bản và các lập luận miệng tại cuộc họp thứ hai của nhóm chuyên gia. Các chuyên gia: nếu một bên có những câu hỏi liên quan đến khía cạnh khoa học hoặc kỹ thuật, Nhóm chuyên gia có thể tham khảo ý kiến của các chuyên gia hoặc chỉ định một nhóm chuyên gia chịu trách nhiệm soạn thảo báo cáo tham khảo. Dự thảo báo cáo: Nhóm chuyên gia trao cho hai bên liên quan phần mô tả dự thảo báo cáo (thực trạng và lập luận) và cho các bên thời hạn là hai tuần để trình bày nhận xét của mình. Bản dự thảo báo cáo này không có phần nhận xét và kết luận. Báo cáo giữa kỳ: Tiếp theo, Nhóm chuyên gia sẽ gửi bản báo cáo giữa kỳ bao gồm phần nhận xét và kết luận cho hai bên liên quan và họ có thời hạn một tuần để đề nghị xem xét lại bản báo cáo. Xem xét lại bản báo cáo: Giai đoạn xem xét lại bản báo cáo không được vượt quá thời hạn hai tuần. Trong giai đoạn này, Nhóm chuyên gia có thể tổ chức các cuộc họp khác với các bên liên quan đến vụ kiện. Báo cáo cuối cùng: Bản báo cáo cuối cùng được chuyển tới hai bên liên quan và ba tuần sau được phát cho tất cả các thành viên của WTO. Nếu Nhóm chuyên gia kết luận rằng biện pháp thương mại bị kiện trên thực tế vi phạm một Hiệp định của WTO hoặc vi phạm một nghĩa vụ trong khuôn khổ WTO, ban này khuyến nghị rằng biện pháp đó phải được điều chỉnh cho phù hợp với các quy định của WTO. Nhóm chuyên gia có thể đề xuất các biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu đó. Bản báo cáo trở thành một quyết định: 60 ngày sau, bản báo cáo trở thành một quyết định hoặc một khuyến nghị của Cơ quan giải quyết tranh chấp, trừ trường hợp có sự nhất trí bác bỏ bản báo cáo này. Hai bên tranh chấp có thể yêu cầu kháng cáo đối với bản báo cáo (yêu cầu này có thể do bên khởi kiện hoặc bên bị kiện đưa ra).

· ·

·

·

·

·

·

Xét xử phúc thẩm Mỗi bên tranh chấp có thể yêu cầu phúc thẩm lại quyết định của nhóm chuyên gia. Trên thực tế có thể do bên khởi kiện hoặc bên bị kiện đưa ra yêu cầu. Yêu cầu phúc thẩm phải dựa trên những khía cạnh pháp luật như cách giải thích pháp luật; và không nhằm xem xét lại các bằng chứng sẵn có hoặc các vấn đề mới. Mỗi yêu cầu phúc thẩm do ba trong số bảy thành viên của Cơ quan phúc thẩm thường trực giải quyết. Cơ quan này được Cơ quan giải quyết tranh chấp lập ra và phản ánh tính đại diện trong thành phần của WTO. Các thành viên của Cơ quan phúc thẩm được bổ nhiệm trong thời gian

bốn năm. Đó phải là những chuyên gia được thừa nhận giỏi về luật và thương mại quốc tế và không có bất kì mối liên hệ với các quốc gia thành viên. Xét xử phúc thẩm có thể đi tới việc tái khẳng định, thay đổi hoặc bác bỏ các nhận xét và kết luận pháp lý của nhóm chuyên gia. Về nguyên tắc, thời hạn của thủ tục giải quyết không được vượt quá 60 ngày và không trường hợp nào được vượt quá 90 ngày. Cơ quan giải quyết tranh chấp phải chấp nhận hoặc bác bỏ bản báo cáo của Cơ quan phúc thẩm trong thời hạn 30 ngày, việc bác bỏ chỉ có thể thực hiện nếu tất cả các thành viên đều nhất trí. Khi vụ kiện đã được giải quyết: điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? Vào tù. Đi thẳng vào trại giam, Không được rời khỏi nơi giam giữ. Không được nhận… Không, trên thực tế thì sẽ không hẳn như vậy nhưng về mặt nguyên tắc thì giống nhau. Nếu một nước bị buộc tội, nước đó phải sửa chữa sai phạm ngay lập tức. Và trong trường hợp tiếp tục vi phạm hiệp định, nước đó phải chịu bồi thường hoặc phải chịu một hình phạt tương đối nghiêm khắc. Ngay cả khi vụ kiện đã được giải quyết, người ta vẫn có thể hành động trước khi các biện pháp trừng phạt thương mại (hình thức truyền thống của các biện pháp trừng phạt) được áp dụng. Vào giai đoạn này, mục tiêu ưu tiên là làm sao để bên bị kiện thua phải điều chỉnh biện pháp của mình phù hợp với quyết định hay các khuyến nghị. Bản ghi nhớ xác định rằng “để các tranh chấp được giải quyết một cách có hiệu quả, bảo vệ được lợi ích của tất cả các thành viên, cần phải chấp hành các quyết định hay khuyến nghị của Cơ quan giải quyết tranh chấp trong thời hạn ngắn nhất”. Nếu nước bị kiện thua, nước này phải thực hiện các khuyến nghị trong bản báo cáo của Nhóm chuyên gia hoặc báo cáo của Cơ quan phúc thẩm. Nước này phải tuyên bố ý định thực hiện các quyết định của bản báo cáo tại một cuộc họp của Cơ quan giải quyết tranh chấp diễn ra 30 ngày sau khi bản báo cáo được thông qua. Nếu như nước này không thể thực hiện được ngay lập tức các khuyến nghị, nước đó sẽ có thể được dành cho một “thời hạn hợp lý” để thực thi các khuyến nghị. Nếu nước đó không thực hiện đúng trong thời hạn đã nêu thì nước đó sẽ phải đàm phán với một hay nhiều nước khiếu kiện để tìm ra cách đền bù làm thoả mãn các bên, chẳng hạn như việc giảm thuế quan trong các lĩnh vực mà bên khiếu kiện có lợi ích đặc biệt. Sau thời hạn 20 ngày, nếu không có một khoản đền bù nào được thoả thuận, bên thưa kiện có thể yêu cầu Cơ quan giải quyết tranh chấp cho phép áp đặt các biện pháp trừng phạt thương mại có giới hạn (“hoãn thực hiện các nhượng bộ và các nghĩa vụ khác”) đối với bên kia. Cơ quan giải quyết tranh chấp phải cho phép tiến hành các biện pháp trả đũa trong thời hạn 30 ngày sau khi “thời hạn hợp lý” đã hết, trừ khi có một sự nhất trí để bác bỏ yêu cầu đó. Về nguyên tắc, các hình thức trừng phạt sẽ phải được áp dụng trong lĩnh vực xảy ra tranh chấp. Nếu điều đó là không thể hoặc không có hiệu quả, chúng có thể được áp dụng trong một lĩnh vực khác của cùng một hiệp định. Nếu việc đó cũng lại không thể thực hiện hoặc không có hiệu quả và nếu các tình tiết tương đối nghiêm trọng, việc thực hiện trừng phạt có thể tiến hành ở một hiệp định khác. Mục tiêu là hạn chế tối đa khả năng biện pháp áp dụng tác động tới những lĩnh vực khác, tuy nhiên vẫn đảm bảo tính hiệu quả của biện pháp này. Trong mọi trường hợp, Cơ quan giải quyết tranh chấp giám sát việc thực hiện các các quyết định được ban bố. Tất cả các vụ kiện chưa đước giải quyết xong vẫn phải nằm trong chương trình nghị sự của cơ quan này cho đến khi vấn đề được giải quyết.

2. Thủ tục xét xử của Nhóm chuyên gia Tại WTO, việc giải quyết tranh chấp trải qua nhiều giai đoạn. Ở mỗi giai đoạn, WTO khuyến khích các bên liên quan tổ chức tham vấn lẫn nhau nhằm đi đến một giải pháp ổn thoả. Ở mỗi giai đoạn Tổng giám đốc WTO có thể đóng vai trò trung gian hoà giải hoặc giúp đỡ các bên liên quan đi đến sự hoà giải Chú ý : Một số thời hạn cụ thể được nêu ở đây là những thời hạn tối đa hoặc tối thiểu, một số thời hạn là bắt buộc phải tôn trọng, một số thời hạn khác thì không có tính bắt buộc. graphic 3. Biên niên sử một vụ kiện điển hình: Ngày 23/1/1995, Vênêzuêla đã đệ đơn kiện lên Cơ quan giải quyết tranh chấp liên quan đến việc Mỹ áp dụng các quy định phân biệt đối xử với xăng dầu nhập khẩu và Vênêzuêla đã chính thức yêu cầu mở các cuộc tham khảo ý kiến với Mỹ. Khoảng hơn một năm sau (ngày 29/1/1996), Nhóm chuyên gia chịu trách nhiệm giải quyết vụ kiện đã hoàn thành việc soạn thảo báo cáo cuối cùng của mình. (Trong thời gian đó, Braxin đã trở thành một bên liên quan đến vụ kiện sau khi đệ đơn kiện vào tháng 4/1996. Và cũng Nhóm chuyên gia đó đã thụ lý cả hai đơn kiện). Mỹ đòi xét xử phúc thẩm. Cơ quan phúc thẩm đã soạn thảo báo cáo và được Cơ quan giải quyết tranh chấp thông qua ngày 20/5/1996, tức là một năm 4 tháng sau khi nước đầu tiên đệ đơn kiện. Sau đó, Mỹ và Vênêzuêla phải cần tới sáu tháng rưỡi để thoả thuận về các biện pháp mà Mỹ sẽ phải thực hiện. Thời hạn thoả thuận cho việc thực hiện giải pháp là 15 tháng tính từ khi kết thúc phiên xử phúc thẩm (tức là từ ngày 20/5/1996 cho đến 20/8/1997). Vụ tranh chấp nảy sinh khi Mỹ áp dụng đối với xăng nhập khẩu các quy định về thành phần hoá lý ngặt nghèo hơn so với xăng được tinh chế tại Mỹ. Theo quan điểm của Vênêzuêla (và sau đó là của Braxin), điều đó là không công bằng vì xăng của Mỹ không bị lệ thuộc vào các chuẩn mực đó; biện pháp này là đi ngược lại nguyên tắc “đối xử quốc gia” và không thể chứng minh là trường hợp ngoại lệ theo các quy định thông thường của WTO liên quan tới các biện pháp y tế và các biện pháp bảo vệ môi trường. Nhóm chuyên gia chịu trách nhiệm giải quyết vụ tranh chấp đã kết luận là Vênêzuêla và Braxin đã có lý. Trong bản báo cáo của mình, Cơ quan phúc thẩm khẳng định các kết luận của Nhóm chuyên gia (chỉ thay đổi một vài điểm tham chiếu pháp luật do Nhóm chuyên gia đưa ra). Mỹ đã thoả thuận với Vênêzuêla sẽ sửa đổi quy định của mình sau thời gian 15 tháng; và ngày 26/8/1997 họ đã thông báo với Cơ quan giải quyết tranh chấp việc ký kết một quy định mới vào ngày 19/8/1997. Thời gian (0 = thời điểm bắt đầu xét xử) - 5 năm - 4 tháng 0 60 ngày + 1 tháng 24/2/1995 Thời hạn dự kiến trong Bản ghi nhớ/ thời hạn thực tế Ngày Diễn biến vụ kiện

1990 9/1994 23/1/1995

Luật chống ô nhiễm khí quyển của Mỹ được sửa đổi Mỹ hạn chế nhập khẩu xăng theo Luật chống ô nhiễm khí quyển. Vênêzuêla đệ đơn kiện lên Cơ quan giải quyết tranh chấp và yêu cầu tham khảo ý kiến với Mỹ. Các cuộc tham vấn đã diễn ra

+2 tháng

25/3/1995

+2 tháng rưỡi 30 ngày

10/4/1995

+3 tháng

28/4/1995

+ 6 tháng

+ 11 tháng

+1 năm

+ 1 năm 1 tháng +1 năm 3 tháng + 1 năm 4 tháng

+ 1 năm 10 tháng rưỡi

+ 1 năm 11 tháng rưỡi

+2 năm 7 tháng

9 tháng 10-12/7 và (Thời hạn dự kiến: 6 13-15/7/1995 tháng + thời gian kéo dài) 11/12/1995 Nhóm chuyên gia trao báo cáo giữa kỳ cho Mỹ, Vênêzuêla và Braxin để xem xét. 29/1/1996 Nhóm chuyên gia trao báo cáo cuối cùng cho Cơ quan giải quyết tranh chấp 21/2/1996 Mỹ yêu cầu xét xử phúc thẩm 60 ngày 29/4/1996 Cơ quan phúc thẩm công bố báo cáo của mình 30 ngày 20/5/1996 Cơ quan giải quyết tranh chấp thông qua báo cáo của Cơ quan phúc thẩm. 3/12/1996 Mỹ và Vênêzuêla thoả thuận về việc Mỹ sẽ phải làm (thời hạn thực hiện là 15 tháng kể từ ngày 20/5) 9/1/1997 Mỹ công bố cho Cơ quan giải quyết tranh chấp bản báo cáo đầu tiên về tình hình thực hiện các thoả thuận. 19-20/8/1997 Mỹ ký một quy định mới (ngày 19/8). Kết thúc thời hạn thoả thuận thực hiện (ngày 20).

nhưng thất bại. Vênêzuêla yêu cầu Cơ quan giải quyết tranh chấp thành lập nhóm chuyên gia. Cơ quan giải quyết tranh chấp chấp nhận thành lập nhóm chuyên gia. Mỹ không phản đối. (Braxin cũng đệ đơn kiện và yêu cầu có các cuộc tham khảo ý kiến với Mỹ). Nhóm chuyên gia được thành lập (vào ngày 31/5, và cũng chịu trách nhiệm xem xét cả đơn kiện của Braxin) Nhóm chuyên gia họp

CHƯƠNG 4
Những vấn đề mới và liên ngành Đây là những vấn đề được nêu trong các hiệp định và những điểm ngày càng được đề cập đến thường xuyên hơn trong chương trình nghị sự thời gian gần đây.

Công việc của WTO không chỉ giới hạn trong những hiệp định đặc thù gắn với những nghĩa vụ riêng biệt. Chính phủ các nước thành viên cũng thảo luận nhiều vấn đề khác, thông thường trong khuôn khổ các tiểu ban hay tổ công tác. Một vài vấn đề đã trở nên cũ, nhưng cũng có một số vấn đề mới đối với hệ thông của GATT và WTO. Một số vấn đề mang tính chất đặc thù, một số khác liên quan đến nhiều lĩnh vực thuộc phạm vi xử lý của WTO. Có những vấn đề cần thiết phải thông qua đàm phán. Đặc biệt là những vấn đề sau đây : Các tập hợp kinh tế khu vực Thương mại và môi trường Thương mại và đầu tư Chính sách cạnh tranh Minh bạch hóa mua sắm công Thuận lợi hóa thương mại (đơn giản hóa các thủ tục thương mại, tạo điều kiện thuận lợi cho các luồng trao đổi thương mại thông qua những biện pháp triệt để hơn việc dỡ bỏ các trở ngại quan thuế và phi quan thuế). Thương mại điện tử.

-

Một chủ đề khác vào những thời điểm khác nhau cũng là đối thượng tranh cãi sôi nổi tại WTO. Đó là : Thương mại và quyền của người lao động.

Chủ đề này không được ghi trong chương trình nghị sự của WTO, nhưng do nhận được nhiều quan tâm và sẽ được phân tích ở đây để làm rõ thêm thực trạng hiện nay. 1. Chủ nghĩa khu vực : đối tác hay đối thủ ? Liên minh Châu Âu, Hiệp định tự do mậu dịch Bắc Mỹ, Hệp hội các quốc gia Đông Nam Á, Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á, Thị trường chung Bắc Mỹ (MERCOSUR), Hiệp định thương mại xích lại gần nhau về kinh tế giữa Úc và New Zeland v.v… Tháng 7 năm 2003, chỉ ba thành viên sau của WTO là Macao, Trung Quốc, Mông cổ và Đài Loan không tham gia một hiệp định thương mại khu vực nào. Từ đầu những năm 90, số lượng các hiệp định như trên tiếp tục tăng. Tính đến tháng 5 năm 2003, đã có tới trên 265 hiệp định đã được WTO (hay tổ chức tiền thân là GATT) thống kê. Trong số này, 138 hiệp định đã được ghi nhận sau khi WTO được thành lập vào tháng 1/1995. Hiện nay, trên 190 hiệp định vẫn còn hiệu lực. Người ta đánh giá rằng 60 hiệp định khác cũng đang được thực hiện mặc dù chúng vẫn còn chưa được ghi nhận. Nếu tính cả số lượng các hiệp định có thể được ký kết hoặc đã từng là đối tượng để đàm phán, tổng số hiệp định thương mại khu vực đang có hiệu lực có thể lên tới xấp xỉ con số 300 từ nay đến năm 2005. Một trong những vấn đề được nêu lên thường xuyên nhất đó là liệu những tập khu vực nói trên góp phần củng cố hay gây trở ngại cho hệ thống thương mại đa biên của WTO. Hiện nay một uỷ ban đang theo dõi diễn biến tình hình. Những thoả thuận thương mại khu vực

Các hiệp định thương mại khu vực dường như tỏ ra đối lập với hệ thống thương mại đa biên của WTO, nhưng trên thực tế, chúng hoàn toàn có thể mang tính chất hỗ trợ. Hiệp định khu vực cho phép các nhóm quốc gia có thể thương thảo với nhau về những quy định và cam kết nhiều khi còn đi xa hơn những gì mà họ có thể thoả thuận được trong khuôn khổ đa biên. Hơn nữa, chính một số quy định trên lại mở đường dẫn đến một hiệp định của WTO. Các lĩnh vực như dịch vụ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn môi trường cũng như chính sách đầu tư và cạnh tranh đã từng là vấn đề được xới lên trong đàm phán thương mại khu vực và sau đó đã đưa đến các hiệp định được ký kết hay các chủ đề thảo luận của WTO. Liên kết khu vực quan trọng đối với WTO là những nhóm nước thực hiện xoá bỏ hoặc giảm trở ngại đối với thương mại giữa các nước thành viên. Các hiệp định của WTO công nhận rằng việc ký kết các thoả thuận khu vực và thúc đẩy liên kết khu vực có thể đem lại lợi ích cho các nước. Đồng thời, WTO cũng thừa nhận rằng trong một số hoàn cảnh nhất định, thoả thuận thương mại khu vực có thể gây phương hại đến lợi ích thương mại của một số quốc gia khác. Thông thường, việc thiết lập một liên minh thuế quan hay một khu vực thương mại tự do bị coi là vi phạm nguyên tắc của WTO là tất cả các đối tác thương mại phải được đối xử công bằng (« đối xử tối huệ quốc »). Tuy nhiên, theo điều 24 của hiệp định GATT, việc ký kết hiệp định thương mại khu vực là một ngoại lệ riêng biệt đối với nguyên tắc trên và điều đó được phép tiến hành với điều kiện phải tuân thủ một số tiêu chí chặt chẽ. Đặc biệt, các hiệp định này phải phục vụ cho tự do hóa các luồng trao đổi giữa các quốc gia thành viên và không gây trở ngại cho trao đổi với các quốc gia ngoài khối. Nói một cách khác, liên kết khu vực cần bổ sung và không được gây phương hại cho hệ thống thương mại đa biên. Điều 24 quy định rằng khi thiết lập một khu vực mật dịch tự do hay một liên minh thuế quan, thuế nhập khẩu và các loại trở ngại khác đối với thương mại phải được hạ thấp hay xóa bỏ đối với một phần chủ yếu của trao đổi trong tất cả các lĩnh vực của thương mại giữa các quốc gia thành viên. Cần phải đảm bảo không để các nước không phải là thành viên thấy rằng chế độ áp dụng trong trao đổi với các nước này lại chặt chẽ hơn lên so với thời kỳ trước khi tổ chức khu vực đó được thành lập. Cũng vậy, điều 5 của Hiệp định chung về trao đổi dịch vụ cũng cho phép ký kết các liên kết kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ. Một số điều khoản khác trong các hiệp định của WTO cũng cho phép các nước đang phát triển tham gia vào các hiệp định với quy mô khu vực và toàn cầu với chủ trương hạ thấp hay xóa bỏ hàng rào quan thuế hay các trở ngại phi quan thuế trong trao đổi giữa các nước. Ngày 6/2/1996, Đại hội đồng của WTO đã thành lập Ủy ban về các hiệp định thương mại khu vực với nhiệm vụ kiểm tra các tập hợp khu vực để xác định xem chúng có phù hợp với quy định của WTO hay không. Ủy ban này cũng có chức năng xem xét tác động của những thỏa thuận khu vực đó đối với hệ thống thương mại đa biên và mối liên hệ có thể có giữa các hiệp định khu vực và hiệp định đa biên. 2. Môi trường : một lĩnh vực mới Trong khuôn khổ của WTO không có một hiệp định nào riêng về môi trường, nhưng trong nhiều hiệp định của WTO chứa đựng các điều khoản liên quan đến những mối quan tâm về môi trường. Phát triển bền vững và bảo vệ môi trường là mục tiêu được ghi trong lời nói đầu của Hiệp định sáng lập WTO.

Các chính sách môi trường ngày càng được ưu tiên trở thành một hiện tượng tương đối mới. Vào năm 1994, tức là cuối Vòng đàm phán Uruguay, bộ trưởng thương mại các nước thành viên đã quyết định thực hiện trong khuôn khổ WTO một chương trình làm việc đồ sộ về thương mại và môi trường và lập ra Ủy ban thương mại và môi trường. Như thế, những vấn đề liên quan đến môi trường và phát triển bền vững đã trở thành cấu thành trong các hoạt động chính của tổ chức này. Những điều khoản "sinh thái" Ví dụ về một số điều khoản trong các Hiệp định của WTO liên quan đến môi trường. - Điều 20 trong hiệp định GATT: những biện pháp có ảnh hưởng đến thương mại hàng hoá, cần thiết nhằm bảo vệ sức khỏe và cuộc sống con người, động vật hay bảo tồn thực vật, được miễn trừ trừng phạt thông thường của GATT trong một số hoàn cảnh nhất định. - Trở ngại kỹ thuật đối với thương mại (tiêu chuẩn hàng hóa và tiêu chuẩn ngành nghề) và các biện pháp vệ sinh an toàn thực vật (vệ sinh và sức khỏe động, thực vật): công khai công nhận các mục tiêu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Nông nghiệp: Các chương trình bảo vệ môi trường được loại trừ ra khỏi cam kết về cắt giảm trợ cấp. - Trợ cấp và các biện pháp bồi thường: cho phép áp dụng trợ cấp đến mức 20% chi phí doanh nghiệp cho các hoạt động nhằm khuyến khích áp dụng các điều khoản mới về môi trường theo luật trong nước. - Sở hữu trí tuệ: chính quyền các nước có thể từ chối cấp giấy chứng nhận cho những phát minh có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe hay đời sống con người, động vật hay thực vật hoặc có nguy cơ gây phương hại nghiêm trọng đến môi trường (điều 27 trong Hiệp định ADPIC). - Điều 14 của Hiệp định AGCS: những biện pháp có ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ nhưng cần thiết đối với bảo vệ sức khỏe và cuộc sống của con người, động vật hay bảo tồn thực vật được miễn trừ trừng phạt thông thường của AGCS trong một số hoàn cảnh nhất định. Ủy ban : một cơ quan của WTO với sứ mệnh lớn lao Ủy ban được trao cho một sứ mệnh lớn lao, bao gồm tất cả các khía cạnh của hệ thống thương mại đa biên – hàng hóa, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ. Ủy ban có nhiệm vụ xem xét mối liên hệ giữa thương mại và môi trường và đưa ra những khuyến nghị về những điều chỉnh thích hợp cần được bổ sung vào các hiệp định thương mại. Công việc của Ủy ban dựa trên hai nguyên tắc cơ bản như sau : Thẩm quyền của WTO giới hạn trong lĩnh vực thương mại. Nói cách khác, về vấn đề môi trường, WTO chỉ có chức năng xem xét những vấn đề được đặt ra khi chính sách môi trường các nước gây ra những tác động đáng kể đến thương mại. WTO không phải là một tổ chức quốc tế bảo vệ môi trường ; các thành viên WTO không muốn tổ chức này can thiệp vào việc hoạch định chính sách môi trường quốc gia hay quốc tế, cũng như hình thành các tiêu chuẩn về môi trường. Các tổ chức chuyên môn khác về môi trường có thẩm quyền cao hơn trong lĩnh vực này. Khi Ủy ban phát hiện thấy có vấn đề nào đó thì các giải pháp mà nó quyết định cần phải góp phần vào việc duy trì những quy định của hệ thống thương mại của WTO.

Trình bày một cách khái quát hơn, các thành viên của WTO tin tưởng rằng một hệ thống thương mại đa biên rộng mở, công bằng và không phân biệt đối xử có thể là một đóng góp quan trọng đối với nỗ lực bảo vệ và bảo tồn tài nguyên môi trường và khuyến khích phát triển bền vững. Đó là những điều đã được công nhận thông qua kết quả cảu Hội nghị LHQ về môi trường và phát triển họp tại Rio vào năm 1992 (còn gọi là Hội nghị thượng đỉnh Trái đất), và của Hội nghị tiếp theo là Hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững năm 2002 tại Johannesburg. Chương trình làm việc của Ủy ban được chia thành 10 điểm được sắp xếp theo thứ tự những đề xuất của các nước thành viên về những vấn đề mà họ cho là quan trọng. Sau đây là khái quát về một số vấn đề và những kết luận mà Ủy ban đã đạt được cho đến thời điểm hiện nay. Những vấn đề chính Nếu một quốc gia cho rằng thương mại trong một nước khác gây ảnh hưởng đến môi trường, nước đó có thể làm gì? Quốc gia đó có thể hay không có thể hạn chế thương mại với quốc gia kia? Nếu có thể thì trong những điều kiện ra sao? Hiện nay không tồn tại những lời giải thích chính thức về mặt pháp lý trong lĩnh vực này, chủ yếu xuất phát từ thực tế là các vấn đề đó chưa từng được xem xét trong khuôn khổ một tranh chấp nào được đưa ra WTO hay một định chế nào khác. Tuy nhiên, khi đọc các Hiệp định thương mại của WTO và các hiệp định về môi trường được ký kết bên ngoài khuôn khổ WTO, ta có thể rút ra một số kết luận như sau: 1. Trước tiên cần phải hợp tác: các nước có liên quan cần nỗ lực hợp tác để đảm bảo không có bất cứ tổn hại nào đến môi trường; 2. Quốc gia nguyên đơn có thể áp dụng những biện pháp (ví dụ về nhập khẩu) nhằm bảo vệ môi trường trên lãnh thổ quốc gia mình, nhưng không được phân biệt đối xử. Căn cứ vào hiệp định của WTO, các tiêu chuẩn, thuế và những biện pháp khác áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ một nước phải được áp dụng một cách công bằng như đối với sản phẩm của nước nguyên đơn ("đối xử quốc gia") và như đối với hàng nhập khẩu của tất cả các nước khác ("tối hệ quốc"). 3. Trong trường hợp nước kia cũng tham gia một điều ước về môi trường, những biện pháp được nước nguyên đơn áp dụng dù thế nào cũng không thuộc thẩm quyền của WTO. 4. Cần làm gì nếu như nước kia không tham gia một điều ước về môi trường? Tình huống này không rõ ràng và trở thành một đề tài thảo luận. Một số điều ước về môi trường quy định rằng chúng chỉ được áp dụng bởi các quốc gia tham gia cho hàng hoá và dịch vụ đến từ các quốc gia không tham gia điều ước. Người ta không còn chưa xem xét việc những điều khoản này có trái với các hiệp định của WTO hay không bởi vì WTO cho đến nay vẫn chưa được yêu cầu giải quyết bất cứ một tranh chấp nào về vấn đề này. Để làm rõ tình huống đó, một số nước đề xuất soạn thảo lại các quy định này theo hướng cho phép khẳng định rõ ràng rằng các nước, trong một số tình huống nào đó, có thể viện dẫn một điều ước về môi trường khi họ tiến hành một biện pháp có ảnh hưởng đến thương mại trong một nước không tham gia điều ước đó. Những nước phản đối đề xuất này tuyên bố rằng đề xuất cho phép một số nước áp đặt những tiêu chuẩn môi trường của họ sang các nước khác. 5. Trong trường hợp vấn đề nêu ra không là đối tượng điều chỉnh của một điều ước quốc tế về môi trường, quy định của WTO sẽ được áp dụng. Các hiệp định của WTO nổi tiếng bởi hai nguyên tác cơ bản: Thứ nhất, không một hạn chế nào có thể được đưa ra đối với thương mại của một sản phẩm nào đó chỉ vì lý do duy nhất là phương thức được sử dụng để sản xuất sản phẩm đó. Thứ hai là một quốc gia không thể vượt qua khuôn khổ biên giới quốc gia để áp đặt các tiêu chuẩn của mình cho các quốc gia khác.

Những hiệp định WTO và hiệp định về môi trường có mối liên hệ với nhau như thế nào ? Hệ thống thương mại của WTO và các biện pháp thuêong mại « bảo vệ môi sinh » có mối liên hệ như thế nào ? Các hiệp định của WTO có quan hệ như thế nào với các công ước quốc tế về vấn đề môi trường ? Khoảng 200 hiệp định quốc tế (ngoài khuôn khổ WTO) liên quan đến nhiều vấn đề môi trường khác nhau hiện đang có hiệu lực. Đó là các Hiệp định đa phương về môi trường (AEM). Trên dưới 20 trong số các hiệp định này chứa đựng điều khoản có thể ảnh hưởng tới trao đổi thương mại, ví dụ thông qua việc cấm buôn bán một số loại sản phẩm nào đó hay cho phép các nước hạn chế trao đổi trong một số tình huống nhất định. Trước hết, có thể nêu ra ở đây Nghị định thư Montréal về những chất làm suy giảm tầng ô zôn, Công ước Bâle về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới và tiêu huỷ các chất thải độc hại hay Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã đang có nguy cơ tuyệt chủng (CITES). Nói tóm lại, Uỷ ban của WTO cho rằng không tồn tại mâu thuẫn giữa những nguyên tắc cơ bản của WTO về không phân biệt đối xử và minh bạch với các biện pháp thương mại nhằm bảo vệ môi trường. Uỷ ban cũng ghi nhận rằng một số điều khoản trong các hiệp định về hàng hoá, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ cho phép chính phủ các nước đặt ưu tiên vào chính sách quốc gia về bảo vệ môi trường. Theo Uỷ ban của WTO, các hiệp định môi trường là công cụ hữu hiệu nhất để đối phó với những vấn đề môi trường quốc tế. Cách tiếp cận trên cũng phù hợp với hoạt động hiện nay của WTO nhằm giải quyết những vấn đề thương mại thông qua giải pháp đạt được ở quy mô quốc tế. Nói cách khác, viện dẫn đến những điều khoản quốc tế về môi trường sẽ có lợi hơn là cố gắng tìm kiếm một cách đơn lẻ từng quốc gia phương thức thay đổi chính sách môi trường của các nước khác. (xem thêm phầm nghiên cứu tình huống liên quan đến vụ kiện tôm và rùa cũng như vụ kiện cá heo và cá thu). Uỷ ban ghi nhận rằng những biện pháp nhằm bảo vệ môi trường có ảnh hưởng đến thương mại có thể đóng một vai trò quan trọng trong một số hiệp định về môi trường, nhất là khi thương mại trực tiếp là nguyên nhân dẫn đến những vấn đề môi trường. Tuy nhiên, Uỷ ban cũng nhận xét rằng hạn chế thương mại không phải là những biện pháp duy nhất có thể được tiến hành và chúng không nhất thiết là hiệu quả nhất. Tồn tại những biện pháp khác như: giúp các quốc gia trang bị cho mình một công nghệ tôn trọng và bảo vệ môi trường, cung cấp hỗ trợ tài chính, giúp về đào tạo v.v... Tuy nhiên, cũng không nên vì thế mà thổi phồng lên tầm vóc của vấn đề đó. Cho đến nay, không biện pháp nào có ảnh hưởng đến thương mại được áp dụng trong một hiệp định quốc tế về môi trường lại bị chỉ trích trong khuôn khổ GATT hay WTO. Điều được thừa nhận rộng rãi là những biện pháp được quyết định trong khuôn khổ một hiệp định quốc tế về môi trường cần hoàn toàn không là vấn đề đối với WTO nếu như các quốc gia liên quan đã cùng nhau ký kết hiệp định môi trường đó, thậm chí ngay cả khi vấn đề đó chưa được giải quyết hoàn toàn. Uỷ ban về thương mại và môi trường quan tâm nhiều hơn đến những gì có thể xảy ra nêu một quốc gia nào đó viện dẫn một hiệp định môi trường để có biện pháp đi ngược lại lợi ích của một quốc gia khác không tham gia hiệp định đó. > Tham khảo Đàm phán thương mại trong khuôn khổ chương trình Doha Tranh chấp : vấn đề được giải quyết ở đâu?

Giả thử một tranh cháp thương mại xảy ra bởi vì một quốc gia đã thực hiện một biện pháp có ảnh hưởng tới thương mại (áp dụng một luật thuế hay hạn chế nhập khẩu chẳng hạn) theo tinh thần của một hiệp định môi trường bên ngoài hệ thống luật WTO, và một quốc gia khác phản đối điều đó. Tranh chấp này cần phải được xem xét tại WTO hay trong khuôn khổ của hiệp định kia? Theo Uỷ ban thương mại và môi trường, khi xuất hiện tranh chấp liên quan đến một biện pháp thương mại được thực hiện trong khuôn khổ một hiệp định môi trường và nếu như hai bên tranh chấp cùng ký hiệp định đó, các bên cần căn cứ vào điều khoản của chính hiệp định đó để giải quyết tranh chấp. Nhưng, nếu một trong các bên tranh chấp không tham gia hiệp định môi trường, định chế duy nhất ghi nhận sự tồn tại của tranh chấp chính là WTO. Điều đó không có nghĩa rằng những vấn đề môi trường sẽ không được tính đến: các hiệp định WTO cho phép hình thành các tổ công tác đặc trách có nhiệm vụ xem xét tranh chấp và tham khảo ý kiến của chuyên gia về các vấn đề môi trường. "... chúng tôi không phán quyết rằng các quốc gia có chủ quyền và là thành viên của WTO lại không thể thực hiện những biện pháp hiệu quả nhằm b vệ các loài động vật đang bị đe dọa như loài rùa biển. Điều hiển nhiên là các quốc gia có thể và phải làm được điều đó...".

CHƯƠNG 5
Chương trình Đô-ha Chương trình làm việc gồm 21 chủ đề Tất cả các cuộc đàm phán phải kết thúc chậm nhất vào ngày 1 tháng 1 năm 2005. Tại Hội nghị bộ trưởng lần thứ 4 tổ chức tại Đô-ha (Qatar) vào tháng 11 năm 2001, các chính phủ thành viên WTO đã nhất trí tiến hành các cuộc đàm phán mới. Họ cũng thống nhất sẽ thảo luận nhiều vấn đề khác, đặc biệt là việc thực thi các hiệp định hiện nay. Tất cả các hoạt động này nằm trong một chương trình chung được gọi là Chương trình phát triển Đô-ha (DDA). Các cuộc đàm phán diễn ra trong khuôn khổ của Uỷ ban đàm phán thương mại và các cơ quan hỗ trợ cho uỷ ban này. Đó thường là những hội đồng hay uỷ ban được triệu tập trong các “phiên họp bất thường”, hay những nhóm đàm phán được lập ra để chuyên trách về một nội dung đàm phán. Các hoạt động khác của chương trình sẽ do các hội đồng hay uỷ ban khác của WTO tiến hành. Tuyên bố Đô-ha nêu ra 19 chủ đề, hay 21, tuỳ theo quan niệm cho rằng vấn đề “quy tắc” cấu thành 1 hay 3 chủ đề. Phần lớn các nội dung này đòi hỏi phải tiến hành đàm phán; số còn lại thì đòi hỏi các biện pháp “thực thi”, phân tích và theo dõi đánh giá. Dưới đây là một sự giải thích không mang tính chính thức về những gì được nêu trong Tuyên bố Đô-ha (kèm theo số thứ tự của đoạn văn bản tương ứng): Những vấn đề và lo ngại liên quan đến việc thực thi (đoạn 12) Thuật ngữ “thực thi” là cách nói ngắn gọn để chỉ những vấn đề mà các nước đang phát triển gặp phải trong quá trình thực thi các Hiệp định hiện nay của WTO, tức là các hiệp định đã được ký kết trong khuôn khổ vòng đàm phán Urugoay.

Tất cả các lĩnh vực mang tính thời sự của WTO đều thu hút sự chú ý quan tâm đồng thời cũng gây nhiều tranh cãi gay gắt trong ba năm trước khi diễn ra Hội nghị Đô-ha. Trong thời gian này, đã có khoảng 100 vấn đề được nêu ra. Tình hình này dẫn tới một kết quả kép: có hơn 40 vấn đề, được xếp vào 12 nhóm chủ đề, đã được giải quyết tại Hội nghị Đô-ha hoặc trước đó, và sẽ được thực thi ngay lập tức; phần lớn các vấn đề còn lại ngay lập tức đều trở thành các chủ đề đàm phán.

Kết quả này được trình bày riêng trong một quyết định cấp bộ trưởng về vấn đề thực thi, có liên quan đến đoạn 12 của Tuyên bố Đô-ha. Quyết định về vấn đề thực thi đề cập đến những điểm sau (có thể tham khảo những thông tin chi tiết trên trang Web của WTO): Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) - Ngoại lệ trong cán cân thanh toán: làm rõ những điều kiện giảm nhẹ được nêu trong GATT có thể áp dụng đối với trường hợp các nước đang phát triển nếu các nước này hạn chế nhập khẩu để bảo đảm sự cân bằng trong cán cân thanh toán. - Cam kết liên quan đến vấn đề tiếp cận thị trường: làm rõ những điều kiện cần phải đáp ứng để có thể tiến hành đàm phán hoặc đưa ra tham khảo ý kiến chuẩn bị cho việc phân bổ hạn ngạch. Nông nghiệp - Phát triển nông thôn và an ninh lương thực đối với những nước đang phát triển - Các nước chậm phát triển nhất và các nước thực sự phải nhập khẩu sản phẩm lương thực - Tín dụng cho xuất khẩu, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu hay các chương trình bảo hiểm - Hạn mức thuế quan Các biện pháp kiểm dịch dộng thực vật (SPS) - Kéo dài thời hạn chuẩn bị cho các nước đang phát triển để các nước này có thể thích ứng với những biện pháp SPS mới của các nước khác - Xác định “thời hạn hợp lý” giữa thời điểm công bố một biện pháp SPS mới của một nước và thời điểm triển khai biện pháp đó trong thực tế - Nguyên tắc tương đương: áp dụng nguyên tắc theo đó các chính phủ phải chấp nhận rằng các biện pháp khác mà các chính phủ khác áp dụng có thể tương đương với những biện pháp riêng của họ và phải đảm bảo được mức độ vệ sinh kiểm dịch tương đương đối với các sản phẩm thực phẩm và động thực vật - Xem xét Hiệp định về kiểm dịch động thực vật SPS - Các nước đang phát triển tham gia vào quá trình xây dựng các quy chuẩn SPS quốc tế - Hỗ trợ tài chính và kỹ thuật Dệt may:

- Áp dụng một cách "thực sự" các điều khoản của Hiệp định Dệt may liên quan đến việc sớm đưa các sản phẩm dệt may vào trong khuôn khổ những quy tắc thông thường của GATT, cũng như các điều khoản liên quan đến việc xoá bỏ các hạn ngạch - Điều chỉnh hợp lý việc sử dụng các biện pháp chống bán phá giá - Có thể xem xét những quy định mới về xuất xứ do các chính phủ quốc gia thông qua - Yêu cầu các chính phủ thành viên xây dựng chế độ hạn ngạch có lợi cho các nhà sản xuất nhỏ và các nước chậm phát triển nhất , và nhìn chung, phải tăng hạn ngạch. Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại - Trợ giúp kỹ thuật cho những nước kém phát triển và xem xét công tác trợ giúp kỹ thuật nói chung - Nếu có thể dành “thời hạn hợp lý” là 6 tháng để các nước đang phát triển thích ứng với các biện pháp mới - Khuyến khích Tổng giám đốc WTO tiếp tục những nỗ lực trong việc giúp đỡ các nước đang phát triển tham gia vào quá trình xây dựng các quy chuẩn quốc tế Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) - Hội đồng Thương mại hàng hoá phải “xem xét một cách tích cực” yêu cầu của các nước kém phát triển về việc kéo dài giai đoạn chuyển tiếp 7 năm để loại bỏ những biện pháp không phù hợp với Hiệp định. Chống bán phá giá (điều 6 của GATT) - Không tiến hành hai cuộc điều tra chống bán phá giá trong cùng một năm, trừ phi có những thay đổi về hoàn cảnh - Xác định phương thức áp dụng điều khoản đặc biệt liên quan tới các nước đang phát triển (điều 15 - Hiệp định chống bán phá giá). Phương thức này thừa nhận rằng các nước phát triển cần phải “đặc biệt lưu tâm đến” tình hình của các nước đang phát triển khi họ định áp dụng các biện pháp chống bán phá giá - Xác định cụ thể thời hạn cần thiết để làm rõ khối lượng hàng nhập khẩu phá giá có thể bỏ qua được hay không; nếu được thì không cần áp dụng một biện pháp chống bán phá giá - Nâng cao chất lượng của công tác kiểm tra thường niên đối với việc thực thi Hiệp định. Định giá hải quan (điều 7 của GATT) - Kéo dài thời hạn chuẩn bị cho các nước đang phát triển trước khi thực thi Hiệp định. - Chống gian lận thương mại: phương thức hợp tác nhằm trao đổi thông tin, trong đó có cả thông tin về giá trị xuất khẩu Quy tắc xuất xứ - Hoàn thành quá trình thống nhất các quy tắc xuất xứ của các chính phủ thành viên - Kiểm tra các thoả thuận tạm thời áp dụng trong thời gian chuyển đổi trước khi các quy tắc xuất xứ mới được thống nhất và có hiệu lực.

Trợ cấp và các biện pháp đối kháng - Xây dựng một phương pháp xác định những nước đang phát triển thoả mãn điều kiện GNP tính theo đầu người dưới 1000 đôla Mỹ để có thể cho phép các nước này trợ cấp xuất khẩu - Đề xuất các quy tắc mới cho phép các nước đang phát triển trợ cấp trong khuôn khổ những chương trình hướng tới “những mục tiêu phát triển chính đáng” không để việc trợ cấp này bị trừng phạt bằng các loại thuế đối kháng - Kiểm tra những điều khoản liên quan tới việc điều tra về thuế đối kháng - Tái khẳng định rằng những nước kém phát triển nhất được miễn trừ nghĩa vụ cấm trợ cấp xuất khẩu - Hướng dẫn cho Uỷ ban trợ cấp kéo dài giai đoạn chuyển đổi đối với một số nước đang phát triển Các khía cạnh về quyền sở hữu trí tuệ liên quan tới thương mại (TRIPS) - Những khiếu nại “trong trường hợp không vi phạm”: đây là một vấn đề cho đến nay vẫn chưa được giải quyết; vấn đề này liên quan tới việc giải quyết các tranh chấp có thể xảy ra xung quanh việc huỷ bỏ một lợi thế mà không có sự vi phạm đối với Hiệp định TRIPS - Chuyển giao kỹ nghệ cho các nước kém phát triển nhất. Các vấn đề đa ngành, tổng hợp ∙ Những điều khoản nào liên quan tới quy chế đối xử đặc biệt và ưu đãi có tính chất bắt buộc? Đâu là những hậu quả của việc chuyển các điều khoản không có tính bắt buộc thành các điều khoản mang tính bắt buộc? Làm thế nào để các biện pháp liên quan tới quy chế đối xử đặc biệt và ưu đãi trở nên thực tế hơn? Làm thế nào để quy chế đối xử đặc biệt và ưu đãi được đưa ra thảo luận trong các cuộc đàm phán mới? Những ưu đãi của các nước phát triển cần phải được nhân rộng và không được mang tính phân biệt đối xử, nói cách khác là phải được dành cho tất cả các nước đang phát triển, chứ không phải chỉ một số nước.

∙ ∙ ∙

Các vấn đề thực thi còn bỏ ngỏ ∙ Cần phải được giải quyết phù hợp với qui định tại đoạn 12 của Tuyên bố Đô-ha

Các điều khoản cuối cùng ∙ Tổng giám đốc WTO phải làm sao để công tác hỗ trợ kỹ thuật tập trung trước hết cho các nước đang phát triển để các nước này có thể thực thi những nghĩa vụ bắt buộc hiện đang được áp dụng trong khuôn khổ WTO, đồng thời để các nước này có thể nâng cao khả năng, tham gia một cách hữu hiệu vào những cuộc đàm phán tương lai Ban thư ký WTO phải hợp tác chặt chẽ hơn nữa với các tổ chức quốc tế khác để công tác hỗ trợ kỹ thuật trở nên thực tế và hiệu quả hơn

Quyết định về vấn đề thực thi có liên quan đến Tuyên bố Đô-ha. Trong tuyên bố này, các bộ trưởng đã thống nhất về một chương trình hành động trong tương lai nhằm giải quyết các vấn đề "thực thi" hiện đang bị bỏ ngỏ. Các bộ trưởng đã tuyên bố rằng “các cuộc đàm phán xung quanh những vấn đề thực thi hiện đang bị bỏ ngỏ sẽ là một trong những nội dung của Chương trình làm việc” trong những năm tới Trong Tuyên bố, các bộ trưởng đã xác định hai hướng tiếp cận. Đối với các vấn đề mà phạm vi quyền đàm phán đã được xác định trong Tuyên bố, mọi việc sẽ được giải quyết theo đúng qui định. Những vấn đề khác liên quan đến chủ đề này sẽ được “ưu tiên” giải quyết tại các hội đồng hay uỷ ban có thẩm quyền của WTO. Các cơ quan này phải báo cáo lên Ủy ban đàm phán thương mại trước cuối năm 2002 nhằm đưa ra được một “hành động thích hợp”. Nông nghiệp (đoạn 13 và 14) Các cuộc đàm phán về nông nghiệp đã bắt đầu từ đầu năm 2001 theo qui định của điều 20 Hiệp định thành lập WTO. Tháng 11 năm 2001, vào thời gian diễn ra Hội nghị Bộ trưởng Đô-ha, 121 chính phủ đã nêu ra một số đề xuất cho đàm phán. Các cuộc đàm phán vẫn tiếp tục nhưng hiện nay chỉ giới hạn trong phạm vi quyền đàm phán đã nêu trong Tuyên bố Đô-ha với nhiều mốc thời gian được ấn định. Tuyên bố Đô-ha dựa trên kết quả các công việc đã thực hiên, khẳng định và nêu rõ những mục tiêu phải đạt được và xây dựng một lịch trình: Từ nay, nông nghiệp sẽ là một phần trong cam kết duy nhất, và cũng như tất cả các cuộc đàm phán trong khuôn khổ cam kết này, đàm phán về nông nghiệp sẽ phải kết thúc muộn nhất vào ngày 1 tháng 1 năm 2005. Tuyên bố cũng tái khẳng định mục tiêu lâu dài đã được Hiệp định thành lập WTO nêu lên : đó là xây dựng một hệ thống thương mại công bằng và hướng tới thị trường thông qua một chương trình cải cách cơ bản, bao gồm tăng cường các qui tắc và đưa ra cam kết cụ thể về việc nhà nước hỗ trợ và trợ cấp cho nông nghiệp. Mục đích là để khắc phục và phòng ngừa những hạn chế và sai lệch gây ảnh hưởng đến thị trường nông nghiệp thế giới. Các chính phủ thành viên không có đánh giá trước về kết quả có thể đạt được nhưng đều cam kết thực hiện các cuộc đàm phán chung với các mục tiêu đặt ra như sau: ∙ ∙ ∙ Tiếp cận thị trường: cải thiện đáng kể tình hình Trợ cấp xuất khẩu: giảm tất cả các hình thức trợ cấp xuất khẩu, tiến tới xóa bỏ dần dần hình thức trợ cấp này Hỗ trợ trong nước: Giảm đáng kể các biện pháp hỗ trợ có thể làm sai lệch môi trường thương mại.

Tuyên bố Đô-ha qui định: quy chế đối xử đặt biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển sẽ là một trong những nội dung của các cuộc đàm phán và sẽ được đưa vào các cam kết mới cũng như các qui tắc và luật lệ mới hay các qui tắc và luật lệ được hiệu chỉnh để có thể áp dụng được trên thực tế và để các nước đang phát triển có thể đáp ứng được các nhu cầu của mình đặc biệt trong lĩnh vực an ninh lương thực và phát triển nông thôn.

Các bộ trưởng đã ghi nhận nhiều vấn đề khác ngoài lĩnh vực thương mại (như bảo vệ môi trường, an ninh lương thực, phát triển nông thôn, …) được nêu ra trong các đề nghị đàm phán của các nước thành viên. Họ khẳng định rằng các vấn đề này sẽ được xem xét trong các cuộc đàm phán như đã dự định trong Hiệp định về nông nghiệp. Các cuộc đàm phán này diễn ra trong khuôn khổ « các phiên họp bất thường » của Ủy ban nông nghiệp. Nông nghiệp: Những mốc quan trọng Bắt đầu đàm phán: đầu năm 2000 Soạn thảo nội dung và các « phương thức » khác liên quan đến cam kết của các nước : chậm nhất 31 tháng 3 năm 2003 Dự thảo các cam kết chung của các nước thành viên : chậm nhất Hội nghị bộ trưởng lần thứ 5 năm 2003 (tại Mêhicô) Báo cáo tổng kết các cuộc đàm phán: Hội nghị bộ trưởng 2003 (tại Mêhicô) Hạn cuối cùng : 1 tháng 1 năm 2005 trong khuôn khổ một cam kết duy nhất. Dich vụ : Các cuộc đàm phán về dịch vụ đã kéo dài 2 năm tính đến thời điểm chúng được đưa vào chương trình Đô-ha mới. Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) yêu cầu các chính phủ thành viên thực hiện một loạt các cuộc đàm phán kế tiếp nhau về các vấn đề đặc thù để dần tiến tới tự do hóa thương mại dịch vụ. Vòng đàm phán lần thứ nhất phải bắt đầu muộn nhất sau 5 năm tính từ năm 1995. Vì vậy, các cuộc đàm phán về dịch vụ đã chính thức bắt đầu từ năm 2000 trong khuôn khổ của Hội đồng Thương mại dịch vụ. Tháng 3 năm 2001, với việc thiết lập được những định hướng chủ đạo và trình tự đàm phán, Hội đồng này đã hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng trong số các nội dung đàm phán được giao phó. Tuyên bố Đô-ha công nhận những tiến bộ đã đạt được, khẳng định lại những định hướng chủ đạo và trình tự đàm phán và thiết lập một số yếu tố chính trong lịch trình đàm phán, đặc biệt là thời hạn cuối cùng để kết thúc các cuộc đàm phán trong khuôn khổ một cam kết duy nhất. Các cuộc đàm phán này diễn ra trong khuôn khổ « các phiên họp bất thường » của Hội đồng Thương mại và dịch vụ và các phiên họp thường kỳ của các ủy ban hay nhóm công tác hỗ trợ cho Hội đồng này.

Dich vụ : Những mốc quan trọng Bắt đầu đàm phán : đầu năm 2000 Xác định các định hướng chủ đạo và trình tự đàm phán : tháng 3 năm 2001 Yêu cầu đầu tiên về vấn đề tiếp cận thị trường : chậm nhất 30 tháng 6 năm 2002

Đ ề xuất đầu tiên về mở cửa thị trường : chậm nhất 31 tháng 3 năm 2003 Báo cáo tổng kết các cuộc đàm phán: Hội nghị bộ trưởng 2003 (tại Mêhicô) Hạn cuối cùng : 1 tháng 1 năm 2005 trong khuôn khổ một cam kết duy nhất. Vấn đề tiếp cận thị trường của các sản phẩm phi nông nghiệp Các bộ trưởng đã nhất trí mở các cuộc đàm phán nhằm giảm thuế quan đối với các sản phẩm phi nông nghiệp. Mục đích là để "giảm hoặc nếu thích hợp sẽ dỡ bỏ các loại thuế quan, bao gồm các loại thuế đỉnh - mức thuế suất rất cao, thuế luỹ tiến, cũng như các hàng rào phi thuế quan, đặc biệt là đối với các sản phẩm xuất khẩu quan trọng của các nước đang phát triển ". Các cuộc đàm phán sẽ tính đến tất cả các nhu cầu và lợi ích đặc biệt của các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển, đồng thời thừa nhận rằng nguyên tắc có đi có lại trong các cam kết giảm thuế quan không nhất thiết phải thực hiện một cách tuyệt đối giữa các nước này và các thành viên khác. Các thành viên tham gia đàm phán trước hết phải đạt được một sự thống nhất về cách thức (phương thức) giảm thuế quan (trong khuôn khổ vòng đàm phán Tokyo, các bên đàm phán đã sử dụng một công thức toán học phù hợp để thực hiện cắt giảm thuế quan cho tất cả các loại sản phẩm; trong khuôn khổ vòng đàm phán Urugoay, họ đã tiến hành đàm phán việc giảm thuế quan đối với từng sản phẩm). Các trình tự đã thống nhất bao gồm thực hiện các nghiên cứu và các biện pháp tăng cường năng lực để hỗ trợ cho các nước chậm phát triển để họ có thể tham gia đàm phán hiệu quả. Khi trở lại Giơ ne vơ, các thành viên tham gia đàm phán đã quyết định rằng các phương thức phải được thống nhất trước ngày 31 tháng 5 năm 2003. Sau 8 vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT, các mức thuế suất trung bình hiện nay đã giảm xuống đến mức thấp nhất, nhưng một số loại thuế vẫn tiếp tục cản trở thương mại, đặc biệt là xuất khẩu của các nước đang phát triển - ví dụ "các loại thuế đỉnh" là loại thuế quan tương đối cao, thường áp dụng cho các hàng hoá "nhạy cảm" trong bối cảnh mặt bằng thuế chung không cao. Đối với các nước phát triển, các loại thuế quan ở mức 15% và cao hơn nhìn chung đều được coi là "các loại thuế đỉnh". Về hình thức "thuế luỹ tiến", có thể lấy ví dụ sau: thuế nhập khẩu đánh vào hàng hoá bán thành phẩm cao hơn so với thuế nhập khẩu nguyên liệu nhưng thấp hơn so với thuế nhập khẩu thành phẩm. Đây là biện pháp nhằm bảo hộ các ngành công nghiệp chế biến trong nước và không khuyến khích phát triển hoạt động chế biến ở các nước có nguyên liệu.

Vấn đề tiếp cận thị trường : Những mốc quan trọng Bắt đầu đàm phán: : tháng 1 năm 2002 Báo cáo tổng kết các cuộc đàm phán: : Hội nghị bộ trưởng lần thứ 5 năm 2003 (tại Mêhicô) Thời hạn cuối cùng: ngày 1 tháng 1 năm 2005, trong khuôn khổ một cam kết duy nhất.

Quyền sở hữu trí tuệ liên quan tới thương mại (TRIPS)

TRIPS và y tế công cộng. Trong Tuyên bố Đô-ha, các Bộ trưởng đã nhấn mạnh cần phải triển khai và giải thích Hiệp định TRIPS theo hướng có lợi cho y tế công cộng. Cụ thể là tạo điều kiện để mọi người đều được tiếp cận với các loại thuốc hiện có và khuyến khích việc sáng chế ra các loại thuốc mới. Các bộ trưởng nhắc tới một tuyên bố riêng về chủ đề này. Tuyên bố riêng về TRIPS và y tế công cộng là để nhằm thoả mãn cho những mối quan tâm lo lắng về những tác động tiêu cực mà Hiệp định TRIPS có thể gây ra cho khả năng tiếp cận các loại thuốc. Tuyên bố nhấn mạnh rằng Hiệp định TRIPS không cản trở và không được cản trở các chính phủ thành viên trong các hoạt động bảo vệ y tế công cộng. Tuyên bố còn tái khẳng định quyền được sử dụng các qui định có tính mềm dẻo trong Hiệp định của các chính phủ để họ không còn phải ngần ngại. Tuyên bố riêng cũng nêu rõ một số qui định mềm dẻo, đặc biệt là việc cấp các giấy phép bắt buộc và khả năng nhập khẩu song song (Xem giải thích về những vấn đề này tại trang web của WTO, phần liên quan đến TRIPS). Hướng tới những mục tiêu của chương trình Đô-ha, Tuyên bố xác định hai nhiệm vụ đặc thù. Hội đồng TRIPS phải tìm ra một giải pháp cho những vấn đề có thể đặt ra cho các nước có ít hoặc không có khả năng sản xuất thuốc khi các nước này cần có giấy phép bắt buộc, và phải trình một báo cáo về vấn đề này lên Đại hội đồng muộn nhất vào cuối năm 2002. Tuyên bố cũng hoãn thời hạn thực thi các điều khoản liên quan tới bằng sáng chế dược phẩm đối với những nước chậm phát triển tới ngày 1 tháng 1 năm 2016. Chỉ dẫn địa lý – hệ thống đăng ký. Các chỉ dẫn địa lý là tên các địa danh (và đối với một số nước, là những thuật ngữ gắn với một địa điểm) được sử dụng để nhận dạng các sản phẩm có một số đặc trưng riêng vì có nguồn gốc xuất xứ từ một số địa điểm nhất định. Hội đồng TRIPS của WTO đã có những cuộc thảo luận về một hệ thống đăng ký đa phương những chỉ dẫn địa lý đối với mặt hàng rượu vang và rượu nặng. Tuyên bố Đô-ha quy định thời hạn cho việc hoàn thành các cuộc đàm phán là Hội nghị bộ trưởng năm 2003. Các cuộc đàm phán được tiến hành trong khuôn khổ những “phiên họp bất thường” của Hội đồng TRIPS. Chỉ dẫn địa lý – "nâng cao hơn nữa mức độ bảo vệ" đối với những sản phẩm khác. Hiệp định TRIPS qui định một mức độ bảo vệ cao hơn đối với các chỉ dẫn địa lý của mặt hàng rượu vang và rượu nặng. Điều này có nghĩa là, các chỉ dẫn cần phải được bảo vệ ngay cả khi không có nguy cơ lừa gạt người tiêu dùng hay cạnh tranh phi pháp. Một số nước muốn đàm phán để nâng cao hơn nữa mức độ bảo vệ đối với đối với một số sản phẩm khác. Một số khác thì lại phản đối đề xuất này. Ngoài ra, cuộc tranh luận tại Hội đồng TRIPS còn đề cập tới vấn đề: liệu những điều khoản xác đáng của Hiệp định TRIPS có thể cho phép WTO mở rộng sự bảo vệ đối với các sản phẩm khác ngoài rượu hay không. Tuyên bố Đô-ha giao cho Hội đồng TRIPS trách nhiệm xem xét vấn đề này theo quy định tại đoạn 12 (phần văn bản đề cập đến các vấn đề thực thi). Theo qui định tại đoạn này, có thể có hai khả năng: “a) Đối với những trường hợp mà chúng ta xác định được cụ thể phạm vi thẩm quyền đàm phán trong Tuyên bố này, các vấn đề thực thi đáng quan tâm sẽ phải được đàm phán trong

khuôn khổ thẩm quyền đã xác định; b) các vấn đề thực thi khác còn đang để ngỏ sẽ được ưu tiên giải quyết tại các cơ quan có thẩm quyền của WTO. Các cơ quan này từ nay đến cuối năm 2002 sẽ phải có báo cáo cho Uỷ ban đàm phán thương mại, được lập ra theo quy định tại đoạn 46 dưới đây, nhằm đưa ra một hành động phù hợp”. Trong những tài liệu được phân phát tại Hội nghị bộ trưởng, các chính phủ thành viên đã có những cách hiểu khác nhau về vấn đề quyền đàm phán này. Áchentina tuyên bố rằng “không có một sự thoả thuận về việc đàm phán “các vấn đề thực thi khác còn đang để ngỏ” như điểm b) nêu ra và […] từ nay đến cuối năm 2002, cần phải có một sự đồng thuận để có thể tiến hành đàm phán về những vấn đề này”. Bungari, Hungari, Ấn độ, Kênya, Liechtenstein, Maurice, Nigeria, Pakistan, Slovakia, Séc, Slovenia, Sri Lanka, Thuỵ sĩ, Thái lan, Thổ nhĩ kỳ và EU thì lại cho rằng thẩm quyền đàm phán ở đây đã được uỷ thác và xác định rõ ràng và có thể bắt tay tiến hành đàm phán ngay. Xem xét lại những điều khoản của Hiệp định TRIPS Hội đồng TRIPS đã hai lần tiến hành xem xét lại các điều khoản của TRIPS như Hiệp định qui định : lần thứ nhất xem xét lại điều 27:3 b) có nội dung liên quan đến khả năng được cấp và không được cấp bằng sáng chế đối với những phát minh liên quan đến thực vật và động vật, đến việc bảo vệ các giống thực vật; và lần thứ hai xem xét lại tổng thể Hiệp định (như qui định tại điều 71:1). Theo Tuyên bố Đô-ha, các cuộc thảo luận tại Hội đồng TRIPS về việc xem xét lại Hiệp định hoặc về một vấn đề thực thi khác đều phải chú ý đến các khía cạnh sau: quan hệ giữa Hiệp định TRIPS với Hiệp ước đa dạng sinh học của Liên hiệp quốc; bảo vệ các tri thức truyền thống và tri thức dân gian; và những vấn đề mới đáng quan tâm được các chính phủ thành viên nêu ra trong khi xem xét lại các điều khỏan của Hiệp định. Tuyên bố còn cho biết thêm rằng trong các cuộc thảo luận này, Hội đồng TRIPS sẽ được định hướng theo các mục tiêu (được nêu ở điều 7) và các nguyên tắc (điều 8) của Hiệp định TRIPS và phải luôn luôn lưu tâm vấn đề phát triển.

Sở hữu trí tuệ : Những mốc quan trọng Báo cáo lên Đại Hội đồng về giải pháp liên quan đến các giấy phép bắt buộc và sự thiếu khả năng sản xuất thuốc : cuối năm 2002 Báo cáo lên Ủy ban đàm phán Thương mại về hoạt động liên quan đến các vấn đề thực thi còn bỏ ngỏ theo qui định tại đoạn 12 : cuối năm 2002 Thời hạn đàm phán về hệ thống đăng ký các chỉ dẫn địa lý (đối với rượu vang và rượu nặng) : Hội nghị bộ trưởng lần thứ 5 năm 2003 (tại Mêhicô) Thời hạn đàm phán theo yêu cầu cụ thể của Tuyên bố Đô-ha : ngày 1 tháng 1 năm 2005 sau Hội nghị bộ trưởng 2003 (tại Mêhicô) trên cơ sở một « sự đồng thuận rõ ràng » về các phương thức Thời hạn áp dụng các điều khỏan về bằng phát minh sáng chế dược phẩm đối với các nước chậm phát triển : 2016 Liên hệ giữa thương mại và đầu tư Vấn đề này được gọi tên là “vấn đề Singapour” vì nhóm công tác xem xét nghiên cứu vấn đề này do Hội nghị bộ trưởng tại Singapour năm 1996 thiết lập.

Theo Tuyên bố Đô-ha, cho tới Hội nghị bộ trưởng năm 2003, các công việc của nhóm công tác phải tập trung làm rõ những điểm sau đây : phạm vi và nội dung của các vấn đề; tính minh bạch; quy tắc không phân biệt đối xử; cách thức chuẩn bị các cam kết đưa ra đàm phán; các điều khoản liên quan đến phát triển; những ngoại lệ và các biện pháp tự vệ liên quan đến cán cân thanh toán; tham khảo ý kiến và giải quyết các tranh chấp. Các cam kết đưa ra đàm phản sẽ theo như mô hình các cam kết được thông qua trong lĩnh vực dịch vụ, hay nói cách khác các lĩnh vực có cam kết được đưa ra là các lĩnh vực được xác định cụ thể – “danh sách tích cực” – thay vì đưa ra những cam kết chung và liệt kê các ngoại lệ. Tuyên bố còn nêu ra một số các nguyên tắc, ví dụ như sự cần thiết phải xem xét một cách cân đối nhiều khía cạnh: lợi ích của các nước đầu tư ra nước ngoài cũng như của các nước tiếp nhận đầu tư nước ngoài; quyền của các quốc gia trong xây dựng quy chế đầu tư, vấn đề phát triển, lợi ích chung và những hoàn cảnh riêng của mỗi nước. Tuyên bố cũng nhấn mạnh đến sự ủng hộ và hỗ trợ kỹ thuật đối với những nước đang phát triển và chậm phát triển cũng như mối quan hệ hợp tác giữa WTO và các tổ chức quốc tế khác như UNCTAD.

Thương mại và đầu tư : Những mốc quan trọng Tiếp tục thảo luận trong nhóm công tác như lịch trình đã định : đến Hội nghị bộ trưởng lần thứ 5 năm 2003 (tại Mêhicô) Đàm phán : sau Hội nghị bộ trưởng 2003 (tại Mêhicô) trên cơ sở một « sự đồng thuận rõ ràng » về các phương thức Hạn cuối cùng : 1 tháng 1 năm 2005 trong khuôn khổ một cam kết duy nhất. Mối quan hệ qua lại giữa thương mại và chính sách cạnh tranh (các đoạn từ 23 đến 25) Đây là một "vấn đề Singapore" khác. Một nhóm công tác đã được thành lập năm 1996 để nghiên cứu giải quyết vấn đề này. Đến Hội nghị bộ trưởng năm 2003, các cuộc thảo luận của nhóm công tác phải tập trung làm sàng tỏ các vấn đề sau theo tinh thần của Tuyên bố: nguyên tắc cơ bản, bao gổm cả sự minh bạch, không phân biệt đối xử và công bằng về thủ tục, và các điều khoản liên quan đến các thoả thuận không có lý do chính đáng (những thoả thuận được chính thức đưa ra) các phương thức hợp tác tự nguyện trong lĩnh vực chính sách cạnh tranh giữa các chính phủ thành viên của WTO hỗ trợ cho việc củng cố các thể chế chịu trách nhiệm về vấn đề cạnh tranh trong các nước đang phát triển thông qua các biện pháp củng cố năng lực.

-

Tuyên bố chỉ ra rằng các cuộc thảo luận này sẽ phải tính đến tất cả các nhu cầu của phát triển và dự kiến một sự hợp tác kỹ thuật và tăng cường năng lực trong các lĩnh vực như phân tích và soạn thảo các chính sách để các nước đang phát triển có thể đánh giá một cách chính xác hơn lợi ích của việc tham gia hợp tác đa phương chặt chẽ hơn vì những mục tiêu phát triển. Một sự hợp tác với các tổ chức khác như UNCTAD cũng được nêu ra trong Tuyên bố.

Thương mại và chính sách cạnh tranh : Những mốc quan trọng Tiếp tục thảo luận trong nhóm công tác như lịch trình đã định : đến Hội nghị bộ trưởng lần thứ 5 năm 2003 (tại Mêhicô) Đàm phán : sau Hội nghị bộ trưởng 2003 (tại Mêhicô) trên cơ sở một « sự đồng thuận rõ ràng » về các phương thức Hạn cuối cùng : 1 tháng 1 năm 2005 trong khuôn khổ một cam kết duy nhất. Minh bạch trong mua sắm chính phủ (đoạn 26) Đây là “vấn đề Singapore" thứ 3. Vấn đề này do một nhóm công tác được thành lập tại Hội nghị Bộ trưởng Singapore năm 1996 chịu trách nhiệm giải quyết. Tuyên bố Đô-ha nêu rõ “các cuộc đàm phán chỉ giới hạn ở các khía cạnh liên quan đến vấn đề minh bạch và vì vậy sẽ không hạn chế khả năng các nước ưu tiên hàng hóa và các nhà cung cấp trong nước.” – đây là một điều khoản độc lập không liên quan gì đến Hiệp định đa phương về mua sắm chính phủ. Tuyên bố Đô-ha cũng nhấn mạnh đến những lo lắng về vấn đề phát triển, đến sự hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường năng lực.

Minh bạch trong mua sắm chính phủ : Những mốc quan trọng Tiếp tục thảo luận trong nhóm công tác như lịch trình đã định đến Hội nghị bộ trưởng lần thứ 5 năm 2003 tại Mêhicô Đàm phán : sau Hội nghị bộ trưởng 2003 (tại Mêhicô) trên cơ sở một « sự đồng thuận rõ ràng » về các phương thức Hạn cuối cùng : 1 tháng 1 năm 2005 trong khuôn khổ một cam kết duy nhất. Tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi thương mại (đoạn 27) Đây là “vấn đề Singapore “thứ 4 được nêu ra tại Hội nghị Bộ trưởng năm 1996. Tuyên bố Đô-ha thừa nhận những lý lẽ khuyến khích việc “thúc đẩy lưu thông, giải phóng và miễn thủ tục hải quan cho hàng hóa trao đổi, kể cả hàng quá cảnh, và sự cần thiết hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường năng lực trong lĩnh vực này.” Đến Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5 năm 2003, Hội đồng về Thương mại hàng hóa chịu trách nhiệm về vấn đề này từ năm 1997 sẽ xem xét và nếu thấy thích hợp sẽ làm sáng tỏ và cải thiện những khía cạnh then chốt của điều 5 (“tự do quá cảnh”), điều 8 (“phí và thủ tục xuất nhập khẩu”) và điều 10 (“công bố và thi hành các qui định về thương mại”) cùa Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1994), và xác định các nhu cầu và ưu tiên của các nước thành viên, đặc

biệt là các nước đang phát triển và các nước kém phát triển nhất trong lĩnh vực tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi thương mại”.

Tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi thương mại :Những mốc quan trọng Tiếp tục thảo luận tại Hội đồng về Thương mại hàng hóa như lịch trình đã định đến Hội nghị bộ trưởng lần thứ 5 năm 2003 tại Mêhicô Đàm phán : sau Hội nghị bộ trưởng 2003 (tại Mêhicô) trên cơ sở một « sự đồng thuận rõ ràng » về các phương thức Hạn cuối cùng : 1 tháng 1 năm 2005 trong khuôn khổ một cam kết duy nhất. Qui tắc của WTO : chống phá giá và trợ cấp (đoạn 27) Các Bộ trưởng đều nhất trí đàm phán về Hiệp định chống phá giá (điều 6 của GATT) và Hiệp định về trợ cấp. Mục đích là để làm sáng tỏ và cải thiện qui tắc luật lệ, mà không phải thay đổi các khái niệm và nguyên tắc cơ bản của các hiệp định này, và đồng thời lại có thể tính đến nhu cầu của các nước thành viên đang phát triển và kém phát triển nhất. Trong giai đoạn đầu của đàm phán, các bên tham gia sẽ phải chỉ ra những điều khoản cần phải làm sáng tỏ và cải thiện trong giai đoạn hai. Các bộ trưởng đặc biệt chú trọng tới vấn đề trợ cấp cho các cơ sở đánh cá, coi đây là là một lĩnh vực quan trọng đối với các nước đang phát triển. Vì vậy, các bên đàm phán cần phải làm sáng tỏ và cải thiện các qui tắc luật lệ của WTO.

Chống phá giá và trợ cấp: Những mốc quan trọng
Bắt đầu đàm phán: tháng 1 năm 2002 Báo cáo tổng kết các cuộc đàm phán: : Hội nghị bộ trưởng lần thứ 5 năm 2003 tại Mêhicô Hạn cuối cùng : 1 tháng 1 năm 2005 trong khuôn khổ một cam kết duy nhất. Qui tắc của WTO : các hiệp định thương mại khu vực (đoạn 29) Theo các qui tắc của WTO, các hiệp định thương mại khu vực phải thỏa mãn một số điều kiện. Nhưng cách hiểu nội dung của các qui tắc này đã từng là một vấn đề gây tranh cãi và là trung tâm của các cuộc thảo luận trong Ủy ban về các hiệp định thương mại khu vực. Do vậy, từ năm 1995, ủy ban này đã không thể đánh giá một cách chính xác các hiệp định thương mại có phù hợp với các qui định của WTO hay không. Hiện nay, đây là một nhiệm vụ tế nhị và quan trọng, nhất là khi tất cả các chính phủ thành viên đều tham gia các hiệp định khu vực, hoặc đang đàm phán, hoặc dự định sẽ đàm phán. Trong tuyên bố Đô-ha, các nước thành viên đã nhất trí đàm phán một giải pháp có tính đến vai trò của các hiệp định này trong phát triển.

Tuyên bố chủ trương thực hiện các cuộc đàm phán nhằm « làm sáng tỏ và cải thiện các luật lệ và thủ tục được qui định trong các điều khỏan hiện hành của WTO về các hiệp định thương mại khu vực. Các cuộc đàm phán sẽ tính đến các khía cạnh liên quan đến phát triển của các hiệp định thương mại khu vực ». Các cuộc đàm phán này nằm trong lịch trình chung áp dụng cho hầu hết các cuộc đàm phán theo Tuyên bố Đô-ha và sẽ phải hoàn thành vào ngày 1 tháng 1 năm 2005. Hội nghị bộ trưởng lần thứ 5 năm 2003 tại Mêhicô phải tổng kết những tiến bộ đã đạt được và nếu cần phải đưa ra những định hướng chính trị và các quyết định cần thiết. Các cuộc đàm phán diễn ra trong khuôn khổ Nhóm đàm phán về qui tắc.

Các hiệp định thương mại khu vực: Những mốc quan trọng
Bắt đầu đàm phán: tháng 1 năm 2002 Báo cáo tổng kết các cuộc đàm phán: : Hội nghị bộ trưởng lần thứ 5 năm 2003 tại Mêhicô Hạn cuối cùng : 1 tháng 1 năm 2005 trong khuôn khổ một cam kết duy nhất. Bản ghi nhớ về giải quyết tranh chấp (đoạn 30) Hội nghị Bộ trường Marrakesh năm 1994 đã yêu cầu các chính phủ thành viên WTO thực hiện việc rà xoát lại Bản ghi nhớ về giải quyết tranh chấp (hiệp định về giải quyết tranh chấp của WTO) trong 4 năm kể từ khi Hiệp định WTO có hiệu lực (cụ thể chậm nhất là ngày 1 tháng 1 năm 1999). Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) đã bắt đầu xem xét lại văn bản này từ cuối năm 1997, và đã tổ chức nhiều cuộc họp không chính thức trên cơ sở các đề xuất và các câu hỏi nêu ra của các nước thành viên. Nhiều nước trong số này, nếu không muốn nói là tất cả đều nghĩ rằng cần phải hoàn thiện hơn Bản ghi nhớ này. Tuy nhiên, Cơ quan giải quyết tranh chấp đã không đạt được một sự đồng thuận về kết quả của công tác rà xoát lại. Tuyên bố Đô-ha chủ trương thực hiện các cuộc đàm phán nhằm mục đích đạt được một sự thống nhất muộn nhất vào tháng 5 năm 2003. Các cuộc đàm phán này phải dựa trên cơ sở kết quả các công việc đã hoàn thành trước đó và các đề xuất bổ sung của các thành viên. Tuyên bố (đoạn 47) nêu rõ rằng các cuộc đàm phán về Bản ghi nhớ về giải quyết tranh chấp sẽ không nằm trong cam kết duy nhất, điều này có nghĩa chúng sẽ không liên quan đến sự thành công hay thất bại của các cuộc đàm phán khác được Tuyên bố nêu ra. Các cuộc đàm phán này diễn ra trong khuôn khổ « các phiên họp bất thường » của Cơ quan giải quyết tranh chấp.

Bản ghi nhớ về giải quyết tranh chấp : Những mốc quan trọng Bắt đầu đàm phán: tháng 1 năm 2002

Hạn cuối cùng : tháng 5 năm 2003, không nằm trong khuôn khổ một cam kết duy nhất Thương mại và môi trường (các đoạn từ 31 đến 33) Các cuộc đàm phán mới Các hiệp định đa phương về môi trường (MEA). Các Bộ trưởng thoả thuận sẽ tiến hành thương lượng về tương quan giữa các qui định hiện hành của WTO và các nghĩa vụ thương mại đặc được thù qui định trong các hiệp định đa phương về môi trường. Nội dung cụ thể của các cuộc thương lượng sẽ là việc áp dụng các qui định của WTO đối với các nước thành viên WTO có tham gia các hiệp định về môi trường, đặc biệt là tương quan giữa các qui định này với các biện pháp thương mại được đưa ra trong khuôn khổ các hiệp định về môi trường.

Cho đến nay, chưa từng có biện pháp thương mại nào được đưa ra trong khuôn khổ một hiệp định về môi trường lại bị phản đối tại GATT/WTO. Trao đổi thông tin. Các Bộ trưởng thoả thuận sẽ thương lượng về qui trình trao đổi thông tin thường xuyên giữa các ban thư ký của các hiệp định môi trường và WTO. Uỷ ban về thương mại và môi trường tổ chức hàng năm một hoặc hai cuộc họp với các ban thư ký của MEA khác nhau nhằm xem xét những qui định về thương mại cũng như các cơ chế giải quyết tranh chấp có trong các hiệp định này. Qui trình mới về trao đổi thông tin có thể giúp mở rộng qui mô hợp tác giữa WTO và MEA. Qui chế quan sát viên. Hiện nay, việc trao qui chế quan sát viên tại WTO cho các tổ chức quốc tế cấp chính phủ đang bị phong toả vì những lý do chính trị. Các cuộc đàm phán sẽ phải giúp xác định được các tiêu chí đối với việc này..

Môi trường: những mốc quan trọng Báo cáo của Uỷ ban đệ trình các Bộ trưởng: Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5, 2003 (Mê-hi-cô) Báo cáo tổng kết các cuộc đàm phán: Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5, 2003 (Mê-hi-cô) Hạn cuối cùng: 1/1/2005, các nước đều phải chấp nhận toàn bộ kết quả của các cuộc đàm phán Những trở ngại đối với thương mại hàng hoá và dịch vụ môi trường. Các Bộ trưởng cũng thoả thuận đàm phán về việc giảm bớt hoặc loại bỏ các trở ngại quan thuế và phi quan thuế đối với thương mại hàng hoá và dịch vụ môi trường, chẳng hạn như đối với các bộ đổi điện xúc tác, các bộ lọc khí hoặc các dịch vụ tư vấn về quản lý nước thải. Trợ cấp cho ngành đánh cá. Các Bộ trưởng thoả thuận sẽ làm rõ và cải tiến các qui định của WTO về trợ cấp cho ngành đánh cá. Uỷ ban về thương mại và môi trường đã xem xét vấn đề này từ nhiều năm nay. Các công trình nghiên cứu đều cho thấy các khoản trợ cấp dạng này có thể gây tác hại đến môi trường nếu như chúng làm tăng quá mức số lượng những người đánh cá tham gia khai thác các nguồn lợi thuỷ sản có hạn hiện nay.

Các cuộc đàm phán về những vấn đề trên, kể cả việc định nghĩa thế nào mới là hàng hoá và dịch vụ môi trường, được tiến hành trong khuôn khổ “các phiên họp bất thường” của Uỷ ban về thương mại và môi trường. Còn các cuộc đàm phán về khả năng tiếp cận thị trường của các hàng hoá và dịch vụ môi trường thì được tiến hành trong khuôn khổ Nhóm đàm phán về tiếp cận thị trường và “các phiên họp bất thường” của Hội đồng về thương mại dịch vụ. Các công việc của Uỷ ban Các Bộ trưởng đã chỉ thị cho Uỷ ban về thương mại và môi trường, trong khuôn khổ các cuộc đàm phán hiện nay, phải quan tâm đặc biệt đến các lĩnh vực sau: • • • Tác động của các biện pháp về môi trường đối với khả năng tiếp cận thị trường, đặc biệt là của các nước đang phát triển. Đảm bảo lợi ích trên cả ba phương diện: khi nào thì việc loại bỏ hoặc giảm bớt các hạn chế và rào cản đối với trao đổi sẽ đồng thời có lợi cho thương mại, môi trường và phát triển. Quyền sở hữu trí tuệ. Đoạn 19 trong Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng trao trách nhiệm cho Hội đồng TRIPS phải tiếp tục làm rõ quan hệ giữa Hiệp định về TRIPS và Công ước đa dạng sinh học. Các Bộ trưởng cũng yêu cầu Uỷ ban về thương mại và môi trường phải tiếp tục xem xét những điều khoản xác đáng của Hiệp định về TRIPS. Những qui định về dán mác sinh thái. Uỷ ban về thương mại và môi trường chịu trách nhiệm nghiên cứu tác động của việc dán mác sinh thái đối với thương mại và xem xét liệu các qui định hiện nay của WTO có gây trở ngại cho chính sách dán mác sinh thái hay không. Các cuộc thảo luận về vấn đề này cùng lúc cũng được tiến hành tại Uỷ ban về các rào cản kỹ thuật trong thương mại (OTC). Đối với tất cả những vấn đề trên (tiếp cận thị trường, phương thức đảm bảo lợi ích trên cả ba phương diện, sở hữu trí tuệ và dán mác sinh thái): Uỷ ban về thương mại và môi trường phải vừa xem xét, vừa xác định liệu những qui định nào của WTO cần được làm sáng tỏ.

Những vấn đề chung. Các Bộ trưởng thừa nhận tầm quan trọng của các chương trình trợ giúp kỹ thuật và tăng cường năng lực cho các nước đang phát triển trong lĩnh vực thương mại và môi trường. Các Bộ trưởng khuyến khích các nước thành viên chia xẻ những hiểu biết chuyên môn và kinh nghiệm của mình trong việc xem xét giải quyết các vấn đề môi trưởng ở cấp quốc gia. Thương mại điện tử (đoạn 34) Thương mại điện tử: những mốc quan trọng Báo cáo về những tiến bộ mới trong đàm phán: Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5, 2003 (Mê-hi-cô) Tuyên bố Đô-ha xác nhận những công việc đã được tiến hành trong lĩnh vực thương mại điện tử. Tuyên bố cũng chỉ thị cho Đại hội đồng nghiên cứu các phương thức dàn xếp thể chế phù hợp nhất sao cho đảm bảo được chương trình làm việc Đô-ha, sau đó báo cáo những tiến bộ mới trong đàm phán cho Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5.

Được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 2 (Giơ-ne-vơ, 1998), Tuyên bố về thương mại điện tử đã nêu rõ các nước thành viên của WTO sẽ vẫn duy trì cách làm của mình, đó là không đánh thuế trên các giao dịch điện tử. Tuyên bố Đô-ha cũng đề cập đến việc các nước thành viên sẽ duy trì biện pháp này cho đến Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5. Các nền kinh tế nhỏ (đoạn 36)

Các nền kinh tế nhỏ: những mốc quan trọng sắp tới Các khuyến nghị: Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5, 2003 (Mê-hi-cô) Sự tham gia của các nền kinh tế nhỏ vào nền thương mại thế giới đang vấp phải những rào cản rất lớn, chẳng hạn như các nền kinh tế này không có các nguồn tiết kiệm qui mô, thiếu các nguồn tài nguyên. Tuyên bố Đô-ha giao trách nhiệm cho Đại hội đồng xem xét các vấn đề này và, tại Hội nghị Bộ trưởng sắp tới, kiến nghị những biện pháp thương mại giúp tăng cường khả năng hội nhập của các nền kinh tế nhỏ. Thương mại, nợ và tài chính (đoạn 37)

Nợ và tài chính: những mốc quan trọng Báo cáo của Đại hội đồng: Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5, 2003 (Mê-hi-cô) Nhiều nước đang phát triển hoặc đang phải đương đầu với vấn đề nợ nước ngoài trầm trọng hoặc đã từng lâm vào khủng hoảng tài chính. Tại Đô-ha, các Bộ trưởng đã quyết định thành lập một Nhóm công tác về mối quan hệ giữa thương mại, nợ và tài chính nhằm xem xét phương thức giải quyết lâu dài vấn đề này bằng các biện pháp thương mại. Nhóm công tác sẽ phải báo cáo Đại hội đồng trước khi Đại hội đồng báo cáo Hội nghị Bộ trưởng lần tới.

Thương mại và chuyển giao công nghệ (trang 37)

Chuyển giao cộng nghệ: những mốc quan trọng Báo cáo của Đại hội đồng: Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5, 2003 (Mê-hi-cô) Trong các Hiệp định của WTO có nhiều qui định nêu sự cần thiết phải có chuyển giao công nghệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển.

Tuy nhiên cũng cần phải biết chính xác trên thực tế công nghệ sẽ được chuyển giao như thế nào và liệu trong khuôn khổ WTO có cần phải có những biện pháp đặc biệt khuyến khích chuyển giao công nghệ này theo hướng này hay không. Tại Đô-ha, các Bộ trưởng đã quyết định thành lập một nhóm công tác về vấn đề này. Nhóm công tác sẽ phải báo cáo Đại hội đồng trước khi Đại hội đồng báo cáo Hội nghị Bộ trưởng lần tới.

Hợp tác kỹ thuật và tăng cường năng lực (các đoạn từ 38 đến 41) Tại nhiều đoạn của Tuyên bố Đô-ha, các Chính phủ thành viên của WTO đã đưa ra các cam kết mới về hợp tác kỹ thuật và tăng cường năng lực. Chẳng hạn, tại phần về mối liên hệ giữa thương mại và đầu tư, các Chính phủ thành viên đã yêu cầu (đoạn 21) phải dành nhiều nỗ lực hơn nữa cho hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường năng lực. Dưới đề mục “hợp tác kỹ thuật và tăng cường năng lực”, đoạn 41 đã liệt kê tất cả những đoạn trong Tuyên bố Đô-ha có nêu cam kết về hợp tác kỹ thuật: đoạn 16 (khả năng tiếp cận thị trường của các hàng hoá phi nông nghiệp), đoạn 21 (thương mại và đầu tư), đoạn 24 (thương mại và chính sách cạnh tranh), đoạn 26 (tính minh bạch trong mua sắm của chính phủ), đoạn 27 (tạo thuận lợi cho trao đổi), đoạn 33 (môi trường), các đoạn từ 38 đến 40 (hợp tác kỹ thuật và tăng cường năng lực), các đoạn 42 và 43 (các nước kém phát triển nhất). (Đoạn 2 của Lời mào đầu cũng được liệt kê). Dưới đề mục này (các đoạn từ 38 đến 41), các Chính phủ thành viên của WTO đã khẳng định lại tất cả các cam kết về hợp tác kỹ thuật và tăng cường năng lực của Tuyên bố Đô-ha, đồng thời bổ sung thêm một số cam kết chung: • Cùng với các cơ quan chức năng khác, Ban thư ký phải khuyến khích các nước thành viên đang phát triển của WTO coi thương mại là một nhân tố quan trọng trong cuộc chiến giảm đói nghèo và đưa các biện pháp thương mại vào trong chiến lược phát triển của mình. Tuyên bố Đô-ha đã thiết lập một chương trình làm việc, trong đó ưu tiên được dành cho các nền kinh tế nhỏ dễ bị tổn thương, các nền kinh tế đang chuyển đổi cũng như cho các nước thành viên hoặc quan sát viên không có cơ quan đại diện thường trực tại Giơ-ne-vơ.

WTO và các tổ chức quốc tế liên quan khác phải cung cấp hỗ trợ kỹ thuật trong khuôn khổ một chính sách tổng thể phù hợp.

Hợp tác kỹ thuật: những mốc quan trọng Tăng 80% mức tài trợ cho hỗ trợ kỹ thuật; thành lập Quỹ phân bổ đặc biệt dành cho chương trình Đô-ha vì sự phát triển: tháng 12/2001 Báo cáo của Tổng Giám đốc trước Đại hội đồng: tháng 12/2002 Báo cáo của Tổng Giám đốc trước các Bộ trưởng: Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5, 2003 (Mê-hicô)

Tổng Giám đốc sẽ có báo cáo trước Đại hội đồng vào tháng 12/2002, sau đó là tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5 về việc thực hiện và thống nhất các cam kết mới này. Sau khi Tuyên bố Đô-ha ra chỉ thị về việc soạn thảo kế hoạch đảm bảo tài chính lâu dài cho hỗ trợ kỹ thuật của WTO, Đại hội đồng đã thông qua một ngân sách mới, vào ngày 20/12/2001 (1 tháng sau Hội nghị Đô-ha), theo đó mức tài trợ cho hỗ trợ kỹ thuật được tăng 80%. Đại hội đồng cũng thành lập một quỹ phân bổ đặc biệt dành cho chương trình Đô-ha vì sự phát triển với tổng ngân sách là 15 triệu Phờ-răng Thuỵ Sĩ. Các nước kém phát triển nhất (các đoạn 42 và 43)

Các nước kém phát triển nhất: những mốc quan trọng Báo cáo Đại hội đồng: tháng 7/2002 Nhiều nước phát triển đã giảm đáng kể hoặc huỷ bỏ hoàn toàn thuế quan đánh vào hàng hoá nhập khẩu từ những nước kém phát triển nhất (LDC). Trong Tuyên bố Đô-ha, các Chính phủ thành viên của WTO đã cam kết vì mục tiêu không đánh thuế, không áp đặt hạn ngạch đối với hàng hoá có xuất xứ từ những nước LDC. Các Chính phủ thành viên cũng cam kết xem xét bổ sung những biện pháp giúp nâng cao khả năng tiếp cận thị trường cho xuất khẩu của các nước này. Ngoài ra, các nước thành viên thoả thuận sẽ giúp các nước kém phát triển nhất đàm phán nhanh hơn và dễ dàng hơn việc gia nhập WTO. Một phần của hỗ trợ kỹ thuật sẽ được đặc biệt dành cho các nước kém phát triển nhất. Tuyên bố Đô-ha khẩn thiết đề nghị các nước thành viên tài trợ của WTO tăng đáng kể đóng góp của mình. Ngoài ra, Tiểu ban về LDC (cơ quan trực thuộc Uỷ ban về thương mại và phát triển của WTO) đã được giao nhiệm vụ soạn thảo một chương trình làm việc trên cơ sở các yếu tố thương mại đã được nêu trong tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về các nước kém phát triển nhất. Tiểu ban phải báo cáo Đại hội đồng về chương trình làm việc này tại phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng trong năm 2002. Đối xử đặc biệt và ưu đãi (đoạn 44) Đối xử đặc biệt và đối xử ưu đãi : những mốc quan trọng sắp tới Các khuyến nghị với Đại hội đồng: tháng 7/2002 Trong các Hiệp định của WTO có những qui định dành riêng cho các nước đang phát triển một số quyền ưu đãi đặc biệt. Chẳng hạn như các điều khoản qui định các nước đang phát triển

được quyền thực hiện các hiệp định và cam kết trong khoảng thời gian lâu hơn hay các biện pháp giúp các nước này tăng cường khả năng thương mại của mình. Trong Tuyên bố Đô-ha, các Chính phủ thành viên nhất trí xem xét lại theo hướng củng cố hoặc làm rõ hơn tất cả các qui định về đối xử đặc biệt và đối xử ưu đãi. Cụ thể, Tuyên bố (cùng với Quyết định về các vấn đề cần quan tâm khi thực hiện Tuyên bố) giao trách nhiệm cho Uỷ ban về thương mại và phát triển xác định xem đâu là những qui định bắt buộc về đối xử đặc biệt và đối xử ưu đãi, đồng thời nghiên cứu hệ quả của việc chuyển những qui định không mang tính ràng buộc thành những qui định bắt buộc. Thể theo Quyết định về các vấn đề cần quan tâm khi thực hiện Tuyên bố, Uỷ ban sẽ phải đệ trình Đại hội đồng một số khuyến nghị trước tháng 7/2002.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->