P. 1
Giảm tổn thất điện năng

Giảm tổn thất điện năng

|Views: 882|Likes:
Được xuất bản bởiTien Nguyen

More info:

Published by: Tien Nguyen on Nov 17, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

03/21/2013

pdf

text

original

Giảm tổn thất điện năng nhìn từ góc độ quản lý Giai đoạn 2004-2010, EVN đã chỉ đạo

các đơn vị điện lực, truyền tải điện, Trung tâm Điều độ HTĐ Quốc gia triển khai đồng bộ các giải pháp, kết quả TTĐN toàn EVN đã giảm từ 12,23% (năm 2003) xuống 9,21% (năm 2008). Để tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm TTĐN trên hệ thống lưới điện, Ban chỉ đạo giảm TTĐN của EVN đã ban hành “Hướng dẫn các biện pháp cơ bản về quản lý kỹ thuật - vận hành và quản lý kinh doanh để giảm TTĐN“. Hướng dẫn này hệ thống hóa lại các giải pháp giảm TTĐN trong nhiều năm qua, phổ biến đến tận các tổ đội quản lý vận hành, quản lý kinh doanh nhằm tiếp tục tăng cường các biện pháp quản lý giảm TTĐN. Thế nào là tổn thất điện năng? TTĐN trên lưới điện là lượng điện năng tiêu hao cho quá trình truyền tải và phân phối điện khi tải điện từ ranh giới giao nhận với các nhà máy phát điện qua lưới điện truyền tải, lưới điện phân phối đến các hộ tiêu thụ điện. TTĐN còn được gọi là điện năng dùng để truyền tải và phân phối điện. Trong quản lý, TTĐN được chia ra TTĐN kỹ thuật và TTĐN phi kỹ thuật. Tổn thất điện năng kỹ thuật là tiêu hao điện năng tất yếu xảy ra trong quá trình truyền tải và phân phối điện. Do dây dẫn, máy biến áp, thiết bị trên lưới đều có trở kháng, khi dòng điện chạy qua gây tiêu hao điện năng do phát nóng MBA, dây dẫn và các thiết bị điện; ngoài ra đường dây dẫn điện cao áp từ 110 kV trở lên còn có tổn thất vầng quang; dòng điện qua cáp ngầm, tụ điện còn có tổn thất do điện môi, đường dây điện đi song song với đường dây khác như dây chống sét, dây thông tin... có tổn hao điện năng do hỗ cảm. Tổn thất điện năng phi kỹ thuật hay còn gọi là TTĐN thương mại là do tình trạng vi phạm trong sử dụng điện như: Lấy cắp điện dưới nhiều hình thức (câu móc điện trực tiếp, tác động làm sai lệch mạch đo đếm điện năng, gây hư hỏng, chết cháy công tơ, các thiết bị mạch đo lường v.v... ); do chủ quan của người quản lý khi công tơ chết, cháy không thay thế kịp thời, bỏ sót hoặc ghi sai chỉ số; do không thực hiện đúng chu kỳ kiểm định và thay thế công tơ định kỳ theo quy định… dẫn đến điện năng bán cho khách hàng đo được qua hệ thống đo đếm thấp hơn so với điện năng khách hàng sử dụng. Quản lý nhận dạng TTĐN

Xác định tổn thất khu vực và nhận dạng TTĐN được xem là biện pháp quan trọng nhằm giúp cho người quản lý nhận biết rõ TTĐN ở khu vực nào, do kỹ thuật hay kinh doanh để có biện pháp xử lý. Các phương pháp xác định TTĐN gồm: a) Xác định TTĐN thực hiện qua hệ thống công tơ đo đếm: Các đơn vị thu thập số liệu điện năng nhận vào lưới điện và điện năng giao đi từ lưới điện. Tính toán TTĐN thực hiện: ΔA = AN – AG Trong đó: - ΔA là tổn thất điện năng trên lưới điện đang xét (kWh) - AN là tổng điện nhận vào lưới điện (kWh) - AG là tổng điện giao đi từ lưới điện (kWh)

b) Xác định TTĐN của lưới điện qua tính toán TTĐN kỹ thuật: Các đơn vị thực hiện tính toán TTĐN qua các thông số lưới điện và phương thức vận hành để nhận dạng được TTĐN kỹ thuật của lưới điện thuộc phạm vi đơn vị quản lý ở mức nào để trên cơ sở đó có biện pháp phù hợp giảm TTĐN. TTĐN kỹ thuật được xác định theo công thức: ΔA = ΔPo . T + ΔPmax . T . Kđt Trong đó: - ΔA tổn thất điện năng trong giai đoạn đang xét (kWh) - ΔPo Tổn thất công suất không tải (kW) - ΔPmax tổn thất công suất tại thời điểm công suất cực đại của lưới điện (kW) - T. là thời gian tính toán của giai đoạn xem xét TTĐN (giờ) - Kdt hệ số đồ thị phụ tải ảnh hưởng đến TTĐN trong giai đoạn tính toán

- Si, Smax là giá trị phụ tải đầu suất tuyến tại các thời điểm ti, tmax - Tỉ lệ tổn thất điện năng kỹ thuật:

A (kWh) là điện năng nhận vào của lưới điện trong khoảng thời gian T. c) Nhận dạng TTĐN theo từng cấp điện áp, từng khu vực lưới điện, từng xuất tuyến trung áp, từng trạm biến áp công cộng: Đơn vị quản lý dựa vào kết quả tính toán TTĐN thực hiện qua đo đếm và TTĐN kỹ thuật qua tính toán để thực hiện đánh giá mức độ cao, thấp của TTĐN từng cấp điện áp (cao áp, trung áp, hạ áp), từng khu vực lưới điện, từng xuất tuyến trung áp, từng trạm biến áp phụ tải. So sánh giữa TTĐN kỹ thuật qua tính toán với với kết quả tính toán TTĐN qua đo đếm để đánh giá mức độ hợp lý hay bất hợp lý giữa hai kết quả tính toán kỹ thuật và tính toán qua đo đếm, từ đó tìm ra các nguyên nhân của sự bất hợp lý và đề ra được các biện pháp giảm TTĐN hiệu quả, đúng khu vực, đúng cấp điện áp, đúng xuất tuyến, đúng trạm biến áp có sự bất thường về TTĐN. Các biện pháp quản lý giảm TTĐN: Biện pháp quản lý kỹ thuật - vận hành - Không để quá tải đường dây, máy biến áp: Theo dõi các thông số vận hành lưới điện, tình hình tăng trưởng phụ tải để có kế hoạch vận hành, cải tạo lưới điện, hoán chuyển máy biến áp đầy, non tải một cách hợp lý, không để quá tải đường dây, quá tải máy biến áp trên lưới điện. - Không để các MBA phụ tải vận hành tải lệch pha. Định kỳ hàng tháng đo dòng tải từng pha Ia , Ib , Ic và dòng điện dây trung tính Io để thực hiện cân pha khi dòng điện Io lớn hơn 15% trung bình cộng dòng điện các pha. - Đảm bảo vận hành phương thức tối ưu: Thường xuyên tính toán kiểm tra đảm bảo phương thức vận hành tối ưu trên lưới điện. Đảm bảo duy trì điện áp trong giới hạn cao cho phép theo quy định hiện hành và khả năng chịu đựng của thiết bị. - Lắp đặt và vận hành tối ưu tụ bù công suất phản kháng: Theo dõi thường xuyên cosφ các nút trên lưới điện, tính toán vị trí và dung lượng lắp đặt tụ bù tối ưu để quyết định lắp đặt, hoán chuyển và vận hành hợp lý các bộ tụ trên lưới nhằm giảm

TTĐN. Đảm bảo cosφ trung bình tại lộ tổng trung thế trạm 110 kV tối thiểu là 0,98. - Kiểm tra, bảo dưỡng lưới điện ở tình trạng vận hành tốt: Thực hiện kiểm tra bảo dưỡng lưới điện đảm bảo các tiêu chuẩt kỹ thuật vận hành: Hành lang lưới điện, tiếp địa, mối tiếp xúc, cách điện của đường dây, thiết bị… Không để các mối nối, tiếp xúc (trên dây dẫn, cáp, đầu cực thiết bị v.v...) tiếp xúc không tốt gây phát nóng dẫn đến tăng TTĐN. - Thực hiện tốt công tác quản lý kỹ thuật vận hành ngăn ngừa sự cố: Đảm bảo lưới điện không bị sự cố để duy trì kết dây cơ bản có TTĐN thấp. - Thực hiện vận hành kinh tế máy biến áp: + Trường hợp TBA có 2 hay nhiều MBA vận hành song song cần xem xét vận hành kinh tế máy biến áp, chọn thời điểm đóng, cắt máy biến áp theo đồ thị phụ tải. + Đối với các khách hàng có TBA chuyên dùng (trạm 110 kV, trạm trung áp) mà tính chất của phụ tải hoạt động theo mùa vụ (trạm bơm thủy nông, sản xuất đường mía v.v...), ngoài thời gian này chỉ phục vụ cho nhu cầu sử dụng điện của văn phòng, nhân viên quản lý trạm bơm, đơn vị kinh doanh bán điện phải vận động, thuyết phục khách hàng lắp đặt thêm MBA có công suất nhỏ riêng phù hợp phục vụ cho nhu cầu này hoặc cấp bằng nguồn điện hạ thế khu vực nếu có điều kiện để tách MBA chính ra khỏi vận hành. - Hạn chế các thành phần không cân bằng và sóng hài bậc cao: Thực hiện kiểm tra đối với khách hàng gây méo điện áp (các lò hồ quang điện, các phụ tải máy hàn công suất lớnv.v …) trên lưới điện. Trong điều kiện gây ảnh hưởng lớn đến méo điện áp, yêu cầu khách hàng phải có giải pháp khắc phục. - Từng bước loại dần các thiết bị không tin cậy, hiệu suất kém, tổn thất cao bằng các thiết bị mới có hiệu suất cao, tổn thất thấp (đặc biệt là đối với MBA). - Tính toán và quản lý TTĐN kỹ thuật: Thực hiện tính toán TTĐN kỹ thuật của từng trạm biến áp, từng đường dây, từng khu vực để quản lý, đánh giá và đề ra các biện pháp giảm TTĐN phù hợp. Biện pháp quản lý kinh doanh

- Đối với kiểm định ban đầu công tơ: Phải đảm bảo chất lượng kiểm định ban đầu công tơ để công tơ đo đếm chính xác trong cả chu kỳ làm việc (5 năm đối với công tơ 1 pha, 2 năm đối với công tơ 3 pha). - Đối với hệ thống đo đếm lắp đặt mới: Phải đảm bảo thiết kế lắp đặt hệ thống đo đếm bao gồm công tơ, TU, TI và các thiết bị giám sát từ xa (nếu có) đảm bảo cấp chính xác, được niêm phong kẹp chì và có các giá trị định mức (dòng điện, điện áp, tỉ số biến…) phù hợp với phụ tải. Xây dựng và thực hiện nghiêm quy định về lắp đặt, kiểm tra và nghiệm thu công tơ để đảm bảo sự giám sát chéo giữa các khâu nhằm đảm bảo không có sai sót trong quá trình lắp đặt, nghiệm thu hệ thống đo đếm. - Thực hiện kiểm định, thay thế định kỳ công tơ đúng thời hạn theo quy định (5 năm đối với công tơ 1 pha, 02 năm đối với công tơ 3 pha). - Thực hiện kiểm tra, bảo dưỡng hệ thống đo đếm: Thực hiện quy định về kiểm tra, bảo dưỡng hệ thống đo đếm (công tơ, TU, TI…) để đảm bảo các thiết bị đo đếm trên lưới được niêm phong quản lý tốt, có cấp chính xác phù hợp đảm bảo đo đếm đúng. Thực hiện chế độ quản lý, kiểm tra để kịp thời phát hiện và thay thế ngay thiết bị đo đếm bị sự cố (công tơ kẹt cháy, TU, TI cháy hỏng…), hư hỏng hoặc bị can thiệp trái phép trên lưới điện. Không được để công tơ kẹt cháy quá một chu kỳ ghi chỉ số. - Củng cố nâng cấp hệ thống đo đếm: Từng bước áp dụng công nghệ mới, lắp đặt thay thế các thiết bị đo đếm có cấp chính xác cao cho phụ tải lớn. Thay thế công tơ điện tử 3 pha cho các phụ tải lớn; áp dụng các phương pháp đo xa, giám sát thiết bị đo đếm từ xa cho các phụ tải lớn nhằm tăng cường theo dõi, phát hiện sai sót, sự cố trong đo đếm. - Thực hiện lịch ghi chỉ số công tơ: Đảm bảo ghi chỉ số công tơ đúng lộ trình, chu kỳ theo quy định, đúng ngày đã thỏa thuận với khách hàng, tạo điều kiện để khách hàng cùng giám sát, đảm bảo chính xác kết quả ghi chỉ số công tơ và kết quả sản lượng tính toán TTĐN. Củng cố và nâng cao chất lượng ghi chỉ số công tơ, đặc biệt đối với khu vực thuê dịch vụ điện nông thôn ghi chỉ số nhằm mục đích phát hiện kịp thời công tơ kẹt cháy, hư hỏng ngay trong quá trình ghi chỉ số để xử lý kịp thời.

- Khoanh vùng đánh giá TTĐN: Thực hiện lắp đặt công tơ ranh giới, công tơ cho từng xuất tuyến, công tơ tổng từng TBA phụ tải qua đó theo dõi đánh giá biến động TTĐN của từng xuất tuyến, từng TBA công cộng hàng tháng và lũy kế đến tháng thực hiện để có biện pháp xử lý đối với những biến động TTĐN. Đồng thời so sánh kết quả lũy kế với kết quả tính toán TTĐN kỹ thuật để đánh giá thực tế vận hành cũng như khả năng có TTĐN thương mại thuộc khu vực đang xem xét. - Đảm bảo phụ tải đúng với từng đường dây, từng khu vực (không lẫn sector). - Kiểm tra, xử lý nghiêm và tuyên truyền ngăn ngừa các biểu hiện lấy cắp điện: Tăng cường công tác kiểm tra chống các hành vi lấy cắp điện, cần thực hiện thường xuyên liên tục trên mọi địa bàn, đặc biệt là đối với các khu vực nông thôn mới tiếp nhận bán lẻ; Phối hợp với các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương xử lý nghiêm theo đúng quy định đối với các vụ vi phạm lấy cắp điện. Phối hợp với các cơ quan truyền thông tuyên truyền ngăn ngừa biểu hiện lấy cắp điện. Giáo dục để các nhân viên quản lý vận hành, các đơn vị và người dân quan tâm đến vấn đề giảm TTĐN, tiết kiệm điện năng. - Thực hiện tăng cường nghiệp vụ quản lý khác: Xây dựng và thực hiện nghiêm quy định quản lý kìm, chì niêm phong công tơ, TU, TI , hộp bảo vệ hệ thống đo đếm; xây dựng quy định kiểm tra, xác minh đối với các trường hợp công tơ cháy, mất cắp, hư hỏng… nhằm ngăn ngừa hiện tương thông đồng với khách hàng vi phạm sử dụng điện; Tăng cường phúc tra ghi chỉ số công tơ để đảm bảo việc ghi chỉ số đúng quy định của quy trình kinh doanh. Các biện pháp quản lý nêu trên không mới, vấn đề là cách thức triển khai để có hiệu quả cao nhất. Tùy theo đặc điểm thực tế, các đơn vị tiếp tục duy trì và tăng cường các biện pháp quản lý của mình để mang lại hiệu quả giảm TTĐN.

1.

Sự phát triển của lưới điện phân phối Phân phối điện là khâu cuối cùng của hệ thống điện đưa điện năng trực tiếp đến người tiêu dùng. Lưới điện phân phối bao gồm lưới điện trung áp và lưới điện hạ áp. Tính đến cuối năm 2004, tổng chiều dài đường dây trung áp bằng khoảng 115 nghìn km, tổng chiều dài đường dây hạ áp gần 110 nghìn

km, tổng dung lượng các trạm biến áp hạ áp gần 29 nghìn MVA. Lưới điện phân phối do 3 công ty điện lực miền, 2 công ty điện lực thành phố và 3 công ty điện lực tỉnh quản lý. Đến tháng 6 năm 2005, lưới điện phân phối đã cung cấp điện cho 525 huyện trong tổng số 536 huyện trên 64 tỉnh thành phố. Nếu tính theo số xã, có 8689 xã trong tổng số 9024 xã trên cả nước có điện. Các xã, huyện còn lại chưa có điện lưới Quốc gia hiện đang sử dụng nguồn điện tại chỗ là thủy điện nhỏ hoặc máy phát điện diesel [1]. Chương trình điện nông thôn của Chính phủ sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát triển lưới điện phân phối, đảm bảo 100% số xã, huyện được cấp điện. Cùng với Tổng sơ đồ phát triển điện lực VI được phê duyệt là kế hoạch cải tạo và phát triển lưới điện trung áp. Khối lượng lưới điện phân phối dự kiến xây dựng đến năm 2020 sẽ bao gồm hơn 120.000 km đường dây trung áp, gần 85.000 MVA trạm phân phối và gần 93.000 km đường dây hạ áp [1]. Khối lượng dự kiến cải tạo và xây dựng sẽ tương đương với khối lượng lưới phân phối hiện hữu. Với lưới điện phân phối có quy mô gấp đôi hiện tại, các công ty Điện lực và các Điện lực tỉnh, thành phố sẽ phải đối diện với những khó khăn nhất định trong công tác quản lý đầu tư xây dựng và quản lý vận hành. Do vậy, việc đảm bảo và nâng cao năng lực quản lý là cần thiết và phải chú trọng ngay từ giai đoạn chuẩn bị hiện nay. Các vấn đề kỹ thuật của lưới điện phân phối trong đó có vấn đề giảm tổn thất điện năng vẫn sẽ là trọng tâm trong công tác điều hành quản lý. Để giải quyết các khó khăn này, đồng thời nâng cao năng lực quản lý kỹ thuật trong đó có vấn đề giảm tổn thất điện năng, các Công ty Điện lực cần ứng dụng các biện pháp công nghệ hiện đại đang ngày càng được sử dụng phổ biến trên thế giới. 2. Một số đặc điểm của lưới điện phân phối Lưới điện phân phối có các đặc điểm về thiết kế và vận hành khác với lưới điện truyền tải. Lưới điện phân phối phân bố trên diện rộng, thường vận hành không đối xứng và có tổn thất lớn hơn. Kinh nghiệm các điện lực trên thế giới cho thấy tổn thất thấp nhất trên lưới phân phối vào khoảng 4%, trong khi trên lưới truyền tải là khoảng 2% [2]. Vấn đề tổn thất trên lưới phân phối liên quan chặt chẽ đến các vấn đề kỹ thuật của lưới điện từ giai đoạn thiết kế đến vận hành. Do đó trên cơ sở các số liệu về tổn thất có thể đánh giá sơ bộ chất lượng vận hành của lưới điện phân phối. Trong những năm gần đây, lưới điện phân phối của nước ta phát triển mạnh,

các Công ty Điện lực cũng được phân cấp mạnh về quản lý. Chất lượng vận hành của lưới phân phối được câng cao rõ rệt, tỷ lệ tổn thất điện năng giảm mạnh. Tỷ lệ tổn thất trên lưới phân phối từ mức cao nhất tại Công ty Điện lực 2 năm 2000 bằng 12% đến năm 2004 chỉ còn 9,4%. Tỷ lệ tổn thất của Công ty Điện lực Đồng Nai suốt 5 năm qua ở mức 4% đến 5% gần ở mức thấp nhất. Mặc dù tỷ lệ tổn thất trên lưới điện phân phối đã giảm đáng kể trong thời gian qua,nhưng mức giảm tổn thất này vẫn còn rất khiêm tốn. Chính phủ có quyết định yêu cầu EVN giảm mức tổn thất trên toàn lưới điện (bao gồm cả lưới truyền tải) xuống mức 11% vào năm 2006 và 9% vào năm 2010 [3]. Thực tế trong 6 tháng đầu năm 2007, mức tổn thất điện năng của EVN là 11,43%, cao hơn kế hoạch là 0,93% [4]. Như vậy vẫn còn nhiều biện pháp đồng bộ cần thực hiện để đạt được mục tiêu giảm tổn thất trên lưới điện. Phân tích các biện pháp giảm tổn thất điện năng cho thấy nếu thực hiện tốt, tổn thất điện năng trên lưới phân phối có thể hạ thấp đáng kể. Chẳng hạn như trường hợp Điện lực Thủ Đức, năm 2003 tỷ lệ tổn thất vào khoảng 5%, năm 2004 tỷ lệ giảm xuống còn 4,79%, đến năm 2005 là 4,32% và năm 2006 giảm xuống mức 4,15% [5]. Tổn thất trên lưới điện phân phối bao gồm tổn thất phi kỹ thuật (tổn thất thương mại) và tổn thất kỹ thuật. Tổn thất phi kỹ thuật (tổn thất thương mại) bao gồm 4 dạng tổn thất như sau [2]: • Trộm điện (câu, móc trộm). • Không thanh toán hoặc chậm thanh toán hóa đơn tiền điện. • Sai sót tính toán tổn thất kỹ thuật. • Sai sót thống kê phân loại và tính hóa đơn khách hàng. Tổn thất phi kỹ thuật phụ thuộc vào cơ chế quản lý, quy trình quản lý hành chính, hệ thống công tơ đo đếm và ý thức của người sử dụng. Tổn thất phi kỹ thuật cũng một phần chịu ảnh hưởng của năng lực và công cụ quản lý của bản thân các Điện lực, trong đó có phương tiện máy móc, máy tính, phần mềm quản lý. Tổn thất kỹ thuật trên lưới điện phân phối chủ yếu trên dây dẫn và các máy biến áp phân phối. Tổn thất kỹ thuật bao gồm tổn thất công suất tác dụng và tổn thất công suất phản kháng. Tổn thất công suất phản kháng do từ thông rò và gây từ trong các máy biến áp và cảm kháng trên đường dây. Tổn thất công suất phản kháng chỉ làm lệch góc và ít ảnh hưởng đến tổn thất điện năng. Tổn thất công suất tác dụng có ảnh hưởng đáng kể đến tổn thất điện năng. Thành phần tổn thất điện năng do tổn thất công suất tác dụng được

tính toán như sau: ∫ ∆ A = ∆ P( t). dt (1) Trong đó, ∆P(t) là tổn thất công suất tác dụng trên đường dây và máy biến áp tại thời điểm t. Việc tính toán tổn thất điện năng theo công thức (1) thông thường thực hiện theo phương pháp dòng điện đẳng trị phụ thuộc vào đồ thị phụ tải hoặc theo thời gian sử dụng 4 công suất lớn nhất [7]. Tổn thất công suất tác dụng bao gồm tổn thất sắt, do dòng điện Foucault trong lõi thép và tổn thất đồng do hiệu ứng Joule trong máy biến áp. Các loại tổn thất này có các nguyên nhân chủ yếu như sau: • Đường dây phân phối quá dài, bán kính cấp điện lớn • Tiết diện dây dẫn quá nhỏ, đường dây bị xuống cấp, không được cải tạo nâng cấp • Máy biến áp phân phối thường xuyên mang tải nặng hoặc quá tải • Máy biến áp là loại có tỷ lệ tổn thất cao hoặc vật liệu lõi từ không tốt dẫn đến sau một thời gian tổn thất tăng lên • Vận hành không đối xứng liên tục dẫn đến tăng tổn thất trên máy biến áp • Nhiều thành phần sóng hài của các phụ tải công nghiệp tác động vào các cuộn dây máy biến áp làm tăng tổn thất • Vận hành với hệ số cosφ thấp do thiếu công suất phản kháng 3. Các giải pháp kỹ thuật giảm tổn thất trên lưới phân phối Mục tiêu giảm tổn thất trên lưới điện phân phối chịu tác động của rất nhiều yếu tố và đòi hỏi nhiều biện pháp đồng bộ. Các biện pháp quản lý, hành chính nhằm giảm tổn thất thương mại cần thực hiện song song với các nỗ lực giảm tổn thất kỹ thuật. Có thể liệt kê các biện pháp chính giảm tổn thất kỹ thuật trong lưới điện phân phối như sau: • Tối ưu hóa các chế độ vận hành lưới điện • Hạn chế vận hành không đối xứng • Giảm chiều dài đường dây, cải tạo nâng tiết diện dây dẫn hoặc giảm bán kính cấp điện của các trạm biến áp • Lắp đặt hệ thống tụ bù công suất phản kháng đảm bảo hệ số công suất cosφ • Tăng dung lượng các máy biến áp chịu tải nặng, quá tải, lựa chọn các máy biến áp tỷ lệ tổn thất thất thấp, lõi thép làm bằng vật liệu thép tốt, lắp đặt các

máy biến áp 1 pha. Một số các biện pháp kỹ thuật cần thực hiện trong giai đoạn thiết kế-quy hoạch hoặc cải tạo, đầu tư xây dựng công trình. Tuy nhiên, các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong quá trình vận hành lại là các biện pháp thiết thực và hiệu quả nhất và thường gặp nhiều khó khăn. Chẳng hạn, phụ tải có đặc điểm biến động theo thời gian và tăng lên theo khu vực, do đó dung lượng thiết bị bù công suất phản kháng tại các nút sẽ luôn thay đổi chứ không bất biến. Do vậy cần phải xác định lại các vị trí lắp đặt và điều chỉnh lượng công suất bù trên 5 lưới điện khi cần thiết. Với vị trí lắp đặt và lượng công suất bù tối ưu, có thể giảm từ 5% đến 20% mức tổn thất điện năng [2]. Vận hành không đối xứng ảnh hưởng đến tỷ lệ tổn thất nhưng việc xác định và phân tích các phương án vận hành tìm ra phương án tối ưu rất khó khăn. Tương tự như vậy, hiện nay phụ tải công nghiệp tăng lên đáng kể, thành phần sóng hài của các phụ tải loại này là nguyên nhân tăng tổn thất điện năng trong các máy biến áp. Việc phân tích, đánh giá nhằm đưa ra biện pháp giảm các tác động của sóng hài đòi hỏi những phương tiện công nghệ nhất định. Một giải pháp công nghệ cho phép giải quyết cơ bản các vấn đề kỹ thuật trên được Tư vấn KEMA (Mỹ) kiến nghị sử dụng trong các Công ty Điện lực [6, mục 7.5.2]. Đó chính là ứng dụng phần mềm công nghệ phân tích lưới điện phân phối Phần mềm phân tích lưới điện phân phối thực hiện các tính toán tối ưu chế độ vận hành, lập các phương án xử lý trong các trường hợp sự cố, sa thải phụ tải. Sơ đồ lưới điện được mô tả theo pha và phân bố trên nền bản đồ số cho phép lập kế hoạch thời điểm xuất hiện phụ tải, tính toán các chế độlàm việc của lưới điện phân phối. Ngoài việc giải quyết các vấn đề kỹ thuật như phân tích phân bố công suất phản kháng, xác định các thành phần sóng hài, tính toán chế độ vận hành không đối xứng, giải pháp phần mềm còn cho phép tính toán lập kế hoạch giảm tổn thất trên cơ sở tối ứu hóa chế độ vận hành lưới điện. Kế hoạch giảm tổn thất điện năng có thể được xây dựng từ nhiều các 6 phương án kỹ thuật và theo lộ trình phân bổ theo thời gian. Kế hoạch cũng có thể thay đổi cập nhật phù hợp với sự biến động của phụ tải hoặc nguồn điện cung cấp. Với các chức năng kết hợp đánh giá và phân tích độ tin cậy vận hành của lưới điện, phần mềm là công cụ hỗ trợ công tác thiết kế, quản lý vận hành hiện đại đang được sử dụng trên thế giới. Các giải pháp như quản lý sự cố

(OMS-Outage Management System), ứng dụng nền bản đồ số (GIS) hay hết hợp với hệ thông thu thập và quản lý dữ liệu (SCADA) đều có thể ứng dụng cùng với phần mềm. Nâng cao năng lực thông qua các công cụ hiện đại và đồng bộ là một trong những hướng đi tích cực nhằm đạt được mục tiêu về quản lý vận hành lưới điện phân phối. Giảm tổn thất điện năng sẽ vẫn là mục tiêu quan trọng của các công ty Điện lực. Giải pháp phần mềm phân tích lưới điện phân phối là một công cụ mạnh đang được khai thác sử dụng rất hiệu quả tại nhiều công ty Điện lực trên thế giới. Việc tiếp cận và làm chủ công nghệ là biện pháp hiệu quả giúp nâng cao năng lực của các kỹ sư thiết kế và vận hành lưới điện.

Theo số liệu từ EVN, năm 2008, tỷ lệ tổn thất điện năng của EVN đã giảm xuống còn 9,35%. So với con số 21,5% của năm 1995 thì đây là một kỳ tích vì bình quân mỗi năm giảm gần 0,93%, làm lợi gần 200 tỷ đồng. Tuy nhiên, theo yêu cầu của Chính phủ, đến năm 2010 EVN phải giảm tỷ lệ tổn thất xuống 8% thì đúng là nhiệm vụ bất khả thi.

Nhiều nguyên nhân gây tổn thất Theo ông Phạm Lê Thanh- Tổng giám đốc EVN, những tổn thất hiện nay của ngành điện chủ yếu trong khâu truyền tải và phân phối. Trong đó, tổn thất kỹ thuật là loại tổn thất không thể tránh được do hiện tượng phát nhiệt của vật liệu dẫn điện, vì vậy, với tình trạng lưới điện càng cũ nát thì tổn thất càng lớn. Thực tế lưới điện hiện nay hầu hết đều trong tình trạng quá tải nghiêm trọng nhưng ngành điện chưa thể đầu tư cải tạo nâng cấp vì thiếu vốn. Đường dây 500 kV Bắc Nam cũng luôn trong tình trạng đầy tải để chuyển điện từ Nam ra Bắc, mà đường dây càng đầy tải thì tỷ lệ tổn thất càng tăng. Việc mua điện từ Trung Quốc truyền tải về qua lưới 110kV chất lượng không đảm bảo, điện áp cuối nguồn thấp cũng góp phần làm tăng tổn thất điện năng của các tỉnh miền núi phía Bắc. Ngoài ra, tình trạng thất thoát điện năng do người tiêu dùng ăn cắp điện vẫn còn… Để đưa được tổn thất điện năng về 8% vào năm 2010 theo chỉ đạo của Chính phủ thì trong 2 năm 20092010, ngành điện sẽ phải đầu tư khoảng 15.596 tỷ đồng để loại bỏ các máy biến áp cũ tổn thất cao, nâng cấp điện áp, thay thế dây dẫn phù hợp với tăng trưởng phụ tải.

Đặc biệt, nếu tiếp nhận toàn bộ lưới điện hạ áp nông thôn vào giữa năm 2010 theo kế hoạch thì mức tổn thất điện năng của EVN sẽ tăng thêm 2,23%. Bởi lẽ, hiện nay hầu hết cơ sở hạ tầng lưới điện nông thôn ở tất cả các địa phương đều rất cũ nát. Tỷ lệ tổn thất điện nông thôn ở những nơi chưa bàn giao lên tới 15 – 25%, có nơi tới 30-40%. Chính điều này đã làm tăng tỷ lệ tổn thất chung của ngành điện. Nếu khắc phục ngay tình trạng này thì ngành điện sẽ phải thay gần như toàn bộ công tơ, máy biến áp, cột điện, dây dẫn… với số tiền đầu tư rất lớn. Đây là yêu cầu rất khó thực hiện trong điều kiện EVN luôn ở trong tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng như hiện nay. Nhiều kinh nghiệm hay Để giảm tổn thất, EVN đã và đang chỉ đạo các đơn vị quyết liệt hơn trong công tác chống tổn thất điện năng. Theo đó, các đơn vị phải chú trọng đầu tư cải tạo tối thiểu, đảm bảo an toàn vận hành lưới điện, thay thế các công tơ không đảm bảo, bổ sung kiểm định công tơ để lắp đặt, thay thế đồng loạt công tơ cũ tại các khu vực lưới điện mới tiếp nhận, có biện pháp quản lý chặt chẽ, hiệu quả bên nhận làm dịch vụ điện...

Công tác chuẩn bị cho tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn tại CNĐ Hưng Nguyên-Điện lực Nghệ An Điện lực Bình Định đã thành lập tổ kiểm tra sử dụng điện phối hợp với các chi nhánh điện tăng cường kiểm tra kỹ hệ thống đo đếm, sơ đồ đấu dây, thông số cài đặt, đặc biệt quan tâm những khách hàng có sản lượng tiêu thụ điện lớn và có khả năng gian lận trong sử dụng điện; tăng cường phúc tra chỉ số công-tơ, triển khai lắp đặt công-tơ 3 giá; thay thế những công-tơ đã quá hạn sử dụng; phát quang hành lang tuyến, xử lý hiện tượng phóng điện bề mặt sứ, mối nối quá nhiệt gây sự cố đứt dây; sửa chữa, xây dựng cơ bản lưới điện, bảo đảm cấu trúc lưới hợp lý; kiểm tra, hoán chuyển các máy biến áp, sắp xếp lại hợp lý các trạm trung gian và cân pha

cho các trạm biến áp phát hiện có tình trạng lệch pha. Kiểm tra công suất phản kháng, đặt nấc phân áp các trạm biến áp phù hợp với từng khu vực, từng địa phương. Công ty điện lực 3 quản lý rất chặt việc ghi chỉ số công tơ, chỉ ký hợp đồng làm dịch vụ thu tiền điện và một số công việc phối hợp khác, không thuê ghi chỉ số công tơ để tránh tình trạng gian lận ngay từ khâu ghi chỉ số điện. Công ty Điện lực Hải Phòng giao chỉ tiêu tổn thất điện năng vào hệ số thưởng phạt tiền công cho bên nhận làm dịch vụ. Điện lực Gia Lai thành lập tổ, nhóm thường xuyên kiểm tra và chỉ đạo việc thực hiện giảm tổn thất điện năng. Tại các chi nhánh đều có kỹ sư điện chuyên theo dõi, giải trình nguyên nhân và biện pháp xử lý các trạm biến áp (TBA) có tổn thất bất thường bằng những con số cụ thể về công tơ cháy, hỏng; khách hàng lắp mới chưa ghi số; khách hàng ăn cắp điện; phóng sứ; cây va quẹt vào đường dây; các trường hợp truyền tải hộ... Thường xuyên điều chỉnh điện áp đầu nguồn đảm bảo cấp điện trong các giờ cao điểm, khắc phục tình trạng điện áp thấp; lắp đặt các TBA trung gian 35/22kV. Các chi nhánh tập trung cải tạo hệ thống điện tại các khu vực mới tiếp nhận, xử lý các công tơ chưa được cải tạo; kiểm tra toàn bộ các hệ thống đo đếm TBA chuyên dùng; tại các đầu cọc hạ áp máy biến áp chuyên dùng được quấn băng keo, niêm chì ngăn chặn việc trộm cắp điện; khoán quản lý đến từng công nhân theo từng khu vực, phúc tra, kiểm tra định kỳ tại các đơn vị có tỉ lệ điện tổn thất cao. Công ty điện lực 1 giao chỉ tiêu tổn thất điện năng cho các tổ quản lý và trả lương cho cán bộ công nhân viên theo chỉ tiêu này; xử lý các trạm biến áp non tải, khắc phục tình trạng lệch pha, thay thế định kỳ công tơ đo đếm, quản lý lịch ghi chỉ số công tơ… xây dựng chương trình chống quá tải, trong đó các đường dây và TBA. Tại các khu vực mới tiếp nhận lưới điện phải thay thế 100% công tơ 3 pha. Đối với các dự án cải tạo, phải phối hợp với các đơn vị thi công, khi nghiệm thu phải rà soát, củng cố niêm phong để tránh trường hợp các đơn vị thi công làm ẩu tạo sơ hở cho việc trộm cắp điện. Tăng cường biện pháp kỹ thuật để phát hiện lấy cắp điện như điều tra thông tin nặc danh từ cộng đồng, thành lập đường dây nóng… Kết quả là các mô hình trên đều đem lại hiệu quả khá cao. Để giải quyết khó khăn về vốn, EVN cũng chỉ đạo các đơn vị đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân các nguồn vốn vay ưu đãi của nước ngoài trong các dự án điện nông thôn. Riêng PC 3 cần tận dụng tối đa nguồn vốn vay 30 triệu USD từ dự

án “Phát triển năng lượng tái tạo và cải tạo, nâng cấp lưới điện các xã vùng sâu, vùng xa” do ADB tài trợ để cảo tạo lưới điện hạ áp sau tiếp nhận. Yêu cầu các công ty điện lực đăng ký nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2010 – 2012 để EVN sẽ tiếp tục thu xếp các nguồn vay ưu đãi ODA cho các dự án điện nông thôn… Băn khoăn bài toán kinh tế Mặc dù hết sức cố gắng nhưng thực tế, muốn giảm tổn thất để hạn chế tăng giá điện thì phải đủ vốn để đầu tư hạ tầng tốt. Để kêu gọi được vốn đầu tư thì giá điện phải đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư. Thế nhưng tăng giá điện sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều vấn đề… Bài toán quả trứng con gà xem ra đáp số đã có nhưng làm thế nào để đi đến đáp số này vẫn rất nan giải. Với những khó khăn đó, EVN đã phải cân nhắc, nếu đưa tỷ lệ tổn thất về 8% ngay trong năm 2010 theo yếu cầu của Chính phủ thì trước mắt ngành điện sẽ phải đầu tư khoảng 15.596 tỷ đồng. Khi đó, lượng điện tổn thất tương ứng sẽ giảm được 1,902 tỷ kWh/năm, tương đương 1.658 tỷ đồng (chưa kể lãi vay). Tính chung, cả giai đoạn 2009-2012 phải cải tạo, nâng cấp toàn bộ lưới điện trung hạ áp đáp ứng yêu cầu giảm tổn thất điện năng sẽ cần tới 45.573 tỷ đồng. Cách đầu tư này rõ ràng không kinh tế. Đó là chưa kể, nếu thực hiện kế hoạch cải tạo gấp lưới điện trên diện rộng trong thời gian ngắn sẽ phải cắt điện rất nhiều. Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến sản xuất kinh doanh và các sinh hoạt xã hội. Khắc phục những bất cập này, EVN đã trình lên Bộ Công Thương “Đề án giảm tổn thất điện năng giai đoạn 2009-2012” với đề nghị giữ tỷ lệ tổn thất năm 2010 là 9%, năm 2011 sẽ giảm xuống còn 10,1%, giảm dần đến năm 2012 còn 8,8% và sẽ đạt chỉ tiêu tổn thất còn 8% vào năm 2015. Theo EVN, đây là giải pháp tốt nhất để cân đối lộ trình giảm tổn thất điện trong điều kiện vừa phải cân đối hợp lý nguồn vốn, vừa đảm bảo đáp ứng nhu cầu điện sản xuất và sinh hoạt.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->