Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục

Phần một: MỞ ĐẦU
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI. 1. Cơ sở lý luận Phân môn Tiếng việt và Tập làm văn trong nhà trường có mục tiêu cơ bản là: hình thành và phát triển kỹ năng đọc, viết, nghe, nói của người học trên cơ sở trang bị những kiến thức về ngôn ngữ tiếng việt, nhằm làm cho người học nâng cao năng lực ngôn ngữ để đáp ứng nhu cầu giao tiếp và tư duy. Nên thực chất môn tiếng việt và tập làm văn là những môn học hình thành ở người học các hoạt động. Con đường học tập theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc dạy học phân môn tiếng việt và tập làm văn là con đường hoạt động. Vì vậy dạy và học theo hướng tích cực trong phân môn tiếng việt và tập làm văn là dạy học sinh bằng hoạt động đọc, viết, nghe, nói, theo kế hoạch và nội dung quy định của chương trình học tập mà nâng cao chất lượng hoạt động giao tiếp và tư duy của chính mình. Để phát huy cao tính hiệu quả của việc sử dụng phương pháp dạy học, cần dùng nhiều phương pháp dạy học trong một bài học sẽ làm cho bài học phong phú hơn, đa dạng hơn và sẽ tạo được hứng thú học tập cho học sinh khi học hai phân môn “ khó, khô, khổ” này. 2. Cơ sở thực tiễn Do đặc thù của hai phân môn tiếng việt và tập làm văn là tương đối khó nên giờ học thường ít sôi nổi. Đặc biệt là với học sinh dân tộc nơi tôi dạy do điều kiện, hoàn cảnh và môi trường sống nên phần lớn học sinh có trình độ tư duy phát triển chậm. Trong các tiết học các em nhút nhát, ít linh hoạt thường máy móc, rập khuôn, thiếu khả năng độc lập sáng tạo trong tư duy. Do vậy mà giáo viên hoạt động nhiều còn học sinh thì có thói quen chờ làm sẵn, ngại suy nghĩ.

-1-

học sinh tiếp thu bài tốt hơn. Quả thực. Và tôi đã dũng cảm áp dụng một số phương pháp dạy học mới (dạy học tích cực d) vào các tiết dạy phân môn Tiếng việt và Tập làm văn. Sau nhiều đêm trằn trọc suy nghĩ. như trước đây tôi cũng như một số đồng nghiệp đã từng nghĩ như vậy. Rất mong nhận được sự phản hồi của các đồng nghiệp. Với tinh thần ấy. -2- . là người trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn ở một xã vùng ba.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục Trước những hạn chế trên. tôi đã mạnh dạn thoát khỏi quan niệm: “ Nếu áp dụng phương pháp mới vào dạy học đối tượng là học sinh vùng ba thì các em sẽ không làm được”. tôi đã nhận thấy giờ học có phần sôi nổi hơn. tôi xin mạo muội trình bày một số phương pháp dạy học tích cực với phân môn Tiếng việt và Tập làm văn ở trường THCS.

chủ động. . thói quen ứng xử linh hoạt trong đời sống bằng ngôn ngữ văn hóa.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục Phần hai: NỘI DUNG Chương 1.3 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn.1 Khái niệm quá trình dạy học Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo. thì phương pháp đóng vai có ưu thế rất lớn.2 Khái niệm phương pháp dạy học Phương pháp dạy học là hệ thống những hoạt động có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên và học sinh nhằm tổ chức hoạt động nhận thức về hoạt động thực hành của học sinh. Phương pháp đóng vai . tích cực.1.Để thực hiện dạy học theo phương pháp đóng vai có hiệu quả giáo viên cần sử dụng các biện pháp và kĩ thuật dạy học như sau: -3- . tổ chức điều khiển của giáo viên người học tự giác. dạy học theo hướng phát huy tính tích cực. đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính vì vậy mà đạt được những mục đích dạy học 1. để chỉ ra những phương pháp giáo dục.Phương pháp này nhằm hình thành ở học sinh khả năng giao tiếp. 1. chủ động. Cơ sở phương pháp luận 1. Chương 2: Một số phương pháp cụ thể 2. được dùng ở nhiều nước. khả năng thích ứng với các tình huống giao tiếp. Đặc biệt nó có hiệu quả cao khi dạy các loại bài: Hành động nói. sáng tạo của người học. biết tổ chức tự điều khiển hoạt động nhận thức học tập của mình nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học.Trong việc dạy học phân môn Tiếng việt và Tập làm văn. Hội thoại… .

tự tin. thói quen làm việc theo quy mô (cá nhânc. đồng thời cũng kích thích khả năng tư duy của Học sinh. Phương pháp sử dụng trò chơi học tập Phương pháp này nhằm hình thành ở học sinh một hình thức tự củng cố kiến thức. . chơi để mở rộng vốn từ đã học… + Giaó viên đưa ra hình thức trò chơi gồm nhiều hoạt động. cách làm để đạt hiệu quả lời nói của mình. phù hợp với khả năng tư duy của học sinh sẽ có tác dụng gây hứng thú học tập cao. Ví dụ: Khi dạy phần: Văn bản thuyết minh Giáo viên có thể cho Học sinh đóng vai là một người thuyết minh hướng dẫn du lịch để giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê hương.Để dạy Tiếng việt và Tập làm văn bằng phương pháp sử dụng trò chơi cách thức thực hiện các biện pháp và kĩ thuật dạy học như sau: + Giáo viên cần nêu rõ mục đích của trò chơi. Chẳng hạn có thể hướng dẫn các em sau khi nói. hoặc đóng vai nhà sản xuất giới thiệu một đồ dùng do cơ sở của mình sản xuất… Khi cho Học sinh đóng vai để nói một nghi thức lời nói hoặc bài nói ngắn về một chủ đề. nhóm. 2. . hoặc có thể xem người nghe có thái độ như mình mong muốn khi nghe không.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục + Trước hết giáo viên cần giải thích mục đích của việc đóng vai. đồng thời cũng kích thích khả năng tư duy sáng tạo và nhanh nhạy của Học sinh. có thể hỏi người nghe một vài câu hỏi để xem người nghe có hiểu đúng ý mình nói không. thói quen học tập một cách có hứng thú. Ngôn ngữ dùng cho đóng vai phải thể hiện thái độ ân cần. Sử dụng phương pháp này có hiệu quả. 2. Ví dụ: Chơi để ôn các lớp từ đã học. -4- .Phương pháp sử dụng trò chơi học tập được dùng để dạy phân môn Tiếng việt và Tập làm văn ở bậc THCS. rõ ràng và diễn cảm khi trình bày vấn đề. lớp). Giáo viên cần cho Học sinh biết nội dung chính của lời nói hoặc bài nói là gì. kĩ năng.

không gian tổ chức trò chơi nằm trong diện tích của lớp học hoặc của trường. cá rán. Tập làm văn hoặc cán bộ lớp làm quản trò để dễ bề xử lý tình huống trong trò chơi.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục Ví dụ: Chơi bằng cách thi tìm nhanh các trường từ vựng. Ví dụ: Tìm và viết các từ tượng hình. rau xào. củi. chơi bằng cách đưa ra các đồ vật tìm các từ nằm trong các trường từ vựng đó. ma dút. Ví dụ: Vật liệu để tổ chức trò chơi dễ tìm kiếm. Thay câu hỏi tìm kiếm bằng trò chơi tìm kiếm. Yêu cầu: Củng cố kiến thức và kĩ năng vừa được học trong bài. Canh.Bảng chia đôi cho hai nhóm (nếu bảng rộng có thể chia làm ba nhómn). Ngắm. dầu hỏa. Ví dụ: Tìm những từ có nghĩa rộng hơn so với nghĩa của các từ ngữ ở mỗi nhóm sau: a. Hội họa. điêu khắc. nem. ngó. Luật chơi: . Ví dụ: Là những Học sinh học khá bộ môn Tiếng việt. + Chọn quản trò thích hợp. d. Xăng. âm nhạc. Chuẩn bị: Giáo viên chọn câu hỏi có sẵn trong các bài tập của phân môn Tiếng việt. b. văn học. + Đưa ra điều kiện tổ chức chơi đơn giản.Có thể áp dụng trong phân môn Tiếng việt ở tất cả các lớp ở bậc THCS. + Đưa ra cách chơi đơn giản sao cho Học sinh dễ nhớ. nhòm. ga. liếc. dễ thực hiện. dán các từ đã tìm lên bảng vào đúng chỗ của nhóm mình. . Ta có thể xây dựng những trò chơi vui học theo mấy cách sau: a. tôm rang. từ tượng thanh vào các phiếu cành hoa hoặc hình bông hoa. c. than. -5- . thịt luộc.

Chuẩn bị: Các ô chữ. . nhóm nào làm nhanh. tìm mối liên hệ với chúng.Kiểm tra bài cũ: Yêu cầu Học sinh làm bài tập của kiến thức đã học. .Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục . Chuẩn bị: Lựa chọn các câu hỏi phát hiện. mỗi tổ chỉ được quyền sử dụng một viên phấn để viết.Tạo điều kiện xuất phát: Tái hiện những kiến thức đã biết liên quan đến bài học mới.Tổ nào thực hiện xong yêu cầu của bài trước và không phạm lỗi là thắng cuộc. Yêu cầu: Bồi dưỡng năng lực cảm thụ Văn học trong việc đọc và hiểu văn bản. Nó được thể hiện liên tục trong quy trình dạy và học trên lớp: . . nhóm đó thắng cuộc. b. Luật chơi: Mỗi nhóm cử một người thi với nhóm khác. Biến câu hỏi phát hiện trong đọc hiểu thành trò chơi tìm kiếm. phù hợp với yêu cầu trò chơi. Ví dụ: Nếu em là người được chứng kiến cảnh Chị Dậu đánh tên Cai lệ thì em sẽ kể lại chuyện đó với các bạn như thế nào? Luật chơi: Các nhóm chơi thảo luận trong khoản thời gian quy định rồi cử người trình bày.Giáo viên chấm điểm trình bày của các nhóm và công bố nhóm thắng cuộc. đúng. 2. -6- . Phương pháp học luôn gắn với thực hành (luyện tập l) Luyện tập là khâu quan trọng trong dạy học nói chung và dạy phân môn Tiếng việt. Yêu cầu: Củng cố kĩ năng tìm từ trong quá trình học tập. Ghép chữ.3.Các tổ cử đại diện lên trình bày (hoặc các nhóm thay nhau từng người lên viết trên bảng lớph. người trước viết xong chuyển phấn cho người sau viết tiếp). c. Tập làm văn nói riêng.

Giáo viên cho Học sinh làm bài tập. biểu cảm trực tiếp. Khoanh tròn vào phương án đúng trong các trường hợp sau: A. B. Ngữ điệu uất ức. (Ngữ văn 7N. Con đường đi này chạy loanh quanh . Anh không nên có thái độ bàng quan B. E. căm hờn. “Từ đồng âm”. Ngữ điệu buồn nản. Ngữ điệu phối hợp các ngữ điệu trên.Hình thành bài học: Khâu này thể hiện việc thực hành rõ nét nhất. . “Các yếu tố tự sự.Tự kiểm tra: Học sinh làm một số bài tập ngắn gọn để tự kiểm tra việc hiểu bài ở mức độ nào. trả lời những câu hỏi trong SGK hoặc có thể tìm những bài tập nâng cao cho Học sinh luyện tập. miêu tả.Hướng dẫn học ở nhà: Học sinh làm một số bài tập ở nhà để củng cố kiến thức . tập 1). Giáo viên hướng dẫn luyện tập như sau: a. Anh ta suốt ngày rượu chè bê bết. lạnh lùng. -7- . Ví dụ 1: Dạy bài 11: “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá”. Ngữ điệu thản nhiên. Hãy chọn ngữ điệu và đọc theo ngữ điệu đó ở đoạn ba trong bài thơ “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” của Đỗ Phủ.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục . c. Viết một bài văn biểu cảm có đủ các yếu tố tự sự. có sử dụng từ chuyển nghĩa và một số từ đồng âm. C. miêu tả trong văn biểu cảm”. . Anh không nên có thái độ bàng quang. b. chua xót. D. C. Anh ta suốt ngày rượu chè be bét . Khoanh tròn chữ cái ở phương án em cho là có những ngữ điệu thích hợp nhất trong các câu sau: A. Ngữ điệu ngậm ngùi. thất vọng. Con đường đi này chạy lanh quanh.

C. Học sinh chủ yếu dựa vào trí nhớ để trả lời. “Rằm tháng giêng”. “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” (Ngữ văn 7N. yêu cầu suy luận thấp. cả bốn câu đều biểu cảm. -8- . hai câu sau kể. quan hệ từ. Nghe phong phanh anh được giải. Hình thức vấn đáp này chỉ dùng để giúp Học sinh tái hiện lại kiến thức đã biết. tập 1). tuy hiệu quả thấp nhưng chúng ta không thể bỏ qua. A. Những câu hỏi tái hiện như: + Em hiểu thế nào là câu nghi vấn? + Cho biết các đặc điểm hình thức thường gặp của câu nghi vấn? + Các đại từ nghi vấn nào thường xuất hiện trong câu nghi vấn? + Các cặp phụ từ nào thường có mặt trong câu nghi vấn? + Cho một vài ví dụ về câu nghi vấn sử dụng các tình thái từ. “Thành ngữ”. Hai câu đầu bài thơ là tả. hai câu sau biểu cảm trực tiếp. 2. rất cần thiết phải ôn lại những kiến thức về câu nghi vấn đã học ở tiết một trước đó. Phương pháp dạy học theo hình thức vấn đáp. Nó cũng giúp người học hệ thống hóa kiến thức. Ví dụ 2: Dạy bài 12: “Cảnh khuya”.4. làm cầu nối cho hoạt động phát hiện vấn đề của người học. Hai câu đầu bài thơ vừa là tả. Hai câu đầu bài thơ là tả. hai câu sau là biểu cảm. Vì vậy. Vấn đáp tái hiện phối hợp với vấn đáp tìm tòi có tác dụng gợi mở. Ví dụ: Để dạy tiếp bài “ Câu nghi vấn” ở tiết hai.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục D. Giáo viên có thể hướng dẫn tự học ở nhà như sau: Khoanh tròn chữ cái ở phương án em cho là đúng nhất về bài “Cảnh khuya”. giúp người học biết dựa vào nền tảng kiến thức cũ làm tiền đề để tiếp thu kiến thức mới. Khả năng phát huy tính tích cực của loại vấn đáp này không cao nhưng nó có tác dụng thiết lập mối liên hệ giưa kiến thức cũ với kiến thức mới. B. Nghe phong thanh anh được giải.

.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục Giúp học sinh hệ thống lại kiến thức cũ để tiếp tục tìm hiểu câu nghi vấn ở tiết thứ hai.5. phủ định. . ở tiết học này Học sinh được làm quen với những câu có hình thức nghi vấn nhưng mục đích nói năng không phải dùng để hỏi mà dùng để khẳng định. Giáo viên tạo mọi điều kiện để Học sinh tham gia tích cực và tự mình hoàn thiện tri thức theo yêu cầu và mục tiêu của bài học. .Mọi ý kiến của Học sinh đều được đưa ra xem xét.Trình bày tính hiển nhiên của các quan niệm. + Anh có thể chơi lại bản nhạc vừa rồi được không? (Cầu khiến C) + Chỉ có từng này thôi sao? (Phủ địnhP) + Mày muốn vào bệnh viện à? (Đe dọa §) + Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? (Bộc lộ cảm xúcB) Những câu vấn đáp trên đây ôn lại kiến thức cũ về câu nghi vấn. làm cơ sở đối chiếu so sánh với những câu có hình thức nghi vấn được dùng vào các mục đích nói khác . biểu cảm… Ví dụ: + Không mày làm vỡ cái bát thì ai làm? (khẳng địnhk). quan niệm riêng của mình. cầu khiến hay đe dọa. Nhiệm vụ của người học theo lý thuyết kiến tạo: -9- . Theo phương pháp này. hợp lý nhất.Lắng nghe các ý kiến đúng sai của Học sinh về vấn đề đặt ra trong bài học. Dạy học theo lý thuyết kiến tạo Tích hợp dạy học nêu vấn đề và dạy học theo nhóm một cách linh hoạt ở trình độ cao hơn ta có phương pháp dạy học theo lý thuyết kiến tạo.Tạo điều kiện để Học sinh bộc lộ và trao đổi ý kiến. . thảo luận .Tổ chức tranh luận công khai các ý kiến của học sinh.Lưu ý lựa chọn những giải pháp đơn giản. Nhiệm vụ chủ yếu của Giáo viên không phải là thuyết giảng mà chủ yếu là: . 2. .

. dẫn giải và kết luận. bổ sung kiến thức. nhiệm vụ và phương pháp giải quyết vấn đề. . Thay đổi quy trình thao tác thay đổi nhiệm vụ học tập sẽ dẫn tới sự thay đổi kết quả học tập. thay cho việc Giáo viên gợi ý. nội dung của bài học và năng lực. nhu cầu của người học chi phối việc lựa chọn nhiệm vụ và quy trình dạy học.10 - . thông qua sử lý các tình huống. điều chỉnh những sai lầm của mình thông qua sự tranh luận. vận dụng kiến thức mới: Sau khi xem xét những kiến giải khác nhau của từng cá nhân. . có thể thiết kế quy trình dạy học theo lý thuyết kiến tạo như sau: * Hoạt động 1: .Giải quyết vấn đề: Học cách giải quyết các tình huống học tập. Yêu cầu.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục . từng nhóm. phân tích những đúng sai của từng ý kiến. vượt qua những trở ngại trí tuệ. Giáo viên và Học sinh đi đến kết luận và lựa chọn những giải pháp. qua tranh luận với các bạn cùng học. phân công các nhóm thực hiện nhiệm vụ đó. . Mục tiêu của dạy học theo lý thuyết kiến tạo là thiết kế các nhiệm vụ học tập sao cho bằng các hoạt động theo một quy trình. Để tìm hiểu các dấu hiệu hình thức và chức năng của câu nghi vấn. (Quá trình giải quyết vấn đề trong bài Qhớ rừng là một ví dụ) . những tri thức mới cần tiếp thu.Học là vượt qua những trở ngại về mặt trí tuệ. Học sinh kiến tạo tri thức mới.Học trong sự tương tác xã hội.Chuyển giao nhiệm vụ: Giáo viên thiết kế bài dạy kèm theo các yêu cầu. Dạy học kiến tạo được tiến hành theo một quy trình gồm ba công đoạn sau: . thao tác nào đó.Học thông qua hoạt động giải quyết vấn đề. tự bản thân Học sinh rút ra được những nhận thức mới.Học trong hành động. hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm.So sánh các cặp câu sau đây và trả lời câu hỏi bên dưới: .Kết luận. phá vỡ những sai lầm cũ.

Thế làm sao U cứ khóc mãi mà không ăn khoai? c1.11 - . Theo em. – Ai thuộc bài hát này? a2.Ơ đâu cũng có trứng vịt cỏ bán. b1. . a1. có ý kiến khẳng định: “Hễ câu có từ nghi vấn là câu nghi vấn”. c2.Ai cũng thuộc bài hát này. . Gạch dưới các từ giống nhau trong từng cặp câu và cho biết: Trong các từ giống nhau đó từ nào là dấu hiệu của câu nghi vấn? b). b2. những câu nào dùng để hỏi? . . a). – Hay là U thương chúng con đói quá.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục a1. – Sáng nay người ta đấm U đau lắm. nhưng cũng có ý kiến ngược lại: “Có những câu chứa từ nghi vấn nhưng không phải là câu nghi vấn”. – U thương chúng con đói quá. a2. Những câu nào trong số các câu trên là câu nghi vấn? Dựa vào dấu hiệu hình thức nào mà em biết đó là câu nghi vấn? * Hoạt động 2: So sánh các cặp câu sau đây. . c1. – U cứ khóc mãi mà không ăn khoai.Bức tranh nào anh cũng thích.Bức tranh nào anh thích? b2. . – Ơ đâu có trứng vịt cỏ bán? c2. Trong các từ giống nhau đã xác định từ nào là đại từ nghi vấn? Từ nào không phải là đại từ nghi vấn? Xác định từ loại của những từ đó? * Hoạt động 3: Sau khi tìm hiểu dấu hiệu hình thức của câu nghi vấn. – Sáng nay người ta đấm U có đau lắm không? b1. và thực hiện các yêu cầu bên dưới. * Hoạt động 4: Trong những câu nghi vấn sau đây. ý kiến nào đúng? Tìm dẫn chứng bảo vệ ý kiến đó.

Chú mình muốn cùng tớ vui đùa không? . Khẳng định.Sao không bắt con cá đền cái gì? .Mày có biết thế nào là lễ độ không? .Sao cụ lo xa quá thế? * Hoạt động 5: Hoàn thành nhiệm vụ nêu ở các phiếu học tập sau: Phiếu số 1: Đặt câu nghi vấn với mục đích bộc lộ cảm xúc của mình trước những tình huống sau: a. Phủ định .Anh có thể cho tôi mượn tờ báo một lúc được không? .12 Mục đích nói Để hỏi. Trước một bức tranh đẹp.Ai dám bảo thảo mộc tự nhiên không có tình mẫu tử? .Bác đi làm ạ? . còn sống đấy à? . b.Chị khất tiền xu đến mai phải không? .Tôi biết làm thế nào bây giờ? . Trước một bức tranh không đẹp Phiếu số 2: Chuyển các câu nghi vấn sau đây thành câu trần thuật khẳng định hoặc câu cầu khiến: .Ông tưởng mày chết đêm qua.Mày định nói cho cha mày nghe đấy à? .Đòi một cái máng cho lợn ăn không được à? Phiếu số 3: Nối các câu nghi vấn với các mục đích nói tương ứng với nhau: Câu nghi vấn .Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? .Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục Những câu nào không dùng để hỏi? Chúng được dùng với mục đích gì? .

tự tìm ra kiến thức.Việc gì còn phải chờ khi khác? . định hướng. phải có sự kết hợp giữa các phương pháp đã nêu ở trên. thi công. Hoạt động sau bổ sung. Giáo viên là người thiết kế.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục .Anh tìm tôi có việc gì? . các dấu hiệu hình thức và chức năng của câu nghi vấn sẽ được Học sinh tự phát hiện. Nói cách khác. phát hiện của học sinh dưới sự tổ chức. Những sai sót ngộ nhận ở câu hỏi trước sẽ bị câu hỏi sau bác bỏ. Điều quan trọng là phải có sự liên kết chặt chẽ giữa hoạt động của thầy và hoạt động của trò.Cô chờ tôi một lúc có được không? Biểu cảm Cầu khiến Đe dọa Thực hiện các hoạt động trên đây. hướng dẫn của thầy cô. Người học có cơ hội sửa chữa sai lầm.13 - . Tóm lại: Để tăng cường hoạt động của Học sinh trên lớp trong dạy học phân môn Tiếng việt và Tập làm văn. tổ chức bài dạy để Học sinh có thể thi công. dạy – học là quá trình tự lĩnh hội. vượt qua được những trở ngại tri thức nhờ tính liên hoàn của hệ thống vấn đề và câu hỏi. hoàn thiện kiến thức ở hoạt động trước. .

ngày…tháng 3 năm 2007 DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG NGƯỜI THỰC HIỆN Nguyễn Thị Mận .Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục Phần ba: KẾT LUẬN. Những suy nghĩ tạm gọi là kinh nghiệm xin được nêu ra cùng các đồng nghiệp. những điều bản thân tôi đã thực hiện không phải là hoàn hảo và cũng có thể có một bạn đồng nghiệp nào đó cho rằng: “ Như vậy thì có gì đâu gọi là kinh nghiệm.14 - . Tuy nhiên. giờ học sôi nổi hơn. Trên đây là một số kinh nghiệm mà thực tế bản thân tôi đã thực hiện trong những năm qua. trên thực tế phần lớn nhiều Giáo viên ở những vùng khó khăn không dám áp dụng hoặc vận dụng còn sơ sài. Học sinh có hiểu bài hơn. Nếu có gì sai sót xin hãy lượng và xin được trao đổi thêm. Tôi tự nhận thấy có hiệu quả. Tôi xin chân thành cảm ơn! IaTul.” Song. chỉ là ở những tiết thao giảng hay hội giảng …. tất cả đều đã được quy định trong công việc của thầy giáo trong phương pháp dạy học cả rồi. nắm vững kiến thức hơn. Có chăng.

15 - .Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục .