Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục

Phần một: MỞ ĐẦU
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI. 1. Cơ sở lý luận Phân môn Tiếng việt và Tập làm văn trong nhà trường có mục tiêu cơ bản là: hình thành và phát triển kỹ năng đọc, viết, nghe, nói của người học trên cơ sở trang bị những kiến thức về ngôn ngữ tiếng việt, nhằm làm cho người học nâng cao năng lực ngôn ngữ để đáp ứng nhu cầu giao tiếp và tư duy. Nên thực chất môn tiếng việt và tập làm văn là những môn học hình thành ở người học các hoạt động. Con đường học tập theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc dạy học phân môn tiếng việt và tập làm văn là con đường hoạt động. Vì vậy dạy và học theo hướng tích cực trong phân môn tiếng việt và tập làm văn là dạy học sinh bằng hoạt động đọc, viết, nghe, nói, theo kế hoạch và nội dung quy định của chương trình học tập mà nâng cao chất lượng hoạt động giao tiếp và tư duy của chính mình. Để phát huy cao tính hiệu quả của việc sử dụng phương pháp dạy học, cần dùng nhiều phương pháp dạy học trong một bài học sẽ làm cho bài học phong phú hơn, đa dạng hơn và sẽ tạo được hứng thú học tập cho học sinh khi học hai phân môn “ khó, khô, khổ” này. 2. Cơ sở thực tiễn Do đặc thù của hai phân môn tiếng việt và tập làm văn là tương đối khó nên giờ học thường ít sôi nổi. Đặc biệt là với học sinh dân tộc nơi tôi dạy do điều kiện, hoàn cảnh và môi trường sống nên phần lớn học sinh có trình độ tư duy phát triển chậm. Trong các tiết học các em nhút nhát, ít linh hoạt thường máy móc, rập khuôn, thiếu khả năng độc lập sáng tạo trong tư duy. Do vậy mà giáo viên hoạt động nhiều còn học sinh thì có thói quen chờ làm sẵn, ngại suy nghĩ.

-1-

Sau nhiều đêm trằn trọc suy nghĩ. như trước đây tôi cũng như một số đồng nghiệp đã từng nghĩ như vậy. Quả thực. -2- .Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục Trước những hạn chế trên. Với tinh thần ấy. tôi đã nhận thấy giờ học có phần sôi nổi hơn. tôi xin mạo muội trình bày một số phương pháp dạy học tích cực với phân môn Tiếng việt và Tập làm văn ở trường THCS. Và tôi đã dũng cảm áp dụng một số phương pháp dạy học mới (dạy học tích cực d) vào các tiết dạy phân môn Tiếng việt và Tập làm văn. tôi đã mạnh dạn thoát khỏi quan niệm: “ Nếu áp dụng phương pháp mới vào dạy học đối tượng là học sinh vùng ba thì các em sẽ không làm được”. Rất mong nhận được sự phản hồi của các đồng nghiệp. học sinh tiếp thu bài tốt hơn. là người trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn ở một xã vùng ba.

đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính vì vậy mà đạt được những mục đích dạy học 1. Đặc biệt nó có hiệu quả cao khi dạy các loại bài: Hành động nói. Hội thoại… . Chương 2: Một số phương pháp cụ thể 2.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục Phần hai: NỘI DUNG Chương 1. dạy học theo hướng phát huy tính tích cực. thói quen ứng xử linh hoạt trong đời sống bằng ngôn ngữ văn hóa. Cơ sở phương pháp luận 1.3 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn. chủ động. Phương pháp đóng vai .Trong việc dạy học phân môn Tiếng việt và Tập làm văn. tổ chức điều khiển của giáo viên người học tự giác.2 Khái niệm phương pháp dạy học Phương pháp dạy học là hệ thống những hoạt động có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên và học sinh nhằm tổ chức hoạt động nhận thức về hoạt động thực hành của học sinh. tích cực. để chỉ ra những phương pháp giáo dục. . sáng tạo của người học.Phương pháp này nhằm hình thành ở học sinh khả năng giao tiếp. khả năng thích ứng với các tình huống giao tiếp.1 Khái niệm quá trình dạy học Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo. chủ động. thì phương pháp đóng vai có ưu thế rất lớn. 1. biết tổ chức tự điều khiển hoạt động nhận thức học tập của mình nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học. được dùng ở nhiều nước.1.Để thực hiện dạy học theo phương pháp đóng vai có hiệu quả giáo viên cần sử dụng các biện pháp và kĩ thuật dạy học như sau: -3- .

cách làm để đạt hiệu quả lời nói của mình. Chẳng hạn có thể hướng dẫn các em sau khi nói.Để dạy Tiếng việt và Tập làm văn bằng phương pháp sử dụng trò chơi cách thức thực hiện các biện pháp và kĩ thuật dạy học như sau: + Giáo viên cần nêu rõ mục đích của trò chơi. kĩ năng. . rõ ràng và diễn cảm khi trình bày vấn đề. tự tin. Ví dụ: Khi dạy phần: Văn bản thuyết minh Giáo viên có thể cho Học sinh đóng vai là một người thuyết minh hướng dẫn du lịch để giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê hương. đồng thời cũng kích thích khả năng tư duy của Học sinh. 2. Ngôn ngữ dùng cho đóng vai phải thể hiện thái độ ân cần. nhóm. Sử dụng phương pháp này có hiệu quả. Ví dụ: Chơi để ôn các lớp từ đã học. thói quen học tập một cách có hứng thú. .Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục + Trước hết giáo viên cần giải thích mục đích của việc đóng vai. hoặc đóng vai nhà sản xuất giới thiệu một đồ dùng do cơ sở của mình sản xuất… Khi cho Học sinh đóng vai để nói một nghi thức lời nói hoặc bài nói ngắn về một chủ đề. có thể hỏi người nghe một vài câu hỏi để xem người nghe có hiểu đúng ý mình nói không. Giáo viên cần cho Học sinh biết nội dung chính của lời nói hoặc bài nói là gì. 2. Phương pháp sử dụng trò chơi học tập Phương pháp này nhằm hình thành ở học sinh một hình thức tự củng cố kiến thức. phù hợp với khả năng tư duy của học sinh sẽ có tác dụng gây hứng thú học tập cao. lớp). chơi để mở rộng vốn từ đã học… + Giaó viên đưa ra hình thức trò chơi gồm nhiều hoạt động.Phương pháp sử dụng trò chơi học tập được dùng để dạy phân môn Tiếng việt và Tập làm văn ở bậc THCS. đồng thời cũng kích thích khả năng tư duy sáng tạo và nhanh nhạy của Học sinh. thói quen làm việc theo quy mô (cá nhânc. hoặc có thể xem người nghe có thái độ như mình mong muốn khi nghe không. -4- .

từ tượng thanh vào các phiếu cành hoa hoặc hình bông hoa. dán các từ đã tìm lên bảng vào đúng chỗ của nhóm mình. + Chọn quản trò thích hợp. dầu hỏa. Thay câu hỏi tìm kiếm bằng trò chơi tìm kiếm. Tập làm văn hoặc cán bộ lớp làm quản trò để dễ bề xử lý tình huống trong trò chơi. điêu khắc. chơi bằng cách đưa ra các đồ vật tìm các từ nằm trong các trường từ vựng đó. Canh.Có thể áp dụng trong phân môn Tiếng việt ở tất cả các lớp ở bậc THCS. âm nhạc. Ví dụ: Tìm và viết các từ tượng hình. nem. Ví dụ: Là những Học sinh học khá bộ môn Tiếng việt. rau xào. Ngắm. + Đưa ra cách chơi đơn giản sao cho Học sinh dễ nhớ. -5- . không gian tổ chức trò chơi nằm trong diện tích của lớp học hoặc của trường. tôm rang. + Đưa ra điều kiện tổ chức chơi đơn giản. cá rán. Chuẩn bị: Giáo viên chọn câu hỏi có sẵn trong các bài tập của phân môn Tiếng việt. dễ thực hiện.Bảng chia đôi cho hai nhóm (nếu bảng rộng có thể chia làm ba nhómn). d. ngó. văn học. Luật chơi: . ma dút. Ví dụ: Vật liệu để tổ chức trò chơi dễ tìm kiếm. Hội họa. liếc. Xăng. Ta có thể xây dựng những trò chơi vui học theo mấy cách sau: a. Ví dụ: Tìm những từ có nghĩa rộng hơn so với nghĩa của các từ ngữ ở mỗi nhóm sau: a.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục Ví dụ: Chơi bằng cách thi tìm nhanh các trường từ vựng. củi. thịt luộc. Yêu cầu: Củng cố kiến thức và kĩ năng vừa được học trong bài. . b. c. nhòm. than. ga.

Kiểm tra bài cũ: Yêu cầu Học sinh làm bài tập của kiến thức đã học. tìm mối liên hệ với chúng. Yêu cầu: Bồi dưỡng năng lực cảm thụ Văn học trong việc đọc và hiểu văn bản. Luật chơi: Mỗi nhóm cử một người thi với nhóm khác. Chuẩn bị: Lựa chọn các câu hỏi phát hiện. . Nó được thể hiện liên tục trong quy trình dạy và học trên lớp: . 2. Biến câu hỏi phát hiện trong đọc hiểu thành trò chơi tìm kiếm. nhóm đó thắng cuộc. Ghép chữ. Chuẩn bị: Các ô chữ. Yêu cầu: Củng cố kĩ năng tìm từ trong quá trình học tập.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục . Phương pháp học luôn gắn với thực hành (luyện tập l) Luyện tập là khâu quan trọng trong dạy học nói chung và dạy phân môn Tiếng việt. b. . người trước viết xong chuyển phấn cho người sau viết tiếp).Tổ nào thực hiện xong yêu cầu của bài trước và không phạm lỗi là thắng cuộc. mỗi tổ chỉ được quyền sử dụng một viên phấn để viết. phù hợp với yêu cầu trò chơi. c.Tạo điều kiện xuất phát: Tái hiện những kiến thức đã biết liên quan đến bài học mới. -6- . . Ví dụ: Nếu em là người được chứng kiến cảnh Chị Dậu đánh tên Cai lệ thì em sẽ kể lại chuyện đó với các bạn như thế nào? Luật chơi: Các nhóm chơi thảo luận trong khoản thời gian quy định rồi cử người trình bày.Giáo viên chấm điểm trình bày của các nhóm và công bố nhóm thắng cuộc. nhóm nào làm nhanh.Các tổ cử đại diện lên trình bày (hoặc các nhóm thay nhau từng người lên viết trên bảng lớph. đúng. Tập làm văn nói riêng.3.

Tự kiểm tra: Học sinh làm một số bài tập ngắn gọn để tự kiểm tra việc hiểu bài ở mức độ nào. (Ngữ văn 7N. Khoanh tròn chữ cái ở phương án em cho là có những ngữ điệu thích hợp nhất trong các câu sau: A. Ví dụ 1: Dạy bài 11: “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá”. miêu tả trong văn biểu cảm”. Viết một bài văn biểu cảm có đủ các yếu tố tự sự. .Hướng dẫn học ở nhà: Học sinh làm một số bài tập ở nhà để củng cố kiến thức . Con đường đi này chạy loanh quanh . thất vọng. chua xót. lạnh lùng. Anh ta suốt ngày rượu chè bê bết. Anh không nên có thái độ bàng quang. Giáo viên cho Học sinh làm bài tập. Ngữ điệu thản nhiên. Hãy chọn ngữ điệu và đọc theo ngữ điệu đó ở đoạn ba trong bài thơ “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” của Đỗ Phủ. Ngữ điệu uất ức.Hình thành bài học: Khâu này thể hiện việc thực hành rõ nét nhất. Anh không nên có thái độ bàng quan B.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục . b. trả lời những câu hỏi trong SGK hoặc có thể tìm những bài tập nâng cao cho Học sinh luyện tập. Ngữ điệu buồn nản. B. Khoanh tròn vào phương án đúng trong các trường hợp sau: A. C. căm hờn. Con đường đi này chạy lanh quanh. Giáo viên hướng dẫn luyện tập như sau: a. “Các yếu tố tự sự. tập 1). Ngữ điệu ngậm ngùi. . C. Anh ta suốt ngày rượu chè be bét . D. E. có sử dụng từ chuyển nghĩa và một số từ đồng âm. c. biểu cảm trực tiếp. “Từ đồng âm”. -7- . Ngữ điệu phối hợp các ngữ điệu trên. miêu tả.

Nghe phong phanh anh được giải. Vấn đáp tái hiện phối hợp với vấn đáp tìm tòi có tác dụng gợi mở. Nghe phong thanh anh được giải. -8- . Những câu hỏi tái hiện như: + Em hiểu thế nào là câu nghi vấn? + Cho biết các đặc điểm hình thức thường gặp của câu nghi vấn? + Các đại từ nghi vấn nào thường xuất hiện trong câu nghi vấn? + Các cặp phụ từ nào thường có mặt trong câu nghi vấn? + Cho một vài ví dụ về câu nghi vấn sử dụng các tình thái từ. A. Giáo viên có thể hướng dẫn tự học ở nhà như sau: Khoanh tròn chữ cái ở phương án em cho là đúng nhất về bài “Cảnh khuya”. làm cầu nối cho hoạt động phát hiện vấn đề của người học. hai câu sau biểu cảm trực tiếp. “Rằm tháng giêng”. “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” (Ngữ văn 7N. “Thành ngữ”. Vì vậy. cả bốn câu đều biểu cảm. Hai câu đầu bài thơ là tả. tập 1). B. tuy hiệu quả thấp nhưng chúng ta không thể bỏ qua. hai câu sau kể. yêu cầu suy luận thấp. Khả năng phát huy tính tích cực của loại vấn đáp này không cao nhưng nó có tác dụng thiết lập mối liên hệ giưa kiến thức cũ với kiến thức mới. Ví dụ: Để dạy tiếp bài “ Câu nghi vấn” ở tiết hai. Hai câu đầu bài thơ vừa là tả.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục D. hai câu sau là biểu cảm. giúp người học biết dựa vào nền tảng kiến thức cũ làm tiền đề để tiếp thu kiến thức mới.4. 2. Nó cũng giúp người học hệ thống hóa kiến thức. Học sinh chủ yếu dựa vào trí nhớ để trả lời. rất cần thiết phải ôn lại những kiến thức về câu nghi vấn đã học ở tiết một trước đó. C. Phương pháp dạy học theo hình thức vấn đáp. Ví dụ 2: Dạy bài 12: “Cảnh khuya”. Hai câu đầu bài thơ là tả. Hình thức vấn đáp này chỉ dùng để giúp Học sinh tái hiện lại kiến thức đã biết. quan hệ từ.

phủ định. .Tổ chức tranh luận công khai các ý kiến của học sinh. quan niệm riêng của mình. Dạy học theo lý thuyết kiến tạo Tích hợp dạy học nêu vấn đề và dạy học theo nhóm một cách linh hoạt ở trình độ cao hơn ta có phương pháp dạy học theo lý thuyết kiến tạo.Trình bày tính hiển nhiên của các quan niệm.Tạo điều kiện để Học sinh bộc lộ và trao đổi ý kiến. Theo phương pháp này. Nhiệm vụ của người học theo lý thuyết kiến tạo: -9- . .Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục Giúp học sinh hệ thống lại kiến thức cũ để tiếp tục tìm hiểu câu nghi vấn ở tiết thứ hai.Lưu ý lựa chọn những giải pháp đơn giản. làm cơ sở đối chiếu so sánh với những câu có hình thức nghi vấn được dùng vào các mục đích nói khác .5. hợp lý nhất.Mọi ý kiến của Học sinh đều được đưa ra xem xét. . biểu cảm… Ví dụ: + Không mày làm vỡ cái bát thì ai làm? (khẳng địnhk). ở tiết học này Học sinh được làm quen với những câu có hình thức nghi vấn nhưng mục đích nói năng không phải dùng để hỏi mà dùng để khẳng định. Nhiệm vụ chủ yếu của Giáo viên không phải là thuyết giảng mà chủ yếu là: . cầu khiến hay đe dọa. 2. + Anh có thể chơi lại bản nhạc vừa rồi được không? (Cầu khiến C) + Chỉ có từng này thôi sao? (Phủ địnhP) + Mày muốn vào bệnh viện à? (Đe dọa §) + Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? (Bộc lộ cảm xúcB) Những câu vấn đáp trên đây ôn lại kiến thức cũ về câu nghi vấn. . Giáo viên tạo mọi điều kiện để Học sinh tham gia tích cực và tự mình hoàn thiện tri thức theo yêu cầu và mục tiêu của bài học. .Lắng nghe các ý kiến đúng sai của Học sinh về vấn đề đặt ra trong bài học. thảo luận .

hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm. Yêu cầu. Mục tiêu của dạy học theo lý thuyết kiến tạo là thiết kế các nhiệm vụ học tập sao cho bằng các hoạt động theo một quy trình. . phân công các nhóm thực hiện nhiệm vụ đó. nhiệm vụ và phương pháp giải quyết vấn đề. có thể thiết kế quy trình dạy học theo lý thuyết kiến tạo như sau: * Hoạt động 1: . tự bản thân Học sinh rút ra được những nhận thức mới. Thay đổi quy trình thao tác thay đổi nhiệm vụ học tập sẽ dẫn tới sự thay đổi kết quả học tập.Kết luận. từng nhóm. (Quá trình giải quyết vấn đề trong bài Qhớ rừng là một ví dụ) .So sánh các cặp câu sau đây và trả lời câu hỏi bên dưới: .Học là vượt qua những trở ngại về mặt trí tuệ. qua tranh luận với các bạn cùng học. Để tìm hiểu các dấu hiệu hình thức và chức năng của câu nghi vấn. những tri thức mới cần tiếp thu. vượt qua những trở ngại trí tuệ. thao tác nào đó.Học thông qua hoạt động giải quyết vấn đề. vận dụng kiến thức mới: Sau khi xem xét những kiến giải khác nhau của từng cá nhân. phá vỡ những sai lầm cũ. . nhu cầu của người học chi phối việc lựa chọn nhiệm vụ và quy trình dạy học. điều chỉnh những sai lầm của mình thông qua sự tranh luận.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục . Dạy học kiến tạo được tiến hành theo một quy trình gồm ba công đoạn sau: .Chuyển giao nhiệm vụ: Giáo viên thiết kế bài dạy kèm theo các yêu cầu. bổ sung kiến thức. . thông qua sử lý các tình huống. dẫn giải và kết luận.Giải quyết vấn đề: Học cách giải quyết các tình huống học tập. Học sinh kiến tạo tri thức mới.Học trong hành động. . nội dung của bài học và năng lực.10 - . Giáo viên và Học sinh đi đến kết luận và lựa chọn những giải pháp. thay cho việc Giáo viên gợi ý.Học trong sự tương tác xã hội. phân tích những đúng sai của từng ý kiến.

những câu nào dùng để hỏi? . a2. Trong các từ giống nhau đã xác định từ nào là đại từ nghi vấn? Từ nào không phải là đại từ nghi vấn? Xác định từ loại của những từ đó? * Hoạt động 3: Sau khi tìm hiểu dấu hiệu hình thức của câu nghi vấn. * Hoạt động 4: Trong những câu nghi vấn sau đây. – Sáng nay người ta đấm U đau lắm. a). – U cứ khóc mãi mà không ăn khoai. – Hay là U thương chúng con đói quá. . và thực hiện các yêu cầu bên dưới. nhưng cũng có ý kiến ngược lại: “Có những câu chứa từ nghi vấn nhưng không phải là câu nghi vấn”. a1. – Sáng nay người ta đấm U có đau lắm không? b1. .Ai cũng thuộc bài hát này. Những câu nào trong số các câu trên là câu nghi vấn? Dựa vào dấu hiệu hình thức nào mà em biết đó là câu nghi vấn? * Hoạt động 2: So sánh các cặp câu sau đây. Gạch dưới các từ giống nhau trong từng cặp câu và cho biết: Trong các từ giống nhau đó từ nào là dấu hiệu của câu nghi vấn? b). – Ai thuộc bài hát này? a2. b1.Thế làm sao U cứ khóc mãi mà không ăn khoai? c1. .Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục a1. c2.Bức tranh nào anh cũng thích. – U thương chúng con đói quá. c1. – Ơ đâu có trứng vịt cỏ bán? c2.11 - .Ơ đâu cũng có trứng vịt cỏ bán. Theo em. có ý kiến khẳng định: “Hễ câu có từ nghi vấn là câu nghi vấn”. ý kiến nào đúng? Tìm dẫn chứng bảo vệ ý kiến đó. . .Bức tranh nào anh thích? b2. b2.

Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư? . Trước một bức tranh không đẹp Phiếu số 2: Chuyển các câu nghi vấn sau đây thành câu trần thuật khẳng định hoặc câu cầu khiến: .Sao không bắt con cá đền cái gì? .Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục Những câu nào không dùng để hỏi? Chúng được dùng với mục đích gì? . Trước một bức tranh đẹp.Sao cụ lo xa quá thế? * Hoạt động 5: Hoàn thành nhiệm vụ nêu ở các phiếu học tập sau: Phiếu số 1: Đặt câu nghi vấn với mục đích bộc lộ cảm xúc của mình trước những tình huống sau: a.Chị khất tiền xu đến mai phải không? . Khẳng định.Ai dám bảo thảo mộc tự nhiên không có tình mẫu tử? .Tôi biết làm thế nào bây giờ? .Mày có biết thế nào là lễ độ không? .12 Mục đích nói Để hỏi.Bác đi làm ạ? .Ông tưởng mày chết đêm qua. Phủ định .Chú mình muốn cùng tớ vui đùa không? .Mày định nói cho cha mày nghe đấy à? . b.Đòi một cái máng cho lợn ăn không được à? Phiếu số 3: Nối các câu nghi vấn với các mục đích nói tương ứng với nhau: Câu nghi vấn . còn sống đấy à? .Anh có thể cho tôi mượn tờ báo một lúc được không? .

các dấu hiệu hình thức và chức năng của câu nghi vấn sẽ được Học sinh tự phát hiện. Người học có cơ hội sửa chữa sai lầm. tự tìm ra kiến thức.Việc gì còn phải chờ khi khác? .Cô chờ tôi một lúc có được không? Biểu cảm Cầu khiến Đe dọa Thực hiện các hoạt động trên đây. Điều quan trọng là phải có sự liên kết chặt chẽ giữa hoạt động của thầy và hoạt động của trò. phát hiện của học sinh dưới sự tổ chức. hướng dẫn của thầy cô. vượt qua được những trở ngại tri thức nhờ tính liên hoàn của hệ thống vấn đề và câu hỏi. Những sai sót ngộ nhận ở câu hỏi trước sẽ bị câu hỏi sau bác bỏ.13 - . thi công. Nói cách khác. tổ chức bài dạy để Học sinh có thể thi công.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục . Tóm lại: Để tăng cường hoạt động của Học sinh trên lớp trong dạy học phân môn Tiếng việt và Tập làm văn. .Anh tìm tôi có việc gì? . định hướng. Giáo viên là người thiết kế. Hoạt động sau bổ sung. phải có sự kết hợp giữa các phương pháp đã nêu ở trên. dạy – học là quá trình tự lĩnh hội. hoàn thiện kiến thức ở hoạt động trước.

Trên đây là một số kinh nghiệm mà thực tế bản thân tôi đã thực hiện trong những năm qua.14 - .” Song. giờ học sôi nổi hơn. Tuy nhiên. nắm vững kiến thức hơn. ngày…tháng 3 năm 2007 DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG NGƯỜI THỰC HIỆN Nguyễn Thị Mận . trên thực tế phần lớn nhiều Giáo viên ở những vùng khó khăn không dám áp dụng hoặc vận dụng còn sơ sài. Những suy nghĩ tạm gọi là kinh nghiệm xin được nêu ra cùng các đồng nghiệp. Nếu có gì sai sót xin hãy lượng và xin được trao đổi thêm. những điều bản thân tôi đã thực hiện không phải là hoàn hảo và cũng có thể có một bạn đồng nghiệp nào đó cho rằng: “ Như vậy thì có gì đâu gọi là kinh nghiệm. Có chăng. Học sinh có hiểu bài hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! IaTul. Tôi tự nhận thấy có hiệu quả. tất cả đều đã được quy định trong công việc của thầy giáo trong phương pháp dạy học cả rồi.Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục Phần ba: KẾT LUẬN. chỉ là ở những tiết thao giảng hay hội giảng ….

Đề tài tổng kết kinh nghiệm giáo dục .15 - .