P. 1
Phan Tich Bai Tho Doan Thuyen Danh CA

Phan Tich Bai Tho Doan Thuyen Danh CA

|Views: 967|Likes:
Được xuất bản bởihoangdinh1975

More info:

Published by: hoangdinh1975 on Dec 03, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

01/07/2013

pdf

text

original

Đoàn thuyền đánh cá I.Tác giả, tác phẩm 1.

Tác giả: - Huy Cận là bút danh của Cù Huy Cận, sinh năm 1919, quê ở Ân Phú - Vũ Quang - Hà Tĩnh. Ông là một cây bút nổi tiếng của phong trào Thơ mới với tập thơ : “ Lửa thiêng” ( 1940) - Ông tham gia cách mạng từ trước năm 1945, sau CM tháng Tám ông giữ nhiều trọng trách trong chính quyền CM, đồng thời là một nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt nam từ sau năm 1945 - Huy Cận mất năm 2005 tại Hà Nội. 2.Tác phẩm “ Đoàn thuyền đánh cá “ là một bài thơ hay của Huy Cận, bài thơ được viết vào giữa năm 1958 khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và đi vào xây dụng cuộc sống mới. Niềm vui dạt dào tin yêu vào cuộc sống mới bao trùm cả đời sống xã hội và trở thành nguồn cảm hứng lớn của thi ca. Nhiều nhà thơ đi đến vùng đất xa xôi nơi đang dấy lên phong trào sản xuất xây dựng đất nước. Giữa năm 1958 Huy Cận có chuyến đi thâm nhập thực tế dài ngày về vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi ấy, hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên đất nước về lao động và niềm vui trước cuốc sống mới. Bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá “ được ra đời vào thời gian này và in trong tập “ TRỜI MỖI NGÀY LẠI SÁNG” 1958. 3. Bố cục Bài thơ được bố cục theo hành trình một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh cá - Hai khổ đầu : Cảnh ra khơi và tâm trạng náo nức của con người. - Bốn khổ tiếp : Cảnh đánh cá trên biển giữa khung cảnh biển trời ban đêm. - Khổ cuối : cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh lên. (Có thể tìm hiểu bài thơ theo bố cục hoặc theo hệ thống hình ảnh thiên nhiên,con người dọc cả bài thơ.) * Trong bài thơ có hai nguồn cảm hứng bao trùm và hài hòa với nhau: Cảm hứng về lao động và cảm hứng về thiên nhiên vũ trụ. Sự thống nhất của hai nguồn cảm hứng ấy thể hiện qua kết câu và hệ thống hình ảnh của bài thơ + Về kết cấu : Thời gian của bài thơ là nhịp tuần hoàn của vũ trụ từ lúc hoàng hôn cho đến bình minh và cũng là thời gian hoạt động của đoàn thuyền đánh cá ra khơi rồi trở về. - Không gian của bài thơ là không gian rộng lớn bao la với mặt trời, biển, sóng, gió, trăng, sao ...cũng là không gian của cảnh lao động. + Về hệ thống hình ảnh: - Nhiều hình ảnh thơ đã gắn liền với công việc lao động của con người, với nhịp sống của thiên nhiên đất trời :”Câu hát căng buồm với gió khơi” “Thuyền ta lái gió với buồm trăng. Lướt giữa mây cao với biển bằng”, ” gõ thuyền đã có nhịp trăng cao” “ Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” II/ Phần tập làm văn Đề 1 : Phân tích bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá “ của Huy Cận. Dàn ý chi tiết : A. Mở bài : - Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ mới. Sau CM thơ Huy Cận tràn đầy niềm vui, niềm tin yêu cuộc sống mới. -Thiên nhiên vũ trụ là nguồn cảm hứng dồi dào trong thơ Huy Cận và nó mang những nét đẹp riêng. - Một trong những bài thơ được nhiều người yêu thích nhất là bài “ Đoàn thuyền đánh cá” được viết năm 1958 tại vùng biển Quảng Ninh. Với bút pháp lãng mạn kết hợp hiện thực và nhiều

1

Người dân chài hát khúc hát ca ngợi sự giàu có của biển cả. nhà thơ liên tưởng đến biển như một tấm lụa lớn mà đoàn cá là “ đoàn thoi” đang vun vút qua lại. qua một khoảng biển thì vẫn có thể thấy như là mặt trời xuống biển... Thực ra hình ảnh mặt trời xuống biển là được nhìn từ trên con thuyền đang ra biển hoặc từ một hòn đảo vào lúc hoàng hôn. vừa thể hiện sự đối lập giữa sự nghỉ ngơi của đất trời và sự làm việc của con người... yêu biển và say mê với công việc chinh phục biển khơi làm giàu cho Tổ quốc.Câu hát của người lao động còn mang theo niềm mong mỏi tha thiết vừa hiện thực vừa lãng mạn “ Hát rằng : cá bạc biển đông lặng . Chữ “Lại” vừa khẳng định nhịp điệu lao động của người dân chài đã đi vào ổn định.... nhìn về phía tây.Cảnh mặt trời lặn được miêu tả thật độc đáo và ấn tượng: Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa . ... họ hát bài ca gọi cá vào lưới và mong muốn công việc đánh cá thu được nhiều kết quả tốt đẹp... Thân bài 1 Cảnh ra khơi và tâm trạng náo nức của con người. Với sự quan sát tinh tế nhà thơ đã miêu tả rất thực chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm. hùng vĩ. lạ mà thật từ sự gắn kết 3 sự vật và hiện tượng: Câu hát... tráng lệ . Họ ra khơi trong tâm trạng đầy hứng khởi vì học tìm thấy niềm vui trong lao động.. . vũ trụ như một ngôi nhà lớn. Biển rộng lớn mênh mông và khoáng đạt trong đêm trăng sáng... trăng sao có nhiều yếu tố lãng mạn.Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe. . với đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ. tràn đầy tưởng tượng dựa trên những yếu tố hiện thực của đời sống trong đó con người hiện lên trong dáng vẻ trẻ trung..Mỗi khổ thơ là một nét vẽ biển trời.. b. Khi thiên nhiên bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu làm việc “ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm với gió khơi” . . a.hình ảnh kì vĩ.. khỏe mạnh và yêu đời....Nếu hai khổ đầu miêu tả đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong khung cảnh rất đẹp và con người rất yêu lao động.. Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!” Từ dáng cá hình thoi. trên mặt biển đó có con thuyền đang băng băng lướt đi trên sóng: Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng 2 . B.. tinh thần lạc quan của người dân chài.. sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi. Cảnh đánh cá trên biển giữa khung cảnh biển trời ban đêm.Đoàn thuyền chứ không phải chỉ con thuyền ra khơi đã tạo ra sự tấp nập trên biển.. mà ở bờ biển nước ta... 2.. cánh buồm và gió khơi.Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh thơ lãng mạn này đã góp phần thể hiện một hiện thực : Đó là niềm vui phơi phới. Trong hình ảnh liên tưởng này. trừ vùng Tây Nam thường chỉ thấy cảnh mặt trời mọc trên biển chứ không thể thấy cảnh mặt trời lặn xuống biển.. Mặt trời được ví như một hòn lử khổng lồ đang từ từ lặn xuống... . a. Cảnh hoàng hôn trên biển. Câu hát mang theo niềm vui. Chi tiết Mặt trời xuống biển có thể gây ra sự thắc mắc của người đọc vì bài thơ tả cảnh đoàn thuyền đánh cá ở vùng biển miền Bắc. sóng nước.. yêu thiên nhiên thì bốn khổ thơ sau lại tả cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển bao la hùng vĩ..bài thơ đã ca ngợi thiên nhiên vũ trụ và con người lao động trong cuộc sống mới ở miền Bắc thời kỳ xây dụng chủ nghĩa xã hội.. Người đánh cá căng buồm và cất câu hát lên nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó đã làm căng cánh buồm..Nghệ thuật so sánh nhân hóa cho thấy cảnh biển hoàng hôn vô cùng tráng lệ.. những lượn sóng là then cửa.

Sao mờ.... nâng cao.mây cao. Rồi mặt biển như trở lại yên bình. sóng xô bóng trăng dưới nước gõ vào mạn thuyền. có gió làm người cầm lái. Nhà thơ liệt kê "cá nhụ.Không phải con người gõ thuyền để xua cá vào lưới mà là “trăng cao gõ”. tiếng thở của đêm chính là nhịp thở của thủy triều và tiếng rì rào của sóng.. Rồi nhà thơ lại thấy nước biển sóng sánh vàng như màu trăng. b.... gắn bó máu thịt với con người với cuộc sống mới thì nhà thơ Huy Cận mới có thể cất lên những vần thơ rất đẹp như vậy bằng chính tâm hồn lãng mạn của mình. kéo lưới kịp trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.. “ Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song.. chỉ miêu tả hai chi tiết làm cho bức tranh như sống hẳn dậy.... Con cá song thân dày và dài trên vảy có chấm tròn màu đen và hồng như hình ảnh của một cây đuốc lấp lánh dưới ánh trăng trong đêm. trăng làm cánh buồm. hình ảnh thơ của Huy Cận có sự đổi mới. khẩn trương.. có linh hồn: "Cá song lấp lánh đuốc đen hồng" và "cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe".Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng . có thể nhìn thấy những bóng sao trong đáy nước.Có bao nhà thơ viết về biển... Những con cá thu như con thoi bạc qua lại đi về trong vùng tơ xanh ấy. là một thứ không gian bao la. rộng lớn đối lập với sự nhỏ bé đơn côi của con người.. đó là cảnh tượng lộng lẫy và kỳ thú ( Nhà thơ Chế lan Viên cũng đã viết “Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về” ) ..Con người chinh phục thiên nhiên nhưng cũng đầy lòng biết ơn với thiên nhiên “ Biển cho ta cá như lòng mẹ.“Đêm thở sao lùa nước Hạ Long" là hình ảnh nhân hóa đẹp. bao la như lòng mẹ . Biển giàu đẹp nên thơ và có nhiều tài nguyên Cá nhụ cá chim cùng cá đé. Tuy nhiên.. . cá chim cùng cá đé". Không gian trong lòng biển luôn biến ảo sinh động.Thiên nhiên như một người bạn đồng hành.Cái đuôi cá quẫy nước.. Nhà thơ Bế Kiến Quốc đã cho rằng :” Nhờ câu thơ này... Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé trước biển cả bao la đã trở thành con thuyền kì vĩ. buồm trăng. .. vũ trụ. làm nổi bật vẻ đẹp và sức mạnh của con người trong sự hài hòa đẹp đẽ với khung cảnh thiên nhiên.Một đêm trôi đi thật nhanh trong nhịp điệu lao động hăng say. hình ảnh “ Thuyền” được đặt trong mối quan hệ hài hòa với những hình ảnh thiên nhiên( lái gió.. hòa nhập với kích thước rộng lớn của thiên nhiên. toàn bộ không khí biển khơi lung linh dào dạt sống động và kỳ ảo hẳn lên” C. Hình dung ra cả đàn cá song như một đám hội rước đước tưng bừng lấp lánh trên mặt biển. nhưng có lẽ chưa ai có bức tranh biển đẹp như trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”.Hình ảnh đoàn thuyền và sự hiện diện của con người không chỉ hòa hợp mà còn nổi bật ở vị trí trung tâm của vũ trụ.Người dân chài đã hát bài ca gọi cá vào. Biển không những giàu đẹp mà còn rất ân nghĩa. vầng trăng in xuống mặt nước.. 3 . Sau CM. . khổng lồ. Người lao động tuy không được miêu tả trực tiếp nhưng ta thấy họ được làm chủ biển khơi.. Những đốm sao lung linh trên mặt nước nâng lên hạ xuống một cách hùng vĩ. Đêm thở : sao lùa nước Hạ Long. .... sôi nổi..Phải có 1 tâm hồn lạc quan.. ..Câu thơ vừa thực vừa ảo.. . làm tung lên những giọt nước lóe sáng màu trăng giống như người họa sĩ vẩy ngọn bút tài hoa để lại một vùng bụi trăng lóe sáng trên mặt nước bằng phẳng. nhà thơ hình dung nước biển như những sợi tơ xanh mềm buông rũ. biển bằng) diễn tả cảnh con thuyền tung hoành giữa trời biển mênh mông và đang làm chủ biển khơi. thủy chung. Công việc đánh cá được dàn đan như một thế trận hào hùng. Ta hát bài ca gọi cá vào Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Đây là hình ảnh lãng mạn đầy chất thơ. Thơ Huy Cận trước CM thường thiên về thiên nhiên kì vĩ... Trong đêm trăng sáng.. Đàn cá đủ loại bơi lội trong nước trăng vàng. Nuôi lớn đời ta tự buổi nào” . lao động hăng say dũng cảm muốn chinh phục biển khơi nhưng cũng rất hòa hợp với thiên nhiên. hình ảnh “ cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe” là hình ảnh đẹp nhất . thiên nhiên và con người cùng hòa hợp trong lao động.

Thiên nhiên như một người bạn thân thiết. Cách gieo vần trong bài thơ biến hóa. nhịp thơ hối hả. niềm vui trước cuộc sống mới.Cảm xúc của bài thơ rất tự nhiên. vần liền xen với vần cách. 2. Khi mẻ lưới được kéo lên. khi tác giả đang là du học sinh tại Liên Xô cũ. phơi phới (4 lần điệp từ "hát"). Thơ của BV cảm xúc tinh tế. nhấn mạnh khí thế tâm trạng của những người dân. âm hưởng khỏe khoắn. Câu hát đưa thuyền đi nay câu hát lại đưa thuyền về. ngôn ngữ thơ giàu chất tạo hình. bay bổng. đi từ hồi tưởng đến hiện tại. bay bổng. từ kỉ niệm đến suy ngẫm: Hình ảnh bếp lửa gợi về những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà. thể hiện niềm tin. BẾP LỬA. Hà Tây. hình nảh người bà với bao vất vả và 4 . Hoàn cảnh xuất xứ: . Đoàn thuyền ra đi hào hứng sôi nổi. kì vĩ.bếp lửa. về công việc lao động. Thay vào không gian vũ trụ buồn hiu hắt của thơ ông trước cách mạng tháng Tám. TG: Bút danh là nguyễn Việt Bằng. Ông làm thơ từ những năm 1960 và thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ . tạo cảm giác tuần hoàn về thời gian. linh hoạt. rộng lớn kế tiếp nhau về hình ảnh thiên nhiên và đoàn thuyền đánh cá. vần. có lẽ tác giả tránh sự lặp lại ở câu thơ trước => làm cho khổ thơ cuối giống như điệp khúc của một bài hát. Bài thơ là những bức tranh đẹp. nhịp điệu. Cảnh đoàn thuyền trở về -Câu đầu tác giả lặp lại ở khổ thơ 1: “Câu hát căng buồm với gió khơi” + Có từ “với” là khác. tưởng tượng bay bổng từ sự quan sát hiện thực. kết thúc bài thơ là cảnh bình minh” Mặt trời đội biển nhô màu mới”. các vần bằng tạo sự vang xa. những con cá quẫy đuôi dưới ánh sáng của rạng đôngvà lóe lên màu hồng như bức tranh sơn mài lung linh.Cảnh đoàn thuyền trở về trong buổi bình minh lên.. Tác phẩm: 1. các vần trắc xen lẫn vần bằng.Bài thơ được sáng tác năm 1963. Bình minh trên biển . + Bằng biện pháp khoa trương và hình ảnh nhân hóc” Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời:cho thấy con người và vũ trụ chạy đua trong cuốc vận hành vô tận. Góp phần tạo nên âm hưởng ấy là các yếu tố lời thơ. Lời thơ dõng dạc. giữa thiên nhiên và thành quả lao động. Câu thơ “ Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng” tạo một sự nhịp nhàng giữa sụ lao động của con người với sự vận hành của vũ trụ.… II. b. điệu thơ như khúc hát say mê. sinh năm 1941 tại Huế. phơi phới niềm vui. đồng hành cùng cuốc sống của con người. Đoàn thuyền đánh cá là một bài thơ hay. giàu chất suy tư triết luận.Chỉ có một chi tiết tả trực tiếp người ngư dân” Kéo xoăn tay” gợi lên vẻ rắn rỏi. khỏe mạnh với những bắp tay cuồn cuộn của người dân chài khi kéo mẻ lưới đầy cá nặng. I. từ từ nhô lên ở phía chân trời xa cảm giác như mặt trời đội biển. giọng điệu tâm tình sâu lắng. => Với cách dùng nhiều vần trắc.Mở đầu bài thơ là cảnh hoàng hôn. Các vần trắc tạo sức dội. huyền ảo được nhà thơ sáng tạo bằng liên tưởng. Kết luận chung Bài thơ tạo được âm hưởng vừa khỏe khoắn sôi nổi lại vừa phơi phới. nằm trong tập thơ “ Hương cây – Bếp lửa”.Có thể nói Huy Cận đã lấy tình yêu của mình đối với cuộc sống mới của nhân dân khám phá ra vẻ đẹp hùng vĩ. C. hào hứng. => đó là cảnh tượng đẹp huy hoàng giữa bầu tròi và mặt biển. -H/ả “ mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” gợi nhiều liên tưởng như những mặt trời nhỏ bé đang tỏa rạng niềm vui trước thành quả lao động mà con người đã giành được sau một đêm lao động trên biển. tạo nên khúc tráng ca lao động hào hùng giữa biển trời bao la. con người đã mang tầm vóc lớn lao của thiên nhiên vũ trụ trong cuộc chạy đua này và con người đã chiến thắng. Câu thơ với ẩn dụ táo bạo cho thấy sự tuần hoàn của thời gian. quê gốc tại Thạch Thất. của vũ trụ. Hình ảnh người lao động trong bài thơ được sáng tạo với cảm hứng lãng mạn. Ánh mặt trời sáng rực. Mạch cảm xúc của bài thơ: .Từ phía chân trời bắt đầu hừng sáng. nay trở về cũng với tinh thần ấy rất khẩn trương. Những tác phẩm chính : Hương cây . a. sức mạnh. 3. thể hiện rõ nét sự thay đổi của hồn thơ Huy Cận sau Cách Mạng. tạo nên những vần thơ khoáng đạt.

hình ảnh người bà hiện lên. đất nước. bà dẫu có đói cũng để cháu thiếu bữa ăn nào.tình yêu thương trìu mến dành cho đứa cháu. đó chính là những tháng năm sống bên bà. tâm tình. đào từng củ sắn đểâ cháu ăn cho khỏi đói: “Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!” Chính “mùi khói” đã xua đi cái mùi tử khí trên khắp các ngõ ngách. Những kỉ niệm ấy là những điều thiêng liêng. Lời thơ giản dị như lời kể. tác giả như đang kể lại cho người đọc nghe về câu chuyện cổ tích tuổi thơ mình. Ở nơi đất khách quê người. chính bà là người xua tan bớt đi cái không khí ghê rợn của nạn đói 1945 trong tâm trí đứa cháu. Cháu lúc nào cũng được bà chở che. như thủ thỉ. bắt gặp hình ảnh bếp lửa. Bếp lửa được thắp lên. bà đi mót từng củ khoai. Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trương thành trong kháng chiến chống Mĩ. ai cũng có riêng cho mình những kỉ niệm của một thời ấu thơ hồn nhiên. thân thiết nhất. Trong cái khoảnh khắc ấy. người bà đã gắn bó bên tác giả. Trong cuộc đời. tác giả chợt nhớ về người bà: “ Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa. trong lòng nhà thơ lại trào dâng một tình yêu thương bà vô hạn. Là mùi khói làm cay mắt người người cháu hay chính là tấm lòng của người bà làm đứa cháu không cầm được nước mắt? “ Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm bếp Tu hú kêu trên những cách đồng xa 5 . như những câu văn xuôi. Cũng chính cái mùi khói ấy đã quện lại và bám lấy tâm hồn đứa trẻ. Bếp lửa được thắp lên đó cũng là bếp lửa của cuộc đời bà đã trải qua “ biết mấy nắng mưa”. Nếu như trong câu chuyện cồ tích của những bạn cùng lứa khác có bá tiên. Dù đã cách xa nữa vòng trái đất nhưng dường như Bằng Việt vẫn cảm nhận được sự vỗ về. nó hắt ánh sáng lên mọi vật và toả sáng tâm hồn đứa cháu thơ ngây. Trong những năm đói khổ. Hình ảnh bếp lửa khơi Tình cảm và những kỉ niệm về bà được khơi gợi từ hình ảnh bếp lửa. nó có sức mạnh phi thường nâng đỡ con người suốt hành trình dài và rộng của cuộc đời. Chúng ta có thể cảm nhận điều đó qua bài thơ “Bếp lửa” của ông. với gia đình. chăm chút từ đôi tay kiên nhẫn và khéo léo của bà. đồng thời thể hiện lòng kính yêu. Bài thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu. sức ấm và ánh sáng của tình bà cháu cũng như của bếp lửa lan toả toàn bài thơ. Từ đó. Bài thơ “ Bếp lưả” được ông sáng tác năm 1963 lúc 19 tuổi và đang đi du học ở Liên Xô. Dù cho tháng năm có trôi qua. Khổ thơ tiếp theo là dòng hồi tưởng cùa tác giả về những kỉ niệm của những năm tháng sống bên cạnh bà. trân trọng và biết ơn của người cháu với bà. quê hương. từ kỉ niệm ấy đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm và thấu hiểu về cuộc đời bà và niềm thương nhờ và biết ơn bà. Bằng Việt cũng có riêng ông một kỉ niệm. có phép màu thí trong câu chuyện của băng Việt có bà và bếp lửa.” Hình ảnh “chờn vờn” gợi lên những mảnh kí ức hiện về trong tác giả một cách chập chờn như khói bếp. trong sáng. điều in đậm trong tâm trí của Bằng Việt còn là tình cảm sâu đậm của hai bà cháu. Không chỉ thế. yêu thương. cùng bà nhóm lên cái bếp lửa thân thương. Tình cảm bà cháu thiêng liêng ấy cứ như một dòng sông với con thuyền nhỏ chở đầy ắp những kỉ niệm mà suốt cuộc đời này chắc người cháu không bao giờ quên được vàcung chính t? đó. những kí ức ấy cũng sẽ để lại ít nhiều ấn tượng trong lòng đứa cháu để rồi khi nghĩ lại lại thấy “sống mũi còn cay”. 1.

Chiến tranh. người nông dân mau thoát khỏi cái đói.Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!” “Cháu cùng bà nhóm lửa”. bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm. cháu vì thế phải ở cùng bà trong quãng thời gian ấy. đạo làm người. chẳng đến ở cùng bà?”. hai bà cháu phải rời làng đi tản cư. đến giờ bà kể chuyện cho cháu nghe rồi đấy!”.. những phép tính đầu tiên. Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cách đồng xa” Trong tám năm ấy. Tiiếng chim tu hú khắc khoải làm cho dòng kỉ niệm của đứa cháu trải dài hơ. Một lời than thở thể hiện nỗi nhớ mong bà sâu sắc của đứa cháu nơi xứ ngươi. Thi sĩ bổng tự hỏi lòng mình: “Tu hú ơi.. đất nước có chiến tranh. lúc văng vẳng từ nững cánh đồng xa lâng lâng lòng người cháu xa xứ. bà là người gắn bó với tác giả nhất. rộng hơn trong cái không gian xa thẳng của nỗi nhớ thương. vừa là cách chim. ai sẽ cùng bà chia sẻ những câu chuyện những ngày ở Huế. nó đã gây ra đau khổ cho bao người. một danh từ bình thườnh nhưng sức lột tả của nó thì khốc liệt vô cùng. bà sẽ ở với ai. Nếu như đối với mỗi chúng ta. là một cành hoa của riêng ông. vừalà mẹ. bà không chỉ chăm lo cho cháu từng miếng ăn. bố mẹ phải đi công tác. làm cho người đọc cảm thấy như tiếng tu hú đang từ xa vọng về trong tiềm thức của tác giả. nhà bị giặc đốt cháy rụi. nhóm lên ngọn lửa củasự sống và của tìng yêu bà cháy bỏng của một cậu bé hồn nhiên. “cháu” đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lấn gợi lên hình ảnh hai bà cháu sóng đôi. người bà như một bà tiên hiện ra trong câu truyện cổ huyền ảo của cháu. trong trắng như một trang giấy. ai sẽ người cùng bà nhóm lửa. nhà thơ càng thương bà hơn vì cháu đã đi rồi. Trong những tháng năm sống bên cạnh bà. cha sẽ là cánh chim để nâng ước mơ của con vào một khung trời mới. Tiếng tu hú kêu như giục giã lúa mau chín. Nếu như trong những năm đói kém của nạn đói 1945. giấc ngủ mà còn là người thầy đầu tiên của cháu.Chính hình ảnh bếp lửa quê hương. bếp lửa của tình bà cháu đó đã gợi nên một liên tưởng khác. một hồi ức khác trong tâm trí thi sĩ thuở nhỏ. Nững bài học đó sẽ là hành trang mang theo suốt quãng đời còn lại của cháu.. Người bà và tình cảm mà bà dành cho cháu đã thất sự một chỗ dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho đứa cháu be ùbỏng. nhưng dường như đối với đứa cháu như thế lại là một niềm hạnh phúc vô bờ. tình bà cháu là vô cùng thiêng liêng và quý giá đối với ông. Bà dạy cho cháu những chữ cái. ngày nào cháu cũng cùng bà nhóm bếp. Cho nên khi bây giờ nghĩ về bà. Chỉ trong một khổ thơ mà hai từ “bà”. bà chăm cháu học.. người bà vừa là cha. Từ “tu hú” được điệp lại ba lấn làm cho âm điệu cấu thơ thêm bồi hồi tha thiết. mờ mờ ảo ảo ấy. bao nhà. gắn bó. Và trong cái khói bếp chập chờn. tình cảm bà cháu ấy lại càng sâu đậm: “Mẹ cùng cha bận công tác không về Cháu ở cùng bà.Tiếng “tu hú” lúc mơ hà. Đó là tiếng chim tu hú kêu. Và hai bà cháu trong bài thơ cũng trở thành một nạn nhân của chiến tranh: gia đình bị chia cắt. yêu thương tác giả nhất thì trong tám năm ròng của cuộc kháng chiến chống Mĩ.? cùng bà. quấn qúit không rời. “Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở vế lầm lụi Đỡ đần bà dựng lại túp lếu tranh Vẫng vững lòng bà dặn cháu đinh ninh: “ Bố ở chiến khu bố còn việc bố Mày viết thư chớ kể này kể nọ 6 . bà còn dạy cháu những bài học quý giá về cách sống. mẹ sẽ là cành hoa tươi thắm nhất để con cài lên ngực áo thì đoiá với Bằng Việt. Không chỉ thế. và dường như đó cũng là một chiếc đồng hồ của đứa cháu để nhắc bà rằng: “Bà ơi.. Cho nên.

“Nhóm dậy cả những tâm tinh tuổi nhỏ”. th6m huyền ảo như trong truyện. người bà kì diệu đã nhóm dậy. những năm tháng khó khăn mà hai bà cháu đã sống vơi nhau. Hình ảnh người bà không chỉ còn là người bà của riêng cháu mà còn là một biểu tượng rõ nét cho nhữnh người phụ nữa Việt Nam giàu đức hi sinh. củ mì.” Suốt dọc bài thơ. hình ảnh bếp lửa “ ấp iu”. Qua đó. nồng đượm” Một lấn nữa. ta thấy hiện lên một người bà cần cù. Người bà có trái tim nhân hậu. Bà không chỉ là người chăm lo cho cháu đấy đủ về vật chất mà c2n là người làm cho tuổi thơ của cháu thêm đẹp. Bà đã trờ thành một người không thể thiếu trong trái tim cháu.Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!’ Cuộc sống càng khó khăn. bà sẽ luôn ở cạnh cháu. Người bà đã là. tấm lòng ủa bà càng mênh mông. ngọn lửa đỏ hồng si sáng cho con đường đứa cháu. Bằng Việt vẫn luôn hướng lòng mình về bà: 7 . Giờ đây. nơi đó có bà. thiếu thốn. lửa tưởng chừng đơn giản: “ Nhóm bếp lửa ấp iu. Gian khổ. đang là và sẽ mãi mãi là người quan trọng nhất đối với cháu dù ở bất kì phương trời nào. qua đó cũng là nh74ngbài học sâu sắc từ công việc nhó. nơi nương thân của hai bà cháu nay đã khong còn. bà không đứa con đang bận việc nước phải lo lắng chuyện nhà. Ngọn lửa của tình yên thương. ngọn lửa ấm nồng như tình bà cháu. Điều đó ta có thể thấy rõ qua lới dặn của bà: “Mày có viết thư chớ kể này kể nọ / Cứ bảo nhà vẫn đươc bình yên!”. túp lều tranh của hai bà cháu đã bị đốt nhẵn. Bà cứng rắn. Người bà kì diệu như vậy ấy. “Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi” Nhóm lên bếp lửa ấy. bà dù có đau khổ thế nào cũng không dám nói ra vì sợ làm đứa cháu bé bong của mình lo buồn. thương con qúy cháu. Những dòng thơ cuối bài cũng chính là những suy ngẫm về bà và bếp lửa mà nhà thớ muốn gởi tới bạn đọc. đừng bao giờ có một lối sống ích kỉ. khơi dậy. khi đang ở xa bà nửa vòng trái đất. người bà đã truyền cho đứa cháu một tình yêu thương những người ruột thịt và nhắc cháu rằng không bao giờ được quên đi những năm tháng nghĩ tình. giáo dục và thức tỉnh tâm hồn đứa cháu để mai này cháu khôn lớn thành người. “nồng đượm” đã được nhắc lại ở cuối bài thơ như một lần nữa khẳng định lại cái tình cảm sâu sắc của hai bà cháu. phải gắn bó với xóm làng. dắt cháu vượt qua mọi khó khăn. nhẫn nại và giàu đức hi sinh. Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”. Lới dăn của bà nôm na giản dị nhưng chất chứa biết bao tình. rất giản dị nhưng có một sức mạnh kì diệu tứ trái tim.Âm điệu những dòng thơ nhanh mạnh như tình cảm dâng trào lớp lớp sóng vỗ vao bãi biễn xanh thẳm lòng bà. Bà luôn nhắc cháu rằng: nơi nào có ngọn lửa. ta có thể bắt gặp người bà như vậy trong “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh: “Tiếng gà trưa Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng. ngọn lửa của niềm tin. cảnh ngộ càng ngặt ngèo. một ngọn lửa: “Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn. nghị lứccủa bà càng bền vững. bao nỗi nhớ thương con bà đều phải nén vào trong lòng để yên lòng người nơi tiền tuyến. “Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” “Nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” của bà hay là lời răng dạy cháu luôn phải mở lòng ra với mọi người xung quanh. mười lấn xuất hiện hình ảnh bếp lửa là mười lần tác giả nhắc tới bà. Hình ảnh ngọn lửa toả sáng trong câu thơ. những năm tháng mà hai bà cháu mình cùng chia nhau từng củ sắn. Kết thúc khổ thơ. nó có sức truyền cảm mạnh mẽ. Dù cho ngôi nhà. Bằng Việt đã nâng hình ảnh bếp lửa trở thành hình ảnh ngọn.

Có ngọn khói trăm tàu Có lưả trăm nhà. Bài thơ đã khơi dạy trong lòng chúng ta một tình cảm cao đẹp đối với gia đình. rõ ràng như thể nét khắc. bạn sẽ hình dung thấy ngay hình ảnh bếp lưả hồng và dáng ngươì bà lặng lẽ ngồi bê. niềm vui trăm ngả Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?” Xa vòng tay chăm chút cuả bà để đến vơí chân trơì mới.” (Văn Giá). nét chạm vậy. nhịp nhàng cùng thiên nhiên./ . công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá đã thành bài ca đầy niềm vui..Lãng mạn hơn. Hình ảnh có tính sóng đôi này hiện lên thật sống động. Đưá cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội. chính tình cảm cuả hai bà chaú đã sươỉ ấm lòng tác giả trong cái muà đông lạnh giá cuả nước Nga. là nơi mà tuổi thơ cuả đưá chaú đã được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó. nới nắng mưa hai bà cháu có nhau. Bài thơ Bếp lưả sẽ sống maĩ trong lòng bạn đọc nhờ sưc truyền cảm sâu sắc cuả nó. với những ngươì đã tô màu lên tuổi thơ trong sáng cuả ta /..“Giờ cháu đã đi xa. 8 . “ Đọc xong bài thơ. nhắm mắt laị tưởng tưởng. Đứa cháu nhỏ cuả bà ngàu xưa giờ đã trưởng thành nhưng trong lòng vần luôn đinh ninh nhớ về góc bếp.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->