BÀI DỰ THI “ TÌM HIỂU VỀ LỊCH SỬ ĐẤT ĐỒNG NAI”

Họ và tên: Chức vụ: Đơn vị: Câu 1: Câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về Gia Định Đồng Nai thì về” gợi cho bạn suy nghĩ gì về đặc điểm của quá trình hình thành, phát triển vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai. Trả lời: Điều này làm cho ta nghĩ ngay đến một miền đất trù phú đã có hơn 300 năm hình thành và phát triển do con sông Đồng Nai vun bồi. Nhiều biến cố lịch sử đã ghi lại biết bao thăng trầm với không ít sự biến động trên nhiều lĩnh vực của vùng đất Đồng Nai này, tạo cho Đồng Nai một nét độc đáo về văn hoá vào cuối thế kỷ XVI khi Đồng Nai còn là vùng đất hoang dã, chưa được khai phá, chỉ có người dân bản xứ như người Siêng, Kơ-ro, M’nông, Chơ-ro, Mạ và một vài buôn sóc người Khơ-me sinh sống. Dân cư thưa thớt, sống rải rác trình độ xã hội còn thấp. Cuộc chiến tranh giữa hai họ Trịnh -Nguyễn đã tạo một làn sóng di cư của người dân miền Thuận An, Quãng Ngãi vào Đồng Nai tìm đất sinh sống. Với tính chịu thương chịu khó, luồng dân cư này đã cùng chung sống với người bản xứ, chung sức khai phá đất hoang biến những khu rừng rậm thành các cánh đồng lúa, hoa màu tươi tốt. Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai ( là cả miền Nam bây giờ ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra Nguyễn Hữu Cảnh còn lập bộ dinh, bộ điều, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng đất khác vào lập nghiệp. Câu 2: Phân tích giá trị di sản văn hoá dân gian ở vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai trong quá trình đấu tranh, xây dựng, phát triển, chống ngoại xâm trước khi có Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo. Trả lời: Đồng Nai có một truyền thống văn hoá dân gian khá phong phú, đặc biệt là văn hoá dân tộc của đồng bào ít người. + Âm nhạc cổ truyền: Đồng Nai, quê hương của các loại nhạc cụ dân gian độc đáo như đàn đá Bình Đa, sáo trúc, chiềng đồng, thanh la, khèn bầu, khèn môi. Việc tìm ra đàn đá Bình Đa ở Đồng Nai, được biết đến như một di chỉ khảo cổ học, cho thấy việc chế tạo đàn đá đã xuất hiện từ trên dưới 3000 năm trước. Loại nhạc chí này tự thân vang, thuộc loại xylophone, metallophone. Một bộ đàn gồm nhiều thanh đá hợp thành. Mỗi thanh đá có kích thước và hình dáng khác nhau được chế tạo bằng phương pháp ghè đẽo thô sơ (thời đồ đá). Vật liệu để làm đàn là những loại đá có sẵn ở vùng núi Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Bộ đàn đá đầu tiên tìm được ở Việt Nam vào năm 1949 hiện được bảo quản tại viện bảo tàng “Con người” ở Paris.

lý lu là. kể vè. trưa và chiều tối thì cơm canh bầu nấu với cá trê vàng hoặc cá lóc kho thơm. Gồm lễ cúng Tiền Hiền. hò chèo thuyền. Câu 3: Kể tên các di tích văn hoá cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. sáng thì cháo đậu với cá lóc kho tiêu hay cháo đậu nước cốt dừa. văn hoá cấp quốc gia đó. xứ Bắc. Hiện nay bộ đồ truyền thống của đàn ông là khăn đống áo dài thì đã được thay thế bằng những bộ âu phục. rằm tháng Bảy. lý trèo lên. Ngoài ra Đồng Nai còn có các lễ hội lớn của riêng địa phương mình. thường là cá sống. + Lễ hội truyền thống: Đồng Nai cũng tổ chức các lễ hội truyền thống chung của cả dân tộc như: Tết Nguyên Đán. lối hát Tam Pót của dân tộc Mạ. đồng dao. + Ẩm thực: Người Biên Hoà . ca Huế. Tại đình An Hoà. ca hò vè. Phổ biến ở Biên Hoà là hò cấy. gồm hiểu cách: tự sự trữ tình dưới các hình thức: truyện kể. vè rượu…Thơ được kể ở Đồng Nai thường là truyện Nôm: Lục Vân Tiên. + Văn học dân gian: kho tàng văn học lưu truyền trong dân gian chủ yếu bằng cách truyền khẩu. thơ. lý. Tại đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh. và lễ tống ôn. lễ hội Choi Chanam Thmay ( Khơ-me). Các bài vè quen thuộc đã lưu truyền cả nước: vè hương thân cẩn. quan họ. Hậu Hiền. Nêu khái quát về giá trị ý nghĩa của hệ thống di tích lịch sử. hò giã gạo. nhất là vào các ngày lễ hội thì họ càng đua nhau trưng diện. canh chua cá lóc hay mắm kho ghém rau sống. vừa mang bản sắc văn hoá chung của dân tộc. Người Đồng Nai thích ăn gà trộn gỏi với vị chua của chanh. lễ rước thần. múa. nói tuồng. ở Đồng Nai không có các làn điệu dân ca nào đặc thù nhưng lại có gần đủ các loại dân ca xứ Trung. văn học viết… + Trang phục: trang phục của miền Đồng Nai có một ít thay đổi theo thời gian. lễ Kỳ Yên còn được tổ chức vào các ngày 26/6 và 11/11 âm lịch. tục ngữ phương ngôn. Các loại gỏi sống. Lâm Sanh Xuân Nương. trong khi đó những phụ nữ thì vẫn mặc áo dài và đầu đội nón lá. nói thơ. ví dặm… Trong sinh hoạt thông thường người Đồng Nai xưa có sinh hoạt nghệ thuật: hò hát. vừa có nét đặc sắc riêng của văn hoá Đồng Nai. lễ dâng vật cúng thần. tôm sống với kỹ thuật của đồng bằng Bắc Bộ lưu truyền vào Đồng Nai cũng đang là thứ đặc sản thu hút nhiều thực khách . Tiêu biểu là các lễ hội như: Lễ Kỳ Yên (cầu an) còn gọi là lễ vía thần được tổ chức tại các thời điểm khác nhau trong một năm. mỹ thuật. hò rỗi. kiến trúc. Tết trung thu. canh khổ qua nhồi thịt. nồng của rau răm. khoe các áo dài đủ màu muôn sắc.+ Nghệ thuật truyền thống: Do mới hình thành từ sự hội nhập của nhiều lớp dân cư cách đây hơn 3 thập kỉ. 3 năm một lần có tổ chức hát bội. Mặc áo dài là trang phục độc đáo của Việt Nam thì phụ nữ Đồng Nai cũng rập theo nề nếp. Trả lời: . một loại hình hát kể có vần điệu được lưu truyền trong cộng đồng người Mạ ở huyện Định Quán hiện đang được khôi phục lại. mắm đồng chưng trứng. cay của tiêu ớt. lý Đồng Nai. lễ Kỳ Yên được tổ chức vào ngày 15 và 16 tháng 8 âm lịch. dòn tươi của bắp chuối. Gỏi bưởi là một đặc sản nổi tiếng của Đồng Nai. vị ngọt của gà tơ. hò đò dọc. Phạm Công Cúc Hoa… Nói tuồng. Các dân tộc Chăm. Khơ-me… sống ở đây hàng ngàn năm cũng thường tổ chức các lễ hội đặc trưng của dân tộc mình: lễ Roya Haji ( người Chăm). đờn ca tài tử.Đồng Nai thường ăn một ngày ba bữa.

Huyện Nhơn Trạch.Đồng Nai trong khuôn viên của đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh. thành phố Biên Hoà. giáo dục truyền thống cho các thế hệ sau. + Di tích Mộ Cực thạch Hàng Gòn: nay thuộc ấp Hàng Gòn. Ngày 9/12/1998. nhân dân tổ chức tế lễ. + Quần thể lăng mộ danh nhân văn hoá Trịnh Hoài Đức tại phường Trung Dũng.xã hội vùng Nam Bộ và ban quản lí di tích . bộ Văn Hoá đã xếp hạng mộ là di tích quốc gia.Đồng Nai. được Bộ Văn hoá . cầu quốc thái dân an. Lăng mộ ông được xếp hạng di tích văn hoá . nay thuộc xã Hiệp Hoà. Thành phố Biên Hoà.Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia theo Quyết định số 1539/QĐ ngày 27/12/1990. Di tích đã để lại hiện chỉ còn đôi liễn đối do Bố Chánh Ngô Văn Định phụng cúng vào năm 1849. + Công trình kiến trúc mộ đá cổ độc đáo: Di tích mộ cực thạch Hàng Gòn: khoảng tháng 3/2006.chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. chúa Nguyễn Phúc Chu sai trấn thủ Nguyễn Phan Long và lý lục Phạm Khánh Đức xây dựng Văn miếu Trấn Biên. Chùa được Bộ Văn Hoá . Thể hiện lòng yêu nước và tinh thần quyết tâm cao độ bảo vệ chính quyền cách mạng .Thông tin . + Địa đạo Nhơn Trạch: ấp 5. các chuyên viên của viện khoa học. Câu 4: Cuộc mít tinh tại Quảng trường Sông Phố ( nay là giao lộ đường 30/4 và đường Cách mạng Tháng 8) ngày 27/8/1945 để chào mừng chính quyền cách mạng lâm thời đầu tiên của tỉnh Biên Hoà.Thị xã Long Khánh .Xã Long Thọ.Các di tích văn hoá cấp quốc gia là: + Di tích Nhà Xanh: toạ lạc trong phạm vi Trường Công nhân Kĩ thuật Đồng Nai.BVHTT ngày 25/4/1998. Ngày 16/5 và 11/1 âm lịch hàng năm. Thắng lợi có ý nghĩa quyết định đến cuộc khởi nghĩa của các tỉnh còn lại ở miền Nam.Thành phố Biên Hoà. được phát hiện và khai quật từ 1927.Đồng Nai.Thành phố Biên Hoà: di tích gồm 2 phần: mộ và đền thờ được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia theo Quyết định số 1539/QĐ. + Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh: năm 1998 Đảng bộ và nhân dân Đồng Nai đã xây dựng nhà bia ghi lại lịch sử 300 năm của vùng đất Biên Hoà. Thể hiện ý chí và quyết tâm của 1 dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương.danh thắng Đồng Nai phối hợp mở cuộc điều tra nghiên cứu quy mô. Với hơn một vạn người.Phường Thống Nhất. Văn miếu được phục hưng nhằm ghi nhớ công lao to lớn của cha ông. Câu 5: Những công trình về văn hoá lịch sử và ý nghĩa: + Phục hưng Văn miếu Trấn Biên: 17 năm sau khi thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào đến xứ Đồng Nai.lịch sử quốc . Ngày 28/5/1945 khởi nghĩa dành chính quyền ở Sài Gòn.Xã Hiệp Hoà. + Di tích chùa Đại Giác: còn gọi là chùa Phật lớn toạ lạc ở vùng Cù Lao Phố.phường Trung Dũng Thành phố Biên Hoà . + Di tích mộ và đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh: ấp Nhị Hoà. đây là cuộc mít tinh khá quy mô lúc bấy giờ. + Lăng mộ Trịnh Hoài Đức toạ lạc tại khu phố III .Thông tin Thể thao và Du lịch xếp hàng di tích lịch sử nghệ thuật cấp Quốc Gia theo quyết định số 993/QĐ ngày 28 tháng 9 năm 1990.

bền chí.thời kỳ chống Mỹ. từng tổ 3 người. Theo kết cấu ban đầu lăng mộ là một quần thể. Từ đó. tinh thần chịu thương chịu khó. Các nhân chứng cho biết. các miệng giếng được lấp lại kỹ càng khi đặt những lỗ thông hơi được nguỵ trang kín đáo với ống tre đục mắt. trổ ngách nhằm nối thông đường đạo phía dưới theo định vị các miệng giếng. ô ụ chiến đấu và công sự kết hợp với hệ thống địa đạo.gia vào năm 1990. chị tâm đắc điều gì hay một vấn đề nào đó trong những giá trị văn hoá. bề ngang khoảng 06.8m. Trả lời: Bạn đã từng nghe nói đến địa đạo Tam Phước chưa? Đó là một di tích lịch sử thuộc ấp Long Khánh 3. Huyện uỷ Long Thành đã bám trụ. lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương từ năm 1962 cho đến thời điểm trứơc cuộc Tổng tiến công. nay thuộc thành phố Biên Hoà từ ngày 01 tháng 4 năm 2010. Phía mặt trên địa đạo có nhiều giao thông hào. cận thần cùng với các mộ ngựa. đất nghi trang. cách đào địa đạo như sau: đầu tiên là đào các miệng giếng cách nhau từ 10 đến 15 m xuống độ sâu 4 đến 5m.7m. nối liền từ hướng đông sang hướng tây với chiều dải khoảng 280 mét. tôn tạo khu vực quần thể lăng mộ. phía trên có cỏ. trong đó ngoài phần mộ của ông và phu nhân. Qua đó cũng thể hiện được những phẩm chất của người Việt Nam.m đến 0. Từ căn cứ địa đạo này.Đồng Nai. giữa năm 2006. lòng kiên trì. Điều đó thể hiện qua cách đào địa đạo trong lòng đồi đất đá sỏi. Câu 6: Anh. Đến thăm địa đạo. Đây là căn cứ cách mạng của Huyện uỷ Long Thành từ năm 1962 đến năm 1968 . lịch sử của vùng đất Biên Hoà. Lòng địa đạo có hai ngách âm vào vách để tiện cho việc di chuyển khi đi ngược chiều hoặc dùng để chứa vật dụng. mộ yểm… Theo báo cáo. tôi mới thấy hết sự gian khổ trong chiến đấu bảo vệ tổ quốc của ông cha ta. UBND thành phố Biên Hoà được giao trách nhiệm lập dự án bảo tồn. xã Tam Phước (trước đây thuộc huyện Long Thành). Lòng địa đạo có chiều cao từ 1m đến 1. còn có 11 ngôi mộ của con cháu. nổi . Thời gian đào địa đạo chủ yếu vào ban đêm. cũng như tính sáng tạo…tất cả những phẩm chất đó được thể hiện rất mạnh nhờ vào tinh thần yêu nước và quyết tâm đánh đuổi quân giặc ra khỏi đất nước. Hệ thống địa đạo nằm sâu trong lòng đất khoảng 3 đến 4 mét trong phạm vi của một ngọn đồi với diện tích hơn 1 héc ta. Hãy viết cảm nghĩ của bản thân về điều tâm đắc đó. định hướng moi và soi hướng đào. vách địa đạo bố trí nhiều lỗ đèn thắp sáng. Dưới hệ thống địa đạo có bốn ngách buồng theo hình xương cá để dùng vào việc hội họp. làm việc và trạm y tế. Đỉnh địa đạo có hình vòng cung. trên là rừng tre. đó là tinh thần đoàn kết. Sau đó. Có đoạn rộng hơn. Nét đặc trưng của địa đạo Tam Phước là hệ thống hầm âm thoát hiểm và hầm chông ngay trong lòng địa đạo. Hệ thống địa đạo Tam Phước liên hoàn gấp khúc uốn lượn quanh co trong lòng đồi đất đá sỏi.

Để đến được di tích địa đạo. rẽ phải theo hướng Xí nghiệp Bò sữa An Phước.dậy Xuân Mậu Thân (1968). ta đi theo Quốc lộ 51 (hướng Ngã ba Vũng Tàu về thị trấn Long Thành).5 km. tiêu diệt nhiều sinh lực địch. . Lực lượng vũ trang cách mạng tại địa đạo Tam Phước đã tổ chức nhiều trận đánh địch càn vào căn cứ. Qua địa danh Ngã ba Thái Lan khoảng 1. Trên đây là những nét sơ lượt về địa đạo Tam Phước và những cảm xúc khi tôi đến thăm di tích lịch sử này. Nhìn thấy những gian khổ của ông cha ta ngày xưa đã bỏ biết bao công sức kể cả mạng sống của mình để chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. theo con đường đất đỏ khoảng 1 km là đến di tích địa đạo. tôi càng thêm khâm phục các thế hệ đi trước và càng quyết tâm đem hết sức mình phục vụ cho vùng đất này nói riêng và cả nước nói chung.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful