P. 1
chỉ thị sinh học MT

chỉ thị sinh học MT

3.5

|Views: 4,148|Likes:
Được xuất bản bởiNguyen Trinh

More info:

Published by: Nguyen Trinh on Dec 10, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

11/27/2014

pdf

text

original

Tiêu đề: Bài tổng quan về sinh vật chỉ thị đánh giá môi trường nước

I. Đặt vấn đề: Ngày 5/6/1972, một Hội nghị quốc tế về môi trường được tổ chức tại Stockhlm (Thuỵ Điển) với lời kêu gọi "Hỡi con người! hãy cứu lấy trái đất - cái nôi của chúng ta". Thực trạng hiện nay môi trường đang ô nhiễm một cách nghiêm trọng, đặc biệt là môi trường nước. Mỗi năm gần đây trên trái đất có khoảng 500 tỷ tấn nước bẩn (nước thải sinh hoạt, nước thải từ sản xuất chế biến, phân bón, vệ sinh y tế...) thải vào các vùng nước của thiên nhiên, làm ô nhiễm tới 40% lưu lượng của các dòng sông. Có tới 20% dân số thành thị và trên 70% dân cư nông thôn trên thế giới không được dùng nước sạch. Trong công tác quản lý môi trường, hiện nay việc đánh giá chất lượng nước thông qua phương pháp phân tích các chỉ tiêu lý hóa đang được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên phương pháp này có một số hạn chế: chỉ phản ánh tình trạng thủy vực ngay tại thời điểm lấy mẫu, khó có thể dự báo chính xác về tác động lâu dài của các chất gây ô nhiễm đến hệ sinh vật nước. Ngoài ra, biện pháp này phải được thực hiện liên tục với tần suất lớn mới đánh giá chính xác, tốn nhiều chi phí. Hiện nay, trong công tác quản lý môi trường việc đánh giá chất lượng nước thông qua các phương pháp phân tích các chỉ tiêu lý hóa đang được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, để dự báo một cách chính xác về các tác động có hại đến hệ sinh thái, đến đời sống các sinh vật trong nhiều trường hợp còn gặp khó khăn. Vì vậy, quan trắc môi trường nước bằng sinh vật chỉ thị với ưu điểm là phương pháp đánh giá nhanh, đơn giản nhưng chính xác, rẻ tiền lại không gây ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên quan trọng, đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới như: Anh, Bỉ, Tây Ban Nha, Mỹ, Thái Lan… Việc sử dụng phương pháp sinh học trong đánh giá chất lượng nước ngày nay đã được rất nhiều quốc gia trên Thế Giới nghiên cứu và ứng dụng. Tuy nhiên, ở Việt Nam phương pháp này còn khá mới mẻ và ít được quan tâm. Trong bài báo cáo này chúng tôi tiến hành tổng quan một số phương pháp đánh giá chất lượng môi trường nước thông qua chỉ thị sinh học.

II.

Tài liệu và phương pháp:

Để thực hiện bài báo cáo này chúng tôi đã tiến hành tìm kiếm tài liệu và nguồn tài liệu qua các phương tiện chính như: Internet, sách vở, các bài báo cáo nghiên cứu khoa học và đề tài nghiên cứu. Về internet ta sử dụng công cụ tìm kiếm như google, goolgle nâng cao, các trang web như tailieu.vn, thư viện bài giảng điện tử hay trang ebook.com. Một số trang web yêu cầu các bạn phải đăng kí làm thành viên để có thể download tài liệu phục vụ cho việc sử dụng và nghiên cứu trong khi làm bài. Với sách tham khảo thì cần đọc và nghiên cứu kĩ các phương pháp và những kiến thức chủ đạo liên quan đến những tài liệu cần tìm kiếm để nâng cao kiến thức phục vụ trong việc viết bài. Ta có thể tìm sách tham khảo trên thư viện trường ĐH Sư Phạm ĐH Đà Nẵng hay các nhà sách. Các bài báo cáo khoa học và đề tài nghiên cứu nhằm giúp tìm hiểu cách viết cũng như cách đề cập vấn đề. Sử dụng các kết quả trong bài báo cáo khoa học để so sánh, nhận xét với nhau, đưa ra ý kiến đánh giá của cá nhân về vấn đề tìm hiểu. Với những bài báo cáo khoa học tìm trên tạp chí khoa học công nghệ hay tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học của khoa Sinh Môi Trường tại ĐH Sư Phạm ĐH Đà Nẵng. Trong quá trình tìm kiếm ta cần khai thác những tài liệu liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu, kiến thức mang tính cập nhập chính xác và được công nhận, những tài liệu phải có nguồn gốc cụ thể như bài báo cáo nghiên cứu phải được đăng trên tạp chí khoa học, hay sách dưới dạng điện tử đã qua kiểm tra, các bài giảng của giáo viên trên trang có nguồn gốc tin cậy. Những tài liệu không liên quan thì được bỏ qua, những kiến thức mang tính cá nhân như yahoo hỏi đáp hay comment thì không hoàn toàn chính xác nên việc dùng làm tài liệu tham khảo trong viết bài là không phù hợp.

III. III.1.

Tổng quan tài liệu: Khái niệm về chỉ thị sinh học môi trường nước:

Chỉ thị sinh học môi trường nước là sử dụng một loài hoặc một sinh vật dùng để đánh giá chất lượng hoặc sự biến đổi của môi trường nước mà chúng ta cần nghiên cứu. III.2. Đối tượng và vai trò của chỉ thị sinh học môi trường nước: Sinh vật chỉ thị là sinh vật chỉ thị tính đặc trưng của môi trường nó sinh sống. Nếu 1 sinh vật được coi là sinh vật chỉ thị cho 1 môi trường nào đó thì ta sẽ bắt gặp loài đặc trưng trong môi trường đó và ngược lại, nếu gặp sinh vật chỉ thị đó thì ta biết đây là môi trường nước gì. Sinh vật chỉ thị có thể là những cá thể, quần thể hay quần xã có khả năng thích ứng hoặc rất nhạy cảm với môi trường nhất định. Các loài sinh vật chỉ thị bao gồm cả động vật, thực vật và vi sinh vật. Để đánh giá trạng thái môi trường đòi hỏi phải lấy mẫu, phân tích tốn kém. Việc sử dụng các sinh vật chỉ thị để đánh giá hiện trạng môi trường là rất phổ biến. Nhờ các sinh vật chỉ thị người ta có thể biết được trạng thái môi trường trong cả quá trình. Do đó việc nghiên cứu sử dụng các sinh vật làm vật chỉ thị đang được quan tâm. Đặc điểm của sinh vật chỉ thị: lượng. Có phân bố rộng rãi. Kết hợp với các dẫn liệu sinh thái học phong phú, đây là sự trợ giúp đáng kể Có tầm kinh tế quan trọng như là tài nguyên (loài có giá trị kinh tế quan trọng Có khả năng tích lũy chất ô nhiễm, đặc biệt là phản ứng mức độ môi trường vì Dễ dàng nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, dễ quan sát. Có tính biến dị thấp, về mặt di truyền cũng như vai trò của chúng trong quần xã Vật chỉ thị dễ dàng định loại. Dễ thu mẫu: không cần thiết nhiều thao tác hoặc tốn kém thiết bị và có thể định

trong kết quả điều tra phân tích và phát hiện ô nhiễm. như cá). Hoặc có thể vật gây hại (một số loài rong hay tảo). sự phân bố của chúng liên quan tới mức độ ô nhiễm của môi trường.

sinh vật.

Anacystis. Anabacna. Oscilatoria. Ngoài ra. a. Chlorella.1.2. Cyanophyta (tảo lam). Là loài sinh vật nhạy cảm với các yếu tố lí hóa của môi trường nước. hóa chất bảo vệ thực vật. Ô nhiễm do dầu.III. b. Tảo Silic: Nitochia. Agmenllum. Tảo là sinh vật chỉ thị đánh giá chất lượng nước tự nhiên rất tốt. Tảo mắt: Pyro botryp – Phacus. Tảo được xem là một nhóm sinh vật chỉ thị quan trọng bởi những ưu điểm sử dụng như : Đánh giá được tác động ô nhiễm tức thời vì tảo có tốc độ sinh trưởng nhanh. Dùng để chỉ thị chất lượng nước hay sự phú nhưỡng hóa nguồn nước như tảo que ( filamentous algae). Teraedron. Tảo lục: Careia. Spirulina. Thực vật: Tảo: Trong môi trường nước. Dễ tiến hành lấy mẫu và dường như không gây tác động đến sinh cảnh tự nhiên khi thu mẫu. Công trình nghiên cứu của Falmer đã thống kê được 21 chi thuộc 4 ngành tảo khác nhau làm chỉ thị cho khu vực ô nhiễm kim loại nặng mà ông đang nghiên cứu: Tảo lam: Phormidium. Spirogyra. mỡ hydrocacbon đa vòng) . Gomphonema. Bacillariophyta (tảo Silic). Đã có phương pháp chuẩn đặc trưng cho tảo: tính sinh khối hoặc đo hàm lượng chlorophyll trong nước. tảo xanh hoa (green algal bloom) và nhiều loài tảo độc khác. Lepocmena – Eugrema. vòng đời ngắn. Lyngbia. Chlamydomonas. Thực vật phù du hay phiêu sinh thực vât ( phytoplankton ): Thực vật phù du hay phiêu sinh thực vật là nhóm thực vật chỉ thị ô nhiễm nguồn nước do: Nhiễm hữu cơ (gây kiệt oxy hòa tan) Phú dưỡng hóa Ô nhiễm do hóa chất độc ( kim loại nặng. Stigeoclonium. Chlorogonium. tảo còn được dùng để chỉ thị cho các vùng biển ven đảo như: Silicoflagellata (tảo kim). Pyrrophyta (tảo giáp). cocum.

di chuyển chậm nên việc lấy mẫu dễ dàng hơn. Tóm lại. III.c. lau sậy. ASPT là chỉ số tính điểm trung bình và được tính bằng công thức: . Ưu điểm chính của ĐVKXS cỡ lớn để được chọn làm chỉ thị sinh học môi trường nước là: Có sự phân bố diện rộng và nhiều trong các sông suối… ĐVKXS có vòng đời sinh sống dài nên tần suất lấy mẫu ít. Ở các loài này chúng nhạy cảm với các phản ứng của môi trường xung quanh khi bị thay đổi ở các dạng ô nhiễm khác nhau. Do vậy cùng với tảo. Trong đó được dùng phổ biến hơn hết là tảo. Tính điểm theo BMWP là dựa vào sự xuất hiện các loài trong khu vực khảo sát để cho điểm. Sử dụng những dụng cụ ít gây tốn kém và có hiệu quả trong khi lấy mẫu. Pháp hay Mĩ … để cho điểm. Các loài này phản ứng với mức độ ô nhiễm 1 cách riêng biệt và mỗi loài có giới hạn chịu đựng riêng khi sống trong môi trường đó. Chúng cũng phát triển mạnh ở các vùng nước tù hãm chứa nhiều chất dinh dưỡng. sử dụng thang điểm 10 và hệ thống tính điểm số BMWP ở Việt Nam. Nhưng tùy vào môi trường nước mà có thể chọn ra sinh vật chỉ thị phù hợp để việc nghiên cứu là tốt nhất. ĐVKXS cỡ lớn chủ yếu phát triển ở vùng ôn đới. động vật phiêu sinh hay thực vật lớn.2.2. tiết kiệm thời gian. Lợi dụng những ưu điểm kể trên nên người ta thường tiến hành sử dụng tảo làm sinh vật chỉ thị hơn là thực vật phiêu sinh hay thực vật lớn. rong. Thực vật lớn: Trong nguồn nước có các loài thực vật lớn (macrophyte) như các loại bèo. sau đó được sửa đổi để sử dụng cho vùng nhiệt đới. thực vật làm sinh vật chỉ thị cho môi trường nước như tảo.2. Từ đấy người ta đưa ra hệ thống tính điểm BMWP và ASPT được sử dụng để đánh giá chất lượng nước trong khu vực nghiên cứu. Anh. bèo là các thực vật chỉ thị cho hiện tượng phú dưỡng hóa. Động vật: Động vật không xương sống cỡ lớn: Động vật không xương sống cỡ lớn được sử dụng làm chỉ thị sinh học trong phương pháp đánh giá nhanh ở môi trường nước.1. III.2.

3). Phạm Văn Hiệp. 8. 6). tổng điểm số BMWP. 11. chia làm 5 khu vực: Khu vực I: Hồ Bàu Tràm (điểm 1. Sử dụng phương pháp tính điểm BMWP và ASPT. Lê Thị Quế nghiên cứu về vấn đề ‘sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn đánh giá chất lượng nước bề mặt tại cánh đồng Xuân Thiều. Xử lí mẫu ở phòng thí nghiệm khoa Sinh Môi Trường. Và phương pháp này đang được sử dụng phổ biến ở Đà Nẵng. Phan Thị Mai. Nhóm nghiên cứu bằng phương pháp: Chọn 15 điểm thu mẫu dọc kênh mương ở cánh đồng Xuân Thiều. Sử dụng ĐVKXS cỡ lớn để làm chỉ thị đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện ở nhiều nơi.500 Qua đó. Khu vực III: Đập Tràn (điểm 7.N: BMWP : ASPT: tổng số họ tham gia tính điểm. phường Hòa Hiệp. 12). Khu vực V: Cầu Đình (điểm 13. Khu vực II: Cống Bà Lụa (điểm 4. quận Liên Chiểu. do trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên. Khu vực IV: Cầu Liên Hiệp (điểm 10. Thu mẫu ở 3 mùa: mùa thu. 14. mùa đông. 9). 5. sông Cầu….. Đo pH bằng máy đo pH và phân tích DO bằng máy DO: YSI . Đó là công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Văn Khánh. phía nam là suối Dac Ta Jun. ĐH Quốc Gia Hà Nội thực hiện. kết quả thu được: Bảng 1. tại trường ĐH Sư PhạmĐH Đà Nẵng. 15). Phía bắc thì chủ yếu việc lấy mẫu được thực hiện ở suối nhỏ Tam Đảo. trường ĐH Sư Phạm. 2. chỉ số trung bình trên txon Với kết quả tính điểm theo BMWP và ASPT qua đó có thể đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường nước tại thời điểm nghiên cứu hay so sánh mức độ ô nhiễm ở khu vực khác nhau. mùa xuân. sông Đa Nhim hay sông ở Đồng Tháp. DO (mg/l) và pH môi trường nước tại các khu vực nghiên cứu Chỉ tiêu hóa lý Khu vực NC Mùa Thu TB ± SD Mùa Đông TB ± SD Mùa Xuân TB ± SD . TP Đà Nẵng’.

25 ± 0.78 5.06 8.28 ± 0.85 3.19 ± 0.83 ± 0.90 6.23 11.88 ± 0.39 ± 0.57 mg/l.môi trường I II DO (mg/l) III IV V 2.74 ± 0.07 6.60 ± 1.67 ± 0.03 5. riêng ở khu vực II là thấp nhất ở 3 mùa nằm trong khoảng 0.69 3.21 4.82 ± 0.26 ± 0.65 ± 0.19 .46 ± 0.17 6.53 7.12 0.33 ± 0.69 7.19 – 0.38 ± 1.04 Nồng độ DO đo được là thấp trong trong khoảng 0.99 7.85 3.81 ± 0.91 2. Bảng 2: Thành phần ĐVKXS cỡ lớn trong hệ thống điểm BMWPVIET STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Bộ Hemiptera Coleoptera Mesogastropoda Decapoda Gastropoda Odonata Diptera Rhynchobdellida Ephemeroptera Tổng cộng Số lượng Họ 8 5 3 3 2 2 1 1 1 26 Tỉ lệ % 30.13 7.57 ± 0.47 ± 0.34 ± 0.26 I II pH III IV V 7.09 3.52 ± 0.16 6.03 7.46 ± 0.13 ± 1.64 ± 1.75 ± 1.60 ± 1.03 6.12 4.77 19.07 6.71 7.34 ± 1.69 1.08 0.46 ± 0.12 ± 0.85 ± 1.82 mg/l thấp hơn tiêu chuẩn Việt Nam.38 3.85 100 .54 0.53 11.08 6.10 7.10 6.10 6.32 7.67 ± 0.90 5.7.

00 5.75 4.00 4.25 4.00 4.00 4.25 3.50 3.00 4.00 4.20 4. Chỉ số ASPT sự sai khác không đáng kể.38 4.67 4. Bảng 4.00 4.67 4. có 26 họ trong hệ thống tính điểm BMWP.08 a’ BMWP 9 11 12 0 13 0 35 25 17 4 15 13 16 0 9 11.25 4.57 4.11 a’ BMWP 17 34 25 8 12 31 21 12 15 7 25 39 23 21 16 20.80 4.50 3.43 4.50 a’ Điểm Mùa Thu Mùa Đông Mùa Xuân . Chỉ số BMWP và ASPT của các điểm theo các mùa trong năm Khu vực NC BMWP I 1 2 3 II 4 5 6 III 7 8 9 IV 10 11 12 V 13 14 15 Trung bình Chỉ số BMWP trung bình giữa các mùa có sự khác nhau rõ rệt.18 4.Xác định được 33 họ ĐVKXS cỡ lớn.40 a ASPT 4. Bảng 3.25 4.00 4.33 4. Hầu hết các họ đều nằm trong nhóm có điểm số thấp.57 4.67 4.50 4.93 c ASPT 4.25 4.00 3.00 3.33 4.33 0.75 3.33 a ASPT 3. Bảng xếp loại chất lượng nước tại các điểm nghiên cứu Khu vực Mùa thu Mùa đông Mùa xuân 13 32 46 14 26 21 30 36 32 17 12 28 16 8 19 23.20 3.33 0.17 4.00 0.60 4. có ý nghĩa giữa các mùa trong năm (α = 0.05).17 4.00 4. sự chênh lệch ít.00 4.33 5.00 4.20 4.00 4.

81 4. III. Kết quả khảo sát thu được: Bảng 1.02 4.40 4. Danh sách các họ ĐVKXS trong hệ thống BMWPVIET tại các khu vực nghiên cứu St t 1 2 3 Bộ Odonata Odonata Coleoptera Họ Aeshnidae Lestidae Hygrobiidae BMWP stt Bộ 6 6 5 1 1 1 2 1 Veneroida Veneroida Họ Corbiculidae Pisidiidae BMWP 3 3 3 Arhynchobdellida Erpobdllidae . tiến hành sử dụng động vật không xương sống ( ĐVKXS) cỡ lớn trên sông Bồ . riêng khu vực II là khu vực ô nhiễm nặng nhất ở mức Nước rất bẩn. Được đăng trên tạp chí khoa học đại học huế.27 4. IV và V đều bị ô nhiễm ở mức Nước bẩn vừa α. Do Võ Văn Phú.44 Xếp loại Nước bẩn vừa α Nước rất bẩn Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α 3. Trường đại học khoa học Huế nghiên cứu.28 Nước bề mặt ở 4 khu vực nghiên cứu I.44 4. Hoàng Đình Trung. Trong nghiên cứu này.27 3.98 4.31 Xếp loại Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α ASPT 4.06 1. Lê Mai Hoàng Thy. tỉnh Thừa thiên huế. Không chỉ tại Đại Học Sư Phạm mà trường Đại Học Khoa Học Huế cũng thực hiện việc nghiên cứu sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá chất lượng môi trường nước ở một số điểm trên sông Bồ. tỉnh Thừa thiên huế làm chỉ thị Sinh học để đánh giá chất lượng nước mặt tại 7 điểm trên sông thông qua hệ thống tính điểm BMWPVIET và chỉ số sinh học ASPT.93 4.14 3. 2010.11 4. số 57. Cho ta thấy rõ về chất lượng nước giữa các mùa có sự khác nhau.NC I II III IV V ASPT 3.00 Xếp loại Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α ASPT 4.

Xếp loại chất lượng nước các khu vực nghiên cứu theo chỉ số ASPT Khu vực Hồ Đò Xu Hồ Xuân Hòa Hồ CV 29/03 Hồ Thạc gián.17 4.59±0.49±0.08±0. trong đó có 37 họ tham gia vào hệ thống tính điểm BMWP Viet.56±3.03±0.Vĩnh Trung Hồ Đầm Rong Hồ Đò Xu Hồ Xuân Hòa Hồ CV 29/03 Hồ TG.38±0.19±0.64 4.15 Mùa Đông Hồ Đò Xu Hồ Xuân Hòa 5.42 Mùa Thu 4.31 Nước bẩn vừa β Nước rất bẩn Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Xếp loại .20±1.53±0.31 4.02 4.27 3.4 5 6 7 8 9 10 Heteroptera Heteroptera Heteroptera Heteroptera Heteroptera Ephemeropter a Unionoida Belostomatidae 5 Mesovelidae Nepidae Nôtnectidae Pleidae Baetidae Unionidae 5 5 5 5 4 4 3 1 4 1 5 1 6 1 7 1 8 1 9 Rhynchobdellida Basommatophora Basommatophora Decapoda Decapoda Neotaenioglossa Glossiphoniidae Lymnaeidae Planorbidae Palaemonidae 3 3 3 3 Parathelphusidae 3 Thiaridae 3 Kết quả phân tích mẫu vật thu được vào tháng 2/ 2008 đến tháng 7/2008 đã xác định được 44 họ ĐVKXS cỡ lớn.06 4. tập trung chủ yếu là bộ Heteroptera. Bảng 2.29 1.VT Hồ Đầm Rong ASPT Mùa Hè 4.36 4.33±2. Các loài này nằm trong hệ thống tính điểm tương đối thấp.18±0.50 4.94±0.

Loài có 2 mảnh vỏ: Ngoài các loài trên. hến. vì chúng khá phổ biến ở các khu vực như sông.2.38 4.68 4. Và kịp thời đưa ra phương án phù hợp để xử lí môi trường ô nhiễm 1 cách tốt nhất và nhanh nhất.89 4.Hồ CV 29/03 Hồ TG.35 3.80±0.00 Mùa Xuân 2.…) để làm sinh vật chỉ thị.2.29 0.VT Hồ Đầm Rong Hồ Đò Xu Hồ Xuân Hòa Hồ CV 29/03 Hồ TG. vào mùa xuân và mùa đông ở hồ đò xu và hồ đầm rong nước rất bẩn và cực kì bẩn.58 0.00 Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước cực kì bẩn Nước rất bẩn Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước bẩn vừa α Nước cực kì bẩn Nghiên cứu cho thấy chất lượng môi trường nước mặt ở đây bị ô nhiễm ở mức “nước bẩn vừa alpha” (alpha-mesosaprobe) đến mức “nước bẩn vừa beta” (betamesosaprobe).2.33±2. hồ.67±0. Hiện nay.83±0. cấu trúc nền đáy và chất lượng nước nơi khu vực cần nghiên cứu. Ở loài này. chúng cũng đa dạng về thành loài.VT Hồ Đầm Rong 4. ốc. chúng tương đối Cần phải có cơ sở dữ liệu đầy đủ về quần xã ĐVKXS cỡ lớn với mối quan hệ Từ những tư liệu của các nước trên thế giới cần phải bổ sung chỉnh sửa các họ. sò. Cho thấy sự thay đổi chất lượng nước qua các mùa rất rõ rệt. Sự phát triển của chúng đặc trưng cho điều kiện thủy văn. quan trắc ô nhiễm môi trường nước.…. loài trong bảng tính điểm BMWP cho phù hợp với điều kiện ở Việt Nam. hơn nữa. Phương pháp đánh giá nhanh bằng việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn rất thuận tiện và mở ra hướng đi mới cho việc đánh giá chất lượng nước. sử dụng phương pháp với nhiều ưu điểm này sẽ ứng dụng rộng rãi. ở Việt Nam để đưa phương pháp đánh giá nhanh này vào để sử dụng phổ biến thì cần phải xem xét các khía cạnh như: Nam.75±2. III. trong quá trình đánh giá tích lũy thì người ta sử dụng loài động vật 2 mảnh vỏ( nghêu. nhiều địa điểm khác nhau có tính chất môi trường khác nhau trên hệ thống sông ở Việt .58±0. Qua đó. Để đánh giá chất lượng phương pháp cần phải áp dụng phương pháp này trong trong môi trường ở sông suối của Việt Nam. đặc biệt là môi trường nước ngọt.

1975. có thể cung cấp trực tiếp những tác động của ô nhiễm đến môi trường sinh vật và hệ sinh thái. Đã có nhiều kết quả nghiên cứu sử dụng loài động vật 2 mảnh vỏ làm sinh vật chỉ thị như sau: Theo kết quả của nhóm nghiên cứu do Nguyễn Văn Khánh. Qua đó đã được sử dụng làm sinh vật chỉ thị đánh giá chất lượng nước bị nhiễm kim loại nặng. Sau đó. định loại mẫu theo khóa định loại hình thái của Thái Trần Bái. tiến hành . bộ Mang Tấm (Eulamellibranchia). Dương Công Vinh. Trong khi đó.). Mẫu bùn đáy được thu đồng thời với mẫu động vật và được bảo quản theo TCVN 6663-12:2000. Sử dụng phương pháp nghiên cứu: mẫu động vật thu 2 đợt và bảo quản ở 40C (theo Gokvs). Nên việc quan trắc chất lượng nguồn nước là vấn đề quan trọng để tìm ra giải pháp kịp thời ngăn chặn sự ô nhiễm KLN. Với đối tượng nghiên cứu là loài Hến (Corbicula sp. Thời gian phát triển của chúng khá lâu (vài tuần đến vài tháng). thuộc họ Corbiculidae. nhờ loài 2 mảnh vỏ này có đời sống tĩnh. chịu sự thay đổi liên tục chất lượng nước và chế độ thủy văn trong ngày. ngành động vật thân mềm (Mollusca). Phạm Văn Miên. do hoạt động của khu công nghiệp.cố định tại đáy sông. bộ mang sợi (Fillibranchia). Lợi dụng những ưu điểm như vậy loài 2 mảnh vỏ được sử dụng làm sinh vật chỉ thị. có thể nhận dạng sự có mặt của KLN với hàm lượng rất nhỏ mà phương pháp thông thường không phát hiện được (Merlimi 1965. dễ thu mẫu và dễ phân loại. khai thác khoáng sản ở đầu nguồn… Như ta đã biết thì KLN có khả năng tích tụ rất lớn đồng thời chúng khó bị phân hủy trong môi trường bình thường. Samoiloff 1989)…. thuộc họ Ostreidae. Revera 2003).) và hầu sông (Ostrea rivularis Gould) tại Cu Đê TP Đà Nẵng. Đặng Ngọc Thanh. Ferrington 1983. (Thomas. hồ. Doherty 1993 Oeatel 1998. Lê Trọng Nghĩa Võ Thị Tố Như thuộc trường ĐH Sư Phạm ĐH Đà Nẵng nghiên cứu sự tích lũy của As và Pb ở loài hến (Corbicula sp. Vấn đề cấp thiết gần đây là việc ô nhiễm kim loại nặng tại các sông và cửa biển. khả năng tích lũy KLN cao trong cơ thể mà không gây hại đến chúng. ngành động vật thân mềm (Mollusca) và Hầu Sông (Ostrea rivularis Gould). lớp 2 mảnh vỏ (Bivalvia). ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người. lớp 2 mảnh vỏ (Bivalvia).

45±5. Hàm lượng As.24 µg/g đã cho thấy khu vực của sông Cu Đê có dấu hiệu ô nhiễm. .2 µg/g Hàm lượng As trung bình trong bùn đáy là 7. thu được kết quả như sau: Bảng 1.59±3.24 µg/g.08a 1. Hàm lượng Pb trung bình trong bùn đáy: 15.23±1. không có sự khác nhau có ý nghĩa về mức độ tích lũy As giữa hai loài Hến và Hầu sông.30 TC ISQ (Canada) 7. Hàm lượng As.64a 3. Dupreez.81b’ TCCP (867/1998/QĐBYT) 1 2 Kết quả trong nghiên cứu này cho thấy hàm lượng As trung bình tích lũy ở loài Hến là 1.24 µg/g 30.81 µg/g.69b Loài Hầu sông TB ± SD 1.40±0.30 µg/g so với TC ISQG (≤ 30.45 ± 5.64 µg/g và loài Hầu là 1. Hàm lượng Pb trong loài Hến cao hơn TCCP của Bộ y tế (≤ 2 µg/g). so sánh với TC ISQG về giới hạn cho phép của As trong bùn đáy là ≤ 7. Pb bằng máy quang phổ. Pb trong hai loài Hến và Hầu sông Loài Hến KLN As (µg/g) (n = 8) Pb (µg/g) (n = 8) + TB ± SD 1.58±2.24 15. Mẫu bùn đáy được xử lý và vô cơ hóa bằng HNO3 đặc và H2O2.08 µg/g đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép(TCCP) của bộ y tế (≤ 1 µg/g). Tuy nhiên.05) cho thấy. Phân tích hàm lượng As. Bảng 2.04 ± 0. còn đối với loài Hầu sông thì thấp hơn TCCP.58 ± 2.40±0. Pb trung bình trong bùn đáy KLN As (µg/g) (n = 8) Pb (µg/g) (n = 8) + TB ± SD 7.23±1. mức độ tích lũy Pb ở loài Hến lại cao hơn và khác nhau có ý nghĩa so với mức độ tích lũy Pb ở loài Hầu sông. Steyn. + Hàm lượng Pb trung bình tích lũy trong loài Hến là 3.vô cơ hóa phần mô mềm của động vật theo phương pháp Van Loo. Qua phân tích ANOVA (α = 0.04±0.69 µg/g và Hầu sông là 1.59 ± 3.2 µg/g) thì hàm lượng Pb trong bùn đáy tại khu vực của sông Cu Đê nằm trong giới hạn cho phép.

Bảng 2.084±0. So sánh với tiêu chuẩn PELs (Canada) với hàm lượng Hg cho phép có trong trầm tích ≤ 0.112 ± 0. Còn theo kết quả nhóm nghiên cứu của Nguyễn Văn Khánh. hàm lượng Hg trong trầm tích Cửa Đại dao động từ 0.064 – 0. Lê Thị Hiếu Giang.135 0. đối với Pb ở mức “tương quan yếu”.019a Đợt 2 (µg/g) 0.Vũng Tàu. ở loài Hến tương quan của As ở mức “tương quan chặt”.064 0. Hg tích lũy loài Ngao dầu và Hến Nhóm KT (mm) > 40 Ngao dầu (µg/g) A 0.7 µg/g (tính theo khối lượng bùn khô) thì hàm lượng Hg tại khu vực Cửa Đại thấp hơn tiêu chuẩn từ 8.218 µg/g. Bà Rịa.146 ± 0.157 0.) và Hến (Corbicula sp. Rạch Giá là 0.) để đánh giá mức dộ ô nhiễm của thủy ngân (Hg) tại khu vực Cửa Đại TP Hội An.trường ĐH Sư Phạm nghiên cứu về loài Ngao Dầu (Meretrix meretrix L. Điều đó cho thấy có thể sử dụng hai loài Hến và Hầu sông làm chỉ thị ô nhiễm As và Pb. đối với Pb ở mức “tương quan chặt”. Bảng 1. Hàm lượng Hg trong mẫu trầm tích qua 3 đợt thu mẫu Địa điểm Điểm 1 Điểm 2 Điểm 3 Trung bình + Đợt 1 (µg/g) 0.181 0.61µg/g.016 b Kết quả quan trắc của một số vùng biển ở Việt Nam( năm 2003) cho thấy hàm lượng trầm tích tại các vùng biển Quảng Ninh. trung bình 0.33 đến 3. Ngô Thị Thúy An. Hà Tĩnh.65 µg/g. Ở loài Hầu sông thì tương quan của As ở mức “tương đối chặt”. Nha Trang là 0.043 a (n = 6) Nhóm KT (mm) > 50 Hến (µg/g) A 0.167 0. Kết quả cho thấy sự tích lũy As và Pb trong Hến và Hầu tương quan thuận với sự tích lũy As và Pb trong bùn đáy.019 b Đợt 3 (µg/g) 0.64 µg/g.053 µg/g.2 lần.101 0. Trần Duy Vinh.35 – 0.030 a’ (n = 8) . Quảng Nam.+ Tiến hành phân tích mức độ tương quan nhằm xem xét ảnh hưởng của hàm lượng As và Pb tích lũy trong bùn đáy đối với hàm lượng As và Pb tích lũy trong 2 loài Hến và Hầu.199 0.199±0.153±0.118 ± 0.218 0. Nhưng trong kết quả nghiên cứu này.088 0. hàm lượng Hg khoảng 0.

5 µg/g) thì tích lũy Hg ở nghiên cứu này thấp hơn từ 45. 55.036 ± 0.038 ± 0.027 b’ (n = 8) < 30 0. So sánh với TCCP của Bộ Y Tế (≤ 0. + Kết quả phân tích tương quan giữa yếu tố kích thước và khối lượng với sự tích lũy Hg trong mô cơ thể của 2 loài Ngao dầu và Hến cho thấy chúng tương quan thuận với khối lượng và kích thước với mức độ từ “tương quan vừa” đến “tương quan chặt” chứng tỏ 2 loài có xu hướng tích lũy kim loại nặng Hg tăng theo sự gia tăng kích thước và khối lượng.044 µg/g. mức độ chênh lệch giữa 2 loài không tạo nên sự khác nhau có ý nghĩa về mức độ tích lũy ở 2 loài. b’. Thêm vào đó.036 b (n = 9) 40 – 50 0. sự ảnh hưởng của hàm lượng Hg trong trầm tích đến sự tích lũy Hg trong mô cơ thể Ngao dầu là thấp hơn chứng tỏ khả năng chỉ thị của Ngao dầu là tốt hơn. Nguyên nhân của sự việc này theo nhóm nghiên cứu là do hàm lượng coliform trong nước tưới rau ở ruộng nước thải của vùng ven đô Hà Nội cao hơn ở những ruộng không dùng nước thải. đã thể hiện được sự phân bố Coliform và Vibrio trong môi trường nước và trầm .45 – 2.050 ± 0. rau từ ruộng đến chợ ở vùng ven đô thị Hà Nội có sự lây nhiễm diện rộng của coliform và các vi khuẩn khác gây bệnh đường ruột. khảo sát trong chương trình quản lý tổng hợp vùng ven bờ Tỉnh Bình Định. cùng với kết quả phân tích Hg trong trầm tích cho thấy tại khu vực Cửa Đại (TP. của Hến là 0.027 c (n = 8) < 40 0. Kết quả thống kê cho thấy hàm lượng Hg trong trầm tích có ảnh hưởng đến khả năng tích lũy Hg trong mô cơ thể loài Ngao dầu và Hến.030 b’ (n = 8) Ghi chú: các giá trị có cùng ký tự (a.05) + Khảo sát sự tích lũy Hg của loài Ngao Dầu và Hến thông qua việc phân tích Hg trong mô mềm của chúng cho thấy hàm lượng Hg trung bình của Ngao dầu là 0.30 .066 ± 0. b.3. c’) không khác nhau có ý nghĩa (α =0. Và chính việc sử dụng nguồn nước ao hồ để làm rau tươi đã tăng thêm sự nhiễm vi sinh vật cho rau khi mang ra chợ bán.40 0. Hội An) chưa bị ô nhiễm Hg. Nhóm này được gọi là Coliform. Như vậy.33 lần đối với Hến. c) hoặc (a’.2.073 ±0. 1.046 µg/g. Vi sinh vật: Vi khuẩn Coliform: Những nhóm vi khuẩn được xếp vào nhóm coli là những loài được tìm thấy trong các vật liệu bị nhiễm phân.56 – 3. III. so với loài Hến. Một nghiên cứu của Viện Vệ sinh Dịch tễ TW cho thấy.73 lần đối với Ngao dầu.074 ± 0.

những chỉ số này được dùng như những chỉ thị sinh học cho quá trình quan trắc và cảnh báo môi trường và quá trình quản lý tổng hợp vùng ven bờ.coli). E. 3. ở cừu là S. 2. Tuy nhiên. Coliform và Vibrio biến động mạnh theo không gian và thời gian. Năm 1888. ở ngựa là S. S. .equinus. Hơn nữa. Võ Hải Thi thực hiện. bovis. ở những động vật như bò sát thì hầu hết là S.equinus được xem là quan trọng nhất.coli chỉ phát triển trong các loài động vật có sự tiếp Vi khuẩn Streptococcus: Đó là loại cầu khuẩn không sinh bào tử. Sau đó loài vi khuẩn này được đổi tên thành Escherichia Coli và xếp vào họ Enterobacteriaceae( Bergey’s. Clostridium Perfringens: Một số loài VSV kị khí như Clostridium Perfringens cũng sống trong đường tiêu hóa như coliform. Lê Lan Hương. Được khám phá năm 1885 bởi Escherich và được đặt tên là bacterium coli. faecalis chiếm ưu thế trong phân người . mật độ Coliform trong nước tại các trạm nghiên cứu đã vượt quá tiêu chuẩn chất lượng môi trường TCVN 5943-1995 nhiều lần. trong khi đó ở gia súc là S Faecium. Faecium. những biến động này có mối liên quan chặt chẽ với sự thay đổi của hàm lượng chất hữu cơ trong môi trường. diện dưới dạng chuỗi và được xếp vào genus Streptococcus. E. Người ta cũng không tìm thấy loài này trong vùng đất sạch. Trong nhóm Vi khuẩn Coliform được sử dụng phổ biến nhất là Vi khuẩn Escherichia Coli (E. Nhìn chung. 1974). chiếm khoảng 80% tổng số VSV sống trong ruột người. 13-Apr-2010 do các tác giả Phan Minh Thụ. Theo đó. như S.bovis. S. Mace sử dụng loại vi khuẩn này như một tác nhân trực tiếp chỉ thị ô nhiễm phân và gián tiếp chỉ thị cho các nguồn nước bị nhiễm các VSV đường ruột. xúc với người và hiếm khi thấy chúng xuất hiện trong các loài động vật hoang dã. Kết quả khảo sát được đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển.tích vùng ven bờ tỉnh Bình Định. Còn được gọi là trực khuẩn đại tràng.coli được tìm thấy trong đường tiêu hóa người và các động vật máu nóng và Theo Minkevich(1949). Lượng Vibrio trong môi trường cũng rất lớn. đôi khi có dạng kéo dài thường hiện Gần như chỉ thị ô nhiễm phân bằng Streptococcus faecalis và một số loài khác như vậy chúng sẽ hiện diện trong phân của các loài này.Faecium. S.

có thể sử dụng oxy liên kết trong các hợp chất như gốc nitrat. 4. + + + b.perfringens sản sinh độc có ngoại bào. a. Nấm. điều này có thể gây ra các ngộ độc thực phẩm. làm nguồn cacbon cho quá trình sinh tổng hợp. chủ yếu là vi khuẩn. vi khuẩn sắt… c. Trong nhóm này có vi khuẩn nitrat hóa. thường tồn tại thành từng cặp. bào tử của chúng có dạng hình trứng. Tùy theo phương thức dinh dưỡng vi khuẩn được chia làm 2 nhóm: dị dưỡng và tự dưỡng. Khác với các loài. VSV dị dưỡng (heterotriphic): Sử dụng các chất hữu cơ làm nguồn cơ chất cacbon và năng lượng trong các Trong nhóm này lại chia thành 3 nhóm nhỏ: VK hiếu khí (aerobic) cần oxy trong quá trình phân hủy các chất hữu cơ để VK ki khí hay yếm khí (anaerobic) không cần oxy tự do để phát triển chúng VK hiếu khí hoặc kị khí tùy tiện (facultative) có thể sống trong điều kiện có VSV tự dưỡng (autotrophic) Có khả năng oxy hóa chất vô cơ để thu năng lượng và sử dụng CO 2 quá trình sinh tổng hợp.điều này có nghĩa là Clostridium Perfringens có thể được sử dụng làm sinh vật chỉ thị cho sự ô nhiễm phân.perfringens có thể tồn tại lâu trong môi trường VSV có trong nước thải chiếm đa số về loài và số cá thể trong sinh vật của nước thải. vi khuẩn lưu huỳnh. các loài C. Chúng có kích thước nhỏ. không di động. . nấm mốc và nấm men Nhóm này ít hơn vi khuẩn và phát triển mạnh trong vùng nước tù. Nhiều C. Nước thải càng bẩn thì càng nhiều VSV. thường được tạo thành trong một thời gian dài. Vi khuẩn đóng vai trò quan trọng trong các quá trình phân hủy các chất hữu cơ có trong nước. khi mà điều kiện môi trường trở nên không thuận lợi. Clostridium Perfringens được Welch và Nuthal miêu tả vào năm 1892. vi sinh đường ruột không sinh bào tử nhanh chóng chết Vi sinh vật trong nước thải: trong môi trường mới. sinh trưởng và phát triển. Chúng là các vi khuẩn SV dị dưỡng và hiếu khí. sunfat … hoặc không có oxy tự do.

Từ năm 1962. Các virus của vi khuẩn gọi là thực khuẩn thể (bacteriophae). nếu tìm thấy thực khuẩn thể trong nước ta có thể suy ra sự có mặt của vi khuẩn gây bệnh tương ứng đã hoặc đang tồn tại. Khi thiếu tế bào vi khuẩn chủ thì thực khuẩn thể vẫn tồn tại khá lâu trong nước. virus là tác nhân gây ra một số bệnh cho người và gia súc. axit hữu cơ. có khả năng sông dai dẳng hơn V. người ta phát hiện thêm một tác nhân gây bệnh dich tả trên thế giới không còn là Vibrio cholera cổ điển nữa mà do Vibrio eltor gây bệnh tả. f. Tóm lại: Để đánh giá ô nhiễm nguồn nước do nước thải sinh hoạt. Trong nước thải có nhiều loại vius. Trực khuẩn Salmonella typhi gây bệnh thương hàn Trực khuẩn Salmonella Paratyphi gây bệnh phó thương hàn Phẩy khuẩn Vibrio cholera gây bệnh tả.. VSV gây bệnh: Khi có mặt của các VSV này thì chứng tỏ nguồn nước này đã bị nhiễm bẩn không thể sử dụng được. Chủ yếu là các VSV sau: Trực khuẩn Shigella dysenteriae gây bệnh lỵ. . d. dựa vào sự xuất hiện của 3 nhóm VSV chỉ thị sau: Nhóm Coliform đặc trưng là Escheriachia coli (E. nhờ những chất trao đổi của vật chủ mà tổng hợp các hợp chất protein và axit nucleic cho mình. Cholera.. Nấm men phân hủy các chất hữu cơ bị hạn chế nhưng có thể lên men được một số đường thành các ancol.- Các loài nấm (kể cả nấm mốc) có khả năng phân hủy các chất hữu cơ. Virus: Loại siêu vi khuẩn có đời sống kí sinh ở tế bào vật chủ. hemixenluloza. glyxerin. Vì vậy. đặc biệt là lignin. nhiều loài nấm phân hủy được các hợp chất xenluloza. Vì vậy.coli) là một khuẩn đường Nhóm Streptococci đặc trưng là Streptococcus faecalis_ liên cầu trong phân Nhóm Clostridia khử sunfit đặc trưng là Clostridium perfringens ruột (FE) Sự có mặt của các VSV này chứng tỏ rằng nước đã bị nhiễm phân. trong điều kiện kỵ khí và phát triển tăng sinh khối trong điều kiện hiếu khí.

còn Clostridia phải tiến hành ở 80oC và phải lên men 2 lần. Sử dụng những sinh vật nhạy cảm Ưu điểm : khả năng phát hiện ra những ảnh hưởng của chất gây ô nhiễm ở những nồng độ khác nhau có tác động có hại đối với các sinh vật. Phương pháp loài đơn lẻ: Sử dụng những loài chỉ thị Đánh giá chất lượng nước dựa trên cơ sở có mặt hay vắng mặt các loài đặc trưng đã ít được chú ý. Khi có những ảnh hưởng cụ thể với mức độ ô nhiễm nào đó thì một phản ứng tương ứng của sinh vật với sự tăng hay giảm nồng độ ô nhiễm có thể xảy ra. Chúng là nhóm VSV đại biểu quan trọng nhất trong việc đánh giá vệ sinh Chúng có thể xác định trong điều kiện thực địa với những phương pháp tương Xác định Coliform dễ hơn các nhóm khác. từ điều kiện tối ưu đến điều kiện gây chết. nhiệt lâu hơn.Trong 3 nhóm trên thì E. đối đơn giản và tin cậy. ông đã tiếp tục nghiên cứu và khẳng định một quan điểm mà nhiều nhà sinh học nước ngọt đã tán thành. Điều này đã được Donkin và Widdows (1996) xem như là một dụng cụ quan trắc bao gồm những đặc điểm sau đây: Nhạy cảm đối với những thay đổi bất thường của môi trường. Tuy nhiên. cho rằng hầu hết những loài côn trùng được tìm thấy trong nước có độ phú dưỡng trung bình đều có thể chống chịu ở một phạm vi khá rộng các điều kiện vật lý và hóa học của môi trường. Rback (1974) đã có quan điểm cho rằng “ sự có mặt hay vắng mặt của bất cứ loài côn trùng nào trong một con suối ( khi nói đến điều kiện bất lợi) không hơn không kém chỉ hiển nhiên là sự có mặt hay vắng mặt của nó”. đối với Streptococci cần phải giữ Phương pháp sử dụng chỉ thị sinh học đánh giá môi trường nước : a. Có một sự định lượng. . khả năng dự báo liên quan đến những chất gây ô nhiễm nguồn nước và có đầy đủ tiêu chuẩn của loại VSV chỉ thị lý tưởng. sự ô nhiễm có phạm vi rộng gây ra các phản ứng.coli hay được sử dụng nhất vì: + + + IV.

đó là những phản ứng chung có thể nảy sinh từ những ảnh hưởng độc hại đặc trưng ở mức độ tế bào và hóa sinh nhất định trong cả hệ thống. trong đó: một số là nguồn thực phẩm. quan trắc. đó là chất gây bất lực (imposex) trong các thân mềm ở biển (Matthiessen và Gibbs. Quan trắc chủ động (tại nơi cư trú) các SV có ở vùng không ô nhiễm. Khả năng tích tụ chất ô nhiễm ở SVTT được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu. MT . hay được nuốt vào cùng với thức ăn với tốc độ lớn hơn tốc độ đào thải từ cơ thể . Sử dụng những sinh vật tích tụ Không ít sinh vật có thể tích luỹ các chất ô nhiễm trong các mô của chúng qua quá trình tích luỹ sinh học. địa y. Chất ô nhiễm được hấp thụ qua bề mặt cơ thể. Cho đến 2002 đã phát hiện 420 loài có khả năng tích tụ KLN cao. Các SVTT có đặc điểm: chúng. 1998). đối với những động vật không xương sống ở nước chỉ có một trường hợp duy nhất biểu hiện làm phá vỡ hệ thống nội tiết. qua những cấu trúc đặc trưng."khuyếch đại sinh học". cá ( MT nước). Như. rêu và thực vật có mạch (MT đất Kkhí). trong các chương trình giám sát ô nhiễm phải khắc phục theo 2 cách: Quan trắc thụ động và thu mẫu (để phân tích HH) từ nơi cư trú đặc biệt của những SV bản địa. xử lý MT. Rêu được sử dụng rộng rãi cho quan trắc các KLN Lựa chọn SVTT trong nghiên cứu MT theo tiêu chuẩn của sinh vật chỉ thị Trong thực tế khó có loài đơn lẻ nào đáp ứng được đủ các các tiêu chuẩn của SVCT về tích tụ. nhiều thực vật lớn và nhuyễn thể. Những mô tích luỹ các chất ô nhiễm biểu thị hàm lượng các chất này rất rõ do phản ánh cả quá trình các chất ô nhiễm xâm nhập vào môi trường và tác động lên sinh vật trong suốt thời gian dài. Sự tích luỹ này có thể diễn ra trong suốt vòng đời của sinh vật mà không có Hàm lượng tích luỹ trong mô của SVTT có thể gấp 103 .106 lần so với trong tác động phụ xuất hiện.- Trong quá trình phát triển của tự nhiên. thường xảy ra những thay đổi.

Phương pháp sử dụng chỉ số sinh học : Shannon – Weiner sử dụng chỉ số đa dạng H’ và Margaleft sử dụng chỉ số đa dạng Chỉ số đa dạng <1 1–2 >2 – 3 >3 – 4. được sử dụng trong một phạm vi lớn hay nhỏ và chia thành 4 loại: Đo mức độ phong phú Sự liệt kê Sự đo đếm các nhóm theo chức năng dinh dưỡng Các chỉ số kết hợp c. b. Tuy nhiên vì tính linh động của chúng nên hạn chế việc sử dụng để xác định rõ các nguồn gây ô nhiễm điển hình. đặc biệt ở châu Âu Resh và Jackson (1993) đã liệt kê những phương pháp khác nhau trong giám sát sinh học quan trắc môi trường nước.1970) Sử dụng nhóm động vật đáy cỡ lớn (Macrobenthos) để đánh giá nhanh chất lượng nước theo hệ thống tính điểm BMWP. Phương pháp đa loài: Sử dụng những nhóm sinh vật hay những quần xã sinh vật đã có từ lâu. Mẫu vật sau thu thập → phân loại.Trong các hệ sinh thái nước cần nhấn mạnh tới việc sử dụng thực vật lớn (Macrophytes) và nhuyễn thể như các sinh vật tích tụ do chúng đáp ứng được nhiều tiêu chí đã liệt kê ở trên. nhận biết → tùy theo họ để tính điểm theo bảng điểm BMWP → tính điểm số tổng cộng BMWP.5 Chất lượng nước Rất ô nhiễm Ô nhiễm Ô nhiễm nhẹ Sạch Rất sạch (Nguồn Stau et al.5 >4. . Cá cũng được sử dụng rộng rãi là sinh vật tích tụ trong nước ngọt và nước mặn một phần vì chúng là nguồn thực phẩm cho con người. Loài Mytilus phân bố rộng khắp Thế Giới và tầm nhìn con vẹm cung cấp thông tin về các mức của nhiều chất ô nhiễm trong các mô của chúng từ các địa điểm riêng biệt trên diện rộng và rất xa nhau. Việc sử dụng con vẹm (Mussel) ở biển Mytilus rất có ý nghĩa về phương diện này do chúng là đối tượng của kế hoạch toàn Thế Giới “tầm nhìn con vẹm”.

Hoại sinh nhẹ ( Oligosaprobe) Ô nhiễm vừa . Nhiều nước sử dụng rộng rãi điểm số BMWP của nhóm động vật đáy cỡ lớn để quan trắc môi trường nước (dựa vào việc xác định số loàivà phân bố của động vật đáy không xương sống để phân loại mức độ ô nhiễm nước).9 – 1 0 Đánh giá chất lượng nước Không ô nhiễm.Hoại sinh rất nặng ( không có ĐVKXS) Hạn chế của Chỉ số BMWP và ASPT là chỉ giành cho nước chảy và đôi khi với kiểu cư trú đặc trưng trong dòng sông như chỗ nông chỗ cạn. Phổ biến nhất là chỉ số sinh học TRENT ở Anh. Thứ hạng I II III IV V VI Chỉ số ô nhiễm ( ASPT) 10 – 8 7. ASPT có ưu điểm là không phụ thụ thuộc vào kích thước mẫu. Điểm số ASPT (1-10) là chỉ số sinh học tương ứng với một mức chất lượng nước. Nhưng có ưu việt là tính toán đơn giản.Sau đó.9 – 6 5.9 – 5 4. → Các CSSH đều có hạn chế là phải sử dụng cùng với những số liệu có sẵn về lý hoá học. tính điểm số trung bình (ASPT): tổng số điểm / tổng số họ tham gia tính điểm. chủ yếu để quan trắc các tác động chất hữu cơ trong nước chảy. . điểm số sinh học CHANDLER (CBS). mùa vụ và thậm chí phương pháp thu mẫu CSSH được sử dụng đầu tiên trong quan trắc môi trường là hệ hoại sinh (dùng quan trắc ô nhiễm hữu cơ trong các sông). Các chỉ số sinh học khác tuần tự được phát triển. thường chỉ chọn một số phân đoạn hoặc lát cắt như sinh vật nổi và sinh vật đáy trong những hệ sinh thái nước. d.Hoại sinh vừa (β Mesosaprobe) Ô nhiễm – Hoại sinh trung bình (α Mesosaprobe) Ô nhiễm nặng . Phương pháp quan trắc cấu trúc quần xã: Phát hiện những thay đổi do ô nhiễm gây ra trong cấu trúc quần xã sinh vật sống trong các vùng nghiên cứu.Hoại sinh nặng ( Polysaprobe) Ô nhiễm rất nặng . nước sạch Ô nhiễm nhẹ . cung cấp thông tin dễ hiểu về mức độ ô nhiễm .9 – 3 2.

Warren kết luận “môi trường tại một địa điểm quyết định phần lớn những cá thể nào có khả năng cư trú ở điểm đó. và những sinh vật ở đó sẽ là những chỉ thị sinh học cho những thay đổi của môi trường” Tình hình các mối quan hệ giữa những SV sống tự do trong nước. phân bố động vật và bản đồ phân vùng sinh thái ở khu vực nghiên cứu. Sau một thời gian. Phương pháp này vẫn còn hạn chế. sự tụ họp này sẽ diễn ra theo các đặc trưng rõ ràng. . thì các loài động vật và thực vật có cơ hội tạo khuẩn lạc. Cái đó có thể được xem là quần xã sinh vật” Sự thay đổi của các điều kiện môi trường có ảnh hưởng tới thành phần động Từ quan điểm của Warren chúng ta có thể khẳng định rằng bất kỳ một thay và thực vật trong quần xã. nếu những điều kiện môi trường nước không biến đổi nhiều. Phương pháp thu mẫu sinh vật ở nước: Thu mẫu → Phân tích mẫu Thành lập các bản đồ chuyên đề về thảm thực vật. nghiệm hay ngoài hiện trường. e. Phép thử sinh học: Sử dụng sinh vật ở những điều kiện thí nghiệm (có đối chứng) để nghiên cứu. Nhiều phép thử sinh học đã được phát triển để sử dụng trong phòng thí đánh giá môi trường nước. Khả năng sử dụng phép thử sinh học trong nghiên cứu các vấn đề môi trường: Xác định các tác động ngắn hạn của liều lượng lớn (cấp tính) đến cá thể. một sự tụ họp các loài sẽ xảy ra sau đó một thời gian. Điều này gây nên sự quần tụ của các quần xã khác nhau. Mối tương tác qua lại phức tạp sẽ phát triển trong số những loài này và giữa chúng với những điều kiện và các nguồn lực sẵn có của địa điểm. đổi nào trong môi trường (tự nhiên hoặc nhân tạo) sẽ mang lại những thay đổi trong từng cá thể trong quần thể và trong quần xã của chúng. f. quần thể và quần xã.- Dựa trên sự có mặt hoặc vắng mặt hoặc độ trù phú các cá thể của loài trong Warren (1971) viết “Ở nơi không có những đặc trưng lý và hóa học cực đoan quần xã sinh học.

những sinh vật nhỏ với vòng đời ngắn thuờng thuận lợi hơn. nhiễm đặc trưng. thái.Mẫn cảm hơn đối với sức ép ô nhiễm. Nghiên cứu phát triển các biện pháp xử lý và chống ô nhiễm. Các mô hình tác động và cách xâm nhập của các chất ô nhiễm vào hệ sinh toàn bộ và gây chết một nửa) và giới hạn chuẩn của các chất ô nhiễm. Xác định sự đa dạng của ngưỡng độc hại (liên quan đến hiệu ứng gây chết Xác định rõ tính mẫn cảm của những sinh vật điển hình đối với các chất ô Cung cấp tín hiệu sớm về sự ô nhiễm gây hại tiềm ẩn. . Tiêu chuẩn lựa chọn sinh vật trong thử nghiệm sinh học: Ngoài các tiêu chuẩn như đối với SVCTMT thì còn cần phải có các tiêu chuẩn khác: Mẫn cảm và bền vững trong phản hồi với chất gây ô nhiễm. Ở trạng thái khoẻ mạnh. So sánh tính ưu việt của phép thử đơn loài và đa loài Loại thí nghiệm sinh học Tính ưu việt .- Xác định tác động tiềm năng của các chất gây ô nhiễm (tác động dài hạn) của những lượng thấp các chất gây ô nhiễm khác nhau (mãn tính) đến cá thể. Phân biệt phép thử đơn loài và đa loài. . Phép thử đơn loài . không dễ bị nhiễm bệnh và ký sinh. quần thể và quần xã.Tính biến dị tự nhiên ít hơn trong hệ thống thử. mặc dù phép thử sinh học đa loài có tính ưu việt hơn nhưng phép thử sinh học đơn loài vẫn được sử dụng nhiều hơn do các nguyên nhân về giá thành và tốc độ.Mẫn cảm hơn với phản hồi các thông số được đo.Xác định phản hồi tốt hơn ở những điểm cuối. .

điểm số Phương pháp quan trắc bằng vi sinh vật: nhằm so sánh những thuỷ vực cùng kiểu nhưng không bị tác động.Tính đột biến .Hàm lượng chất diệp lục .Tốc độ tái sinh (sinh sản) Tảo và những thực vật khác .Khả năng sinh trưởng. %>90% chứng tỏ điểm đó không bị ô nhiễm. Vi khuẩn.Biến đổi tập tính g.Biến đổi sinh hoá .Tốc độ tái sinh . hô hấp .Tính đột biến . nitrat hoá .Tương ứng tốt hơn với tình trạng của các hệ sinh thái tự nhiên.Phát triển tính dị thường ĐVKXS và ĐVCXS .BOD.Tỷ lệ thức ăn . xáo trộn.. hô hấp . .Tốc độ sinh trưởng . Xác định kiểu sinh thái đặc trưng và sử dụng các phương pháp đo chọn lọc Kết quả biểu thị ra tính tương đồng theo % của các điểm nghiên cứu.Nhận biết được nhiều hơn trong việc cô lập các yếu tố Phép thử đa loài ảnh hưởng chính. Những chỉ tiêu chính sử dụng trong phép thử sinh học Loại sinh vật Chỉ tiêu theo dõi . Phương pháp so sánh ( đối với hệ thống nước ngọt): h.Khả năng phân huỷ . nấm.Tác động hình thái và mô . .Hiệu ứng gây chết .Tác động hình thái và mô .Cung cấp nhiều thông tin hơn trong mỗi phép thử.Khả năng quang hợp. động vật nguyên sinh .

Sử dụng thuỷ tinh. Ví dụ : Vi khuẩn Coliform. Phải phát triển không phụ thuộc vào sự có mặt của các sinh vật khác trong môi trường nhân tạo. những cú sốc môi trường. Tốc độ sinh trưởng của chúng trong môi trường nước sẽ không được Phải chống chịu nhiều hơn đối với sức ép. j.- VSV là hợp phần quan trọng của các hệ sinh thái mà tính đa dạng và độ phong phú của chúng bị chi phối bởi những thay đổi của các yếu tố môi trường và có thể trở thành chỉ thị cho những kiểu ô nhiễm nhất định. Faecal Streptococci và Clostridium perfringens là những sinh vật chỉ thị thông dụng nhất cho ô nhiễm nước do phân. Sự có mặt của các vi khuẩn sống trong ruột người và động vật (Coliform. cốc nhựa khử trùng khi lấy mẫu phân tích. thích ứng với môi trường sinh thái Khi các yếu tố môi trường bi xâm hại. suy giảm số lượng cá thể hoặc không còn hiện diện ở đó. đây là cơ sở cho việc đánh giá tình trạng và việc bảo vệ môi trường. Một số sinh vật chỉ thị tiếp tục tồn tại trong môi trường bị ô nhiễm nhưng phải chịu đựng những sức ép về vật lý làm cho tỉ lệ tăng trưởng giảm. thì quần thể các loài đặc hữu đó bị nhất định. Đây chính là dấu hiệu sinh học của sự ô Phải có mặt khi hiện diện những mầm bệnh và phải có số lượng lớn. . Phải dễ dàng và rõ ràng nhận diện khi sử dụng các kỹ thuật nhanh và mẫu trong vòng 1 giờ. quý hiếm: Các loài đặc hữu là các loài phân bố hẹp. khả năng sinh sản kém hoặc tập quán sống sẽ thay đổi. Streptococci và Clostridium ) là chỉ thị cho ô nhiễm nước sinh hoạt ( do lớn hơn tốc độ phát triển của mầm bệnh. Ô nhiễm vi sinh vật do phân: * Các sinh vật chỉ thị này cần thỏa mãn các tiêu chí sau: đơn giản.30 giờ Sự có mặt của quần xã nấm nước thải là chỉ thị ô nhiễm mức độ cao. Ví dụ như: + + phân). Mẫu cần bảo quản ở 4 0 C từ 24 . Nên phân tích i. kể cả sự khử trùng hay tiêu độc hơn so với sinh vật mầm bệnh. Sử dụng loài đặc hữu.

Đánh giá nước có chất lượng sinh thái tốt nhưng không phải luôn luôn không có mầm bệnh hoặc những sinh vật nhỏ bé có hại → phải có những phép thử vi sinh và hóa học đặc hiệu. Quần xã sinh vật phản ứng với chất lượng nước khác nhau ở một phạm vi rộng do các yếu tố xác định và những chất ô nhiễm (trong khi phương pháp hóa học phải phụ thuộc vào dạng chất ô nhiễm). Chưa có khả năng giải thích rõ ràng về những biến đổi sinh thái đó trong điều kiên của chất lượng nước → làm sao tìm ra được những biến đổi sinh thái liên quan đến mục đích sử dụng nước. Ưu điểm và hạn chế của các phương pháp sinh học trong đánh giá chất luợng nước: Ưu điểm: Quần xã sinh vật đóng vai trò như những giám sát viên liên tục của nước → không cần lấy mẫu liên tục. Số liệu tổng hợp về giám sát sinh học chỉ có ý nghĩa đối với nhà sinh học chuyên nghiệp → thiếu hụt thông tin ở những người không hiểu rõ. Triển vọng: . Giám sát sinh học liên quan đến toàn bộ thành phần trong quần xã và những phản ứng xảy ra sau đó → cố gắng nhiều trong khâu thu mẫu. V.nhiễm môi trường cho phép chúng ta khám phá ra sự thay đổi và có thể ước lượng cường độ của nó. xử lý và phân loại mẫu. Hạn chế: Không biết được nguyên nhân rõ ràng của những biến đổi sinh thái ( nên kết hợp với phương pháp hóa học). Những quần xã sinh vật có khả năng hợp nhất những ảnh hưởng của các chất độc tổng hợp → đánh giá một cách toàn diện tổng quát và dự đoán ảnh hưởng chất độc lên hệ sinh vật.

Việc dùng sinh vật để đánh giá mức đô ô nhiễm của môi trường nước bằng phương pháp chỉ thị sinh học đã ghi nhận được một số bước tiến thông qua nhiều công trình nghiên cứu. ao đầm phá lớn nhỏ… Đã tạo nên hệ thống động thực vật và vi sinh vật ở đây vô cùng đa dạng và phong phú. bên cạnh đó ta cũng thấy 1 số nhược điểm ở sinh vật chỉ thị. nâng cao sức khỏe và chất lượng sống của con người được tốt hơn. . sử dụng loài 2 mảnh vỏ để đánh giá sự tích tụ KLN. vi sinh vật trong chỉ thị ô nhiễm phân…Từ đó. Nhưng. Việc sử dụng chỉ thị sinh học để đánh giá chất lượng môi trường nước không chỉ cung cấp thông tin cho các nhà lãnh đạo địa phương và trung ương việc xây dựng hệ thống chỉ thị -chỉ thị thông tin môi trường. Chính điều này đã góp phần cung cấp đối tượng cho nhiều công trình nghiên cứu khoa học. Đồng thời. việc ứng dụng sinh học chỉ thị vào nghiên cứu đánh giá môi trường là nên được sử dụng rộng rãi trong cả nước. đặc biệt là thành phố Đà Nẵng với đặc trưng của nền khí hậu nóng ẩm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đem lại kết quả khả quan và đáng tin cậy như việc sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn đánh giá chất lượng nước. đường bờ biển dài . sinh vật chỉ thị thông báo cho hành động của con người những gì là không bền vững và tóm lược toàn cảnh hiện trạng môi trường thông qua các tín hiệu của sinh vật. Kết luận và kiến nghị: Từ một góc độ quản lý. chỉ thị sinh học môi trường nước đã mở ra hướng đi rất có triển vọng trong tương lai ở miền trung cũng như cả nước. Tóm lại. vịnh. Đối với Việt Nam nói chung và các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên nói riêng. nên các nhà khoa học khi nghiên cứu việc áp dụng phương pháp hóa học và chỉ thị sinh học để tăng tính chính xác hơn. Dựa vào sinh vật chỉ thị và chỉ số đa dạng của sinh vật chỉ thị trong vùng khảo sát để làm cơ sở cho nhà khoa học đề xuất bộ tiêu chuẩn môi trường biển Việt Nam phù hợp với tình hình thực tế của nước ta.nhiều vũng. đánh giá chính xác hơn tác động ô nhiễm môi trường nước. góp phần hạn chế tối thiểu những tác động tiêu cực từ môi trường.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. TP Đà Nẵng. cơ sở vật chất cũng như môi trường làm việc chuyên nghiệp. . Chỉ thị sinh học môi trường. Nguyễn Văn Khánh. Sử dụng chỉ thị sinh học động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá chất lượng nước ở các hồ của thành phố Đà Nẵng ( Tạp chí khoa học – Đại học Huế. NXB Giáo Dục. Phan Văn Hiệp. phường Hòa Hiệp . Lê Văn Khoa (2007). Động vật không xương sống. Sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn đánh giá chất lượng nước bề mặt tại cánh đồng Xuân Thiều. số 63. NXB Giáo Dục. Nguyễn Văn Khánh. 3. Lê Trọng Sơn. 4.- Chính vì những lí do trên Việt Nam nên áp dụng rộng rãi phương pháp này nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm một cách triệt để hơn. 2. Muốn vậy chính phủ cần có chiến dịch dài hơn trong việc đầu tư và phát triển nguồn nhân lực. Trần Thái Bái (2005). Phan Thị Mai. Lê Thị Quế. Phạm Thị Hồng Hà. 2010).

Lê Lan Hương.com/forum/archive/index. Phân loại thực vật học. 6.5. Các link tham khảo: http://violet. Chỉ thị sinh học phục vụ quản lý tổng hợp ven bờ tỉnh Bình Định ( Tạp chí khoa học và công nghệ 2010). NXB Giáo Dục.vn/kimcuong/present/show/entry_id/5824504 http://www.html . Phan Minh Thu.php?t-986.sinhhocvietnam. Hoàng Thị Sản. Võ Hải Thi.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->