P. 1
Các phương pháp đo pH

Các phương pháp đo pH

|Views: 1,354|Likes:
Được xuất bản bởiDo Thanh Hoan

More info:

Published by: Do Thanh Hoan on Dec 19, 2011
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOCX, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

07/15/2013

pdf

text

original

Các phương pháp đo pH

Dùng chỉ thị màu (phương pháp gần đúng) : Một số hóa chất, chủ yếu là các hợp chất hữu cơ, có khả năng đổi màu tùy theo pH của dung dịch. Người ta đã nghiên cứu khoảng pH đổi màu của các hóa chất này như trong bảng Tính chất của một số chất chỉ thị màu

Chất chỉ thị Methyl violet Malachite (axit) green

Màu axit Vàng Vàng Đỏ Đỏ Vàng Đỏ Đỏ Vàng Vàng Vàng

Màu bazơ Tím Xanh lá cây-Xanh dương Vàng Cam-Vàng Xanh dương Vàng Xanh dương Xanh dương Đỏ Xanh dương

Khoảng pH đổi màu 0–2 0 – 1.8 1.2 – 2.8 3.1 – 4.6 3.8 – 5.4 4.4 – 6. 2 4.5 – 8.3 6.0 – 7.6 6.8 – 8.4 8.0 – 9. 6 8.2 – 9.8 9.3 – 10.5 10.1 – 11.1 11.4 – 13.0

Thymol blue (axit) Methyl orange Bromcresol green Methyl red Litmus Bromthymol blue Phenol red Thymol blue (kiềm) Phenolphthalein

Không Đỏ màu Không Xanh Thymolphthalein màu dương Alizarin yellow Vàng Hoa cà Malachite green Xanh lá Không màu (kiềm) cây

Bằng cách sử dụng kết hợp từ 6 – 8 chất chỉ thị, ta có thể xác định khá chính xác giá trị pH. Dùng điện cực đo pH : Điện cực hydro : là điện cực chuẩn tuyệt đối để đo pH. Điện cực hydro là một bản platin được phủ platin xốp (bằng phương pháp điện phân) nhúng trong dung dịch có hydro đi qua với áp suất 1 atm. Thế của điện cực này bằng :

Sự thay đổi của thế điện cực trên một đơn vị pH được gọi là độ dốc (slope) của điện cực. Thay vào đó người ta dùng điện cực thủy tinh Điện cực thủy tinh : Khoảng năm 1925. pH của mẫu được xác định dựa theo đường chuẩn này. Giá trị pH này được gọi là điểm đẳng thế (isopotential point) và thế điện cực tương ứng được gọi là điểm không của điện cực. Thông thường các nhà sản xuất thiết kế điện cực sao cho điểm đẳng thế là pH 7. Điện cực thủy tinh thường được sử dụng kèm với một điệc cực qui chiếu (điện cực calomen).K) là hằng số khí T là nhiệt độ tuyệt đối F = 9. R = 8. Khi nhúng điện cực vào dung dịch. và sự trao đổi giữa ion Na+ và ion H+ tạo nên một lớp ion hydro trên bề mặt. Tuy nhiên. thế điện cực sinh ra thay đổi tuyến tính theo pH.104 là hằng số Faraday [H+] là nồng độ ion hydro trong dung dịch Theo phương trình này ta thấy thế điện cực tỷ lệ thuận với pH Trên thực tế người ta rất ít khi dùng điện cực hydro để đo pH vì sự phức tạp cũng như khả năng thích ứng của nó. . Người ta dựng đường chuẩn biểu diễn sự phụ thuộc của nó vào giá trị pH của các dung dịch đệm chuẩn. Độ dốc và điểm đẳng thế (hay điểm không) là hai thông số quyết định chất lượng của điện cực có còn tốt để sử dụng hay không. có tồn tại một giá trị pH mà thế điện cực không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ. Ở 25oC độ dốc của điện cực khoảng 60 mV. Việc sử dụng nó đã nhanh chóng trở thành phương pháp tiêu chuẩn để đo pH. mặt ngoài của bầu thủy tinh bị hydrat hóa.314 J/(mol. Ảnh hưởng của nhiệt độ lên phép đo pH phụ thuộc vào điện cực qui chiếu.649. Phần nhạy của điện cực là một bầu bằng thủy tinh có tính chất đặc biệt về thành phần cũng như độ dày. người ta khám phá ra một điện cực chế tạo bằng thủy tinh có thể sinh ra thế điện cực tỷ lệ với nồng độ ion hydro mà không bị ảnh hưởng bởi hầu hết các loại ion khác. hoặc loại điện cực kết hợp. Ở một nhiệt độ không đổi nào đó. pH của dung dịch bên trong điện cực và pH của dung dịch mẫu. Chất điện ly bên trong điện cực thường là dung dịch HCl có nồng độ cố định. Lớp ion này tương tác với các silicat tích điện âm tạo nên một thế điện cực tỷ lệ với nồng độ H+ trong dung dịch.0 và điểm không là 0 mV. Độ dốc của điện cực tăng theo nhiệt độ.trong đó.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->