I.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong đời sống hằng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn hình, muôn vẻ, con người dần dần nhận thức được tính trật tự và mối liên hệ lặp lại giữa các sự vật hiện tượng hình thành nên quy luật với tư cách là phạm trù sự liên hệ của các sự vật và các chính thể của chúng. Các quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy đều mang tính khách quan do con người không thể tạo ra hoặc xóa bỏ chúng mà chỉ nhận thức và vận dụng chúng vào thực tiễn. Quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn tới sự thay đổi về chất và ngược lại là một trong ba qui luật của phép biện chứng duy vật cho biết phương hướng tả khuynh và hữu khuynh. Ba tình huống thực tiễn về, tự nhiên, xã hội, tư duy sẽ cho thấy rõ hơn về sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và sau quá trình tích lũy đủ về lượng sẽ tạo ra chất mới và quay trở lại tác động đến lượng. II. NỘI DUNG A. Khái niệm cơ bản 1. Quy luật Khái niệm quy luật là một phạm trù dùng để chỉ mối liên hệ khách quan, bản chất lặp đi lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong một sự vật hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau. 2. Lượng Khái niệm lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật. 3. Chất khái niệm chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cái khác . 4. Độ Khái niệm về độ là phạm trù triết học dùng để chỉ mối quan hệ quy định lẫn nhau giữa chất và lượng làm cho sự vật vẫn là nó, biến thành sự vật khác
1

còn lượng là mặt biến đổi hơn. chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới. đồng thời cũng là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới. Mặc dù bất kì sự thay đổi về lượng nào cũng ảnh hưởng tới trạng thái tồn tại của sự vật. 6. NỘI DUNG CHÍNH Mọi hiện tượng đều là sự thống nhất giữa lượng và chất. sự thay đổi dần dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất của sự vật thông qua bước nhảy. chất mới ra đời thay thế cho sự vật cũ nhưng rồi những lượng mới này lại tiếp tục biến đổi đến điểm nút mới lại xảy ra bước nhảy mới. Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất Từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất. Quá trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng phát triển và biến đổi. Song. Mỗi sự vật. không phải sự thay đổi nào về lượng nào cũng dẫn tới sự thay đổi về chất ngay tức khắc. Như vậy lượng biến đổi đến điểm nút thì diễn ra bước nhảy. thì mới dẫn tới sự thay đổi về chất. Cứ như vậy quá trình vận động. Trong mối quan hệ giữa chất và lượng thì chất là mặt tương đối ổn định. phát triển của sự vật bao giờ cũng dẫn đến sự thay đổi về lượng. Sự vận động. hiện tượng đều là một thể thống nhất của hai mặt đối chất và lượng và chúng có quan hệ hữu cơ với nhau. Điểm nút -Khái niệm điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về lượng trước đó gây ra. Bước nhảy Là sự kết thúc một giai đoạn vận động phát triển. 5. là sự gián đoạn trong quá trình vận động. Chỉ khi nào lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định( điểm nút). B.chỉ khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa đủ làm thay đổi về chất của sự vật. phát triển của sự vật diễn ra theo cách thức từ những thay đổi về lượng dẫn đến 2 . sự thống nhất giữa chất và lượng tồn tại trong một độ nhất định khi sự vật còn là nó chưa trở thành cái khác. phát triển liên tục của sự vật.

libi. Hơi nước trong điều kiện bình thường (mặt nước không bị đóng băng) có xu hướng bốc lên khỏi mặt nước. đó là do khi còn là giọt nước trên mặt ao. con người quan sát bầu trời nhìn thấy những đám hơi nước này đã gọi chúng là đám mây.…hơi nước sẽ chuyển thành nước và 3 . Tình huống thứ nhất: lĩnh vực tự nhiên Trên mặt nước của tất cả các ao. nhưng nếu điều kiện có gió thì quá trình sẽ được xảy ra mạnh mẽ hơn. nhảy vọt trong sự vận động.tại những nơi này ban ngày lượng nước ngọt bốc hơi gần như hết. sông. phát triển Sự tác động trở lại của chất đối với lượng khi có chất mới sinh ra nó không tồn tại một cách thụ động mà có sự tác động trở lại đối với lượng được biểu hiện thêm với nó để có sự thống nhất giữa chất và lượng. suối. đó là quá trình thống nhất giữa tính tuần tự dẫn đến liên tục với tính gián đoạn. Sau khi nước bốc hơi khỏi bề mặt lên đến độ cao nhất định (khoảng ) hơi nước dần dần ngưng tụ lại thành từng đám. Khoảng từ 20 0C trở lên. cho đến khi nó tích tụ một lượng hơi nươc tối đa có thể. hồ.…). sự bốc hơi của nước ngày càng xảy ra mạnh mẽ hơn.hồ . sông. suối trên bề mặt trái đất. ở những nhiệt độ cao sự bốc hơi này có thể được nhìn thấy bằng mắt thường đặc biệt là ở những vùng quanh năm nắng nóng như sa mạc(sahara. biển…hơi nươc gặp nhiệt độ ở mặt thoáng bề mặt sẽ chuyển từ thể lỏng sang thể hơi. 1. nếu gặp điều kiện thuận lợi như nhiệt độ hạ xuống so với lúc trước. gió .sự thay đổi về chất một cách vô tận.)… quá trình này càng xảy ra nhanh chóng. hoang mạc(…. từ khoảng nhiệt độ này nước chuyển từ thể lỏng sang thể hơi nhanh hơn. Các đám mây hơi nước này được gió thổi qua nhiều nơi. lưọng nước bốc hơi rất ít do nhiệt độ thấp. Sự quy định này có thể được biểu hiện ở qui mô và mức độ phát triển của lượng. trong điều kiện bình thường luôn luôn xảy ra một quá trình: bay hơi nước. lượng nước xảy ra sự chuyển hóa từ thể lỏng sang thể hơi này tùy vào từng điều kiện cụ thể: khi nhiệt độ ở vào khoảng từ trên không độ C đến khoảng 200C thì quá trình bốc hơi lúc này diễn ra rất chậm.

Đó chính là sự thống nhất giữa chất và lượng. Mọi sự thay đổi của chất . Không chỉ là lượng hơi nước phải đủ ở một mức tối thiểu để có thể tạo thành không phải một giọt nước mà là nhiều giọt nước. mưa có rất nhiều lần kích thước đám mây thay đổi (sự thay đổi về lượng của đám mây) do sự tăng thêm hoặc giảm bớt của lượng hơi nước những không làm thay đổi bản chất của đám hơi nước đó(chất của đám mây).hiện tượng(đám mây hơi nước) vẫn còn là nó. nhiệt độ phải phù hợp tức là để tạo thành giọt nước thì đám mây đó phải có một nhiệt độ hạ xuống thấp hơn nhiệt độ trước đó…như vậy trong suốt quá trình hình thành mây. Bởi ở trong một giới hạn nhất định sự thay đổi về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi về chất. chưa chuyển hóa thành sự vật và hiện tượng khác( hơi nước chuyển thành giọt nước. biến đổi của sự vật. đủ để tạo thành một cơn mưa dù nhỏ hay lớn mà còn cần rất nhiều thứ nữa chẳng hạn như: gió để đưa những hơi nước lại gần nhau. hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi về lượng. Bất kì sự vật. tuy nhiên không phải sự thay đổi về lượng bất kì nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất. Khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng hơi nước chưa làm thay đổi chất của đám mây đó chính là độ. những đám mây được hình thành một cách biện chứng. Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng. quá trình đó phải xảy ra dần dần. sự vật. không có hơi 4 . tích lũy đủ nhiều yếu tố. Sự thay đổi về lương tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật hiện tượng.sự vận động.đó chính là sự chuyển hóa từ chất này sang chất khác. hình thành cơn mưa ).những giọt nước này lại rơi trở lại mặt đất. Kết thúc một chu trình của vòng tuần hoàn nước. bởi vậy trong giới hạn của độ(trong khoảng hôi tụ đầy đủ lượng). không phải cứ tập hợp một vài hơi nước nhỏ nhoi là đã đủ để tạo thành một đám mây tạo thành mưa. hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa 2 mặt chất và lượng. Nhưng đến một giới hạn khi mà đám mây hơi nước đó hội tụ đủ những yếu tố cần thiết cho quá trình chuyển hóa của mình thì đám hơi nước đó sẽ chuyển từ thể hơi sang thể lỏng và rơi xưống dưới dạng giọt. Muốn hình thành một cơn mưa dù nhỏ hay lớn đều phải bắt đầu từ những hơi nước nhỏ bé nhất.Trong quá trình tích tụ hơi nước để tạo thành một đám mây hơi nước như thế. hay nói cách khác độ chính là giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi.

Những thay đổi trong quy mô của một đám mây nhất thời không làm thay đổi chính nó nhưng chinh từ những sự thay đổi đó mà đã dẫn đến sự việc thực hiện bước nhảy.giới hạn cũ và giới hạn mới. Trong tình huống này bước nhảy là sự chuyển hóa của trạng thái của nước. Giới tự nhiên tồn tại khách quan. tiếp tục quá trình vận động và phát triển. Khi đạt tới điểm nút. vạch dấu giữa hai giới hạn. từ hơi sang thể lỏng – đó là bước nhảy toàn bộ đối với đám mây. Đi theo dòng chảy thời gian. mọi vật đều đang chuyển hóa. Những đám mây chuyển thành cơn mưa. dù quá trình tích lũy lượng có lâu đến đâu cũng sẽ tiến đến giới hạn của độ. hiện tượng. 5 .một giai đoạn vận động của một thành phần của tự nhiên nhưng đồng thời cũng bắt đầu một quá trình. Giới hạn khác của của một đám mây hơi nước chính là khi nó hội tụ đủ những yếu tố cần thiết như lượng hơi nước. một giai đoạn vận động khác của nó. chất này đã chuyển thành chất khác. từng thành phần trong đó cũng luôn luôn phát triển theo những quy luật riêng của chính mình bên cạnh những quy luật của cả giới tự nhiên trong suốt lịch sử phát triển thế giới. kết thúc một quá trình. luôn không ngừng vận động tiến hóa mới. những hạt mưa rơi xuống. Đó là sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật. Thời điểm mây chuyển thành một cơn mưa đó hay khoảnh khắc chất này chuyển hóa thành chất khác chính là điểm nút.nước đầu tiên sẽ không có nhưng hơi nước tiếp theo. phát triển mình từ những mâu thuẫn nội tại bên trong dưới sự tác động của các yếu tố bên ngoài. Từ những thay đổi trong những bước nhảy cục bộ như vậy dần dần giới tự nhiên đã biến đổi dần dần. đánh dấu một thời kì mới. hơi nước chuyển thành mưa. Điểm nút là khoảnh khắc của mỗi giới hạn là điều mà mỗi quá trình vận động và phát triển đều sẽ tiến tới. nhiệt độ. nó đã thực hiện một bước nhảy với những điều kiện nhất định tất yếu. nhưng chỉ là một bước nhảy cục bộ trong toàn giới tự nhiên mà thôi. một bước nhảy lớn với chính nó. phát triển bằng cách tích lũy những lượng cần thiết để đạt tới điểm nút của mình. Đó là điều tất nhiên của tự nhiên. vượt qua nó để chuyển hóa thành chất khác. Trong tự nhiên có vô vàn những hiện tựợng tự nhiên khác nhau nhưng tất cả đều đang vận động. thực hiện bước nhảy chuyển hóa. gió…khi đó đám mây đó sẽ chuyển thành một cơn mưa.

kìm hãm quá trình phát triển . Trong đó. chủ chương. chuyển hóa của tất cả tự nhiên. cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một điển hình. lực lượng…còn yếu tố “chất” là những 6 .Một khi chưa tích lũy đủ thì không thể tạo thành cơn mưa làm mát mà chỉ tạo nên hi vọng vô nghĩa về cơn mưa thôi. lớn thì phải đuợc hợp thành từ càng nhiều dòng suối nhỏ hơn. nhưng nếu đã đủ lượng mà không thực hiện “bước nhảy” thì sẽ uổng phí và làm ảnh hưởng đến những quá trình khác. Tất cả các thành phần trong tự nhiên đều có sự vận động. là những chặng đường phát triển của cách mạng Việt nam. hiện tượng. đến một mức đủ lớn để trở thành dòng sông. dần dần trong quá trìng sinh trưởng trong quá trình đồng hóa chúng lại phân giải để tạo ra ngăng lượng nhằm nuôi sống cái cây đó và để lớn lên.từ những kỉ nguyên cổ đại với các rừng quyết và dương xỉ khổng lồ đến những rừng cây như hiện nay. đường lối cách mạng. tổng hợp xenlulozơ. phát triển dù với mức độ khác nhau(nhanh. Tự nhiên khởi nguồn của mọi sự vật. tất cả các sự vật đều phải trải qua quá trình tích lũy(quá trình thay đổi về lượng) như: cây cối tích lũy năng lưọng qua quá trình quang hợp. Có thể thấy. Muốn tạo được những cơn mư thì phải biết quý từng giọt nước. Tình huống thứ 2: lĩnh vực xã hội Một tình huống nữa trong lĩnh vực xã hội thể hiện rất rõ nét “Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại”. hẹp) … Trong những điều kiện khác nhau thì mỗi sự vật có sự chuyển hóa riêng của chính mình nhưng để có thể chuyển hóa hay phát triển trong thế giới. Quá trình từ sự thay đổi về lượng dẫn đến quá trình thay đổi về chất không chỉ xảy ra trong tự nhiên mà nó còn xảy ra trong cả xã hội và tư duy. trong các cuộc cách mạng thì yếu tố “lượng” chính là thời cơ. muốn rừng cây che bóng mát thì phải biết quý từng mầm cây. từ cây sinh sản đơn bào đến những loại cây có quy trình phát triển phức tạp và đa dạng như hiện nay. toàn bộ. lớn . chậm).. trở thành câylớn hơn hoặc ra hoa tạo quả…hoặc dòng sông muốn trở nên to. Quá trình phát triển của tự nhiên đã đúc rút cho chúng ta những điều thật giản đơn về hình thức nhưng ẩn chứa bên trong là những điều cực kì quan trọng.. quy mô khác nhau(cục bộ. 2.

khu căn cứ Cao – Bắc – Lạng (Việt Bắc) …. chưa đánh giá đúng khả năng cách mạng của một bộ phận tư sản dân tộc. Phát xít Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện. tình hình thế giới có nhiều thay đổi. binh biến Đô Lương…đều chưa giành được thắng lợi. các phong trào cách mạng như khởi nghĩa Nam Kì. sự vật. chưa chuyển hóa thành sự vật. thắng lợi mà cuộc cách mạng đó đạt được. và cao trào kháng Nhật cứu nước 1939-1945…. quá trình tích lũy về lượng chưa đủ để làm thay đổi về chất. Khi “thời cơ ngày năm có một” đã đến thì tức là cuộc cách mạng đã đạt đến “điểm nút”. xây dựng các lực lượng chính trị. tức là chỉ dừng lại ở mức độ chuẩn bị về tổ chức. đấu tranh rút ra bài học kinh nghiệm. vấn đề giải phóng dân tộc vẫn chưa được đặt lên hàng đầu. ở một giới hạn nhất định mà tại đó sự thay đổi về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi căn bản về chất của sự vật thì được gọi là “độ”. tổ chức lực lượng còn hạn chế…. hiện tượng vẫn còn là nó. vẫn chưa đi đến thắng lợi một cách hoàn toàn. đề ra hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ. trong suốt 15 năm ấy. cuộc vận động dân chủ 1936-1939. Tuy nhiên. trong giới hạn độ.kết quả. Đầu tháng 8 năm 1945. Trong mối quan hệ giữa lượng và chất ấy. tất yếu sẽ đưa đến sự thay đổi về chất. cách mạng nước ta mặc dù xuất hiện rất nhiều các phong trào yêu nước như “phong trào 1930-1931” với đỉnh cao là Xô Viết . 7 . căn cứ địa cách mạng. các cuộc khởi nghĩa lần lượt đi tới thất bại. Nói tóm lại. Có thể nói đây là sự chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa.Nghệ Tĩnh. Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định – “điểm nút”. Như vậy. Vì thế Đảng ta quyết định thực hiện “bước nhảy”. Trong khoảng 15 năm (từ năm 1930 đến khoảng đầu năm 1945). đang còn nặng về đấu tranh giai cấp. đường lối cách mạng của Đảng chưa thật sự phù hợp với điều kiện. Do đó. hoàn cảnh lịch sử cụ thể của dân tộc. lực lượng vũ trang … như khu căn cứ Bắc Sơn – Võ Nhai. trong nước. hiện tượng khác. Đảng ta xác định nhiệm vụ hàng đầu là tập trung đánh đuổi kẻ thù còn lại trước mắt – phát xít Nhật. tuy nhiên. hay cũng chính là sự tích lũy về “lượng”. Đảng Cộng Sản Đông Dương lãnh đạo đấu tranh cách mạng. Nhật tiến hành đảo chính Pháp.

quân dân các tỉnh đã chủ động đứng dậy đấu tranh. Huế (23/8/2945) và Sài Gòn (25/8/1945)…. nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật. Hải Dương. là sự gián đoạn trong quá trình vận động. xây dựng lực lượng mạnh. nhận thức được vai trò to lớn của Đảng đối với cách mạng…. Tuy thế. sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất. chống đế quốc Mĩ sau này của dân tộc. Bắc Giang…. Đồng thời. Quảng Nam. hiện tượng. phát triển. quá trình này diễn ra nhanh. mở ra một kỷ nguyên mới. Còn ở các thành phố lớn Hà Nội (19/8/1945). thành lập nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Chính sự tác động của “chất” đã tạo nên sự thay đổi cơ bản về “lượng”. sự tác động đó được thể hiện bằng nhiều cách. trên nhiều phương diện như làm thay đổi kết cấu.. Cách mạng Tháng Tám thành công là tiền đề cho sự thành công của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. vẫn còn một số địa phương chưa được giải phóng do lực lượng chiếm đóng của Quốc Dân Đảng. tính chất và điều kiện của mỗi sự vật. sáng tạo. có trang bị vũ khí. đó cũng là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới. thời gian nổi dậy giành chính quyền của quân và dân các địa phương trong cả nước là không đồng nhất vì những khó khăn trong việc liên lạc.Quy mô cách mạng ngày càng được mở rộng. tinh nhuệ. Vận dụng chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” cùng với việc căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương mình. Bốn tỉnh giành được chính quyền sớm nhất là: Hà Tĩnh. kỷ nguyên độc lập – tự do – dân chủ. Cách mạng Tháng Tám thành công đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam.vào ngày 14/8. Sự thay đổi về chất diễn ra với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau. mạnh. cùng hòa chung với khí thế sục sôi của cả nước. Bước nhảy là một sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật hiện tượng. Đối chiếu với Cách mạng Tháng Tám. Khi chất mới ra đời sẽ có sự tác động trở lại “lượng”. Đảng đã xác định được đường lối lãnh đạo đúng đắn. Sau “bước nhảy”. Nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Bằng chứng là chiến 8 .“Bước nhảy” là sự kết thúc một giai đoạn vận động. được quyết định bởi mâu thuẫn. quy mô. phát triển liên tục của sự vật. trình độ. rầm rộ hơn.

tìm ra những mối liên hệ. khi nhận định rằng thời cơ đã chín muồi. Chúng ta không thể tách rời lượng và chất. Bắc Nam xum họp một nhà. thống nhất đất nước. sự vật được vận động và phát triển theo đúng quy luật của chúng. là sự phản ánh những tính chung và bản chất. Đảng phát động nhân dân cả nước cùng đứng lên đấu tranh giải phóng miền Nam. chất mới ra đời lại có sự tác động trở lại lượng. tiêu cực. 9 .1985). làm nảy sinh chất mới. Tình huống thứ 3: lĩnh vực tư duy a) Khái niệm Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một gián tiếp. và thời cơ cũng đã đến. Nhiệm vụ thiết yếu và cấp bách nhất lúc này là tập trung xây dựng kinh tế. b) Tình huống thực tiễn của tư duy: Đó là chính sách của nhà nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giai đoạn (1976. Mối quan hệ đó bất biến và không thể bị phủ nhận hay thay đổi bởi bất cứ lý do gì. Khi lực lượng.  Quá trình thay đổi tư duy về lượng dẫn đến quá trình thay đổi tư duy về chất. hai yếu tố đó có tác động chuyển hóa làm cho hiện tượng. Đây có thể được coi là sự tiếp tục tích lũy về “lượng” cho đến mùa xuân 1975. Cách mạng Việt Nam thắng lợi là kết quả tất yếu mà mối quan hệ chặt chẽ giữa lượng và chất đem lại. miền Bắc được giải phóng. lãng phí (làm tiêu hao năng lượng và mất thời gian của hiện tại). Sau đại thắng mùa xuân năm 1975. Đại hội IV của Đảng đã qui định phương hướng vạch ra đường lối. có nhiều loại tư duy như: tích cực. tổ chức cách mạng đã trưởng thành hơn.chấn động địa cầu”(1954). tổ chức lại nền kinh tế. đất nước ta được thống nhất. quan hệ có tính qui luật của sự vật mà ta chưa từng biết. 3.thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu. tức là cách mạng đã đạt tới giai đoạn phát triển đỉnh cao và giành thắng lợi. khôi phục hàn gắn vết thương chiến tranh. là khái quát. xây dựng một bước nền xã hội chủ nghĩa (XHCN) đặt nền móng cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đât nươc. Sự tích lũy làm thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất.

v. Kinh tế quốc doanh. phải nằm trong diện phải cải tạo ra mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất hay nói cách khác. các thành phần kinh tế tư nhân . Tuy nhiên lại không làm thay đổi tư duy căn bản về tính chất của nền kinh tế. cải tạo XHCN ở miền Nam thống nhất nên kinh tế theo mô hình chung trên phạm vi cả nước. Với tư duy tất cả thành phần kinh tế đều đi vào tập thể như: trong nông nghiệp phong trào hợp tác hóa nông nghiệp càng trở nên sôi động. • Trong việc xây dựng nền kinh tế sau chiến tranh. các xí nghiệp tư bản mại bản và tư sản bỏ chạy ra nước ngoài…v. không đưa đất nước đi lên mà lại làm cho nền kinh tế thụt lùi. trong tư duy lý luận thì độ chỉ tính qui định. chỉ tính qui định. Mọi thành phần kinh tế khác bị coi là bộ phận đối lập với kinh tế XHCN. mối liên hệ thống nhất giữa tư duy về chất và tư duy về lượng. lực lượng sản xuất của chúng ta còn quá thấp kém. Vì vậy. kinh tế cá thể đang phát triển trong thể chế kinh tế cũ bị hạn chế. đối với tư sản vừa và nhỏ. tuy nhiên những thành tựu về kinh tế còn thấp so với yêu cầu đề ra cho kế hoạch thậm chí có những điểm không phù hợp cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đảng và nhà nước ta chủ trương cải tạo bằng con đường thành lập các xí nghiệp công tư hợp doanh. hiện tượng. Chúng ta đã nóng vội và nhất loạt xây dựng quan hệ sản xuất một thành phần dựa trên cơ sở công hữu XHCN về tư liệu sản xuất. chưa tích lũy đủ tư duy về lượng (tổ chức và trình độ) đã 10 . là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi tư duy về lượng chưa làm thay đổi căn bản tư duy về chất của sự vật hiện tượng. chúng ta đã tiến hành củng cố quan hệ sản xuất XHCN ở miền Bắc. vì thế. thủ tiêu. là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật. mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng. kinh tế tập thể ngày càng được mở rộng.Nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu trên. trong công nghiệp nhà nước đã quốc hữu hóa và chuyển thành quốc doanh của tất cả các xí nghiệp công quản. trong thương nghiệp hàng nghìn cơ sở kinh doanh của tư sản thương nghiệp được chuyển giao cho thương nghiệp quốc doanh quản lý và sử dụng. Kết quả là trên mặt trận kinh tế nhân dân ta đã nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh. Tiểu chủ được đưa vào hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp. Độ: như ta đã biết. ta chủ trương chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp snag nền kinh tế thị trường XHCN. khôi phục kinh tế ổn định sản xuất và đời sống.

tiền tệ không ổn định nên lạm phát diễn ra nghiêm trọng. đặt cơ sở cho quá trình đổi mới căn bản sau này.vội vã thay đổi về chất( quan hệ sản xuất XHCN). Đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội. thi trường trong nước với thị trường quốc tế trên nguyên tắc đảm bảo độc lập chủ quyền dân tộc an ninh quốc gia. + Tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế coi đây là động lực chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế trong kế hoạch 5 năm (1986 . Đảng cộng sản Việt Nam nhận thấy phải có sự điều chỉnh nhất định trong đường lối chính sách kinh tế của mình.1990) + Chuyển từ cơ sở kinh tế đóng kín sang cơ sở kinh tế mở cửa đa dạng hóa thị trường rừng bước gắn liền nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới. Để thực hiện mục tiêu đó. Đại hội đà chỉ ra nhiều nguyên nhân căn bản đã dẫn đến khủng hoảng kinh tế trong xã hội và trên cơ sở đó. hàng xuất khẩu. • Điểm nút: do khủng hoảng kinh tế cùng với kinh nghiệm khắc phục sai lầm của khoa học kinh tế giai đoạn (1976 – 1980). Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam 1986 đã đáp ứng được yêu cầu đó và đi vào lịch sử như một “đại hội mở đầu cho thời kì đổi mới ở Việt Nam. Trước hết là đổi mới tư duy kinh tế với nội dung chủ yếu: + Điều chỉnh lại cơ cấu đời tư theo hướng tập trung cho ba chương trình mục tiêu: lương thực. + Thực hiện chính sách kiểm tra nhiều thành phần nhằm giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất. 11 . Đại hội cũng xác định công cuộc xây dựng XHCN ở nước ta phải trải qua nhiều chặng đường nhiệm vụ bao trùm. Cùng với tình hình sản xuất chậm và những sai lầm trong lưu thông. đại hội đã đưa ra những quan điểm đổi mới. thực phẩm. đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. hàng tiêu dùng. Đó chính là điểm nút để tạo ra một chất mới tạo ra bước nhảy chính là sự khởi đầu của quá trình điều chỉnh. đại hội đề xướng chủ trương đổi mới đường lối xây dựng CNXH trong thời kì quá độ của nước ta. mục tiêu chặng đường tiếp theo. phân phối thị trường tài chính.

Bên cạnh đó còn có thành phần kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa. Đổi mới cơ chế quản lý. Cùng với kinh tế tập thể là hai thành phần kinh tế XHCN. muốn cho sự vật phát triển phải tích góp về lượng. tư duy về chất mới lại tác động trở lại tư duy về lượng. Phát huy quyền tự chủ năng động trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như của người lao động trong sản xuất kinh doanh của công nghiệp cũng như của người lao động . đồng thời. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Như vậy. Nhiều quan điểm nêu trên đánh dấu tự đổi mới quan trọng về tư duy kinh tế. kinh tế tư bản tư nhân vận động theo cơ chế tập thể có sự quản lý của nàh nước theo định hướng XHCN. Vì thế. phải khắc phục bệnh tả khuynh và hữu khuynh. chủ động của chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách có hiệu quả nhất.Tự do hóa lưu thông và cơ chế giá thị trường đã làm thay đổi căn bản phương thức kinh doanh của các cơ sở thương nghiệp từ kiểu bao cấp sang kinhdoanh theo cơ chế tập tung bao cấp => Công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế mới đạt được những kết quả bước đầu nhưng có tác dụng hết sức to lớn trong việc xóa bỏ những cản trở đã gây nên nhiều ách tắc.  Sau khi tạo ra tư duy về chất mới. trong nhận thức thực tiễn phải tôn trọng cả hai mặt chất và lượng của sự vật. III.Mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho các xí nghiệp quốc doanh. . kinh tế trở thành nội dung quan trọng nhằm đưa kinh tế thoát ra khỏi khủng hoảng . từ ba tình huống thực tiễn về tự nhiên. phải biết vận dụng nhiều hình thức bước nhảy khác nhau cho từng tình huống cụ thể. xã hội và tư duy đã cho ta hiểu hơn về sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và sau khi chất mới được tạo ra nó lại tác động trở lại. mở ra thời kì đổi mới căn bản và đồng bộ ở Việt Nam. Cần phải nâng cao tính tích cực.Chủ trương đường lối được đề ra từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI chuyển dần sang nền kinh tế nhiều thành phần vẫn là chủ đạo. trì trệ trong sản xuất kinh doanh suốt mấy chục năm bao cấp. 12 .

13 .

tr 14 .