P. 1
Thuoc Bao Ve Thuc Vat

Thuoc Bao Ve Thuc Vat

|Views: 304|Likes:
Được xuất bản bởiLittle Corner

More info:

Published by: Little Corner on Jan 05, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOCX, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

12/25/2013

pdf

text

original

Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp I.

Mở đầu Đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩm cho con người. Nhưng với nhịp độ gia tăng dân số, tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người giảm. Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các tác nhân gây ô nhiễm. Đất bị ô nhiễm có chứa một số độc tố, chất có hại cho cây trồng vượt quá nồng độ đã được quy định như nồng độ thuốc trừ sâu, phân hóa học, kim loại nặng quá mức quy định của Tổ chức Y tế thế giới. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, nhiều đô thị và thành phố cũng được hình thành thì tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Khói thải từ các nhà máy và các xe cơ giới làm ô nhiễm bầu không khí. Nước thải từ các nhà máy và các khu dân cư đô thị làm ô nhiễm nguồn nước. Khi không khí và nước bị ô nhiễm thì đất cũng bị ô nhiễm. Ô nhiễm đất không những làm giảm khả năng sản xuất của đất mà từ đó còn ảnh hưởng đến thực vật, động vật và con người. Ô nhiễm đất còn làm ảnh hưởng đến các môi trường khác như nước ngầm, nước mặt, không khí. Ví dụ: một số chất ô nhiễm có tính hòa tan trong nước, thấm xuống nước ngầm hoặc có thể bị dòng nước di chuyển đi nơi khác tạo nên sự ô nhiễm nước trên bề mặt đất. Gió thổi có thể chuyển chất ô nhiễm đi xa làm cho diện tích ô nhiễm mở rộng hơn. Bởi vậy, ô nhiễm đất cũng có thể trở thành nguồn ô nhiễm đối với nước và không khí. Nông nghiệp hiện đại ngày nay đã vượt ra khỏi ngành sản xuất nông nghiệp truyền thống, vốn chủ yếu tạo ra lương thực, thực phẩm cho con người và làm thức ăn cho động vật. Thế kỷ XX đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sự cơ giới hóa và ngành sinh hóa trong nông nghiệp. Chúng ta đã và đang sử dụng ngày càng nhiều các loại thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ và một số phân hóa học, một số trong các loại hóa chất đó cũng có thể gây ô nhiễm đất. Hàm lượng các chất độc hại đó tích lũy trong đất tới mức độ nào đó sẽ gây hại cho cây trồng và vi sinh vật đất, từ đó phá vỡ cân bằng sinh thái giữa đất và các hệ sinh thái khác. II. Nội dung A. Phân bón 1. Giới thiệu chung về phân bón Nông nghiệp hiện nay phải sản xuất một lượng lớn thức ăn không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn phục vụ việc xuất khẩu. Trong khi đó, diện tích đất trồng trọt tính theo đầu người ngày càng giảm do dân số gia tăng và cũng vì sự phát triển thành phố, kỹ nghệ và việc sử dụng cho những mục đích phi nông nghiệp. Do đó, người ta cần phải thâm canh mạnh hơn, dẫn tới việc làm xáo trộn dòng năng lượng và chu trình vật chất trong hệ sinh thái nông nghiệp. Một trong các biện pháp thâm canh được sử dụng nhiều nhất là tăng cường sử dụng các loại phân bón để thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển của thực vật. Phân bón được đưa vào đất có tác dụng trực tiếp cải thiện dinh dưỡng của cây trồng và cải thiện độ phì nhiêu của đất. Phân bón được chia làm hai nhóm chính: – Nhóm phân khoáng: bao gồm phân N, P, K, Mg, phân Bo, Mo và phân hỗn hợp.

1

Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp

Hình 1: Phân khoảng (phân vô cơ) – Nhóm phân hữu cơ: bao gồm phân chuồng, phân bắc, phân than bùn, phân xanh và phân rác.

Hình 2: Mô hình ủ phân hữu cơ từ bùn và phế phẩm Một số nguồn nguyên liệu dùng làm phân bón hữu cơ: – Rác ủ hoai mục: Rác sinh hoạt sau khi loại bỏ những vật rắn như sành sỏi, thủy tinh, kim loại, ni lông… có thể ủ cho mục để làm phân bón. – Phân xanh: một số cây và cỏ dại có hàm lượng dinh dưỡng cao có thể ủ cho hoai mục để làm phân bón. – Bã đậu phộng, đậu nành, hạt bông vải có hàm lượng dinh dưỡng cao. – Bột máu động vật, bột xương, phế phẩm từ các lò mổ, các nhà máy chế biến đồ hộp… là những nguồn nguyên liệu có hàm lượng dinh dưỡng cao có thể xử lý để làm phân bón hữu cơ. 2

Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp – Phân chuồng: Các nguồn phân thải từ gia súc, gia cầm phần lớn có hàm lượng dinh dưỡng cao nên là một trong những nguyên liệu chủ yếu được dùng làm phân bón hữu cơ. Tuy nhiên nên lưu ý đến cách ủ cho hoai mục cần thiết phải loại bỏ được mầm bệnh thường có trong phân chuồng. – Mạt cưa: Có thể dùng làm phân hữu cơ nhưng phải ủ cho hoai trước khi đưa xuống đất để tránh hiện tượng tranh thủ đạm của cây trồng trong quá trình phân hủy. Về ý nghĩa dinh dưỡng, phân bón được chia thành phân có tác dụng trực tiếp cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây và phân bón có tác dụng gián tiếp được sử dụng để cải thiện tính chất đất (vôi). Thực tiễn ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới cho thấy, phân bón đóng góp vào việc tăng tổng sản lượng hơn nhiều so với tăng diện tích và tăng vụ. Kết quả theo dõi nhiều năm ở Việt Nam cũng cho thấy, cứ bón 1kg N sẽ bội thu từ 10 – 15kg thóc. Các loại phân được sử dụng nhiều nhất là: – Phân đạm: cung cấp N cho cây trồng nhằm kích thích quá trình sinh sản của cây, làm cho cây phát triển nhanh và cho nhiều củ/quả. Các loại phân đạm hay dùng gồm: Phân đạm amoni (là các muối của NH4+), phân ure (NH2)2CO, phân nitrat (là các muối của NO3-) – Phân lân: cung cấp P cho cây trồng dưới dạng (PO4)3-. Phân lân có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh hóa ở thời kì sinh trưởng của cây, làm cho cành lá khỏe, chắc hạt. Các loại phân lân phổ biến là supephotphat đơn (chứa 14 – 20% P2O5, hỗn hợp gồm Ca(H2PO4)2 và Ca SO4) và supephotphat kép (chứa 40 – 50% P2O5 với thành phần là Ca(H2PO4)2). – Phân Kali: cung cấp cho cây nguyên tố K dưới dạng K+, thành phần chủ yếu là KCl và K2SO4. Phân Kali giúp cây trồng tăng cường sức chống bệnh, chống rét, chịu hạn và giúp cây hấp thu nhiều đạm hơn.

Hình 3: Một số loại phân bón hóa học (từ trái qua): 1. Phân đạm 2. Phân lân 3. Phân Kali 4. Phân tổng hợp

3

a.trong đất giảm nhiều sau một năm canh tác. Ðặc biệt các đất có chứa nhiều hydromica sự hấp phụ và cố định kali càng mạnh. ngoài phần cây trồng sử dụng. Kali tồn lưu này có thể tồn tại ở trong đất dưới các dạng khác nhau tuỳ thuộc vào lượng tồn dư và loại đất. Ðây chính là lý do tại sao hàm lượng lân tổng số trong một số loại đất tăng lên nhiều trong những năm gần đây do bón phân lân liên tục. – Ðối với phân đạm: phần lớn phân đạm dễ tan. Tồn dư của kali trong đất không gây độc cho đất và môi trường. trong điều kiện oxi hoá NH4+ dễ dàng bị nitrat hoá để hình thành NO3-. ví dụ sự điện ly của amonisunphat : (NH4)2SO4 ⇌ 2NH4+ + SO424 . NH4+ được keo đất giữ. Khác với lân. Phần lớn kali tồn lưu được keo đất hấp phụ ở dạng kali trao đổi hoặc kali nằm sâu trong khe hở giữa các lớp tinh thể của keo sét. Một phần kali tồn lưu có thể hoà tan tồn tại trong nước. Al và Fe. phần kali này dễ bị rửa trôi khỏi đất hoặc dễ dàng được cây hấp thụ. một phần P bị giữ chặt do hấp phụ lý hoá học bởi các keo dương. Sự tồn lưu của phân bón trong đất Khi bón phân vào đất có 5 quá trình sau xảy ra: – Thực vật và động vật hấp thụ – Đất giữ lại – Rửa trôi và mất chất dinh dưỡng do tiêu nước – Mất dinh dưỡng do bốc hơi vào khi quyển – Mất ở dạng rắn theo bề mặt xói mòn và rửa trôi. Sự tồn lưu của phân bón trong đất khác nhau tuỳ thuộc loại phân sử dụng. phân lân ít bị mất đi trong quá trình sử dụng. Ngoài phần P cây hút và một phần nhỏ dễ hoà tan bị mất đi theo dòng chảy. phân kali dễ tan hơn.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Hình 4: Phương pháp bón phân và sự xuyên thấm của phân vào tầng đất a. – Ðối với phân lân: khác với phân đạm.ít được keo đất giữ và sự hấp phụ hoá học xảy ra với ion này rất yếu nên quá trình rửa trôi theo nước mặt và thấm sâu. Ngoài ra. phần còn lại trong đất tham gia vào các quá trình chuyển hoá khác nhau trong đất và được giữ lại chủ yếu ở dạng NO3-và NH4+. phần lớn lân tồn tại ở trong đất ở dạng các hợp chất khó tan với Ca. Tồn dư của P trong đất tuy không ảnh hưởng xấu đến môi trường. Tuy nhiên do NO3. nhưng sự cố định lân quá mạnh của một số loại đất làm giảm hiệu suất sử dụng của phân lân. cộng với quá trình phản nitrat hoá làm hàm lượng NO3. – Ðối với phân Kali: Khác với phân lân. kali sau khi được đất hấp phụ hoặc cố định trong các khe hở của keo sét có thể chuyển thành kali dễ hoà tan và kali trao đổi để cung cấp cho cây. trong điều kiện đất vùng nhiệt đới chua nhiều. Sự chuyển hóa của phân bón trong đất Phân bón trong đất chịu tác động của những chuyển hoá chính sau: – Quá trình điện ly.

Hình 5: Cơ câu từng loại phân bón 5 .5 triệu tấn/năm.→ NO → N2O → N2 – Quá trình hấp phụ trao đổi.+ H2O – Quá trình thuỷ phân. Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón ở Việt Nam Hiện nay. tuy nhiên đây cũng là một khoản chi phí tương đối lớn. Việt Nam mới sử dụng phân bón ở mức 2% trong chi phí đầu vào của sản xuất nông nghiệp. phân vô cơ vẫn được sử dụng khá nhiều nhờ vào ưu thế về chi phí và những hiệu quả nhanh chóng tác động lên cây trồng. Nhu cầu phân bón hằng năm của Việt Nam khoảng 7.+ Q – Quá trình phản nitrat hoá NO3.3 triệu tấn/năm. nhưng còn thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc. phân lân 1. Tuy nhiên thì ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. ở các nước phát triển lượng phân bón hóa học sử dụng có xu hướng giảm xuống thay vào đó là các loại phân vi sinh để bảo vệ môi trường. xấp xỉ mức trung bình của thế giới. ví dụ sự hoà tan của superphosphat Ca(H2PO4)2 + H2O → Ca2++ 2H2PO4. Tuy nhiên ở một số vùng thâm canh tăng vụ cao thì lượng phân bón có thể được sử dụng nhiều hơn.→ NO2.+ 4H+ + 2H2O + Q Nitronomonas 2NO2. Nhật Bản và Trung Quốc. kế đến là phân Urê 2 triệu tấn năm.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp – Quá trình hoà tan.+ O2 2NO3. ví dụ sự hấp phụ trao đổi kali – Quá trình kết tủa Ca(H2PO4)2 + Ca(HCO3)2 → 2CaHPO4 + 2H2CO3 1.5 – 8 triệu tấn phân bón các loại trong đó loại phân NPK có nhu cầu cao nhất khoảng 2. ví dụ sự thuỷ phân ure để hình thành NH3 CO(NH2)2 + 2H2O ⇌ (NH4)2CO3 (NH4)2CO3 ⇌ 2NH4+ + CO32– Quá trình nitrat hoá Nitrosomonas 2NH4+ + 3O2 2NO2. So với các nước sử dụng nhiều phân bón trên thế giới. Năm 1997 đã bón 126.1 kg/ha.

8: 0.61: 0. SA.0: 0.5 kg/ha (tỷ lệ N: P2O5: K2O = 1. DAP đang có xu hướng sử dụng tăng lên còn phân Urê đang có chiều hướng giảm trong cơ cấu phân bón sử dụng của nước ta hằng năm. Tại Việt Nam. Nếu tính trên mỗi ha: năm 1970 tổng lượng N-P-K đã bón 51.0: 0. bình quân năm từ 1976 . So với bình quân thế giới vào thời gian ấy là 95.24). Tuy nhiên.5 kg/ha (tỷ lệ N: P2O5: K2O = 1.7 kg/ha (tỷ lệ N: P2O5: K2O=1. Ở trung du và miền núi lại càng thấp. kế đến là phân lân cuối cùng là phân kali. Hình 6: Giá trị nhập khẩu phân bón giai đoạn 2001 – 2007 Do lượng sử dụng nhiều nên các loại phân chứa các nguyên tố đa lượng chiếm hầu như toàn bộ lượng phân bón sử dụng và cũng được đề cập nhiều nhất khi nói về ngành phân bón.0: 0.15). Trong nhóm phân đa lượng . giá trị nhập khẩu phân bón có tốc độ tăng khá mạnh. cả nước nhập về 2. trong những năm gần đây. lượng phân bón có giảm so với trước là nhờ khả năng sản xuất phân bón trong nước đã thay thế được một phần lượng phân bón nhập khẩu.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Nhập khẩu vẫn đóng vai trò lớn trong việc đảm bảo nguồn cung trong nước. K còn rất thấp.64 triệu tấn phân bón các loại nhưng giá trị tăng đến 102. Nhìn qua số liệu về nhập khẩu phân bón từ năm 2001 đến nay có thể thấy xu hướng chung là tăng.35) thì mức bón và lượng P. cây trồng cần nhiều kali hơn đạm hay lân nhưng do trong đất đã có tương đối nhiều K hơn N và P nên lượng nhu cầu phân Kali thấp hơn hai loại còn lại. bình quân từ năm 1981 .36: 0.29: 0. Vì vậy. Mặc dù xét về mức độ cần thiết. xu thế sử dụng phân bón cũng có khá nhiều thay đổi.07). Do yêu cầu cần bổ sung đồng bộ các chất dinh dưỡng cho cây nên người nông dân đã chuyển sang sử dụng phân tổng hợp thay cho phân đơn.1985 đã bón 62. Nhất là trong 9 tháng đầu năm 2008. Từ năm 2005. 6 .0: 0. phân đạm có lượng sử dụng cao nhất. phân NPK.5% so với cùng kỳ năm 2007.3 kg/ha (tỷ lệ N: P2O5: K2O = 1.1980 đã bón 36.

Các loại phân khoáng được sử dụng rất nhiều với lượng sử dụng cao gấp nhiều lần so với lượng khuyến cáo. những sản phẩm phân bón nào đã khẳng định được uy tín về chất lượng sẽ được tiêu thụ nhiều ở thị trường phía Nam. phân trung lượng – vi lượng và các loại phân khác. Hiện tượng xảy ra là: đất bị chua hóa. Do đó chúng chứa nhiều tạp chất kim loại và á kim độc và ít di động trong đất .Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Hình 7: Bón phân cho lúa tại Việt Nam Phía Nam là thị trường tiêu thụ phân bón nhiều nhất nên số lượng các doanh nghiệp tại thị trường này cũng nhiều hơn ở phía Bắc. phân hữu cơ sinh học và phân hữu cơ khoáng đang là vấn đề nổi cộm và cũng góp phần làm ô nhiễm môi trường. trong đó 2/3 được dùng bón cho cây trồng gây ô nhiễm môi trường đất và nông sản. có sự tích đọng nitrat. Yếu tố cạnh tranh tại hai thị trường này khá khác nhau. Bên cạnh phân bón hóa học. bao gồm: Phân đơn. Ở thị trường miền Nam. kết cấu đất kém đi. phân hữu cơ – khoáng. Huyện Từ Liêm nhiều hộ nông dân đã phải dùng phân Bắc tưới với liều lượng 7 – 12 tấn / ha. hầm lượng các chất vôi giảm. phân vi sinh. kim loại nặng ở một số vùng. amoni. nông dân cũng sử dụng lượng lớn phân hữu cơ. Ở Việt Nam hiện có khoảng hơn 100 doanh nghiệp đầu mối và các thành phần kinh tế tham gia vào mạng lưới sản xuất. Việc sử dụng phân bón tràn lan cũng đã làm xuất hiện các mặt trái về vấn đề môi trường. kinh doanh và tiêu thụ phân bón. Đây cũng là một phần lý do tại sao tình trạng phân bón giả xảy ra khá thường xuyên tại khu vực phía Bắc. Điều tra khảo sát tại Lâm Đồng cho thấy mức sử dụng thường cao hơn từ 30 – 40%. các sản phẩm phân bón sẽ cạnh tranh với nhau về giá do người nông dân ít quan tâm đến phẩm chất của nông sản nên loại nào có giá thành rẻ thì sẽ có xu hướng được lựa chọn nhiều hơn. hàng năm lượng phân Bắc thải ra khoảng 550. nông sản sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu nên năng suất và phẩm chất nông sản đều được quan tâm do đó người nông dân thường chọn những loại phân có chất lượng. Do 7 .000 tấn. Phân hữu cơ được sử dụng nhiều cả về số lượng và chủng loại: Chỉ tính riêng thành phố Hà Nội. nhất là khi chúng được sử dụng không hợp lí. Các loại phân bón trên thị trường Việt Nam được chia thành 6 loại chính. phân N-P-K. Còn tại phía Bắc. Trong đó. Chúng có thể tích tụ ở các tầng mặt của đất nơi có rễ cây. cá biệt lớn hơn tới 60% đối với phân N-P-K. chất lượng của các loại phân N-P-K. các chất trên không được tinh khiết. Vì lý do lợi nhuận. hoạt động của các vi sinh vật trong đất giảm.

trong những năm gần đây. Ngoài ra còn sử dụng các loại phâ hữu cơ khác như phân chuồng. cho đất bởi thuốc trừ sâu và nitrat và do đó. riêng lượng phân hữu cơ và lượng đạm vẫn còn bị sụt giảm nhiều. – Gây xói mòn đất và giảm độ phì nhiêu đât do thiên hướng sử dụng nhiều phân bón hóa học. Tuy nhiên. các động vật hoang dại và làm suy thoái các hệ sinh thái. Kết quả đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón đến độ phì của đất Việt Nam ở một số vùng đã xác định rõ ràng là phân bón đã góp phần tích cực bảo vệ độ phì nhiêu cho đất nghèo dinh dưỡng. hàm lượng nitrat và các chất kích thích sinh trưởng. 2. – Gây mặn hóa thứ sinh do tưới tiêu không hợp lí. 1 lít nước mương máng khu trồng rau có tới 360 E. thực phẩm. Tại Lâm Đồng. khả năng thấm chất độc vào đất theo dòng chảy cũng cao.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp vậy. lượng phân bón sử dụng không đồng đều. khả năng hoà tan phân bón cao.Hiện tượng đó chứng tỏ chưa có được sự đảm bảo cân bằng dinh dưỡng cho đất do vậy nhu cầu phân bón chắc sẽ còn tăng cao hơn nữa. lân và khu cũng giảm. 8 . đóng góp vào việc suy giảm tầng ozon và biến đổi khí hậu toàn cầu. – Gây độc hại cho lương thực. phân cá vẫn được sử dụng cho trồng rau và trồng hoa (4. hoa quả và lúa. Phân Bắc và phân chuồng tươi đổ trực tiếp xuống ao hồ. ở nước giếng công cộng là 20. tác động xấu đến sức khỏe con người. Trong đất. các loại phân hữu cơ chế biến với lượng bón cao (trung bình 15 – 20 tấn/ha/vụ). Ở ĐBSCL. Ô nhiễm đất do phân bón Việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc BVTV là chìa khóa của sự thành công trong cách mạng xanh. mương lạch để nuôi cá. Một đặc điểm quan trọng của nước ta là khí hậu nhiệt đới nóng ẩm.5 tấn/ha/vụ) dù đã được khuyến cáo không nên sử dụng. nhiều người đã lo ngại về ảnh hưởng của phân bón hóa học và thuốc BVTV đên môi trường và sức khỏe con người. metan và nhiều chất khí khác sinh ra từ quá trình đốt. thực phẩm.Coli. thức ăn cho gia súc bởi dư lượng thuốc trừ sâu. thường tập trung ở vùng thâm canh cao trong đó sự tập trung đặc biệt là khu vực canh tác rau. – Gây ô nhiễm không khi do việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch. mưa nhiều. phân tươi được coi là nguồn thức ăn cho cá. trong nên nông nghiệp công nghiệp hóa để đảm bảo nhu cầu về lương thực. Khi người nông dân áp dụng những công nghệ tiên tiến. sử dụng ít phân bón hữu cơ. Mặt khác.105/100g đất.5 – 6. NOx. phân dê. còn trong đất đến 2. hiện đại thì rất nhiều các vấn đề môi trường nảy sinh: – Gây độc hại cho nguồn nước.

mức độ độc hại về lâu dài phải được chú ý đến. Do vậy.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Hình 8: Ô nhiễm đất do phân bón Trong các vấn đề môi trường gây ra do nền công nghiệp hiện đại. a. 2003). đặc biệt ở lớp đất gần bề mặt. phân hủy chất hữu cơ. 9 . Tính độc của kim loại nặng biểu hiện ở chỗ gây nên sự sụt giảm số lượng và sự đa dạng của vi sinh vật đất. không hợp vệ sinh và vượt quá mức độ cho phép. có một phần lớn là do sử dụng phân bón không đúng kĩ thuật. cố định nitơ…). ảnh hưởng lên vi sinh vật có lợi cho đất (ví dụ vi sinh vật cải thiện sự hô hấp của đất. Kim loại nặng trong phân bón Kim loại nặng có xu hướng tích lũy trong đất. sẽ chịu trách nhiệm phân giải các chất nguy hại này (Silsoe Research Institute. Kim loại nặng còn có tác dụng gián tiếp làm giảm sự phân hủy thuốc trừ sâu và những chất hữu cơ khác thông qua việc tiêu diệt các loại vi khuẩn và nấm mà trong điều kiện bình thường.

1 – 24 0.2 7.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp (Nguồn: SSLRC. quá trình sản xuất phân hóa học bằng nguyên liệu không tinh khiết có thể đem lại một số nguyên tố có hại.2 7 – 38 7 – 225 50 – 1450 Vôi 0. National soil inventory .8 – 30 6. công nghiệp sản xuất phân lân liên tục với số lượng nhiều sẽ làm tăng hàm lượng các nguyên tố As.3 – 2.2 – 55 0.8 5.1 – 55 16 – 5300 50 – 3000 700 – 49000 Phân chuồng 3 – 25 0. chúng bị giữ lại 10 . xà lách. đặc biệt là supe lân có chứa một lượng kim loại nặng nhất định.5 3.MAFF project. Các kim loại độc hại có thể tồn tại trong đất dưới nhiều dạng khác nhau. Ngoài ra. Ví dụ. Nếu sử dụng phân đạm dạng cyanamit canxi (CaCN2) có thể tồn lưu trong đất gây hại cho cây trồng. University of Reading) Hình 9: Sự tích tụ một số KLN trong đất Bảng 1: Hàm lượng các kim loại nặng trong một số phân bón thông thường (mg/kg) Nguyên tố As Cd Cr Co Cu Hg Ni Pb Zn Bùn thải sinh hoạt 2 – 26 2 – 1500 20 – 40600 2 – 260 5 – 3300 0.04 – 0. Phân chuồng chứa kim loại nặng ở mức là nguồn cung cấp dinh dưỡng vi lượng cho cây. chủ yếu là Cd nhưng lượng sử dụng chưa cao nên nguy cơ ô nhiễm đất và nông sản bởi Cd là chưa có.09 – 0. liên kết) với các hợp chất hữu cơ.. khả năng trao đổi cation (CEC) và sự phụ thuộc lẫn ngau vào các kim loại khác. (hấp phụ. Cd. vô cơ hoặc tạo thành các chất phức hợp (chelat). Người trồng rau phần lớn đều sử dụng phân chuồng từ heo. gà. trong đất. Thức ăn dạng này có nhiều khoáng vi lượng.1 10 – 15 0. trong khi đó những gia súc gia cầm này được nuôi từ thức ăn tổng hợp là khá phổ biến.. Các đất có CEC cao.3 – 24 2 – 60 0.9 7 – 34 2 – 27 1 – 42 Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong đất cũng có thể gây ra bởi việc sử dụng phân bón hữu cơ.3 – 0. Hàm lượng kim loại nặng trong phân sẽ xâm nhập vào đất trồng và tồn lưu trong các loại nông sản đặc biệt là đối với các loại rau ăn lá như cải ngọt.4 – 12 <1 – 15 0. Với phân lân.4 – 3 2 – 125 0. Ví dụ.05 10 – 20 20 – 1250 10 – 450 Phân đạm 2.6 – 15 15 – 250 Phân lân 2 – 1200 0.01 – 1. cải xanh. Hàm lượng kim loại nặng trong bùn thải sinh hoạt là cao nhất.2 – 120 0.2 – 19 5.05 – 8. việc cho thêm kẽm vào thức ăn công nghiệp cho gia súc nhằm phòng bệnh và tăng khả năng tiêu hóa cũng được xem là yếu tố gây nên sự ô nhiễm kim loại nặng cho môi trường cần được quan tâm. Khả năng dễ tiêu của chúng đối với thực vật phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: pH.1 – 170 66 – 245 1 – 12 1 – 300 0.

sau đó bón cho cây trồng. việc sử dụng phân bón hóa học có độ chua sinh lí sẽ góp phần đẩy nhanh việc chua hóa đất. tập quán sử dụng phân bắc tươi theo các hình thức: – 50% lượng phân bắc trộn tro bếp để bón lót. Các kim loại nặng có khả năng linh động lớn ở đất chua (pH < 5. gây ung thư. Hiện nay. Các kim loại nặng được tích luỹ trong các cơ thể sinh vật theo các chuỗi thức ăn và nước uống. còn ở Vân Canh là 10. Tổng kết công tác an toàn vệ sinh thực phẩm năm 2006. nước và cả không khí. thành phố Thanh Hoá. Hà Nam trong 100 ngàn người có 1097 người mắc bệnh tiêu hoá. thậm chí chưa xử lý trong canh tác nông nghiệp.000 tấn phân trong đó thu gom mới chỉ được khoảng 30 .4 cái/100 g đất. dễ tạo phức trong đất. – 40% phân bắc trộn tro bếp cộng với vôi bột và ủ khoảng 10 – 14 ngày.chủ yếu là phân chuồng. hệ số làm giàu cao. kênh tưới Đông Hoà huyện Đông Sơn có hàm lượng E. Tập quán sử dụng phân tươi vẫn rất phổ biến.8 trứng/lít còn trong bùn cặn từ 13 đến gần 30 cái/100 g bùn. Bảng 2: Tác động của một số KLN đối với Đ-TV Nguyên tố As Cd Co Cr Cu Hg Ni Pb Zn Đặc điểm chung Độc đối với TV trước độc đối với ĐV.2 cái/100 g đất. Ô nhiễm đất do phân hữu cơ Phân bón hữu cơ . Điện Biên năm 2006 cũng thấy khoảng 70 . Vấn đề này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý và xử lý phân trước khi sử dụng của bà con nông dân nước ta. sử dụng phân hữu cơ sẽ gây ảnh hưởng xấu về mặt vệ sinh nếu không tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật vì ngoài các vi sinh vật gây bệnh cũng có nhiều hoá chất bị phân giải đang tồn tại ở dạng độc hại. Thông thường nếu có nhiễm bẩn về mặt sinh học thì cũng sẽ còn tồn dư. 10% lượng phân bắc được pha loãng bằng nước để tưới cho cây trồng.2 đến 2. bệnh itai-itai Tương đối không độc. có thể gây ung thư Phạm vi thích ứng hẹp. phân bắc là nguồn dinh dưỡng quan trọng. các nhà khoa học cho biết hơn 90% các mẫu rau bán ờ chợ khu vực Hà Nội có nhiễm trứng giun. nhiễm bẩn về mặt hoá học nên người ta đã xác định số lượng vi trùng.coli tổng số từ 1500 con/100ml nước. Do đó. pham vị thích ứng hẹp đối với TV Được làm giàu trong chuỗi thức ăn. Điều tra ở Thái Bình. có thể thiếu trong một số đồ ăn. gây ung thư Dễ dàng tạo phức trong đất. tương đối không độc. có tác dụng phục hồi độ phì nhiều cho đất. gây ung thư Cr4+ rất độc. tích tụ trong nước. khiến cho các kim loại nặng trở nên linh động hơn. trong nước tưới vùng Mai Dịch trứng giun tròn ký sinh từ 0.80% số hộ sử dụng phân bắc. Hà Nội trong những năm qua cho thấy: vùng trồng lúa 90% hộ dân có hố tiêu dạng cũ. Cách bón phân tươi này đang gây ô nhiễm môi trường đất. gây ung thư Khuếch tán trong không khí và lắng đọng trên bề mặt sơ khai Phạm vi thích ứng rộng. Đó chính là một nguyên nhân làm nhiễm bẩn đất.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp nhiều trên các phức hệ hấp phụ. trong đó gần 60% số hộ sử dụng phân bắc chưa xử lý tưới bón cho cây trồng. Riêng ở Hà Nội hàng ngày thải ra 550. Điều tra ở Phú Thọ năm 2005. Cũng theo các số liệu điều tra của các tác giả ở Hà Nội. Tuy nhiên.35%. đất và nước trước. được làm giàu trong chuỗi thức ăn. trứng giun trong một số mẫu phân hữu cơ. Trong đất trồng rau ở Mai Dịch mật độ trứng giun đạt đến 27. Hơn 80% số hộ trồng rau ở nông thôn dùng phân tươi bón rau.5). Về tiêu huẩn vệ sinh cũng thấy: khu vực Sầm Sơn. Hà Tây. Bảng 3: Một số chỉ số dùng để tham khảo 11 . dạng khác tương đối không độc. Năm 1997 Trường Đại học Y khoa Hà Nội thông báo: tại một số xã ở Kim Bảng. tương đối không độc b. nước mặt và ngay cả nguồn nước sạch và thực phẩm nhất là rau quả tươi. gây bệnh minamata Rất di động trong TV.

bón rau màu còn làm xuất hiện nhiều căn bệnh hiểm nghèo. phân. kiết lỵ. phân lân và phân kali. Phân bón là một trong những yếu tố quan trọng làm tăng năng suất cây trồng. Đất vừa tưới phân bắc 105 4. Nước ao khu trồng rau dùng phân bắc 20 7 9. giun kim. CH4. bệnh bại liệt + Vi trùng: tả. Phân bắc tươi trộn tro đất 107 2. sẽ tạo ra nhiều axít hữu cơ làm đất chua. sử dụng không cân đối phân N. sán dây lợn. bệnh viêm gan. 12 . Ô nhiễm đất do phân hóa học Phân hoá học được sử dụng phổ biến là phân đạm. sán lá gan – Các đối tượng có thể bị bệnh + Người tiêu dùng rau quả. Nước mương khu trồng rau dùng phân bắc 450 8. P. Bảng 4: Ảnh hưởng của thói quen chăm sóc cây trồng đến các tác nhân sinh học Các bệnh truyền qua phân người. CO2. K và các loại phân hữu cơ và phân vi lượng khác. thương hàn. Nước giếng khu trồng rau dùng phân bắc Tập quán sử dụng phân tươi để bón ruộng. a. giun móc. giun tóc.coli/100g đất Số trứng giun/50g phân hoặc 1000ml Giun đũa Giun tóc 31 16 12 7 22 10 13 5 5 3 1 3 1. Bảng 5: Thời gian tồn tại của các tác nhân gây bênh (tính bằng ngày) theo các điều kiện xử lý khác nhau Điều kiện Đất Hoa màu Phân bắc.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Đối tượng nghiên cứu Vi khuẩn E. quá trình khử chiếm ưu thế. nhưng cũng có những mặt trái. Đất chỉ dùng phân hóa học 360 7. phân động vật tươi do: + Siêu vi trùng: bệnh phổi. đặc biệt ở những vùng thâm canh cao bằng phân hoá học. lỵ amip + Giun sán: giun đũa. Đất vừa tưới phân lợn tươi 102 6. cặn bùn (20 – 30oC) Ủ hỗn hợp (kỵ khí ở nhiệt độ thường) Ủ nhiệt độ cao (50 – 60oC) trong nhiều ngày Ao ổn định nước thải Vi khuẩn 400 50 90 60 7 20 Virus 175 60 100 60 7 20 Đơn bào 10 Không rõ 30 30 7 20 Giun sán Nhiều tháng Không rõ Nhiều tháng Nhiều tháng 7 20 – Ngoài ra. thời gian tồn tại của các tác nhân gây ô nhiễm sinh học tương đối dài trong môi trường đất. đồng thời tạo ra nhiều chất độc H2S. sử dụng nhiều phân hữu cơ trong điều kiện yếm khí. bệnh truyền nhiễm. Hiện tượng có thể gặp là sự hoá chua của đất. ỉa chảy + Đơn bào: ỉa chảy. hoa màu + Người tiêu dùng thịt và sữa + Người lao động sản xuất trực tiếp Đặc biệt. Phân bắc đã ủ 2 tháng 105 3. Đất sau tưới phân bắc 20 105 ngày 105 5.

NH4+có thể chuyển hoá thành dạng NO3. chứa 0.do sự nitrat hoá (nitrification) do VSV đất Nitrosomonas và rồi chuyênø thành NO2. mỗi năm ở nước ta có khoảng 60-70% lượng phân đạm không được cây trồng hấp thụ.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp kết cấu đất bị kém đi. ○ Sự gây chua trong đất 13 .5 g/kg Nitrat trong mô thực vật này (Schupan. keo đất từ mùn hữu cơ chuyển hầu hết các chất khoáng từ dung dịch đất sang hệ thống rễ cây và đi vào cây trồng. Đất cần phải được coi như một vật thể sống. KCl. số còn lại phân tán vào các nguồn khác nhau. NH4+. lớp rắn trên bề mặt này làm cho nước mưa hoặc nước tưới không thấm xuống đất được mà chảy ra các ao hồ hoặc sông suối.. biến thành muối nitrat trở thành nguồn ô nhiễm cho mạch nước ngầm và các dòng sông. Nếu bón quá nhiều phân hoá học là hợp chất nitơ. các hạt đá không có keo mùn hữu cơ liên kết lại thường tạo thành một lớp rắn. Sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong canh tác nông nghiệp nên hiệu lực phân bón thấp. Nitrat trong dung dịch đất hữu dụng ngay cho cây và cũng dễ dàng bị thấm hoặc rửa trôi. Lớp đất phía dưới trở thành bị ngộp và có tính axit. nước. Fe3+.37 g/kg và ở Ðức là 3. mật độ VSV bị thay đổi và có thể bị chết. ô nhiễm nguồn nước và có thể gây đột biến gen đối với một số loại cây trồng. Ni.. Mn2+ giảm hoạt tính sinh học của đất và năng suất cây trồng. Các chất mùn này có tính năng liên kết các hạt đá li ti với nhau tạo nên sự phì nhiêu của đất canh tác.trong sản phẩm. Nên xà lách trồng trên đất bình thường. đã làm tăng đáng kể hàm lượng NO3. Cu. Cd. Khi có quá nhiều phân tử bám quanh các hạt mùn làm cho hệ thống lông hút của bộ rễ bị bội thực một loại nguyên tố và không còn khả năng hấp thu các chất khoáng khác mà cây thực sự cần nữa. lượng hấp thu của rễ thực vật tương đối nhỏ. Các loại phân vô cơ thuộc nhóm chua sinh lý như K2SO4. đại bộ phận còn lưu lại trong đất. các axit được tạo thành sẽ phá hủy các chất mùn hữu cơ phì nhiêu được tạo ra từ sự phân rã của các cơ thể sinh vật đất đã chết. đã làm chua đất.1965). Phân hóa học còn tiêu diệt các tập đoàn vi sinh vật.6% đất bón 600 kg Nitrat/ha.1% đạm Nitrit so với trọng lượng khô. Các cây màu thường hút thu N ở dạng nitrat. Nitrat (NO3-) là yếu tố cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của nhiều loài cây trồng. Ngoài việc ô nhiễm nước do dư lượng Nitrat và Phosphat. qua phân giải chuyển hoá. Zn. Trên bề mặt của các vùng đất canh tác thường bón phân hóa học. Phân hóa học ngăn cản sự hấp thụ các dưỡng chất cần thiết. ít hay nhiều không thấm nước. trong đất. 50% lượng kali và xấp xỉ 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm môi trường đất. độ sâu và độ rộng của loại ô nhiễm này ngày càng nghiêm trọng. Mồng tơi có thể chứa một lượng đạm Nitrit rất cao. sự tích đọng kim loại nặng (Pb. lân. Những hạt mùn sẽ có hấp lực đối với các nguyên tố dinh dưỡng như đạm. supephotphat còn tồn dư axit. Cùng với sự tăng lên về số lượng sử dụng phân hoá học.. Trong lớp đất thiếu khí và có tính axit này. kali. đồng thời cũng không cho nước ở dưới ngấm lên trên để thoát hơi. Người ta cho thấy là Mồng tơi ở Mỹ chứa 1. đang tác động tiêu cực đến chính hệ sinh thái nông nghiệp như làm chai cứng đất. Dạng NO3 do từ bón phân hoặc được tạo ra từ sự nitrate hoá thì rất dễ bị rửa trôi vì không bị hấp phụ bởi keo đất mang điện tích dương. – Ô nhiễm đất do phân đạm Tính trung bình. các phân bón còn làm ô nhiễm thức ăn. Bón nhiều phân đạm vào thời ký muôn cho rau quả. thực vật hấp thu khoảng 50 – 60%. Khi phân hóa học được bón vào đất năm này qua năm khác sẽ gây nên sự thay đổi cơ bản cấu trúc của các hạt mùn hữu cơ và khi sử dụng liên tiếp.do VSV đất Nitrobacter. Con số này lên đến 0. Khi phân hóa học được sử dụng năm này qua năm khác. khi bón phân đạm vào đất. Theo tính toán. Quanh vùng lông hút của rễ cây. những liều cao của phân dùng trong đất trồng làm gia tăng lượng Nitrat trong mô thực vật mọc ở đây. có trên 50% lượng đạm. quá nhiều các phần tử phân bón được đưa vào đất để mong đạt được sự phát triển mạnh và nhanh của cây trồng.. Thật vậy. nghèo kệt các cation kiềm và xuất hiện nhiều độc tố trong môi trường đất như ion Al3+. Như vậy lớp chất rắn bề mặt này đã ngăn cản không cho nước thấm xuống. và các nguyên tố kim loại khác.) và NO 3-.

Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Một trong những ảnh hưởng quan trọng nhất của phân N là sự gây chua đất của phân ammonium. bón SA có khả năng đẩy ra một lượng độ chua trao đổi lớn: Keo đất H+ H+ + (NH4)2SO4 NH4+ NH4+ + H2SO4 Keo đất 14 . Quá trình nitrate hoá SA sinh ra trong đất 2 loại axit: (NH4)2SO4 + 4O2 = 2HNO3 + H2SO4 + 2H2O Ở đất chua.

lâu ngày làm cho đất hoá chua + CaSO4 Keo đất Ca+ Ca+ 15 .Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Ở đất không chua. bón SA làm cho đất mất vôi dần. do đó. NH4+ bị hấp phụ vào keo đất và đẩy Ca2+ ra.

trong cơ thể thì trở nên rất độc. phản ứng với một loại amin thứ sinh xuất hiện khi phân hủy mỡ hoặc protein ở bên trong dạ dày và tạo ra hợp chất N – nitroso (là hợp chất gây ung thư) có công thức: R .N – H + NO2.thành NO2-.còn làm trầm trọng thêm bệnh viêm dạ dày và đường ruột. tồn tại trong đất.không độc. vì hemoglobin bào thai có ái lực với NO2. cùng với nước tạo thành axit làm cho đất chua. Mối liên quan này được giải thích là NO2. kết hợp với việc ngưng quay vòng 16 Loại phân ○ . Kiểu canh tác dùng nhiều phân vô cơ. Nó phản ứng với hemoglobin chứa Fe2+ là phân tử có chức năng vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. lượng tương đương của CaO được dùng để đánh giá: Lượng CaO dùng để trung hoà sự gây chua đất do 1 kg N* Ammonium nitrate. NO2. Mối liên quan giữa nitrat với sức khỏe cộng đồng được biểu hiện qua hai loại bênh:  Methaemoglobinaemia: Hội chứng trẻ xanh ở trẻ sơ sinh  Ung thư dạ dày ở người lớn. mà còn làm mất ổn định hệ sinh thái nông nghiệp. Thực ra.mạnh hơn hemoglobin. Hội chứng trẻ xanh: Hội chứng này thường xảy ra ở đứa trẻ dưới 10 tuổi. Một ion Fe2+ có rất ít năng lượng vận chuyển oxy trong máu và do đó gây nên tắc nghẽn hóa học. Cl – cây không hút hoặc hút rất ít. K 2SO4. Trong đất chua.+ H+  R1 .N – N = O + H2O R R2 Lạm dụng phân bón không chỉ đe dọa sức khỏe con người. Bệnh này cũng liên quan tới hàm lượng NO3. Hàm lượng nitrat lớn trong đất không chỉ gây ra nhữg ảnh hưởng xấu lên hệ sinh thái đất mà còn có thể bị rửa trôi. đau đớn và chết. Supe lân … cũng tạo ra các gốc axit SO42-.trong nước.sinh ra từ NO3-. NO3. Trẻ sơ sinh thường rất nhạy bén với bênh này. các loại phân khoáng khác như KCl. Ung thư dạ dày gây suy nhược. Do đó. thông thường chỉ cuất hiện khoảnh khắc trong các mạch máu. làm tăng nguy cơ gây độc cho cây trồng. urea 1 kg Diammonium phosphate 2 kg Ammonium sulphate 3 kg *Trên cở sở hiệu quả sừ dụng là 50% Ngoài phân SA. dạ dày của chúng không đủ độ axit để ngăn cản các vi khuẩn biết đổi NO3.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp + (NH4)2SO4 NH4+ NH4+ Keo đất Do bón vôi để cải thiện sự gây chua này. nhưg khi nó bị khử thành NO2. do nitrat rất linh động và gần như không bị đất hấp phụ. gây ra ô nhiêm nước ngầm. các nguyên tố gây độc sẽ trở nên linh động hơn. Các vi khuẩn trong dạ dày khử nitrat thành nitrit và xâm nhập vào máu.

trong số 21 triệu ha đất canh tác nông nghiệp của Việt Nam thì đã có đến 9. Hoặc chúng bị đem thiêu đốt bỏ. độ kiềm. Giới thiệu chung hóa chất BVTV Định nghĩa: Hóa chất BVTV là các loại hóa chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp bằng con đường công nghiệp dùng để phòng chống hoặc tiêu diệt những sinh vật gây hại mùa màng trong nông lâm nghiệp hoặc gây bệnh đối với sức khỏe con người. cấu trúc hóa học và hợp chất được sử dụng hoặc mức độ và hình thức tác động nguy hại cho sức khỏe con người. thì các cân bằng dinh dưỡng trong hệ thống đất . Hóa chất BVTV đang được sử dụng hiện nay trên thế giới có hàng nghìn chế phẩm. ta chia hóa chất BVTV thành các dạng: – Thuốc trừ sâu 17 . SO42-. độ no bazơ.506 ha. Nghiên cứu tình trạng này ở một số vùng trung du và miền núi đã cho thấy. các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu. dung tích hấp thu giảm. hồ tiêu và thiếu Zn. Hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) 1. đa lượng và vi lượng trong đất ngày cảng giảm…).Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp của chất hữu cơ trong đất trồng. Do vậy. Sự nghèo mùn làm phá hủy cấu trúc của đất. Đất bị mất chất hữu cơ cũng sẽ làm cho các chất độc vốn bị giữ lại trong thành phần chất hữu cơ được giải phóng và được cây trồng hút thu.môi trường bị phá vỡ. hàm lượng mùn. tích lũy và gây độc cho cây trồng. tùy thuộc và số lượng sâu bệnh. tổng diện tích đất tự nhiên là 602. á kim) có trong phân hóa học và sự biến đổi cấu trúc của đất. trong đó diện tích đất cát 15. nhất là đất sản xuất nông nghiệp.cây . theo nhiều cách khác nhau. H2S. Kéo theo. tạo nên một đe dọa nghiêm trọng trong việc giữ phì nhiêu của đất. đồi núi dốc 375. giảm phức hợp hấp thụ sét mùn (complexe absorbant argilo humique) nên giảm độ phì của đất. Theo kết quả điều tra gần đây nhất của Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam. Dựa vào các đối tượng phòng chống. Là do sự tích lũy liên tục các chất tạp (kim loại. hàng loạt các độc tố trong đất gia tăng như Fe. Khi mà các chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất ngày càng giảm (với các biểu hiện như : Đất ngày càng chua hơn. Mn. S đối với cây cà phê năng suất cao. Phân động vật và thực vật không quay về với đất mà chất đống sẽ ô nhiễm mực thủy cấp sau khi lên men amoniac. Thành phần chất hữu cơ của đất bị giảm nhanh và khả năng giữ nước và thoát nước của đất bị thay đổi. khi hàm lượng các nguyên tố trung lượng và vi lượng giảm sẽ dẫn tới tình trạng thiếu B và Mo cho cây họ đậu. thiếu Mg ở ngô. Lạm dụng quá mức phân bón hóa học và thuốc trừ sâu là một trong những nguyên nhân lớn gây nên tình trạng ô nhiễm và suy thoái đất đai.968 ha. Ở Bình Định. B. Chất mùn không còn quay về đất. có 425. diện tích hoang mạc hóa hiện nay của Bình Định là 786 ha. dứa. người ta phải phân chia ra nhiều loại. không về đất được. Hình 10: Đất thoái hóa A.000 ha. lân cố định.835 ha đất xám bạc màu.34 triệu ha đất hoang hóa.

Thuốc sữa pha với nước để sử dụng. Thuốc ở thể lỏng. – Thuốc phun bột: viết tắt là DP. 18 . Thuốc ở dạng bột mịn. và thuốc bột tan trong nước. viết tắt là EC hay ND. – Các dạng thuốc khác: thuốc dung dịch. nên người ta đã phân loại theo cơ chế tác động của các loại thuốc như: thuốc kìm hãm men cholinesterase. Thuốc dạng hạt dùng để rắc hoặc phun. – Thuốc dạng hạt: viết tắt là G hoặc H. thường độn với đất sét hoặc bột cao lanh. Thuốc dung dịch và thuốc bột tan trong nước thường pha với nước để sử dụng. BTN. viết tắt là SL hoặc DD. viết tắt là SP.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp – Thuốc trừ bệnh – Thuốc trừ cỏ – Thuốc trừ chuột (gặm nhấm) – Thuốc trừ tuyến trùng – Thuốc trừ nhện Dựa vào con đường xâm nhập của thuốc với dịch hại thì có thuốc xâm nhập theo các con đường tiếp xúc. GABA. tan trong nước. viết tắt là WP. thấm sâu và nội hấp. không tan trong nước. Dựa vào nguồn gốc hóa học ta có: – Thuốc có nguồn gốc thảo mộc – Thuốc có nguồn gốc sinh học – Thuốc có nguồn gốc vô cơ – Thuốc có nguồn gốc hữu cơ Gần đây do nhiều dịch hại đã hình thành tính chống nhiều loại thuốc có cùng một cơ chế. pha với nước thành dung dịch lơ lửng để sử dụng. hay theo các phương thức tác động như: thuốc điều khiển sinh trưởng côn trùng. vị độc. thuốc triệt sản… Hình 11: Một số loại thuốc BVTV Ngoài ra còn có thể phân loại theo các dạng thuốc BVTV: – Thuốc sữa: còn gọi là thuốc nhũ cầu. Thuốc ở dạng bột mịn. trong suốt. dễ bắt lửa cháy. thuốc kìm hãm hô hấp…. – Thuốc bột thấm nước: còn goi là bột hòa nước. dùng để phun bột. xông hơi.

Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Hình 12: Phun thuốc BVTV 19 .

Bảng 5: Phân loại độ độc thuốc BVTV ở Việt Nam Mức độ độc Ia – Cực độc Ib – Rất độc II – Độc vừa LD50 đối với chuột (mg/kg) Qua miệng Qua da Thuốc rắn Thuốc nước Thuốc rắn Thuốc nước <5 < 20 < 10 < 40 5 – 50 20 – 200 10 – 100 40 – 400 50 – 500 200 – 2000 100 – 1000 400 – 4000 20 . LD50 càng nhỏ thì độc tính càng lớn. tê liệt và có thể tử vong.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Hình 13: Cấu trúc hóa học một số thuốc BVTV thông dụng 1. bất kỳ một thuốc BVTV nào cũng gây một biến đổi sâu xa đến hệ sinh thái có sử dụng nó. Chúng thường tác động đến hệ thần kinh làm cho sinh vật uể oải. Tính độc Rất độc đối với các cơ thể sinh vật. a. Độ độc của thuốc BVTV được biểu thị dưới dạng LD50 – lượng hóa chất gây chết 50% số cá thể thí nghiệm và được tính bằng mg/kg cơ thể. vì thuốc BVTV tác động lên cả hệ sinh thái chứ không chỉ loài gây hại. Tính chất của hóa chất BVTV Dù thuốc BVTV có nhiều lợi ích nhưng một số bất lợi xuất hiện dần và trở nên trầm trọng. Thực vậy.

Thí dụ nghiên cứu DDT cho thấy trong điều kiện yếm khí chất này chuyển ra dạng DDD nhanh hơn nhiều so 21 . – Các điều kiện ngoại cảnh: các yếu tố thời tiết. 4. chế độ canh tác. 5 – T 0. – Thời gian gây chết trung bình (LT 50): là thời gian gây chết cho một nửa số cá thể dùng trong thí nghiệm tại nồng độ hay liểu lượng nhất định. Cu. khả năng bám dính. từ đó ảnh hưởng đến độ độc và hiệu quả phòng trừ của thuốc. tính thấm ướt và khả năng loang của giọt thuốc.02 – 0. lượng mưa. – Đặc điểm vật lý của thuốc: các đặc điểm vật lý sẽ ảnh hưởng đến độ bám dính. hàm lượng mùn. DDT) 2–4 Thuốc trừ cỏ 1–2 2. hình dạng. Tồn dư lâu dài trong đất và nước Do đặc tính lý hoá của bản thân thuốc BVTV cùng với tác dụng tổng hợp của các yếu tố ảnh hưởng làm tiêu tan thuốc BVTV cho nên tính tồn lưu của chúng ở trong đất khác nhau nhiều. ánh sáng. độ ẩm.02 (Nguồn: Sinh thái và môi trường đất – Lê Văn Khoa) Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tồn lưu của thuốc BVTV là thành phần cơ giới. Nếu thuốc BVTV nào có thời gian bán hủy trên một năm thì gọi là thuốc BVTV có tính tồn lưu. Bảng 2 cho biết thời gian cần cho một loại thuốc BVTV ở trong đất tiêu tan một nửa (thời gian bán hủy). thời gian tiếp xúc và mức tiêu dùng của thuốc BVTV.1987) Ngoài ra. loại cây trồng.2 Thuốc trừ sâu có gốc amon 0. Các đặc điểm vật lý thường được xét đến như: kích thước. g/m3 hay ppm. để so sánh độ độc của các loại thuốc. trọng lượng hạt thuốc. Thuốc Buprofezin có hiệu lực trừ các loài chích hút cao nhưng ít gây hại cho các sâu miệng nhai. bớt các gốc sẽ làm thay đổi độ độc và tính độc của hợp chất rất nhiều.4 Thuốc trừ sâu lân hữu cơ 0. Bảng 6: Thời gian tồn lưu của một số thuốc BVTV trong đất Loại thuốc BVTV Thời gian bán hủy (năm) Hợp chất kim loại nặng (Pb. 4 – D và 2.. pH…) và các yếu tố về cây trồng và điều kiện canh tác. LT50 được tính bằng giờ. – Cường độ tác động của thuốc: cường độ tác động phụ thuộc vào nồng độ. Độc tính của thuốc BVTV phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: – Bản chất của thuốc BVTV (cấu tạo. độ pH. nhưng lại có hiệu lực kém hoặc không diệt được loài nấm phấn trắng.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp III – Độc nhẹ > 500 > 2000 > 1000 > 4000 IV – Loại sản phẩm không gây độc cấp khi sử dụng bình thường (Nguồn: Asian Development Bank. đất đai (nhiệt độ. – Đặc điểm của sinh vật: các loài sinh vật có phản ứng rất khác nhau với cùng một loại thuốc. VD: dung dịch Bordeaux có thể diệ trừ nhiều loại nấm và vi khuẩn gây bệnh cho cây. khả năng xâm nhập của thuốc vào dịch hại. người ta còn sử dụng các chỉ tiêu khác như: – Nồng độ gây chết trung bình (LC50): là nồng độ gây chết cho một nửa số cá thể dùng trong thí nghiệm trong một thời gian xác định. độ lơ lửng. a.. độ ẩm. giới tính. As. Tính mẫn cảm đối với thuốc BVTV của các loài sinh vật phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển. tính chất hóa học): trong phân tử chất độc thường có những gốc sinh độc quyết định đến độ độc của thuốc đó. đặc tính lý hóa và hàm lượng chất dinh dưỡng của đất. Hg) 10 – 30 Clo hữu cơ (666. và còn biến đổi theo ngày và đêm. trạng thái vi sinh vật đất. hay sự thêm. LC50 thường được tính bằng mg/l. Sự thay thế gốc này bằng gốc khác.

parathion Monitor 0.007 0 0 0 0. phân tích thì 12 mẫu đều có vết dư lượng một trong 4 hóa chất BVTV mặc dù nồng độ thấp.1 0. Quá trình chuyển hóa thuốc BVTV trong đất 22 . Số lượng thuốc BVTV tồn lưu trong đất được gọi là "tồn dư" tính theo đơn vị mg/kg đất hoặc ppm. Do tốc độ phân huỷ của DDD và DDE rất chậm cho nên dù đã đình chỉ sử dụng DDT nhưng chúng vẫn tồn lưu lâu dài ở trong đất. Từ đó ta thấy rằng với các chế độ canh tác khác nhau thì tính tồn lưu thuốc BVTV cũng khác nhau.005 0.005 0 0 0. 1.1 0.005 0 – – 0. đặc biệt nếu bón phân xanh vào thì phân giải càng nhanh.007 0.07 0 0 0. DDT Lindane M.002 0. Hai loại thuốc tồn dư nhiều là DDT và Lindane.007 0. trong chuỗi thức ăn. tính bền vững trong môi trường. Khuếch đại sinh học là sự tích lũy các chất độc với nồng độ cao trong cơ thể sinh vật ở các bậc dinh dưỡng cao hơn.1 (Nguồn: Sinh thái và môi trường đất – Lê Văn Khoa) Tính khuếch đại sinh học Đặc biệt. Bảng 7: Dư lượng thuốc BVTV trong một số mẫu đất ở Hà Nội – 1998 (đơn vị mg/kg) Địa điểm lấy mẫu Xã Yên Sở – Thanh Trì Xã Vĩnh Quỳnh – Thanh Trì Xã Thanh Liệt – Thanh Trì Xã Mỹ Đình – Từ Liêm Xã Minh Khai – Từ Liêm Xã Uy Nỗ – Đông Anh Xã Bắc Hồng – Đông Anh Xã Vĩnh Ngọc – Đông Anh Xã Cổ Bi – Gia Lâm Xã Nam Hồng – Đông Anh Xã Tiến Dương – Đông Anh Xã Đông Xuân – Sóc Sơn Ngưỡng cho phép b.007 0 0 0 0.001 0 0 0 0.4 – – 0 0. cứ qua mỗi bậc dinh dưỡng.001 0 0 0. thuốc BVTV có tính khuếch đại sinh học.1 0.001 0. nhiều khi còn phụ thuộc vào tính tan của chất trong môi trường nước.1 – – 0. Bảng 8: Sự khuếch đại sinh học của DDT trong đất và trong hệ sinh thái nước ngọt Loài Trong môi trường nước Cá Thân mềm Trong môi trường đất Giun đất Đất Tần số tăng 5000 250 Nồng độ 100ppm 5ppm 9 90ppm 1 10ppm (Nguồn: Sinh thái và môi trường đất – Lê Văn Khoa) Như vậy. Sự khuếch đại sinh học cũng chịu ảnh hưởng bởi một vài yếu tố: bản chất các chất độc.002 0 0 0 0 0.003 0 0 0 0 0. lượng thuốc BVTV được tích lũy lại tăng theo cấp số nhân. Điều tra dư lượng hóa chất BVTV ở 4 huyện ngoại thành Hà Nội từ 1995 – 1997 đã cho thấy: trong 12 mẫu đất theo dõi.8 0.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp với khi chuyển ra dạng DDE trong điều kiện hảo khí.

406 1. Nhìn vào hình 5 ta có thể thấy. ngoài do sử dụng trực tiếp.738 1.01 1998 10. sau đó sẽ di chuyển vào đất khi tưới tiêu hoặc thấm dần.5 30. còn có lắng đọng từ khí quyển nhờ mưa hay do thuốc BVTV đi vào nước.5 25.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp (Nguồn: http://www. phân còn lại sẽ đi vào môi trường nước và không khí hoặc được thực vật sử dụng.i)/ha quy đổi) 1995 10. Đồng thời ta cũng thấy lượng thuốc BVTV khi đi vào môi trường nước khí hay được thực vật hấp thu một phần cũng xảy ra quá trình chuyển hóa qua lại lẫn nhau. thuốc BVTV sẽ biến đổi và phân tán theo nhiều con đường.com/Pesticides. Lượng thuốc BVTV còn lại trong thực vật sẽ đi vào chuỗi thức ăn.85 1996 10.000 tấn thuốc BVTV thành phẩm (Nguồn: Cục bảo vệ thực vật) Năm Diện tích canh tác (triệu ha) Như vậy.05 Từ năm 2000 đến nay trung bình mỗi năm tiêu thụ trên 30.35 1999 10.5 33.715 1.666 0.5 42.5 32. mỗi năm sẽ có khoảng 12000 – 20000 tấn thuốc BVTV bị giữ lại trong đất. Trong đất.751 1. con đường đưa thuốc BVTV vào đất.html) Hình 14: “Vòng tuần hoàn” thuốc trừ sâu Khi phun thuốc BVTV có khoảng 50% rơi vào đất. Bảng 9: Lượng thuốc BVTV tiêu thụ trong cả nước qua các năm Khối lượng thuốc nhập Lượng thuốc bình khẩu (tấn thành phẩm quân (kg.08 1997 10.a.tajagroproducts. Bay hơi Chuyểnvật Thực hóa hóa học hấp thụ 23 Hấp thụ bởi các khoáng sét và chất hữu cơ của Rửa trôi đất Phân hủy quang hóa Rửa trôi bề mặt và xói mòn Phân hủy sinh học .

– Chuyển hóa hoá học: Thuốc trừ sâu dạng lân hữu cơ bị tiêu tan chủ yếu do tác dụng phân giải theo con đường hoá học có xúc tác và không có xúc tác. Tuy nhiên thuốc trừ sâu dạng lân hữu cơ có áp suất bay hơi bé nhưng nó bốc hơi từ trong đất rất rõ: khi bốc hơi kéo dài và gặp mưa. – Hoà tan. trên diện tích 1km2 mỗi năm có thể tích luỹ 20g DDT. Nồng độ ion H+ xung quanh keo sét ảnh hưởng rõ đến phân giải hoá học. Nước chảy tràn trên mặt có thể hoà tan và di chuyển một số thuốc BVTV vì vậy sau khi sử dụng thuốc BVTV 1 – 2 ngày đêm nếu trời mưa to thì nước xung quanh vùng đó dễ bị ô nhiễm gây hại cho người và cây. – Phân hủy sinh học: Ðây là con đường tự hoại quan trọng của thuốc BVTV trong đất. Ngược lại. 1. Hiện trạng kinh doanh và nhập khẩu thuốc BVTV tại Việt Nam Hiện nay. Hấp phụ trao đổi ion bao gồm: hấp phụ anion và cation. Nói chung. 24 . đại lý kinh doanh thuốc BVTV là 14239.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp (Nguồn: Sinh thái và môi trường đất – Lê Văn Khoa) Hình 5: Sự biến đổi thuốc BVTV trong đất – Bay hơi: Một số thuốc BVTV có tính bay hơi như thuốc trừ cỏ (EPTA. chúng bốc hơi ở tầng đất mặt. Hầu hết thuốc BVTV đang được sử dụng ở Việt Nam là nhập khẩu hoặc nhập nguyên liệu hay phụ gia thuốc thuốc thành phẩm bao gói để sang chai đóng gói nhỏ tại các xưởng. Cơ chế xúc tác trong đất chưa được sáng tỏ. hàm lượng mùn. sự tồn tại của chất hữu cơ sẽ cản trở tác dụng phân giải hoá học. sang chai đóng gói. hấp phụ trao đổi ion. Ngoài ra. CDEA) và thuốc trừ sâu. Phản ứng không xúc tác bao gồm thuỷ phân. – Ánh sáng phân giải: Mặt đất chịu bức xạ của mặt trời. hiện số cửa hàng. – Hấp thụ bởi các khoáng sét và chất hữu cơ của đất: Chủ yếu là hấp phụ lý học. 2 dòng đối lưu đó sẽ làm cho phân tử thuốc bay hơi và cuối cùng trở lại mặt đất.4 – D) dễ di động và rửa trôi ra khỏi đất gây ô nhiễm nước trên mặt đất và nước ngầm. ion hoá và hình thành muối. oxy hoá. tia tử ngoại có tác dụng phân giải một số thuốc trừ cỏ và DDT. nhà máy Việt Nam. tức là khoảng 20 cửa hàng/tỉnh. gần 30 công ty có liên quan đến kinh doanh thuốc BVTV thuộc doanh nghiệp nhà nước. gần 50 công ty nước ngoài có hoạt động liên quan đến thuốc BVTV. chủ yếu phụ thuộc vào tính chất thuốc BVTV. Tốc độ phân giải thường chậm. thuốc trừ cỏ dễ rửa trôi hơn thuốc trừ sâu và thuốc diệt khuẩn. cả nước ta có gần 50 công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân gia công. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hoạt động của vi sinh vật như nhiệt độ. rửa trôi và chảy tràn: Loại thuốc BVTV có tính hoà tan mạnh ở trong nước (như 2. ẩm độ. Theo tính toán. Nếu loại thuốc nào bị đất hút chặt thì không di chuyển theo phẫu diện xuống dưới nhưng khi mưa to hoặc sau tưới sẽ theo nước nhập vào mặt đất rồi lắng xuống cùng bùn. điện thế oxy hoá khử (Eh) và độ pH đều ảnh hưởng đến tốc độ phân giải. nếu dùng bùn đó bón ruộng thì đất bị ô nhiễm.

0 – 8.7% so với cùng kỳ năm 2010.52 %. nông dân hầu như ít sử dụng thuốc để phòng trừ sâu hại.236 kg và 43. Nhiều thị trường lớn có sự tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ năm trước như Trung Quốc tăng 31. Lấy mẫu kiểm tra chất lượng thuốc BVTV tại các cơ sở sản xuất. do đó một số nông dân vẫn còn tập quán phun thuốc định kỳ. Trong nước.04 – 0. Các chất bền vững có thể tích tụ trong môi trường nước đến mức gây độc.013 %.574. Ở nhiều nơi nông dân còn lạm dụng thuốc BVTV trong phòng trừ dịch hại.17 – 0. 2. vi phạm về ghi nhãn hàng hóa: 3. bị hấp thụ bởi các thành phần vô sinh hoặc hữu sinh và lơ lửng trong nguồn nước hoặc lắng tụ xuống đáy và tích tụ trong cơ thể sinh vật. thuốc tồn tại trong môi trường đất sẽ rò rỉ ra sông ngòi theo các mạch nước ngầm hay do quá trình rửa trôi. trong đó: buôn bán thuốc cấm: 0. xói mòn đất bị nhiễm thuốc trừ sâu. Thuốc BVTV khi xâm nhập vào môi trường nước chúng phân bố rất nhanh theo gió và nước.4%). Mức độ sử dụng thuốc BVTV nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ phát sinh gây hại của dịch hại thực vật và tập quán canh tác của nông dân.34 %. sang chai. buôn bán thuốc giả: 0. chai lọ chứa hóa chất. đưa tổng nhập khẩu 10 tháng đầu năm đạt 508 triệu USD.2 – 05 % lượng thuốc trong lô thuốc BVTV nhập khẩu không đạt chất lượng theo quy định.964 tỷ đồng dùng tiêu hủy bao bì thuốc BVTV (10 triệu đồng/tấn). ước tính lượng thuốc BVTV và các nguyên liệu thành phẩm nhập khẩu tháng 10 đạt 50 triệu USD. Bảng 10: Tính tan của hóa chất BVTV trong môi trường nước 25 . đồng ruộng bị ô nhiễm. thông thường nông dân phun thuốc theo mức độ gây hại của sâu hại. có từ 0.44 % và vi phạm về điều kiện buôn bán: 14.2%.8 %. cửa hàng. lượng bao bì cần tiêu hủy: 69.2% số mẫu kiểm tra. bao gồm: 56 tỷ 405 triệu đồng để tiêu hủy thuốc BVTV (50 triệu đồng/tấn) và 6. gia công. kiểm tra phát hiện có vi phạm chiếm khoảng 14 – 16 % (tổng số đơn vị thanh kiểm tra trung bình 14000/năm). Đức (70. Còn thực trạng sử dụng thuốc BVTV theo số liệu kiểm tra từ năm 2007 – 2009. nước súc rửa… Điều này đặc biệt có ý nghĩa nghiêm trọng khi các nông trường. Ở các tỉnh Trung bộ và Nam bộ do điều kiện thời tiết cho phép. buôn bán thuốc ngoài danh mục: 0.9%. Theo điều tra năm 2009 của Chi cục BVTV các tỉnh. Singapo (77. Thuốc BVTV tan trong nước có thể tồn tại bền vững và duy trì được đặt tính lý hoá của chúng trong khi di chuyển và phân bố trong môi trường nước.4%). đóng gói và lưu thông hàng năm cho thấy: tỷ lệ mẫu không đạt chất lượng là 3 – 10.72% . Mặt khác. nhưng không quan tâm đến an toàn. Một thực trạng đáng lưu ý là xu hướng của người dân thích sử dụng các loại thuốc rẻ tiền.24 – 14. lượng thuốc BVTV cần tiêu hủy: 69. không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc đã dẫn đến hậu quả nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm. không đúng nồng độ và liều lượng: 10.43%.237. mức sử dụng thuốc BVTV cao hơn các vùng khác. đại lý được thanh tra. nước có thể bị nhiễm thuốc trừ sâu nặng nề do nông dân đổ hóa chất dư thừa.85 – 0. Ở vùng đồng bằng sông Hồng và khu 4 cũ. Việc sử dụng tùy tiện không tuân thủ các quy trình kỹ thuật. khi sử dụng hóa chất BVTV. hàng năm.19 – 0.7%). Ảnh hưởng đến môi trường nước Theo chu trình tuần hoàn các hóa chất BVTV. thuốc ngoài danh mục: 2. Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường. mất an toàn vệ sinh thực phẩm.46%. Tuy nhiên theo số liệu thống kê.282 kg. Kết quả thanh tra việc kinh doanh thuốc BVTV (2007 – 2010) cho thấy số cơ sở.179 lít thuốc BVTV.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Theo số liệu tháng 10 năm 2011 của bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng như bộ Công thương. và Nhật Bản (50. tăng 22. vườn tược lớn nằm gần kề sông xịt xuống ao. Kinh phí thực hiện là 63 tỷ đồng.12 – 2. công dụng mạnh. trong đó: không đảm bảo thời gian cách ly: 2. sinh vật và sức khỏe con người a. cây lúa được gieo trồng cả 3 vụ trong năm nên sâu bệnh phong phú hơn. Ở những vùng kinh tế khó khăn của các tỉnh miền núi. thuốc BVTV có thể tồn tại ở các dạng khác nhau và đều có thể ảnh hưởng đến tác động của nó đối với sinh vật đó là: hòa tan. tỷ lệ số hộ vi phạm: 35 – 17. thành phố trong cả nước cho thấy.4 – 16.640.

mật độ thiên địch và vi sinh vật có ích ít nên dịch hại dễ phục hồi số lượng. người ta tăng nồng độ và liều lượng dùng thuốc. – Nguồn nước ngầm: Ô nhiễm nguồn nước bởi thuốc BVTV là hiện tượng phổ biến tại các vùng sản xuất nông nghiệp. với lưu lượng tồn động như vậy gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng xung quanh rất cao. có chất lượng cao. cây trồng sinh trưởng tốt hơn. một số loài dịch hại chủ yếu trước đây. sau mỗi đợt dùng thuốc. dịch hại hưởng nguồn thức ăn dồi dào. gây khó khăn cho việc phòng trừ. – Sự tái phát của dịch hại: ngay sau khi dùng thuốc trừ sâu hay trừ nhện. làm cho nước ngầm nhiễm các thuốc BVTV. Dưới tác động của liều dưới mức gây chết. Kết quả là thời gian dịch hại hồi phục lại số lượng quần thể ngày càng ngắn. – Tính chống thuốc BVTV: là hiện tượng phổ biến ở nhiều loài sinh vật trên nhiều địa bàn khác nhau. Nguồn nước nhiễm HCBVTV không chỉ bởi nông dân trồng lúa mà tất cả các nông hộ trồng các loại cây rau. – Phản ứng của dịch hại đối với chất độc ở liều lượng thấp: dịch hại còn sống sót sau mỗi đợt xử lý thuốc. Nhưng tính chống thuốc được thể hiện mạnh nhất ở côn trùng và nhện. a. chúng lại hồi phục lại số lượng nhưng nhiều hơn trước. do không bị trúng thuốc hoặc trúng ở liều dưới mức gây chết. tăng số lần dùng thuốc.0 Tính tan trong nước (mg/l) 40 0. Tính chống thuốc của dịch hại là một trở ngại cho việc dùng thuốc hóa học để phòng trừ dịch hại. Trong quá trình sử dụng thuốc BVTV. do nhiều nguyên nhân mà vẫn sống sót. số lượng dịch hại giảm đi nhanh chóng.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Tính tan trong nước (mg/l) 0. sẽ phát triển trong điều kiện khác trước: mật độ quần thể giảm. làm cho nước ngầm nhiễm thuốc bảo vệ thực vật. lâm nghiệp.0012 24 2500 280 700 Loại thuốc Aldrin Isobenzan Haptechclo Diazinion Malathion 2-4-D Lindan Loại thuốc Carbaryl Dieldrin DDT Parathion Dimethoate 2-4-5 T Carbofuran (Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp – Sinh viên Lưu Nguyễn Thành Công – Trường ĐH Kỹ thuật – Công nghệ TP. – Xuất hiện dịch hại mới hoặc bùng phát dịch hại thứ cấp: sau một thời gian dùng thuốc. khoảng cách giữa các lần dùng thuốc ngắn lại. người ta lại sử dụng thuốc. một số loài dịch hại trước đây không được coi trọng lại trở nên rất nguy hiểm. còn nhiều cá thể. Việc phòng trừ những loài dịch hại mới nổi lên này thường phức tạp và khó khăn hơn trước nhiều. Chúng phát triển trong điều kiện mới và quần thể sinh vật gây hại bị chuyển biến theo các hướng khác nhau. Để chống lại. Việc sử dụng HCBVTV trong sản xuất nông nghiệp làm hóa chất thấm vào đất đến nguồn nước ngầm. bên cạnh các cá thể dịch hại bị chết. Ngược lại.18 0. Ảnh hưởng đến quần thể sinh vật gây hại Trong vùng xử lý.01 0. một lượng đáng kể một lượng thuốc sẽ không được cây trồng tiếp nhận.056 40 145 890 7. Hồ Chí Minh) – Nguồn nước mặt: Việt Nam có nền sản xuất nông nghiệp là chính nên nguồn nước ô nhiễm thuốc BVTV không chỉ ở một nơi nhiều nơi khác cũng đã bị ô nhiễm. số lần tái phát ngày càng nhanh và nặng thêm. Dịch hại dễ 26 . chỉ còn gây hại không đáng kể. cây công nghiệp sử dụng thuốc BVTV làm ô nhiễm nguồn nước. dịch hại sẽ phát triển mạnh.4 0. gây những tổn thất to lớn. Quá trình đó được lặp lại liên tiếp. chúng sẽ lan truyền và tích lũy trong đất thấm thấu vào nguồn nước ngầm. Để khắc phục. Sau một thời gian ngắn.

4.86 lần trong đất. các tuyến trùng. 4. Ngoài ra loại thuốc BVTV khác nhau thì cây hút được cũng khác nhau.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp chống thuốc. Cây có dầu như lạc. Năm 1970 ở Mỹ đã công bố hạn chế sử dụng thuốc BVTV này. Ðước. cà rốt. lá. đặc biệt ở rừng Sát: Mấm. 6 Pentachlobenzylic) không có hại cho lúa nhưng khi sử dụng rơm rạ đã xử lý bằng rượu này để ủ phân thì vi sinh vật phân giải và tạo ra hai chất có hại cho cây. môi trường sinh sống càng bị ô nhiễm. đời sống các sinh vật có ích càng bị đe dọa. 3. Các thuốc BVTV có thể bị các động vật hút giữ lại trong đất ví dụ lượng DDT trong cơ thể giun đất nhiều gấp 1. nếu muốn phục hồi phải mất 2 năm. Ngoài ra chúng cũng có thể gây đột biến ở người. động vật trong đất tất nhiên sẽ gây nên sự biến hoá độ màu mỡ và chế độ dinh dưỡng trong đất. Ví dụ thuốc trừ cỏ 2. Nồng độ thuốc BVTV tồn lưu trong đất có ảnh hưởng tới khả năng hút thuốc BVTV của rễ cây. ở Nhật năm 1965 đã chế ra một loại rượu chống được bệnh đạo ôn (2. vì hai chất đó có đặc tính hoá học ổn định: (Độc hại cho cây) Một số thuốc BVTV tồn lưu trong đất cây hút sẽ tồn lưu trong cây. một lượng lớn thuốc trừ cỏ đã được sử dụng gây nhiều thảm họa cho môi trường. Ví dụ. hạt. Ảnh hưởng đến quần thể. quả. 5. DDT có thể giết chết 99% động vật bé ở trong đất. Trong phạm vi nồng độ thấp thì lượng hút tương quan thuận với nồng độ thuốc BVTV trong đất. Ví dụ rơm rạ của cây lúa sống trên đất ô nhiễm 666 có hàm lượng 666 nhiều hơn 4 – 6 lần so với trong đất.18 – 4. 5 – T ở trong đất bị vi sinh vật phân giải tạo thành một số chất có thể gây nên quái thai động vật. Như ở Việt Nam. 1984). Vì ảnh hưởng của chúng ở đồng ruộng và ở các vùng phụ cận. thực vật Sau phân giải thì tính độc của một số thuốc BVTV càng tăng. Vẹt… Hay Dầu. vi khuẩn và nấm sẽ giảm số lượng. hạt lạc có thể chứa clo hữu cơ nhiều hơn ở trong đất 3 – 4 lần do đó có ảnh hưởng xấu đến con người. – Ảnh hưởng lên các quần thể Dùng thuốc diệt cỏ sẽ làm thay đổi thảm thực vật của hệ sinh thái nông nghiệp. ngô thì qua rễ thuốc BVTV được vận chuyển lên các bộ phận của cây trên mặt đất như thân. quần xã động. Sự biến hoá vi sinh vật. sự biến dạng thai nhi đã được thấy cao hơn mức bình thường nơi các bà mẹ bị nhiễm nặng bởi việc phun xịt thuốc khai quang trong thời gian chiến tranh chống Mỹ. a. Ảnh hưởng đến sinh vật đất Thuốc trừ sâu còn ảnh hưởng rất xấu tới động vật và vi sinh vật đất. Dù chỉ một lần phun nhưng các thuốc khai quang này đã làm chết các cây đại mộc nhiệt đới. Một số cây như dưa chuột. 27 . Một số cây trồng có thể tích luỹ thuốc BVTV. Các dẫn xuất của acid phenoxyacetic cũng độc đối với các động vật thủy sinh. vì cây 2 lá mầm rất nhạy cảm với thuốc trừ cỏ trong gieo trồng ngũ cốc. Ở Việt Nam. Sau khi dùng thuốc BVTV. Các loại cây như khoai tây. b. tuy chúng sẽ được phục hồi nhưng vẫn ảnh hưởng đến độ màu mỡ của đất đặc biệt là những đất dùng nhiều thuốc BVTV và dùng liên tục. trong chiến tranh chống Mỹ. cải củ có lớp biểu bì ở rễ có thể hút trực tiếp sau đó qua tác dụng thẩm thấu vào trong cây tạo thành thuốc BVTV tồn lưu. Thao lao và các cây mộc họ Caesalpiniaceae ở các rừng vùng núi (Westing. nơi nó sống.

carbamate và pyrethroid) tuy không gây độc lâu dài như nhóm clo hữu cơ. a. – Làm thay đổi cân bằng trong tự nhiên: Thuốc BVTV có thể gây ra sự phát triển quá đáng của một loài thực vật hay động vật nào đó. 1987). Nó làm hệ sinh thái trở lại giai đoạn đầu của giai đoạn chiếm cứ bởi các thực vật tiên phong. việc sử dụng các thuốc trừ sâu phân hủy nhanh (lân hữu cơ. với sự tích tụ thuốc BVTV trong mỗi nấc dinh dưỡng. 1982). làm cho nồng độ thuốc BVTV trong các vật ăn thịt luôn rất cao. nơi đã bị tàn phá hoàn toàn bởi thuốc khai quang. Rừng tre và đồng cỏ phát triển thành quần xã cao đỉnh nghẹn (tắc nghẹn. Khi sử dụng thuốc diệt cỏ ở các nơi trồng ngũ cốc thì hạt song tử diệp bị loại trừ. Cho nên thực vật có thể tích tụ thuốc BVTV trong mô. cũng như các thuốc diệt cỏ đều ảnh hưởng đến sinh sản của chim. Ðiều này làm nhiễm độc mãn tính các động vật.5 kg/ha ở năm đầu. việc sử dụng quá đáng azodrin. một số chất có thể được tích lũy trong mô của động vật. Ảnh hưởng của sự nhiễm độc mãn tính là do hấp thụ liên tục các thuốc BVTV cùng với thức ăn. Ảnh hưởng đến sức khỏe con người Thuốc BVTV sẽ xâm nhập vào cơ thể người qua 3 con đường: 28 . Phun xịt thuốc trừ sâu trên rừng gây chết nhiều chim và thú. Sự biến mất dần các thực vật hoang dại do sử dụng thuốc trừ cỏ trong các vùng đất canh tác làm thay đổi sâu xa nguồn thức ăn và nơi ở của nhiều loài chim định cư sống trong vùng hay xung quanh đó. Cuối những năm 50. sự sử dụng có hệ thống của thuốc trừ cỏ có thể tạo ra giai đoạn cao đỉnh nghẹn (dysclimax). dễ thấy là rối loạn chức năng sinh sản (chậm trưởng thành sinh dục. Như ở Hoa Kỳ. ở Hoa kỳ chiến dịch diệt Kiến lửa (Solenosis soevissina).Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Dùng thuốc trừ sâu gây chết các quần xã động vật ở trong hay quanh vùng xử lý. – Ảnh hưởng lên diễn thế: Diễn thế của các quần thể động vật lệ thuộc chặt chẽ vào diễn thế của các quần thể thực vật. Chiến dịch này có lợi cho các nhà kinh doanh nông nghiệp. Thuốc trừ nấm mặc dù không quá độc đối với cây xanh và động vật. sẽ làm thuốc BVTV chuyển đến cuối chuỗi thức ăn. Sáo. dẫn đến sự diệt chủng của loài. nên thuốc diệt cỏ ảnh hưởng mạnh hơn thuốc trừ sâu trong diễn thế của quần xã. heptachlor và PCB. số trứng ít. – Ảnh hưởng lên các quần xã Ða số các hậu quả của sinh thái học của việc dùng thuốc BVTV là ảnh hưởng gián tiếp thể hiện sớm hay muộn. rừng không thể phục hồi trở lại được. như chúng tỏ ra độc đối với trùn đất là sinh vật đóng vai trò quan trọng trong sinh thái học đất. thuốc azodrin lại diệt các thiên địch và ký sinh của sâu này. Trong vài trường hợp. sử dụng các hạt Heptachlore và dieldrine với liều 2. Ảnh hưởng của thuốc BVTV do sự chuyển vận qua sinh khối. để trừ côn trùng gây hại cây bông vải cho thấy một tình huống tiếu lâm. Sử dụng thuốc BVTV có thể loại trừ các kẻ thù tự nhiên của những loài gây hại. dieldrine. dysclimax). Bò sát. Nó gây chết cho các độ tuổi và làm giảm tiềm năng sinh học. Trường hợp nặng gặp ở các thuốc BVTV ít hay không bị phân hủy sinh học. Tương tự. khi đó các loài cỏ họ hòa bản sẽ phát triển mạnh vì vắng các loài cạnh tranh. nhưng hậu quả sinh thái học của chúng vẫn có. thì đất trống được tre và đồng cỏ bao phủ. côn trùng sống trong đất bị giảm số lượng mạnh. 1. làm cho vùng trồng bông có dùng thuốc bị thiệt hại nhiều hơn vùng không dùng thuốc (Ramade.000 km2 bằng máy bay. Thuốc diệt cỏ ít chọn lọc tác động. thuốc trừ sâu lân hữu cơ. nên làm giảm sự gia tăng của các quần thể bị nhiễm. Các khu rừng Việt Nam. Thay vì làm giảm quần thể sâu Heliothis zea.4 kg/ha vào 2 năm tiếp theo. Các thuốc BVTV cơ clo như DDT. trên 110. hạt giống trộn với thuốc diệt nấm gây hại cho chim. Các ảnh hưởng trên còn có thể dẫn đến các hậu quả sau đây: – Giảm lượng thức ăn: Một trong những xáo trộn do thuốc BVTV gây cho quần xã là làm giảm lượng thức ăn động vật và thực vật cần thiết cho các loài ở các bậc dinh dưỡng khác nhau trong hệ sinh thái nông nghiệp (Pimentel và Edwards. trứng có vỏ mỏng). Sơn ca và các chim bộ Sẻ khác bị ảnh hưởng mạnh. nhưng gây nhiều thảm họa cho động vật ở đây. nhưng cũng gây hại cho các loài chim ăn côn trùng vì chúng và con chúng sẽ không có thức ăn. Ðến phiên chúng làm thức ăn cho những bậc dinh dưỡng cao hơn. nhất là việc giữ độ phi nhiêu cho đất.

– Gây các ảnh hưởng di truyền (quái thai.6 0. – Đường tiêu hóa: do ăn. huyện Yên Thành. tại Nghệ An lại phát hiện thêm một làng ung thư mới: làng Phong Yên. huyện Triệu Phong. hóa chất 13%) với 3580 người mắc. uốn phải thức ăn nhiễm thuốc hoặc sử dụng những dụng cụ ăn bị nhiễm thuốc.2 1. thành phố Vinh. tại 3 xóm này với hơn 500 hộ đã co 100 người tử vong. Theo thống kê của Bộ Y Tế Hà Nội.5 Cypermethrin 1.1 0. trong vòng 7 năm trở lại đây. hiện nay tình hình ngộ độc thực phẩm do các hóa chất độc. ung thư…) Những ảnh hưởng của hóa chất có thể là cấp tính hoặc mãn tính tùy thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc.5 Cypermethrin (Nguồn: Hóa chất dùng trong nông nghiệp và sức khỏe cồng đồng – Đỗ Hàm) Con người ngày càng mắc nhiều căn bệnh lạ chưa từng thấy. xã Hưng Hoà.4 0. Ngoài ra cũng còn những ảnh hưởng về sức khỏe khác như: – Chứng mù lòa ở Sóc Trăng do trộn chung hành thu hoạch được với Mipcin để kéo dài thời gian bảo quản.000 người chết. Bảng 11: Dư lượng thuốc trừ sâu trong rau sản xuất ở Từ Liêm và Thanh Trì (1996) Dư lượng mg/kg Loại rau. Các biện pháp giảm thiểu ảnh hường của nông dược a. Ở Việt Nam ngày càng xuất hiện nhiều nơi gọi là “làng ung thư” bởi vì trong một làng có rất nhiều người bị chết và mắc những căn bệnh ung thư. tỉnh Quảng Trị. Đậu ăn quả 0. sau 3 năm phát bệnh đã có gần 20 trường hợp chết. hàng năm Việt Nam có khoảng 200.5 0.000 mắc bệnh ung thư với khoảng 70.2 Padan 0.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp – Đường hô hấp: khi hít thở thuốc dưới dạng khí. xã Đức Thàn.2 1. huyện Yên Thành. chủ yếu ung thư gan và dạ dày. Bắp cải 0. – Do sử dụng nhiều hóa chất trong nông nghiệp. Theo thống kê của Cục an toàn vệ sinh thực phẩm năm 2004 có 145 vụ ngộ độc (trong đó thực phẩm độc chiếm 23%. tỉnh Nghệ An: Tính sơ bộ. – Mới đây.2 Methylparathion 0. Hóa chất cũng gây ra những phản ững khác nhau do kiểu và dạng tiếp xúc khác nhau. thuốc BVTV có thể gây ra các tác hại sau: – Ngộ độc do tiếp xúc trực tiếp.2 0. – Ngộ độc do ăn nhầm các loại rau quả còn chứa nhiều thuốc BVTV.26 0. tỉnh Nghệ An: 28 người mắc phải căn bệnh ung thư quái ác (19 người đã chết). Con số thống kê ban đầu cho thấy. trong đó có thuốc BVTV vẫn diễn ra phức tạp và có chiều hướng gia tăng. – Xã Kim Thành.3 0.2 Methamidophos 0. Những làng ung thư đã được biết đến là: – Xóm Hồng Sơn.1 0.26 0. 1/3 số hộ trong làng có người chết vì bệnh ung thư. – Làng Thanh Lê. – Hấp thụ qua da: khi thuốc dính vào da.26 0. A. những căn bệnh này được coi là hậu quả của ô nhiễm môi trường. có 41 người tử vong.2 Methylparathion 0. Phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) 29 .0 Methamidophos 0. hơi hay bụi. Đối với con người. vô sinh. loại thuốc – – – – – – – Từ Liêm Thanh Trì Dư lượng cho phép của FAO/WHO (mg/kg) 1.8 0. thuộc xã Triệu Trung.

Có rất nhiều thí dụ về việc kiểm soát dịch hại bằng thiên địch hay ký sinh. Siêu khuẩn và vi khuẩn cũng đã được nghiên cứu và ứng dụng ở nhiều nơi. mức độ chất dinh dưỡng của đất và của thực vật có thể giúp kiểm soát dịch hại. Cho nên biết được nhu cầu dinh dưỡng của dịch hại. Cải hoang mọc sớm trước khi có sự xuất hiện của Bướm cải. Nhưng họ cũng nghĩ cách làm sao có thể bảo vệ hoa màu mà không cần dùng đến các chất độc này. Trung quốc dùng vịt con thả vào ruộng lúa ăn bớt côn trùng phá lúa. Tập huấn và theo dõi là những điều tiên quyết cho IPM. Vì biện pháp này dựa nhiều vào kiến thức hơn vào công nghệ. sự lệ thuộc nặng nề vào nông dược sẽ vẫn cứ tiếp tục. Mức độ của vài chất dinh dưỡng trong đất và cây trồng cũng có thể ảnh hưởng số lượng quần thể dịch hại. Thí dụ Rệp cây (Aphid) sinh sản nhiều hơn trên các hạt chứa nhiều Nitơ. hormon và các chất trừ sâu tự nhiên. Các kinh nghiệm dân gian là rất cần nhưng chưa đủ. bởi vì sự kiểm soát tự nhiên do thiên địch. Nhưng biện pháp này cần phải có sự tập huấn cho người áp dụng và sự quan trắc các loài dịch hại (Chiras. Cần phải nhận thấy rằng hiện nay nông dân nhận hằng khối lời khuyên của các nhà sản xuất và những người bán nông dược. nên đặc biệt phù hợp cho các nước nghèo. là làm cho con đực trở nên bất thụ và tạo các cây trồng và vật nuôi kháng bịnh về phương diện di truyền. Hiểu biết về sinh học côn trùng. Nông dân có thể sử dụng sự hiểu biết này của đấu tranh sinh học hay kiểm soát chuỗi thức ăn để quản lý cỏ dại. Cho nên cần kiểm soát hoa màu và cỏ dại lân cận là cần thiết. Nhưng biện pháp này vẫn hữu hiệu trong các xã hội nông nghiệp hiện đại. người nông dân nghĩ ngay tới việc dùng nông dược để sớm tiêu diệt chúng. Từ xa xưa người ta đã biết nuôi Kiến vàng trong các vườn cam quít chẳng hạn. Tăng cường đa dạng hoa màu bằng cách đa canh và luân canh. nhưng không trở thành dịch hại thật sự. Khi cây linh lăng (alfalga) trồng cạnh cây bông vải. nhất là côn trùng. Lượng Nitơ quá nhiều hay quá ít có thể làm thay đổi số lượng cá thể của nhiều loài dịch hại. pheromon. Phương pháp này sử dụng tổng các biện pháp kiểm soát dịch hại: môi trường. các trường đại học có thể giúp nông dân hiểu biết nhiều hơn. Nông dân cần được tập huấn nhiều điều để áp dụng IPM. Nitơ là nguồn dinh dưỡng quan trọng mà côn trùng và ký sinh nhận từ thực vật. Thay đổi chất dinh dưỡng của cây và đất. ký sinh và bịnh tật. côn trùng. – Biện pháp di truyền: Có hai chiến lược chủ yếu. Vài loài thực vật tránh dịch hại một cách tự nhiên bằng cách mọc sớm hay trễ trong mùa tăng trưởng. Nông dân có thể gieo trồng một hoa màu nào đó sớm hoặc trễ hơn bình thường. gậm nhấm và các dịch hại khác. kỹ năng nhận biết côn trùng và cải thiện việc theo dõi quần thể côn trùng có thể giúp nông dân quản lý đồng ruộng tốt hơn.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Mục đích của IPM là làm tăng sản lượng nông nghiệp đồng thời giúp nông dân giảm chi phí mua nông dược và giảm tác hại do nông dược. IPM sử dụng nhiều hình thức quản lý đồng ruộng như là một hệ sinh thái. 30 . sẽ thu hút rầy bông. làm giảm thiệt hại cho bông vải. hóa học và canh tác. Cho nên có nhiều khúc mắc trong vấn đề này. như Thrips và Mites lại sinh sản ít hơn trên Mồng tơi (Spinach) và Cà tô-mát khi các rau quả này chứa nhiều Nitơ. Thí dụ cổ điển như côn trùng diệt xương rồng ở UÙc. Các côn trùng khác. – Biện pháp môi trường: Biện pháp này nhằm làm cho các điều kiện môi trường (vô sinh và hữu sinh) trở nên bất lợi cho các loài dịch hại. Du nhập thiên địch. Kiểm soát hoa màu và cỏ dại lân cận. Ðôi khi hoa màu kém giá trị lân cận được dùng làm bẫy (trap crop) để lôi kéo côn trùng. Các cơ sở nghiên cứu. Nếu không. Hoa màu và cỏ dại có thể là nguồn thức ăn và nơi ở của dịch hại. lúc mà côn trùng chưa hay đã bộc phát rồi. Trong thiên nhiên hàng ngàn loài côn trùng là dịch hại tiềm tàng. – Biện pháp hóa học: Bao gồm việc sử dụng nông dược khi thật cần thiết. nhằm làm giảm nguồn thức ăn cho một loài dịch hại nào đó và giúp ngăn chận sự tăng trưởng nhanh của nó. Nông dân Việt Nam đã dùng kiến vàng kiểm tra sâu rầy cho vườn tược. Thay đổi thời gian gieo trồng. Thí dụ ở các nước ôn đới. ký sinh và vật gây bịnh. di truyền. 1991). – Tập huấn (giáo dục) và theo dõi (quan trắc): Khi có sâu rầy xuất hiện trên đồng ruộng.

Phương pháp sử dụng hợp lý nông dược Đối với phân bón: Bón phân hợp lý là sử dụng lượng phân bón thích hợp cho cây đảm bảo tăng năng suất cây trồng với hiệu quả kinh tế cao nhất. Trong một số trường hợp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt tạo nên nguồn thức ăn dồi dào cho sâu bệnh tích luỹ và gây hại nặng. ○ Ðã thử nghiệm cẩn thận độc tính. Có nhiều giai đoạn sinh trưởng cây cần đạm nhiều hơn kali. Bón phân trong một số trường hợp có tác dụng làm tăng khả năng chống chịu của cây trồng đối với các điều kiện không thuận lợi trong môi trường và với sâu bệnh gây hại. đối tượng của việc bón phân là cây trồng. thậm chí phân còn có thể gây ra những tác động xấu đối với cây. tốt nhất là chia ra bón nhiều lần và bón vào lúc cây hoạt động mạnh. có thể bón phân nhằm vào đối tượng là tập đoàn vi sinh vật đất. thúc đẩy sinh trưởng và phát triển của cây trồng. không để lại các hậu quả tiêu cực lên nông sản và môi trường sinh thái. suốt đời. sau đó kết hợp với các biện pháp khác để giữ cho quần thể này ở mức thấp. có nhu cầu đối với các chất dinh dưỡng thường xuyên. ○ Nông dược ít gây hại cho thiên địch và các sinh vật lan can (non target organisms). Vì vậy.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Việc sử dụng nông dược phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây: ○ Sử dụng hạn chế. Vì vậy. bón phân hợp lý là thực hiện 5 đúng và một cân đối: – Đúng loại phân: Cây cần phân gì bón đúng loại phân đó. thực tế cho thấy. Ở những trường hợp này. Như vậy. ○ Không phun xịt gần nguồn nước uống. ○ Tránh tối đa việc nông dân phải tiếp xúc nông dược (tránh hít phải khi thao tác). con hai đuôi ăn giấy và hồ dán bìa sách (Chiras. a. một lượng khá lớn chất dinh dưỡng của cây. Tuy vậy. để cho cây có thể sử dụng tốt các loại phân bón. Mỗi loại có những tác dụng riêng. cây lại sinh trưởng thêm. Bón đúng loại phân không những phải tính cho nhu cầu của cây mà còn phải tính đến đặc điểm và tính chất của đất. Đặc biệt các loại phân kali phát huy tác dụng này rất rõ. ○ Tránh dùng nông dược bền vững và có thể tích tụ sinh học.. 31 . Gần đây người ta dùng vi ba (microwaving) trừ một số côn trùng như dán. lượng phân bị hao hút nhiều. mối. 1991). ○ Sử dụng đúng thời điểm để hạn chế số lần phun xịt . ○ Sử dụng để làm giảm số cá thể dịch hại tới dưới ngưỡng gây hại. – Biện pháp canh tác: Dùng nhiều biện pháp như trồng nhiều cây che không cho cỏ dại mọc. Càng bón thêm phân. cây không thể sử dụng hết được. có nhiều giai đoạn cây cần kali nhiều hơn đạm. – Bón đúng lúc: Nhu cầu đối với các chất dinh dưỡng của cây thay đổi tuỳ theo các giai đoạn sinh trưởng và phát triển. cây được tập đoàn vi sinh vật đất cung cấp thông qua việc phân huỷ các chất hữu cơ hoặc cố định từ không khí. mà còn có thể gây ra những hậu quả xấu. Cây trồng cũng như các loài sinh vật khác. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho thấy bón phân để kích thích và tăng cường hoạt động của tập đoàn vi sinh vật đất cho phép cung cấp cho cây một lượng chất dinh dưỡng dồi dào về số lượng và tương đối cân đối về các chất. Bón đúng thời điểm cây cần phân mới phát huy được tác dụng. bón phân cần nhằm đạt mục tiêu là ngăn ngừa sự tích luỹ và gây hại của sâu bệnh.. Trong trường hợp này thay vì bón phân nhằm vào đối tượng là cây trồng. sâu bệnh lại phát sinh nhiều hơn và gây hại nặng hơn. tiếng động và bù nhìn đe dọa chim . Phân có nhiều loại. Nói một cách ngắn gọn. Bón không đúng loại phân không những phân không phát huy được hiệu quả. nhất là các nguyên tố vi lượng. bón phân không phải lúc nào cũng là để cung cấp thêm chất dinh dưỡng. Ngược lại. Bón tập trung vào một lúc với nồng độ và liều lượng phân bón quá cao. trên đất kiềm không nên bón các loại phân có tính kiềm. Đất chua không bón các loại phân có tính axit. – Bón đúng đối tượng: Trong cách hiểu thông thường bón phân là cung cấp chất dinh dưỡng cho cây.

Trong thực tế. Tỷ lệ cân đối giữa các nguyên tố dinh dưỡng cũng khác nhau ở các loại đất khác nhau. mà còn có cả toàn bộ các thành tố cấu thành nên hệ sinh thái nông nghiệp. cây sinh trưởng và phát triển kém. chỉ sử dụng một loại phân mà không chú ý đến việc sử dụng các loại đất khác. Thiếu một chất dinh dưỡng nào đó. Các mối liên hệ thông tin và năng lượng trong nhiều trường hợp chỉ cần những tác động nhẹ với những lượng vật chất không lớn có thể tạo ra những phản ứng và hiệu quả lớn.v. bón vào rãnh. phân bón có thể có những tác động sâu sắc trong các mối liên hệ thông tin và năng lượng. Cách bón thích hợp vừa đảm bảo tăng năng suất cây trồng. xói mòn. – Đúng thời tiết. hoà vào nước phun lên lá. Bón phân không cân đối không những không phát huy được tác dụng tốt của các loại phân. nâng cao hiệu quả của phân bón và của các biện pháp kỹ thuật canh tác khác. có thể làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón lên gấp nhiều lần. Có nhiều dạng bón phân: rắc bột. Trong điều kiện khí hậu. quả.4 vụ.. Có nhiều thời kỳ bón phân: bón lót.9 vụ sản xuất. tồn tại và hoạt động 3 nhóm các mối liên hệ: thông tin. Điều cần lưu ý là không được bón phân một chiều. cho loại đất.. hỏng hoa. Đối với mỗi loại cây trồng có những tỷ lệ khác nhau trong mức cân đối các yếu tố dinh dưỡng. ○ Bảo vệ nguồn nước. vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở từng cơ sở sản xuất. pha thành dung dịch để tưới. cho vụ sản xuất. tăng hiệu quả phân bón. dạng phân và thời vụ bón hợp lý có thể nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón. có thể với lượng phân bón không nhiều. Trong các mối liên hệ này. Mưa làm rửa trôi phân bón gây lãng phí lớn. 32 . thúc kết quả. Chọn đúng đối tượng để tác động. thúc ra hoa.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Có những trường hợp phải tác động theo chiều hướng ngược lại: cần kìm hãm bớt tốc độ tăng trưởng và phát triển của cây trồng. thậm chí 8 . ○ Tăng năng suất cây trồng. đối tượng của phân bón không chỉ có cây trồng. thúc mẩy hạt.v.. ngay cả những khi có các chất dinh dưỡng khác ở mức thừa thãi. phù hợp với từng trình độ của người nông dân. v.. cho nên nhu cầu đối với các nguyên tố dinh dưỡng cũng như phản ứng đối với tác động của từng yếu tố dinh dưỡng cũng khác nhau. Ở phần trên đã trình bày là trong các hệ sinh thái. – Bón phân cân đối: Cây trồng có yêu cầu đối với các chất dinh dưỡng ở những lượng nhất định với những tỷ lệ nhất định giữa các chất. Bón phân là đưa vào hệ sinh thái nông nghiệp những yếu tố mới và có tác động lên các mối liên hệ. v.v. chuyển hoá một khối lượng vật chất lớn.. năng lượng và vật chất. Phát hiện được tác dụng của phân bón lên các mối liên hệ thông tin và năng lượng. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây trồng ở từng vụ có khác nhau. mùa vụ: Thời tiết có ảnh hưởng đến chiều hướng tác động và hiệu quả của phân bón. Lựa chọn đúng cách bón thích hợp cho loại cây trồng. Cho đến nay. bảo vệ đất chống rửa trôi. Lựa chọn đúng loại phân. tập đoàn vi sinh vật đất. trong việc bón phân người ta chỉ mới chú ý đến các mối liên hệ vật chất. mỗi năm có 3 . tạo ra những hiệu quả to lớn và tích cực trong việc tăng năng suất cây trồng. vo viên dúi vào gốc.. làm tăng tính chống chịu của chúng lên. liên hệ vật chất có liên quan đến việc vận động. Bón phân cân đối có các tác dụng tốt là: ○ Ổn định và cải thiện độ phì nhiêu của chất. bón thúc đẻ nhánh. ○ Tăng phẩm chất nông sản. Tỷ lệ cân đối này cũng thay đổi tuỳ thuộc vào lượng phân bón được sử dụng. bảo vệ môi trường sinh thái. Như vậy. – Bón đúng cách: Có nhiều phương pháp bón phân: bón vào hố. hạn chế chất thải độc hại gây ô nhiễm môi trường. Các nguyên tố dinh dưỡng không chỉ tác động trực tiếp lên cây mà còn có ảnh hưởng qua lại trong việc phát huy hoặc hạn chế tác dụng của nhau. đến trao đổi chất. Nắng gắt cùng với tác động của các hoạt động phân bón có thể cháy lá. v. bón rải trên mặt đất. bón phân kết hợp với tưới nước. thời tiết và sản xuất của nước ta đối với các loại cây ngắn ngày. có thể mở ra những tiềm năng to lớn trong việc nâng cao hiệu quả của phân bón. gây lãng phí mà còn có thể gây ra những tác dụng không tốt đối với năng suất cây trồng và đối với môi trường.

bệnh. Phun đúng lúc cũng là tránh phun thuốc khi trời sắp mưa to có thể làm rửa trôi hết thuốc trên mặt lá. Đối với thuốc trừ cỏ thì phải tuỳ theo đặc điểm của từng loại thuốc và sử dụng vào lúc thuốc có tác động mạnh nhất đến cỏ dại và ít có nguy cơ gây hại cho cây trồng. như vậy khi phun thuốc sẽ được trang trải thật đều trên vật phun (lá cây. nếu như loại thuốc thâm nhập vào cơ thể với một lượng thấp hơn lượng giới hạn nói trên thì chưa gây hại cho cơ thể. không có gió to để thuốc bay vào mặt hoặc bay vào nhà ở gần nơi phun thuốc. Càng xa ngày phun rải thuốc thì dư lượng của thuốc bên ngoài và bên trong cây càng giảm thấp. Nên ưu tiên mua loại thuốc ít độc nhất. đúng liều lượng. Đảm bảo thời gian cách ly: ○ Dư lượng thuốc BVTV trên nông sản: Sau khi một loại thuốc BVTV được phun rải lên cây hoặc bón vào đất thì thuốc sẽ để lại trên mặt lá. Ngoài ra còn có nguy cơ cây trồng bị hại do thuốc liều lượng cao gây ra (nhất là khi dùng thuốc trừ cỏ). hoặc dễ gây cháy lá cây. người sống ở gần vùng phun thuốc và người sử dụng nông sản có phun thuốc. ○ Đúng cách: Dùng thuốc đúng cách thể hiện trước hết ở khâu pha thuốc. Pha thuốc đúng cách là làm thế nào để làm cho chế phẩm sử dụng được hoà thật đồng đều vào nước. Sâu hại thường mẫn cảm nhất đối với thuốc BVTV khi chúng ở giai đoạn sâu non tuổi nhỏ. ○ Đúng lúc: Đối với dịch hại đúng lúc là phun thuốc vào thời điểm mà dịch hại trên đồng ruộng dễ bị tiêu diệt nhất. một vài tuần) lượng hoạt chất bám trên cây và tồn tại bên trong cây sẽ giảm dần do tác động của nhiều yếu tố: thời tiết (nắng mưa). hoạt động phân huỷ thuốc của các men thực vật. lại có những loài chỉ sống ở mặt dưới lá. Có những loại sâu hại chỉ tập trung phá ở gốc (ví dụ rày nâu). Ngược lại loại thuốc nào có độc tính càng thấp (thuộc nhóm III) thì giới hạn đó càng cao. mặt đất…). Khi hỗn hợp 2 hay nhiều loại thuốc BVTV cũng có trường hợp do phản ứng với nhau mà hỗn hợp sẽ giảm hiệu lực trừ dịch hại.… Do vậy khi phun thuốc phải hướng sao cho tia tập trung vào nơi quy định phun. có những loài chuyên sống trên lá. Do vậy chỉ thực hiện việc hỗn hợp nếu như điều đó có hướng dẫn trên nhãn thuốc hoặc trong các tài liệu khoa học kỹ thuật hướng dẫn dùng thuốc BVTV. ○ Mức dư lượng tối đa cho phép: Một loại thuốc BVTV chỉ gây độc cho cơ thể người và động vật máu nóng. Những lương thực và thực 33 – – . Nên ưu tiên mua những loại thuốc có tác động chọn lọc (có hiệu lực trừ sâu bệnh cao nhưng tương đối ít độc đối với sinh vật có ích. Dùng thuốc đúng cách còn có nghĩa là không tự ý hỗn hợp nhiều loại thuốc BVTV với nhau để phun trên đồng ruộng. ưu tiên chọn mua loại thuốc có thời gian cách ly ngắn nhất. Phun rải thuốc đúng cách là làm sao cho thuốc BVTV tiếp xúc được với dịch hại nhiều nhất. Sau phun rải một thời gian (vài ngày. thân cây. Khâu tiếp theo của việc dùng thuốc đúng cách là phun rải thuốc trên đồng ruộng cho đúng cách. Phải tuỳ loại thuốc mà ngừng sử dụng trước khi thu hoạch một thời gian nhất định. thân cây và thông thường là cả ở bên trong các mô thực vật một lượng thuốc (hoạt chất) nhất định. đúng lúc. Loại thuốc nào có độc tính càng cao (thuộc nhóm I) thì giới hạn đó càng thấp. củ của cây trồng. cỏ dại gây hại mà mình cần phòng trừ. trên ngọn. hoặc dễ gây độc cho người sử dụng. đúng cách ○ Đúng thuốc: Trước khi chọn mua thuốc. trái. Không nên sử dụng cùng một loại thuốc trong suốt vụ hoặc từ năm này qua năm khác. ○ Đúng liều lượng: Dùng thuốc với liều cao hơn khuyến cáo càng làm gia tăng nguy cơ bị ngộ độc của người đi phun thuốc. nông dân cần biết loại sâu. do sự tăng trưởng của cây được gọi là dư lượng thuốc BVTV trên thân lá.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp Đối với thuốc BVTV: Để sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật an toàn và hiệu quả cần phải tuân thủ một số nguyên tắc sau: Tuân theo nguyên tắc 4 đúng: đúng thuốc. Phun thuốc vào lúc trời mát. Phun đúng lúc là không phụ thuộc vào quá gần ngày thu hoạch nông sản.

chén ăn cơm. chậu rửa rau vo gạo. Đại học Nông nghiệp I. – Tài liệu tham khảo: 1. quần áo bảo hộ lao động phải được giặt giũ.huaf. 3. bịch thuốc BVTV) vào bất kỳ mục đích nào khác. pha thuốc. cất giữ: ○ Những thuốc BVTV mua về chưa sử dụng hoặc dùng chưa hết phải được cất giữ trong các phòng riêng biệt. những nông sản chứa dư lượng một loại thuốc BVTV vượt quá mức dư lượng tối đa cho phép thì không được dùng làm lương thực. Sau khi đã dùng hết thuốc không được dùng bao bì thuốc BVTV (chai thuốc. 2010. ○ Không trút đổ thuốc dư thừa. 2. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.php?f=114&t=9589 34 .…). Trần Văn Chính (chủ biên). 2007. ○ Những dụng cụ đong thuốc. tuỳ theo độc tính của thuốc và tuỳ theo loại cây lương thực. tuỳ theo lượng thuốc dùng trên đồng cỏ. 2004. Sinh thái và môi trường đất. Thời gian cách ly dài hay ngắn còn tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết trong thời kỳ phun thuốc. …) để đong. thực phẩm cho người tiêu dùng. Giáo trình thổ nhưỡng học. NXB Lao động – Xã hội. Thời gian cách ly có thể thay đổi từ một vài ngày đến một vài tuần tuỳ theo đặc tính khoa học. http://www. chai nước mắm. chưa dùng hết sang bất kỳ đồ đựng khác (vỏ chai bia.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp phẩm chứa dư lượng một loại thuốc BVTV ít hơn mức dư lượng tối đa cho phép thì được xem như vô hại đối với sức khoẻ của người tiêu dùng. rửa sạch sẽ sau mỗi đợt phun thuốc và phải cất giữ trong kho riêng (cùng với nơi lưu trữ thuốc BVTV của gia đình). Đỗ Hàm. Lê Văn Khoa. thực phẩm được phun thuốc. muỗng.vn/diendan/viewtopic. thìa.edu. không dột khi bị mưa. bình bơm thuốc. ○ Thời gian cách ly: Thời gian của một loại thuốc BVTV đối với một loại nông sản là thời gian kể từ ngày phun loại thuốc đó lần cuối trong vụ đến ngày thu hoạch nông sản đã có phun thuốc. có khoá cửa chắc chắn. Phải huỷ và chôn những bao bì này. xa nơi ở và chuồng trại gia súc. Hóa chất dùng trong nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng. Tuyệt đối không được dùng các đồ dùng trong sinh hoạt (xô chứa nước ăn. Ngược lại. Đảm bảo an toàn khi sử dụng.

http://congnghiepmoitruongcie. Vương Trường Giang. Báo cáo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tình trạng xuất nhập khẩu thuốc BVTV tại Việt Nam http://www.agroviet. Báo động đỏ về chứng mù lòa ở Sóc Trăng http://vnexpress. Tạp chí Môi trường số 05/2011.gov.com/2011/07/11/tinh-hinh-nh%E1%BA%ADp-kh %E1%BA%A9u-va-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-thu%E1%BB%91c-b%E1%BA %A3o-v%E1%BB%87-th%E1%BB%B1c-v%E1%BA%ADt-%E1%BB%9F-vi%E1%BB %87t-nam/ 5.vn/Pages/statisticreport. Thống kê của Bộ Công Thương về tình trạng xuất nhập khẩu thuốc BVTV tại Việt Nam http://tttm.gov.aspx?TabId=thongke 6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.net/gl/suc-khoe/2003/01/3b9c48ce/ 35 .vecita.vn/?timestamp=1321519165524 7.Đào Nguyễn Thúy Hằng – Đào Việt Nga Hóa chất trong nông nghiệp 4.wordpress. Bùi Sĩ Doanh.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->