P. 1
Thuyết minh về món ăn

Thuyết minh về món ăn

|Views: 4,419|Likes:
Được xuất bản bởiCuong Nguyen

More info:

Published by: Cuong Nguyen on Jan 16, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

01/31/2013

pdf

text

original

Thuyết minh về món ăn (Bánh chưng) Dân tộc nào cũng có thức ăn truyền thống.

Song chưa thấy dân tộc nào có một thức ăn vừa độc đáo, vừa ngon lành, vừa bổ, vừa gắn liền với truyền thuyết dân tộc lâu đời, lại vừa có nhiều ý nghĩa sâu xa về vũ trụ, nhân sinh như bánh chưng, bánh dầy của Việt Nam. Bánh chưng hình vuông, màu xanh, tượng trưng trái Đất, âm. Bánh dầy hình tròn, màu trắng, tượng trưng Trời, dương, thể hiện triết lý Âm Dương, Dịch, Biện chứng Đông Phương nói chung và triết lý Vuông Tròn của Việt Nam nói riêng. Bánh chưng âm giành cho Mẹ, bánh dầy dương giành cho Cha. Bánh chưng bánh dầy là thức ăn trang trọng, cao quí nhất để cúng Tổ tiên, thể hiện tấm lòng uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn, bao la như trời đất của cha mẹ. Theo truyền thuyết, bánh chưng bánh dầy có từ thời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi phá xong giặc Ân.Vua muốn truyền ngôi cho con, nhân dịp đầu xuân, mới hội các con mà bảo rằng: ”Con nào tìm được thức ngon lành để bày cỗ có ý nghĩa hay thì ta truyền ngôi cho”. Các con trai đua nhau kiếm của con vật lạ, hy vọng được làm vua. Người con trai thứ mười tám của Hùng Vương thứ 6 là Lang Lèo (tên chữ gọi là Tiết Liêu), tính tình thuần hậu, chí hiếu, song vì mẹ mất sớm, không có người mẹ chỉ vẽ cho, nên rất lo lắng không biết làm sao, bỗng nằm mơ thấy Thần Đèn bảo: ”Vật trong trời đất không có gì quí bằng gạo, là thức ăn nuôi sống người. Nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng trưng Trời Đất. Lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột để tượng hình cha mẹ sinh thành”. Lang Lèo (sau có người gọi Lang Liêu) tỉnh dậy, mừng rỡ làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp, đậu xanh thật tốt, thịt lợn (heo) ba rọi dày thật tươi. Đến hẹn, các lang (con vua) đều đem cỗ tới, đủ cả sơn hào hải vị. Lang Lèo chỉ có bánh Dầy bánh Chưng. Vua lấy làm lạ hỏi, ông đem thần mộng tâu lên. Vua nếm bánh, thấy ngon, lại khen có ý nghĩa hay, bèn truyền ngôi cho Lang Lèo, tức đời vua Hùng Vương thứ 7. Từ đó, cứ đến Têt nguyên đán hay các đám cưới, đám tang, dân gian bắt chước làm theo, sau thành tục lệ để cúng Tổ tiên, cúng Trời Đất. Bánh chưng độc đáo, sáng tạo, đậm đà bản sắc dân tộc còn ở những vật liệu và cách gói, cách nấu. Lúa gạo thì tượng trưng cho nền văn hóa lúa nước, nhiệt đới, nóng và ẩm, được chế biến dưới nhiều hình thức khác nhau, mang tính đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam hay Đông Nam Á. Người Trung Hoa ưa chế biến từ bột mì hơn; người Ấn Độ thì ưa chế biến từ kê… Thịt lợn hay heo được coi là lành nhất, nên các bệnh viện ngày nay thường chỉ sử dụng lọai thịt heo chứ không dùng thịt bò hay thịt gà là thức ăn chính cho bệnh nhân. Người Việt thích thịt luộc hay nấu. Đậu xanh vừa ngon lành vừa bổ dưỡng. Bánh chưng như thế rất nhiều chất, đặc trưng của các món ăn Việt Nam. Độc đáo hơn nữa, khi nấu trong một thời gian khá dài thường trên 10 tiếng, phải để lửa râm râm, bánh mới ngon. Nấu bằng lò gas, tuy nhanh, nóng quá cũng sẽ không ngon. Vì được gói bằng lá dong, bánh chưng vừa xanh vừa đẹp, thơm hơn lá chuối. Phải gói thật kín, không cho nước vào trong, bánh mới ngon. Lạt phải buộc thật chật, chắc; gói lỏng tay, ăn không ngon. Song nếu chắc quá, bánh cũng không ngon. Tuy gọi là luộc (người Việt Nam thích luộc, người Trung Quốc thích quay), song vì nước không tiếp xúc với vật liệu được luộc, nên lại là hình thức hấp hay chưng (chưng cách thủy), khiến giữ nguyên được chất ngọt của gạo, thịt, đậu! Có lẽ vì cách chế biến bằng chưng, nên mới gọi là bánh chưng. Vì thời gian chưng lâu nên các hạt gạo mềm nhừ quyện lấy nhau, khác hẳn với xôi khi người ta “đồ”, khi hạt gạo nhừ quyện vào nhau như thế, người ta gọi bánh chưng “rền”. Vì nấu lâu như thế, các vật liệu như thịt (phải là thịt vừa nạc vừa mỡ mới ngon; chỉ thịt nạc, nhân bánh sẽ khô), gạo, đậu đều nhừ. Cũng vì thời gian chưng lâu, khiến các chất như thịt, gạo đậu nhừ, có đủ thời gian chan hòa, ngấm vào nhau, trở thành hương vị tổng hợp độc đáo, cũng mang một triết lý sống chan hòa, hòa đồng của dân tộc ta. Cách chế biến như thế rất độc đáo, công phu. Bánh chưng nhất là bánh dầy có thể để lâu được. Khi ăn bánh chưng, người ta có thể chấm với các lọai mật hay với nước mắm thật ngon, giàu chất đạm; cũng có thể ăn thêm với củ hành muối, củ cải dầm hay dưa món… Dân Bắc Ninh xưa thích nấu bánh chưng, nhân vừa thịt vừa đường! Bánh chưng, bánh dầy quả thật là một món ăn độc đáo có một không hai của dân tộc. Bánh

món ăn này thường được gọi là bánh khoái và thường kèm với thịt nướng.chua của chanh hoặc dấm -cay của ớt. dân sành ăn cứ thấy ngờ ngợ như món này thực sự được bắt nguồn từ Huế. cho một ít dầu vào. 3) Tôm lột vỏ. bột bắp. hấp/luộc chín sao cho đậu vẫn còn nguyên dạng hạt. Cầu kỳ nhất là ở các vùng miền Trung Việt Nam. nước chấm là nước lèo gồm tương. Tuy nhiên. Hành lá rửa sạch cắt nhỏ. Tại miền Nam Việt Nam.chưng là một trong những bằng chứng cụ thể chứng tỏ văn hóa ẩm thực Việt Nam có nhiều tiềm năng khiến Việt Nam trở thành một cường quốc về văn hóa ẩm thực! Bánh xèo là một loại bánh Việt Nam. • Pha nước chấm bánh xèo sao cho có đủ vị ngọt-chua-cay nhưng rất nhạt. đợi khoảng 2~3 phút cho bánh chín vàng. muối. Dùng vá tròn to( loại múc canh) múc một vá hỗn hợp bột bánh xèo (4) đổ tròn vào chảo. giá đỗ. cho giá vào phần nửa cái bánh. gan. Lấy bánh ra. Rắc một ít đậu xanh đều lên bề mặt. Tại miền Bắc Việt Nam.. Mình thường pha theo tỉ lệ 2 đường-1 mắm-4 nước. Nếu không có nước dừa thì phải dùng nước uống cũng được nhưng dĩ nhiên là chất lượng sẽ thay đổi Tại Huế. Cứ thế lập lại cho đến khi hết bột và tôm thịt rau. chấm với nước mắm pha chua ngọt. cho ít lát thịt heo và vài ba con tôm vào xào chín tái. Tham khảo cách pha nước chấm ở đây. Dầu nóng. làm sạch đường chỉ. bột nghệ và nước soda vào trộn đều. Đậy nắp lại. bên trong có nhân là tôm. nhân bánh xèo ngoài các thành phần như các nơi khác còn thêm củ đậu thái mỏng hoặc khoai môn thái sợi. nặn hình tròn hoặc bán nguyệt. Vừa đổ vừa quay cán chảo cho bột chạy dàn đều một lớp mỏng khắp đáy chảo. Khi ăn cuốn với rau sà lách hoặc cải cay và rau thơm. 4) Cho bột gạo. Bởi vậy. phải gia giảm đường-nước và nước mắm sao cho thoả điều kiện trên. Các loại rau ăn kèm với bánh xèo cũng rất đa dạng. được rán màu vàng. nhạt đến độ có thể húp chén mắm như canh vậy (^^). Bỏ hỗn hợp vào tủ lạnh khoảng nửa tiếng trước khi làm. thịt. Vị ngọt của chén nước mắm chấm bánh xèo lấy từ nước dừa tươi và đường (nếu không có dừa tươi thì dùng nước dừa tươi đóng lon/ hoặc không nữa thì phải dùng đường thay thế). 5) Chiên bánh: Chảo nóng. Cho mực vào cũng rất ngon. thơm. còn thêm quả vả chát. . Thường có 2 phong cách: đổ bánh xèo giòn và bánh xèo dai. khế chua . bánh có cho thêm trứng và người ta ăn bánh xèo chấm nước mắm chua ngọt. Đãi vỏ sạch. không bị bể 2) Giá rửa sạch để ráo. lạc. Dùng vá dẹp bẻ gập bánh lại làm đôi. Ướp tôm thịt với một tí xíu muối. tỏi ép nhỏ khoảng nửa tiếng cho ngấm gia vị. Cách làm: 1) Đậu xanh ngâm nước nóng ấm khoảng 1 tiếng cho bóc vỏ.thơm của tỏi. có bột bên ngoài. Cho hành lá vào. Tuỳ theo từng địa phương tại Việt Nam mà bánh được thưởng thức với nét đặc trưng riêng. tiêu. ngoài rau sống.

một trung tâm buôn bán lớn ở miền Tây Nam Bộ. Ngược lại nếu đứng từ bên kia Xóm Chài nhìn sang sẽ thấy toàn cảnh Ninh Kiều và phố sá rực rỡ ánh đèn soi bóng xuống mặt nước phù sa lấp lánh như rắc ánh vàng thật lung linh tuyệt đẹp giữa trời nước bao la. chạy dọc bờ sông Hậu cây cối sầm uất (thời Pháp cai trị đặt tên "Le quai de Commerce". nằm bên hữu ngạn sông Hậu. nhân dân gọi là bến Hàng Dương hay là bến Lê Lợi). thơ mộng.nơi bờ sông nhìn ra dòng Hậu Giang hiền hòa. . Bên Bến Ninh Kiều là cảng Cần Thơ. Trên bến sông luôn tấp nập tàu bè. Năm 1958 bến sông và công viên nằm cạnh con đường Lê lợi được đặt tên bằng một trận đánh của nghĩa quân Lam Sơn là Ninh Kiều. "Cần Thơ có bến Ninh Kiều Có dòng sông đẹp với nhiều giai nhân. tiên. tạo cho ta niềm rung cảm dạt dào. Đứng trên bến Ninh Kiều mắt ta nhìn sang Xóm Chài và hướng Cồn Ấu ở đầu vàm sẽ thấy một dải cù lao mập mờ cây lá. rồi dần dần trở thành thắng cảnh du lịch của đất Tây Đô. Việc giao thương mỗi ngày thêm phồn thịnh. gần bến Ninh Kiều có chợ Cần Thơ. thuyền xuôi ngược chở đầy những sản vật vùng đồng bằng sông Cửu Long. những con người Cần Thơ luôn tự hào và kiêu hãnh mỗi khi nhắc đến Ninh Kiều . Ngược dòng thời gian. Thuyết minh Bến Ninh Kiều Đã từ lâu. không khí trong lành nhờ cơn gió từ dòng Hậu Giang đưa vào. gần trung tâm thành phố Cần Thơ." Bến Ninh Kiều là một địa điểm mà du khách hay tìm đến nhất. bến Hàng Dương do đó cũng được mở rộng và sửa sang. Con đường Hai Bà Trưng hiện nay trước đây là đường Lê Lợi.Bánh xèo Phan Thiết khác với bánh xèo ở những nơi khác là bánh nhỏ chỉ bằng một nửa và không cuốn với rau xà lách mà ăn chung với nước mắm chín (nước mắm đã được giã với tỏi và ớt). ngay ngã ba sông Hậu và sông Cần Thơ. hàng cây dương chắn gió ven bờ đã trở thành tên gọi của bến sông. Đây là một trong những cổ tự nổi tiếng của Tiền Giang đồng thời cũng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Bến Ninh Kiều xưa được khai sinh là một bến sông ở đầu chợ Cần Thơ. Ninh Kiều ngày ấy tấp nập thuyền bè qua lại giao thương. thần mặt trời và thần mặt trăng. Cảng này được xây dựng hiện đại có khả năng tiếp nhận trọng tải 5.000 tấn.

du khách còn có thể tham quan các nhà hàng thuỷ tạ. là nét tương đồng của bánh chưng ở Miền Bắc về nguyên liệu. ngày xưa cứ tết đến người ta gói loại bánh này và gọi bằng tên "bánh tết". buộc chặt.Nguyễn phân tranh. tên gọi "bánh tét" rất có thể còn xuất xứ từ cách thức cắt bánh ( hành động cắt bánh: hai tay cầm hai đầu dây. tiêu bột như bánh chưng). bao gồm: gạo nếp. là một loại bánh trong ẩm thực của cả người Kinh và một số dân tộc thiểu số ở miền Nam và miền Trung Việt Nam. "tét" từng khoanh một. Khi mới bắt đầu đun nồi bánh phải đun to lửa cho sôi nước trong nồi một lúc sau đó rút bớt lửa để sôi liu riu suốt quá trình nấu bánh. Đậu xanh ngâm đãi sạch vỏ + thịt heo ( mỡ) xắt miếng hình khối chữ nhật để làm nhân bánh (không ướp hành củ. Bánh tét. vừa ngắm dòng sông Hậu hiền hòa. bánh nhỏ nấu khoảng 3 giờ.Đến bến Ninh Kiều. chợ nổi trên sông. khoanh tròn đòn bánh đã lột (vỏ). nấu bằng củi gộc đun sôi trong gần một buổi. Bánh làm xong được cho vào nồi cao ( người ta hay dùng thùng phi cũ cắt nửa). cách nấu.Sau đó đem gạo ướp muối bọt có độ đậm nhạt vừa phải. đơm lên đĩa) Nguyên liệu Nguyên liệu để gói bánh tét tương tự như dùng làm bánh chưng. ngày nay nhiều khi người ta dùng dây ni lon thay vì dây lạt. Tuy nhiên. lâu dần đọc trại ra thành "bánh tét".( Về điều này có ý kiến lý giải là do triều Nguyễn muốn tạo sự khác biệt trong văn hóa với Đàng Ngoài.). chỉ khác về hình dáng và sử dụng lá chuối để gói thay vì lá dong. .). gút trước vài tiếng. Cũng như bánh chưng. thịt heo ( mỡ ) và một số gia vị tương tự như để làm bánh chưng. đãi sạch. nhân bánh nằm chính giữa ( có nghệ nhân còn gói nhân khi cắt ra có hình tam giác trông rất đẹp.Nếp: 2 chén cho mỗi cái bánh. Do có hình trụ nên khi nấu xong không thể ép bớt nước được và cũng do dùng lá chuối nên bánh để không được lâu. Thuyết minh : I. khi đất nước trong giai đoạn Trịnh .Phải để bánh dựng đứng. bánh lớn nấu tới 5 tiếng mới chín. Vì vậy nó cũng được sử dụng nhiều nhất trong dịp Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc Việt Nam với vị trí không khác bánh chưng. Ở các vùng trung du và miền núi phía Bắc cũng có loại bánh tương tự có tên là bánh tày. độ nóng lan tỏa để bánh được chín đều. Bánh được đánh giá là gói khéo khi bánh được làm tròn đều. người ta thường làm bánh không có nhân thịt ( ta thấy chỉ có bánh tét nhân mỡ-đậu . Để khắc phục. nhân chuối ) để có thể để được lâu hơn. Theo dân gian lưu truyền.Từ Quảng Bình trở vào. Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng đây mới là loại bánh chưng cổ. có nơi gọi là bánh đòn.Vật liệu: . Quy trình thực hiện Gạo nếp trước khi gói bánh thường được ngâm. thơ mộng.1 gói đậu xanh cho 4 cái bánh tét. . Bánh chín được vớt ra rổ cho ráo nước và nguội. đậu xanh. người dân gói bánh tét để ăn Tết. vừa thưởng thức các món ăn đặc sản.

Gấp một đầu bánh lại. và nấu khỏang 4 tiếng đồng hồ.Thịt ba chỉ. Khi cột dây bánh. đem hấp hoặc nấu với chút xíu nước trong nồi (có đậy nắp). dùng tay bóp nhẹ hoặc lăn nhẹ đòn bánh cho đều. mỗi bánh cần 6 . . cắt từng miếng dài theo chiều dài bánh. chiều dài khỏang bằng nhân bánh. Dây cột cắt khúc khoảng 40cm. gấp mí lá. (Thường nếu gói bằng lá chuối. giữ mực nước luôn luôn cao hơn bánh ít nhất là 5cm để bánh không bị cứng (sống lại). Có thể cho vào một ít màu xanh lá cây.5 tiếng đồng hồ. khỏang 100gr cho một cái bánh . Trở đầu và vỗ nhẹ vào đòn bánh cho nếp chặt lại. để đòn bánh đứng lên. bánh cũng đã có màu xanh lạt. Khi luộc bánh xong: lăn bánh trên thớt một lần nữa lúc bánh còn nóng cho tròn. hoặt ít nhất là 4. nhưng khi cho thêm màu chút xíu thì bánh trông đậm đà hơn) Thịt heo ( mỡ ). xắp miếng thịt mỡ đã ướp. và xếp đầu bánh hình vuông. bánh không cần tròn lắm lúc này. Lấy nhân bánh trong tủ lạnh ra và gói bánh. Sau đó tắt lửa để qua một bên cho đậu xanh nguội. Đậu xanh vo cho sạch. lựa miếng có nhiều mỡ. làm thành một hình chữ nhật. để bánh đứng thì bánh sẽ chín đều. đổ vào một thau lớn trộn chung với một ít muối và ngâm nước qua đêm. kế đến đong thêm một chén vun nếp và đổ dọc lên trên nhân. rửa bánh cho bớt chất nhờn trên lá. ngâm với nước muối vài tiếng đồng hồ cho mềm. II. Bánh chín. vớt ra xả nước lạnh cho thật lâu. Đâu xanh chín tán sơ. dùng kéo cắt miếng từ 25 đến 30 cm. mỗi . Bánh gói xong cho vào nồi. Chuẩn bị một ít nước sôi để châm thêm vào khi nước vơi đi. Vo nếp thật sạch. Dùng dây cột lại ở giữa. Đổ nếp vào một rổ lớn cho ráo nước. Bắc chảo lên bếp xào với chút dầu ăn và hành lá đã cắt nhỏ. Cách làm: a) Chuẩn bị ngày hôm trước: Nếp đong chén gạt ngang . đổ nước cho ngập bánh. đường và bột ngọt. dùng những miếng lá nhỏ lót thêm vào. đong 1 chén vun (một chén gạt ngang nếp đã nở ra sau khi ngâm) đổ ra lá chuối. xếp góc đầu còn lại. sẽ giúp cho việc gói bánh dễ và khi cắt bánh ra nhân đều tròn đẹp mắt. Lá chuối xắp 2 lớp lên một khay hay tấm thớt lớn như . b) Gói bánh: Lá chuối rửa sạch lau khô. để nếp có màu sau khi nấu. Cuốn lá chuối lại. Các bạn có thể chuẩn bị như sau cho việc gói bánh dễ dàng hơn: Trải đậu xanh ra một miếng giấy bóng. không cần cột chặt vì sẽ mở ra nếu cần để sửa cho bánh tròn.Một cái nồi lớn có nắp đậy.Dây cột . đường và bột ngọt.8 sợi. Nếu lá chuối rách. Đây là nhân bánh. cứ 2 chén cho một cái bánh. muối. Xắp nhân vào hộp và cất vào tủ lạnh. có hình dạng của bánh. dùng chén đã đong nếp trước khi ngâm. nêm nếm cho vừa ăn. Khi đậu xanh đã nguội và thịt ba chỉ đã ướp qua đêm.Lá chuối .Hành lá. cuốn giấy lại theo chiều dài của miếng giấy để đậu xanh bọc đều thịt mỡ. chỉ cần lưu ý cho các cạnh của hình vuông trên 2 đầu bánh thẳng với nhau. để nhân bánh lên nếp .. Cho bánh vào bồn rửa chén hoặc một thau lớn ngâm nước thật lạnh thêm một lúc ( khỏang thời gian này. thịt đem ướp với muối. Những miếng nhỏ để một bên để xài thêm khi lá bị rách.

miền ngược. không bị lai tạp nên khi gói luộc. ông bà. Ngày nay.người có một ý khác nhau. rền và thơm hương nếp cùng lá dong xanh mà còn thể hiện sự tôn kính đối với các thế hệ tiền nhân. hoặc vỏ con trai cạo từng túm chứ không đập. lúa gặt về được nhặt từng bông. Quá trình chăm sóc luôn giữ đủ nước. tự sản hay được mua bán như những thứ hàng hoá khác nhưng đều có chung một điểm: Đó là sản vật không thể thiếu để dâng cúng lên cha mẹ. trên mâm cúng ông bà. Có thể nói bánh chưng là một sản vật vừa có sức trường tồn mà lại rất gần gũi với đời sống thường nhật của người Việt Nam trong cả hai lĩnh vực: Văn hoá ẩm thực và văn hoá tâm linh. Khi gặt về cũng lựa từng bông và bảo quản bằng các túm nhỏ trên sào tre. Trong những ngày tết Nguyên Đán. trước tổng tiến công các má. chỉ dùng cho việc cúng lễ hay những ngày trọng trong năm. bên hông cột gọn gàng gói bộc phá với một đòn bánh tét mãi mãi là bức phù điêu của những mùa xuân đại thắng của dân tộc Việt Nam. Phong bánh chưng ngày Tết được bày trên mâm cúng ông bà. một trong những người con của Vua Hùng đã dùng lúa nếp làm nên những chiếc bánh chưng. không có gia đình Việt Nam nào lại thiếu vắng những chiếc bánh chưng xanh trên bàn thờ. gói luộc đối với người nông dân ở miền xuôi. Bánh chưng có thể được tự làm ra từ khi gieo hạt. thu hái. tổ tiên trong ngày Tết. trồng cấy. mẩy đều rồi buộc thành từng túm nhỏ treo trên sào cốt tránh lẫn các loại lúa khác. miền Nam. bánh chưng ( bánh tét ) cũng theo bước . Nó là thứ “ngọc” đã nuôi sống con người. các chị đã ngày đêm gói rất nhiều đòn bánh tét cho bộ đội ăn tết trước và đem theo làm lương ăn trong những ngày Tết đánh giặc. Những việc làm cẩn thận. Chiếc bánh chưng ngày tết dù tự túc. kết quả khác thế nào thì không xác định được) Khi bánh nguội bớt. Một nét đẹp lâu đời nhất. bánh chưng cũng có thể được mua như mua các loại hàng hoá khác đối với những người dân các vùng đô thị trong nước và ở nước ngoài. việc trồng cấy đại trà và tạo ra những vùng nguyên liệu chuyên canh là một xu thế tất yếu. bánh chưng sẽ dẻo. ông vải là một mỹ tục. bánh dầy thay cho các thứ sơn hào. miền Bắc. xay giã. lựa những bông có hạt chắc. trong sản xuất nông nghiệp với xu thế chuyển đổi nông sản thành hàng hoá. Từ việc chọn giống như giống nếp cái hoa vàng. cầu kỳ đến tỉ mẩn này không chỉ thể hiện sự “sành ăn” vì giống nếp quý lại không lẫn tẻ. Trước đó hơn hai trăm năm ( Bính Ngọ – 1786 ). Hình ảnh anh bộ đội giải phóng với vành mũ tai bèo. vẫn còn không ít những gia đình nông dân vẫn còn lưu giữ một tập quán lâu đời: Đó là việc dành riêng một một khoảnh. ông bà. giống nếp hương …. vừa phân và xa các khu ruộng trồng các loại lúa tẻ để tránh lai tạp. một thửa đất để trồng cấy các giống nếp quý. Giáp tết hay những ngày trọng mới đem suột và xay giã làm gạo để gói bánh chưng hoặc đồ xôi. được truyền lại từ thời các Vua Hùng trong truyền thuyết Lang Liêu. sắp bánh lên một vỉ để ráo nước Thuyết minh về chiếc bánh chưng ngày tết Bánh chưng là một sản vật xuất hiện từ trước thời văn minh lúa nước của người Việt và cho đến nay cũng như mãi mãi về sau. hải vị dâng tiến vua cha. tổ tiên mà không có thứ ngọc nào sánh nổi. Đến mùa gieo mạ mới đem xuống dùng đĩa xứ. Tuy vậy. Nó là biểu trưng cho lòng thành kính đến mộc mạc của con cháu đối với cha mẹ. Trong cái tết Mậu Thân. Có lẽ cũng từ đó mới xuất hiện hai từ “ngọc thực”. bánh chưng luôn có sự hiện diện trong đời sống văn hoá ẩm thực và văn hoá tâm linh của người Việt Nam. ông vải. Và. truyền thống nhất trong văn hoá tâm linh của người Việt Nam. nuôi sống dân tộc từ thuở hồng hoang của lịch sử cho tới muôn sau.

làm giàu thêm bản sắc văn hoá tâm linh và văn hoá ẩm thực Việt Nam. cùng hướng tới tương lai … Ngày tết. mang thông điệp của một Việt Nam đổi mới. bánh chưng Việt Nam trong những ngày tết cổ truyền của dân tộc lại có mặt trên khắp năm châu.chân thần tốc của đoàn quân của người anh hùng áo vải Tây Sơn .Nguyễn Huệ phò Lê diệt Trịnh. Bánh chưng có mặt trong mọi hoạt động xã hội. . ông bà. Bánh chưng Việt Nam trong vai trò sứ giả. gắn kết quá khứ với hiện tại và trong xu thế hội nhập. mong muốn hoà bình. hữu nghị với thế giới. các sự tích về bánh chưng của người Việt. Bánh chưng làm dẻo mềm hơn câu ca dao. cha mẹ. không gian huyền thoại của lịch sử như cùng quy tụ trong màu xanh của bánh. ăn một miếng bánh chưng sau khi cúng lễ tổ tiên. Bánh chưng theo suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. mùi thơm thảo của hạt nếp tiền nhân để cùng suy ngẫm về ý nghĩa triết học và giá trị nhân văn của các truyền thuyết. dư vị thời gian. tín ngưỡng. Đó cũng là một cách di dưỡng tinh thần. hợp tác.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->