TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12 Tóm tắt truyện Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài ( in trong tập

Truyện Tây Bắc, 1953) : Vợ chồng A phủ kể về đôi vợ chồng người H’ Mông ở vùng Tây Bắc. Mỵ là một cô gái xinh đẹp có tài thổi sáo. Trai bản nhiều người mê và Mỵ đã có người yêu . Dù cha Mị nợ thống lí Pá Tra một món tiền lớn, chưa trả nổi, hằng năm phải trả lãi cả một nương ngô nhưng Mị kiên quyết không lấy A Sử -con trai thống lý Pá Tra- để xoá nợ. Nhưng một đêm xuân, Mị bị A Sử lừa, bắt về trình ma nhà nó. Tiếng gọi là làm vợ A Sử nhưng Mị bị đối xử thậm tệ. Ban đầu, Mị định tự tử nhưng vì thương cha đành cam chịu sống trong đau khổ, câm lặng “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. * Ngày Tết lại về, Mị lén uống rượu một mình. Không khí vui nhộn, nhất là tiếng sáo gọi bạn tình đã giúp Mị nhớ lại những ngày trước, khơi dậy ở Mị khát vọng tình yêu hạnh phúc. Mị vào buồng, định thay váy áo đi chơi thì bị A Sử bắt trói đứng vào cột nhà, bằng cả thúng dây đay, cả tóc Mị. Trong cơn chập chờn mê tỉnh, Mị vẫn thả hồn theo các cuộc chơi. Đến lúc thích chí vùng bước đi mới biết toàn thân bị trói chặt, đau buốt. Cũng đêm đó, A Phủ, một thanh niên mồ côi nhưng khoẻ mạnh, can trường, đã đánh A Sử, vì bất bình trước trò xấc xược của hắn ta. A Phủ bị làng bắt về xử tội và trở thành người ở trong nhà Pá Tra để trừ nợ. * Một mùa đông giá rét, rừng đói, hổ báo từng đàn ra phá nương, bắt bò ngựa . A Phủ vì mải mê bẫy nhím nên đã để hổ bắt mất một con bò. A Phủ bị thống lí Pá Tra bắt trói đứng vào một cây cột, suốt mấy ngày đêm- chờ khi nào A Sử bắn được hổ mới tha. Lúc ấy, tuy Mị đã trở thành một con người đờ đẫn, vô cảm nhưng khi nhìn thấy hai dòng nước mắt của A Phủ lặng lẽ rơi trên hai hóm má xám đen vì kiệt sức, tuyệt vọng, Mị động lòng thương người cùng cảnh ngộ. Sau một hồi suy nghĩ, Mỵ đã cắt dây trói cho A Phủ. Rồi, Mị vụt chạy theo anh ta. *

Đêm tân hôn của họ diễn ra trong không khí chết chóc. vừa lo âu. Tóm tắt VỢ NHẶT (1955) – Kim Lân (in trong tập Con có xấu xí. Tràng cảm thấy mình gắn bó và có trách nhiệm với cái nhà của mình và thấy mình nên người. một buổi sáng mùa hạ. không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như lần đầu gặp nhau.một người nông dân nghèo. Tóm tắt RỪNG XÀ NU ( 1965). vào một buổi chiều tà. trở thành vợ chồng. rồi cắm đầu ăn một chặp hết bốn bát bánh đúc do Tràng “chiêu đãi”. Bà cụ Tứ hồ hởi đãi hai con vài bát cháo loãng và một nồi chè cám. nắng chói lói. Qua lời kể của người vợ. Vì đang lâm cảnh ngộ đói rách cùng đường nên chỉ qua vài lần gặp gỡ với một vài câu nói đùa. vừa hi vọng nhưng không hề tỏ ra rẻ rúng người phụ nữ đã theo không con mình. trông người vợ đúng là một người phụ nữ hiền hậu đúng mực. Quân Pháp tràn tới. quét tước trong ngoài. dân làng hoang mang lo sợ. Tràng.dẫn một người phụ nữ về nhà. luống tuổi. lại dở hơi. cùng với Mị và đồng đội tích cực tham gia chống Pháp và tay sai bảo vệ quê hương . Bà cụ Tứ và cô dâu mới xăm xắn dọn dẹp.Cả hai băng rừng sang Phiềng Sa.Nguyễn Trung Thành . người phụ nữ này ưng thuận theo không anh về nhà Mẹ Tràng (bà cụ Tứ) đón nhận người con dâu trong tâm trạng vừa buồn vừa mừng. cán bộ Đảng đã tìm đến xây dựng phong trào và kết nghĩa anh em với A Phủ. tủi sầu từ xóm ngụ cư vọng tới Sáng hôm sau. A Phủ đã trở thành tiểu đội trưởng du kích. phía trước là một lá cờ đỏ bay phất phới. Tràng dần dần hiểu được Việt Minh và trong óc Tràng hiện lên hình ảnh đám người đói kéo nhau đi phá kho thóc Nhật. tiêu điều trong nạn đói đầu năm 1945. thô kệch. Trước cảnh ấy. A Châu. 1962) Giữa lúc xóm ngụ cư xơ xác.

Thằng bé Heng dẫn đường cho Tnú vì đường vào làng nay đã bố phòng nghiêm ngặt: hầm chông. rồi bị chúng bắt. Anh dũng cảm lập chiến công.làng Xô Man. đang từng ngày hứng chịu những trận những trận đại bác của đồn giặc. trong chuyến đưa thư của anh Quyết lên huyện. thằng Dục và tiểu đội ác ôn đã bị cụ Mết và thanh niên diệt gọn. bị tra tấn nhưng anh nhất quyết không khai báo. Làng Xô Man đồng khởi thắng lợi. Tnú nhảy xổ vào cứu vợ con. hố chông. dân làng đồng thanh. * Hồi ấy. Tnú và Mai được giao làm liên lạc cho anh Quyết. . nhưng làng vẫn bí mật nuôi giấu cán bộ (anh Quyết). Mai và đứa con chết. Tnú gia nhập Giải phóng quân. Bọn giặc tẩm nhựa Xà nu đốt mười đầu ngón tay anh để khủng bố tinh thần dân làng. Ở tù ba năm.Truyện kể về một làng ở Tây Nguyên. Chuyện chính thức bắt đầu bằng việc Tnú trở về thăm làng sau ba năm tham gia lực lượng Giải phóng quân. Đêm đó. Tnú. Tnú vượt ngục trở về làng thay anh Quyết lãnh đạo buôn làng tích cực chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa và kết hôn cùng Mai. rồi được anh Quyết dạy chữ. Có tiếng động chung quanh. gắn bó sâu sắc với cuộc đời Tnú. được cấp chỉ huy cho về phép thăm làng một đêm. nhất tề nổi dậy. Tnú ăn cơm và ở lại nhà cụ Mết. bọn giặc bắt Mai với đứa con nhỏ chưa đầy tháng của hai người đánh đập dã man. Mỹ. Tuy còn nhỏ tuổi. dàn thò chằng chịt…. Tnú kiên cường chịu đựng quyết không kêu la. Tin làng Xô Man chuẩn bị vũ khí chờ thời cơ nổi dậy đến tai giặc. cụ Mết tự hào kể lại cho mọi người nghe trang sử đấu tranh đồng khởi của làng. Cụ Mết.nằm giữa cánh rừng xà nu bạt ngàn. Thằng Dục đưa lính đến lùng sục vây ráp. cùng thanh niên lánh vào rừng. Một lần. Tnú chứng kiến cảnh vợ con bị giặc hành hạ. Tnú thét lên một tiếng.Diệm khủng bố dữ dội. Dít kiểm tra giấy phép xong. Cả làng tụ họp. Không bắt được Tnú. Tnú bị địch phục bắt. Từ vị trí ẩn nấp.

Mỗi lần tỉnh lại. Sáng hôm sau. Việt hồi tưởng lại những sự việc xảy ra từ sau ngày má mất.Sáng hôm sau. Sau ba ngày đêm. muốn viết thư nhưng . Anh Tánh giục Việt viết thư cho chị kể lại chiến công của mình. Việt ngất đi. cạnh con nước lớn. tê cứng nhưng Việt vẫn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và cố gắng từng tí một lê về phía có tiếng súng của quân ta vì phía đó “là sự sống”. chị Chiến… . Chú Năm. Việt răm rắp chấp nhận mọi sự sắp đặt của chị Chiến. Chị Chiến chậm chân và “bật mí” chuyện Việt chưa đầy 18 tuổi. sức khoẻ hồi phục dần. Tuy mắt không nhìn thấy gì. Đoạn trích thể hiện lần tỉnh dậy thứ tư của Việt trong đêm thứ hai. Tóm tắt truyện Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi (2/1966) Chuyện kể về hai chị em Chiến – Việt. cả hai đều được nhập ngũ và ra trận. đơn vị đã tìm thấy Việt. vì Việt thấy chị Chiến nói giống má quá chừng. những đứa con trong một gia đình có nhiều mất mát. Việt rất nhớ chị. Anh được đưa về điều trị tại một bệnh viện dã chiến. Khi hai chị em Chiến – Việt trưởng thành. tỉnh lại nhiều lần. Nhờ sự đồng tình của chú Năm. Cả hai chị em đều háo hức tòng quân. tay chân đau buốt. mẹ vừa bị đại bác Mĩ bắn chết. cả hai đều giành nhau tòng quân. một mình nằm lại chiến trường khi còn ngổn ngang dấu vết của đạn bom và chết chóc. Nhờ chú Năm đứng ra xin giúp. Việt mới được tòng quân. Việt nhanh nhảu ghi tên mình trước. đau thương: cha bị Pháp chặt đầu hồi chín năm. Trong trận đánh ác liệt tại một khu rừng cao su. lạc đồng đội. Việt cảm thấy lòng mình “thương chị lạ”. chị Chiến bàn bạc với Việt về mọi việc trong nhà. về những người thân yêu như mẹ. Cụ Mết. Đến đêm mít tin. nhưng Chị Chiến nhất định giành đi trước vì cho rằng Việt chưa đủ 18 tuổi. hai chị em khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm. Dít tiến anh lên đường . Họ chia tay nhau ở đồi xà nu. Việt hồi tưởng về gia đình. Đêm hôm ấy. Việt diệt được một xe bọc thép đầy Mĩ và sáu tên Mĩ lẻ nhưng anh cũng bị thương nặng.

để được sống lại. Vợ Trương Ba lên Thiên đình kiện.1981 (Lưu Quang Vũ) Trương Ba. . Rời vùng biển với khá nhiều ảnh. HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT . nhất quyết không bỏ lão chồng vũ phu. người nghệ sĩ đã có một tấm được chọn vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về “thuyền và biển” năm ấy. đứa con vì muốn bảo vệ mẹ đã đánh trả lại cha mình. TÓM TẮT CỐT TRUYỆN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA (1983. đặc biệt rất cao cờ. mỗi lần đứng trước tấm ảnh. Theo gợi ý của Đế Thích. Tuy nhiên. Nam Tào cho hồn Trương Ba nhập vào thể xác hàng thịt ở làng bên vừa mới chết. Do tắc trách. gần 60 tuổi. Nam Tào gạch bừa tên Trương Ba. Sau nhiều ngày “phục kích”. . anh đã ngạc nhiên đến sững sờ khi chứng kiến từ chính chiếc thuyền đó cảnh người chồng vũ phu đánh đập vợ một cách dã man. người nghệ sĩ đều thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn lâu hơn bao giờ anh cũng thấy hình ảnh người đàn bà nghèo khổ. Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mình và đó cũng là lí do giải thích cho sự từ chối trên.là một người làm vườn tốt bụng.không biết viết như thế nào vì Việt cảm thấy chiến công của mình chưa thấm gì so với thành tích của đơn vị và mong ước của má. Tại đây. lam lũ bước ra từ tấm ảnh. để sửa sai. NGUYỄN MINH CHÂU) Theo yêu cầu của trưởng phòng. Những ngày sau. .. khiến ông phải chết oan. người nghệ sĩ đã phát hiện và chụp được “một cảnh đắt trời cho” – đó là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương. cảnh tượng đó lại tiếp diễn và lần này người nghệ sĩ đã ra tay can thiệp . nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biển miền Trung (cũng là nơi anh từng chiến đấu) để chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau. . mới ngoài 30 tuổi. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ. người đàn bà ấy đã từ chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng. Theo lời mời của chánh án Đẩu (một người đồng đội cũ của Phùng) người đàn bà hàng chài đã đến toà án huyện.

Trú nhờ thể xác hàng thịt. Theo lời mời của một người bạn khác. Trương Ba dần dà tiêm nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn xa lạ với ông. lão Hoa Thuyên tìm tới pháp trường để mua chiếc bánh bao tẩm máu người vừa chịu án chém về cho con ăn vì cho rằng ăn như thế nó sẽ khỏi bệnh. chăm sóc chú bé thật chu đáo và xem nó là niềm vui lớn. Đặc biệt. Hằng đêm anh vẫn mơ thấy vợ và các con của mình. Tình cờ anh gặp chú bé Va-ni-a mồ côi. . anh dẫn bé Va-ni-a đến đó với hi vọng chừng nửa năm sau anh được cấp lại bằng lái mới. Nhờ có người mách. Trương Ba quyết định trả lại thân xác cho hàng thịt. con trai Trương Ba ngày càng đắc ý.lôp giải ngũ nhưng không muốn trở lại quê nhà.Chương I: Vợ chồng Hoa Thuyên. cũng không chấp nhận nhập vào xác cu Tị . cháu nội Trương Ba không thể chịu nổi và dần dần xa lánh. sống bằng thân xác hàng thịt. chị hàng thịt đòi chồng. « thức giấc thì gối đẫm nước mắt ». coi thường bố. anh vẫn cố trấn tĩnh. Ngay lập tức. Xô-cô-lôp yêu thương. Gay nhất là chị hàng thịt đòi hỏi Trương Ba phải là người đàn ông thực sự của chị. Dù thế. vợ. Tuy nhiên.có đứa con trai độc nhất mắc bệnh lao rất nặng. ở Ka-sa-rư. Chú bé ngây thơ tin rằng Xô-cô-lốp là bố đẻ của mình. phải chuyển sang làm thợ mộc để kiếm sống. kiên quyết chấp nhận cái chết. không nơi nương tựa vì bố mẹ em đều đã chết trong chiến tranh. Tóm tắt phần trích giảng truyện ngắn Số phận con người (1957) của Sô-lôkhốp Chiến tranh kết thúc. hồn Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái : lí trưởng sách nhiễu.chủ một quán trà nghèo. con dâu. Trước nghịch cảnh ấy. niềm an ủi của mình. lấn lướt. Rồi một chuyện rủi ro xảy ra : xe anh đụng phải con bò và anh bị thu hồi bằng lái. Lí trưởng nhân đấy sách nhiễu vòi tiền. Trương Ba vô đau khổ. Anh đến chỗ của một đồng đội cũ. xin làm lái xe cho một đội vận tải. anh vẫn bị ảm ảnh bởi những mất mát quá lớn trong chiến tranh. Tóm tắt cốt truyện truyện ngắn Thuốc (1919) của Lỗ Tấn . anh quyết định nhận Va-ni-a làm con. gia đình Trương Ba ngày càng lủng củng. Ngược lại. vào một đêm thu lúc trời chưa sáng hẳn. vì không muốn để bé Va-ni-a biết được tâm trạng đau buồn của mình. Xô-cô.

Cậu bé Ma-nô-lin cũng bị cha mẹ không cho đi câu chung với lão nữa. đến tận vùng Giếng Lớn. . Thằng bé thật tiều tuỵ. kéo thuyền chạy về hướng đông. Vào ngày thứ 85. Họ rất ngạc nhiên khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa. Trong tù Hạ Du vẫn tuyên truyền tư tưởng cách mạng. Mẹ Hạ Du đã bắt đầu hiểu ra việc làm của con bà và tin tưởng những kẻ giết hại Hạ Du nhất định sẽ bị quả báo. Bọn họ cho Hạ Du là điên. dân làng chài cho rằng lão đã “đi đứt” vì vận rủi. kéo thuyền về hướng tây bắc. . Qua lời của Cả Khang thì người bị chém tên là Hạ Du người trong địa phương. Tóm tắt truyện Ông già và biển cả (1952)của Hê-minh-uê Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Xan-ti-a-gô -một "ông già" đánh cá ngườiCuba. lúc bé Thuyên ăn thuốc xong. đáng thương. Hạ Du theo đuổi lí tưởng đánh đổ nhà Mãn Thanh. Sự việc thứ nhất là tất thảy bọn họ đều tin tưởng vào công hiệu của phương thuốc bánh bao tẩm máu tươi mà thằng bé vừa ăn . Suốt 84 ngày liền. quán trà nhà lão Hoa Thuyên dần đông khách. Con cá lại lặn xuống.. . con cá nhảy lên . Lần này lão đi thật xa. ông lão không bắt được một mống cá nào. giành chủ quyền cho người Trung Quốc (Thiên hạ nhà Mãn Thanh chính là của chúng ta). lão quyết định ra khơi trước khi trời sáng. một con cá lớn cắn câu. Khoảng trưa. mẹ Hạ Du và bà Hoa Thuyên cùng đến nghĩa địa (dành cho người nghèo.Chương III: Trời vừa sáng. Câu chuyện của khách xoay quanh hai sự việc.Hai người mẹ đau khổ bước đầu có sự đồng cảm . người tù và người bị chém) viếng mộ con. lớn đến nỗi trước đây lão chưa từng nhìn thấy. Hạ Du bị bắt vì người bà con tố giác.Chương IV: Vào một buổi sáng Thanh minh năm sau. Tuy nhiên. tất cả những người có mặt trong quán trà hôm đó không một ai hiểu đúng về Hạ Du. là thằng khốn nạn.Chương II: Vợ chồng Hoa Thuyên cho bé Thuyên ăn thuốc. 74 tuổi . Vợ chồng Hoa Thuyên đặt hết niềm tin tưởng vào sự hiệu nghiệm của phương thuốc này. Đó là một con cá kiếm. Hai là họ bàn tán về người tù bị chém sáng nay. Sáng ngày thứ hai.

lão sợ con cá nhảy lên có thể làm văng mất lưỡi câu.giết được nhiều con. thậm chí dùng cả mái chèo để đánh. Lão cho đó là cơ hội lí tưởng để mình nghỉ ngơi dưỡng sức . Lão thật sự hài lòng và tự hào với thành quả lao động của mình. Đến vòng lượn tiếp theo. con cá bắt đầu lượn vòng. vung chày. về đến lều. Máu cá loang ra nhuộm sẫm cả vùng nước chung quanh. rồi mơ về những con sư tử TÓM TẮT TRÍCH ĐOẠN ĐỌC HIỂU TRONG SÁCH GIÁO KHOA Sang đến ngày thứ ba. Đến mấy vòng lượn sau con cá tiến gần mạn thuyền . và thu dần dây câu. Sau cú quật đột ngột và cú nảy mạnh ở sợi dây. con cá bắt đầu lượn vòng. lão cẩn thận buộc nó dọc theo mạn thuyền. Không thể đưa con cá lên thuyền vì nó quá lớn. Con cá chết thẳng đơ. lão vẫn giẫm chân giữ dây câu. Nhưng con cá không nhảy lên mà bắt đầu lượn vòng chầm chậm. . Từng tí một lão cố gắng thu hẹp vòng lượn của con cá và phát hiện rằng con cá đã thấm mệt nên liên tục ngoi lên trong lúc bơi. lão lại đem hết sức tàn chống chọi với lũ cá mập. lão vật người xuống giường và chìm vào giấc ngủ . Dù đã kiệt sức. Bằng tất cả kinh nghiệm và sự khéo léo lão thận trọng thu dây câu nhưng lão biết vòng tròn còn khá lớn. giương buồm về bến. đuổi được chúng đi. Đến vòng lượn thứ ba. rồi dốc toàn lực phóng lao đâm vào chỗ hiểm giết chết được con cá. trắng bạc và bồng bềnh theo sóng.Từ đó đến đêm. Lão chuẩn bị lao. lão trông thấy lưng cá nhưng nó vẫn còn ở xa thuyền.phóng lao. nhưng lão biết con cá kiếm của mình chỉ còn trơ lại một bộ xương. rồi dốc toàn lực phóng lao đâm chết được con cá. lần đầu tiên lão thấy con cá như một cái bóng đen lướt qua dưới con thuyền. ĐỀ RA: PHÂN TÍCH NHÂN VẬT TRÀNG TRONG TÁC PHẨM VỢ NHẶT. buộc nó vào mạn thuyền dong về. Dù đã kiệt sức. con cá hãy còn xa tầm tay của lão. Nhưng chẳng bao lâu nhiều đàn cá mập đánh hơi được đã lăn xả tới. rồi trông thấy rõ hơn khi nó mấp mé mặt nước. Đến khuya. đưa được thuyền vào cảng.Sang đến ngày thứ ba. lão kiên trì thu ngắn dây câu.

Đã vậy. Ai ngờ có người đàn bà đói xông xáo đến đẩy xe thật. thô kệch. b/ Ngoại hình: . không nhà nào có ánh đèn. Mùi tử khí nồng nặc. Nếu như trong thời bình. cái lưng to rộng như lưng gấu. nhà văn đã vẽ nên bức tranh ngày đói thật hãi hùng. Anh cũng chẳng có ý chòng ghẹo ai cả. Dân ngụ cư là những người vốn từ nơi khác đến.Tràng có ngoại hình xấu xí. thường phải ở nơi bìa làng. Người sống thì " lũ lượt dắt díu. Vì thế. Tràng thuộc típ người khó có khả năng lấy vợ. bồng bế nhau lên xanh xám như những bóng ma"hoặc " dưới những gốc đa gốc gạo xù xì bóng những người đói đi lại dật dờ lặng lẽ như những bóng ma". Chỉ vài nét vẽ phác thảo. Ở đây thiếu vắng sự sống hoặc sự sống le lói như ngọn đèn trước gió. khi cười thì ngửa mặt lên cười hềnh hệch. lửa". vì là dân ngụ cư. Tràng bị coi khinh. Xóm ngụ cư chìm trong bóng đêm chết chóc. chẳng mấy ai thèm nói chuyện. Mở đầu tác phẩm Vợ nhặt là bức tranh ngày đói. không một sáng nào đi làm đồng hoặc đi chợ người ta lại không thấy ba bốn cái thây người nằm còng queo ở bên vệ đường. Nhưng điều đó lại xảy ra vào đúng cái nạn đói khủng khiếp. Đầu trọc nhẵn. hai con mắt nhỏ tí.Hai lần nhà văn so sánh người với ma. Nhận xét: Tràng là một nông dân nghèo khổ lại xấu xí. ban đầu Tràng không chủ tâm tìm vợ. Tràng cũng thừa biết. chỉ đi làm thuê làm mướn. Khi đẩy xe bò mệt mỏi anh chỉ hò một câu cho vui " Muốn ăn cơm trắng mấy giò này/ Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì". Cõi âm và cõi dương nhạt nhòa. một buổi chiều người ta thấy Tràng về với một người đàn bà nữa. ảm đạm. Hơn nữa. người như hắn thì không thể có vợ. đi thì cứ chúi đầu về phía trước lại hay nói lầm bầm trong miệng. quai hàm bạnh ra. Trên cái nền chết chóc ấy. trừ lũ trẻ hay chọc ghẹo khi anh ta đi làm về. Vậy Tràng là ai ? Tràng lấy vợ như thế nào ? a/ Lai lịch . họ còn bị phân biệt đối xử. làm nghề đẩy xe bò thuê. cái được gọi là "nhà" thì luôn "vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại". Phân tích nhân vật Tràng. Tất cả đang đứng bên bờ vực của cái chết. Tác giả còn tô đậm bức tranh hơn nữa bởi hình ảnh của bầy quạ đen chờ chực để rỉa xác người chết. Nhưng vì đùa vui nên Tràng đã không giữ đúng thỏa thuận của câu hò. Điều không thể tin lại phải tin trong tác phẩm của Kim Lân. gà gà. hoặc ở chỗ hẻo lánh.DÀN Ý PHÂN TÍCH 2. tăm tối. Tràng chỉ muốn hò để xua đi mỏi mệt trong người. Nhà cửa của anh ta. nuôi mẹ già. dân ngụ cư không có ruộng đất. c/ Tình huống nhặt vợ của Tràng (diễn biến tâm lí) + Thật ra. Ai vậy ? Đó là vợ Tràng. . Tràng lấy được vợ hay nói đúng hơn là "nhặt được vợ". Người chết thì như ngả rạ.Bằng chứng là " Hai bên dãy phố úp súp tối om.Xuất thân: dân ngụ cư.

Bình luận: Tràng và người đàn bà kia như hai cành củi khô nhưng họ đã chụm vào nhau để nhen lên ngọn lửa. lại cứ thấy ngường ngượng. Đó chính là lòng thương một con người đói khát hơn mình chứ Tràng không hề có ý định lợi dụng hoặc chòng ghẹo. người này thì cần hạnh phúc còn người kia thì lại cần chỗ dựa. Tràng động lòng thương.Nhưng Tràng cảm thấy hạnh phúc biết bao khi gặp được cái "cười tít mắt của thị" bởi "từ xưa đến giờ có ai cười với hắn một cách tình tứ như vậy đâu". quần áo rách như tổ đỉa. Tràng lại tầm phơ tầm phào "Nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân đồ lên xe rồi về". lại còn đèo bòng". tăm tối hằng ngày. Lúc thì hắn đi sát người đàn bà. quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa. cúi mặt lo âu nghĩ ngợi). + Hôm sau gặp lại: Khi Tràng đang ngồi nghỉ trước cổng chợ tỉnh thì bất ngờ có người đàn bà sầm sập chạy đến. Thị gầy sọp hẳn đi. Một người vì tình yêu. Bây giờ thì họ là người dũng cảm. phải chăng hai con người khốn khổ ấy là niềm tin của Kim Lân về một giống nòi sẽ tiếp nối sẽ sinh sôi khi mà cả dân tộc đang đứng trước sự diệt vong của nạn đói ? + Khi người phụ nữ chấp nhận làm vợ. một niềm hạnh phúc tràn ngập khiến mặt Tràng cứ "phớn phở khác thường". Đó có vẻ như là sự cố gắng quá mức của Tràng nhưng cũng rất dễ hiểu vì Tr sắp được làm chồng. nhưng cái Liều kia của họ làm người ta bật khóc. nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không. Tràng như đã bỏ lại sau lưng mình tất cả nỗi sợ hãi. Anh còn mua 2 hào dầu để thắp sáng. . Tràng thật sự đã khác với Tràng hôm qua. mọi lo nghĩ để vun vén cho cái hạnh phúc của mình. Tràng không nhận ra người đàn bà ngày trước đẩy xe cho mình. ngực gầy lép. Thỉnh thoảng lại còn cười nụ một mình. cong cớn.. Kim Lân đã làm người đọc thấy được sự thay đổi về tâm lí của Tràng. lại muốn nói đùa một câu. Lúc đầu Tràng phảng phất lo sợ về cái đói và cái chết"mới đầu anh cũng chợn. người thế mà điêu". Trong lòng Tràng tràn ngập niềm vui sướng miên man khiến "Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề. hai tay cứ xoa vào vai nọ vai kia. Hôm nay Tràng có niềm vui lạ. Tội nghiệp thay.. rách rưới thảm hại. khuôn mặt lưỡi cày hốc hác. Thấy người đàn bà đói. Nhưng có lẽ tình thương người và khát vọng hạnh phúc đã lớn hơn nỗi sợ hãi nên sau đó anh chặc lưỡi " Chậc kệ!" . Nói đùa thế thôi. người kia vì miếng ăn. Chỉ một từ "kệ" thôi. + Trên đường về: (khác với anh Tràng hôm qua buồn bã. Vốn tính hay đùa. ai ngờ thị về thật. sưng sỉa với hắn " Điêu. dũng cảm bởi vì họ dám nắm tay nhau để bước qua ranh giới của sự sống và cái chết. Họ làm ta khâm phục và kính trọng. không chỉ ăn mà còn cho ăn rất nhiều " bốn bát bánh đúc". Đó là nỗi sợ hãi có thật nhất lại là thời đói kém như thế này. Thế rồi Tràng cho người đàn bà kia ăn. Nói tóm lại là họ LIỀU. Trước mặt hắn là một người đàn bà thảm hại đã bị cái đói tàn hại cả nhan sắc lẫn nhân cách. Có ai ngờ được rằng trong con người thô kệch ấy lại có một tấm lòng thương người cao cả. Tràng đã có ý thức chăm sóc: hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê. lúc lại lùi ra sau một tí.

Tràng cảm động khi thấy mẹ và vợ dọn dẹp lại nhà cửa nhất là khi nghe tiếng chổi tre quét từng nhát sàn sạt trên sân. Khi được đồng ý. Thế là rõ rồi: Hạnh phúc đang làm anh thay đổi. Hắn đã có một gia đình. không dám tin đó là sự thật:"hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên. Hạnh phúc lớn lao quá khiến Tràng lại lấy lại được thăng bằng nhanh chóng. chợt hắn thấy sờ sợ". Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã. Trong ý nghĩ của anh lại vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp để cướp kho thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ. tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ dọc sống lưng" . Tràng đã là người quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời. đi đi lại lại. một nguồn vui sướng. đầu tiên đó là một cảm giác dễ chịu "Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra". Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. rối rít như trẻ con vì dù sao Tràng vẫn còn có mẹ . Đó là tâm trạng hạnh phúc. +Từ một anh phu xe cục mịch. Đó là sự ngạc nhiên trong sung sướng.quên cả những tháng ngày trước mặt.. Chưa bao giờ người ta thấy hắn nôn nóng như thế. biết suy nghĩ chín chắn. . mơn man khắp da thịt Tràng. Tràng thức dậy. + Sau khi lấy vợ. lạ lắm. dồn dập. Tràng đã thần mặt ra nghĩ ngợi. Nhà văn đã mang đến cho người đọc hơi thở mới của Tràng vào sau cái đêm tân hôn. có vợ. Khi mẹ về. chỉ biết việc trước mắt. chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy. đây là điều hiếm có đối với Tràng xưa nay. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư ?". Tràng trở thành một người sống có trách nhiệm. Tràng thở đánh phào một cái nhẹ cả người. + Khi về đến nhà. tiếc rẻ và trong óc vẫn thấy đám người đói và lá cờ bay phấp phới. nó ôm ấp. Tràng nhớ tới cảnh ấy và lòng ân hận. phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng "Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Một cái gì mới mẻ. ( giá trị nhân đạo. tác giả mở ra con đường sống cho những con người đang đứng bên bờ vực của cái chết đó là chỉ có đi theo cách mạng mới giải phóng được cho họ) Kết luận: Qua sự biến đổi tâm trạng thấy được vẻ đẹp tâm hồn tính cách nhân vật đó là tình thương niềm khao khát hạnh phúc. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng". niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai và thấy được tình cảm nhân đạo cuả nhà văn dành cho người lao động nghèo khổ. Bắt mẹ ngồi lên giường để thưa chuyện. + Lúc chờ đợi Mẹ về: Tràng nóng ruột.. hắn mừng rỡ. Thế là Tràng đã có gia đình.đó là đấng tối cao của Tràng vì chỉ có mẹ mới quyết định được hạnh phúc của hắn. Một nỗi lòng yêu thương. Lúc sau Tràng tủm tỉm cười một mình với ý nghĩ có phần ngạc nhiên sửng sốt. Tràng nóng lòng thưa chuyện với mẹ. lúc đầu Tràng thấy " ngượng nghịu" rồi cứ thế " đứng tây ngây ra giữa nhà.Nhưng đó chỉ là cảm giác thoáng qua thôi. sống vô tư. không tốn tiền cưới hỏi. Tràng lấy được vợ thật hiển hách.

Thân bài Kim Lân rất am hiểu nông thôn và đời sống của nhân dân nên ông có những trang viết sâu sắc. Lạ tới mức nó tạo nên hàng loạt những kinh ngạc cho hàng xóm. đội chiếu lũ lượt bồng bế. Ngay cái nhan đề Vợ nhặt đã bao chứa một tình huống như thế : nhặt tức là nhặt nhạnh. biết hướng tới tương lai tươi đẹp . khiến Tràng rất đỗi ngỡ ngàng “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Đó là niềm vui về hạnh phúc gia đình – một niềm vui giản dị nhưng lớn lao không gì sánh nổi. Trong một bối cảnh như thế Kim Lân đặt vào đó một mối tình thật là táo bạo . hướng về cuộc sống gia đình.Như vậy thì cái thiêng liêng (vợ) đã trở thành rẻ rúng (nhặt). bỗng nhiên trở thành người thực sự hạnh phúc. người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cái chết. luôn khao khát hạnh phúc gia đình giản dị . Hoà bình lập lại. trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào. Tác phẩm đã khắc hoạ thành công nhân vật Tràng . vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai. Mở bài Kim Lân thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Trong không gian của thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy. Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông . người ta có thể có vợ theo. chất phác mà giàu tình yêu thương . . tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “mùi gây của xác người” càng tô đậm cảm giác tang tóc thê lương. bà cụ Tứ – mẹ Tràng và chính bản thân Tràng nữa. tình yêu thương . Trong cảnh đói năm 1945. lam lũ hồn hậu . Anh cu Tràng cục mịch. chỉ nhờ có mấy bát bánh đúc ngoài chợ . Nó vốn được rút ra từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư (cuốn tiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước Cách mạng). nhặt vu vơ. Chàng thanh niên nghèo khó “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Nhưng tình huống truyện còn có một mạch khác: chủ thể của cái hành động “nhặt” kia là Tràng. và “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. đang thời đói khát mà đột nhiên lấy được vợ. Rồi cái ngỡ ngàng trước hạnh phúc kia cũng nhanh chóng đẩy thành niềm vui hữu hình cụ thể. giá trị một con người thật vô cùng rẻ rúng. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?”. Kim Lân viết lại. dở cười giữa Tràng và Thị . Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê . dân ngụ cư.Phân tích nhân vật Tràng I . Vợ nhặt mang dấu ấn của cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩ lưỡng về nghệ thuật. Kim Lân đã tạo nên một tình huống độc đáo : Tràng nhặt được vợ để từ đó làm nổi bật khao khát hạnh phúc . dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”. dở khóc . Cái đói huỷ diệt cuộc sống tới mức khủng khiếp. một gã trai nghèo. Những người năm đói được miêu tả với “khuôn mặt hốc hác u tối”. thậm chí được vợ theo thì quả là điều lạ. con người vẫn vượt lên cái chết. II . Kim Lân bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. “Những gia đình từ những vùng Nam Định. Thái Bình. Trong truyện ngắn Vợ nhặt. Tràng được khắc hoạ nổi bật trong bối cảnh ngày đói vô cùng thê thảm ở nông thôn Việt Nam do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra năm 1945 . cảm động. đột ngột quá.. đặc biệt là Tràng. một mối duyên bắt nguồn từ bốn bát bánh đúc giữa ngày đói . một người lao động nghèo khổ nhưng giàu tình yêu thương . Thiên truyện có một quá trình sáng tác khá dài. cưu mang đùm bọc lẫn nhau của những con người đói . Truyện Vợ nhặt rút từ tập Con chó xấu xí) được coi là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân. Tình huống truyện trên đã khơi ra mạch chảy tâm lí cực kì tinh tế ở mỗi nhân vật . xấu xí. Nhưng hạnh phúc lớn quá. khù khờ. Nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt. Tiêu biểu cho những con người đó là nhân vật Tràng .

cạnh tầu ngựa . Tập truyện được tặng giải nhất. Tô Hoài đã diễn tả nỗi cực nhọc về thể xác của người con gái ấy.Phân tích nhân vật Mị trong truyện "Vợ chồng A Phủ" I . thổi lá cũng hay như thổi sáo” .Tác phẩm ra đời là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn cùng với bộ đội giải phóng Tây Bắc năm 1952 . Vợ chồng A Phủ mở đầu bằng cách giới thiệu nhân vật Mị ở trong cảnh tình đầy nghịc lý và cuốn hút độc giả : “Ai ở xa về. Lúc nào cũng vậy. tàu ngựa . Quả thế. Mị đã được yêu. Truyện viết về cuộc sống của người dân lao động vùng núi cao. qua đó ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn. dệt vải. có dịp vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa. dưới ách thống trị tàn bạo của bọn thực dân phong kiến miền núi . chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên. chịu sống cảnh làm người con dâu gạt nợ trong nhà thống lí . và có khả năng âm nhạc. Nhưng người con gái tài hoa miền sơn cước đó phải chịu một cuộc đời bạc mệnh . uốn chiếc lá trên môi. dù quay sợi. bất hạnh nhưng cũng ngầm ẩn một sức mạnh tiềm tàng . cô giỏi sáo và giỏi . con người với danh nghĩa là con dâu .giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954. Thân phận Mị không chỉ . âm thầm như lẫn vào các vật vô tri: cái quay sợi. sức sống tiềm tàng và khả năng đến với cách mạng của nhân dân Tây Bắc .Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn thành công nhất trong ba truyện ngắn viết về đề tài Tây Bắc của ông . thái cỏ ngựa. tảng đá. Cách giới thiệu tạo ra những đối nghịch về một cô gái âm thầm lẻ loi. khát khao yêu đương . cô gái là con dâu nhà thống lí quyền thế. Khuôn mặt đó gợi ra một số phận đau khổ .Tác phẩm có một giá trị hiện thực và nhân đạo đáng kể . trái tim từng đã bao nhiêu lần hồi hộp trước trước âm thah hò hẹn của người yêu . Cô còn một tâm hồn tràn đầy khát khao cuộc sống. mặt buồn rười rượi” . Mị có nhan sắc.1955. cuối cùng cô đã chịu bán mình. Mị trước đó vốn là một người con gái đẹp . giàu có nhưng sao mặt lúc nào “buồn rười rượi”. và đã khát khao yêu. cô ấy cũng cúi mặt. Thân bài Vợ chồng A Phủ in trong tập truyện Tây Bắc (1954). Mở bài Tô Hoài là nhà văn lớn của nền văn xuôi hiện đại VN với số lượng tác phẩm đạt kỉ lục . II. Đặc biệt truyện đã xây dựng thành công nhân vật Mị . Để cứu nạn cho cha. nhưng thực chất chính là tôi tớ .

còn thiết sống . và quan trọng hơn là Mị vẫn nhớ mình là một con người. nghĩa là xét cho cùng. Mị ngồi trong đó trông ra lúc nào cũng thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng . làm tàn lụi đi ngọn lửa của niềm vui sống trong những con người vô cùng đáng sống . Bởi muốn chết nghĩa là vẫn còn muốn chống lại một cuộc sống không ra sống. Sức sống của Mị dường như mất đi . Bức tranh Hồng Ngài mùa xuân năm ấy có sức làm say đắm lòng người tuổi trẻ . sự biến đổi màu sắc kì ảo của các lòai hoa đẹp đã góp phần làm nên cuộc nổi loạn trong một tâm hồn đã bấy nhiêu năm tê dại vì đau khổ . kéo dài mãi sự tồn taịi vật vờ . cách li tâm hồn Mị với cuộc đời. đêm nó còn được đứng gãi chân. Mị lãng quên thực tại (nhìn mọi người nhảy đồng . không thấy và cuộc rượu tan lúc nào cũng không hay) nhưng lại nhớ về ngày trước (ngày trước. Và nhất là hình ảnh căn buồng Mị. Một cô Mị mới hồi nào còn rạo rực yêu đương. Tác nhân quan trọng là hơi rượu . Huống chi Mị và A Sử. Song nhà văn còn khắc hoạ đậm nét nỗi đau khổ về tinh thần của Mị . Còn khi đã không thiết chết . vẫn có cái quyền sống của một con người : “Mị vẫn còn trẻ . Đó quả thực là một thứ địa ngục trần gian giam hãm thể xác Mị. Cái chế độ ấy đáng lên án. . bởi vì nó làm cạn khô nhựa sống. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết . Chính lúc này cô gái còn đáng thương hơn . thật nồng nàn và xót xa trong một đêm xuân đầy ắp tiếng gọi của tình yêu . Mị thổi sáo cũng giỏi …). Nhưng dến lúc có thể chết đi. thái cỏ ngựa hay cõng nước… cũng chỉ là cái xác không hồn của Mị mà thôi . nghĩa là sự tha thiết với cuộc sống cũng không còn. sắc vàng ửng của cỏ tranh. lúc đó thì lên núi hay đi nương. vì cha Mị không còn nữa thì Mị lại buông trôi . “uống ừng ực” rồi say đến lịm người đi . Mị lén uống từng bát . Ngày tết năm đó Mị cũng uống rượu. đứng nhai cỏ. Nhưng bên trong cái hình ảnh con rùa lầm lũi kia dang còn một con người . vì cô vẫn còn đó món nợ của người cha . của tình yêu và tuổi trẻ . Cái say cùng lúc vừa gây sự lãng quên vừa đem về nỗi nhớ . cầm cố tuổi xuân và sức sống của cô . đàn bà con gái ở cái nhà ngày thì vùi vào việc làm cả ngày lẫn đêm” . “Con trâu con ngựa làm còn có lúc. Nhưng tác nhân có tác dụng nhiều nhất trong việc dìu hồn Mị bềnh bồng về với những khát khao hạnh phúc yêu đương có lẽ vẫn là tiếng sáo bởi tiếng sáo là tiếng gọi của mùa xuân.là thân trâu ngựa. Mị đã từng muốn chết mà không được chết . Khát vọng hnạh phúc có thể bị vùi lấp . Tiếng sáo rập rờn trong đầu Mị. Tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến miền núi ở đây đã được cất lên nhân danh quyền sống . người hát mà không nghe. kín mít với cái cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay. không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” . Và khát vọng hạnh phúc đó đã bất chợt cháy lên. “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” . Mị muốn đi chơi . bị lãng quyên trong đáy sâu của một tâm hồn đã chai cứng vì đau khổ. Gặp thời cơ thuận lợi thì nó lại cháy lên. Gió rét. nhưng không thể bị tiêu tan . bây giờ lặng câm .

ham thích săn bắn đã đẩy A Phủ tới hiện thực phũ phàng : bị trói đứng . Cái cảm giác về hiện tại tàn khốc. đang bồng bềnh trong cảm giác du xuân . đã từng đau đớn và bất lực . mà còn câm lặng hơn trước . Mị đã làm như trog một giấc mơ. Những va chạm mang đầy tính tự nhiên của lứa tuổi thanh niên trong những đêm tình mùa xuân đã đưa A Phủ trở thành con ở gạt nợ trong nhà thống lí . Nhưng tình thương đó không phải tự nhiên bùng phát trong Mị mà là kết quả của một quá trình đấu tranh giằng xé trong thế giới nội tâm của cô . để sáng hôm sau lại trở về với vị trí của con rùa nuôi trong câm lặng. Mị cũng đã khóc. Và giọt nước mắt kia là giọt nước cuối cùng làm tràn đầy cốc nước . Lại một giai đoạn chập chờn nữa giữa cái mơ và cái tỉnh. Tất cả những việc đó . A Sử trói Mị vào cột. Mị chỉ cảm thấy khi vùng chân bước theo tiếng sáo mà tay chân đau không cựa được . Bước ngoặt bắt đầu từ những dòng nước mắt :“Đêm ấy A Phủ khóc . Và chính hoàn cảnh bi thương đó đã đánh thức lòng thương cảm trong con người Mị . Phải tới thời điểm đó Mị mới có hành động như một kẻ mộng du : quấn lại tóc . rồi rút thêm cái áo . ngồi xuống giường. xót thương cho mình . Mị đã thức dậy với sức sống tiềm tàng và cảm thức về thân phận . Lòng phơi phới nhưng Mị vẫn theo quán tính bước vào buồng . nhai cỏ . A Phủ. Mị nhớ mình đã từng bị trói. Và khi lòng ham sống trỗi dậy thì ý nghĩ đầu tiên là được chết ngay đi . cho tới khi nó lấn chiếm hẳn trọn bộ tâm hồn và suy nghĩ của Mị. Cho nên trong thời khắc âý. nước mắt chảy xuống cổ. Nhưng bây giờ thì theo chiều ngược lại. Nhưng rồi nỗi ám ảnh và sức sống mãnh liệt của tuổi xuân cứ lớn dần . thờ ơ với hiện thực trước mắt : “A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi” . tuyệt nhiên không nhìn thấy A Sử bước vào. tỉnh dần ra. Rồi cái gì đến đã đến .nó đã trở nên tiếng lòng của người thiếu phụ . Cũng như Mị. giữa tiếng sáo và nỗi đau nhức của dây trói và tiếng con ngựa đạp vách. Một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai lõm má đã xạm đen” . cho tới khi Mị hoàn toàn chìm hẳn vào trong ảo giác : “Mị muốn đi chơi . đau đớn và tê dại dần đi. sợi dây trói của đời thực chưa thể làm kinh động ngay lập tức giấc mơ của kẻ mộng du . nói đúng hơn là dòng nước mắt của A Phủ. Nhưng nếu cái mơ không đến một lần nữa thì sự tỉnh ra cũng vậy . bỏ mặc Mị trong trạng thái mộng du đang chìm đắm với những giấc mơ về một thời xuân trẻ. không nghe thấy A Sử hỏi “. Mấy hôm đầu Mị vô cảm. đã giúp Mị nhớ ra mình. Câu văn như một minh chứng sự tê dại trong tâm hồn Mị . Nhưng có lẽ sức sống của Mị bùng lên mạnh mẽ nhất là lúc Mị cởi trói cho A Phủ . Mị cũng sắp đi chơi” . . ta mới thấy Mị đầy rẫy những mâu thuẫn . Và bản năng của một người con vốn sống gắn bó với núi rừng. xuống cằm không biết lau đi được . với thêm cái váy hoa. trông ra cái lỗ vuông mờ mờ trăng trắng . Nó đưa Mị từ cõi quên trở về với cõi nhớ . gãi chân . A Phủ là nạn nhân của chế độ độc tài phong kiến miền núi . rồi lẳng lặng khoác thêm vòng bạc đi chơi . Tâm hồn Mị đang còn sống trong thực tại ảo.

lo lắng cho mình. một con người còn đầy sức sống và khát vọng thay đổi số phận .Và Mị đã nhớ lại mình. Lòng ham sống của một con người như được thổi bùng lên trong Mị. đọa đày người dân nghèo miền núi . Mị như tìm lại được con người thật . Đồng thời nó cũng khẳng định khát vọng tự do hạnh phúc . mới có thể thấy có người nào đó cũng khổ giống mình . Từ sự thương mình. kết hợp với nỗi sợ hãi. đanh thép những thế lực phong kiến . tính cách Mị đã tố cáo hùng hồn. Tô Hoài mới phát hiện ra vẻ đẹp tiềm tàng trong tâm hồn những con người ham sống như Mị . Đặc biệt đề cao sự đồng cảm giai cấp. Chính điều này đem lại sức sống và sự vững vàng trước thời gian của Vợ chồng A Phủ . . thông cảm. sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của những người lao động . biết nhận ra mình cũng từng có những đau khổ. Mị cởi trói cho A Phủ để rồi bất ngờ chạy theo A Phủ . Nhà văn Tô Hoài đã viết về Mị với tất cả lòng yêu thương. tình thương với một con người cùng cảnh ngộ . tình hữu ái của những người lao động nghèo khổ . Nhưng nó còn vượt lên giới hạn thương mình : “Mình là đàn bà … chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi còn người kia việc gì mà phải chết ” . III . Kết bài Vợ chồng A Phủ qua việc khắc hoạ sâu sắc cuộc đời . và chỉ có lòng yêu thương thông cảm. thực dân tàn bạo áp bức bóc lột. số phận . Mị dần dần có tình thương với A Phủ.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful