P. 1
Hai Dua Tre - Thach Lam

Hai Dua Tre - Thach Lam

|Views: 592|Likes:
Được xuất bản bởiPhan Quốc Cường

More info:

Published by: Phan Quốc Cường on Feb 19, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

11/15/2012

pdf

text

original

Truyện ngắn của Thạch Lam

Lớp 11C2 Tổ 3 Tạ Nhật Anh Nguyễn Lê Minh Khôi Trần Thị Thiên Ngân Võ Trương Phương Ngân Lê Hữu Khôi Nguyên Trà Hoa Ngọc Dương Bảo Duyên Thy

1

I. Tìm hiểu chung
1. Tiểu dẫn:
 Thời đại: Văn học lãng mạn Việt Nam (1932 - 1945) - ảnh hưởng sâu sắc của văn học Pháp
-

Đây là thời kì thực dân Pháp sang đô hộ Việt Nam, chúng dùng chính sách "chia để trị". Chúng chia nước ra thành ba kì, ba hình thức cai trị khác nhau.

-

Về văn hoá, chúng dùng chính sách "nhồi sọ", đào tạo cho những người tri thức Việt Nam bằng nền văn hoá Pháp để chúng ta lệ thuộc vào Pháp. Nền văn hoá Pháp là các nôi của văn chương lãng mạn với những cây bút nổi tiếng như: Paul Verlaine, Rim Beau, Paul ELare... Rất nhiều nhà thơ Việt Nam bị ảnh hưởng trào lưu văn học Pháp để hình thành trên diễn đàn văn chương Việt Nam trào lưu văn học lãng mạn.

-

Văn học lãng mạn chia làm hai bộ phận: + Thơ mới: gồm những cây bút tiêu biểu như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử, Vũ Hoàng Chương... + Văn xuôi: Tự lực văn đoàn: Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam thường viết về văn chương thoát ly cuộc đời.

 Tác giả: Thạch Lam (1910 – 1942) Tên thật là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi thành Nguyễn Tường Lân. Quê quán: sinh tại Hà Nội nhưng tuổi thơ sống ở huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Cùng với hai anh trai là thành viên trụ cột của Tự lực văn đoàn.

2

 Tác phẩm chính: Các tập truyện ngắn Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942), tiểu thuyết Ngày mới (1939), tập tiểu luận Theo dòng (1941), tập bút ký Hà Nội băm sáu phố phường (1943).  Phong cách nghệ thuật: Tuy có chân trong Tự lực văn đoàn nhưng tư tưởng thẩm mĩ (văn chương) lại hướng về những tầng lớp nghèo cơ cực, bế tắc… Quan niệm văn chương lành mạnh, tiến bộ. Có biệt tài về truyện ngắn. Đặc điểm truyện ngắn: + Truyện không có chuyện, chủ yếu khai thác nội tâm nhân vật. + Mỗi truyện như một bài thơ trữ tình, giọng điệu điềm đạm, chứa đựng tình cảm chân thành và sự nhạy cảm tinh tế của nhà văn. + Văn trong sáng, giản dị, thâm trầm, sâu sắc.

2. Tác phẩm:
 Xuất xứ: In trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” sáng tác năm 1938  Bối cảnh: Bối cảnh câu chuyện là một phố huyện nghèo nàn, xơ xác có đường tàu đi qua, một ga xép, một cái chợ nhỏ bé nằm giữa thôn xóm và cánh đồng.  Hoàn cảnh sáng tác: Được gợi ý từ một mảng đời thời thơ ấu của Thạch Lam. Về cuộc sống nghèo khổ, lam lũ, buồn tẻ của những con người nơi phố huyện và niềm hi vọng vào một tương lai tươi sáng qua hình ảnh đoàn tàu.  Nội dung chính: Truyện ngắn Hai đứa trẻ thể hiện niềm cảm thương chân thành của Thạch Lam đối với những kiếp người sống nghèo khổ, chìm khuất trong mỏi mòn, tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện trước cách mạng và sự trân trọng với những mong ước bé nhỏ, bình dị mà tha thiết của họ.  Bố cục:
-

Phần 1: Phố huyện lúc chiều tà
3

-

Phần 2: Phố huyện lúc đêm về Phần 3: Phố huyện lúc đoàn tàu qua về khuya

 Tóm tắt: Truyện kể về cảnh sinh hoạt ở một phố huyện nghèo khi chiều xuống. Sau một ngày lao động vất vả những người như chị Tí, bác phở Siêu, gia đình bác Xẩm…lại tiếp tục buôn bán kiếm sống nhưng chả kiếm được bao nhiêu. Cùng với họ còn có những đứa trẻ lang thang nhặt nhạnh những thanh nứa, thanh tre nơi bãi chợ và chị em Liên phụ giúp mẹ trông coi cửa hàng tạp hóa. Cứ thế, đêm nào cũng như đêm nào, họ - cả người lớn lẫn trẻ con - vừa bán hàng vừa trò chuyện, vừa cố thức để được nhìn chuyến tàu đêm đi qua - con tàu như đem một chút thế giới khác đi qua, một thế giới tưng bừng, náo nhiệt và đầy ánh sáng. Khi chuyến tàu đi khỏi cũng là lúc mọi công việc kết thúc.

II. Đọc – hiểu văn bản
1. Bức tranh phố huyện nghèo:
a. Bức tranh thiên nhiên:  Cảnh phố huyện lúc chiều tàn: Âm thanh: + Tiếng trống thu không. + Tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió đưa vào. + Tiếng muỗi vo ve trong cửa hàng của chị em Liên.
 Âm thanh đơn điệu, buồn bã.

-

Hình ảnh, màu sắc:
4

+ Phương tây đỏ rực như lửa cháy. + Những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. + Dãy tre làng đen lại. Đường nét: + Dãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời.  Gợi cảnh tàn lụi.

 Cảnh đẹp, buồn, quen thuộc, gần gũi, mang cốt cách Việt Nam.
 Cảnh chợ tàn: Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía. Một vài người bán hàng về muộn. Những đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi. Một mùi ẩm bốc lên, hơi nóng ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá. lẫn mùi cát bụi.  Cảnh buồn vắng, tiêu điều, xác xơ - không gian làng quê Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.  Cảnh phố huyện lúc về đêm và về khuya: Tương phản giữa bóng tối và ánh sáng: + Bóng tối: đậm đặc, bao trùm cả phố huyện, khiến cho ánh sáng thêm leo lét.
5

+ Ánh sáng: nhỏ nhoi, yếu ớt, leo lét, tù mù, làm cho bóng tối thêm dày đặc.  Cảnh phố huyện tối tăm, buồn bã biểu tượng cho cuộc sống tăm tối, quẩn quanh, bế tắc, đơn điệu của những người nghèo trong xã hội cũ.  Tấm lòng của nhà văn: yêu mến, gắn bó với thiên nhiên,quê hương đất nước.
b. Bức tranh đời sống: Đó là cuộc sống của những kiếp người tàn.

 Mấy đứa trẻ con nhà nghèo: Mấy đứa trẻ con nhà nghèo nhặt nhạnh những thứ mà người bán hàng để lại: thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì có thể dùng được. Đó là những phế thải. Qua đó, ta thấy cuộc sống của chúng không có tuổi thơ, phải vất vả kiếm sống.
 Mẹ con chị Tí: Ngày thì mò cua bắt tép, tối đến chị dọn cái hàng nước dưới gốc

cây bàng, bên cạnh cái mốc gạch  nghèo khổ, lam lũ.  Bác Siêu: Bán phở rong trong đêm, nhưng đó là một thứ quà xa xỉ mà ngay cả chị em Liên không bao giờ mua được. Đòn gánh bác kêu kêu kĩu kịt, bóng bác mênh mang ngã xuống một vùng đất cát…  vất vả, cơ cực.  Gia đình bác Xẩm: Hát rong. Vợ chồng ngồi trên manh chiếu, trước mặt là cái thau sắt trắng, thằng con lê la trên đất nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường; góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bật trong yên lặng… Cuộc đời bất hạnh, sự sống của họ trông chờ vào sự thương hại của người đời.  Bà cụ Thi: Đó là một bà già hơi điên, nghiện rượu, tiếng cười khanh khách, bước đi lảo đảo  gợi một kiếp người tàn tạ.
 Chị em Liên: gia cảnh khó khăn, mức sống eo hẹp.

6

-

Cuộc sống nghèo khổ, buồn tẻ, quẩn quanh, đơn điệu, không tương lai, không lối thoát.

-

Vẫn hi vọng – dù là hi vọng mơ hồ - vào những điều tốt đẹp của ngày mai.

 Tấm lòng của nhà văn: cảm thông, chia sẻ, xót thương.

2. Hình tượng hai đứa trẻ:
a. Cảnh ngộ: - Hai chị em Liên và An từng có cuộc sống tuổi thơ vui vẻ, hạnh phúc; nhưng khi bố mất việc, hai chị em phải bỏ Hà Nội về quê cùng mẹ. Mẹ làm hàng xáo, chị em Liên trông coi cái cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu ở một phố huyện nghèo, thưa vắng, buồn bã. b. Tính cách nhân vật Liên:
-

Nhạy cảm, tinh tế: Liên có tâm hồn rộng mở, giao hào với thiên nhiên, quan sát, cảm nhận mọi sự vật, những con người xung quanh, cảm nhận mùi riêng của đất của quê hương.

-

Đảm đang tháo vát Giàu lòng thương người: thương cảm, xót xa những đứa trẻ lam lũ, tội nghiệp, có cách cư xử đầy tình người, đầy nhân ái

 Trong tình cảm Liên thương em như ẩn hiện tình thương, nỗi nhớ, lòng

biết ơn và trân trọng của chính tác giả Thạch Lam đối với người chị ruột của mình nói riêng với biết bao người chị trong các gia đình Việt Nam nói chung. c. Tâm trạng chờ tàu của hai đứa trẻ: Hai chị em Liên cố thức để đợi tàu để:
7

+ Để bán hàng (theo lời mẹ dặn). + Để được nhìn thấy chuyến tàu – hoạt động cuối cùng của đêm khuya. Hình ảnh đoàn tàu: + Đoàn tàu đã dược nhà văn miêu tả rất tỉ mỉ, chi tiết theo trình tự thời gian từ dấu hiệu đầu tiên cho đến khi tàu đến và khi tàu qua, qua tâm trạng chờ mong của nhân vật Liên. Dấu hiệu đầu tiên: + Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc. + Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi. Khi tàu đến: + Các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. + Những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng. Khi tàu đi vào đêm tối: + Để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. + Chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre. So sánh âm thanh và ánh sáng của đoàn tàu với âm thanh và ánh sáng nơi phố huyện: + Đoàn tàu: Âm thanh huyên náo, sôi động; ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ. + Phố huyện: Âm thanh đơn điệu, buồn bã; ánh sáng yếu ớt, tù mù Ý nghĩa: + Âm thanh sôi động của đoàn tàu khuấy động sự yên tĩnh của phố huyện. + Ánh sáng rực rỡ của đoàn tàu xua đi bóng tối mênh mông của phố huyện trong chốc lát.
8

 Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Diễn biến tâm trạng đợi tàu của hai đứa trẻ:

+ Trước khi tàu đến: hồi hộp, náo nức. + Khi tàu đến: vui sướng, hạnh phúc, mơ mộng. +Khi tàu đi vào đêm tối: bâng khuâng, luyến tiếc.  Chuyến tàu đêm ấy là hình ảnh của Hà Nội, của hạnh phúc, của những kí ức tuổi thơ êm đềm, là biểu tượng của một thế giới thật đáng sống: giàu sang, nhộn nhịp, đầy ánh sáng >< cuộc sống mỏi mòn, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người dân phố huyện.  Ước mơ thoát khỏi cuộc sống hiện tại, khao khát hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn, ý nghĩa hơn.  Thạch Lam đã đánh thức những tâm hồn mệt mỏi và cam chịu, khơi dậy ở họ niềm khát khao sống một cuộc sống đúng nghĩa, đồng thời thể hiện thái độ nâng niu, trân trọng những ước mơ cao đẹp của những số phận nghèo khổ nơi phố huyện.  Thông điệp mà nhà văn gửi gắm qua tác phẩm: hãy tin tưởng và trân trọng khát vọng của con người, dẫu thực tại còn đầy bóng tối như không gian của phố huyện nghèo kia nhưng con người dù trong hoàn cảnh nào cũng vẫn hướng về ánh sáng.

9

III. Tổng kết
1. Nội dung: Truyện ngắn Hai đứa trẻ thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía niềm cảm thương chân thành của Thạch Lam đối với những kiếp người sống nghèo khổ, chìm khuất trong mỏi mòn, tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện trước Cách mạng và sự trân trọng với những mong ước bé nhỏ, bình dị tuy còn mơ hồ mà tha thiết, tươi sáng của họ. 2. Đặc sắc nghệ thuật: Truyện ngắn không có cốt truyện, mỗi truyện là một bài thơ trữ tình đượm buồn. Tả cảnh, tả người hay kể chuyện đều chọn lọc tạo nên ấn tượng, nhiều xao xuyến, bâng khuâng. Miêu tả nội tâm nhân vật tinh tế và sâu sắc. Giọng điệu tâm tình, thủ thỉ. Nghệ thuật tương phản đối lập để làm nổi bật những cảnh đời lầm than nơi phố huyện. -

Câu văn thanh nhẹ, trong sáng, giàu hình ảnh và gợi cảm. Đan xen yếu tố lãng mạn và hiện thực. Ngôn ngữ xúc tích, giàu tính biểu cảm, giàu chất thơ.

10

IV. Một số đề dành cho thi đại học và tốt nghiệp
 Đề 1: Vì sao chị em Liên và An trong “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam đêm đêm vẫn cố thức để chờ chuyến tàu đi qua phố huyện. Thể hiện tâm trạng đợi tàu của hai đứa trẻ, nhà văn muốn nói với bạn đọc điều gì? Gợi ý làm bài: I. Vì sao chị em Liến cố thức để được nhìn chuyến tàu đi qua phố huyện: 1. Đối với mọi người: - Tìm một chút ánh sáng mới +Chị Tí: “Hằng ngày đi mò cua bắt tép, tối mới dọn cái hàng nước dưới gốc cây bàng: chả kiếm được bao nhiêu ,nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chặp tối đến đêm. Do đó, việc dọn hàng sớm hay muộn chẳng có ăn thua gì.” +Bác Siêu: “Bán hàng phở nhưng cái huyện nhỏ này, quà bác Siêu là một thứ quá xa xỉ, hai chị em Liên không bao giờ mua được.” +Bác Xẩm: “Ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để trước mặt, nhưng bác chưa hát vì chưa có khách.”  Tất cả những con người ấy làm những việc quen thuộc của mình,nhưng dường như không phải vì mục đích đó. Họ làm vì thói quen? Vì để tránh sự buồn chán vào ban đêm ở phố huyện nghèo? Hay làm vì “chừng ấy con người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ.” 2. Đối với chị em Liên

11

-

Nhạy cảm, còn trẻ Hiện tại: Một niềm vui giữa cảnh buồn tẻ nơi phố huyện. Bóng tối dần bao phủ cảnh phố huyện. +Ánh sáng mờ nhạt, lẻ loi +Cuộc sống càng trở nên buồn tẻ theo nhịp điệu của bóng tối và ánh sáng: *Cái giờ khắc của ngày tàn *Đêm tối

-

Qua khứ với những kỷ niệm đẹp đẽ. +Hấp dẫn, sinh động +Nhiều ánh sáng

-

Đoàn tàu: +Chuyến tàu đó là hoạt động cuối cùng của ban đêm. +Mọi người cùng mong đợi. +Là một sự khác lạ. +Làm xáo động cuộc sống vốn tĩnh lặng: “Tiếng vang động của xe hoả đã nhỏ rồi, và mất dần trong bóng tối ,lắng lại không còn nghe thấy nữa. Cả phố huyện mới thật hết xáo động.” +Không thuộc thế giới nơi chị em Liên sống. +Gợi lên những khát vọng mơ hồ nhưng cay đắng.

II.

Ý nghĩa:
-

Thương cảm với cảnh sống nghèo khó, vô danh, vô nghĩa: Ước mơ rất đỗi bình thường và nhỏ bé, chỉ là một đoàn tàu vụt qua trong đêm tối.

-

Thể hiện cái nhìn lạc quan về con người.  Họ còn sự gắn bó, muốn thay đổi trong cuộc sống. Tất cả mọi người đều biết ước mơ, mong mỏi thay đổi nào đó, dù rất mơ hồ, rời rạc. Điều đó chứng tỏ, ngày dù tàn,
12

cảnh cũng tàn nhưng lòng và đời của họ không tàn, nhất là với đứa trẻ như chị em Liên.

 Đề 2: Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam. Gợi ý làm bài: I. Giới thiệu chung: - Thạch Lam là cây bút truyện ngắn tài hoa, xuất sắc trước Cách mạng tháng 8/1945. - Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Thạch Lam. Tác phẩm được in trong tập Nắng trong vườn. Cũng như nhiều truyện ngắn khác của ông, truyện ngắn Hai đứa trẻ có sự đan cài hai yếu tố hiện thực và lãng mạn trữ tình. II. Phân tích giá trị nhân đạo: a) Tình cảm xót thương của Thạch Lam đối với những người sống ở phố huyện nghèo: - Xót xa trước cảnh đời nghèo đói, tăm tối, không tương lai, không ánh sáng của mẹ con chị Tí, gia đình bác Xẩm, bác Siêu,… - Cảm thương cuộc sống quẩn quanh, đơn điệu, tẻ nhạt nơi phố huyện. b) Sự phát hiện của Thạch Lam về những phẩm chất tốt đẹp của người dân nghèo nơi phố huyện: - Cần cù, chịu thương chịu khó. - Giàu lòng thương yêu. c) Sự cảm thông, trân trọng của nhà văn trước những ước mơ của người dân nghèo về một cuộc sống tốt đẹp hơn:

13

- Nhà văn trân trọng những mơ ước, hoài niệm của hai chị em Liên và An: mong được thấy ánh sáng, nhớ về quá khứ tươi đẹp, đoàn tàu đem đến cho hai chị em “một chút thế giới khác”… - Nhà văn cũng còn muốn lay động, thức tỉnh những người nghèo ở phố huyện, hướng họ tới một cuộc sống khác phong phú và có ý nghĩa hơn.

III.

Kết luận: Hai đứa trẻ có sự đan xen giữa hai yếu tố lãng mạn và hiện thực. Qua tác phẩm này, nhà văn gửi gắm một cách kín đáo, nhẹ nhàng nhưng không kém phần thấm thía tư tưởng nhân đạo của tác giả.

BẢNG PHÂN CÔNG:
Tạ Nhật Anh Nguyễn Lê Minh Khôi Trần Thị Thiên Ngân Võ Trương Phương Ngân Trà Hoa Ngọc Lê Hữu Khôi Nguyên Dương Bảo Duyên Thy Tìm hình ảnh, âm thanh, làm power point Tìm một số dàn bài mẫu, làm phần tổng kết nội dung và nghệ thuật của văn bản Chỉnh sửa, thuyết trình Làm phần tìm hiểu chung của văn bản: tác phẩm, tóm tắt văn bản Làm phần Đọc - hiểu văn bản, tổng hợp Làm phần tìm hiểu chung: thời đại sáng tác văn bản, tác giả Làm phần Đọc - hiểu văn bản, tổng hợp

Nhận xét của giáo viên: việc phân công và nội dung phác thảo của cả nhóm tương đối tốt, cả nhóm cố gắng phát huy. Một số gợi ý của giáo viên: - Khi đã có nội dung, các thành viên trong nhóm nên lên kế hoạch thiết kế bài thuyết trình để kịp với tiến trình chương trình. Ngày 13, các nhóm nộp bản thiết kế hoàn chỉnh. 2 Tuần sau (từ 13- 26/ 11 ) các nhóm theo thứ tự bài học sẽ thuyết trình vào các giờ làm văn trong lớp.

14

15

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->