Phần 1: NỘI DUNG: LUYỆN TẬP PHÂN TÍCH PHÉP TU TỪ (Phân tích tác dụng của biện pháp

nghệ thuật trong văn thơ) Ghi nhớ: Khi phân tích phép tu từ, ta thực hiện 3 việc sau đây: - Nêu tên phép tu từ có trong ví dụ - Dẫn chứng về phép tu từ đó (nêu dấu hiệu ngôn ngữ của phép tu từ) - Chỉ rõ tác dụng nghệ thuật của phép tu từ ấy (biện pháp ấy giúp tác gải nói lên điều gì? Giúp cho câu thơ, câu văn hay như thế nào?) Phần 2: BÀI TẬP: BÀI 1: Phát hiện và phân tích tác dụng nghệ thuật của các biện pháp tu từ trong đoạn thơ: “Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương nếu ai không nhớ Sẽ không lớn nổi thành người” (Bài học đầu cho con – Đỗ Trung Quân) Bài làm: Trong đoạn thơ của tác giả Đỗ Trung Quân đã xuất hiện biện pháp ………….. và ………….. Cụm từ “chỉ một” được lặp lại hai lần nhằm ………….. sự …………… quý giá và thiêng liêng của đất mẹ quê hương. So sánh “quê hương” – một khái niệm trừu tượng – với một đối tượng cụ thể, gần gũi nhất là “mẹ” – người đã sinh thành, nuôi dạy đứa con nên người, đó chính là cách nhà thơ đã mang đến “…………………cho con” một cách giản dị và dễ hiểu nhất. Hai câu thơ cuối đoạn có một lối nói khá độc đáo mà vẫn thật ……………..Đó là lời nhắc nhở giúp mỗi chúng trở thành một con người ……………., biết trọng gốc gác, cội nguồn. BÀI 2: Làm vào vở Viết một đoạn phân tích tác dụng của biện pháp nghê thuật nổi bật trong bài thơ “Anh đi anh nhớ quê nhà”. Trong đoạn văn cần có một câu ghép và một câu cảm thán. Áo đỏ - được xếp vào Tuyển tập thơ Tứ tuyệt VN 1000 năm
có được tứ thơ khá độc đáo và tạo ra sự liên tưởng bất ngờ

UBND THỊ XÃ BỈM SƠN PHÒNG GD&ĐT

ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI LỚP 9 NĂM HỌC 2010-2011 MÔN: NGỮ VĂN THỜI GIAN 150 PHÚT KHÔNG KỂ THỜI GIAN GIAO ĐỀ

ĐỀ BÀI: Câu 1: Vận dụng về kiến thức đã học về trường từ vựng để phân tích cái hay trong cách dùng từ ở bài thơ sau ( 4điểm ) Áo đỏ em đi giữa phố đông Cây xanh như cũng ánh theo hồng Em đi lửa cháy trong bao mắt Anh đứng thành tro em biết không?

ánh (hồng). . . làm không gian cũng như biến sắc (Cây xanh như cũng ánh theo hồng). lửa cháy. không mắc lỗi chính tả. Màu áo đỏ thắp lên trong ánh mắt chàng trai ngọn lửa.Áo đỏ) Câu 2: (8 điểm) Hãy viết một bài phát biểu trong buổi sinh hoạt lớp để thuyết phục các bạn tin rằng: Trong học tập. mang tính biểu tượng. Câu 2: . hoàn cảnh ra đời. + Hình ảnh bếp lửa là một hình ảnh đẹp mang tính tả thực.Các từ: áo(đỏ). PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 THÀNH PHỐ PLEIKU NĂM HỌC 2009 – 2010 MÔN THI : NGỮ VĂN Thời gian : 150 phút ( không kể phát đề ) ĐỀ BÀI : . thiếu sáng tạo…) + Khẳng định tự học rất quan trọng. bố cục 3 phần + Lập luận chặt chẽ. nội dung bài thơ. dễ đọc. + Sử dụng kiểu câu linh hoạt… .Yêu cầu về hình thức + dẫn dắt vào đề tự nhiện hấp dẫn. và thể hiện một tình yêu mãnh liệt. Ngọn lửa đó lan tỏa trong con người anh làm anh say đắm. suy nghĩ về bà.Yêu cầu về nội dung: + Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ: Tác giả. cây ( xanh).Yêu câu về nội dung: + Giải thích được thế nào là học và tự học.( Vũ Quần Phương. .Sử dụng hiệu quả tu từ từ vựng bài thơ gây ấn tượng người đọc. + Lên án thái độ ỷ lại. nó gợi lên sự gắn bó với gđ. ý nghĩa hình ảnh bếp lửa… + Phân tích hình ảnh bếp lửa trong bài thơ. quê hương là sự khởi nguồn của tình yêu quê hương đất nước. ngôn ngữ trong sáng. lập luận chặt chẽ. chữ đẹp.Yêu cầu về hình thức: Bố cục 3 phần. ngất ngây. đến mức biến thành tro và lan cả không gian. việc tự học của bản thân là cách học hiệu quả nhất. thiếu chủ động. thiếu tự lập của HS hiện nay ( Phụ thuộc vào quá nhiều bài giảng của thầy cô. tro tạo thành hai trường từ vựng: trường từ vựng chỉ màu sắc và chỉ lửa và những sự vật hiện tượng có liên quan đến lửa.Các từ thuộc 2 trường từ vựng có quan hệ chặt chẽ với nhau. hình ảnh sáng tạo. có sức thuyết phục. tình bà cháu. tác phẩm. gắn với người bà +Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn kỷ niệm cảm xúc. ngoài việc học tập trên lớp do thầy cô truyền thụ. Câu 3: ( 8 điểm) Phân tích hình ảnh Bếp lửa trong tác phẩm cùng tên của nhà thơ Bằng Việt. ĐÁP ÁN Câu 1: . là điều kiện của người học thành công Câu 3: .

2006 ) Hãy làm rõ nhận xét trên. nhà xuất bản Giáo dục.HẾT --- Vòng 1 PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 THÀNH PHỐ PLEIKU NĂM HỌC 2009 – 2010 MÔN THI : NGỮ VĂN Thời gian : 150 phút ( không kể phát đề ) ĐỀ BÀI : CÂU 1 : ( 4 điểm ) Cảm nhận của em về những yếu tố kì ảo trong Chuyện người con gái Nam Xương ( trích Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ ). Ánh trăng đều viết về người lính cách mạng với vẻ đẹp trong tính cách và tâm hồn họ. . Nhưng mỗi bài lại khai thác những nét riêng.CÂU 1 : ( 4 điểm ) Thành phố Pleiku của em. Bài thơ về tiểu đội xe không kính. ” ( Sách Giáo viên Ngữ văn 9 – Tập 2. trang 96. CÂU 2 : ( 6 điểm ) “ Ba bài thơ Đồng chí. --.

Xong xuôi. . Cô bé chỉ ngôi mộ và nói : . nơi có một ngôi mộ vừa mới đắp. Suốt đêm hôm đó. Nói xong. – Cô bé nức nở. Mẹ anh sống cách chỗ anh khoảng 300 km.Đây là nhà của mẹ cháu. anh đã lái xe một mạch 300 km về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa. cô bé ân cần đặt bông hoa hồng lên mộ. anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. ngữ pháp. phù hợp với từng phương thức biểu đạt mà các em chọn. anh thấy một bé gái đang đứng khóc bên vỉa hè. chú sẽ mua cho cháu. Anh đến và hỏi cô bé sao lại khóc. tự sự. anh quay lại tiệm bán hoa. – Nhưng cháu chỉ có 75 xu. . ( Theo Quà tặng cuộc sống. dùng từ.Đây là dạng đề mở. Cô bé vui mừng nhìn anh và trả lời : . huỷ bỏ dịch vụ gửi hoa vừa rồi và mua một bó hồng thật đẹp. trình bày hợp lí. 2004 ) ---HẾT--- Vòng 2 PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM THÀNH PHỐ PLEIKU VÒNG 1 Câu 1 : ( 4 điểm ) 1. diễn đạt trôi chảy. biểu cảm hoặc nghị luận để làm bài. Khi bước ra khỏi xe.Dạ. không sai các lỗi cơ bản về chính tả. NXB Trẻ. Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi mẹ anh.Đến đây. Anh mỉm cười và nói : . Tức thì. Yêu cầu chung : . nơi các em đang sống và học tập. HS có thể dùng phương thức biểu đạt : miêu tả. . Rồi cô bé chỉ đường cho anh đến một nghĩa trang.CÂU 2 : ( 6 điểm ) Suy nghĩ của em về ý nghĩa của câu chuyện sau : HOA HỒNG TẶNG MẸ Anh dừng lại ở tiệm bán hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện.Nội dung : Viết về thành phố Pleiku.Cháu muốn mua một bông hồng để tặng mẹ cháu. chú cho cháu đi nhờ xe đến nhà mẹ cháu. .Hình thức : Bài làm có bố cục 3 phần. trong khi giá một bông hồng những 2 đô la.

2.2. chia sẻ gian lao và cùng chung lí tưởng chiến đấu ( phân tích dẫn chứng ). chắt lọc trong thể hiện cảm xúc. hiện đại của những anh chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chông .  Nét phóng túng. lãng mạn.  Chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp.. Câu 2 : ( 6 điểm ) 1. ( Chọn và phân tích dẫn chứng ) * Vẻ đẹp người lính được khai thác ở những nét riêng trong mỗi bài thơ :  Đồng chí : Tập trung thể hiện vẻ đẹp và sức mạnh của tình dồng chí ở những người lính thời chống Pháp. gợi lại những kỉ niệm gắn bó của người lính với đất nước. . niềm lạc quan… Họ là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ( phân tích dẫn chứng ). văn viết sáng rõ. sống nghĩa tình. Họ là những người lính chân chất. ý chí chiến đấu. nổi bật ở tinh thần dũng cảm. yếu ( 1 ). Yêu cầu chung : . Tình đồng chí của họ dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ. không mắc các lỗi về viết văn. mộc mạc. tâm hồn bay bỗng. khá ( 2-2. . Chuẩn cho điểm : GK thận trọng cân nhắc và linh hoạt để đánh giá theo định hướng chung trên cơ sở HS đáp ứng tốt các yêu cầu trên và cho điểm theo thang : Giỏi ( 3-4 ).Yêu cầu cụ thể: .Mở bài: * Giới thiệu về hình ảnh người lính trong các bài thơ đã cho. Bài thơ về tiểu đội xe không kính ( Phạm Tiến Duật ) và Ánh trăng ( Nguyễn Duy ) để thấy “ Vẻ đẹp trong tính cách và tâm hồn của họ ” được khai thác ở những “ nét riêng ”. đồng đội trong những năm tháng gian lao thời chiến tranh. một chiến sĩ cách mạng. bất chấp khó khăn và nguy hiểm. nghĩa tình của người lính. TB ( 1-1.  Dũng cảm. * Trích lời nhận xét. có cảm xúc phù hợp với thể loại.  Lạc quan yêu đời. từ đó nhắc nhở về đạo lý nghĩa tình. ngôn từ của Chính Hữu làm nổi bật vẻ chân chất. xuất thân từ nông dân nơi những làng quê nghèo ra đi chiến đấu. thuỷ chung.Thân bài : * Các bài thơ đều viết về người lính với vẻ đẹp trong tính cách và tâm hồn của một người lính cụ Hồ. mộc mạc. trẻ trung.5 ).  Bải thơ về tiểu đội xe không kính : Khắc hoạ hình ảnh những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ.Thể loại : Chứng minh một vấn đề văn học.5 ). thuỷ chung ( phân tích dẫn chứng ) * Chất giọng riêng của các nhà thơ tạo nên vẻ đẹp khác nhau của người lính :  Nét cô đọng. sử dụng hình ảnh. viết một đoạn văn vô nghĩa ( 0 ). .  Thắm thiết tình đồng đội.. tài hoa của Phạm Tiến Duật tạo nên cái ngang tàng.Hình thức : Bố cục hợp lí.Nội dung : Phân tích hình ảnh người lính trong ba bài thơ Đồng chí ( Chính Hữu ). cái ngang tàng.  Ánh trăng : Tâm sự của người lính đã đi qua được chiến tranh. khái quát “nét riêng” trong cách khai thác và thể hiện của các tác giả.

nâng cao vấn đề. PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM THÀNH PHỐ PLEIKU VÒNG 2 Câu 1 : ( 4 điểm ) 1. có bố cục rõ ràng.Ý nghĩa của các yếu tố kì ảo : * Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương. cho điểm như sau : . chàng đắm thuyền nhưng không chết. b. .Điểm 3 : * Hiểu đề nhưng phương pháp nghị luận còn lúng túng.Điểm 1-2 : Chưa hiểu đề.Kết bài : * Khái quát.Điểm 4 : * Cơ bản đáp ứng được những yêu cầu trên nhưng vài chỗ phân tích chưa sâu sắc. nhận xét của bản thân về vẻ đẹp của người lính trong ba bài thơ.Các yếu tố kì ảo ( phần kể về cuộc sống của Vũ Nương ở thuỷ cung ) : Vũ Nương gieo mình xuống sông nhưng được Linh phi cứu sống. khuyến khích những bài viết có cảm xúc. Lưu ý : Cần chú ý đến kiến thức và kĩ năng làm bài của HS. Biểu điểm : .Bài viết ngắn gọn. Không sai các lỗi cơ bản về hình thức. . được đãi yến tiệc và gặp Vũ Nương rồi được đưa về dương thế. * Có thể còn một vài sai sót nhỏ.Mỹ. . Yêu cầu chung : a. cách sử dụng hình ảnh giàu tính biểu cảm của Nguyễn Duy bộc lộ suy ngẫm của người lính về đạo lý. * Đánh giá. cần làm rõ : . * Bố cục hoàn chỉnh nhưng phân tích còn sơ sài. . Về kĩ năng : . . lạc vào động rùa của Linh Phi.Đề yêu cầu HS phát biểu cảm nghĩ về một khía cạnh nghệ thuật của một tác phẩm truyện. Chuẩn cho điểm : Trên cơ sở đáp ứng tốt các yêu cầu về kĩ năng. * Còn mắc một vài lỗi viết văn. * Khẳng định niềm cảm thương sâu sắc của tác giả đối với số phận bi thảm của người phụ nữ trong chế độ phong kiến. văn viết lủng củng. kiến thức. 2. văn viết chưa thật trôi chảy. 3. ân nghĩa. sáng tạo. diễn đạt mạch lạc và có cảm xúc. Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa. * Tạo kết thúc có hậu cho tác phẩm.  Giọng điệu tâm tình. . Về kiến thức : Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả và tác phẩm.Điểm 5-6 : * Đáp ứng được những yêu cầu trên. hình ảnh Vũ Nương hiện ra khi Trương Sinh lập đàn giải oan rồi bỗng chốc bóng nàng mờ nhạt dần và biến đi mất.

không sai các lỗi cơ bản về hình thức.MB ( 0. * Từ đó biết liên hệ thực tế để bàn luận đánh giá và liên hệ bản thân. sáng tạo. Lưu ý : Cần khuyến khích những bài viết có cảm xúc.25 ). Chuẩn cho điểm : . . Cảm nhận của em về cảnh kết thúc trên. võng lọng. * Bài viết có bố cục rõ ràng. Yêu cầu chung : . * Liên hệ bản thân : 1 đ. Dàn đan thế trận lưới vây giăng (Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận) a.5 đ .5 đ . Chú ý khuyến khích những bài viết diễn đạt tốt. b.0 điểm) Đọc kỹ đoạn thơ sau rồi thực hiện các yêu cầu bên dưới: Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Ra đậu dặm xa dò bụng biển.Về kiến thức : * Trên cơ sở đọc – hiểu văn bản. HS chọn được vấn đề trọng tâm : bài học về tình mẫu tử để bộc lộ suy nghĩ của bản thân. trôi chảy. ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN NĂM HỌC 2009-2010 Môn thi: Ngữ văn 9 Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề) Câu 1: (3.Kết luận : 0. lập luận chặt chẽ. luận cứ đầy đủ. luận điểm hợp lí và chính xác. Câu 2 : ( 6 điểm ) 1. 2. chữ viết rõ ràng. Rồi trong chốc lát. thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa”. TB ( ý 1 : 1. Câu 2: (3. Dựa vào kiến thức đã học về từ vựng.Về kĩ năng : * Đây là dạng đề mở của kiểu bài nghị luận xã hội.Thân bài : 5 đ * Chọn đúng vấn đề trọng tâm : 2 đ. rọi vào thực tế để bàn luận đánh giá : 2 đ. * Bàn luận về ý nghĩa nhân văn của vấn đề. HS phải có kĩ năng đọc – hiểu văn bản để chọn lựa vấn đề nghị luận. có những ý mới.5 đ. bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mag biến đi mất. xây dựng hệ thống luận điểm. diễn đạt mạch lạc. ý 2 : 2 đ ). KB ( 0.0 điểm) Nguyễn Dữ đã kết thúc “Chuyện người con gái Nam Xương” bằng cảnh: Vũ Nương hiện về giữa dòng cùng năm mươi chiếc xe cờ tán. hãy liệt kê các từ thuộc trường thiên nhiên và trường sự vật liên quan đến việc đánh cá có trong đoạn thơ. thực hiện các thao tác nghị luận phù hợp. lập luận chặt chẽ.Mở bài : 0. lúc hiện và lời nói vọng vào “… Đa tạ tình chàng.25 ). lúc ẩn. Viết một đoạn văn diễn dịch chỉ ra cái hay trong cách sử dụng hình ảnh và các biện pháp nghệ thuật của Huy Cận trong đoạn thơ trên. rực rỡ đầy sông. .

Đã là “lửa” tất yếu phải “cháy”. vẻ đẹp không còn kiêu sa. bỗng nắng vàng lên rực rỡ”. Cả người đi và người ở lại đều ý thức được rằng “khi tổ quốc cần. Tất cả cộng hưởng cùng nắng thu đang “vàng lên rực rỡ” làm nên một cuộc chia ly màu đỏ “rực như than lửa”. Bởi người đưa tiễn là một cô gái mặc “áo đỏ”. Tập I) mới có dịp gặp nhau. Việc lựa chọn từ “thắp” thể hiện sự tỉnh táo của tác giả. Vũ Quần Phương cũng không muốn lặp lại lối mòn của Nguyễn Mỹ. nguyên nhân làm cho bài thơ hay hoặc dở cũng xuất phát từ đó. đang “cháy” lên một lý tưởng thiêng liêng. từ “cháy” trong bài thơ này mới thật đắt giá. Chẳng có gì để buồn! Bởi trong họ đang “cháy” lên một tình yêu. tươi mát. Màu xanh của cây. giá trị biểu cảm của từ “thắp” đã vượt xa hơn từ “cháy” rất nhiều lần. hạng phúc trong tương lai. trái lại rất thân thương. -------------------------HẾT --------------------------ĐỀ CHÍNH THỨC BÀN VỀ MỘT TỪ TRONG BÀI THƠ “ÁO ĐỎ” Tình cờ đọc trên “thivien. cụ thể trong câu “em đi lửa cháy trong bao mắt” có vẻ khiên cưỡng. “thắp lửa” mới gần gũi. Tuy nhiên. “cháy mãi không nguôi”. Hãy đóng vai Thủy kể lại chuyện gặp gỡ đó (với yêu cầu có sử dụng yếu tố nghị luận và miêu tả nội tâm). cách hiểu khác nhau về bài thơ. việc xác định ý nghĩa biểu cảm của nó đối với toàn bài là rất cần thiết. “Lửa cháy” rồi sẽ tàn nhưng “thắp lửa” sẽ duy trì được mãi ngọn lửa đó cũng như vẻ đẹp của cô gái khó mà lụi tàn trong mắt bao người. Cho nên. mỗi chữ đều là vàng. Tình yêu – lý tưởng . “Lửa cháy” cuồng nhiệt quá.net”. nên việc dư thừa một chữ sẽ là lãng phí và phá đi khối liên kết chung cả bài. đều mang một ý nghĩa then chốt và góp phần liên kết chặt chẽ với toàn bài. cũng có sự ngoại lệ như từ “ dữ” và “cộng” trong hai câu thơ của Vương Bột là hữu ý. Cả bài thơ. Cho nên. Và dĩ nhiên. Trong một bài thơ chỉ vỏn vẹn 28 chữ. dư thừa. để đến cuối bài thơ Nguyễn Mỹ phải ngộ nhận lại “ như không hề có cuộc chia ly”. Đó phải chăng là vẻ đẹp của cô gái? Vẻ đẹp ấy khiến mỗi bước em đi như “thắp lửa trong bao mắt”. dịu dàng của em. cao đẹp vì tổ quốc. là do động từ “cháy” và động từ “thắp” không nằm trong một trường nghĩa. Bài viết trên đây mang tính chủ quan của người viết. (ĐỖ VĂN DUYÊN) . giữa tiết mùa “thu. là hay: “ Lạc hà dữ cô lộ tề phi Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc” Xét thấy. không “cháy” sao thành “lửa”. thiếu tế nhị. không mang lại giá trị nghệ thuật cao. Cho nên. họ biết sống xa nhau” và họ tin “ngày mai sẽ là ngày sum họp”. màu hồng của áo phối kết với màu nắng như “ánh” lên một hợp màu dịu dàng. nhen nhóm ngọn lửa em “thắp” mà đơn phương chết lặng. tiễn đưa chồng trong nắng “rạng đông với màu hồng ngọc”. khiến tôi phân vân nhớ đến câu trong nguyên tác: “em đi thắp lửa trong bao mắt”. thiêu “cháy” đi những giọt nước mắt bi lụy. Cho nên. Mỗi người sẽ có cách cảm. từ “cháy” đặt trong câu thứ ba của bài “áo đỏ” là dư thừa.biểu tượng của niềm tin. tế nhị. Đến đây cán cân thẩm mỹ đã nghiêng về “thắp lửa” hay nói cách khác. mà “cháy” hay “thắp” được coi là “nhãn tự” của bài thơ.net”. Thủy và Thành (trong truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê” – Ngữ văn 7. câu thứ ba trong bài “áo đỏ” của nhà thơ Vũ Quần Phương có viết: “em đi lửa cháy trong bao mắt”. nhằm đối sánh đôi điều về bài thơ “áo đỏ” trong nguyên tác với bài “áo đỏ” trên “thivien. Cùng là lửa nhưng “lửa cháy” và “thắp lửa” lại cho chúng ta hai cách hiểu khác nhau. của may mắn. không hợp với vẻ đẹp khả ái. Cho nên.0 điểm) Ban năm sau ngày chia tay. Nguyễn Mỹ đã khẳng định “đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ”. cuộc chia ly ấy dầu có nước mắt cũng chỉ là “những giọt long lanh nóng bỏng sáng ngời”. yếu đuối của lòng người. “em đi lửa cháy trong bao mắt” là bản sao dị bản của “em đi thắp lửa trong bao mắt”. Văn chương là cái lý không cùng. nhân vật “anh” si tình mới “đứng thành tro”. Trong “ Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ viết năm 1964 có câu: “Chiếc áo đỏ rực như than lửa Cháy không nguôi trước cảnh chia ly” Ngay từ đầu bài thơ. trìu mến.thiên nhiên . Ấy vậy.Câu 3: (4.lòng người cùng thăng hoa mà “cháy” lên cho một niềm tin hòa bình. của chiến thắng. từ “cháy” đó mà đặt trong bài “Áo đỏ”. Sự khác nhau ấy. Vũ Quần Phương không dùng một từ nào đặc tả vẻ đẹp của cô gái nhưng bạn đọc vẫn có thể thấy được vẻ đẹp thiên phú đó qua ý nghĩa câu chữ và đặc biệt qua cụm từ “thắp lửa”. hòa chung với chất xúc tác của màu “áo đỏ” .

Với ông." Đó là niềm vui sướng của trái tim thi sĩ trẻ lần đầu tiên phát hiện ra 1 thiên dường trên mặt đất.đảo ngược quy luật tự nhiên..Nếu thơ xưa. các bậc tiền bối đã có những vần thơ tràn trề về tình yêu đói với mùa xuân và cuộc sống. Thơ Xuân Diệu như một khúc tình si say đắm ngọt ngào. cảnh vật. một bữa tiệc lớn của trần gian. một lòng ham sống mãnh liệt đến tràn đầy. sẽ thật là thiếu sót nếu không kể tên "Vội vàng". sống là để tận hưởng và tận hiến.. "Đây mùa thu tới". Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra trong "Vột vàng" vừa như một mảnh vườn tình ái. để lại trong tâm hồn người đọc một ấn tượng đậm nết và thật khó phôi pha về sự phóng túng. Này đây lá của cành tơ phơ phất." Nói Xuân Diệu là một nhà thơ mới. Xuân Diệu bộc lộ ý thức về cái tôi trữ tình thật táo bạo: "Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất. Này đây hoa của đồng nội xanh rì. thì trong quan niệm thơ của Xuân Diệu.muốn ôm tất cả.BÀI THƠ VỘI VÀNG Ngay từ buổi đầu bước chân vào làng thơ. Từ nghìn năm tước. Trong thơ ca trung đại. sống là cả một hạnh phúc lớn lao. bằng cuộc sống say mê và bằng việc "hăm hở" làm thơ tình! Nhắc đến Xuân Diệu. Xuân Diệu dường như đã tự chọn cho mình một lẽ sống: sống để yêu và tôn thờ Tình yêu! Phụng sự bằng trái tim yêu nồng cháy. quả không sai! Nếu như trong thơ ca của những thi sĩ lãng mạn ngày xưa. chất đầy trong tim mây trời thanh sắc”: "Của ong bướm này đây tuần tháng mật. đó là điều thật mới mẻ. Nhưng yêu đến mức có những ham muốn táo bạo và khác thường như Xuân Diệu. . rung động với bướm chim.đứa con đầu lòng mà "ông hoàng thơ tình" đã ban tặng cho nhân gian. vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ. lại vừa như một người tình đầy khêu gợi. kỳ diệu. Đặc biệt là cái cách nói của nhà thơ. "buộc gió" trở nên quá táo bạo. vẫn có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn yêu cuộc sống. yêu cuộc sống của ông đã biến cái ham muốn "tắt nắng". muốn giữ lại tất cả thiên nhiên với vẻ đẹp vốn có của nó. thả mình bơi trong ánh nắng. một niềm khát khao giao cảm với đời. vạn vật đương lúc lên hương. là nơi xinh đẹp và căng mọng nhựa sống nhất! Thơ lãng mạn của ông luôn có một niềm say mê ngoại giới. Của yến anh này đây khúc tình si. nét nổi bật là tính phi ngã. cái tôi trữ tình thường ẩn náu sau những hình tượng thiên nhiên. Nhà thơ đã cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn. thơ Xuân Diệu nhẹ nhàng và tinh tế như chính tác giả của nó. Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi. Ước muốn níu giữ thời gian.. giàu có mà hết sức tinh tế trong đời sống nội tâm. thật mãnh liệt.. thiên đường là chốn bồng lai tiên cảnh. tâm của hồn của cái "TÔI" trữ tình Xuân Diệu. Có ai đó đã nói rằng: “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân. phải chăng là ông đang muốn đoạt quyền tạo hóa. là nơi mây gió trăng hoa. Trong khi đó.thật đến từng hơi thở! Những vẻ đẹp của mùa xuân đâu chỉ của riêng Xuân Diệu. chặn vòng quay của vũ trụ. khác giới. Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận như một thiên đường trên mặt đất. và "Thơ duyên" trong tuyển tập "Thơ thơ" . cuộc sống trần gian mới thực là nơi hạnh phúc nhất. đến độ lo âu trước sự thay đổi của đất trời. Nhưng trong cái phi lí đó. nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. Dường như lòng yêu đời. Như một cái chạm tay khẽ nhẹ vào tâm hồn những người yêu thơ.

yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu. một sự mời mọc mà thiên nhiên là những "món ăn" có sẵn.cảnh vật trong thơ ông đã trở nên cuộn trào sắc màu. được tận hưởng sắc hương của vạn vật là một ngày vui.. Sự sống ngồn ngột đang phơi bày. Nó dẫn nhà thơ đến những suy tư và quan niệm nhân sinh mang tính triết lý." Hai tâm trạng trái ngược nhưng dồn nén trong dòng thơ "Tôi sung sướng. đang quá đỗi trẻ trung mà đã nuối tiếc. đã vội càng "Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân. tất cả sẽ lụi tàn . căng ra mà đón nhận tất cả. Tất cả mọi giác quan của thi sĩ như rung lên. được trực tiếp nhận ánh sáng rực rỡ của lòng yêu cuộc sống từ hồn thơ Xuân Diệu đã trở nên lung linh. vẹn nguyên. Niềm vui sướng trong tâm hồn nhà thơ dâng tràn khiến ngòi bút của Xuân Diệu thật sự xuất thần và thi sĩ đã sáng tạo nên 1 câu thơ tuyệt bút:"Tháng giêng ngon như một cặp môi gần".vầng thái dương lại hiện ra dịu dàng. . mỗi ngày được sống. những khung cảnh được miêu tả thật cụ thể. Cái mới trong thơ tình Xuân Diệu là thế! Đó là sư kết hợp hài hoà giữa tâm hồn và thể xác khiến tình yêu thăng hoa. điệp ngữ "này đây" được sử dụng 5 lần kết hợp với lối kiệt kê khiến nhịp thơ trở nên dồn dập. tất cả tràn trề sự sống và thật đắm say! Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần Tôi sung sướng. lạ lẫm. của yến anh là khúc tình “si”. giúp nhà thơ diễn tả trạng thái hồn nhiên. Nhưng vội vàng một nửa". Đang ở đỉnh điểm của hạnh phúc. ngạc nhiên. Nhưng điều mà Xuân Diệu muốn diễn tả là "vội vàng một nửa".. cảm nhận tất cả.các nhà thơ chỉ sử dung thính giác và thị giác để cảm nhận vẻ đẹp của ngoại giới thì các thi sĩ thời Thơ mới lại huy động tất cả các giác quan từ nhiều góc độ để cảm nhân vẻ đẹp và sự quyến rũ đắm say hồn người của cảnh vật và đất trời lúc xuân sang. mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời. tình tứ và lãng mạn đến thế. thiên nhiên hữu tình xinh đẹp thật đáng yêu như một sự gợi mở hấp dẫn đến lạ kì." Chưa bao giờ trong thơ Việt Nam hình ảnh mặt trời . cuộn trào sức sống. mang tính nhục cảm. là biểu tượng của mùa xuân và tuổi trẻ ở giữa cuộc đời! Thi pháp hiện đại đã chắp cánh cho những cảm giác mới mẻ của Xuân Diệu. sự đan xen hai luồng cảm xúc trái ngược là điều thường gặp trong thơ tình Xuân Diệu. nghĩa là xuân đương qua. Nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân. như một tiếng reo vui sướng tột cùng để rồi chìm ngập đắm say trước trùng trùng điệp: Của ong bướm tuần tháng “mật” ngọt ngào. bồng bột trước cái sắc xuân trong cảnh vật." Vì sao vậy? Bởi với Xuân Diệu: "Xuân đương tới. lại gần gũi và trẻ trung đến thế. Một chữ “ngon” chuyển đổi cảm giác thần tình. Cách ngắt nhịp trong đoạn thơ đầy linh hoạt. in đậm phong cách XD: tuần tháng mật. nào là lá của cành tơ “phơ phất”.. đây là một cấu trúc độc đáo bởi nó ngắt thành 2 câu chứa đựng 2 tâm trạng. Trong đoạn thơ. Hình ảnh "thần vui hằng gõ cửa" gợi những liên tưởng gần gũi với hình tượng mặt trời trong thần thoại hy lạp xưa. nào là hoa của đồng nội xanh “rì”. Thi nhân nhận ra cái quy luật khắc nghiệt của dòng chảy thời gian: "tất cả sẽ qua đi. Đây là câu thơ hay nhất. biến hoá (3/2/3 và 3/5).. Thường thì con người ở tuổi trung niên mới tiếc tuổi xuân. đồng nội xanh rì . Đặc biệt là những hình ảnh. tâm hồn nhà thơ trỗi lên nỗi âu lo trước cái mong manh của xuân sắc sẽ phai tàn. một cách so sánh vừa lạ vừa táo bạo. Nhưng sao câu thơ Xuân Diệu vẫn tinh khôi. trong sáng. rất hãnh diện. đẹp đẽ. Với Xuân Diệu. thể hiện sự phong phú bất tận của thiên nhiên. Sự vật bình thường ở ngoài đời cũng được đặt cho một dáng vẻ rất kiêu. là một sự chỉ trỏ ngơ ngác. trong đất trời và của muôn loài. Nhà thơ đem lại một khái niệm vốn trừu tượng thuộc về thời gian "tháng giêng" so sánh với một hình ảnh vốn cụ thể. 2 cảm xúc trái ngược nhau: sung sướng-vội vàng. Ở đây Xuân Diệu đang xuân. Những vẻ đẹp được liệt kê bằng những tính từ đậm nhạt khác nhau để thể hiện tài năng sử dụng từ ngữ của Xuân Diệu . được nhìn thấy mặt trời. Về hình thức.

vừa quen lại vừa lạ. Đến đây. của tạo vật hình như cũng mang theo nỗi buồn “chia phôi”. So với đoạn thơ trên. Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm. thi sĩ bâng khuâng.. Mà xuân hết. phải “hờn” vì xa cách.cái tôi đơn lẻ đang đối thoại với đồng loại. nhưng lượng trời cứ chật. Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Còn trời đất." "Ta muốn ôm.. Con người ấy lúc nào cũng "chẳng bao giờ nữa. và cây." Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hoá làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ. Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt. bâng khuâng: Trong đoạn thơ này. còn “chim” thì bỗng ngừng hót. Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm. Cũng là “gió”. Phần đầu bài thơ. ôi! Chẳng bao giờ nữa. nghĩa là tôi cũng mất. tiếc nuối . Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước." Nhưng quan niệm của Xuân Diệu vừa phi lí. Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn. là “chim”… nhưng gió khẽ “thì thào” vì “hờn”. Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời. Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Chẳng bao giờ. phải “sợ” vì “độ phai tàn sắp sửa”. Ta muốn riết mây đưa và gió lượn. thi sĩ xưng "tôi" . thi sĩ xưng ta một cách đầy tự tin nhưng đã có thêm rất nhiều đồng minh cùng đứng lên đối diện với sự sống:"Chẳng bao giờ. vừa hợp lí.mà vạn vật là muôn đá nam châm. hoặc “tiễn biệt”. coi mùa xuân. nhưng chẳng còn tôi mãi. ôi! Chẳng bao giờ nữa. Biết rằng mùa xuân của đất trời vẫn tuần hoàn nhưng tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại. Con tim ấy của một cái tôi trữ tình từng bộc bạch một cách chân thành. Ta muốn say cánh bướm với tình yêu. Những câu thơ chứa đựng cả giọng nói háo hức và nhịp đập của một con tim vồ vập muốn sống hết mình... Quen vì người xưa đã từng thở dài "xuất thì bất tái lai". Mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật. lúc lại song song thành những đợt sóng ào ạt vỗ mãi vào tâm hồn người đọc. Con gió xinh thì thào trong lá biếc. Trái tim Xuân Diệu đa cảm quá và tâm hồn nhà thơ quá đỗi tinh tế trước bước đi của thời gian.Xuân còn non. và cỏ rạng. Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.. nghĩa là xuân sẽ già." Từng làn sóng ngôn từ lúc đan chéo nhau. Và là bởi đó là tiếng nói của một cái tôi ham sống. cái giọng điệu sôi nổi. tuổi trẻ và tình yêu là tất cả sự sống của mình. "Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ . ngừng reo vì “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lý giữa mùa xuân – tuổi trẻ và thời gian: "Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?" Con người hiện đại sống với quan niệm thời gian tuyến tính. thời gian như một dòng chảy mà mỗi mộy khoảnh khắc qua là mất đi vĩng viễn. Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hòan. Lòng tôi rộng. đắm say của Xuân Diệu thời "thơ thơ" thể hiện đầy đủ nhất.. Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi. . cách tự xưng của nhân vật trữ tình thay đổi. bồng bột.

ta muốn cắn vào ngươi!" Hình thức trình bày đoạn thơ rất đặc biệt. giao cảm mãnh liệt với vạn vật. sự ham hố cuồng nhiệt của Xuân Diệu mãi mãi là khát vọng. Cho no nê thanh sắc của thời tươi. Xuân Diệu đã phả vào nền thi ca Việt Nam một trào lưu "Thơ mới". say đắm: ôm. Đó là tình yêu cảnh vật. muốn tận hưởng vị ngọt ngào của cảnh sắc đất trời "tươi non mơn mởn". ta muốn cắn vào ngươi. với cuộc đời. rất tiêu biểu cho cảm xúc thơ Xuân Diệu. Mới lạ nhưng táo bạo. nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng tất cả các giác quan. để nhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu . là ham muốn không có giới hạn. Điệp từ. đầy bồng bột. cuộc đời. độc dáo ở giọng điệu và cách dùng từ.sự sống giữa thời tươi vào lòng. với một trái tim chan chứa tình yêu. mùa xuân . Với bài thơ "Vội vàng". mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. sôi nổi và đắm say khiến nhà thơ phá tung những quan niệm của thi pháp trung đại để biểu lộ tâm hồn mình trong một cách nói tưởng như vô nghĩa mà hoá ra rất sáng tạo "Và non nước. Câu cuối cùng kết thúc cả bài thơ:" Hỡi xuân hồng. cho chếnh choáng. dòng đời để ôm cho hết. khát khao đến cháy bỏng với các mong muốn được giao hoà. ào ạt từ câu mở đầu cho đến câu cuối cùng bài thơ. Chính những câu thơ đó lưu lại trong ta ấn tượng về một dòng sông cảm xúc cứ dâng trào. Và là ham muốn mãnh liệt muốn nĩu giữ thời gian. Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứ sở hữu tình này. riết. Đó chính là đỉnh điểm của cảm xúc bồng bột.vội vã với nhịp đập của thời gian. diễn tả niềm khao khát giao cảm mãnh liệt. cho no nê. thâu cho đã đầy. cuộc đời trần thế như bày ra cả một bàn tiệc với tất cả hình ảnh của cuộc sống tươi non. và cỏ rạng.. lại nhân hoá khiến nó hiện ra như con người có hình hài và mang dang dấp của tuổi xuân. cho say. Chỉ riêng điệp ngữ ta muốn được điệp tới bốn lần. Đó là chân dung của một cái tôi đầy tham lam.tuổi xuân ngon lành và quyến rũ như một trái chín ửng hồng. đầy hương sắc.. Nhà thơ diễn tả thiên nhiên bằng các mĩ từ. điệp ngữ được sử dụng bới tần số dày đặc trong cả đoạn thơ tiêu biểu cho nhịp điệu dồn dập. thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả. và cây. tuyệt đích. yêu cuộc đời. "Vội vàng" đã thể hiện một cảm quan nghệ thuật rất đẹp..Cho chuếnh choáng mùi hương. Trong hồn thơ Xuân Diệu. Đó là lòng yêu con người. ham hố kô có điểm tận cùng trong tâm hồn nhà thơ. hình ảnh xuân hồng với từ "cắn" khiến câu thơ thật gợi cảm xen chút giật mình trước tứ thơ thật độc đáo. thâu. yêu mùa xuân và tuổi trẻ. Tất thảy đều vồ vập.. là để ca hát về tình yêu. Trong câu thơ này." Một trạng thái tham lam." Đây là lời gọi thiết tha với sự cuồng nhiệt cao độ của 1 trái tim khao khát tình yêu và cuộc sống. Ba chữ "Ta muốn ôm" được đặt ở giữa dòng thơ mô phỏng hình ảnh nhân vật trữ tình đang dang rộng vòng tay để ôm tất cả sự sống lúc xuân thì . Hỡi xuân hồng. như mời mọc. cho tới tận cùng những hương sắc của đất trời giữa mùa xuân. đắm say. say. mỗi lần điệp đi điệp lại liền với một động từ diễn tả một trạng trái yêu thương mỗi lúc một nồng nàn. ham hố đang dứng giữa trần gian. ngắt nhịp. Cảm nhận cái hay của đoạn thơ Con gặp lại nhân dân . Đây quả là một khát khao vô biên. cho đã đầy ánh sáng. Tròn cảm nhận của thi nhân. riết cho chặt.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful