Phần 1: NỘI DUNG: LUYỆN TẬP PHÂN TÍCH PHÉP TU TỪ (Phân tích tác dụng của biện pháp

nghệ thuật trong văn thơ) Ghi nhớ: Khi phân tích phép tu từ, ta thực hiện 3 việc sau đây: - Nêu tên phép tu từ có trong ví dụ - Dẫn chứng về phép tu từ đó (nêu dấu hiệu ngôn ngữ của phép tu từ) - Chỉ rõ tác dụng nghệ thuật của phép tu từ ấy (biện pháp ấy giúp tác gải nói lên điều gì? Giúp cho câu thơ, câu văn hay như thế nào?) Phần 2: BÀI TẬP: BÀI 1: Phát hiện và phân tích tác dụng nghệ thuật của các biện pháp tu từ trong đoạn thơ: “Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương nếu ai không nhớ Sẽ không lớn nổi thành người” (Bài học đầu cho con – Đỗ Trung Quân) Bài làm: Trong đoạn thơ của tác giả Đỗ Trung Quân đã xuất hiện biện pháp ………….. và ………….. Cụm từ “chỉ một” được lặp lại hai lần nhằm ………….. sự …………… quý giá và thiêng liêng của đất mẹ quê hương. So sánh “quê hương” – một khái niệm trừu tượng – với một đối tượng cụ thể, gần gũi nhất là “mẹ” – người đã sinh thành, nuôi dạy đứa con nên người, đó chính là cách nhà thơ đã mang đến “…………………cho con” một cách giản dị và dễ hiểu nhất. Hai câu thơ cuối đoạn có một lối nói khá độc đáo mà vẫn thật ……………..Đó là lời nhắc nhở giúp mỗi chúng trở thành một con người ……………., biết trọng gốc gác, cội nguồn. BÀI 2: Làm vào vở Viết một đoạn phân tích tác dụng của biện pháp nghê thuật nổi bật trong bài thơ “Anh đi anh nhớ quê nhà”. Trong đoạn văn cần có một câu ghép và một câu cảm thán. Áo đỏ - được xếp vào Tuyển tập thơ Tứ tuyệt VN 1000 năm
có được tứ thơ khá độc đáo và tạo ra sự liên tưởng bất ngờ

UBND THỊ XÃ BỈM SƠN PHÒNG GD&ĐT

ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI LỚP 9 NĂM HỌC 2010-2011 MÔN: NGỮ VĂN THỜI GIAN 150 PHÚT KHÔNG KỂ THỜI GIAN GIAO ĐỀ

ĐỀ BÀI: Câu 1: Vận dụng về kiến thức đã học về trường từ vựng để phân tích cái hay trong cách dùng từ ở bài thơ sau ( 4điểm ) Áo đỏ em đi giữa phố đông Cây xanh như cũng ánh theo hồng Em đi lửa cháy trong bao mắt Anh đứng thành tro em biết không?

. Ngọn lửa đó lan tỏa trong con người anh làm anh say đắm. cây ( xanh).Yêu câu về nội dung: + Giải thích được thế nào là học và tự học. mang tính biểu tượng. hình ảnh sáng tạo. là điều kiện của người học thành công Câu 3: . bố cục 3 phần + Lập luận chặt chẽ. + Hình ảnh bếp lửa là một hình ảnh đẹp mang tính tả thực. .Yêu cầu về hình thức + dẫn dắt vào đề tự nhiện hấp dẫn. có sức thuyết phục. PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 THÀNH PHỐ PLEIKU NĂM HỌC 2009 – 2010 MÔN THI : NGỮ VĂN Thời gian : 150 phút ( không kể phát đề ) ĐỀ BÀI : . ĐÁP ÁN Câu 1: . thiếu chủ động. nội dung bài thơ.Yêu cầu về nội dung: + Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ: Tác giả. ngất ngây. và thể hiện một tình yêu mãnh liệt. ý nghĩa hình ảnh bếp lửa… + Phân tích hình ảnh bếp lửa trong bài thơ. dễ đọc. Câu 3: ( 8 điểm) Phân tích hình ảnh Bếp lửa trong tác phẩm cùng tên của nhà thơ Bằng Việt. ánh (hồng). gắn với người bà +Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn kỷ niệm cảm xúc.Các từ: áo(đỏ). làm không gian cũng như biến sắc (Cây xanh như cũng ánh theo hồng). nó gợi lên sự gắn bó với gđ.Các từ thuộc 2 trường từ vựng có quan hệ chặt chẽ với nhau. ngoài việc học tập trên lớp do thầy cô truyền thụ. ngôn ngữ trong sáng.( Vũ Quần Phương.Áo đỏ) Câu 2: (8 điểm) Hãy viết một bài phát biểu trong buổi sinh hoạt lớp để thuyết phục các bạn tin rằng: Trong học tập.Sử dụng hiệu quả tu từ từ vựng bài thơ gây ấn tượng người đọc. + Sử dụng kiểu câu linh hoạt… .Yêu cầu về hình thức: Bố cục 3 phần. hoàn cảnh ra đời. suy nghĩ về bà. + Lên án thái độ ỷ lại. thiếu sáng tạo…) + Khẳng định tự học rất quan trọng. thiếu tự lập của HS hiện nay ( Phụ thuộc vào quá nhiều bài giảng của thầy cô. tro tạo thành hai trường từ vựng: trường từ vựng chỉ màu sắc và chỉ lửa và những sự vật hiện tượng có liên quan đến lửa. lập luận chặt chẽ. không mắc lỗi chính tả. đến mức biến thành tro và lan cả không gian. . tác phẩm. chữ đẹp. Câu 2: . quê hương là sự khởi nguồn của tình yêu quê hương đất nước. việc tự học của bản thân là cách học hiệu quả nhất. lửa cháy. tình bà cháu. Màu áo đỏ thắp lên trong ánh mắt chàng trai ngọn lửa.

Ánh trăng đều viết về người lính cách mạng với vẻ đẹp trong tính cách và tâm hồn họ. . CÂU 2 : ( 6 điểm ) “ Ba bài thơ Đồng chí. trang 96. --. Bài thơ về tiểu đội xe không kính.HẾT --- Vòng 1 PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 THÀNH PHỐ PLEIKU NĂM HỌC 2009 – 2010 MÔN THI : NGỮ VĂN Thời gian : 150 phút ( không kể phát đề ) ĐỀ BÀI : CÂU 1 : ( 4 điểm ) Cảm nhận của em về những yếu tố kì ảo trong Chuyện người con gái Nam Xương ( trích Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ ). ” ( Sách Giáo viên Ngữ văn 9 – Tập 2. Nhưng mỗi bài lại khai thác những nét riêng.CÂU 1 : ( 4 điểm ) Thành phố Pleiku của em. nhà xuất bản Giáo dục. 2006 ) Hãy làm rõ nhận xét trên.

anh quay lại tiệm bán hoa. Tức thì. tự sự.Nội dung : Viết về thành phố Pleiku. biểu cảm hoặc nghị luận để làm bài.Đến đây. chú sẽ mua cho cháu. nơi có một ngôi mộ vừa mới đắp. Anh đến và hỏi cô bé sao lại khóc. anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. anh thấy một bé gái đang đứng khóc bên vỉa hè. dùng từ.Dạ. . trình bày hợp lí. diễn đạt trôi chảy.Đây là dạng đề mở.Đây là nhà của mẹ cháu. cô bé ân cần đặt bông hoa hồng lên mộ. Cô bé vui mừng nhìn anh và trả lời : . anh đã lái xe một mạch 300 km về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa. – Cô bé nức nở. Xong xuôi. Nói xong. Anh mỉm cười và nói : . 2004 ) ---HẾT--- Vòng 2 PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM THÀNH PHỐ PLEIKU VÒNG 1 Câu 1 : ( 4 điểm ) 1. nơi các em đang sống và học tập. NXB Trẻ. Yêu cầu chung : .CÂU 2 : ( 6 điểm ) Suy nghĩ của em về ý nghĩa của câu chuyện sau : HOA HỒNG TẶNG MẸ Anh dừng lại ở tiệm bán hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện.Hình thức : Bài làm có bố cục 3 phần. HS có thể dùng phương thức biểu đạt : miêu tả. Rồi cô bé chỉ đường cho anh đến một nghĩa trang. ngữ pháp. – Nhưng cháu chỉ có 75 xu. ( Theo Quà tặng cuộc sống. trong khi giá một bông hồng những 2 đô la. Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi mẹ anh. .Cháu muốn mua một bông hồng để tặng mẹ cháu. chú cho cháu đi nhờ xe đến nhà mẹ cháu. huỷ bỏ dịch vụ gửi hoa vừa rồi và mua một bó hồng thật đẹp. . phù hợp với từng phương thức biểu đạt mà các em chọn. Cô bé chỉ ngôi mộ và nói : . Khi bước ra khỏi xe. Mẹ anh sống cách chỗ anh khoảng 300 km. Suốt đêm hôm đó. không sai các lỗi cơ bản về chính tả. .

. ( Chọn và phân tích dẫn chứng ) * Vẻ đẹp người lính được khai thác ở những nét riêng trong mỗi bài thơ :  Đồng chí : Tập trung thể hiện vẻ đẹp và sức mạnh của tình dồng chí ở những người lính thời chống Pháp. thuỷ chung.Yêu cầu cụ thể: .. không mắc các lỗi về viết văn. Họ là những người lính chân chất. khái quát “nét riêng” trong cách khai thác và thể hiện của các tác giả. mộc mạc.  Lạc quan yêu đời.  Thắm thiết tình đồng đội. nổi bật ở tinh thần dũng cảm. hiện đại của những anh chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chông . yếu ( 1 ). Tình đồng chí của họ dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ.5 ). sống nghĩa tình. TB ( 1-1. tâm hồn bay bỗng. . tài hoa của Phạm Tiến Duật tạo nên cái ngang tàng.Thân bài : * Các bài thơ đều viết về người lính với vẻ đẹp trong tính cách và tâm hồn của một người lính cụ Hồ.  Ánh trăng : Tâm sự của người lính đã đi qua được chiến tranh. Câu 2 : ( 6 điểm ) 1. bất chấp khó khăn và nguy hiểm.5 ). sử dụng hình ảnh. Yêu cầu chung : . chia sẻ gian lao và cùng chung lí tưởng chiến đấu ( phân tích dẫn chứng ).2. thuỷ chung ( phân tích dẫn chứng ) * Chất giọng riêng của các nhà thơ tạo nên vẻ đẹp khác nhau của người lính :  Nét cô đọng.  Bải thơ về tiểu đội xe không kính : Khắc hoạ hình ảnh những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ.  Chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp. .Hình thức : Bố cục hợp lí. chắt lọc trong thể hiện cảm xúc. ngôn từ của Chính Hữu làm nổi bật vẻ chân chất. có cảm xúc phù hợp với thể loại. trẻ trung. từ đó nhắc nhở về đạo lý nghĩa tình.Nội dung : Phân tích hình ảnh người lính trong ba bài thơ Đồng chí ( Chính Hữu ). mộc mạc.  Dũng cảm. viết một đoạn văn vô nghĩa ( 0 ). * Trích lời nhận xét. cái ngang tàng. xuất thân từ nông dân nơi những làng quê nghèo ra đi chiến đấu. ý chí chiến đấu. . 2. đồng đội trong những năm tháng gian lao thời chiến tranh.Thể loại : Chứng minh một vấn đề văn học. khá ( 2-2. văn viết sáng rõ. niềm lạc quan… Họ là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ( phân tích dẫn chứng ). nghĩa tình của người lính. gợi lại những kỉ niệm gắn bó của người lính với đất nước. Bài thơ về tiểu đội xe không kính ( Phạm Tiến Duật ) và Ánh trăng ( Nguyễn Duy ) để thấy “ Vẻ đẹp trong tính cách và tâm hồn của họ ” được khai thác ở những “ nét riêng ”. Chuẩn cho điểm : GK thận trọng cân nhắc và linh hoạt để đánh giá theo định hướng chung trên cơ sở HS đáp ứng tốt các yêu cầu trên và cho điểm theo thang : Giỏi ( 3-4 ). một chiến sĩ cách mạng. lãng mạn.Mở bài: * Giới thiệu về hình ảnh người lính trong các bài thơ đã cho.  Nét phóng túng.

lạc vào động rùa của Linh Phi. . Lưu ý : Cần chú ý đến kiến thức và kĩ năng làm bài của HS. nhận xét của bản thân về vẻ đẹp của người lính trong ba bài thơ. sáng tạo. được đãi yến tiệc và gặp Vũ Nương rồi được đưa về dương thế. nâng cao vấn đề. Không sai các lỗi cơ bản về hình thức. Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa. cần làm rõ : . có bố cục rõ ràng.Ý nghĩa của các yếu tố kì ảo : * Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương. kiến thức. .Điểm 1-2 : Chưa hiểu đề.Điểm 5-6 : * Đáp ứng được những yêu cầu trên. * Có thể còn một vài sai sót nhỏ. Yêu cầu chung : a. cách sử dụng hình ảnh giàu tính biểu cảm của Nguyễn Duy bộc lộ suy ngẫm của người lính về đạo lý.Các yếu tố kì ảo ( phần kể về cuộc sống của Vũ Nương ở thuỷ cung ) : Vũ Nương gieo mình xuống sông nhưng được Linh phi cứu sống.Kết bài : * Khái quát. hình ảnh Vũ Nương hiện ra khi Trương Sinh lập đàn giải oan rồi bỗng chốc bóng nàng mờ nhạt dần và biến đi mất. Chuẩn cho điểm : Trên cơ sở đáp ứng tốt các yêu cầu về kĩ năng. . văn viết lủng củng.Đề yêu cầu HS phát biểu cảm nghĩ về một khía cạnh nghệ thuật của một tác phẩm truyện. Biểu điểm : .Bài viết ngắn gọn. * Đánh giá. Về kiến thức : Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả và tác phẩm. . chàng đắm thuyền nhưng không chết. PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM THÀNH PHỐ PLEIKU VÒNG 2 Câu 1 : ( 4 điểm ) 1. ân nghĩa. * Tạo kết thúc có hậu cho tác phẩm. 2. khuyến khích những bài viết có cảm xúc. cho điểm như sau : . * Còn mắc một vài lỗi viết văn. .Điểm 4 : * Cơ bản đáp ứng được những yêu cầu trên nhưng vài chỗ phân tích chưa sâu sắc. văn viết chưa thật trôi chảy. 3.Điểm 3 : * Hiểu đề nhưng phương pháp nghị luận còn lúng túng. diễn đạt mạch lạc và có cảm xúc.  Giọng điệu tâm tình. b. * Khẳng định niềm cảm thương sâu sắc của tác giả đối với số phận bi thảm của người phụ nữ trong chế độ phong kiến. Về kĩ năng : .Mỹ. * Bố cục hoàn chỉnh nhưng phân tích còn sơ sài. .

võng lọng.5 đ . Cảm nhận của em về cảnh kết thúc trên. ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP HUYỆN NĂM HỌC 2009-2010 Môn thi: Ngữ văn 9 Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề) Câu 1: (3. rọi vào thực tế để bàn luận đánh giá : 2 đ. Yêu cầu chung : .Về kĩ năng : * Đây là dạng đề mở của kiểu bài nghị luận xã hội. Chú ý khuyến khích những bài viết diễn đạt tốt. * Bài viết có bố cục rõ ràng.Kết luận : 0.25 ). . diễn đạt mạch lạc. HS phải có kĩ năng đọc – hiểu văn bản để chọn lựa vấn đề nghị luận. lúc hiện và lời nói vọng vào “… Đa tạ tình chàng. thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa”. . Rồi trong chốc lát. Dàn đan thế trận lưới vây giăng (Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận) a. trôi chảy. sáng tạo.MB ( 0. Viết một đoạn văn diễn dịch chỉ ra cái hay trong cách sử dụng hình ảnh và các biện pháp nghệ thuật của Huy Cận trong đoạn thơ trên. hãy liệt kê các từ thuộc trường thiên nhiên và trường sự vật liên quan đến việc đánh cá có trong đoạn thơ. thực hiện các thao tác nghị luận phù hợp. Câu 2 : ( 6 điểm ) 1.5 đ . KB ( 0. * Bàn luận về ý nghĩa nhân văn của vấn đề.Thân bài : 5 đ * Chọn đúng vấn đề trọng tâm : 2 đ. lập luận chặt chẽ. Dựa vào kiến thức đã học về từ vựng. * Từ đó biết liên hệ thực tế để bàn luận đánh giá và liên hệ bản thân.0 điểm) Đọc kỹ đoạn thơ sau rồi thực hiện các yêu cầu bên dưới: Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Ra đậu dặm xa dò bụng biển. Chuẩn cho điểm : . TB ( ý 1 : 1. HS chọn được vấn đề trọng tâm : bài học về tình mẫu tử để bộc lộ suy nghĩ của bản thân. ý 2 : 2 đ ).Mở bài : 0.5 đ.25 ). có những ý mới. không sai các lỗi cơ bản về hình thức. xây dựng hệ thống luận điểm. * Liên hệ bản thân : 1 đ.Về kiến thức : * Trên cơ sở đọc – hiểu văn bản. chữ viết rõ ràng. b. 2. lúc ẩn. lập luận chặt chẽ. rực rỡ đầy sông. bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mag biến đi mất. luận điểm hợp lí và chính xác. luận cứ đầy đủ. Câu 2: (3.0 điểm) Nguyễn Dữ đã kết thúc “Chuyện người con gái Nam Xương” bằng cảnh: Vũ Nương hiện về giữa dòng cùng năm mươi chiếc xe cờ tán. Lưu ý : Cần khuyến khích những bài viết có cảm xúc.

Đã là “lửa” tất yếu phải “cháy”. không hợp với vẻ đẹp khả ái. thiếu tế nhị. từ “cháy” đặt trong câu thứ ba của bài “áo đỏ” là dư thừa. đang “cháy” lên một lý tưởng thiêng liêng. nhân vật “anh” si tình mới “đứng thành tro”. của chiến thắng.lòng người cùng thăng hoa mà “cháy” lên cho một niềm tin hòa bình. thiêu “cháy” đi những giọt nước mắt bi lụy. Việc lựa chọn từ “thắp” thể hiện sự tỉnh táo của tác giả. dư thừa. Trong “ Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ viết năm 1964 có câu: “Chiếc áo đỏ rực như than lửa Cháy không nguôi trước cảnh chia ly” Ngay từ đầu bài thơ. Cả bài thơ. việc xác định ý nghĩa biểu cảm của nó đối với toàn bài là rất cần thiết. Cho nên. Màu xanh của cây. mà “cháy” hay “thắp” được coi là “nhãn tự” của bài thơ. bỗng nắng vàng lên rực rỡ”. đều mang một ý nghĩa then chốt và góp phần liên kết chặt chẽ với toàn bài. không “cháy” sao thành “lửa”. nên việc dư thừa một chữ sẽ là lãng phí và phá đi khối liên kết chung cả bài. giá trị biểu cảm của từ “thắp” đã vượt xa hơn từ “cháy” rất nhiều lần. Bài viết trên đây mang tính chủ quan của người viết. cũng có sự ngoại lệ như từ “ dữ” và “cộng” trong hai câu thơ của Vương Bột là hữu ý. Hãy đóng vai Thủy kể lại chuyện gặp gỡ đó (với yêu cầu có sử dụng yếu tố nghị luận và miêu tả nội tâm). vẻ đẹp không còn kiêu sa. Cùng là lửa nhưng “lửa cháy” và “thắp lửa” lại cho chúng ta hai cách hiểu khác nhau. màu hồng của áo phối kết với màu nắng như “ánh” lên một hợp màu dịu dàng. Trong một bài thơ chỉ vỏn vẹn 28 chữ. giữa tiết mùa “thu. tươi mát. nhằm đối sánh đôi điều về bài thơ “áo đỏ” trong nguyên tác với bài “áo đỏ” trên “thivien. Cho nên. Thủy và Thành (trong truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê” – Ngữ văn 7. Bởi người đưa tiễn là một cô gái mặc “áo đỏ”. “thắp lửa” mới gần gũi. Ấy vậy. tế nhị. “Lửa cháy” cuồng nhiệt quá. trái lại rất thân thương. họ biết sống xa nhau” và họ tin “ngày mai sẽ là ngày sum họp”.biểu tượng của niềm tin.Câu 3: (4. cao đẹp vì tổ quốc. cụ thể trong câu “em đi lửa cháy trong bao mắt” có vẻ khiên cưỡng. -------------------------HẾT --------------------------ĐỀ CHÍNH THỨC BÀN VỀ MỘT TỪ TRONG BÀI THƠ “ÁO ĐỎ” Tình cờ đọc trên “thivien.0 điểm) Ban năm sau ngày chia tay. Tuy nhiên. nhen nhóm ngọn lửa em “thắp” mà đơn phương chết lặng. Tập I) mới có dịp gặp nhau. Văn chương là cái lý không cùng. Mỗi người sẽ có cách cảm. Nguyễn Mỹ đã khẳng định “đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ”. không mang lại giá trị nghệ thuật cao. Đến đây cán cân thẩm mỹ đã nghiêng về “thắp lửa” hay nói cách khác. là do động từ “cháy” và động từ “thắp” không nằm trong một trường nghĩa.net”. của may mắn. Vũ Quần Phương cũng không muốn lặp lại lối mòn của Nguyễn Mỹ. Tình yêu – lý tưởng . cuộc chia ly ấy dầu có nước mắt cũng chỉ là “những giọt long lanh nóng bỏng sáng ngời”. “Lửa cháy” rồi sẽ tàn nhưng “thắp lửa” sẽ duy trì được mãi ngọn lửa đó cũng như vẻ đẹp của cô gái khó mà lụi tàn trong mắt bao người. Sự khác nhau ấy. yếu đuối của lòng người. (ĐỖ VĂN DUYÊN) . từ “cháy” đó mà đặt trong bài “Áo đỏ”. Và dĩ nhiên. cách hiểu khác nhau về bài thơ. Chẳng có gì để buồn! Bởi trong họ đang “cháy” lên một tình yêu. Vũ Quần Phương không dùng một từ nào đặc tả vẻ đẹp của cô gái nhưng bạn đọc vẫn có thể thấy được vẻ đẹp thiên phú đó qua ý nghĩa câu chữ và đặc biệt qua cụm từ “thắp lửa”. Cho nên. “cháy mãi không nguôi”. câu thứ ba trong bài “áo đỏ” của nhà thơ Vũ Quần Phương có viết: “em đi lửa cháy trong bao mắt”. Đó phải chăng là vẻ đẹp của cô gái? Vẻ đẹp ấy khiến mỗi bước em đi như “thắp lửa trong bao mắt”. tiễn đưa chồng trong nắng “rạng đông với màu hồng ngọc”. hạng phúc trong tương lai. trìu mến. Cả người đi và người ở lại đều ý thức được rằng “khi tổ quốc cần. nguyên nhân làm cho bài thơ hay hoặc dở cũng xuất phát từ đó. từ “cháy” trong bài thơ này mới thật đắt giá. Tất cả cộng hưởng cùng nắng thu đang “vàng lên rực rỡ” làm nên một cuộc chia ly màu đỏ “rực như than lửa”. mỗi chữ đều là vàng. hòa chung với chất xúc tác của màu “áo đỏ” . dịu dàng của em. Cho nên.thiên nhiên . “em đi lửa cháy trong bao mắt” là bản sao dị bản của “em đi thắp lửa trong bao mắt”.net”. là hay: “ Lạc hà dữ cô lộ tề phi Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc” Xét thấy. để đến cuối bài thơ Nguyễn Mỹ phải ngộ nhận lại “ như không hề có cuộc chia ly”. Cho nên. khiến tôi phân vân nhớ đến câu trong nguyên tác: “em đi thắp lửa trong bao mắt”.

một bữa tiệc lớn của trần gian. Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận như một thiên đường trên mặt đất. vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ. bằng cuộc sống say mê và bằng việc "hăm hở" làm thơ tình! Nhắc đến Xuân Diệu. cái tôi trữ tình thường ẩn náu sau những hình tượng thiên nhiên. "Đây mùa thu tới". là nơi mây gió trăng hoa.Nếu thơ xưa.thật đến từng hơi thở! Những vẻ đẹp của mùa xuân đâu chỉ của riêng Xuân Diệu. Ước muốn níu giữ thời gian. Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra trong "Vột vàng" vừa như một mảnh vườn tình ái. "buộc gió" trở nên quá táo bạo. sống là để tận hưởng và tận hiến. phải chăng là ông đang muốn đoạt quyền tạo hóa. cảnh vật. tâm của hồn của cái "TÔI" trữ tình Xuân Diệu.muốn ôm tất cả. một niềm khát khao giao cảm với đời. sống là cả một hạnh phúc lớn lao. Dường như lòng yêu đời. Nhưng trong cái phi lí đó. giàu có mà hết sức tinh tế trong đời sống nội tâm. Xuân Diệu bộc lộ ý thức về cái tôi trữ tình thật táo bạo: "Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất. một lòng ham sống mãnh liệt đến tràn đầy.BÀI THƠ VỘI VÀNG Ngay từ buổi đầu bước chân vào làng thơ. .đảo ngược quy luật tự nhiên. các bậc tiền bối đã có những vần thơ tràn trề về tình yêu đói với mùa xuân và cuộc sống. Trong thơ ca trung đại. và "Thơ duyên" trong tuyển tập "Thơ thơ" . nét nổi bật là tính phi ngã. Có ai đó đã nói rằng: “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân." Đó là niềm vui sướng của trái tim thi sĩ trẻ lần đầu tiên phát hiện ra 1 thiên dường trên mặt đất." Nói Xuân Diệu là một nhà thơ mới. sẽ thật là thiếu sót nếu không kể tên "Vội vàng". để lại trong tâm hồn người đọc một ấn tượng đậm nết và thật khó phôi pha về sự phóng túng. thả mình bơi trong ánh nắng. Của yến anh này đây khúc tình si. thật mãnh liệt. Với ông. muốn giữ lại tất cả thiên nhiên với vẻ đẹp vốn có của nó. đó là điều thật mới mẻ. Này đây lá của cành tơ phơ phất. vạn vật đương lúc lên hương. đến độ lo âu trước sự thay đổi của đất trời. Trong khi đó. thơ Xuân Diệu nhẹ nhàng và tinh tế như chính tác giả của nó. thiên đường là chốn bồng lai tiên cảnh. lại vừa như một người tình đầy khêu gợi. Xuân Diệu dường như đã tự chọn cho mình một lẽ sống: sống để yêu và tôn thờ Tình yêu! Phụng sự bằng trái tim yêu nồng cháy. Như một cái chạm tay khẽ nhẹ vào tâm hồn những người yêu thơ.. cuộc sống trần gian mới thực là nơi hạnh phúc nhất.. vẫn có sự đáng yêu của một tâm hồn lãng mạn yêu cuộc sống. chất đầy trong tim mây trời thanh sắc”: "Của ong bướm này đây tuần tháng mật. chặn vòng quay của vũ trụ. khác giới..đứa con đầu lòng mà "ông hoàng thơ tình" đã ban tặng cho nhân gian. Nhà thơ đã cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn. rung động với bướm chim. kỳ diệu. Đặc biệt là cái cách nói của nhà thơ. Từ nghìn năm tước. Nhưng yêu đến mức có những ham muốn táo bạo và khác thường như Xuân Diệu. nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình. là nơi xinh đẹp và căng mọng nhựa sống nhất! Thơ lãng mạn của ông luôn có một niềm say mê ngoại giới. yêu cuộc sống của ông đã biến cái ham muốn "tắt nắng". Này đây hoa của đồng nội xanh rì. quả không sai! Nếu như trong thơ ca của những thi sĩ lãng mạn ngày xưa. Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi. thì trong quan niệm thơ của Xuân Diệu. Thơ Xuân Diệu như một khúc tình si say đắm ngọt ngào..

là biểu tượng của mùa xuân và tuổi trẻ ở giữa cuộc đời! Thi pháp hiện đại đã chắp cánh cho những cảm giác mới mẻ của Xuân Diệu. đang quá đỗi trẻ trung mà đã nuối tiếc.các nhà thơ chỉ sử dung thính giác và thị giác để cảm nhận vẻ đẹp của ngoại giới thì các thi sĩ thời Thơ mới lại huy động tất cả các giác quan từ nhiều góc độ để cảm nhân vẻ đẹp và sự quyến rũ đắm say hồn người của cảnh vật và đất trời lúc xuân sang.. Hình ảnh "thần vui hằng gõ cửa" gợi những liên tưởng gần gũi với hình tượng mặt trời trong thần thoại hy lạp xưa. Niềm vui sướng trong tâm hồn nhà thơ dâng tràn khiến ngòi bút của Xuân Diệu thật sự xuất thần và thi sĩ đã sáng tạo nên 1 câu thơ tuyệt bút:"Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". sự đan xen hai luồng cảm xúc trái ngược là điều thường gặp trong thơ tình Xuân Diệu. trong sáng.. cuộn trào sức sống. một cách so sánh vừa lạ vừa táo bạo. nào là lá của cành tơ “phơ phất”. Thi nhân nhận ra cái quy luật khắc nghiệt của dòng chảy thời gian: "tất cả sẽ qua đi. thiên nhiên hữu tình xinh đẹp thật đáng yêu như một sự gợi mở hấp dẫn đến lạ kì. tất cả sẽ lụi tàn . tất cả tràn trề sự sống và thật đắm say! Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần Tôi sung sướng. Nhưng sao câu thơ Xuân Diệu vẫn tinh khôi. Cái mới trong thơ tình Xuân Diệu là thế! Đó là sư kết hợp hài hoà giữa tâm hồn và thể xác khiến tình yêu thăng hoa. Đặc biệt là những hình ảnh. đẹp đẽ. Trong đoạn thơ. vẹn nguyên. mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời. Sự sống ngồn ngột đang phơi bày. Ở đây Xuân Diệu đang xuân. biến hoá (3/2/3 và 3/5). Nhưng vội vàng một nửa". mang tính nhục cảm. như một tiếng reo vui sướng tột cùng để rồi chìm ngập đắm say trước trùng trùng điệp: Của ong bướm tuần tháng “mật” ngọt ngào.. tình tứ và lãng mạn đến thế. một sự mời mọc mà thiên nhiên là những "món ăn" có sẵn. Đang ở đỉnh điểm của hạnh phúc. Nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân. Thường thì con người ở tuổi trung niên mới tiếc tuổi xuân. Nhưng điều mà Xuân Diệu muốn diễn tả là "vội vàng một nửa"." Chưa bao giờ trong thơ Việt Nam hình ảnh mặt trời ." Hai tâm trạng trái ngược nhưng dồn nén trong dòng thơ "Tôi sung sướng. thể hiện sự phong phú bất tận của thiên nhiên..vầng thái dương lại hiện ra dịu dàng. Nhà thơ đem lại một khái niệm vốn trừu tượng thuộc về thời gian "tháng giêng" so sánh với một hình ảnh vốn cụ thể. điệp ngữ "này đây" được sử dụng 5 lần kết hợp với lối kiệt kê khiến nhịp thơ trở nên dồn dập. cảm nhận tất cả. yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu.cảnh vật trong thơ ông đã trở nên cuộn trào sắc màu. lại gần gũi và trẻ trung đến thế. Một chữ “ngon” chuyển đổi cảm giác thần tình. tâm hồn nhà thơ trỗi lên nỗi âu lo trước cái mong manh của xuân sắc sẽ phai tàn. được nhìn thấy mặt trời. Với Xuân Diệu. . được tận hưởng sắc hương của vạn vật là một ngày vui. Nó dẫn nhà thơ đến những suy tư và quan niệm nhân sinh mang tính triết lý. của yến anh là khúc tình “si”. đã vội càng "Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân. in đậm phong cách XD: tuần tháng mật. 2 cảm xúc trái ngược nhau: sung sướng-vội vàng. đồng nội xanh rì . Đây là câu thơ hay nhất. đây là một cấu trúc độc đáo bởi nó ngắt thành 2 câu chứa đựng 2 tâm trạng. Sự vật bình thường ở ngoài đời cũng được đặt cho một dáng vẻ rất kiêu. Tất cả mọi giác quan của thi sĩ như rung lên." Vì sao vậy? Bởi với Xuân Diệu: "Xuân đương tới. những khung cảnh được miêu tả thật cụ thể. là một sự chỉ trỏ ngơ ngác. ngạc nhiên. trong đất trời và của muôn loài. nghĩa là xuân đương qua. nào là hoa của đồng nội xanh “rì”. rất hãnh diện. lạ lẫm. giúp nhà thơ diễn tả trạng thái hồn nhiên. mỗi ngày được sống. được trực tiếp nhận ánh sáng rực rỡ của lòng yêu cuộc sống từ hồn thơ Xuân Diệu đã trở nên lung linh. Những vẻ đẹp được liệt kê bằng những tính từ đậm nhạt khác nhau để thể hiện tài năng sử dụng từ ngữ của Xuân Diệu . Về hình thức. Cách ngắt nhịp trong đoạn thơ đầy linh hoạt. bồng bột trước cái sắc xuân trong cảnh vật. căng ra mà đón nhận tất cả.

là “chim”… nhưng gió khẽ “thì thào” vì “hờn”. Những câu thơ chứa đựng cả giọng nói háo hức và nhịp đập của một con tim vồ vập muốn sống hết mình. Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa? Chẳng bao giờ. bâng khuâng: Trong đoạn thơ này. Ta muốn riết mây đưa và gió lượn. thi sĩ xưng ta một cách đầy tự tin nhưng đã có thêm rất nhiều đồng minh cùng đứng lên đối diện với sự sống:"Chẳng bao giờ. đắm say của Xuân Diệu thời "thơ thơ" thể hiện đầy đủ nhất. ôi! Chẳng bao giờ nữa.Xuân còn non. Phần đầu bài thơ. cách tự xưng của nhân vật trữ tình thay đổi.. . hoặc “tiễn biệt”. bồng bột. ôi! Chẳng bao giờ nữa. Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm. ngừng reo vì “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lý giữa mùa xuân – tuổi trẻ và thời gian: "Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?" Con người hiện đại sống với quan niệm thời gian tuyến tính. Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời. Đến đây. nhưng chẳng còn tôi mãi. coi mùa xuân.mà vạn vật là muôn đá nam châm. Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm. Mà xuân hết." Nhưng quan niệm của Xuân Diệu vừa phi lí. lúc lại song song thành những đợt sóng ào ạt vỗ mãi vào tâm hồn người đọc. và cây. Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt. Con tim ấy của một cái tôi trữ tình từng bộc bạch một cách chân thành.." Từng làn sóng ngôn từ lúc đan chéo nhau." Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hoá làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ. "Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ . Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi? Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi. tiếc nuối . Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước. và cỏ rạng. Trái tim Xuân Diệu đa cảm quá và tâm hồn nhà thơ quá đỗi tinh tế trước bước đi của thời gian.. Quen vì người xưa đã từng thở dài "xuất thì bất tái lai". So với đoạn thơ trên. Con người ấy lúc nào cũng "chẳng bao giờ nữa. nghĩa là xuân sẽ già. Lòng tôi rộng. tuổi trẻ và tình yêu là tất cả sự sống của mình.. thời gian như một dòng chảy mà mỗi mộy khoảnh khắc qua là mất đi vĩng viễn. nhưng lượng trời cứ chật. cái giọng điệu sôi nổi." "Ta muốn ôm. Con gió xinh thì thào trong lá biếc. phải “hờn” vì xa cách.. thi sĩ bâng khuâng. Mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật. Cũng là “gió”. thi sĩ xưng "tôi" . vừa hợp lí. Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Còn trời đất. Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn. còn “chim” thì bỗng ngừng hót. Và là bởi đó là tiếng nói của một cái tôi ham sống. phải “sợ” vì “độ phai tàn sắp sửa”. Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.cái tôi đơn lẻ đang đối thoại với đồng loại. của tạo vật hình như cũng mang theo nỗi buồn “chia phôi”. Ta muốn say cánh bướm với tình yêu. Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hòan. vừa quen lại vừa lạ. nghĩa là tôi cũng mất. Biết rằng mùa xuân của đất trời vẫn tuần hoàn nhưng tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại..

thâu cho đã đầy. ngắt nhịp. ào ạt từ câu mở đầu cho đến câu cuối cùng bài thơ. Câu cuối cùng kết thúc cả bài thơ:" Hỡi xuân hồng. Hỡi xuân hồng.. diễn tả niềm khao khát giao cảm mãnh liệt. Nhà thơ diễn tả thiên nhiên bằng các mĩ từ. lại nhân hoá khiến nó hiện ra như con người có hình hài và mang dang dấp của tuổi xuân.sự sống giữa thời tươi vào lòng. Với bài thơ "Vội vàng". ham hố đang dứng giữa trần gian. điệp ngữ được sử dụng bới tần số dày đặc trong cả đoạn thơ tiêu biểu cho nhịp điệu dồn dập. sôi nổi và đắm say khiến nhà thơ phá tung những quan niệm của thi pháp trung đại để biểu lộ tâm hồn mình trong một cách nói tưởng như vô nghĩa mà hoá ra rất sáng tạo "Và non nước.. ta muốn cắn vào ngươi!" Hình thức trình bày đoạn thơ rất đặc biệt." Một trạng thái tham lam. giao cảm mãnh liệt với vạn vật. riết. là để ca hát về tình yêu. nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng tất cả các giác quan. cho chếnh choáng. rất tiêu biểu cho cảm xúc thơ Xuân Diệu. thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả.. với cuộc đời. cho no nê.vội vã với nhịp đập của thời gian. và cỏ rạng. Điệp từ.tuổi xuân ngon lành và quyến rũ như một trái chín ửng hồng. Chính những câu thơ đó lưu lại trong ta ấn tượng về một dòng sông cảm xúc cứ dâng trào. hình ảnh xuân hồng với từ "cắn" khiến câu thơ thật gợi cảm xen chút giật mình trước tứ thơ thật độc đáo. yêu mùa xuân và tuổi trẻ. Ba chữ "Ta muốn ôm" được đặt ở giữa dòng thơ mô phỏng hình ảnh nhân vật trữ tình đang dang rộng vòng tay để ôm tất cả sự sống lúc xuân thì . Đây quả là một khát khao vô biên. Đó là chân dung của một cái tôi đầy tham lam. cho tới tận cùng những hương sắc của đất trời giữa mùa xuân." Đây là lời gọi thiết tha với sự cuồng nhiệt cao độ của 1 trái tim khao khát tình yêu và cuộc sống. cuộc đời trần thế như bày ra cả một bàn tiệc với tất cả hình ảnh của cuộc sống tươi non. khát khao đến cháy bỏng với các mong muốn được giao hoà. Và là ham muốn mãnh liệt muốn nĩu giữ thời gian. sự ham hố cuồng nhiệt của Xuân Diệu mãi mãi là khát vọng. Mới lạ nhưng táo bạo. mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. và cây. Chỉ riêng điệp ngữ ta muốn được điệp tới bốn lần. để nhảy múa trong những điệu nhạc tình si?! Thơ Xuân Diệu . đắm say. thâu. riết cho chặt. Cho no nê thanh sắc của thời tươi. say. ham hố kô có điểm tận cùng trong tâm hồn nhà thơ. mỗi lần điệp đi điệp lại liền với một động từ diễn tả một trạng trái yêu thương mỗi lúc một nồng nàn. là ham muốn không có giới hạn. Xuân Diệu đã phả vào nền thi ca Việt Nam một trào lưu "Thơ mới". yêu cuộc đời. tuyệt đích. như mời mọc. mùa xuân . cho đã đầy ánh sáng. đầy bồng bột. Tất thảy đều vồ vập. say đắm: ôm. cuộc đời. độc dáo ở giọng điệu và cách dùng từ. Đó là tình yêu cảnh vật. Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứ sở hữu tình này. Tròn cảm nhận của thi nhân. ta muốn cắn vào ngươi. Đó là lòng yêu con người. muốn tận hưởng vị ngọt ngào của cảnh sắc đất trời "tươi non mơn mởn". Cảm nhận cái hay của đoạn thơ Con gặp lại nhân dân . với một trái tim chan chứa tình yêu. dòng đời để ôm cho hết. đầy hương sắc. cho say.Cho chuếnh choáng mùi hương. Đó chính là đỉnh điểm của cảm xúc bồng bột. Trong hồn thơ Xuân Diệu. Trong câu thơ này.. "Vội vàng" đã thể hiện một cảm quan nghệ thuật rất đẹp.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful