P. 1
HKTM

HKTM

|Views: 113|Likes:
Được xuất bản bởiDao Vu

More info:

Published by: Dao Vu on Mar 09, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

03/09/2012

pdf

text

original

A – Mở đầu Luật Thương mại được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

khoá XI, kì họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005. Luật này thay thế Luật Thương mại ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2006 đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật thương mại nói chung và pháp luật về mua bán hàng hoá nói riêng. Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lí là hợp đồng mua bán hàng hoá. Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Dù Luật Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa song có thể xác định bản chất pháp lí của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại trên cơ sở điều 428 của Bộ luật Dân sự về hợp đồng mua bán tài sản. Do đó, hợp đồng trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản, dù vẫn mang những nét đặc thù riêng về chủ thể, đối tượng, hình thức…, thoả thuận về việc mua bán hàng hóa ở hiện tại hoặc mua bán hàng hóa sẽ có ở một thời điểm nào đó trong tương lai đều có thể là một hợp đồng mua bán. Quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ hình thành bất cứ khi nào nếu một chủ thể mua hàng hoá bằng tiền hoặc phương thức thanh toán khác và nhận quyền sở hữu hàng hoá. Dưới góc độ của các quy định pháp luật, sau đây sẽ là phần tìm hiểu về một số vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa. B – Nội dung chính I. Khung pháp lý chung về hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa Theo quy định tại Điều 3 Luật thương mại 2005: “mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán hàng hóa có nghĩa vụ giao hàng, chuyển hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”. Có
1

thể nói đây là một thỏa thuận theo sự thống nhất ý chí của các bên trên cơ sở thuận mua vừa bán. Vì vậy mua bán hàng hóa cần phải ở dạng một hợp đồng. Pháp luật chưa có một quy định cụ thể về khái niệm của hợp đồng mua bán hàng hoá, nhưng ta có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại Điều 428 Bộ luật dân sự 2005: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”. Từ cơ sở trên ta có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa như sau: Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa. Cần phân biệt hợp đồng mua bán hàng hoá với các hợp đồng khác, ví dụ như thuê mua tài sản, dịch vụ gắn liền với hàng hoá, gia công hàng hoá… Mua bán hàng hoá khác với quan hệ thuê mua tài sản. Khi thuê tài sản, quyền sử dụng và chiếm hữu được chuyển cho người thuê nhưng quyền sở hữu lại không được người cho thuê chuyển giao cho người đi thuê. Mua bán hàng hoá khác với các dịch vụ giao nhận hàng hoá, vì người giao nhận hàng hoá chỉ thực hiện chức năng trung gian. 2. Các văn bản pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng trong thương mại nên trươc hết hợp đồng mua bán hàng hóa chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại năm 2005.Song luật thương mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa, vậy việc xác định bản chất pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại dựa trên cơ sở quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng mua bán tài sản nên hợp đồng mua bán hàng hóa còn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự năm 2005. Đặc biệt trong hợp đồng mua bán hàng hóa gồm có hoạt động mua bán hàng hóa trong nước và có hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài ( hợp đồng mua bná hàng hóa quốc tế ), trong đó hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được sự điều chỉnh của công ước
2

Viên năm 1980. II. Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Chủ thể giao kết hợp đồng Căn cứ vào quy định tại Điều 1 Luật thương mại 2005 về phạm vi điều chỉnh có thể xác định chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa như sau: Hợp đồng mua bán hàng hoá có thể được giao kết giữa thương nhân với thương nhân hoặc giữa thương nhân với một bên không phải là thương nhân. Thương nhân có thể là cá nhân hoặc pháp nhân có tiến hành hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh. Thương nhân khi là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá phải phù hợp với phạm vi và lĩnh vực của họ trong đăng kí kinh doanh. Chủ thể khác không phải là thương nhân khi kí một hợp đồng với một thương nhân khác mà bản thân họ không nhằm mục đích sinh lời thì họ có thể là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá trong hoạt động thương mại nếu bên không phải là thương nhân lựa chọn luật thương mại để áp dụng khi giao kết hợp đồng. Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam cũng có quyền kí các hợp đồng mua bán hàng hoá. 2. Hình thức hợp đồng Theo quy định tại Điều 24 Luật thương mại 2005 thì: Hợp đồng mua bán hàng hoá có thể giao kết bằng lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Hình thức của hợp đồng là do các bên giao kết hợp đồng lựa chọn trừ trường hợp pháp luật có quy định hình thức bắt buộc, thủ tục nhất định. Song không phải bất cứ chủ thể nào được phép kinh doanh những mặt hàng nhất định. Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, chỉ có một số thương nhân được kinh doanh một số mặt hàng nhất định. Bao gồm những loại hàng hoá: Chỉ được một số doanh nghiệp nhà nước kinh doanh do Thủ tướng quy Chỉ được các doanh nghiệp kinh doanh, cá nhân không được phép kinh
3

định theo đề nghị của Bộ trưởng, Tổng cục quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật

doanh Chỉ được các doanh nghiệp hoặc cá nhân nhất định sau khi được Bộ trưởng, Tổng cục trưởng ngành kinh tế, kỹ thuật hoặc chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh xem xét và cho phép Ngoài ra, đối với những loại hàng hóa này, khi kinh doanh thương nhân phải có một số điều kiện như: Điều kiện về cơ sở vật chất Điều kiện về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người kinh doanh… Để hợp đồng mua bán hàng hoá có hiệu lực, thì mục đích và nội dung các thoả thuận trong hợp đồng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Ví dụ: theo quy định của pháp luật Việt Nam những loại hàng hoá mà trong quá trình sử dụng hoặc lưu thông có thể gây nguy hiểm nghiêm trọng tới an ninh, quốc phòng, chính trị, xã hội, truyền thông văn hoá dân tộc, môi trường và sức khoẻ của nhân dân thì bị cấm kinh doanh. Danh mục hàng hoá cấm kinh doanh do Thủ tướng Chính phủ quy định tuỳ theo yêu cầu quản lý nhà nước trong từng giai đoạn. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thoả thuận của các bên về những vấn đề chủ yếu sau (Điều 402 BLDS 2005) Tên hàng Số lượng Quy cách, chất lượng Giá cả Phương thức thanh toán Địa điểm và thời hạn giao hàng Quyền và nghĩa vụ của các bên Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Phạt vi phạm hợp đồng Các nội dung khác.
4

3. Mục đích, nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá

Nội dung chủ yếu của hợp đồng là những nội dung mà khi các bên giao kết với nhau đều phải thoả thuận, nếu chưa thoả thuận được thì coi như chưa giao kết hợp đồng. Khi đã thoả thuận được nội dung chủ yếu thì hợp đồng mua bán hàng hoá coi như đã có hiệu lực pháp lý. Nội dung khác các bên có thể thoả thuận ghi vào hợp đồng, khi các bên không ghi vào hợp đồng thì mặc nhiên chấp nhận những quy định chung của pháp luật về vấn đề đó hoặc chấp nhận những tập quán thói quen trong hoạt động thương mại. 4. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa Căn cứ vào quy định của LTM năm 2005 và các quy định có liên quan của BLDS năm 2005 có thể xác định một hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: - Thứ nhất: các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa phải có năng lực chủ thể để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Nếu chủ thể của hợp đồng là cá nhân thì phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nếu chủ thể là thương nhân tham gia hợp đồng mua bán với mục đích lợi nhuận thì còn có thêm điều kiện các thương nhân này phải có đăng kí kinh doanh hợp pháp đối với hàng hóa được mua bán và phải đáp ứng đủ các điều kiện kinh doanh mà pháp luật quy định nếu hàng hóa trong hợp đồng là hàng hóa kinh doanh có điều kiện. - Thứ hai: đại diện của các bên giao kết hợp đồng mua bán phải đúng thẩm quyền. Đại diện hợp pháp của chủ thể hợp đồng có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết do một bên chủ thể không có thẩm quyền được xử lý theo quy định tại điều 145 BLDS. - Thứ ba: mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hàng hóa là đối tượng trong hợp đồng mua bán phải không thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh quy định tại nghị định số 59/2006/NĐ-CP của Chính phủ. - Thứ tư: hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết phải đảm bảo các
5

nguyên tắc của hợp đồng theo quy định của pháp luật, cụ thể là các nguyên tắc giao kết hợp đông dân sự quy định tại điều 389 BLDS. - Thứ năm: hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa phải phù hợp với quy định của pháp luật. Để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực, nội dung hợp đồng phải được xác lập theo các hình thức được quy định tại điều 24 LTM năm 2005. 5. Giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá Cũng tương tự như giao kết hợp đồng dân sự, khi giao kết một hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại chúng ta cần xem xét làm rõ các vấn đề pháp lí sau: đề nghị giao kết hợp đồng mua bán; chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán; thời điểm giao kết và hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa. Luật thương mại (LTM) năm 2005 không có quy định chi tiết về các vấn đề trên vì vậy bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 sẽ được áp dụng để điều chỉnh. 5.1. Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là hành vi pháp lý đơn phương của bên bán hoặc bên mua. Căn cứ vào quy định tại điều 390 BLDS năm 2005 có thể định nghĩa: Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng mua bán và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể. Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được gửi đến một hoặc nhiều chủ thể xác định. Hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng có thể được xác định tương tự như hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quy định tại điều 24 LTM năm 2005. Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng mua bán thông thường được bên đề nghị ấn định. Trường hợp bên đề nghị không ấn định thời điểm có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng thì đề nghị có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó. Căn cứ xác định bên được đề nghị đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng là các trường hợp quy định tại khoản 2 điều
6

391 BLDS năm 2005. Bên đề nghị phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình. Trong thời hạn đề nghị hợp đồng có hiệu lực, nếu bên được đề nghị thông báo chấp nhận vô điều kiện đề nghị hợp đồng thì hợp đồng mua bán hình thành và ràng buộc các bên. Nếu các bên không thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng thì phải chịu các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng. Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp quy định tại điều 392 BLDS năm 2005. Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề nghị mới. Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng thực hiện quyền hủy bỏ đề nghị do đã nêu rõ đề nghị thì phải thông báo cho bên được đề nghị và thông báo này chỉ có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp quy định tại điều 394 BLDS 2005. 5.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị. Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng được xác định theo các trường hợp sau: Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời gian đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời. Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lí do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết vì lí do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị. Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay
7

có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận về thời hạn trả lời Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng. 5.3. Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa Hợp đồng mua bán được giao kết vào thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận. Dựa trên quy định của BLDS 2005 và LTM năm 2005, có thể xác định thời điểm giao kết hợp đồng mua bán theo các trường hợp sau: Hợp đồng được giao kết trực tiếp bằng văn bản thì thời điểm giao kết Hợp đồng được giao kết gián tiếp bằng văn bản( thông qua các tài liệu hợp đồng là thời điểm sau cùng kí vào văn bản. giao dịch) thì hợp đồng được giao kết khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng. Hợp đồng được giao kết bằng lời nói thì thời điểm giao kết hợp đồng là Trong một số trường hợp sự im lặng của bên được đề nghị cho đến khi hết thời hạn trả lời cũng có thể là căn cứ xác định hợp đồng đã được giao kết nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng (theo khoản 2điều 404 BLDS năm 2005) Hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (theo điều 405 BLDS) 6. Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá 6.1. Những vấn đề có tính nguyên tắc * Nguyên tắc chung về giao hàng (LTM 2005) Bên bán giao hàng đúng như đã thoả thuận đồng thời phải kèm theo chứng từ có liên quan đến hàng hoá (Điều 42). Nếu trong hợp đồng mua bán hàng hoá mà hàng hoá phải qua người vận chuyển thì bên bán phải ký hợp
8

thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.

đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm rủi ro trên đường vận chuyển. Nếu hợp đồng quy định bên bán không ký hợp đồng bảo hiểm mà bên mua ký thì bên bán phải cung cấp cho bên bán những thông tin về hàng hoá để họ tiến hành ký hợp đồng bảo hiểm. Mọi vấn đề liên quan đến giao hàng các bên có thể thoả thuận ghi vào hợp đồng. Nếu những vấn đề này không được ghi vào hợp đồng thì sẽ theo quy định chung của pháp luật Khi thực hiện hợp đồng thì bên bán phải có nghĩa vụ bảo đảm tính hợp pháp của hàng hoá, bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hoá, bảo đảm tính hợp pháp về sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá đó, chịu trách nhiệm bảo hành hàng hoá. * Địa điểm giao hàng (Điều 35) biết Trong các trường hợp khác nơi giao hàng sẽ coi như tại địa điểm kinh doanh của bên bán hoặc nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của bên bán * Thời gian giao hàng (Điều 37) Nếu có thoả thuận về thời điểm thì bên bán phải giao hàng đúng như đã Nếu chỉ thoả thuận thời hạn thì các bên có thể giao hàng vào bất cứ thời Nếu không có thoả thuận gì thì bên bán phải giao hàng trong thời hạn thoả thuận điểm nào trong thời hạn đó hợp lý (theo quy định, thói quen, tập quán thương mại) * Trách nhiệm do giao hàng không phù hợp với hợp đồng (Điều 39): Bên mua
9

Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm đã thoả thuận. Trường Nếu hàng hoá gắn liền với đất đai thì nơi giao hàng chính là nơi có Nếu hàng giao qua người vận chuyển thì nơi giao hàng là tại địa điểm

hợp không có thoả thuận thì địa điểm giao hàng được xác định như sau: hàng hoá đó bốc xếp, kho giao hàng hoặc nơi sản xuất (của bên bán) mà cả hai bên đều

có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hoá không phù hợp với hợp đồng. Bên bán phải chịu trách nhiệm trừ trường hợp những khiếm khuyết của hàng hoá bên mua phải biết hoặc đã biết khi ký hợp đồng 6.2. Thanh toán (Điều 50) Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng theo thoả thuận nếu không có thoả thuận gì thì thanh toán khi giao hàng. Giá thanh toán phải do thoả thuận nếu không có thoả thuận nào về giá thì theo chỉ dẫn của nhà nước về giá hoặc được xác định trong điều kiện tương tự về phương thức giao bán, thị trường địa lý, thời điểm giao bán. Địa điểm thanh toán có thể do các bên thoả thuận hoặc nơi kinh doanh, cư trú của bên bán hoặc là nơi giao hàng, chứng từ. 6.3. Chuyển rủi ro (từ Điều 57 đến Điều 61) Theo thoả thuận giữa các bên Nếu có địa điểm giao hàng xác định thì rủi ro về mất mát hàng hoá sẽ

chuyển từ người bán sang người mua tại nơi giao hàng - Nếu không có nơi giao hàng xác định thì nơi giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên là nơi chuyển rủi ro hoặc nơi giao hàng cho người nhận hàng dể đưa cho người mua hoặc nếu hai bên mua bán hàng hoá mà lúc đó hàng hoá đang trên đường vận chuyển thì chuyển rủi ro là lúc giao kết hợp đồng . 6.4. Chuyển quyền sở hữu (Điều 62) Việc chuyển quyền sở hữu hàng hoá từ bên bán sang bên mua là do hai bên thoả thuận hoặc nếu không có thoả thuận thì quyền sở hữu được chuyển sang người mua là tại thời điểm giao hàng . 7. Trách nhiệm vật chất khi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Trách nhiệm pháp lý thường được hiểu là sự áp dụng chế tài cho một chủ thể vi phạm hợp đồng. Trong quan hệ hợp đồng, bên vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi mang tính vật chất. Điều kiện để xuất hiện trách nhiệm vật chất là sự vi phạm hợp đồng được hiểu là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trách nhiệm. Pháp luật Việt
10

Nam tuân thủ nguyên tắc chỉ chịu trách nhiệm khi có lỗi (Điều 312 BLDS 2005) do đó nếu chững minh mình không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm vật chất. Người bán phải chịu trách nhiệm về việc hàng không phù hợp với hợp đồng trừ trường hợp chứng minh là mình không có lỗi. Tuỳ theo từng loại nghĩa vụ hợp đồng, các bên có thể thoả thuận hoặc bên vi phạm có thể lựa chọn các loại chế tài sau đây (Điều 292 LTM 2005): Buộc thực hiện đúng hợp đồng Phạt vi phạm Bồi thường thiệt hại Huỷ hợp đồng Tạm ngừng thực hiện hợp đồng Đình chỉ thực hiện hợp đồng Các trường hợp khác do các bên thoả thuận không trái với quy định của

pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế. Trường hợp các bên có thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp các bên không có thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp LTM có quy định khác (Điều 307 LTM 2005) Các bên được miễn trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng trong các trường hợp sau (Điều 294 LTM 2005): đồng Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp trách
11

Xảy ra các trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận Xảy ra sự kiện bất khả kháng Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan

quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được giao kết hợp

nhiệm bằng văn bản, dự liệu trước các hậu quả có thể xảy ra, tìm biện pháp xử lý hậu quả trên tinh thần hợp tác (Điều 295 LTM 2005) Đối với những quan hệ mua bán hàng hoá có thời hạn cố định về giao hàng, nếu xảy ra trường hợp bất khả kháng các bên đều có quyền từ chối thực hiện hợp đồng và không bên nào có quyền đòi bên kia bồi thường. Nếu việc giao hàng được thoả thuận trong một thời hạn khi các bên không thoả thuận, thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tính thêm một thời gian bằng thời gian xảy ra trường hợp bất khả kháng cộng với thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả. 8. Giải quyết tranh chấp Trong những năm gần đây, số lượng các vụ án liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổn các vụ án kinh tế đã được thụ lý và giải quyết. Để hiểu rõ bản chất của hợp đồng mua bán hàng hoá nhằm xác định đúng cấp cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp xảy ra trong thực hiện hợp đồng là rất cần thiết. Tại điều 3 khoản 8 của LTM 2005 quy định : “mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại”. Một nguyên tắc giải quyết chung khi xảy ra tranh chấp thương mại là: Ưu tiên hàng đầu cho việc hoà giải giữa các bên, chỉ khi các bên không thương lượng được với nhau do mâu thuẫn về lợi ích thì khi đó các bên mới lựa chọn con đường giải quyết khác theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam. Nếu trong hợp đồng mua bán hàng hoá không quy định hình thức bắt buộc phải áp dụng khi có tranh chấp xảy ra trong thực hiện hợp đồng thì các bên có thể lựa chọn con đường giải quyết sau: Thương lượng Hoà giải Trọng tài thương mại (theo thủ tục tố tụng trọng tài được quy định Toà án (theo thủ tục tố tụng dân sự được quy định trong Bộ luật tố tụng

trong Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003) dân sự 2004)
12

Thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp thương mại là 2 năm kể từ thì điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 của LTM (Điều 319 LTM 2005). Như vậy, sự ra đời của hai văn bản pháp luật quan trọng này đã góp phần giải quyết những vấn đề bất cập còn tồn tại của cơ chế pháp luật trước đây. Đó là: Vấn đề chồng chéo, trùng lắp và thiếu nhất quán giữa các văn bản pháp luật cùng điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hoá đã được giải quyết bằng cách: BLDS 2005 đưa ra các khái niệm, phạm trù mang tính quy định chung mà các văn bản pháp luật điều chỉnh các chủng loại hợp đồng khác nhau không cần quy định chỉ cần dẫn chiếu tới quy định chung đó là được. BLDS 2005 không quy định nội dung nào là nội dung chủ yếu, bắt buộc đối với tất cả các hợp đồng mà chỉ quy định có tính chất định hướng (Điều 402). Quy định mới tạo ra tính khả thi áp dụng cho cả hợp đồng và cho thấy các quy định về hợp đồng trong BLDS đã thể hiện vai trò là quy phạm pháp luật về đối tượng hợp đồng. BLDS 2005 có quy định mới ghi nhận vấn đề phát sinh từ thực tế, cụ thể về quyền cầm giữ tài sản trong hợp đồng dân sự (Điều 416), quy định về quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng song vụ, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và về hụi, họ, biểu, phường (Điều 479). Do đó, BLDS 2005 đã điều chỉnh vấn đề nguy cơ không thực hiện hợp đồng, các quan hệ thực tế đang diễn ra trong đời sống dân sự mà nhiều vụ kiện toà án chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp. LTM 2005 chỉ quy định những nội dung mang tính chuyên ngành về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại trong đó chủ yếu là hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng cung ứng dịch vụ theo hướng bỏ ra khỏi LTM 1997 những quy định trùng về hợp đồng liên quan đến chào hàng, nội dung chủ yếu của hợp đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng. C – Kết luận
13

Về cơ bản, Bộ luật dân sự 2005 là bộ luật gốc của Luật thương mại 2005, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự, vì thế có nhiều điểm tương đồng. Các vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa cũng được tìm hiều theo các vấn đề chung của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự. Tuy nhiên, đối với từng nội dung pháp lý cụ thể thì hợp đồng mua bán tài sản vẫn có nội dung xác định, mang những nét đặc thù riêng của loại hợp đồng này. Vì vậy xác định những vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa luôn là một công việc có ý nghĩa quan trọng để có thể áp dụng loại hợp đồng này trên thực tế.

Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Luật thương mại 2005 tập II, Trường đại học Luật Hà Nội, Nxb.
14

CAND, Hà Nội – 2006. 2. Luật thương mại 2005. 3. Bộ Luật dân sự 2005. 4. Nghị định 59/2006/NĐ- CP về hàng hoá cấm kinh doanh 5. Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật hợp đồng ở Việt Nam- Bùi Ngọc Cường- Nhà nước và pháp luật số 5/2005 6. Tạp chí Luật học số 3/2003; 12/2005; 2/2006 7. Luận Văn Hợp đồng mua bán hàng hoá từ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH IPC - Phạm Thị Lan Phương- Luật 45- ĐH KTQD 8. Tài liệu tham khảo từ các đường link trích dẫn: http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/khai-niem-dac-diem-noi-dung-cua-hophttp://www.scribd.com/doc/14570028/Mi-lien-h-gia-hp-ng-mua-bandong-mua-ban-hang-hoa.336754.html hang-hoa-va-hp-ng-mua-ban-tai-sn 9. Các website http://luatviet.org/; http://www.saga.vn; http://vneconomy.com.vn; … 10. Các tài liệu tham khảo khác.

Mục lục
Mục lục..................................................................................15

15

16

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->