TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA ĐÔNG

PHƯƠNG HỌC



Tiểu luận cuối kỳ

Vài nét về hệ thống đẳng cấp ở Ấn Độ

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: MSSV: Lớp:

Nguyễn Văn Ánh Bùi Tuyết Ngọc 09030882 K54 Ấn Độ - Đông phương học

Hà Nội, tháng 1, năm 2012

1

phát triển chúng một cách liên tục và lâu dài. ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hoá nhưng Ấn Độ luôn hướng đến sự thống nhất giữa các vùng không chỉ trên lĩnh vực hành chính quân sự mà còn cả về mặt tư tưởng mà trong đó sự hoà hợp tôn giáo là một phần không thể thiếu của quốc gia này. Vấn đề đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ: Trở về thời điểm 3500 năm cách ngày nay. II. sự xâm lược của các ngoại tộc). tiếp nhận những trường phái tư tưởng tôn giáo khác nhau mà còn nuôi dưỡng. Nơi đây không chỉ sản sinh.Đông phương học Đề tài: VÀI NÉT VỀ HỆ THỐNG ĐẲNG CẤP Ở ẤN ĐỘ I. Ấn Độ còn là một trong những cái nôi triết học. Là nơi thường xuyên bị chia cắt bởi cả nhân tố tự nhiên (khí hậu. cũng như nhân tố xã hội (sự tranh giành quyền lợi của các tiểu vương quốc. tôn giáo lâu đời và phong phú của nhân loại. trên lưu vực sông Hằng xuất hiện tộc người Aryan vốn sinh sống bằng nghề du mục.BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: MSSV: Lớp: Nguyễn Văn Ánh Bùi Tuyết Ngọc 09030882 K54 Ấn Độ . Phần mở đầu: Không chỉ là một trong những nền văn minh rực rỡ của phương Đông. Đã có rất nhiều cuộc tranh cãi về nguồn gốc của tộc người này nhưng có lẽ chúng ta chỉ xét 2 . địa hình.…). làm cho nét đặc sắc về tôn giáo Ấn Độ trở nên một đặc trưng riêng của nền văn hoá độc đáo và khác biệt này.

Có nhiều người cho rằng họ có nền văn minh cao. qua những bức tượng như thánh mẫu Kali hay Ayappan (một hóa thân của thần Shiva) và sự sùng bái Linga. Bên cạnh đó. Vì là dân du mục. phần nào bị đồng hoá bởi văn hoá bản địa.về sự ra đời của bộ kinh Veda sau sự xuất hiện của họ . những bức phù điêu đạo 3 . Nhưng còn một số giả thiết khác khiến tôi đồng tình hơn đó là ngay từ đầu. mang tới cho Ấn Độ chữ Phạn và chia xã hội làm 4 đẳng cấp trên những giáo lý của kinh Vêda nhưng có lẽ nó không hoàn toàn đúng. có nguồn gốc từ chữ Aramaic ở vùng Tây Á. Tuy nhiên họ học hỏi người dân bản địa nghề trồng trọt và chăn nuôi. cuộc sống của họ ở trên lưng ngựa và nhờ người Aryan mà người Dravidian lần đầu tiên biết dùng ngựa. Có nhiều người đã đưa ra giả thiết rằng dường như khi người Aryan đến lưu vực sông Hằng đã lập thành một xã hội chia đẳng cấp. trước đó chỉ có các sự đấu tranh giữa các công xã nông thôn đang trên đường chuyển biến mà thôi. Và đến đầu thế kỷ VI TCN mới hình thành một số tiểu quốc Arya trên lưu vực sông Hằng. Người Aryan đến sau (vào khoảng 1500 TCN) đã lập các làng xóm của mình ở phía thượng lưu và trung lưu. Dân bản địa ở lưu vực sông Hằng sống trong thời đại đá mới và đồ đồng. sự phân hóa đẳng cấp này vẫn chưa được rõ ràng. đã chuyển từ chăn nuôi du mục sang định cư nông nghiệp. Nền văn minh du mục hòa vào nền văn hoá bản địa và phát triển cho đến tận ngày nay. Hơn nữa chữ viết không xuất hiện ngay trong thời kỳ này mà mãi tới tận năm 700 TCN mới xuất hiện chữ viết cổ có tên gọi là Kharosthi. khai phá đất đai và làm nông nghiệp.nguồn gốc của sự phân chia đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ ngày nay. phát triển năng động và nhanh chóng chiếm ưu thế trên lãnh thổ này. sau đó mới tiến dần về hạ lưu sông Hằng. làm nghề nông nghiệp trên chính mảnh đất của mình. Từ đó có thể đưa ra kết luận rằng: người Aryan đến lưu vực sông Hằng. một thể chế tổ chức mà người Aryan làm chủ.

tăng lữ và dân chúng (những người làm nghề nông và thủ công). tiếng Ấn Độ là màu sắc. Căn cứ vào những di chỉ khảo cổ ấy. việc khẳng định người Aryan đến Ấn Độ mang theo chữ viết và bộ kinh Veda là không chính xác. Nhưng đó là sự liên kết với nhau trong cộng đồng của những người có nguồn gốc Aryan. trong cộng đồng người Aryan chưa có sự phân biệt đẳng cấp mà chỉ mới có sự phân hoá xã hội thành thượng lưu.kẻ đi chinh 4 . làm xe kéo nhà cửa bằng đồ gỗ. Sự phân chia xã hội này được gọi là varna. Chưa có sự lưu truyền bắt buộc về nghề nghiệp cũng như chưa có tục lệ cấm kết hôn giữa những người không thuộc cùng đẳng cấp. …từ đó thợ mộc và thợ rèn là những tầng lớp được xã hội quý trọng. Như vậy.sĩ Yoga. tuy nhiên vấn đề này vẫn còn gây nhiều tranh cãi giữa các học giả nên chưa có một kết luận cuối cùng nào khiến mọi người đều công nhận cả. Họ là những người làm nghề chăn nuôi ở đông bắc Ấn Độ và có lẽ Sudra được dùng để chỉ tầng lớp này. chủng tính giữa người Aryan . họ có thái độ phân biệt đối xử với dân bản địa là người ngoài cộng đồng.…xung quanh các di chỉ khảo cổ của nền văn minh sông Ấn ta thấy được có mối quan hệ mật thiết về tín ngưỡng tôn giáo giữa thời kỳ văn minh sông Ấn với nền văn minh sông Hằng (hình thành sau đó). Tiếp theo đó là sự phát triển của thương nghiệp trong sự giao thương với khu vực vịnh Ba Tư và Hồng Hải. Trong khoảng thời gian 800 TCN. nghề thủ công ở Ấn Độ đã phát triển hơn với kĩ nghệ luyện sắt. các nhà nghiên cứu còn cho rằng phép tu toạ thiền và tục lệ tắm nước sông Hằng ngày nay cũng có thể bắt nguồn tự những nghi lễ của dân tộc Ấn Độ xa xưa (hay người dân bản địa Dravidian) truyền lại. Như vậy trong xã hội Aryan mới có sự phân hoá bước đầu về tài sản và địa vị. Điều đó thể hiện lúc đầu sự phân biệt dựa trên màu da. Vào thời gian này. nhưng lại có sự phân biệt rõ ràng giữa cộng đồng Aryan với người dân bản địa (còn gọi là Dasa hay Panis). đúc kim khí.

chế độ Varna được mở rộng ra bằng sự phân biệt về nghề nghiệp. đứng trên cả tầng lớp vương công. Đáng lẽ ra. Will Durant có viết: “Từ thời Veda các nghề nghiệp cũng trở nên chuyên môn và ngày có tính cách cha truyền con nối. Cũng phải nói thêm rằng người Aryan có nước da sang màu. do đó mà sự phân chia tập cấp ngày càng trở nên nghiêm khắc hơn”. Trong cuốn Lịch sử văn minh Ấn Độ. các vương công . chế độ Varna đầu tiên dựa trên sự phân chia đẳng cấp theo màu da. người Aryan cấm cả sự đồng tộc kết hôn lẫn sự chủng ngoại kết hôn. vua là vị giáo chủ đứng ra làm lễ còn người Bàlamôn chỉ đóng vai phụ.… nhưng sau đó cùng với sự biến đổi của xã hội.người bị chinh phục. đạo Bà La Môn là công cụ đắc lực bảo vệ cho chế độ đẳng cấp. nghĩa là không được kết hồn với người trong họ gần mà cũng không được kết hôn với người ngoài thị tộc”. biến thành tầng lớp có uy tín và quyền lực nhất trong xã hội. hơn nữa còn là người “cao quý” thì việc họ có thái độ khinh bỉ cũng không có gì lấy làm lạ. Về mặt xã hội. Vì vậy đội ngũ thầy tu ở Ấn Độ xuất hiện đông đảo. võ sĩ (Kshatriya). hoà đồng với thần linh và qua hành động cúng tế thì thần linh mới giúp đỡ con người. Ban đầu giáo lý cơ bản của đạo Bà La Môn là con người có sự giao thoa.…(còn đựơc gọi là Jati). Như vậy. Trong các buổi lễ tế tôn giáo. tôn giáo. với tư cách là người đứng đầu tổ chức quốc gia và chỉ huy quân đội. Thế là đẳng cấp tăng lữ ra đời chuyên phụ trách công việc cúng lễ và diễn giải các bộ kinh Veda dần dần trở thành tầng lớp cao quý. Will Durant đã phân tích nguồn gốc đầu tiên của chế độ varna như sau: “Cũng như mọi dân tộc khác. Các kinh sách đạo Jain 5 . chủng tộc. Họ cho rằng chết trên sa trường mới là vinh quang còn chết trên nhung lụa là sự nhục nhã. cao lớn (vì vậy gọi là Ấn-Âu) so với người Dravidian vóc dáng nhỏ bé.phục có trình độ văn minh thấp hơn người Dravidian . quý tộc phải là đẳng cấp cao nhất trong xã hội. nước da tối màu.

tin vào thần thánh. phát triển nông nghiệp. mong chờ sự giải thoát.cũng nói rằng đẳng cấp Kshatriya cao quý hơn cả. hai bắp đùi thần là đẳng cấp Vaishya. ưu tú nhất trong loài người là người Bàlamôn”. Với quyền uy được thần thánh hóa. Vaisya và Suđra. Họ bảo vệ những tục lệ có lợi cho họ. các chủng tộc khác là thấp hèn”. Và để khẳng định rõ hơn cho chế độ đẳng cấp thì cuốn Rig-Veda có viết như sau: “Thần sáng tạo Brahma đã tự phân thành bốn đẳng cấp. hai bàn chân thần là đẳng cấp Shudra”. thậm chí chính những người đẳng cấp Bàlamôn cũng nói rằng trật tự các giai cấp từ trên xuống dưới là: Kshatriya.… nhu cầu về sinh hoạt tinh thần của người dân được chú trọng thì họ lại quay về tín ngưỡng ban đầu: cầu xin sự ban phước của thần linh. ưu tú nhất trong giống vật có lý tính là loài người. người ta cần sản xuất. sau khi kết thúc chiến tranh. Miệng thần là đẳng cấp Brahma. Họ nắm giữ độc quyền tri thức (có nhiệm vụ giáo dục cho tầng lớp thanh niên) thành thử họ có thể khiến cho thế hệ trẻ có tư duy như cha mẹ chúng (tôn trọng các tu sĩ Bàlamôn. Đẳng cấp Kshatriya có nhiệm vụ trông coi việc nước.…Và chỉ có người Bàlamôn là có thể giúp con người tiếp xúc với thần linh. làm yên lòng các tín đồ trung thành của họ qua việc điều phối các nghi thức. lễ nghi tôn giáo trong rất nhiều sự kiện của người Hindu. duy trì trật tự xã hội. đẳng cấp Bàlamôn làm mưa làm gió trong xã hội Ấn Độ. ưu tú nhất trong loài động vật là giống vật có lý tính. còn trong các kinh Phật cổ thì cho rằng đẳng cấp Bàlamôn là hạng người “tì tiện” (theo Will Durant: Lịch sử văn minh Ấn Độ). Nhưng dần dần. Bộ luật Manu cũng viết: “Ưu tú nhất trong mọi sinh vật là động vật. Người Bàlamôn chủ trương: “Chỉ có Bàlamôn là chủng tộc tối thượng. công nghiệp. Brahma. nếu không thì họ sẽ xoá bỏ (thậm chí tìm mọi thủ đoạn) để có thể nắm quyền lãnh đạo. Tầng lớp Vaisya thì phải lao động sản xuất ra của cải vật chất để cung 6 . hai vai thần là đẳng cấp Kshatriya.…).

đền chùa. chế độ đẳng cấp quy định chỉ nên kết hôn với người cùng đẳng cấp. không được ăn chung bàn. nếu tụng thánh kinh lưỡi có thể bị cắt đứt còn nếu muốn thuộc lòng thánh kinh thì thân thể sẽ bị chặt làm đôi. Hệ thống giai cấp này theo chế độ cha truyền con nối. Tuy nhiên nếu cần thiết thì đàn ông ở đẳng cấp trên có thể lấy vợ ở các đẳng cấp thấp hơn. Về tôn giáo. các người khác giai cấp không được cùng nhau hành lễ tế tự. chỉ có ba đẳng cấp trên mới được cúng thần và đọc kinh Veda. xât dựng cung điện. nếu cùng phạm tội như nhau thì đẳng cấp trên đương nhiên được hưởng nhiều ưu đãi. hôn nhân và quyền lợi trước pháp luật. Nếu chẳng may bình nước của người này chạm phải bình nước của người kia thì ngay lập tức người Bàlamôn sẽ đập vỡ cái 7 . nếu là nạn nhân thì càng được bồi thường nhiều. Tầng lớp Shdra (tiện dân) còn có thân phận thấp kém hơn như vậy. Theo giáo lý đạo Bàlamôn thì một người Shdra mà nghe thánh kinh thì tai sẽ bị điếc.… vì như thế sẽ bị coi là “không tinh khiết”.… Đời sống của nông dân do vậy rất là khổ cực. Nhưng ở một số nơi.cấp cho xã hội. Ba đẳng cấp trên được coi là sinh hai lần còn Shdra không được tham dự các nghi lễ tôn giáo nên chỉ được coi là sinh một lần. Giữa bốn đẳng cấp này có sự khác nhau về địa vị xã hội mà chủ yếu là về tôn giáo. Họ bị xem là sinh vật 2 chân (để phân biệt với sinh vật 4 chân). Bình thường những người thuộc đẳng cấp khác nhau sẽ lấy nước từ những nơi khác nhau. lâu đài. người Bàlamôn và Shudra có thể lấy nước từ cùng một nguồn thì họ phải tránh gặp mặt nhau. Ngoài ra thì họ còn phải nộp sưu thuế và đi làm nghĩa vụ cho nhà nước như xây dựng công trình thủy lợi. trong đó chỉ có Bàlamôn mới được giảng kinh và tiến hành những nghi thức tế lễ. Về hôn nhân. bị coi như “hàng hoá biết nói”. Về quyền lợi trước pháp luật.

họ trả đũa và tấn công Phật giáo bằng nhiều cách” và trong 8 . Họ bị rút phép thông công với xã hội. Về nguyên tắc. theo Ahir. Vì vậy khi ảnh hưởng của Phật giáo suy yếu. vô cùng khổ nhục. sự phân biệt giữa các đẳng cấp trong xã hội cũng rất chặt chẽ và nghiêm ngặt. vì nó đã lật đổ giai cấp thầy tế khỏi ngôi vị cao của nó. Ông viết rằng: “Tôn giáo của Đức Phật là một cái gai trong mắt những người Bàlamôn phản động. vẫn còn tầng lớp thứ năm gọi là Priah bị coi như sống ngoài lề xã hội loài người. thậm chí họ không được phép đứng lên bóng của người Bàlamôn vì như thế cũng bị coi là làm “nhơ bẩn”. liên quan đến sự suy tàn của Phật giáo trên đất Ấn Độ. bị các giai cấp kia đối xử như thú vật. Lí do những người Bàlamôn căm ghét họ đến như vậy. Theo học giả người Ấn Độ D. mà bao nhiêu thế kỷ đã bảo đảm cho họ mọi thứ ưu đãi và tiện nghi vật chất. Ahir thì những người “Không Thể Chạm Đến” hay “Không Thể Nói Chuyện” là những tín đồ Phật giáo ngày xưa. bị buộc phải sống bên ngoài làng. Người ở đẳng cấp dưới phải tôn kính và phục tùng vô điều kiện người Bàlamôn. Nếu người thuộc đẳng cấp Bàlamôn không may bị người Shudra giẫm lên cái bóng của mình thì người Bàlamôn phải làm lễ thanh tẩy bằng cách nhịn ăn và tắm nước thánh suốt cả ngày hôm đó. Nếu một người Shudra già trăm tuổi mà nói chuyện với một người Bàlamôn chỉ mới lên năm tuổi thì người Shudra cũng phải có thái độ cung kính như con đối với cha ! Tuy nhiên. Trong quan hệ giao tiếp sinh hoạt hằng ngày. bị cấm không được sử dụng nước giếng hay đến những nơi công cộng. đáng thương nhất. những người thuộc đẳng cấp thấp đều không được sinh hoạt giao tiếp với những người ở đẳng cấp trên. ngoài 4 đẳng cấp trên mà ta thấy Shudra đã là khổ sở.C.bình đó (nếu nó làm bằng đất) hoặc cọ rửa nó bằng nước và cát nếu nó làm bằng đồng ! Khi một người đẳng cấp thấp hơn nói chuyện với người đẳng cấp cao. họ phải lấy tay che miệng kẻo làm cho người trên không tinh khiết.

Tất cả đều tuỳ thuộc vào những việc làm của kiếp trước và vì thế họ cố gắng sống thật tốt trong kiếp này để hy vọng vào sự đầu thai tốt đẹp ở kiếp sau. khiến họ chỉ biết tuân phục. Avarna. trở thành một trong những cái hố sâu chia cách xã hội Ấn Độ. Như vậy. hạn chế lý trí và biến họ thành những tín đồ cuồng tín chỉ biết cúi đầu trước mọi hoàn cảnh. và gán cho danh hiệu là Pariah. Chính điều này đã luôn ru ngủ những người Ấn Độ thấp kém. họ thờ phụng Đức Phật và những vị Thầy như Ravidas. rằng những công xã ấy đã hạn chế lý trí của 9 . tư tưởng khoan dung hoà giải.… Họ rất chú trọng đến thuyết luân hồi. chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội ở Ấn Độ cổ hết sức đặc biệt.… Như C. sau khi chết linh hồn của con người sẽ được đầu thai nhiều lần: có thể vào những người cao quí nhưng cũng có thể sống khổ cực hơn. Kabir.Mác đã nhận xét: “Chúng ta cũng không được quên rằng những công xã nông thôn thơ mộng ấy dù cho chúng có vẻ vô hại như thế nào chăng nữa. Ahir đưa ra một vài chứng minh những giai cấp này trước kia là tín đồ Phật giáo đó là những phong tục và tính chất của họ có nền tảng là Phật giáo.… Dù sao đó cũng là một giả thiết về nguồn gốc của tầng lớp những người đứng ngoài xã hội này.những tín đồ trung thành của đạo Bàlamôn – luôn có suy nghĩ an phận thủ thường. làm theo những gì mà người khác bảo. Pamchama. Sở dĩ người dân Ấn Độ đẳng cấp thấp chịu sống cuộc đời khổ cực như vậy là vì họ . bao giờ cũng vẫn là cơ sở bền vững của chế độ chuyên chế phương Đông. Nó không chỉ được giáo lý Bàlamôn biện hộ mà còn được pháp luật của nhà nước hậu thuẫn. … Họ bị coi là nô lệ và không có lựa chọn nào khác hơn là phục dịch cho những giai cấp cao hơn mà không có một phần thưởng nào. trong đó quan niệm rằng linh hồn là tồn tại mãi mãi.khi tầng lớp tín đồ Phật giáo rơi vào tình cảnh bi đát nhất thì người Ấn Độ giáo đã cho phép họ vào lại cộng đồng Ấn Độ giáo nhưng lên án họ là người Không Thể Chạm Đến. lâu dài. sống hết mình với niềm tin tôn giáo.

Trong khi đó. giai cấp phong kiến Ấn Độ không những không chống lại. đó là thế kỷ XVII đánh dấu sự suy vong cực điểm của đế chế Moghul. đã tạo ra sự sùng bái thiên nhiên một cách thô lỗ. Họ đã thi hành nhiều chính sách tàn nhẫn (đưa quân đội tới gây chiến. đất nước Ấn Độ ở trong tình trạng hỗn loạn cả về chính trị. bắt người dân nộp thuế. bỏ cửa. kẻ làm chủ thiên nhiên. quý tộc. nghệ thuật không thể phát triển. Công ti Đông Ấn của Anh thời kỳ đầu kém hơn so với Hà Lan và Bồ Đào Nha. rằng những công xã ấy làm cho con người phải phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài. trói buộc nó bằng những xiềng xích nô lệ của cái quy tắc cổ truyền.…) khiến cho người dân Ấn Độ vô cùng nghèo đói. dắt díu nhau đi nơi khác.con người trong những khuôn khổ chật hẹp nhất làm cho nó trở thành một công cụ ngoan ngoãn của mê tín. Có lẽ đây là nguyên nhân khiến cho khoảng cách giữa các tầng lớp trong xã hội Ấn Độ ngày càng trở nên sâu sắc. rằng những công xã ấy đã biến trạng thái tự động phát triển của xã hội thành một số phận bất di bất dịch do thiên nhiên quyết định trước. và do đó.… Chúng ta không được quên rằng những công xã nhỏ bé ấy mang dấu ấn của sự phân biệt đẳng cấp và của chế độ nô lệ. mà sự thoái hoá thể hiện đặc biệt ở chỗ con người. lại phải thành kính. Nguyễn Gia Phu). tầng lớp phong kiến ở Ấn Độ mà dần dần. chứ không nâng con người lên địa vị làm chủ những hoàn cảnh ấy. Nhưng nhờ khôn khéo mua chuộc các vương công. công ti Đông Ấn của Anh mạnh lên và có ưu thế ở Ấn Độ. mà còn cấu kết. vì lợi ích của riêng mình đã tiếp tay cho những kẻ xâm lược. Vào thời kỳ Ấn Độ chịu sự đô hộ của người Anh.một nhà văn của Ấn Độ thì “Tiếng Anh là biểu tượng quan trọng 10 . quỳ gối trước con khỉ Hanuman và trước con bò Sabbala”. Theo Tarun Tajpal . quân sự và văn học. “Phần lớn dân chúng ở những vùng người Anh chiếm đóng chịu không nổi phải bỏ nhà. Những kẻ còn lại phải đợ con để có tiền nộp thuế” (Lịch sử thế giới trung đại.

các em phải đi làm để góp phần trang trải chi tiêu cho gia đình. có trình độ. Giai cấp cao sang nhất. Tại đây. Thời điểm ngày 01 tháng 4 có lẽ là thời điểm có ý nghĩa nhất đối với các em khi chính quyền trung ương Ấn Độ dành 250 tỉ rupee cho chương trình phổ cập giáo dục tiểu học miễn phí cho trẻ em sau khi ban hành đạo luật “Quyền được học tập” cho các em. ước tính có khoảng 10 triệu trẻ em trong độ tuổi từ 14-16 không được đi học. ham việc hay không chỉ cần người đó biết Anh ngữ là người thuộc thành phần giai cấp cao sang”. nhân văn sâu sắc của lãnh đạo chính phủ. các tệ nạn xã hội luôn đeo đuổi. Các em phải chịu nhiều áp lực từ gia đình. thể hiện tinh thần nhân đạo. vì hoàn cảnh gia đình nghèo khó. tận dụng nguồn nhân lực sẵn có này. Rõ ràng. đã giúp cho nhiều tâm hồn bé bỏng thực hiện được ước mơ đi học như bao trẻ em khác. lao động kiếm sống. tiền bạc và giáo dục là giai cấp nói tiếng Anh từ ba trăm năm nay. mơ ước con đường thoát thân cho gia đình và bản thân… Tuy nhiên có một điều không còn xa lạ với chúng ta nữa đó là việc trẻ em nghèo ở Ấn Độ không được phép đi học là một hiện tượng bình thường. là người siêng năng. việc giáo dục đào tạo trẻ em với quốc gia có dân số trẻ nhất trên thế giới trong bối cảnh Ấn Độ đang thiếu nguồn nhân lực dồi dào. Có rất nhiều người 11 .… “em muốn được đi học!” có lẽ là giấc mơ mà các em luôn hướng tới. lĩnh vực IT với mức lương đáng kể cho thế hệ trẻ Ấn Độ nói tiếng Anh có lẽ nguyên nhân khiến nhiều trẻ em Ấn Độ ngày nay coi tiếng Anh là “chiếc vé thoát khỏi khu ổ chuột”. Đây là việc làm vô cùng có ý nghĩa. có địa vị. Bất luận ai là người thông minh. Và những công việc trong hang công nghệ nổi tiếng.nhất của giai cấp. Sự thực thì Ấn Độ là nước có lực lượng trẻ em lao động đông nhất thế giới. kỹ năng cần thiết cho công việc tương lai là điều quan trọng không thể thiếu nếu Ấn Độ muốn phát huy.

III. Còn nhiều vấn đề khác có thể nảy sinh nhưng chúng ta nên hy vọng rằng đạo luật này sẽ phát huy được hiệu quả là góp phần đưa thêm hàng triệu trẻ em đến trường. Có lẽ đây sẽ là xu hướng chung bởi người Hindu dần dần nhận ra giá trị thực của mình. nhất là tại các vùng nông thôn. Hơn nữa còn nhiều trường hợp giáo viên không dạy dỗ các em. vì vậy vấn đề cấp thiết hơn là phải đào tạo đội ngũ giáo viên có trách nhiệm hơn. họ nghe radio trong khi bắt các em làm việc ngoài đồng áng. và điều này cần khá nhiều thời gian. 12 . Còn sự thật khác đau lòng hơn là thậm chí có nhiều người từ chối cho con mình đi học (mặc dù là học miễn phí) vì các em phải có trách nhiệm đi làm thêm trang trải cuộc sống gia đình. Và đây có lẽ là phương pháp hoà bình nhất để có thể giải quyết những mâu thuẫn sâu sắc tồn tại trong xã hội Ấn Độ hàng nghìn năm qua. Ngày nay nhiều người đẳng cấp thấp đã cải sang đạo Thiên chúa hay đạo Phật với ước mong có thể thoát khỏi cuộc sống nghèo khổ trước đây. Một trong những thách thức lớn nhất là khó có thể trang bị đủ cơ sở vật chất và giáo viên cho các trường công lập.đồng tình với đạo luật này song họ đặt ra rất nhiều thách thức trong việc biến quyền hợp pháp này thành hiện thực. sẽ không còn cam chịu số phận thấp kém trước kia nữa. Đây có lẽ là vấn đề gây sự chú ý của giới nghiên cứu và là đề tài luôn gây tranh cãi trong xã hội Ấn Độ vì sự khắc nghiệt vô cùng của nó. Kết luận Trên đây là những nét rất cơ bản về nguồn gốc hình thành và nguyên nhân của sự tồn tại dai dẳng chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ.

− − − van-minh-an-do. 2006. Lịch sử thế giới cổ đại. Lịch sử văn minh Ấn Độ (Nguyễn Hiến Lê Lương Ninh (Chủ biên). http://vi.net/diendan/lich-su-tg-co-dai/3507- dịch). 2009. NXB Giáo Lịch sử thế giới trung đại. Hà Nội 2009.org/wiki/Lịch_sử_Ấn_Độ http://diendankienthuc. NXB Giáo dục. Tài liệu tham khảo: − − Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại (Doãn Chính) Will Durant. Hà Nội.wikipedia.html 13 . − dục.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful