TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA ĐÔNG

PHƯƠNG HỌC



Tiểu luận cuối kỳ

Vài nét về hệ thống đẳng cấp ở Ấn Độ

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: MSSV: Lớp:

Nguyễn Văn Ánh Bùi Tuyết Ngọc 09030882 K54 Ấn Độ - Đông phương học

Hà Nội, tháng 1, năm 2012

1

tiếp nhận những trường phái tư tưởng tôn giáo khác nhau mà còn nuôi dưỡng. Đã có rất nhiều cuộc tranh cãi về nguồn gốc của tộc người này nhưng có lẽ chúng ta chỉ xét 2 . làm cho nét đặc sắc về tôn giáo Ấn Độ trở nên một đặc trưng riêng của nền văn hoá độc đáo và khác biệt này. tôn giáo lâu đời và phong phú của nhân loại. sự xâm lược của các ngoại tộc). cũng như nhân tố xã hội (sự tranh giành quyền lợi của các tiểu vương quốc. Ấn Độ còn là một trong những cái nôi triết học. Phần mở đầu: Không chỉ là một trong những nền văn minh rực rỡ của phương Đông. Vấn đề đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ: Trở về thời điểm 3500 năm cách ngày nay. Nơi đây không chỉ sản sinh.BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: MSSV: Lớp: Nguyễn Văn Ánh Bùi Tuyết Ngọc 09030882 K54 Ấn Độ . Là nơi thường xuyên bị chia cắt bởi cả nhân tố tự nhiên (khí hậu. ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hoá nhưng Ấn Độ luôn hướng đến sự thống nhất giữa các vùng không chỉ trên lĩnh vực hành chính quân sự mà còn cả về mặt tư tưởng mà trong đó sự hoà hợp tôn giáo là một phần không thể thiếu của quốc gia này. địa hình. trên lưu vực sông Hằng xuất hiện tộc người Aryan vốn sinh sống bằng nghề du mục. phát triển chúng một cách liên tục và lâu dài.Đông phương học Đề tài: VÀI NÉT VỀ HỆ THỐNG ĐẲNG CẤP Ở ẤN ĐỘ I. II.…).

mang tới cho Ấn Độ chữ Phạn và chia xã hội làm 4 đẳng cấp trên những giáo lý của kinh Vêda nhưng có lẽ nó không hoàn toàn đúng. cuộc sống của họ ở trên lưng ngựa và nhờ người Aryan mà người Dravidian lần đầu tiên biết dùng ngựa. Có nhiều người cho rằng họ có nền văn minh cao. qua những bức tượng như thánh mẫu Kali hay Ayappan (một hóa thân của thần Shiva) và sự sùng bái Linga. Từ đó có thể đưa ra kết luận rằng: người Aryan đến lưu vực sông Hằng. Nhưng còn một số giả thiết khác khiến tôi đồng tình hơn đó là ngay từ đầu. làm nghề nông nghiệp trên chính mảnh đất của mình. những bức phù điêu đạo 3 . một thể chế tổ chức mà người Aryan làm chủ. có nguồn gốc từ chữ Aramaic ở vùng Tây Á. Vì là dân du mục. Tuy nhiên họ học hỏi người dân bản địa nghề trồng trọt và chăn nuôi. phần nào bị đồng hoá bởi văn hoá bản địa. sau đó mới tiến dần về hạ lưu sông Hằng. Bên cạnh đó.về sự ra đời của bộ kinh Veda sau sự xuất hiện của họ .nguồn gốc của sự phân chia đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ ngày nay. trước đó chỉ có các sự đấu tranh giữa các công xã nông thôn đang trên đường chuyển biến mà thôi. đã chuyển từ chăn nuôi du mục sang định cư nông nghiệp. sự phân hóa đẳng cấp này vẫn chưa được rõ ràng. Hơn nữa chữ viết không xuất hiện ngay trong thời kỳ này mà mãi tới tận năm 700 TCN mới xuất hiện chữ viết cổ có tên gọi là Kharosthi. Và đến đầu thế kỷ VI TCN mới hình thành một số tiểu quốc Arya trên lưu vực sông Hằng. khai phá đất đai và làm nông nghiệp. Dân bản địa ở lưu vực sông Hằng sống trong thời đại đá mới và đồ đồng. Người Aryan đến sau (vào khoảng 1500 TCN) đã lập các làng xóm của mình ở phía thượng lưu và trung lưu. Có nhiều người đã đưa ra giả thiết rằng dường như khi người Aryan đến lưu vực sông Hằng đã lập thành một xã hội chia đẳng cấp. phát triển năng động và nhanh chóng chiếm ưu thế trên lãnh thổ này. Nền văn minh du mục hòa vào nền văn hoá bản địa và phát triển cho đến tận ngày nay.

Căn cứ vào những di chỉ khảo cổ ấy. nhưng lại có sự phân biệt rõ ràng giữa cộng đồng Aryan với người dân bản địa (còn gọi là Dasa hay Panis). Chưa có sự lưu truyền bắt buộc về nghề nghiệp cũng như chưa có tục lệ cấm kết hôn giữa những người không thuộc cùng đẳng cấp. …từ đó thợ mộc và thợ rèn là những tầng lớp được xã hội quý trọng.kẻ đi chinh 4 . họ có thái độ phân biệt đối xử với dân bản địa là người ngoài cộng đồng. Điều đó thể hiện lúc đầu sự phân biệt dựa trên màu da. chủng tính giữa người Aryan . Như vậy trong xã hội Aryan mới có sự phân hoá bước đầu về tài sản và địa vị. Nhưng đó là sự liên kết với nhau trong cộng đồng của những người có nguồn gốc Aryan. tiếng Ấn Độ là màu sắc. Trong khoảng thời gian 800 TCN. các nhà nghiên cứu còn cho rằng phép tu toạ thiền và tục lệ tắm nước sông Hằng ngày nay cũng có thể bắt nguồn tự những nghi lễ của dân tộc Ấn Độ xa xưa (hay người dân bản địa Dravidian) truyền lại. Họ là những người làm nghề chăn nuôi ở đông bắc Ấn Độ và có lẽ Sudra được dùng để chỉ tầng lớp này. Tiếp theo đó là sự phát triển của thương nghiệp trong sự giao thương với khu vực vịnh Ba Tư và Hồng Hải. trong cộng đồng người Aryan chưa có sự phân biệt đẳng cấp mà chỉ mới có sự phân hoá xã hội thành thượng lưu. tuy nhiên vấn đề này vẫn còn gây nhiều tranh cãi giữa các học giả nên chưa có một kết luận cuối cùng nào khiến mọi người đều công nhận cả. việc khẳng định người Aryan đến Ấn Độ mang theo chữ viết và bộ kinh Veda là không chính xác. nghề thủ công ở Ấn Độ đã phát triển hơn với kĩ nghệ luyện sắt. tăng lữ và dân chúng (những người làm nghề nông và thủ công). Vào thời gian này.sĩ Yoga. đúc kim khí.…xung quanh các di chỉ khảo cổ của nền văn minh sông Ấn ta thấy được có mối quan hệ mật thiết về tín ngưỡng tôn giáo giữa thời kỳ văn minh sông Ấn với nền văn minh sông Hằng (hình thành sau đó). Như vậy. Sự phân chia xã hội này được gọi là varna. làm xe kéo nhà cửa bằng đồ gỗ.

với tư cách là người đứng đầu tổ chức quốc gia và chỉ huy quân đội. quý tộc phải là đẳng cấp cao nhất trong xã hội.…(còn đựơc gọi là Jati). chế độ Varna đầu tiên dựa trên sự phân chia đẳng cấp theo màu da. Về mặt xã hội. chủng tộc. Như vậy. Vì vậy đội ngũ thầy tu ở Ấn Độ xuất hiện đông đảo. Họ cho rằng chết trên sa trường mới là vinh quang còn chết trên nhung lụa là sự nhục nhã. Đáng lẽ ra. các vương công . Các kinh sách đạo Jain 5 . vua là vị giáo chủ đứng ra làm lễ còn người Bàlamôn chỉ đóng vai phụ. nghĩa là không được kết hồn với người trong họ gần mà cũng không được kết hôn với người ngoài thị tộc”.người bị chinh phục. Ban đầu giáo lý cơ bản của đạo Bà La Môn là con người có sự giao thoa. võ sĩ (Kshatriya). hoà đồng với thần linh và qua hành động cúng tế thì thần linh mới giúp đỡ con người. đạo Bà La Môn là công cụ đắc lực bảo vệ cho chế độ đẳng cấp. Will Durant có viết: “Từ thời Veda các nghề nghiệp cũng trở nên chuyên môn và ngày có tính cách cha truyền con nối.… nhưng sau đó cùng với sự biến đổi của xã hội. chế độ Varna được mở rộng ra bằng sự phân biệt về nghề nghiệp. Thế là đẳng cấp tăng lữ ra đời chuyên phụ trách công việc cúng lễ và diễn giải các bộ kinh Veda dần dần trở thành tầng lớp cao quý. nước da tối màu. hơn nữa còn là người “cao quý” thì việc họ có thái độ khinh bỉ cũng không có gì lấy làm lạ. biến thành tầng lớp có uy tín và quyền lực nhất trong xã hội. tôn giáo. Cũng phải nói thêm rằng người Aryan có nước da sang màu. người Aryan cấm cả sự đồng tộc kết hôn lẫn sự chủng ngoại kết hôn. do đó mà sự phân chia tập cấp ngày càng trở nên nghiêm khắc hơn”. cao lớn (vì vậy gọi là Ấn-Âu) so với người Dravidian vóc dáng nhỏ bé. đứng trên cả tầng lớp vương công. Will Durant đã phân tích nguồn gốc đầu tiên của chế độ varna như sau: “Cũng như mọi dân tộc khác. Trong các buổi lễ tế tôn giáo. Trong cuốn Lịch sử văn minh Ấn Độ.phục có trình độ văn minh thấp hơn người Dravidian .

ưu tú nhất trong giống vật có lý tính là loài người. Miệng thần là đẳng cấp Brahma. Vaisya và Suđra. duy trì trật tự xã hội. người ta cần sản xuất. công nghiệp. Nhưng dần dần.…). các chủng tộc khác là thấp hèn”. Người Bàlamôn chủ trương: “Chỉ có Bàlamôn là chủng tộc tối thượng. mong chờ sự giải thoát. ưu tú nhất trong loài động vật là giống vật có lý tính. còn trong các kinh Phật cổ thì cho rằng đẳng cấp Bàlamôn là hạng người “tì tiện” (theo Will Durant: Lịch sử văn minh Ấn Độ). nếu không thì họ sẽ xoá bỏ (thậm chí tìm mọi thủ đoạn) để có thể nắm quyền lãnh đạo. tin vào thần thánh. phát triển nông nghiệp. Và để khẳng định rõ hơn cho chế độ đẳng cấp thì cuốn Rig-Veda có viết như sau: “Thần sáng tạo Brahma đã tự phân thành bốn đẳng cấp. hai bàn chân thần là đẳng cấp Shudra”.… nhu cầu về sinh hoạt tinh thần của người dân được chú trọng thì họ lại quay về tín ngưỡng ban đầu: cầu xin sự ban phước của thần linh. Với quyền uy được thần thánh hóa. Họ bảo vệ những tục lệ có lợi cho họ. làm yên lòng các tín đồ trung thành của họ qua việc điều phối các nghi thức. Đẳng cấp Kshatriya có nhiệm vụ trông coi việc nước. Tầng lớp Vaisya thì phải lao động sản xuất ra của cải vật chất để cung 6 . sau khi kết thúc chiến tranh. ưu tú nhất trong loài người là người Bàlamôn”. Họ nắm giữ độc quyền tri thức (có nhiệm vụ giáo dục cho tầng lớp thanh niên) thành thử họ có thể khiến cho thế hệ trẻ có tư duy như cha mẹ chúng (tôn trọng các tu sĩ Bàlamôn. đẳng cấp Bàlamôn làm mưa làm gió trong xã hội Ấn Độ. Brahma. thậm chí chính những người đẳng cấp Bàlamôn cũng nói rằng trật tự các giai cấp từ trên xuống dưới là: Kshatriya. hai bắp đùi thần là đẳng cấp Vaishya.cũng nói rằng đẳng cấp Kshatriya cao quý hơn cả. hai vai thần là đẳng cấp Kshatriya. Bộ luật Manu cũng viết: “Ưu tú nhất trong mọi sinh vật là động vật. lễ nghi tôn giáo trong rất nhiều sự kiện của người Hindu.…Và chỉ có người Bàlamôn là có thể giúp con người tiếp xúc với thần linh.

Về tôn giáo. Họ bị xem là sinh vật 2 chân (để phân biệt với sinh vật 4 chân). Ba đẳng cấp trên được coi là sinh hai lần còn Shdra không được tham dự các nghi lễ tôn giáo nên chỉ được coi là sinh một lần. Hệ thống giai cấp này theo chế độ cha truyền con nối. trong đó chỉ có Bàlamôn mới được giảng kinh và tiến hành những nghi thức tế lễ. người Bàlamôn và Shudra có thể lấy nước từ cùng một nguồn thì họ phải tránh gặp mặt nhau. nếu tụng thánh kinh lưỡi có thể bị cắt đứt còn nếu muốn thuộc lòng thánh kinh thì thân thể sẽ bị chặt làm đôi. chế độ đẳng cấp quy định chỉ nên kết hôn với người cùng đẳng cấp.cấp cho xã hội. Bình thường những người thuộc đẳng cấp khác nhau sẽ lấy nước từ những nơi khác nhau. nếu cùng phạm tội như nhau thì đẳng cấp trên đương nhiên được hưởng nhiều ưu đãi. Tuy nhiên nếu cần thiết thì đàn ông ở đẳng cấp trên có thể lấy vợ ở các đẳng cấp thấp hơn. Ngoài ra thì họ còn phải nộp sưu thuế và đi làm nghĩa vụ cho nhà nước như xây dựng công trình thủy lợi. hôn nhân và quyền lợi trước pháp luật. bị coi như “hàng hoá biết nói”.… Đời sống của nông dân do vậy rất là khổ cực. Về quyền lợi trước pháp luật. Theo giáo lý đạo Bàlamôn thì một người Shdra mà nghe thánh kinh thì tai sẽ bị điếc. Tầng lớp Shdra (tiện dân) còn có thân phận thấp kém hơn như vậy. không được ăn chung bàn.… vì như thế sẽ bị coi là “không tinh khiết”. xât dựng cung điện. nếu là nạn nhân thì càng được bồi thường nhiều. Nhưng ở một số nơi. các người khác giai cấp không được cùng nhau hành lễ tế tự. Giữa bốn đẳng cấp này có sự khác nhau về địa vị xã hội mà chủ yếu là về tôn giáo. lâu đài. đền chùa. Về hôn nhân. Nếu chẳng may bình nước của người này chạm phải bình nước của người kia thì ngay lập tức người Bàlamôn sẽ đập vỡ cái 7 . chỉ có ba đẳng cấp trên mới được cúng thần và đọc kinh Veda.

bị cấm không được sử dụng nước giếng hay đến những nơi công cộng. mà bao nhiêu thế kỷ đã bảo đảm cho họ mọi thứ ưu đãi và tiện nghi vật chất. Trong quan hệ giao tiếp sinh hoạt hằng ngày. Nếu một người Shudra già trăm tuổi mà nói chuyện với một người Bàlamôn chỉ mới lên năm tuổi thì người Shudra cũng phải có thái độ cung kính như con đối với cha ! Tuy nhiên. bị các giai cấp kia đối xử như thú vật.bình đó (nếu nó làm bằng đất) hoặc cọ rửa nó bằng nước và cát nếu nó làm bằng đồng ! Khi một người đẳng cấp thấp hơn nói chuyện với người đẳng cấp cao. Theo học giả người Ấn Độ D. ngoài 4 đẳng cấp trên mà ta thấy Shudra đã là khổ sở. bị buộc phải sống bên ngoài làng. vẫn còn tầng lớp thứ năm gọi là Priah bị coi như sống ngoài lề xã hội loài người. Ông viết rằng: “Tôn giáo của Đức Phật là một cái gai trong mắt những người Bàlamôn phản động. Ahir thì những người “Không Thể Chạm Đến” hay “Không Thể Nói Chuyện” là những tín đồ Phật giáo ngày xưa. sự phân biệt giữa các đẳng cấp trong xã hội cũng rất chặt chẽ và nghiêm ngặt. vì nó đã lật đổ giai cấp thầy tế khỏi ngôi vị cao của nó. Họ bị rút phép thông công với xã hội. liên quan đến sự suy tàn của Phật giáo trên đất Ấn Độ. Lí do những người Bàlamôn căm ghét họ đến như vậy. những người thuộc đẳng cấp thấp đều không được sinh hoạt giao tiếp với những người ở đẳng cấp trên. Vì vậy khi ảnh hưởng của Phật giáo suy yếu. theo Ahir. đáng thương nhất. thậm chí họ không được phép đứng lên bóng của người Bàlamôn vì như thế cũng bị coi là làm “nhơ bẩn”. vô cùng khổ nhục. họ phải lấy tay che miệng kẻo làm cho người trên không tinh khiết. Người ở đẳng cấp dưới phải tôn kính và phục tùng vô điều kiện người Bàlamôn. họ trả đũa và tấn công Phật giáo bằng nhiều cách” và trong 8 .C. Nếu người thuộc đẳng cấp Bàlamôn không may bị người Shudra giẫm lên cái bóng của mình thì người Bàlamôn phải làm lễ thanh tẩy bằng cách nhịn ăn và tắm nước thánh suốt cả ngày hôm đó. Về nguyên tắc.

khi tầng lớp tín đồ Phật giáo rơi vào tình cảnh bi đát nhất thì người Ấn Độ giáo đã cho phép họ vào lại cộng đồng Ấn Độ giáo nhưng lên án họ là người Không Thể Chạm Đến. và gán cho danh hiệu là Pariah. họ thờ phụng Đức Phật và những vị Thầy như Ravidas. Ahir đưa ra một vài chứng minh những giai cấp này trước kia là tín đồ Phật giáo đó là những phong tục và tính chất của họ có nền tảng là Phật giáo. Sở dĩ người dân Ấn Độ đẳng cấp thấp chịu sống cuộc đời khổ cực như vậy là vì họ . rằng những công xã ấy đã hạn chế lý trí của 9 . Tất cả đều tuỳ thuộc vào những việc làm của kiếp trước và vì thế họ cố gắng sống thật tốt trong kiếp này để hy vọng vào sự đầu thai tốt đẹp ở kiếp sau. chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội ở Ấn Độ cổ hết sức đặc biệt. Kabir.… Như C.… Dù sao đó cũng là một giả thiết về nguồn gốc của tầng lớp những người đứng ngoài xã hội này.… Họ rất chú trọng đến thuyết luân hồi. Avarna. làm theo những gì mà người khác bảo. tư tưởng khoan dung hoà giải. trở thành một trong những cái hố sâu chia cách xã hội Ấn Độ. Nó không chỉ được giáo lý Bàlamôn biện hộ mà còn được pháp luật của nhà nước hậu thuẫn. khiến họ chỉ biết tuân phục. lâu dài. Như vậy. sau khi chết linh hồn của con người sẽ được đầu thai nhiều lần: có thể vào những người cao quí nhưng cũng có thể sống khổ cực hơn. hạn chế lý trí và biến họ thành những tín đồ cuồng tín chỉ biết cúi đầu trước mọi hoàn cảnh. sống hết mình với niềm tin tôn giáo. … Họ bị coi là nô lệ và không có lựa chọn nào khác hơn là phục dịch cho những giai cấp cao hơn mà không có một phần thưởng nào.những tín đồ trung thành của đạo Bàlamôn – luôn có suy nghĩ an phận thủ thường. trong đó quan niệm rằng linh hồn là tồn tại mãi mãi.Mác đã nhận xét: “Chúng ta cũng không được quên rằng những công xã nông thôn thơ mộng ấy dù cho chúng có vẻ vô hại như thế nào chăng nữa. Pamchama. bao giờ cũng vẫn là cơ sở bền vững của chế độ chuyên chế phương Đông. Chính điều này đã luôn ru ngủ những người Ấn Độ thấp kém.

trói buộc nó bằng những xiềng xích nô lệ của cái quy tắc cổ truyền. mà còn cấu kết. giai cấp phong kiến Ấn Độ không những không chống lại. kẻ làm chủ thiên nhiên. dắt díu nhau đi nơi khác. đất nước Ấn Độ ở trong tình trạng hỗn loạn cả về chính trị. Những kẻ còn lại phải đợ con để có tiền nộp thuế” (Lịch sử thế giới trung đại. đó là thế kỷ XVII đánh dấu sự suy vong cực điểm của đế chế Moghul. “Phần lớn dân chúng ở những vùng người Anh chiếm đóng chịu không nổi phải bỏ nhà. mà sự thoái hoá thể hiện đặc biệt ở chỗ con người. quân sự và văn học. rằng những công xã ấy đã biến trạng thái tự động phát triển của xã hội thành một số phận bất di bất dịch do thiên nhiên quyết định trước. Theo Tarun Tajpal . Nhưng nhờ khôn khéo mua chuộc các vương công. đã tạo ra sự sùng bái thiên nhiên một cách thô lỗ. bắt người dân nộp thuế.… Chúng ta không được quên rằng những công xã nhỏ bé ấy mang dấu ấn của sự phân biệt đẳng cấp và của chế độ nô lệ.một nhà văn của Ấn Độ thì “Tiếng Anh là biểu tượng quan trọng 10 . công ti Đông Ấn của Anh mạnh lên và có ưu thế ở Ấn Độ. tầng lớp phong kiến ở Ấn Độ mà dần dần. chứ không nâng con người lên địa vị làm chủ những hoàn cảnh ấy.con người trong những khuôn khổ chật hẹp nhất làm cho nó trở thành một công cụ ngoan ngoãn của mê tín. và do đó. rằng những công xã ấy làm cho con người phải phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài. quỳ gối trước con khỉ Hanuman và trước con bò Sabbala”. Trong khi đó. quý tộc. Họ đã thi hành nhiều chính sách tàn nhẫn (đưa quân đội tới gây chiến. Công ti Đông Ấn của Anh thời kỳ đầu kém hơn so với Hà Lan và Bồ Đào Nha. lại phải thành kính. Nguyễn Gia Phu). bỏ cửa. vì lợi ích của riêng mình đã tiếp tay cho những kẻ xâm lược. Có lẽ đây là nguyên nhân khiến cho khoảng cách giữa các tầng lớp trong xã hội Ấn Độ ngày càng trở nên sâu sắc. nghệ thuật không thể phát triển. Vào thời kỳ Ấn Độ chịu sự đô hộ của người Anh.…) khiến cho người dân Ấn Độ vô cùng nghèo đói.

Có rất nhiều người 11 . các tệ nạn xã hội luôn đeo đuổi. việc giáo dục đào tạo trẻ em với quốc gia có dân số trẻ nhất trên thế giới trong bối cảnh Ấn Độ đang thiếu nguồn nhân lực dồi dào. ước tính có khoảng 10 triệu trẻ em trong độ tuổi từ 14-16 không được đi học. lĩnh vực IT với mức lương đáng kể cho thế hệ trẻ Ấn Độ nói tiếng Anh có lẽ nguyên nhân khiến nhiều trẻ em Ấn Độ ngày nay coi tiếng Anh là “chiếc vé thoát khỏi khu ổ chuột”. Đây là việc làm vô cùng có ý nghĩa. các em phải đi làm để góp phần trang trải chi tiêu cho gia đình. đã giúp cho nhiều tâm hồn bé bỏng thực hiện được ước mơ đi học như bao trẻ em khác. Các em phải chịu nhiều áp lực từ gia đình. Bất luận ai là người thông minh. lao động kiếm sống. Rõ ràng.nhất của giai cấp. Và những công việc trong hang công nghệ nổi tiếng. tiền bạc và giáo dục là giai cấp nói tiếng Anh từ ba trăm năm nay. thể hiện tinh thần nhân đạo. Sự thực thì Ấn Độ là nước có lực lượng trẻ em lao động đông nhất thế giới. có địa vị. vì hoàn cảnh gia đình nghèo khó. mơ ước con đường thoát thân cho gia đình và bản thân… Tuy nhiên có một điều không còn xa lạ với chúng ta nữa đó là việc trẻ em nghèo ở Ấn Độ không được phép đi học là một hiện tượng bình thường. có trình độ. ham việc hay không chỉ cần người đó biết Anh ngữ là người thuộc thành phần giai cấp cao sang”. tận dụng nguồn nhân lực sẵn có này.… “em muốn được đi học!” có lẽ là giấc mơ mà các em luôn hướng tới. là người siêng năng. Tại đây. Thời điểm ngày 01 tháng 4 có lẽ là thời điểm có ý nghĩa nhất đối với các em khi chính quyền trung ương Ấn Độ dành 250 tỉ rupee cho chương trình phổ cập giáo dục tiểu học miễn phí cho trẻ em sau khi ban hành đạo luật “Quyền được học tập” cho các em. nhân văn sâu sắc của lãnh đạo chính phủ. kỹ năng cần thiết cho công việc tương lai là điều quan trọng không thể thiếu nếu Ấn Độ muốn phát huy. Giai cấp cao sang nhất.

Đây có lẽ là vấn đề gây sự chú ý của giới nghiên cứu và là đề tài luôn gây tranh cãi trong xã hội Ấn Độ vì sự khắc nghiệt vô cùng của nó. Còn nhiều vấn đề khác có thể nảy sinh nhưng chúng ta nên hy vọng rằng đạo luật này sẽ phát huy được hiệu quả là góp phần đưa thêm hàng triệu trẻ em đến trường. 12 . và điều này cần khá nhiều thời gian. vì vậy vấn đề cấp thiết hơn là phải đào tạo đội ngũ giáo viên có trách nhiệm hơn. họ nghe radio trong khi bắt các em làm việc ngoài đồng áng. Hơn nữa còn nhiều trường hợp giáo viên không dạy dỗ các em.đồng tình với đạo luật này song họ đặt ra rất nhiều thách thức trong việc biến quyền hợp pháp này thành hiện thực. Một trong những thách thức lớn nhất là khó có thể trang bị đủ cơ sở vật chất và giáo viên cho các trường công lập. Còn sự thật khác đau lòng hơn là thậm chí có nhiều người từ chối cho con mình đi học (mặc dù là học miễn phí) vì các em phải có trách nhiệm đi làm thêm trang trải cuộc sống gia đình. III. Có lẽ đây sẽ là xu hướng chung bởi người Hindu dần dần nhận ra giá trị thực của mình. nhất là tại các vùng nông thôn. Và đây có lẽ là phương pháp hoà bình nhất để có thể giải quyết những mâu thuẫn sâu sắc tồn tại trong xã hội Ấn Độ hàng nghìn năm qua. Ngày nay nhiều người đẳng cấp thấp đã cải sang đạo Thiên chúa hay đạo Phật với ước mong có thể thoát khỏi cuộc sống nghèo khổ trước đây. sẽ không còn cam chịu số phận thấp kém trước kia nữa. Kết luận Trên đây là những nét rất cơ bản về nguồn gốc hình thành và nguyên nhân của sự tồn tại dai dẳng chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ.

NXB Giáo dục.wikipedia. Tài liệu tham khảo: − − Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại (Doãn Chính) Will Durant. Lịch sử thế giới cổ đại. − − − van-minh-an-do. http://vi. 2009. Hà Nội 2009.org/wiki/Lịch_sử_Ấn_Độ http://diendankienthuc. Hà Nội. − dục.net/diendan/lich-su-tg-co-dai/3507- dịch).html 13 . Lịch sử văn minh Ấn Độ (Nguyễn Hiến Lê Lương Ninh (Chủ biên). NXB Giáo Lịch sử thế giới trung đại. 2006.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful