P. 1
Cách trình bày

Cách trình bày

|Views: 552|Likes:
Được xuất bản bởinhobjn521291

More info:

Published by: nhobjn521291 on Apr 01, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

01/12/2013

pdf

text

original

G Đặc điểm phân bố của ốc cối (Conus spp) tại vịnh Vân

Phong, Khánh Hòa
Đặng Thúy Bình và CTV
82
G Thành phần loài họ tôm he (Penaeidae) ở Khánh Hòa
Lê Thị Hồng Mơ và CTV
92
G Xây dựng cây phát sinh chủng loại phân tử của ốc cối
(conus spp.) ở vùng biển Nam Trung bộ, Việt Nam
Phạm Thu Thủy và CTV
99
G Tình hình nghiên cứu họ cá Úc (Ariidae l. s. berg, 1958)
Trần Văn Phước
110
G Isolation and screening of marine Bacillus strains as
biocontrol agents against pathogenic Vibrio in black tiger
shrimp in central Vietnam
Nguyễn Văn Duy và CTV
120
G Ảnh hưởng của tinh bột biến tính đến chất lượng của
surimi cá Hố bảo quản đông
Thái Văn Đức
130
G Lạm phát và tình trạng nghèo của hộ gia đình ngư dân tại
khu vực duyên hải Nam Trung bộ
Phạm Hồng Mạnh
138
VAÁN ÑEÀ TRAO ÑOÅI
G Mô hình sản xuất thặng dư và hệ thống thông tin địa

Phạm Văn Thông
149
G Vấ n đề an toà n lao độ ng củ a nghề nuôi tôm Hù m lồ ng trên
biể n ở thị xã Cam Ranh
Nguyễn Đức Sĩ
158
G Thành tựu giảm nghèo của một số quốc gia trên thế giới:
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Phạm Hồng Mạnh
163
G D-acid Amin trong thực phẩm
Nguyễn Minh Trí và CTV
173
Các vấn đề cơ bản về năng lực đánh bắt trong nghề cá
Lê Kim Long
185
TIN TÖÙC - SÖÏ KIEÄN 192
Số 3/2011
TOÅNG BIEÂN TAÄP:
fS. HO/NG HO/ HONG
PHOÙ TOÅNG BIEÂN TAÄP:
PGS.fS. PH/l HUNG fH/NG
BAN BIEÂN TAÄP:
· PGS.fS. NGUYLN fH| Kll /NH
· fS. NGUYLN HUU DUNG
· fS. fP/N D/NH Gl/NG
· fS. lL V/N H/O
· fS. NGUYLN fH| HlLN
· fhS. NGUYLN flLN HO/
· PGS.fS. ÐO fH| HO/
· fS. HO/NG HO/ HONG
· PGS.fS. l/l V/N HUNG
· fS. PH/N fPONG HUYLN
· PGS.fS. CU/CH ÐlNH llLN
· GS. fS. fP/N fH| lUYLN
· PGS.fS. NGO Ð/NG NGHl/
· PGS.fS. NGUYLN V/N NH/N
· PGS.fS. fP/N Gl/ fH/l
· PGS.fS. PH/l HUNG fH/NG
· fS. HO/NG V/N flNH
· PGS.fS. fP/NG Sl fPUNG
THÖ KYÙ:
CN. PH/l NGOC BlCH
• Toøa soaïn:
Tröôøng Ñaïi hoïc Nha Trang,
Soá 02 Nguyeãn Ñình Chieåu,
TP. Nha Trang - Khaùnh Hoøa
• Ñieän thoaïi : 058.2220767
• Fax : 058.3831147
• E-mail : khcndhts@dng.vnn.vn
• Giaáy pheùp xuaát baûn:
112/GP-BVHTT ngaøy 10/4/2003
• Cheá baûn taïi: Phoøng Khoa hoïc
Coâng ngheä & Hôïp taùc Quoác teá -
Tröôøng Ñaïi hoïc Nha Trang
• In taïi: Coâng ty coå phaàn In vaø
Thöông maïi Khaùnh Hoøa
Soá 08 Leâ Thaùnh Toân - Nha Trang
TAÏP CHÍ
KHOA HOÏC - COÂNG NGHEÄ THUÛY SAÛN
TẠP CHÍ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
ISSN 1859 - 2252
MUÏC LUÏC
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 3
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SURIMI TỪ CÁ
MÈ HOA (Hypophthalmichthys nobilis)
STUDY ON SURIMI PROCESSING TECHNOLOGY FROM BIGHEAD CARP
(Hypophthalmichthys nobilis)
Nguyễn Anh Tuấn
(1)
, Nguyễn Xuân Duy
(1*)
, Nguyễn Bảo
(1)
, Phạm Thị Hiền
(1)
,
Nguyễn Hồng Ngân
(1)
và Đào Trọng Hiếu
(2)

1
Khoa Chế biến - Trường Đại học Nha Trang
2
Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và Nghề muối, Bộ NN & PTNT
*Email tác giả liên lạc: duy.ntu.edu@gmail.com
TÓM TẮT:
Surimi là sản phẩm được sản xuất từ thịt cá. Theo truyền thống nguyên liệu dùng sản xuất surimi chủ
yếu từ nguồn cá biển. Tuy nhiên, sự khai thác quá mức cùng với phương pháp khai thác không phù hợp đã làm
cho nguồn nguyên liệu này có nguy cơ cạn kiệt trong thời gian gần đây. Sản xuất surimi từ cá nước ngọt vẫn
còn mới mẻ và là một trong những hướng mới trong công nghệ sản xuất surimi. Bài báo này trình bày những
kết quả nghiên cứu sản xuất surimi từ cá Mè hoa, một loại cá nước ngọt, đang được nuôi thương phẩm ở nhiều
nơi. Chúng tôi đã xác định được những thông số kỹ thuật quan trọng trong quy trình công nghệ sản xuất surimi
từ cá Mè hoa như sau: quá trình rửa được thực hiện trong ba lần: lần 1 sử dụng dung dịch NaCl 0,2%; lần 2
dùng dịch a xít acetic 0,01% và lần 3 dùng nước thường. Thời gian mỗi lần rửa và tỷ lệ dung dịch rửa so với
thịt cá là 20 phút và 7:1 (v/w). Thời gian ép tách nước là 30 phút. Phụ gia sử dụng bao gồm đường 4%, sorbitol
4%, tari K7 0,3%. Quá trình tạo gel được thực hiện ở nhiệt độ 0 - 5
0
C trong 24 giờ. Surimi được sản xuất ra
có chất lượng đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm.
Từ khóa: Surimi, quy trình, cá Mè hoa, Hypophthalmichthys nobilis
ABSTRACT
Surimi is a product from fish meat. Traditionally, materials for producing surimi are mainly from marine
fish. However, overcatch and concominant with incorrect catching methods have resulted in risk of shortage
of this recource recently. Surimi production from freshwater fish is still new and is one of new trends in surimi
technology. This article presents research results in producing surimi from bighead carp, a kind of freshwater
fish, is comercially culturing at many places. We determined the important technical factors of surimi
production process from bighead carp as follows: using NaCl 0.2% for the first washing, acetic acid 0.01% for
the second washing and freshwater for the third washing. Duration for each washing time and ratio of washing
solution and fish meat were 20 minutes and 7:1 (vol./wt.). Dewater duration was 30 minutes. Addtitives were
used, including sugar 4%, sorbitol 4% and tari K7 0.3%. Gel setting process was carried out from 0 to 5
o
C for
24 hours. Surimi produced from this process had quality meet food safety and higene standards.
Keywords: Surimi, process, bighead carp, Hypophthalmichthys nobilis
fHONG B/O KHO/ HOC
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
4 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Surimi là chất nền protein quan trọng để
sản xuất các sản phẩm mô phỏng. Các chuyên
gia FAO trong lĩnh vực thực phẩm đã nhận định
rằng: surimi là cơ sở thực phẩm trong tương lai
(Trần Thị Luyến, 2004). Nhiều công trình nghiên
cứu về công nghệ sản xuất surimi từ các loại
nguyên liệu thủy sản khác nhau, đặc biệt là từ cá
biển đã được thực hiện (Trần Thị Luyến, 2006,
2004). Tuy nhiên, nghiên cứu sản xuất surimi từ
các loài cá nước ngọt còn rất hạn chế, đặc biệt
surimi từ cá Mè mới được nghiên cứu bước đầu.
Cá Mè là loài cá ăn tạp có khả năng sinh trưởng
phát triển rất mạnh, năng suất cao nhưng chưa
được nuôi ở quy mô lớn vì thịt cá có mùi tanh
khó được người tiêu dùng chấp nhận. Vì vậy,
cần nghiên cứu sản xuất các sản phẩm có giá trị
gia tăng từ cá Mè (surimi và các sản phẩm mô
phỏng) để thúc đẩy nghề nuôi cá Mè, đa dạng
hóa sản phẩm và nâng cao thu nhập cho người
nông dân là vấn đề cần quan tâm. Mục tiêu của
nghiên cứu này là xây dựng quy trình công nghệ
sản xuất surimi từ cá Mè, góp phần gia tăng giá
trị cho đối tượng nguyên liệu này.
II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là cá Mè hoa
(Hypophthalmichthys nobilis) được nuôi tại
Diên Khánh, Khánh Hòa. Các phụ gia sử dụng
trong nghiên cứu này gồm đường, sorbitol dạng
lỏng (nồng độ 70%), muối NaCl và a xít acetic
(d =1,05 g/ml), các hai loại hóa chất này đều đáp
ứng yêu cầu sử dụng trong thực phẩm. Hóa chất
sử dụng trong phân tích các chỉ tiêu protein, chất
béo, gluxit, NH
3
, histamin và các chỉ tiêu vi sinh
vật thuộc loại tinh khiết, đáp ứng yêu cầu phân
tích.
2. Quy trình chế biến surimi dự kiến
Quy trình chế biến surimi được thực hiện
theo quy trình của Trần Thị Luyến (2004) trên đối
tượng cá biển và có một vài sự hiệu chỉnh nhỏ.
Các thông số kỹ thuật của quy trình được nghiên
cứu và xác định phù hợp với đối tượng cá Mè
hoa. Tóm tắt quy trình như sau:
Nguyên liệu → Xử lý → Rửa 1 → Rửa 2 →
Rửa 3 → Ép tách nước → Phối trộn phụ gia →
Nghiền giã → Định hình → Cấp đông → Bảo quản.
3. Phân tích các cảm quan và vật lý
Đánh giá các chỉ tiêu cảm quan theo
phương pháp được mô tả bởi Nguyễn Thị Thục
(2000). Hội đồng cảm quan được xây dựng
gồm 5 người (3 nữ và 2 nam). Họ được huấn
luyện và đào tạo trong thời gian ít nhất 2 tuần
về các kỹ năng đánh giá surimi trước khi tham
gia chính thức vào hội đồng đánh giá. Giá trị pH
được xác định theo tiêu chuẩn ngành số 28 TCN
119:1998 sử dụng thiết bị đo pH (420A, Orion,
USA). Chỉ tiêu tạp chất và độ dẻo cũng được
xác định theo 28 TCN119:1998. Độ chắc của gel
được xác định theo phương pháp được mô tả
bởi Võ Thanh Trực (2010) sử dụng thiết bị đo độ
chắc gel (Sun Rheo meter, CR-500DX, Japan).
Màu sắc được xác định trên thiết bị đo màu
(Chroma meter, CR-400, Minolta, Osaka, Japan).
Độ trắng được tính toán theo Park (2005).
4. Phân tích các chỉ tiêu hóa học
Hàm lượng ẩm và tro được xác định theo
AOAC 950.46 và AOAC 923.03 (1995). Xác định
hàm lượng protein theo TCVN 4321-1 (1997),
hàm lượng chất béo được xác định theo phương
pháp của Folch (1957) và hàm lượng gluxit
được thực hiện theo phương pháp của Dubois
(1956) sử dụng máy đo độ hấp thu quang học
(Spectrophotometry DR 4000, Hatch, USA).
Hàm lượng NH
3
được xác định theo SMEWW
417B (1985). Histamin được phân tích trên hệ
thống HPLC (Shimadzu, CBM-10A, Japan).
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 5
5. Phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật
Tổng vi sinh vật hiếu khí (TPC) được phân
tích theo TCVN 4884:2005; Coliforms theo
TCVN 6848:2007; Escherichia coli theo TCVN
6846:2007; Staphylococcus aureus theo TCVN
4830:2005; Salmonella theo TCVN 4829:2005;
Vibrio parahaemolyticus theo 3349/QĐ-BYT/2001;
Vibrio cholerae theo ISO/TS 21872-1:2007;
Shigella theo TCVN 5287:1994; Listeria
monocytogenes theo TCVN 7700-1:2007.
6. Xử lý số liệu thống kê
Các số liệu thí nghiệm được tiến hành lặp
lại từ hai đến ba lần để đảm bảo đánh giá sự
khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê. Phép kiểm
định Turkey’s HSD được thực hiện theo sau
phân tích ANOVA để kiểm chứng sự khác nhau
có ý nghĩa (p < 0,05). Toàn bộ số liệu được xử
lý trên phần mềm Statistica 9.0 (Stasoft, Tulsa,
Ok, USA).
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Xác định nồng độ NaCl cho lần rửa 1
NaCl có ảnh hưởng đến độ chắc gel của
surimi (GS) như được trình bày trong hình 1. Khi
tăng nồng độ NaCl từ 0,1% lên 0,2% thì GS tăng
lên đáng kể (p < 0,05), từ 326 lên 379 g/cm. Tuy
nhiên, nếu tiếp tục tăng nồng độ NaCl thì GS
lại giảm. Giá trị GS ở nồng độ NaCl 0,5% giảm
chỉ còn 311 g/cm, giá trị này thì thấp đáng kể
(p < 0,05) so với giá trị của nó tại nồng độ muối
0,2%. Sử dụng NaCl trong công đoạn rửa có tác
dụng hai mặt. NaCl có thể làm tăng độ chắc của
gel nhưng đồng thời nếu sử dụng không hợp lý
có thể dẫn đến tác dụng ngược. Tác dụng hai
mặt của việc sử dụng NaCl trong công đoạn
rửa trong công nghệ sản xuất surimi đã được
đề cập đến bởi Park (2005). Tác dụng cải thiện
độ chắc của gel surimi có thể là do NaCl có tác
dụng làm tăng tính ổn định của protein. Công
đoạn rửa là một trong những công đoạn quan
trọng nhất trong công nghệ sản xuất surimi
nhằm loại bỏ các protein hòa tan mà chủ yếu là
sarcroplasmic. Sarcroplasmic là một loại protein
chiếm khoảng 23,5 % tổng số các protein trong
cơ thịt cá, có tác dụng cản trở quá trình tạo gel,
điều này dẫn đến làm giảm GS. Cũng theo Park
(2005) thì myofibrillar là protein sợi cơ có khả
năng hình thành mạng lưới gel ba chiều, chiếm
khoảng 70% tổng số protein trong thịt cá. Do đó,
công đoạn rửa nhằm giảm hàm lượng protein
hòa tan sarcroplasmic đồng thời làm tăng nồng
độ myofibrillar lên, dẫn đến cải thiện độ chắc của
gel surimi.
Khi tăng nồng độ NaCl trong nước rửa
lớn hơn 0,2%, ngoài việc giảm khả năng khử
sarcroplasmic còn làm giảm hiệu quả khử chất
béo. Các hạt mỡ và các phân tử sarcroplasmic
được giữ lại sẽ làm cản trở quá trình tạo gel cho
surimi. Do đó độ chắc gel surimi giảm. Từ kết
quả nghiên cứu này cho thấy sử dụng nồng độ
NaCl 0,02% có lẽ là một sự lựa chọn thích hợp
cho công đoạn rửa 1.
2. Xác định nồng độ a xít acetic cho lần rửa 2
Ảnh hưởng của nồng độ a xít acetic (AA)
lên độ chắc của gel như được thể hiện trong
hình 2. Khi nồng độ AA tăng từ 0,01% đến 0,05%
thì GS surimi sẽ giảm đáng kể (p < 0,05), từ 592
g.cm xuống còn 274 g.cm. Điều này có thể được
lý giải là do khi tăng nồng độ AA làm tăng các
nhóm cực tính, gây cắt mạch peptit, các liên kết
hydro cũng bị cắt mạch. Do đó, độ dài và liên kết
giữa các phân tử protein với nhau giảm, kết quả
làm GS giảm. Ngoài ra, khi tăng nồng độ AA làm
cho pH môi trường giảm xuống xa pH trung tính,
các phân tử protein bị rửa trôi vào nước càng
nhiều, làm giảm nồng độ myofibrillar trong thịt
cá, điều này cũng góp phần làm giảm GS. Trần
Thị Luyến (2004) đã báo cáo nồng độ AA thích
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
6 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Hình 1. Ảnh hưởng của nồng độ NaCl
đến độ chắc của gel surimi
Hình 2. Ảnh hưởng của nồng độ a xít acetic
đến độ chắc của gel surimi
hợp cho lần rửa 2 đối với cá biển (cá nhám, đỏ củ, mối và sơm thóc) dao động từ 0,007 - 0,008%.
Từ kết quả đạt được như được thể hiện trong hình 2, chúng tôi chọn nồng độ AA cho lần rửa 2 là
0,01% để tiến hành các thực nghiệm tiếp theo.
3. Xác định thời gian rửa
Ảnh hưởng của thời gian rửa đến độ chắc
gel của surimi được trình bày trong hình 3. Kết
quả nghiên cứu cho thấy thời gian rửa có ảnh
hưởng đáng kể (p < 0,05) đến GS của surimi.
Khi tăng thời gian rửa thì GS của gel tăng theo,
nhưng khi đến một giới hạn thời gian thì GS của
gel bắt đầu giảm. Khi tăng thời gian rửa từ 5
phút đến 20 phút, GS của gel tăng từ 467 g.cm
lên 616 g.cm, nhưng khi thời gian xử lý tăng
lên 25 phút thì GS của gel lại giảm xuống chỉ
còn 527 g.cm. Điều này có thể giải thích là khi
tăng thời gian rửa thì hàm lượng chất béo và
sarcroplasmic được loại bỏ càng nhiều, điều này
có thể dẫn đến làm tăng nồng độ protein trong
cơ thịt cá trong đó có myofibrillar. Sự tăng nồng
độ protein này sẽ góp phần làm tăng các liên
kết trong phân tử của các protein với nhau. Do
đó, độ chắc của gel tăng (Park, 2005). Nhưng
khi đến một giới hạn thời gian nhất định thì hàm
lượng chất béo và sarcroplasmic hòa tan vào
nước rửa không tăng lên nữa. Trái lại, lượng
myofibrillar có thể bị rửa trôi vào môi trường lại
tăng theo thời gian rửa, dẫn đến làm giảm các
liên kết phân tử giữa các protein. Vì vậy làm cho
độ chắc gel surimi giảm.
4. Xác định tỉ lệ thịt cá xay so với dung dịch
rửa
Ảnh hưởng của tỉ lệ dung dịch rửa so với
thịt cá xay (RV) đến độ chắc gel của surimi được
trình bày trong hình 4. Độ chắc gel của surimi
tăng cùng với sự tăng của tỉ lệ dung dịch rửa
so với thịt cá xay, nhưng đến một tỉ lệ nhất định,
nếu tiếp tục tăng tỉ lệ RV thì chẳng những GS
của gel không tăng mà lại có chiều hướng giảm.
Khi RV tăng thì 3:1 lên 7:1 thì GS của surimi
tăng lên đáng kể (p < 0,05), từ 458 g.cm lên 770
g.cm. Tuy nhiên, khi tăng tỉ lệ RV lên 8:1 thì GS
bắt đầu giảm xuống chỉ còn 473 g.cm.
Rửa là công đoạn cực kỳ quan trọng trong
công nghệ sản xuất surimi. Rửa nhằm loại bỏ
các sarcroplasmic, máu, chất béo, đạm và các
hợp chất khác từ thịt cá xay. Nhiều nghiên cứu
đã được thực hiện và kết quả chỉ ra rằng độ chắc
gel surimi được cải thiện vì rửa loại bỏ một số
thành phần gây trở ngại cho quá trình hình thành
gel như sarcroplasmic, chất béo và các tạp chất
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 7
5. Xác định thời gian ép tách nước
Ảnh hưởng của thời gian ép tách nước đến
hàm lượng ẩm còn lại của surimi như được trình
bày trong hình 5. Nhìn chung, hàm lượng ẩm
còn lại trong surimi giảm khi thời gian ép tăng.
Khi tăng thời gian ép từ 10 phút đến 35 phút,
hàm lượng ẩm còn lại trong surimi giảm đáng kể
(p < 0,05), từ 83,06% xuống còn 74,98%. Mục
tiêu của thực nghiệm là chọn được thời gian ép
thích hợp để đạt được độ ẩm còn lại trong surimi
trong khoảng (76 ± 1)%, đây là giá trị tiêu chuẩn
cho surimi của một số thị trường như Nhật Bản,
Hàn Quốc, Nga, Ucraina,… Dựa vào kết quả
nghiên cứu đạt được (hình 5), thời gian ép tách
nước 30 phút được xem xét lựa chọn như là thời
gian thích hợp để đạt được mục tiêu đặt ra.
6. Xác định tỷ lệ phối trộn phụ gia
Ảnh hưởng của đường và sorbitol đến độ
chắc của gel surimi sau cấp đông (0 ngày và
bảo quản đông 30 ngày) như được trình bày
trong hình 6. Nhìn chung, sử dụng kết hợp giữa
đường và sorbitol (SS) có tác dụng cải thiện độ
chắc của gel surimi so với mẫu đối chứng (mẫu
CT, không sử dụng đường và sorbitol, chỉ sử
dụng 0,3% phosphate). Tỉ lệ kết hợp giữa đường
và sorbitol ảnh hưởng đến độ chắc gel. Kết quả
nghiên cứu chỉ ra rằng ở tỉ lệ kết hợp giữa đường
và sorbitol là 4:4 (mẫu SS2) cho độ GS của
surimi là cao nhất 643 g.cm (0 ngày bảo quản)
và 620 g.cm (30 ngày bảo quản) so với các tỉ lệ
kết hợp khác. Kết quả cũng chỉ ra rằng khi tăng
tỉ lệ kết hợp giữa SS từ 7% lên 8%, có tác dụng
cải thiện GS của gel surimi, vượt quá giới hạn
này, có thể dẫn đến sự giảm GS gel của surimi.
Điều này có thể được giải thích là vì cả đường
và sorbitol là những chất chống biến tính cho
protein trong quá trình đông lạnh, sử dụng chúng
trong công nghệ surimi giúp ổn định và bảo vệ
tính chất chức năng của protein. Vì vậy, nếu sử
dụng ở một tỉ lệ thích hợp sẽ cải thiện được GS
của surimi (Park, 2005). Ngược lại, nếu sử dụng
quá mức, có thể sẽ gây tác dụng ngược, khi đó
cả đường và sorbitol lại đóng vai trò là những
chất hút và giữ nước làm cho hàm ẩm của
surimi tăng, điều này sẽ dẫn đến giảm GS. Từ
kết quả đạt được về ảnh hưởng của đường và
Hình 3. Ảnh hưởng của thời gian rửa
đến độ chắc của gel surimi
Hình 4. Ảnh hưởng của tỉ lệ dung dịch rửa/thịt cá
đến độ chắc của gel surimi
khác. Sự loại bỏ bớt protein dạng hòa tan góp phần làm tăng nồng độ myofibrillar, là một tác nhân
quan trọng để hình thành mạng lưới gel surimi trong thịt cá. Tuy nhiên, nếu tăng tỉ lệ RV cao quá có
thể sẽ dẫn đến những tác hại nhất định đến khả năng tạo gel vì rằng myofibrillar cũng sẽ bị rửa trôi
theo nước rửa, điều này dẫn đến giảm độ chắc của gel surimi (Võ Thanh Trực, 2010; Park, 2005).
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
8 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
sorbitol đến độ chắc của gel surimi, chúng tôi
chọn tỉ lệ kết hợp giữa đường và sorbitol là 4:4
(%) để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo.
7. Xác định điều kiện định hình
Ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ định
hình đến độ chắc của gel surimi được trình bày
trong hình 7. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng
mẫu surimi tiến hành định hình ở điều kiện nhiệt
độ phòng trong 2 giờ (SU2) có độ chắc của gel
thấp hơn đáng kể (p < 0,05) so với mẫu surimi
được định hình ở điều kiện lạnh dưới 5
0
C trong
24 giờ (SU24). Giá trị GS của mẫu SU2 chỉ là
588 g.cm, trong khi đó mẫu SU24 là 677 g.cm.
Sự khác biệt GS gel surimi của hai điều kiện định
hình khác nhau có thể được giải thích như sau:
ở điều kiện định hình lạnh sẽ xúc tiến việc hình
thành các liên kết nhằm làm bền mạng lưới gel
như liên kết hydro, liên kết ion,… Ngược lại, tiến
hành định hình ở điều kiện nhiệt độ phòng trong
thời gian 2 giờ có thể chưa đủ thời gian để các
liên kết có tác dụng làm bền mạng lưới gel diễn
ra một cách triệt để. Mặt khác, trong điều kiện
nhiệt độ phòng, một số enzyme nội tại trong sản
phẩm (hệ enzyme protease) có thể hoạt động và
điều này dẫn đến sự thủy phân, cắt mạch phân
tử protein. Tất cả những điều này sẽ dẫn đến
khả năng tạo gel của surimi sẽ giảm. Từ kết quả
nghiên cứu điều kiện định hình surimi, chúng tôi
chọn điều kiện định hình ở nhiệt độ lạnh trong
24 giờ.
Hình 5. Ảnh hưởng của thời ép tách nước đến độ
chắc của gel surimi
Hình 7. Ảnh hưởng của điều kiện định hình đến
độ chắc của gel surimi
Hình 6. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn phụ gia
đến độ chắc của gel surimi
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 9
8. Hoàn thiện quy trình sản xuất surimi từ cá
Mè hoa
Từ các kết quả thực nghiệm ở trên, chúng
tôi xác định các thông số chính của quy trình
công nghệ sản xuất surimi từ cá Mè hoa như
sau:
Công đoạn rửa 1: Sử dụng dung dịch NaCl
0,2%
Công đoạn rửa 2: Sử dụng dung dịch a xít
aceic 0,01%
Công đoạn rửa 3: Sử dụng nước thường
Thời gian mỗi lần rửa: 30 phút
Tỷ lệ dung dịch rửa so với thịt cá xay: 7/1
Thời gian ép tách nước: 20 phút
Tỷ lệ phối trộn phụ gia: đường 4%, sorbitol
4%, muối polyphosphate 0,3%
Định hình ở nhiệt độ: 0 - 5
o
C/24 giờ
9. Đánh giá chất lượng surimi cá Mè
Chất lượng của surimi được sản xuất theo
quy trình đã được xây dựng như được trình bày
trong bảng 1, 2 và 3. Các chỉ tiêu cảm quan của
surimi đều đáp ứng tiêu chuẩn cảm quan của
surimi cá biển theo 28 TCN 119:1998. Độ chắc
của gel và độ trắng của surimi cá Mè hoa có thể
thỏa mãn các yêu cầu về chất lượng surimi hạng
A đối với thị trường Nhật và Hàn Quốc.
Thành phần hóa học cua surimi cá Mè hoa
được sản xuất theo quy trình đã xây dựng được
liệt kê trong bảng 2. Kết quả cho thấy surimi chứa
ẩm 76,57%; tro 1%; ptorein 13,4%; chất béo
1,7% và gluxit 7,5%. Ở đây, thành phần gluxit có
mặt trong sản phẩm bởi vì trong quy trình công
nghệ có sử dụng đường và sorbitol như những
chất chống biến tính cho protein trong quá trình
cấp đông và trữ đông. Kết quả nghiên cứu cũng
chỉ ra rằng surimi cá Mè được sản xuất theo quy
trình trên chứa hàm lượng NH
3
25,8 mg/kg và
histamin 1,7 mg/kg. Sự hiện diện một lương nhỏ
histamin trong thành phần của surimi có lẽ là do
cơ thịt đỏ của thịt cá Mè trong quá trình chế biến
gây nên. Tuy nhiên, giá trị này rất thấp so với
giới hạn gây nguy hiểm đến sức khỏe con người
(thường 45 - 50 mg/Kg).
Bảng 3 trình bày kết quả phân tích các
chỉ tiêu vi sinh vật của surimi cá Mè được sản
xuất theo quy trình đã phát triển. Tổng vi sinh
vật hiếu khí là 5,3 × 10
5
Kl/g, giá trị này thì thấp
hơn so với mức cho phép (10
6
Kl/g). Chỉ tiêu
Coliforms là 4,6 × 10
4
Kl/g. Escherichia coli và
Staphylococcus aureus đều nằm dưới mức cho
phép rất nhiều. Salmonella, Vibrio cholerae,
Shigella và Listeria monocytogenes không phát
hiện trong tất cả các mẫu kiểm.
Bảng 1. Các chỉ tiêu cảm quan và vật lý của
surimi cá Mè hoa
Chỉ tiêu chất lượng Kết quả
Màu sắc Trắng
Mùi Không còn mùi tanh
của cá
Vị Ngọt nhẹ
pH 6,9 - 7,1
Tạp chất (theo
thang điểm 10)
10
Độ dẻo AA đến A
Độ chắc gel (g.cm) > 600
Độ trắng 74 - 76
Bảng 2. Thành phần hóa học
của surimi cá Mè hoa
Thành phần Hàm lượng (%)
Ẩm 76,6 ± 0,4
Tro 1,0 ± 0,1
Protein 13,4 ± 0,2
Chất béo 1,7 ± 0,2
Gluxit 7,5 ± 0,4
NH
3
(mg/kg) 25,8 ± 2,0
Histamin (mg/kg) 1,7 ± 0,4
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
10 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Bảng 3. Chỉ tiêu vi sinh vật của surimi cá Mè hoa
Chỉ tiêu Đơn vị Tiêu chuẩn cho phép Kết quả (CFU/g)
Tổng số vi sinh vật hiếu khí Kl/g 10
6
5,3 × 10
5
Coliforms Kl/g KQĐ 4,6 ×10
4
Escherichia coli Vi khuẩn/g 10
2
5
Staphylococcus aureus Kl/g 10
2
< 10
Salmonella Vi khuẩn/25g 0 KPH
Vibrio parahaemolyticus Vi khuẩn/g 10
2
KPH
Vibrio cholerae Vi khuẩn/25g KQĐ KPH
Shigella Vi khuẩn/25g KQĐ KPH
Listeria monocytogenes Vi khuẩn/25g KQĐ KPH
KQĐ: Không qui định, KPH: Không phát hiện
IV. KẾT LUẬN
Những thông số kỹ thuật quan trọng nhất của quy trình công nghệ sản xuất surimi từ cá Mè
hoa đã được xác định như sau: công đoạn rửa 1 sử dụng dung dịch NaCl 0,2%; rửa 2 sử dụng a xít
acetic 0,01%; rửa 3 dùng nước thường; thời gian cho mỗi lần rửa là 20 phút; tỉ lệ dung dịch rửa so
với thịt cá xay là 7:1; thời gian ép tách nước là 30 phút; phụ gia phối trộn gồm đường 4%, sorbitol
4%, muối polyphosphate 0,3%; định hình trong 24 giờ ở nhiệt độ lạnh 0 - 5
0
C. Với những thông số kỹ
thuật này, sản phẩm surimi được sản xuất ra có chất lượng tốt, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này là một phần của dự án: Phát triển sản phẩm giá trị gia tăng từ nguyên liệu thủy
sản nước ngọt. Cơ quan chủ trì Viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng. Mã số đề tài : 03/2009/HĐ-ĐT/
GTGT-CNN.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các phương pháp kiểm vi sinh vật theo TCVN 488:2005, 6848:2007, 6846:2007, 4830:2005, 4829:2005,
5287:1994, 7700-1:2007, 3349/QĐ-BYT/2001, ISO 21872-1:2007.
2. Dubois, M., Gilles, K.A., Hamilton, J.K., Rebers, P.A. and Smith, F, 1956. Colorimetric method for
determination of sugars and related substances. Anal. Chem., 28, pp. 350-356.
3. Helrich K, editor, 1990. Official Methods of Analysis of the Association of Official Analytical Chemists.
5th ed. Arlington, Va.: AOAC Inc.
4. FAO/WHO, WHO, 1973. Tech. Rep. Ser. No. 522, 118.
5. Folch J., Lees M., Sloane Stanley G.H., 1957. A simple method for the isolation and purification of total
lipids from animal tissues. Feferation Proc., 13, 209.
6. Nguyễn Thị Thục, 2000. Nghiên cứu sản xuất surimi cá Mè trắng và mô phỏng xúc xích thịt heo. Luận văn
thạc sĩ, Đại học Thủy sản Nha Trang.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 11
7. Park J., W., 2005. Surimi and Surimi Seafood, 2rd edition. CRC Press, pp. 673-675.
8. Phương pháp kiểm chỉ tiêu protein trong thực phẩm theo TCVN 4321-1 (1997).
9. Phương pháp kiểm hàm lượng NH
3
theo SMEWW 417B (1985). Viện Công nghệ sinh học và Môi trường,
Đại học Nha Trang.
10. Tiêu chuẩn ngành áp dụng cho surimi cá biển 28TCN119:1998.
11. Trần Thị Luyến, 2004. Công nghệ sản xuất surimi và các sản phẩm có nguồn gốc surimi. Hội thảo toàn
quốc về khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá, TP. Quy Nhơn, 8-9/12.
12. Trần Thị Luyến (2006). Nghiên cứu công nghệ chế biến surimi và các sản phẩm mô phỏng (giả ghẹ, giả
tôm) từ surimi. Đề tài nhánh cấp Nhà nước KC.06-15-NN-02.
13. Võ Thanh Trực (2010). Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất surimi từ cá Mè. Đồ án tốt
nghiệp đại học, Đại học Nha Trang.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
12 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
fHONG B/O KHO/ HOC
HIỆN TRẠNG NUÔI BÈ TẠI VÙNG BIỂN THÔN TÂN THÀNH,
XÃ NINH ÍCH, HUYỆN NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
CURRENT SITUATION OF RAFT CULTURE AT THE SEA AREA OF TAN THANH
VILLAGE, NINH ICH COMMUNE, NINH HOA DISTRICT, KHANH HOA PROVINCE
Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Văn Quỳnh Bôi
Khoa Nuôi trồng Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành tại thôn Tân Thành, xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa từ
tháng 3/2010 đến tháng 8/2010 theo phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural
Appraisal-PRA). Kết quả nghiên cứu cho thấy bè nuôi gồm các lồng nổi có diện tích trung bình 12.5m
2
với kí ch
thướ c mắ t lướ i giai đoạn ương giống 2a = 0,5 - 1,0cm, giai đoạn nuôi thương phẩm 2a = 2,0 - 4,0cm. Tổng số
lồng nuôi hiện có ở vùng biển là 403 lồng, trung bình số lồng nuôi/bè là 23 lồng. Tôm hùm (phổ biến là tôm
hùm bông) và cá giò là các đối tượng được nuôi chính với hình thức nuôi đơn. Nguồn thức ăn sử dụng chủ yếu
là cá tạp. Bệnh xuất hiện nhiều trên tôm hùm từ năm 2007 trở lại đây. Bệnh tôm sữa được xem là bệnh nguy
hiểm nhất xảy ra tại đây cho đến nay (tỷ lệ tử vong 80 - 90%). Sản lượng tôm hùm năm 2009 đạt khoảng 23.6kg
(năng suất bình quân trên lồng đạt 66.5kg). Lợi nhuận trung bình/lồng/vụ đạt 10.9 triệu VNĐ.
Từ khóa: tôm hùm, cá giò, cá tạp, bệnh tôm sữa, sản lượng tôm hùm.
ABSTRACT
The study is conducted at Tan Thanh village, Ninh Ich commune, Ninh Hoa district, Khanh Hoa
province from 3/2010 to 8/2010 appling method of Participatory Rural Appraisal (PRA). Result of the
study shows that farming raft consists of floating cases with average case area of 12.5m
2
and mesh-size of
2a = 0,5 - 1,0 cm for nursing period and 2a= 2,0 - 4,0 cm for fattening period. Total case amount is 403 cages
at the sea area now with average of 23 cages per raft. Spiny lobster (mainly Ornate spiny lobster) and cobia
are main cultured species with type of monoculture. Trash fish is major feed for cage culture. Disease occurs
mainly on lobster from 2007 till now. Milky disease is considered to be the most serious until now (mortality
rate of 80-90%). Yield of lobster was approximately 23,6 kg in 2009 (average of productivity per cage was 66,5
kg). The average profit was 10.9 millions VNĐ/cage/crop.
Keywords: Spiny lobster, cobia, trashfish, milky disease, yield of lobster farming.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tân Thành là một thôn ven biển thuộc xã
Ninh Ích, huyện Ninh Hòa nằm sát với cửa đầm
Nha Phu nên phần lớn sinh kế của người dân
dựa vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Do
có lợi thế của vùng cửa đầm như diện tích mặt
nước rộng, trao đổi nước đảm bảo và độ sâu
phù hợp nên nghề nuôi bè tại vùng biển thôn
Tân Thành ngày càng phát triển. Hoạt động nuôi
lồng đã bắt đầu phát triển tại vùng này từ năm
1996 và đang gia tăng trong khoảng 5 năm trở
lại đây (trung bình 16.6%/năm). Tuy nhiên, hiện
tại vẫn chưa có nghiên cứu nào được tiến hành
nhằm đánh giá hiện trạng hoạt động này. Xuất
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 13
phát từ thực tế trên, nghiên cứu được thực hiện
nhằm đánh giá “Hiện trạng nuôi bè tại vùng biển
thôn Tân Thành, xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa,
tỉnh Khánh Hòa” với các mục tiêu sau:
Tìm hiểu thông tin chung về người nuôi.
Thu thập thông tin về các biện pháp kỹ thuật
nuôi lồng.
Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của hoạt
động nuôi lồng.
Đánh giá xu hướng và khả năng phát triển
nghề nuôi bè tại địa phương.
Cấp xã: làm việc với phó chủ tịch Ủy ban
Nhân dân và trưởng ban kinh tế xã Ninh Ích.
Cấp thôn: làm việc với trưởng thôn và chủ
tịch hội nông dân thôn Tân Thành.
Việc tiếp cận tình hình hoạt động nuôi biển
tại thôn Tân Thành được tiến hành bằng cách
phỏng vấn trực tiếp người nuôi. Tỷ lệ số bè nuôi
được phỏng vấn trên 70%.
Số liệu nghiên cứu được phân tích theo
phương pháp thống kế sử dụng phần mềm
MS.Excel.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Thông tin chung về người nuôi
Trình độ học vấn của người nuôi được xem
là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sản lượng
nuôi. Trình độ học vấn trực tiếp tác động đến khả
năng tiếp thu và ứng dụng các kỹ thuật nuôi. Do
đó, nó ảnh hưởng gián tiếp đến năng suất cũng
như hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi bè.
Kết quả phỏng vấn 15 hộ nuôi bè cho thấy tuổi
trung bình của các chủ hộ nuôi là 43 dao động từ
28 - 61. Ở lứa tuổi này người nuôi đã tích lũy
được một số vốn nhất định để đầu tư và vẫn còn
đủ sức để thực hiện hoạt động sản xuất. Nghiên
cứu cũng cho thấy trình độ học vấn của người
nuôi không cao. Số chủ hộ có trình độ văn hóa
cấp I là 6 người (chiếm 40%), trình độ văn hóa
cấp cấp II là 6 người (chiếm 40%) và trình độ
văn hóa cấp III là 3 người (chiếm 20%). Kết quả
này phản ánh đúng với thực tế trình độ học vấn
của người nuôi tôm hùm tại các tỉnh ven biển
miền Trung khi đa phần các người nuôi có trình
độ học vấn dưới cấp III (chiếm 98%) theo khảo
sát của Ly (2009).
Về trình độ chuyên môn, đa số các chủ hộ
không được đào tạo kiến thức về nuôi trồng thủy
sản (chiếm 97%), chỉ có 1 chủ hộ đã từng tham
gia khóa sơ cấp 3 tháng về sản xuất tôm giống.
Do vậy, kỹ thuật nuôi áp dụng hiện tại chủ yếu
Hình 1. Sơ đồ vùng nghiên cứu
(Nguồn: http://edoc.hu-berlin.de/dissertationen/strehlow-
harry-vincent-2006-07-14/HTML/chapter5.html#N115D0.
Accessed 15/10/2010)
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện tại thôn Tân
Thành, xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa từ tháng
03/2010 đến tháng 08/2010 theo phương pháp
đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory
Rural Appraisal-PRA).
Thông tin ban đầu về hoạt động nuôi bè
tại vùng biển thôn Tân Thành được thu thập ở
nhiều mức độ khác nhau:
Cấp huyện: làm việc với các cán bộ phòng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện
Ninh Hòa.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
14 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Bảng 1. Các đối tượng nuôi bè tại vùng biển Tân Thành (n = 15)
STT Đối tượng nuôi Tỷ lệ hộ nuôi (%)
1 Tôm hùm bông (Panulirus ornatus) 60.0
2 Tôm hùm tre (Panulirus polyphagus) 33.3
3 Tôm hùm xanh (Panulirus homarus) 26.7
4 Tôm hùm đỏ (Panulirus longipes) 13.3
5 Cá giò (Rachycentron canadum) 80,0
6 Cá mú (Epinephelus spp) 46.7
7 Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii )
*
13.3
Ghi chú:
*
: Nuôi thử nghiệm từ năm 2010
2.2. Địa điểm nuôi
Vị trí đặt bè nuôi có ý nghĩa lớn đến năng
suất và sản lượng nuôi. Các bè nuôi ở đây tập
trung tại một khu vực cách hòn Lăng, hòn Rớ
khoảng 50m. Bè được đặt ở vùng biển có độ sâu
lớn hơn 6m. Theo đánh giá của người nuôi, đây
là vùng biển có độ sâu và dòng chảy phù hợp
cho hoạt động nuôi bè. Được chắn bởi hòn Thị
nên ảnh hưởng đến vùng này vào mùa mưa bão
không quá lớn (Hình 2).
2.3. Con giống
Nguồn giống tôm hùm và cá biển chủ yếu
được lấy từ nguồn đánh bắt tại địa phương. Riêng giống cá biển có thể được lấy từ địa phương khác
như Lương Sơn, Ba Làng hay Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III. Trong năm 2010, nguồn giống
tôm hùm khan hiếm và giá cao nên một số hộ chuyển sang nuôi cá giò. Theo đánh giá cảm quan của
người nuôi, chất lượng giống tôm hùm tương đối tốt (màu sắc tươi sáng, không bị xây xát, đầy đủ
các phần phụ) do giống được thu trực tiếp tại địa phương nên không trải qua quá trình vận chuyển.
Ngược lại, chất lượng và số lượng giống cá biển (cá mú, cá giò) thường không ổn định do nguồn
cung cấp giống không đồng bộ (được mua rải rác từ nhiều nguồn khác nhau).
từ việc học hỏi lẫn nhau và từ kinh nghiệm của
các người nuôi tại các vùng nuôi khác. Thời gian
tham gia nuôi bè trung bình của người nuôi là 5
năm dao động từ 1 - 15 năm. So với thời gian
trung bình tham gia nuôi bè tại các vùng nuôi
khác tại các tỉnh ven biển miền Trung (8.33 năm)
và tại Khánh Hòa (10 năm) thì kinh nghiệm trong
nghề nuôi bè của các hộ tại Tân Thành là thấp
hơn đáng kể (Ly, 2009).
2. Các biện pháp kỹ thuật nuôi lồng
2.1 Đối tượng nuôi
Đối tượng nuôi bè chủ yếu là cá giò (80%)
và tôm hùm bông (60%) bên cạnh các đối tượng
khác như: tôm hùm tre, tôm hùm xanh, tôm hùm
đỏ, cá mú và cá chim vây vàng (Bảng 1).
Hình 2. Vị trí đặt bè nuôi
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 15
Việc chọn giống chủ yếu dựa theo kinh nghiệm không qua bất kỳ hình thức kiểm dịch nào nên
người nuôi không kiểm soát được nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh từ con giống vào đối tượng nuôi tạo
cơ hội cho dịch bệnh xảy ra.
Trên thực tế, các hộ có nuôi tôm hùm chọn nuôi từ giai đoạn giống (trọng lượng > 100g) đến
kích thước thương phẩm (> 700g), rất ít hộ ương tôm từ giai đoạn hậu ấu trùng (Puerulus) đến giai
đoạn giống. Đối với các hộ nuôi cá, kích thước thả giống từ 10 - 12cm.
2.4. Lồng nuôi
Lồng nuôi gồm các lồng nổi. Lưới lồng thường được chống đỡ bằng khung và phao. Khung
lồng được làm bằng gỗ chịu mặn. Số lồng nuôi toàn vùng là 403. Số lồng nuôi/bè từ 9 - 77 lồng
(trung bình 23 lồng/bè). Số hộ nuôi có từ 30 - 40 lồng chiếm đa số (66,4%) (Bảng 2). Diện tích lồng
dao động từ 9 - 16m
2
(trung bình 12.5m
2
). Nhìn chung, quy mô nuôi tại đây lớn hơn so với mặt bằng
chung ở những vùng nuôi khác tại các tỉnh ven biển miền Trung là 16 lồng/bè với diện tích trung bình
11.4m
2
(Ly, 2009).
Bảng 2. Thông tin bè nuôi của các hộ phỏng vấn (n=15)
Số lồng/bè Tổng số bè Diện tích trung bình/lồng (m
2
) Tỷ lệ (%)
< 10 1 14.0 6.7
15 - 20 4 10.8 20.0
30 - 40 9 11.2 66.4
> 40 1 14.0 6.7
Có thể phân chia hoạt động nuôi tại khu vực
nghiên cứu thành 2 giai đoạn chính. Giai đoạn
“ương” từ con non đến giai đoạn giống với kích
thước mắt lưới 2a = 0,5 - 1,0cm, giai đoạn nuôi
thương phẩm với kích thước 2a = 2,0 - 4,0 cm.
Trên thực tế, phụ thuộc nhiều yếu tố, đặc biệt là
năng lực quản lý, mỗi hộ thực hiện một tiến trình
nuôi khác nhau qua nhiều giai đoạn đòi hỏi sự
thay đổi mật độ thả nuôi, kích thước lưới và kích
thước mắt lưới.
2.5. Thời gian nuôi
Thông thường mùa vụ thả giống tôm bắt
đầu từ tháng 12. Thời gian nuôi tôm hùm (chỉ
tính cho tôm hùm bông) đến kích cỡ thương
phẩm trung bình là 19 tháng kéo dài hơn so với
các vùng nuôi khác tại các tỉnh miền Trung là 16
tháng (Ly, 2009). Đối với cá, thả giống rải rác
quanh năm với thời gian nuôi cá mú 12 tháng và
cá giò là 10 tháng.
2.6. Thức ăn
Tương tự các vùng nuôi tôm hùm khác tại
Việt Nam, thức ăn sử dụng trong nuôi bè chủ
yếu tại vùng biển Tân Thành là cá tạp, giáp xác
và nhuyễn thể (Tuấn, 2004; Tuan & Mao, 2004;
Nha, 2006; Hung và cộng sự, 2008, Ly, 2009).
Cá tạp bao gồm cá liệt (ponyfish), cá sơn (red
big-eye), cá mối (lizardfish), cá hố (hairtail) và
cá cơm (anchovy), kết hợp với các loài giáp
xác như cua (crabs), ghẹ (swimming crab), và
một lượng ít nhuyễn thể như sò (cockles), hàu
(oyster), vẹm xanh (green mussel). Từ năm
2010, một số hộ đã sử dụng thức ăn viên trong
nuôi cá giò giai đoạn giống tuy nhiên số lượng
này chiếm tỷ lệ không cao (6.7%). Thức ăn được
cho ăn nguyên con hay băm nhỏ tùy theo giai
đoạn phát triển của đối tượng nuôi và kích cỡ
thức ăn.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
16 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Nguồn cung cấp thức ăn chủ yếu dựa vào khai thác tại địa phương và các vùng biển lân cận.
Tuy nhiên với số lượng bè gia tăng hiện nay, một số hộ phải hợp đồng mua phế liệu từ các nhà máy
đông lạnh để đáp ứng nhu cầu. Theo đánh giá của người nuôi, chất lượng thức ăn tương đối tốt tuy
nhiên nguồn cung cấp thức ăn không ổn định dẫn đến việc giá tăng cao khi số lượng không đủ đáp
ứng, đặc biệt vào mùa mưa bão.
Tôm hùm và cá biển được cho ăn 2 lần/ngày (lần 1: 7 - 8h sáng, lần 2: 3 - 4h chiều). Lượng
thức ăn lần 1 chiếm 30% và lần 2 chiếm 70% tổng lượng thức ăn. Khi cho ăn thức ăn được rải đều
quanh lồng hay vào một vị trí nhất định.
Trong nuôi lồng biển sử dụng cá tạp với FCR cao (20 - 30) là nguyên nhân gây ra một số vấn
đề về chất lượng nước như tổng hàm lượng nitơ trong nước biển đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép
trong nuôi trồng thủy sản (0.5mg/L) tại một vài khu vực nuôi tôm hùm lồng thuộc vùng biển Xuân Tự,
Khánh Hòa (Tuấn, 2004; Hung và cộng sự, 2008). Đồng thời sử dụng cá tạp cũng là nguyên nhân
tạo cơ hội tốt cho các tác nhân gây bệnh phát triển mà điển hình là dịch bệnh “tôm sữa” xảy ra cuối
năm 2006 đầu năm 2007 gây thiệt hại lớn cho các hộ nuôi tại các tỉnh ven biển miền Trung (Hung và
cộng sự, 2008). Các vấn đề này cho thấy việc sử dụng cá tạp là nguồn thức ăn chủ yếu sẽ gây ảnh
hưởng bất lợi đến môi trường nước tạo cơ hội xảy ra dịch bệnh. Điều này sẽ không đảm bảo nghề
nuôi bè phát triển lâu dài.
Hình 3. Khu vực bè nuôi Hình 4. Chuẩn bị cá tạp làm thức ăn
2.7. Tình hình dịch bệnh của các đối tượng
nuôi
Qua điều tra cho thấy bệnh chủ yếu xuất
hiện trên tôm hùm, cá biển ít xuất hiện bệnh.
Bệnh tôm hùm bắt đầu xảy ra nhiều từ năm
2007 trở lại đây. Các bệnh thường gặp là bệnh
tôm sữa, bệnh đen mang, bệnh đỏ thân, bệnh
mòn đuôi và bệnh long đầu (Bảng 3). Trong đó
bệnh tôm sữa là bệnh nguy hiểm nhất xảy ra
tại đây (tỷ lệ gây chết 80 - 90%). Theo Hung và
cộng sự (2008) bệnh này được xem là loại bệnh
nghiêm trọng nhất gặp phải đối với nghề nuôi
tôm hùm lồng và là nguyên nhân làm giảm đáng
kể sản lượng tôm hùm từ 1.900 tấn năm 2006
xuống còn 1.400 tấn năm 2007 tại các tỉnh ven
biển miền Trung. Mặc dù, đã có pháp đồ điều trị
từ năm 2007 nhưng thực tế tại vùng biển Tân
Thành các hộ nuôi không áp dụng phương pháp
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 17
này để phòng và trị bệnh tôm sữa mà nguyên nhân do đa phần người nuôi chủ yếu dựa theo kinh
nghiệm để xử lý bệnh. Đối với các bệnh tôm hùm hầu hết người nuôi đều chưa có phương pháp
trị riêng cho từng loại bệnh. Khi tôm bị một trong các loại bệnh trên người nuôi thường sử dụng
thuốc đường ruột kết hợp thuốc bổ của người (Oxytetracylin, B-Enro, Cotrim, Tetracylin) cùng với
vitamin C để trị bệnh. Theo kết quả phỏng vấn, phương pháp trị bệnh này chỉ có hiệu quả phòng
bệnh cho những cá thể chưa bị bệnh (hiệu quả phòng bệnh 70 - 90%) còn các cá thể bị bệnh thì
không có hiệu quả (tỷ lệ chết 100%).
Bảng 3: Một số bệnh thường gặp trên tôm hùm nuôi tại vùng biển Tân Thành (n=15)
Loại bệnh
Giai đoạn tôm
bị bệnh
Dấu hiệu bệnh lý trên tôm nuôi Mức độ ảnh hưởng
Tỷ lệ bè nuôi
nhiễm bệnh (%)
Tôm sữa Tôm con, tôm
trưởng thành
Bụng tôm có màu trắng sữa,
tách bầy, tôm phản xạ chậm.
Gây chết rải rác
đến hàng loạt
100
Đen mang Tôm con, tôm
trưởng thành
Mang tôm thối rữa và có màu
nâu ở vùng bị tổn thương.
Gây chết rải rác
đến hàng loạt
20.0
Đỏ thân Tôm con, tôm
trưởng thành
Đỏ vùng giáp đầu ngực hay
vùng bụng sau đó màu đỏ lan
dần toàn thân tôm.
Gây chết rải rác
đến hàng loạt 40.0
Long đầu Tôm con, tôm
trưởng thành
Phần giáp đầu ngực và phần
thân long ra, có chất dịch bên
trong khu vực này
Gây chết rải rác
đến hàng loạt 6.7
Mòn đuôi Tôm con, tôm
trưởng thành
Đuôi tôm bị ăn mòn, bệnh
nặng đuôi có thể bị cụt
Gây chết rải rác
13.3
Ghi chú: - Tôm con: kích thước từ 3 - 7cm (theo cách xác định của người nuôi).
- Tôm trưởng thành: khối lượng > 0,5kg (theo cách xác định của người nuôi).
Tương tự như ở các vùng nuôi khác, việc
gia tăng bệnh trên tôm hùm vùng biển Tân Thành
có thể do sự gia tăng số lượng lồng nuôi, mật
độ lồng nuôi quá cao dẫn đến môi trường nước
kém chất lượng tạo cơ hội cho dịch bệnh xảy
ra (Hung và cộng sự, 2008). Điều này cho thấy,
do chưa có quy hoạch vùng nuôi cũng như hình
thức quản lý phù hợp nên người nuôi không thể
kiểm soát được dịch bệnh xảy ra.
3. Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của hoạt
động nuôi lồng
Qua điều tra cho thấy, đa số người nuôi chỉ
thống kê kinh tế cho nuôi tôm hùm. Ngược lại,
họ không thống kê số liệu đối với cá biển do cá
biển được thu hoạch theo từng đợt rải rác. Chỉ
tính riêng năm 2009, sản lượng tôm hùm của
các hộ nuôi đạt được khoảng 23.600kg (năng
suất bình quân 66.5 kg/lồng) với giá bán tại bè
780.000 VNĐ/kg. So với giá thành sản xuất là
630.000 VNĐ/kg thì đa số các hộ nuôi đều có
lãi với mức lợi nhuận đạt 10.9 triệu VNĐ/lồng
(Bảng 4). Như vậy, hoạt động nuôi bè đã đem
lại mức lợi nhuận không nhỏ cho các hộ nuôi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các hộ nuôi
đều có lãi và không có trường hợp nào bị thua
lỗ.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
18 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
4. Đánh giá xu hướng và khả năng phát triển
nghề nuôi bè tại vùng biển Tân Thành
Do nguồn giống tôm hùm khan hiếm, giá
cao cộng với tình hình dịch bệnh gia tăng như
hiện nay nên một số hộ đang có xu hướng
chuyển sang nuôi cá giò với chi phí thấp, thời
gian nuôi ngắn (10 tháng), tốc độ sinh trưởng
nhanh cũng như khả năng chống chịu với điều
kiện môi trường tốt hơn so với tôm hùm.
So với các hoạt động thủy sản khác như
nuôi tôm sú bán thâm canh hay khai thác thủy
sản thì nghề nuôi bè (tôm hùm, cá giò) có lợi
thế hơn về sức hấp dẫn tài chính và kinh tế - xã
hội (Hambrey và cộng sự, 2001). Thực tế cho
thấy, lợi nhuận đem lại từ nghề nuôi bè tại đây là
không nhỏ nên hoạt động này tại vùng biển Tân
Thành đã và đang gia tăng nhanh chóng, trung
bình 16.6%/năm trong 5 năm trở lại đây. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, sự gia tăng này mang tính
tự phát không theo quy hoạch. Bên cạnh đó, cơ
chế quản lý không rõ ràng và không có cơ quan
chịu trách nhiệm quản lý cụ thể hoạt động này.
Vì vậy, điều cần thiết hiện nay là cần có các biện
pháp quản lý hoạt động nuôi bè thích hợp.
Như đã đề cập ở trên, với hiện trạng phát
triển nghề nuôi bè hiện nay tại vùng biển thôn
Tân Thành, cần thiết phải có các đánh giá chi
tiết hơn về hiện trạng nuôi tại đây để duy trì hoạt
động này phát triển lâu dài. Đồng thời, cần đánh
giá sức tải môi trường của vùng biển để xác định
khả năng phát triển nghề nuôi bè trong giới hạn
cho phép.
IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Các kết quả nghiên cứu ban đầu cho phép
đưa đến một số kết luận và đề xuất về hiện trạng
nuôi bè tại vùng biển thôn Tân Thành, xã Ninh
Ích, huyện Ninh Hòa như sau:
1. Kết luận
- Trình độ học vấn của người nuôi không
cao và hầu như không có trình độ chuyên môn.
Kỹ thuật nuôi áp dụng hiện tại chủ yếu từ việc
học hỏi lẫn nhau và từ kinh nghiệm của các vùng
nuôi khác.
- Cá giò và tôm hùm bông là hai đối tượng
được nuôi nhiều nhất (với tỷ lệ tương ứng 80%
và 60%) bên cạnh các đối tượng khác như: tôm
hùm tre, tôm hùm xanh, tôm hùm đỏ, cá mú và
cá chim vây vàng. Hình thức nuôi chủ yếu tại
đây là nuôi đơn từng đối tượng.
- Lồng nuôi bao gồm các lồng nổi có kích cỡ
trung bình 12.5m
2
. Số lồng nuôi toàn vùng là 403
với số lồng nuôi/bè trung bình là 23.
- Nguồn giống tôm hùm được lấy tại địa
Bảng 4. Một số chỉ tiêu kinh tế tính trên 12.5m
2
lồng nuôi tôm hùm (n=15)
Chỉ tiêu Đơn vị tính Giá trị
Diện tích trung bình lồng m
2
12.50
Chi phí đầu tư trung bình/lồng triệu VNĐ 6.00
Chi phí sản xuất trung bình/lồng/vụ triệu VNĐ 44.40
Sản lượng trung bình/lồng/vụ Kg 66.50
Giá thành sản xuất bình quân triệu VNĐ 0.63
Giá bán bình quân tại bè triệu VNĐ 0.78
Doanh thu trung bình lồng/vụ triệu VNĐ 55.30
Lợi nhuân trung bình lồng/vụ triệu VNĐ 10.90
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 19
phương, giống cá biển được cung cấp từ các
địa ph ương khác. Kích cỡ thả giống tôm hùm
từ 100g trở lên, kích thước thả giống cá biển từ
10 - 12cm. Người nuôi chỉ đánh giá chất lượng
con giống theo kinh nghiệm của bản thân và
không thực hiện bất kỳ hình thức kiểm dịch nào.
- Mùa vụ thả giống tôm hùm bắt đầu từ
tháng 12 với thời gian nuôi kéo dài 19 tháng. Đối
với cá biển, giống được thả nuôi rải rác quanh
năm với thời gian nuôi cá mú 12 tháng và cá giò
là 10 tháng.
- Thức ăn được sử dụng chủ yếu là cá tạp,
được cho ăn 2 lần/ngày. Khi cho ăn thức ăn được
rải đều quanh lồng hay vào một vị trí nhất định.
- Bệnh xuất hiện chủ yếu trên tôm hùm từ
năm 2007, cá biển ít xuất hiện bệnh. Người nuôi
chủ yếu trị bệnh dựa trên kinh nghiệm của bản
thân.
- Sản lượng tôm hùm của các hộ nuôi đạt
được trong năm 2009 khoảng 23.600kg (năng
suất trung bình 66.5 kg/lồng). Đa số các hộ nuôi
đều có lãi với mức lợi nhuận bình quân đạt 10.9
triệu VNĐ/lồng.
2. Khuyến nghị
- Cần có các lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi
lồng cho người nuôi đặc biệt là kỹ thuật phòng trị
bệnh trên tôm hùm.
- Cần có các nghiên cứu chi tiết hơn về
đánh giá tác động của hoạt động nuôi lồng đến
khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường nhằm
đảm bảo việc phát triển lâu dài hoạt động nuôi
lồng tại đây.
- Cần thiết đánh giá sức tải môi trường của
vùng biển nhằm xác định giới hạn cho phép việc
phát triển nuôi bè.
- Để bảo đảm nghề nuôi bè phát triển lâu dài
cần quy hoạch vùng nuôi đồng thời cần có hình
thức quản lý thích hợp đối với hoạt động này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Anh Tuấn, 2004. Các nguồn dinh dưỡng và vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động nuôi tôm hùm
lồng ở Xuân Tự, Vạn Ninh, Khánh Hòa. Tuyển tập Hội thảo toàn quốc về nghiên cứu ứng dụng khoa học
công nghệ trong nuôi trồng thủy sản 22 - 23/12/2004 tại Vũng Tàu, tr 643-653.
2. Võ Văn Nha, 2006. Kỹ thuật nuôi tôm hùm lồng và các biện pháp phòng trị bệnh. NXB Nông Nghiệp,
Hà Nội.
3. Hambrey, J.B., Le, A.T., and Ta, K.T., 2001. Aquaculture and poverty alleviation II. Cage culture in coastal
waters of Vietnam. [Accessed 20/10/2010].
4. Hung, L.V. and Tuan, L.A., 2008. Lobster seacage culture in Vietnam. In “Spiny lobster aquaculture
in the Asia-Pacific region: Proceedings of an international symposium held at Nha Trang, Vietnam,
9 - 10 December 2008”, ed. by K.C. Williams. ACIAR Proceedings No. 132. Australian Centre for
International Agricultural Research: Canberra. 162 pp.
5. Ly, N.T.Y., 2009. Economic analysis of the environmental impact on marine cage lobster aquaculture
in Vietnam. Master Thesis in Fisheries and Aquaculture Management and Economics. The Norwegian
College of Fishery Science University of Tromso, Norway & Nha Trang University, Vietnam.
6. Tuan, L.A. and Mao, N.D., 2004. Present status of lobster cage culture in Vietnam. Proceeding of the
ACIAR lobster ecology workshop, p24-30. Institute of Oceanography, Nha Trang, Vietnam.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
20 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
fHONG B/O KHO/ HOC
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHÀ RẠO
XÃ NHƠN LÝ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
RESEARCHING FOR BUILING THE MODEL OF FISH AGGREGATING (FADS)
DEVICES AT NHON LY COMMUNE, BINH DINH PROVINCE
Hoàng Văn Tính, Phạm Văn Thông
Khoa Khai thác - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nghề khai thác cá kết hợp chà rạo ở vùng biển ven bờ xã Nhơn Lý đã thất
truyền khoảng 20 năm; ngư dân có nguyện vọng tìm lại nghề truyền thống nhằm khôi phục lại nguồn lợi vùng
biển ven bờ tại địa phương.
Nhóm nghiên cứu đã xây dựng mô hình chà xã Nhơn Lý phù hợp với yêu cầu Dự án FSPS II BĐ của tỉnh
Bình Định và sự đồng thuận của ngư dân địa phương.
Sau 3 tháng thả chà tổ Quản lý chà đã khai thác được 453kg mực và 5700kg (cá trác, cá ngân, cá cam,
cá giò, cá nục, cá nhồng, cá róc…) tại chà. Đây là các loài hải sản ngư dân đã không khai thác được tại vùng
biển khu vực thả chà từ lâu.
Hình thành được mô hình ngư dân tự quản lý nguồn lợi và diện tích mặt nước ở vùng biển ven bờ để
khai thác bằng một số nghề kết hợp với chà rạo.
Hình thành được sự liên kết giữa ngành Thủy sản và Dịch vụ du lịch. Địa phương đã có thu nhập từ
dịch vụ du lịch câu cá giải trí tại chà.
Từ khóa: Mô hình chà rạo, cộng đồng ngư dân, nguồn lợi ven bờ
ABSTRACT
The research shows that the combination between fish exploiting and Fish Aggregating Devices (FADS)
has lost about 20 years at coastal waters at Nhon Ly, the fisherman desires to restore Inshore reources at local
now.
The research group built the model of Fish Aggregating Devices (FADS) at Nhon Ly. It is suitable for
the requirements of FSPS II project of Binh Dinh province and local people ‘s agreements.
Fish Aggregating Devices has been done after 3 months, the management exploited 453kg Sepioteuthis
lessoniana and 5700kg fish including: Priacanthus, Atule mate, Naucrates ductor, Rachycentron canadum,
Decapterus maruadsi, Sphyraena… These seafood hasn’t been exploited for a long time.
Forming model fisherman to manage reources and inshore sea area to exploit with the comination
between some fishing farmings and Fish Aggregating Devices.
Forming the connection between Fishery and Tourist at local. Nhon Ly gets income thanks to fishing
tourism at Fish Aggregating Devices.
Keywords: Model of fish aggregating devices, Fisheries communities, Inshore fisheries resources
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 21
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nghề cá, chà được sử dụng để tập
trung, tạo nơi trú ẩn, kiếm ăn, sinh sản cho cá
và các loài thủy sản khác. Từ lâu, chà được sử
dụng để khai thác cá trong các vùng nước nội
địa như sông, hồ, đầm, phá.
Hiện nay, chà được nhiều quốc gia trên thế
giới sử dụng kết hợp với nhiều loại ngư cụ để
khai thác cá ở vùng biển ven bờ và xa bờ. Có 2
loại: chà cố định và chà di động (Hình 1).
Chà cố định: cố định tại một vị trí trong thời
gian dài.
Mục đích: tập trung cá, làm nơi cư trú, kiếm
ăn, sinh sản cho các loài cá.
Hàng năm, bổ sung vật liệu và thiết bị cần
thiết để giữ cố định chà và tăng mật độ cá tập
trung tại chà.
Hình 1. Mô hình chà biển
Chà di động: mục đích chính là tập trung
cá trong một chu kỳ khai thác (mẻ lưới). Kết
thúc chu kỳ khai thác, chà được di chuyển đến
vị trí khác. Trong thời gian tập trung cá, chà di
chuyển với tốc độ hợp lý đạt được hiệu quả
khai thác.
Các nước Anh, Mỹ sử dụng chà kết hợp
lưới vây khai thác cá ngừ đại dương.
Philippin, Indonixia, sử dụng chà cố định
kết hợp lưới vây khai thác cá ngừ vây vàng.
Ấn Độ, sử dụng chà cố định và chà di động
để khai thác cá ngừ. Chà di động sử dụng
khai thác ở vùng biển đại dương có độ sâu
500m, chà cố định sử dụng khai thác ở độ sâu
30 - 100m…
Ở Việt Nam, từ lâu chà được sử dụng để
khai thác cá nước ngọt. Hiện nay, chà đang
được sử dụng kết hợp với nhiều loại ngư cụ
như câu, lưới mành, lưới vây để khai thác cá
biển.
Các tỉnh Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu,
Bến Tre, Tiền Giang… sử dụng chà kết hợp với
lưới vây ánh sáng khai thác cá ở vùng biển xa
bờ.
Bình Định là một trong số các địa phương
ven biển miền Trung sử dụng chà kết hợp với
nghề mành, câu, vây.
Xã Nhơn Lý là một trong những địa phương
của tỉnh Bình Định sử dụng chà từ lâu vào nghề
cá. Tuy nhiên, hiện nay nghề chà xã Nhơn Lý
đã bị thất truyền. Khôi phục lại nghề chà Nhơn
Lý là một việc cần làm vì tìm lại nghề truyền
thống của địa phương và mang lại hiệu quả
thiết thực.
Mục đích của nghiên cứu nhằm khôi phục
lại nguồn lợi vùng biển ven bờ xã Nhơn Lý
để ngư dân khai thác được bằng nghề chà
rạo. Từ mô hình nghiên cứu có thể nhân rộng
những địa phương khác trong tỉnh nhằm góp
phần tái tạo và bảo vệ nguồn lợi và hệ sinh thái
vùng bờ.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
22 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
1. Cách tiếp cận: Dựa vào các công bố khoa
học trong và ngoài nước để tìm hiểu mẫu chà,
phân tích kết hợp với mẫu chà truyền thống của
địa phương được phục dựng lại qua phỏng vấn
hồi cố làm cơ sở xây dựng chà mô hình.
2. Xây dựng phiếu điều tra: Với các thông tin
cần tìm hiểu liên quan đến nội dung nghiên cứu
như: kinh tế xã hội nghề cá địa phương, đặc
điểm nghề cá địa phương, hiện trạng nghề chà
rạo địa phương, đặc điểm khu vực thả chà, kiểu
chà, kết cấu chà, loại nghề khai thác kết hợp với
chà rạo, nguyên nhân thất truyền nghề chà rạo
tại địa phương, nguyện vọng của ngư dân đối
với nghề chà.
3. Phương pháp điều tra: Phỏng vấn hồi cố;
phỏng vấn kết hợp khảo sát trực tiếp; điều tra
nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng.
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6/2010 -
11/2010
4. Chọn kiểu chà, cấu trúc và khu vực thả
chà [1]
Kiểu chà, cấu trúc và khu vực thả chà được
chọn dựa vào kết quả khảo sát tại vùng biển khu
vực thả chà, đồng thời phù hợp số tham chiếu:
FSPS II BĐ/SCAFI/2010/3.7.6 của dự án và mục
tiêu của vấn đề nghiên cứu, thể hiện qua các nội
dung: phù hợp với đặc điểm nghề cá địa phương,
điều kiện môi trường khu vực thả chà; khả năng
tập trung và bảo tồn nguồn lợi vùng bờ; vật liệu
làm chà sẵn có tại địa phương; điều kiện sinh
hoạt cho tổ quản lý và bảo vệ chà; kết hợp giữa
Thủy sản và Dịch vụ du lịch; thời gian sử dụng
lâu; chi phí đầu tư thấp.
Hình 2. Điều tra tìm hiểu chà
Kết quả điều tra cho thấy, khu vực thả chà
trước đây của xã Nhơn Lý được giới hạn bởi
các hòn đảo: hòn Đài Di, mũi hòn Đụng (xã Cát
Chính); hòn Giữa, Vũng Nồm, Vũng Bấc (Nhơn
lý) và được chia thành 3 vùng: chà Đằm, chà
Giữa và chà Cao, có độ sâu từ 15 - 40m. Trong
đó bãi chà Đằm và chà Giữa mật độ cá tập trung
cao hơn nhiều so với bãi chà Cao.
5. Chọn mẫu chà và phân tích
5.1. Đặc điểm về nghề cá xã Nhơn Lý [1]
Nhơn Lý là xã bãi ngang nằm trong vùng
bán đảo Phương Mai về hướng Đông Bắc cách
trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 22km.
Dân cư được quy hoạch sinh sống tập trung
thành từng cụm, thôn chủ yếu giáp 3 mặt biển
để thuận lợi cho việc hành nghề, quanh năm
thường bị ảnh hưởng của thời tiết nhất là khi
thời tiết có biến đổi.
Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của xã.
Giá trị sản xuất năm 2009 của ngành Thủy sản
gấp 1,27 lần giá trị sản xuất của ngành Dịch vụ
và 6,47 lần ngành Công nghiệp và Tiểu thủ công
nghiệp (Hình 3).
Nghề cá xã Nhơn Lý có quy mô nhỏ. Tổng
số tàu cá của xã có 373 chiếc, tổng công suất:
6945 cv, bình quân: 18,62 cv/tàu. Tàu có công
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 23
suất lớn nhất là 80 cv; số tàu công suất từ 50 cv
trở lên có 7 chiếc. Cơ cấu đội tàu cá xã Nhơn Lý
thể hiện trên hình 4.
Mùa vụ khai thác: hoạt động khai thác hải
sản tại xã Nhơn Lý có hai vụ chính:
- Vụ cá Bắc: từ tháng giêng đến tháng 4 âm
lịch.
- Vụ cá Nam: từ tháng 5 đến tháng 9 âm
lịch.
Thời gian từ cuối tháng 9 đến tháng 12
thường có bão, nên hầu hết các nghề không
tham gia hoạt động khai thác trừ một số ít nghề
lưới cước hoạt động gần bờ.
5.2. Nghề khai thác cá kết hợp chà rạo xã Nhơn
Lý [1]
5.2.1. Nghề khai thác, đối tượng và mùa vụ khai
thác
Trước đây, các nghề khai thác cá có sử
dụng chà rạo gồm: mành chiếc (chủ yếu), câu,
khai thác vào ban ngày khi cá đứng chà. Nghề
mành chiếc kết hợp chà rạo cho sản lượng khai
thác cao nhất trong tất cả các nghề khai thác cá
ở xã Nhơn Lý. Hiện nay, nghề mành và câu cũng
là hai nghề có số lượng tàu cá chiếm tỷ lệ lớn ở
xã Nhơn Lý.
Đối tượng khai thác: Các loài cá khai thác
được từ chà rạo tại xã Nhơn Lý trước đây chủ
yếu cá chỉ vàng, cá nục, cá sơn, cá phèn, cá giò,
cá dìa, mực lá, cá hồng, cá cam, cá liệt và một
số đối tượng khác.
Mùa vụ khai thác: Kết quả điều tra cho
thấy, trước đây nghề chà rạo của địa phương
hoạt động từ tháng 3 - 9 (âm lịch). Từ tháng 10
âm lịch, các nghề ít hoạt động đánh bắt tại chà,
vì mùa gió đông bắc dòng chảy mạnh cá không
“đứng” chà, mà di cư ra vùng nước sâu.
5.2.2. Nguyên nhân thất truyền nghề chà rạo xã
Nhơn Lý
Nghề chà rạo xã Nhơn Lý không còn được
sử dụng cách đây khoảng 20 năm. Nguyên do
của sự thất truyền nghề chà rạo tại xã Nhơn Lý,
kết quả điều tra cho thấy có các nhóm nguyên
nhân sau:
- Tranh chấp ngư trường khai thác: nghề
lưới kéo khai thác trong khu vực thả chà làm mất
chà, làm mất nguồn lợi. Nghề lưới vây kết hợp
ánh sáng khai thác trong khu vực thả chà đã lôi
cuốn cá tập trung ở chà ra vùng sáng, làm cho
các nghề khai thác có sử dụng chà không có thu
nhập hoặc thu nhập rất thấp.
- Sử dụng các phương pháp khai thác không
phù hợp với quy định quản lý nghề cá như đánh
bắt cá bằng chất độc, thuốc nổ ở những khu
vực thuộc vùng đệm thả chà, làm giảm mật độ
cá hoặc các loài cá tập trung quanh chà (cá
“đứng chà”).
Hình 4. Cơ cấu đội tàu cá xã Nhơn Lý
Hình 3. Giá trị sản xuất các
ngành kinh tế năm 2009 xã Nhơn Lý
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
24 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
- Do yếu tố khách quan: bão tố, sóng biển,
dòng chảy mạnh làm trôi chà, hỏng chà.
Trong đó, nhóm nguyên nhân thứ 3 là thứ
yếu và có sự tác động của nhóm 1 và 2, ảnh
hưởng đến tâm lý của ngư dân, làm giảm sự
quan tâm của họ tới sự tồn tại của chà.
Nguyện vọng của ngư dân về khôi phục lại
nghề chà rạo.
Kết quả điều tra cho thấy, 100% số người
được hỏi muốn duy trì lại nghề cũ vì ngư dân tin
tưởng, nếu chà rạo được phục dựng sẽ khôi phục
lại nguồn lợi và sẽ cho hiệu quả khai thác cao
hơn, nếu ngăn chặn được sự tranh chấp về ngư
trường của các nghề lưới kéo, vây kết hợp ánh
sáng và phương pháp đánh bắt bất hợp pháp.
- Ngư dân trực tiếp quản lý và khai thác chà,
làm cơ sở triển khai xây dựng mô hình ngư dân
tham gia quản lý nghề cá ở vùng nước gần bờ
của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
tỉnh Bình Định;
- Có thể kết hợp với ngành dịch vụ để nâng
mức thu nhập, cải thiện đời sống của nhân dân
trong xã, trước hết là những người tham gia xây
dựng, quản lý mô hình.
5.3. Chọn mẫu chà và phân tích [1]
Nhóm nghiên cứu đã chọn và phân tích 4
mẫu chà kiểu cố định làm cơ ở xây dựng chà mô
hình gồm: mẫu chà xã Nhơn Lý (hình 5), mẫu
chà Philipppin (hình 6), mẫu chà Thái Lan (hình
7) và mẫu chà Nhật Bản (hình 8) .
Hình 6. Chà cố định Philippin Hình 5. Mô hình chà xã Nhơn Lý
Hình 7. Chà cố định Thái Lan Hình 8. Chà cố định Nhật Bản
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 25
Mẫu chà xã Nhơn Lý:
- Thân chà (1) làm bằng tre cây, mỗi bụi chà
ban đầu có 4 đến 7 cây tre, chiều cao: 7 đến
10m.
- Dây chà (2) làm bằng dây dừa, đường
kính: Φ = 25 - 30mm. Mỗi bụi chà ban đầu thả từ
3 đến 4 dây. Chiều dài mỗi dây chà lớn hơn độ
sâu nước tại vùng thả chà từ 5 - 10m.
- Lá chà (3) được liên kết thành dây dài
tạo bóng râm tập trung cá, gồm hai loại: lá dừa
hoặc lá chà là (chủ yếu). Lá chà thường sử dụng
được 5 đến 6 tháng. Vào mùa mưa bão lá chà bị
thường mục nên bị sóng, nước cuốn trôi.
- Vật nặng giữ chà (4) bằng các rọ đá.
Mỗi bụi chà ban đầu thả từ 3 đến 4 rọ, trọng
lượng mỗi rọ từ 40 đến 70kg.
Hàng năm, ngư dân bổ sung thêm vật liệu
cho chà: tre, dây chà, đá cố định để tăng độ lớn
của bụi chà, nhằm tăng mật độ tập trung cá và
khả năng chịu đựng sóng gió của chà.
Mẫu chà Philippin: Có 4 bộ phận chính: bè
nổi, dây chà, neo và đèn hiệu
- Bè nổi: làm bằng tre cây, có 2 lớp. Mỗi lớp
30 cây dài 10m. Giữa bè có 2 lốp ô tô: một lốp
liên kết với dây neo và một lốp xe liên kết với dây
chà (hình 6).
- Dây chà: liên kết lá chà. Phía trên liên kết
với bè, phía dưới có đá dằn.
- Neo: gồm 2 - 3 khối bê tông, hình trụ
Mẫu chà Thái Lan: Có 4 bộ phận chính: bè
nổi, dây chà, neo và đèn hiệu
- Bè nổi: làm bằng phao nhựa, hình trụ, phía
trên liên kết với đèn hiệu (hình 7).
- Dây chà: làm bằng lưới cũ.
- Neo: gồm 1 neo sắt và đá dằn
Mẫu chà Nhật Bản: có 4 bộ phận chính: bè
nổi, phao, dây chà, neo.
- Bè nổi: gồm những cây tre liên kết với
nhau thành hình chữ V (hình 8).
- Dây chà: làm bằng lá dừa và lưới cũ.
- Neo: gồm 1 neo sắt và đá dằn
- Phao nhựa hình trụ thể tích 200 lít, gắn với
dây neo và bè nổi bằng dây PE hoặc PP.
Phân tích chà mẫu:
- Mẫu chà xã Nhơn Lý: cấu tạo đơn giản,
dễ thi công chế tạo, chi phí thấp, hiệu quả tập
trung cá thấp hơn so với mẫu chà Nhật Bản và
Philippin; lực giữ chà thấp, dễ bị trôi. Thực tế
điều tra đã chứng minh điều đó.
- Mẫu chà Thái Lan: cấu tạo đơn giản, dễ thi
công chế tạo, diện tích tập trung cá nhỏ hơn so
với mẫu chà Nhật Bản và Philippin.
- Mẫu chà Nhật Bản và Philippin có diện tích
tập trung cá lớn hơn, cấu tạo chắc chắn. Tuy
nhiên, so với 2 mẫu chà Thái Lan và xã Nhơn
Lý chi phí lớn hơn và quy trình chế tạo phức tạp
hơn.
- Lực giữ của các mẫu chà Philippin, Thái
Lan, Nhật Bản thấp, chưa phù hợp với đặc điểm
dòng chảy của vùng biển xã Nhơn Lý tại khu vực
thả chà mô hình.
- Mẫu chà Philippin kết cấu phần bè nổi
rộng, có thể bố trí thêm phần kiến trúc thượng
tầng nếu có thêm hỗ trợ của thiết bị đỡ phần bè.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Kiểu chà, cấu trúc chà và khu vực thả
chà [1]
1.1. Kiểu chà và cấu trúc chà:
Từ phân tích ở phần trên chà mô hình xây
dựng là kiểu chà bè cố định, có 2 phần chính:
phần nổi trên mặt nước và phần chìm trong
nước. Ngoài ra, có một số thiết bị phụ trợ liên
kết giữa các bộ phận.
* Phần nổi trên mặt nước: bè nổi và phòng
sinh hoạt của tổ quản lý chà, đặt trên hệ thống
phao bằng thùng nhựa (hình 10).
- Bè nổi có kích thước (7 x 7)m, làm bằng
gỗ và tre,
- Phòng sinh hoạt có kích thước: rộng x dài
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
26 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
= (2,5 x 2,5)m; chiều cao phía trước: 2,5m, phía
sau: 2,0m.
- Thiết bị đỡ bè: thùng nhựa, dài 1m, được
kính 0,5m. Số lượng: 24 thùng
* Phần chìm trong nước gồm: bộ phận tập
trung cá và bộ phận giữ bè chà (hình 9);
- Bộ phận tập trung cá: là các dây chà (dây
bằng vật liệu PP, lá chà làm bằng là chà là) và
vật nặng giữa dây chà là khối bê tông hình trụ;
+ Dây chà: có 8 dây bằng vật liệu PP, đường
kính 16mm, chiều dài: 50m/1 dây;
+ Lá chà: làm bằng lá chà là (vật liệu ngư
dân địa phương đã dùng trước đây);
+ Dây chà được liên kết vào bè nổi nhờ ma
ní, khóa xoay;
+ Vật nặng giữ dây chà đúc bằng xi măng
trọng lượng 5kg/dây.
- Bộ phận giữ bè chà:
+ Neo: 4 cái, neo hải quân
+ Dây neo: 4 đường, vật liệu: cáp thép,
chiều dài 45m/1 dây
Ngoài ra, còn có một số thiết bị khác để liên
kết bè chà: ma ní, khóa xoay, lốp ô tô cũ…
Hình 9. Cấu trúc chà mô hình Hình 10. Phần nổi của chà mô hình
1. Bè nổi; 2. Dây chà;
3. Lá chà; 4. Vật nặng giữ dây chà;
5. Lốp xe; 6. Dây neo;
7. Ma ní liên kết neo và dây neo; 8. Neo giữ chà
9. Phòng sinh hoạt của tổ Quản lý chà; 10. Phao (Thùng nhựa)
1.2. Khu vực thả chà: Nằm trong khu vực bãi chà Đằm, chà Giữa của xã, cách bờ khoảng 0,8 - 1
hải lý, độ sâu 20 - 25m.
Kiểu chà, cấu trúc chà và khu vực thả chà đã được thảo luận và thống nhất tại Hội thảo về
phương án xây dựng chà ở thành phố Quy Nhơn vào tháng 6 năm 2010, dưới sự chủ trì của Ông
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định.
2. Tính toán chà [2]
Tính toán chà là tính lực giữ của neo cố định chà và độ bền (lực đứt) của dây neo, nghĩa là tính
trọng lượng neo và đường kính dây neo.
- Lực giữ của neo được tính biểu thức (1)
F
N
= F
1
+ F
2
(1)
Trong đó: F
N
: Lực giữ của phần neo (KG)
F
1
: Lực giữ do trọng lượng neo (KG), tính theo (2)
F
2
: Lực giữ của phần liên kết (KG), tính theo (3)
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 27
F
1
= K
N1
* P
N
(2)
K
N1
: Hệ số lực giữ của neo phụ thuộc vào loại neo, chất đáy và tính chất tác dụng của ngoại lực.

=
(3)
Trong đó: P = p * q
P : Trọng lượng của 1m dây trong nước;
p : Trọng lượng của 1m dây liên kết trong không khí
q : Xuất nổi của vật liệu làm dây
L
N
: Chiều dài dây cần thả (m)
Z : Chiều cao từ vị trí thả dây đến đáy biển (m)
- Lực đứt của dây neo tính theo biểu thức (4)
P
đ
= n * P
l.v
(4)
Trong đó: P
đ
là cường độ đứt của dây;
n là hệ số an toàn;
P
l.v
là cường độ làm việc của dây.
Cường độ làm việc của dây được tính dựa vào ngoại lực (lực của gió và dòng chảy tạo ra) tác
dụng lên phần nổi và phần chìm của chà.
Phần nổi trên mặt nước (bè và phòng sinh hoạt, nghỉ ngơi của tổ quản lý chà): chịu tác dụng
của gió (chủ yếu) và dòng chảy;
Phần chìm dưới nước (bộ phận tập trung cá và bộ phận giữ chà): chịu tác dụng của dòng chảy.
- Lực tác dụng của gió lên vật thể, được tính theo biểu thức (5):

=
(5)
Trong đó: K
gió
: tổng lực gió tác dụng lên vật thể (tấn)
k : hằng số liên quan đến hướng gió tác dụng lên vật thể.
A
gió
: diện tích phần vật thể, đối tượng chịu tác dụng của gió (m
2
)
V
gió
: tốc độ gió (m/s)
- Lực tác dụng của dòng chảy lên vật thể, được tính theo biểu thức (6):

H
(6)
Trong đó: K
nước
: tổng lực dòng chảy tác dụng lên vật thể (tấn)
A
nước
: diện tích phần vật thể (bè) chìm trong nước
k : hằng số
f : tham số liên quan đến tỷ số độ sâu khu vực (H) với chiều cao phần vật thể,
đối tượng chìm trong nước (d)
Kết quả tính toán: trọng lượng neo: 40 kg/cái; đường kính dây neo: φ = 14 mm (cáp thép).
3. Thi công chà và thả chà [2]
3.1. Thi công chà
Như trên trình bày, chà gồm các phần riêng rẽ liên kết với nhau, nên khi thi công chà có thể thực
hiện độc lập theo từng công đoạn: bộ phận bè nổi, phần nhà ở, bộ phận tập trung cá và bộ phận
giữ chà.
2
2
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
28 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Ghi chú: 1. Tâm bè chà: vĩ độ 13
0
53'59'' N; kinh độ 109017'00' E
2. Bè chà cách bờ thôn Hưng Lương 1420m
3. Khu vực các loại nghề: giả cào, mành đèn không được phép đánh bắt cách bè 500m. Khu vực được giới hạn bởi các
điểm A1 (vĩ độ 13
0
54'11'' N ; kinh độ 109
0
16'48'' E); A2 (vĩ độ 13
0
54'11'' N ; kinh độ 109
0
17'24'' E); A3 (vĩ độ 13
0
53'45'' N ;
kinh độ 109
0
16'48'' E); A4 )vĩ độ 13
0
53'45'' N ; kinh độ 109
0
17'24'' E)
Mô hình được sự hỗ trợ của Chương trình FSPS II Bình Định - Sở Nông nghiệp và PTNT Bình Định
Quy trình thi công phần tập trung cá: lá chà là được phơi khô, buộc vào dây chà (PP Φ16) bằng
sợi 210
D
/27. Khoảng cách giữa các cụm lá 0,4m. Sau đó, liên kết hai dây chà độc lập với nhau thành
dây đôi như (hình 11) và liên kết với bè nổi (hình 12).
3.2. Thả chà
Sau khi hoàn tất công việc thi công, chà đã được tàu kéo đến vị trí thả tại điểm có tọa độ
φ = 13
0
53’59’’N và λ = 109
0
1’E (hình 13).
Hình 11. Dây chà mô hình Hình 12. Thả chà
Hình 13. Sơ đồ bố trí bè chà xã Nhơn Lý - TP. Quy Nhơn
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 29
4. Kết quả mô hình và thảo luận
Kết quả mô hình đã được thảo luận tại
Hội thảo “Tổng kết hoạt động dự án” vào ngày
22/11/2010 tại thành phố Quy Nhơn dưới sự
chủ trì của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn tỉnh Bình Định. Tại Hội thảo chà mô hình đã
được đánh giá như sau:
4.1. Kết cấu chà và vị trí thả chà:
- “Kết quả hoạt động rất đạt yêu cầu và
được Địa phương, Ngành đánh giá cao. Phần
chìm của chà và vị trí khảo sát đặt chà rất phù
hợp. Nhiều đối tượng cá bị mất từ lâu nay lại
phục hồi (cá liệt chỉ). Lượng cá phát tán xung
quanh chà rất lớn, người dân hưởng lợi” [3].
- “Nhiều loài hải sản như mực, cá cam, cá
giò, cá nục, cá nhồng, cá ngân, cá liệt, cá róc...
đã tập trung thường xuyên và ổn định tại chà” [5]
4.2. Tính bền vững và khả năng làm việc của
mô hình
Chà mô hình hoạt động tốt, phù hợp điều
kiện thực tế tại địa phương. Điều này, đã được
địa phương đánh giá và được kiểm chứng trong
trận áp thấp nhiệt đới (sóng to, gió và mưa lớn)
vào các ngày 25, 26, 27 tháng 7 năm 2010,
tàu thuyền tại khu vực thành phố Quy Nhơn có
những thiệt hại nặng và xã Nhơn Lý bị chìm 4
tàu cá, nhưng chà mô hình vẫn an toàn.
4.3. Hiệu quả kinh tế và kết hợp giữa Thủy sản
với Dịch vụ du lịch
- Kết quả khai thác nguồn lợi tại chà của tổ
Quản lý bè chà từ tháng 8/2010 - 10/2010:
“+ Mực lá: 453(kg) x 77.000(đ/kg) =
34.881.000(đồng)
+ Cá các loại: 5.700(kg) x 10.000 (đ/kg) =
57.000.000 (đồng)” [4], [5]
- “Thu từ dịch vụ câu cá của khách du lịch
đến tham quan: 1.200.000 (đồng)” [4], [5].
- “Hàng ngày trung bình có 5 - 7 thuyền
thúng câu mực và khai thác cá trác, cá nục xung
quanh khu vực bè chà, thu nhập từ 100.000 -
400.000 đồng/ngày” [5].
4.4. Tác động về mặt xã hội [5]
- “...Đem lại lợi ích thiết thực cho bà con
ngư dân, nhất là hộ nghèo, cận nghèo và hộ khó
khăn đánh bắt gần bờ”.
- “...Phát triển du lịch nghề cá ở địa phương,
tăng thu nhập kinh tế gia đình, góp phần xóa đói
giảm nghèo ở địa phương”. “…Ngư dân tổ chức
đưa đón khách du lịch đến tham quan câu cá để
thu tiền”
-“...Nâng cao ý thức cho bà con ngư dân
trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở địa
phương, nhằm khai thác nguồn lợi thủy sản bền
vững và lâu dài”.
- “Từ khi triển khai mô hình bè chà người
dân đồng tình và ủng hộ cao, vì nó tạo điều kiện
thuận lợi cho ngư dân đánh bắt gần bờ, trong đó
hưởng lợi nhiều nhất là ngư dân thôn Lý Hưng
và Lý Lương”.
4.5. Hình thành quy định bảo vệ nguồn lợi ven
bờ
Ngành Thủy sản tỉnh Bình Định đã ban
hành quy định quản lý và khai thác nguồn lợi
quanh khu vực chà như: giới hạn phạm vi cấm
hoạt động của các nghề, ngư cụ được sử dụng
khai thác cá tại chà và vùng quanh chà (giới hạn
bởi các điểm A
1
, A
2
, A
3
, A
4
, hình 13).
Xã Nhơn Lý đã xây dựng tổ quản lý chà và
nguồn lợi trong khu vực cần bảo vệ bằng kinh
phí hoạt động từ doanh thu bán sản phẩm khai
thác được tại chà.
Tuy vậy, “vẫn còn một số tàu thuyền và ngư
dân đến khai thác bất hợp pháp tại chà” [5]. Tất
nhiên, sản lượng hải sản khai thác được tại chà
của các tàu thuyền này UBND xã Nhơn Lý và tổ
Quản lý bè chà không nắm được. Nghĩa là, sản
lượng khai thác được từ chà cao hơn số lượng
thống kê theo báo cáo của UBND xã Nhơn Lý và
của tổ Quản lý bè chà.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
30 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
IV. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy: có thể phục
hồi nguồn lợi ven bờ tại xã Nhơn Lý bằng nghề
chà rạo hoặc bằng phương pháp thả rạn nhân
tạo.
Mở ra hướng phát triển nghề cá giải trí phục
vụ khách du lịch của tỉnh Bình Định và mô hình
quản lý nghề cá biển ở vùng ven bờ dựa vào
cộng đồng.
Có thể triển khai mô hình đến các địa
phương khác có điều kiện tự nhiên và điều kiện
môi trường vùng biển ven bờ tương tự.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Văn Tính (2010), Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu nghề chà rạo xã Nhơn Lý - Đề xuất phương
án xây dựng mô hình.
2. Hoàng Văn Tính, Phạm Văn Thông (2010), Báo cáo tổng kết hoạt động Dự án “Hỗ trợ xây dựng mô hình
chà rạo cho vạn chài xã Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”.
3. Đánh giá của Ông Trưởng Ban Quản lý Dự án của Sở NN&PTNT tỉnh Bình Định về kết quả hoạt động
của Dự án.
4. Tổ Quản lý chà bè (2010), Báo cáo Tham luận “Về công tác tổ chức quản lý chà bè xã Nhơn Lý” tại Hội
thảo Tổng kết hoạt động của Dự án.
5. UBND xã Nhơn Lý (2010), Báo cáo Tham luận “Đánh giá tác động của chà rạo đến môi trường, nguồn
lợi thủy sản và đời sống cộng đồng dân cư ven biển của xã” tại Hội thảo Tổng kết hoạt động của Dự án.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 31
fHONG B/O KHO/ HOC
XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU TÀI LIỆU MÔN HỌC -
HÌNH THỨC PHỤC VỤ HIỆU QUẢ CHO ĐÀO TẠO TÍN CHỈ
CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Nguyễn Quý Hoàn
Thư viện - Trường Đại học Nha Trang
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cơ sở dữ liệu tài liệu tham khảo môn học
(CSDLMH) là một sản phẩm mới của Thư viện
Trường Đại học Nha Trang. Nó vừa là công cụ
thuận tiện, vừa là nguồn tài nguyên năng động
và hết sức cần thiết cho người dùng. Đây là một
trong những nhiệm vụ chủ yếu trong tiến trình
xây dựng thư viện hiện đại, đáp ứng yêu cầu
nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường.
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một nhiệm
vụ và giải pháp mới nhằm thực hiện Nghị quyết
của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện
giáo dục đại học Việt nam giai đoạn 2006 -
2020. Muốn vậy, đòi hỏi phải chuẩn bị thật tốt
từ cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị, đến
nhân lực, tài chính… trong đó có yếu tố quan
trọng là đổi mới hiệu quả hoạt động thông tin -
thư viện. Trường đại học cần có một thư viện
hiện đại cung cấp nguồn tài nguyên phong phú,
đa dạng cho người học khai thác bất kỳ lúc
nào, bất cứ ở đâu để giúp họ tự nâng cao trình
độ, khả năng phân tích và đánh giá các vấn đề
trong quá trình học tập.
Việc quản lí nguồn tài nguyên theo môn loại
hoặc theo chủ đề của bảng phân loại thư viện
chủ yếu cung cấp những sản phẩm “sơ” và “thô”,
người dùng không thể tìm kiếm nhanh và đầy
đủ những thông tin hữu ích cho họ. Để đáp ứng
được yêu cầu kiểm định chất lượng đào tạo đại
học theo hệ thống tín chỉ, thư viện cần phải có
những sản phẩm “tinh” - tức là cung cấp những
gói thông tin tương đối đầy đủ đối với từng đối
tượng theo một chủ đề nhất định - nhằm chỉ ra
nguồn tài liệu/ học liệu chính và tham khảo cho
từng môn học. Đó là hướng đi hết sức cần thiết
để tiến tới một thư viện đại học thân thiện và
hiện đại.
Một số thư viện trên thế giới thuộc các nước
phát triển như Anh, Mỹ… đã đầu tư triển khai
dạng sản phẩm này. Ở trong nước, hiện nay mới
chỉ có một số Thư viện đại học quan tâm đến xây
dựng CSDLMH như Đại học Thái Nguyên, Đại
học Quốc Gia Hà Nội, Học viện Kỹ thuật Quân
sự… Ở một số trường khác, công việc này mới
được triển khai rất manh nha, nhỏ lẻ trên những
phần mềm mã nguồn mở, thiếu nhiều module
cần thiết quản lý lưu thông. Vì thế việc xây dựng
CSDLMH càng trở nên cấp thiết.
Từ yêu cầu trên, Thư viện Trường Đại học
Nha Trang đã triển khai nghiên cứu xây dựng
CSDLMH cho các ngành và chuyên ngành thuộc
khoa Cơ khí và khoa Kỹ thuật tầu thủy. Đây
là bước đi đầu tiên cho việc xây dựng những
sản phẩm tương tự tiếp theo cho các ngành và
chuyên ngành khác.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
32 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Thư viện tổ chức nguồn tài nguyên theo
CSDLMH cho các ngành và chuyên ngành đang
đào tạo, sẽ giúp cho người dùng dễ dàng tìm
kiếm được danh mục tài liệu tham khảo cho
từng môn học một cách nhanh chóng, dễ dàng.
Việc này cũng sẽ rất có ích cho công tác quản lý
và phục vụ tài liệu cho đào tạo theo hệ thống tín
chỉ, công tác kiểm định chất lượng và kế hoạch
phát triển nguồn tài nguyên thông tin của thư
viện cho từng học phần.
Hiện nay, Thư viện Trường Đại học Nha
Trang đang quản lý khoảng 17.000 nhan đề tài
liệu văn bản, tương đương 37.000 cuốn với 60%
có thời điểm xuất bản sau năm 2000, trong đó
tài liệu ngôn ngữ Việt chiếm 85%, ngôn ngữ Anh
14%, ngôn ngữ khác 1%. Ngoài ra, còn có trên
200 tên báo và tạp chí, trên 2000 luận văn, luận
án và đề tài nghiên cứu khoa học. Cùng với số
tài liệu in, Thư viện hiện đang quản lý khoảng
3000 tên tài liệu điện tử trên thư viện số và được
cập nhật thường xuyên (bao gồm ebooks, luận
văn, luận án, đề tài NCKH…) cùng với một số
CSDL trực tuyến: ProQuest, Hinari, Agora,
Willson và CSDL các công trình nghiên cứu
quốc gia…
Để thực hiện công việc này, Thư viện phải
nghiên cứu triển khai rà soát, thống kê thông
tin thư mục và tài liệu số toàn văn hiện có, tổ
chức lập bảng danh mục môn học của tất cả các
ngành học trong trường trên cơ sở đề cương chi
tiết học phần đã ban hành, chỉ cho được các tài
liệu dùng tham khảo cho từng môn học cụ thể.
CSDLMH cho các ngành đào tạo của hai
khoa Cơ khí và Kỹ thuật Tàu thủy được thực
hiện trên KIPOS - là phần mềm thư viện số
chuyên nghiệp của Công ty CP tin học Hiện đại -
với nhiều modun tiện ích và chức năng tra cứu
tìm tin, có thể tra cứu tài liệu theo chủ đề, theo
từ khóa, theo ký hiệu phân loại, tên tài liệu, tên
tác giả…
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Với sự hỗ trợ của nhà cung cấp phần mềm,
Thư viện đã xử lý và hoàn thành CSDLMH 70%
số môn học với 2000 tên sách, giáo trình, luận
văn của 7 ngành và chuyên ngành đào tạo của
2 khoa, bao gồm các chuyên ngành và ngành
đào tạo: Thiết kế tàu thủy, Đóng tàu thủy, Thiết
bị năng lượng tàu thủy, Công nghệ cơ - điện tử,
Công nghệ kỹ thuật xây dựng, Công nghệ kỹ
thuật ô tô và Công nghệ chế tạo máy.
Người dùng dễ dàng truy cập vào nguồn
tài nguyên này trong thư viện số thông qua
website của Thư viện bằng việc nhập từ khóa
môn học và thực hiện tìm kiếm thông tin theo các
tính năng như tìm lướt, tìm theo từ khóa… để có
được danh mục tài liệu tham khảo mong muốn.
Ngoài việc đáp ứng được yêu cầu của
người dùng, CSDLMH còn đáp ứng tốt cho công
tác quản lý tài liệu của Thư viện, đồng thời các
đơn vị liên quan như Phòng Đào tạo Đại học
và Sau đại học, Phòng Kiểm định chất lượng
đào tạo và Khảo thí, các khoa… có thể biết hiện
trạng tài liệu đáp ứng cho mỗi một môn học để
có kế hoạch, giải pháp đảm bảo giáo trình, tài
liệu theo quy định.
Việc xây dựng thành công CSDLMH cho 2
khoa Cơ khí và Kỹ thuật Tàu thủy đã nhận được
những đánh giá tích cực từ phía người dùng là
giảng viên và sinh viên. CSDLMH được quản
lý và lưu thông trên thư viện số, không bị giới
hạn về không gian và thời gian nên đã tạo môi
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 33
trường rộng mở và cơ hội bình đẳng cho tất cả
mọi người khi sử dụng nguồn tài liệu học tập.
CSDL tài liệu số cùng lúc phục vụ cho nhiều đối
tượng khác nhau, không phụ thuộc vào số lượng
người dùng, thời gian và vị trí địa lý của họ.
CSDLMH này cũng tiết kiệm được kinh phí
xây dựng kho, kinh phí bổ sung tài liệu, bảo
quản... Hơn hết là giúp cho người dùng - đặc
biệt là sinh viên - được dễ dàng thuận tiện trong
việc tìm thông tin. Trong điều kiện còn thiếu
nguồn tài liệu tham khảo học tập in giấy, thì việc
Thư viện có thêm giải pháp tài liệu số hóa sẽ
giúp cho người học có nhiều lựa chọn để phục
vụ cho kế hoạch học tập của cá nhân.
CSDLMH kết hợp với thư viện truyền thống
sẽ phục vụ hiệu quả hơn cho việc đổi mới và
nâng cao chất lượng đào tạo. Ví dụ như hình
thức đào tạo trực tuyến, đào tạo ngoài trường
người học chủ động sắp xếp thời gian học tập,
không phải đến thư viện cũng có thể lấy được tài
liệu trên CSDLMH qua mạng.
CSDLMH góp phần mở rộng đối tượng
phục vụ: đặc biệt là có thể đáp ứng tốt nhu cầu
tài liệu học tập cho các cơ sở liên kết đào tạo xa
trường và Phân hiệu Kiên Giang.
IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Xây dựng thư viện số là xu thế tất yếu, là
mục tiêu của các thư viện hiện nay. Việc xây
dựng CSDLMH không nằm ngoài mục đích
phục vụ tốt hơn cho đổi mới phương pháp dạy
và học, nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH
của Trường. Vì vậy, trong thời gian tiếp theo, đề
nghị Nhà trường tạo điều kiện cho Thư viện tiếp
tục thực hiện xây dựng CSDLMH cho các khoa
còn lại, đặc biệt là hai khoa Kinh tế và Kế toán -
Tài chính, vì các khoa này có số lượng sinh
viên lớn, áp lực đảm bảo tài liệu cho học tập và
nghiên cứu rất cao.
Xây dựng CSDLMH là một công việc hữu
ích cho thư viện các trường đại học nghiên cứu,
tham khảo để có những ý kiến góp ý, trao đổi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. “Điều lệ Trường đại học” ban hành theo Quyết định số 156/2003QĐ-TTg ngày 30/7/2009 của Thủ tướng
Chính phủ.
2. “Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” ban hành theo Quyết định số
43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007 của Bộ GD&ĐT.
3. Bùi Loan Thùy, “Thư viện đại học phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, đáp
ứng các yêu cầu của học chế tín chỉ”, Tạp chí thông tin tư liệu - số 4 , 2008.- tr14-17.
4. Nguyễn Thị Thanh Thủy, “Cải tiến công tác tổ chức, quản lý thư viện đại học trên địa bàn Tp. HCM”, luận
văn thạc sĩ -2007.
5. Võ Trung Hùng, “Các bước triển khai học liệu mở ở Việt Nam”, Tạp chí thông tin tư liệu - số 3, 2009.-
tr 18-120.
6. Nguyễn Văn Hành, “Kiểm định chất lượng đào tạo đại học - thời cơ và thách thức đối với các thư viện đại
học Việt Nam”, Tạp chí Thông tin và Tư liệu, 2007, số 1.- tr. 15-19.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
34 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
7. Nguyễn Văn Hành, “Thư viện trường đại học với công tác phát triển học liệu phục vụ đào tạo theo tín
chỉ”. Tạp chí Thông tin và Tư liệu, 2009, số 2.- tr. 12-16
8. Nguyễn Huy Chương, Tôn Quốc Bình, Lâm Quang Tùng “Tổ chức tài nguyên số phục vụ đổi mới giáo dục
đại học”. Kỷ yếu hội thảo tổ chức hoạt động TT-TV trong trường đại học. Đà Nẵng, 28-29/10/2004 -
tr.71-79.
9. Hoàng Đức Liên, “Giải pháp xây dựng các bộ sưu tập số” Trung tâm Thông tin - Thư viện ĐH Nông
nghiệp I Hà Nội.
10. Nguyễn Minh Hiệp và Đoàn Hồng Nghĩa, “Thực hành xây dựng thư viện số” - TP. HCM: Đại học Quốc
gia, 2004.
11. Tamiko Matsumura, “Thư viện số ở Nhật bản”, Tạp chí Thông tin và Tư liệu, 2004, số 3.- tr. 19-13.
12. Witten, I. H. (Ian H.), How to build a digital library / Ian H. Witten, David Bainbridge, and David M.
Nichols.
13. Digital library use : social practice in design and evaluation / edited by Ann Peterson Bishop, Nancy A.
Van House, and Barbara P. Buttenfield.
14. Library Management : Change management in academic libraries - 2 / Stephen O’Connor.
15. WITTEN, Ian H. và BAIBRIDGE, David. How to Build a Digital Library. - New York : Morgan Kaufmann,
2003.
16. http:// thuvien.net
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 35
fHONG B/O KHO/ HOC
ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠ I THỨC ĂN VÀ VITAMINE C BỔ SUNG
LÊN TỈ LỆ SỐNG VÀ SINH TRƯỞNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG
TRACHINOTUS BLOCHII (LACEPEDE, 1801) CỠ 30 - 40mm
EFFECT OF FOOD AND VITAMINE C ON GROWTH, SURVIVAL RATE OF
SNUB-NOSE POMPANO FINGERLINGS, TRACHINOTUS BLOCHII
(LACEPEDE, 1801) NURSED IN SEA CAGES
Châu Văn Thanh
Khoa Nuôi trồng Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Thí nghiệm đượ c thự c hiệ n nhằ m đá nh giá ả nh hưở ng củ a loạ i thức ăn và vitamine C bổ sung đế n tỉ
lệ sống, sinh trưởng của cá chim vây vàng ương bằng lồng trên biển. Cá cỡ 41mm (1,4g) được thí nghiệm ở
3 nghiệm thức thứ c ăn: (i) thức ăn công nghiệ p UP, (ii) cá tươi, (iii) kế t hợ p thức ăn công nghiệ p UP với cá
tươi. Thí nghiệm kéo dài trong 30 ngày. Kết quả cho thấy, loạ i thức ăn ảnh hưởng lên tỉ lệ sống, sinh trưởng
của cá chim vây vàng (p<0,05). Cá ở nghiệ m thứ c thứ c ăn cá tươi (ii) và kế t hợ p (iii) có tỉ lệ số ng cao (66,7%
và 63,3%, theo thứ tự ), khá c biệ t có ý nghĩ a (p<0,05) so vớ i nghiệ m thứ c thứ c ăn công nghiệ p UP (41,1%).
Cá ở nghiệ m thứ c kế t hợ p có chiề u dà i lớ n nhấ t (78,7mm) và cá ở nghiệ m thứ c cá tươi có chiề u dà i nhỏ nhấ t
(68,0mm).
Cỡ cá 31mm (0,8g) được thí nghiệm ở 2 nghiệm thức: (i) thức ăn NRD 5/8 có trộn vitamin C và (ii) thức
ăn NRD 5/8. Thí nghiệm kéo dài trong 15 ngày. Kết quả cho thấy, vitamine C được trộn vào thức ăn không ảnh
hưởng lên tỉ lệ sống, sinh trưởng của cá chim vây vàng (P>0,05).
Từ khóa: Tỉ lệ sống, sinh trưởng, cá chim vây vàng, Trachinotus blochii.
ABSTRACT
The experiments were carried out to evaluate the effect of food and vitamin C supplementation on
survival rate and growth rate of snub-nose pompano fingerling nursed in sea- cages.
Fingerlings at size of 41mm (1.4 g) were examined in 3 treatments: (i) fed by UP-pellet, (ii) fed by trash
fish and (iii) fed by trash fish combined with UP-pellet. The experiment was carried out within 30 days. The
results showed that fish in treatment (i) and (ii) had high survival rates (66.7% and 63.3%, respectively) that
were significantly different (p<0.05) from fish in treatment iii (41.1%).
The best growth performance in term of standard length was recorded for treatment (iii), 78.7mm. The
lowest one was treatment (ii), 68.0mm.
Snub-nose pompano fingerlings at size of 31mm (0.8g) were also tested in 2 treatments: (i) fed by NRD
5/8 mixed Vitamin C and (ii) fed by NRD 5/8 as controlled treatment. The experiment was conducted within 15
days. The results showed that the supplementation of vitamin C on NRD 5/8 did not influence on the growth
rate and survival rate of fish (p>0.05).
Keywords: Survival rate, growth, snub-nose pompano, Trachinotus blochii.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
36 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii
Lacepede, 1801) là loài cá mới được cho đẻ
nhân tạo tại Việt Nam trong những năm gầ n đây.
Việc ương giố ng cá chim vây vàng bằng lồng
biển chưa được nghiên cứu. Do đó, để xây dựng
quy trình ương cá chim vây vàng bằng lồng biển,
vấn đề nghiên cứu ảnh hưởng của loạ i thức ăn
và vitamine C bổ sung vào thức ăn lên tỉ lệ sống
và sinh trưởng của cá là rất cần thiết.
Ở Khánh Hòa, ngư dân sử dụng cá tươi
làm thức ăn để ương các loài cá biển như cá
chẽm, cá giò, cá mú rất phổ biến; một số hộ thử
nghiệm sử dụng thức ăn công nghiệ p để nuôi
cá chẽm trong ao đất đạt kết quả khá tốt; mặt
khác để phòng bệnh cho cá, ngư dân thường
trộn vitamine C vào thức ăn để cho cá ăn. Hiện
nay, chưa có những nghiên cứu về việc sử dụng
cá c loạ i thức ăn để ương giố ng cá chim vây
vàng bằng lồng ở biển. Do đó, thí nghiệm này
được thực hiện với thức ăn công nghiệ p, cá tươi
và thức ăn công nghiệ p có bổ sung vitamine C
nhằm góp phần nâng cao tỉ lệ sống và tốc độ
sinh trưởng của cá chim vây vàng.
II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP
BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM
1. Đối tượng nghiên cứu:
Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii
Lacepede, 1801).
2. Vật liệu:
Cá con dùng để thí nghiệm được lấy từ Trại
Sản xuất Giống cá Biển - Khoa Nuôi trồng Thủy
sản - Trường Đại học Nha Trang tại Đường Đệ -
Nha Trang. Cá được chọn là những cá thể có
kích thước đồng đều, phản xạ linh hoạt, không
bị tổn thương, không dị tật, màu sắc tự nhiên.
Cá được ương trong các lồng nhỏ có thể
tích 120L/lồng, với mật độ 250 con và 267
con/m
3
(tương đương 30 con và 32 con/lồng).
3. Phương pháp:
3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
3.1.1. Ảnh hưởng của loạ i thức ăn đến tỉ lệ sống
và sinh trưởng của cá:
Cá được thí nghiệm cho ăn với 3 nghiệm
thức: (i) Cá được cho ăn thức ăn công nghiệ p
của hãng UP, 4 lần/ngày (lúc 6 giờ, 11 giờ, 15
giờ và 17 giờ), tỉ lệ cho ăn 10% khối lượng thân
cá (BW). (ii) Cá được cho ăn thức ăn cá tươi, 2
lần/ngày (lúc 11 giờ và 17 giờ), tỉ lệ cho ăn 20%
BW. (iii) Cá được cho ăn thức ăn công nghiệ p
UP với cá tươi, ngày cho cá ăn 3 lần thức ăn UP
(lúc 6 giờ, 15 giờ, 17 giờ) và 1 lần cá tươi (lúc
11 giờ).
Thành phần dinh dưỡng của thức ăn UP:
Đạm thô tối thiểu 46%, chất béo thô tối thiểu
10%, tro tối đa 15%, chất xơ tối đa 1%, độ ẩm tối
đa 11%. Cá tươi là loại cá cơm tươi.
Cá chim vây vàng được thí nghiệm có chiều
dài (SL) = 41 ± 4,1 mm, khối lượng thân trung
bình (BW) = 1.4 g.
Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn
toàn. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Thời
gian thí nghiệm kéo dài trong 30 ngày.
3.1.2. Ảnh hưởng của vitamine C bổ sung và o
thứ c ăn lên tỉ lệ sống và sinh trưởng của cá:
Cá được thí nghiệm ở 2 nghiệm thức: (i) Cá
được cho ăn thức ăn NRD 5/8 có trộn vitamin C,
2 lần/ngày (lúc 6 giờ và 17 giờ) cho cá ăn liên
tiếp trong 7 ngày đầu. Vitamine C được trộn vào
thức ăn là CEVITA 500 của Việt Nam sản xuất,
thể tích mỗi ống là 5ml (Acid Ascorbic 500mg/5
ml), trộn với liều lượng 5ml/1kg thức ăn, trộn
xong sau khoảng 10 phút cho thuốc ngấm đều
vào thức ăn rồi cho cá ăn. (ii) Cá được cho ăn
thức ăn NRD 5/8. Thí nghiệm được bố trí ngẫu
nhiên hoàn toàn. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3
lần. Thời gian thí nghiệm kéo dài trong 15 ngày.
Cho cá ăn thức ăn NRD 5/8 của hãng
INVER, 4 lần/ngày (lúc 6 giờ, 11 giờ, 15 giờ và
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 37
17 giờ). Tỉ lệ cho ăn là 10% BW.
Cá chim vây vàng được thí nghiệm có chiều
dài thân (SL) = 31 ± 3,3mm, khối lượng thân
(BW)

= 0,8 ± 0,21g.
3.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu và xử lý
số liệu:
Khi kết thúc thí nghiệm, cá ở các thí nghiệm
được thu toàn bộ để cân, đo và đếm số lượng,
xác định khối lượng trung bình, chiều dài toàn
thân, hệ số phân tán về chiều dài và tỉ lệ sống.
Tốc độ sinh trưởng đặc trưng:
SGR

(%/ngày) = (Ln
2
- Ln
1
) x 100 / (t
2
-t
1
).
Với
1
,
2
: khối lượng thân trung bình tại
thời điểm t
1
và t
2
.
Hệ số phân đàn về chiều dài:
CV (%) = S : x 100%.
Trong đó: S: độ lệch chuẩn , : chiều dài
thân trung bình.
Số liệu thu được từ nghiên cứu được xử lý
thống kê bằng phần mềm SPSS và Excell. Các
giá trị trung bình được so sánh theo phương
pháp phân tích phương sai một yếu tố (one-way
ANOVA). So sánh sự khác nhau giữa các giá trị
trung bình sau phân tích phương sai (post hoc
test) theo kiểm định Duncan và LSD với độ tin
cậy 95%.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Ảnh hưởng của loạ i thức ăn đến tỉ lệ sống
và sinh trưởng của cá chim vây vàng
Tỉ lệ sống của cá sau 30 ngày ương ở 2
nghiệm thức cho cá ăn thức ăn công nghiệ p UP
kế t hợ p với cá tươi và cho cá ăn cá tươi (lần lượt
63%, 66%) khác biệt không có ý nghĩ a (p>0,05),
đồng thời khác biệt có ý nghĩ a (p<0,05) với nghiệm
thức cho cá ăn thức ăn UP (41%). (Bả ng 1)
Chiều dài thân cá sau 30 ngày ương ở các
nghiệm thức cho cá ăn thức ăn UP kế t hợ p với
cá tươi, cho cá ăn thức ăn UP và cho cá ăn cá
tươi (lần lượt là 78mm, 74mm và 68mm) khác
biệt có ý nghĩ a (p<0,05). (Bả ng 1)
Khối lượng thân cá sau 30 ngày ương ở 2
nghiệm thức cho cá ăn thức ăn UP kế t hợ p với
cá tươi, cho cá ăn thức ăn UP (là 13g) không
khác biệt nhau (p>0,05), đồng thời khác biệt có
ý nghĩ a (p<0,05) với nghiệm thức cho cá ăn cá
tươi (9g). (Bả ng 1)
Hệ số phân đàn về chiều dài của cá sau 30
ngày ương ở các nghiệm thức khác biệt không
có ý nghĩ a (p>0,05). (Bả ng 1)
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Khi
ương cá chim vây vàng cỡ SL = 41mm, BW =
1,4 g, cho cá ăn thức ăn công nghiệ p kế t hợ p
với cá tươi sẽ cải thiện được tỉ lệ sống và sinh
trưởng của cá.
Bảng 1. Sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá ở 3 nghiệm thức thức ăn
Chỉ tiêu
Nghiệm thức
Thức ăn
UP + cá tươi
Thức ăn UP Thức ăn cá tươi
Tỉ lệ sống (%) 63,3
a
± 5,10 41,1
b
± 6,17 66,7
a
± 5,77
Chiều dài thân (mm) 78,7
a
± 0,20 74,2
b
± 1,76 68,0
c
± 0,63
Khối lượng (g) 13,6
a
± 0,92 13,1
a
± 1,20 9,9
b
± 0,60
Hệ số CV (%) 8,3
a
± 1,33 9,0
a
± 1,15 8,3
a
± 1,20
SGR(%) về chiều dài 2,1
a
± 0,00 1,9
b
± 0,07 1,6
c
± 0,03
SGR(%) về khối lượng 7,5
a
± 0,23 7,4
a
± 0,31 6,5
b
± 0,20
Số liệu trình bày: Trung bình ± SE. Số liệu được so sánh bằng ANOVA một yếu tố. Ký tự mũ ở cùng hàng khác nhau chỉ
sự khác biệ t có ý nghĩa (p<0,05) với kiểm định Duncan.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
38 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
2. Ảnh hưởng của vitamine C bổ sung vào
thức ăn lên tỉ lệ sống và sinh trưởng của cá
chim vây vàng
Tỉ lệ sống của cá sau 15 ngày ương ở 2
nghiệm thức cho cá ăn thức ăn NRD có trộn
vitamine C và cho cá ăn thức ăn NRD (là 87%)
khác biệt không có ý nghĩ a (p>0.05). (Bả ng 2)
Chiều dài của cá sau 15 ngày ương ở 2
nghiệm thức cho cá ăn thức ăn NRD có trộn
Vitamine C và cho cá ăn thức ăn NRD (lần lượt
49mm và 48mm) khác biệt không có ý nghĩ a
(p>0.05). (Bả ng 2)
Khối lượng của cá sau 15 ngày ương ở 2
nghiệm thức cho cá ăn thức ăn NRD có trộn
Vitamine C và cho cá ăn thức ăn NRD (lần
lươt 2,5g và 2,2g) khác biệt không có ý nghĩ a
(p>0,05). (Bả ng 2)
Hệ số phân tán về chiều dài cá sau 15 ngày
ương ở 2 nghiệm thức cho cá ăn thứ c ăn NRD
có trộn Vitamine C và cho cá ăn thức ăn NRD
(lần lượt 7% và 8%) khác biệt không có ý nghĩ a
(p>0.05). (Bả ng 2)
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Cá c
chỉ tiêu về tỉ lệ số ng, sinh trưở ng củ a cá ở 2
nghiệ m thứ c khá c biệ t không có ý nghĩ a, có khả
năng thờ i gian thí nghiệ m ngắ n (15 ngà y) nên
chưa thể hiệ n sự khá c biệ t.
Bảng 2. Sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá ở 2 nghiệm thức sau 15 ngày ương.
Chỉ tiêu
Nghiệm thức
Thứ c ăn NRD Thứ c ăn NRD bổ sung Vitamine C
Tỉ lệ sống (%) 87,6
a
± 10,86
87,3
a
± 6,56
48,4
a
± 0,98
2,2
a
± 0,14
7,8
a
± 0,79
2,9
a
± 0,13
6,8
b
± 0,43
Chiều dài thân (mm) 49,6
a
± 1,07
Khối lượng (g) 2,5
a
± 0,10
Hệ số CV (%) 6,8
a
± 0,74
SGR(%) về chiều dài 3,1
a
± 0,14
SGR(%) về khối lượng 7,5
a
± 0,22
Số liệu trình bày: trung bình ± SE. Số liệu được so sánh bằng ANOVA một yếu tố. Ký tự mũ ở cùng hàng khác nhau chỉ
sự khác biệ t có ý nghĩa (p<0,05) với kiểm định LSD.
IV. KẾT LUẬN
1. Kết luận
Khi ương cá chim vây vàng, cho cá ăn thức
ăn công nghiệ p kết hợp với cá tươi sẽ cải thiện
được tỉ lệ sống và sinh trưởng của cá.
Việ c bổ sung Vitamine C vào thức ăn NRD
5/8, không ả nh hưở ng đế n tỉ lệ sống và sinh
trưởng của cá chim vây và ng giai đoạ n giố ng.
2. Kiến nghị
Việc ương nuôi cá chim vây vàng bằng lồng
trên biển, cho cá ăn thức ăn công nghiệ p kết hợp
với một ít cá tươi sẽ mang lại hiệu quả về kinh
tế cho người nuôi và hạn chế sự ô nhiễm môi
trường, có thể đây là giải pháp nuôi bền vững.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 39
fHONG B/O KHO/ HOC
TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN CỦA SÁ SÙNG
(SIPUNCULUS ROBUSTUS KEFERSTEIN, 1865) TẠI VÙNG TRIỀU
VEN BIỂN CAM RANH - KHÁNH HÒA
STUDY ON REPRODUCTIVE CHARACTERISTICS OF SAND WORM (SIPUNCULUS
ROBUSTUS KEFERSTEIN, 1865) IN COASTAL TIDAL ZONE OF
CAM RANH- KHANH HOA
Tôn Nữ Mỹ Nga, Nguyễn Văn Thanh,
Hoàng Thị Hồng, Ngô Anh Tuấn
Khoa Nuôi trồng Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Sá sùng Sipunculus robustus Keferstein, 1865 là loài sinh vật sống ở vùng bãi triều, có giá trị dinh
dưỡng cao [12]. Trong những năm gần đây, khai thác quá mức và ô nhiễm vùng triều ven biển Khánh Hòa đã
làm nguồn lợi sá sùng giảm sút nghiêm trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm sinh sản của sá sùng tại đây
là rất cần thiết nhằm góp phần bảo vệ nguồn lợi sá sùng cũng như bổ sung thêm một đối tượng nuôi mới. Một
nghiên cứu đã được thực hiện trong vòng 6 tháng (12/2009 - 5/2010). Kết quả cho thấy cấu trúc giới tính của sá
sùng là 34,63% ♂; 36,8% ♀, không xác định ♂:♀ là 28,57%, tỉ lệ trung bình ♂:♀ là 0,91:1. Kích thước thành
thục lần đầu chưa được xác định chính xác nhưng nhóm kích thước nhỏ nhất có cá thể thành thục sinh dục là
7,2 - 10,2cm. Sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 743.182 đến 4.740.948 trứng/ cá thể, trung bình là 2.121.367.
Sức sinh sản tương đối dao động từ 75.485 đến 209.788 trứng/g cơ thể, trung bình là 120.777. Phương trình
tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng toàn thân là W = 203965,815x X
0,803
(R = 0,833). Tháng
3 - tháng 4 là mùa vụ sinh sản (trong đó, tháng 4 là đỉnh cao với tỉ lệ thành thục sinh dục đạt 82,5%). Hệ số
thành thục sinh dục GSI của loài tăng theo giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục, đạt tỉ lệ cao nhất ở giai
đoạn III (43,37% ở cá thể đực, 41,10% ở cá thể cái).
Từ khóa: Sá sùng, sinh sản, Sipunculus robustus
ABSTRACT
Sand worm Sipunculus robustus Keferstein, 1865 is a species which has a high nutritional value,
living in tidal zones [9]. In recent years, overfishing and pollution in Khanh Hoa coastal tidal zones reduced
resource of sand worm seriously. So, a study on reproduction of sand worm here is very necessary, contributes
to protecting their resource as well as adds a new candidate to aquaculture. A study has been conducted for 6
months (12/2009 - 5/2010). The results showed that sexual structure of sand worm was 34.63% of ♂, 36.8% of
♀, 28.57% of unidentidied ♂:♀; average rate ♂:♀ was 0,91:1. Size of first maturity has not been determined
exactly but the smallest maturation size group was 7.2 – 10.2 cm. Absolute fecundity ranged from 743,182 to
4,740,948 eggs/ individual, average 2,121,367. Relative fecundity ranged between 75,485 and 209,788 eggs/g
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
40 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
of body, average 120,777. Correlation equation between absolute fecundity and weight of entire body was
W = 203965.815x X
0.803
(R = 0.833). March- April was reproduction season (in which, April was the top with
mature percentage reached to 82.5%). Gonadosomatic Index (GSI) of this species increased together with
development stages of gonad glands, reaching to the highest percentage in stage III (43.37% in male, 41.10%
in female).
Keywords: Reproduction, sand worm, Sipunculus robustus
I. MỞ ĐẦU
Khu vực phân bố của lớp sá sùng (Sipunculidea) nói chung rất rộng, từ vùng biển nhiệt đới cho
đến Nam cực, từ vùng triều cho đến vùng biển sâu, nhưng chỉ tập trung nhiều ở vùng triều có nền
đáy cát hoặc cát bùn [3]. Sá sùng có nhiều nhất ở khu vực Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Biển
Đông. Các nước có loài này phân bố là Andaman, Úc, Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia,
Philippine và Việt Nam [2], [3], [5], [6].
Sá sùng có giá trị dinh dưỡng cao [12] nhưng hiện tượng khai thác quá mức và ô nhiễm biển
gần đây đã làm cho nguồn lợi sá sùng ngày càng giảm sút nghiêm trọng. Trước tình trạng đó, việc
nghiên cứu đặc điểm sinh sản của sá sùng (Sipunculus robustus Keferstein, 1865) tại vùng triều ven
biển Cam Ranh - Khánh Hòa là rất cần thiết nhằm làm cơ sở khoa học cho sinh sản nhân tạo, tái tạo
và bảo vệ có hiệu quả nguồn lợi sá sùng.
II. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian thực hiện: Từ ngày 01/12/2009 đến 01/06/2010
- Địa điểm thu mẫu: Vùng triều ven biển Cam Ranh - Khánh Hòa
- Địa điểm phân tích mẫu: phòng thực tập Sinh lý, Sinh thái - Khoa Nuôi trồng Thủy sản - trường
Đại học Nha Trang
- Đối tượng nghiên cứu: loài sá sùng Sipunculus robustus Keferstein, 1865
Hệ thống khóa phân loại như sau [4]:
Ngành: Sipuncula Rafinesque, 1814
Lớp: Sipunculidea Gibbsy & Culter, 1987
Bộ: Sipunculiormes Gibbsy & Culter, 1987
Họ: Sipunculidae Gray, 1828
Giống: Sipunculus Linnaeus, 1767
Loài: Sipunculus robustus Keferstein, 1865
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 41
2.2. Phương pháp thu và phân tích mẫu
2.2.1. Phương pháp thu mẫu
- Mỗi tháng thu mẫu 1 lần với số mẫu trên
30 mẫu/tháng tại 1 khu vực thuộc vùng triều ven
biển Cam Ranh - Khánh Hòa. Chọn vị trí tại nơi
có dấu vết bò của sá sùng để lại trên mặt đất để
thu mẫu.

0,5 m
2
để xác định diện tích thu mẫu. Dùng cuốc,
xẻng để đào bới đến độ sâu 50 - 60cm hoặc
đến độ sâu không còn bắt gặp sá sùng. Sử dụng
phương pháp thu mẫu ngẫu nhiên.
- Thu chất đáy: dùng 2 ống sắt tròn (một ống
dài 80cm, một ống dài 70cm, vát nhọn, đường
kính 10cm), ấn sâu xuống cát từ 40 -* 50cm để
lấy chất đáy.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh
sản
- Mẫu sá sùng được thu hàng tháng với tổng
số 231 mẫu tại khu vực nghiên cứu. Mẫu được
cố định trong dung dịch formalin 5%. Chuyển về
phòng thí nghiệm, rửa sạch và tiến hành phân
tích.
- Quan sát hình thái cấu tạo và phân biệt
đực cái thông qua màu sắc và tiêu bản cắt lát
buồng trứng.
* Đánh giá các giai đoạn phát triển của
tuyến sinh dục
Tìm hiểu đặc điểm sinh sản của sá sùng (sipunculus robustus keferstein, 1865)
tại vùng triều ven biển Cam Ranh - Khánh Hòa
Giới tính, tỉ
lệ đực cái
Mùa vụ
sinh sản
Sức sinh sản
Kích thước
thành thục
sinh dục
lần đầu
Các giai
đoạn phát
triển tuyến
sinh dục
Thu thập và xử lý số liệu
Kết luận và đề xuất ý kiến
Hình 1. Sơ đồ điểm thu mẫu
Điểm thu mẫu.
- Tại các điểm thu mẫu, dùng khung
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
42 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
- Các giai đoạn phát triển của tuyến
sinh dục được đánh giá theo thang 4 bậc của
Baron [1].
- Tiêu bản buồng trứng và tinh sào được
cắt lát theo phương pháp của Sheckan và
Hrapchack: tuyến sinh dục được cố định bằng
formol 5%, nước được loại bỏ bằng Etanol và
làm sạch bằng xylene. Sau đó, mẫu được đúc
trong Parafin và cắt lát mỏng từ 4µm đến 6µm
bằng máy cắt Microtome. Mẫu được nhuộm bằng
Hematoxylin và Eosin. Tiêu bản được quan sát
bằng kính hiển vi quang học với độ phóng đại từ
40 - 400 lần.
* Tỷ lệ đực cái
- Tỷ lệ đực cái của sá sùng được phân tích
qua 06 lần thu mẫu ngẫu nhiên với tổng số 231
cá thể theo kích thước và thời gian.
* Kích thước thành thục lần đầu
Kích thước thành thục sinh dục lần đầu
là nhóm kích thước nhỏ nhất mà các cá thể
có tuyến sinh dục đang phát triển ở giai đoạn
III chiếm tỷ lệ ≥ 50% trên tổng số mẫu thu
được [10].
* Sức sinh sản
Sức sinh sản tuyệt đối (Fa) (số trứng/cá thể)
được xác định bằng cách đếm số lượng trứng ở
giai đoạn thành thục.
Phương pháp đếm: sá sùng được ngâm
trong formol 5%. Toàn bộ tuyến sinh dục được
rửa sạch (lọc qua lưới 20µm), để ráo nước, đem
cân. Sau đó, xác định đực cái bằng kính hiển vi
quang học. Trong trường hợp là cá thể cái, lấy
1g trứng đem pha loãng với nước cất, tạo dung
dịch huyền phù. Sử dụng buồng đếm động vật
để đếm số lượng trứng. Thao tác đếm trứng lặp
lại 3 lần, tính số lượng trứng trung bình/1g mẫu.
Tổng số trứng của cá thể được tính theo công
thức:
a
Fa =
 ×
W
t

n
Trong đó:
Fa : Sức sinh sản tuyệt đối,
a : số lượng trứng đếm được,
n : khối lượng phần buồng trứng đem đếm (g),
W
t
: khối lượng buồng trứng (g).
Sức sinh sản tương đối(F
Gr
): trứng/gam cơ
thể
Fa
F
Gr
=

W
Trong đó:
Fa: Sức sinh sản tuyệt đối,
W: khối lượng toàn thân sá sùng(g).
* Mùa vụ sinh sản
- Mùa vụ sinh sản được xác định bằng tỉ lệ
cá thể cái có tuyến sinh dục ở giai đoạn III.
- Hệ số thành thục sinh dục (GSI):
Hệ số thành thục sinh dục được xác
định theo phương pháp của Pravdin [10]: Là
tỷ lệ phần trăm của khối lượng tuyến sinh dục
trên khối lượng toàn thân (gồm cả tuyến sinh
dục).
Hệ số thành thục sinh dục được tính theo
công thức sau:
Wtsd
GSI =
 × 100%
Wt
Trong đó:
GSI : Hệ số thành thục (%)
Wtsd : Khối lượng tuyến sinh dục (g)
Wt : Khối lượng toàn thân (g)
3. Phân tích số liệu
Số liệu sinh học sau khi thu được xử lý và
đánh giá bằng phần mềm Excel và SPSS.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 43
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục
Hình 2. Tuyến sinh dục giai đoạn I: (a) Độ phóng đại 100 lần; (b) Độ phóng đại 400 lần
Tuyến sinh dục của sá sùng Sipunculus robustus rất nhỏ, khó phân biệt bằng mắt thường, trải
qua 4 giai đoạn phát triển từ I đến IV [1].
1.1. Giai đoạn I
Tuyến sinh dục nhỏ, màu sắc đồng nhất, rất khó phân biệt bằng mắt thường, không phân biệt
được đực cái.
1.2. Giai đoạn II (đang phát triển, tiền thành thục)
Hình 3. Tuyến sinh dục giai đoạn II (độ phóng đại 100 lần): (a) Đực; (b) Cái
Tuyến sinh dục bắt đầu phát triển, kích thước lớn hơn giai đoạn I. Đực cái được phân biệt bằng
các tế bào trứng và tinh sào trong tuyến sinh dục.
Tuyến sinh dục đực: màu vàng nhạt, phát triển lan rộng khắp khoang cơ thể nhưng còn ít.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
44 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Tiêu bản qua kính hiển vi cho thấy tế bào sinh dục có dạng hình cầu nhỏ và dính kết với nhau thành
từng đám.
Tuyến sinh dục cái: có màu vàng nâu. Tiêu bản cắt lát cho thấy tế bào có dạng hình cầu nhỏ,
các tế bào trứng còn chưa phát triển, nhân chưa rõ ràng.
1.3. Giai đoạn III (giai đoạn thành thục)
Hình 4. Tuyến sinh dục giai đoạn III (độ phóng đại 100 lần): (a) Đực; (b) Cái
Tuyến sinh dục căng phồng, có màu đặc
trưng cho tuyến sinh dục đực và cái.
Tuyến sinh dục đực: màu vàng nâu, kích
thước lớn, phát triển rộng và kéo dài trong
khoang cơ thể. Các tế bào sinh dục tập trung
thành từng búi. Khác với giai đoạn II, III, các tế
bào sinh dục đực rời nhau, tinh trùng bắt đầu rời
khỏi các tế bào sinh dục.
Tuyến sinh dục cái: Buồng trứng phát triển
căng phồng, rộng khắp khoang cơ thể và có
màu nâu đỏ. Tế bào sinh dục là các noãn bào
đã hoàn thành quá trình tích lũy vật chất dinh
dưỡng và có kích thước tối đa. Các tế bào trứng
dạng hình cầu, kích thước rất lớn, rời nhau. Sá
sùng sẵn sàng đẻ trứng.
1.4. Giai đoạn IV
Đây là giai đoạn sau khi đẻ, buồng trứng
xẹp, mềm, trong buồng trứng còn rải rác 1 số
trứng giai đoạn II, III. Trong tuyến sinh dục đực,
nang tinh rời ra hoặc không còn.
Tuyến sinh dục đực (sau khi phóng tinh):
có màu vàng nhạt, còn lại ít trong khoang cơ thể,
rời nhau, túi tinh rỗng. Một số tế bào sinh dục
đực còn sót lại.
Tuyến sinh dục cái (sau khi đẻ trứng):
Buồng trứng xẹp xuống, được đặc trưng bởi sự
có mặt của các bào nang rỗng và một số tế bào
trứng còn sót lại.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 45
2. Giới tính và tỉ lệ đực cái
Hình 5. Màu sắc tuyến sinh dục: (a) Cá thể cái; (b) Cá thể đực
Sipunculus robustus là loài phân tính đực cái, được phân biệt rõ ràng dựa trên đặc điểm, màu
sắc của tuyến sinh dục. Tuy nhiên, ở giai đoạn I, không phân biệt được giới tính vì màu sắc tuyến
sinh dục giống nhau.
Ở giai đoạn II, tuyến sinh dục của sá sùng đực có màu vàng nâu, của sá sùng cái màu nâu đỏ.
Kết quả phân tích tỉ lệ đực: cái trên 231 mẫu sá sùng được trình bày qua bảng 1.
Bảng 1. Biến động tỷ lệ đực, cái
Tháng ∑mẫu
Sá sùng đực Sá sùng cái Không xác định ♂:♀
Tỷ lệ
♂:♀
N % N % N %
12 43 6 13,95 18 41,86 19 44,19 0,33:1
1 34 2 5,88 5 14,71 34 79,41 0,25:1
2 46 12 26,09 16 34,78 18 39,13 0,75:1
3 35 15 42,86 18 51,43 2 5,71 0,84:1
4 40 30 75,00 10 25,00 0 0,00 3:1
5 33 15 45,45 18 54,55 0 0,00 0,82:1
Tổng 231 80 34,63 85 36,80 73 28,57 0,94:1
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
46 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Hình 6. Cấu trúc giới tính của sá sùng qua từng tháng
Hình 7. Cấu trúc giới tính của sá sùng trong cả 6 tháng
Bảng 1, hình 6 và hình 7 cho thấy tháng 1 là tháng có tỉ lệ đực cái thấp, tháng 2 và tháng 3 có
cấu trúc giới tính khá cân bằng, tháng 4 và tháng 5 chỉ có giới tính đực và cái. Tỉ lệ đực: cái có sự
chênh lệch giữa các tháng, nhất là tháng 4 (♂:♀ = 3:1). Nguyên nhân của sự chênh lệch này là do
thu mẫu ngẫu nhiên. Tuy nhiên, cấu trúc giới tính trong cả 6 tháng không có sự mất cân bằng lớn. Tỉ
lệ đực: cái trong 6 tháng là 0,94 : 1, tỉ lệ này tương tự với tỉ lệ đực: cái của một số loài khác.
3. Kích thước thành thục lần đầu
Bảng 2. Tỉ lệ thành thục sinh dục của sá sùng theo nhóm kích thước
Nhóm kích thước
Chiều dài thân
(cm)
Số mẫu
Số cá thể
thành thục SD
Tỉ lệ thành thục
(%)
Nhóm 1 7,2 – 10,2 12 7 58,33
Nhóm 2 10,3 – 13,3 31 16 51,61
Nhóm 3 13,4 – 16,4 47 26 55,32
Nhóm 4 16,5 – 19,5 64 21 32,81
Nhóm 5 19,6 – 22,6 57 13 22,81
Nhóm 6 22,7 – 25,7 14 3 21,43
Nhóm 7 25,8 – 28,8 4 1 25,00
Nhóm 8 28,9 – 31,9 2 0 0,00
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 47
Bảng 2 và hình 8 cho thấy Sipunculus robustus thành thục sinh dục lần đầu ngay ở nhóm kích
thước nhỏ nhất trong nghiên cứu (7,2 - 10,2cm) với tỷ lệ các cá thể chín mùi sinh dục đạt 58,33%.
Điều này chứng tỏ, sá sùng thành thục sinh dục tương đối sớm. Vậy, nhóm kích thước 7,2 - 10,2cm
là kích thước thành thục sinh dục của Sipunculus robustus ở vùng triều ven biển Cam Ranh - Khánh
Hòa. Tuy nhiên, vì mẫu chỉ được thu từ tháng 12 đến tháng 5 nên chưa thể xác định được chính
xác kích thước thành thục lần đầu của loài này (có thể ở nhóm kích thước nhỏ hơn nữa) nên cần có
những nghiên cứu sâu hơn và đầy đủ hơn.
Hình 8. Tỉ lệ thành thục sinh dục của sá sùng theo nhóm kích thước
4. Sức sinh sản
Bảng 3: Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối trung bình
của Sipunculus robustus
Sức sinh sản
Số mẫu
(n)
Số lượng trứng
Sức sinh sản tuyệt đối
(trứng/ cá thể)
56
743.182 ÷ 4.740.948
2.121.367 ± 857.741
Sức sinh sản tương đối
(trứng/g cơ thể)
56
75.485 ÷ 209.788
120.777 ± 31.531

GTNN ÷ GTLN
Ghi chú: Số liệu được trình bày là: 

BT + GTLN
GTNN: Giá trị nhỏ nhất; GTLN: giá trị lớn nhất; TB: trung bình; ĐLC: độ lệch chuẩn
Trong thời gian thu mẫu, có 56 cá thể cái ở giai đoạn thành thục. Kết quả nghiên cứu trên 56 cá
thể được trình bày ở bảng 3.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
48 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG

Hình 9. Các giai đoạn khác nhau của trứng sá sùng trong một cơ thể
(a) Tuyến sinh dục cái giai đoạn III soi tươi (độ phóng đại 100 lần);
(b) Tuyến sinh dục cái giai đoạn III nhuộm màu
Bảng 3 cho thấy sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối của sá sùng có sự chênh lệch
rất lớn giữa các cá thể.
Nguyên nhân có thể là do quá trình thành thục sinh dục không đồng đều giữa các cá thể, ngay
cả trong buồng trứng của một cá thể cũng có trứng ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Điều này
cũng phù hợp với nghiên cứu của Guobao và Bing (2002) [7] - trong cùng một cơ thể của sá sùng,
có nhiều kích thước trứng khác nhau.
Kết quả phân tích 56 cá thể cái cho thấy sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng toàn thân của sá
sùng liên hệ với nhau theo phương trình tương quan W = 203965,815 x X
0,803
(W: khối lượng toàn
thân, X: sức sinh sản tuyệt đối) và được trình bày ở hình 10.
Hình 10. Mối tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng toàn thân
5. Mùa vụ sinh sản và hệ số thành thục sinh dục (GSI)
5.1. Mùa vụ sinh sản
Mùa vụ sinh sản của sá sùng được xác định là tháng có trên 50% số cá thể chín mùi sinh dục,
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 49
đang tham gia sinh sản hoặc đã đẻ xong [10].
Kết quả phân tích các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục trong 6 tháng điều tra được trình bày
ở bảng 4.
Bảng 4. Tỷ lệ các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của sá sùng
Tháng ∑mẫu
Giai đoạn I Giai đoạn II Giai đoạn III Giai đoạn IV
n % n % n % n %
12 43 19 44,19 10 23,26 11 25,58 3 6,97
1 34 27 79,41 7 20,59 0 0,00 0 0,00
2 46 18 39,13 19 41,30 9 19,57 0 0,00
3 35 2 5,71 11 31,43 22 62,86 0 0,00
4 40 0 0 7 17,50 33 82,50 0 0,00
5 33 0 0 2 6,05 13 39,40 18 54,55
Bảng 4 và hình 11 cho thấy tháng 1 là tháng sá sùng có tuyến sinh dục ở giai đoạn I và giai đoạn
II. Tháng 3 và tháng 4 là tháng có tỉ lệ sá sùng thành thục sinh dục > 50%. Điều này cho thấy mùa
vụ sinh sản không liên tục quanh năm, mà chia thành mùa và có thể coi 2 tháng này là mùa vụ sinh
sản của sá sùng tại vùng triều ven biển Cam Ranh.
Vậy, theo định nghĩa về mùa vụ sinh sản trên [10] thì trong thời gian nghiên cứu (từ tháng 12 đến
tháng 5), chúng tôi xác định được một mùa vụ sinh sản của Sipunculus robustus là tháng 3 - tháng 4
(cũng có thể chúng có thêm một hoặc nhiều mùa vụ sinh sản khác trong các tháng còn lại của năm
nữa, cần có nghiên cứu thêm để khẳng định). Kết quả này của chúng tôi khác với kết quả nghiên
cứu ở Trung Quốc, sá sùng sipunculus sp. đẻ từ tháng 3 đến tháng 9 và đẻ tập trung từ tháng 5 đến
tháng 8 [7]; ở Quảng Ninh, sá sùng tập trung sinh sản trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 7
[8], ở Bến Tre, sá sùng đẻ tập trung từ tháng 10 đến tháng 12 và từ tháng 2 đến tháng 4 [9].
Hình 11. Tỷ lệ các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
50 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Điều này có thể giải thích rằng quá trình thành thục sinh dục ở các cá thể nói chung phụ thuộc
rất nhiều vào điều kiện môi trường sống như nhiệt độ, độ mặn, dinh dưỡng, chất đáy... [11].
5.2. Hệ số thành thục sinh dục (GSI)
Bảng 5. GSI của sá sùng đực
Hệ số TTSD giai đoạn II (%)
Hệ số TTSD
giai đoạn III (%)
Hệ số TTSD giai đoạn
IV(%)
Tháng 12 31,88 ± 2,58 38,16 ± 0 26,79 ± 3,64
Tháng 1 33,00 ± 5,40 0 0
Tháng 2 31,22 ± 2,78 35,17 ± 8,18 0
Tháng 3 33,41 ± 3,51 39,13 ± 3,44 0
Tháng 4 33,85 ± 6,74 45,8 ± 10,58 0
Tháng 5 28,76 ± 1,56 35,86 ± 0 26,69 ± 3,73
Trung bình 32,94 ± 5,62 43,37 ± 9,91 26,71 ± 3,58
Bảng 6. GSI của sá sùng Sipunculus robustus cái
Hệ số TTSD giai đoạn II (%)
Hệ số TTSD
giai đoạn III (%)
Hệ số TTSD giai đoạn
IV(%)
Tháng 12 31,03 ± 2,16 37,63 ± 6,43 29,00 ± 1,46
Tháng 1 30,81 ± 3,25 0 0
Tháng 2 31,05 ± 2,52 39,04 ± 1,36 0
Tháng 3 0 42,09 ± 7,35 0
Tháng 4 0 44,39 ± 6,21 0
Tháng 5 0 40,67 ± 4,71 27,49 ± 2,92
Trung bình 30,98 ± 2,49 41,10 ± 6,20 28,10 ± 2,64
Kết quả nghiên cứu hệ số thành thục sinh
dục ở sá sùng được trình bày ở bảng 5 và 6.
Bảng 5 cho thấy nhìn chung hệ số thành
thục sinh dục (GSI) của giai đoạn II nhỏ hơn GSI
của giai đoạn III ở trong cùng một tháng. Vậy, hệ
số thành thục sinh dục (GSI) ở sá sùng đực tăng
lên theo giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục
từ giai đoạn II đến giai đoạn III và giảm mạnh ở
giai đoạn IV.
Sự chênh lệch của hệ số thành thục sinh
dục (GSI) của các cá thể trong cùng một giai
đoạn giữa các tháng cũng được thể hiện rất
rõ. Tháng 2, hệ số thành thục sinh dục (GSI)
của cá thể đực có tuyến sinh dục ở giai đoạn
III là 35,17 ± 8,18 (%), tháng 3 là 39,13 ± 3,44
(%), tháng 4 là 45,38 ± 10,58 và sang tháng 5,
hệ số này giảm tương đối nhanh, đạt giá trị là
35,86 ± 0,00 (%). Điều này chứng tỏ trong những
tháng là mùa vụ sinh sản của sá sùng thì GSI
cũng đạt giá trị cao nhất.
Bảng 6 cho thấy GSI của sá sùng cái có xu
hướng tăng từ giai đoạn II đến giai đoạn III và
đột ngột giảm xuống giai đoạn IV.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 51
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN
1. Kết luận
- Giới tính và tỉ lệ đực cái: Sipunculus
robustus là loài phân tính đực, cái. Cấu trúc
giới tính trong thời gian nghiên cứu là: Không
xác định (KXĐ) ♂:♀ là 28,57%; ♂: 34,63%;
♀: 36,8%. Tỉ lệ trung bình đực: cái là 0,91:1.
- Kích thước thành thục lần đầu: chưa xác
định chính xác kích thước thành thục lần đầu
của loài nhưng nhóm kích thước nhỏ nhất có cá
thể thành thục sinh dục là 7,2 - 10,2cm.
- Sức sinh sản: sức sinh sản tuyệt đối dao
động từ 743.182 đến 4.740.948 trứng/cá thể,
trung bình là 2.121.367 trứng/ cá thể. Sức sinh
sản tương đối dao động từ 75.485 đến 209.788
trứng/g cơ thể, trung bình là 120.777 trứng/g cơ
thể. Sức sinh sản của loài có xu hướng tăng theo
khối lượng cơ thể. Phương trình tương quan giữa
sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng toàn thân:
W = 203965,815x X
0,803
với R = 0,833
- Mùa vụ sinh sản: Trong khoảng từ tháng
12/2009 đến tháng 6/2010 thì tháng 3 - tháng
4 là mùa vụ sinh sản. Trong đó, tháng 4 là đỉnh
cao sinh sản của loài với tỉ lệ thành thục sinh dục
đạt 82,5%.
- Hệ số thành thục sinh dục: GSI của loài
tăng theo giai đoạn phát triển của tuyến sinh
dục, đạt tỉ lệ cao nhất ở giai đoạn III (43,37% ở
cá thể đực, 41,10% ở cá thể cái).
2. Đề xuất ý kiến
- Cần hạn chế khai thác loài Sipunculus
robustus trong mùa vụ sinh sản (tháng 3 - tháng
4) nhằm bảo vệ nguồn lợi sá sùng tự nhiên.
- Cầ n tiếp tục nghiên cứ u đề tà i nà y trong
các tháng cò n lạ i củ a năm (từ thá ng 6 đến
thá ng 11) để là m căn cứ xá c đị nh chí nh xá c hơn
về mù a vụ sinh sả n và kích thước thành thục
sinh dục lần đầu củ a sá sù ng loà i Sipunculus
robustus.
- Cầ n có nhữ ng nghiên cứ u về đặ c điể m
sinh họ c, sinh thá i phân bố củ a loà i Sipunculus
robustus tạ i Vù ng triề u Cam Ranh.
- Cần có những nghiên cứu sâu hơn về
nhóm kích thước <7,2cm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Baron (1992), Reproductive Cycles of the Bivalve Molluscs Atactodea striata (Gmelin), Gafrarisum
tumifdum Röding and Anadara scapha (L.) in New Caledonia.
2. Chaohua Z., Suzuki T. and Yoshie Y. (2000), Study on tasty substance and functional components of the
dried Sha-chong, Jourrnal of Zhanjiang Ocean University; vol. 20, no. 2, pp. 24-27.
3. Culter E.B. and Culter N.J. (1985), Averision of the genen Sipunculus and Xenosiphon (Sipuncula),
Zoological Journal of the linnean Socienty 85: 219-246.
4. Culter E.B. (1994), The Sipuncula: their systematic, biology, and evolution. Cornell University Press, 480
pp.
5. Edmonds S. J. (2000). Phylum Sipuncula, In: Polychaeta & Allies: The Southern Synthesis. Fauna of
Australia, Vol. 4A, Polychaeta, Myzostomida, Pogonophora, Echiura, Sipuncula. CSIRO Publishing,
Melbourne, pp. 375-400.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
52 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
6. Edmonds, S. J., 2000, Phylum Sipuncula. In: Beesley, P.L., Ross, G.J.B., Glasby, C.J. (Eds.), Polychaetes
& Allies: The Southern Synthesis. Fauna of Australia, vol. 4A, Polychaeta, Myzostomida, Pogonophora,
Echiura, Sipuncula. CSIRO Publishing, Melbourne, pp. 375–400.
7. Guobao L. and Bing Y. (2002), The reproductive biology of peanut worm, Journal of fisheries of China /
Shuichan Xuebao, vol.26, no. 6, pp. 503-509.
8. Hoàng Thị Bích Đào (2005), “Đặc điểm sinh học sinh sản & thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo sò huyết”,
Luận văn tiến sĩ khoa học, Ngành NTTS, Đại học Nha Trang, 150 trang.
9. Bùi Quang Nghị (2009), Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố và đề xuất các giải pháp bảo vệ
và khai thác hợp lý Sâm đất ở Bến Tre.
10. Pravdin I.F (1973), Hướng dẫn nghiên cứu cá (Phạm Thị Minh Giang dịch), NXB KH & KT Hà Nội 1976,
278 trang.
11. Vũ Trung Tạng (1991), Sinh thái học các thủy vực, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 370.
12. Nguyễn Thụy Dạ Thảo, Nguyễn Kim Trinh, Võ Huy Dâng (2004), Đánh giá thành phần các axit amin
và hàm lượng các nguyên tố khoáng từ trùn biển, Hội thảo khoa học trường Đại học Khoa học Tự nhiên,
ĐHQG tp. Hồ Chí Minh, lần thứ IV - 10/2004, báo cáo tóm tắt.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 53
fHONG B/O KHO/ HOC
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO CỤM ĐIỀU KHIỂN PHỤ TẢI VÀ
KẾT NỐI MÁY TÍNH CHO LIÊN HỢP DIESEL - MÁY PHÁT
PHỤC VỤ KHẢO NGHIỆM ĐỘNG CƠ
RESEARCHS TO MANUFACTURING OF LOAD CONTROL BOX AND PC CONNEC-
TION FOR COMPLEX UNIT OF DIESEL-GENERATOR, WITH THE AIM
OF TESTING THE ENGINE
Lê Bá Khang
Khoa Cơ khí - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Nhằm nâng cao độ chính xác, tin cậy cho số liệu đo trên liên hợp diesel-máy phát đáp ứng yêu cầu đào
tạo và nghiên cứu khoa học, chúng tôi thiết kế, chế tạo cụm điều khiển phụ tải kiểu cơ - điện, đồng thời chế tạo
board mạch với các linh kiện điện tử đặc dụng để thu nhận tín hiệu từ các cảm biến và xử lý, truyền dữ liệu
thông qua cổng Com kết nối với máy tính. Chương trình giao tiếp viết trên nền Visual Basic cho phép đọc các
tín hiệu và hiển thị lên màn hình máy tính các thông số tính năng cần thiết của liên hợp khi thiết bị hoạt động.
Thiết bị làm việc ổn định, số liệu chính xác, tin cậy. Liên hợp có khả năng đáp ứng yêu cầu cho việc
nghiên cứu và dạy - học về máy động lực tại Bộ môn Kỹ thuật ô tô, Khoa Cơ khí, Trường Đại học Nha Trang.
Từ khóa: Điều khiển, linh kiện điện tử, kết nối
ABSTRACT
This project has an aim to enhanc the accuracy and reliability for measurement data on the Complex
Unit of Diesel-Generator in order to meet the demand for training & study; we research and produce the
Control Box with mechanical-electrical type to control the load, we also produce the electrical board with
special electrical components for receiving the signals from sensors and processing, transmission of data
through the port COM which is connected to the PC.
Based on the Visual Basic program will read the signal and display the parameters on the PC’s screen
when complex unit of Diesel-Generator is operated.
The data are settlet, accurate, reliable. The complex unit of diesel-generator and control box has
the capacity of responding the requirements of the research and training aboar engine at the Automotive
Enginneering Departement Faculty of Mechanics, Nha Trang University.
Keywords: Control Box, PC connected componnents
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Liên hợp động cơ diesel - máy phát (hình
1) tại Bộ môn Kỹ thuật ô tô, khoa Cơ khí dùng để
khảo sát thông số tính năng, xây dựng đường
đặc tính thực nghiệm… phục vụ giảng dạy và
nghiên cứu ứng dụng nhiên liệu, dầu mỡ bôi
trơn... Tuy nhiên, phương pháp gia tải và thu
nhận số liệu còn đơn giản, nhiều hạn chế. Nhằm
nâng cao độ chính xác, tin cậy cho số liệu đo
đáp ứng yêu cầu chất lượng đào tạo và nghiên
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
54 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
cứu khoa học, chúng tôi chế tạo cụm điều khiển
phụ tải và kết nối, hiển thị dữ liệu cho liên hợp
với sự trợ giúp của máy tính và linh kiện điện
tử. Phần nghiên cứu được trình bày sau đây là
nhằm tới mục đích trên.
II. ĐỐI TƯỢNG, THIẾT BỊ, PHƯƠNG PHÁP VÀ
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Cụm điều khiển
phụ tải, board mạch điện tử, phần mềm cho
board mạch, cho máy tính.
- Thiết bị phục vụ nghiên cứu: máy tính PC,
liên hợp động cơ diesel - máy phát…
- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tổng
hợp lý thuyết, chế tạo, thử nghiệm và điều chỉnh.
Hình 1. Liên hợp động cơ diesel lai máy phát
1- Động cơ diesel; 11- Núm điều chỉnh tải;
2- Đồng hồ đo nhiệt độ khí xả; 12- Áp tô máp;
3- Đồng hồ đo áp lực dầu bôi trơn; 13- Két làm mát;
4- Cảm biến nhiệt độ nước vào (đặt trên đường vào) làm mát động cơ; 14- Quạt làm mát;
5- Cảm biến nhiệt độ nước làm mát ra (đặt trên đường ra); 15- Bơm nước;
6- Cảm biến nhiệt độ không khí; 16- Thùng nước;
7- Máy tính; 17- Điện trở;
8- Bảng táp lô điện; 18- Đinamô;
9- Cụm thu nhận và xử lý dữ liệu; 19- Dây đai;
10- Đồng hồ chỉ báo; 20- Cảm biến tốc độ động cơ;
21- Đế máy.
- Nội dung nghiên cứu:
+ Kết cấu, nguyên lý làm việc của liên hợp
động cơ diesel lai máy phát.
+ Phân tích, chọn phương án và thiết kế,
chế tạo cụm điều khiển phụ tải.
+ Thiết kế, chế tạo và viết phần mềm cho
board mạch thu nhận, xử lý, truyền dữ liệu.
+ Thiết kế giao diện, viết phần mềm cho
máy tính, chạy thử và điều chỉnh.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Liên hợp động cơ diesel dẫn động máy
phát
Sơ đồ cấu tạo nguyên lý của liên hợp động
cơ diesel lai máy phát trình bày trên hình 1.
Nguyên lý hoạt động:
Khi động cơ (1) hoạt động, thông qua bộ
truyền đai (19) dẫn động, máy phát xoay chiều
một pha 10kW, điện áp 220
v
(18) phát điện.
Dòng điện sinh ra được tiêu thụ trên 6 điện trở
thuần (17) đặt cố định trong thùng nước (16).
Khi thay đổi vị trí của núm điều chỉnh (11), sẽ
làm thay đổi dòng điện trong mạch điều khiển và
dòng điện đi qua các điện trở (17), dẫn đến thay
đổi phụ tải động cơ.
Tín hiệu từ các cảm biến truyền đến bộ
phận thu nhận (9), tại đây tín hiệu được xử lý
rồi truyền đến cổng Com kết nối với máy tính
và trên cơ sở phần mềm được viết, cài đặt sẵn
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 55
trong máy PC sẽ hiển thị lên màn hình máy tính
giá trị của các thông số cần đo.
Để đảm bảo sự truyền nhiệt ra ổn định của
các điện trở trong thùng nước (16), ngoài việc
lựa chọn loại điện trở, giữ không đổi lượng nước
trong thùng, chúng tôi còn sử dụng bơm (15)
vận chuyển nước và quạt gió (14) giải nhiệt cho
nước khi nó được bơm chuyển lên két (13) rồi
đổ về thùng chứa (16).
2. Thiết kế, chế tạo cụm điều khiển phụ tải
Chúng tôi dựa vào các luận cứ khoa học
phân tích và kết hợp tính hợp lý, chọn ra phương
án thiết kế, chế tạo cụm điều khiển phụ tải cho
liên hợp là loại cơ - điện, có thể điều chỉnh liên
tục phụ tải. Chọn giải pháp giữ không đổi điện
áp, thay đổi dòng điện đến biến trở đến tụ và
Triac để điều chỉnh phụ tải cho động cơ. Mạch
điều khiển phụ tải bao gồm 6 TRIAC (loại dùng
cho dòng xoay chiều), 1 DIAC (giữ ổn định tín
hiệu điều khiển TRIAC), 6 điện trở 50kW, 6 điện
trở 1kW, 1 biến trở 1MΩ, 2 tụ điện 0,1mF và 0,01
mF, 6 điện trở R
d
, được mắc như sơ đồ tại hình 2.
Khi hoạt động, dòng điện đi qua điện trở 50k
đến biến trở, đến tụ C (xoay chiều) và đi qua
TRIAC làm thông mạch các điện trở (R
d
).
Sử dụng cơ cấu xoay - núm vặn (11) để thay
đổi điện trở của biến trở và dòng nạp vào tụ C,
làm thay đổi thời điểm để kích Triac thông mạch
dẫn đến thay đổi phụ tải (biến trở cùng với tụ C
quyết định độ mở sớm hoặc muộn góc pha điện
áp). Khi xoay núm vặn theo chiều KĐH thì điện
trở của biến trở sẽ giảm, góc mở Triac sẽ sớm
do đó phụ tải sẽ tăng và ngược lại.
Hình 2: Sơ đồ cấu tạo nguyên lý mạch điều khiển phụ tải (D-DIAC; T-TRIAC)
Ở một chế độ cố định (không xoay núm
vặn) điện trở của biến trở không đổi, dòng đi
qua nạp vào tụ không đổi, lúc này TRIAC được
thông dẫn đến dòng đi qua các điện trở trong
một chu kỳ không thay đổi, do đó phụ tải không
đổi.
Chúng tôi lắp đặt đồng hồ vôn kế và am
pe kế để theo dõi sự thay đổi các thông số U,
I của đinamô (kiểm tra cho kết quả tổn thất
điện trên dây nối nhỏ không đáng kể). Cụm
điều khiển được chế tạo có khả năng thay đổi
và ổn định liên tục phụ tải với dòng điện từ 5
đến 38 A.
1- Board mạch điều
khiển
2- Dây nối đến cơ
cấu cơ - điện
điều khiển phụ
tải, am pe kế và
vôn kế
3- Ống chứa dây
nối đến 6 điện
trở Rd
4- Biến thế
5- Quạt làm mát
Hình 3. Cụm điều khiển phụ tải
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
56 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
3. Thiết kế, chế tạo và viết phần mềm cho
board mạch thu nhận, xử lý, truyền dữ liệu
Board mạch thu nhận, xử lý và truyền dữ
liệu đến máy tính được thiết kế, chế tạo trình
bày trên hình 4. Ở đây, cấu trúc board mạch với
các linh kiện được chọn dựa trên tính ứng dụng
cao và hợp lý, gồm 3 cụm: Vi điều khiển chính
IC 89C51; khối AD có: IC 7406 (đảo tín hiệu), IC
0809 (biến đổi sang tín hiệu số), IC 74LS 254
(đọc giá trị tín hiệu số), IC 7474 (tạo xung dao
động cho AD hoạt động); khối OPTO khử nhiễu
và truyền tín hiệu quang, ngoài ra còn có linh
kiện LT 072 tạo điện áp chuẩn và giữ ổn định
điện áp cho IC 0809 hoạt động.
Phần kết nối với máy tính thông qua cổng
tiếp nối chuẩn RS 232 (cổng Com) với sự trợ
giúp của IC Max 232.
qua các giai đoạn sau: Từ cảm biến tín hiệu
dạng Analog được chuyển thành tín hiệu số AD.
Tín hiệu số này được xử lý nhờ lập trình tại IC
89C51, sau đó truyền qua cổng Com đến máy
tính và một lần nữa chương trình tại máy tính sẽ
đọc và hiển thị lên màn hình. Cụ thể:
Nguồn điện cấp ban đầu cho mạch là điện
xoay chiều U = 220V, do biến áp đặt ở ngay đầu
vào mà điện áp được hạ xuống 12VAC, và nhờ
4 diode nắn dòng và ổn áp 7805 mà dòng điện
xoay chiều được chuyển đổi sang dòng điện
1 chiều 5
V
cấp cho mạch (chân số 20 của IC
89C51 được nối với masse, chân 40 nối với
nguồn + 5
V
).
Tín hiệu từ cảm biến được chuyển đến IC
7406 đến IC 0809 để chuyển thành tín hiệu số
AD (đọc cổng nào là do IC 89C51 quyết định qua
3 chân địa chỉ của IC 0809) sau đó nó được gửi
qua IC 74LS254 để đọc (giá trị) và ổn định lại rồi
cho ra qua các ngõ của IC này đến OPTO khử
nhiễu trước khi đến IC 89C51.
Phần mềm viết, cài đặt cho board mạch
dưới dạng Assembler. Và tại IC 89C51 nhờ có
trình dịch này nó sẽ xử lý tín hiệu rồi truyền tới
cổng Com của máy tính.
Với sự hỗ trợ của IC Max 232 sẽ chuyển
đổi mức tín hiệu 5
V
của IC 89C51 thành ± 12
V

cuả máy tính. Và nhờ lập trình viết trên nền
Visual Basic được cài vào máy tính PC mà nó sẽ
đọc các tín hiệu (giá trị và địa chỉ) từ IC 89C51
chuyển qua để gán giá trị đó đúng ô hiển thị lên
màn hình.
Trên board mạch sử dụng 2 linh kiện IC
7805 có nhiệm vụ cấp điện 5
V
cho 2 khu vực:
biến đổi AD và khu vực xử lý dữ liệu của IC
89C51.
4. Thiết kế giao diện, viết phần mềm cho máy
tính, chạy thử và điều chỉnh
Giao diện được thiết kế khá đơn giản.
Chương trình khảo sát thông số tính năng cuả

Hình 4. Bo mạch thu nhận tín hiệu, xử lý
và truyền dẫn kết nối với máy tính
1- Cụm chuyển đổi điện áp 220
V
xuống 5
V
; 5- Khối OPTO;
2- Khối AD; 6- Biến áp nguồn;
3- IC 89C51; 7- Điện trở lấy dòng.
4- Đầu ra kết nối với cổng Com máy tính;
Nguyên lý chung:
Tín hiệu thu nhận được từ các cảm biến khi
chuyển đến máy tính hiện trên màn hình phải
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 57
liên hợp (n, N
e
, G
nl
, g
e
, T
m
, T
x ...
) được viết dựa
vào phần mềm Visual Basic và cài đặt vào
máy tính.
Sau khi chạy thử và điều chỉnh, giao diện
của phần mềm và các thông số tính năng của
liên hợp động cơ diesel dẫn động máy phát khi
hoạt động trình bày trên hình 5.
Và giá trị các thông số có độ chính xác cao
hơn so với khi sử dụng thiết bị, đồng hồ đo cầm
tay.
Hình 5 Thông số tính năng của liên hợp diesel - máy phát hiển thị trên giao diện tại màn hình máy tính
IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
- Cụm điều khiển phụ tải thiết kế, chế tạo
làm việc ổn định, tin cậy, khắc phục được nhược
điểm của phương pháp cơ khí, gia tải theo nấc
trước đây.
- Sử dụng board mạch linh kiện điện tử để
thu nhận, xử lý, dẫn truyền, kết nối và hiển thị
thông số tính năng của liên hợp lên màn hình
máy tính, đã loại bỏ cơ bản yếu tố chủ quan,
nâng cao độ chính xác, tin cậy cho số liệu đo khi
khảo nghiệm động cơ.
- Liên hợp có khả năng đáp ứng yêu cầu
của việc nghiên cứu và dạy - học về máy động
lực tại Khoa Cơ khí. Và nếu được, có thể tiếp
tục trang bị nâng cấp liên hợp với các thiết bị
đo hiện đại có độ chính xác cao như thiết bị đo
nhiên liệu (G
nl
), thiết bị đo áp suất cháy (p
z
,), thiết
bị đo lọt khí v.v...
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vương Khánh Hưng, 2007. Chuyên đề Vi điều khiển họ MSC-51- ứng dụng và lập trình với IC đơn phiến
AT 89C51. Nhà xuất bản Hồng Đức.
2. Đậu Quang Tuấn, 2006. Tự học lập trình Visual Basic 6.0. Nhà xuất bản Giao thông vận tải.
3. Ngô Diên Tập, 2005. Lập trình ghép nối máy tính trong Windows, NXB Khoa học kỹ thuật.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
58 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG PHỤC VỤ DẠY HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Nguyễn Thị Hiển, Nguyễn Xuân Vỹ
Trường Đại học Nha Trang, BHXH Phú Yên
fHONG B/O KHO/ HOC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mục đích của nghiên cứu này là nghiên cứu
khám phá các nhân tố tác động đến sự thỏa mãn
của sinh viên đối với chất lượng hoạt động phục
vụ dạy học của trường Đại học Nha Trang thông
qua đó để xem xét, tìm hiểu ý kiến đóng góp của
sinh viên, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến
nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động phục
vụ dạy học của trường.
Kết quả nghiên cứu đã giúp hình thành mô
hình nghiên cứu mới phù hợp với thực tế dựa
trên mô hình nghiên cứu đề xuất ban đầu. Ở
mô hình nghiên cứu mới này gồm những thang
đo có độ tin cậy giúp đo lường thành phần chất
lượng hoạt động phục vụ dạy học của trường.
Tất cả những kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra
được mức độ quan trọng hay thứ tự ưu tiên của
các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của sinh
viên. Ngoài ra nghiên cứu này còn góp phần vào
hệ thống thang đo chất lượng hoạt động phục vụ
dạy học của trường Đại học Nha Trang nói riêng
và các trường Đại học nói chung.
The purpose of the study is to research for
exploring the factors affecting student satisfaction
to quality of activities for teaching in Nha Trang
University, and through which to consider and
find out opinions of students. Then propose some
solutions and recommendations to improve
the quality of the activities. Results of the study
helps to build a new suitable study model for
the fact which is based on the research model
originally proposed. The new model includes
reliable scales to measure component quality
of activities for teaching. All results of the
study have pointed out importance degrees or
priority of factors affecting student satisfaction.
Besides, the study also contributes to the
system of teaching quality measuring scales
of Nha Trang University in particular and the
Universities in general.
II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN
CỨU
Mô hình thỏa mãn khách hàng của
Parasuraman và các cộng sự (1985) là mô hình
nghiên cứu chất lượng dịch vụ kinh điển, mô
hình này khá hoàn chỉnh về chất lượng dịch vụ
Nghiên cứu so sánh trong ngành siêu
thị bán lẻ tại Việt Nam - SERQUAL hay
SERVPERF của Nguyễn Huy Phong và Phạm
Ngọc Thúy (2007), các yếu tố ảnh hưởng đến sự
hài lòng của khách hàng tại các siêu thị bán lẻ tại
Việt Nam là: tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ,
đồng cảm, và phương tiện hữu hình.
Giáo dục có các tính chất và đặc điểm của
ngành dịch vụ. Do đó mô hình thỏa mãn khách
hàng của Parasuraman rất phù hợp với nghiên
cứu này. Mô hình nghiên cứu đề xuất:
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 59
- Sự tin cậy (Reliability): thể hiện qua sự tin
tưởng của sinh viên đối với nhà trường và cán
bộ phục vụ trong trường;
- Đáp ứng (sesponsiveness) thể hiện qua
sự mong muốn và sẵn sàng của cán bộ công
nhân viên phục vụ trong trường cung cấp đáp
ứng kịp thời cho sinh viên;
- Năng lực phục vụ (Assurance): thể hiện
qua trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và cung
cách phục vụ chuyên nghiệp của cán bộ công
nhân viên phục vụ trong trường đối với sinh viên;
- Thái độ nhiệt tình, cảm thông (Empathy):
thể hiện sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ đến
từng cá nhân sinh viên;
- Phương tiện hữu hình (Tangibility): thể
hiện qua mức độ đáp ứng về cơ sở vật chất
phục vụ cho học tập và ăn ở sinh hoạt của sinh
viên;
- Chi phí học tập và sinh hoạt của sinh viên
(Price): Giá phù hợp với chất lượng dịch vụ sinh
viên cảm nhận;
Hàm hồi quy đa biến như sau:
Yi = βo + β1X1i + β2X2i + ….+ βnXni + ξ
Yi : là biến phụ thuộc, được xem là sự thỏa
mãn của sinh viên
Xi : là yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của
sinh viên
β : là hệ số có tác động tương ứng
ξ : sai số của mô hình
Giả thuyết H1: Thể hiện qua sự tin tưởng
của sinh viên đối với nhà trường, thầy cô và cán
bộ phục vụ trong trường; sinh viên đánh giá “Sự
tin cậy” càng cao thì sẽ làm gia tăng mức độ
thỏa mãn.
Giả thuyết H2: Sinh viên đánh giá “Sự đáp
ứng” càng cao thì sẽ làm tăng mức độ thỏa mãn
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
Sự thỏa mãn của sinh viên
Sự tin cậy
Đáp ứng
Năng lực phục vụ
Thái độ nhiệt tình,
cảm thông
Phương tiện hữu hình
Chi phí học tập và
sinh hoạt của
sinh viên
H1
H2
H3
H4
H5
H6
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
60 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Giả thuyết H3: Sinh viên đánh giá “năng lực
phục vụ” càng cao thì sẽ làm tăng mức độ thỏa
mãn.
Giả thuyết H4: Sinh viên đánh giá “thái độ
nhiệt tình” càng cao thì sẽ làm tăng mức độ thỏa
mãn.
Giả thuyết H5: Sinh viên đánh giá “phương
tiện hữu hình” càng cao thì sẽ làm tăng mức độ
thỏa mãn.
Giả thuyết H6: Sinh viên đánh giá “chi phí
học tập và sinh hoạt của sinh viên” hợp lý thì sẽ
làm tăng mức độ thỏa mãn của họ.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua
2 bước chính: Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện
bằng phương pháp nghiên cứu định tính với kỹ
thuật thảo luận nhóm và phỏng vấn thử. Mục
đích của nghiên cứu này dùng để điều chỉnh và
bổ sung thang đo chất lượng hoạt động phục
vụ dạy học. Nghiên cứu chính thức được thực
hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng.
Dùng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng
cách phỏng vấn sinh viên đang theo học tại
trường.
Phương pháp chọn mẫu: Căn cứ số lượng
của từng khoa, từng khóa do phòng Công tác
sinh viên cung cấp, nhóm điều tra tính tỷ lệ số
sinh viên cần điều tra theo từng lớp của từng
khoa. Trong thời gian nghỉ giải lao giữa 2 tiết
học, nhóm điều tra vào từng lớp phát phiếu điều
tra theo mẫu xác suất cho số sinh viên được
phân bổ cho lớp đó.
Quy mô mẫu: việc xác định kích thước mẫu
theo Nguyễn Đình Thọ (2003) thì trong phân tích
nhân tố EFA cần 5 quan sát cho 1 biến đo lường
và cơ sở mẫu không ít hơn 100, nghiên cứu này
có 52 biến, mẫu tốt nhất mỗi biến cần 10 quan
sát, vì vậy mô hình dự kiến điều tra 520 mẫu.
Sau khi thu về làm sạch và mã hóa thu được 344
bảng câu hỏi hợp lệ. Thông tin thu thập được
xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0. Thang đo
sau khi được đánh giá độ tin cậy dựa vào hệ số
Cronbach’s alpha, Phân tích nhân tố khám phá
EFA, phân tích hồi quy đa biến dùng để tìm ra
mối quan hệ giữa các thành phần trong mô hình
nghiên cứu lên sự thỏa mãn của sinh viên.
Thang đo được dùng để đo mức độ thỏa
mãn của khách hàng là thang đo Likert 5 điểm
(Hoàn toàn không đồng ý, Không đồng ý, Bình
thường, Đồng ý, Hoàn toàn đồng ý).
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đánh giá chung về chất lượng phục vụ dạy
và học của trường Đại học Nha Trang thông qua
khảo sát sinh viên. Kết quả điều tra trong mẫu
nghiên cứu cho thấy giá trị trung bình của các
yếu tố theo từng mục hỏi được thống kê qua các
bảng sau:
Bảng 1. Sự tin cậy của sinh viên đối với công tác phục vụ dạy và học của nhà trường
Biến Mean
tincay1 Nhà trường luôn thực hiện đúng những cam kết đối với sinh viên 3,3227
tincay2 Thông tin từ nhà trường đến với sinh viên luôn chính xác, kịp thời 3,0756
tincay3 Nhà trường luôn thực hiện những hoạt động cần thiết để phục vụ tốt cho
quá trình dạy và học
3,1076
tincay4 Thông tin về lịch học, lịch thi và kết quả học tập của sinh viên được công
bố đúng hạn
3,1860
tincay5 Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên là chặt chẽ và chính xác 3,0581
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 61
tincay6 Cán bộ viên chức của trường luôn nhận ra chính xác yêu cầu của sinh
viên
2,6948
tincay7 Cán bộ viên chức của trường luôn giải quyết yêu cầu của sinh viên thấu
tình đạt lý
2,8924
tincay8 Cán bộ viên chức của trường thực hiện đúng các chức trách được giao về
công tác phục vụ dạy và học
3,1831
Bảng 2. Sự đảm bảo đối với công tác phục vụ dạy và học của nhà trường
Biến Mean
Dapung1 Các yêu cầu của sinh viên luôn được giải quyết một cách nhanh chóng 3,2006
Dapung2 Nhà trường luôn lắng nghe các yêu cầu của sinh viên 3,4128
Dapung3 Văn phòng khoa luôn giải đáp các thắc mắc của sinh viên một cách rõ
ràng
3,4913
Dapung4 Văn phòng khoa luôn giải quyết các yêu cầu của sinh viên một cách
nhanh chóng
3,2209
Dapung5 Các phòng ban chức năng luôn giải đáp các thắc mắc của sinh viên một
cách rõ ràng
3,2384
Dapung6 Các phòng ban chức năng luôn giải quyết các yêu cầu của sinh viên một
cách nhanh chóng
3,2384
Dapung7 Nhân viên phục vụ thiết bị giảng dạy, âm thanh giảng đường luôn phục
vụ nhanh chóng, kịp thời
3,4302
Dapung8 Nhân viên thư viện luôn đáp ứng kịp thời yêu cầu của sinh viên 3,5203
Dapung9 Nhân viên quản lý ký túc xá luôn đáp ứng kịp thời yêu cầu của sinh viên 3,2267
Dapung10 Nhân viên y tế luôn đáp ứng kịp thời yêu cầu của sinh viên 3,1715
Bảng 3. Năng lực phục vụ của nhà trường trong việc hỗ trợ sinh viên học tập
Biến Mean
Nangluc1 Nhân viên các bộ phận phục vụ chức năng trong trường xử lý công
việc nhanh chóng, chuyên nghiệp
3,9942
Nangluc2 Nhân viên văn phòng khoa có phong cách lịch sự, chuyên nghiệp khi
làm việc, giao tiếp
4,0843
Nangluc3 Trang web nhà trường hỗ trợ học tập rất hiệu quả 4,0233
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
62 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Bảng 4. Sự cảm thông của nhà trường đối với học sinh, sinh viên
Biến Mean
cthong1 Nhà trường luôn quan tâm đến điều kiện ăn ở và học tập của sinh viên 3,3692
cthong2 Nhân viên phòng công tác chính trị sinh viên luôn quan tâm sâu sát đối
với sinh viên
3,1570
cthong3 Nhân viên y tế luôn sẵn sàng giúp đỡ sinh viên 3,2907
cthong4 Nhân viên quản lý ký túc xá luôn sẵn lòng giúp đỡ sinh viên 3,1453
cthong5 Quản trị Ký túc xá luôn quan tâm đế n điề u kiện ăn ở củ a sinh viên 3,1453
cthong6 Giáo viên chủ nhiệm luôn tìm hiểu và quan tâm đến việc học tập của bạn. 3,6017
cthong7
Nhân viên văn phòng khoa luôn ân cầ n, thông cả m vớ i sinh viên 3,1860
Bảng 5. Bảng đánh giá phương tiên hữu hình phục vụ dạy và học của nhà trường
Biến Mean
phtienhh1 Toàn bộ kiến trúc của Trường tạo cho bạn ấn tượng đẹp 4,4448
phtienhh2 Trang thiết bị phục vụ cho dạy và học của trường tốt 4,5669
phtienhh3 Cơ sở thực tập, phòng thí nghiệm, thực hành đầy đủ thiết bị đáp ứng
tốt cho thực tập
4,5727
phtienhh4 Giảng đường đủ chỗ ngồi cho sinh viên 4,0959
phtienhh5 Phòng đọc thư viện đầy đủ sách và tài liệu tham khảo 3,7209
phtienhh6 Ký túc xá của trường khang trang 4,4186
phtienhh7 Ký túc xá của trường đảm bảo an ninh, trật tự cho sinh viên 4,4186
phtienhh8 Khu vực giữ xe của trường rộng rãi 3,8866
phtienhh9 Khu vui chơi, giải trí và thể thao đáp ứng tốt cho nhu cầu của sinh viên 4,2878
phtienhh10 Nhà ăn sinh viên rộng rãi khang trang 3,5872
Bảng 6. Chi phí cho học tập và rèn luyện tại trường
Biến Mean
Chiphi1 Tôi sẵn lòng chi trả mức phí cao hơn để có được chất lượng học tập tốt
hơn
3,9884
Chiphi2 Tôi nghĩ rằng chi phí cho học tập hiện nay tại trường là phù hợp 3,9971
Chiphi3 Mức phí ký túc xá hiện nay là phù hợp với túi tiền của tôi 4,0640
Chiphi4 Theo tôi giá ở nhà ăn sinh viên phục vụ là hợp lý 3,8169
Chiphi5 Tôi sẵn lòng chi trả phí ký túc xá cao hơn để có được dịch vụ sinh hoạt
tốt hơn
3,5145
Kết quả phân tích nhân tố và độ tin cậy được cho ở bảng 7. (Các trọng số < 0.30 bị loại bỏ khỏi
bảng).
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 63
Bảng 7. Ma trận đặc trưng của các nhân tố
Các khái
niệm
Các chỉ báo Các nhân tố
Cronbach’s
alpha
Sự tin cậy 1 2 3 4 5 6
TINCAY1 .791 0.829
TINCAY2 .667
TINCAY3 .610
TINCAY4 .593
TINCAY5 .683
TINCAY6 .639
TINCAY7 .542
TINCAY8 .334
Đáp ứng DAPUNG1 .875
0.951
DAPUNG2 .918
DAPUNG3 .889
DAPUNG4 .911
DAPUNG5 .815
DAPUNG6 .817
DAPUNG7 .724
DAPUNG8 .716
DAPUNG9 .777
DAPUNG10 .676
Năng lực NANGLUC1 .844 0.883
NANGLUC2 .878
NANGLUC3 .821
Thái độ
nhiệt tình
cảm thông
CTHONG1 .796 0.910
CTHONG2 .796
CTHONG3 .712
CTHONG4 .863
CTHONG5 .858
CTHONG6 .619
CTHONG7 .703
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
64 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Phương
tiện hữu
hình
PTHINH1 .878
0.936
PTHINH2 .842
PTHINH3 .828
PTHINH4 .834
PTHINH5 .694
PTHINH6 .903
PTHINH7 .894
PTHINH8 .657
PTHINH9 .859
PTHINH10 .593
Chi phí CHIPHI1 .987 0.980
CHIPHI2 .991
CHIPHI3 .969
CHIPHI4 .956
CHIPHI5 .855
KMO .881
Approx.
Chi-Square
15513.796
Df 903
Sig. .000
Sau khi trích được nhân tố, tiến hành tạo ra 6 biến tương ứng đại diện cho 6 nhân tố Sự
tin cậy (TINCAY); Sự đáp ứng (DAPUNG); Năng lực phục vụ (NANGLUC); Thái độ nhiệt tình,
cảm thông (CAMTHONG); Phương tiện hữu hình (PTHINH); Chi phí (CHIPHI) và biến Sự hài
lòng chung (HAILONG). Kết quả phân tích cho thấy các biến đều thỏa điều kiện để
tiến hành phân tích hồi quy với biến phụ thuộc là HAILONG và biến độc lập là TINCAY;
DAPUNG; NANGLUC; CAMTHONG và PTHINH. Phân tich hồi quy sẽ được thực hiện với 6
biến độc lập và một biến phụ thuộc. Phân tích được thực hiện bằng phương pháp ENTER
(Đưa vào một lượt, các biến trong khối sẽ được đưa vào mô hình cùng một lúc) với tiêu chuẩn
PIN (xác suất F vào) = 0.05 và POUT (xác xuất F ra) = 0,10.
HAILONG = f(TINCAY, DAPUNG, NANGLUC,CAMTHONG,PTHINH,CHIPHI)
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 65
Bảng 8. Kết quả phân tích hồi quy
Unstandardized Coefficients
Standardized
Coefficients
t Sig. Collinearity Statistics
B Std. Error Beta Tolerance VIF
(Constant) 2.810E-18 .040 .000 1.000
TINCAY
.243 .045 .234 5.335 .000 .907 1.103
DAPUNG
.179 .043 .175 4.114 .000 .956 1.046
NANGLUC
.004 .043 .004 .086 .932 .876 1.142
CTHONG
.074 .043 .077 1.705 .089 .858 1.165
PTHINH
.491 .044 .499 11.117 .000 .862 1.160
CHIPHI
-.096 .044 -.098 -2.205 .028 .880 1.136
R 0.643
R square 0.415
Sig.
0.000
Qua kết quả hồi quy từ bảng 8 cho thấy:
- Hệ số R bình phương là 0,415. Điều này
cho thấy rằng độ tương thích của mô hình là
41,5% hay nói cách khác là có khoảng 41,5%
phương sai sự hài lòng của sinh viên được giải
thích bởi 6 biến độc lập trên.
- Không có dấu hiệu của đa cộng tuyến,
hiện tượng đa cộng tuyến không ảnh hưởng
đến kết quả giải thích với hệ số VIF*
1
- hệ số
phóng đại phương sai của các biến độc lập
trong mô hình đều <2 và nằm trong khoảng từ
1.046 - 1.165. Quy tắc là khi VIF vượt quá 10 thì
đó là dấu hiệu của đa cộng tuyến.
- Các kiểm tra khác (phân phối phần dư, các
biểu đồ…) cho thấy các giả thuyết cho hồi quy
đều không bị vi phạm khi sử dụng phương pháp
hồi quy bội.
Như vậy, phương trình hồi quy thể hiện mối
quan hệ tuyến tính giữa sự hài lòng của sinh
viên (HAILONG) với 6 thành phần: TINCAY,
DAPUNG, NANGLUC, CAMTHONG, PTHINH
và CHIPHI có ý nghĩa sau:
Sự hài lòng
(HAILONG) = 2.810 + 0.243*TINCAY + 0.179*DA
PUNG + 0.004*NANGLUC + 0.074*CTHONG +
0.491*PTHINH - 0.096 * CHIPHI
Trong đó:
Thứ tự quan trọng của các thành phần tác
động đến sự hài lòng của sinh viên được liệt kê
như sau:
O Phương tiện hữu hình (0.491)
O Sự tin cậy (0.243)
O Khả năng đáp ứng (0.179)
O Chi phí (- 0.096)
O Thái độ nhiệt tình, cảm thông (0.074)
O Năng lực phục vụ (0.004)
1
1 *1 VIF = 
1− R
2
k
Trong đó: R là hệ số tương quan bội khi biến độc lập i được dự đoán từ các biến độc lập khác.
Khi VIF vượt quá 10 thì đó là dấu hiệu của Đa cộng tuyến
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
66 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Thảo luận
Kết quả phân tích hồi quy ở bảng 8 cho
thấy thành phần sự tin cậy có hệ số hồi quy là
0.243 và có ý nghĩa thống kê (sig. = 0.00) như
vậy thành phần này có tác động dương đến sự
hài lòng của sinh viên đối với công tác phục vụ
dạy và học của nhà trường. Như vậy giả thuyết
H1 được chấp nhận nghĩa là sự tin tưởng của
sinh viên đối với nhà trường, thầy cô và cán bộ
phục vụ trong trường; sinh viên đánh giá “độ tin
cậy” càng cao thì sẽ làm gia tăng mức độ thỏa
mãn của họ.
Thành phần khả năng đáp ứng có hệ số hồi
quy là 0.179 và sig. = 0.000 có ý nghĩa thống
kê như vậy thành phần này có tác động dương
đến sự hài lòng của sinh viên đối với công tác
phục vụ dạy và học của nhà trường. Như vậy,
chấp nhận giả thuyết H2 có nghĩa là sinh viên
đánh giá “khả năng đáp ứng” càng cao thì sẽ
làm tăng mức độ thỏa mãn của họ đối với chất
lượng phục vụ dạy và học của nhà trường.
Thành phần năng lực phục vụ có hệ số hồi
quy là 0.004 và sig. = 0.932 như vậy không có
ý nghĩa thống kê và giả thuyết H3 bị bác bỏ. Có
nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng năng lực phục vụ
là một trong những thành phần có tác động đến
chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, trong bối cảnh
khảo sát tại trường Đại học Nha Trang việc nhận
biết mức độ ảnh hưởng của năng lực phục vụ
đối với sinh viên còn hạn chế, sinh viên đại đa
số chỉ tiếp xúc và liên hệ công việc đối với Phòng
Công tác sinh viên và văn phòng khoa là chủ yếu,
chính vì vậy việc đánh giá năng lực phục vụ của
các bộ phận chức năng chưa được bao quát vì
đó mà những phát biểu đối với thành phần này
không gây được sự chú ý nhiều của sinh viên.
Thành phần thái độ nhiệt tình cảm thông có
hệ số hồi quy là 0.074 và sig. = 0.089 có ý nghĩa
thống kê ở mức 10%. Như vậy thành phần này
có tác động dương đến sự hài lòng của sinh viên
và giả thuyết H4 chấp nhận có nghĩa là sinh viên
đánh giá “thái độ nhiệt tình cảm thông” càng cao
thì sẽ làm tăng mức độ thỏa mãn của họ đối với
chất lượng phục vụ dạy và học của nhà trường.
Thành phần phương tiện hữu hình có hệ số
hồi quy là 0.491 và sig. = 0.000 có ý nghĩa thống
kê như vậy thành phần này có tác động dương
đến sự hài lòng của sinh viên đối với công tác
phục vụ dạy và học của nhà trường. Như vậy,
chấp nhận giả thuyết H5 có nghĩa là sinh viên
đánh giá “phương tiện hữu hình” càng cao thì sẽ
làm tăng mức độ thỏa mãn của họ đối với chất
lượng phục vụ dạy và học của nhà trường.
Thành phần chi phí có hệ số hồi quy là -
0.096 và sig. = 0.028 có ý nghĩa thống kê ở
mức 5% như vậy thành phần này có tác động
ngược chiều đến sự hài lòng của sinh viên đối
với công tác phục vụ dạy và học của nhà trường,
giả thuyết H6 được chấp nhận có nghĩa là sinh
viên đánh giá “chi phí cho học tập và sinh hoạt”
càng cao thì sẽ làm giảm mức độ thỏa mãn của
họ đối với chất lượng phục vụ dạy và học của
nhà trường.
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Chất lượng hoạt động phục vụ dạy học là
nhân tố quan trọng giải thích cho sự hài lòng
của người học. Qua kết quả phân tích có thể
thấy yếu tố phương tiện hữu hình tác động lớn
nhất, tiếp đến là sự tin cậy và khả năng đáp ứng.
Nhằm nâng cao chất lượng phục vụ dạy học của
trường Đại học Nha Trang cần thực hiện đồng
bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường việc đảm bảo các
điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy và học như
hệ thống âm thanh, máy chiếu giảng đường;
Phòng thí nghiệm thực hành; Thư viện…
Thứ hai, đảm bảo các điều kiện cho sinh
hoạt ăn ở của sinh viên như chất lượng phòng ở
và thái độ phục vụ của nhân viên ký túc xá; Hệ
thống các công trình phục vụ sinh hoạt văn hóa
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 67
thể thao cho sinh viên; Đảm bảo công tác phòng
dịch và y tế học đường
Thứ ba, cải tiến nâng cao bao gồm chất
lượng tổ chức hoạt động dạy học công tác giáo
vụ, công tác tài chính. Ứng dụng công nghệ
thông tin trong công tác quản lý nhằm hỗ trợ việc
phục vụ đào tạo tốt hơn. Hoàn thiện trang web
của trường để giúp người học tiếp cận với thông
tin từ nhà trường đầy đủ và nhanh chóng
Thứ tư, nâng cao chất lượng cố vấn học tập
và dịch vụ cho sinh viên như hình thành và tổ
chức có hiệu quả hoạt động của Trung tâm hỗ
trợ sinh viên, tổ chức đội ngũ và các hoạt động
cụ thể để phát huy tốt vai trò của trung tâm này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
1. Nguyễn Huy Phong và Phạm Ngọc Thúy (2007), Nghiên cứu so sánh trong ngành siêu thị bán lẻ tại Việt
Nam - SERQUAL hay SERVPERF. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ
2. Hoàng Trọng Chu - Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Thống kê
3. Nguyễn Huỳnh Thái Tâm. (2009). Các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng
dịch vụ khám, chữa bệnh phụ sản tại Trung tâm Y tế thành phố Nha Trang. Luận văn thạc sỹ, trường Đại
học Nha Trang.
4. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang. (2003), “Đo lường chất lượng dịch vụ siêu thị và những hàm
ý cho kinh doanh siêu thị tại TP. Hồ Chí Minh”, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ.
5. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang. (2007)., Nghiên cứu khoa học Marketing, NXB Đại học
Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
TIẾNG ANH
6. Choi, K. S., Lee, H., Kim, C. & Lee, S. (2005). The service quality dimensions and patient satisfaction
relationships in South Korea: Comparions across gender, age, and types of service. The Journal of Services
Marketing, Volume 19, No. 3; pp. 140-149.
7. Parasuraman, A., Zeithaml, V. A & Berry, L. L. (1985), A concept model of service quality and its
implications for future research, Journal of Marketing, 49 (Fall): 41 - 50.
8. Parasuraman, A., Zeithaml, V. A. & Berry, L. L. (1988). SERVPERF: a multiple-item scale for measuring
consumer perceptions of service quality. Journal of Reatailing, Volume 64, No. 1, pp. 12 - 40.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
68 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
HIỆU QUẢ KINH TẾ NGHỀ NUÔI CÁ CHẼM THƯƠNG PHẨM
TẠI TỈNH KHÁNH HÒA
ECONOMIC EFFICIENCY OF ASIAN SEA BASS COMMERCIAL FARMING
IN KHANH HOA, VIETNAM
Dương Trí Thảo, Nguyễn Xuân Bảo Sơn
Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Nghiên cứu này tập trung xem xét một số khía cạnh hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá Chẽm thương
phẩm tại tỉnh Khánh Hòa qua hai năm 2007 và 2008. Dựa trên các kết quả số liệu điều tra từ 220 hộ nuôi trong
hai năm 2007 và 2008, một hệ thống chỉ tiêu định lượng biểu hiện cho hiệu quả kinh tế của nghề nuôi này đã
được tính toán mô tả và đánh giá. Bên cạnh đó, một khảo sát các ý kiến phản ánh những khó khăn, cản trở
trong quá trình nuôi cũng như nguyện vọng của các hộ nuôi cũng đã được thực hiện. Kết quả nghiên cứu đã
cho thấy: các hộ có quy mô diện tích nuôi từ 0,5ha đến 1,0ha đạt hiệu quả cao nhất. Trong vụ nuôi năm 2007,
loại quy mô này có tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu dương cao nhất, đạt 18,84%. Nếu xét theo vùng, Ninh Hòa
là vùng nuôi có hiệu quả nhất; tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu năm 2007 đạt 43,63%. Năm 2008, hầu
hết các hộ nuôi ở tất cả các vùng và các quy mô đều thua lỗ. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, hiện tại các hộ
nuôi đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và cản trở, nhưng hầu như tất cả các hộ đều có nguyện vọng tiếp
tục phát triển nghề này, tuy nhiên họ cần có sự giúp đỡ, hỗ trợ về các mặt như tiêu thụ sản phẩm, cung cấp các
thông tin về thị trường, giá cả, vốn và các mặt khác.
Từ khóa: Cá Chẽm, hiệu quả kinh tế, trang trại nuôi, lợi nhuận, doanh thu
ABSTRACT
This study considers the economic efficiency aspects of commercial farming of Asian Sea Bass in Khanh
Hoa province, Vietnam. Based on the results of a survey of 220 farmers conducted during 2007 and 2008,
economic quantitative variables related to performance are described and evaluated. The farmers’ opinions
of problems and obstacles in their farming process are also investigated. The results show that farms from 0.5
to 1.0 hectares in size have the highest efficiency with an average return on equity (ROE) of 18.84% in 2007.
Regionally, Ninhhoa district was the most efficient region with an average ROE of farms in 2007 of 43.63%.
In 2008, almost all regions and sizes of farms sustained economic losses. Currently, farmers have faced
difficulties and obstacles. Almost all households have expectations of developing this farming occupation, but
they need help with selling their products, information on market, price, capital, and other forms of assistance.
Keywords: Asian Sea Bass, economic effeciency, farms, profit, revenue
fHONG B/O KHO/ HOC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau khi các mô hình nuôi cá biển được triển
khai áp dụng, năm 2005, tổng sản lượng nuôi
trồng thủy sản Khánh Hòa tăng gấp 2,04 lần so
với năm 2004, đạt 17.460 tấn; trong đó sản lượng
cá nuôi đạt 678 tấn, chiếm 3,88% [1]. Đến năm
2007, sản lượng cá nuôi đạt 2.192 tấn, chiếm
13,76%, trong đó sản lượng cá Chẽm đã đóng
góp đáng kể vào tổng sản lượng cá nuôi mặn, lợ
toàn tỉnh, đạt 1.000 tấn [2], chiếm 45,62%.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 69
Mặt dù nuôi cá Chẽm ở Khánh Hòa còn tiềm
năng rất lớn về diện tích mặt nước nuôi trồng
và có rất nhiều điều kiện thuận lợi về khí hậu,
thủy văn; nguồn giống nhân tạo; nhiều cơ quan
chuyên ngành đóng trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên,
việc phát triển nghề nuôi cá Chẽm thương phẩm
ở Khánh Hòa có thật sự mang lại hiệu quả kinh
tế hay không? Các khó khăn, cản trở nào đã và
đang ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh tế
của nghề này? Định hướng tới cho sự phát triển
của nghề này ra sao? Những câu hỏi này đã đặt
ra vấn đề cần xem xét, đánh giá một cách đúng
đắn hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá Chẽm
thương phẩm tại Khánh Hòa.
II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù
phản ánh trình độ và năng lực quản lý, đảm bảo
thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ kinh tế
xã hội đặt ra với chi phí nhỏ nhất (Nguyễn Đình
Phan & Nguyễn Kế Tuấn, 2007) [3]. Nghiên cứu
này, chúng tôi chủ yếu xem xét mặt lượng của
HQKT đối với nghề nuôi cá Chẽm thương phẩm
tại Khánh Hòa. Nghĩa là dựa trên các số liệu điều
tra về các chỉ tiêu số lượng của các mục khoản
chi phí cố định, chi phí biến đổi, doanh thu và
tương quan giữa chúng (lợi nhuận) để đánh giá
HQKT của từng hộ và từng vùng nuôi. Cụ thể,
để xác định HQKT ở đây, chúng tôi đã sử dụng
một số chỉ tiêu biểu hiện HQKT của nghề nuôi
trồng thủy sản (các công thức và phương pháp
tính toán được thể hiện như trong các Bảng 3; 4
và 5). Phương pháp phân tích số liệu là phương
pháp phân tích tổng hợp, so sánh các chỉ tiêu
theo thời gian và theo địa điểm nghiên cứu.
Dữ liệu dùng cho nghiên cứu:
+ Các dữ liệu thứ cấp: số liệu được lấy từ
Niên giám thống kê Khánh Hòa 2007 cùng với
các số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Khánh Hòa.
+ Các dữ liệu sơ cấp: được thu thập bằng
cách điều tra trược tiếp từ các hộ nuôi cá Chẽm
thương phẩm tại Khánh Hòa thông qua bộ câu
hỏi.
- Phương pháp điều tra là phương pháp
chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản. Số lượng mẫu
cần điều tra cho nghiên cứu này là 220 mẫu
(220 hộ nuôi), được tính toán theo công thức
của Bartlett, Kotrlik & Higgins (2001)[4]. Số mẫu
này là phù hợp quy định của FAO về mẫu trong
nghiên cứu điều tra thống kê trong nuôi trồng
thủy sản.
- Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và HQKT của
1 ha ao nuôi cá Chẽm thương phẩm bao gồm:
giá trị sản xuất (GO); giá trị gia tăng (VA); Thu
nhập hỗn hợp (MI) và lợi nhuận (Pr); giá trị sản
xuất tính cho 1 đồng chi phí sản xuất trung gian,
tính cho 1 đồng tổng chi phí sản xuất và tính cho
1 lao động…
- Phân bố mẫu: Phân bố mẫu tỷ lệ thuận với
quy mô tổng thể [5], và mẫu của từng địa bàn
nghiên cứu được mô tả bảng sau:
Bảng 1. Phân bố mẫu nghiên cứu theo vùng
Địa bàn Tổng hộ nuôi (hộ) Số mẫu điều tra (hộ) Tỷ lệ mẫu (%)
1. Huyện Ninh Hòa 20 9 45,0
2. Tp. Nha Trang 16 7 43,8
3. Huyện Cam Lâm 231 100 43,3
4. Thị xã Cam Ranh 241 104 42,2
Tổng số 508 220 43,3
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
70 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Đánh giá kết quả kinh tế trên 1 hécta mặt nước nuôi cá Chẽm thương phẩm
Thông tin các Bảng 2 và 3 cho thấy, năm 2007, nghề nuôi cá Chẽm ở Khánh Hòa có hiệu quả
kinh tế rất cao, trong khi đó, năm 2008 thì ngược lại, người nuôi bị lỗ nặng (trung bình mỗi hécta (ha)
lỗ 50,60 triệu đồng). Nguyên nhân chính của hiện tượng này là: một mặt do ảnh hưởng suy thoái
kinh tế toàn cầu nên hầu hết giá các loại sản phẩm thủy sản xuất khẩu đều giảm mạnh, trong đó có
cá Chẽm (giá bán sản phẩm ở mức rất thấp, năm 2008 chỉ bằng 77,11% so với giá của năm 2007).
Bảng 2. Tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế của 1ha ao nuôi cá Chẽm
trong 2 vụ nuôi của năm 2007 và năm 2008
Các chỉ tiêu ĐVT
Vụ nuôi năm 2007 Vụ nuôi năm 2008
Cam
Lâm
Cam
Ranh
Nha
Trang
Ninh
Hòa
Tổng
cộng
Cam
Lâm
Cam
Ranh
Nha
Trang
Ninh
Hòa
Tổng
cộng
1. Diện tích ha 18,60 65,25 1,30 3,90 89,05 71,45 82,50 4,60 7,90 166,45
2. Sản lượng TT tấn 93,33 359,84 6,80 18,35 478,32 512,94 646,95 31,30 57,68 1.248,87
3. Tổng chi phí trđ 3.957,1 14.983,9 266,8 767,5 19.975,3 22.137,3 27.684,4 1.296,8 2.414,1 53.532,6
4. Doanh thu trđ 4.291,0 16.882,0 325,0 906,0 22.404,0 18.708,1 23.241,6 1.156,0 2.005,0 45.110,7
5. Lợi nhuận trđ 333,9 1.898,1 58,3 138,5 2.428,7 (3.429,2) (4.442,8) (140,8) (409,1) (8.421,9)
6. Năng suất BQ tấn/ha 5,02 5,52 5,23 4,71 5,37 7,18 7,84 6,80 7,30 7,50
2. Đánh giá các chỉ tiêu HQKT cho 1ha nuôi trên các vùng nghiên cứu
Thông tin các Bảng 3; 4 và 5 cho thấy: vụ nuôi năm 2007, bình quân giá trị sản xuất đạt 251,59
triệu đồng/ha; Tỷ suất giá trị sản xuất/Chi phí trung gian trung bình đạt 1,34 lần, tức là với 1 đồng chi
phí trung gian mà các hộ nuôi bỏ ra để đầu tư nuôi cá Chẽm trong vụ nuôi năm 2007 thì thu được
giá trị sản xuất là 1,34 đồng; và với 1 đồng đầu tư vào chi phí cố định để nuôi cá Chẽm thì thu được
5 đồng giá trị sản xuất/ha/vụ nuôi. Với mỗi 1 đồng chi phí trung gian đầu tư vào nuôi cá Chẽm trong
vụ nuôi năm 2007 thì nó tạo ra được 0,34 đồng giá trị gia tăng. Bình quân giá trị gia tăng trên mỗi
hécta nuôi cá Chẽm vụ nuôi năm 2007 là 64,42 triệu đồng/ha, năm 2008, tất cả các chỉ tiêu đều âm.
Bảng 3. Các chỉ tiêu về chi phí sản xuất và lợi nhuận trung bình tính cho 1 ha ao nuôi/vụ
ĐVT: tr.đ/ha
Các chỉ tiêu
Vụ nuôi năm 2007 Vụ nuôi năm 2008
Cam
Lâm
Cam
Ranh
Nha
Trang
Ninh
Hòa
Tổng
cộng
Cam
Lâm
Cam
Ranh
Nha
Trang
Ninh
Hòa
Tổng
cộng
1. Chi phí TB /ha/vụ 212,75 229,64 205,19 196,79 224,32 309,83 335,57 281,91 305,58 321,61
2. Biến phí TB /ha/vụ 161,77 179,31 164,54 146,05 173,97 257,24 278,97 236,41 242,09 266,71
3. Định phí TB /ha/vụ 50,97 50,33 40,65 50,74 50,34 52,59 56,60 45,50 63,49 54,90
4. Doanh thu TB /ha/vụ 230,70 258,73 250,00 232,31 251,59 261,83 281,72 251,30 253,80 271,02
5. Lợi nhuận TB/ha/vụ 17,95 29,09 44,81 35,52 27,27 (47,99) (53,85) (30,61) (51,78) (50,60)
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra mẫu của tác giả, 4/2009.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 71
Bảng 4. Tổng hợp một số chỉ tiêu kết quả kinh tế trên 1ha mặt nước nuôi
ĐVT: tr.đ/ha
Các chỉ tiêu
Vụ nuôi năm 2007 Vụ nuôi năm 2008
Cam
Lâm
Cam
Ranh
Nha
Trang
Ninh
Hòa
BQ
Chung
Cam
Lâm
Cam
Ranh
Nha
Trang
Ninh
Hòa
BQ
Chung
1. Chi phí trung gian (IC) 175,87 192,07 180,12 161,48 187,17 264,83 283,44 241,89 247,72 272,61
2. Khấu hao TSCĐ (A) 3,06 3,49 2,00 3,77 3,39 2,25 3,63 2,09 4,06 3,02
3. Công lao động (CL) 33,82 34,08 23,08 31,54 33,76 42,75 48,50 37,93 53,80 45,99
4. Giá trị sản xuất (GO) 230,70 258,73 250,00 232,31 251,59 261,83 281,72 251,30 253,80 271,02
5. Giá trị gia tăng (VA) 54,83 66,66 69,88 70,82 64,42 (2,99) (1,73) 9,41 6,08 (1,59)
6. Thu nhập hỗn hợp (MI) 51,77 63,17 67,88 67,05 61,03 (5,24) (5,36) 7,33 2,01 (4,61)
7. Lợi nhuận (Pr) 17,95 29,09 44,81 35,52 27,27 (47,99) (53,85) (30,61) (51,78) (50,60)
Bảng 5. Tổng hợp một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế trên 1ha mặt nước ao nuôi
Các chỉ tiêu ĐVT
Vụ nuôi năm 2007 Vụ nuôi năm 2008
Cam Lâm
Cam
Ranh
Nha
Trang
Ninh
Hòa
BQ
Chung
Cam Lâm
Cam
Ranh
Nha
Trang
Ninh Hòa BQ Chung
1. GO/IC Lần 1,31 1,35 1,39 1,44 1,34 0,99 0,99 1,04 1,02 0,99
2. VA/IC Lần 0,31 0,35 0,39 0,44 0,34 (0,01) (0,01) 0,04 0,02 (0,01)
3. GO/FC Lần 4,53 5,14 6,15 4,58 5,00 4,98 4,98 5,52 4,00 4,94
4. MI/IC Lần 0,29 0,33 0,38 0,42 0,33 (0,02) (0,02) 0,03 0,01 (0,02)
5. MI/FC Lần 1,02 1,26 1,67 1,32 1,21 (0,10) (0,09) 0,16 0,03 (0,08)
6. GO/LD Tr.đ 107,28 118,06 108,33 90,60 114,31 128,14 129,84 115,60 105,53 127,43
7. MI/LD Tr.đ 24,07 28,83 29,42 26,15 27,73 (2,57) (2,47) 3,37 0,84 (2,17)
8.TN BQ/LD/vụ Tr.đ/vụ 15,73 15,55 10,00 12,30 15,34 20,92 22,35 17,45 22,37 21,62
9.Pr/(IC+CL+A+T) % 8,44 12,67 21,84 18,05 12,16 -15,49 -16,05 -10,86 -16,95 -15,73
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra mẫu của tác giả, 4/2009.
3. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân tính theo vùng nuôi và quy mô diện
tích mặt nước
Kết quả số liệu ở bảng 6 cho thấy, năm 2007 tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
72 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
cho tất cả các vùng đạt 17,96%. Các hộ nuôi có qui mô từ 0,5 - 1,0ha có hiệu quả cao nhất, trong
năm 2007, ROE của các hộ này đạt 18,84%, tương ứng với mức lợi nhuận là 28,260 triệu đồng/ha
(mức này cao hơn khoảng 1,346 triệu đồng so với bình quân chung của tất cả các quy mô). Trong
năm 2008, hầu hết các hộ nuôi ở tất cả các quy mô đều thua lỗ (ROE âm), nhưng dễ thấy rằng loại
quy mô 0,5 - 1,0ha có mức lỗ thấp hơn. Nếu xét theo vùng, Ninh Hòa là vùng nuôi có hiệu quả nhất;
tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu năm 2007 đạt 43,63%; lợi nhuận đạt 35,52 triệu đồng/ha, trong
khi các con số tương ứng tính trung bình cho tất cả các vùng chỉ đạt 17,96% và 27,27 triệu đồng/ha.
Bảng 6. Tỷ suất lợi nhuận bình quân trên vốn chủ sở hữu của các hộ nuôi phân theo vùng
và quy mô diện tích nuôi của vụ nuôi năm 2007 và năm 2008
ĐVT: %
Vụ nuôi năm 2007
Vùng nuôi
Số
hộ
Dưới
0,5 ha
Từ 0,5 đến
dưới 1 ha
Từ 1,0 đến
dưới 1,5 ha
Từ 1,5 đến
dưới 2,0 ha
Trung bình
cho 1 ha
1. Ninh Hòa 5 - 43,63 - - 43,63
2. Nha Trang 2 - 41,09 - - 41,09
3. Cam Ranh 86 16,33 18,84 16,82 - 18,03
4. Cam Lâm 24 -2,08 12,33 16,16 - 13,16
Trung bình 117 14,45 18,84 16,70 - 17,96
Vụ nuôi năm 2008
Vùng nuôi
Số
hộ
Dưới
0,5 ha
Từ 0,5 đến
dưới 1 ha
Từ 1,0 đến
dưới 1,5 ha
Từ 1,5 đến
dưới 2,0 ha
Trung bình
cho 1 ha
1. Ninh Hòa 9 - -13,35 -18,88 - -16,95
2. Nha Trang 7 - -10,86 - - -10,86
3. Cam Ranh 104 -12,43 -14,78 -18,10 -18,71 -16,19
4. Cam Lâm 100 -18,95 -14,89 -18,19 -19,68 -16,16
Trung bình 220 -15,85 -14,62 -18,20 -19,09 -16,08
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra mẫu của tác giả, 2009.
4. Những khó khăn thường gặp có ảnh hưởng đến nghề nuôi cá Chẽm thương phẩm tại
Khánh Hòa
Cá Chẽm là đối tượng tương đối dễ nuôi, rất phù hợp với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng Khánh
Hòa. Tuy nhiên, qua điều tra, thu thập thông tin từ các hộ nuôi cá Chẽm tại Khánh Hòa cho thấy các
hộ nuôi đang gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình nuôi từ khâu con giống đến tiêu thụ sản phẩm.
Kết quả điều tra chúng tôi thu được Bảng 7.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 73
Nguồn đầu ra chủ yếu của các hộ nuôi cá
Chẽm hiện nay chủ yếu là các nậu, vựa nên
có đến 134 trong 220 hộ được điều tra, chiếm
60,9% cho rằng “Rất khó khăn” về vấn đề giá
cả, họ thường bị các nậu vựa ép giá; và có đến
43,2% cho rằng “Khá khó khăn”; 13,2% cho rằng
“Rất khó khăn” về vấn đề thị trường và người
mua không ổn định.
Kết quả điều tra cũng cho thấy: có 88,6%
số hộ điều tra cho rằng “Khá khó khăn” về vấn
đề thiếu vốn, vì nhu cầu về vốn của các hộ nuôi
là rất lớn mà khả năng tự thân của các hộ nuôi
còn nhiều hạn chế, thiếu vốn đang hiện là vấn
đề bức xúc đối với các cơ sở nuôi và là vấn đề
thời sự trong nông thôn hiện nay. Có 109 hộ,
chiếm 49,55% số hộ điều tra cho rằng khó khăn
của các hộ này gặp phải khi vay vốn ở ngân
hàng là không đủ tài sản thế chấp. Mặc dù họ
có năng lực, kinh nghiệm trong việc nuôi trồng
thủy sản cũng như trong nuôi cá Chẽm nhưng
tài sản của họ không có giá trị lớn để thế chấp
vay để đầu tư nên họ rất khó tiếp cận được với
nguồn vốn lớn để đầu tư vào nuôi cá Chẽm. Có
88 hộ, chiếm 40% cho rằng khó khăn mà họ
gặp phải khi vay vốn là chi phí khác quá cao;
có 121 hộ, chiếm 55% cho rằng khó khăn mà
họ gặp phải khi vay vốn là thủ tục vay phức tạp,
và có 40 hộ, chiếm 18,18% cho rằng khó khăn
Bảng 7. Những khó khăn thường gặp của các hộ nuôi cá Chẽm tại Khánh Hòa
Những khó khăn của các hộ nuôi cá Chẽm
Mức độ khó khăn theo đánh giá của hộ nuôi (%)
Không
gặp khó
khăn
Khó
khăn
rất ít
Trung
bình
Khá
khó
khăn
Rất khó
khăn
Những
khó
khăn
trong
quá
trình
nuôi
1. Thiếu diện tích đất 5.0 39.5 43.2 12.3 -
2. Thiếu vốn - - 0.5 88.6 10.9
3. Thiếu nguồn giống 3.2 32.3 55.5 9.1 -
4. Thiếu nguồn thức ăn 3.6 30.0 51.8 14.1 0.5
5. Thiếu hiểu biết khoa học kỹ thuật 1.8 96.8 1.4 - -
6. Khí hậu biến đổi 1.8 47.3 44.5 6.4 -
7. Môi trường ô nhiễm 0.5 7.7 47.7 42.7 1.4
8. Dịch bệnh 0.5 0.9 23.6 60.5 14.5
9. Thiếu thông tin về thị trường - 8.6 46.8 37.3 7.3
10. Khó tiêu thụ sản phẩm - - 0.9 5.5 93.6
11. Thiếu các dịch vụ hỗ trợ nuôi trồng 34.1 51.4 14.1 0.5 -
Những
khó
khăn
khi thu
hoạch
cá để
bán
12. Kiểm tra dư lượng chất kháng sinh 0.5 1.8 13.2 58.6 25.9
13. Bảo quản cá sau thu hoạch 74.1 25.5 - 0.5 -
14. Bị ép giá - - 4.5 34.5 60.9
15. Người mua không ổn định - 9.1 34.5 43.2 13.2
16. Đường giao thông khó khăn 21.4 50.9 24.1 3.6 -
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra mẫu của tác giả, 4/2009.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
74 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
mà họ gặp phải khi vay vốn là thời hạn cho vay
ngắn hơn thời gian nuôi cá/vụ, đây là một khó
khăn lớn mà các tổ chức ngân hàng cần phải
tạo điều kiện để các hộ nuôi có đủ thời gian
hoàn trả các khoản vay.
5. Xu hướng phát triển của nghề nuôi cá
Chẽm thương phẩm tại tỉnh Khánh Hòa.
Do có những khó khăn nhất định đã được
nêu trên cùng với giá cả giảm sút mạnh làm
cho người nuôi thua lỗ nên qua điều tra thống
kê, có 181 hộ trong 220 hộ, chiếm 82,27% cho
rằng việc nuôi cá Chẽm không hiệu quả và
chuyển sang đối tượng nuôi khác. Tuy nhiên,
bên cạnh đó vẫn còn 34 hộ, chiếm 15,45%
cho rằng định hướng sắp tới của họ vẫn giữ
nguyên không đổi quy mô nuôi và vẫn tiếp tục
nuôi chờ đón giá lên của thị trường; và tương
tự có 24 hộ, chiếm 10,91% cho rằng họ vẫn
tiếp tục nuôi chờ đón giá lên của thị trường
nhưng thu hẹp lại diện tích nuôi, chuyển một
số diện tích nuôi sang đối tượng nuôi khác có
thời gian nuôi ngắn hơn.
6. Nguyện vọng phát triển của các hộ nuôi cá
Chẽm thương phẩm
Từ những khó khăn đã được đề cập trên,
nên về nguyện vọng phát triển của các hộ nuôi
cá Chẽm thương phẩm thì có đến 220 hộ, chiếm
100% số hộ được điều tra cho rằng họ muốn
được hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm. Có 104 hộ, chiếm
47,27% cho rằng cần được cung cấp thông tin
về thị trường, giá cả… và có đến 204 hộ, chiếm
92,73% cho rằng cần được trợ giúp về vốn để
phát triển nghề nuôi này, có 19 hộ, chiếm 8,64%
cho rằng cần được tạo nguồn giống có chất
lượng và chỉ có 2 hộ, tỷ lệ 0,91% cho rằng cần
được trợ giúp kỹ thuật nuôi điều này cho thấy
rằng cá Chẽm là đối tượng rất dễ nuôi và kinh
nghiệm, trình độ nuôi của người dân đã được
nâng cao.
IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Có thể nói, nuôi cá Chẽm thương phẩm
đang là một nghề có nhiều triển vọng về tiềm
năng và hiệu quả kinh tế ở Khánh Hòa. Kết quả
nghiên cứu theo phương pháp điều tra chọn
mẫu với 220 hộ nuôi tại 4 vùng nuôi của tỉnh đã
cho thấy, trong vụ nuôi năm 2007 mỗi ha ao nuôi
đã có mức lãi 27,27 triệu đồng. Các chỉ tiêu khác
về hiệu quả kinh tế cho 1 ha ao nuôi và ở tất cả
các vùng nuôi năm 2007 đều đạt rất cao. Các hộ
nuôi có quy mô từ 0,5 - 1,0ha có hiệu quả cao
nhất, trong năm 2007, ROE của các hộ này đạt
18,84%. Mặc dù vụ nuôi 2008 các kết quả này
chưa được khẳng định mà còn bị thua lỗ nặng,
nhưng nguyên nhân chính của điều này là do
tình hình thị trường và giá cả giảm sút quá mạnh.
Việc nuôi trồng của các hộ hầu như còn mang
tính tự phát, chưa có sự định hướng và quản lý
cũng như hỗ trợ kịp thời của các cơ quan quản lý
nhà nước và các tổ chức trung gian (ngân hàng,
hiệp hội…).
Tại 04 vùng nuôi ở Khánh Hòa, Ninh Hòa
là vùng nuôi có hiệu quả nhất xét theo tỷ suất
lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, năm 2007 đạt
43,63%; lợi nhuận đạt 35,52 triệu đồng trên
1 ha.
Mặc dù hiện tại các hộ nuôi đang phải đối
mặt với nhiều khó khăn và cản trở, nhưng hầu
như tất cả các hộ đều có nguyện vọng tiếp tục
phát triển nghề này, tuy nhiên họ cần có sự giúp
đỡ, hỗ trợ về các mặt như tiêu thụ sản phẩm,
cung cấp các thông tin về thị trường, giá cả, vốn
và các mặt khác.
2. Khuyến nghị
Từ những kết quả nghiên cứu trên có thể
thấy rằng, để nghề nuôi cá Chẽm phát triển một
cách có hiệu quả, bền vững thì các cơ quản
quản lý các cấp cần có những giải pháp tích cực
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 75
giúp bà con tháo gỡ và giải quyết triệt để những
khó khăn, vướng mắc trong quá trình nuôi bằng
một số việc làm cụ thể đó là: cung cấp thông tin
và thị trường kịp thời cho người nuôi; tổ chức
lại sản xuất theo hướng hình thành Hiệp hội
nghề nuôi cá Chẽm thương phẩm nhằm tập hợp
những cá nhân và tổ chức thuộc các thành phần
kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất
giống, nuôi, nghiên cứu khoa học và tiêu thụ cá
Chẽm tại Khánh Hòa để hợp tác, hỗ trợ, giúp
đỡ lẫn nhau về kinh tế, kỹ thuật trong sản xuất -
kinh doanh, dịch vụ, nâng cao giá trị sản phẩm,
phòng trừ dịch bệnh, tạo nguồn giống và thức ăn
tốt. Tổ chức trung gian này (hiệp hội) còn là cầu
nối và cải tiến quan hệ giao dịch vay vốn giữa
ngân hàng và chủ hộ nuôi, để cho các hộ nuôi
có thể tiếp cận nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn
tín dụng ưu đãi mà không cần thế chấp tài sản;
ngoài ra, các tổ chức cho vay cần cải cách thủ
tục cho vay nhằm tránh phiền hà.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa (2008), Niên giám thống kê Khánh Hòa 2007.
2. Hội Nghề cá Khánh Hòa (2009), Báo cáo Tình hình nuôi, tiêu thụ, xuất khẩu cá Chẽm ở Khánh Hòa.
3. Nguyễn Kế Tuấn, Nguyễn Đình Phan (2007), Kinh tế và Quản lý Công nghiệp, Nhà xuất bản Đại học Kinh
tế Quốc dân, Hà Nội.
4. Bartlett, Kotrlik, &Higgins (2001), Organizational Research: Determining Appropriate Sample Size in
Survey Research. Information Technology, Learning, and Performane Juornal, Vol.19. No.1
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
76 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
fHONG B/O KHO/ HOC
TINH SẠ CH CHITIN THÔ TỪ PHẾ LIỆ U TÔM
ĐỂ NÂNG CAO CHẤ T LƯỢ NG CHITIN-CHITOSAN
PURIFICATION OF CRUDE CHITIN FROM SHRIMP WASTE
FOR IMPROVING THE QUALITY OF CHITIN-CHITOSAN

Nguyễ n Công Minh
1
, Phạm Thị Đan Phượng
1
,

Hoàng Ngọc Cương
2
, Trang Sĩ Trung
1,*
1
Trường Đại học Nha Trang

2
Trường Đại học Bình Dương
*Tá c giả liên hệ : trangsitrung@gmail.com
TÓM TẮT
Chitin thô từ phế liệ u tôm có hà m lượ ng khoá ng và protein cao hơn quy đị nh có thể đượ c tinh sạ ch bằ ng
cách xử lý với dung dịch HCl loã ng để khử khoáng và xử lý với dung dị ch NaOH loã ng để khử protein. Kế t
quả cho thấ y chitin sau khi tinh sạ ch có chấ t lượ ng đạ t tiêu chuẩ n ứ ng dụ ng công nghiệ p. Chitosan sả n xuấ t từ
chitin tinh sạ ch đá p ứ ng được yêu cầ u chấ t lượ ng sử dụng trong công nghiệp như hà m lượ ng khoá ng, protein
thấ p, độ deacetyl ở mứ c phổ biế n. Tuy nhiên, độ nhớ t củ a cá c mẫ u chitosan sả n xuấ t từ chitin tinh sạ ch thấ p.
Từ khó a: chitin thô, khử khoá ng, khử protein, chitin tinh sạ ch, chitosan
ABSTRACT
Crude chitin extracted from shrimp waste with high mineral and protein content can be purified by
treated with diluted HCl solution for demineralization and with diluted NaOH for deproteinization. Results
showed that chitin after purification had accepted quality for industrial application. Chitosans prepared from
the purified chitins had low ash and protein contents, suitable degree of deacetylation. However, viscosity of
these chitosan samples were low.
Keywords: crude chitin, demineralization, deproteinization, purified chitin, chitosan
I. MỞ ĐẦU
Trong và i thậ p niên qua, chitosan đã đượ c
ứ ng dụ ng phổ biế n trong rấ t nhiề u lĩ nh vự c từ
thự c phẩ m, nông nghiệ p, công nghệ sinh họ c,
xử lý môi trườ ng đế n dượ c họ c (Hirano, 1996;
Stevens, 1996; Park và Kim, 2010). Để ứ ng
dụ ng có hiệ u quả thì đầ u tiên chú ng ta cầ n
phả i quan tâm đế n chấ t lượ ng và tí nh chấ t củ a
chitosan như độ deacetyl, phân tử lượ ng, độ tinh
sạ ch. Hiệ n nay, chitosan đang sử dụ ng phổ biế n
trên thị trườ ng chủ yế u đượ c sả n xuấ t từ chitin
chiế t rú t từ phế liệ u tôm. Chấ t lượ ng chitin
quyế t đị nh chấ t lượ ng và tí nh chấ t của chitosan
(Lertsutthiwong và cộ ng sự , 2002). Vì vậ y, để có
thể sả n xuấ t chitosan chấ t lượ ng cao để có thể
ứ ng dụ ng trong lĩ nh vự c công nghiệ p thì chấ t
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 77
lượng chitin nguyên liệ u phả i đạ t yêu cầ u, cụ
thể hà m lượ ng khoá ng, protein <1%, không
chứ a tạ p chấ t (Rao và cộng sự, 2007).
Tuy nhiên, phầ n lớ n các quy trình sản
xuất chitin đang đượ c ứ ng dụ ng tạ i cá c cơ
sở chitin đã có nhiề u tiế n bộ nhưng do chưa
tậ p trung đú ng mứ c để kiể m soá t chấ t lượ ng
chitin nên chitin thu đượ c chỉ ở dạ ng thô, hà m
lượ ng khoá ng và protein cò n lạ i trong thà nh
phẩ m khá cao (>1%) và chứ a tạ p chấ t, màu
sắ c không đẹ p. Để nâng cao chấ t lượ ng chitin
thì cầ n xử lý chitin để tiếp tục loạ i bỏ phầ n
khoá ng và protein cò n lạ i đế n mứ c theo yêu
cầu. Trong bà i bá o nà y, chú ng tôi xin trình bày
quy trì nh tinh sạ ch chitin từ chitin thô và chấ t
lượ ng củ a chitosan đượ c sả n xuấ t từ chitin
tinh sạ ch.
II. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1. Hai mẫu chitin thô:
CTT 1: chitin thô chiết rút từ phế liệu tôm
sú (Penaues monodon) đượ c thu nhậ n tại Bạ c
Liêu và CTT 2: chitin thô chiết rút từ phế liệu
tôm thẻ chân trắng (Penaues vannamei) đượ c
thu nhậ n tại Khánh Hòa. Cá c hó a chấ t khá c
sử dụ ng trong nghiên cứ u là hó a chấ t dạ ng
tinh khiế t.
2. Tinh sạ ch chitin thô:
Cá c mẫ u chitin thô được rửa sạch, loạ i bỏ
tạ p chấ t, tiế p theo xử lý khử khoáng bằng dung
dị ch HCl với nồng độ 1, 2, 3%, tỷ lệ chitin thô/
dung dịch hóa chất: 1:5 (w/v), ở cá c khoả ng
thời gian 3, 6, 12 h ở nhiệt độ phòng. Mẫ u
chitin đượ c rử a sạ ch đế n trung tí nh và tiếp tục
đượ c khử protein bằng dung dị ch NaOH ở cá c
nồ ng độ 1, 2, 3%, tỷ lệ chitin thô/dung dịch
hóa chất 1:5 (w/v), ở 65
0
C vớ i cá c khoả ng thờ i
gian xử lý khá c nhau: 3, 6, 12 h. Tiếp theo mẫu
được rửa sạch đế n trung tí nh thu được chitin.
Mẫ u chitin thô CTT1 sau khi tinh sạch đượ c
đặ t tên là CT1, mẫu chitin thô CTT2 sau khi
tinh sạch đượ c đặ t tên là CT2.
3. Chuyể n chitin thà nh chitosan:
Cá c mẫ u chitin sau khi tinh sạ ch CT1 và
CT2 đượ c deacetyl trong dung dị ch NaOH
60% trong thờ i gian 3h ở 95
0
C, sau đó rử a
sạ ch đế n trung tí nh thu được cá c mẫ u
chitosan tương ứ ng là CTS1 và CTS2.
4. Đá nh giá chấ t lượ ng củ a chitin và
chitosan:
Độ ẩm, hàm lượng protein, hàm lượng
tro được phân tích theo phương pháp
chuẩn của AOAC (1990). Độ nhớt được của
chitosan được xác định trên nhớt kế Rôto
Brookfield, Mỹ. Độ deacetyl hóa được xác
định theo phương pháp quang phổ (Wu và
Zivanovic, 2008).
5. Phương phá p xử lý số liệ u:
Số liệu báo cáo là trung bình của 3 lần
phân tích. Kết quả được phân tích thống kê
bằng phần mền Minitab. Giá trị của p < 0,05
được xem là có ý nghĩa về mặt thống kê.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Chất lượng của chitin thô
Cá c mẫ u chitin thô được phân tích để xá c
đị nh các chỉ tiêu chấ t lượ ng cơ bản và được
trình bày ở Bảng 1.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
78 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Bảng 1. Chỉ tiêu chấ t lượ ng cơ bản của chitin thô
Chỉ tiêu chất lượng
Mẫu chitin
CTT 1 CTT 2
Màu sắc Vàng sẫm, tối màu Vàng sẫm, tối màu
Độ đồng đều Trung bình Thấp
Độ ẩm (%) 7,5 ± 0,4 7,3 ± 0,5
Hàm lượng tro (%) 4,13 ± 0,6 4,2 ± 0,2
Hàm lượng protein (%) 3,02 ± 0,11 3,67 ± 0,06
Kết quả cho thấy các mẫu chitin thô có màu vàng sẫm, tối màu, độ đồng đều không cao. Cá c
mẫ u chitin CTT1 và CTT2 có hà m lượ ng khoá ng giố ng nhau nhưng mẫ u CTT2 có hà m lượ ng pro-
tein cao hơn. Tuy nhiên, cả hai mẫ u đề u có hàm lượng khoáng và protein cao hơn quy đị nh (>1%).
Vì vậy, để sả n xuấ t được chitosan có chấ t lượ ng đạt tiêu chuẩn ứng dụng công nghiệp thì cá c mẫ u
chitin thô cần phả i đượ c xử lý khử khoá ng và protein.
2. Xá c đị nh điề u kiệ n tinh sạ ch chitin thô
Các mẫu chitin có hàm lượng khoáng tương đối cao (>4% so với trọng lượng khô). Vì vậy, cần
phải loại bỏ phần khoáng còn lại này bằng xử lý bằng dung dịch HCl loãng để hàm lượng khoáng còn
lại trong chitin <1%. Kết quả quá trình khử khoáng chitin thô được trình bày trên Hình 1.
Hình 1. Hàm lượng tro còn lại trong chitin sau khi xử lý với HCl ở nhiệ t độ phò ng (26 - 30
o
C)
Kết quả khử khoáng của cá c mẫu chitin thô từ phế liệ u tôm sú (CTT1) và tôm thẻ chân trắ ng
(CTT2) cho thấy nồng độ HCl có ảnh hưởng rất lớn đế n hiệ u quả củ a quá trì nh khử khoá ng, khi nồng
độ HCl tăng từ 1% lên 2%, lượng khoáng còn lại trong mẫu chitin giảm từ gần 3% xuống còn khoảng
1% sau khi xử lý 6h. Tuy nhiên, khi tăng nồng độ lên 3% thì lượng khoáng trong mẫu giảm không
nhiều so với xử lý ở 2% (Hì nh 1), do phần khoáng còn lại này liên kết chặt chẽ với chitin và protein
nên rất kho tách ra. Để đạt yêu cầu chitin kỹ thuật thì hàm lượng khoáng phải dưới 1% nên chế độ
tách khoáng thích hợp được chọn là xử lý bằng HCl ở nồng độ 2%, thời gian 6 h, nhiệt độ phòng.
Kết quả khử protein thô bằng NaOH loãng được trình bày trên Hình 2.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 79
Đố i vớ i quá trì nh khử protein củ a chitin thô
cho thấ y ở nồ ng độ NaOH 1% không đủ để loạ i
protein trong mẫ u chitin thô đế n mứ c đạ t yêu cầ u
(<1%). Ở nồ ng độ NaOH 2% thì có sự khá c biệ t
về thờ i gian xử lý để giả m hà m lượ ng protein
đạ t yêu cầ u (<1%), cụ thể vớ i chitin thô CTT1
thì thờ i gian xử lý cầ n thiế t là 12h nhưng đối vớ i
chitin thô CTT2 thì thờ i gian cầ n thiế t chỉ là 6h
(Hì nh 2). Tuy nhiên, khi tăng nồng độ NaOH đến
mức 3% thì protein còn lại giảm không nhiều so
vớ i nồ ng độ NaOH 2%, điều này có thể do phần
protein này liên kết chặt chẽ với thành phần
chitin nên rất khó tách ra. Tuy nhiên, hàm lượng
protein ở mức dưới 1% thì đạt yêu cầu chất
lượng của chitin kỹ thuật nên nồng độ NaOH
thích hợp là 2%, thời gian xử lý thích hợp là 12h
đố i vớ i chitin thô từ tôm sú và 6h đố i vớ i chitin
thô từ tôm thẻ . Bên cạ nh đó , sau khi tinh sạ ch
mà u sắ c củ a chitin cả i thiệ n nhiề u, chitin tinh
sạ ch có mà u trắ ng ngà .
2.1. Đề xuất quy trì nh tinh sạ ch chitin thô từ phế
liệu tôm
Từ kế t quả nghiên cứ u trên, sơ đồ quy trì nh
tinh sạ ch chitin thô từ phế liệ u tôm đượ c đề xuấ t
theo sơ đồ Hì nh 3.
Hình 2. Hàm lượng protein còn lại trong chitin sau khi xử lý với NaOH ở 65
o
C
Hình 3. Sơ đồ quy trình tinh sạ ch chitin thô
từ phế liệu tôm
Chitin thô từ phế liệ u tôm
Rửa sạch, loạ i bỏ tạ p chấ t
Khử khoáng bằng 2% HCl,
6h, nhiệ t độ phò ng
Rửa trung tính
Khử protein còn lại bằng
2%NaOH, 65
0
C, thờ i gian
1
Rửa trung tính
Sấy/phơi khô
Chitin
1
Thờ i gian xử lý là 12h và 6h tương ứ ng vớ i chitin thô từ tôm sú và
tôm thẻ .
Chitin thô có thể từ nguồ n phế liệ u tôm sú
hoặ c tôm thẻ . Công đoạ n rử a, loạ i bỏ tạ p chấ t
để loạ i bỏ bụ i bẩ n, cá c tạ p chấ t như giấ y, cá t,
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
80 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
sạ n. Cá c công đoạ n khử khoá ng và khử protein đượ c thự c hiệ n ở điề u kiệ n nêu trên với tỷ lệ chitin
thô/dung dị ch là 1/5. Công đoạ n rử a cầ n phả i đả m bả o mẫ u sau khi rử a ở pH trung tí nh. Chitin đượ c
là m khô bằ ng phương phá p sấ y trong tủ sấ y ở nhiệ t độ 50 - 60
o
C hoặ c phơi nắ ng. Chitin sau khi tinh
sạ ch cầ n đó ng gó i cẩ n thậ n và bả o quả n ở nơi thoá ng má t.
2.2. Đá nh giá chấ t lượ ng chitin tinh sạ ch đượ c sả n xuấ t theo quy trì nh đề xuấ t
Cá c mẫ u chitin thô CTT1 và CTT2 đượ c tinh sạ ch theo quy trì nh đề xuấ t ở trên và cá c chỉ tiêu
chấ t lượ ng cơ bả n củ a chitin tinh sạ ch đượ c trì nh bà y ở Bả ng 2. Kế t quả cho thấ y chitin sau khi tinh
sạ ch có mà u trắ ng ngà , độ đồ ng đề u tăng lên, hà m lượ ng khoá ng và protein <1%, đá p ứ ng đượ c
yêu cầ u chitosan ứ ng dụ ng trong công nghiệ p (Rao và cộ ng sự , 2007).
Bảng 2. Chỉ tiêu chấ t lượ ng cơ bản của chitin sau khi tinh sạ ch
Chỉ tiêu chất lượng
Mẫu chitosan
CT1 CT 2
Màu sắc Trắng ngà Trắng ngà
Độ ẩm (%) 8,3 ± 0,4 9,3 ± 0,2
Hàm lượng tro
2
(%) 0,96 ± 0,1 0,94 ± 0,15
Hàm lượng protein
2
(%) 0,91 ± 0,1 0,96 ± 0,07
2
Tí nh theo khố i lượ ng khô tuyệ t đố i
3. Tí nh chấ t chitosan sả n xuấ t từ chitin tinh sạ ch
Chitin tinh sạ ch đượ c tiế p tụ c deacetyl để chuyể n thà nh chitosan, cụ thể cá c mẫ u chitosan
CTS1 và CTS2 thu nhậ n đượ c từ mẫ u chitin tinh sạ ch CT1 và CT2 tương ứ ng. CTS1 và CTS2 đượ c
xá c đị nh cá c chỉ tiêu chấ t lượ ng cơ bả n và trì nh bà y tạ i Bả ng 3.
Bảng 3. Chỉ tiêu chấ t lượ ng cơ bản của chitosan sả n xuấ t từ chitin đã tinh sạ ch
Chỉ tiêu chất lượng
Mẫu chitosan
CTS 1 CTS 2
Màu sắc Trắng ngà Trắng ngà
Độ ẩm (%) 7,9 ± 0,3 8,3 ± 0,4
Hàm lượng tro
3
(%) 0,92 ± 0,1 0,93 ± 0,12
Hàm lượng protein
3
(%) 0,91 ± 0,1 0,96 ± 0,07
Độ nhớt (cps) 294 ± 28 213 ± 21
Độ deacetyl hóa (%) 84,4 ± 2,4 86,6 ± 2,1
Độ tan (%) 99,7 ± 0,2 99,6 ± 0,2
Độ đục (NTU) 27,5 ± 2,2 24,5 ± 2,7
3
Tí nh theo khố i lượ ng khô tuyệ t đố i
Kế t quả cho thấ y chitosan sả n xuấ t từ cá c mẫ u chitin tinh sạ ch có mà u trắ ng ngà , độ
đồ ng đề u cao. Hà m lượ ng khoá ng và protein trong cá c mẫ u chitosan thấ p. Ngoà i ra, cá c mẫ u
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 81
chitosan có độ deacetyl nằ m trong khoả ng phổ
biế n củ a chitosan thương mạ i, tuy nhiên độ
nhớ t thì tương đố i thấ p (Cho và cộ ng sự , 1998).
Độ nhớ t thấ p có thể do là trong quá trì nh sả n
xuấ t chitin thô từ phế liệ u tôm thườ ng được xử
lý trong môi trườ ng HCl và NaOH nồ ng độ cao
và thờ i gian dà i, làm cắ t mạ ch chitin, dẫ n đế n
chitosan sả n xuấ t từ cá c mẫ u chitin nà y có
phân tử lượ ng thấ p và độ nhớ t thấ p (Trung và
cộ ng sự , 2010).
V. KẾT LUẬN
Chitin thô từ phế liệ u tôm có thể đượ c tinh
sạ ch bằ ng phương phá p đơn giả n. Chitin thô
đượ c khử khoá ng bằ ng dung dị ch HCl loã ng
và khử protein bằ ng dung dị ch NaOH loã ng thu
đượ c sả n phẩ m chitin có chấ t lượ ng đạ t tiêu
chuẩ n ứ ng dụ ng công nghiệ p. Chất lượng của
chitosan sả n xuấ t từ chitin tinh sạ ch cũng đạt
tiêu chuẩn ứng dụng công nghiệp mặc dù độ
nhớ t hơi thấ p.
VI. LỜI CẢM ƠN
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn sự
đóng góp ý kiến của GS. W. F. Stevens, Đại học
Mahidol, Thái Lan và GS. Kjell Morten Varum,
Đại học Khoa học Công nghệ Na Uy, Na Uy
trong việc thực hiện nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. AOAC, 1990. Official Method of Analysis, 15th ed. Arlington, VA: Association of official analytical
chemists, 70.
2. Cho, Y. I., No, H. K. and Meyers, S. P. 1998. Physicochemical characteristics and functional properties of
various commercial chitin and chitosan products. J. Agric. Food Chem., 46, 3839-3843.
3. Hirano, S. 1996. Chitin biotechnology application. Biotechnology Annual Review, 2, 237-258.
4. Lertsutthiwong, P., How, N. C., Chandrkrachang, S., Stevens, W. F., 2002. Effect of Chemical Treatment
on the Characteristics of Shrimp Chitosan. Journal of Metals, Materials and Minerals, 12, 1, 11-18.
5. Park, B. K., Kim, M.M., 2010. Applications of chitin and its derivatives in biological medicine.
International Journal of Molecular Sciences, 11, 5152-5164.
6. Rao, M.K., Kyaw, A.K., Trung, T.S., Stevens, W.F., 2007. Optimum parameters for production of chitin
and chitosan from squilla. Journal of Applied Polymer Science, 103, 3694-3700.
7. Stevens, W. F. 1996. Chitosan: A key compound in biology and bioprocess technology. Proceedings of
2nd Asia Pacific Chitin-Chitosan Symposium, Bangkok, Thailand, Stevens, W.F., Rao, M.S. and
Chandrkrachang, S. (Eds), pp. 13.
8. Trang Sĩ Trung, Nguyễ n Anh Tuấ n, Trầ n Thị Luyế n, Nguyễ n Thị Hằ ng Phương, 2010. Chitin-chitosan từ
phế liệ u thủ y sả n và ứ ng dụ ng. Nhà xuấ t bả n Nông Nghiệ p.
9. Wu, T., Zivanovic, S., 2008. Determination of the degree of acetylation (DA) of chitin and chitosan by an
improved first derivative UV method. Carbohydrate Polymers, 73, 248–253.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
82 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
fHONG B/O KHO/ HOC
ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA ỐC CỐI (CONUS SPP)
TẠI VỊNH VÂN PHONG KHÁNH HÒA
DISTRIBUTION OF CONE SNAIL (CONUS SPP) AT VAN PHONG BAY,
KHANH HOA
Đặng Thúy Bình, Bùi Vân Khánh, Nguyễn Thị Thu Nga
Viện Ngiên cứu CNSH & MT - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Ốc cối (Conoidea) là giống ốc độc có giá trị mỹ nghệ và là nguồn dược liệu quý. Nghiên cứu này xác
định thành phần loài, đặc điểm phân bố của ốc cối tại vịnh Vân Phong (Khánh Hòa) và xây dựng bản đồ phân
bố của một số loài phổ biến. Tổng số 19 loài được tìm thấy tại 10 điểm thu mẫu đại diện cho mùa khô và mùa
mưa. Số lượng cá thể/điểm thu mẫu vào mùa khô cao hơn mùa mưa và dao động từ 15 - 55/100m
2
. Các loài
phổ biến là Conus textile (83 cá thể/ 8 điểm thu mẫu); C. striatus (54 cá thể/10 điểm thu mẫu); C. vexilum (42
cá thể/8 điểm thu mẫu); và C. miles (38 cá thể/6 điểm thu mẫu). Bản đồ phân bố của các loài ốc phổ biến cho
thấy ốc cối hiện diện ở hầu hết các điểm thu mẫu nhưng mật độ phân bố mùa khô cao hơn mùa mưa (lần lượt
là 29 - 55 và 12 - 22). Dữ liệu trên làm cơ sở cho các nghiên cứu bảo tồn nguồn lợi giống ốc cối có giá trị kinh
tế và y học.
Từ khóa: Conus, bản đồ phân bố, vịnh Vân Phong, ốc cối
ABSTRACT
The Cone snail (Conoidea) is the toxic Conus species known as precious drug. This study presents
the species composition and distribution of Conus species at Van Phong Bay, Khanh hoa Province. Based
on this data, the distribution of four common Conus species has been mapped. Nineteen species have been
totally found at 10 sampling sites representatively for dry and rainy seasons. The number of individuals per
location was found higher in dry than in the rainy seasons (29-55 and 12-22, respectively). Dominaant species
are Conus textile (83 individuals/8 sampling sites); C. striatus (54 individuals/10 sampling sites); C. vexilum
(42 individuals/8 sampling sites); and C. miles (38 individuals/6 sampling sites). The distribution maps show
that diminant Conus species has been found in most of sampling sites, but the density is higher in dry season
compared to the rainy one. These data can be used for further research on conservation of this high value and
medical species.
Keywords: Conus, distribution map, Van Phong Bay, Cone snail
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bờ biển Việt Nam dài 3.260km và có hơn
3.000 đảo lớn nhỏ. Năm 1992, Trung tâm
quan trắc bảo tồn thế giới (World Conservation
Monitoring Center) đánh giá Việt Nam là một
trong 16 quốc gia có sự đa dạng di truyền cao
trên thế giới. Đa dạng sinh học của Việt Nam
đặc trưng bởi 11.458 loài động vật, 21.017 loài
thực vật và 3.000 loài vi sinh vật. Việt Nam có
tiềm năng về kinh tế biển với khoảng 20 hệ sinh
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 83
thái biển, trong đó có khoảng 11.000 loài bao
gồm 2.500 loài cá biển, 225 loài tôm, hơn 200
loài thủy sinh vật, gần 700 loài động vật nổi và
100 loài thực vật rừng ngập mặn, 15 loài cỏ biển
và hơn 6.000 loài động vật không xương sống.
Theo ước tính, có khoảng 1.122km
2
rạn san hô
phân bố từ Bắc vào Nam, 90% các loài san hô
cứng ở vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương
được tìm thấy ở Việt Nam (Dang và Chu, 2005).
Ở nước ta, ốc là một trong những nguồn
lợi hải sản có mức độ phong phú về thành phần
loài, có giá trị thực phẩm và kinh tế cao. Song
những năm gần đây, tình trạng khai thác quá
mức cộng với sự ô nhiễm môi trường đang
làm cho nguồn lợi ốc có chiều hướng suy giảm
nghiêm trọng. Nhiều loài nhuyễn thể có giá trị
cao đang có nguy cơ tuyệt chủng như ốc tù và,
ốc đụn, ốc bàn tay, trai tai tượng, ốc vú nàng
(http://www.baomoi.com/Home/DuLich/cand.
com.vn/).
Ốc cối là loại động vật thân mềm, có nọc
độc, sống chủ yếu ở các vùng nước nông nhiệt
đới. Ở Việt Nam có hơn 76 loài (Hylleberg và
Kilburm, 2003) và khoảng 500 - 700 loài được
ghi nhận trên toàn thế giới (Nam và cs, 2009;
Cunha và cs, 2005). Chúng thường được khai
thác để làm hàng mỹ nghệ và còn là nguồn thực
phẩm cao cấp ở một số quốc gia như Vanuatu,
New Caledonia, Philippines. Gần đây, ốc cối còn
được biết đến như là một loại dược liệu quý để
chữa các cơn đau mãn tính, ung thư và nhiều
bệnh khác (Oliverra, 2002; Terlau và Olivera,
2004; Puillandre và cs, 2010).
Những nghiên cứu về ốc cối ở Việt Nam
phần lớn vẫn còn ở mức độ khảo sát, thu
thập mẫu và tư liệu liên quan (Hylleberg và
Kilburm, 2003); phân loại, mô tả đặc điểm hình
thái (Nguyễn Ngọc Thạch, 2002); xác định độc
tính và kiểm chứng tính chất của một số độc tố
(http://www.vnio.org.vn/). Ngô Đăng Nghĩa và
cs (2010) đã tiến hành khảo sát, phân loại, mô
tả đặc điểm hình thái, xây dựng mối quan hệ
tiến hóa và bước đầu khảo sát độc tính của các
loài ốc cối thu tại vùng biển Nam Trung bộ. Tuy
nhiên, những nghiên cứu sâu về đặc điểm phân
bố của ốc cối vẫn còn rất hạn chế.
Nghiên cứu này xác định thành phần loài
và đặc điểm phân bố ốc cối ở vịnh Vân Phong
(Khánh Hòa) để xây dựng bản đồ phân bố của
một số loài ốc cối phổ biển làm cơ sở cho các
nghiên cứu bảo tồn nguồn lợi giống thủy sản có
giá trị kinh tế và y học.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
1. Địa điểm, phương pháp thu mẫu và phân
loại
Mẫu ốc cối được thu 2 lần/ năm, đại diện
cho mùa mưa và mùa khô (tháng 5 và tháng
10 năm 2010) quanh đảo Hòn Lớn thuộc
vịnh Vân Phong (Khánh Hòa). Mẫu được thu
theo phương pháp lặn quan sát theo mặt cắt
(Transect surveys) và quan sát tự do không theo
mặt cắt (free-swimming observations) (Hodgson,
1998; English và cs, 1997).
Các thông tin liên quan đến địa điểm khảo
sát (vị trí, thời gian) được mô tả và ghi chép đầy
đủ vào sổ nhật ký thực địa làm cơ sở cho việc
lập bản đồ phân bố sau này. Vị trí các mặt cắt
(điểm khảo sát) có diện tích khoảng 100m
2

được xác định bằng máy định vị cầm tay GPS
(Magellan JPS colour tract, hệ quy chiếu GW 84,
Đài Loan). Ốc cối được định danh theo Röckel
và cs (1995) và Nguyễn Ngọc Thạch (2007).
Thông tin về 10 điểm thu mẫu được trình bày
ở bảng 1.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
84 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
2. Nghiên cứu phân bố ốc cối
Mẫu ốc cối được phân loại sơ bộ, đo kích
thước, khối lượng, và chụp ảnh, vận chuyển
nhanh về phòng thí nghiệm trong nitơ lỏng, sau
đó được lưu giữ ở -70
0
C.
Dữ liệu phân bố (số cá thể/điểm thu mẫu)
của một số loài phổ biến được sử dụng để xây
dựng bản đồ phân bố bằng phần mềm Golden
Software Surfer ver 8.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Thành phần loài, mật độ phân bố ốc cối
Chúng tôi đã tiến hành thu mẫu tại Vịnh
Vân Phong (Khánh Hòa) tại 10 điểm thu mẫu.
Thành phần, số lượng cá thể và sự phân bố của
các loài ốc cối được trình bày ở bảng 2. Qua
khảo sát cho thấy ốc cối ở vịnh Vân Phong khá
đa dạng về thành phần loài (bảng 2), cụ thể ở
Vân Phong tìm thấy 19 loài tại các điểm thu mẫu
khác nhau giữa mùa khô và mùa mưa (9 - 12
loài ở mùa khô và 5 - 9 loài ở mùa mưa). Hình
thái ngoài của các loài trên được biển hiện ở
hình 1. Một số loài biểu hiện sự đa dạng về mặt
hình thái, có sự khác nhau về màu sắc và vân
trên vỏ (C. caractericus, hình 1 - 22,23) hay sự
khác biệt về kiểu vân trên vỏ (C. betulinus, hình
1 - 4,5). Một số loài có đặc điểm hình thái rất
giống nhau nên dễ gây nhầm lẫn (C. litteratus
và C. leopardus, hình 1 - 1,2); C. bandanus và
C. marmoreus, hình 1 - 11,12).
Loài phổ biến nhất là Conus textile (83 cá
thể tại 8/10 điểm thu mẫu (nhiều nhất là 18 cá
thể tại điểm 3, ít nhất 5 cá thể ở điểm 8,9), Một
số loài khác cũng khá phổ biến là C. striatus
(54 cá thể phân bố khá đồng đều tại 10/10 điểm
thu mẫu), loài C. vexilum (42 cá thể phân bố tại
8/10 điểm thu mẫu), và loài C. miles (38 cá thể
phân bố tại 6/10 điểm thu mẫu). Loài C. betulinus
và C. quercinuss có mật độ phân bố trung bình.
Một số loài rất hiếm gặp như C. arenatus và
C. leopardus. Các loài có kích thước lớn như
C. textile, C. striatus, C. vexilum, C, betulinus,
C. distans và C. leopardus. Loài có kích thước
dao động lớn như C. litteratus và C. lividus. Số
lượng cá thể tại các điểm thu mẫu dao động từ
15 - 55/100m
2
khu vực thu mẫu, cao nhất là tại
điểm 3 và 5, lần lượt là 52 và 55 cá thể.
Kết quả cũng cho thấy tần xuất bắt gặp
ốc cối vào mùa khô cao hơn so với mùa mưa
(29 - 55 tổng cá thể/điểm thu mẫu vào mùa khô
Bảng 1. Vị trí các điểm thu mẫu ở Vân Phong (Khánh Hòa)
Ký hiệu Thời gian (mùa) Kinh độ Vĩ độ
D1 5/2010 (khô) 109°18’0.84”E 12°37’56.23”N
D2 5/2010 (khô) 109°18’25.88”E 12°38’52.65”N
D3 5/2010 (khô) 109°18’25.88”E 12°38’52.65”N
D4 5/2010 (khô) 109°18’34.30” 12°36’12.03”N
D5 5/2010 (khô) 109°21’24.82”E 12°34’10.39”N
D6 10/2010 (mưa) 109°22’33.27”E 12°33’11.45”N
D7 10/2010 (mưa) 109
0
. 19

.51.6

E 12
0
.38

02.7

N
D8 10/2010 (mưa) 109
0
. 20

.19.4

E 12
0
.38

02.7

N
D9 10/2010 (mưa) 109
0
. 17

.31.6

E 12
0
.37

31.6

N
D10 10/2010 (mưa) 109
0
. 18

.36.9

E 12
0
.38

39.6

N
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 85
và 15 - 22 tổng cá thể/điểm thu mẫu vào mừa
mưa). (hình 2). Số lượng cá thể ốc tại từng điểm
thu mẫu cũng nhiều hơn (5 - 18 đối với các loài
phổ biển và 2 - 5 đối với các loài khá phổ biến.
Tuy nhiên, đối với các loài hiếm đôi khi chỉ gặp
1 đến 2 cá thể. Về thành phần loài cũng có đặc
điểm tương tự. Các điểm có số lượng loài nhiều
là D1 và D4 (có 12 loài); tiếp theo là các điểm
D2, D3, D5 và D7 (có 9 loài) (bảng 2)
Hình 2. Phân bố cá thể ốc cối theo điểm thu mẫu
tại vịnh Vân Phong.
Điểm 1 - 5 thu vào mùa khô và 6 - 10 thu vào mùa mưa
2. Đặc điểm phân bố ốc cối
Sự phân bố của ốc cối được thể hiện bằng
bản đồ phân bố trên hình 3, các loài phổ biến
nhất C. textile, C. striatus, C. vexilum và C.
miles. Loài C. textile phân bố rộng (8/10 điểm)
và số cá thể được tìm thấy nhiều nhất ở các
điểm thu mẫu 2 - 5 (10 - 18 cá thể), trong khi đó
loài C. striatus và C. vexilum được tìm thấy ở
hầu hết các điểm với số lượng cá thể gần như
đồng đều (thấp nhất 4 cá thể, cao nhất 10 cá
thể). Loài C. miles được tìm thấy ở 6 điểm thu
mẫu với số lượng cá thể trung bình (5 - 8 cá thể).
IV. THẢO LUẬN
1. Thành phần loài, mật độ phân bố ốc cối
Thành phần loài và sự phân bố của động
vật thân mềm đã được nghiên cứu trên hầu hết
các vùng biển thế giới, trong đó nhiều nhất là
vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương. Nguyễn
Ngọc Thạch (2007) đã xác định có 39 loài ở Việt
Nam thuộc họ Conidae, trong đó họ phụ Coninae
gồm giống Conus L 1758 (loài đặc trưng (type
species) là Conus marmoreus L 1758) được
phân thành các lớp phụ Asprella Schaufuss,
1869; Chelyconus Morch, 1852; Darioconus
Iredale 1930; Hermes Montifort, 1810;
Lithconus Morch, 1852; Phasmoconus Morch,
1852; Pimoconus Morch, 1852; Rhizoconus
Morch, 1852; Stephanoconus Morch, 1852;
Vigiconus Cotton, 1945; Viroconus Iradale,
1930. Tác giả cũng ghi nhận một số loài chưa
được định danh, ví dụ ốc cối thon dài (Conus
sp1.), ốc cối thon nhí (Conus sp2.), ốc cối rãnh
cạn (Conus (Rhizoconus) sp1.); ốc cối đáy bằng
(Conus (Rhizoconus) sp1.).
Tập hợp tất cả các nghiên cứu trong và
ngoài nước và các mẫu vật thu được về khu hệ
động vật thân mềm biển Việt Nam từ trước đến
nay sau khi xem xét và điều chỉnh, Hylleberg
và Kilburn (2003) đã xác định biển Việt Nam có
khoảng 2.200 loài thuộc 700 giống của 200 họ
phụ đã được công bố ở Việt Nam. Trong đó,
giống ốc cối được ghi nhận có khoảng 76 loài.
Các tác giả cũng ghi chú 18 loài ốc cối được
mô tả bởi Nguyễn Ngọc Thạch (2007) hoặc các
công bố khác, nhưng những loài này không
được ghi nhận có mặt ở Việt Nam hoặc tên của
chúng đã thay đổi theo Röckel và cs (1995) như
Conus luteus Sowerby, 1833; Conus monachus
Linnaeus, 1758.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm thấy 19
loài tại vịnh Vân Phong (chiếm 30% số loài bắt
gặp ở Việt Nam). Tất cả các loài trên đã được
định danh chính xác dựa trên đặc điểm hình
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
86 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
thái và sự đa dạng về màu sắc và vân trên vỏ
đã được ghi nhận (hình 1). Các loài phổ biển
nhất là C. textile, C. striatus và C. vexilum. Kết
quả này cũng khá phù hợp với các nghiên cứu
trước đó (Ngô Đăng Nghĩa, 2010). Loài C. miles
cũng phân bố rộng nhưng tần suất bắt gặp và số
lượng cá thể ít hơn.
Tuy nhiên, qua đợt khảo sát tại vịnh Vân
Phong, cũng như thu mẫu dọc bờ biển Nam
Trung Bộ (Lý Sơn, Cù Lao Chàm, Bình Thuận,
Sông Cầu) đều không thấy sự xuất hiện của
ốc cối địa lý (C. geographus) là loài được công
bố phổ biến ở Việt Nam. Đây là loài ốc ăn cá
và được biết đến là một trong các loài có tính
độc cao nhất trong số các loài ốc cối (http://
vn.vinaseashells.com/oc-coi-nau.htm). Có thể
ốc cối địa lý có thói quen săn mồi vào ban đêm,
ban ngày thường vùi mình trong cát nên rất khó
phát hiện hoặc do cơ thể có kích thước lớn, màu
sắc đẹp nên chúng bị khai thác tập trung dẫn
đến sự suy giảm về số lượng.
So sánh với dữ liệu phân bố của ốc cối thu
ở Vân Phong năm 2009 (Ngô Đăng Nghĩa và cs,
2010), chúng tôi nhận thấy năm 2010 có sự đa
dạng hơn về loài và số lượng cá thể. Cụ thể kết
quả khảo sát ở 4 tỉnh (Quảng Nam, Quảng Ngãi,
Khánh Hòa và Bình Thuận) năm 2009 tìm thấy
18 loài, trong đó ở vịnh Vân Phong có 12 loài tại
6 điểm thu mẫu. C. textile 13 cá thế, C. striatus
13 cá thể và C. vexilum 5 cá thể; Tuy nhiên loài
C. miles có số lượng cá thể là 19, trong khi năm
2010 chúng tôi thu được loài C. striatus 54 cá
thể, C. textile 83 cá thế và C. vexilum 42 cá thể;
và C. miles có số lượng cá thể là 38. Có thể số
lượng đợt/điểm thu mẫu năm 2010 nhiều hơn
và tập trung vào mùa khô và đầu mùa mưa nên
tần suất bắt gặp nhiều hơn so với mẫu thu năm
2009 (chủ yếu vào cuối mùa mưa).
Qua 2 đợt thu mẫu, chúng tôi nhận thấy tần
xuất bắt gặp ốc cối vào mùa khô cao hơn mùa
mưa (hình 2); Vào mùa mưa, có thể do nhiệt độ
xuống thấp hơn, chúng trốn vào các hốc, ghềnh
đá, rạn san hô. Theo điều tra khảo sát chúng
tôi nhận thấy vào mùa khô là lúc thu mẫu dễ và
nhiều nhất. Đồng thời kích cỡ mẫu ốc của cùng
loài thu vào vào mùa khô (6 - 8cm) lớn hơn hẳn
so với các mẫu thu được vào mùa mưa (3 - 4cm).
2. Đặc điểm phân bố ốc cối
Giống ốc cối thường phân bố ở vùng vĩ
độ giữa 40
0
Bắc và 40
0
Nam, thuộc các vùng
biển: Ấn Độ - Thái Bình Dương, Panamic,
Caribbean, Peruvian, Patagonic, Tây và Nam
Phi và Địa Trung Hải. Một vài loài có thể phân
bố ở vĩ độ trên 40
0
Bắc - Nam như ở Nam Phi.
Nam Australia, Nam Nhật Bản và biển Địa Trung
Hải. Nhìn chung, ốc cối xuất hiện ở hầu hết các
vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhưng đa
dạng nhất ở khu vực Ấn Độ - Tây Thái Bình
Dương (Indo-West Pacific). Mật độ phân bố lớn
nhất của chúng đạt 40 cá thể/m
2
(Kohn và cs,
2001). Ốc cối được tìm thấy chủ yếu ở các rạn
san hô. Chúng có thể ở các vùng nước nông
gần rạn san hô, dưới rạn san hô, vùi mình trong
cát hoặc ở dưới các tảng đá hoặc sỏi (Röckel và
cs, 1995). Một vài loài ốc cối sống ở rừng ngập
mặn. Một số lượng đáng kể ốc cối sống xa bờ
hoặc ở những vùng nước sâu đến 400m (Röckel
và cs, 1995)
Ở Việt Nam, ốc cối phân bố chủ yếu ở các
vùng ven biển thuộc khu vực Nam Trung bộ từ
Đà Nẵng (Khánh Hòa, Bình Thuận...) đến Vũng
Tàu, Kiên Giang, và quanh các đảo (như Lý Sơn,
Cù Lao Chàm, Trường Sa, Hoàng Sa, Phú Quý,
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 87
Long Hạ, Côn Đảo). Các loài ốc được ghi nhận
phổ biến ở Việt Nam như C. vexilum, C. quercinus,
C. imperialis, C. striatus, C. generalis, C.
geographus, C. litteratus và C. distans. Chúng
có dải phân bố rất rộng, từ vùng dưới triều đến
độ sâu khá lớn, nhưng thường sống chui trong
các kẽ rạn san hô ở độ sâu từ 10 - 70m. Đôi
khi thấy chúng vùi trong cát ở vùng rạn phẳng.
Một số loài có thể sống ở vùng xa bờ (http://
vn.vinaseashells.com/oc-coi-nau.htm).
Dựa trên bản đồ phân bố của các loài ốc
cối (hình 3) ta thấy loài C. textile, C. striatus và
C. vexilum có phạm vi phân bố gần như nhau,
trong đó, loài C. textile có số lượng cá thể được
tìm thấy nhiều nhất. Số lượng cá thể mùa khô
cao hơn so với mùa mưa, đặc biệt đối với loài
C. textile. Loài C. miles có mức độ phân bố đồng
đều giữa mùa khô (Điểm D1, D4 và D5) và mùa
mưa (Điểm D8, D9, D10) nhưng số lượng cá thể
mùa khô tương đối nhiều hơn.
Loài C. textile được ghi nhận là phân bố
trên toàn khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương
(Röckel và cs, 1995). C. striatus phân bố ở rất
nhiều vùng khác nhau tại khu vực Ấn Độ - Thái
Bình Dương, từ Nam Phi đến Biển Đỏ, Hawaii
và bán đảo Pháp. Trong khi đó, loài C. vexilum
được ghi nhận phân bố ở nhiều khu vực thuộc
Ấn Độ - Thái Bình Dương như Aldabra, quần
đảo Chagos, Tazania, Madagasca, Biển Đỏ.
Theo Röckel va cs (1995), loài C. miles phân
bố trên toàn khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương,
trừ vùng Biển Đỏ. Tuy nhiên, Vine (1986) lại ghi
nhận sự có mặt của loài ở Biển Đỏ. Cả bốn loài
trên đều có vùng phân bố rất rộng.
Việt Nam nằm trong khu vực Thái Bình
Dương, vì vậy tần xuất bắt gặp các loài trên
cũng rất cao. Kết quả của Ngô Đăng Nghĩa và cs
(2010) cũng cho thấy các loài trên bắt gặp ở các
vùng khảo sát thuộc khu vực Nam Trung bộ với
mật độ cao. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi
cũng khá phù hợp với các nghiên cứu trước đây.
Ốc cối được dùng làm hàng mỹ nghệ, vì
vậy các loài có kích thước lớn và màu sắc đẹp
đang bị khai thác với số lượng lớn. Tuy chưa
có loài ốc cối nào được xếp trong sách đỏ hoặc
được ghi nhận có nguy cơ tuyệt chủng, nhưng
với tốc độ khai thác như hiện nay, loài ốc với giá
trị dược liệu cao sẽ phải đối mặt với nguy cơ
suy giảm nguồn lợi nghiêm trọng và ảnh hưởng
đến cấu trúc quần thể tự nhiên. Theo Ngô Đăng
Nghĩa và cs (2010) và kinh nghiệm của ngư dân
cho thấy càng xa bờ, ở độ sâu càng lớn thì khả
năng bắt gặp các loài ốc cối càng nhiều và có
kích thước lớn (6 - 8cm) so với gần bờ (3 - 4cm).
Điều này cũng có thể do sự tăng cường đánh
bắt ốc cối có kích thước lớn ở các khu vực gần
bờ trong những năm gần đây dẫn dến sư suy
giảm về số lượng và kích thước loài.
V. KẾT LUẬN
Ốc cối là nguồn tài nguyên quý giá về mặt
mỹ nghệ và gần đây rất được chú trọng vì những
ứng dụng của độc tố trong nghiên cứu sinh học
thần kinh và y dược học. Ốc cối ở vịnh Vân Phong
(Khánh Hòa) khá đa dạng về loài (19 loài) và các
loài phổ biến có mật độ phân bố cao là Conus
textile; C. striatus; C. vexilum; và C. miles. Các
loài hiếm gồm C. arenatus và C. Leopardus. Ốc
cối có mặt ở hầu hết các điểm thu mẫu nhưng
mật độ phân bố mùa khô cao hơn mùa mưa. Kết
quả nghiên cứu về thành phần loài, mật độ và
khu vực phân bố của ốc cối ở vịnh Vân Phong
(Khánh Hòa) có thể làm cơ sở cho công tác bảo
tồn và bảo vệ nguồn lợi.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
88 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Hình 1. Hình thái vỏ của các loài ốc cối phân bố ở biển Việt Nam
1. Conus leopardus; 2. C. litteratus; 3,4. C. betulinus, 5. C. quercinus; 6. C. terebra; 7. C. magus; 8. Conus cf. disstans;
9. C. distans; 10. C. textile; 11. C. bandanus; 12. C. marmoreus; 13. C. imperialis; 14, 15. C. vexilum; 16. C: capitaneus; 17. C. miles; 18. C. stratus;
19. C. generalis; 20. C. lividus; 21. C. tessulates; 22,23. C. caracteriscus.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 89
B

n
g

2
.

T
h
à
n
h

p
h

n

v
à

s


l
ư

n
g

c
á
c

l
o
à
i


c

c

i

t
h
u

t

i

v

n
h

V
â
n

P
h
o
n
g

(
K
h
á
n
h

H
ò
a
)

n
ă
m

2
0
1
0
S
T
T
T
ê
n

l
o
à
i
D
1
D

2
D

3
D

4
D
5
D
6
D

7
D

8
D

9
D
1
0
T

n
g

s

1
C
.

t
e
x
t
l
i
e

1
0
1
8
1
6
1
5
8
6
5
5

8
3
2
C
.

s
t
r
i
a
t
u
s
7
6
1
0
7
5
4
4

6
5
5
4
3
C
.

v
e
x
i
l
l
u
m
4
5
8
6
5
4
5
5


4
2
4
C
.

m
i
l
e
s
7


8
6


6
5
6
3
8
5
C
.

b
e
t
l
u
l
i
n
u
s
3

2
5
1

2


2
1
5
6
C
.

q
u
e
r
c
i
n
u
s

3
2


4


1
1
1
1
7
C
.

c
a
r
a
c
t
e
r
i
s
c
u
s
2
1

3


1


2
9
8
C
.

c
a
p
i
t
a
n
e
u
s
2

3

2


1


8
9
C
.

m
a
g
u
s
1

1
3


1


1
7
1
0
C
.

b
a
n
d
a
n
u
s
1



1



3

5
1
1
C
.

l
i
v
i
d
u
s

2

1



1
1

5
1
2
C
.

l
i
t
t
e
r
a
t
u
s
1


3


1



5
1
3
C
.

d
i
s
t
a
n
s

1


1


2


4
1
4
C
.

g
e
n
e
r
a
l
i
s
1


2

1




4
1
5
C
.

i
m
p
e
r
r
i
a
l
i
s
2

2



1

1

4
1
6
C
.

m
a
r
m
o
r
e
u
s
2





1
1


4
1
7
C
.

t
e
s
s
u
l
a
t
u
s

1

1
1





3
1
8
C
.

t
e
r
e
b
r
a

1

2






3
1
9
C
.

l
e
o
p
a
r
d
u
s


1







1
S


c
á

t
h

/
Đ
i

m
t
h
u

m

u
3
3
2
9
5
5
5
3
3
7
2
1
2
2
1
5
2
2
1
7

S


l
o
à
i
/
Đ
i

m

t
h
u

m

u
1
2
9
9
1
2
9
5
9
7
7
6

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
90 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Hình 2. Bản đồ phân bố các loài ốc cối phổ biến
(Conus textile, C. striatus, C. vexilum và C. miles) tại 10 diểm thu mẫu (đánh số từ D1 – D10) ở vịnh Vân Phong (Khánh Hòa) năm 2010.
Độ lớn của các vòng tròn thể hiện số lượng cá thể ốc của từng loài.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cunha RL, Castilho R, Ruber L, Zardoya R. 2005. Patterns of cladogenesis in the venomous marine gas-
tropod genus Conus from the Cape Verde islands. Syst Biol, 54:634-650.
2. Dang Thi An, Chu Thị Thu Hà. 2005. Biodiverity in Vietnam. The 2005-report (the fourth) of Vietnam
Environmental Monitors (VEM).
3. English, S., Wilkinson, C., Barker, V. 1997. Survey Manual for Tropical Marine resources. Second edition.
Australian Institute of Marine Science. Townsville. Australia.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 91
4. Hodgson, G. 1998. Reef Check and sustainable management of coral reefs. Pp. 165-68. In: C.Wilkinson
(ed) Status of Coral Reefs of the World: 1998. Australian Institute of Marine Science, Townsville, Australia
184 p.
5. Hylleberg, J and Kilburm, R.N. 2003. Marine Molluscs of Vietnam, Proceeding of. 16
th
International
Congress and Workshop, Tropical Marine Molluscs Program (TMMP).
6. Kohn AJ, Omori M, Yamakawa H, Koike Y. 2001. Maximal species richness in Conus: diversity, diet and
habitat on reefs of northeast Papua New Guinea. Coral Reefs 20: 25–38.
7. Nam HH, Corneli PS, Watkins M, Olivera B, Bandyopadhyay P. 2009. Multiple genes elucidate the
evolution of venomous snail-hunting conus species. Mol Phylogenet Evol, 53:645-652.
8. Ngô Đăng Nghĩa và cs. 2010. Báo cáo tổng kết dự án “Bảo tồn tiềm năng di truyền các loài thủy hải sản
Việt Nam”. 2009-2010. 200 pp.
9. Nguyen Ngọc Thạch, 2007. Recently collected shells of Vietnam. L ‘Informator Piceno & N.N.T. Italy.
10. Olivera BM. 2002. Conus venom peptides: reflections from the biology of clades and species. Annu Rev
Ecol Syst 33.
11. Puillandre N, Watkins M, Olivera BM. 2010. Evolution of conus peptide genes: Duplication and positive
selection in the a-superfamily. J Mol Evol (in press)
12. Röckel, D., Korn, W., Kohn, A.J., 1995. Manual of the Living Conidae (Vol. I: Indo- Pacific Region).
Verlag Christa Hemmen, Wiesbaden, Germany.
13. Terlau, H., Olivera, B. M. 2004. Conus Venoms: A rich source of novel ion channel-targeted peptides.
Physiol Rev. 84: 41–68.
14. Vine, K. 1986. Red Sea Invertebrates. Immel Publishing, London. 224 pp.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
92 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
fHONG B/O KHO/ HOC
THÀNH PHẦN LOÀI HỌ TÔM HE (PENAEIDAE) Ở KHÁNH HÒA
SPECIES COMPOSITION OF PENAEID SHRIMPS IN KHANH HOA PROVINCE
Lê Thị Hồng Mơ, Trần Văn Dũng, Nguyễn Thời Duy
Khoa Nuôi trồng Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Họ tôm he (Penaeidae) bao gồm nhiều loài có giá trị kinh tế cao và hiện là những đối tượng nuôi chính
của nghề nuôi trồng thủy sản nước ta. Nguồn lợi tôm he tự nhiên và sự phân bố của chúng là cơ sở quan trọng
cho việc khai thác, nuôi trồng và bảo tồn các đối tượng này. Nghiên cứu phân loại thành phần loài tôm he tại
tỉnh Khánh Hòa được thực hiện nhằm xác định thành phần loài trong họ tôm he của tỉnh và đánh giá mức độ
đa dạng của chúng so với các vùng biển khác. Các mẫu tôm he được thu từ thuyền của ngư dân, cảng cá và
chợ trên địa bàn tỉnh và được định loại thông qua những tài liệu phân loại tôm he phổ biến hiện hành. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, 21 loài thuộc 6 giống trong họ tôm he được định loại tại Khánh Hòa. Trong đó, giống
Penaeus có số lượng loài phong phú nhất (7 loài, 33,3%), tiếp theo là các loài thuộc giống Metapenaeopsis
(5 loài, 23,8%), Metapenaeus (4 loài, 19%) và Trachypenaeus (3 loài, 14,3%). Giống Parapenaeus và
Litopenaeus có số lượng loài thấp nhất (cùng 1 loài, 4,8%). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, thành phần
giống loài tôm he ở vùng biển Khánh Hòa tương tự như các vùng biển khác với sự phong phú về thành phần
loài thuộc các giống Penaeus và Metapenaeus. Về cơ bản, mức độ đa dạng về thành phần loài tôm he ở Khánh
Hòa ở mức độ trung bình và tương tự như các vùng biển Quảng Bình - Đà Nẵng nhưng thấp hơn so với vùng
biển Quảng Ngãi và vịnh Bắc Bộ.
Từ khóa: Họ tôm he, thành phần loài, Khánh Hòa
ABSTRACT
Penaeid shrimps (Penaeidae) consist of a large number of highly priced species and have become
common and important cultured species in the aquaculture industry in Vietnam. Natural resources and
distribution of penaeid shrimps are important bases for exploitation, culture, and conservation of the shrimps.
The present study was therefore designed to investigate the species composition of the penaeid shrimps in
Khanh Hoa province and evaluate their diversity level compared to other coastal areas. Samples of penaeid
shrimps were collected from ships and boats, fishing ports and coastal markets in Khanh Hoa province and
then identified by using the currently common materials and methods. The result showed that 21 species
belonging to 6 genera of the penaeid family were found and identified in Khanh Hoa province. Within the scope
of these results, the genus of Penaeus had the largest number of species (7 species, 33.3%), followed by the
genera of Metapenaeopsis (5 species, 23.8%), Metapenaeus (4 species, 19%) and Trachypenaeus (3 species,
14.3%), respectively. The genera of Parapenaeus and Litopenaeus had a lowest number of species (1 spe-
cies, 4.8%). The result also showed that the species composition of penaeid shrimps in Khanh Hoa province
was similar to those of other coastal regional faunas in Vietnam where there is an abundance of the species
abundance of the genera Penaeus and Metapenaeus. Basically, the species abundant level of penaeid shrimps
in Khanh Hoa province considered to be average level and similar to that of Quang Binh - Da Nang provinces
but lower than that of Quang Ngai and the Guft of Tonkin.
Keywords: Penaeid shrimps, species composition, Khanh Hoa
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 93
I. MỞ ĐẦU
Họ tôm he (Penaeidae), với 60 loài thuộc 10
giống, là họ tôm có thành phần loài phong phú
và gồm nhiều loài có giá trị kinh tế nhất trong các
họ tôm biển ở nước ta [3, 4, 6]. Nghề nuôi tôm
he, với hai đối tượng chính là tôm sú (Penaeus
monodon) và tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus
vannamei), đã và đang giữ một vị trí rất quan
trọng trong cơ cấu ngành thủy sản nước ta, giúp
tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm cho nhiều
nông ngư dân. Tuy nhiên, những bất cập và
thiếu thống nhất trong việc quy hoạch và quản
lý nghề nuôi và khai thác tôm he đã ảnh hưởng
đến nguồn lợi và sự phát triển bền vững của
nghề nuôi tôm he. Việc định hướng sử dụng bền
vững nguồn lợi tôm he là vấn đề cấp bách, đòi
hỏi đầu tư hơn nữa cho công tác nghiên cứu về
khu hệ động vật biển nói chung và nguồn lợi tôm
he nói riêng. Một số nghiên cứu đã đề cập đến
thành phần loài tôm he của một số vùng biển
nước ta [2, 3, 4, 5, 6]; tuy nhiên, các dẫn liệu về
thành phần loài tôm he ở vùng biển Khánh Hòa
vẫn chưa được đề cập. Nghiên cứu được thực
hiện nhằm thống kê thành phần loài tôm he hiện
có tại vùng biển Khánh Hòa, là cơ sở khoa học
cho việc quy hoạch, khai thác và sử dụng bền
vững nguồn lợi tôm he, đồng thời góp phần đa
dạng hóa đối tượng nuôi.
II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là thành phần loài họ
tôm he tại Khánh Hòa. Các mẫu tôm he được
thu từ các thuyền của ngư dân, các cảng cá và
các chợ trên địa bàn tỉnh từ tháng 5/2007 đến
tháng 5/2008.
Mẫu sau khi thu được bảo quản trong dung
dịch formol 10%. Các dấu hiệu phân loại bao
gồm: Hình dạng chủy, cấu tạo răng chủy và công
thức chủy. Các gai, gờ, rãnh hiện diện trên giáp
đầu ngực và các đốt bụng. Cấu tạo chân ngực
và các đốt trên chân ngực, đốt đuôi. Số lượng
gai trên telson. Hình dạng và cấu tạo cơ quan
sinh dục (thelycum và petasma). Màu sắc tự
nhiên của tôm khi còn sống. Trong nghiên cứu
này, chúng tôi nhấn mạnh việc định loại thành
phần loài họ tôm he thông qua các đặc điểm
của thelycum và petasma. Chiều dài toàn thân
(TL, Total Length: khoảng cách từ mũi chủy đến
cuối telson khi thân tôm nằm trên 1 đường thẳng
[1]) được xác định bằng thước đo có độ chính
xác 1mm.
Các tài liệu phân loại được sử dụng trong
nghiên cứu này bao gồm: khóa định loại của
Kubo (1949), Starobogatov (1972), Holthuis
(1980), Nguyễn Văn Chung và Phạm Thị Dự
(1995), Nguyễn Văn Chung, Đặng Ngọc Thanh
và Phạm Thị Dự (2000) [3, 4, 7, 8, 9]. Mẫu sau
khi định loại được lưu giữ tại Phòng Bảo tàng
Thủy sinh vật, trường Đại học Nha Trang.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Thành phần loài họ tôm he
(Penaeidae) thu được ở Khánh Hòa
Kết quả nghiên cứu cho thấy: 21 loài thuộc
6 giống của họ tôm he đã được định loại ở
Khánh Hòa (Bảng 1). Kết quả này tương tự với
số lượng loài thu được tại một số vùng biển như
Quảng Bình - Đà Nẵng (21 - 22 loài thuộc 5 - 6
giống) [2], nhưng ít hơn so với vùng vịnh Bắc
Bộ (35 loài thuộc 10 giống) [4, 5] và Quảng Ngãi
(33 loài thuộc 7 giống) [5]. Trong số các loài thu
được, các loài có giá trị kinh tế cao thuộc giống
Penaeus và Metapenaeus chiếm ưu thế lần lượt
là 7 và 5 loài trong tổng 21 loài thu được.
Nhìn chung, các loài tôm he thu được trong
nghiên cứu này là những loài có giá trị kinh tế cao
và đều được sử dụng làm nguồn thực phẩm có
giá trị, đặc biệt là các loài thuộc giống Penaeus
và Metapenaeus. Các loài thuộc giống này đều
có kích thước lớn (120 - 320mm) hơn so với các
giống còn lại (40 - 160mm). Ngoại trừ hai loài
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
94 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Penaeus longistylus và Metapenaeus lamellata ít gặp trong quá trình thu mẫu, đa số các loài còn lại
đều thường gặp, nhất là các loài thuộc giống Penaeus.
Bảng 1. Danh mục thành phần loài họ tôm he ở Khánh Hòa
STT Phân loại Tên tiếng Việt Kích thước (mm)
I Litopenaeus Pérez Farfante, 1969 Tôm he chân trắng
1 L. vannamei* Boone, 1931 Tôm he chân trắng 140 – 160
II Metapenaeopsis Bouvier, 1905 Tôm vỏ đỏ
2 M. barbata de Haan, 1850 Tôm vỏ bông 60 – 85
3 M. palmensis Haswell, 1879 Tôm vỏ u rộng 50 – 85
4 M. lamellata de Haan, 1850 Tôm chủy phiến 50 – 91
5 M. dalei Rathbun, 1902 Tôm đỏ đali 40 – 60
6 M. mogiensis Rathbun, 1902 Tôm vân đỏ 50 – 100
III Metapenaeus Wood – Mason, 1891 Tôm rảo
7 M. ensis de Haan, 1850 Tôm rảo đất 132 – 159
8 M. intermedius Kishinouye, 1900 Tôm rảo đuôi xanh 80 – 140
9 M. affinis H. M. Edwards, 1837 Tôm bột 90 – 150
10 M. dalli Racek, 1957 Tôm rảo đan 65 – 85
IV Parapenaeus Schmitt, 1885 Tôm he giả
11 P. fissuroides Alcock, 1901 Tôm he giả gờ cao 50 – 105
V Penaeus Fabricius, 1798 Tôm he
12 P. merguiensis de Man, 1888 Tôm bạc thẻ 160 – 180
13 P. semisulcatus de Haan, 1850 Tôm rằn 150 – 180
14 P. japonicus Bate, 1888 Tôm he Nhật Bản 140 – 180
15 P. latisulcatus Kishinouye, 1896 Tôm vằn 130 – 170
16 P. longistylus Kubo, 1943 Tôm he đỏ 140 – 180
17 P. monodon Fabricius, 1798 Tôm sú 180 – 320
18 P. indicus H. Milne- Edwards, 1837 Tôm he Ấn Độ 120 – 160
VI Trachypenaeus Alcock, 1901 Tôm đanh
19 T. curvirostris Stimpson, 1860 Tôm đanh móc 40 – 90
20 T. longipes Paulson, 1875 Tôm đanh chân dài 50 – 100
21 T. pescadoreensis Schmitt, 1931 Tôm đanh vòng 40 – 90
* Loài có nguồn gốc từ Trung - Nam Mỹ được di nhập vào Việt Nam từ năm 2002
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 95
2. Cấu trúc thành phần loài
2.1. Thành phần và tỷ lệ các loài tôm he tại Khánh Hòa
Bảng 2. Thành phần và tỷ lệ các loài tôm he tại tỉnh Khánh Hòa
STT Tên giống Số lượng loài Tỷ lệ (%)
1 Litopenaeus 1 4,8
2 Metapenaeopsis 5 23,8
3 Metapenaeus 4 19,0
4 Parapenaeus 1 4,8
5 Penaeus 7 33,3
6 Trachypenaeus 3 14,3
Tổng 21 100
Kết quả định loại thành phần và tỷ lệ giống loài họ tôm he tại Khánh Hòa cho thấy: Giống tôm
he Penaeus có số lượng loài nhiều nhất (7 loài) chiếm 33,3%. Tiếp theo lần lượt là các giống tôm
vỏ đỏ Metapenaeopsis (5 loài, 23,8%), giống tôm rảo Metapenaeus (4 loài, 19%) và giống tôm
đanh Trachypenaeus (3 loài, 14,3%). Giống tôm he giả Parapenaeus và giống tôm he chân trắng
(Litopenaeus) có số lượng loài thấp nhất (cùng 1 loài, 4,8%) (Bảng 2).
Kết quả này tương tự như các kết quả thu được từ các vùng biển miền Trung khác từ Quảng
Bình đến Quảng Ngãi với số lượng loài thuộc giống Penaeus và Metapenaeus chiếm ưu thế hơn hẳn
(lần lượt là 9/33 và 6/33 loài ở Quảng Ngãi và 6/22 và 5/22 loài ở các tỉnh Quảng Bình - Đà Nẵng)
[2, 5]. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, số loài thuộc giống Metapenaeopsis chiếm ưu thế ở vùng
biển Khánh Hòa (5/21 loài) và Quảng Ngãi (6/33) trong khi chúng lại chỉ chiếm tỷ lệ thấp tại các vùng
biển Quảng Bình - Đà Nẵng (3/22 loài). Đáng chú ý là các loài thuộc giống Parapenaeopsis chiếm tỷ
lệ cao ở các vùng biển miền Trung khác (4 - 7 loài) [2, 5] trong khi lại không bắt gặp ở Khánh Hòa.
Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể liên quan đến việc thu mẫu, mùa vụ khai thác và điều kiện
tự nhiên và cần được làm sáng tỏ trong các nghiên cứu tiếp theo.
2.2. Thành phần giống loài tôm he tại Khánh Hòa so với các vùng biển khác
Bảng 3. Thành phần loài tôm he ở Khánh Hòa so với các vùng biển khác
STT Vùng biển Số giống Tỷ lệ (%) Số loài Tỷ lệ (%)
1 Vịnh Bắc Bộ [5] 10 100 35 58,3
2 Quảng Bình [2] 6 60 21 35,0
3 Quảng Trị [2] 6 60 21 35,0
4 Thừa Thiên Huế [2] 6 60 25 41,7
5 Đà Nẵng [2] 5 50 22 36,7
6 Quảng Ngãi [5] 7 70 33 55,0
7 Khánh Hòa 6 60 21 35,0
8 ĐB sông Cửu Long [6] 9 90 26 43,3
9 Nam Bộ [5] 6 60 26 43,3
Tổng [4] 10 100 60 100
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
96 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Theo Nguyễn Văn Chung và ctv. (2000),
vùng ven biển nước ta có 60 loài tôm he thuộc
10 giống [4]. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu
cho thấy, mức độ phong phú và đa dạng về
thành phần giống loài của họ tôm he ở Khánh
Hòa thuộc mức trung bình và tương tự như
các vùng biển Quảng Bình, Quảng Trị và Đà
Nẵng (Bảng 3). Sự đa dạng hơn về thành phần
các giống trong họ tôm he được ghi nhận ở
vùng biển vịnh Bắc Bộ (10/10 giống) và Đồng
bằng sông Cửu Long (9/10 giống), trong khi,
sự đa dạng về thành phần loài được ghi nhận
ở vùng biển vịnh Bắc Bộ (35/60 loài) và Quảng
Ngãi (33/60 loài) [4, 5, 6]. Điều này được giải
thích là do vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
khác nhau của mỗi vùng biển dẫn đến một
số loài có nguồn gốc phương bắc (nhóm loài
Trung Hoa - Nhật Bản) xâm nhập xuống phía
nam chỉ tới vịnh Bắc Bộ hoặc Bắc Trung bộ.
Ngược lại, một số loài có nguồn gốc phương
nam mở rộng phân bố lên phía bắc, chỉ thấy
có ở vùng biển từ Nam Trung bộ tới vùng biển
phía Đông và phía Tây Nam bộ [4]. Tuy nhiên,
cần có những nghiên cứu sâu hơn về điều
kiện tự nhiên của các vùng biển để làm rõ sự
khác biệt này.
3. Hình ảnh các loài thuộc họ tôm he thu được ở Khánh Hòa
Litopenaeus vannamei Metapenaeopsis barbata M. palmensis
M. lamellata M. dalei M. mogiensis
Metapenaeus ensis M. intermedius M. affinis
M. dalli Parapenaeus fissuroides Penaeus merguiensis
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 97
P. semisulcatus P. japonicus P. latisulcatus
P. longistylus P. monodon P. indicus
Trachypenaeus curvirostris T. longipes T. pescadoreensis
IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Thành phần giống loài họ tôm he
(Penaeidae) ở Khánh Hòa bao gồm 21 loài
thuộc 6 giống. Trong đó, giống Penaeus
có số loài phong phú nhất với 7 loài (chiếm
33,33%), tiếp theo là các loài thuộc giống
Metapenaeopsis (5 loài, 23,8%), Metapenaeus
(4 loài, 19%) và Trachypenaeus (3 loài, 14,3%).
Giống Parapenaeus và Litopenaeus có số lượng
loài thấp nhất (1 loài, 4,8%).
Hầu hết các loài tôm he thu được tại
Khánh Hòa đều là những loài có giá trị kinh
tế cao và thường gặp, đặc biệt là các loài
thuộc giống Penaeus và Metapenaeus. Mặt
khác, các loài thuộc giống này đều có kích thước
lớn hơn (120 - 320mm) so với các giống còn lại
(40 - 160mm).
Thành phần giống loài tôm he ở Khánh Hòa
tương tự như các vùng biển khác với ưu thế của
các loài thuộc giống Penaeus và Metapenaeus.
Về cơ bản, mức độ đa dạng về thành phần loài
tôm he ở Khánh Hòa ở mức độ trung bình và
tương tự như các vùng biển Quảng Bình - Đà
Nẵng nhưng thấp hơn so với vùng biển Quảng
Ngãi và vịnh Bắc Bộ.
Cần có nghiên cứu về điều tra nguồn lợi
tôm he tại vùng biển Khánh Hòa làm cơ sở khoa
học cho việc khai thác, nuôi và bảo vệ bền vững
nguồn lợi tôm he.
Cần có những nghiên cứu về sản xuất giống
thêm một số loài tôm he có giá trị kinh tế cao
nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi và góp phần
bảo tồn nguồn lợi tôm he.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
98 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Minh Anh (1989). Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi tôm he. NXB Tp. Hồ Chí Minh.
2. Tôn Thất Chất, Phan Thế Hữu Tố, Nguyễn Đình Mão, Nguyễn Văn Chung, 2008. Nghiên cứu phân loại
họ tôm he (Penaeidae) ở một số tỉnh vùng ven biển miền Trung Việt Nam. Tạp chí Khoa học - Công nghệ
Thủy sản, 4.
3. Nguyễn Văn Chung và Phạm Thị Dự (1995). Danh mục tôm biển Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ Thuật,
Hà Nội.
4. Nguyễn Văn Chung, Đặng Ngọc Thanh, Phạm Thị Dự, 2000. Động vật chí Việt Nam - Tôm biển, tập I.
NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
5. Nguyễn Văn Thuận và Cao Thị Thanh Hà, 2008. Thành phần loài họ tôm he (Penaeidae) ở vùng ven biển
tỉnh Quảng Ngãi. Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, 49.
6. Nguyễn Văn Thường, 2006. Cập nhật về hệ thống định danh tôm biển và nguồn lợi tôm họ Penaeidae ở
vùng biển Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học, trường Đại học Cần Thơ, 134 - 143.
7. Holthuis, L.B.,1980. FAO Species catalogue. Vol. 1. Shrimps and Prawns of the world. An annotated
catalogue of species of interest to fisheries. FAO Species catalogue. Vol. 1. FAO. Fisheries Synopsis, FAO,
Roma.
8. Kubo I. (1949). Studies on the Penaeides of the Japanese and its adjacent water, Jour, Tokyo, Coll, Fish,
36(1), 1 - 467.
9. Starobogatov Y.I. (1972). Penaeidae (Crustacea, Decapoda) of Tonking Gulf. The Fauna of the Tonking
Gulf and condition of life in it, Explorations of the fauna of the sea, X, Acad USSR, Zool, Inst, 359 - 415.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 99
fHONG B/O KHO/ HOC
XÂY DỰNG CÂY PHÁT SINH CHỦNG LOẠI PHÂN TỬ CỦA ỐC CỐI
CONUS SPP. Ở VÙNG BIỂN NAM TRUNG BỘ VIỆT NAM
MOLECULAR PHYLOGENY OF VENOMOUS CONE SNAILS CONUS SPP. IN THE
COASTAL REGIONS OF SOUTHERN CENTRAL OF VIETNAM
Phạm Thu Thủy, Đặng Thúy Bình, Trương Thị Thu Thủy, Ngô Đăng Nghĩa
Viện Nghiên cứu CNSH & MT - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Giống ốc Conus thuộc họ ốc cối Conidae, lớp chân bụng Gastropoda, bộ Sorbeoconcha, phân bố chủ
yếu ở các vùng biển nhiệt đới và vùng biển ấm và được xem là nguồn dược liệu quý. Mục tiêu của nghiên cứu
này là nhằm xây dựng cây phát sinh chủng loại của các loài ốc Conus spp. phân bố ở vùng ven biển Nam Trung
bộ, Việt Nam dựa vào chỉ thị di truyền phân tử 16S rDNA ty thể. Tổng số 18 loài ốc cối đã được lấy mẫu. Sau
khi giải trình tự gen, trình tự các đoạn gen 16S rDNA của 18 loài này được kết hợp với 3 trình tự từ Genbank để
xây dựng cây chủng loại phát sinh bằng cách sử dụng 3 thuật toán maximum parsimony, maximum likelihood
và Bayesian inference. Kết quả cho thấy sử dụng chỉ thị 16S rDNA đã phân chia các loài ốc cối thuộc các kiểu
dinh dưỡng khác nhau (ăn giun biển, ăn cá, ăn nhuyễn thể) thành 4 nhánh chính. Trong đó, các loài ốc thuộc
nhóm ăn giun biển được phân tách rõ ràng hơn trên cây tiến hóa với hai nhóm dinh dưỡng còn lại. Đây là lần
đầu tiên một nghiên cứu quan hệ phát sinh loài ở mức độ phân tử được tiến hành trên các các loài ốc cối Việt
Nam, góp phần quan trọng vào công tác bảo tồn và lưu giữ nguồn gen ốc cối.
Từ khóa: Conus, 16S rDNA, phát sinh chủng loại phân tử
ABSTRACT
The genus Conus belonging to the family Conoidea, class Gastropoda, order Sorbeoconcha, distributes
mostly in warm tropical seas and are considered as precious pharmaceuticals. The aim of this study is to
construct a phylogenetic tree of Conus species collected from coastal regions in the Southern Central of
Vietnam based on the mitochondrial genetic molecular marker, 16S rDNA. Total 18 Conus species were
collected. After sequencing, the partial 16S rRNA gene sequences were combined with 3 sequences from
Genbank to construct a phylogenetic tree using three analysis methods of maximum parsimony, maximum
likelihood and Bayesian inference. The results indicate that using the 16S rDNA marker the phylogentic tree of
Conus species with different feeding modes (vermivorous, molluscivorous and piscivorous species) was divided
into four main clusters. Among them, vermivorous species were separated more clearly than molluscivorous
and piscivorous species. It is the first time a molecular phylogentic analysis of Conus species in Vietnam was
reported, contributing to the conservation of Conus genetic sources.
Keywords: Conus, 16S rDNA, molecular phylogeny
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
100 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Họ ốc cối Conidae thuộc lớp chân bụng
Gastropoda, bộ Sorbeoconcha, cùng với họ
Terebridae và Turidae làm thành tổng họ
Conoidea. Trong đó chiếm đa số là giống ốc cối
Conus (Linnaeus, 1758) với khoảng 700 loài
(Nam và cs, 2009). Chúng phân bố chủ yếu ở
các vùng biển nhiệt đới và vùng biển ấm như
Philippines, Indonesia, Australia, Mexico, Florida
và Hawaii. Tuy nhiên, một số loài có thể thích
ứng với sự thay đổi của điều kiện môi trường
như ở vùng biển nóng mũi Hảo Vọng, Nam Phi
hay vùng biển lạnh phía tây Califonia, Hoa Kỳ.
Hầu hết các loài ốc Conus nhiệt đới sống trong
hoặc gần các rạn san hô, trong khi các loài cận
nhiệt đới được tìm thấy chủ yếu tại vùng dưới
triều ở độ sâu từ 10 - 30m và dưới các tảng đá ở
vùng triều nông. Ốc cối có hình chóp thuôn dài,
có màu sắc sặc sỡ và hoa văn rất đa dạng, kích
thước rất khác nhau tùy theo loài (loài lớn nhất
có thể dài đến 23cm).
Ốc cối là động vật ăn thịt, chúng ăn mồi
sống. Thức ăn chính của chúng là giun biển,
nhuyễn thể, các loài cá nhỏ và thậm chí các loài
ốc cối khác. Một số công trình nghiên cứu đã
cho thấy mối tương quan rõ rệt giữa cấu trúc và
hình dáng dải răng kitin của ốc cối với phương
thức dinh dưỡng chuyên biệt (James, 1980;
Franklin và cs, 2007). Do di chuyển chậm nên
khi bắt một số con mồi di chuyển nhanh như cá
chúng sử dụng độc tố để tấn công làm tê liệt con
mồi. Độc tố ốc cối (conotoxin) là những chuỗi
peptide tương đối nhỏ, giàu liên kết disulfide, dài
khoảng 10 - 40 amino acid (Olivera và cs, 2000).
Tuyến độc của mỗi loài ốc cối chứa khoảng từ
100 - 200 polypeptide khác nhau. Vì vậy, người
ta dự đoán có khoảng 70.000 peptide độc tố ốc
cối khác nhau.
Từ các nghiên cứu độc tố của các loài ốc
ăn cá cho thấy những loài có quan hệ gần gũi
thường chứa các peptide độc tố tương đồng về
mặt chức năng hơn so với các loài có quan hệ
xa (Regina, 2006; Duda và cs, 2009). Vì vậy,
nghiên cứu mối quan hệ tiến hóa giữa các loài ốc
cối đóng một vai trò quan trọng trong việc phát
hiện và xác định đặc tính của các conotoxin mới.
Việc phân tích quan hệ phát sinh chủng loại
của các loài dựa trên các đặc điểm hình thái giải
phẫu (chủ yếu là kích thước, màu sắc và hoa
văn vỏ, cấu tạo của hệ thống tiêu hóa) thường
mang lại kết quả không ổn định nhất là đối với
các loài có quan hệ gần gũi và vì vậy có nhiều
đặc điểm hình thái giải phẫu giống nhau (Röckel
và cs, 1995).
Đối với lớp chân bụng Gastropoda, DNA ty
thể đã được chứng minh là công cụ hữu hiệu
trong phân tích đa dạng loài (McArthur và cs,
2003; Grande và cs, 2008; Nam và cs, 2009).
Các marker chuẩn của DNA ty thể thường được
sử dụng là các gen mã hóa cytochrome b, 12S
rRNA, 16S rRNA, tRNA-Val và một số vùng
không mã hóa như vùng liên gen trnF-cox3,
atp6-trnM, cox1-cox2, cox3-trnK, nad1-trnP.
Việc sử dụng toàn bộ trình tự DNA ty thể cũng
nâng cao độ phân giải và độ tin cậy thống kê
so với sử dụng từng đoạn gen riêng lẻ (Mueller,
2006; Grande và cs, 2008).
Tuy nhiên, cho tới nay, mối quan hệ phát
sinh chủng loại của các loài thuộc giống ốc cối
vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để do
các marker phân tử của DNA ty thể tỏ ra ít tin
cậy khi được áp dụng để xác định vị trí phân
loại của các loài mới tách ra (Espiritu và cs,
2002; Duda và cs, 2001; Duda và Kohn, 2005).
Chính vì vậy, trong các nghiên cứu tiến hóa
gần đây, các chỉ thị DNA ty thể thường được
sử dụng kết hợp với các chỉ thị nhân có tốc độ
tiến hóa thấp hơn và trong một số trường hợp
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 101
cho thấy mối quan hệ tiến hóa rõ hơn (Duda
và Palumbi, 1999; Cunha và cs, 2005; Duda và
Kohn, 2005; Bandyopadhyay và cs, 2008; Nam
và cs, 2009). Các chỉ thị nhân đã được khảo
sát bao gồm các vùng gen mã hóa 18S rRNA,
28S rRNA, EF1-α, Histone H3, calmodulin, và
vùng không mã hóa như đoạn chèn ITS1 và
ITS2 (Nam và cs, 2009).
Tại Việt Nam, ốc cối phân bố chủ yếu ở
các vùng ven biển thuộc khu vực Nam Trung
bộ từ Đà Nẵng đến Kiên Giang và quanh các
hải đảo (như Trường Sa, Hoàng Sa, Côn Đảo)
với khoảng 76 loài (Hylleberg và Kilburn, 2003).
Tuy nhiên, các nghiên cứu về ốc cối Việt Nam
cho tới nay mới chỉ được thực hiện ở mức độ
khảo sát, thu thập mẫu và tư liệu liên quan, xác
định độc tính và kiểm chứng tính chất của một
số độc tố. Hiện vẫn chưa có nghiên cứu phát
sinh chủng loại nào về ốc cối Việt Nam được tiến
hành ở mức độ phân tử. Một vấn đề gây quan
ngại đó là một số loài ốc cối có vỏ rất đẹp, vân
đa dạng nên thường được khai thác lấy vỏ làm
đồ mỹ nghệ. Nếu không có những nghiên cứu
bảo tồn kịp thời, nguồn dược liệu quý này có thể
bị mai một. Vì vậy, trong đề tài này, nghiên cứu
phát sinh chủng loại ở mức độ phân tử được tiến
hành trên các đối tượng ốc cối Việt Nam nhằm
góp phần vào công tác bảo tồn và lưu giữ nguồn
gen ốc cối Việt Nam.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
1. Mẫu ốc cối
Các loài ốc cối được thu thập tại các vùng
biển thuộc khu vực đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi),
Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và vịnh Vân Phong
(Khánh Hòa) từ năm 2008 - 2010. Các mẫu ốc
cối sau đó được phân loại sơ bộ dựa trên các
đặc điểm hình thái theo mô tả của Röckel và cs
(1995) và Nguyễn Ngọc Thạch (2007). Các loài
được khảo sát bao gồm: Conus arenatus, C.
bandanus, C. betulinus, C. capitaneus, C. carac-
teristicus, C. distans, C. generalis, C. imperialis,
C. literatus, C. lividus, C. magus, C. marmoreus,
C. miles, C. quercinus, C. striatus, C. tessulatus,
C. textile và C. vexillum. Các cá thể ốc cối được
giữ trong nitơ lỏng và bảo quản ở -70
o
C. Mỗi loài
có 3 cá thể được chọn cho các nghiên cứu phân
tử tiếp theo.
2. Tách chiết DNA và nhân gen bằng kỹ thuật
PCR
DNA tổng số được tách chiết từ phần mô
cơ chân bò của từng cá thể ốc cối bằng bộ kit
Wizard SV genomic DNA purification system
(Promega) theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Đoạn gen 16S rDNA được khuếch đại bằng
cặp mồi 16S (Integrated DNA Technologies) có
trình tự như sau: mồi xuôi 16SF 5′-CCGGTCT-
GAACTCAGATCACGT-3′ và mồi ngược 16SR
5′-GTTTACCAAAAACATGGCTTC- 3′ (Espiritu
và cs, 2001).
Phản ứng PCR được tiến hành với tổng thể
tích 50 µl (bao gồm 20 ng khuôn DNA, Taq buffer
1X, 0,25 nM mỗi loại dNTP, 0,2 pM mỗi mồi, 2
mM MgCl
2
và 1 đơn vị Taq polymerase) trên máy
luân nhiệt Icycler (Bio-rad) theo chương trình
nhiệt như sau: biến tính ban đầu tại 94
o
C trong
3 phút, tiếp theo là 35 chu kỳ của 94
o
C trong 40
giây, 47
o
C trong 40 giây, 72
o
C trong 90 giây và
giai đoạn cuối ở 72
o
C trong 5 phút.
Sản phẩm PCR được điện di trên gel
agarose 1,2% nhuộm ethidium bromide. Kết quả
được ghi nhận sử dụng hệ thống ghi ảnh gel
tự động Geldoc và phần mềm Quantity One
®
(Bio-rad).
3. Giải trình tự gen
Sản phẩm PCR được tinh sạch bằng bộ kit
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
102 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
PCR clean up system (Promega) theo hướng
dẫn của nhà sản xuất và sử dụng làm khuôn
trực tiếp cho phản ứng tiền giải trình tự theo
nguyên tắc dye-labelled dideoxy terminator (Big
Dye
®
Terminator v.3.1, Applied Biosystems) với
các đoạn mồi 16SF và 16SR theo chương trình
nhiệt như sau: 96
0
C trong 20 giây, 50
0
C trong
20 giây và 60
0
C trong 4 phút. Sản phẩm phản
ứng được phân tích trên máy phân tích trình tự
tự động ABI Prism
®
3700 DNA Analyser (Applied
Biosystems). Các trình tự xuôi và ngược được
kết nối bằng phần mềm Vector NTI v.9.
4. Phân tích trình tự
Trình tự của các loài ốc cối được xác nhận
bằng chương trình BLAST (http://blast.ncbi.
nlm.nih.gov/Blast.cgi). Các trình tự được chỉnh
sửa bằng phần mềm BioEdit 7.0.1 (Hall, 1999)
và gióng hàng bằng phần mềm Clustal X v.1.8
(Thompson và cs, 1997).
5. Phân tích phát sinh chủng loại các loài ốc
cối
Phân tích phát sinh chủng loại được thực
hiện dựa trên trình tự đoạn gen 16S rDNA của
18 loài ốc cối thuộc nghiên cứu hiện tại và 3
trình tự từ Genbank (Bảng 1). Trình tự 16S rDNA
của 2 loài ốc thuộc họ Conidae là Lophiotoma
erithiformis và Thatcheria mirabilis từ Genbank
được sử dụng làm nhóm ngoại.
Phân tích được tiến hành dựa trên 3 thuật
toán maximum parsimony (MP), maximum
likelihood (ML) và Bayesian inference (BI) bằng
các phần mềm PAUP 4.0 (Swofford, 2001) và
MrBayes 3.1.2 (Huelsenbeck và Ronquist, 2001).
Đối với thuật toán MP, 1000 độ lặp lại ngẫu nhiên
được áp dụng. Tuy nhiên, đối với thuật toán ML,
độ lặp lại là 100 vì tổng số trình tự nghiên cứu
quá lớn. Trước khi tiến hành thuật toán ML và BI,
các mô hình tiến hóa được kiểm tra bằng phần
mềm Modeltest 3.7 (Posada và Crandall, 1998)
và MrModeltest 2.2 (Nylander, 2004). Mô hình
tối ưu là HKY+I+G với tần suất các base nitơ là
A = 0,3487; C = 0,1299; G = 0,1744; T = 0,3470,
tỷ lệ các vị trí đa hình là 0,4011 và thông số dạng
phân bố gamma là 0,4110.
Đối với thuật toán BI, các mô hình thay
thế được tính toán. Chương trình được chạy
trên 4 kênh với 1 triệu thế hệ, với tần suất tính
toán trên 100 thế hệ. Phân tích được lặp lại 2
lần để xác định độ chính xác của phương pháp
phân tích. Giá trị tin cậy được biểu hiện trên
các nhánh của cây tiến hóa (Huelsenbeck và
Ronquist, 2001).
Giá trị bootstrap được tính toán để xác định
tính chính xác của thuật toán MP với độ lặp lại
100. Do sự hạn hẹp về thời gian và số lượng
trình tự quá lớn, chúng tôi áp dụng phương
pháp xấp xỉ liên tiếp (successive approximation
approach) (Sullivan và cs, 2005) đối với thuật
toán ML, xác định cây tiến hóa dựa trên mô
hình tiến hóa và so sánh kết quả thu được với
phương pháp phân tích MP và BI. Cây đa dạng
loài được hiển thị và hiệu chỉnh bằng phần mềm
TreeView 1.6.6 (Page, 1996).
III. KẾT QUẢ
1. Khuếch đại đoạn gen 16S rDNA
DNA tổng số của các mẫu ốc sau khi kiểm
tra nồng độ và độ tinh sạch được dùng làm
khuôn cho phản ứng khuếch đại gen 16S rDNA.
Theo tính toán lý thuyết, khi sử dụng cặp mồi
16S, sản phẩm PCR thu được là đoạn DNA có
kích thước ~ 550 bp. Kết quả nhân gen được
hiển thị trên Hình 1. Sản phẩm điện di là một
băng đậm nét có kích thước phù hợp với tính
toán lý thuyết.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 103
Hình 1. Ảnh điện di sản phẩm PCR đoạn gen 16S
rDNA của các mẫu ốc cối
Sản phẩm PCR (6 µl) được điện di trên gel agarose 1,2%.
Giếng 1: thang DNA chuẩn 100 bp. Giếng 2-7,
sản phẩm PCR của các mẫu ốc cối. Giếng 8: đối chứng âm.
2. Giải trình tự đoạn gen 16S rDNA của các
loài ốc cối
Để đảm bảo độ tin cậy, phản ứng giải trình tự
được tiến hành theo cả hai chiều xuôi và ngược
với mỗi mẫu được lặp lại 2 lần. Sau khi phân
tích và kiểm tra, trình tự đoạn gen 16S rDNA của
18 mẫu ốc cối nghiên cứu được đăng ký trên
Genbank. Mã số trình tự và thông tin chi tiết về
các loài ốc cối được trình bày trong Bảng 1. Hầu
hết các loài ốc cối thu thập tại các vùng ven biển
Việt Nam thuộc loại ăn giun biển (ký hiệu là V).
Có 3 loại thuộc nhóm ăn nhuyễn thể (ký hiệu là
M), 1 loài ăn cá (ký hiệu là P) và 2 loài vừa ăn
giun biển và cá tùy theo giai đoạn phát triển của
chúng (ký hiệu là P&V)). Các loài có chế độ ăn
chưa được nghiên cứu cụ thể ký hiệu là U (Nam
và cs, 2009; Duda và cs, 2001).
3. Xây dựng cây phát sinh chủng loại ốc cối
Sau khi so sánh và gióng hàng, trình tự
thu được gồm 548 bp đoạn gen 16S rDNA của
18 loài ốc cối nghiên cứu được sử dụng cho
phân tích. Trong đó có 347 nucleotide không
đổi (constant character), 76 nucleotide không
mang thông tin (parsimony-uninformative
character) và 125 nucleotide mang thông
tin (parsimony-informative character). Trình tự
đoạn gen 16S rDNA của 3 loài ốc cối khác trên
Genbank cũng được sử dụng trong xây dựng
cây phát sinh chủng loại với nhóm ngoại là 2
loài ốc Lophiotoma cerithiformis và Thatcheria
mirabilis.
Phân tích cây phát sinh chủng loại được
tiến hành dựa trên cả 3 thuật toán maximum
parsimony (MP), maximum likelihood (ML) và
Bayesian inference (BI). Kết quả phân tích dữ
liệu trình tự gen 16S rDNA dựa trên phương
pháp MP và BI cho kết quả tương tự về cây đa
dạng loài. Tuy nhiên, phương pháp ML cho thấy
mức độ thấp trong mối quan hệ loài.
Cây phân loại loài thu được theo phương
pháp MP được trình bày trên Hình 2 với giá trị
bootstrap (BT) và độ tin cậy (PP) được biểu hiện
trên các nhánh. Đối với thuật toán MP, cây đa
dạng loài thu được với 549 bước (Consistency
index = 0,5301, Retention index = 0,5204). Theo
Hình 2 cho thấy các loài thuộc giống ốc cối có
sự tương đồng cao với giá trị bootstrap và độ
tin cậy cao (PR 99%, BI 100%). Từ cây phát
sinh loài cho thấy các loài ốc cối nghiên cứu
phân thành 4 nhóm loài (từ nhóm I-IV) với giá trị
bootstrap và độ tin cậy tương đối (>70%), và 1
loài (nhóm V) có vị trí phân loại không xác định
(C. imperialis).
Nhóm I và nhóm II lần lượt lại tiếp tục được
chia thành 2 nhóm nhỏ: nhóm I.1 bao gồm các
loài C. distans, C. bandanus, C. mamoreus, C.
betulinus; nhóm I.2 bao gồm các loài C. magus,
C. achatinus, C. striatus, C. generalis; nhóm II.1
bao gồm các loài C. tessulatus, C. eburneus, C.
literatus, C. leopardus; và nhóm II.2 bao gồm các
loài C. caracteristicus, C. textile, C. arenatus.
Nhóm III bao gồm 2 loài C. quercinus và C.
lividus. Nhóm IV gồm 3 loài C. capitaneus, C.
miles và C. vexillum.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
104 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Bảng 1: Danh mục các loài ốc cối sử dụng cho phân tích phát sinh chủng loại
dựa trên trình tự đoạn gen 16S rDNA
STT Tên loài Mã số Genbank
Chế độ dinh
dưỡng
Tài liệu tham khảo
1 Conus arenatus HM212491 V Nghiên cứu hiện tại
2 Conus bandanus HQ234757 M Nghiên cứu hiện tại
3 Conus betulinus HQ234758 V Nghiên cứu hiện tại
4 Conus capitaneus HM212492 V Nghiên cứu hiện tại
5 Conus caracteristicus HM212493 U Nghiên cứu hiện tại
6 Conus distans HM212494 V Nghiên cứu hiện tại
7 Conus generalis HQ234761 V Nghiên cứu hiện tại
8 Conus imperialis HQ234755 V Nghiên cứu hiện tại
9 Conus literatus HM212495 V Nghiên cứu hiện tại
10 Conus lividus HQ234760 V Nghiên cứu hiện tại
11 Conus magus HM212496 V&P Nghiên cứu hiện tại
12 Conus marmoreus HQ234759 M Nghiên cứu hiện tại
13 Conus miles HQ234756 V Nghiên cứu hiện tại
14 Conus quercinus HM212497 V Nghiên cứu hiện tại
15 Conus striatus HM212498 P Nghiên cứu hiện tại
16 Conus tessulatus HM212499 V Nghiên cứu hiện tại
17 Conus textile HM212500 M Nghiên cứu hiện tại
18 Conus vexillum HM212501 V Nghiên cứu hiện tại
19 Conus eburneus AF174165 V&P (Duda và cs, 2001)
20 Conus leopardus AF174175 V (Duda và cs, 2001)
21 Conus achatinus FJ868053 U (Puillandre và cs, 2010)
22 Lophiotoma cerithiformis EU682307 (Nam và cs, 2009)
23 Thatcheria mirabilis GU137313 (Nam và cs, 2009)
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 105
Hình 2. Cây phát sinh chủng loại của các loài ốc cối thu nhận
tại các vùng ven biển Nam Trung bộ, Việt Nam
Phân tích được thực hiện dựa trên trình tự đoạn gen 16S rRNA của 21 loài ốc trong đó có 18 loài thuộc nghiên cứu hiện tại và 3 trình tự từ Genbank
(được ký hiệu với đuôi gb). Các loài ốc Lophiotoma cerithiformis và Thatcheria mirabilis được sử dụng làm nhóm ngoại.
Giá trị bootstrap (phân tích MP) và giá trị tin cậy (phân tích BI) được biểu hiện tại các nhánh. Cây phát sinh loài được chia làm 4 nhóm chính.
Chế độ dinh dưỡng của các loài trong nhóm được hiển thị trong ngoặc đơn (M: ăn nhuyễn thể; V: ăn giun biển;
P: ăn cá; V&P: ăn cá và giun biển; U: chưa biết).
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
106 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
IV. THẢO LUẬN
1. Mối quan hệ loài của ốc cối (Conus spp.)
Việt Nam được nghiên cứu ở mức độ phân
tử
Việc phân loại ốc cối theo phương pháp
truyền thống thường dựa trên các đặc điểm hình
thái như kích thước vỏ, kiểu hoa văn và màu sắc
vân trên vỏ, số vòng xoắn ở phần nón, chế độ
dinh dưỡng và đặc điểm hình thái các dải răng
chitin. Tuy nhiên, do các đặc điểm hình thái có
thể chịu tác động của môi trường, hay biến dị
cá thể cùng loài và khác loài, nên dễ gây nhầm
lẫn trong quá trình phân loại. Chính vì vậy, các
marker phân tử của DNA ty thể và DNA nhân
hiện đang được sử dụng rộng rãi trong các
nghiên cứu di truyền, định danh và xây dựng mối
quan hệ tiến hóa (Nam và cs, 2009; Duda và
cs, 2001; Espiritu và cs, 2001; Duda và Kohn,
2005).
Nghiên cứu hiện tại sử dụng chỉ thị 16S
rDNA đã phân chia các loài ốc cối thành các
nhóm riêng biệt. Kết quả phân tích phát sinh
chủng loại của chúng tôi cũng phù hợp với các
nghiên cứu trước đó. Ví dụ hai loài thuộc nhóm
ăn nhuyễn thể C. bandanus và C. marmoreus,
có phần nón rộng, được chia về cùng nhóm I.1;
hai loài C. tessulatus và C. eburneus được phân
chia về cùng một nhánh (Nam và cs, 2009).
Các loài C. magus và C. striatus; C. miles và C.
vexillum; C. quercinus và C. lividus có quan hệ di
truyền rất gần gũi (Espiritu và cs, 2001).
Mặc dù vậy mối quan hệ tiến hóa giữa các
loài thuộc các nhóm dinh dưỡng khác nhau
vẫn chưa được phân tách rõ ràng. Ví dụ loài
C. distans thuộc nhóm ăn giun biển được xếp
vào nhóm I.1 cùng với hai loài thuộc nhóm ăn
nhuyễn thể, điều này cho thấy việc sử dụng chỉ
thị 16S đơn lẻ chưa giải quyết triệt để được mối
quan hệ giữa các loài ốc thuộc các nhóm dinh
dưỡng.
Bandyopadhyay và đồng tác giả (2008)
đã sử dụng chỉ thị 16S rDNA và vùng liên gen
coxI/coxII nhằm phân tích quan hệ phát sinh
chủng loại của các loài ốc cối Philippines. Kết
quả cho thấy, vùng liên gen coxI/ coxII của các
loài ốc cối dao động từ 130 - 170 bp, trong đó
đoạn gen này của C. textile lớn hơn so với tất
cả các loài còn lại. Nhóm tác giả đánh giá rằng
đoạn chèn này rất hữu dụng trong các nghiên
cứu tiến hóa, cũng như định danh loài.
Hơn nữa, gần đây Nam và đồng tác giả
(2009) đã sử dụng chỉ thị nhân ITS2 (đoạn chèn
giữa gen mã hóa 5,8S và 28S rRNA) nhằm đánh
giá mối quan hệ tiến hóa của 26 loài ốc thu
thập tại vùng biển thuộc quần đảo Marinduque,
Philippines. Kết quả cho thấy trình tự ITS2 được
bảo tồn giữa các cá thể thuộc cùng một nhóm
dinh dưỡng, nhưng lại thể hiện sự đa dạng ở
mức độ phù hợp cho việc xác định vị trí phân
loại của các loài mới phân hóa. Hơn nữa, việc
sử dụng kết hợp các chỉ thị ty thể (12S rDNA,
16S rDNA và COI) và chỉ thị nhân ITS2 đã chia
nhóm ăn nhuyễn thể (M) thành 3 nhánh rõ ràng
là Conus, Cyclinder, và Darioconus. Chính vì
vậy, trong các nghiên cứu tiếp theo của chúng
tôi, chỉ thị DNA ty thể cần được sử dụng kết hợp
với chỉ thị nhân để có thể đánh giá chính xác
hơn mối quan hệ loài của ốc cối Việt Nam.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã xây
dựng cây phát sinh chủng loại của 18 loài ốc
cối Việt Nam dựa trên trình tự đoạn gen ty thể
16S rDNA. Đây là lần đầu tiên mối quan hệ loài
của giống ốc cối Conus ở Việt Nam được nghiên
cứu ở mức độ phân tử. Vì vậy, kết quả nghiên
cứu này có ý nghĩa quan trọng góp phần vào
công tác bảo tồn và lưu giữ nguồn gen ốc cối
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 107
Việt Nam.
2. Mối liên hệ giữa phát sinh loài với chế độ
dinh dưỡng và độc tố ốc cối
Duda và cộng sự (2001) đã khảo sát mối
quan hệ giữa phát sinh loài và chế độ dinh
dưỡng của 76 loài ốc cối thu thập từ các vùng
biển Ấn Độ, Thái Bình Đương và Tây Đại Tây
Dương. Kết quả cho thấy hình thức dinh dưỡng
ăn giun biển nhiều tơ (errant polychaetes) là
hình thức cổ xưa nhất. Các dạng dinh dưỡng
khác như ăn các loài chân bụng, và một số họ
giun biển khác như Terebellidae, Nereidae và
Amphinomidae được tách ra cùng một lần, trong
khi đó các loài ăn cá có thể tách ra từ 2 đến 3 lần
trên cây tiến hóa.
Các loài ốc cối Việt Nam trong nghiên cứu
hiện tại chủ yếu thuộc loại ăn giun biển. Có ba
loài thuộc nhóm ăn nhuyễn thể là C. bandanus,
C. marmoreus và C. textile. Chỉ duy nhất một loài
ăn cá (C. striatus) và một loài có chế độ ăn đa
dạng, vừa ăn giun biển vừa ăn cá tùy theo giai
đoạn sống (C. magus) được khảo sát. Trong đó,
hầu hết các loài thuộc nhóm ăn giun biển được
tách ra từ gốc cây tiến hóa (Hình 2). Điều này
khá phù hợp với lý thuyết khi chế độ ăn giun biển
là phương thức dinh dưỡng cổ xưa nhất (Duda
và cs, 2001). Hơn nữa các loài thuộc nhóm ăn
giun biển được phân chia thành các nhóm rất rõ
ràng là nhóm III và nhóm IV.
Tuy nhiên, một số loài ăn giun biển khác
cũng được nhóm cùng với các loài ăn nhuyễn
thể (nhóm I.1), và với các loài vừa giun biển vừa
ăn cá, cũng như với các loài mà chế độ ăn chưa
được nghiên cứu (nhóm I.2 và nhóm II.1). Điều
này cho thấy sự chuyên biệt của các chế độ dinh
dưỡng trong quá trình tiến hóa của ốc cối.
Cuối cùng, phân tích mối quan hệ tiến hóa
giữa các loài ốc cối đóng vai trò quan trọng trong
việc nghiên cứu tính đa dạng của các độc tố ốc
cối, cũng như việc phát hiện và xác định đặc tính
của các độc tố mới. Đây là nguồn dược liệu quý
để sản xuất thuốc giảm đau trong y học. Chẳng
hạn, Espiritu và cs (2001) đã phân tích nguồn
gốc tính đa dạng của độc tố δ-conotoxin trên 9
loài ốc cối bằng sử dụng chỉ thị 16 rDNA ty thể.
Kauferstein và cs (2004) cũng sử dụng các trình
tự 16 rDNA đại diện cho 104 haplotype nhằm
khảo sát khả năng sản xuất các độc tố (thuộc
siêu họ I) mới phát hiện ở các loài ốc cối khác
nhau.
V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Bằng cách sử dụng chỉ thị phân tử 16S
rDNA ty thể, chúng tôi đã xây dựng cây phát sinh
chủng loại của 18 loài ốc cối Conus thu thập tại
các vùng biển thuộc khu vực Nam Trung bộ, Việt
Nam. Kết quả cho thấy các loài ốc cối thuộc 3
nhóm dinh dưỡng được chia làm 4 nhóm chính
trên cây chủng loại phát sinh. Điều này phù hợp
với các nghiên cứu trước đó. Mặc dù vậy, việc
sử dụng chỉ thị 16S rDNA vẫn có những hạn chế
nhất định trong việc phân tách các loài ốc có
quan hệ tiến hóa gần gũi. Vì vậy, để có thể xác
định chính xác mối quan hệ loài của ốc cối Việt
Nam, trong các nghiên cứu tiếp theo, các chỉ thị
đa phân tử trong đó có các gen mã hóa độc tố ốc
cối sẽ được sử dụng.

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
108 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bandyopadhyay PK, Stevenson BJ, Ownby JP, Cady MT, Watkins M, Olivera BM (2008). The
mitochondrial genome of conus textile, coxi-coxii intergenic sequences and conoidean evolution. Mol
Phylogenet Evol, 46:215-223.
2. Cunha RL, Castilho R, Ruber L, Zardoya R (2005). Patterns of cladogenesis in the venomous marine
gastropod genus conus from the cape verde islands. Syst Biol, 54:634-650.
3. Duda TF, Jr., Kohn AJ (2005). Species-level phylogeography and evolutionary history of the hyperdiverse
marine gastropod genus conus. Mol Phylogenet Evol, 34:257-272.
4. Duda TF, Jr., Palumbi SR (1999). Developmental shifts and species selection in gastropods. Proc Natl
Acad Sci USA, 96:10272-10277.
5. Duda TF, Kohn AJ, Palumbi SR (2001) Origins of diverse feeding ecologies within Conus, a genus of
venomous marine gastropods. Biol. J. Linnean Soc, 73:391-409.
6. Espiritu DJ, Watkins M, Dia-Monje V, Cartier GE, Cruz LJ, Olivera BM (2001). Venomous cone snails:
Molecular phylogeny and the generation of toxin diversity. Toxicon, 39:1899-1916.
7. Franklin JB, Fernando SA, Chalke BA, Krishnan KS (2007) Radular morphology of Conus (Gastropoda:
Caenogastropoda: Conidae) from India. Molluscan Research, 27(3):111-122.
8. Grande C, Templado J, Zardoya R (2008). Evolution of gastropod mitochondrial genome arrangements.
BMC Evol Biol, 8:61.
9. Hall TA (1999). BioEdit: a user-friendly biological sequence alignment editor and analysis program for
Windows 95/98/NT. Nucleic Acid Symposium Series, 41:95-98. Oxford University Press.
10. Huelsenbeck JP, Ronquist F (2001). Mrbayes: Bayesian inference of phylogenetic trees. Bioinformatics,
17:754-755.
11. Hylleberg J, Kilburn RN (2003). Marine Molluscs of Vietnam. Tropical marine mollusk Programe
(TMMP), 106-111.
12. James MJ (1980). Comparative morphology of radular teeth in conus: observations with scanning electron
microscopy. J Mollus Stud, 46(1):116-128.
13. Kaufersteina S, Huysb I, Kucha U, Melauna C, Tytgatb J, Mebsa D (2004). Novel conopeptides of the
I-superfamily occur in several clades of cone snails. Toxicon, 44(5):539-548.
14. McArthur AG, Harasewych MG (2003). Molecular systematics of the major lineages of the Gastropoda.
Smithsonian Books, Washington,140-160.
15. Mueller RL (2006). Evolutionary rates, divergence dates, and the performance of mitochondrial genes in
bayesian phylogenetic analysis. Syst Biol, 55:289-300.
16. Nam HH, Corneli PS, Watkins M, Olivera B, Bandyopadhyay P (2009). Multiple genes elucidate the
evolution of venomous snail-hunting conus species. Mol Phylogenet Evol, 53:645-652.
17. Nylander JA (2004). Mr Modeltest v2. Program distributed by the author. Evolutionary Biology Centre.
Uppsala University, Uppsala, Sweden.
18. Nguyễn Ngọc Thạch (2007). Recently collected shells of Viet Nam. L’ Informatore piceno & N.N.T: 7-8
& 24-142.
19. Page RD (1996). Treeview: an application to display phylogenetic trees on personal computers. Comput
Appl Biosci,12:357-358.

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 109
20. Puillandre N, Watkins M, Olivera BM (2010). Evolution of conus peptide genes: Duplication and positive
selection in the a-superfamily. J Mol Evol (in press)
21. Röckel D, Korn W, Kohn AJ (1995). Manual of the Living Conidae (Vol. I: Indo- Pacific Region). Verlag
Christa Hemmen, Wiesbaden, Germany.
22. Sullivan J, Abdo Z, Joyce P, Swofford DL (2005). Evaluating the performance of a successive-approxima-
tions approach to parameter optimization in maximum-likelihood phylogeny estimation. Mol Biol Evol,
22:1386-1392.
23. Swofford DL (2002). PAUP*. Phylogenetic Analysis Using Parsimony (*and Other Methods). Version 4.
Sinauer Associates, Sunderland, Massachusetts.
24. Thompson JD, Gibson TJ, Plewniak F, Jeanmougin F, Higgins DG (1997). The clustal-X windows
interface: Flexible strategies for multiple sequence alignment aided by quality analysis tools. Nucleic Acids
Res, 25:4876-4882.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
110 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HỌ CÁ ÚC (ARIIDAE L. S. BERG, 1958)
CURRENT STATUS OF ARIIDAE FAMILY (L. S. BERG, 1958)
Trần Văn Phước
Khoa Nuôi trồng Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Họ cá Úc (Ariidae) thuộc bộ cá Trơn (Siluriformes) bao gồm 14 giống và 120 loài ở vùng nhiệt đới
và á nhiệt đới. Cá Úc giai đoạn nhỏ phân bố ở các vùng cửa sông có độ mặn thấp và cá trưởng thành phân
bố phong phú ở các vịnh và cửa sông có nhiệt độ và độ mặn thuận lợi cho các hoạt động sinh sản. Chúng có
kích thước lớn, tuổi thọ lớn, và tốc độ tăng trưởng chậm. Các thông số sinh trưởng, L

= 29,86 – 124,84 cm,
K = 0,06 – 0,34, t
0
= - 1,5 – (- 0,21) và chỉ số tăng trưởng, Φ’ = 2,487 – 3,040. Phổ thức ăn cá trưởng thành
rất rộng, thứ nhất là xác hữu cơ chưa phân hủy và thứ hai là giáp xác, cá, hải sâm và thân mềm. Sức sinh sản
của chúng thấp (20 – 64 trứng/cá cái), cá đực ấp trứng và ngậm ấu trùng còn noãn hoàng. Mùa sinh sản diễn
ra từ tháng 5 đến tháng 8. Trứng có bán kính là 12 - 19mm, màu xanh lục và dạng trứng chìm. Trứng nở sau
30 ngày trong điều kiện nhiệt độ là 30
0
C.
Từ khóa: cá Úc, dinh dưỡng, phân loại, sinh thái phân bố, sinh trưởng, sinh sản
ABSTRACT
The Ariidae family (Siluriformes) includes 14 genera and 120 species of tropical and sub-tropical
marine catfishes. Sea catfish juvenile remain in low salinity estuarine areas and adult distribution abundance
in gulf coastal and estuarine waters have been related to spawning activities as wel as to water temperature
and salinity. In general, these species attain large sizes, are long living, slow growing and growth parameters,
such as L

(29.86 – 124.84cm), K (0.06 – 0.34), t
0
(- 1.5 – (-0.21)) and growth performance index, Φ’ = 2.487
- 3.040. Sea catfish adults ingested a broad of food primarily on unidentified organic matter, the secondary
food is crustaceans, fishes, sea cucumber and mollusks. These species have low fecundity (from 20 to 64 eggs
per female), mouthbreed their eggs and yolk-sac larvae by male. Sea catfish spawn from May to August. Their
eggs are 12 to 19 mm in diameter, greenish and demersal. Eggs of sea catfish hatched in approximately 30 days
at 30
0
C.
Keywords: Sea catfish, feeding, classification, distribution ecology, growth, reproduction
fHONG B/O KHO/ HOC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng biển ven bờ chỉ chiếm khoảng 11%
vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, trong khi
số tàu khai thác ven bờ chiếm trên 75% số tàu
cả nước. Vì thế các ngư trường truyền thống
ven bờ đã bị khai thác quá mức, nguồn lợi ven
bờ đang trên đà suy kiệt, nhiều loài hải sản quý
hiếm có nguy cơ biến mất, cuộc sống của cộng
đồng ngư dân gặp khó khăn hơn so với trước
kia (Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản,
2008). Cá Úc (Ariidae) được xếp vào nhóm cá
kinh tế chủ yếu nước ta (Bộ Thủy sản, 1996).
Tuy nhiên, hiện nay nguồn lợi cá Úc suy giảm
rất nhiều so với trước đây. Trên thế giới và ở
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 111
nước ta, họ cá Úc chưa có loài nào được nghiên
cứu sâu và đưa vào nuôi. Bài báo này là kết quả
nghiên cứu họ cá Úc làm cơ sở khoa học cho
khai thác hợp lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi
theo hướng bền vững.
II. NỘI DUNG
1. Đặc điểm hình thái và phân loại
1.1. Đặc điểm phân loại
Trước đây, họ cá Úc (Ariidae) được gộp
trong họ lớn Doradoidea, nhưng sau đó được
chuyển sang họ lớn Bagroidea (cùng với
Austroglanididae, Claroteidae, Schilbeidae,
Pangasiidae, Bagridae và Pimelodidae) (Nelson,
2006). Hai giống Gogo và Ancharius đã được
chuyển sang họ khác gọi là Anchariidae (Hee,
Sparks, 2005). Họ cá Úc (Ariidae) cũng đã từng
được phân loại trong họ lớn Arioidea, bao gồm
Ariidae và Anchariidae (Sullivan et al., 2006).
Họ cá Úc (Ariidae) gồm 12 giống 120 loài,
phân bố ở các vùng nước ngọt, nước lợ và nước
biển. Họ cá Úc là một họ cá da trơn, chủ yếu
sinh sống ngoài biển, với một số loài sinh sống
trong các môi trường nước lợ hay nước ngọt.
Chúng được tìm thấy trong các khu vực ôn đới
ấm và nhiệt đới (Berg, 1940). Tuy nhiên, một số
nhà nghiên cứu như Nelson (1976), Rimmer và
Merrick (1982), Reis (1986a) cho rằng họ cá Úc
bao gồm 14 giống và 120 loài cá Úc biển nhiệt
đới và á nhiệt đới. Nhìn chung, các loài này có
kích thước lớn, tuổi thọ lớn, tăng trưởng chậm,
sức sinh sản thấp và ấp trứng trong miệng
cá đực.
Nguyễn Hữu Phụng và Nguyễn Nhật
Thi (1994) đã xác định được 10 loài cá Úc ở
biển Việt Nam như cá Úc Trung Hoa (Arius
sinensis Lacepede, 1803), cá Úc Đầu cứng
(Arius leiotetocephalus Bleeker, 1846), cá Úc
thường (Arius thalassinus Rüppell, 1837), cá
Úc chấm (Arius maculatus Thungerg, 1792),
cá Úc trắng (Arius sciurus H.M. Smith, 1931),
cá Úc Gai mềm (Arius maculacanthus H.M.
Smith, 1945), cá Úc Quạt (Arius caelatus Cuvier
& Valenciennes, 1840), cá Vồ Chó (Arius sagor
(Hamilton [né Bunchanan], 1822), cá Úc Thiều
giả (Arius harmandi Sauvage, 1880) và cá Thiều
(Hemipimelodus siamensis Sauvage, 1878).
1.2. Đặc điểm hình thái
Họ cá Úc (Ariidae) có vây đuôi xẻ thùy sâu.
Thông thường chúng có 3 cặp râu. Chúng có
một vài tấm xương trên đầu và gần các vây lưng
(Nelson, 2006). Wongratana và Bathia (1974) đã
xác định một số chỉ tiêu hình thái cá Úc chấm
Arius maculatus: D I, 7 - 7; A I, 16 - 30; P I;
V 6 - 6. Perret và đồng tác giả (1971) đã xác định
một số chỉ tiêu hình thái cá Úc Arius felis: D I, 7;
A 19-20; P I, 6-10; V 6. Cá có 2 đôi râu ngắn ở
hàm dưới và đôi râu dài gần đầu. Vây ngực và
vây lưng không có tia gai riêng biệt. Cơ thể dài,
có màu xanh lục phía trên và màu bạc phía dưới.
Chiều dài tối đa là 495mm. Cá Úc thường Arius
thalassinus, thân tương đối dài. Vây đuôi chia
thành hai thùy rất sâu, bằng nhau. Vây lưng thứ
nhất có gai, vây lưng thứ hai là vây mỡ tương
đối phát triển, vây hậu môn ngắn. Vây ngực lớn
hơn và dài hơn vây bụng rất rõ rệt. Không có râu
mũi. Màng mang liền với eo mang. Có râu mép
và râu cằm. Chiều dài đầu xấp xỉ bằng chiều cao
thân và bằng khoảng 1/4 lần chiều dài từ mút
mõm đến chẽ vây đuôi. Lưng màu xám bạc hoặc
xám tro, hai bên thân màu sáng hơn và càng
về phần bụng càng chuyển dần sang màu trắng
bạc. Các vây màu tối hơn. Kapoor và Bhargava
(1967) đã nghiên cứu về râu cá Úc thường gồm
có 3 đôi râu, một đôi ở hàm trên và hai đôi ở hàm
dưới. Thành phần râu gồm có biểu bì, hạ bì và
phần sụn ở giữa hình que.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
112 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Hình 1. Cá Thiều Arius thalassinus khai thác
(TL 99 cm và W
t
12,9 kg)
2. Đặc điểm sinh thái phân bố
Họ cá Úc (Ariidae) được tìm thấy khắp
thế giới trong khu vực ôn đới ấm và nhiệt đới
(Nelson, 2006). Họ này là bất thường trong số
các loài cá da trơn: chúng chủ yếu sinh sống
ngoài biển trong khi phần lớn các loài thuộc họ
cá da trơn khác sinh sống trong khu vực nước
ngọt và ít chịu được nước lợ hay nước mặn.
Họ cá này được tìm thấy chủ yếu tại các vùng
biển nông ven bờ của Bắc và Nam Mỹ, Châu
Phi, Châu Á và Úc. Chúng không có mặt tại
các vùng biển thuộc Châu Âu và Châu Nam
Cực. Một số loài sinh sống tại khu vực nước
ngọt. Tại Bắc và Nam Mỹ có khoảng 43 loài
sinh sống trong vùng nước lợ hoặc chỉ ở nước
ngọt. Giống Doiichthys bao gồm các loài nước
ngọt khác được tìm thấy ở New Guinea. Cá Úc
thường Arius thalassinus được tìm thấy ở vùng
Biển Đỏ và Tây Bắc Ấn Độ dương. Chúng còn
xuất hiện ở các vùng biển liên quan Philippine
và Vịnh Thái Lan.
Nguồn: GBIF OBIS
Hình 2. Vùng phân bố của họ cá Úc
Ba loài cá Úc biển Tây Châu Phi (Arius
heudeloiti, A. parkii, A. latiscutatus) thuộc họ cá
Úc Ariidae phân bố vùng ven bờ Guinea. Chúng
phân bố ở vùng cửa sông ven biển có đáy bùn
và độ sâu 20m. Nhiệt độ cao quanh năm từ 25
0
C
đến 29
0
C. Chúng phân bố ở vùng gần bờ vào
mùa mưa và mùa khô thì chúng phân bố ở vùng
nước sâu. Ấu trùng và cá con xuất hiện nhiều ở
vùng ven bờ và cá lớn thì xuất hiện ở vùng nước
sâu (Conand et al., 1995).
Dantas và đồng tác giả (2010) đã nghiên
cứu ở các vùng chính của cửa sông Goiana
rộng 23ha. Các loài cá Úc (họ Ariidae) là phong
phú nhất với mật độ 1.600 cá thể/ha, chiếm
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 113
53%. Trong đó, loài Cathorops spixii là phong
phú nhất với mật độ 1.340 cá thể/ha. Mật độ
(7.394 cá thể/ha) cao nhất được xác định ở vùng
giữa cửa sông vào đầu mùa mưa. Mật độ loài
C. spixii khác nhau có ý nghĩa giữa các vùng và
mùa (p < 0,01), loài C. agassizii chỉ khác biệt có
ý nghĩa giữa các mùa (p < 0,01). Sinh khối các
loài C. spixii, C. agassizii và Sciades herzbergii
sai khác có ý nghĩa giữa các mùa; hai loài C.
spixii và C. agassizii sai khác có ý nghĩa giữa
các vùng (p < 0,01). Để quản lý và bảo tồn các
loài này ở cửa sông cần dựa vào vòng đời của
chúng khác nhau giữa các vùng và mùa.
Cá Úc Arius felis phân bố phong phú ở vùng
vịnh ven bờ và cửa sông có điều kiện thuận lợi
về nhiệt độ (> 20
0
C) và độ mặn (> 20‰) cho hoạt
động sinh sản (Franks et al., 1972). Nhiệt độ thích
hợp cho cá Úc trưởng thành trên 25
0
C (Jones
et al., 1978) và tránh các vùng nước có nhiệt
độ trên 37
o
C (Landry, Strawn, 1973; Gallaway,
Strawn, 1974). Cá Úc sẽ di cư từ vùng nội địa ra
vùng biển sâu hơn (Swingle, 1971) hoặc ra biển
sâu khi nhiệt độ nước dưới 5 - 6
0
C (Perret et
la., 1971; Juneau, 1975). Barret và đồng tác giả
(1978) phát hiện cá Úc khai thác bằng lưới rê tại
vùng ven bờ Louisiana có nhiệt độ nước từ 10
đến 20
0
C. Cá Úc trưởng thành tránh vùng nước
có nhiệt độ thấp di cư ra vùng biển sâu vào mùa
đông và trở vào bờ vào mùa xuân.
Cá Úc Arius felis trưởng thành được đánh
bắt ở vùng nước có độ mặn 0 - 40‰ (Jones et
al., 1978). Harvey (1972) đã tìm thấy ấu trùng cá
Úc còn noãn hoàng trong miệng cá bố ở vùng
nước có độ mặn từ 8 đến 13‰, cá con xuất
hiện ở vùng nước có độ mặn từ 16 đến 29‰.
Gunter và Hall (1965) đã phát hiện cá con phân
bố ở vùng nước có độ mặn 0,1‰. Cá con tập
trung ở nơi độ mặn thấp nhiều hơn cá trưởng
thành (Swingle, Bland, 1974; Kelley, 1965;
Tarver, Savoie, 1976; Jones et al., 1978). Perret
và đồng tác giả (1971) phát hiện cá Úc phân bố
chủ yếu ở vùng có độ mặn 10‰ hoặc cao hơn.
Gunter (1945) đã bắt gặp cá Úc ở vùng có độ
mặn từ 2 đến 36,7‰ nhưng chủ yếu là vùng có
độ mặn trên 30‰.
Benson (1982) đã tìm thấy cá Úc phân bố
ở các kênh cùng với lượng oxy hòa tan thấp.
Tabb và Manning (1961) đã phát hiện cá Úc chết
ở vịnh Florida do oxy hòa tan thấp sau cơn bão
Donna vào năm 1960.
Reid (1957), Ragan và đồng tác giả (1978),
Shipp (1981) cho rằng cá Úc phân bố phong phú
ở vùng có nhiều chất hữu cơ đáy. Độ sâu thích
hợp của cá Úc phân bố có liên quan đến nhiệt
độ của nước và thành phần chất đáy. Chúng sẽ
di cư ra vùng nước sâu hoặc di cư đến vùng
có nhiệt độ ấm hơn (Swingle, 1971) khi nhiệt
độ ở đó thấp hơn từ 10 đến 15
0
C và chúng sẽ
quay trở lại vào mùa xuân khi nhiệt độ cao hơn.
Chúng phân bố phong phú ở các vùng nông ven
bờ (< 20m) và vùng cửa sông.
Reid (1957) cho biết cá Úc tập trung vùng
dưới triều gần Rollover Pass, Texas. Sự chuyển
động của nước ảnh hưởng đến vị trí và khả năng
bắt mồi của cá Úc (Landry, Strawn, 1973). Hoạt
động sinh sản và ấp trứng xảy ra ở các vùng
vịnh nông hơn có dòng chảy chậm. Giai đoạn cá
con sống độc lập bố mẹ, chúng phân bố ở vùng
nước yên tĩnh (Swingle, Bland, 1974).
Platania và Ross (1980) đã phát hiện cá Úc
Arius felis phân bố ở vùng nước nông, ven bờ
và nước đục với nền đáy cát, đáy bùn. Gunter
(1947) cho rằng cá Úc Galeichths felis sinh sản
ở vùng nước có độ trong từ 0,6 - 3,0m tại vịnh
Copano, Texas.
Yanez Arancibia và Lara Dominguez (1988)
đã nghiên cứu về sinh thái 3 loài cá thuộc họ
cá Úc ở vùng ven biển nhiệt đới phía Nam vịnh
Mexico. Cá Úc Arius felis xuất hiện quanh năm
trong vịnh có độ mặn 0 - 37‰, nhiệt độ 21 - 32
0
C
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
114 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
và độ trong 0,3 - 2,1m. Cá Úc Arius melanopus
xuất hiện quanh năm trong vịnh có độ mặn
0 - 36‰ (giai đoạn cá nhỏ phân bố vùng có độ
mặn < 5‰ và trưởng thành 25 - 35‰), nhiệt độ
20 - 32
0
C và độ trong 0,3 - 1,2m. Cá Úc Bagre
marinus xuất hiện vùng có độ mặn 4 - 32‰, nhiệt
độ 22 - 32
0
C và độ trong 0,2 - 1,6m.
Ở Việt Nam, cá Úc (Arius) được xếp vào
nhóm cá kinh tế chủ yếu. Cá Úc chiếm 1,59%
sản lượng cá khai thác bằng lưới kéo đáy tại
miền Trung năm 1987. Cá Úc thường (Arius
thalassinus) chiếm 0,87% sản lượng cá kinh tế
khai thác tại vùng biển Đông Nam bộ. Vùng biển
Tây Nam bộ, cá Úc chiếm 3,8% sản lượng khai
thác (Bộ Thủy sản, 1996). Vịnh Bắc bộ, cá Úc
chiếm 1,45% tổng sản lượng (Lê Trọng Phấn và
đồng tác giả, 1999).
3. Đặc điểm sinh trưởng
Chiều dài tối đa của cá Úc Arius felis được
xác định là 571mm (Jones et al., 1978). Gallaway
và Strawn (1974) đã xác định cá Úc giống ở
vịnh Galveston, Texas có chiều dài thân chuẩn
từ 40 đến 44mm vào tháng 7 năm 1968 và tăng
đến 93mm vào tháng 10 trước khi rời khỏi vịnh.
Gunter và Hal1 (1963) xác định cá Úc Arius felis
0
+
tuổi có chiều dài toàn thân từ 118 đến 133 mm
và đạt 193 mm khi 1
+
tuổi ở Tây Nam Florida.
Conand và đồng tác giả (1995) đã nghiên
cứu về tuổi và sinh trưởng của 3 loài cá Úc
biển Tây Châu Phi (Arius heudeloiti, A. parkii,
A. latiscutatus) thuộc họ cá Úc Ariidae phân bố
vùng ven bờ Guinea. Đặc điểm sinh trưởng của
chúng được nghiên cứu dựa trên gai lưng thứ
nhất. Các loài này có đặc điểm sinh học gần
giống nhau. Mỗi 1 vòng tuổi đặc trưng cho một
năm bắt đầu từ mùa mưa. Đây là những loài
sinh trưởng chậm, cá thể 6 tuổi có chiều dài thân
(FL) là 400mm. Tỷ lệ chết tự nhiên thấp, sức
sinh sản và tỷ lệ nở thấp.
Reis (1986b) đã nghiên cứu tuổi và sinh
trưởng cá Úc Netuma barba thuộc họ cá
Úc Ariidae vùng cửa sông ven đầm Patos
(Brazil). Xác định tuổi dựa trên các vòng
tuổi của đá tai cá và xác định chiều dài bằng
cách tính ngược. Phương trình sinh trưởng là
L
t
= 638 [1 - exp
(- 0.1287(t + 0.195))
]. Mẫu cá cái lớn
nhất được xác định có chiều dài 980 mm.
Kết quả nghiên cứu về các thông số sinh
trưởng (L

, K, t
0
) và chỉ số tăng trưởng (Φ’) của
một số loài thuộc họ cá Úc (Ariidae) (Bảng 1).
Bảng 1. Các thông số sinh trưởng và chỉ số tăng trưởng
Tên khoa học Vùng L

(cm) K (/năm) t
0
Φ’ Nguồn
Arius heudelotii Guinea 70.00* 0.14 -0.39 2.842 Conand et al (1995)
Arius latiscutatus Guinea 65.00* 0.15 -0.31 2.813 Conand et al (1995)
Arius parkii Guinea 61.20* 0.17 -0.28 2.806 Conand et al (1995)
Arius spixii Venezuela 29.86** 0.34 - 2.487 Etchevers (1978)
Arius thalassinus Kuwait 106.40 0.06 -0.21 2.860 Bawazeer (1987)
Arius thalassinus India 92.23* 0.10 -0.79 2.925 modified from
Dmitrenko (1975)
Genidens barbus Brazil 48.00 0.20 -1.50 2.782 Velasco et al (2007)
Hexanematichthys
guatemalensis
Mexico 124.84* 0.07 -0.38 3.040 modified from
Warburton (1978)
L

: *

tính toán dựa vào chiều dài thân (L
f
), ** dựa vào chiều dài chuẩn (L
s
) và các trường hợp khác dựa vào chiều dài tổng (L
t
)
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 115
Ở vịnh Bắc bộ, chiều dài lớn nhất của cá
Úc có thể lên đến 900mm, nặng 8,7kg. Thường
đánh bắt chủ yếu loại 4 - 5 tuổi, có chiều dài
600 - 800mm, nặng 2,4kg (Lê Trọng Phấn và
đồng tác giả, 1999).
4. Đặc điểm dinh dưỡng
Merrian (1940) đã xác định thành phần thức
ăn của cá Úc Galeichths felis gồm tảo, cỏ biển,
động vật ruột khoang, hải sâm, ốc, giun nhiều tơ,
giáp xác (tôm, cua ghẹ) và cá. Ở giai đoạn nhỏ
khi còn được bảo vệ trong miệng cá bố, chúng
đã ăn giáp xác cỡ nhỏ. Darnell (1961) đã xác
định thành phần thức ăn trong dạ dày cá con
gồm 56% mùn xác hữu cơ, 26% động vật không
xương cỡ nhỏ và 16% động vật không xương cỡ
lớn. Cá trưởng thành ăn 44% mùn xác hữu cơ,
34% động vật không xương cỡ lớn và 21% động
vật không xương cỡ nhỏ.
Gallaway và Strawn (1974) cho rằng cá Úc
tập trung ở vùng nước ấm dưới 38
o
C. Thức ăn
trong dạ dày dễ tiêu hóa và phân hủy, thức ăn
còn lại chủ yếu trong dạ dày là cua xanh nhỏ và
cũng giống với kết quả nghiên cứu của một số
tác giả khác như Gudger (1916), Gunter (1945),
Darnell (1961), McClane (1965).
Yanez Arancibia và Lara Dominguez (1988)
đã nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng của 3 loài
cá thuộc họ cá Úc ở vùng ven biển nhiệt đới phía
Nam vịnh Mexico. Thức ăn của cá Úc Arius felis
trưởng thành có ít nhất là 16 loài, chủ yếu là cá,
giáp xác, thân mềm, cua xanh và giai đoạn cá
nhỏ bao gồm giáp xác chân chèo, thân mềm,
tôm he, ấu trùng và trứng động vật không xương
sống. Thức ăn của cá Úc Arius melanopus
trưởng thành có ít nhất 16 loài, chủ yếu là giáp
xác và giai đoạn cá nhỏ gồm giáp xác, mảnh vụ,
thân mềm. Thức ăn của cá Úc Bagre marinus
trưởng thành có ít nhất 12 loài, thức ăn của cá
giai đoạn nhỏ bao gồm trứng và ấu trùng động
vật không xương sống, giáp xác.
5. Đặc điểm sinh sản
Hầu hết các loài thuộc họ cá Úc trứng có
kích thước khá lớn, có đặc tính giữ trứng; con
đực ngậm và bảo vệ trứng, cá con trong miệng.
Cá Úc Arius felis tại vịnh Mehico thành thục sinh
dục trước 2 tuổi (Benson, 1982). Cá Úc Arius
felis đẻ từ tháng 5 đến tháng 8 ở vùng vịnh nông
độ sâu từ 0,6 đến 1,2m với độ mặn từ 13 đến
30‰. Trứng cá Úc Arius felis có đường kính từ
12 đến 19mm, màu xanh lục là loại trứng chìm,
hình dạng trứng đã thụ tinh có hình ovan hoặc
elip và chiều dài từ 14 đến 18mm, có lớp màng
mỏng không màu bao bọc chặt quanh trứng.
Lớp màng này sẽ mất đi theo sự phát triển phôi.
Thời gian phát triển phôi khoảng 30 ngày ở nhiệt
độ 30
o
C (Jones et al., 1978). Trứng cá Úc Arius
felis có kích thước lớn và số lượng trứng đẻ ra
ít, 20 - 64 trứng/con cái (Merriman, 1940). Ward
(1957) đã ước tính số lượng trứng cá cái từ 40
đến 62 trứng. Ngoài ra, còn có loại trứng nhỏ
hơn, trong suốt, không chức năng, bám vào các
trứng lớn ở cực thực vật. Những trứng này là
nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cá đực trong
suốt thời gian ngậm trứng (Gunter, 1947). Ấu
trùng noãn hoàng của cá Úc Arius felis có chiều
dài thân tổng từ 29mm đến 45mm. Cá Úc không
trải qua giai đoạn ấu trùng. Cá giống có chiều dài
toàn thân 68 - 88mm (Jones et al., 1978).
Lee (1937) cho rằng cá Úc Galeichths
felis cái bắt đầu có trứng phát triển khi chiều
dài thân chuẩn đạt 126mm, nhưng kích thước
nhỏ nhất có dấu hiệu khác biệt giới tính bằng
vây hậu môn ở cá đực hoặc cá cái là 150mm.
Merriman (1940) cho rằng kích thước thành thục
sinh dục lần đầu cá Úc cái từ 120 đến 200mm
nhưng chủ yếu nhóm kích thước lớn hơn, đối
với cá đực từ 190 đến 200mm. Ward (1957) đã
phát hiện rất nhiều âm thanh cá Úc Galeichths
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
116 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
felis đực tại bãi sinh sản Mississippi vào tháng
3 và tháng 4, nhưng giới tính được cân bằng
vào tháng 5. Cá đực vuốt chảy sẹ từ tháng 3
cho đến giữa tháng 7. Cá cái có buồng trứng
đang giai đoạn phát triển trong các tháng 3, 4
và 5. Đầu tháng 6, noãn bào nhanh chóng tăng
kích thước nhờ sự tích lũy noãn hoàng. Ông đã
xác định được đường kính noãn bào ở cá Úc
Galeichths felis cái đạt 6 - 8mm vào tháng 4,
9 - 14mm ở tháng 5, 14 - 16mm ở tháng 6 và
tháng 7. Trứng cá tăng trưởng mạnh vào đầu
tháng 6 nhờ tích lũy noãn hoàng và trở thành
màu lục trước khi rụng trứng. Cá đực mang tinh
dịch từ tháng 3 đến giữa tháng 7. Cá bố ngậm
cá con ở miệng từ đầu tháng 5 đến đầu tháng 8.
Ở cá Úc Galeichths felis cái, mô mỡ ở vây hậu
môn phát triển thành dạng nắp (Lee, 1937) và
vây hậu môn lớn hơn các cá thể đực (Merriman,
1940). Lee (1937), Merriman (1940), Mansueti
và Hardy (1967), Jones và đồng tác giả (1978)
chưa xác định được chắc chắn số lượng trứng
của cá Úc Galeichths felis cái bởi vì số lượng
lớn trứng nhỏ không chức năng (không thụ tinh)
bám vào các trứng lớn. Gunter (1947) cho rằng
trứng cá Úc Galeichths felis cái đẻ ra được thụ
tinh trên vây hậu môn và sẽ được chuyển từ vây
hậu môn vào miệng cá đực. Những trứng nhặt
lên từ đáy không có khả năng phát triển. Vì vậy,
Merriman (1940) cho rằng cá cái không đẻ một
lần hết số lượng trứng thành thục mà đẻ nhiều
đợt trong một lần đẻ để bảo đảm cho sự chuyển
trứng.
Tại Úc, Rimmer và Midley (1985) đã thử
nghiệm ấp trứng và nuôi ấu trùng hai loài Arius
graeffei và A. leptaspis đến giai đoạn giống trong
ống nhựa và lưới gấp thành góc, mô phỏng điều
kiện như trong khoang miệng. Tỉ lệ phôi và ấu
trùng noãn hoàng bị chết cao. Các phôi bị chết
khi đang trong thời gian nở được quan sát thấy
do sự co thắt lại của các mạch máu trên khối
noãn hoàng gây nên do màng mỏng bọc bên
ngoài rách ra quá sớm.
Yanez Arancibia và Lara Dominguez (1988)
đã nghiên cứu về đặc điểm sinh sản của 3
loài cá thuộc họ cá Úc ở vùng ven biển nhiệt
đới phía Nam vịnh Mexico. Cá Úc Arius felis
đực ngậm trứng khi có chiều dài toàn thân
236 - 307mm. Mùa sinh sản của cá vào mùa
mưa (tháng 6 - tháng 9), độ mặn 24 - 25‰, nhiệt
độ 30 - 31
0
C và độ sâu không quá 3,5m. Cá Úc
Arius melanopus đực ngậm trứng khi có chiều
dài toàn thân 163 - 211mm. Mùa sinh sản của cá
vào cuối mùa khô và mùa mưa (tháng 4 - tháng
9), độ mặn 21‰, nhiệt độ 29
0
C và độ sâu không
quá 3,5m. Mùa sinh sản cá Úc Bagre marinus
vào cuối mùa khô đến đầu mùa mưa (tháng 4 -
tháng 6).
Ở vịnh Bắc bộ, mùa sinh sản cá Úc từ tháng
3 đến tháng 5, đẻ rộ vào tháng 3 - tháng 4, lượng
trứng từ 150 - 200, đường kính trứng 11,7mm,
nặng 0,98g, hạt dầu bé (Lê Trọng Phấn và đồng
tác giả, 1999).
Nhìn chung trên thế giới, chưa có loài nào
thuộc họ cá Úc (Ariidae) thực sự được đưa
vào nuôi. Có khá nhiều nghiên cứu trên các đối
tượng này nhưng chủ yếu về các đặc điểm hình
thái, phân bố. Thông tin về đặc điểm sinh sản,
ấp trứng, ương nuôi ấu trùng rất hạn chế, chỉ
có nghiên cứu thử nghiệm ấp trứng và ương ấu
trùng của hai loài Arius graeffei và A. leptaspis.
Ở Việt Nam, vẫn chưa có công trình nghiên cứu
sâu hơn về đặc điểm sinh học nói chung, đặc
điểm sinh học sinh sản nói riêng, ngoại trừ các
tài liệu về hình thái, phân loại, phân bố và sơ
lược về một số đặc điểm khác. Vì vậy, nghiên
cứu đặc điểm sinh học họ cá Úc để làm cơ sở
khoa học cho sinh sản nhân tạo, bảo vệ và phát
triển nguồn lợi bền vững là việc làm cấp thiết.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Thủy sản (1996). Nguồn lợi thủy sản Việt Nam. Trưởng ban biên tập: Nguyễn Tấn Trịnh. NXB Nông
nghiệp Hà Nội.
2. Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản (2008). Hiện trạng nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam.
Thông tin Khoa học Công nghệ - Kinh tế thủy sản, số tháng 7/2008, trang 10 - 13.
3. Lê Trọng Phấn, Trần Đôn và Hồ Sĩ Bình (1999). Cơ sở sinh học cá biển nhiệt đới Việt Nam. Viện Hải
Dương học Nha Trang. NXB Nông nghiệp TP.HCM.
4. Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Nhật Thi (1994). Danh mục cá biển Việt Nam. Tập II: Lớp cá Xương
(Osteichthyes) - Từ bộ cá Cháo biển (Elopiformes) đến bộ cá Đối (Mugilformes). NXB Khoa học và Kỹ
thuật Hà Nội.
5. Arturo AP, Betancur R, Ricardo (2007). Monophyly, affinities, and subfamilial clades of sea catfishes
(Siluriformes: Ariidae). Ichthyol. Explor. Freshwaters 18 (2): 133 - 143.
6. Barrett BB, Merrell JL, Morrison TP, Gillespie MC, Ralph EJ, Burdon JF (1978). A study of Louisiana’s
major estuaries and adjacent offshore waters. La. Dep. Wildl. Fish. Tech. Bull. 27. 197 pp.
7. Bawazeer AS (1987). The fishery management of the stock of chim, the giant sea catfish Arius thalassinus
in Kuwait waters. Kuwait Bull. Mar. Sci,. 9: 87-100.
8. Benson NG (1982). Life history requirements of selected finfish and shellfish in Mississippi Sound and
adjacent areas. U.S. Fish and Wildlife Service, Office of Biological Services, Washington, D. C. FWS/
OBS-81/51. 97 pp.
9. Berg LS (1940). Clasification of Fishes and fish - like animals, both recent and fossil. Trudy Zool A Nauk
SSSR 5 (2): 87 - 345.
10. Biswas SP (1993). Manual of Methods in Fish Biology. 1
st
Edn., South Asian Publishers Pvt. Ltd., New
Delhi, ISBN: 1-881318-18-4, pp: 157.
11. Conand F, Camara SB, Domain F (1995). Age and growth of three species of Ariidae (Siluriformes) in
coastal waters of Guinea. Bull. Mar. Sc.,. 56 (1): 58-67.
12. Dantas DV, Barletta M, Costa MF, Barbosa-Cintra SCT, Possatto FE, Lima JAA, Saint-Paul U (2010).
Movement patterns of catfishes (Ariidae) in a tropical semi-arid estuary. Journal of Fish Biology 76: 2540
- 257.
13. Darnell RM (1961). Trophic spectrum of an estuarine community, based on studies of Lake Pontchartrain,
Louisiana. Ecology 42 (3): 553-568.
14. Dmitrenko EM (1975). Size-age composition of the giant catfish, Arius thalassinus, in the vicinity of
Kathiawas Peninsula (India). J. Ichthyol., 15: 622-629.
15. Etchevers SL (1978). Contribution to the biology of the sea catfish, Arius spixii (Pisces, Ariidae), south of
Margarita Island, Venezuela. Bull. Mar. Sci., 28 (2): 381-385.
16. Franks JS, Christmas JY, Siler WL, Combs R, Waller R, Burns C (1972). A study of nektonic and benthic
faunas o f the shallow Gulf of Mexico off the State of Mississippi as related to some physical, chemical
and geological factors. Gulf Coast Res. Lab. 1972:140 pp.
17. Gallaway BJ, Strawn K (1974). Seasonal abundance and distribution o f marine fisheries at a hot-water
discharge in Galveston Bay, Texas. Contrib. Mar. Sci. 18:71-137.
18. Gudger EW (1916) The Gaff-topsail (Felichthys felis) a sea catfish that carries its eggs in its mouth.
Zoologica II (5): 125-158.
19. Gunter G (1945). Studies on marine fishes of Texas. Publ. Inst . Mar. Sci. Univ. Tex. l (1): l - 190.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
118 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
20. Gunter G, Hall GE (1963). Biological investigation of the St. Lucie estuary (Florida) in connection with
Lake Okeechobee discharges through the St. Lucie Canal. Gulf Res. Rep. 1 (5): 189 - 307.
21. Gunter G, Hall GE (1965). A biological investigation of the Caloosahathee estuary of Florida. Gulf Res.
Rep. 2 (1): 1-71.
22. Harvey EJ (1972). Observations on the distribution of the sea catfish Arius felis larvae with and without
chorion, with respect to salinity in the Biloxi Bay - Mississippi Sound Area. Miss. Acad. Sci. 17: 77.
23. Hee NH, Sparks JS (2005). Revision of the endemic Malagasy catfish family Anchariidae (Teleostei:
Siluriformes), with descriptions of a new genus and three new species”. Ichthyol. Explor. Freshwaters 16
(4): 303 - 323.
24. Jones PW, Martin FD, Hardy JDr (1978). Development of fishes of the Mid-Atlantic Bight. An atlas of
egg, larval and juvenile stages. Volume I Acipenseridae through ictaluridae. U. S. Dep. Interior, Fish Wildl.
Serv., Biol. Serv. Prog. FWS/OBS -78/12. 366 pp.
25. Juneau CL (1975). An inventory and study o f the Vermilion Bay - Atchafalaya Bay Complex. La. Wildl.
Fish. Comm. Oysters, Water Bottoms, Seafoods Div. Tech. Bull. 13. 153 pp.
26. Kapoor BG, Bhargava SC (1967). A study on the barbels of a marine catfish, Arius thalassinus (Ruppell,
1837). Japanese Journal of Ichthyology, Vol. XIV, nos 4/6: 201 - 206.
27. Kelley JR (1965). A taxonomic survey o f the fishes o f Delta National Wildlife Refuge with emphasis upon
distribution and abundance. M.S. Thesis. Louisiana State University, Baton Rouge. 133 pp.
28. Landry AM, Strawn K (1973). Annual cycle of sportfishing activity at a warmwater discharge into Gal
veston Bay, Texas. Trans. Am. Fish. Soc. 102 (3): 573-577.
29. Lee G (1937). Oral gestation in the marine catfish, Galeichthys felis. Copeia: 49-56.
30. Mansueti AJ, Hardy JD (1967). Ariidae-sea catfish. Pages 155-157 in E.E. Deubler, Jr., ed. Development
of fishes o f the Chesapeake Bay region. Part I. Nat. Res. Inst. University of Maryland.
31. McClane AJ, editor (1965). McClane’s standard fishing ency-clopedia and international angling guide.
Holt, Rinehart and Winston, New York. 1057 pp.
32. Merriman D (1940). Morphological and embryo1 ogical studies on two species- of marine catfish, Bagre
marinus and Galeichths felis. Zoologica 25 (13): 221 - 248.
33. Nelson JS (1976). Fishes of the world. John Wiley e Sons Inc., 416 p.
34. Nelson JS (2006). Fishes of the World, John Wiley & Sons, Inc. ISBN 0471250317.
35. Perret WS, Barrett RB, Latapie WR, Pollard JF, Mock WR, Adkins GB, Gaidry WJ, White CJ (1971).
Cooperative Gulf of Mexico estuarine inventory and study, Louisiana. Phase I. Area description by Perret
WS. Phase II. Biology p. 31-69. La. Wildl. Fish. Comm. 171 pp.
36. Platania SP, Ross SW (1980). Arius felis (Linnaeus) hardhead catfish page 476 in Lee DS, Gilbert CR,
Hocutt CH, Jenkins RE, McAllister DE, Stauffer JR, Jr., eds. Atlas of North American freshwater fishes.
N.C. State Mus. Nat. Hist., Biol. Surv. Publ. No. 1980-12.
37. Ragan JG, Melancon FJ, Harris AH, Falgout RN, Gann JD, Green JH (1978). Bottomfishes of the
Continental Shelf off Louisiana. Nicholls State Univ. Prof. Pap. Ser. (Biol.) 2: 34pp.
38. Reid GK (1957). Biologic and hydrographic adjustment in a disturbed gulf coast estuary. Limnol.
Oceanogr. 2 (3): 198-212.
39. Reis EG (1986a). Reproduction and feeding habits of the marine catfish, Netuma barba (Siluriformes,
Ariidae), in the estuary of the Patos Lagoon (Brazil). Atlanatica, 8:35-55.
40. Reis EG (1986b). Age and growth of the marine catfish, Netuma barba (Siluriformes, Ariidae), in the
estuary of the Pato lagoon (Brasil). Fisheries Bulletin: Vol 84, No 3: 679 - 686.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 119
41. Rimmer MA, Merrick JR (1982). A review of reproduction and development in the forktailed catfishes
(Ariidae). Proc. Linn. Soc. N. S. W., 107 (1): 41-50.
42. Rimmer MA, Midgley SH (1985). Techniques for hatching eggs and rearing larvae of the Australian
mouthbrooding catfishes, Arius graeffei and Arius leptaspis (Ariidae). Aquaculture, Vol. 44, Issue 4:
333-337.
43. Shipp RL (1981). Summary o f knowledge of forage fish species in Mobile Bay and vicinity. Pages
167-176. in Loyacano HA, Smith JP, eds. Symposium on the natural resources of the Mobile Estuary,
Alabama. May 1979,U.S. Army Corps of Engineers, Mobile, Ala.
44. Sullivan JP, Lundberg JG, Hardman M (2006). A phylogenetic analysis of the major groups of catfish-
es (Teleostei: Siluriformes) using rag1 and rag2 nuclear gene sequences”. Mol Phylogenet Evol. 41 (3):
636 - 662.
45. Swingle HA (1971). Biology of Alabama estuarine areas - Cooperative Gul f of Mexico estuarine
inventory. Ala. Mar. Resour. Bull. 5. 123 pp.
46. Swingle HA, Bland DB (1974). A study of the fishes o f the coastal water courses of Alabama. Ala. Mar.
Resour. Bull. 10: 17- 102.
47. Tabb DC, Manning RB (1961). A checklist of the flora and fauna o f Northern Florida Bay and adjacent
brackish waters o f the Florida mainland col lected during the period July 1957 through September 1960.
Bull. Mar. Sci. Gulf and Caribb. l l (4): 552-649.
48. Tarver JW, Savoie LB (1976). An inventory and study of the Lake Pontchartrain - Lake Maurepas estuarine
complex. Phase II Biology. La. Wildl. Fish. Comm. Oysters, Water Bottoms, and Seafoods Div. Tech. Bull.
19: 7-99.
49. Velasco G, Reis EG, Vieira JP (2007). Calculating growth parameters of Genidens barbus (Siluriformes,
Ariidae): using length composition and age data. Journal of Applied Ichthyology. Vol 23, Issue 1: 64 – 69.
50. Warburton K (1978). Age and growth determination in a marine catfish using an otolith check technique.
J. Fish Biol., 13: 429-434.
51. Ward JW (1957). The reproduction and early development of the sea catfish, Galeichths felis, in the Bi1oxi
(Mississippi) Bay. Copeia 4: 295-298.
52. Wongratana T, Bathia U (1974). Ariidae. In Fischer W, Whitehead PJP (eds.) FAO species identification
sheets for fishery purposes. Eastern Indian Ocean (fishing area 57) and Western Central Pacific (Fishing
Area 71). Volume 1. FAO, Rome.
53. Yanez-Arancibia A, Lara-Dominguez AL (1988). Ecology of three sea catfishes (Ariidae) in a tropical
coastal ecosystem - Southern Gulf of Mexico. Marine ecology – Progress series, Vol. 49: 215 - 230.

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
120 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
ISOLATION AND SCREENING OF MARINE BACILLUS STRAINS AS
BIOCONTROL AGENTS AGAINST PATHOGENIC VIBRIO IN BLACK
TIGER SHRIMP IN CENTRAL VIETNAM
PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN VI KHUẨN BACILLUS BIỂN CÓ HOẠT TÍNH ĐỐI
KHÁNG VỚI VIBRIO GÂY BỆNH TRÊN TÔM SÚ Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM
Nguyen Van Duy*, Du Thi Luu
Institute of Biotechnology and Environment, Nha Trang University
*Corresponding author: Tel: 058-2461303; Fax: 058-3832075; Email: duyntu@ymail.com
SUMMARY
Microbial disease outbreaks are currently a serious problem in shrimp culture, leading to an annual
total loss of millions of USD in Vietnam. Beneficial microorganisms such as lactic acid bacteria and Bacillus
species are increasingly popular becoming to be used as probiotic biocontrol agents to fight vibriosis, a major
bacterial disease in shrimp. The aim of our research is to screen Bacillus strains from marine sources in
Central Vietnam which inhibit against pathogenic Vibrio on black tiger shrimp Panaeus monodon in local
farms. Total eighteen Bacillus and six Vibrio strains were isolated from shrimp gut content. Then Bacillus
isolates were further tested for their antagonistic activity in a well-diffusion agar against six screened Vibrio
spp. and two standard pathogenic V. parahaemolyticus strains. The results have shown that four Bacillus
isolates are confirmed as potential probiotics in the in vitro condition to control pathogenic Vibrios in marine
aquaculture. For the first time in our knowledge, marine microbial strains was screened to be further used as
probiotics against pathogenic Vibrio in aquaculture in Vietnam.
Keywords: Bacillus, marine aquaculture, Panaeus monodon, probiotics, Vibrio
Abbreviations: LB (Luria Bertani medium), TCBS (Thiosulfate Citrate Bile Sucrose agar)
TÓM TẮT
Sự bùng phát dịch bệnh do vi sinh vật gây ra hiện đang là vấn đề nghiêm trọng trong nghề nuôi tôm
biển, dẫn đến thiệt hại hàng triệu đô la Mỹ mỗi năm ở Việt Nam. Các vi sinh vật hữu ích như vi khuẩn lactic và
Bacillus ngày càng được sử dụng rộng rãi như các chủng probiotic nhằm phòng trừ dịch bệnh do phẩy khuẩn
Vibrio, một nhóm vi khuẩn gây bệnh chính ở tôm nuôi. Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm tuyển chọn các
chủng vi khuẩn Bacillus có nguồn gốc từ biển có hoạt tính đối kháng với các chủng Vibrio gây bệnh trên tôm
sú Panaeus monodon tại các trại nuôi ở khu vực miền Trung. Tổng số 18 chủng Bacillus và 6 chủng Vibrio đã
được phân lập từ ruột tôm. Sau đó sử dụng phương pháp khuếch tán trên thạch đĩa, chúng tôi đã thử nghiệm
hoạt tính đối kháng của các chủng Bacillus với 6 chủng Vibrio phân lập được và 2 chủng V. parahaemolyticus
chuẩn gây bệnh. Kết quả đã xác nhận hoạt tính đối kháng mạnh của 4 chủng Bacillus với tất cả 8 chủng này
nên chúng có thể được sử dụng như các chủng probiotic trong phòng trừ dịch bệnh do các loài Vibrio gây ra
trong nuôi trồng hải sản. Theo hiểu biết của chúng tôi, đây là công bố đầu tiên ở Việt Nam về các chủng vi sinh
vật biển có hoạt tính probiotic đối kháng với các vi khuẩn Vibrio gây bệnh.
Từ khóa: Bacillus, nuôi trồng hải sản, Panaeus monodon, probiotic, Vibrio
fHONG B/O KHO/ HOC
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 121
I. INTRODUCTION
Aquaculture is currently the fastest growing food-production sector in Vietnam and other
Asian-Pacific countries. In the Central region of Vietnam, black tiger shrimp (Panaeus monodon)
farming is a main aquaculture activity for poor coastal communities because of its high profit for
exported food production and excellent natural conditions yearound for culture. However, there is
a serious problem with microbial disease outbreaks, leading to an annual total loss of millions of
USD in shrimp culture. A major bacterial disease of shrimps is vibriosis, which is caused by Vibrio
species. Owing to the problem of antibiotic resistance and subsequent reluctance of using
antibiotics, the usage of beneficial bacteria as probiotic biocontrol agents is becoming increasingly
popular. A few species of microorganisms, such as lactic acid bacteria and Bacillus species, are
attempted as probionts against pathogenic Vibrio in shrimp.
Kozasa (1986) isolated and used Bacillus toyoi to cure European eel infected by Edwardsiella
fujianensis. It was the first application of beneficial microorganisms in aquaculture. Since then the
research and application of beneficial microbes abruptly boomed, especially in Pasific-Asian
countries, thanks to their environment-friendly feature, health promotion and economic efficiency
enhancement (Vine et al., 2004; Zhou et al., 2009). In India, Shakila et al. (2006) showed that the
microflora of P. monodon gut predominantly consisted of Vibrio sp. (30-52%) followed by Bacillus,
Pseudomonas, Photobacterium, and Plesiomonas, in which, 26.27% showed antagonistic action
against fish/shrimp pathogens. B. subtilis BT23 and B. cereus were also challenged for probiotic
activity in P. monodon against pathogenic Vibrio harveyi and Vibrio spp. (Vaseeharan et al., 2003;
Ravi et al., 2007). In Thailand, the probiont Bacillus S11 was used as a feed supplement leading
to increase 49% higher of annual shrimp yield (Rengpipat et al., 2003). In Malaysia, marine
Bacillus spp. were found to decrease millions times in viable counts of Vibrio alginolyticus VaM11 and
V. parahaemolyticus VpM1 (Banerjee et al., 2007). In Australia, B. pumilus isolated from the
mid-gut of healthy P. monodon was shown to be strongly inhibitory against the marine pathogens
V. alginolyticus, V. mimicus and V. harveyi (Hill et al., 2009).
In Vietnam, no marine Bacillus isolated from coastal regions was tested their effects on the
growth of pathogenic Vibrios in P. monodon. Even research on Bacillus species to be used as
probiotics in marine aquaculture has rarely been reported. Unique exceptions including taxonomic
analyses of marine microflora of mollusks and corals in Nha Trang Bay were found that Vibrio
spp., Bacillus spp., and Pseudomonas spp. were the most predominant (Beleneva et al., 2007).
The presence of pathogenic Vibrio species was believed to be the reason for the high death rate
of farmed animals. Therefore, Bacillus could be beneficial microbes to compete and inhibit these
pathogens in microecology of the gut of marine animals including shrimps.
Some imported commercial probiotics are currently available in Vietnam but all of them are
either very expensive for farmers or unsuitable for local cultured conditions. The aim of our research
is to screen Bacillus strains from marine sources in Central Vietnam which inhibit against pathogenic
Vibrios on black tiger shrimp P. monodon in local farms. For the first time in our knowledge, marine
microbial strains was screened for further using as probiotics in marine aquaculture in Vietnam.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
122 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
II. MATERIALS AND METHODS
1. Shrimp sampling
Diseased and healthy black tiger shrimps (P. monodon) were collected in three samples (M1,
M2, M3) from Nha Trang Bay, Khanh Hoa province in January and February 2010 for Bacillus and
Vibrio isolation (Fig. 1).
2. Isolation of beneficial Bacillus
Potential Bacillus strains were isolated from shrimp gut content using a heat-resistant spore
method (Balcázar, Rojas-Luna, 2007). Gut content samples (1 g suspended into 3 g of 0.9% m/v
NaCl solution) were added into a presterilized McCartney bottle containing nutrient broth (9 ml)
and incubated for 24 h at 30°C followed by incubation at 45°C for 10 min in a convection oven to
activate the sporulation process. The bottles were added with 50% (v/v) ethanol to a total volume of
20 ml, mixed and then incubated at 20°C for 1h. The mixtures were be centrifuged at 10 000 g, the
supernatants decanted and the resultant pellets incubated at 105°C in a convection oven for 5 min.
The dry pellets were reconstituted into 20 ml of sterile physiological saline and serially diluted to
10
-4
- 10
-1
increments. Thereafter, aliquot of 0.1 ml of each serial dilution were spread onto nutrient
agar plates supplemented with polymyxin B (10 mg/l, Merck, Germany). The plates were incubated
for 24 h at 30°C.
Single colonies isolated from these plates were purified and subjected to Gram staining, and an
assessment of catalase activity. Isolates were grown in the LB medium containing 0.8% m/v yeast
extract, 0.005% m/v MnSO4, 0.01% m/v CaCl2 and 0.03% m/v MgSO4.7H2O. All cultures were
stored in 30% glycerol at -80°C.
3. Isolation and indentification of pathogenic Vibrio
Vibrio strains were isolated from the intestine of tiger shrimps by performing in alkaline peptone
medium (10 g/l, pH 7.8) at 37°C, then transfered to the selective medium TCBS (Hi-media, India).
Oxidase positive strains were selected based on morphological and colonial characteristics,
biochemical capabilities, salinity and temperature tolerance. Vibrio species were determined
according to Bergey’s Manual of Determinative Bacteriology (Garrity et al., 2004). All cultures
was stored in 20% glycerol at -80°C and further used as target organisms for next steps. Target
bacteria chosen include of all isolated Vibrio strains and two standard pathogenic isolates Vibrio
parahaemolyticus C1 and C2 from the strain collection of our research group (Nguyen Van Duy,
Pham Thu Thuy, 2011).
4. In vitro tests
The Bacillus isolates were further tested for their reproducible antagonistic activity in a
well-diffusion agar against Vibrio strains (target pathogens). Bacillus strains were cultured overnight
on the LB liquid medium, shaking at 200 rpm at room temperature, whereas Vibrio isolates were
grown on the APW medium containing alkaline peptone of 10 g/l at pH 7.8, shaking at 150 rpm at
room temperature. In vitro tests were started at the middle stage of exponential growth of bacteria,
that is, the value OD
540
of 0.8 - 1.0 (10
5
CFU/ml) for Bacillus, and about 0.4 - 0.6 (10
4
CFU/ml) for
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 123
Vibrio. Each 0.1 ml of Vibrio culture was equally spread onto the Petri plates containing 10 ml LB
medium, followed by the generation of wells with a diameter (d) of 5 mm. Wells were then filled with
50 µl of live suspension of Bacillus culture. After an incubation at room temperature for 24 h, the
diameter of clearance zones (D) was measured (Ravi et al., 2007). These experiments were
replicated three times. The antagonistic activity is determined by a diameter of inhibition zone.
5. Characterization of screened Bacillus strains
Screened Bacillus isolates were further cultured using standard microbiological methods to
define morphological characteristics and relationship between growth and antagonistic activity.
III. RESULTS
1. Isolation of Bacillus and Vibrio from P. monodon
Fig 1. Black tiger shrimps (P. monodon) sampled for Bacillus and Vibrio isolation
Three samples (M1, M2, M3) of black tiger shrimps collected from Nha Trang Bay were prepared
for Bacillus and Vibrio isolation (Fig 1). Bacillus strains were isolated by incubating shrimp intestine
at 80 - 85
o
C for 15 mins in order to kill cells, followed by the activation of heat-tolerant spores on
the LB medium at 37
o
C. In parallel, Vibrio strains were also isolated on the selective TCBS medium.
The results from Table 1 have shown that 18 Bacillus and 6 Vibrio strains in total were collected and
purified.
Table 1. The number of Bacillus and Vibrio strains isolated from shrimp samples
Shrimp samples Bacillus spp. Vibrio spp.
M1 4 2
M2 8 2
M3 6 2
Total 18 6
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
124 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
2. The primary screening of Bacillus strains agaisnt two Vibrio strains
In the first step of screening, we investigated the antagonistic activity of all 18 isolated Bacillus
strains against two Vibrio strains V 3.1 and V 3.3. The antagonistic activity of Bacillus strains is
determined by the difference between D and d as shown in Table 2. Results from Table 2 have
indicated that there are 10 Bacillus strains (55.56%) with strong antagonistic activity against Vibrio
spp. V3.1 and V3.3. The strain B3.8 was observed to display the maximum antagonistic activity
against these Vibrio strains.
Table 2. The antagonistic activity of 10 Bacillus isolates against Vibrio spp. V 3.1 and V 3.3
Inhibition diameter D – d (mm)
Vibrio sp. V 3.1 Vibrio sp. V 3.3
Bacillus sp. B 1.1 15 ± 0.33 17 ± 0.13
Bacillus sp. B 1.2 11 ± 0.67 13.5 ± 0.67
Bacillus sp. B 1.3 14.5 ± 0.33 16 ± 0.27
Bacillus sp. B 2.1 12.5 ± 0.17 10 ± 0.50
Bacillus sp. B 2.2 13.5 ± 0.23 15 ± 0.67
Bacillus sp. B 2.3 11 ± 0.63 10 ± 0.33
Bacillus sp. B 3.7 14 ± 0.13 18 ± 0.50
Bacillus sp. B 3.8 16 ± 0.33 20 ± 0.33
Bacillus sp. B 3.9 17.5 ± 0.50 10 ± 0.25
Bacillus sp. B 3.10 15 ± 0.50 19 ± 0.67
3. The second screening of Bacillus strains agaisnt all six isolated Vibrio strains and two
standard pathogens
After the first step of screening, 10 Bacillus strains were further tested for antagonistic activity
against all six Vibrio strains isolated from P. monodon and two standard pathogenic isolates
Vibrio parahaemolyticus C1 and C2 from the strain collection of our research group. The results from
Table 3 have indicated that 4/10 strains (40%) including B1.1, B2.2, B3.7 and B3.10 could inhibit the
growth of all eight Vibrio spp. Their antagonistic activity against Vibrio sp. V3.3 was illustrated in Fig
2. The strain B 3.10 displayed the maximum antagonistic activity against eight Vibrio strains with the
average inhibitory diameter of 18.3 mm. Although the strain Bacillus sp. B 3.8 displayed the
maximum antagonistic activity against two strains V 3.1 and V 3.3 in the primary screening, their
activity were not observed against two other strains V 2.1 and V 2.4. It is probably that the growth
inhibition of Bacillus against Vibrio strongly depends on strain characteristics. Therefore, four
screened strains of Bacillus would further be tested for their biological characterization.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 125
Table 3. The antagonistic activity of four Bacillus isolates against six isolated Vibrio strains
and two standard pathogens V. parahaemolyticus C1/C2
Inhibition diameter D – d (mm)
V 2.1 V 1.1 V 1.3 V 2.4 V 3.1 V 3.3 C1 C2
B 1.1 13 ± 0.67 16.5 ± 0.13 19 ± 0.67 17 ± 0.22 15 ± 0.50 16 ± 0.50 17 ± 0.25 16.5 ± 0.56
B 2.2 15 ± 0.33 13.5 ± 0.50 16.5 ± 0.33 16 ± 0.50 15.5 ± 0.20 14.5 ± 0.33 16 ± 0.33 15.5 ± 0.50
B 3.10 19 ± 0.25 16.5 ± 0.25 22 ± 0.50 14 ± 0.33 16.5 ± 0.15 21.5 ± 0.56 16 ± 0.67 21 ± 0.33
B 3.7 13.5 ± 0.50 8.5 ± 0.67 12 ± 0.50 11 ± 0.33 13 ± 0.50 22.5 ± 0.67 14 ± 0.13 20.5 ± 0.17
Fig 2. Growth inhibition zone of Bacillus isolates against Vibrio sp. V3.3. (A): Bacillus spp. B1.1, B2.2, B3.7, B3.10,
B3.10 and control (ĐC). (B): Bacillus sp. B 3.10. (C): Bacillus sp. B 3.7.
4. Biological characterization of four screened Bacillus strains
4.1.Growth and antagonistic activity
Four Bacillus strains B1.1, B2.2, B3.7 and B3.10 were cultured on LB medium, shaking at 200
rpm at 30
o
C. Growth and antagonistic activity against Vibrio V 1.3 were measured based on an
optical density at 540 nm (OD
540
) and a diameter of inhibition zone (mm), respectively. Results
from Fig. 3 have shown that the strain B 3.7 displayed the strongest growth compared to three
other strains but its antagonistic activity decreased from 6 to 30 h after incubation. In contrast, the
antagonistic activity of B1.1, B2.2 and B 3.10 increased up to the maximum at 24 h after incubation,
when the growth of bacterial population went to the late log phase.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
126 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Fig 3. Growth (¾) and antagonistic activity (- - -) against Vibrio sp. V 1.3 of four Bacillus strains B1.1 (-u-), B 2.2
(-ð-), B 3.7 (-O-) and B 3.10 (-X-)
4.2.Cultural and morphological characteristics
Colonies of four Bacillus strains B1.1, B2.2, B3.7 and B3.10 well grown on LB agar displayed
a high diversity in shape, color and size (Fig 4, left). Cells were then prepared for Gram staining
and observed under a microscope (Fig 4, right). The results showed that all strains are positive
Gram with rod-shaped cells typical for Bacillus genus (Table 4). Further biochemical and molecular
characterization should be defined for species identification.
Fig 4. Image of colonies (left) and Gram-stained cells (right) of Bacillus sp. B 3.7
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 127
Table 4. Morphological characteristics of four Bacillus strains B 1.1, B 2.2, B 3.7 and B 3.10
after 48h cultured on LB medium
Colony Cell
Color Shape Diameter (mm) Gram staining Shape
Bacillus sp. B 1.1 Slight brown Round, not smooth 3 - 4 Positive Rod
Bacillus sp. B 2.2 Brown-blue
Nearly round, bright
zone around
5 - 6 Positive Rod
Bacillus sp. B 3.7 Milk white Round, smooth 2 - 3 Positive Rod
Bacillus sp. B 3.10 Blue-grey
Bright zone around
a rough edge
4 - 5 positive Rod
IV. DISCUSSION
Probiotics are usually live microorganisms which when administered in adequate amounts
confer a health benefits on host. They are also becoming an integral part of the aquaculture practices
to obtain high production. The common probiotics that are used for aquaculture practices include
Lactobacillus, Lactococcus, Leuconostoc, Enterococcus, Carnobacterium, Shewanella, Bacillus,
Aeromonas, Vibrio, Enterobacter, Pseudomonas, Clostridium, and Saccharomyces species. The
involvement of probiotics in nutrition, disease resistance and other beneficial activities in farmed
animals has proven beyond any doubt (Nayak, 2010).
Bacillus species are endospore-forming Gram-positive bacteria with the advantage of an
excellent candidate as probiotics in aquaculture. Previous reports have shown that they can
increase shrimp yield, are environment-friendly and convenient for industry production. Firstly, they
protect their host shrimp from pathogens by producing metabolites to inhibit the colonization/ growth
of other microbes or by competing with them for nutrients or space. Besides, most of them are not
harmful to humans and producers of a high and diverse amount of secondary metabolites (antibiotics,
enzymes). Finally, Bacillus species can grow efficiently with very low-cost carbon and nitrogen
sources, and form endospores, thereby making culture and longterm storage cheaper and easier
(Zhou et al., 2009).
In the present study, four Bacillus isolates are screened, which confirms their potential as
probiotics in the in vitro condition to control pathogenic Vibrios in marine aquaculture. The
antagonistic activity of Bacillus isolates were observed to display a inhibition diameter of
10 - 23 mm against eight different Vibrio strains including two standard pathogens V. parahaemolyticus.
Similarly, Balcázar and Rojas-Luna (2007) isolated B. subtilis UTM 126, which exhibited inhibitory
activity against three strains of V. harveyi, V. alginolyticus and V. parahaemolyticus isolated from
diseased shrimp with the inhibitory zones about 10-15 mm in diameter. Moreover, the probiotic
effect of B. subtilis was tested by feeding juvenile shrimp (Litopenaeus vannamei) food
supplemented with B. subtilis (10
5
CFU/g) for 28 days before an immersion challenge with V. harveyi
at 10
5
CFU/ mL for 24h. The treatment with B. subtilis UTM 126 decreased final mortality to 18.25%,
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
128 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
compared with 51.75% in the control group. Therefore, Bacillus subtilis UTM 126 has potential
applications for controlling pathogenic V. harveyi in shrimp aquaculture (Balcázar, Rojas-Luna, 2007).
Other current results have clearly indicated the synergistic positive effect of Bacillus spp. on
pathogen inhibition and water quality in vitro and in vivo (Lalloo et al., 2007). Therefore, four selected
Bacillus isolates in present research should be further evaluated by in vivo trials. Besides, the mode
of action regarding pathogen inhibition should be defined and removal of waste ions should be
tested, prior to progress towards commercial probiotic products.
V. CONCLUSION
In our research 18 Bacillus and 6 Vibrio strains in total were isolated from the intestine of black
tiger shrimp P. monodon. The antagonistic activity of four Bacillus isolates were observed to display
a inhibition diameter of 10-23 mm against six screened Vibrio spp. and two standard pathogenic
V. parahaemolyticus strains. It is probably that they could be used as potential probiotics to control
pathogenic Vibrios in marine aquaculture in Vietnam.
REFERENCES
1. Nguyen Van Duy, Pham Thu Thuy (2011), Detection of pathogenic Vibrio parahaemolyticus through toxin
gene-based PCR and sequence analysis in seafood in Nha Trang, Vietnam. VAST Journal of Science and
Technology. (accepted)
2. Balcázar JL, Rojas-Luna T (2007), Inhibitory activity of probiotic Bacillus subtilis UTM 126 against
Vibrio species confers protection against vibriosis in juvenile shrimp (Litopenaeus vannamei). Curr
Microbiol, 55(5):409-12.
3. Banerjee S, Devaraja TN, Shariff M, Yusoff FM (2007), Comparison of four antibiotics with indigenous
marine Bacillus spp. in controlling pathogenic bacteria from shrimp and Artemia. J Fish Dis, 30(7): 383-9.
4. Beleneva IA, Zhukova NV, Le LH, Nguyen TDH (2007), Taxonomic composition of bacteria associated
with cultivated mollusks Crassostrea lugubris and Perna viridis and with the water of the Gulf of Nha
Trang Lagoon, Vietnam. Mikrobiologiia, 76(2): 253-62.
5. Garrity G, Bell J, Lilburn T (2004), Taxonomic Outline of the Prokaryotes Bergey’s Manual of Systematic
Bacteriology, 2nd ed. Springer, New York.
6. Hill JE, Baiano JC, Barnes AC (2009), Isolation of a novel strain of Bacillus pumilus from penaeid shrimp
that is inhibitory against marine pathogens. J Fish Dis, 32(12):1007-16.
7. Kozasa, M (1986), Toyocerin (Bacillus toyoi) as growth promotor for animal feeding. Microbiol Aliment
Nutr, 4: 121-135.
8. Lalloo R, Ramchuran S, Ramduth D, Görgens J, Gardiner N (2007), Isolation and selection of Bacillus
spp. as potential biological agents for enhancement of water quality in culture of ornamental fish. J Appl
Microbiol, 103(5):1471-9.
9. Nayak SK (2010), Probiotics and immunity: a fish perspective. Fish Shellfish Immunol, 29(1):2-14.
10. Ravi AV, Musthafa KS, Jegathammbal G, Kathiresan K and Pandian SK (2007), Screening and evaluation
of probiotics as a biocontrol agent against pathogenic Vibrios in marine aquaculture. Lett Appl Microbiol,
45: 219–223.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 129
11. Rengpipat S, Tunyanun A, Fast AW, Piyatiratitivorakul S, Menasveta P (2003), Enhanced growth and
resistance to Vibrio challenge in pond-reared black tiger shrimp Penaeus monodon fed a Bacillus probiotic.
Dis Aquat Organ, 55(2):169-73.
12. Shakila RJ, Saravanakumar R, Vyla SAP, Jeyasekaran G and Jasmine GI (2006), Antagonistic Activity
of the Gut Microflora Isolated from Farmed Tiger Shrimp (Penaeus monodon). Asian Fish Science,
19:247-255.
13. Vaseeharan B, Ramasamy P (2003), Control of pathogenic Vibrio spp. by Bacillus subtilis BT23, a possible
probiotic treatment for black tiger shrimp Penaeus monodon. Lett Appl Microbiol, 36: 83–87.
14. Vine NG, Leukes WD, Kaiser H, Daya S, Baxter J & Hecht T (2004), Competition for attachment of
aquaculture candidate probiotic and pathogenic bacteria on fish intestinal mucus. J Fish Dis, 27: 319–326.
15. Zhou Q, Li K, Jun X, Bo L (2009), Role and functions of beneficial microorganisms in sustainable
aquaculture. Bioresource Technol, 100: 3780–3786.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
130 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
ẢNH HƯỞNG CỦA TINH BỘT BIẾN TÍNH ĐẾN CHẤT LƯỢNG
CỦA SURIMI CÁ HỐ BẢO QUẢN ĐÔNG
THE EFFECT OF MODIFIED STARCH ON THE QUALITY OF HAIRTAIL
(TRICHIURUS HAUMENLA) SURIMI DURING FROZEN STORAGE

Thái Văn Đức, Nguyễn Văn Minh
Khoa Chế biến - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Kết quả nghiên cứu bổ sung tinh bột biến tính với tỷ lệ 3.6%, 3.8%, 4.0%, 4.2% và 4.4% vào surimi cá
Hố và bảo quản đông ở nhiệt độ -18
o
C cho thấy khi sử dụng tinh bột biến tính làm chất đồng tạo gel với tỷ lệ
bổ sung 4.2% thì chất lượng surimi cá Hố bảo quản đông được cải thiện đáng kể về chất lượng cảm quan, tính
chất lưu biến và giảm sự thoát dịch ra khỏi surimi khi rã đông.
ABSTRACT
The effect of different starch concentrations of 3.6%, 3.8%, 4.0%, 4.2% and 4.4% on the quality of
hairtail (Trichiurus haumela) surimi after processing and during frozen storage at -18
o
C for 50 days was
investigated. The results indicate that starch significantly improved the quality of surimi after processing,
resulting in better rheological properties and sensory attributes of surimi. During storage period, the
quality of surimi decreased, however the added starch samples remained higher general sensory scores
and share stress values, and lower drip loss values than those of the non-added starch samples (controlled
samples). From our findings, it can be concluded that the optimal starch concentration used in hairtail surimi
processing was 4.2%.
fHONG B/O KHO/ HOC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong công nghệ sản xuất surimi trong đó
có surimi cá Hố thì vấn đề sử dụng tinh bột làm
chất đồng tạo gel được nhiều nhà nghiên cứu
về surimi trên thế giới và nước ta quan tâm.
Có nhiều loại tinh bột có nguồn gốc khác nhau
như tinh bột mì, tinh bột sắn, tinh bột khoai tây,
tinh bột nếp [3], tinh bột biến tính v.v... Nhưng
loại tinh bột nào phù hợp cho quá trình sản
xuất surimi, đảm bảo chất lượng surimi nhất là
surimi cá Hố có chất lượng vẫn là vấn đề chưa
có câu trả lời và cần phải nghiên cứu. Trên
cơ sở đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Ảnh
hưởng của tinh bột biến tính đến chất lượng
của surimi cá Hố bảo quản đông” với mục đích
đánh giá khả năng sử dụng tinh bột biến tính
(tinh bột phosphate) [5] trong sản xuất surimi
cá Hố.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 131
II. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1. Nguyên vật liệu
1.1. Nguyên liệu cá Hố
Cá Hố (Trichiurus haumenla) tươi thu mua
tại chợ cá Vĩnh Trường - Nha Trang; chọn cá Hố
tươi có kích cỡ đồng đều với trọng lượng trung
bình 1kg/con và đạt tiêu chuẩn cá tươi (TCVN
3250 - 88). Cá Hố sau khi thu mua, rửa sạch
ướp đá, vận chuyển về phòng thí nghiệm để
dùng ngay cho quá trình nghiên cứu.
1.2. Một số phụ gia sử dụng trong nghiên cứu
- Gelatin: gelatin thực phẩm, đạt tiêu chuẩn
dùng trong công nghệ thực phẩm do công ty
TNHH Hoàng Anh cung cấp.
- Sorbitol: sử dụng sorbitol lỏng, tinh khiết
đạt tiêu chuẩn dược phẩm do công ty TNHH
Hoàng Anh cung cấp.
- Tinh bột phosphate (được gọi là tinh bột
biến tính dòng phosphate) là tinh bột biến tính
có gắn gốc phosphate do Nhật Bản sản xuất và
công ty TNHH Hoàng Anh - TP. HCM nhập khẩu
và phân phối. Tinh bột biến tính hiện được dùng
làm phụ gia thực phẩm để tăng khả năng nhũ
hóa, tính ổn định, tạo độ dai, đàn hồi… trong các
loại giò chả, chả cá, mì sợi, xúc xích…
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Phương pháp phân tích
• Xác định hàm lượng nước bằng phương
pháp sấy khô (TCVN 3700 - 90).
• Xác định hàm lượng protein bằng phương
pháp Kjeldahl (TCVN 3705 - 90).
• Xác định hàm lượng lipid bằng phương
pháp Soxlet (theo TCVN 3703 - 90).
• Xác định hàm lượng tro theo tiêu chuẩn
TCVN 5105 - 90.
• Xác định độ pH bằng giấy đo pH.
• Đánh giá chất lượng cảm quan surimi theo
28 - TCN 119:1998 [2].
• Xác định độ đàn hồi bằng phương pháp
thử uốn gấp (28 TCVN 119: 1998)
2.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Nguyên liệu cá Hố sau khi filê, loại bỏ phần
không ăn được như đầu, đuôi, vây, vảy, nội
tạng, mang cá, da, xương, gân, tách lấy phần
thịt cá và rửa thịt cá bằng nước lạnh ở nhiệt độ
£4
0
C. Sau đó nghiền sơ bộ thịt cá và rửa thịt cá
3 lần như sau: lần 1 bằng dung dịch nước muối
ăn 5%, thời gian rửa 10 phút, tỷ lệ nước rửa
so với thịt cá (v/w) là 4/1; lần 2 bằng dung dịch
axit axetic 0.03% , tỷ lệ v/w là 4/1, thời gian rửa
10 phút; lần 3 bằng nước lạnh ở nhiệt độ £4
0
C,
thời gian rửa 10 phút, tỷ lệ v/w là 4/1. Trong quá
trình rửa phải khuấy đảo đều. Sau khi rửa thịt
cá được ép tách nước qua khuôn đến độ ẩm
76 - 78% (lực ép 0,21 kG/cm
2
, thời gian ép 10
phút). Sau đó bổ sung tinh bột biến tính với tỷ lệ
khác nhau: 0.0% (mẫu đối chứng), 3.6%, 3.8%,
4%, 4.2% và 4.4%; Còn các phụ gia khác cố định
như sau: sorbitol 6%, gelatin 0.3%. Nghiền trộn
trong 7 phút, định hình và ổn định trong 2 giờ ở
nhiệt độ phòng. Sau đó surimi được bảo quản
đông ở nhiệt độ -18
0
C, sau các khoảng thời gian
10, 20, 30, 40 và 50 ngày lấy mẫu kiểm tra chất
lượng surimi qua các chỉ tiêu: độ bền đông kết,
cảm quan, hàm lượng nước thất thoát sau rã
đông (Hình 1).
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
132 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Hình 1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của tinh bột biến tính đến chất lượng surimi cá Hố
trong bảo quản đông
Nguyên liệu cá Hố
Tiếp nhận
Xử lý - tách thịt
Nghiền sơ bộ
Rửa bằng dung dịch muối ăn
Rửa bằng dung dich axit acetic
Rửa bằng nước lạnh
Ép tách nước
Gelatin
Tinh bột biến tính
Phối trộn
Sorbitol
Nghiền giã
Đánh giá chất lượng
Bảo quản đông
Định hình
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 133
2.3.Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thực nghiệm được xử lý bằng phần mềm Unscrambler phiên bản 9.1 (Công ty Camo,
Nauy) và phần mềm SPSS-16. Khác biệt có ý nghĩa tại giá trị p < 0.05. Vẽ đồ thị bằng phần mềm
Microsoft Office Excel 2007.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Ảnh hưởng của tỷ lệ tinh bột biến tính đến độ bền đông kết của surimi cá Hố bảo quản đông
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tinh bột biến tính đến độ bền đông kết của surimi cá Hố bảo
quản đông được thể hiện trên hình 2 (mẫu đối chứng: 0%).

Hình 2. Ảnh hưởng của tỷ lệ tinh bột biến tính đến sự biến đổi độ bền đông kết của surimi cá Hố bảo quản đông
Kết quả nghiên cứu ở hình 2 cho thấy độ
bền đông kết của tất cả các mẫu surimi bảo
quản đông đều giảm đáng kể theo thời gian bảo
quản (p<0.05). Mức độ giảm độ bền đông kết
của các mẫu surimi có bổ sung tinh bột biến tính
với nồng độ khác nhau không có sự khác biệt
đáng kể (p>0.05). Nhưng có sự khác biệt đáng
kể về mức độ giảm độ bền đông kết giữa các
mẫu có bổ sung tinh bột biến tính so với mẫu
đối chứng (p<0.05). Ở cùng một thời gian bảo
quản mẫu surimi bảo quản đông không bổ sung
tinh bột (mẫu đối chứng) có mức độ giảm độ bền
đông kết nhiều hơn so với các mẫu surimi có bổ
sung tinh bột biến tính. Sau 45 ngày bảo quản
độ giảm độ bền đông của mẫu đối chứng giảm
tới 90.18%, trong khi đó các mẫu surimi bảo
quản đông có bổ sung tinh bột biến tính với tỉ lệ
từ 3,6% ÷ 4,2% có độ bền đông kết giảm chậm
hơn và nằm trong khoảng 63.34% ÷ 81.34%. Kết
quả này có thể lý giải là do trong cấu trúc của
tinh bột biến tính có chứa nhiều nhóm hydroxyl
đặc biệt là các gốc phosphat tích điện. Chính
các gốc phosphat là chất có thể tham gia tạo cầu
nối đôi với các mạch bên tích điện dương của
axit amin nằm trong cấu trúc protein của surimi
nên khi có mặt của các gốc này cấu trúc gel của
surimi hình thành tốt hơn. Mặt khác các nhóm
hydroxyl và gốc phosphat còn có khả năng liên
kết tốt với các phân tử nước có tính phân cực
nên làm hạn chế sự bốc thoát nước ra khỏi
surimi khi bảo quản đông [5]. Vì thế surimi có
bổ sung tinh bột biến tích có độ bền đông kết
tốt hơn và ít bị giảm độ bền đông kết hơn so với
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
134 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
mẫu đối chứng. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mẫu surimi bảo quản đông với tỷ lệ bổ sung tinh
bột 4.2% có độ bền đông kết tốt hơn cả và mức độ giảm độ bền đông kết của mẫu surimi này khi bảo
quản đông thấp nhất. Chứng tỏ tỷ lệ bổ sung tinh bột biến tính vào surimi cá Hố 4.2% là phù hợp.
2. Ảnh hưởng của tỉ lệ tinh bột biến tính đến chất lượng cảm quan của surimi cá Hố bảo quản
đông
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tinh bột biến tính đến chất lượng cảm quan của surimi cá
Hố bảo quản đông được thể hiện trên hình 3 (mẫu đối chứng: 0%).
Hình 3. Ảnh hưởng của tỉ lệ tinh bột biến tính đến tổng điểm cảm quan của surimi cá Hố bảo quản đông
Kết quả nghiên cứu ở hình 3 cho thấy cũng
tương tự như sự biến đổi của độ bền đông kết,
tổng điểm cảm quan của các mẫu surimi cá Hố
có bổ sung tinh bột biến tính và mẫu đối chứng
đều giảm theo thời gian bảo quản đông. Nhưng,
mức độ giảm tổng điểm cảm quan của mẫu đối
chứng nhanh hơn đáng kể so với mẫu surimi
có bổ sung tinh bột biến tính (p<0,05). Nguyên
nhân là do khi bổ sung tinh bột biến tính, các
nhóm hydroxyl trong tinh bột biến tính sẽ tham
gia vào các liên hydro, còn các gốc phosphat
sẽ tạo thành các cầu nối ion góp phần làm bền
vững cấu trúc của gel surimi. Hơn nữa các nhóm
hydroxyl và gốc phosphat còn có khả năng liên
kết tốt với nước nên làm hạn chế hiện tượng
thăng hoa của nước khi bảo quản đông và hạn
chế sự mất nước khi rã đông.
Kết quả nghiên cứu còn cho thấy mẫu
surimi bổ sung tinh bột biến tính với nồng độ
4.2% có chất lượng cảm quan giảm ít nhất khi
bảo quản đông.
3. Ảnh hưởng của tinh bột biến tính đến sự
hao hụt khối lượng của surimi cá Hố bảo
quản đông
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tinh bột
biến tính đến sự hao hụt khối lượng của surimi
cá Hố bảo quản đông được thể hiện trên hình 4
(mẫu đối chứng: 0%).
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 135
Hình 4. Ảnh hưởng của tinh bột biến tính đến mức độ hao hụt khối lượng của surimi cá Hố bảo quản đông
Kết quả nghiên cứu ở hình 4 cho thấy cũng
tương tự như sự biến đổi của độ bền đông kết
và tổng điểm cảm quan, các mẫu surimi cá Hố
có bổ sung tinh bột biến tính và mẫu đối chứng
đều có mức độ hao hụt khối lượng tăng theo
thời gian bảo quản đông. Nhưng mức độ hao
hụt khối lượng của mẫu đối chứng lớn hơn đáng
kể so với các mẫu có bổ sung tinh bột biến tính
(p<0.05) và không có sự khác biệt đáng kể về
mức độ hao hụt khối lượng giữa các mẫu surimi
bổ sung tinh bột với tỷ lệ khác nhau (p>0.05). Cụ
thể sau 50 ngày bảo quản đông, mẫu đối chứng
(không bổ sung tinh bột biến tính) có mức hao
hụt khối lượng là 5.08%, trong khi đó bổ sung
3.6% tinh bột biến tính chỉ có mức hao hụt khối
lượng là 2.38%, mẫu bổ sung 4.2% tinh bột biến
tính hao hụt khối lượng chỉ là 1.77%. Nguyên
nhân này có thể lý giải là do các nhóm hydroxyl
đặc biệt là các gốc phosphat tích điện có trong
tinh bột biến tính có khả năng liên kết với nước
và với protein, nên làm hạn chế sự mất nước
của surimi [5], [6]. Vì vậy, khi càng tăng tỷ lệ phối
trộn tinh bột biến tính vào surimi thì mức độ hao
hụt khối lượng của surimi cá Hố bảo quản đông
càng giảm đáng kể.
4. Ảnh hưởng của tinh bột biến tính đến
lượng dịch thoát ra sau tan giá surimi cá Hố
bảo quản đông
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tinh
bột biến tính đến lượng dịch thoát ra sau tan giá
surimi cá Hố bảo quản đông được thể hiện trên
hình 5 (mẫu đối chứng: 0%).
Hình 5. Ảnh hưởng của tinh bột biến tính đến lượng dịch thoát ra sau tan giá của surimi cá Hố bảo quản đông
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
136 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Kết quả nghiên cứu ở hình 5 cho thấy cũng
tương tự như sự biến đổi của độ bền đông kết,
tổng điểm cảm quan và mức độ hao hụt khối
lượng, các mẫu surimi bổ sung tinh bột biến
tính đều có lượng dịch thoát ra ít hơn thể hiện
mức độ hao khối lượng sau rã đông thấp hơn so
với mẫu đối chứng. Các mẫu bổ sung tinh bột
biến tính với tỷ lệ cao hơn có mức độ hao khối
lượng sau rã đông thấp hơn. Kết quả này chỉ có
thể lý giải là do các nhóm hydroxyl và các gốc
phosphat tích điện có trong tinh bột biến tính có
khả năng liên kết với nước và với protein, nên
làm bền cấu trúc của khối gel surimi và hạn chế
sự thoát nước ra khỏi surimi [7], [8]. Do vậy khi
rã đông các mẫu surimi có bổ sung tinh bột biến
tính với tỷ lệ cao hơn sẽ có lượng dịch thoát và
khối lượng hao hụt ít hơn. Cụ thể, sau 50 ngày
bảo quản đông mẫu đối chứng có lượng dịch
thoát ra cao nhất tới 4.41% trong khi đó mẫu bổ
sung 3.6% tinh bột biến tính có lượng dịch thoát
ra là 2.83%, mẫu bổ sung 4.2% tinh bột biến tính
thì lượng dịch thoát ra chỉ là 1.85%.
5. Đánh giá tổng hợp sự biến đổi các chỉ tiêu
chất lượng của surimi theo thời gian bảo
quản (xử lý số liệu đa biến)
Nhằm đánh giá một cách đầy đủ sự biến đổi
các chỉ tiêu chất lượng của surimi theo thời gian
bảo quản, chúng tôi tiến hành xử lý số liệu bằng
phần mềm Unscrambler phiên bản 9.1 sử dụng
phương pháp xử lý PCA (Principal Component
Analysis). Kết quả được thể hiện trên hình 6 và
hình 7.
Hình 6. Kết quả nhóm các nồng độ tinh bột biến tính bổ sung
Hình 7. Kết quả nghiên cứu sự tương quan giữa các chỉ tiêu chất lượng theo thời gian bảo quản
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 137
HSTH: Hiệu suất thu hồi sau khi gia nhiệt;
CQ: Cảm quan; DBDK: Độ bền đông kết;
DTSTG: Dịch thoát sau tan giá; HHKL: Hao hụt
khối lượng.
Kết quả phân tích đa biến từ hình 6 và 7
cho thấy việc nhóm các chỉ tiêu chất lượng của
surimi theo thời gian bảo quản được thể hiện
rất rõ thành 2 nhóm. Nhóm phía bên trái gồm
các chỉ tiêu hao hụt khối lượng (HHKL) và lượng
dịch thoát sau tan giá (DTSTG), hai chỉ tiêu
này có tương quan với nhau và đặc trưng cho
surimi trong thời gian đầu của quá trình bảo
quản. Nhóm phía bên phải bao gồm các chỉ tiêu
hiệu suất thu hồi sau gia nhiệt (HSTH), điểm
cảm quan chung (CQ), độ trắng (DT) và độ bền
đông kết (DBDK). Các chỉ tiêu này có tương
quan với nhau và đặc trưng cho sự thay đổi chất
lượng của surimi theo thời gian bảo quản. Kết
quả phân tích đa biến này thể hiện các chỉ tiêu
chất lượng này của surimi giảm dần theo theo
thời gian bảo quản.
IV. KẾT LUẬN
Từ kết quả nghiên cứu ở trên cho phép rút
ra một số kết luận sau:
- Tất cả các mẫu surimi bảo quản đông có
bổ sung tinh bột biến tính đều có mức độ giảm
độ bền đông kết, mức độ giảm tổng điểm cảm
quan và mức độ hao hụt khối lượng thấp hơn
các mẫu đối chứng không bổ sung tinh bột biến
tính.
- Đã xác định được tỷ lệ phối trộn tinh bột
biến tính thích hợp cho sản xuất surimi cá Hố
là 4,2%.
Kết quả nghiên cứu này gợi mở khả năng
sử dụng tinh bột biến tính để cải thiện chất
lượng surimi cá Hố trong quá trình bảo quản
đông. Chúng tôi đề nghị tiếp tục thử nghiệm sử
dụng tinh bột biến tính trong sản xuất surimi từ
các đối tượng nguyên liệu khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Đức Ba, Nguyễn Văn Tài (2004), Công nghệ lạnh Thủy sản, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
2. Bộ Thủy Sản, 28TCN119:1998.
3. Thái Văn Đức (2004), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất đồng tạo gel đến chất lượng Surimi cá mối
trong bảo quản đông và thử nghiệm sản xuất sản phẩm mô phỏng, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật, Trường Đại
học Nha Trang.
4. Trần Thị Luyến (1996), Cơ sở kỹ thuật và nguyên lý chế biến sản phẩm thủy sản có giá trị gia tăng
(tập I), Trường Đại học Thủy sản Nha Trang.
5. Lê Ngọc Tú, Bùi Đức Hợi, Lưu Duẩn, Ngô Hữu Hợp, Đặng Thị Thu, Nguyễn Trọng Cẩn (1994), Hóa học
thực phẩm, Nxb Khoa học và kỹ thuật.
6. MacDonald G. A., Lanier T. C. (1991), The role of carbonhydrate as cryoprotectants in meats, Food
technology 45, Pp. 150-159.
7. Matsumoto J. J. (1979), Denaturation of fish muscle proteins during frozen storage, American Chemical
Society, Pp. 205-226.
8. Niwa E. (1992), Chemistry of surimi gelation, Marcel Dekker - New York.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
138 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
LẠM PHÁT VÀ TÌNH TRẠNG NGHÈO CỦA HỘ GIA ĐÌNH NGƯ DÂN
TẠI KHU VỰC DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
INFLATION AND POVERTY STATUS OF HOUSEHOLD FISHERMEN
IN SOUTHERN COASTAL CENTRAL AREAS
Phạm Hồng Mạnh
Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của lạm phát tới tình trạng nghèo đối với cộng đồng ngư
dân nghề khai thác ven bờ tại các địa phương ven biển khu vực Nam Trung bộ. Trên cơ sở phân tích sự biến
động về chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 để xác định mức chuẩn nghèo và thu
nhập thực tế của hộ gia đình ngư dân tại khu vực này để tính toán các chỉ số đo lường nghèo đói, như tỉ lệ đếm
đầu người, khoảng cách nghèo và độ sâu của tình trạng nghèo. Kết quả phân tích cho thấy lạm phát là nguyên
nhân gây ra sự biến động về tình trạng nghèo đối với hộ gia đình ngư dân hoạt động trong nghề khai thác ven
bờ tại khu vực Nam Trung bộ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm kìm chế lạm phát và
hỗ trợ những ngư dân nghèo tại khu vực này.
Từ khóa: lạm phát, ngư dân, nghèo, nghề khai thác ven bờ
ASTRACTS
This study aimed to evaluate the effect of inflation to the poor condition of the fisheries communities
inshore fishing in coastal locals South Central region. Based on analysis of the variation in Consumer Price
Index (CPI) in Vietnam period 2006 - 2010 to determine the actual poverty line and actual income of the
fishermen households in this region to calculate the indicators measuring poverty, such as: head count ratio,
poverty gap and depth of poverty. Analysis results show that inflation is the cause of the variation in poverty
status for fisheries communities inshore fishing in South Central areas. On that basis, the study suggests some
solutions to curb inflation and support the poor fishermen in this area.
Keywords: inflation, poverty, fishermen, inshore fishing.
fHONG B/O KHO/ HOC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trải qua hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã
đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều
lĩnh vực kinh tế - xã hội. Từ năm 1990 - 2009, tốc
độ tăng trưởng kinh tế liên tục trung bình ở mức
7,44%/năm, năm 2010 tốc độ tăng trưởng GDP
ước đạt 6,78% [1], [19]. Tỉ lệ nghèo đói đã giảm
đáng kể từ 60% năm 1990 xuống còn 9,45% vào
năm 2010 [16], cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
chiều hướng tích cực… Tuy nhiên, trong những
năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, cùng
với nới lỏng các chính sách vĩ mô như chính
sách tiền tệ, v.v… đã làm cho chỉ số giá tiêu
dùng tăng cao. Đặc biệt, từ cuối năm 2010 và
rõ nhất từ đầu năm 2011, tình hình kinh tế thế
giới diễn biến phức tạp, lạm phát tăng, giá dầu
thô, giá nguyên vật liệu cơ bản đầu vào của sản
xuất, giá lương thực, thực phẩm trên thị trường
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 139
thế giới tiếp tục xu hướng tăng cao. Cùng với
thiên tai, thời tiết bất lợi đã ảnh hưởng xấu đến
sản xuất và đời sống của người dân; một số mặt
hàng là đầu vào quan trọng của sản xuất như
điện, xăng dầu vẫn chưa thực hiện đầy đủ theo
cơ chế giá thị trường buộc phải điều chỉnh tăng,
v.v… [20]. Điều này vừa tác động xấu đến việc
ổn định môi trường kinh tế vĩ mô phục vụ cho
quá trình tăng trưởng, vừa ảnh hưởng tới phúc
lợi của hộ gia đình. Tăng trưởng kinh tế và nâng
cao thu nhập cho cộng đồng dân cư là mục tiêu
của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, do vậy tập
trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô,
bảo đảm an sinh xã hội là mục tiêu, nhiệm vụ
xuyên suốt trong các chính sách của Chính phủ.
Từ nhiều năm qua, vấn đề lạm phát và tình
trạng nghèo đã có nhiều tổ chức và nhà nghiên
cứu đề cập tới dưới nhiều khía cạnh và góc độ
khác nhau, như: ADB [7], Nguyen Viet Cuong
[8], Hyun H. Son và đồng nghiệp [11], William
Easterly [12], hay của Siyanbola Tomori và đồng
nghiệp v.v… Những nghiên cứu này đã tạo nền
tảng cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận trong
việc nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và
tình trạng nghèo.
Để đánh giá sự ảnh hưởng của lạm phát tới
tình trạng nghèo của hộ gia đình tại Việt Nam,
trong bài viết này, tác giả tập trung xem xét tác
động của lạm phát tới tình trạng nghèo của hộ
gia đình ngư dân tại khu vực Nam Trung bộ để
tìm kiếm những bằng chứng thực nghiệm và đề
xuất một số gợi ý chính sách nhằm kìm chế lạm
phát để giúp người nghèo ổn định cuộc sống
trong bối cảnh gia tăng lạm phát nhanh như hiện
nay.
II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Lạm phát và ảnh hưởng của lạm phát
Khái niệm về lạm phát được hiểu như là sự
gia tăng liên tục của giá cả nói chung trong nền
kinh tế. Tỷ lệ lạm phát có nghĩa là tỷ lệ tăng của
mức giá cả nói chung trong nền kinh tế trong một
khoảng thời gian nhất định. Một trong những
thước đo phổ biến nhất về sự gia tăng mức giá
cả nói chung đó là chỉ số giá tiêu dùng [18].
Chỉ số giá tiêu dùng là tỷ số phản ảnh giá
cả của một rổ hàng hóa chọn lựa qua các năm
khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hóa đó
trong một năm được chọn là năm gốc. Tuy chỉ số
giá tiêu dùng không hoàn toàn phản ảnh chính
xác mức độ lạm phát do chỉ số này chỉ phản ảnh
sự gia tăng trong giá cả các hàng hóa tiêu dùng
trong khi lạm phát không những chỉ phản ảnh sự
thay đổi giá cả các hàng hóa tiêu dùng mà còn là
sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa khác
mà người tiêu dùng không trực tiếp mua hoặc
không được đưa vào tính toán. Mặc dù vậy, giá
tiêu dùng là một thước đo của lạm phát, giá tiêu
dùng tăng cao, một điều tất yếu sẽ dẫn đến lạm
phát [6], [18].
Lạm phát có thể tác động tiêu cực tới tăng
trưởng kinh tế [17], [18] như: dấu hiệu bất ổn
kinh tế vĩ mô; tăng sự không chắc chắn của các
hoạt động đầu tư; lạm phát làm thay đổi giá cả
tương đối, làm méo mó quá trình phân bổ nguồn
lực; lạm phát còn được xem như là một loại thuế
đánh vào nền kinh tế. Bên cạnh đó, lạm phát
tăng cao và kéo dài sẽ có những ảnh hưởng tiêu
cực đến toàn bộ nền kinh tế. Những tác động
chủ yếu bao gồm: Giá cả tăng mạnh sẽ làm tăng
chi phí sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và toàn
bộ nền kinh tế. Lạm phát cao làm giảm giá trị
đồng tiền trong nước. Người dân ngày càng lo
lắng về việc sức mua trong tương lai của họ bị
giảm xuống và mức sống của họ cũng vì vậy
mà kém đi. Lạm phát cao khuyến khích các hoạt
động đầu tư mang tính đầu cơ trục lợi hơn là
đầu tư vào các hoạt động sản xuất. Lạm phát
cao đặc biệt ảnh hưởng xấu đến những người
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
140 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
có thu nhập không tăng kịp mức tăng của giá cả,
đặc biệt là những người sống bằng thu nhập cố
định như là những người hưởng lương hưu hay
công chức. Phúc lợi và mức sống của họ sẽ bị
giảm đi.
2. Nghèo đói - phương pháp tiếp cận và đo
lường
Theo Ngân hàng Thế giới (WB) nghèo là
tình trạng không có khả năng có mức sống tối
thiểu. Với cách đánh giá này thì điểm khởi đầu
để xác định ranh giới đói nghèo là nhu cầu kcalo
(năng lượng) tối thiểu được dùng cho mỗi người
mỗi ngày [13].
Tại Việt Nam, khái niệm về đói nghèo được
sử dụng chính thức trong chiến lược giảm
nghèo của Chính phủ trên cơ sở khái niệm được
đưa ra tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy
Ban Kinh tế - Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan vào tháng
09 năm 1993 và được các quốc gia trong khu
vực thống nhất, đó là: “Nghèo là tình trạng một
bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn
các nhu cầu cơ bản của con người mà những
nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo
trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục
tập quán của địa phương” [2].
Để phục vụ cho các chiến lược phát triển
kinh tế xã hội, Chính phủ đã xây dựng chuẩn
nghèo tuyệt đối cho từng giai đoạn. Kể từ 1993
đến nay Chính phủ đã 6 lần điều chỉnh mức
chuẩn nghèo. Chuẩn nghèo đã được điều chỉnh
năm lần vào các năm 1993, 1997, 1998, 2001,
2005 [15]. Chuẩn nghèo được áp dụng cho giai
đoạn 2006 - 2010 đối với khu vực nông thôn,
những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm)
trở xuống là hộ nghèo, còn ở khu vực thành thị
những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000
đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/
năm) trở xuống là hộ nghèo [3].
Tuy nhiên, trong những năm qua đặc biệt
là giai đoạn 2006 - 2010, sự tăng trưởng kinh tế
nhanh đã làm cho các biến số vĩ mô có những
thay đổi lớn, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao đã
làm cho chuẩn nghèo tuyệt đối không còn phù
hợp trong việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của
hộ gia đình [15], [18], [20]. Điều này, một lần
nữa Chính phủ phải có chỉ thị điều chỉnh chuẩn
nghèo mới để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội
hiện nay. Theo Quyết định của Thủ Tướng Chính
phủ số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn
hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn
2011 - 2015, mức chuẩn nghèo áp dụng cho giai
đoạn 2011 - 2015: ở khu vực nông thôn những
hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/
người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở
xuống là hộ nghèo; khu vực thành thị, những hộ
có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/
người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở
xuống là hộ nghèo [4].
Để đo lường tình trạng nghèo, các nhà
nghiên cứu sử dụng một số chỉ tiêu thống kê
phản ánh quy mô, mức độ và tính nghiêm trọng
của nghèo đói [14]. Những chỉ tiêu thống kê này
bao gồm (i) chỉ số đếm đầu người (headcount
index) - xác định tỷ lệ nghèo đói theo số lượng
trong dân số, (ii) khoảng cách nghèo đói (poverty
gap) - xác định độ sâu của nghèo đói và (iii) bình
phương khoảng cách nghèo đói, phản ánh phân
phối trong thu nhập giữa các nhóm nghèo - xác
định tính nghiêm trọng của nghèo đói. Trong đó:
Chỉ số đếm đầu người (Headcount index)

=

(1)
Trong đó:
n là quy mô dân số (tổng số người trong dân số)
q là số người dưới chuẩn nghèo
- Khoảng cách nghèo đói (Poverty gap)
Nếu gọi là thu nhập trung bình của người
nghèo, và z là chuẩn nghèo thì I = z - là khoản
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 141
thu nhập thiếu hụt trung bình. Chỉ tiêu này đo lường mức tiền thiếu hụt cần gia tăng từ mức nghèo
đến mức chuẩn nghèo. Hạn chế chủ yếu của chỉ số khoảng cách nghèo đói là thất bại trong việc
phản ánh số lượng người nghèo trong tổng dân số.
Mức độ nghiêm trọng của nghèo đói (Bình phương khoảng cách nghèo đói)
Chỉ số này đo lường khoảng cách từ mức nghèo đến mức chuẩn nghèo cùng với sự bất bình
đẳng giữa các nhóm nghèo.
Foster, Greer và Thorbecke [9] đã tìm ra một công thức để đo lường sự nghèo đói bao gồm sự
thay đổi trong tổng số người nghèo, thay đổi trong tình trạng thiếu hụt thu nhập và sự nhạy cảm của
nghèo đói như sau:

hay (2)
Trong đó: α
> 0
n : là tổng số hộ nghèo trong cộng đồng dân cư
q : là số hộ nghèo dưới mức chuẩn nghèo
g
i
: là khoảng cách nghèo đói của hộ gia đình thứ i
y
i
: là thu nhập của hộ nghèo thứ i
z : là chuẩn nghèo
Khi α
> 0
thì P
0
chính là chỉ số đếm đầu người (Headcount index). Chỉ số này phổ biến nhất
và dễ tính nhưng không phản ảnh mức độ nghiêm trọng từ thu nhập (chi tiêu) của người nghèo so
với ngưỡng nghèo.

=

(3)
Khi α = 1, P
1
là chỉ số đo lường khoảng cách nghèo đói (Poverty gap)

=

(4)
Chỉ số này cho biết sự thiếu hụt trung bình trong chi tiêu của các hộ nghèo so với ngưỡng nghèo
và nó biểu hiện như mức trung bình của tất cả mọi người trong tổng thể. Có thể xem đây là chi phí
tối thiểu để xóa bỏ nghèo đói trong giả định mọi khoản chi chuyển nhượng đều đến đúng đối tượng.
Tuy nhiên trong thực tế việc chuyển giao thường có hao hụt và chi phí hành chính cho nên chi phí
thực tế để xóa bỏ nghèo đói thường là bội số của khoảng cách nghèo đói trung bình.
Khi α = 2, P
2
là chỉ số đo lường mức độ nghiêm trọng của nghèo đói. Đây là chỉ số khoảng cách
đói nghèo bình phương (Squared poverty gap index) hay chỉ số nhạy cảm nghèo (Sensitive gap ratio
of poverty). Chỉ số này thể hiện mức độ nghiêm trọng (hay cường độ) của nghèo đói và làm tăng
thêm trọng số cho nhóm người nghèo nhất trong số những người nghèo.

=

(5)
α là đại lượng đo mức độ quan tâm đến sự bất bình đẳng giữa những người nghèo.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
142 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
III. ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN TÌNH TRẠNG NGHÈO CỦA HỘ GIA ĐÌNH: BẰNG CHỨNG
THỰC NGHIỆM TẠI KHU VỰC NAM TRUNG BỘ
1. Tình hình lạ m phá t củ a Việ t Nam giai đoạn từ 2000 đến nay
Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2010 đã có sự gia tăng nhanh chóng.
Ngoại trừ năm 2000, chỉ số CPI của Việt Nam giảm 1,6% so với năm 1999 thì từ năm 2001 đến nay,
chỉ số CPI đã tăng liên tục. Đặc biệt trong năm 2008, chỉ số CPI đã tăng tới 23% so với năm 2007
[23]. Đây là năm có chỉ số giá tiêu dùng tăng cao nhất giai đoạn 2000 - 2010, trong đó tăng cao nhất
là các mặt hàng về lương thực - thực phẩm. Diễn biến về chỉ số giá tiêu dùng được thể hiện qua
Hình 1.
CPI (%)
Hình 1. Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010
Nguồn: Tổng Cục Thống Kê [23]
Năm
Trong 3 tháng đầu năm 2011, những tác
động bất lợi của thị trường thế giới đã làm cho
chỉ số CPI của Việt Nam tiếp tục có những diễn
biễn phức tạp. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 đã
tăng 1,74% so với thời điểm cuối năm 2010,
tháng 2/2011 tiếp tục tăng cao ở mức 2,69%
so với tháng 01/2011 và tăng 4,77% so với
tháng 12 năm 2010; trong đó tăng mạnh nhất
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 143
là nhóm hàng thực phẩm và dịch vụ ăn uống
tăng 5,03% so với tháng trước, nhóm đồ uống
tăng 4,42% [21]. Tại hội nghị giao ban trực tuyến
báo cáo việc triển khai thực hiện Nghị quyết số
11/NQ-CP [5], Chính phủ và Bộ Kế hoạch & Đầu
tư cho rằng mặc dù đã có những biện pháp tích
cực để kiềm chế nhưng chỉ số giá tiêu dùng
trong quý một vẫn tăng tới 6,1% so với thời điểm
cuối năm 2010 và riêng trong tháng 3, giá tiêu
dùng đã tăng đến 2,2% [22].
Như vậy, có thể thấy rằng những diễn biến
bất lợi của chỉ số giá tiêu dùng trong thời gian
qua không những gây ra những tác động bất lợi
đối với nền kinh tế mà còn làm cản trở nỗ lực
giảm nghèo của Chính phủ và các địa phương
trong giai đoạn mới này.
2. Ảnh hưởng của lạm phát tới tình trạng
nghèo tại khu vực Nam Trung bộ
2.1. Khái quát về mẫu điều tra
Nghiên cứu đã thực hiện việc thu thập thông
tin từ các hộ gia đình ngư dân với 1.200 phiếu
được điều tra trong giai đoạn cuối năm 2010.
Sau khi loại những phiếu không đạt yêu cầu
như: không có đủ thông tin cần thiết cho nghiên
cứu, kiểm tra số liệu thống kê không có tính đại
diện trong mẫu, v.v… số phiếu đạt chất lượng sử
dụng cho phân tích là 876 mẫu.
Từ kết quả điều tra cũng cho thấy, mức thu
nhập bình quân đầu người trong gia đình đa
số nằm trong khoảng thu nhập từ 400 đến 700
nghìn đồng/người/tháng. Tuy nhiên, số hộ có
mức thu nhập bình quân đầu người dưới 400
nghìn đồng/người/tháng cũng là trên 30% và chỉ
có tỉ lệ nhỏ hộ gia đình có mức thu nhập bình
quân đầu người/ tháng trên một triệu đồng. Tỉ lệ
hộ nghèo trong cộng đồng ngư dân này là khá
thấp so với trung bình của cả nước, chỉ ở mức
1,3% khi áp dụng chuẩn nghèo được Chính phủ
ban hành cho giai đoạn 2006 - 2010 ở mức 200
nghìn đồng/ người/ tháng đối với khu vực nông
thôn.
2.2. Ảnh hưởng của lạm phát tới tình trạng
nghèo của hộ gia đình
Giả sử rằng thu nhập của hộ gia đình là
tương đối ổn định trong giai đoạn này. Do vậy,
để đánh giá ảnh hưởng của chỉ số giá tiêu dùng
[23] đối với tình trạng nghèo của hộ gia đình,
tác giả sử dụng các chỉ số đo lường tình trạng
nghèo như: tỉ lệ đếm đầu người, khoảng cách
nghèo và độ sâu của tình trạng nghèo, trong
đó:
Sử dụng mức chuẩn nghèo do Chính phủ
quy định (tại thời điểm ban hành vào năm 2005)
cho giai đoạn 2006 - 2010 là 200 nghìn đồng/
người/tháng cho khu vực nông thôn.
Mức chuẩn nghèo thực sẽ được điều chỉnh
theo chỉ số giá tiêu dùng CPI trong từng năm
trong giai đoạn 2006 - 2010.
Thu nhập hộ gia đình tại thời điểm điều
tra vào cuối năm 2010 sẽ được tính toán theo
thu nhập thực tế của từng năm trong giai đoạn
2006 - 2010.
Theo Tổng Cục Thống Kê, chỉ số giá tiêu
dùng đã cao trong giai đoạn 2006 - 2010 đặc biệt
trong năm 2008, trung bình CPI của năm này đã
tăng tới 23%. Điều này đã làm cho chuẩn nghèo
thực tế tăng nhanh so với thời điểm ban hành.
Mặt khác sự tăng CPI đã làm cho thu nhập thực
tế của các hộ gia đình giảm đáng kể so với thời
điểm điều tra. Diễn biến về chỉ số CPI trung bình
và thu nhập thực tế của hộ gia đình trong giai
đoạn này được thể hiện trong Bảng 1.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
144 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Bảng 1. Diễn biến của lạm phát và tình trạng nghèo trong cộng đồng ngư dân
Khu vực Nam Trung bộ
Năm 2006 2007 2008 2009 2010
Chỉ số lạm phát bình quân năm (%)
*
7,5 8,3 23 6,9 9,19
Chuẩn nghèo thực tế (nghìn đồng/người/hộ)
**
215,00 232,85 286,40 306,16 334,30
Thu nhập thực tế bình quân
(nghìn đồng/người/hộ)
**
361,09 388,17 420,39 517,08 552,76
Tỉ lệ hộ nghèo (%)
**
19,3 19,9 32,2 19,9 20,9
Khoảng cách nghèo (lần)
**
0,0389 0,0401 0,0676 0,038 0,0414
Độ sâu của tình trạng nghèo (lần)
**
0,0109 0,0114 0,0208 0,0106 0,0118
Nguồn:
*
Số liệu từ Tổng Cục Thống Kê [23]
**
Tính toán từ số liệu điều tra của tác giả
Từ Bảng 1 cho thấy rằng, tỉ lệ nghèo của
hộ gia đình ngư dân đã tăng lên rất nhanh. Nếu
như trong năm 2006, ở mức chuẩn nghèo và
thu nhập thực tế đã được điều chỉnh theo chỉ số
tăng giá tiêu dùng thì tỉ lệ hộ nghèo là 19,3%. Tỉ
lệ này tăng cao trong năm 2008 ở mức 32,2%
mặc dù có sự giảm đáng kể vào các năm 2009
và 2010. Điều này có thể thấy rằng, tỉ lệ hộ gia
đình ở mức cận nghèo là khá lớn và có biên độ
dao động cao. Những hộ này có nguy cơ cao
rơi vào diện nghèo trước những thay đổi bất
thường của các yếu tố kinh tế - xã hội như lạm
phát, v.v…
Bên cạnh đó, khoảng cách nghèo và độ sâu
của tình trạng nghèo trong cộng đồng này cũng
có những thay đổi đáng kể khi điều chỉnh chuẩn
nghèo và thu nhập thực tế theo từng năm của
giai đoạn này. Cụ thể:
Trong năm 2006, khoảng cách giữa hộ
nghèo và hộ không nghèo là 0,0389; độ sâu của
tình trạng nghèo là 0,0109.
Trong năm 2007, khoảng cách giữa hộ
nghèo và hộ không nghèo là 0,0401; độ sâu của
tình trạng nghèo là 0,0114.
Năm 2008 khoảng cách nghèo và độ sâu
của tình trạng nghèo đối với hộ gia đình đã tăng
lên nhanh chóng. Khoảng cách giữa hộ nghèo
và hộ không nghèo là 0,0676; độ sâu của tình
trạng nghèo là 0,0208.
Khoảng cách nghèo và hố sâu ngăn cách
của tình trạng nghèo trong cộng đồng ngư dân
tại khu vực này đã giảm đáng kể trong năm 2009
khi chỉ số giá tiêu dùng giảm, với khoảng cách
nghèo là 0,038 và độ sâu của tình trạng này là
0,0106. Sự thay đổi các chỉ số nghèo đói trong
điều kiện tác động của chỉ số giá tiêu dùng qua
các năm giai đoạn 2006 - 2010 được thể hiện
trong Hình 1.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 145
Như vậy, từ các chỉ số đo lường trên cho
thấy tình trạng nghèo của hộ ngư dân nghề tại
khu vực này là thấp khi áp dụng mức chuẩn
nghèo của Chính phủ áp dụng cho giai đoạn
2006 - 2010. Tuy nhiên, các chỉ số này lại tăng
cao khi thực hiện việc điều chỉnh chuẩn nghèo
và thu nhập của hộ gia đình theo mức tăng của
chỉ số giá tiêu dùng. Điều này cho thấy mức
độ ảnh hưởng của lạm phát đối với tình trạng
nghèo là rõ ràng. Sự gia tăng chỉ số giá tiêu dùng
trong những năm qua đã làm cho tỉ lệ đói nghèo,
khoảng cách nghèo cũng như độ sâu của tình
trạng nghèo tại các hộ gia đình ngư dân tại khu
vực này tăng lên nhanh chóng. Nói khác đi, lạm
phát gia tăng là yếu tố gây ảnh hưởng xấu đến
đời sống của hộ gia đình. Những hộ nghèo và
hộ cận nghèo là những đối tượng có nguy cơ dễ
bị tổn thương cao. Khoảng cách giàu nghèo có
xu hướng ngày càng rộng và sâu, càng làm trầm
trọng thêm tình trạng bất bình đẳng trong xã hội.
IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, ảnh hưởng
của lạm phát là rõ nét đối với cộng đồng ngư
dân nghèo tại khu vực Nam Trung bộ. Sự gia
tăng chỉ số giá tiêu dùng đã ngăn cản những nỗ
lực giảm nghèo của các địa phương tại khu vực
này. Do vậy, thực hiện các giải pháp kìm chế
lạm phát và đảm bảo an sinh xã hội cho những
người có thu nhập thấp, đặc biệt là những hộ
nghèo và hộ cận nghèo trở nên cấp bách trong
giai đoạn hiện nay. Thực hiện tốt được vấn đề
này sẽ là một giải pháp quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng của công tác giảm nghèo,
góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát
triển Thiên niên Kỷ mà Việt Nam đã cam kết. Một
số vấn đề cần quan tâm thực hiện, đó là:
Thứ nhất, có các giải pháp hữu hiệu để giám
sát việc thực hiện Nghị quyết 11 của Chính Phủ
trong việc kìm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô
và đảm bảo an sinh xã hội. Sự đồng thuận của
các cơ quan, chính quyền các địa phương cũng
như sự chia sẻ trách nhiệm với xã hội của người
Hình 2. Sự thay đổi các chỉ số nghèo đói trong điều kiện tác động của lạm phát
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra của tác giả
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
146 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
dân là rất quan trọng để thực hiện nghị quyết
thông qua các hành động cụ thể như: (i) tuyên
truyền thường xuyên để người dân và toàn xã
hội ý thức sâu sắc được tác động của lạm phát
đối với đời sống xã hội, để mọi người, mọi nhà
tiết kiệm trong sử dụng và chi tiêu hàng hóa và
dịch vụ; (ii) giám sát việc tuân thủ đồng thời kiên
quyết xử lý các sai phạm trong việc thực hiện
các quy định của Chính Phủ đối với các tổ chức
tín dụng, hoạt động chi tiêu công. Cần thiết phải
có cam kết bằng những con số cụ thể của các
cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp sử dụng ngân
sách nhà nước trong việc cắt giảm chi tiêu công
trong giai đoạn hiện nay.
Thứ hai, cần có những chính sách thúc đẩy
sản xuất và giải quyết việc làm, ưu tiên hỗ trợ để
thúc đẩy sản xuất trong khu vực nông nghiệp,
thủy sản. Để thực hiện được điều này, Chính
Phủ và chính quyền các địa phương nên quan
tâm vào các vấn đề, như: (i) hỗ trợ đầu vào cho
các hoạt động sản xuất tại các khu vực nông
thôn như giống, điện… và đặc biệt là các giải
pháp kỹ thuật để đối phó với những bất lợi của
thời tiết hiện nay; (ii) chính sách hỗ trợ vốn đối
với hoạt động khai thác hải sản, thực hiện việc
giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh xăng
dầu trên địa bàn để đảm bảo ngư dân tránh
được những thiệt hại từ yếu tố đầu vào quan
trọng này; (iii) thúc đẩy tìm kiếm thị trường và hỗ
trợ xuất khẩu đối với mặt hàng có thế mạnh như
thủy sản trên thị trường quốc tế.
Thứ ba, đảm ổn định an ninh lương thực
góp phần giảm các chỉ số giá cả của các mặt
hàng lương thực thực phẩm là một trong những
biện pháp cần được ưu tiên. Trong những tháng
đầu năm 2011, chỉ số các mặt hàng về lương
thực thực phẩm tăng cao đã tác động xấu tới
người nghèo. Do vậy, tiếp tục việc thực hiện
chính sách trong việc bình ổn giá những mặt
hàng thiết yếu giúp người nghèo vượt qua khó
khăn đảm bảo ổn định đời sống và xã hội. Bên
cạnh đó, cần chú ý đa dạng hóa các kênh phân
phối, đảm bảo được hàng bình ổn đến được
với hộ nghèo tại các vùng nông thôn là rất quan
trọng. Trong những trường hợp cần thiết, xuất
gạo dự trữ quốc gia để cấp không thu tiền cho
hộ đồng bào bị thiên tai, thiếu đói.
Thứ tư, thực hiện các hình thức hỗ trợ khác
để những hộ nghèo ổn định cuộc sống như: (i)
giữ ổn định mức thu học phí, viện phí và việc
rà soát để cấp bảo hiểm y tế miễn phí cho hộ
nghèo; (ii) tiếp tục cho sinh viên, học sinh đại
học, cao đẳng, học nghề trong các hộ nghèo,
hộ có hoàn cảnh khó khăn được vay ưu đãi để
học tập.
Thứ năm, cần chú ý là phải xây dựng cơ
chế và kiểm tra việc thực thi các chính sách
của Chính Phủ, bảo đảm nguồn hỗ trợ của Nhà
nước đến đúng đối tượng, không bị thất thoát,
tham nhũng.
Thu nhập là chỉ báo kinh tế phản ánh khía
cạnh phúc lợi của con người. Trong điều kiện
lạm phát tăng cao so với mức tăng thu nhập của
người dân thì điều tất yếu sẽ làm cho phúc lợi
của hộ gia đình giảm đáng kể. Từ kết quả phân
tích này cũng cho thấy một vấn đề tiềm ẩn cho
việc áp dụng chuẩn nghèo mới của giai đoạn
đoạn này khi chỉ số giá tiêu dùng đã tăng cao
trong những tháng đầu năm 2011 chắc chắn sẽ
làm cho tỉ lệ hộ nghèo của Việt Nam nói chung
và cộng đồng ngư dân của khu vực này nói riêng
sẽ có những thay đổi lớn. Đây sẽ là yếu tố làm
cản trở những nỗ lực giảm nghèo của Chính
Phủ và chính quyền các địa phương nếu không
có những giải pháp hữu hiệu và kịp thời để kìm
chế lạm phát trong giai đoạn hiện nay.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
1. Nguyễn Thị Cành và đồng nghiệp (2011), “Các nhân tố tác động đến tăng trưởng Kinh tế Việt Nam”, Tạp
chí Công nghệ Ngân hàng, số 1+2/2011.
2. Chính phủ (2002), Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2010,
Hà Nội.
3. Chính phủ (2005), Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg

(Quyết định ban hành mức chuẩn nghèo được Chính
phủ phê duyệt giai đoạn 2006 - 2010), Hà Nội.
4. Chính phủ (2011), Quyết định của Thủ Tướng Chính phủ số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ
nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015, Hà Nội.
5. Chính phủ (2011), Nghị quyết số 11/NQ- CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, Hà Nội.
6. Lưu Văn Nghiêm (2008), “Lạm phát và những giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế
và dự báo.
TIẾNG ANH
7. ADB (2008), Food Price and Inflation in Developing Asia: Is Poverty Reduction Coming to an End?,
Economics and Research Department, Asia Development Bank.
8. Nguyen Viet Cuong (2006), “Can Vietnam Achieve Millennium Devopment Goal on Poverty Reduction in
High Inflation and Economic Stagnation?”, Vietnam Development Forum (sẵn có tại website: www.vdf.
org.vn/Doc/2009/112WS15July09NVCuongPaper.pdf).
9. Foster, J., Greer, J. and Thorbecke, E. (1984) “A Class of Decomposable Poverty Measures”,
Econometrica 52, No.3, p.761-766.
10. Siyanbola Tomori, Olasupo Akano, Adebayo Adebiyi, Wakeel Isola, Olukemi Lawanson and Omolara
Quadri (2005), Protecting the poor from macroeconomic shocks In nigeria: an empirical investigation and
policy Options, (A study commissioned by the Global Development Network (GDN) under the auspices of
an international research project on Macroeconomic Policy Challenges of Low Income Countries).
11. Hyun H. Son, Nanak Kakwani (2006), Measuring The Impact Of Price Changes On Poverty, International
Poverty Centre, United Nations Development Programme.
12. William Easterly, Stanley Fischer (2004), “Inflation and the Poor” (This paper was prepared for the
Annual World Bank Conference on Development Economics, April 1999), World Bank, Washington, D.C.
13. World Bank (1990), World Development Report 1990: Poverty, World Bank, Washington, D.C.
14. World Bank (2005), Introdution to poverty analysis, World Bank, Washington D.C.
15. Tài liệu từ Internet
16. Chuẩn nghèo cần phù hợp với thực tế, http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Chuan-ngheo-can-phu-hop-
voi-thuc-te/20108/34747.vgp, cập nhật ngày 11/08/2010.
17. Chương trình giảm nghèo Quốc gia bước sang giai đoạn mới, http://www.isp.org.vn/, cập nhật ngày
16/02/2011.
18. Kiểm soát lạm phát ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, http://www.tinkinhte.com/tai-chinh-dau-tu/lam-
phat-khung-hoang/kiem-soat-lam-phat-o-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap.nd5-dt.102734.123214.html,
cập nhật 02/06/2010.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
148 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
19. Lạm phát cao và những tác động đến đời sống kinh tế, http://www.mof.gov.vn/portal/pls/portal/SHARED_
APP.UTILS.print_preview?p_page_url=http%3A%2F%2Fwww.mof.gov.vn%2Fportal%2Fpage%2Fpo
rtal%2Fmof_vn%2F1370586&p_itemid=2658923&p_siteid=33&p_persid=2177079&p_language=vi,
cập nhật ngày 16/12/2004
20. Một số chỉ tiêu chủ yếu về tài khoản quốc gia, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=388&idmid=3&
ItemID=9897, cập nhật ngày 20/03/2011.
21. Tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, http://www.cpv.org.vn/cpv/
Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30638&cn_id=447395, cập nhật ngày 24/02/2011.
22. Tình hình kinh tế - xã hội 2 tháng đầu năm 2011, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=403&idmid=
2&ItemID=10918, cập nhật ngày 01/03/2011.
23. Tình hình thực hiện công tác tháng 02 năm 2011 và chương trình công tác tháng 3 năm 2011, http://bao-
dientu.chinhphu.vn/Home/Tinh-hinh-thuc-hien-cong-tac-thang-02-nam-2011-va-chuong-trinh-cong-tac-
thang-3-nam-2011/20113/69500.vgp, cập nhật ngày 16/03/2011.
24. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ bình quân năm, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabi
d=393&idmid=3&ItemID=10359, cập nhật ngày 22/03/2011.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 149
MÔ HÌNH SẢN XUẤT THẶNG DƯ VÀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ
SURPLUS PRODUCTION MODELS AND GEOGRAPHIC INFORMATION SYSTEM
Phạm Văn Thông
Khoa Khai thác Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Để cung cấp cho các nhà quản lý, nhà chuyên môn thêm công cụ tính toán đối với mô hình sản xuất
thặng dư của Schaefer và Fox. Tôi đã sử dụng số liệu nghiên cứu của Munro, Thompson và Corsi sau đó dùng
phần mềm hệ thống thông tin địa lý ArcView GIS 3.2 phân tích chúng. Kết quả cho thấy hệ thống thông tin địa
lý đã giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quan về tình trạng đàn cá trong một thời gian ngắn, giúp khắc phục
được một trong những giả thuyết mà Munro và Thompson đưa ra.
Từ khóa: Mô hình sản xuất thặng dư, hệ thống thông tin địa lý.
ABSTRACT
In order to provide for managers, professions a calculator tool about surplus production model of
Schaefer and Fox. I have used reseach data of Munro, Thompson and Corsi. Then I have used Geographic
Information System software - ArcView GIS 3.2 to analyse them. As the result, geographic information system
have helped us to have an overview about the status of school of fish in a short time and overcome one of the
assumptions that was offered by Munro and Thompson.
Keywords: Surplus production models, Graphic Information System -GIS.
V/N ÐL fP/O ÐOl
I. MỞ ĐẦU
Để xây dựng chiến lược quản lý nghề cá,
các nhà khoa học và nhà chính sách phải biết
trữ lượng cá hiện tại, những nhân tố ảnh hưởng
đến trữ lượng cá, vì thế nhiều thập kỷ qua những
công cụ, mô hình đánh giá trữ lượng cá đã được
áp dụng. Một trong những công cụ được sử
dụng phổ biến đó là mô hình sản xuất thặng dư
của Schaefer (1954) và Fox (1970). Tuy nhiên,
khi sử dụng mô hình Schaefer và Fox thì cần thu
thập số liệu về sản lượng đánh bắt trên một đơn
vị cường lực (Catch Per Unit of Effort-CPUE) và
cường lực trong một thời gian dài, đồng thời phải
sử dụng hai giả thuyết của Munro và Thompson
(1983) đó là:
Đối tượng nghiên cứu ít di cư, mỗi vùng có
một đối tượng nhất định.
Năng xuất sinh học tại các ngư trường khác
nhau không đáng kể vì thế chỉ có sự khác biệt
về cường lực khai thác đối với mỗi ngư trường.
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ
thông tin đã cung cấp cho chúng ta một công
cụ hữu ích để tính toán mô hình Schaefer và
Fox. Công cụ quan trọng đó là hệ thống thông
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
150 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
tin địa lý (Geographic Information System –GIS),
GIS đã tạo cơ hội cho con người có cái nhìn sâu
sắc về tình trạng đàn cá trong một khoảng thời
gian tương đối ngắn, khắc phục tình trạng phải
nghiên cứu CPUE và cường lực trong thời gian
dài khi sử dụng mô hình Schaefer và Fox, đồng
thời giúp chúng ta xác định hiện trạng khai thác
ở các vùng biển.
Việc áp dụng mô hình sản xuất thặng dư
và GIS sẽ giúp các nhà quản lý, quy hoạch xác
định được số lượng tàu thuyền, sản lượng khai
thác bao nhiêu là hợp lý cho từng khu vực, vùng
biển. Đặc biệt là đối với vùng ven bờ, khi xác
định được cường lực khai thác hợp lý.
II. NỘI DUNG
1. Giới thiệu tóm tắt mô hình sản xuất thặng
dư Schaefer (1954) và Fox (1970)
Mô hình sản xuất thặng dư Schaefer (1954)
và Fox (1970) xác định mức cường lực khai thác
được sản lượng cực đại mà không ảnh hưởng
đến năng suất của đàn cá trong thời gian dài,
sản lượng đó còn được gọi là sản lượng khai
thác bền vững tối đa (Maximum Sustainable
Yield-MSY). Hơn nữa, mô hình sản xuất thặng
dư còn đề cập đến CPUE trong mối tương quan
với cường lực khai thác, nó như là thông số đầu
vào và giả định sinh khối tỷ lệ với CPUE.
Mô hình sản xuất thặng dư có thể được
áp dụng khi dự báo được trữ lượng từng loài,
CPUE và cường lực khai thác (fishing effort-f)
trên năm. Điều kiện tiên quyết là cường lực phải
có sự thay đổi lớn theo thời gian. Mô hình sản
xuất thặng dư có thể được tóm tắt như sau:
Đồ thị mô hình Schaefer như là hàm số với
biến f: Y= a+bX hoặc CPUE = a + b* f
Sản lượng tính toán, MSY và cường lực
khai thác cho MSY (F
MSY
- Cường lực khai thác
bền vững tối đa) được tính toán như sau:
Sản lượng tính toán = a*f + b*f
2
;
F
msy
= - 0,5*a/b; MSY = - 0,25*a
2
/b
Trong đó: a là hằng số; b là hệ số góc.
Ví dụ 1: Phân tích số liệu khai thác cá rạn
san hô bằng nghề lồng bẫy ở Jamaica.
Số liệu được thu thập bởi (Munro và
hompson 1983) như sau:
Bảng 1. Số liệu khai thác cá rạn san hô ở Jamaica [3]
Ngư trường Cường lực (Xuồng/km
2
) CPUE (kg/xuồng/năm) Mức khai thác
A 1,63 2.367 Dưới mức
B 0,38 3.279 Dưới mức
C 3,09 1.407 Dưới mức
D 5,63 556 Quá mức
E 4,43 974 Quá mức
F 5,51 1.306 Quá mức
G 4,58 564 Quá mức
H 4,20 767 Quá mức
I 1,49 1.875 Dưới mức
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 151
Hình 1. Đường cong Schaefer cá rạn san hô ở Jamaica
f (xuồng/km
2
)
f (xuồng/km
2
)
Hình 2. Đường cong sản lượng cá rạn san hô ở Jamaica
Từ bảng 1 và hình 1, 2 cho ta kết luận:
CPUE = 2941,7 + (-432,46*f) → a = 2941,7; b = - 432,46
Sản lượng khai thác = a*f + b*f
2
→ 2941,7 * f + (-432,46) * f
2
F
msy
= -0,5*a/b → -0,5 * (2941,7/(-432,46)) = 3,4 xuồng/km
2
MSY = -0,25*a
2
/b → -0,25 * [(2941,7*2641,7)/(-432,46)] = 5002,5 kg/năm
2. Ứng dụng GIS trong mô hình sản xuất thặng dư
Ví dụ 2: Phân tích đối tượng tôm hùm (Cherax grafiensis) ở hồ Kadim của Pescan
Tôm hùm ở hồ Kadim chiếm một phần nhỏ nhưng giá trị kinh tế rất cao. Đối tượng này có những
đặc trưng sau:
- Ít di chuyển, trong suốt vòng đời của nó chỉ di chuyển trong phạm vị 3km
2
.
- Sống ở độ sâu tới 6m, sự phân bố của chúng không liên quan đến các yếu tố sinh học như
chất diệp lục, độ trong của nước.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
152 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
- Được đánh bắt bằng nghề bẫy cố định
tầng đáy.
Có hai cách phân tích dữ liệu như sau:
- Cách thứ nhất: Tính giá trị trung bình của
cường lực và CPUE mỗi vùng từ dữ liệu điều
tra được. Xây dựng đường cong Schaefer,
sau đó dùng giá trị a, b từ đồ thị để tính toán
F
msy
(=-0,5*a/b). Tiếp theo nội suy lưới bản đồ
của tham số (số lượng bẫy/ha) trong ranh giới
khu vực khai thác và tìm ra khu vực khai thác
quá mức với lệnh truy vấn [Số lượng
bẫy/ ha] > [F
msy
].
- Cách thứ hai: Tạo lưới bản đồ cho tham
số CPUE và Số lượng bẫy/ha. Sau đó thực hiện
lệnh hồi quy lưới bản đồ giữa hai yếu tố vừa tạo
ra và thu được giá trị a và b, sử dụng giá trị a và
b tính được F
msy
. Cuối cùng thực hiện lệnh truy
vấn lưới bản đồ về cường lực khai thác để tìm
ra vùng khai thác quá mức và vùng khai thác
dưới mức. Vùng khai thác dưới mức với lệnh
truy vấn: [Số lượng bẫy/ ha] < [F
msy
].
Thực hiện tính toán theo cách thứ 2 và
sử dụng nguồn dữ liệu [3]:
- Sử dụng chương trình ArcView GIS 3.2
với tính năng Spatial Analyst thực hiện các công
việc:
+ Mở ArcView; sau đó mở 1 Project và 1
View mới rồi thêm các lớp ‘Lobster data.shp’
‘depth.shp’, ‘fishing zones.shp’, ‘fishing villages.
shp’, ‘Lake Kadim boundary.shp’ và ‘Pais pesca
country.shp’ vào View mới mở này.
+ Tạo lưới bản đồ cho lớp ‘fishing zones.
shp’ để tạo ranh giới nội suy bản đồ.
+ Tạo lưới bề mặt cho lớp ‘Lobster data.shp’
theo chỉ số CPUE và f.
+ Sử dụng công cụ hồi quy (Regression
tool) tiến hành hồi quy với CPUE là biến phụ
thuộc và f là biến độc lập, kết quả như hình 3.
Hình 3. Đồ thị phân bố hồi quy CPUE và f
+ Sử dụng kết quả a, b thu được từ nội suy để tính F
msy
và MSY như mục 1.
+ Sử dụng công cụ phân tích bản đồ Map Query tìm ra khu vực khai thác dưới mức và
quá mức theo lệnh: Vùng khai thác quá mức [f]>[F
msy
], vùng khai thác dưới mức [f]<[F
msy
]. Kết quả
như hình 4.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 153
Với kết quả phân tích trên giúp ta dễ dàng
nhận ra từng khu vực khai thác đã vượt mức,
không vượt mức cho phép khai thác và có thể
xác định được diện tích của từng vùng. Tuy
nhiên để có được sự phân bố đều và phân chia
màu sắc các khu vực rõ ràng như trên là rất khó.
Nhằm khắc phục những tồn tại như đã nêu ta
xem xét ở ví dụ 3 với những bước nâng cao
hơn.
Ví dụ 3: Phân tích đối tượng cá tuyết
(Merluccius merluccius) ở vùng biển Địa Trung Hải
Cá tuyết là đối tượng có giá trị kinh tế cao
ở vùng biển Địa Trung Hải. Chúng sống ở tầng
đáy, thường ở độ sâu giữa 70m và 370m vào ban
ngày nhưng ban đêm chúng di cư xuống tầng
nước sâu hơn. Cá tuyết được xem là loại thực
phẩm quan trọng cho người dân Tây Âu trong
suốt lịch sử. Chúng được đánh bắt bởi nghề lưới
kéo đáy, nhưng cũng có thể đánh được bởi nghề
câu, lưới rê tầng đáy. Tổng sản lượng đánh bắt
cá tuyết trong năm 2000 là 71.627 tấn. Theo số
liệu thống kê của FAO năm 2000, những nước
đánh bắt cá tuyết nhiều nhất là Tây Ban Nha
24.853 tấn, Ý 9.291 tấn.
Suốt những năm giữa thập kỷ 1990, đã có
một số cuộc điều tra thử nghiệm gần bờ biển
Tyrrenian của nước Ý. Sử dụng cách tiếp cận
của Corsi (2001) phân tích số liệu điều tra được
[3] như sau:
Corsi đã sử dụng GIS phân tích sản lượng
đánh bắt và cường lực khai thác trong giai đoạn
1994 ÷ 1996. Các dữ liệu đã được sử dụng gồm:
- Cường lực khai thác (f) thể hiện qua thông
số (tấn/km
2
) và CPUE được thể hiện qua thông
số (kg/giờ kéo lưới).
- Số liệu 3 cuộc điều tra nghề lưới kéo với
130 điểm khảo sát một cách ngẫu nhiên. Sản
lượng trung bình/giờ được nội suy bằng công cụ
Universal Kriging cho toàn khu vực nghiên cứu
để thu được CPUE cho toàn vùng.
- Lưới mô tả cường lực khai thác cho toàn
khu vực nghiên cứu thu được từ việc thực hiện
mô hình suy luận, lưới này chỉ ra vị trí có cường
lực khai thác nhỏ trong toàn khu vực khai thác
Hình 4. Hiện trạng khai thác ở hồ Kadim
Vùng màu xanh (màu nhạt) khai thác dưới mức, vùng màu đỏ (màu đậm) là khai thác quá mức
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
154 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
dựa trên chức năng kết hợp độ sâu và khoảng
cách từ cảng trên bờ.
- Những khu vực đánh bắt chính trong vùng.
- Số liệu đo sâu toàn khu vực nghiên cứu.
Dùng phương pháp của Munro và
Thompson phân tích dữ liệu cá tuyết vùng biển
Địa Trung Hải
Sử dụng phương pháp của Munro và
Thompson để tính toán F
msy
và xác định được vị
trí khai thác quá mức. Các bước thực hiện giống
ví dụ 2 nhưng thực hiện cho các lớp dữ liệu
‘Fishing zones.shp’, ‘Ports.shp’, ‘Coastline.shp’
và ‘Hake data.shp’, kết quả hồi quy như hình 5.
Kết quả phân tích hồi quy từ hình 5 cho thấy
hệ số b=1,62 là không hợp lệ.
Tiếp tục chèn thêm lớp ‘Depth.shp’ vào bản
đồ, kết quả như hình 6. Từ hình 6 cho thấy khu
vực khai thác có sự thay đổi lớn về độ sâu. Cá
tuyết là loài sống ở tầng đáy, các khu vực khai
thác không đồng nhất về mặt sinh thái. Điều này
có nghĩa là đã vi phạm giả thuyết của Munro và
Thompson.
Dùng phương pháp của Corsi phân tích dữ
liệu cá tuyết vùng biển Địa Trung Hải
Corsi có mô hình để khắc phục những vấn
đề khác nhau về năng suất sinh học ở các vùng,
mật độ phân bố đàn khác nhau. Các giả định
cơ bản trong phân tích của Corsi là hệ số góc
CPUE
(b) của đường cong Schaefer vẫn không đổi với
các vùng có năng suất sinh học khác nhau, trong
khi đó hằng số (a) thay đổi với những vùng khác
nhau.
Sử dụng Microsoft Excel phân tích và vẽ
đường cong phân bố Schaefer từ biến cường
lực khai thác và CPUE trong cơ sở dữ liệu
‘Corsi model.xls’. Kết quả thu được đường thẳng
hồi quy Schaefer Y=6,16–5,34*X (a = 6,16 và
b = - 5,34), CPUE = - 5,34 * f + 6,16
Từ hình 7 ta thấy: Tập hợp dày đặc các
điểm được tạo ra từ phân tích lưới bề mặt
CPUE và f, 3 đường thẳng, 3 đường cong
Schaefer với cùng độ dốc b = -5,34 nhưng 3
giá trị a khác nhau.
Hình 5. Đồ thị hồi quy của CPUE và f Hình 6. Độ sâu bờ biển tại Tyrrenean
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 155
Hình 7. Dữ liệu cá tuyết
Mỗi đường cong
Schaefer F
msy
được
tính toán liên quan đến
CPUE tại F
msy

(CPU-
E
msy
). Hàm cơ bản của
mô hình Corsi được
mô tả CPUE
msy
= -b * f.
Hàm này được gọi là
hàm lôi cuốn (attractor
function)
Tính toán vẽ
đường cong Schaefer
cho tham số sản lượng
đánh bắt và CPUE với
cùng hệ số độ dốc (b).
Từ hình 8 cho thấy mối
tương quan giữa F
msy

CPUE
msy
là một đường
thẳng màu xanh, nét
đứt, CPUE
msy
= 5,34 * f
Hình 8. Hàm lôi cuốn cá
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
156 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Giả định tập hợp các điểm
nội suy được từ lưới bản đồ của
tham số f và CPUE sẽ tạo nên
vô số các điểm chạy song song
với đường cong Schaefer đối với
các điểm trong vùng khai thác.
Sau đó sử dụng hàm lôi cuốn
để phân chia tập hợp điểm này.
Nếu CPUE < CPUE
msy
thì nơi đó
khai thác quá mức, ngược lại
CPUE>CPUE
msy
thì nơi ấy khai
thác dưới mức như hình 9.
Hình 9. Đường cong Schaefer cá tuyết ở Thyrrenean
Sử dụng lệnh Map Query để tìm ra vùng khai thác dưới mức và quá mức theo lệnh như sau:
[CPUE]>[Attractor] thì vùng này khai thác dưới mức, hiển thị bằng màu xanh (hình 10)
[CPUE]<[Attractor] thì vùng này khai thác quá mức, hiện thị bằng màu đỏ (hình 10)
CPUE tổng
Hình 10. Hiện trạng khai thác cá tuyết ở Địa Trung Hải theo mô hình của Corsi
Vùng màu xanh (màu nhạt) khai thác dưới mức và vùng màu đỏ (màu đậm) khai thác quá mức
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 157
III. KẾT LUẬN
Từ những ví dụ trên cho thấy ưu điểm của việc sử dụng GIS trong mô hình sản xuất thặng dư:
Khắc phục được hạn chế của mô hình Schaefer và Fox.
Khắc phục được giả thuyết thứ hai của Munro và Thompson (1983).
Dữ liệu thể hiện trên GIS trực quan, dễ hiểu, dễ quan sát.
Tuy nhiên để sử dụng tốt GIS trong mô hình sản xuất thặng dư của Schaefer và Fox cần quan
tâm đến giả thuyết thứ nhất của Munro và Thompson (1983) về đối tượng nghiên cứu phải ít di cư
và mỗi vùng có một đối tượng nhất định.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Văn Thông (2010), Ứng dụng GIS và RS trong khai thác thủy sản, Đại học Nha Trang.
2. G. de Graaf, F.J.B. Marttin, J. Aguilar-Manjarrez & J. Jenness (2003), Geographic Information Systems in
fisheries management and planning, FAO.
3. 2 CD dữ liệu kèm theo tài liệu 2.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
158 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
THỰC TRẠNG AN TOÀN LAO ĐỘNG CỦA NGHỀ NUÔI TÔM HÙM
LỒNG TRÊN BIỂN Ở THỊ XÃ CAM RANH
THE STATUS OF SAFETY AT WORK FOR THE LOBSTER AQUACULTURE
AT THE CAM RANH TOWN
Nguyễn Đức Sĩ
Khoa Khai thác Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang

TÓ M TẮ T
Bà i bá o trì nh bà y kế t quả điề u tra thự c trạ ng an toà n lao độ ng củ a nghề nuôi tôm hù m lồ ng trên biển ở
mộ t số đị a phương thuộ c thị xã Cam Ranh. Kế t quả điề u tra cho thấ y kỹ thuậ t an toà n và phương tiệ n bả o vệ
cá nhân của nghề nuôi chưa bả o đả m, tiề m ẩ n nhiề u nguy cơ tai nạ n chưa đượ c ngư dân và cơ quan quản lý
nghề cá quan tâm đú ng mứ c.
ABSTRACT
The article presents the results of the investigation present condition of occupational safety of the
cage lobster-farming at sea of several locals in Cam Ranh town. The results of the investigation showed that
safety technique and means of individual protection for worker of the cage lobster-farming at sea not ensure
yet, implicit of threats accident at work which didn’t be interested the proper care in fisherman and fishery
management agency.
V/N ÐL fP/O ÐOl
I. MỞ ĐẦU
Khánh Hòa là mộ t trong nhữ ng địa phương
có nghề nuôi tôm hùm lớn nhất Việt Nam, tậ p
trung chủ yế u ở thà nh phố Nha Trang (8.472
ô lồng), huyệ n Vạn Ninh (7.598 ô lồng), thị xã
Cam Ranh (13.230 ô lồng). Sản lượng tôm hùm
nuôi ở Khánh Hòa bì nh quân đạt 1.000 tấn/năm,
mang lạ i hiệu quả kinh tế cao cho ngườ i nuôi vì
giá bán tôm hù m khá cao [2]. Thế nhưng, do sự
phát triển nghề nuôi mộ t cá ch tự phá t, thiế u quy
hoạ ch nên môi trường nuôi tôm ngà y cà ng bị ô
nhiễm, tôm chết vì dịch bệnh khiế n cho mộ t số
hộ nuôi tôm đứ ng trướ c nguy cơ bị phá sả n. Vấn
đề an toàn lao động trong hoạt động nuôi tôm
hùm trên biể n như trang bị điệ n phụ c vụ việ c
cung cấ p khí cho ngườ i lặ n, cá c phương tiệ n
bả o vệ cá nhân, trang bị phao cứ u sinh cho việ c
đi lạ i giữ a bè vớ i bờ và ngượ c lạ i... chưa đượ c
ngư dân quan tâm đú ng mứ c. Đã xả y ra một số
vụ tai nạ n lao độ ng khi cho tôm ăn trong lồ ng
nuôi do thiế u trang bị bả o hộ lao độ ng. Các yếu
tố tác động củ a điề u kiệ n thời tiết bấ t lợ i cũ ng
đang tiề m ẩ n các nguy cơ gây tai nạn trong hoạt
động nuôi tôm hùm cầ n phả i đượ c quan tâm
nghiên cứ u.
II. NỘI DUNG
1. Thực trạng về ngư cụ
1.1. Kiểu lồng hở
- Kích thước lồng nuôi có nhiề u loạ i:
4m x 4m; 3m x 4m và 4m x 5m, chiều cao cọc
lồng đặt ở nơi có độ sâu từ 2 ÷ 5m lúc thủy triều
thấp nhất.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 159
- Cọc gỗ: đườ ng kí nh 15 ÷ 20mm được
vót nhọn một đầu và được cắm chặt xuống đất,
khoảng cách giữa 2 cọc từ 1,5 ÷ 2m.
- Nẹp ngang: thường dùng gỗ tròn có
đườ ng kí nh 120 ÷ 150 mm hoặc dùng gỗ xẻ
(gỗ 40 x 60mm), nẹp cách nhau từ 1,5 ÷ 2m.
- Khung lồng: bằ ng sắt đườ ng kí nh
18 ÷ 20mm được làm thành các khung hình chữ
nhật, khoảng cách giữa 2 thanh sắt từ 1 ÷ 1,2 m,
chiều rộng khung sắt làm thân lồng từ 1 ÷ 2m,
lưới lồng được bện trực tiếp vào các khung sắt
sau đó lắp ghép lại và được cố định bở i khung
cọc gỗ.
- Lưới lồng: theo kiểu lồng 1 hoặc 2 lớp lưới
ghép vào nhau. Vật liệu lưới PE hoặ c Nilon, kích
thước mắt lưới 2a = 25 ÷ 35mm (tùy theo cỡ
giống thả nuôi).
Đối với tấm lưới đáy còn làm thêm một lớp
lưới ruồi nhằm đảm bảo thức ăn không bị lọt ra
ngoài khi cho ăn. Ngoài ra, ngườ i ta cò n gia cố
thêm một lớp lưới cước (cước 150 ÷ 180mm),
kích thước mắt lưới 2a = 35 ÷ 40mm tại những
phần có làm khung sắt. Những lồng sử dụng để
ương tôm hùm giống thì kích thước mắt lưới nhỏ
hơn để tôm con không chui ra được (2a < 5mm).
- Mặt trên của lồng có nắp đậy bằng lưới để
phò ng tránh trộm cắ p hoặ c thủ y triều dâng cao
ngập lồng nuôi.
1.2 Kiểu lồng kín
Lồng nuôi tôm được hàn bằng sắt tròn có
đường kính 16mm được hàn thành khung chữ
nhật hay hình vuông, có đủ độ cứng và rắn chắc.
Góc lồng thường được gia cố cá c miếng sắ t chị u
lự c hình tam giác vuông cân.
Lồng nuôi có các cỡ: (4m x 4m x 1,8m);
(3m x 3m x 1,3m). Khung lồng bằng sắt thường
được sơn chống gỉ.
Lưới bọc lồng có kích thước mắt lưới
2a = 30 ÷ 40mm. Chính giữa lồng, mặt trên làm
một cửa hình vuông, diện tích 0,8m
2
để người
nuôi tôm lặn vào trong lồng cho tôm ăn hoặc dọn
vệ sinh lồng và lấy thức ăn thừa ra ngoài.
Lồng nuôi tôm hùm được sản xuất với giá
thành khoảng 4 triệu đồng/lồng, mỗi lồng ngư
dân thả nuôi từ 80 ÷ 90 con tôm hùm thương
phẩm.
Thời gian sử dụng lồng: sử dụng cho tới khi
nào hỏng thì thôi, không có thời gian cố định,
lưới bọc lồng rách ngư dân vá lại hoặc thay lưới
mới.
Lồng chìm được đặt ven bờ, nơi có độ sâu
nhỏ, khoảng từ 4 ÷ 5m và được neo cố định
xuống đáy biển, phía trên có buộc phao bằng
các can nhựa để đánh dấu và báo cho mọi
người về vị trí đặt lồng.
Lồng nổi được liên kết với bè bằng dây
thừng tại bốn góc của lồng, đặt cách mặt nước
1m.
1.3 Kết cấu bè
Bè nuôi tôm được liên kết bằng các cây
gỗ, đường kính từ 100 ÷ 150mm, chiều dài
từ 3 ÷ 3,5m, hoặc các thanh gỗ có kích thước
100mm × 150mm ×3 (3,5)m. Các thanh gỗ được
liên kết với nhau bằng các ốc vít, tạo thành các
ô có kích thước 4m × 4m để đặt các lồng ở giữa.
Để neo bè, người ta sử dụng các neo Hải
quân trọng lượng từ 30 ÷ 50kg, lĩn neo bằng dây
thừng có đường kính từ 10 ÷ 15mm, thời gian sử
dụng từ 7 ÷ 10 năm. Mỗi bè sử dụng 9 neo, gồm
4 neo chính và 5 neo phụ, 4 neo chính được đặt
ở 4 góc của bè.
Do đặc điểm địa hình khu vực nuôi tôm,
nên ở mạn phía Bắc đặt 3 neo phụ, mạn phía
Nam đặt 2 neo phụ. Khối lượng của neo cũng
như chiều dài lĩn neo được ngư dân tính toán
theo kinh nghiệm. Lĩn neo được làm bằng vật
liệu tổng hợp, đường kính từ 60 ÷ 70mm, lĩn neo
dùng cho neo phụ có đường kính 30mm.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
160 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
2. Thực trạng trang thiết bị phục vụ quá trình nuôi
- Máy nén khí: là loại máy MPQ 906 RESUN do Trung Quốc sản xuất, công suất 120W, hoạ t
độ ng do nguồ n điệ n củ a bình ăc-quy 12V cung cấ p.
- Dây dẫ n khí: làm bằng nhựa, đường kính 10mm, chiều dài 10 ÷ 15m.
3. Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân
Bảng 1. Phương tiện bảo vệ cá nhân trang bị trên bè nuôi tôm hùm
Phương tiện bảo
vệ cá nhân

(cái)
Ủng
(đôi)
Găng
tay
(đôi)
Áo
mưa
(cái)
Gương
lặn
(cái)
Khẩu
trang
(cái)
Quần
áo lặn
(bộ)
Áo
phao
(cái)
Số lượng 0 0 0 10 40 0 0 0
4. Các sự cố và tai nạn lao động trên bè nuôi tôm hùm lồng trên biển
4.1 Sự cố xảy ra với hệ thống neo bè
Bảng 2. Sự cố xảy ra với hệ thống neo bè
Số vụ tai nạn Nguyên nhân Biện pháp khắc phục
25 Đứt lĩn neo chính do sóng gió lớn Thay lĩn neo mới
18 Đứt lĩn neo phụ do sóng gió lớn Thay lĩn neo mới
10 Neo bị bậ t lên khỏi đáy Thực hiện thả neo lần 2
4.2 Sự cố đối với máy nén khí
Bảng 3. Sự cố máy sục khí
Thời gian sử dụng (thá ng) 3 6 9 12
Số lầ n sự cố 4 9 27 36
4.3. Tai nạn lao động trên bè
Bảng 4. Các dạ ng tai nạn lao độ ng trên bè
STT Loại tai nạn Số vụ Tỷ lệ %
1 Giẫ m đinh 15 37,5
2 Bị điện giật 02 05
3 Trượt ngã xuống biển 23 57,5
Tổng cộng 40 100
5. Nhậ n xé t về nhữ ng yế u tố tiề m ẩ n tai nạ n
củ a nghề nuôi tôm hù m lồ ng trên biển
5.1. Kết cấu lồng nuôi tôm hùm
Quá trình cho tôm ăn và vệ sinh lồng nuôi,
với kích thước của người lặn và một số vật dụng
mang theo, trong trường hợp bị tuột ống dẫn khí,
hoặc máy sục khí ngừng hoạt động, không cung
cấp khí cho người lặn, thì thời gian để cho người
lặn ngoi lên khỏi mặt nước là rất ngắn, việc thoát
ra khỏi lồng rất khẩn cấp, nếu chậm trễ sẽ rất
nguy hiểm đến tính mạng.
Trườ ng hợ p môi trường nước bị đục, không
thấy được cửa lồng, hoặc trong điều kiện sóng
lớn cũng làm cho người lặn khó tiếp xúc được
với cửa lồng để chui ra.
Lồng nuôi được liên kết với bè bằng dây
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 161
thừng, trong thời gian dài sử dụ ng, dây bị giảm
độ bền, có thể bị đứt do trọ ng lượ ng của chính
bản thân lồng hoặc do sóng lớn.
Khi có người lặn đang làm việc ở bên trong
lồ ng, trường hợp dây buộ c lồ ng bị đứt, người lặn
và lồng sẽ chìm theo, lúc này ống dây cung cấp
khí cho người lặn có thể bị tuột ra khỏi người
lặn, không cung cấp khí cho người lặn dẫn đến
tai nạn nguy hiểm.
Diện tích cửa lồng 0,8m
2
là quá hẹ p để thoát
thân khi có sự cố xảy ra.
5.2. Kết cấu bè nuôi tôm hùm
Bè được làm từ các cây gỗ tròn có đường
kính 100 ÷150mm hoặc các thanh gỗ có kích
thước 100 × 150mm không phải là loại gỗ tốt và
được sử dụng qua nhiều năm, dễ bị mục hỏng.
Khi đi lại trên bè, trong điều kiện sóng gió
lớn bè bị lắc, người lao động có thể giẫm chân
lên các cây gỗ bị mục dễ bị trượt chân ngã, hoặ c
giẫ m phả i đinh nhô lên gây ra thương tí ch.
Trong quá trình neo bè, lĩn neo buộc vào bè
luôn luôn căng. Trong điều kiện sóng gió lớn có
thể làm lĩn neo bị đứt, bật neo lên khỏi đáy hoặc
bị rê neo.
5.3. Trang thiết bị phục vụ quá trình nuôi
Máy nén khí không phả i là loạ i máy chuyên
dùng cho việc lặn biển. Nguồ n điệ n cung cấ p
cho máy là bình ăc-quy 12V, các cực của bình,
các kẹp điện, công tắc nguồn bị gỉ sét, tiếp xúc
điện kém, việc cung cấp điện cho máy sục khí
thườ ng bị gián đoạn, không ổn định, thậ m chí có
trường hợp bình hết điện đột ngột trong khi có
người đang làm việc bên trong lồng.
Ống dây dẫ n khí cho người lặn được làm
bằng ống nhựa, trong quá trình làm việc khi
người lặn di chuyển trong lồng, ống dây dễ bị
vướng vào các trụ hoặc các chướng ngại vật
trên lồng, vướng vào dây buộc phao lồng chìm,
làm cho ống dẫn khí bị tuột ra khỏi miệng của
người lặn. Ngoà i ra, ống dẫn khí có thể bị gập
lại trong quá trình sử dụng và không cung cấp
được khí cho người lặn.
5.4. Trang bị bảo hộ lao động
Trong quá trình làm việc, người lao động
chưa được trang bị quần áo lặ n để giữ ấm,
chưa trang bị phao áo, phao tròn cứu sinh trên
bè hoặc trên thuyền thúng khi di chuyển từ bờ ra
bè và ngược lại.
Khi phải làm việc trong điều kiện thờ i tiế t
bấ t lợ i, nế u không có áo phao cứu sinh cá nhân
thì nguy cơ xảy ra tai nạn cho người lao động là
rất cao.
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận
Nguyên nhân gây ra các tai nạn chủ yếu là
do sự bất cẩn của ngư dân trong quá trình làm
việc trên bè.
Thời gian sử dụng lồng, bè không đảm bảo,
cách thức neo bè, thời gian sử dụng lĩn neo, kết
cấu bè, vật liệu làm bè không đảm bảo.
Máy nén khí không được ngư dân thực hiện
đầy đủ chế độ bảo dưỡng sửa chữa thường
xuyên, các bộ phận của máy bị gỉ sét dẫn đến
tiếp xúc kém, không cung cấp điện cho máy
trong khi lặn.
Ống dây cung cấp khí có đường kính nhỏ,
mềm dễ bị gập lại trong quá trình lặn. Ống dây
dễ bị mắc hoặc vướng vào các bộ phận khác
của bè và lồng nuôi.
Trang bị bảo hộ lao động chưa đượ c trang
bị đầ y đủ , thiếu nghiêm trọng.
2. Đề xuất
Trang bị đầy đủ các phương tiện phục vụ
lặn biển cho tôm ăn và vệ sinh lồng bè như
gương lặn, quần áo lặn, bình ôxy, các phương
tiện bảo vệ cá nhân như phao áo, ủng, găng tay
cho người lao động làm các công việc trên bè
hoặc di chuyển bằng thuyền thúng từ bờ ra bè
và ngược lại.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
162 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Máy móc cung cấp khí phải là má y chuyên
dụ ng, đáp ứng đầy đủ lượng khí cung cấp cho
người lặn để tiến hành các công việc bên trong
lồng trong một khoảng thời gian dài.
Thay thế các ống dây mềm dẫn khí bằng
các ống dây có chất lượng tốt, đủ khí để thở
trong khi lặn. Khi có sự cố nguy cấp có thể sử
dụng ống dây để kéo người bị nạn ra khỏi miệng
lồng.
Khi thực hiện nhiệm vụ lặn cần phải có
người thứ hai theo dõi trên bè.
Khi có sóng gió mạnh từ cấp 6, cấp 7 trở lên,
áp thấp nhiệt đới hoặc bão ảnh hưởng tới khu
vực nuôi tôm hùm lồng, các cơ quan có thẩm
quyền cần có biện pháp nghiêm cấm không cho
ngư dân ra khu vực nuôi tôm.
Cần phổ biến kiến thức về an toàn lao động
trên biển cho ngư dân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2008), Quyết định 2383/QĐ-BNN-NTTS về nuôi tôm hùm thương phẩm,
Hà Nội 2008.
2. Chi cục Khai thác và bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản Khánh Hòa (2008), Giới thiệu tình hình nuôi tôm hùm ở
Khánh Hòa.
3. Trung tâm Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Trung bộ (2004), Đặc điểm khí tượng thủy văn tỉnh
Khánh Hòa.
4. Đặng Văn Duy (2009), Đánh giá các yếu tố tiềm ẩn tai nạn trong sản xuất của nghề nuôi tôm hùm lồng ở
thôn Bình Ba, xã Cam Bình, thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, Đồ án tốt nghiệp, Đại học Nha Trang 2009.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 163
THÀNH TỰU GIẢM NGHÈO CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ
GIỚI: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
ACHIEVEMENT IN POVERTY REDUCTION IN SOME COUNTRIES IN THE
WORLD: EXPERIENCE LESSONS FOR VIETNAM
Phạm Hồng Mạnh
Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Bài viết này nhằm điể m qua nhữ ng kinh nghiệ m giả m nghèo củ a mộ t số quố c gia trên thế giớ i có vị trí
đị a lý và điề u kiệ n xã hộ i tương đồ ng như Việ t Nam để rú t ra nhữ ng bà i họ c kinh nghiệ m phụ c vụ cho công tá c
giả m nghè o củ a Việ t Nam giai đoạ n 2011 - 2015. Từ nhữ ng kế t quả trong công tá c giả m nghè o củ a nhữ ng quố c
gia nà y cho thấ y, mộ t số bà i họ c thà nh công đượ c rú t ra đó là : sự ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô đảm bảo
cho tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững; xây dựng các chính sách hướng tới người nghèo đảm bảo hiệu quả
và linh hoạt; phát triển và nâng cao hiệu quả thị trường tài chính vi mô tại khu vực nông thôn và cuố i cù ng
chí nh là sự cam kết của Chính phủ và chính quyền các địa phương trong việc thự c hiệ n công tá c giảm nghèo
và chống tái nghèo. Đây chí nh là nhữ ng kinh nghiệ m quý giú p Chí nh Phủ và chí nh quyề n cá c đị a phương xây
dựng các chính sách giảm nghèo nhanh, bề n vữ ng trong giai đoạ n tớ i.
Từ khóa: kinh nghiệ m, giả m nghè o, nghèo
ABSTRACT
This article airms to point the poverty reduction experience from some countries the world that is
similarities geographic location and social conditions as Vietnam to draw lessons learned for Vietnam poverty
reduction strategies for the period 2011 to 2015. From the results of poverty alleviation in these countries
shows that, a few lessons are drawn that is: political stability and macroeconomic ensure rapid economic
growth, sustainable; building the pro-poor policies to ensure effective and flexible; development and raising
the efficiency of the microfinance market in rural areas and finally is the commitment of the Government and
authorities local in the implementation of poverty reduction and anti-poverty. These are the good experiences
to help the Vietnam Government and local authorities to build faster poverty reduction policies, sustainable in
the coming period.
Keywords: experience, poverty reduction, poverty
V/N ÐL fP/O ÐOl
I. MỞ ĐẦ U
Đói nghèo luôn nhậ n được quan tâm củ a
mọ i quố c gia trên thế giớ i trong bất kỳ giai đoạn
phát triển nào. Nhiều quố c gia và tổ chức quốc
tế đã rấ t nỗ lự c trong việ c xây dự ng và đưa ra
cá c chí nh sá ch giả m nghè o cho quố c gia mì nh
[5]. Nhiề u cuộ c hộ i thả o quố c tế đã đượ c tổ chứ c
nhằ m chia sẻ nhữ ng kinh nghiệ m thà nh công
củ a cá c quố c gia nhằ m thú c đẩ y tiế n trì nh xó a
đó i, giả m nghè o tạ i mỗ i quố c gia để đạ t đượ c
cá c mụ c tiêu phá t triể n Thiên niên kỷ .
Tạ i Việ t Nam, vấ n đề xó a đó i giả m nghè o
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
164 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
đã sớ m nhậ n đượ c sự quan tâm củ a Chí nh Phủ .
Điề u nà y đượ c thể hiệ n trong cá c chiế n lượ c và
kế hoạ ch phá t triể n kinh tế xã hộ i trong mỗ i giai
đoạ n [1], [2]. Nhữ ng thà nh công bướ c đầ u củ a
Việ t Nam trong nỗ lự c giả m nghè o và chố ng tá i
nghè o đã đượ c cộ ng đồ ng quố c tế ghi nhậ n [11],
[15]. Đây đượ c coi là độ ng lự c quan trọ ng để
Việ t Nam tiế p tụ c thự c hiệ n công tá c giả m nghè o
trong giai đoạ n mớ i, hướ ng tớ i giả m nghè o chấ t
lượ ng và bề n vữ ng [14]. Tuy nhiên, công tá c
giả m nghè o hiệ n nay vẫ n đang tiề m ẩ n nhiề u bấ t
ổ n, như: lạ m phá t, cá c chí nh sá ch giả m nghè o í t
linh hoạ t, ngườ i dân tạ i cá c khu vự c nghè o vẫ n
cò n hạ n chế trong việ c tiế p cậ n thị trườ ng tí n
dụ ng vi mô, v.v … [3], [4], [12], [13] vẫ n là nhữ ng
yế u tố đang là m cả n trở quá trì nh nà y.
Xuất phát từ nhữ ng vấn đề trên, bài viết này
nhằ m điể m qua nhữ ng kinh nghiệ m giả m nghè o
củ a mộ t số quố c gia, đặ c biệ t là nhữ ng quố c gia
trong khu vự c để là m rõ thêm nhữ ng bà i họ c
thà nh công mà Việ t Nam có thể họ c hỏ i trong
việ c xây dự ng cá c chí nh sá ch giả m nghè o trong
giai đoạ n mớ i.
II. NHỮ NG THÀ NH TỰ U GIẢ M NGHÈ O CỦ A
VIỆ T NAM TRONG THỜ I GIAN QUA
Kể từ khi Đại Hội VI của Đảng vào năm
1986, Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường
định hướng XHCN, từ một nước thiếu lương
thực đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo, và
giữ vị trí trong nhóm các nước xuất khẩu gạo lớn
nhất thế giới. Từ đó đến nay, an ninh lương thực
quốc gia luôn được ổn định.
Đầu thập niên 1990, nguy cơ đói nghèo đã
được nhận rõ, mà trước hết là số liệu trẻ em
suy dinh dưỡng đã ở mức báo động gần 50%
[6]. Ngay đầu năm 1991, vấn đề xóa đói giảm
nghèo đã đề ra trong các diễn đàn, các nghiên
cứu, và triển khai thành phong trào xóa đói giảm
nghèo. Nghị quyết Quốc hội Việt Nam về nhiệm
vụ năm 1993 đã đánh giá cao tinh thần cộng
đồng, tương thân tương ái “trong nhân dân đã
phát triển nhiều hoạt động từ thiện giúp đỡ nhau
và phong trào xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp
nghĩa, v.v…”. Sáng kiến của Thủ tướng Chính
phủ được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lấy ngày
17 tháng 10 là “Ngày vì người nghèo”, đó cũng
là ngày Liên Hợp Quốc chọn là ngày “Thế giới
chống đói nghèo” [16], [17].
Năm 2000, Việt Nam đã ký vào Tuyên bố
Thiên niên kỷ với 8 mục tiêu: (i) xóa bỏ tình trạng
cùng cực và thiếu đói; (ii) Đạt phổ cập giáo dục
tiểu học; (iii) Tăng cường bình đẳng giới và nâng
cao vị thế phụ nữ; (iv) Giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ
sinh; (v) Tăng cường sức khỏe bà mẹ; (vi) Phòng
chống bệnh HIV/AISD, sốt rét và các bệnh khác;
(vii) Đảm bảo bền vững môi trường và (viii)
Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích
phát triển [2]. Trên cơ sở này Thủ tướng Chính
phủ đã phê duyệt Chiến lược toàn diện về tăng
trưởng và xóa đói giảm nghèo [1]. Đây là chiến
lược đầy đủ, chi tiết phù hợp với mục tiêu phát
triển Thiên niên kỷ (MDG) của Liên Hợp Quốc
công bố. Trong quá trình xây dựng chiến lược
có sự tham gia của chuyên gia các tổ chức quốc
tế tại Việt Nam như IMF, UNDP, WB, v.v... tổng
hợp thành các mục tiêu phát triển Việt Nam. Việc
cụ thể hóa chiến lược thông qua các chương
trình, dự án được triển khai, giám sát và đánh
giá thường xuyên của các cơ quan chức năng.
Kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu
Quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 đã
đạt được trong giai đoạn này, như: (i) xây dựng
các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu cho phần
lớn các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang
ven biển và hải đảo; (ii) đã có 6 triệu lượt hộ
nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi; (iii) thực
hiện khuyến nông - lâm - ngư, chuyển giao kỹ
thuật, hướng dẫn cách làm ăn cho 4,2 triệu lượt
người nghèo; (iv) miễn, giảm học phí học nghề
cho 150 nghìn người nghèo; (v) 100% nguời
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 165
nghèo được Nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế,
khi ốm đau đi khám, chữa bệnh được Quỹ bảo
hiểm y tế thanh toán theo quy định; (vi) miễn,
giảm học phí và các khoản đóng góp xây dựng
trường cho 19 triệu lượt học sinh nghèo, trong
đó có 9 triệu học sinh tiểu học; (vii) tập huấn
nâng cao năng lực cho 170 nghìn cán bộ tham
gia công tác giảm nghèo ở các cấp, trong đó
95% là cán bộ cấp cơ sở; (viii) hỗ trợ để xóa nhà
tạm cho 500 nghìn hộ nghèo [17].
Để đạt được những kết quả trên, Chính
phủ đã huy động một nguồn vốn đáng kể cho
công tác này. Tổng nguồn vốn cho giảm nghèo
giai đoạn 2006 - 2010 khoảng 43.488 tỷ đồng.
Trong đó, ngân sách trung ương chiếm 28,68%,
ngân sách địa phương là 5,2%, nguồn vốn huy
động từ cộng đồng là 5,66%, nguồn vốn huy
động quốc tế là 0,68%, và nguồn vốn tín dụng
là 59,79% [17].
Trong báo cáo đánh giá của UNDP đã
khẳng định: “Trong thập kỷ qua, Việt Nam đã
đạt được những thành công to lớn trong cuộc
chiến chống đói nghèo với tỷ lệ nghèo đói giảm
từ 58,1% năm 1993, xuống dưới 12,1% vào năm
2008, tỷ lệ này vẫn còn tương đương với trên 10
triệu người nghèo trên cả nước. Những người
nghèo, chủ yếu tập trung ở vùng núi, vùng xa
và vùng dân tộc thiểu số, đang ngày càng khó
có thể tự mình thoát khỏi đói nghèo do bị cô
lập và không có khả năng tiếp cận với nguồn
thông tin, thị trường và các nguồn lực, đặc biệt
là đất đai” [11]. Theo Quyết định 1785/TTg ngày
27/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Tổng
điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm
2011 sẽ cho số liệu mới về đói nghèo, nếu theo
chuẩn mới thì số hộ đói nghèo, cận đói nghèo sẽ
lớn hơn 10%. Những thách thức được đặt ra: (i)
chênh lệch giàu nghèo theo hướng tăng số giàu
và tăng cả số nghèo do quá trình phân bố nguồn
lực, phân bổ thu nhập và lợi thế và những bất lợi
nghiêng về khu vực nông thôn, miền núi, đồng
bào dân tộc và vùng thiên tai; (ii) nguy cơ tái
nghèo do biến đổi khí hậu toàn cầu với mức độ
thiên tai ngày càng nặng nề làm cản trở những
nỗ lực xóa đói giảm nghèo ở vùng thiên tai; (iii)
quá trình hội nhập và cạnh tranh quốc tế, ngay
trong quốc gia cùng với xu thế công nghiệp hóa,
đô thị hóa xuất hiện thêm những người nghèo
do không hội nhập được với xu hướng mới,
nguy cơ khủng khoảng kinh tế và thất nghiệp
vẫn còn, v.v...
III. THỰ C TIỄ N VÀ KINH NGHIỆ M GIẢ M
NGHÈ O CỦ A MỘ T SỐ QUỐ C GIA TRÊN THẾ
GIỚ I
Cuộc đấu tranh chống nghèo khổ đang
ngày càng được chú trọng và trở thành vấn đề
chung của mọi quốc gia, nhưng cho đến nay
các quan niệm về nghèo đói, cũng như các giải
quyết, lựa chọn biện pháp xóa đói giảm nghèo
của các quốc gia cũng rất khác nhau.
1. Trung Quốc
Trong đánh giá về tổng kết kinh nghiệm của
Trung Quốc tại hội thảo về đói nghèo được tổ
chức tại Thượng Hải [10] cho thấy, các chương
trình giảm nghèo của Chính phủ Trung Quốc đã
đem lại những bài học kinh nghiệm quan trọng
tại quốc gia đông dân nhất thế giới này.
Trong thời gian cải cách từ năm 1978, Trung
Quốc giảm đáng kể tỉ lệ đói nghèo ở quy mô lớn
thông qua cải cách chính sách mà cụ thể Chính
phủ đã có những chính sách để thúc đẩy nhanh
tăng trưởng chóng. Theo mức chuẩn nghèo quốc
gia, số người nghèo ước tính đã giảm từ khoảng
200 triệu người trong 1981 xuống còn 28 triệu
người trong năm 2002. Theo chuẩn nghèo của
Ngân hàng Thế giới ở mức 1$/người/ngày thì số
người nghèo của nước này đã giảm từ khoảng
490 triệu người xuống còn 88 triệu người trong
giai đoạn này. Tỉ lệ nghèo đói từ 49% trong
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
166 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
1981 xuống còn 6,9% trong năm 2002. Sự giảm
nghèo nhanh chóng của Trung Quốc đạt được
chủ yếu thông qua các chính sách thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế nhanh chóng. Tốc độ tăng trưởng
GDP trung bình 9,4%/năm trong giai đoạn
1979 - 2003. Việc thực hiện thông qua tiến trình
cải cách liên tục và thay đổi cấu trúc trong nền
kinh tế từ kế hoạch tập trung sang cơ chế thị
trường, đồng thời tập trung trong lĩnh vực sản
xuất nông nghiệp và chuyển giao công nghệ.
Từ năm 1994, Chính phủ Trung Quốc đã
đưa ra chương trình “8 - 7” (chương trình quốc
gia về xóa đói giảm nghèo). Trong chương trình
này, Chính phủ đã nhấn mạnh đến trách nhiệm
lãnh đạo của chính quyền địa phương về hiệu
quả của công tác giảm nghèo trong địa bàn phụ
trách. Mục tiêu của chiến lược “8 - 7” là: (i) hỗ
trợ các hộ nghèo bằng tiền mặt để có đất sản
xuất và chăn nuôi, cải thiện cơ hội tiếp cận được
việc làm phi nông nghiệp; (ii) đầu tư xây dựng
để đảm bảo hầu hết các thị trấn có đường giao
thông, điện, và cải thiện tiếp cận với nước sạch
cho hầu hết các vùng quê nghèo, và (iii) hoàn
thành phổ cập tiểu học giáo dục và chăm sóc
sức khỏe ban đầu, phòng và chữa bệnh.
Từ năm 1997, chương trình “8 - 7” tập
trung vào ba chương trình chính: (i) các khoản
vay trợ cấp, thực phẩm và hỗ trợ việc làm do
Chính phủ đầu tư từ ngân sách Trung ương.
Trợ cấp các khoản vay, hơn một nửa của tổng
số vốn theo kế hoạch ban đầu chủ yếu là dành
cho các doanh nghiệp và hộ gia đình hoạt động
trong ngành công nghiệp và nông nghiệp. Gần
30% tổng số vốn cho chương trình này là đầu tư
vào các ngành sản xuất lương thực, thực phẩm
nhằm tạo việc làm, đồng thời sử dụng lao động
dư thừa trong nông thôn để phát triển cơ sở hạ
tầng. Gần 30% nguồn vốn dành cho chương
trình đã được đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp
và 35% cho đầu tư cơ sở hạ tầng.
Tuy vậy, chương trình “8 - 7” ít chú trọng
hơn vào giáo dục nông thôn và chăm sóc sức
khỏe. Trong thời gian 1994 - 2000, Chính phủ
Trung Quốc đã tài trợ về các chương trình giảm
nghèo đạt 113 triệu Nhân dân tệ (tương đương
với 13,6 tỷ USD), trung bình hàng năm chiếm
5 - 6% tổng số chi tiêu Chính phủ (tương đương
một tỷ USD), một nguồn vốn đáng kể trong ngân
sách chi tiêu của Chính phủ.
Các chương trình 8 - 7 trong việc hỗ trợ giảm
nghèo của Trung Quốc đã góp phần phát triển
kinh tế - xã hội tại các khu vực nghèo. Bên cạnh
đó, việc phân bổ kinh phí theo tỉ lệ đói nghèo
tại mỗi địa phương và quan trọng hơn, nguồn
tài chính đã đến được với những người nghèo.
Tốc độ tăng trưởng GDP trong nông nghiệp tại
các khu vực nghèo đã tăng lên 7,5%, cao hơn
so với mức trung bình cả nước là 7%. Năng lực
của Chính phủ để huy động nguồn lực là yếu
tố quan trọng, trong đó sự phối hợp của Chính
phủ với các tổ chức như: các doanh nghiệp, các
tổ chức tài chính, các tổ chức phi Chính phủ và
các tổ chức quốc tế trong quá trình thực hiện
các chương trình giảm nghèo. Sự học hỏi và thử
nghiệm liên tục cho phép Trung Quốc có những
kinh nghiệm riêng của mình.
Việc lựa chọn các chương trình, thiết kế dự
án, quản lý và đánh giá đã được thực hiện với sự
tham gia của người dân nhằm giảm thiểu những
trường hợp đầu tư vào các chương trình và dự
án nghèo đói không đáp ứng được nhu cầu của
những người nghèo. Dựa trên bài học quan
trọng này, Chính phủ Trung Quốc khởi động và
thực hiện một chương trình giảm nghèo cho khu
vực nông thôn giai đoạn 2001 - 2010. Bên cạnh
những đối tượng nghèo trước đây, sẽ có thêm
50.000 làng nghèo được đưa vào chương trình.
Chương trình mới cũng đặc biệt nhấn mạnh sự
tham gia của người dân vào các chương trình
giảm nghèo. Hơn nữa, bệnh tật cũng được xem
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 167
như là một yếu tố gây ra tình trạng nghèo cho
khu vực nông thôn. Vì vậy, Chính phủ Trung
Quốc tiếp tục đẩy mạnh hơn các chương trình
chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội ở nông
thôn. Quan trọng hơn là chương trình mới này
còn kết hợp với các chính sách nhằm giảm tình
trạng di dân từ nông thôn ra thành thị và tăng
cường dịch vụ giáo dục ở nông thôn.
Có thể nói rằng Trung Quốc đạt được thành
tựu giảm nghèo như trên là do những cải cách
đúng đắn và sự phát triển mạnh của khu vực
nông thôn đã tạo ra những kết quả thật sự ấn
tượng trong chiến lược giảm nghèo của mình.
2. Malaysia
Malaysia là một quốc gia Đông Nam Á với
diện tích 329,758km
2
, dân số khoảng 26,2 triệu
người (năm 2006). Cơ cấu kinh tế đã thay nhanh
chóng: nông nghiệp 7,3%, công nghiệp 33,5%,
dịch vụ 59,1%, thu nhập bình quân đầu người
ở mức 11.160 USD trong năm 2006. Việc thực
hiện các chính sách giảm nghèo của nước này
đã đạt được những kết quả quan trọng. Theo báo
cáo của Chương trì nh phá t triể n Liên Hiệ p Quố c
[9], tỉ lệ nghèo đã giảm xuống nhanh chóng từ
khoảng 50% - 60% vào những năm 1970 xuống
còn 8,9% vào năm 1995, 7,5% vào năm 1999
và chỉ còn 5,1% vào năm 2002. Đặc biệt, tỷ lệ
đói nghèo ở nông thôn đã giảm đến 15,3% và
khu vực thành thị là 3,7%. Sự thành công trong
nhiều chương trình của Chính phủ đã cải thiện
chất lượng cuộc sống của người nghèo ở nông
thôn. Đến cuối năm 1995, khoảng 88% hộ gia
đình nghèo tại khu vực đô thị và 72% hộ gia
đình nông thôn nghèo ở Malaysia có điện. Ngoài
ra, 92% số hộ nghèo thành thị và 65% số hộ ở
nông thôn đã tiếp cận với nước sạch. Về khả
năng tiếp cận các cơ sở y tế, khoảng 88% người
nghèo ở khu vực thành thị và 77% ở nông thôn
đã tiếp cận được các cơ sở khám chữa bệnh
của Chính phủ hoặc khu vực tư nhân. Ngoài ra,
94% hộ gia đình nông thôn nghèo và hầu hết
người nghèo tại đô thị được đi học. Trong phạm
vi 9km có một trường phổ thông và một trường
trung học. Hơn nữa, các loại hỗ trợ giáo dục
như học bổng và miễn phí sách giáo khoa, thực
phẩm, chỗ ở, và đồng phục được cung cấp cho
những học sinh của các hộ nghèo.
Bên cạnh đó, Chính phủ Malaysia đã chú ý
tới vấn đề giải quyết việc làm, phân phối những
thành quả của từ tăng trưởng kinh tế. Đã có
sự phân phối ngày càng công bằng hơn giữa
các nhóm thu nhập khác nhau. Hệ số Gini giảm
từ 0,513 trong năm 1970 xuồng còn khoảng
0,464 vào năm 1995. Thu nhập của hộ gia đình
nằm trong 40% nhóm nghèo nhất đã tăng từ
11,5% - 13,4% so với cùng thời kỳ.
Những kinh nghiệm thành công trong công
tác giảm nghèo và sự phát triển kinh tế xã hội
của Malaysia đó là: (i) giữ được sự đoàn kết
giữa các dân tộc để có được sự ổn định chính
trị, không tạo ra những cản trở và xung đột trong
phát triển xã hội; (ii) các chính sách của Chính
phủ đều có sự tham gia của người dân, do đó,
các chính sách công được thực hiện bởi một
sự đồng thuận cao, thực sự giải quyết nhu cầu
của nhân dân; (iii) có những giải pháp để tăng
trưởng kinh tế nhanh chóng để tạo ra những
nền tảng trong nỗ lực giảm nghèo, trong đó chú
trọng giải quyết việc làm cho người nghèo nhằm
tăng thu nhập của họ; (iv) quan tâm trong việc
phân phối nhằm đảm bảo công bằng trong các
tầng lớp dân cư; (v) những cam kết của Chính
phủ trong tiến trình xóa đói giảm nghèo, sự phối
với các tổ chức quốc tế để tạo nguồn lực cho
việc giảm nghèo; (vi) tập trung tối đa vào các
chương trình kinh tế mũi nhọn nhằm tăng năng
suất và thu nhập cho người lao động; (v) chú
trọng về giáo dục và đào tạo cho người nghèo,
vì vậy không có sự chuyển giao đói nghèo giữa
các thế hệ; (vi) chính sách công và các chương
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
168 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
trình công cộng mang tính linh hoạt nhằm đảm
bảo hiệu quả; (viii) khuyến khích các tổ chức phi
Chính phủ và khu vực tư nhân giải quyết các
vấn đề xã hội trong đó có xóa đói giảm nghèo và
quan trọng hơn không được coi là đối thủ cạnh
tranh với Chính phủ.
3. Hàn Quốc
Trong báo cáo tại Hội thảo được tổ chức
tại Thụy Điển [7] cho thấy Hàn Quốc đã đạt rất
nhiều tiến bộ về phát triển kinh tế và kinh nghiệm
giảm nghèo. Vào trước những năm 60, với xuất
phát điểm của Hàn Quốc là quốc gia rất nghèo
về tài nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ khi
thực hiện chính sách và chiến lược phát triển
kinh tế theo hướng xuất khẩu. Các chính sách
và chiến lược ấy đã hứa hẹn rằng nghèo đói sẽ
được loại bỏ trong quá trình tăng trưởng. Kết
quả là Hàn Quốc đã đạt tốc độ tăng trưởng
cao kỷ lục khoảng 9%/năm trong suốt thời kỳ
1962 - 1988. Và nếu căn cứ vào chuẩn nghèo
tuyệt đối của năm 1988 được áp dụng cho các
hộ nông dân là 5525 USD/năm/hộ thì tỷ lệ số
hộ nghèo đói năm đó đã giảm xuống còn 6,5%
so với 33,7% năm 1967. Thế nhưng do phát
triển kinh tế quá nhanh nên bức tranh nghèo đói
lại hoàn toàn khác. Chuẩn nghèo đói áp dụng
cho các hộ nông dân năm 1988 ở Hàn Quốc
là 7324 USD/năm/hộ. Tỷ lệ nghèo trong nông
thôn tính cho năm 1988 là 17,9% so với 36,1%
năm 1967 và 31,6% năm 1970. Điều đó chứng
tỏ tăng trưởng kinh tế thực sự đã làm giảm tỷ
lệ số hộ thuộc diện nghèo đói ở nông thôn. Tuy
vậy, chuẩn nghèo ở Hàn Quốc lại phân biệt khá
rõ giữa các vùng thành phố lớn, thành phố vừa
và nhỏ và vùng nông thôn. Chuẩn nghèo ở vùng
nông thôn chỉ bằng 80% chuẩn nghèo ở thành
phố lớn và bằng 90% chuẩn nghèo ở thành phố
vừa và nhỏ. Nhìn chung, tỷ lệ các hộ nghèo
ở vùng nông thôn tuy có giảm nhưng vẫn còn
chậm, hố ngăn cách giàu nghèo có dãn ra nhanh
chóng nhưng nhìn chung cho đến năm 1993 thì
hệ số Gini vẫn không quá lớn, chỉ khoảng trên
0,31. Trong những năm 90, Hàn Quốc đã đạt
được những tiến bộ vượt bậc trong công cuộc
giảm đói nghèo: tỷ lệ đói nghèo ở thành thị đã
giảm trung bình xuống còn 20% một năm trong
giai đoạn 1990 - 1997 và không có sự gia tăng
bất bình đẳng. Nhưng khi khủng hoảng nổ ra
thì thất nghiệp và đói nghèo đã tăng lên nhanh
chóng. Diện đói nghèo ở khu vực thành thị đã
tăng gấp đôi từ 9% năm 1997 lên đến 19,2%
năm 1998. Thất nghiệp tăng từ 2,6% trong quý 2
năm 1997 lên tới đỉnh điểm là 8,7% vào đầu năm
1999. Chính sách tài khóa mở rộng năm 1998
và 1999 đóng vai trò thiết yếu để ngăn chặn suy
thoái kinh tế. Chi tiêu cho bảo trợ xã hội đã tăng
ba lần, từ 0,6% năm 1997 lên 2,0% năm 1999.
Chính phủ đã sử dụng ba công cụ bảo trợ xã
hội chính để giúp đỡ người thất nghiệp, người
nghèo và người già: (i) mở rộng chương trình
bảo hiểm thất nghiệp; (ii) tạo ra thêm việc làm
trong khu vực công và (iii) ban hành chương trình
bảo đảm các điều kiện sống. Và những chương
trình như vậy được đánh giá là đã có tác động
tốt tới người nghèo. Tính đến cuối năm 2001,
tỷ lệ nghèo đếm đầu ở Hàn Quốc chỉ có 4% và
GDP bình quân đầu người là 19.400 USD.
Rõ ràng Hàn Quốc là nước tiêu biểu cho
chính sách phát triển kinh tế bứt lên trước, xử lý
nghèo đói theo sau và đã có những thành công
nhất định.
4. Bangladesh
Bangladesh có dân số gần 130 triệu người
và một nền kinh tế cơ bản dựa vào nông nghiệp.
Nông nghiệp đóng góp trên 35% GDP và sử
dụng 60% lực lượng lao động. Đất đai là quan
trọng nhất ở các vùng nông thôn nhưng sự phân
bố lại rất phân tán. Hơn 50% dân số hộ gia đình
ở nông thôn không có đất mà đa phần trong số
họ đời sống lại phụ thuộc vào nông nghiệp. GDP
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 169
bình quân đầu người là 314 $ /năm (theo giá của
năm 1995 - 1996) và là một trong những nước
nghèo nhất trên thế giới. Tính theo chuẩn nghèo
về lương thực - thực phầm, tỷ lệ hộ nghèo giảm
từ 63% trong những năm 1983 - 1984 xuống còn
47% trong những năm 1995 - 1996 [8].
Một vấn đề mà Bangladesh đã thực hiện đó
là để người nghèo xây dựng chính sách phát
triển thông qua các nguyên tắc: (i) phát triển kinh
tế phải tạo ra thu nhập và việc làm cho người
nghèo. Khi xây dựng chính sách kinh tế, ưu tiên
hàng đầu phải được đảm bảo đó là có đầy đủ
việc làm để tạo ra thu nhập; (ii) tạo ra môi trường
thuận lợi để ưu tiên cho ngành nông nghiệp; (iii)
đảm bảo để người nghèo tiếp cận với những
nguồn lực quan trọng như đất đai, tín dụng và
nhà ở. Người nghèo cũng phải được cung cấp
và tiếp cận với các dịch vụ công như: giáo dục,
các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm
sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình,
nước sạch và vệ sinh môi trường.
Ngoài ra, sự cam kết của Chính phủ trong
công tác chống nghèo đói, tạo môi trường để
người nghèo tham gia các hoạt động của hệ
thống chính quyền địa phương. Chính phủ đảm
bảo việc sử dụng minh bạch các quỹ công,
khuyến khích tăng trưởng của khu vực tư nhân,
thúc đẩy chuyển giao có hiệu quả các dịch vụ
thiết yếu và quan trọng nhất, thiết lập các quy
định pháp luật để người nghèo có thể dễ dàng
tiếp cận với hệ thống tư pháp.
Bên cạnh đó, vấn đề tín dụng vi mô cho
các vùng nông thôn nghèo cũng được chú ý
mà Grameen Bank là một điển hình. Grameen
Bank được chính thức thành lập từ năm 1976 đã
đem lại một kết quả rất ấn tượng trong chương
trình tín dụng vi mô. Đến cuối năm 2003, sau
hai mươi năm kể từ ngày chính thức thành lập,
Grameen Bank đã có 3,02 triệu người đến vay,
trong đó 95% là phụ nữ. Tổng số khoản nợ còn
lưu hành là 262,71 triệu USD, tổng số vốn cho
vay tính từ ngày thành lập là 4,12 tỷ USD trong
đó 3,73 tỷ USD đã được hoàn trả lại. Tỷ lệ hoàn
trả vốn vay đạt 99,08%. Grameen Bank cho vay
theo nhóm người nghèo mà không cần phải thế
chấp và áp dụng các mức lãi suất linh hoạt với
nhiều lãi suất, tùy theo mục đích và đối tượng
vay. Với cách làm này, ngân hàng này đã dựa
trên hai nguyên tắc cơ bản đó là sự tín nhiệm
nhau và liên đới chịu trách nhiệm tập thể giữa
những người nghèo. Đồng thời, Grameen Bank
cũng chứng minh được rằng người nghèo có
khả năng chi trả và hoạt động tín dụng vi mô vẫn
đảm bảo hiệu quả.
Đánh giá chung của những người hoạt động
trong tổ chức này cho thấy phải thực sự kiên trì
vì mục tiêu phục vụ người nghèo và khai thác
triệt để những đặc điểm để khơi dậy những mặt
tích cực của họ. Nhờ đó số hộ nghèo tự vươn
lên thoát nghèo bằng các khoản vay nhỏ từ
Grameen Bank đang tăng lên ngày một nhiều.
Có thể thấy rằng nông nghiệp vẫn là ngành
chiếm ưu thế trong hầu như tất cả các nước trong
khu vực và phần lớn dân số phụ thuộc vào nông
nghiệp. Thực tế này cho thấy rằng, xóa đói giảm
nghèo ở nông thôn phần chủ yếu là từ kết quả
tạo việc làm và tăng trưởng trong nông nghiệp.
Bài học kinh nghiệm từ Bangladesh cho thấy sự
hỗ trợ tích cực của các tổ chức phi Chính phủ đã
chứng minh rằng họ đã thành công trong việc tổ
chức cho người nghèo, tạo ra những động lực
để họ tự phát triển thông qua các chương trình
hỗ trợ như: đào tạo và tín dụng vi mô để người
nghèo có thể thoát ra khỏi bẫy nghèo đói.
IV. BÀ I HỌ C KINH NGHIỆ M ĐỐ I VỚ I VIỆ T
NAM TRONG CÔNG TÁ C GIẢ M NGHÈ O GIAI
ĐOẠ N 2011 - 2015
Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm giảm
nghèo của một số quốc gia trong khu vực, có
điều kiện vị trí địa lý và xuất phát điểm khá
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
170 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
tương đồng, Việt Nam có thể học hỏi những
kinh nghiệm này phục vụ cho chiến lược giảm
nghèo trong giai đoạn tới, đặc biệt từ khi chuẩn
nghèo mới được chính phủ phê duyệt giai đoạn
2011 - 2015, đó là:
Thứ nhất, ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô
đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững. Kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy,
một trong những điều kiện tiên quyết cho quá
trình giảm nghèo ở mỗi quốc gia đó là đảm bảo
ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô làm nền
tảng cho tăng trưởng. Muốn vậy, cần có những
giải pháp cần thiết và tập trung vào những vấn
đề chính: (i) giữ được sự đoàn kết giữa các dân
tộc để có được sự ổn định chính trị, không tạo
ra những cản trở và xung đột trong phát triển xã
hội; (ii) có những giải pháp tăng trưởng kinh tế
nhanh chóng tạo ra những nền tảng trong nỗ lực
giảm nghèo như giải quyết việc làm để tạo thu
nhập cho khu vực nông thôn. Trong bối cảnh của
Việt Nam, lao động tại khu vực nông thôn vẫn
chiếm tỉ lệ cao. Do vậy, cần tạo ra môi trường
thuận lợi để ưu tiên cho ngành nông nghiệp
phát triển bền vững; (iii) tập trung tối đa vào các
chương trình kinh tế mũi nhọn nhằm tăng năng
suất và thu nhập cho người lao động; (iv) chú ý
tới vấn đề phân phối thành quả từ tăng trưởng
kinh tế, đảm bảo sự công bằng giữa các tầng
lớp dân cư.
Thứ hai, xây dựng các chính sách hướng
tới người nghèo đảm bảo hiệu quả, thiết thực và
linh hoạt. Sự cam kết của Chính phủ và sự phối
hợp giữa các cơ quan, chính quyền địa phương
trong quá trình thực thi cũng là yếu tố ảnh
hưởng tới sự thoát nghèo của cộng đồng. Bên
cạnh đó việc đảm bảo để người nghèo tiếp cận
với những nguồn lực quan trọng như đất đai,
tín dụng và nhà ở là rất cần thiết. Người nghèo
cũng phải được cung cấp và tiếp cận với các
dịch vụ công như: giáo dục, các dịch vụ chăm
sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc sức khỏe sinh
sản, kế hoạch hóa gia đình, nước sạch và vệ
sinh môi trường. Do vậy, việc xây dựng và thực
thi các chính sách hướng tới đối tượng nghèo
là rất quan trọng: (i) các chính sách của Chính
phủ nên có sự tham gia của người dân, đặc biệt
là các chính sách công nhằm đạt được một sự
đồng thuận cao, thực sự giải quyết nhu cầu của
nhân dân; (ii) việc lựa chọn các chương trình,
thiết kế dự án giảm nghèo cần được quản lý và
đánh giá với sự tham gia của người dân nhằm
giảm thiểu những trường hợp đầu tư vào các
chương trình và dự án giảm nghèo mâu thuẫn
với nhu cầu của chính những người nghèo.
Thứ ba, phát triển và nâng cao hiệu quả thị
trường tài chính vi mô tại khu vực nông thôn.
Kinh nghiệm từ các nước như Trung Quốc và
Banglades cho thấy, công cụ tài chính vi mô là
đòn bẩy quan trọng trong quá trình xóa đói giảm
nghèo tại các quốc gia này. Do vậy, các chính
sách tín dụng và đặc biệt là tín dụng vi mô hướng
tới các vùng nông thôn nghèo rất cần được đẩy
mạnh và xã hội hóa. Chú trọng tới những khoản
vay theo những nhóm người nghèo mà không
cần phải thế chấp và áp dụng các mức lãi suất
linh hoạt, tùy theo mục đích và đối tượng vay.
Một vấn đề quan trọng khác đó là các khoản tín
dụng vi mô cần dựa vào sự tín nhiệm và trách
nhiệm liên đới tập thể giữa những người nghèo.
Sự kiên trì vì mục tiêu phục vụ người nghèo để
khai thác triệt để những đặc điểm nhằm khơi dậy
những mặt tích cực của họ, giúp họ tự vươn lên
thoát nghèo bằng các khoản vay nhỏ là rất quan
trọng. Tuy vậy, cũng cần tư vấn và có những giải
pháp giúp những đối tượng chưa thể tham gia
hoặc không muốn tham gia các chương trình tín
dụng này do hộ quá nghèo hay những hộ không
có khả năng và kinh nghiệm trong việc sử dụng
nguồn vốn tín dụng để sử dụng nguồn vốn có
hiệu quả.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 171
Thứ tư, cam kết của Chính phủ và chính
quyền các địa phương trong việc giảm nghèo
và chống tái nghèo. Kinh nghiệm của
Malaysia và một số quốc gia cho thấy việc cam
kết của Chính phủ trong các hoạt động chống
đói nghèo, đồng thời tạo môi trường thích hợp
để người nghèo tham gia hiệu quả thông qua
các hoạt động phát triển tại hệ thống chính
quyền các địa phương là rất quan trọng. Nhà
nước cần đảm bảo việc sử dụng minh bạch các
quỹ công cộng, khuyến khích tăng trưởng của
khu vực tư nhân, thúc đẩy chuyển giao có hiệu
quả các dịch vụ thiết yếu và quan trọng nhất,
xây dựng thể chế để người nghèo có thể dễ
tiếp cận với hệ thống tư pháp. Bên cạnh đó việc
đẩy mạnh hơn nữa các chương trình bảo trợ xã
hội cho khu vực nông thôn cũng là những mục
tiêu mà một số quốc gia thực hiện như chương
trình bảo hiểm thất nghiệp hay tạo thêm việc
làm trong các khu vực công.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
1. Chính phủ, 2002. Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2010, Hà
Nội.
2. Chính phủ, 2005. Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (Thủ tướng chính phủ phê duyệt
tại Văn bản số 4947 VPCP-QHQT ngày 01 tháng 09 năm 2005), Hà Nội.
3. Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, Ủy ban Dân tộc và Cơ quan Liên hợp quốc tại Việt Nam, 2009. Đánh
giá giữa kỳ chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và chương trình 135-II, giai đoạn 2006 - 2008
(Nhìn lại quá khứ đối mặt thách thức mới), Hà Nộ i.
4. Phạm Hồng Mạnh, Hạ Thị Thiều Dao, 2010.“Ảnh hưởng của các yếu tố tới ý định sử dụng dịch vụ tín dụng
vốn vay của hộ gia đình ngư dân tại ngân hàng”. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (số18),
12/2010.
5. Tổ chức Lao Động Quốc Tế, Cơ quan hợp tác và phát triển quốc tế Thụy Điển, Chương trình phát triển
Liên Hợp Quốc, 2004. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và vì người nghèo nhằm đạt mục tiêu
phát triển thiên nhiên kỷ ở Việt Nam. Hà Nội.
TIẾ NG ANH
6. Australian Agency For International Development, Center for International Economics, 2002. Vietnam
Poverty Analysis, Canberra and Sydney.
7. Huck-ju Kwon, Ilcheong Yi, 2008. Economic Development and Poverty Reduction in Korea: Governing
Multifunctional Institutions (this paper is to be presented at the RC 19 annual conference on ‘The Future
of Social Citizenship: Politics, Citizenship and Outcome’. Co-organized by the Institute for Future Studies
and Swedish Institute for Social Research, Stockholm University, 4-6 September 2008), Sweden.
8. Inter - America Development Bank, 2004. Priorities And Strategies In Rural Poverty Reduction:
Enperiences From Latin America And Asia: Role of the State and NGOs in Curbing Poverty in South Asia:
The Bangladesh Case, New York. (pp. 93 - 108).
9. UNDP, 2008. Malaysia: measuring and monotoring poverty and inequality, Malaysia.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
172 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
10. Wang Sangui, Li Zhou and Ren Yanshun, 2004. The 8-7 National Poverty Reduction Program in China
- The National Strategy and Its Impact (Scaling Up Poverty Reduction: A Global Learning Process and
Conference, Shanghai, May 25-27, 2004). Shanghai, China. (info.worldbank.org/.../reducingpoverty/.../
China-8-7PovertyReduction%20Summary.pdf)
Tà i liệ u tham khả o từ Internet
11. Báo cáo phát triển con người 2009, hdr.undp.org/en/media/HDR_2009_VN_Summary.pdf, cập nhật ngày
17/09/2010.
12. Chống lạm phát và an sinh xã hội, http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=204967, cậ p
nhậ t ngà y 02/03/2011.
13. Chuẩn nghèo cần phù hợp với thực tế, http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Chuan-ngheo-can-phu-hop-
voi-thuc-te/20108/34747.vgp, cập nhật ngày 11/08/2010.
14. Hướng tới giảm nghèo chất lượng và bền vững, http://vovnews.vn/Home/Huong-toi-giam-ngheo-chat-
luong-va-ben-vung/200910/124421.vov, cậ p nhậ t ngà y 17/10/2009.
15. LHQ đánh giá cao Việt Nam về quyền con người http://vovnews.vn/Home/LHQ-danh-gia-cao-Viet-Nam-
ve-quyen-con-nguoi/20113/169442.vov, cậ p nhậ t ngà y 16/03/2011.
16. Thảo luận:Nghèo, http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:Ngh%C3%A8o, cập
nhật ngày 16/11/2010.
17. Xóa đói giảm nghèo: Thành tựu và thách thức, http://www.tapchicongnghiep.vn/News/channel/1/
News/151/13229/Chitiet.html, cập nhật ngày 15/10/2010.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 173
D-ACID AMIN TRONG THỰC PHẨM
D-AMINO ACID IN FOOD
Nguyễn Minh Trí, Nguyễn Thị Thanh Hải, Nguyễn Văn Ân
Khoa Chế biến - Trường Đại học Nha Trang
TÓM TẮT
Thực phẩm là nguồn chứa D-acid amin chủ yếu, hình thành do quá trình nấu nướng hay do tác động của
quá trình chế biến khác nhau được sử dụng trong công nghệ thực phẩm. L-acid amin trong protein thực phẩm
bị chuyển đổi sang dạng D ở mức độ nào đó. Thực phẩm trong một số trường hợp chứa lượng đáng kể D-acid
amin, chúng có hại về mặt tiêu hóa và sức khỏe cho người sử dụng.
Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự chuyển đổi dạng D-acid amin là pH của môi trường, xử lý nhiệt và
thời gian xử lý kiềm và cấu trúc của acid amin. D-acid amin được hình thành trong quá trình xử lý với kiềm
hay nhiệt độ cao làm giảm chất lượng và giảm mức độ an toàn. Sự hiện diện của D-acid amin trong protein
dẫn đến giảm khả năng tiêu hóa. Điều này dẫn đến làm giảm lượng đồng phân dạng L các acid amin cần thiết,
như vậy các liên kết peptid không thể được cắt theo cách bình thường. Một số D-acid amin có thể gây ra tác
dụng độc và có khả năng tạo các thay đổi tác dụng sinh học của Lysinoalanine. Tuy vậy, một vài D- acid amin
có thể có ích (như chất làm giảm đau), và các protein chứa D-acid amin có khả năng tiêu hóa thấp, người ta
có thể sử dụng trong chế độ ăn dùng cho người giảm cân.
Từ khóa: protein, D-acid amin, chuyển dạng D-acid amin, khả năng tiêu hóa protein
ABSTRACT
Food is the most significant sources of D-amino acids, as in the process of cooking or during the
various processing procedures used in the food industry. Dietary proteins undergo racemisation to a greater
or lesser degree. Food, in some cases, contains substantial quantities of D-amino acids, which in turn possess
characteristics harmful with respect to digestion and health.
The principal factors influencing racemisation are the pH of the medium, heat treatment, the
duration of the application of alkaline treatment and the structure of the respective amino acids. D-amino
acids formed in the course of treatment with alkalis or heat give rise to a deterioration in quality and reduce the
extent of safety. The presence of D-amino acids in proteins leads to a decrease in digestibility. This results in a
reduction in the quantities of the L-enantiomers of the essential amino acids, as the peptide bonds cannot split
in the normal way. Some D-amino acids can exert an isomer-toxic effect and have the capacity to give rise
to changes in the biological effect of lysinoalanine. On the other hand, certain D-amino acids may also be of
benefit (e.g. in pain relief), and proteins containing D-amino acids of lower digestibility can be used in, for
example, diets designed for weight loss.
Keywords: protein, D-amino acids, racemisation, digestibility of protein
V/N ÐL fP/O ÐOl
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
174 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
I. GIỚI THIỆU
D-acid amin chuyển đổi từ L-acid amin
trong quá trình sản xuất hoặc do vi sinh vật đã
làm thay đổi về chất lượng của thực phẩm. Sự
có mặt của các D-acid amin đã làm giảm đáng
kể khả năng tiêu hóa của protein trong thức ăn.
Mặc dù D-acid amin trong thực phẩm được xem
là không mong muốn, một số ý kiến cho rằng
trong một vài trường hợp D-acid amin có lợi cho
cơ thể. Protein trong cơ thể sống được cấu tạo
từ L-acid amin, mặc dù acid amin dạng D và L
đều có các đặc tính lý hóa giống nhau. Lúc đầu,
sự tổng hợp đặc hiệu đồng phân của protein
trong sinh vật sống [55] không giải thích được,
khi được chấp nhận, điều này đã trở thành mối
quan tâm của các nhà khoa học trong gần một
thế kỷ [5].
Khi các phương pháp phân tách và xác
định đồng phân hình học acid amin đã phát
triển hoàn chỉnh, trái với quan điểm trước đây,
người ta nhận thấy D-acid amin có ở nhiều sinh
vật khác nhau. Thành tế bào vi khuẩn chứa
D-acid aspartic, D-acid glutamic và D-alanine [1,
2]; trong một số loài giun, động vật biển không
xương sống, dịch tế bào chủ yếu chứa D-acid
amin [20, 22, 42]; ở một số loài sò biển lượng
D-acid amin có thể lên đến 1% [23, 47]; Thực
vật bậc cao cũng chứa D-acid amin [48]. Các
protein bền về chuyển hóa ở động vật có vú
có tuổi thọ cao chứa lượng lớn D-acid amin,
các D-acid amin này là do chuyển đổi dạng từ
L-acid amin [3]: Nồng độ D-acid aspartic trong
chất trắng của não người chứa đến 3%, protein
nền của tủy sống chứa đến 10% [25, 50]. Clarke
[18] cho rằng sự chuyển đổi D-L của acid as-
partic xảy ra trong mô cơ thể người nhưng do
chuyển hóa nhanh nên không tích lũy đến nồng
độ có thể đo được.
Các acid amin không đối xứng có thể biến
đổi thành hỗn hợp đồng phân D và L, cơ chế
phản ứng của quá trình biến dạng này cần
cắt bỏ hydro của nguyên tử carbon vị trí α và
hình thành cấu trúc planar carbanion. Mức độ
chuyển đổi sang dạng D xảy ra tùy thuộc vào
acid amin này ở dạng tự do hay ở dạng liên kết
trong chuỗi peptid, và tùy thuộc chủ yếu vào
điều kiện nhiệt độ và pH, và cũng tùy thuộc vào
bản chất của nhóm R trong acid amin [4]. Khi
khảo sát hiện tượng chuyển đổi sang dạng đồng
phân D của các L-acid amin tự do, Bada [4],
Steinberg và cộng sự [53] nhận thấy ở nhiệt độ
100°C và ở pH giữa 7 và 8 thời gian bán chuyển
đổi dạng D-L (thời gian cần để tỷ lệ D/L đạt đến
0,33) đối với serin là 3 ngày, đối với aspartic
acid là 30 ngày, đối với alanine là 120 ngày,
và đối với isoleucine là 300 ngày. Liardon và
Lederman [38] cho thấy ở pH 9 và ở 83
0
C đối
với casein, thời gian chuyển đổi sang dạng D đối
với các acid amin trên lần lượt là: 16 giờ, 19 giờ,
11 ngày và 57 ngày; Friedman và Liardon [26]
đưa ra các giá trị theo thứ tự đối với protein đậu
nành ở 0,1M hydroxid natri là 9 phút, 20 phút,
5 giờ và 25 giờ. Sự chuyển đổi D-L của serine,
cysteine và threonine không chỉ dẫn đến hình
thành đồng phân dạng D, mà còn tạo acid amin ít
gặp. Chẳng hạn như, ở tình trạng inter-carbanion
có thể mất nhóm OH của nó trong khi hình thành
dehydroalanine. Phản ứng của dehydroalanine
với nhóm ε-amin của lysine tạo Lysinoalanine
[40, 41], một acid amin có phần alanine là có thể
chuyển đổi D-L, trong khi phần lysine có hoạt
động quang học. Trong protein thực phẩm, phản
ứng này có thể dẫn đến liên kết chéo, dẫn đến
giảm khả năng tiêu hóa protein [17, 27]; Hàm
lượng Lysinoalanine trong thực phẩm cũng có
thể có tác dụng độc [34].
Về mặt dinh dưỡng, sự chuyển đổi sang
dạng D của các L-acid amin cần thiết có ý nghĩa
rất quan trọng. Người ta đã nghiên cứu khả năng
tiêu hóa và chuyển hóa của các D-acid amin
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 175
cần thiết. Berg [8] đã tổng kết các nghiên cứu
trước đây cho thấy ở động vật có vú, đồng phân
D-acid amin cần thiết được sử dụng ở mức độ
rất thấp, trong một số trường hợp tác động như
là chất ức chế phát triển, phần lớn được bài tiết
ra nước tiểu. Các nhà nghiên cứu cũng quan
tâm đến bán thời gian của chuyển đổi D-L đối
với các acid amin cần thiết. Ở pH giữa 7 - 8,
Bada [4] đo bán thời gian của sự chuyển đổi D-L
ở 100°C đối với isoleucine, leucine và valine là
300 ngày, và đối với phenylalanine và tyrosine
là 50 ngày. Engel và Hare [21] đã xác định bán
thời gian của chuyển đổi D-L ở pH 9, 83
0
C đối
với tryptophan là 40 ngày, threonine là 20 ngày,
cysteine 2 ngày. Kết quả nghiên cứu của Boehm
và Bada [10], đối với methionine, bán thời gian
chuyển đổi D-L là 30 ngày ở 100°C ở pH giữa
7 và 8. Rõ ràng từ số liệu thực nghiệm cho thấy
cysteine ở 100°C đặc biệt nhạy cảm với chuyển
đổi D-L, trong khi acid amin với chuỗi béo mạch
nhánh là bền nhất về mặt này. Đối với hầu hết
các acid amin cần thiết, bán thời gian của chuyển
đổi D-acid amin là dài hơn so với acid aspartic.
Các protein thực phẩm qua quá trình xử lý
kiềm hay kéo dài xử lý nhiệt chứa nồng độ đáng
kể các D-acid amin. Dakin lần đầu tiên chứng
minh rằng sự tiêu hóa thức ăn giảm khi xử lý
với nhiệt và kiềm mạnh. Hiện nay đã có bằng
chứng về sự giảm tiêu hóa có liên quan đến việc
hình thành Lysinoalanine và việc tăng chuyển
đổi sang dạng D-acid amin [13, 17, 27, 29, 40].
II. D-ACID AMIN TRONG THỰC PHẨM
Mặc dù một số côn trùng, giun và động vật
biển không xương sống chứa lượng lớn D-acid
amin, nhưng các sinh vật này không phải là
thành phần thức ăn chính ở người, và ít được
quan tâm. Tuy nhiên, ở nhóm người sử dụng
nhiều sò biển có thể hấp thu lượng lớn D-acid
amin [23], chẳng hạn như lượng D-acid amin
trong sò biển vượt quá 1%. Theo Preston [46]
trong nhuyễn thể biển, D-acid amin thay đổi từ
0,11 và 1,6mM ở mô chứa 70% nước. Đa số các
công đoạn xử lý thực phẩm, gồm nấu nướng và
làm bánh, liên quan đến xử lý nhiệt, và trong một
số trường hợp các điều kiện kiềm cũng được
áp dụng làm tăng D-acid amin trong protein.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh lượng đáng
kể các D-acid amin tìm thấy trong các sản phẩm
thương mại do tác động của quy trình công nghệ
[29, 35, 37, 41, 56]. Lysinoalanine có trong hầu
hết các thực phẩm [40]. Ngoài ra, các sản phẩm
sản xuất tổng hợp như aspartame dipeptid đặc
biệt nhạy với chuyển đổi D-acid amin [9].
Sữa, thịt và các loại hạt khác, thường không
chứa nhiều D-acid amin, trong quá trình chế biến
làm thức ăn, có thể làm tăng hiện tượng chuyển
L-acid amin sang dạng D. Ngoài sữa tươi (chưa
xử lý) lưu giữ ở trong kho, hầu hết các sản phẩm
sữa trước hết được đem khử trùng Pasteur
(nâng nhiệt 30 phút ở 68 - 72
0
C) hay ở chế độ
khử trùng cao hơn (135 - 145
0
C trong vài giây).
Sau đó đem đồng nhất và cô đặc, cho đến việc
tạo các sản phẩm cuối cùng như sữa, yaourt,
hoặc phó mát tách từ các phần protein sữa khác
nhau. Hai sản phẩm cuối được lên men nhờ vi
khuẩn, quá trình này cũng góp phần làm tăng
thêm D-acid amin.
Payan và cộng sự [46] nghiên cứu những
thay đổi xảy ra do ảnh hưởng của xử lý sữa bằng
cách đo nồng độ D- acid aspartic. Trong sữa tươi
chứa mức D-acid aspartic thấp nhất (1,48%),
nhưng lượng D-acid amin này sẽ tăng lên do
xử lý (sữa lên men với vi khuẩn L. acidophilus:
2,05%, bột sữa không béo: 2,15%, kefir: 2,44%,
sữa bay hơi: 2,49%, yoghurt: 3,12%, bột sữa trẻ
em: 4,95%). Do vậy trong quy trình sản xuất sữa
có gia nhiệt có thể có hàm lượng D-acid aspartic
cao đến 5%. Tỷ lệ D-acid aspartic cao nhất gặp
ở sữa bột dùng cho trẻ em khi trong quy trình
chế biến có công đoạn sấy khô hoặc khử trùng
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
176 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
bằng nhiệt.
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của xử lý
nhiệt và vi khuẩn đến hàm lượng D-acid amin
tự do và liên kết protein trong sữa, Gandolfi và
cộng sự [30] nhận định, D-acid amin trong sữa
tươi không tăng do ảnh hưởng của khử trùng
bằng phương pháp Pasteur hoặc thanh trùng ở
nhiệt độ cao. Các tác giả đã xác định hàm lượng
D-alanine tự do giữa 3 và 8%, D-acid aspartic
giữa 2 và 4% trong các mẫu sữa kiểm tra; kết
quả nghiên cứu này cũng cho thấy D-acid amin
tự do trong sữa tươi tăng trong khi bảo quản ở
4
0
C. Vì vậy nên sử dụng hàm lượng D-alanine
cho mục đích giám sát nhiễm trùng sữa do vi
khuẩn.
Gần đây, trong khi kiểm tra hàm lượng
D-acid amin của thực phẩm, đặc biệt trong sữa
và sản phẩm sữa. Sự chú ý hướng về việc
phải chăng D-acid glutamic (D-Glu) và D-acid
aspartic (D-Asp) có thể được phát hiện ở lượng
tương tự với D-Alanine, chủ yếu trong các
sản phẩm có liên quan đến hoạt động của vi
khuẩn. Dựa vào khảo sát, các tác giả khuyến
nghị nên sử dụng hai D-acid amin nói trên cùng
với DAPA như vật đánh dấu đối với protein vi
khuẩn. [19, 36, 56]
Palla và cộng sự [44] xác định hàm lượng
D-acid aspartic trong bột sữa ở nồng độ 4 - 5%
và hàm lượng D-alanine 8 - 12%. Đối với yaourt,
hàm lượng D-alanine ở mức 64 - 68%, hàm
lượng D-acid aspartic tự do 20 - 32%, hàm
lượng D-acid glutamic 53 - 56%. Trong phó
mát chín chứa các D-acid amin tương tự với
hàm lượng theo thứ tự là 20 - 45%, 8 - 35% và
5 - 22%. Hàm lượng D-phenylalanine tự do trong
phó mát chín khoảng từ 2 đến 13%, D-leucine
cũng được phát hiện lượng nhỏ trong phó mát
chín. Hàm lượng D-acid glutamic 32 - 41%, và
hàm lượng D-phenylalanine 9 - 12%.
Dựa trên số liệu ghi nhận ở trên, cho thấy
thực phẩm xử lý nhiệt kéo dài chứa lượng lớ
D-acid amin, và ở thực phẩm lên men chứa
lượng lớn hơn.
Kiểm tra D-acid amin trong sữa, sữa lên
men, phó mát tươi, và phó mát chín Bruckner và
Hausch [11] cho rằng lượng D- acid amin đáng
kể có ở cả hai sữa tươi và sản phẩm sữa lên
men. Số liệu được trình bày trong bảng 1.
Bảng 1. Hàm lượng acid amin của sữa và sữa lên men (mg/100 g)
Acid amin
Sữa tươi/ khử trùng
Pasteur
Kefir Yaourt
Sữa đóng
cục
Phó mát
tươi
Phó mát
Harz
D-Ala 0,003 - 0,012 0,31 1,35 0,46 1,07 2,48
D-Asx
3
0,017 - 0,038 0,35 0,31 0,25 0,38 0,37
D-Glx
3
0,070 - 0,190 0,50 1,09 0,58 0,75 2,13
D-Val - 0,03 - 0,04 0,09 -
D-Leu - 0,11 - 0,15 0,16 -
D-Lys - 0,09 - 0,13 0,44 1,49
D-allo-Ile
2
- 0,07 - 0,02 - 0,27
D-Ser - 0,02 - - - -
D-Pro - - - - - 2,18
Acid amin tự do (mg/100 g) 3,29 - 10,3 26,2 28,4 36,8 39,2 159
D- Acid amin tự do (mg/100 g) 0,09 - 0,24 1,48 2,75 1,63 2,89 8,92
1
% D=(D/D+L)×100
2
% D-allo-Ile=D-allo-Ile/(D-allo-Ile+L-allo-Ile+D-Ile+L-Ile)
3
Asx=Asp+Asn, tính chung là aspartic acid; Glx=Glu+Gln, tính chung là glutamic acid
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 177
Từ số liệu trên, chúng ta thấy yaourt và phó mát chứa lượng đáng kể D-alanine
(1,35 - 2,48mg/100g), D-acid aspartic (0,31 - 0,37mg/100g) và D-acid glutamic (1,09 - 2,13mg/100g),
trong khi đó D-lysine (1,49mg/100g) và D-proline (2,18mg/100 g) cũng có với lượng đáng kể. Ngoài
ra, cũng phát hiện lượng vết D-valine, D-leucine, D-allo-isoleucine và D-serine trong các sản phẩm
sữa lên men. Khi phân tích nguồn gốc của D-acid amin, người ta thấy hầu hết do vi sinh vật, như do
nhiễm vi sinh vật ở sữa tươi hay viêm tuyến vú chưa có triệu chứng.
III. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CÔNG ĐOẠN XỬ LÝ ĐẾN CHUYỂN ĐỔI D-L
Công nghệ hiện đại áp dụng công nghiệp thực phẩm đa dạng của các thủ tục với mục đích
sửa đổi các đặc tính của protein để nâng cao hương vị, ổn định và kéo dài thời gian bảo quản. Xử lý
bằng nhiệt hoặc kiềm được ưu tiên sử dụng cho sản xuất các sản phẩm có đặc điểm, hình thức và
chức năng riêng. Ví dụ, protein đậu nành được xử lý bằng kiềm và nhiệt để đạt được mục đích, qua
ép đùn, một sản phẩm của cấu trúc dạng sợi phù hợp với nhu cầu tiêu dùng thay cho sản phẩm từ
thịt. Xử lý kiềm cũng được áp dụng để sản xuất một số sản phẩm từ protein ngô. Bảng 2 trình bày
hàm lượng các D-acid amin của loại thực phẩm khác nhau được xử lý kiềm so với các đối chứng
không xử lý.
Bảng 2. Hàm lượng D-acid amin của các thực phẩm khác nhau (%)
1
Sản phẩm xử lý
(Mẫu đối chứng không xử lý)
Acid amin
Asp Ala Leu Phe Met Val
Bánh mì khô
2
[13] 10,5 2,8 2,4 2,7 1,1 1,7
Bánh mì, [13] 5,6 2,4 2,3 3,2 0,9 2,3
Bột đậu tương ép đùn [13] 7,6 2,2 2,4 2,7 0,8 -
Bột đậu tương, [13] 4,4 2,5 2,8 1,4 1,0 -
Đậu nành protein
3
[26] 27,7 9,9 19,7 3,1 1,0 18,2
Không xử lý, [26] 0,5 0,2 0,5 0,2 0,03 0,3
Zein
4
[35] 40,2 17,6 31,3 5,0 2,9 19,5
Không xử lý nhiệt, [35] 3,4 0,7 2,2 0,7 0,4 0,9
Hamburger
5
[13] 5,5 2,8 2,7 3,2 1,5 2,9
Thịt sống, [13] 6,2 3,2 2,8 3,1 1,6 2,4
Thịt gà
6
[37] 22,4 0,5 0,4 0,1 - -
Gà nguyên con, [37] 2.9 - - - - -
Bacon, 180 °C
7
[29] 10,7 2,4 3,1 3,1 1,6 -
Không xử lý nhiệt, [29] 2,4 - 1,8 3,3 0,7 -
Casein, 230 °C
7
[32] 31,0 12,0 - 7,0 4.4 -
Không xử lý nhiệt, [32] 3,1 1,5 - - - -
1
D-acid amino % = (D / D + L) x 100;
2
Các bánh mì trắng được nung nóng trong 1 phút 45 giây, chỉ phân tích phần bề mặt.
3
3 giờ, 65 °C, 0.1N NaOH;
4
4 giờ, 85 °C, 0.2N NaOH;
5
Các hamburger được chiên trên cả hai mặt cho 4 phút. Nhiệt độ
của chảo được 250 °C. Chỉ có bề mặt được phân tích;
6
Sấy ở 121 °C trong 4 giờ;
7
Sấy trong 20 phút.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
178 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
Xử lý nhiệt hoặc kết hợp xử lý nhiệt và kiềm
trong mỗi trường hợp đã dẫn đến hình thành
các D-acid amin có thể định lượng được. Hàm
lượng D-aspartic acid cao nhất (31%) đã được
xác định trong casein nóng đến 230
0
C trong 20
phút. So sánh các acid amin chuyển đổi D-L
cho thấy mức độ chuyển đổi D-L cao nhất xảy
ra trong acid aspartic. Một số các acid amin
không có trong bảng, như serine và cysteine,
có thể chuyển đổi D-L nhanh hơn so với acid
spartic. Nói chung, các acid amin thiết yếu không
chuyển đổi D-L nhanh chóng trừ khi tiếp xúc với
nhiệt độ cao. Tuy nhiên, trong trường hợp các
acid amin thiết yếu có xử lý kết hợp của nhiệt độ
cao và kiềm, hiện tượng chuyển dạng D xảy ra
ở mức độ đáng kể.
Các nghiên cứu khác cũng ghi nhận hàm
lượng D-acid amin cao trong thực phẩm đã
xử lý. Khi kiểm tra hàm lượng D-Asp của một
số loại thực phẩm thương mại đang lưu hành,
Masters và Friedman [41] nhận thấy tỷ lệ
D-acid amin rất cao trong protein đậu nành định
hình (9%), thịt xông khói (13%) và sữa không
béo (17%). Finley [24] tìm thấy D-Asp có nhiều
trong bánh ngọt được làm từ bột lúa mì (9,5%),
bánh mì (11,9%), bánh Mexico (11,6%) và bánh
ngô (15,4%). Các dữ liệu về hamburger chiên
cho thấy chuyển đổi D-L xảy ra không đáng kể.
Trong bánh mì trắng; thịt xông khói nấu chín và
thịt gà, D-acid amin có tỷ lệ cao, tỷ lệ này sẽ tăng
lên trong quá trình nấu, nướng hoặc chiên.
Khi kiểm tra tác dụng của protein thực phẩm
xử lý vi sóng của Lubec và cộng sự [39] gần đây
xác định chắc chắn rằng do tác động của việc xử
lý vi sóng trong thời gian 10 phút hàm lượng các
cis-3 và cis-4 hydroxyproline ở cả ba mẫu kiểm
tra thuộc loại thực phẩm dùng cho trẻ đều tăng
lên, và chỉ ở mẫu thực phẩm xử lý bằng vi sóng
có D-proline ở mức phát hiện được. Hàm lượng
của các đồng phân cis đã được tìm thấy ở mức
1 - 2mg/lít. Các tác giả chỉ ra rằng nếu các đồng
phân cis được kết hợp vào protein thay vì đồng
phân trans, sẽ làm thay đổi về cấu trúc, chức
năng và miễn dịch.
IV. SẢN XUẤT THỰC PHẨM VÀ PEPTID NHÂN
TẠO
Phần này trình bày về các loại thực phẩm
mà trong quá trình chế biến có tác động nhiều
của công nghệ, hoặc sản xuất tổng hợp (ví dụ
như aspartame). Trong một số loại thực phẩm
lỏng, protein được kết hợp với carbohydrate,
trong quá trình đó, các protein có thể bị thay
đổi đáng kể. Kháng sinh peptid có thể chứa
một lượng đáng kể các D-acid amin [52], cũng
như một số loại thuốc dùng trong hóa trị liệu
[14]; dư lượng của các chất này có thể làm cho
D-acid amin có trong thực phẩm sản xuất ở
hàm lượng đáng kể. Qua các số liệu thu nhận
được, điều có thể xác định chắc chắn là các
sản phẩm tổng hợp có chứa hàm lượng D-acid
amin cao hơn đáng kể so với vật liệu tự nhiên,
các sản phẩm tổng hợp là nguồn chính chứa
D-acid amin. Thành phần thực phẩm lỏng dựa trên
protein đậu nành đã được phát hiện có chứa
13% D-acid aspartic, cao hơn đáng kể so với
thực phẩm dành cho trẻ em sản xuất từ đậu nành.
Finley [24] kiểm tra thấy loại sản phẩm thực phẩm
giảm cân trong quy trình chế biến có công đoạn
xử lý kiềm có chứa 50% D-serine, 37% D-acid
aspartic và 26% D-phenylalanine, thực phẩm có
chứa tỷ lệ D-acid amin cao có thể gây nguy hiểm
cho người tiêu dùng nếu sử dụng như là nguồn
protein duy nhất. Các trường hợp đặc biệt như
vậy là tương đối hiếm, nhưng vẫn cần lưu ý đến,
trong thực phẩm có trải qua công đoạn xử lý
kiềm hoặc nhiệt trong thời gian dài có một tỷ lệ
cao các L-acid amin chuyển đổi sang dạng D.
Khi nghiên cứu về hiện tượng chuyển đổi
D-L trong aspartame, Boehm và Bada [9] nhận
thấy cả hai acid aspartic và acid glutamic đều
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 179
chuyển đổi D-L nhanh chóng ở điều kiện pH
trung tính và nhiệt độ 100°C. Hiện tượng chuyển
đổi D-L xảy ra khi aspartame được chuyển đổi
thành một dipeptid vòng, chúng rất nhạy với
hiện tượng chuyển đổi D-L. Phát hiện này rất
có ý nghĩa trong thực tế, nếu aspartame được
bổ sung vào thực phẩm trước khi gia nhiệt (như
nấu ăn) có thể dẫn đến chuyển sang dạng D ở
mức độ cao.
V. CHUYỂN HÓA D-ACID AMIN
Những điểm nêu trên cung cấp bằng chứng
rõ ràng rằng D-acid amin có thể có với số lượng
đáng kể trong thực phẩm. Từ các công trình đầu
tiên của Krebs, người ta biết đến động vật có
vú có enzyme đặc biệt cho mục đích chuyển
hóa D-acid amin. Chuyển hóa D-acid amin
chủ yếu trong chuỗi các phản ứng của enzyme
D-acid amin oxidase, trong sự hình thành của
các α-ketoacids [6, 7]. Các α-ketoacid sau đó có
thể trải qua phản ứng chuyển amin đặc hiệu lập
thể, mà kết quả hình thành các đồng phân L của
các acid amin ban đầu, rồi đi vào quá trình trao
đổi chất bình thường, hoặc cách khác là chia
nhỏ trực tiếp vào phản ứng khác, ví dụ: bằng
cách khử car boxyl oxy hóa.
Sự biến đổi của các D-acid amin thành
α-ketoacid diễn ra chủ yếu ở thận, do đó, các
D-acid amin trong thực phẩm trước hết phải
khuếch tán qua màng tế bào để chúng có thể
chuyển hóa qua con đường này. Tuy nhiên, cơ
chế vận chuyển chọn lựa được dạng đồng phân
D-L và phân biệt được đối với D-acid amin [51].
Các acid amin tương ứng bị oxy hóa đến
mức độ khác nhau bởi enzyme D-acid amin
oxidase. D-aspartic acid, acid amin dễ bị
chuyển đổi sang dạng D, là một chất rất nhạy với
enzyme D-acid amin oxidase. Acid amin thiết yếu
như lysine và threonine chuyển đổi sang dạng D
nhanh hơn alanine, và cũng là cơ chất không
phù hợp với D-acid amin oxidase. Mặt khác,
proline, mà không chuyển đổi sang dạng D đến
một mức độ đáng kể trong chế biến thực phẩm,
là cơ chất tốt nhất đối với enzyme này [37]. Vì
vậy rõ ràng là không có mối quan hệ giữa tính
dễ bị chuyển đổi D và tính dễ tham gia phản ứng
với D-acid amin oxidase. Vì vậy có thể khẳng
định rằng các hệ thống D-acid amin oxidase ở
động vật có vú phát triển không đủ để có khả
năng đáp ứng các thách thức đặt ra bởi các acid
amin chuyển dạng D có trong thực phẩm. Krebs
vẫn còn nghi ngờ về chức năng sinh học của
enzyme D-acid amin oxidase, tuy nhiên nói
chung, quan điểm hiện tại là D-acid amin
oxidase giải độc các D-acid amin hình thành trong
cơ thể hoặc vào cơ thể có nguồn gốc từ protein
vi khuẩn [4]. Điều này được củng cố thêm nhờ
kết quả thí nghiệm trên chuột, chuột được nuôi
trong môi trường vô trùng cho thấy mức hoạt
tính D-acid amin oxidase thấp hơn so với chuột
nuôi dưỡng ở môi trường bình thường. Mặc dù
vậy, D-glutamic acid một phần thành cấu tạo của
peptidoglycan có trong thành tế bào vi khuẩn
là các cơ chất thích hợp nhất cho D-acid amin
oxidase, trải qua quá trình oxy hóa rất chậm chỉ
nhờ enzyme D-acid aspartic oxidase. Mặc dù
enzyme D-acid amin oxidase cho phép động vật
có vú để chuyển hóa D-acid amin, con đường
này là không hiệu quả và rõ ràng là quá tải, do
khi các acid amin chuyển dạng D hấp thu vào cơ
thể một tỷ lệ cao D-acid amin được bài tiết trong
nước tiểu [8]. Các D-acid amin tự do cũng có thể
được chuyển bằng enzyme racemase thành hỗn
hợp D-L của acid amin tương ứng. Tuy nhiên,
do enzyme racemase chủ yếu có ở vi khuẩn,
điều này không phải là một con đường cho sự
chuyển hóa của D-acid amin trong động vật có
vú. Hiện nay, enzyme acid amin transaminase
chỉ phát hiện được ở vi khuẩn.
Các nguồn chính của các D-acid amin trong
thực phẩm protein dùng cho người do sản xuất
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
180 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
ở quy mô công nghiệp. Trước khi D-acid amin
có trong các protein này có thể chuyển hóa nhờ
D-acid amin oxidase, chúng phải được giải
phóng nhờ các enzyme thủy phân. Giai đoạn
đầu tiên của quá trình tiêu hóa protein trong
chế độ ăn uống dẫn đến tạo các acid amin tự
do và peptid ngắn [6]; các peptid được sau đó
tiếp tục thủy phân bởi các peptidase [49]. Rõ
ràng là các peptid có chứa D-acid amin kháng
lại tác dụng thủy phân do enzyme trong quá
trình tiêu hóa. Các nghiên cứu có liên quan đến
tổng hợp peptid cho thấy D-acid aspartic [43] và
D-methionine [45] không được thủy phân bằng
enzyme, ngay cả khi tất cả các acid amin khác
liền kề là đồng phân dạng L. Một số công trình
đã công bố cho thấy các acid amin chuyển dạng
D đến một mức độ lớn do tác động của nhiệt và
xử lý kiềm kháng lại tác dụng thủy phân ly giải
protein. Nghiên cứu mối quan hệ giữa chuyển
dạng D của phenylalanine và tỷ lệ tiêu hóa
protein, Chung và cộng sự [17] đã nhận thấy mức
độ chuyển dạng D tăng đã làm cho khả năng
tiêu hóa giảm xuống đáng kể. Phenylalanine
chuyển dạng đồng phân D-L chậm hơn acid
aspartic, serine hoặc cysteine, rõ ràng là các
protein có chứa số lượng đáng kể của các acid
amin chuyển đổi dạng D, chỉ có một phần bị thủy
phân trong quá trình phân giải protein.
Các sản phẩm protein thủy phân có chứa
các D-acid amin và các peptid trọng lượng phân
tử thấp có chứa D-acid amin. Các di-và tripeptid
khuếch tán qua màng, trong khi các peptid dài
hơn thải qua phân. Di-và tripeptid có chứa acid
D-amin không đặc biệt thích hợp cho enzyme
D-acid amin oxidase. Theo trong điều kiện in
vitro ở pH 7, các dipeptid nhanh chóng trải qua
biến đổi tuần hoàn theo chu kỳ thành chuỗi acid
amin (diketopiperazine) [53]. Các tripeptid được
thủy phân nhanh chóng bởi các quá trình phi
enzyme trong ống nghiệm tạo dipeptid vòng và
một acid amin đầu C-tận tự do [54]. Các dipeptid
vòng nhạy cảm cao với chuyển đổi D-L trong cơ
thể [31, 53]. Như vậy, nếu quá trình thủy phân
cũng xảy ra trong cơ thể, điều này sẽ dẫn đến
sự hình thành của các D- acid amin khác. Tuy
nhiên, các nghiên cứu về sự chuyển hóa của
D-acid amin chưa chú ý đến sự hiện diện của
diketopiperazine.
VI. TIÊU HÓA D-ACID AMIN
Hiện con người chưa biết về ảnh hưởng
đến sức khỏe khi sử dụng lâu dài các protein
có chứa các D-acid amin do chuyển đổi D-L.
Masters và Friedman [41] tổng kết không thấy có
tác giả nào thực hiện điều tra cụ thể về tác động
xảy ra do D-acid amin đến sức khỏe con người,
hiện tượng chuyển đổi D-L ảnh hưởng thế nào
đến khả năng tiêu hóa thực phẩm protein.
1. Tác hại của D-acid amin
Việc sử dụng của các D-acid amin chứa
trong các protein phụ thuộc vào việc phải chăng
các D-acid amin như vậy được giải phóng từ
các liên kết L-D, D-L và D-D, và liệu các D-acid
amin được giải phóng có thể được chuyển
dạng có hiệu quả thành các L-acid amin? Trong
trường hợp các mẫu được xử lý, khả năng tiêu
hóa giảm, chủ yếu do chuyển đổi sang dạng D
và/ hoặc đến sự hình thành của Lysinoalanine.
Nghiên cứu về hiện tượng chuyển đổi tạo D-acid
amin ở các protein xử lý kiềm, Hayashi và
Kameda [33] ghi nhận rằng ngay cả ở một mức
độ nhỏ của chuyển đổi tạo D-acid amin cũng gây
ra giảm nhiều đến việc tiêu hóa protein đó. Các
tác giả nêu trên đã quy cho việc giảm tỷ lệ tiêu
hóa thực tế là do các acid amin chuyển đổi dạng
D, không phải là cơ chất của enzyme protease,
và cũng có thể gây ảnh hưởng đến khả năng giải
phóng các L-acid amin đứng liền kề. Như vậy,
sự chuyển dạng D của một số L-acid amin cũng
có thể làm gia tăng sự mất mát đáng kể đối với
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 181
các acid amin thiết yếu liền kề, do đó làm giảm
tỷ lệ tiêu hóa protein. Friedman và cộng sự [27]
xem xét tác động của nhiệt độ xử lý, thời gian
và độ pH trên tỷ lệ tiêu hóa của casein xử lý
kiềm, trypsin và chymotrypsin. Các tác giả trên
quan sát thấy rằng sự sụt giảm về tỷ lệ tiêu hóa
của acid aspartic và phenylalanine được đi kèm
với sự gia tăng liên kết chéo Lysinoalanine và
chuyển dạng D. Bunjapamai và cộng sự [13] là
người đầu tiên đã thành công trong việc phân
biệt những ảnh hưởng về tỷ lệ tiêu hóa in vitro
của chuyển dạng D và liên kết chéo. Các kết
luận chính của nghiên cứu này là giảm tỷ lệ
tiêu hóa được gây ra chủ yếu bởi chuyển dạng
D. Theo Schwass và cộng sự [51] một D-acid
amin là đủ để làm cho một peptid không thích
hợp cho việc vận chuyển. Các tác giả này cho
rằng hiện tượng chuyển dạng D đã làm giảm tỷ
lệ tiêu hóa trong thực nghiệm và trong cơ thể
đồng hóa protein nhờ enzyme.
Một vấn đề rất quan trọng là liệu D-acid
amin có trong thực phẩm là độc hại? Cả hai
D- và L-acid amin đều có LD
50
như nhau.
D-proline có thể là một ngoại lệ, liều cao làm gà
chết [16]. Masters và Friedman [22] ghi nhận
một số D-acid amin gây tác dụng độc hại trong
một thời gian kéo dài. Các điều tra được thực
hiện bởi các tác giả ở trên chỉ ra rằng D-serine,
Lysinoalanine và các protein xử lý kiềm khác
nhau có trong thực phẩm gây ra các thay đổi
bệnh lý ở thận của chuột.
Lysinoalanine là một trong các chất ức chế
in vitro đối với các enzyme Carboxypeptidase và
Aminpeptidase, như là D-alanine xảy ra trong
các protein xử lý kiềm [28, 34]. Hiệu quả ức
chế của Lysinoalanine cho thấy trong một dạng
phức với các ion kim loại enzyme tham gia vào
các phản ứng enzyme [34]. Vấn đề đặt ra liệu
Lysinoalanine và các D-acid amin có nguồn gốc
chế độ ăn uống có phải là các chất ức chế các
enzyme trao đổi chất? vấn đề này chưa được
nghiên cứu và cũng không có sẵn các dữ liệu
hiện nay về các tác động ức chế trong khoảng
thời gian dài.
2. Tác dụng có lợi của D-acid amin
Giảm tỷ lệ tiêu hóa của protein thực phẩm
do chứa các D-acid amin trong các trường hợp
nhất định cho thấy có lợi về mặt dinh dưỡng,
với điều kiện là các chất còn lại sau khi tiêu hóa
phân giải protein không độc hại. Protein chuyển
dạng D có thể được sử dụng trong thời gian vài
ngày trong khẩu phần ăn được thiết kế để giảm
cân, và kết quả của việc tiêu hóa rất thấp của
các protein này làm giảm trọng lượng cơ thể
đáng kể trong một thời gian ngắn. Người ta đã
chứng minh rằng D-phenylalanine và D leucine
có tác dụng giảm đau [15], do đó chúng được
sử dụng giảm đau cho các bệnh nhân có triệu
chứng đau kéo dài [12]. Tác dụng giảm đau
dựa trên cơ chế ức chế của Carboxypeptidase
A và các enzyme tương tự có vai trò trong việc
phân giải opioid pentapeptid trong não và tủy
sống [12]. Friedman và cộng sự [28] ghi nhận
Lysinoalanine và hàm lượng D-acid amin của
protein thực phẩm được xử lý bằng kiềm cũng
ức chế Carboxypeptidase A. Các kết quả nghiên
cứu trên cho phép kết luận rằng sự hiện diện của
các acid amin chuyển dạng D trong protein thực
phẩm có thể có ích trong sự giúp đỡ giảm đau.
Người ta cũng biết từ lâu các chuỗi D-acid amin
có mặt trong hầu hết các peptid kháng sinh. Vì
vậy có thể tin rằng protein thực phẩm chứa
D-acid amin khi tiêu hóa phân cắt tạo peptid có
thể có tính kháng khuẩn.
Ngành công nghiệp thực phẩm hiện nay
cần nhận thức được nguy cơ tiềm ẩn của việc
xử lý thực phẩm protein; cần xác định điều kiện
để đạt được mục đích đề ra mà không có thay
đổi đáng kể nào đến các thành phần có giá trị
sinh học.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
182 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Lân Dũng (Chủ biên) (2000). Vi sinh vật học. NXB Giáo dục. 25-82.
2. Lê Ngọc Tú (Chủ biên) (2000). Hóa sinh công nghiệp. NXB Khoa học kỹ thuật.
3. Bada J.L. (1984). In vivo racemization in mammalian proteins. Methods Enzymol., 106 98-115.
4. Bada J.L. (1985). Racemization of amino acids. In: Chemistry and biochemistry of amino acids.
London-New York. Chapman & Hall. 399-411.
5. Bada J.L., Miller S.L., (1987). Racemization and the origin of optical active organic compounds in living
organisms, In: Dietary D-amino acids. Ann.Rev. Nutr., 7: 209-225.
6. Bender D.A., (1985). Amino acid metabolism, Wiley Chichester/New York, 2nd ed. 1-153.
7. Bender A.E., Krebs H.A. (1950). The oxidation of various synthetic D-amino acids by mammalian
D-amino acid oxidase, L-amino acid oxidase of cobra venom and the L- and D-amino acid oxidases of
Neuospora crassa, Biochem. J., 46: 210-219.
8. Berg C.P. (1959) Utilization of D-amino acids, In: Protein and amino acid nutrition. A.A. Albanese, New
York Academic Press, 57-96.
9. Boehm M.F., Bada J.L. (1984). Racemization of aspartic acid and phenylalanine in the sweetener
aspartame at 100 °C, Proc. Natl. Acad. Sci., 81: 5263-5266.
10. Boehm M.F., Bada J.L. (1984). Investigations of in vivo methionine racemization in mammalian tissues,
Biochem. Int., 8: 603-608.
11. Brückner H., Hausch M. (1990). D-amino acids in dairy products: Detection, origin and nutritional aspects.
I. Milk, fermented milk, fresh cheese and acid curd cheese, Milchwissenschaft, 45: 357-360.
12. Budd K. (1983). Use of D-phenylalanine, and enkephalinase inhibitor, in the treatment of intractable pain,
Adv. Pain Res. Ther., 5: 305-308.
13. Bunjapamai S., Mahoney R.R., Fagerson I.S. (1982). Determination of D-amino acids in some processed
foods and effect of racemization on in vitro digestibility of casein, J. Fd. Sci., 47: 1229-1234.
14. Chakravarty P.K., Carl P.L., Weber M.J., Katzenelknbogen J.A. (1983). Plasmin-activated prodrugs for
cancer chemotherapy. 2. Synthesis and biological activity of peptidyl derivatives of dexorubicin, J. Med.
Chem., 26: 638-644.
15. Cheng R.S.S., Omeranz B. (1979). Correlation of genetic difference in endorphin systems with analgesic
effects of D-amino acid in mice, Brain Res., 177: 583-587.
16. Cherkin A., Davis J.L., Garman M.W. (1978). D-proline stereospecifty and sodium chloride dependence of
lethal convulsant activity in the chick, Pharmacol. Biochem. Behav. 8: 623-625.
17. Chung S.Y., Swaisgood H.E., Catignani G.L. (1986). Effect of alkali treatment in the presence of
fructose on digestibility of food proteins as determined by an immobilized digestive enzyme assay (IDEA),
J. Agric. Fd. Chem. 34: 579-584.
18. Clarke S. (1985). The role of Asp and Asn residues in the aging of erythrocyte proteins: Cellular
metabolism of racemized and isomerized forms by methylation reactions., In: Cellular and molecular
aspects of aging: The red cells as a model, New York. 91-103.
19. Csapó J., Csapó-Kiss Zs., Csordás E., Folestad S., Tivesten A., Martin T.G., Némethy S. (1995). Rapid
method for the determination of diaminopimelic acid using ion exchange column chromatography,
Analytical Letters, 28: 2049-2061.
20. Danielo, A., Giuditta, A., (1978). Presence of D-aspartate in squid axoplasm and in other regions of the
cephalopod nervous system, J. Neurochem., 31: 1107-1108.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 183
21. Engel, M.H., Hare, P.E. (1982). Racemization rates of the basic amino acids, Carnegie Inst. Washington
Yearb. 81: 422-425.
22. Felbeck, H., (1985). Occurrence and metabolism of D-aspartate in the gutless bivalve Solemya reidi, J.
Exp. Zool., 234: 145-149.
23. Felbeck, H., Wiley, S., (1987). Free D-amino acids in the tissues of marine bivalves, Biol. Bull., 173:
252-259.
24. Finley, J.W., (1985). Environmental effects of protein quality, In: Chemical changes in food during
processing. Inst. Food Technologists Basic Symp. Ser., AVI Publ. Westport Conn. 443-482.
25. Fisher, G.H., Garcia, N.M., Payan, I.L., Cadilla-Perezrios, R., Sheramata, W.A., Man, E.H. (1986).
D-aspartic acid in purified myelin and myelin basic protein, Biochem. Biophys. Res. Commun., 135:
683-687.
26. Friedman, M., Liardon, R. (1985). Racemization kinetics of amino acid residues in alkali-treated soybean
proteins, J. Agric. Food Chem., 33: 666-672.
27. Friedman, M., Zahnley, J.C., Masters, P.M. (1981). Relationship between in vitro digestibility of casein
and its content of Lysinoalanine and D-amino acids, J. Food Sci., 46: 127-134.
28. Friedman, M., Grosjean, D.K., Zahnley, J.C. (1985). Carboxypeptidase inhibition by alkali-treated food
proteins, J. Agric. Food Chem., 33: 208-213.
29. Fuse, M., Hayase, F., Kato, H. (1984). Digestibility of proteins and racemization of amino acid residues in
roasted foods, J. Jpn. Soc. Nutr. Food Sci., 37: 348-354.
30. Gandolfi, I., Palla, G., Delprato, L., Denisco, F., Marchelli, R., Salvadori, C. (1992). D-amino acids in milk
as related to heat treatments and bacterial activity, J. Food Sci., 57: 377-379.
31. Gund, P., Veber, P. (1979). On the base-catalysed epimerization of N-methylated peptides and
diketopiperazines, J. Am. Chem. Soc., 101: 1885-1887.
32. Hayase, F., Kato, H., Fujimaki, M. (1975). Racemization of amino acid residues in proteins and poly
(L-amino) acids during roasting, J. Agric. Food. Chem., 23: 491-494.
33. Hayashi, R., Kameda, I. (1980). Decreased proteolysis of alkali treated proteins: consequences of
racemization in food processing, J. Food Sci. 45: 1430-1431.
34. Hayashi, R. (1982). Lysinoalanine as a metal chelator: an implication for toxicity, J. Biol. Chem. 257:
13896-13898.
35. Jenkins, W.L., Tovar, L.R., Schwass, D.E., Liardon, R., Carpenter, K.L. (1984). Nutritional characteristics
of alkali-treated zein, J. Agric. Food Chem., 32: 1035-1041.
36. Kato, S., Ishihara, T., Hemmi, H., Kobayashi, H., Yoshimura, T. (2011). Alterations in D-amino acid
concentrations and microbial community structures during the fermentation of red and white wines.
Journal of Bioscience and Bioengineering, 111(1): 104-108.
37. Liardon, R., Hurrel, R.F. (1983). Amino acid racemization in heated and alkali-treated proteins, J. Agric.
Food. Chem. 31: 432-437.
38. Liardon, R., Lederman, S. (1986). Racemization kinetics of free and protein-bound amino acids under
moderate alkaline treatment. J. Agric. Food. Chem. 34: 557-565.
39. Lubec, G., Wolf, C.H.R., Bartosch, B. (1990). Amino acid isomerisation and microwave exposure. The
Lancet, March. 31: 792.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
184 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
40. Maga, J.A. (1984). Lysinoalanine in foods. J. Agric. Food. Chem. 32: 955-964.
41. Masters, P.E., Friedman, M. (1980). Amino acid racemization in alkali treated food proteins-chemis-
try, toxicology, and nutritional consequences, In: Chemical Deterioration of Proteins, ACS Symp. Ser.,
Washington, 123: 165-194. Am. Chem. Soc. 268.
42. Matsushima, O., Katayama, H., Yamada, K., Kado, Y. (1984). Occurrence of free D-alanine and alanine
racemase activity in bivalve molluscs with special reference to intracellular osmoregulation, Mar. Biol.
Lett., 5: 217-225.
43. Murray, E.D., Clarke, S. (1984). Synthetic peptide substrates for erythrocyte protein carboxyl methyltrans-
ferase, J. Biol. Chem., 259: 10722-10732.
44. Palla, G., Marchelli, R., Dossena, A., Casnati, G. (1989). Occurrence of D-amino acids in food. Detection
by capillary gas chromatography and by reversed-phase high-performance liquid chromatography with
L-phenylalanine amides as chiral selectors, J. Chromatography, 475: 45-53.
45. Paquet, A., Thresher, W.C., Swaisgood, H.E., Catignani, G.L. (1985). Syntheses and digestibility
determination of some epimeric tripeptides occurring in dietary proteins, Nutr. Res., 5: 891-901.
46. Payan, I.L., Cadilla-Perezrios, R., Fisher, G.H., Man, E.H. (1985). Analysis of problems encountered in the
determination of amino acid enantiomeric ratios by gas chromatography, Anal. Biochem. 149: 484-491.
47. Preston, R.L. (1987). Occurrence of D-amino acids in higher organisms: A survey of the distribution of
D-amino acids in marine invertebrates, Comp. Biochem. Physiol., 87B: 55-62.
48. Robinson, T. (1976). D-amino acids in higher plants. Life Sci., 19: 1097-1102.
49. Rosen-Levin, E.M., Smithson, K.W., Gray, G.M. (1980). Complementary role of surface hydrolysis and
intact transport in the intestinal assimilation of di- and tripeptides, Biochim. Biophys. Acta, 629: 126-134.
50. Sabine A. Fuchs, Ruud Berger, Leo W.J. Klomp, Tom J. de Koning. (2005). D-Amino acids in the central
nervous system in health and disease. Molecular Genetics and Metabolism, Volume 85(3): 168-180.
51. Schwass, D.E., Tovar, L.R., Finely, J.W. (1983). Absorption of altered amino acids from the intestine, In:
Xenobiotics in Foods and Feeds. ACS Symp. Ser., Washington, 234: 187-201. Am. Chem. Soc., 2- 01.
52. Shoji, J.I. (1978). Recent chemical studies on peptide antibiotics from the genus Bacillus, Adv. Appl.
Microbiol., 24: 187-214.
53. Steinberg, S., Bada, J.L. (1981). Diketopiperazine formation during investigations of amino acid
racemization in dipeptides, Science, 213: 544-545.
54. Steinberg, S., Bada, J.L. (1983). Peptide decomposition in the neutral pH range via the formation of
diketopiperazines, J. Org. Chem., 48: 2295-2298.
55. Yamane, T., Miller, D.L., Hopfield, J.J. (1981). Discrimination between D- and L-tyrosyl transfer
ribonucleic acid in peptide chain elongation, Biochemistry, 20: 7059-7065.
56. Zagon, J., Dehne, L., Bögl, K.W. (1994). D-amino acids in organisms and food. Nutrition Research, 14(3):
445-463.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 185
CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC ĐÁNH BẮT TRONG NGHỀ CÁ
THE BACKGROUND OF FISHING CAPACITY
Lê Kim Long, Phạm Thị Thanh Bình
Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang
Email: lekimlong@gmail.com
TÓM TẮT
Nghề cá Việt Nam đã tăng trưởng rất nhanh trong hơn 20 năm qua và hiện đang phải đối mặt với vấn
đề đầu tư quá mức và cạn kiệt nguồn lợi ở các vùng biển ven bờ. Nhằm giúp Việt Nam hướng tới một nghề cá
phát triển bền vững và hòa nhập với nghề cá quốc tế, từ 20 - 24 tháng 5 năm 2010 tại Nha Trang, FAO đã cùng
với Tổng cục Thủy sản Việt Nam tổ chức hội nghị quốc gia về quản lí năng lực đánh bắt trong nghề cá. Đây là
chủ đề mang tính thời sự nhằm cung cấp một phương pháp luận tin cậy để cắt giảm năng lực đánh bắt dư thừa
trong các nghề cá của từng quốc gia cũng như toàn cầu trên quan điểm tiếp cận phát triển và quản lí nghề cá
có trách nhiệm. Bài viết này tóm lược các vấn đề cơ bản về năng lực đánh bắt trong nghề cá đã được FAO chấp
thuận và áp dụng trong thực tiễn quản lí nhiều nghề cá trên thế giới.
Từ khóa: năng lực đánh bắt, quản lí năng lực đánh bắt, IPOA-Capacity, nghề cá có trách nhiệm
ABSTRACT
The fishery of Vietnam has quickly increased over two past decades and currently been in the situation
of over-investment and over-exploitation in near-shore waters. To help Vietnam develop a sustainable fishery
and integrate into the world fishery, a national conference about fishing capacity was hold by Directorate
of Vietnamese Fisheries and FAO at Nha Trang in 20 – 24, May, 2010. This subject is essential to supply
a methodology to deal with overcapacity in fisheries of each country as well as the world based on the
approach of responsible fisheries. This paper overviews the background of fishing capacity that has been
adopted by FAO and has applied in the practice of many fisheries over the world.
Keywords: fishing capacity, management of fishing capacity, IPOA-Capacity, responsible fisheries
V/N ÐL fP/O ÐOl
MỞ ĐẦU
Lý thuyết kinh tế và thực tiễn sản xuất kinh
doanh của các ngành công nghiệp sử dụng các
tài nguyên dùng chung (như không khí, nước,
nguồn lợi cá,…) đã chỉ ra vấn đề nghiêm trọng
đối với sự phát triển bền vững là việc “tranh
giành” của các đơn vị sản xuất. Việc “tranh
giành” sẽ dẫn đến sự đầu tư quá mức của mỗi
đơn vị sản xuất nói riêng và của cả ngành nói
chung. Đầu tư quá mức sẽ dẫn đến sự dư thừa
năng lực sản xuất. Nguyên nhân của hiện tượng
này là do các ngành công nghiệp sử dụng tài
nguyên dùng chung thường không kiểm soát sự
gia nhập ngành hoặc quyền sở hữu tài nguyên
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
186 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
không rõ ràng. Trong lịch sử nghề cá thế giới,
bắt đầu từ rất sớm, Warming (1911) đã cảnh báo
viễn cảnh nhiều nghề cá trên thế giới sẽ rơi vào
tình trạng đầu tư quá mức và dẫn đến dư thừa
năng lực đánh bắt. Đặc biệt đối với các nghề
cá có quyền tiếp cận mở, sự “tranh giành trong
đánh bắt” sẽ làm cho nguồn lợi cá bị khai thác
quá mức và do vậy lợi tức tài nguyên sẽ không
còn (Hardin 1968).
Ngày nay sự dư thừa năng lực đánh bắt đã
trở nên phổ biến và là vấn đề sống còn đối với sự
phát triển bền vững của nhiều nghề cá trên thế
giới (FAO, 2003 và Long, 2009). Rất nhiều nguồn
lợi thủy sản hiện đang bị đánh bắt bởi số lượng
tàu thuyền quá lớn và đang trong trạng thái ngày
một suy kiệt vì khai thác quá mức (FAO, 2003).
Nguyên nhân của hiện trạng này, một phần, là
bởi cường lực khai thác trong nghề cá thế giới
đã gia tăng không bị hạn chế trong thời kì 1950
đến 1990 với thể chế quyền tiếp cận nguồn lợi
mở. Cụ thể, trong giai đoạn 1970 - 1990, năng
lực đánh bắt trong nghề cá công nghiệp của thế
giới đã tăng nhanh gấp khoảng 8 lần so với tốc
độ tăng về sản lượng khai thác thủy sản thế giới
(Greboval và Munro, 1999). Garcia và Newton
(1997) cho rằng sản lượng khai thác hải sản thế
giới đã vượt mức khoảng 25 - 53% so với mức
khai thác bền vững nguồn lợi. Nguồn lợi thủy
sản, dù là nguồn lợi có khả năng tái sinh nhưng
vẫn là hữu hạn. Khi sự đánh bắt đạt tới ngưỡng
giới hạn sinh học cho phép, trữ lượng nguồn lợi
sẽ sụt giảm và chúng ta sẽ phải đối mặt với các
vấn đề về cạn kiệt nguồn lợi.
Với sự xác lập quyền sở hữu ở phạm vi
quốc gia về vùng đặc quyền kinh tế trên biển,
nhiều quốc gia đã thực hiện việc quản lý để
phục hồi, bảo vệ và khai thác hiệu quả nguồn
lợi hải sản (UN, 1982). Các biện pháp quản lý
nghề cá truyền thống thường được áp dụng là
thuế tài nguyên, giấy phép khai thác, quản lý
dựa vào các yếu tố đầu vào như trọng tải, công
suất, chiều dài tàu,... Trong thực tế, các biện
pháp quản lý này dù đã có những tác dụng tích
cực nhưng kết quả thường không đạt được như
mong muốn. Ngư dân có thể dễ dàng gia tăng
cường lực khai thác bằng cách gia tăng số ngày
đánh bắt, lắp đặt các thiết bị tiên tiến để dò tìm
cá, gia tăng kích thước ngư cụ hay thay đổi công
suất máy,... (FAO, 2003). Một số quốc gia phát
triển có hệ thống kiểm soát tốt đã áp dụng biện
pháp quản lý dựa trên sản lượng đầu ra theo
hạn ngạch khai thác. Tuy vậy, hệ thống quản
lý theo hạn ngạch với cơ sở lý thuyết dựa trên
mô hình kinh tế sinh học cho nghề cá đơn loài
(xem Schaefer 1954; Fox, 1970; Holt, 1965),...
đã bộc lộ nhược điểm quan trọng là bỏ qua các
tác động đa loài. Do vậy, các biện pháp quản lý
truyền thống mặc dù phần nào có thể hiện thực
hóa được các mục tiêu quản lý về mặt sinh học
nhưng không giải quyết được sự dư thừa năng
lực đánh bắt trong nhiều nghề cá.
Trước tình hình này, FAO (1995) đã thông
qua bộ nguyên tắc ứng xử thực hiện nghề cá
có trách nhiệm (Code of Conduct Responsible
Fisheries - CCRF). CCRF nhận thức rằng sự dư
thừa năng lực đánh bắt là trở ngại chính để thực
hiện khai thác nguồn lợi thủy sản bền vững. Cụ
thể, điều khoản 63 đề nghị rằng: “các quốc gia
phải chống lại việc khai thác quá mức và năng
lực đánh bắt dư thừa; và phải thực hiện các biện
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 187
biến đổi”. Như vậy, năng lực sản xuất là một khái
niệm ngắn hạn vì ít nhất có một đầu vào (thông
thường là vốn đầu tư) và công nghệ sản xuất
được giữ cố định ở một mức độ nào đó.
Để mô tả khái niệm này, chúng ta sẽ bắt
đầu từ hàm sản xuất. Giả sử Y là một đầu ra;
X là đầu vào sản xuất biến đổi; và Z là đầu vào
sản xuất cố định. Đầu vào biến đổi là đầu vào có
thể dễ dàng thay đổi trong ngắn hạn (ví dụ như
nhiên liệu và lao động). Đầu vào cố định là đầu
vào không thể dễ dàng thay đổi trong ngắn hạn
(ví dụ như nhà xưởng và máy móc). Đường giới
hạn sản xuất g, xác định sản lượng đầu ra tối
đa có thể đạt được từ các đầu vào cho trước có
thể được viết dưới dạng phương trình toán học
Y = g(X,Z). Nhìn chung, mối quan hệ giữa sản
lượng đầu ra với đầu vào biến đổi có thể giả định
như hình vẽ sau:

Hình 1. Hàm sản xuất kinh điển
Với đầu vào cố định cho trước, lý thuyết về
hàm sản xuất kinh điển giả thiết rằng, đầu tiên,
việc gia tăng yếu tố đầu vào biến đổi sẽ làm sản
lượng đầu ra gia tăng. Sản lượng đầu ra sẽ đạt
cực đại tại A. Việc tiếp tục gia tăng đầu vào biến
pháp quản lý để đảm bảo rằng cường lực đánh
bắt là phù hợp với khả năng tái tạo của nguồn lợi
thủy sản và sử dụng chúng bền vững”. Hơn nữa,
điều khoản 7.1.8 cũng khẳng định rằng “các
quốc gia phải thực hiện các biện pháp chống lại
và loại trừ năng lực đánh bắt dư thừa; và phải
đảm bảo rằng cường lực đánh bắt là tương thích
với việc sử dụng bền vững các nguồn lợi thủy
sản như là một cách thức đảm bảo sự hiệu quả
của các biện pháp quản lý và bảo tồn nguồn lợi”.
Năm 1998, FAO tổ chức nhóm tư vấn kỹ
thuật tại La Jolla để bàn thảo các vấn đề về quản
lý năng lực đánh bắt (FAO, 1998). Dựa trên
khuyến nghị của nhóm tư vấn này, chương trình
hành động quốc tế về quản lý năng lực đánh
bắt (IPOA-Capacity) đã được Ủy ban nghề cá
của FAO chấp thuận. Năm 1999, nhóm tư vấn
kỹ thuật về việc đo lường năng lực đánh bắt của
FAO đã nhóm họp ở Mexico để thống nhất về
định nghĩa và phương pháp đo lường năng lực
đánh bắt trong nghề cá (FAO, 2003).
II. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC
ĐÁNH BẮT TRONG NGHỀ CÁ
1. Năng lực đánh bắt
Năng lực đánh bắt trong nghề cá có nguồn
gốc từ năng lực sản xuất được ứng dụng rộng
rãi trong lý thuyết về sản xuất của một doanh
nghiệp. Johansen (1968) cho rằng năng lực sản
xuất “là mức sản lượng đầu ra (các đầu ra) lớn
nhất có thể đạt tới được tạo ra bởi một đơn vị
sản xuất, một doanh nghiệp hoặc một ngành
với công nghệ sản xuất, với vốn đầu tư và các
yếu tố sản xuất khác cho trước, nhưng không
có bất kì sự giới hạn nào về các yếu tố sản xuất
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
188 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
đổi sẽ dẫn tới sự phi hiệu quả trong sản xuất
do bị giới hạn bởi đầu vào cố định, và vì vậy sẽ
làm sản lượng đầu ra giảm dần. Tại điểm A, sản
lượng đầu ra là lớn nhất có thể đạt được hay
còn gọi là năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Chính tại đây, đầu vào cố định được sử dụng
hiệu quả nhất.
Dựa trên khái niệm được đề xuất của
Johansen (1968), FAO (1998) đã đưa ra khái niệm
về năng lực đánh bắt theo quan điểm kinh tế -
kỹ thuật trong nghề cá như sau: “năng lực đánh
bắt là mức sản lượng tiềm năng đánh bắt được
trong một đơn vị thời gian của một tàu hay một
đội tàu với vốn đầu tư, các quy định, công nghệ
đánh bắt và trạng thái nguồn lợi cho trước”. Để
hiểu rõ hơn định nghĩa này của FAO, chúng ta sẽ
bắt đầu với định nghĩa hàm sản xuất trong nghề
cá. Hàm sản xuất trong đánh bắt cá thường được
định nghĩa là Y = Y(E , S). Trong đó, Y là mức sản
lượng đầu ra, S là trữ lượng nguồn lợi và E là
cường lực đánh bắt. Cường lực đánh bắt là một
hàm số của: (i) K, vốn đầu tư (tàu, máy, ngư cụ…)
và (ii) V, chi phí biến đổi (thường được đại diện
bởi số ngày hoạt động…). Do vậy ta có thể viết lại
hàm đánh bắt cá như sau: Y = Y(K, V, S).
Với một trữ lượng nguồn lợi, các quy định và
công nghệ đánh bắt cho trước, khái niệm năng
lực đánh bắt của FAO (1998) là một khái niệm
ngắn hạn với sự giới hạn về vốn đầu tư (đầu
vào cố định) cho trước. Mức sản lượng đầu ra
lớn nhất sẽ là mức mà ở đó việc đánh bắt không
bị giới hạn về các đầu vào biến đổi với các điều
kiện đánh bắt diễn ra bình thường. Khi đó mức
sản lượng này sẽ nằm trên đường biên giới hạn
của sản xuất với một công nghệ cho trước được
ước lượng bởi hàm số: Y
C
= Y
C
(K, S), và do vậy
Y
C
là mức sản lượng lớn nhất có thể đạt được
(sản lượng tiềm năng) với mức vốn đầu tư K và
trữ lượng nguồn lợi S cho trước. Như vậy, theo
định nghĩa của FAO, Y
C
chính là năng lực sản
xuất của một tàu/đội tàu/nghề cá với mức vốn
đầu tư K.
2. Hiệu suất sử dụng năng lực đánh bắt
FAO (1998) định nghĩa hiệu suất sử dụng
năng lực đánh bắt (CU) là tỉ số giữa mức đánh
bắt thực tế (sản lượng quan sát, Y) với mức
năng lực đánh bắt (sản lượng tiềm năng, Y
C
) -
nghĩa là CU = Y/Y
C
-– chỉ số này biểu thị sự dư
thừa năng lực đánh bắt nếu như nhỏ hơn 1. Tỉ
số này cũng cho thấy tỉ lệ mà vốn đầu tư có thể
cắt giảm mà vẫn cho mức sản lượng như cũ. Sự
nghịch đảo của tỉ số này CU
I
= 1/CU = Y
C
/Y cho
biết mức gia tăng sản lượng đầu ra có thể nếu
như con tàu được sử dụng với 100% năng lực
đánh bắt. Ví dụ tỉ số này là 1.5 – nghĩa là sản
lượng tiềm năng có thể gia tăng 50% so với mức
sản lượng hiện tại. Hơn nữa, Färe, Grosskopf
and Kokkelenberg (1989) cho rằng sự khác biệt
giữa mức sản lượng quan sát với sản lượng
tiềm năng là do hai nguyên nhân: (i) sự phi hiệu
quả về mặt kỹ thuật trong sản xuất - trong nghề
cá, sự phi hiệu quả về mặt kỹ thuật là do kỹ năng
đánh bắt thấp (Kirkley, Squires, and Strand,
1995; Squires and Kirkley, 1999); và (ii) việc sử
dụng đầu vào biến đổi chưa ở mức tối ưu với
vốn đầu tư cho trước.
3. Quản lý năng lực đánh bắt
Để thực hiện quản lý năng lực đánh bắt, câu
hỏi đầu tiên mà các nhà quản lý cần trả lời là
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 189
“năng lực đánh bắt của nghề cá/đội tàu đã vượt
ngưỡng cho phép hay chưa?”. Tức là, chúng ta
cần so sánh Y
C
với Y
MSY
(mức sản lượng bền
vững lớn nhất). Nếu Y
C
< Y
MSY
, chúng ta vẫn có
thể tiếp tục gia tăng đầu tư tài sản cố định vào
nghề cá ở mức Y
MSY
- Y
C
. Nếu Y
C
> Y
MSY
, năng
lực đánh bắt trong nghề cá đã vượt ngưỡng và
mức dư thừa cần cắt bỏ là Y
C
- Y
MSY
. Tuy nhiên
phần lớn các nghề cá trên thế giới - đặc biệt là
nghề cá đa ngư loài, dữ liệu về mức sản lượng
bền vững lớn nhất (Y
MSY
) thường không có hoặc
rất ít chính xác. Do vậy, mức sản lượng quan
sát thực tế có thể được sử dụng để đại diện cho
ước lượng của Y
MSY
- điều này có nghĩa là ta giả
sử trạng thái hiện tại của nguồn lợi không cho
phép tiếp tục gia tăng sản lượng đánh bắt (FAO,
2003). Lúc này, mức năng lực đánh bắt dư thừa
trong nghề cá chính bằng mức sản lượng tiềm
năng trừ đi mức sản lượng hiện tại (Y
C
- Y). Để
nghề cá phát triển bền vững, mức dư thừa năng
lực đánh bắt này cần phải được cắt bỏ.
Câu hỏi quan trọng kế tiếp đối với các nhà
hoạch định chính sách nghề cá là “số lượng tàu
sẽ phải cắt bỏ là bao nhiêu?”. Chúng ta sẽ bắt
đầu với ước lượng điểm về mức sản lượng tiềm
năng của mỗi con tàu trong đội tàu. Sau đó, tùy
thuộc vào mục tiêu của các nhà quản lý nghề
cá, chúng ta sẽ xác định số lượng con tàu cần
loại bỏ khỏi nghề cá. Nếu mục tiêu là có đội tàu
đánh bắt có quy mô nhỏ nhất thì chúng ta sẽ loại
bỏ các con tàu có mức sản lượng tiềm năng nhỏ
nhất trước cho tới khi tổng sản lượng tiềm năng
của các con tàu bị loại bỏ bằng tổng mức năng
lực dư thừa. Nếu mục tiêu là đội tàu đánh bắt
có quy mô lớn nhất thì chúng ta sẽ loại bỏ các
con tàu có mức sản lượng tiềm năng lớn nhất
trước cho tới khi tổng sản lượng tiềm năng của
các con tàu bị loại bỏ bằng tổng mức năng lực
dư thừa.
Với nhiều quốc gia đang phát triển vì nhiều
mục tiêu khác nhau đôi khi việc gia tăng sản
lượng đánh bắt là cần thiết. Để gia tăng mức
sản lượng đánh bắt hiện tại, FAO (2003) khuyến
cáo rằng các quốc gia nên nghĩ đến việc gia tăng
hiệu suất sử dụng năng lực đánh bắt trước khi
thực hiện đầu tư thêm tài sản cố định vào nghề
cá. Tức là, chúng ta có thể (i) khuyến cáo mỗi
tàu/đội tàu sử dụng ở mức tối ưu đầu vào biến
đổi; (ii) thực hiện các chương trình đào tạo ngư
dân, cung cấp các thông tin về nguồn lợi, dự báo
thời tiết, cứu hộ và cứu nạn trên biển - sẽ dẫn
đến việc cải thiện hiệu quả kỹ thuật đánh bắt. Sự
cẩn trọng trong đầu tư vào nghề cá ở hiện tại sẽ
giúp các quốc gia ít phải đối mặt với tình trạng
dư thừa năng lực đánh bắt và cạn kiệt nguồn lợi
trong tương lai.
III. KẾT LUẬN
Trên quan điểm của cách tiếp cận quản lý
nghề cá có trách nhiệm, nhiều nhà khoa học đã
chỉ ra nguyên nhân cơ bản của việc suy giảm
nguồn lợi ở rất nhiều khu vực trên thế giới là
do đầu tư quá mức trong các nghề cá. Để ước
lượng năng lực và hiệu suất sử dụng năng lực
đánh bắt làm cơ sở cho việc quản lý và quy
hoạch nghề cá, FAO (2003) đã hướng dẫn sử
dụng phương pháp phân tích Data Envelopment
Analysis (DEA) phù hợp với các nghề cá đa loài
và nhu cầu về dữ liệu cũng không lớn nên rất
thích hợp để áp dụng trong các nghề cá, đặc
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
190 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
biệt là nghề cá ở vùng nhiệt đới tại các nước
đang phát triển như Việt Nam. Phương pháp
DEA khắc phục được các nhược điểm của các
mô hình kinh tế - sinh học đơn loài trước đây
trong việc quy hoạch nghề cá. Hiện đã có rất
nhiều nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận này làm
nền tảng cho việc quản lý nghề cá tại rất nhiều
khu vực trên thế giới (xem FAO, 2003). Trong
khu vực Đông Nam Á, một số quốc gia cũng
đã bắt đầu nghiên cứu để áp dụng các phương
pháp này nhằm thực hiện quy hoạch nghề cá.
Cụ thể, Squires và các cộng sự (2003) đã bước
đầu áp dụng phương pháp DEA để nghiên cứu
các nghề cá ở đảo Java và đưa ra kết luận cần
cắt giảm năng lực đánh bắt từ 10 - 40% đối với
từng nghề. Kirkley và các cộng sự (2003) cũng
áp dụng phương pháp tương tự để nghiên cứu
về nghề lưới vây ở Malaysia và kết luận mức
năng lực đánh bắt hiện vẫn đang đảm bảo cho
sự phát triển bền vững. Phương pháp DEA ứng
dụng trong phân tích năng lực đánh bắt sẽ được
trình bày chi tiết trong bài viết sau.
Sau một thời kì tăng trưởng nóng về đầu
tư trong nghề cá, đây là lúc Việt Nam cần phải
nghiêm túc quan tâm về khía cạnh kinh tế và
quản lý nghề cá để đạt được mục tiêu phát triển
bền vững trong dài hạn. Quản lý năng lực đánh
bắt trên quan điểm tiếp cận nghề cá có trách
nhiệm của FAO sẽ cung cấp cho chúng ta một
phương pháp luận tin cậy nhằm cắt giảm các
tàu thuyền đánh bắt ven bờ. Mặt khác, phát
triển các nghề cá xa bờ phù hợp với các biện
pháp quản lý và bảo tồn nguồn lợi (ví dụ như cá
ngừ đại dương,…) theo thông lệ quốc tế không
chỉ mang lại cho chúng ta các lợi ích kinh tế lâu
dài mà còn là nền tảng rất cơ bản tạo ra sự tin
cậy, đồng thuận và hợp tác giữa các quốc gia
trong vùng để hướng tới giải quyết các tranh
chấp trên Biển Đông theo luật pháp và thông
lệ quốc tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. FAO, 1995. Code of Conduct for Responsible Fisheries. Rome.
2. FAO, 1998. Report of the Technical Working Group on the Management of Fishing Capacity, La Jolla,
California, United States, 15-18 April 1998. FAO Fisheries Report No. 586. Rome.
3. FAO, 2003. Measuring and assessing capacity in fisheries - Issues and Methods. FAO Fisheries Technical
Paper 433/2, Food and Agricultural Organization of the United Nations, Rome, Italy.
4. Färe, R., Grosskopf, S. & Kokkenlenberg, E., 1989. Measuring plant capacity utilization and technical
change: A non-parametric approach. International Economic Review, 30: pp. 655-666.
5. Fox, W.W. Jr., 1970. An exponential surplus-yield model for optimizing exploited fish populations. Trans.
Am. Fish. Soc., 99: 80-88.
6. Garcia S. M., Newton C., 1997. Current situation, trends and prospects in world capture fisheries, in Global
Trends: Fisheries Management-Pikitch E. I., Huppert D. D., Sissenwine M. P., eds. American Fisheries
Society Symposium, 20: 3-27.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG O 191
7. Greboval and Munro G., 1999. Overcapitalization and excess capacity in world fisheries: underlying eco-
nomics and methods of control, in Managing Fishing Capacity: Selected Papers on Underlying Concepts
and Issues, D. Greboval, ed. (Rome, FAO).
8. Hardin, G., 1968. The tragedy of the commons. Science 162: 1243-1248.
9. Holt, S. J., 1965. A note on the relationship between mortality rate and the duration of life in an exploited
fish popula tion. ICNAF Res. Bull. 2: 73-75.
10. Johansen, L., 1968. Production functions and the concept of capacity. Collection Economie et
Mathematique et Econometrie 2: 46-72
11. Kirkley, J., Squires, D. & Strand, I.E., 1995. Assessing technical efficiency in commercial fisheries: The
Mid-Atlantic sea scallop fishery. American Journal of Agricultural Economics 77: 686-697.
12. Kirkley, J., et al., 2003. Excess capacity and asymmetric information in developing country fisheries: The
Malaysian pure sein fishery. Amer. J. Agr. Eco. 85(3): 647-662.
13. Long, L. K., 2009. Regional Fisheries Management Organisation with an endogenous minimum
participation level for cooperation in straddling stock fisheries. Fisheries Reasearch, 97 (2): 42-52.
14. Schaefer, M., 1954. Some aspects of the dynamics of populations important to the management of the
comercial marine fisheries. Bull. 1-ATTC/Bol. CIAT, 1(2):27-56.
15. Squires, D. and Kirkley, J., 1999. Skipper skill and panel data in fishing industries. Canadian Journal of
Fisheries and Aquatic Science 56 (11), 2011-2018.
16. Squires, D., et al., 2003. Excess capacity and sustainable development in Java Sea fisheries Environment
and Development Economics 8: 105-127.
17. UN., 1982. United Nations Convention on the Law of the Sea. UN Doc. A/Conf 62
18. Warming, J., 1913. Om grundrent af fiskergrunde, (On rent on fishing grounds). Translated by P. Anderson
(1982), Nationalokonomisk Tidsskrift, 49:499-505.
Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn Soá3/ 2011
192 O fPUONG Ð/l HOC NH/ fP/NG
VIỆT NAM VAY 125 TRIỆU USD PHÁT TRIỂN THỦY SẢN
Ngọc Minh
Việt Nam sẽ vay của Ngân hàng Thế giới 125 triệu USD theo nguồn vốn ODA để thực hiện dự
án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững.
Ông Nguyễn Quang Bắc, đại diện Ban quản lý các dự án nông nghiệp, Bộ NN & PTNT cho biết
như trên. Dự án sẽ được thực hiện tại 8 tỉnh ben biển VN gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình
Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Sóc Trăng và Cà Mau trong 5 năm với thời gian dự kiến bắt đầu là tháng
8.2012.
Dự án hướng tới các mục tiêu chính: tăng cường năng lực thể chế nhằm quản lý nguồn lợi một
cách bền vững hỗ trợ ngành thủy sản, đẩy mạnh thực hành tốt về nuôi trồng và khai thác nguồn lợi
thủy sản ven biển bền vững. Trong đó việc đầu tư để có được nguồn sản xuất tôm giống sạch bệnh,
chất lượng tốt để cung cấp cho người nuôi là một trong những yêu cầu hàng đầu của dự án.
Nguồn: Dân Việt
ĐIỀU TRA TỔNG THỂ TÀI NGUYÊN THỦY SẢN Ở VN
V.V.THÀNH
Chiều 17/6, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã có cuộc làm việc với Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) về hoạt động khoa học và công nghệ. Tại cuộc làm việc, Bộ
Trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát nêu ba vấn đề mà ông gọi là “ba điều ước”:
“Thứ nhất, thực hiện điều tra tổng thể tài nguyên thủy sản ở vùng biển VN để có cơ sở khoa học
điều hành việc khai thác thủy sản. Thứ hai, môi trường nước vô cùng nhạy cảm đối với ngành thủy
sản, nhưng hiện nay Bộ NN&PTNT không có khả năng để theo dõi liên tục diễn biến của môi trường
nước. Thứ ba, liên quan đến cơ chế tài trợ ngân sách cho nghiên cứu, chuyển giao khoa học và
công nghệ để Bộ NN&PTNT không chỉ hỗ trợ các đơn vị nhà nước mà còn hỗ trợ cả khối tư nhân”.
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân khẳng định để xây dựng nước VN trở thành quốc gia mạnh
hơn nữa về nông nghiệp, cần tập trung tháo gỡ những tồn tại, làm sao cho lợi ích của người làm
khoa học tương xứng với đóng góp cho xã hội.
Phó Thủ tướng khẳng định ủng hộ đề xuất của lãnh đạo Bộ NN&PTNT về việc xây dựng đề án
điều tra tài nguyên thủy sản, cũng như đảm bảo đủ kinh phí để thực hiện.
Nguồn: Tuổi trẻ
flN fUC SU KlLN

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn
THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC

Soá 3/2011

NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SURIMI TỪ CÁ MÈ HOA (Hypophthalmichthys nobilis)
STUDY ON SURIMI PROCESSING TECHNOLOGY FROM BIGHEAD CARP (Hypophthalmichthys nobilis)
Nguyễn Anh Tuấn (1), Nguyễn Xuân Duy (1*), Nguyễn Bảo (1), Phạm Thị Hiền (1), Nguyễn Hồng Ngân (1) và Đào Trọng Hiếu (2) 1 Khoa Chế biến - Trường Đại học Nha Trang 2 Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và Nghề muối, Bộ NN & PTNT *Email tác giả liên lạc: duy.ntu.edu@gmail.com TÓM TẮT: Surimi là sản phẩm được sản xuất từ thịt cá. Theo truyền thống nguyên liệu dùng sản xuất surimi chủ yếu từ nguồn cá biển. Tuy nhiên, sự khai thác quá mức cùng với phương pháp khai thác không phù hợp đã làm cho nguồn nguyên liệu này có nguy cơ cạn kiệt trong thời gian gần đây. Sản xuất surimi từ cá nước ngọt vẫn còn mới mẻ và là một trong những hướng mới trong công nghệ sản xuất surimi. Bài báo này trình bày những kết quả nghiên cứu sản xuất surimi từ cá Mè hoa, một loại cá nước ngọt, đang được nuôi thương phẩm ở nhiều nơi. Chúng tôi đã xác định được những thông số kỹ thuật quan trọng trong quy trình công nghệ sản xuất surimi từ cá Mè hoa như sau: quá trình rửa được thực hiện trong ba lần: lần 1 sử dụng dung dịch NaCl 0,2%; lần 2 dùng dịch a xít acetic 0,01% và lần 3 dùng nước thường. Thời gian mỗi lần rửa và tỷ lệ dung dịch rửa so với thịt cá là 20 phút và 7:1 (v/w). Thời gian ép tách nước là 30 phút. Phụ gia sử dụng bao gồm đường 4%, sorbitol 4%, tari K7 0,3%. Quá trình tạo gel được thực hiện ở nhiệt độ 0 - 50C trong 24 giờ. Surimi được sản xuất ra có chất lượng đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm. Từ khóa: Surimi, quy trình, cá Mè hoa, Hypophthalmichthys nobilis ABSTRACT Surimi is a product from fish meat. Traditionally, materials for producing surimi are mainly from marine fish. However, overcatch and concominant with incorrect catching methods have resulted in risk of shortage of this recource recently. Surimi production from freshwater fish is still new and is one of new trends in surimi technology. This article presents research results in producing surimi from bighead carp, a kind of freshwater fish, is comercially culturing at many places. We determined the important technical factors of surimi production process from bighead carp as follows: using NaCl 0.2% for the first washing, acetic acid 0.01% for the second washing and freshwater for the third washing. Duration for each washing time and ratio of washing solution and fish meat were 20 minutes and 7:1 (vol./wt.). Dewater duration was 30 minutes. Addtitives were used, including sugar 4%, sorbitol 4% and tari K7 0.3%. Gel setting process was carried out from 0 to 5oC for 24 hours. Surimi produced from this process had quality meet food safety and higene standards. Keywords: Surimi, process, bighead carp, Hypophthalmichthys nobilis TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 3

Khánh Hòa.Taïp chí Khoa hoïc . Histamin được phân tích trên hệ thống HPLC (Shimadzu. đặc biệt là từ cá biển đã được thực hiện (Trần Thị Luyến. Các phụ gia sử dụng trong nghiên cứu này gồm đường. ĐỐI TƯỢNG. CR-400. Hội đồng cảm quan được xây dựng gồm 5 người (3 nữ và 2 nam). Tuy nhiên. Hàm lượng NH3 được xác định theo SMEWW 4 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .05 g/ml). Japan). sorbitol dạng lỏng (nồng độ 70%). Phân tích các chỉ tiêu hóa học Hàm lượng ẩm và tro được xác định theo AOAC 950. năng suất cao nhưng chưa được nuôi ở quy mô lớn vì thịt cá có mùi tanh khó được người tiêu dùng chấp nhận. các hai loại hóa chất này đều đáp ứng yêu cầu sử dụng trong thực phẩm. Giá trị pH được xác định theo tiêu chuẩn ngành số 28 TCN 119:1998 sử dụng thiết bị đo pH (420A. CBM-10A. nghiên cứu sản xuất surimi từ các loài cá nước ngọt còn rất hạn chế. Minolta. Các thông số kỹ thuật của quy trình được nghiên cứu và xác định phù hợp với đối tượng cá Mè hoa. góp phần gia tăng giá trị cho đối tượng nguyên liệu này. Độ trắng được tính toán theo Park (2005). Mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng quy trình công nghệ sản xuất surimi từ cá Mè. đáp ứng yêu cầu phân tích. đặc biệt surimi từ cá Mè mới được nghiên cứu bước đầu. 2006. Osaka. NH3. 3. Độ chắc của gel được xác định theo phương pháp được mô tả bởi Võ Thanh Trực (2010) sử dụng thiết bị đo độ chắc gel (Sun Rheo meter. II. ĐẶT VẤN ĐỀ Surimi là chất nền protein quan trọng để sản xuất các sản phẩm mô phỏng. 4. 2004). Hóa chất sử dụng trong phân tích các chỉ tiêu protein. Vì vậy. muối NaCl và a xít acetic (d =1. 417B (1985). Màu sắc được xác định trên thiết bị đo màu (Chroma meter.Coâng ngheä Thuûy saûn I. Tóm tắt quy trình như sau: Nguyên liệu → Xử lý → Rửa 1 → Rửa 2 → Rửa 3 → Ép tách nước → Phối trộn phụ gia → Nghiền giã → Định hình → Cấp đông → Bảo quản. USA). Japan). Phân tích các cảm quan và vật lý Đánh giá các chỉ tiêu cảm quan theo phương pháp được mô tả bởi Nguyễn Thị Thục (2000). USA). Họ được huấn luyện và đào tạo trong thời gian ít nhất 2 tuần về các kỹ năng đánh giá surimi trước khi tham gia chính thức vào hội đồng đánh giá. Quy trình chế biến surimi dự kiến Quy trình chế biến surimi được thực hiện theo quy trình của Trần Thị Luyến (2004) trên đối tượng cá biển và có một vài sự hiệu chỉnh nhỏ. CR-500DX. Orion. chất béo.03 (1995). Soá 3/2011 2.46 và AOAC 923. 2004). đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao thu nhập cho người nông dân là vấn đề cần quan tâm. Japan). Cá Mè là loài cá ăn tạp có khả năng sinh trưởng phát triển rất mạnh. Hatch. Chỉ tiêu tạp chất và độ dẻo cũng được xác định theo 28 TCN119:1998. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Nhiều công trình nghiên cứu về công nghệ sản xuất surimi từ các loại nguyên liệu thủy sản khác nhau. Xác định hàm lượng protein theo TCVN 4321-1 (1997). histamin và các chỉ tiêu vi sinh vật thuộc loại tinh khiết. hàm lượng chất béo được xác định theo phương pháp của Folch (1957) và hàm lượng gluxit được thực hiện theo phương pháp của Dubois (1956) sử dụng máy đo độ hấp thu quang học (Spectrophotometry DR 4000. cần nghiên cứu sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng từ cá Mè (surimi và các sản phẩm mô phỏng) để thúc đẩy nghề nuôi cá Mè. Các chuyên gia FAO trong lĩnh vực thực phẩm đã nhận định rằng: surimi là cơ sở thực phẩm trong tương lai (Trần Thị Luyến. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính là cá Mè hoa (Hypophthalmichthys nobilis) được nuôi tại Diên Khánh. gluxit.

Coliforms theo TCVN 6848:2007.1% lên 0. nếu tiếp tục tăng nồng độ NaCl thì GS lại giảm.5% giảm chỉ còn 311 g/cm. III. Vibrio parahaemolyticus theo 3349/QĐ-BYT/2001. khi tăng nồng độ AA làm cho pH môi trường giảm xuống xa pH trung tính.2%.0 (Stasoft. dẫn đến cải thiện độ chắc của gel surimi. Do đó. Do đó.02% có lẽ là một sự lựa chọn thích hợp cho công đoạn rửa 1. Listeria monocytogenes theo TCVN 7700-1:2007. Khi tăng nồng độ NaCl từ 0.cm xuống còn 274 g. gây cắt mạch peptit. từ 326 lên 379 g/cm. giá trị này thì thấp đáng kể (p < 0.05).05% thì GS surimi sẽ giảm đáng kể (p < 0. Toàn bộ số liệu được xử lý trên phần mềm Statistica 9. chiếm khoảng 70% tổng số protein trong thịt cá.05). làm giảm nồng độ myofibrillar trong thịt cá. Escherichia coli theo TCVN 6846:2007. điều này dẫn đến làm giảm GS. Tác dụng cải thiện độ chắc của gel surimi có thể là do NaCl có tác dụng làm tăng tính ổn định của protein.01% đến 0. kết quả làm GS giảm. Giá trị GS ở nồng độ NaCl 0.cm. các liên kết hydro cũng bị cắt mạch. 2.2%. công đoạn rửa nhằm giảm hàm lượng protein hòa tan sarcroplasmic đồng thời làm tăng nồng độ myofibrillar lên.05) so với giá trị của nó tại nồng độ muối 0. Xác định nồng độ NaCl cho lần rửa 1 NaCl có ảnh hưởng đến độ chắc gel của surimi (GS) như được trình bày trong hình 1. NaCl có thể làm tăng độ chắc của gel nhưng đồng thời nếu sử dụng không hợp lý có thể dẫn đến tác dụng ngược. Cũng theo Park (2005) thì myofibrillar là protein sợi cơ có khả năng hình thành mạng lưới gel ba chiều.05). Trần Thị Luyến (2004) đã báo cáo nồng độ AA thích TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 5 . Phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật Tổng vi sinh vật hiếu khí (TPC) được phân tích theo TCVN 4884:2005. các phân tử protein bị rửa trôi vào nước càng nhiều.5 % tổng số các protein trong cơ thịt cá. USA). Tuy nhiên. Ok.Coâng ngheä Thuûy saûn 5. Từ kết quả nghiên cứu này cho thấy sử dụng nồng độ NaCl 0. Điều này có thể được lý giải là do khi tăng nồng độ AA làm tăng các nhóm cực tính. Vibrio cholerae theo ISO/TS 21872-1:2007. Xác định nồng độ a xít acetic cho lần rửa 2 Ảnh hưởng của nồng độ a xít acetic (AA) lên độ chắc của gel như được thể hiện trong hình 2. điều này cũng góp phần làm giảm GS. Salmonella theo TCVN 4829:2005. 6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1. Khi tăng nồng độ NaCl trong nước rửa lớn hơn 0. Phép kiểm định Turkey’s HSD được thực hiện theo sau phân tích ANOVA để kiểm chứng sự khác nhau có ý nghĩa (p < 0.Taïp chí Khoa hoïc . Ngoài ra. Staphylococcus aureus theo TCVN 4830:2005. Các hạt mỡ và các phân tử sarcroplasmic được giữ lại sẽ làm cản trở quá trình tạo gel cho surimi. Sarcroplasmic là một loại protein chiếm khoảng 23. Khi nồng độ AA tăng từ 0.2% thì GS tăng lên đáng kể (p < 0. Do đó độ chắc gel surimi giảm. Tác dụng hai mặt của việc sử dụng NaCl trong công đoạn rửa trong công nghệ sản xuất surimi đã được đề cập đến bởi Park (2005). ngoài việc giảm khả năng khử sarcroplasmic còn làm giảm hiệu quả khử chất béo. Tulsa. từ 592 g. độ dài và liên kết giữa các phân tử protein với nhau giảm. Sử dụng NaCl trong công đoạn rửa có tác dụng hai mặt. Công Soá 3/2011 đoạn rửa là một trong những công đoạn quan trọng nhất trong công nghệ sản xuất surimi nhằm loại bỏ các protein hòa tan mà chủ yếu là sarcroplasmic. Xử lý số liệu thống kê Các số liệu thí nghiệm được tiến hành lặp lại từ hai đến ba lần để đảm bảo đánh giá sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê. Shigella theo TCVN 5287:1994. có tác dụng cản trở quá trình tạo gel.

chất béo.cm lên 616 g. đỏ củ.05) đến GS của surimi. Ảnh hưởng của nồng độ a xít acetic đến độ chắc của gel surimi 3.0.01% để tiến hành các thực nghiệm tiếp theo. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện và kết quả chỉ ra rằng độ chắc gel surimi được cải thiện vì rửa loại bỏ một số thành phần gây trở ngại cho quá trình hình thành gel như sarcroplasmic. dẫn đến làm giảm các liên kết phân tử giữa các protein. Nhưng khi đến một giới hạn thời gian nhất định thì hàm lượng chất béo và sarcroplasmic hòa tan vào nước rửa không tăng lên nữa. mối và sơm thóc) dao động từ 0. Vì vậy làm cho độ chắc gel surimi giảm.05). Khi tăng thời gian rửa thì GS của gel tăng theo. chất béo và các tạp chất 6 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Trái lại. Hình 1.cm. Rửa nhằm loại bỏ các sarcroplasmic. Từ kết quả đạt được như được thể hiện trong hình 2. Tuy nhiên. từ 458 g. nhưng khi thời gian xử lý tăng lên 25 phút thì GS của gel lại giảm xuống chỉ còn 527 g. nếu tiếp tục tăng tỉ lệ RV thì chẳng những GS của gel không tăng mà lại có chiều hướng giảm. Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian rửa có ảnh hưởng đáng kể (p < 0. nhưng khi đến một giới hạn thời gian thì GS của gel bắt đầu giảm. 2005). độ chắc của gel tăng (Park. 4. lượng myofibrillar có thể bị rửa trôi vào môi trường lại tăng theo thời gian rửa.Taïp chí Khoa hoïc . Xác định thời gian rửa Ảnh hưởng của thời gian rửa đến độ chắc gel của surimi được trình bày trong hình 3. Rửa là công đoạn cực kỳ quan trọng trong công nghệ sản xuất surimi. Điều này có thể giải thích là khi tăng thời gian rửa thì hàm lượng chất béo và sarcroplasmic được loại bỏ càng nhiều. điều này có thể dẫn đến làm tăng nồng độ protein trong cơ thịt cá trong đó có myofibrillar. Khi RV tăng thì 3:1 lên 7:1 thì GS của surimi tăng lên đáng kể (p < 0.007 . GS của gel tăng từ 467 g.008%. Ảnh hưởng của nồng độ NaCl đến độ chắc của gel surimi Hình 2. nhưng đến một tỉ lệ nhất định. Khi tăng thời gian rửa từ 5 phút đến 20 phút. Sự tăng nồng độ protein này sẽ góp phần làm tăng các liên kết trong phân tử của các protein với nhau. khi tăng tỉ lệ RV lên 8:1 thì GS bắt đầu giảm xuống chỉ còn 473 g.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 hợp cho lần rửa 2 đối với cá biển (cá nhám.cm lên 770 g. Độ chắc gel của surimi tăng cùng với sự tăng của tỉ lệ dung dịch rửa so với thịt cá xay.cm. Xác định tỉ lệ thịt cá xay so với dung dịch rửa Ảnh hưởng của tỉ lệ dung dịch rửa so với thịt cá xay (RV) đến độ chắc gel của surimi được trình bày trong hình 4. đạm và các hợp chất khác từ thịt cá xay. Do đó. máu.cm.cm. chúng tôi chọn nồng độ AA cho lần rửa 2 là 0.

có thể dẫn đến sự giảm GS gel của surimi. hàm lượng ẩm còn lại trong surimi giảm khi thời gian ép tăng. 2005). Sự loại bỏ bớt protein dạng hòa tan góp phần làm tăng nồng độ myofibrillar. từ 83. Park. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ở tỉ lệ kết hợp giữa đường và sorbitol là 4:4 (mẫu SS2) cho độ GS của surimi là cao nhất 643 g. Ucraina. Vì vậy. Kết quả cũng chỉ ra rằng khi tăng tỉ lệ kết hợp giữa SS từ 7% lên 8%. Nga.98%. hàm lượng ẩm còn lại trong surimi giảm đáng kể (p < 0. Ngược lại. khi đó cả đường và sorbitol lại đóng vai trò là những chất hút và giữ nước làm cho hàm ẩm của surimi tăng.Taïp chí Khoa hoïc . Ảnh hưởng của tỉ lệ dung dịch rửa/thịt cá đến độ chắc của gel surimi 5. có thể sẽ gây tác dụng ngược. không sử dụng đường và sorbitol. điều này sẽ dẫn đến giảm GS. Tuy nhiên. thời gian ép tách nước 30 phút được xem xét lựa chọn như là thời gian thích hợp để đạt được mục tiêu đặt ra. Xác định thời gian ép tách nước Ảnh hưởng của thời gian ép tách nước đến hàm lượng ẩm còn lại của surimi như được trình bày trong hình 5. nếu tăng tỉ lệ RV cao quá có thể sẽ dẫn đến những tác hại nhất định đến khả năng tạo gel vì rằng myofibrillar cũng sẽ bị rửa trôi theo nước rửa. sử dụng kết hợp giữa đường và sorbitol (SS) có tác dụng cải thiện độ chắc của gel surimi so với mẫu đối chứng (mẫu CT. Điều này có thể được giải thích là vì cả đường và sorbitol là những chất chống biến tính cho protein trong quá trình đông lạnh. nếu sử dụng quá mức. Hàn Quốc. Mục tiêu của thực nghiệm là chọn được thời gian ép thích hợp để đạt được độ ẩm còn lại trong surimi trong khoảng (76 ± 1)%. chỉ sử dụng 0. 6. vượt quá giới hạn này. Nhìn chung. Hình 3. Khi tăng thời gian ép từ 10 phút đến 35 phút. 2005).05). Xác định tỷ lệ phối trộn phụ gia Ảnh hưởng của đường và sorbitol đến độ chắc của gel surimi sau cấp đông (0 ngày và bảo quản đông 30 ngày) như được trình bày trong hình 6.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 khác. 2010. nếu sử dụng ở một tỉ lệ thích hợp sẽ cải thiện được GS của surimi (Park. sử dụng chúng trong công nghệ surimi giúp ổn định và bảo vệ tính chất chức năng của protein.06% xuống còn 74. Nhìn chung. điều này dẫn đến giảm độ chắc của gel surimi (Võ Thanh Trực. Ảnh hưởng của thời gian rửa đến độ chắc của gel surimi Hình 4. đây là giá trị tiêu chuẩn cho surimi của một số thị trường như Nhật Bản. là một tác nhân quan trọng để hình thành mạng lưới gel surimi trong thịt cá.… Dựa vào kết quả nghiên cứu đạt được (hình 5).cm (30 ngày bảo quản) so với các tỉ lệ kết hợp khác. có tác dụng cải thiện GS của gel surimi. Tỉ lệ kết hợp giữa đường và sorbitol ảnh hưởng đến độ chắc gel.cm (0 ngày bảo quản) và 620 g.3% phosphate). Từ kết quả đạt được về ảnh hưởng của đường và TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 7 .

Tất cả những điều này sẽ dẫn đến khả năng tạo gel của surimi sẽ giảm. Xác định điều kiện định hình Ảnh hưởng của thời gian và nhiệt độ định hình đến độ chắc của gel surimi được trình bày trong hình 7. Sự khác biệt GS gel surimi của hai điều kiện định hình khác nhau có thể được giải thích như sau: Soá 3/2011 ở điều kiện định hình lạnh sẽ xúc tiến việc hình thành các liên kết nhằm làm bền mạng lưới gel như liên kết hydro. tiến hành định hình ở điều kiện nhiệt độ phòng trong thời gian 2 giờ có thể chưa đủ thời gian để các liên kết có tác dụng làm bền mạng lưới gel diễn ra một cách triệt để. chúng tôi chọn tỉ lệ kết hợp giữa đường và sorbitol là 4:4 (%) để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo. Giá trị GS của mẫu SU2 chỉ là 588 g. cắt mạch phân tử protein. liên kết ion. trong khi đó mẫu SU24 là 677 g. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mẫu surimi tiến hành định hình ở điều kiện nhiệt độ phòng trong 2 giờ (SU2) có độ chắc của gel thấp hơn đáng kể (p < 0. Ảnh hưởng của điều kiện định hình đến độ chắc của gel surimi 8 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Ảnh hưởng của thời ép tách nước đến độ chắc của gel surimi Hình 6. Từ kết quả nghiên cứu điều kiện định hình surimi. Ảnh hưởng của tỉ lệ phối trộn phụ gia đến độ chắc của gel surimi Hình 7. một số enzyme nội tại trong sản phẩm (hệ enzyme protease) có thể hoạt động và điều này dẫn đến sự thủy phân.05) so với mẫu surimi được định hình ở điều kiện lạnh dưới 50C trong 24 giờ (SU24).Coâng ngheä Thuûy saûn sorbitol đến độ chắc của gel surimi. trong điều kiện nhiệt độ phòng.Taïp chí Khoa hoïc . 7.… Ngược lại.cm. Mặt khác. chúng tôi chọn điều kiện định hình ở nhiệt độ lạnh trong 24 giờ. Hình 5.cm.

Độ chắc của gel và độ trắng của surimi cá Mè hoa có thể thỏa mãn các yêu cầu về chất lượng surimi hạng A đối với thị trường Nhật và Hàn Quốc. Chỉ tiêu Coliforms là 4.7% và gluxit 7. tro 1%.7 ± 0. Escherichia coli và Staphylococcus aureus đều nằm dưới mức cho phép rất nhiều.4 25.0 1.6 × 104 Kl/g. Các chỉ tiêu cảm quan và vật lý của surimi cá Mè hoa Chỉ tiêu chất lượng Kết quả Màu sắc Mùi Vị pH Tạp chất (theo thang điểm 10) Độ dẻo Độ chắc gel (g.7. chất béo 1.1 10 AA đến A > 600 74 . Bảng 1.2% Công đoạn rửa 2: Sử dụng dung dịch a xít aceic 0.4 1.5oC/24 giờ 9.cm) Độ trắng Bảng 2.5%.1 13. giá trị này rất thấp so với giới hạn gây nguy hiểm đến sức khỏe con người (thường 45 .3% Định hình ở nhiệt độ: 0 . Thành phần hóa học của surimi cá Mè hoa Thành phần Trắng Không còn mùi tanh của cá Ngọt nhẹ 6.3 × 105 Kl/g. muối polyphosphate 0. Salmonella. Hoàn thiện quy trình sản xuất surimi từ cá Mè hoa Từ các kết quả thực nghiệm ở trên. Tổng vi sinh vật hiếu khí là 5.50 mg/Kg).6 ± 0. Tuy nhiên.8 mg/kg và histamin 1.2 1.Taïp chí Khoa hoïc . Kết quả cho thấy surimi chứa ẩm 76.7 mg/kg. ptorein 13.4 TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 9 .7 ± 0. Sự hiện diện một lương nhỏ histamin trong thành phần của surimi có lẽ là do cơ thịt đỏ của thịt cá Mè trong quá trình chế biến Ẩm Tro Protein Chất béo Gluxit NH3 (mg/kg) Histamin (mg/kg) Soá 3/2011 gây nên. chúng tôi xác định các thông số chính của quy trình công nghệ sản xuất surimi từ cá Mè hoa như sau: Công đoạn rửa 1: Sử dụng dung dịch NaCl 0. sorbitol 4%. Shigella và Listeria monocytogenes không phát hiện trong tất cả các mẫu kiểm. Thành phần hóa học cua surimi cá Mè hoa được sản xuất theo quy trình đã xây dựng được liệt kê trong bảng 2. thành phần gluxit có mặt trong sản phẩm bởi vì trong quy trình công nghệ có sử dụng đường và sorbitol như những chất chống biến tính cho protein trong quá trình cấp đông và trữ đông. Các chỉ tiêu cảm quan của surimi đều đáp ứng tiêu chuẩn cảm quan của surimi cá biển theo 28 TCN 119:1998.76 Hàm lượng (%) 76.5 ± 0.57%. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng surimi cá Mè được sản xuất theo quy trình trên chứa hàm lượng NH3 25. Vibrio cholerae.4%.01% Công đoạn rửa 3: Sử dụng nước thường Thời gian mỗi lần rửa: 30 phút Tỷ lệ dung dịch rửa so với thịt cá xay: 7/1 Thời gian ép tách nước: 20 phút Tỷ lệ phối trộn phụ gia: đường 4%. Bảng 3 trình bày kết quả phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật của surimi cá Mè được sản xuất theo quy trình đã phát triển.4 ± 0.8 ± 2. giá trị này thì thấp hơn so với mức cho phép (106 Kl/g).0 ± 0. 2 và 3.9 . Ở đây.2 7.Coâng ngheä Thuûy saûn 8. Đánh giá chất lượng surimi cá Mè Chất lượng của surimi được sản xuất theo quy trình đã được xây dựng như được trình bày trong bảng 1.

H. Nghiên cứu sản xuất surimi cá Mè trắng và mô phỏng xúc xích thịt heo. 118.3 × 105 4. LỜI CẢM ƠN Nghiên cứu này là một phần của dự án: Phát triển sản phẩm giá trị gia tăng từ nguyên liệu thủy sản nước ngọt. 6846:2007. KPH: Không phát hiện IV. Hamilton. Anal. rửa 3 dùng nước thường. P.01%. Đại học Thủy sản Nha Trang. Lees M. 4830:2005. 3349/QĐ-BYT/2001. 1956. A simple method for the isolation and purification of total lipids from animal tissues. Chem.2%. Chỉ tiêu vi sinh vật của surimi cá Mè hoa Chỉ tiêu Đơn vị Tiêu chuẩn cho phép Soá 3/2011 Kết quả (CFU/g) Tổng số vi sinh vật hiếu khí Coliforms Escherichia coli Staphylococcus aureus Salmonella Vibrio parahaemolyticus Vibrio cholerae Shigella Listeria monocytogenes Kl/g Kl/g Vi khuẩn/g Kl/g Vi khuẩn/25g Vi khuẩn/g Vi khuẩn/25g Vi khuẩn/25g Vi khuẩn/25g 106 KQĐ 102 10 2 5. 5. Mã số đề tài : 03/2009/HĐ-ĐT/ GTGT-CNN. thời gian cho mỗi lần rửa là 20 phút. Colorimetric method for determination of sugars and related substances. Va.. Official Methods of Analysis of the Association of Official Analytical Chemists. phụ gia phối trộn gồm đường 4%. pp. 6848:2007.. Ser. 13.Coâng ngheä Thuûy saûn Bảng 3. thời gian ép tách nước là 30 phút. Gilles. J. 4829:2005. ISO 21872-1:2007.. M.: AOAC Inc. 1973. and Smith. editor. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Helrich K. F.3%. 3. tỉ lệ dung dịch rửa so với thịt cá xay là 7:1. 7700-1:2007. 4. Luận văn thạc sĩ. 1990. sản phẩm surimi được sản xuất ra có chất lượng tốt. Rep. FAO/WHO. Feferation Proc. KẾT LUẬN Những thông số kỹ thuật quan trọng nhất của quy trình công nghệ sản xuất surimi từ cá Mè hoa đã được xác định như sau: công đoạn rửa 1 sử dụng dung dịch NaCl 0. 5287:1994.Taïp chí Khoa hoïc . Arlington... 5th ed. No. 2000. Tech. rửa 2 sử dụng a xít acetic 0. Với những thông số kỹ thuật này. 209.50C.A. sorbitol 4%. Rebers. 522.6 ×104 5 < 10 KPH KPH KPH KPH KPH 0 102 KQĐ KQĐ KQĐ KQĐ: Không qui định. muối polyphosphate 0. Cơ quan chủ trì Viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng. đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. 2. 350-356. K. Dubois. 28.. Sloane Stanley G.A. 1957. Folch J. 10 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . 6. Nguyễn Thị Thục...K. WHO. định hình trong 24 giờ ở nhiệt độ lạnh 0 . Các phương pháp kiểm vi sinh vật theo TCVN 488:2005.

2005. chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá.. TP. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 11 . 13. 8.. Đại học Nha Trang. Võ Thanh Trực (2010). Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất surimi từ cá Mè. W. Trần Thị Luyến (2006). giả tôm) từ surimi. 2004. Trần Thị Luyến. Surimi and Surimi Seafood. 10. Phương pháp kiểm chỉ tiêu protein trong thực phẩm theo TCVN 4321-1 (1997). Đại học Nha Trang. Park J. Viện Công nghệ sinh học và Môi trường.Taïp chí Khoa hoïc . Hội thảo toàn quốc về khai thác. CRC Press. 2rd edition. Nghiên cứu công nghệ chế biến surimi và các sản phẩm mô phỏng (giả ghẹ. 11. Công nghệ sản xuất surimi và các sản phẩm có nguồn gốc surimi. Phương pháp kiểm hàm lượng NH3 theo SMEWW 417B (1985). 12. Quy Nhơn. 673-675. Tiêu chuẩn ngành áp dụng cho surimi cá biển 28TCN119:1998.Coâng ngheä Thuûy saûn 7.06-15-NN-02. Soá 3/2011 9. pp. 8-9/12. Đồ án tốt nghiệp đại học. Đề tài nhánh cấp Nhà nước KC.

Từ khóa: tôm hùm.5m2 and mesh-size of 2a = 0.6%/năm). cá tạp. NINH ICH COMMUNE. huyện Ninh Hòa.5 .0 cm for fattening period.5kg). Nguyễn Văn Quỳnh Bôi Khoa Nuôi trồng Thủy sản . Kết quả nghiên cứu cho thấy bè nuôi gồm các lồng nổi có diện tích trung bình 12.5 . tỉnh Khánh Hòa từ tháng 3/2010 đến tháng 8/2010 theo phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural Appraisal-PRA). Tổng số lồng nuôi hiện có ở vùng biển là 403 lồng. Spiny lobster (mainly Ornate spiny lobster) and cobia are main cultured species with type of monoculture.9 millions VNĐ/cage/crop. bệnh tôm sữa. yield of lobster farming. trao đổi nước đảm bảo và độ sâu phù hợp nên nghề nuôi bè tại vùng biển thôn Tân Thành ngày càng phát triển. sản lượng tôm hùm.0cm. Bệnh tôm sữa được xem là bệnh nguy hiểm nhất xảy ra tại đây cho đến nay (tỷ lệ tử vong 80 . Trash fish is major feed for cage culture.90%).Coâng ngheä Thuûy saûn THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC Soá 3/2011 HIỆN TRẠNG NUÔI BÈ TẠI VÙNG BIỂN THÔN TÂN THÀNH. Sản lượng tôm hùm năm 2009 đạt khoảng 23. Hoạt động nuôi lồng đã bắt đầu phát triển tại vùng này từ năm 1996 và đang gia tăng trong khoảng 5 năm trở lại đây (trung bình 16.5 kg). cobia. TỈNH KHÁNH HÒA CURRENT SITUATION OF RAFT CULTURE AT THE SEA AREA OF TAN THANH VILLAGE.5m2 với kích thước mắt lưới giai đoạn ương giống 2a = 0. Tôm hùm (phổ biến là tôm hùm bông) và cá giò là các đối tượng được nuôi chính với hình thức nuôi đơn. Do có lợi thế của vùng cửa đầm như diện tích mặt nước rộng. cá giò. Nguồn thức ăn sử dụng chủ yếu là cá tạp. Ninh Ich commune. Bệnh xuất hiện nhiều trên tôm hùm từ năm 2007 trở lại đây.4. giai đoạn nuôi thương phẩm 2a = 2.4. Ninh Hoa district.0 cm for nursing period and 2a= 2. hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu nào được tiến hành nhằm đánh giá hiện trạng hoạt động này.6kg (năng suất bình quân trên lồng đạt 66. Yield of lobster was approximately 23. Total case amount is 403 cages at the sea area now with average of 23 cages per raft. The average profit was 10.0 .6 kg in 2009 (average of productivity per cage was 66.1. KHANH HOA PROVINCE Nguyễn Minh Đức.0 . milky disease.1. HUYỆN NINH HÒA. huyện Ninh Hòa nằm sát với cửa đầm Nha Phu nên phần lớn sinh kế của người dân dựa vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Tuy nhiên. NINH HOA DISTRICT. Lợi nhuận trung bình/lồng/vụ đạt 10. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Tân Thành là một thôn ven biển thuộc xã Ninh Ích. Xuất 12 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .0cm.Trường Đại học Nha Trang TÓM TẮT Nghiên cứu được tiến hành tại thôn Tân Thành. trung bình số lồng nuôi/bè là 23 lồng.9 triệu VNĐ. xã Ninh Ích. Result of the study shows that farming raft consists of floating cases with average case area of 12. ABSTRACT The study is conducted at Tan Thanh village. trashfish. Khanh Hoa province from 3/2010 to 8/2010 appling method of Participatory Rural Appraisal (PRA). Disease occurs mainly on lobster from 2007 till now. Milky disease is considered to be the most serious until now (mortality rate of 80-90%).Taïp chí Khoa hoïc . XÃ NINH ÍCH. Keywords: Spiny lobster.

kỹ thuật nuôi áp dụng hiện tại chủ yếu TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 13 Hình 1. Ở lứa tuổi này người nuôi đã tích lũy được một số vốn nhất định để đầu tư và vẫn còn đủ sức để thực hiện hoạt động sản xuất. chỉ có 1 chủ hộ đã từng tham gia khóa sơ cấp 3 tháng về sản xuất tôm giống. Thông tin chung về người nuôi Trình độ học vấn của người nuôi được xem là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sản lượng nuôi.de/dissertationen/strehlowharry-vincent-2006-07-14/HTML/chapter5. Số chủ hộ có trình độ văn hóa cấp I là 6 người (chiếm 40%). xã Ninh Ích.Coâng ngheä Thuûy saûn phát từ thực tế trên. đa số các chủ hộ không được đào tạo kiến thức về nuôi trồng thủy sản (chiếm 97%). Kết quả này phản ánh đúng với thực tế trình độ học vấn của người nuôi tôm hùm tại các tỉnh ven biển miền Trung khi đa phần các người nuôi có trình độ học vấn dưới cấp III (chiếm 98%) theo khảo sát của Ly (2009). Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi lồng. Việc tiếp cận tình hình hoạt động nuôi biển tại thôn Tân Thành được tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp người nuôi.Taïp chí Khoa hoïc . Tỷ lệ số bè nuôi được phỏng vấn trên 70%.Excel. Số liệu nghiên cứu được phân tích theo phương pháp thống kế sử dụng phần mềm MS. tỉnh Khánh Hòa” với các mục tiêu sau: Tìm hiểu thông tin chung về người nuôi. nó ảnh hưởng gián tiếp đến năng suất cũng như hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi bè. trình độ văn hóa cấp cấp II là 6 người (chiếm 40%) và trình độ văn hóa cấp III là 3 người (chiếm 20%). Accessed 15/10/2010) II. Về trình độ chuyên môn.hu-berlin. Thông tin ban đầu về hoạt động nuôi bè tại vùng biển thôn Tân Thành được thu thập ở nhiều mức độ khác nhau: Cấp huyện: làm việc với các cán bộ phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Ninh Hòa. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu được thực hiện tại thôn Tân Thành. Nghiên cứu cũng cho thấy trình độ học vấn của người nuôi không cao. Sơ đồ vùng nghiên cứu (Nguồn: http://edoc. Đánh giá xu hướng và khả năng phát triển nghề nuôi bè tại địa phương. Soá 3/2011 Cấp xã: làm việc với phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân và trưởng ban kinh tế xã Ninh Ích. Thu thập thông tin về các biện pháp kỹ thuật nuôi lồng. III. Kết quả phỏng vấn 15 hộ nuôi bè cho thấy tuổi trung bình của các chủ hộ nuôi là 43 dao động từ 28 . huyện Ninh Hòa từ tháng 03/2010 đến tháng 08/2010 theo phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural Appraisal-PRA). Trình độ học vấn trực tiếp tác động đến khả năng tiếp thu và ứng dụng các kỹ thuật nuôi. Cấp thôn: làm việc với trưởng thôn và chủ tịch hội nông dân thôn Tân Thành. Do vậy. . Do đó. huyện Ninh Hòa. nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá “Hiện trạng nuôi bè tại vùng biển thôn Tân Thành.61.html#N115D0. xã Ninh Ích.

2009). 2. Địa điểm nuôi Vị trí đặt bè nuôi có ý nghĩa lớn đến năng suất và sản lượng nuôi. đây là vùng biển có độ sâu và dòng chảy phù hợp cho hoạt động nuôi bè. Ngược lại. cá giò) thường không ổn định do nguồn cung cấp giống không đồng bộ (được mua rải rác từ nhiều nguồn khác nhau). Các bè nuôi ở đây tập trung tại một khu vực cách hòn Lăng. Theo đánh giá cảm quan của người nuôi.0 46. Được chắn bởi hòn Thị nên ảnh hưởng đến vùng này vào mùa mưa bão không quá lớn (Hình 2). đầy đủ các phần phụ) do giống được thu trực tiếp tại địa phương nên không trải qua quá trình vận chuyển.Coâng ngheä Thuûy saûn từ việc học hỏi lẫn nhau và từ kinh nghiệm của các người nuôi tại các vùng nuôi khác. tôm hùm đỏ.3 26.15 năm. hòn Rớ khoảng 50m.2.3 Ghi chú: : Nuôi thử nghiệm từ năm 2010 2.7 13. 2.33 năm) và tại Khánh Hòa (10 năm) thì kinh nghiệm trong nghề nuôi bè của các hộ tại Tân Thành là thấp hơn đáng kể (Ly. không bị xây xát. Bè được đặt ở vùng biển có độ sâu lớn hơn 6m. Trong năm 2010. tôm hùm xanh. So với thời gian trung bình tham gia nuôi bè tại các vùng nuôi khác tại các tỉnh ven biển miền Trung (8.3. Các đối tượng nuôi bè tại vùng biển Tân Thành (n = 15) STT Đối tượng nuôi Tỷ lệ hộ nuôi (%) 1 2 3 4 5 6 7 Tôm hùm bông (Panulirus ornatus) Tôm hùm tre (Panulirus polyphagus) Tôm hùm xanh (Panulirus homarus) Tôm hùm đỏ (Panulirus longipes) Cá giò (Rachycentron canadum) Cá mú (Epinephelus spp) Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii )* * 60. chất lượng giống tôm hùm tương đối tốt (màu sắc tươi sáng. chất lượng và số lượng giống cá biển (cá mú.0 33.7 13. Ba Làng hay Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III. Vị trí đặt bè nuôi được lấy từ nguồn đánh bắt tại địa phương. Các biện pháp kỹ thuật nuôi lồng 2.Taïp chí Khoa hoïc . Riêng giống cá biển có thể được lấy từ địa phương khác như Lương Sơn. nguồn giống tôm hùm khan hiếm và giá cao nên một số hộ chuyển sang nuôi cá giò. Thời gian tham gia nuôi bè trung bình của người nuôi là 5 năm dao động từ 1 .1 Đối tượng nuôi Soá 3/2011 Đối tượng nuôi bè chủ yếu là cá giò (80%) và tôm hùm bông (60%) bên cạnh các đối tượng khác như: tôm hùm tre. Bảng 1. Theo đánh giá của người nuôi. Con giống Nguồn giống tôm hùm và cá biển chủ yếu Hình 2. 14 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .3 80. cá mú và cá chim vây vàng (Bảng 1).

Trên thực tế. 2009).4 6. Trên thực tế. vẹm xanh (green mussel).40 > 40 1 4 9 1 14.8 11.4%) (Bảng 2). Tương tự các vùng nuôi tôm hùm khác tại Việt Nam. kích thước thả giống từ 10 .Taïp chí Khoa hoïc .5. rất ít hộ ương tôm từ giai đoạn hậu ấu trùng (Puerulus) đến giai đoạn giống.0cm. Thức ăn được cho ăn nguyên con hay băm nhỏ tùy theo giai đoạn phát triển của đối tượng nuôi và kích cỡ thức ăn.6.0 10. Diện tích lồng dao động từ 9 . Số hộ nuôi có từ 30 . 2. Đối với các hộ nuôi cá.12cm. kết hợp với các loài giáp xác như cua (crabs). Thời gian nuôi Thông thường mùa vụ thả giống tôm bắt đầu từ tháng 12.7 Có thể phân chia hoạt động nuôi tại khu vực nghiên cứu thành 2 giai đoạn chính. cá hố (hairtail) và cá cơm (anchovy).1.77 lồng (trung bình 23 lồng/bè). và một lượng ít nhuyễn thể như sò (cockles).4m2 (Ly. đặc biệt là năng lực quản lý. Thông tin bè nuôi của các hộ phỏng vấn (n=15) Số lồng/bè Tổng số bè Diện tích trung bình/lồng (m2) Tỷ lệ (%) < 10 15 .40 lồng chiếm đa số (66.0 66. kích thước lưới và kích thước mắt lưới. Cá tạp bao gồm cá liệt (ponyfish). 2008. 2009). 2. Lồng nuôi Lồng nuôi gồm các lồng nổi. 2004. 2004. các hộ có nuôi tôm hùm chọn nuôi từ giai đoạn giống (trọng lượng > 100g) đến kích thước thương phẩm (> 700g). hàu (oyster). Bảng 2. Lưới lồng thường được chống đỡ bằng khung và phao.0 . ghẹ (swimming crab). mỗi hộ thực hiện một tiến trình nuôi khác nhau qua nhiều giai đoạn đòi hỏi sự thay đổi mật độ thả nuôi. 2009). cá mối (lizardfish). Đối với cá. một số hộ đã sử dụng thức ăn viên trong nuôi cá giò giai đoạn giống tuy nhiên số lượng này chiếm tỷ lệ không cao (6.5 .0 cm.2 14. 2006.20 30 . Giai đoạn “ương” từ con non đến giai đoạn giống với kích thước mắt lưới 2a = 0. quy mô nuôi tại đây lớn hơn so với mặt bằng chung ở những vùng nuôi khác tại các tỉnh ven biển miền Trung là 16 lồng/bè với diện tích trung bình 11.7 20. cá sơn (red big-eye). thả giống rải rác quanh năm với thời gian nuôi cá mú 12 tháng và cá giò là 10 tháng.7%).4. giai đoạn nuôi thương phẩm với kích thước 2a = 2. Nha.4. Khung lồng được làm bằng gỗ chịu mặn. Thức ăn 6. Số lồng nuôi toàn vùng là 403. thức ăn sử dụng trong nuôi bè chủ yếu tại vùng biển Tân Thành là cá tạp. Từ năm 2010.16m2 (trung bình 12. Nhìn chung. Tuan & Mao.0 2. giáp xác và nhuyễn thể (Tuấn. Hung và cộng sự. Thời gian nuôi tôm hùm (chỉ tính cho tôm hùm bông) đến kích cỡ thương phẩm trung bình là 19 tháng kéo dài hơn so với các vùng nuôi khác tại các tỉnh miền Trung là 16 tháng (Ly.5m2). Ly. phụ thuộc nhiều yếu tố. Số lồng nuôi/bè từ 9 . TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 15 .Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 Việc chọn giống chủ yếu dựa theo kinh nghiệm không qua bất kỳ hình thức kiểm dịch nào nên người nuôi không kiểm soát được nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh từ con giống vào đối tượng nuôi tạo cơ hội cho dịch bệnh xảy ra.

chất lượng thức ăn tương đối tốt tuy nhiên nguồn cung cấp thức ăn không ổn định dẫn đến việc giá tăng cao khi số lượng không đủ đáp ứng. Khu vực bè nuôi Hình 4. bệnh đen mang. Tuy nhiên với số lượng bè gia tăng hiện nay. 2008).Taïp chí Khoa hoïc .400 tấn năm 2007 tại các tỉnh ven biển miền Trung. Các vấn đề này cho thấy việc sử dụng cá tạp là nguồn thức ăn chủ yếu sẽ gây ảnh hưởng bất lợi đến môi trường nước tạo cơ hội xảy ra dịch bệnh.4h chiều). Bệnh tôm hùm bắt đầu xảy ra nhiều từ năm 2007 trở lại đây. bệnh đỏ thân. một số hộ phải hợp đồng mua phế liệu từ các nhà máy đông lạnh để đáp ứng nhu cầu. Điều này sẽ không đảm bảo nghề nuôi bè phát triển lâu dài.5mg/L) tại một vài khu vực nuôi tôm hùm lồng thuộc vùng biển Xuân Tự. 2004. Đồng thời sử dụng cá tạp cũng là nguyên nhân tạo cơ hội tốt cho các tác nhân gây bệnh phát triển mà điển hình là dịch bệnh “tôm sữa” xảy ra cuối năm 2006 đầu năm 2007 gây thiệt hại lớn cho các hộ nuôi tại các tỉnh ven biển miền Trung (Hung và cộng sự.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 Nguồn cung cấp thức ăn chủ yếu dựa vào khai thác tại địa phương và các vùng biển lân cận. Chuẩn bị cá tạp làm thức ăn 2. Khánh Hòa (Tuấn. Hung và cộng sự. cá biển ít xuất hiện bệnh. Theo đánh giá của người nuôi. Khi cho ăn thức ăn được rải đều quanh lồng hay vào một vị trí nhất định. Trong nuôi lồng biển sử dụng cá tạp với FCR cao (20 . lần 2: 3 . Theo Hung và cộng sự (2008) bệnh này được xem là loại bệnh nghiêm trọng nhất gặp phải đối với nghề nuôi tôm hùm lồng và là nguyên nhân làm giảm đáng kể sản lượng tôm hùm từ 1. Trong đó bệnh tôm sữa là bệnh nguy hiểm nhất xảy ra tại đây (tỷ lệ gây chết 80 .900 tấn năm 2006 xuống còn 1.90%). Hình 3. Tôm hùm và cá biển được cho ăn 2 lần/ngày (lần 1: 7 . bệnh mòn đuôi và bệnh long đầu (Bảng 3). 2008). đặc biệt vào mùa mưa bão. Lượng thức ăn lần 1 chiếm 30% và lần 2 chiếm 70% tổng lượng thức ăn. đã có pháp đồ điều trị từ năm 2007 nhưng thực tế tại vùng biển Tân Thành các hộ nuôi không áp dụng phương pháp 16 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .30) là nguyên nhân gây ra một số vấn đề về chất lượng nước như tổng hàm lượng nitơ trong nước biển đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép trong nuôi trồng thủy sản (0.7.8h sáng. Mặc dù. Các bệnh thường gặp là bệnh tôm sữa. Tình hình dịch bệnh của các đối tượng nuôi Qua điều tra cho thấy bệnh chủ yếu xuất hiện trên tôm hùm.

tôm trưởng thành Tôm con. tôm trưởng thành Bụng tôm có màu trắng sữa. Điều này cho thấy. Chỉ tính riêng năm 2009. hoạt động nuôi bè đã đem lại mức lợi nhuận không nhỏ cho các hộ nuôi. Tetracylin) cùng với vitamin C để trị bệnh. tôm trưởng thành Tôm con.9 triệu VNĐ/lồng (Bảng 4).600kg (năng suất bình quân 66. Phần giáp đầu ngực và phần thân long ra.Taïp chí Khoa hoïc . bệnh nặng đuôi có thể bị cụt Gây chết rải rác đến hàng loạt Gây chết rải rác đến hàng loạt Gây chết rải rác đến hàng loạt Gây chết rải rác đến hàng loạt Gây chết rải rác 100 20.5kg (theo cách xác định của người nuôi). phương pháp trị bệnh này chỉ có hiệu quả phòng bệnh cho những cá thể chưa bị bệnh (hiệu quả phòng bệnh 70 . tách bầy.5 kg/lồng) với giá bán tại bè 780. Bảng 3: Một số bệnh thường gặp trên tôm hùm nuôi tại vùng biển Tân Thành (n=15) Loại bệnh Giai đoạn tôm bị bệnh Dấu hiệu bệnh lý trên tôm nuôi Mức độ ảnh hưởng Tỷ lệ bè nuôi nhiễm bệnh (%) Tôm sữa Đen mang Đỏ thân Tôm con.000 VNĐ/kg thì đa số các hộ nuôi đều có lãi với mức lợi nhuận đạt 10. đa số người nuôi chỉ thống kê kinh tế cho nuôi tôm hùm.Tôm trưởng thành: khối lượng > 0. Tương tự như ở các vùng nuôi khác. 3. B-Enro. sản lượng tôm hùm của các hộ nuôi đạt được khoảng 23. có chất dịch bên trong khu vực này Đuôi tôm bị ăn mòn. do chưa có quy hoạch vùng nuôi cũng như hình thức quản lý phù hợp nên người nuôi không thể kiểm soát được dịch bệnh xảy ra. tôm phản xạ chậm. Khi tôm bị một trong các loại bệnh trên người nuôi thường sử dụng thuốc đường ruột kết hợp thuốc bổ của người (Oxytetracylin. tôm trưởng thành Tôm con. So với giá thành sản xuất là 630. Cotrim. mật độ lồng nuôi quá cao dẫn đến môi trường nước kém chất lượng tạo cơ hội cho dịch bệnh xảy ra (Hung và cộng sự. .3 .0 40.90%) còn các cá thể bị bệnh thì không có hiệu quả (tỷ lệ chết 100%).0 Long đầu 6.7 Mòn đuôi Ghi chú: 13. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 17 . họ không thống kê số liệu đối với cá biển do cá biển được thu hoạch theo từng đợt rải rác. 2008). Ngược lại. Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi lồng Qua điều tra cho thấy.000 VNĐ/kg. Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các hộ nuôi đều có lãi và không có trường hợp nào bị thua lỗ. Mang tôm thối rữa và có màu nâu ở vùng bị tổn thương.Tôm con: kích thước từ 3 . Đối với các bệnh tôm hùm hầu hết người nuôi đều chưa có phương pháp trị riêng cho từng loại bệnh.7cm (theo cách xác định của người nuôi). Theo kết quả phỏng vấn. việc gia tăng bệnh trên tôm hùm vùng biển Tân Thành có thể do sự gia tăng số lượng lồng nuôi.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 này để phòng và trị bệnh tôm sữa mà nguyên nhân do đa phần người nuôi chủ yếu dựa theo kinh nghiệm để xử lý bệnh. Như vậy. tôm trưởng thành Tôm con. Đỏ vùng giáp đầu ngực hay vùng bụng sau đó màu đỏ lan dần toàn thân tôm.

. IV. sự gia tăng này mang tính tự phát không theo quy hoạch. . Đánh giá xu hướng và khả năng phát triển nghề nuôi bè tại vùng biển Tân Thành Do nguồn giống tôm hùm khan hiếm.Taïp chí Khoa hoïc . cá mú và cá chim vây vàng. trung bình 16. cá giò) có lợi thế hơn về sức hấp dẫn tài chính và kinh tế . xã Ninh Ích. tôm hùm xanh.5m2. So với các hoạt động thủy sản khác như nuôi tôm sú bán thâm canh hay khai thác thủy sản thì nghề nuôi bè (tôm hùm. 2001). tôm hùm đỏ. huyện Ninh Hòa như sau: 1.00 44.Nguồn giống tôm hùm được lấy tại địa 18 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . thời gian nuôi ngắn (10 tháng).50 6. Số lồng nuôi toàn vùng là 403 với số lồng nuôi/bè trung bình là 23. Đồng thời.Cá giò và tôm hùm bông là hai đối tượng được nuôi nhiều nhất (với tỷ lệ tương ứng 80% và 60%) bên cạnh các đối tượng khác như: tôm hùm tre.63 0.Coâng ngheä Thuûy saûn Bảng 4.6%/năm trong 5 năm trở lại đây. với hiện trạng phát triển nghề nuôi bè hiện nay tại vùng biển thôn Tân Thành.40 66.Lồng nuôi bao gồm các lồng nổi có kích cỡ trung bình 12.50 0.5m2 lồng nuôi tôm hùm (n=15) Chỉ tiêu Đơn vị tính Giá trị Soá 3/2011 Diện tích trung bình lồng Chi phí đầu tư trung bình/lồng Chi phí sản xuất trung bình/lồng/vụ Sản lượng trung bình/lồng/vụ Giá thành sản xuất bình quân Giá bán bình quân tại bè Doanh thu trung bình lồng/vụ Lợi nhuân trung bình lồng/vụ 4. Hình thức nuôi chủ yếu tại đây là nuôi đơn từng đối tượng. Bên cạnh đó.78 55. .30 10. Kết quả nghiên cứu cho thấy. Kỹ thuật nuôi áp dụng hiện tại chủ yếu từ việc học hỏi lẫn nhau và từ kinh nghiệm của các vùng nuôi khác. Như đã đề cập ở trên. Một số chỉ tiêu kinh tế tính trên 12. Vì vậy. Thực tế cho thấy. cần đánh giá sức tải môi trường của vùng biển để xác định khả năng phát triển nghề nuôi bè trong giới hạn cho phép. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Các kết quả nghiên cứu ban đầu cho phép đưa đến một số kết luận và đề xuất về hiện trạng nuôi bè tại vùng biển thôn Tân Thành. Kết luận .Trình độ học vấn của người nuôi không cao và hầu như không có trình độ chuyên môn. giá cao cộng với tình hình dịch bệnh gia tăng như hiện nay nên một số hộ đang có xu hướng chuyển sang nuôi cá giò với chi phí thấp. tốc độ sinh trưởng nhanh cũng như khả năng chống chịu với điều kiện môi trường tốt hơn so với tôm hùm.90 tiết hơn về hiện trạng nuôi tại đây để duy trì hoạt động này phát triển lâu dài. cơ chế quản lý không rõ ràng và không có cơ quan chịu trách nhiệm quản lý cụ thể hoạt động này. điều cần thiết hiện nay là cần có các biện pháp quản lý hoạt động nuôi bè thích hợp. lợi nhuận đem lại từ nghề nuôi bè tại đây là không nhỏ nên hoạt động này tại vùng biển Tân Thành đã và đang gia tăng nhanh chóng.xã hội (Hambrey và cộng sự. cần thiết phải có các đánh giá chi m2 triệu VNĐ triệu VNĐ Kg triệu VNĐ triệu VNĐ triệu VNĐ triệu VNĐ 12.

Các nguồn dinh dưỡng và vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động nuôi tôm hùm lồng ở Xuân Tự.Y. by K.A.Thức ăn được sử dụng chủ yếu là cá tạp. Lê Anh Tuấn. Đa số các hộ nuôi đều có lãi với mức lợi nhuận bình quân đạt 10. Người nuôi chỉ đánh giá chất lượng con giống theo kinh nghiệm của bản thân và không thực hiện bất kỳ hình thức kiểm dịch nào. Đối với cá biển. . 2.B. Hambrey. .Để bảo đảm nghề nuôi bè phát triển lâu dài cần quy hoạch vùng nuôi đồng thời cần có hình thức quản lý thích hợp đối với hoạt động này. 2004. Khuyến nghị . giống được thả nuôi rải rác quanh năm với thời gian nuôi cá mú 12 tháng và cá giò là 10 tháng. . and Mao. Vạn Ninh.C. . L...9 triệu VNĐ/lồng. 2008. [Accessed 20/10/2010]. A. L. Australian Centre for International Agricultural Research: Canberra. Institute of Oceanography. Economic analysis of the environmental impact on marine cage lobster aquaculture in Vietnam. ed. 3. Aquaculture and poverty alleviation II.Cần có các nghiên cứu chi tiết hơn về đánh giá tác động của hoạt động nuôi lồng đến khía cạnh kinh tế. In “Spiny lobster aquaculture in the Asia-Pacific region: Proceedings of an international symposium held at Nha Trang. Norway & Nha Trang University. K. 5. and Ta. Le.Sản lượng tôm hùm của các hộ nuôi đạt Soá 3/2011 được trong năm 2009 khoảng 23.T. L. Kích cỡ thả giống tôm hùm từ 100g trở lên. 2004.A. Williams.D. Vietnam. and Tuan. Vietnam. kích thước thả giống cá biển từ 10 . . 2009. Khánh Hòa.Taïp chí Khoa hoïc . 4.Bệnh xuất hiện chủ yếu trên tôm hùm từ năm 2007. . . The Norwegian College of Fishery Science University of Tromso. Hà Nội. J.Cần có các lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi lồng cho người nuôi đặc biệt là kỹ thuật phòng trị bệnh trên tôm hùm.. 2006. Hung. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 19 . Nha Trang.600kg (năng suất trung bình 66.12cm. N.Coâng ngheä Thuûy saûn phương. 132. 162 pp. 2.. Lobster seacage culture in Vietnam. xã hội và môi trường nhằm đảm bảo việc phát triển lâu dài hoạt động nuôi lồng tại đây. Master Thesis in Fisheries and Aquaculture Management and Economics. ACIAR Proceedings No.23/12/2004 tại Vũng Tàu.10 December 2008”. Proceeding of the ACIAR lobster ecology workshop.5 kg/lồng). Ly. 2001. Tuan. Người nuôi chủ yếu trị bệnh dựa trên kinh nghiệm của bản thân.T. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.. tr 643-653. 9 .V. Tuyển tập Hội thảo toàn quốc về nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong nuôi trồng thủy sản 22 .Cần thiết đánh giá sức tải môi trường của vùng biển nhằm xác định giới hạn cho phép việc phát triển nuôi bè. Kỹ thuật nuôi tôm hùm lồng và các biện pháp phòng trị bệnh. Cage culture in coastal waters of Vietnam.Mùa vụ thả giống tôm hùm bắt đầu từ tháng 12 với thời gian nuôi kéo dài 19 tháng. NXB Nông Nghiệp.. 6. Võ Văn Nha. Vietnam. được cho ăn 2 lần/ngày. N. Present status of lobster cage culture in Vietnam. Khi cho ăn thức ăn được rải đều quanh lồng hay vào một vị trí nhất định. cá biển ít xuất hiện bệnh.T. p24-30. giống cá biển được cung cấp từ các địa phương khác.

BINH DINH PROVINCE Hoàng Văn Tính. Hình thành được sự liên kết giữa ngành Thủy sản và Dịch vụ du lịch.Trường Đại học Nha Trang TÓM TẮT Kết quả nghiên cứu cho thấy. cá giò. Sphyraena… These seafood hasn’t been exploited for a long time. cộng đồng ngư dân. TỈNH BÌNH ĐỊNH RESEARCHING FOR BUILING THE MODEL OF FISH AGGREGATING (FADS) DEVICES AT NHON LY COMMUNE. Rachycentron canadum. Fish Aggregating Devices has been done after 3 months. Decapterus maruadsi. the management exploited 453kg Sepioteuthis lessoniana and 5700kg fish including: Priacanthus. ngư dân có nguyện vọng tìm lại nghề truyền thống nhằm khôi phục lại nguồn lợi vùng biển ven bờ tại địa phương. Nhon Ly gets income thanks to fishing tourism at Fish Aggregating Devices. Naucrates ductor. nghề khai thác cá kết hợp chà rạo ở vùng biển ven bờ xã Nhơn Lý đã thất truyền khoảng 20 năm. It is suitable for the requirements of FSPS II project of Binh Dinh province and local people ‘s agreements. Forming the connection between Fishery and Tourist at local. cá róc…) tại chà. The research group built the model of Fish Aggregating Devices (FADS) at Nhon Ly. Hình thành được mô hình ngư dân tự quản lý nguồn lợi và diện tích mặt nước ở vùng biển ven bờ để khai thác bằng một số nghề kết hợp với chà rạo. cá nục. Keywords: Model of fish aggregating devices. the fisherman desires to restore Inshore reources at local now. Địa phương đã có thu nhập từ dịch vụ du lịch câu cá giải trí tại chà. Inshore fisheries resources 20 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .Taïp chí Khoa hoïc . Fisheries communities. cá nhồng. cá ngân. Atule mate.Coâng ngheä Thuûy saûn THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC Soá 3/2011 NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHÀ RẠO XÃ NHƠN LÝ. Nhóm nghiên cứu đã xây dựng mô hình chà xã Nhơn Lý phù hợp với yêu cầu Dự án FSPS II BĐ của tỉnh Bình Định và sự đồng thuận của ngư dân địa phương. Sau 3 tháng thả chà tổ Quản lý chà đã khai thác được 453kg mực và 5700kg (cá trác. cá cam. nguồn lợi ven bờ ABSTRACT The research shows that the combination between fish exploiting and Fish Aggregating Devices (FADS) has lost about 20 years at coastal waters at Nhon Ly. Forming model fisherman to manage reources and inshore sea area to exploit with the comination between some fishing farmings and Fish Aggregating Devices. Phạm Văn Thông Khoa Khai thác . Từ khóa: Mô hình chà rạo. Đây là các loài hải sản ngư dân đã không khai thác được tại vùng biển khu vực thả chà từ lâu.

chà di chuyển với tốc độ hợp lý đạt được hiệu quả . Mục đích: tập trung cá. khai thác.Taïp chí Khoa hoïc . sinh sản cho các loài cá. Hiện nay. Hàng năm. bổ sung vật liệu và thiết bị cần thiết để giữ cố định chà và tăng mật độ cá tập trung tại chà. từ lâu chà được sử dụng để khai thác cá nước ngọt. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 21 Hình 1. Philippin. Chà cố định: cố định tại một vị trí trong thời gian dài. Từ lâu. Soá 3/2011 Các nước Anh. sử dụng chà cố định và chà di động để khai thác cá ngừ. hồ. Chà di động sử dụng khai thác ở vùng biển đại dương có độ sâu 500m. Mục đích của nghiên cứu nhằm khôi phục lại nguồn lợi vùng biển ven bờ xã Nhơn Lý để ngư dân khai thác được bằng nghề chà rạo. chà được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng kết hợp với nhiều loại ngư cụ để khai thác cá ở vùng biển ven bờ và xa bờ. vây. Mô hình chà biển Chà di động: mục đích chính là tập trung cá trong một chu kỳ khai thác (mẻ lưới). lưới mành. chà được sử dụng để tập trung. chà đang được sử dụng kết hợp với nhiều loại ngư cụ như câu.Vũng Tàu. tạo nơi trú ẩn. Bình Định là một trong số các địa phương ven biển miền Trung sử dụng chà kết hợp với nghề mành. lưới vây để khai thác cá biển. Trong thời gian tập trung cá. Hiện nay. Bà Rịa . Từ mô hình nghiên cứu có thể nhân rộng những địa phương khác trong tỉnh nhằm góp phần tái tạo và bảo vệ nguồn lợi và hệ sinh thái vùng bờ. Ấn Độ. chà được di chuyển đến vị trí khác. phá.100m… Ở Việt Nam. chà được sử dụng để khai thác cá trong các vùng nước nội địa như sông. Khôi phục lại nghề chà Nhơn Lý là một việc cần làm vì tìm lại nghề truyền thống của địa phương và mang lại hiệu quả thiết thực. Các tỉnh Bình Thuận. Kết thúc chu kỳ khai thác. Bến Tre. Mỹ sử dụng chà kết hợp lưới vây khai thác cá ngừ đại dương. Xã Nhơn Lý là một trong những địa phương của tỉnh Bình Định sử dụng chà từ lâu vào nghề cá. đầm. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong nghề cá.Coâng ngheä Thuûy saûn I. Có 2 loại: chà cố định và chà di động (Hình 1). Indonixia. sinh sản cho cá và các loài thủy sản khác. chà cố định sử dụng khai thác ở độ sâu 30 . kiếm ăn. Tuy nhiên. hiện nay nghề chà xã Nhơn Lý đã bị thất truyền. kiếm ăn. làm nơi cư trú. sử dụng chà cố định kết hợp lưới vây khai thác cá ngừ vây vàng. câu. Tiền Giang… sử dụng chà kết hợp với lưới vây ánh sáng khai thác cá ở vùng biển xa bờ.

Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của xã. tổng công suất: 6945 cv. Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6/2010 11/2010 4.Coâng ngheä Thuûy saûn II.27 lần giá trị sản xuất của ngành Dịch vụ và 6. phỏng vấn kết hợp khảo sát trực tiếp. chi phí đầu tư thấp. hòn Giữa. có độ sâu từ 15 . 2. nguyện vọng của ngư dân đối với nghề chà. kết hợp giữa Thủy sản và Dịch vụ du lịch. nguyên nhân thất truyền nghề chà rạo tại địa phương. Xây dựng phiếu điều tra: Với các thông tin cần tìm hiểu liên quan đến nội dung nghiên cứu như: kinh tế xã hội nghề cá địa phương.62 cv/tàu. điều kiện sinh hoạt cho tổ quản lý và bảo vệ chà. phân tích kết hợp với mẫu chà truyền thống của địa phương được phục dựng lại qua phỏng vấn hồi cố làm cơ sở xây dựng chà mô hình. Tàu có công 22 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Vũng Nồm. Điều tra tìm hiểu chà Soá 3/2011 Kết quả điều tra cho thấy. kiểu chà.6 của dự án và mục tiêu của vấn đề nghiên cứu. thôn chủ yếu giáp 3 mặt biển để thuận lợi cho việc hành nghề. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Dân cư được quy hoạch sinh sống tập trung thành từng cụm. bình quân: 18. mũi hòn Đụng (xã Cát Chính). Chọn mẫu chà và phân tích 5.40m. chà Giữa và chà Cao. 5. quanh năm thường bị ảnh hưởng của thời tiết nhất là khi thời tiết có biến đổi. kết cấu chà. hiện trạng nghề chà rạo địa phương. cấu trúc và khu vực thả chà được chọn dựa vào kết quả khảo sát tại vùng biển khu vực thả chà.1. thời gian sử dụng lâu. cấu trúc và khu vực thả chà [1] Kiểu chà. Trong đó bãi chà Đằm và chà Giữa mật độ cá tập trung cao hơn nhiều so với bãi chà Cao.Taïp chí Khoa hoïc . loại nghề khai thác kết hợp với chà rạo. Tổng số tàu cá của xã có 373 chiếc. khu vực thả chà trước đây của xã Nhơn Lý được giới hạn bởi các hòn đảo: hòn Đài Di. 3. Đặc điểm về nghề cá xã Nhơn Lý [1] Nhơn Lý là xã bãi ngang nằm trong vùng bán đảo Phương Mai về hướng Đông Bắc cách trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 22km. điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng. Hình 2. Chọn kiểu chà. thể hiện qua các nội dung: phù hợp với đặc điểm nghề cá địa phương.47 lần ngành Công nghiệp và Tiểu thủ công nghiệp (Hình 3). Vũng Bấc (Nhơn lý) và được chia thành 3 vùng: chà Đằm. đặc điểm nghề cá địa phương.7. vật liệu làm chà sẵn có tại địa phương. Phương pháp điều tra: Phỏng vấn hồi cố. đặc điểm khu vực thả chà. khả năng tập trung và bảo tồn nguồn lợi vùng bờ. Giá trị sản xuất năm 2009 của ngành Thủy sản gấp 1. đồng thời phù hợp số tham chiếu: FSPS II BĐ/SCAFI/2010/3. Cách tiếp cận: Dựa vào các công bố khoa học trong và ngoài nước để tìm hiểu mẫu chà. điều kiện môi trường khu vực thả chà. Nghề cá xã Nhơn Lý có quy mô nhỏ.

Sử dụng các phương pháp khai thác không phù hợp với quy định quản lý nghề cá như đánh bắt cá bằng chất độc. khai thác vào ban ngày khi cá đứng chà.2. . cá cam.Vụ cá Bắc: từ tháng giêng đến tháng 4 âm lịch. mà di cư ra vùng nước sâu.Vụ cá Nam: từ tháng 5 đến tháng 9 âm lịch.2. Nghề khai thác. cá sơn. Đối tượng khai thác: Các loài cá khai thác được từ chà rạo tại xã Nhơn Lý trước đây chủ yếu cá chỉ vàng. các nghề ít hoạt động đánh bắt tại chà.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 Hình 3. 5. cá hồng. nên hầu hết các nghề không tham gia hoạt động khai thác trừ một số ít nghề lưới cước hoạt động gần bờ.Taïp chí Khoa hoïc . TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 23 . Nguyên do của sự thất truyền nghề chà rạo tại xã Nhơn Lý. Từ tháng 10 âm lịch.2. nghề mành và câu cũng là hai nghề có số lượng tàu cá chiếm tỷ lệ lớn ở xã Nhơn Lý. thuốc nổ ở những khu vực thuộc vùng đệm thả chà. Mùa vụ khai thác: Kết quả điều tra cho thấy. cá giò. trước đây nghề chà rạo của địa phương hoạt động từ tháng 3 . Cơ cấu đội tàu cá xã Nhơn Lý suất lớn nhất là 80 cv.Tranh chấp ngư trường khai thác: nghề lưới kéo khai thác trong khu vực thả chà làm mất chà.2. mực lá. Cơ cấu đội tàu cá xã Nhơn Lý thể hiện trên hình 4. kết quả điều tra cho thấy có các nhóm nguyên nhân sau: . Giá trị sản xuất các ngành kinh tế năm 2009 xã Nhơn Lý Hình 4. các nghề khai thác cá có sử dụng chà rạo gồm: mành chiếc (chủ yếu). số tàu công suất từ 50 cv trở lên có 7 chiếc. cá nục. câu. Nghề mành chiếc kết hợp chà rạo cho sản lượng khai thác cao nhất trong tất cả các nghề khai thác cá ở xã Nhơn Lý. cá phèn. Mùa vụ khai thác: hoạt động khai thác hải sản tại xã Nhơn Lý có hai vụ chính: . làm giảm mật độ cá hoặc các loài cá tập trung quanh chà (cá “đứng chà”). Nghề lưới vây kết hợp ánh sáng khai thác trong khu vực thả chà đã lôi cuốn cá tập trung ở chà ra vùng sáng. Nghề khai thác cá kết hợp chà rạo xã Nhơn Lý [1] 5. 5.9 (âm lịch). cá dìa. Nguyên nhân thất truyền nghề chà rạo xã Nhơn Lý Nghề chà rạo xã Nhơn Lý không còn được sử dụng cách đây khoảng 20 năm. làm mất nguồn lợi. Thời gian từ cuối tháng 9 đến tháng 12 thường có bão. . Hiện nay. vì mùa gió đông bắc dòng chảy mạnh cá không “đứng” chà. đối tượng và mùa vụ khai thác Trước đây.1. cá liệt và một số đối tượng khác. làm cho các nghề khai thác có sử dụng chà không có thu nhập hoặc thu nhập rất thấp.

Mô hình chà xã Nhơn Lý Hình 6. Chà cố định Philippin Hình 7. làm cơ sở triển khai xây dựng mô hình ngư dân tham gia quản lý nghề cá ở vùng nước gần bờ của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Định.Do yếu tố khách quan: bão tố. Hình 5. Chà cố định Nhật Bản 24 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Chọn mẫu chà và phân tích [1] Nhóm nghiên cứu đã chọn và phân tích 4 mẫu chà kiểu cố định làm cơ ở xây dựng chà mô hình gồm: mẫu chà xã Nhơn Lý (hình 5). nếu chà rạo được phục dựng sẽ khôi phục lại nguồn lợi và sẽ cho hiệu quả khai thác cao hơn. sóng biển. mẫu chà Philipppin (hình 6). quản lý mô hình. trước hết là những người tham gia xây dựng. vây kết hợp ánh sáng và phương pháp đánh bắt bất hợp pháp.Taïp chí Khoa hoïc . cải thiện đời sống của nhân dân trong xã. hỏng chà. dòng chảy mạnh làm trôi chà. . Kết quả điều tra cho thấy. Nguyện vọng của ngư dân về khôi phục lại nghề chà rạo.Coâng ngheä Thuûy saûn . 5. mẫu chà Thái Lan (hình 7) và mẫu chà Nhật Bản (hình 8) .Có thể kết hợp với ngành dịch vụ để nâng mức thu nhập. 100% số người được hỏi muốn duy trì lại nghề cũ vì ngư dân tin tưởng.3. Trong đó. Soá 3/2011 . nhóm nguyên nhân thứ 3 là thứ yếu và có sự tác động của nhóm 1 và 2.Ngư dân trực tiếp quản lý và khai thác chà. ảnh hưởng đến tâm lý của ngư dân. Chà cố định Thái Lan Hình 8. nếu ngăn chặn được sự tranh chấp về ngư trường của các nghề lưới kéo. làm giảm sự quan tâm của họ tới sự tồn tại của chà.

Kiểu chà. mỗi bụi chà ban đầu có 4 đến 7 cây tre.10m. Lá chà thường sử dụng được 5 đến 6 tháng.Dây chà (2) làm bằng dây dừa. neo và đèn hiệu . có thể bố trí thêm phần kiến trúc thượng tầng nếu có thêm hỗ trợ của thiết bị đỡ phần bè.Bè nổi: gồm những cây tre liên kết với nhau thành hình chữ V (hình 8). Phía trên liên kết với bè.Dây chà: làm bằng lưới cũ. dây chà. * Phần nổi trên mặt nước: bè nổi và phòng sinh hoạt của tổ quản lý chà. đá cố định để tăng độ lớn của bụi chà. chưa phù hợp với đặc điểm dòng chảy của vùng biển xã Nhơn Lý tại khu vực thả chà mô hình. nhằm tăng mật độ tập trung cá và khả năng chịu đựng sóng gió của chà. Kiểu chà và cấu trúc chà: Từ phân tích ở phần trên chà mô hình xây dựng là kiểu chà bè cố định. có 2 lớp. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1. dễ thi công chế tạo. Mẫu chà Philippin: Có 4 bộ phận chính: bè nổi.Bè nổi: làm bằng tre cây.Lực giữ của các mẫu chà Philippin. diện tích tập trung cá nhỏ hơn so với mẫu chà Nhật Bản và Philippin. . . . . hiệu quả tập trung cá thấp hơn so với mẫu chà Nhật Bản và Philippin.Dây chà: liên kết lá chà. đường kính: Φ = 25 . Thực tế điều tra đã chứng minh điều đó. gắn với dây neo và bè nổi bằng dây PE hoặc PP.Mẫu chà Thái Lan: cấu tạo đơn giản.Bè nổi: làm bằng phao nhựa.Phao nhựa hình trụ thể tích 200 lít. Mỗi bụi chà ban đầu thả từ 3 đến 4 dây.Bè nổi có kích thước (7 x 7)m. . . có một số thiết bị phụ trợ liên kết giữa các bộ phận. . dây chà. . hình trụ Mẫu chà Thái Lan: Có 4 bộ phận chính: bè nổi. . ngư dân bổ sung thêm vật liệu cho chà: tre. . dây chà.30mm.Neo: gồm 1 neo sắt và đá dằn Soá 3/2011 . III. dễ thi công chế tạo. Nhật Bản thấp. . phao.Mẫu chà Philippin kết cấu phần bè nổi rộng. Ngoài ra. Thái Lan. . cấu tạo chắc chắn. gồm hai loại: lá dừa hoặc lá chà là (chủ yếu). chiều cao: 7 đến 10m. Tuy nhiên. neo. nước cuốn trôi. Chiều dài mỗi dây chà lớn hơn độ sâu nước tại vùng thả chà từ 5 . chi phí thấp. phía dưới có đá dằn. Phân tích chà mẫu: .3 khối bê tông. phía trên liên kết với đèn hiệu (hình 7). . hình trụ. Mỗi bụi chà ban đầu thả từ 3 đến 4 rọ.Coâng ngheä Thuûy saûn Mẫu chà xã Nhơn Lý: .Neo: gồm 2 . có 2 phần chính: phần nổi trên mặt nước và phần chìm trong nước.Neo: gồm 1 neo sắt và đá dằn Mẫu chà Nhật Bản: có 4 bộ phận chính: bè nổi. lực giữ chà thấp. làm bằng gỗ và tre. dây chà. so với 2 mẫu chà Thái Lan và xã Nhơn Lý chi phí lớn hơn và quy trình chế tạo phức tạp hơn. Mỗi lớp 30 cây dài 10m. .Phòng sinh hoạt có kích thước: rộng x dài TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 25 . đặt trên hệ thống phao bằng thùng nhựa (hình 10).Dây chà: làm bằng lá dừa và lưới cũ. .Mẫu chà Nhật Bản và Philippin có diện tích tập trung cá lớn hơn. Vào mùa mưa bão lá chà bị thường mục nên bị sóng. Giữa bè có 2 lốp ô tô: một lốp liên kết với dây neo và một lốp xe liên kết với dây chà (hình 6).Mẫu chà xã Nhơn Lý: cấu tạo đơn giản. cấu trúc chà và khu vực thả chà [1] 1.Thân chà (1) làm bằng tre cây. trọng lượng mỗi rọ từ 40 đến 70kg.Vật nặng giữ chà (4) bằng các rọ đá. dễ bị trôi. .1. Hàng năm.Taïp chí Khoa hoïc .Lá chà (3) được liên kết thành dây dài tạo bóng râm tập trung cá. neo và đèn hiệu .

Phao (Thùng nhựa) 1. 3.1 hải lý. độ sâu 20 . Lốp xe. 6. 4. Hình 10. + Dây chà: có 8 dây bằng vật liệu PP. 9. được kính 0.0m. dưới sự chủ trì của Ông Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định. phía sau: 2. Tính toán chà [2] Tính toán chà là tính lực giữ của neo cố định chà và độ bền (lực đứt) của dây neo. tính theo (2) F2: Lực giữ của phần liên kết (KG). vật liệu: cáp thép. Bè nổi. Vật nặng giữ dây chà. 2. 5.Thiết bị đỡ bè: thùng nhựa. lốp ô tô cũ… Hình 9. Soá 3/2011 + Dây chà được liên kết vào bè nổi nhờ ma ní.Lực giữ của neo được tính biểu thức (1) Trong đó: FN: Lực giữ của phần neo (KG) FN = F1 + F2 (1) F1: Lực giữ do trọng lượng neo (KG). Cấu trúc chà mô hình 1. . cách bờ khoảng 0. chiều dài: 50m/1 dây. nghĩa là tính trọng lượng neo và đường kính dây neo.Taïp chí Khoa hoïc .5 x 2. 7.5m.5)m. Khu vực thả chà: Nằm trong khu vực bãi chà Đằm. Số lượng: 24 thùng * Phần chìm trong nước gồm: bộ phận tập trung cá và bộ phận giữ bè chà (hình 9). tính theo (3) 26 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . . còn có một số thiết bị khác để liên kết bè chà: ma ní.5m. neo hải quân + Dây neo: 4 đường. 8. dài 1m.8 . .Coâng ngheä Thuûy saûn = (2. chà Giữa của xã. Ma ní liên kết neo và dây neo. Dây chà.Bộ phận tập trung cá: là các dây chà (dây bằng vật liệu PP. cấu trúc chà và khu vực thả chà đã được thảo luận và thống nhất tại Hội thảo về phương án xây dựng chà ở thành phố Quy Nhơn vào tháng 6 năm 2010. Lá chà. Phần nổi của chà mô hình 2. Dây neo. Kiểu chà. đường kính 16mm. + Lá chà: làm bằng lá chà là (vật liệu ngư dân địa phương đã dùng trước đây). khóa xoay. khóa xoay. Neo giữ chà 10. . chiều dài 45m/1 dây Ngoài ra. + Vật nặng giữ dây chà đúc bằng xi măng trọng lượng 5kg/dây. lá chà làm bằng là chà là) và vật nặng giữa dây chà là khối bê tông hình trụ. Phòng sinh hoạt của tổ Quản lý chà.25m.2.Bộ phận giữ bè chà: + Neo: 4 cái. chiều cao phía trước: 2.

3. phần nhà ở. chất đáy và tính chất tác dụng của ngoại lực. được tính theo biểu thức (6): Vgió : tốc độ gió (m/s) Agió : diện tích phần vật thể.Coâng ngheä Thuûy saûn F1 = KN1 * PN (2) Soá 3/2011 KN1: Hệ số lực giữ của neo phụ thuộc vào loại neo. được tính theo biểu thức (5): = k 2 (5) Trong đó: Kgió : tổng lực gió tác dụng lên vật thể (tấn) : hằng số liên quan đến hướng gió tác dụng lên vật thể.v là cường độ làm việc của dây. . đối tượng chịu tác dụng của gió (m2) H 2 (6) Trong đó: Knước : tổng lực dòng chảy tác dụng lên vật thể (tấn) k f Anước : diện tích phần vật thể (bè) chìm trong nước : hằng số : tham số liên quan đến tỷ số độ sâu khu vực (H) với chiều cao phần vật thể. Pl. = Trong đó: P=p*q p q (3) P : Trọng lượng của 1m dây trong nước.Lực tác dụng của gió lên vật thể. Phần chìm dưới nước (bộ phận tập trung cá và bộ phận giữ chà): chịu tác dụng của dòng chảy.1. Phần nổi trên mặt nước (bè và phòng sinh hoạt. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 27 . chà gồm các phần riêng rẽ liên kết với nhau.Lực tác dụng của dòng chảy lên vật thể.Lực đứt của dây neo tính theo biểu thức (4) Trong đó: Pđ là cường độ đứt của dây. nên khi thi công chà có thể thực hiện độc lập theo từng công đoạn: bộ phận bè nổi. : Trọng lượng của 1m dây liên kết trong không khí : Xuất nổi của vật liệu làm dây Z : Chiều cao từ vị trí thả dây đến đáy biển (m) . n là hệ số an toàn. nghỉ ngơi của tổ quản lý chà): chịu tác dụng của gió (chủ yếu) và dòng chảy. đối tượng chìm trong nước (d) Kết quả tính toán: trọng lượng neo: 40 kg/cái.v (4) LN : Chiều dài dây cần thả (m) Cường độ làm việc của dây được tính dựa vào ngoại lực (lực của gió và dòng chảy tạo ra) tác dụng lên phần nổi và phần chìm của chà. bộ phận tập trung cá và bộ phận giữ chà.Taïp chí Khoa hoïc . đường kính dây neo: φ = 14 mm (cáp thép). . Pđ = n * Pl. Thi công chà Như trên trình bày. Thi công chà và thả chà [2] 3.

4m. A2 (vĩ độ 13054'11'' N .Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 Quy trình thi công phần tập trung cá: lá chà là được phơi khô.Sở Nông nghiệp và PTNT Bình Định Hình 13. buộc vào dây chà (PP Φ16) bằng sợi 210D/27. Tâm bè chà: vĩ độ 13053'59'' N. Quy Nhơn 28 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . kinh độ 109016'48'' E). Thả chà Sau khi hoàn tất công việc thi công. mành đèn không được phép đánh bắt cách bè 500m. Khoảng cách giữa các cụm lá 0. kinh độ 1090 17'24'' E) Mô hình được sự hỗ trợ của Chương trình FSPS II Bình Định .Taïp chí Khoa hoïc . Sơ đồ bố trí bè chà xã Nhơn Lý . Thả chà 3. chà đã được tàu kéo đến vị trí thả tại điểm có tọa độ φ = 13053’59’’N và λ = 10901’E (hình 13). Dây chà mô hình Hình 12. A3 (vĩ độ 13053'45'' N . Bè chà cách bờ thôn Hưng Lương 1420m 3. Khu vực được giới hạn bởi các điểm A1 (vĩ độ 13054'11'' N .TP. Khu vực các loại nghề: giả cào. A4 )vĩ độ 13053'45'' N . Ghi chú: 1.2. kinh độ 109017'00' E 2. kinh độ 109016'48'' E). Sau đó. kinh độ 109017'24'' E). liên kết hai dây chà độc lập với nhau thành dây đôi như (hình 11) và liên kết với bè nổi (hình 12). Hình 11.

thu nhập từ 100. 27 tháng 7 năm 2010. góp phần xóa đói giảm nghèo ở địa phương”. A3.Taïp chí Khoa hoïc .Coâng ngheä Thuûy saûn 4. Lượng cá phát tán xung quanh chà rất lớn. Ngành đánh giá cao. Tính bền vững và khả năng làm việc của mô hình Chà mô hình hoạt động tốt.Kết quả khai thác nguồn lợi tại chà của tổ Quản lý bè chà từ tháng 8/2010 . A4.000 (đồng)” [4]. nhưng chà mô hình vẫn an toàn. . Nhiều đối tượng cá bị mất từ lâu nay lại phục hồi (cá liệt chỉ). Tất nhiên.. cá ngân.“Từ khi triển khai mô hình bè chà người dân đồng tình và ủng hộ cao. cận nghèo và hộ khó khăn đánh bắt gần bờ”. cá giò. Tuy vậy.3. nhằm khai thác nguồn lợi thủy sản bền vững và lâu dài”. cá liệt.7 thuyền thúng câu mực và khai thác cá trác. đã được địa phương đánh giá và được kiểm chứng trong trận áp thấp nhiệt đới (sóng to..000 = 400. 4. phù hợp điều kiện thực tế tại địa phương.Đem lại lợi ích thiết thực cho bà con ngư dân.881.“. . 26. Phần chìm của chà và vị trí khảo sát đặt chà rất phù hợp.“. Hiệu quả kinh tế và kết hợp giữa Thủy sản với Dịch vụ du lịch .Phát triển du lịch nghề cá ở địa phương.200.000 (đ/kg) = 57.. Nghĩa là.000(đ/kg) 34. A2. . Tác động về mặt xã hội [5] Soá 3/2011 .Nâng cao ý thức cho bà con ngư dân trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở địa phương..2. “vẫn còn một số tàu thuyền và ngư dân đến khai thác bất hợp pháp tại chà” [5]. “…Ngư dân tổ chức đưa đón khách du lịch đến tham quan câu cá để thu tiền” -“. cá cam.5. Kết quả mô hình và thảo luận Kết quả mô hình đã được thảo luận tại Hội thảo “Tổng kết hoạt động dự án” vào ngày 22/11/2010 tại thành phố Quy Nhơn dưới sự chủ trì của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 29 . trong đó hưởng lợi nhiều nhất là ngư dân thôn Lý Hưng và Lý Lương”. . sản lượng hải sản khai thác được tại chà của các tàu thuyền này UBND xã Nhơn Lý và tổ Quản lý bè chà không nắm được. [5] . hình 13).4. Xã Nhơn Lý đã xây dựng tổ quản lý chà và nguồn lợi trong khu vực cần bảo vệ bằng kinh phí hoạt động từ doanh thu bán sản phẩm khai thác được tại chà. Hình thành quy định bảo vệ nguồn lợi ven bờ Ngành Thủy sản tỉnh Bình Định đã ban hành quy định quản lý và khai thác nguồn lợi quanh khu vực chà như: giới hạn phạm vi cấm hoạt động của các nghề. [5]. tàu thuyền tại khu vực thành phố Quy Nhơn có những thiệt hại nặng và xã Nhơn Lý bị chìm 4 tàu cá.“Hàng ngày trung bình có 5 .“Nhiều loài hải sản như mực. cá nục.. tăng thu nhập kinh tế gia đình. 4. vì nó tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân đánh bắt gần bờ.. ngư cụ được sử dụng khai thác cá tại chà và vùng quanh chà (giới hạn bởi các điểm A1.“Kết quả hoạt động rất đạt yêu cầu và được Địa phương. cá nhồng.1. sản lượng khai thác được từ chà cao hơn số lượng thống kê theo báo cáo của UBND xã Nhơn Lý và của tổ Quản lý bè chà. gió và mưa lớn) vào các ngày 25. đã tập trung thường xuyên và ổn định tại chà” [5] 4. 4. cá róc. Tại Hội thảo chà mô hình đã được đánh giá như sau: 4..700(kg) x 10. Kết cấu chà và vị trí thả chà: . người dân hưởng lợi” [3]. nhất là hộ nghèo.000. Điều này.. cá nục xung quanh khu vực bè chà.000 (đồng)” [4].“Thu từ dịch vụ câu cá của khách du lịch đến tham quan: 1.000(đồng) + Cá các loại: 5.000 đồng/ngày” [5].10/2010: “+ Mực lá: 453(kg) x 77.

Đề xuất phương án xây dựng mô hình. Tổ Quản lý chà bè (2010). Báo cáo Tham luận “Về công tác tổ chức quản lý chà bè xã Nhơn Lý” tại Hội thảo Tổng kết hoạt động của Dự án. tỉnh Bình Định”. 2. Báo cáo Tham luận “Đánh giá tác động của chà rạo đến môi trường. Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu nghề chà rạo xã Nhơn Lý . nguồn lợi thủy sản và đời sống cộng đồng dân cư ven biển của xã” tại Hội thảo Tổng kết hoạt động của Dự án.Coâng ngheä Thuûy saûn IV. KẾT LUẬN Kết quả nghiên cứu cho thấy: có thể phục hồi nguồn lợi ven bờ tại xã Nhơn Lý bằng nghề chà rạo hoặc bằng phương pháp thả rạn nhân tạo. 30 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . 3. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phạm Văn Thông (2010). Đánh giá của Ông Trưởng Ban Quản lý Dự án của Sở NN&PTNT tỉnh Bình Định về kết quả hoạt động của Dự án. UBND xã Nhơn Lý (2010). thành phố Quy Nhơn. Có thể triển khai mô hình đến các địa phương khác có điều kiện tự nhiên và điều kiện môi trường vùng biển ven bờ tương tự. 4. Báo cáo tổng kết hoạt động Dự án “Hỗ trợ xây dựng mô hình chà rạo cho vạn chài xã Nhơn Lý. 5. Hoàng Văn Tính.Taïp chí Khoa hoïc . Mở ra hướng phát triển nghề cá giải trí phục Soá 3/2011 vụ khách du lịch của tỉnh Bình Định và mô hình quản lý nghề cá biển ở vùng ven bờ dựa vào cộng đồng. Hoàng Văn Tính (2010).

Đó là hướng đi hết sức cần thiết để tiến tới một thư viện đại học thân thiện và hiện đại. Muốn vậy. công việc này mới được triển khai rất manh nha. đòi hỏi phải chuẩn bị thật tốt từ cơ sở vật chất kỹ thuật. bất cứ ở đâu để giúp họ tự nâng cao trình độ. Để đáp ứng được yêu cầu kiểm định chất lượng đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ. Một số thư viện trên thế giới thuộc các nước phát triển như Anh. trang thiết bị. đến nhân lực. Đây là bước đi đầu tiên cho việc xây dựng những sản phẩm tương tự tiếp theo cho các ngành và chuyên ngành khác. khả năng phân tích và đánh giá các vấn đề trong quá trình học tập. Đây là một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong tiến trình xây dựng thư viện hiện đại. Nó vừa là công cụ thuận tiện.Taïp chí Khoa hoïc . thư viện cần phải có những sản phẩm “tinh” . Việc quản lí nguồn tài nguyên theo môn loại hoặc theo chủ đề của bảng phân loại thư viện chủ yếu cung cấp những sản phẩm “sơ” và “thô”. thiếu nhiều module cần thiết quản lý lưu thông. Học viện Kỹ thuật Quân sự… Ở một số trường khác. người dùng không thể tìm kiếm nhanh và đầy đủ những thông tin hữu ích cho họ. Mỹ… đã đầu tư triển khai dạng sản phẩm này. hiện nay mới chỉ có một số Thư viện đại học quan tâm đến xây dựng CSDLMH như Đại học Thái Nguyên. Thư viện Trường Đại học Nha Trang đã triển khai nghiên cứu xây dựng CSDLMH cho các ngành và chuyên ngành thuộc khoa Cơ khí và khoa Kỹ thuật tầu thủy. đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường. nhỏ lẻ trên những phần mềm mã nguồn mở.Coâng ngheä Thuûy saûn THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC Soá 3/2011 XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU TÀI LIỆU MÔN HỌC HÌNH THỨC PHỤC VỤ HIỆU QUẢ CHO ĐÀO TẠO TÍN CHỈ CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG Nguyễn Quý Hoàn Thư viện . ĐẶT VẤN ĐỀ Cơ sở dữ liệu tài liệu tham khảo môn học (CSDLMH) là một sản phẩm mới của Thư viện Trường Đại học Nha Trang. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một nhiệm vụ và giải pháp mới nhằm thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt nam giai đoạn 2006 2020. Ở trong nước.Trường Đại học Nha Trang I. đa dạng cho người học khai thác bất kỳ lúc nào.nhằm chỉ ra nguồn tài liệu/ học liệu chính và tham khảo cho từng môn học. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 31 . Trường đại học cần có một thư viện hiện đại cung cấp nguồn tài nguyên phong phú.tức là cung cấp những gói thông tin tương đối đầy đủ đối với từng đối tượng theo một chủ đề nhất định . tài chính… trong đó có yếu tố quan trọng là đổi mới hiệu quả hoạt động thông tin thư viện. Đại học Quốc Gia Hà Nội. Từ yêu cầu trên. vừa là nguồn tài nguyên năng động và hết sức cần thiết cho người dùng. Vì thế việc xây dựng CSDLMH càng trở nên cấp thiết.

Hiện nay. Công nghệ kỹ thuật xây dựng. Thư viện phải nghiên cứu triển khai rà soát.điện tử. Cùng với số tài liệu in. Thư viện hiện đang quản lý khoảng 3000 tên tài liệu điện tử trên thư viện số và được cập nhật thường xuyên (bao gồm ebooks. Agora. dễ dàng.là phần mềm thư viện số Soá 3/2011 chuyên nghiệp của Công ty CP tin học Hiện đại với nhiều modun tiện ích và chức năng tra cứu tìm tin. theo từ khóa.000 nhan đề tài liệu văn bản. tương đương 37. Việc xây dựng thành công CSDLMH cho 2 khoa Cơ khí và Kỹ thuật Tàu thủy đã nhận được những đánh giá tích cực từ phía người dùng là giảng viên và sinh viên. Công nghệ kỹ thuật ô tô và Công nghệ chế tạo máy. Công nghệ cơ . CSDLMH được quản lý và lưu thông trên thư viện số.Coâng ngheä Thuûy saûn II. Thư viện Trường Đại học Nha Trang đang quản lý khoảng 17. đồng thời các đơn vị liên quan như Phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học. luận án. tài liệu theo quy định. theo ký hiệu phân loại. Hinari.000 cuốn với 60% có thời điểm xuất bản sau năm 2000. tìm theo từ khóa… để có được danh mục tài liệu tham khảo mong muốn. Đóng tàu thủy. bao gồm các chuyên ngành và ngành đào tạo: Thiết kế tàu thủy. CSDLMH cho các ngành đào tạo của hai khoa Cơ khí và Kỹ thuật Tàu thủy được thực hiện trên KIPOS . ngôn ngữ khác 1%. ĐỐI TƯỢNG. Phòng Kiểm định chất lượng đào tạo và Khảo thí. sẽ giúp cho người dùng dễ dàng tìm kiếm được danh mục tài liệu tham khảo cho từng môn học một cách nhanh chóng. Ngoài việc đáp ứng được yêu cầu của người dùng. giải pháp đảm bảo giáo trình. Thư viện đã xử lý và hoàn thành CSDLMH 70% số môn học với 2000 tên sách. Người dùng dễ dàng truy cập vào nguồn tài nguyên này trong thư viện số thông qua website của Thư viện bằng việc nhập từ khóa môn học và thực hiện tìm kiếm thông tin theo các tính năng như tìm lướt. công tác kiểm định chất lượng và kế hoạch phát triển nguồn tài nguyên thông tin của thư viện cho từng học phần. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thư viện tổ chức nguồn tài nguyên theo CSDLMH cho các ngành và chuyên ngành đang đào tạo. luận văn. CSDLMH còn đáp ứng tốt cho công tác quản lý tài liệu của Thư viện. luận án và đề tài nghiên cứu khoa học. Thiết bị năng lượng tàu thủy. tên tác giả… III. ngôn ngữ Anh 14%. đề tài NCKH…) cùng với một số CSDL trực tuyến: ProQuest. Việc này cũng sẽ rất có ích cho công tác quản lý và phục vụ tài liệu cho đào tạo theo hệ thống tín chỉ. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Với sự hỗ trợ của nhà cung cấp phần mềm. luận văn của 7 ngành và chuyên ngành đào tạo của 2 khoa. chỉ cho được các tài liệu dùng tham khảo cho từng môn học cụ thể. còn có trên 200 tên báo và tạp chí. tên tài liệu. không bị giới hạn về không gian và thời gian nên đã tạo môi 32 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Willson và CSDL các công trình nghiên cứu quốc gia… Để thực hiện công việc này. thống kê thông tin thư mục và tài liệu số toàn văn hiện có. Ngoài ra. có thể tra cứu tài liệu theo chủ đề. các khoa… có thể biết hiện trạng tài liệu đáp ứng cho mỗi một môn học để có kế hoạch. giáo trình. tổ chức lập bảng danh mục môn học của tất cả các ngành học trong trường trên cơ sở đề cương chi tiết học phần đã ban hành.Taïp chí Khoa hoïc . trên 2000 luận văn. trong đó tài liệu ngôn ngữ Việt chiếm 85%.

Việc xây dựng CSDLMH không nằm ngoài mục đích phục vụ tốt hơn cho đổi mới phương pháp dạy và học. 2008. Tạp chí thông tin tư liệu .tr14-17. đáp ứng các yêu cầu của học chế tín chỉ”. không phụ thuộc vào số lượng người dùng. Soá 3/2011 CSDLMH góp phần mở rộng đối tượng phục vụ: đặc biệt là có thể đáp ứng tốt nhu cầu tài liệu học tập cho các cơ sở liên kết đào tạo xa trường và Phân hiệu Kiên Giang.số 4 .Taïp chí Khoa hoïc . “Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” ban hành theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007 của Bộ GD&ĐT. Tạp chí thông tin tư liệu . Ví dụ như hình thức đào tạo trực tuyến. “Thư viện đại học phục vụ đào tạo. Bùi Loan Thùy.tr 18-120. 2007. Xây dựng CSDLMH là một công việc hữu ích cho thư viện các trường đại học nghiên cứu. Võ Trung Hùng. nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Hơn hết là giúp cho người dùng . đào tạo ngoài trường người học chủ động sắp xếp thời gian học tập. đề nghị Nhà trường tạo điều kiện cho Thư viện tiếp tục thực hiện xây dựng CSDLMH cho các khoa còn lại.được dễ dàng thuận tiện trong việc tìm thông tin. kinh phí bổ sung tài liệu.đặc biệt là sinh viên . 3. là mục tiêu của các thư viện hiện nay. “Cải tiến công tác tổ chức. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 33 . CSDLMH này cũng tiết kiệm được kinh phí xây dựng kho. thì việc Thư viện có thêm giải pháp tài liệu số hóa sẽ giúp cho người học có nhiều lựa chọn để phục vụ cho kế hoạch học tập của cá nhân. 2. tham khảo để có những ý kiến góp ý. trong thời gian tiếp theo.Coâng ngheä Thuûy saûn trường rộng mở và cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người khi sử dụng nguồn tài liệu học tập.tr.. Nguyễn Thị Thanh Thủy. “Kiểm định chất lượng đào tạo đại học . 4. trao đổi. số 1. 6. 15-19. HCM”. quản lý thư viện đại học trên địa bàn Tp. bảo quản. thời gian và vị trí địa lý của họ. nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH của Trường. luận văn thạc sĩ -2007.. IV. áp lực đảm bảo tài liệu cho học tập và nghiên cứu rất cao. CSDLMH kết hợp với thư viện truyền thống sẽ phục vụ hiệu quả hơn cho việc đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo. CSDL tài liệu số cùng lúc phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau..số 3.. “Điều lệ Trường đại học” ban hành theo Quyết định số 156/2003QĐ-TTg ngày 30/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Văn Hành.thời cơ và thách thức đối với các thư viện đại học Việt Nam”. đặc biệt là hai khoa Kinh tế và Kế toán Tài chính. “Các bước triển khai học liệu mở ở Việt Nam”. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Xây dựng thư viện số là xu thế tất yếu. vì các khoa này có số lượng sinh viên lớn. Trong điều kiện còn thiếu nguồn tài liệu tham khảo học tập in giấy. Tạp chí Thông tin và Tư liệu. 5. không phải đến thư viện cũng có thể lấy được tài liệu trên CSDLMH qua mạng. Vì vậy. 2009.

tr. 12. http:// thuvien.2 / Stephen O’Connor. Digital library use : social practice in design and evaluation / edited by Ann Peterson Bishop. 2004. Nancy A. Library Management : Change management in academic libraries . 8.Coâng ngheä Thuûy saûn 7. Tạp chí Thông tin và Tư liệu. HCM: Đại học Quốc gia.. “Thực hành xây dựng thư viện số” . David Bainbridge. 16.net 34 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .. 2009. WITTEN. 15. Đà Nẵng. “Thư viện số ở Nhật bản”.71-79. and Barbara P. David. “Giải pháp xây dựng các bộ sưu tập số” Trung tâm Thông tin . 11. 2003. Ian H. Tạp chí Thông tin và Tư liệu. và BAIBRIDGE. Nguyễn Minh Hiệp và Đoàn Hồng Nghĩa. Buttenfield.Thư viện ĐH Nông nghiệp I Hà Nội.). số 2. I. Witten.Taïp chí Khoa hoïc . . and David M. Nichols. 19-13.TP. How to Build a Digital Library. 12-16 Nguyễn Huy Chương. Tôn Quốc Bình. How to build a digital library / Ian H. 10. Witten. Soá 3/2011 Nguyễn Văn Hành. H. Tamiko Matsumura. Van House. Kỷ yếu hội thảo tổ chức hoạt động TT-TV trong trường đại học. Lâm Quang Tùng “Tổ chức tài nguyên số phục vụ đổi mới giáo dục đại học”. số 3. 13. (Ian H. “Thư viện trường đại học với công tác phát triển học liệu phục vụ đào tạo theo tín chỉ”.tr. 2004.New York : Morgan Kaufmann. 9. 14. 28-29/10/2004 tr. Hoàng Đức Liên.

4g) được thí nghiệm ở 3 nghiệm thức thức ăn: (i) thức ăn công nghiệp UP.7% và 63.cages. sinh trưởng của cá chim vây vàng (p<0. Trachinotus blochii. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 35 .Trường Đại học Nha Trang TÓM TẮT Thí nghiệm được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của loại thức ăn và vitamine C bổ sung đến tỉ lệ sống. The results showed that fish in treatment (i) and (ii) had high survival rates (66. loại thức ăn ảnh hưởng lên tỉ lệ sống. Cá ở nghiệm thức thức ăn cá tươi (ii) và kết hợp (iii) có tỉ lệ sống cao (66. cá chim vây vàng. Kết quả cho thấy.05). ABSTRACT The experiments were carried out to evaluate the effect of food and vitamin C supplementation on survival rate and growth rate of snub-nose pompano fingerling nursed in sea. Cá cỡ 41mm (1.1%).0mm). sinh trưởng của cá chim vây vàng (P>0.3%. respectively) that were significantly different (p<0.Coâng ngheä Thuûy saûn THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC Soá 3/2011 ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI THỨC ĂN VÀ VITAMINE C BỔ SUNG LÊN TỈ LỆ SỐNG VÀ SINH TRƯỞNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG TRACHINOTUS BLOCHII (LACEPEDE.7% and 63.0mm. The experiment was carried out within 30 days.7mm) và cá ở nghiệm thức cá tươi có chiều dài nhỏ nhất (68. Thí nghiệm kéo dài trong 15 ngày. 78. khác biệt có ý nghĩa (p<0.3%. Từ khóa: Tỉ lệ sống. (ii) fed by trash fish and (iii) fed by trash fish combined with UP-pellet.8g) được thí nghiệm ở 2 nghiệm thức: (i) thức ăn NRD 5/8 có trộn vitamin C và (ii) thức ăn NRD 5/8. Cá ở nghiệm thức kết hợp có chiều dài lớn nhất (78. The results showed that the supplementation of vitamin C on NRD 5/8 did not influence on the growth rate and survival rate of fish (p>0. The experiment was conducted within 15 days. 68.40mm EFFECT OF FOOD AND VITAMINE C ON GROWTH. (iii) kết hợp thức ăn công nghiệp UP với cá tươi. Cỡ cá 31mm (0.05). Thí nghiệm kéo dài trong 30 ngày. The lowest one was treatment (ii).4 g) were examined in 3 treatments: (i) fed by UP-pellet.7mm.1%).Taïp chí Khoa hoïc . Kết quả cho thấy.05) so với nghiệm thức thức ăn công nghiệp UP (41.8g) were also tested in 2 treatments: (i) fed by NRD 5/8 mixed Vitamin C and (ii) fed by NRD 5/8 as controlled treatment. 1801) CỠ 30 . TRACHINOTUS BLOCHII (LACEPEDE. Trachinotus blochii. 1801) NURSED IN SEA CAGES Châu Văn Thanh Khoa Nuôi trồng Thủy sản . Keywords: Survival rate. sinh trưởng của cá chim vây vàng ương bằng lồng trên biển. SURVIVAL RATE OF SNUB-NOSE POMPANO FINGERLINGS.05) from fish in treatment iii (41.05). snub-nose pompano. (ii) cá tươi. Snub-nose pompano fingerlings at size of 31mm (0. sinh trưởng. Fingerlings at size of 41mm (1. theo thứ tự). The best growth performance in term of standard length was recorded for treatment (iii). growth. vitamine C được trộn vào thức ăn không ảnh hưởng lên tỉ lệ sống.

Phương pháp bố trí thí nghiệm 3. chất béo thô tối thiểu 10%. 11 giờ. vấn đề nghiên cứu ảnh hưởng của loại thức ăn và vitamine C bổ sung vào thức ăn lên tỉ lệ sống và sinh trưởng của cá là rất cần thiết. Cá tươi là loại cá cơm tươi. thể tích mỗi ống là 5ml (Acid Ascorbic 500mg/5 ml). Thành phần dinh dưỡng của thức ăn UP: Đạm thô tối thiểu 46%. Do đó.1. trộn với liều lượng 5ml/1kg thức ăn. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần.1. cá mú rất phổ biến. 2.Coâng ngheä Thuûy saûn I. chưa có những nghiên cứu về việc sử dụng các loại thức ăn để ương giống cá chim vây vàng bằng lồng ở biển. 3. 3 Soá 3/2011 3. cá giò. không dị tật. Cá được ương trong các lồng nhỏ có thể tích 120L/lồng. 2 lần/ngày (lúc 6 giờ và 17 giờ) cho cá ăn liên tiếp trong 7 ngày đầu.4 g. với mật độ 250 con và 267 con/m (tương đương 30 con và 32 con/lồng). chất xơ tối đa 1%. 15 giờ và 36 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . không bị tổn thương. 1801). tỉ lệ cho ăn 10% khối lượng thân cá (BW). tro tối đa 15%.1. Phương pháp: 3.Taïp chí Khoa hoïc . để xây dựng quy trình ương cá chim vây vàng bằng lồng biển. phản xạ linh hoạt. 4 lần/ngày (lúc 6 giờ. II. mặt khác để phòng bệnh cho cá.Khoa Nuôi trồng Thủy sản . màu sắc tự nhiên. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn. Cho cá ăn thức ăn NRD 5/8 của hãng INVER. Thời gian thí nghiệm kéo dài trong 30 ngày. Do đó. 15 giờ và 17 giờ). ĐẶT VẤN ĐỀ Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede.1 mm. PHƯƠNG PHÁP BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 1. Cá được chọn là những cá thể có kích thước đồng đều. 2 lần/ngày (lúc 11 giờ và 17 giờ). Đối tượng nghiên cứu: Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepede. Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn. 17 giờ) và 1 lần cá tươi (lúc 11 giờ). Thời gian thí nghiệm kéo dài trong 15 ngày. một số hộ thử nghiệm sử dụng thức ăn công nghiệp để nuôi cá chẽm trong ao đất đạt kết quả khá tốt. Ảnh hưởng của loại thức ăn đến tỉ lệ sống và sinh trưởng của cá: Cá được thí nghiệm cho ăn với 3 nghiệm thức: (i) Cá được cho ăn thức ăn công nghiệp của hãng UP. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. 11 giờ. trộn xong sau khoảng 10 phút cho thuốc ngấm đều vào thức ăn rồi cho cá ăn. ĐỐI TƯỢNG.1. Ảnh hưởng của vitamine C bổ sung vào thức ăn lên tỉ lệ sống và sinh trưởng của cá: Cá được thí nghiệm ở 2 nghiệm thức: (i) Cá được cho ăn thức ăn NRD 5/8 có trộn vitamin C. Vật liệu: Cá con dùng để thí nghiệm được lấy từ Trại Sản xuất Giống cá Biển . độ ẩm tối đa 11%. (iii) Cá được cho ăn thức ăn công nghiệp UP với cá tươi. Vitamine C được trộn vào thức ăn là CEVITA 500 của Việt Nam sản xuất. 4 lần/ngày (lúc 6 giờ. Ở Khánh Hòa. Cá chim vây vàng được thí nghiệm có chiều dài (SL) = 41 ± 4. ngày cho cá ăn 3 lần thức ăn UP (lúc 6 giờ.Trường Đại học Nha Trang tại Đường Đệ Nha Trang. 15 giờ. tỉ lệ cho ăn 20% BW. 1801) là loài cá mới được cho đẻ nhân tạo tại Việt Nam trong những năm gần đây. (ii) Cá được cho ăn thức ăn cá tươi.2. ngư dân thường trộn vitamine C vào thức ăn để cho cá ăn. thí nghiệm này được thực hiện với thức ăn công nghiệp. (ii) Cá được cho ăn thức ăn NRD 5/8. ngư dân sử dụng cá tươi làm thức ăn để ương các loài cá biển như cá chẽm. VẬT LIỆU. Hiện nay. cá tươi và thức ăn công nghiệp có bổ sung vitamine C nhằm góp phần nâng cao tỉ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của cá chim vây vàng. khối lượng thân trung bình (BW) = 1. Việc ương giống cá chim vây vàng bằng lồng biển chưa được nghiên cứu.

74mm và 68mm) khác biệt có ý nghĩa (p<0. .17 74. (Bảng 1) Chiều dài thân cá sau 30 ngày ương ở các nghiệm thức cho cá ăn thức ăn UP kết hợp với cá tươi. đồng thời khác biệt có ý nghĩa (p<0.20 1.3mm.07 7.4 g.20 Số liệu trình bày: Trung bình ± SE.23 41. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1.0a ± 1. chiều dài toàn thân.5a ± 0.7a ± 5.1b ± 6.6c ± 0. BW = 1.60 8.05) với nghiệm thức cho cá ăn cá tươi (9g).Taïp chí Khoa hoïc . 2 : khối lượng thân trung bình tại thời điểm t1 và t2. đo và đếm số lượng.1a ± 0. x 100%. Hệ số phân đàn về chiều dài: CV (%) = S : thân trung bình. Số liệu được so sánh bằng ANOVA một yếu tố. : chiều dài Trong đó: S: độ lệch chuẩn . đồng thời khác biệt có ý nghĩa (p<0. hệ số phân tán về chiều dài và tỉ lệ sống.10 78. Tỉ lệ cho ăn là 10% BW.3a ± 1. (Bảng 1) Hệ số phân đàn về chiều dài của cá sau 30 ngày ương ở các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa (p>0.Ln 2 ) x 100 / (t2-t1). Ảnh hưởng của loại thức ăn đến tỉ lệ sống và sinh trưởng của cá chim vây vàng Tỉ lệ sống của cá sau 30 ngày ương ở 2 nghiệm thức cho cá ăn thức ăn công nghiệp UP kết hợp với cá tươi và cho cá ăn cá tươi (lần lượt 63%.3a ± 1. Ký tự mũ ở cùng hàng khác nhau chỉ sự khác biệt có ý nghĩa (p<0. xác định khối lượng trung bình. Số liệu thu được từ nghiên cứu được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS và Excell. Phương pháp xác định các chỉ tiêu và xử lý số liệu: Khi kết thúc thí nghiệm.15 1.7a ± 0.63 9.1a ± 1.4a ± 0.05).05). (Bảng 1) Từ kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Khi ương cá chim vây vàng cỡ SL = 41mm. cá ở các thí nghiệm được thu toàn bộ để cân. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 37 .77 68.3a ± 5.2b ± 1.05). cho cá ăn thức ăn UP (là 13g) không khác biệt nhau (p>0.9b ± 0.21g.33 2.00 7. cho cá ăn thức ăn UP và cho cá ăn cá tươi (lần lượt là 78mm.76 13.8 ± 0.20 9.05).03 6.05) với nghiệm thức cho cá ăn thức ăn UP (41%). Sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá ở 3 nghiệm thức thức ăn Chỉ tiêu Nghiệm thức Thức ăn UP + cá tươi Thức ăn UP Thức ăn cá tươi Tỉ lệ sống (%) Chiều dài thân (mm) Khối lượng (g) Hệ số CV (%) SGR(%) về chiều dài SGR(%) về khối lượng 63.0c± 0.5b ± 0. Tốc độ sinh trưởng đặc trưng: SGR (%/ngày) = (Ln Với 1 Soá 3/2011 III.6a ± 0. Các giá trị trung bình được so sánh theo phương pháp phân tích phương sai một yếu tố (one-way ANOVA).92 8. So sánh sự khác nhau giữa các giá trị trung bình sau phân tích phương sai (post hoc test) theo kiểm định Duncan và LSD với độ tin cậy 95%.20 13.05) với kiểm định Duncan. (Bảng 1) Khối lượng thân cá sau 30 ngày ương ở 2 nghiệm thức cho cá ăn thức ăn UP kết hợp với cá tươi. Bảng 1.31 66. 3. 66%) khác biệt không có ý nghĩa (p>0. khối lượng thân (BW) = 0.Coâng ngheä Thuûy saûn 17 giờ).2. Cá chim vây vàng được thí nghiệm có chiều dài thân (SL) = 31 ± 3. cho cá ăn thức ăn công nghiệp kết hợp với cá tươi sẽ cải thiện được tỉ lệ sống và sinh trưởng của cá.9b ± 0. 1 .

(Bảng 2) Từ kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Các chỉ tiêu về tỉ lệ sống. không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và sinh trưởng của cá chim vây vàng giai đoạn giống.05). Số liệu được so sánh bằng ANOVA một yếu tố. cho cá ăn thức ăn công nghiệp kết hợp với cá tươi sẽ cải thiện được tỉ lệ sống và sinh trưởng của cá.1a ± 0.9a ± 0.14 7. 38 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . cho cá ăn thức ăn công nghiệp kết hợp với một ít cá tươi sẽ mang lại hiệu quả về kinh tế cho người nuôi và hạn chế sự ô nhiễm môi trường.3a ± 6. KẾT LUẬN 1.86 a 87.05) với kiểm định LSD.2a ± 0.Coâng ngheä Thuûy saûn 2.14 7.8a ± 0.2g) khác biệt không có ý nghĩa (p>0. Chỉ tiêu Nghiệm thức Thức ăn NRD Thức ăn NRD bổ sung Vitamine C Tỉ lệ sống (%) Chiều dài thân (mm) Khối lượng (g) Hệ số CV (%) SGR(%) về chiều dài SGR(%) về khối lượng 87.07 2.79 2.05). Kết luận Khi ương cá chim vây vàng. có thể đây là giải pháp nuôi bền vững.Taïp chí Khoa hoïc .5g và 2. sinh trưởng của cá ở 2 nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa.43 49. Sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá ở 2 nghiệm thức sau 15 ngày ương. Việc bổ sung Vitamine C vào thức ăn NRD 5/8.05). Bảng 2.10 6. Ký tự mũ ở cùng hàng khác nhau chỉ sự khác biệt có ý nghĩa (p<0. 2. Kiến nghị Việc ương nuôi cá chim vây vàng bằng lồng trên biển.05).98 2.5a ± 0.5a ± 0.6a ± 1.4a ± 0.22 Số liệu trình bày: trung bình ± SE.74 3.6 ± 10. (Bảng 2) Chiều dài của cá sau 15 ngày ương ở 2 nghiệm thức cho cá ăn thức ăn NRD có trộn Vitamine C và cho cá ăn thức ăn NRD (lần lượt 49mm và 48mm) khác biệt không có ý nghĩa (p>0. Ảnh hưởng của vitamine C bổ sung vào thức ăn lên tỉ lệ sống và sinh trưởng của cá chim vây vàng Tỉ lệ sống của cá sau 15 ngày ương ở 2 nghiệm thức cho cá ăn thức ăn NRD có trộn vitamine C và cho cá ăn thức ăn NRD (là 87%) khác biệt không có ý nghĩa (p>0. IV.8b ± 0. (Bảng 2) Khối lượng của cá sau 15 ngày ương ở 2 nghiệm thức cho cá ăn thức ăn NRD có trộn Soá 3/2011 Vitamine C và cho cá ăn thức ăn NRD (lần lươt 2.13 6.8a ± 0. (Bảng 2) Hệ số phân tán về chiều dài cá sau 15 ngày ương ở 2 nghiệm thức cho cá ăn thức ăn NRD có trộn Vitamine C và cho cá ăn thức ăn NRD (lần lượt 7% và 8%) khác biệt không có ý nghĩa (p>0.56 48. có khả năng thời gian thí nghiệm ngắn (15 ngày) nên chưa thể hiện sự khác biệt.

1865) TẠI VÙNG TRIỀU VEN BIỂN CAM RANH . trung bình là 120. Vì vậy.tháng 4 là mùa vụ sinh sản (trong đó. khai thác quá mức và ô nhiễm vùng triều ven biển Khánh Hòa đã làm nguồn lợi sá sùng giảm sút nghiêm trọng.788 trứng/g cơ thể. việc nghiên cứu đặc điểm sinh sản của sá sùng tại đây là rất cần thiết nhằm góp phần bảo vệ nguồn lợi sá sùng cũng như bổ sung thêm một đối tượng nuôi mới. Absolute fecundity ranged from 743. Sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 743. 41.948 eggs/ individual. a study on reproduction of sand worm here is very necessary. living in tidal zones [9].63% of ♂. tháng 4 là đỉnh cao với tỉ lệ thành thục sinh dục đạt 82. Kết quả cho thấy cấu trúc giới tính của sá sùng là 34. In recent years.5/2010).740. Hoàng Thị Hồng. Hệ số thành thục sinh dục GSI của loài tăng theo giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục.KHÁNH HÒA STUDY ON REPRODUCTIVE CHARACTERISTICS OF SAND WORM (SIPUNCULUS ROBUSTUS KEFERSTEIN.788 eggs/g TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 39 .91:1. Từ khóa: Sá sùng.2 – 10.121. The results showed that sexual structure of sand worm was 34.948 trứng/ cá thể. contributes to protecting their resource as well as adds a new candidate to aquaculture. 1865 là loài sinh vật sống ở vùng bãi triều.803 (R = 0.5%).367.121. sinh sản.37% ở cá thể đực. 36.815x X0. Relative fecundity ranged between 75.740. Tháng 3 . không xác định ♂:♀ là 28. So. 28. đạt tỉ lệ cao nhất ở giai đoạn III (43.8% ♀.KHANH HOA Tôn Nữ Mỹ Nga. Sức sinh sản tương đối dao động từ 75. tỉ lệ trung bình ♂:♀ là 0. Phương trình tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng toàn thân là W = 203965.57% of unidentidied ♂:♀.5/2010). 1865) IN COASTAL TIDAL ZONE OF CAM RANH. Một nghiên cứu đã được thực hiện trong vòng 6 tháng (12/2009 .8% of ♀. Sipunculus robustus ABSTRACT Sand worm Sipunculus robustus Keferstein.57%.2 .2cm.485 and 209.833). Ngô Anh Tuấn Khoa Nuôi trồng Thủy sản . average 2.10. Size of first maturity has not been determined exactly but the smallest maturation size group was 7. có giá trị dinh dưỡng cao [12].182 đến 4.367. A study has been conducted for 6 months (12/2009 .Taïp chí Khoa hoïc . trung bình là 2.63% ♂. overfishing and pollution in Khanh Hoa coastal tidal zones reduced resource of sand worm seriously.Trường Đại học Nha Trang TÓM TẮT Sá sùng Sipunculus robustus Keferstein. Trong những năm gần đây. 36.Coâng ngheä Thuûy saûn THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC Soá 3/2011 TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN CỦA SÁ SÙNG (SIPUNCULUS ROBUSTUS KEFERSTEIN.182 to 4.485 đến 209. Nguyễn Văn Thanh.2 cm. Kích thước thành thục lần đầu chưa được xác định chính xác nhưng nhóm kích thước nhỏ nhất có cá thể thành thục sinh dục là 7.10% ở cá thể cái).777. average rate ♂:♀ was 0. 1865 is a species which has a high nutritional value.91:1.

II. 1767 Loài: Sipunculus robustus Keferstein. 41. Ấn Độ Dương và Biển Đông. 1987 Bộ: Sipunculiormes Gibbsy & Culter. Trước tình trạng đó. từ vùng triều cho đến vùng biển sâu. Ấn Độ.777.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 of body.1. việc nghiên cứu đặc điểm sinh sản của sá sùng (Sipunculus robustus Keferstein.37% in male. [5].803 (R = 0. tái tạo và bảo vệ có hiệu quả nguồn lợi sá sùng. từ vùng biển nhiệt đới cho đến Nam cực. Indonesia.trường Đại học Nha Trang . Correlation equation between absolute fecundity and weight of entire body was W = 203965. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 40 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Sipunculus robustus I.Khánh Hòa . Keywords: Reproduction. địa điểm nghiên cứu .5%). Đối tượng. nhưng chỉ tập trung nhiều ở vùng triều có nền đáy cát hoặc cát bùn [3]. Gonadosomatic Index (GSI) of this species increased together with development stages of gonad glands. 1865 Hệ thống khóa phân loại như sau [4]: Ngành: Sipuncula Rafinesque.Địa điểm phân tích mẫu: phòng thực tập Sinh lý. Sá sùng có nhiều nhất ở khu vực Thái Bình Dương. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Sinh thái .Khánh Hòa là rất cần thiết nhằm làm cơ sở khoa học cho sinh sản nhân tạo. Sá sùng có giá trị dinh dưỡng cao [12] nhưng hiện tượng khai thác quá mức và ô nhiễm biển gần đây đã làm cho nguồn lợi sá sùng ngày càng giảm sút nghiêm trọng.Đối tượng nghiên cứu: loài sá sùng Sipunculus robustus Keferstein. April was the top with mature percentage reached to 82. Phương pháp nghiên cứu 2. 1865) tại vùng triều ven biển Cam Ranh .815x X0. 1987 Họ: Sipunculidae Gray. sand worm. Philippine và Việt Nam [2]. [3].Khoa Nuôi trồng Thủy sản . average 120.Địa điểm thu mẫu: Vùng triều ven biển Cam Ranh . reaching to the highest percentage in stage III (43. 1814 Lớp: Sipunculidea Gibbsy & Culter. 1865 2.833). ĐỐI TƯỢNG. 1828 Giống: Sipunculus Linnaeus. March. Các nước có loài này phân bố là Andaman. Trung Quốc. Úc. thời gian.Taïp chí Khoa hoïc . Malaysia.April was reproduction season (in which.10% in female). MỞ ĐẦU Khu vực phân bố của lớp sá sùng (Sipunculidea) nói chung rất rộng. [6].Thời gian thực hiện: Từ ngày 01/12/2009 đến 01/06/2010 .

Phương pháp thu và phân tích mẫu 2. buồng trứng. một ống dài 70cm. * Đánh giá các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 41 .5 m2 để xác định diện tích thu mẫu. xẻng để đào bới đến độ sâu 50 . . tỉ lệ đực cái Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục Mùa vụ sinh sản Sức sinh sản Kích thước thành thục sinh dục lần đầu Thu thập và xử lý số liệu Kết luận và đề xuất ý kiến 2. đường kính 10cm).Khánh Hòa Soá 3/2011 Giới tính.2. Phương pháp thu mẫu . rửa sạch và tiến hành phân tích.2.Mỗi tháng thu mẫu 1 lần với số mẫu trên 30 mẫu/tháng tại 1 khu vực thuộc vùng triều ven biển Cam Ranh . dùng khung .2.Thu chất đáy: dùng 2 ống sắt tròn (một ống dài 80cm.60cm hoặc đến độ sâu không còn bắt gặp sá sùng. Mẫu được cố định trong dung dịch formalin 5%. 2.1. Chuyển về phòng thí nghiệm.Mẫu sá sùng được thu hàng tháng với tổng số 231 mẫu tại khu vực nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh sản . Chọn vị trí tại nơi có dấu vết bò của sá sùng để lại trên mặt đất để thu mẫu. 1865) tại vùng triều ven biển Cam Ranh . vát nhọn.Taïp chí Khoa hoïc .Tại các điểm thu mẫu. 0.2. Sơ đồ điểm thu mẫu Điểm thu mẫu. ấn sâu xuống cát từ 40 -* 50cm để lấy chất đáy. Sử dụng phương pháp thu mẫu ngẫu nhiên. . Dùng cuốc.Coâng ngheä Thuûy saûn Tìm hiểu đặc điểm sinh sản của sá sùng (sipunculus robustus keferstein.Quan sát hình thái cấu tạo và phân biệt đực cái thông qua màu sắc và tiêu bản cắt lát Hình 1.Khánh Hòa.

a n : số lượng trứng đếm được. Mẫu được nhuộm bằng Hematoxylin và Eosin. Phương pháp đếm: sá sùng được ngâm trong formol 5%.Hệ số thành thục sinh dục (GSI): Hệ số thành thục sinh dục được xác định theo phương pháp của Pravdin [10]: Là tỷ lệ phần trăm của khối lượng tuyến sinh dục trên khối lượng toàn thân (gồm cả tuyến sinh dục). Phân tích số liệu Số liệu sinh học sau khi thu được xử lý và đánh giá bằng phần mềm Excel và SPSS. Thao tác đếm trứng lặp lại 3 lần. Sau đó. mẫu được đúc trong Parafin và cắt lát mỏng từ 4µm đến 6µm bằng máy cắt Microtome. W: khối lượng toàn thân sá sùng(g). * Tỷ lệ đực cái . a Fa =  × Wt n Trong đó: Fa : Sức sinh sản tuyệt đối. Sử dụng buồng đếm động vật để đếm số lượng trứng. Sau đó. * Mùa vụ sinh sản . 42 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . * Kích thước thành thục lần đầu Kích thước thành thục sinh dục lần đầu là nhóm kích thước nhỏ nhất mà các cá thể có tuyến sinh dục đang phát triển ở giai đoạn III chiếm tỷ lệ ≥ 50% trên tổng số mẫu thu được [10].Mùa vụ sinh sản được xác định bằng tỉ lệ cá thể cái có tuyến sinh dục ở giai đoạn III. . lấy 1g trứng đem pha loãng với nước cất.Tỷ lệ đực cái của sá sùng được phân tích qua 06 lần thu mẫu ngẫu nhiên với tổng số 231 cá thể theo kích thước và thời gian. nước được loại bỏ bằng Etanol và làm sạch bằng xylene. tính số lượng trứng trung bình/1g mẫu. đem cân. Sức sinh sản tương đối(FGr): trứng/gam cơ thể Fa FGr =  W Trong đó: Fa: Sức sinh sản tuyệt đối. Toàn bộ tuyến sinh dục được rửa sạch (lọc qua lưới 20µm). Hệ số thành thục sinh dục được tính theo công thức sau: Wtsd GSI =  × 100% Wt Trong đó: GSI Wt : Hệ số thành thục (%) : Khối lượng toàn thân (g) Wtsd : Khối lượng tuyến sinh dục (g) 3. : khối lượng phần buồng trứng đem đếm (g). .400 lần. Wt : khối lượng buồng trứng (g). Tiêu bản được quan sát bằng kính hiển vi quang học với độ phóng đại từ 40 . Trong trường hợp là cá thể cái. tạo dung dịch huyền phù. * Sức sinh sản Sức sinh sản tuyệt đối (Fa) (số trứng/cá thể) được xác định bằng cách đếm số lượng trứng ở giai đoạn thành thục.Tiêu bản buồng trứng và tinh sào được cắt lát theo phương pháp của Sheckan và Hrapchack: tuyến sinh dục được cố định bằng formol 5%. để ráo nước.Taïp chí Khoa hoïc .Coâng ngheä Thuûy saûn Các giai đoạn phát triển của tuyến Soá 3/2011 Tổng số trứng của cá thể được tính theo công thức: sinh dục được đánh giá theo thang 4 bậc của Baron [1]. xác định đực cái bằng kính hiển vi quang học.

Giai đoạn II (đang phát triển. Tuyến sinh dục giai đoạn I: (a) Độ phóng đại 100 lần. không phân biệt được đực cái. Đực cái được phân biệt bằng các tế bào trứng và tinh sào trong tuyến sinh dục. màu sắc đồng nhất. kích thước lớn hơn giai đoạn I. phát triển lan rộng khắp khoang cơ thể nhưng còn ít. (b) Độ phóng đại 400 lần Tuyến sinh dục của sá sùng Sipunculus robustus rất nhỏ.2. Giai đoạn I Tuyến sinh dục nhỏ. 1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1. tiền thành thục) Hình 3. Tuyến sinh dục giai đoạn II (độ phóng đại 100 lần): (a) Đực.Taïp chí Khoa hoïc . 1. Tuyến sinh dục đực: màu vàng nhạt. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 43 . Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục Soá 3/2011 Hình 2. rất khó phân biệt bằng mắt thường. (b) Cái Tuyến sinh dục bắt đầu phát triển.1. khó phân biệt bằng mắt thường. trải qua 4 giai đoạn phát triển từ I đến IV [1].Coâng ngheä Thuûy saûn III.

Tuyến sinh dục cái (sau khi đẻ trứng): Buồng trứng xẹp xuống. Tuyến sinh dục giai đoạn III (độ phóng đại 100 lần): (a) Đực. Tuyến sinh dục đực (sau khi phóng tinh): có màu vàng nhạt. các tế bào trứng còn chưa phát triển. Các tế bào trứng dạng hình cầu. Sá sùng sẵn sàng đẻ trứng.Taïp chí Khoa hoïc .3. Tiêu bản cắt lát cho thấy tế bào có dạng hình cầu nhỏ.4. trong buồng trứng còn rải rác 1 số trứng giai đoạn II. được đặc trưng bởi sự có mặt của các bào nang rỗng và một số tế bào trứng còn sót lại. các tế bào sinh dục đực rời nhau. có màu đặc trưng cho tuyến sinh dục đực và cái. kích thước rất lớn. buồng trứng xẹp. rời nhau. Các tế bào sinh dục tập trung thành từng búi. nhân chưa rõ ràng. (b) Cái Tuyến sinh dục căng phồng. Soá 3/2011 Tiêu bản qua kính hiển vi cho thấy tế bào sinh dục có dạng hình cầu nhỏ và dính kết với nhau thành Tuyến sinh dục cái: có màu vàng nâu. Một số tế bào sinh dục đực còn sót lại. Giai đoạn IV Đây là giai đoạn sau khi đẻ. phát triển rộng và kéo dài trong khoang cơ thể. III. Tuyến sinh dục đực: màu vàng nâu. III. rộng khắp khoang cơ thể và có màu nâu đỏ. 1. Khác với giai đoạn II. Tế bào sinh dục là các noãn bào đã hoàn thành quá trình tích lũy vật chất dinh dưỡng và có kích thước tối đa.Coâng ngheä Thuûy saûn từng đám. rời nhau. mềm. nang tinh rời ra hoặc không còn. tinh trùng bắt đầu rời khỏi các tế bào sinh dục. Tuyến sinh dục cái: Buồng trứng phát triển căng phồng. kích thước lớn. Giai đoạn III (giai đoạn thành thục) Hình 4. 44 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . 1. Trong tuyến sinh dục đực. túi tinh rỗng. còn lại ít trong khoang cơ thể.

43 25.86 75.94:1 TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 45 .33:1 0.86 14.95 5. không phân biệt được giới tính vì màu sắc tuyến sinh dục giống nhau.71 0. (b) Cá thể đực Sipunculus robustus là loài phân tính đực cái. Tuy nhiên.00 45.71 34.25:1 0.55 36. Bảng 1.57 0.80 19 34 18 2 0 0 73 44. Màu sắc tuyến sinh dục: (a) Cá thể cái.Coâng ngheä Thuûy saûn 2. tuyến sinh dục của sá sùng đực có màu vàng nâu.19 79. Giới tính và tỉ lệ đực cái Soá 3/2011 Hình 5.45 34.75:1 0.00 0. Biến động tỷ lệ đực.88 26. ở giai đoạn I.82:1 0.00 28. cái Sá sùng đực Tháng ∑mẫu N % N % N % Sá sùng cái Không xác định ♂:♀ Tỷ lệ ♂:♀ 12 1 2 3 4 5 Tổng 43 34 46 35 40 33 231 6 2 12 15 30 15 80 13.13 5.Taïp chí Khoa hoïc .63 18 5 16 18 10 18 85 41.00 54.41 39. màu sắc của tuyến sinh dục.09 42. của sá sùng cái màu nâu đỏ. được phân biệt rõ ràng dựa trên đặc điểm.84:1 3:1 0.78 51. Kết quả phân tích tỉ lệ đực: cái trên 231 mẫu sá sùng được trình bày qua bảng 1. Ở giai đoạn II.

hình 6 và hình 7 cho thấy tháng 1 là tháng có tỉ lệ đực cái thấp. Kích thước thành thục lần đầu Bảng 2. nhất là tháng 4 (♂:♀ = 3:1).43 25. Cấu trúc giới tính của sá sùng trong cả 6 tháng Bảng 1.33 51.00 46 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Tỉ lệ đực: cái có sự chênh lệch giữa các tháng.32 32.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 Hình 6.5 19.3 13. tháng 4 và tháng 5 chỉ có giới tính đực và cái.9 12 31 47 64 57 14 4 2 7 16 26 21 13 3 1 0 58.7 – 25. Cấu trúc giới tính của sá sùng qua từng tháng Hình 7.81 21. 3. tỉ lệ này tương tự với tỉ lệ đực: cái của một số loài khác.4 – 16.9 – 31.8 28. Tuy nhiên. cấu trúc giới tính trong cả 6 tháng không có sự mất cân bằng lớn.8 – 28. tháng 2 và tháng 3 có cấu trúc giới tính khá cân bằng.61 55.81 22. Nguyên nhân của sự chênh lệch này là do thu mẫu ngẫu nhiên.7 25.4 16.2 – 10.Taïp chí Khoa hoïc . Tỉ lệ đực: cái trong 6 tháng là 0.94 : 1.2 10.00 0.3 – 13.5 – 19.6 – 22. Tỉ lệ thành thục sinh dục của sá sùng theo nhóm kích thước Nhóm kích thước Chiều dài thân (cm) Số mẫu Số cá thể thành thục SD Tỉ lệ thành thục (%) Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5 Nhóm 6 Nhóm 7 Nhóm 8 7.6 22.

nhóm kích thước 7.741 75.948 2.2cm) với tỷ lệ các cá thể chín mùi sinh dục đạt 58. Điều này chứng tỏ.Taïp chí Khoa hoïc .10.777 ± 31. sá sùng thành thục sinh dục tương đối sớm.485 ÷ 209. Tỉ lệ thành thục sinh dục của sá sùng theo nhóm kích thước 4.Khánh Hòa. Hình 8. GTLN: giá trị lớn nhất.740.33%.788 120.10. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 47 . Sức sinh sản Bảng 3: Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối trung bình của Sipunculus robustus Sức sinh sản Số mẫu (n) Số lượng trứng Sức sinh sản tuyệt đối (trứng/ cá thể) Sức sinh sản tương đối (trứng/g cơ thể) Ghi chú: Số liệu được trình bày là: GTNN ÷ GTLN  BT + GTLN 56 743. có 56 cá thể cái ở giai đoạn thành thục.121.531 56 GTNN: Giá trị nhỏ nhất. ĐLC: độ lệch chuẩn Trong thời gian thu mẫu. vì mẫu chỉ được thu từ tháng 12 đến tháng 5 nên chưa thể xác định được chính xác kích thước thành thục lần đầu của loài này (có thể ở nhóm kích thước nhỏ hơn nữa) nên cần có những nghiên cứu sâu hơn và đầy đủ hơn.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 Bảng 2 và hình 8 cho thấy Sipunculus robustus thành thục sinh dục lần đầu ngay ở nhóm kích thước nhỏ nhất trong nghiên cứu (7.2 . Tuy nhiên. TB: trung bình.182 ÷ 4. Kết quả nghiên cứu trên 56 cá thể được trình bày ở bảng 3.2 .367 ± 857. Vậy.2cm là kích thước thành thục sinh dục của Sipunculus robustus ở vùng triều ven biển Cam Ranh .

48 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Kết quả phân tích 56 cá thể cái cho thấy sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng toàn thân của sá sùng liên hệ với nhau theo phương trình tương quan W = 203965. Hình 10. Các giai đoạn khác nhau của trứng sá sùng trong một cơ thể (a) Tuyến sinh dục cái giai đoạn III soi tươi (độ phóng đại 100 lần). ngay cả trong buồng trứng của một cá thể cũng có trứng ở các giai đoạn phát triển khác nhau.1.trong cùng một cơ thể của sá sùng.815 x X0. Mùa vụ sinh sản và hệ số thành thục sinh dục (GSI) 5.Taïp chí Khoa hoïc . Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của Guobao và Bing (2002) [7] .803 (W: khối lượng toàn thân. Nguyên nhân có thể là do quá trình thành thục sinh dục không đồng đều giữa các cá thể. X: sức sinh sản tuyệt đối) và được trình bày ở hình 10. Mùa vụ sinh sản Mùa vụ sinh sản của sá sùng được xác định là tháng có trên 50% số cá thể chín mùi sinh dục. (b) Tuyến sinh dục cái giai đoạn III nhuộm màu Bảng 3 cho thấy sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối của sá sùng có sự chênh lệch rất lớn giữa các cá thể.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 Hình 9. Mối tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng toàn thân 5. có nhiều kích thước trứng khác nhau.

30 31.00 19.Coâng ngheä Thuûy saûn đang tham gia sinh sản hoặc đã đẻ xong [10]. Tỷ lệ các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 49 . Bảng 4. Hình 11. sá sùng tập trung sinh sản trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 7 [8].50 6.86 82.50 39. đẻ từ tháng 3 đến tháng 9 và đẻ tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 [7]. mà chia thành mùa và có thể coi 2 tháng này là mùa vụ sinh sản của sá sùng tại vùng triều ven biển Cam Ranh.tháng 4 (cũng có thể chúng có thêm một hoặc nhiều mùa vụ sinh sản khác trong các tháng còn lại của năm nữa. Vậy.41 39.00 0. ở Bến Tre.43 17. Kết quả này của chúng tôi khác với kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc. Tháng 3 và tháng 4 là tháng có tỉ lệ sá sùng thành thục sinh dục > 50%.19 79. Tỷ lệ các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của sá sùng Tháng ∑mẫu Giai đoạn I n % Giai đoạn II n % Giai đoạn III n % Giai đoạn IV n % 12 1 2 3 4 5 43 34 46 35 40 33 19 27 18 2 0 0 44.71 0 0 10 7 19 11 7 2 23. cần có nghiên cứu thêm để khẳng định).26 20.00 54.Taïp chí Khoa hoïc .55 Bảng 4 và hình 11 cho thấy tháng 1 là tháng sá sùng có tuyến sinh dục ở giai đoạn I và giai đoạn II. Soá 3/2011 Kết quả phân tích các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục trong 6 tháng điều tra được trình bày ở bảng 4. sá sùng đẻ tập trung từ tháng 10 đến tháng 12 và từ tháng 2 đến tháng 4 [9].00 0.58 0.13 5. chúng tôi xác định được một mùa vụ sinh sản của Sipunculus robustus là tháng 3 . Điều này cho thấy mùa vụ sinh sản không liên tục quanh năm. theo định nghĩa về mùa vụ sinh sản trên [10] thì trong thời gian nghiên cứu (từ tháng 12 đến tháng 5).57 62. sá sùng sipunculus sp.00 0. ở Quảng Ninh.05 11 0 9 22 33 13 25.40 3 0 0 0 0 18 6.59 41.97 0.

5. Bảng 6 cho thấy GSI của sá sùng cái có xu hướng tăng từ giai đoạn II đến giai đoạn III và đột ngột giảm xuống giai đoạn IV.00 (%).10 ± 6.00 ± 1.63 ± 6. dinh dưỡng.67 ± 4.05 ± 2.18 (%). Điều này chứng tỏ trong những tháng là mùa vụ sinh sản của sá sùng thì GSI cũng đạt giá trị cao nhất.64 Kết quả nghiên cứu hệ số thành thục sinh dục ở sá sùng được trình bày ở bảng 5 và 6.44 45.56 32.17 ± 8.69 ± 3.16 ± 0 0 35..49 37. Tháng 2. hệ số thành thục sinh dục (GSI) ở sá sùng đực tăng lên theo giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục từ giai đoạn II đến giai đoạn III và giảm mạnh ở giai đoạn IV.00 ± 5. tháng 3 là 39.92 28.37 ± 9.58 và sang tháng 5.35 44.49 ± 2.16 30.20 29.86 ± 0.18 39.41 ± 3.22 ± 2.62 38.10 ± 2.51 33.09 ± 7. GSI của sá sùng Sipunculus robustus cái Hệ số TTSD giai đoạn II (%) Hệ số TTSD giai đoạn III (%) Hệ số TTSD giai đoạn IV(%) Tháng 12 Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Trung bình 31. độ mặn.58 Bảng 6.79 ± 3.Taïp chí Khoa hoïc .52 0 0 0 30.76 ± 1. Sự chênh lệch của hệ số thành thục sinh dục (GSI) của các cá thể trong cùng một giai đoạn giữa các tháng cũng được thể hiện rất rõ.44 (%).46 0 0 0 0 27.74 28.36 42. Bảng 5 cho thấy nhìn chung hệ số thành thục sinh dục (GSI) của giai đoạn II nhỏ hơn GSI của giai đoạn III ở trong cùng một tháng. 50 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .91 26.13 ± 3. [11]. đạt giá trị là 35.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 Điều này có thể giải thích rằng quá trình thành thục sinh dục ở các cá thể nói chung phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường sống như nhiệt độ.2.. Vậy.94 ± 5.81 ± 3.78 33. chất đáy.88 ± 2.40 31.58 35.71 41.39 ± 6. tháng 4 là 45.21 40.8 ± 10. GSI của sá sùng đực Hệ số TTSD giai đoạn II (%) Hệ số TTSD giai đoạn III (%) Hệ số TTSD giai đoạn IV(%) Tháng 12 Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Trung bình 31.38 ± 10.85 ± 6.98 ± 2.43 0 39.04 ± 1.58 33. hệ số thành thục sinh dục (GSI) của cá thể đực có tuyến sinh dục ở giai đoạn III là 35.86 ± 0 43.73 26.13 ± 3.64 0 0 0 0 26. Hệ số thành thục sinh dục (GSI) Bảng 5. hệ số này giảm tương đối nhanh.71 ± 3.17 ± 8.03 ± 2.25 31.

3.2cm. (1994). 41. biology. đạt tỉ lệ cao nhất ở giai đoạn III (43. 24-27. 20. cái. . 480 pp. Polychaeta.121. Fauna of Australia.Kích thước thành thục lần đầu: chưa xác định chính xác kích thước thành thục lần đầu của loài nhưng nhóm kích thước nhỏ nhất có cá thể thành thục sinh dục là 7. Zoological Journal of the linnean Socienty 85: 219-246. Sức sinh sản tương đối dao động từ 75. pp. Baron (1992). (1985). trung bình là 2. sinh thái phân bố của loài Sipunculus robustus tại Vùng triều Cam Ranh.2 .63%. 4A. (2000).B.Mùa vụ sinh sản: Trong khoảng từ tháng 12/2009 đến tháng 6/2010 thì tháng 3 .803 Soá 3/2011 4 là mùa vụ sinh sản. . Culter E. 4. Gafrarisum tumifdum Röding and Anadara scapha (L. Jourrnal of Zhanjiang Ocean University.10. ♀: 36. and evolution. In: Polychaeta & Allies: The Southern Synthesis. . Edmonds S. (2000). Culter E. no. CSIRO Publishing.J.948 trứng/cá thể. Cấu trúc giới tính trong thời gian nghiên cứu là: Không xác định (KXĐ) ♂:♀ là 28. tháng 4 là đỉnh cao sinh sản của loài với tỉ lệ thành thục sinh dục đạt 82.57%.8%.) in New Caledonia.5%. Cornell University Press.815x X 0.740. pp. 2.Cần hạn chế khai thác loài Sipunculus robustus trong mùa vụ sinh sản (tháng 3 .Coâng ngheä Thuûy saûn IV. 375-400. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 51 .2cm. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 1. Vol. Averision of the genen Sipunculus and Xenosiphon (Sipuncula). Đề xuất ý kiến . Pogonophora.485 đến 209.Cần tiếp tục nghiên cứu đề tài này trong các tháng còn lại của năm (từ tháng 6 đến tháng 11) để làm căn cứ xác định chính xác hơn về mùa vụ sinh sản và kích thước thành thục sinh dục lần đầu của sá sùng loài Sipunculus robustus.. Melbourne.Hệ số thành thục sinh dục: GSI của loài tăng theo giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục.tháng TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.777 trứng/g cơ thể. 2.Cần có những nghiên cứu về đặc điểm sinh học. Sipuncula. Phylum Sipuncula.367 trứng/ cá thể. and Yoshie Y. . Kết luận .tháng 4) nhằm bảo vệ nguồn lợi sá sùng tự nhiên. Study on tasty substance and functional components of the dried Sha-chong. The Sipuncula: their systematic.10% ở cá thể cái).Giới tính và tỉ lệ đực cái: Sipunculus robustus là loài phân tính đực. Chaohua Z. Suzuki T. J. 5.Sức sinh sản: sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 743.B.833 . Myzostomida. trung bình là 120. Trong đó. vol. 2. ♂: 34.91:1. Reproductive Cycles of the Bivalve Molluscs Atactodea striata (Gmelin).182 đến 4.788 trứng/g cơ thể.37% ở cá thể đực.Cần có những nghiên cứu sâu hơn về nhóm kích thước <7.Taïp chí Khoa hoïc . . với R = 0. Phương trình tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối và khối lượng toàn thân: W = 203965. Tỉ lệ trung bình đực: cái là 0. Echiura. Sức sinh sản của loài có xu hướng tăng theo khối lượng cơ thể. . and Culter N.

Journal of fisheries of China / Shuichan Xuebao. 278 trang.26. NXB KH & KT Hà Nội 1976. P.F (1973). 9. Võ Huy Dâng (2004). and Bing Y. Đại học Quốc gia Hà Nội. sinh thái. 12. 370. phân bố và đề xuất các giải pháp bảo vệ và khai thác hợp lý Sâm đất ở Bến Tre. Phylum Sipuncula. no. 503-509. Guobao L. Đánh giá thành phần các axit amin và hàm lượng các nguyên tố khoáng từ trùn biển. Sinh thái học các thủy vực. In: Beesley. (2002). Hội thảo khoa học trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Ngành NTTS.). pp.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 6. tr.J. G. Nguyễn Kim Trinh. Pravdin I. S. Melbourne.. 52 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . 2000. báo cáo tóm tắt. Ross. Nguyễn Thụy Dạ Thảo. 11.L. Polychaeta. 7. Sipuncula. Pogonophora. lần thứ IV . Hồ Chí Minh.. Fauna of Australia. vol. Glasby. Hoàng Thị Bích Đào (2005). Bùi Quang Nghị (2009). Vũ Trung Tạng (1991). 8. 6. Edmonds. 150 trang. vol.. “Đặc điểm sinh học sinh sản & thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo sò huyết”. 4A. Luận văn tiến sĩ khoa học. 10. (Eds. Polychaetes & Allies: The Southern Synthesis. ĐHQG tp.B. pp. Myzostomida. CSIRO Publishing. The reproductive biology of peanut worm.Taïp chí Khoa hoïc .10/2004. C. Nghiên cứu đặc điểm sinh học. 375–400.J. J. Echiura. Hướng dẫn nghiên cứu cá (Phạm Thị Minh Giang dịch). Đại học Nha Trang.

khoa Cơ khí dùng để khảo sát thông số tính năng. Based on the Visual Basic program will read the signal and display the parameters on the PC’s screen when complex unit of Diesel-Generator is operated. chế tạo cụm điều khiển phụ tải kiểu cơ . WITH THE AIM OF TESTING THE ENGINE Lê Bá Khang Khoa Cơ khí . linh kiện điện tử. tin cậy cho số liệu đo trên liên hợp diesel-máy phát đáp ứng yêu cầu đào tạo và nghiên cứu khoa học. accurate..điện. we also produce the electrical board with special electrical components for receiving the signals from sensors and processing. PC connected componnents I. Từ khóa: Điều khiển. truyền dữ liệu thông qua cổng Com kết nối với máy tính. xây dựng đường đặc tính thực nghiệm… phục vụ giảng dạy và nghiên cứu ứng dụng nhiên liệu. Keywords: Control Box. Liên hợp có khả năng đáp ứng yêu cầu cho việc nghiên cứu và dạy . The data are settlet. chúng tôi thiết kế. Trường Đại học Nha Trang. đồng thời chế tạo board mạch với các linh kiện điện tử đặc dụng để thu nhận tín hiệu từ các cảm biến và xử lý. Nhằm nâng cao độ chính xác. Tuy nhiên. dầu mỡ bôi trơn.học về máy động lực tại Bộ môn Kỹ thuật ô tô. Khoa Cơ khí.. reliable.Coâng ngheä Thuûy saûn THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC Soá 3/2011 NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO CỤM ĐIỀU KHIỂN PHỤ TẢI VÀ KẾT NỐI MÁY TÍNH CHO LIÊN HỢP DIESEL . transmission of data through the port COM which is connected to the PC. Chương trình giao tiếp viết trên nền Visual Basic cho phép đọc các tín hiệu và hiển thị lên màn hình máy tính các thông số tính năng cần thiết của liên hợp khi thiết bị hoạt động.MÁY PHÁT PHỤC VỤ KHẢO NGHIỆM ĐỘNG CƠ RESEARCHS TO MANUFACTURING OF LOAD CONTROL BOX AND PC CONNECTION FOR COMPLEX UNIT OF DIESEL-GENERATOR. phương pháp gia tải và thu nhận số liệu còn đơn giản. we research and produce the Control Box with mechanical-electrical type to control the load. Nha Trang University. kết nối ABSTRACT This project has an aim to enhanc the accuracy and reliability for measurement data on the Complex Unit of Diesel-Generator in order to meet the demand for training & study. nhiều hạn chế. số liệu chính xác. tin cậy cho số liệu đo đáp ứng yêu cầu chất lượng đào tạo và nghiên TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 53 . ĐẶT VẤN ĐỀ Liên hợp động cơ diesel . tin cậy.máy phát (hình 1) tại Bộ môn Kỹ thuật ô tô.Trường Đại học Nha Trang TÓM TẮT Nhằm nâng cao độ chính xác. The complex unit of diesel-generator and control box has the capacity of responding the requirements of the research and training aboar engine at the Automotive Enginneering Departement Faculty of Mechanics. Thiết bị làm việc ổn định.Taïp chí Khoa hoïc .

Taïp chí Khoa hoïc . Liên hợp động cơ diesel lai máy phát 1. III. 13.Động cơ diesel.Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tổng hợp lý thuyết. + Thiết kế giao diện. 17. hiển thị dữ liệu cho liên hợp với sự trợ giúp của máy tính và linh kiện điện tử. cài đặt sẵn Dòng điện sinh ra được tiêu thụ trên 6 điện trở thuần (17) đặt cố định trong thùng nước (16). chế tạo và viết phần mềm cho board mạch thu nhận. thông qua bộ truyền đai (19) dẫn động. . 8.Dây đai. 5. phần mềm cho board mạch. 16.Bảng táp lô điện.Đế máy. Hình 1.máy phát… . viết phần mềm cho máy tính. Soá 3/2011 . Nguyên lý hoạt động: Khi động cơ (1) hoạt động.Cảm biến nhiệt độ nước vào (đặt trên đường vào) làm mát động cơ. 6.Đối tượng nghiên cứu: Cụm điều khiển phụ tải. chế tạo cụm điều khiển phụ tải.Đồng hồ chỉ báo.Đồng hồ đo nhiệt độ khí xả. v làm thay đổi dòng điện trong mạch điều khiển và dòng điện đi qua các điện trở (17). 3. 12.Cụm thu nhận và xử lý dữ liệu. máy phát xoay chiều một pha 10kW. 18.Coâng ngheä Thuûy saûn cứu khoa học. chúng tôi chế tạo cụm điều khiển phụ tải và kết nối. 2. thử nghiệm và điều chỉnh. liên hợp động cơ diesel .Đinamô.Áp tô máp. 7. điện áp 220 (18) phát điện.Cảm biến tốc độ động cơ. board mạch điện tử.Bơm nước.Máy tính.Cảm biến nhiệt độ không khí. ĐỐI TƯỢNG. 19. 10.Két làm mát. II. truyền dữ liệu. 15.Quạt làm mát. 14. PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU . sẽ 54 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .Đồng hồ đo áp lực dầu bôi trơn. 20. tại đây tín hiệu được xử lý rồi truyền đến cổng Com kết nối với máy tính và trên cơ sở phần mềm được viết.Nội dung nghiên cứu: + Kết cấu. chọn phương án và thiết kế.Cảm biến nhiệt độ nước làm mát ra (đặt trên đường ra).Điện trở. Phần nghiên cứu được trình bày sau đây là nhằm tới mục đích trên.Thiết bị phục vụ nghiên cứu: máy tính PC. + Phân tích. Khi thay đổi vị trí của núm điều chỉnh (11). nguyên lý làm việc của liên hợp động cơ diesel lai máy phát. dẫn đến thay đổi phụ tải động cơ. 21. 4. + Thiết kế. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1. chế tạo.Núm điều chỉnh tải. Liên hợp động cơ diesel dẫn động máy phát Sơ đồ cấu tạo nguyên lý của liên hợp động cơ diesel lai máy phát trình bày trên hình 1. chạy thử và điều chỉnh. 11. 9. Tín hiệu từ các cảm biến truyền đến bộ phận thu nhận (9).Thùng nước. cho máy tính. xử lý. THIẾT BỊ.

Biến thế 5. giữ không đổi lượng nước trong thùng.1mF và 0. làm thay đổi thời điểm để kích Triac thông mạch dẫn đến thay đổi phụ tải (biến trở cùng với tụ C quyết định độ mở sớm hoặc muộn góc pha điện áp). Để đảm bảo sự truyền nhiệt ra ổn định của các điện trở trong thùng nước (16). Thiết kế. Hình 2: Sơ đồ cấu tạo nguyên lý mạch điều khiển phụ tải (D-DIAC. Khi xoay núm vặn theo chiều KĐH thì điện trở của biến trở sẽ giảm. 6 điện trở 50kW. dòng đi qua nạp vào tụ không đổi. có thể điều chỉnh liên tục phụ tải.Board mạch điều khiển 2. chọn ra phương án thiết kế. Chọn giải pháp giữ không đổi điện áp. Hình 3. góc mở Triac sẽ sớm do đó phụ tải sẽ tăng và ngược lại. được mắc như sơ đồ tại hình 2. 2 tụ điện 0. do đó phụ tải không đổi. chúng tôi còn sử dụng bơm (15) vận chuyển nước và quạt gió (14) giải nhiệt cho nước khi nó được bơm chuyển lên két (13) rồi đổ về thùng chứa (16). dòng điện đi qua điện trở 50k đến biến trở. Sử dụng cơ cấu xoay .điện. 2. Cụm điều khiển phụ tải 1.01 mF. Chúng tôi lắp đặt đồng hồ vôn kế và am pe kế để theo dõi sự thay đổi các thông số U. thay đổi dòng điện đến biến trở đến tụ và Triac để điều chỉnh phụ tải cho động cơ. lúc này TRIAC được thông dẫn đến dòng đi qua các điện trở trong một chu kỳ không thay đổi.Coâng ngheä Thuûy saûn trong máy PC sẽ hiển thị lên màn hình máy tính giá trị của các thông số cần đo. am pe kế và vôn kế 3. 1 biến trở 1MΩ. 6 điện trở 1kW.núm vặn (11) để thay đổi điện trở của biến trở và dòng nạp vào tụ C.Quạt làm mát TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 55 . ngoài việc lựa chọn loại điện trở. 1 DIAC (giữ ổn định tín hiệu điều khiển TRIAC). T-TRIAC) Ở một chế độ cố định (không xoay núm vặn) điện trở của biến trở không đổi.Dây nối đến cơ cấu cơ .Ống chứa dây nối đến 6 điện trở Rd 4. I của đinamô (kiểm tra cho kết quả tổn thất điện trên dây nối nhỏ không đáng kể). chế tạo cụm điều khiển phụ tải Chúng tôi dựa vào các luận cứ khoa học phân tích và kết hợp tính hợp lý. Khi hoạt động.điện điều khiển phụ tải. đến tụ C (xoay chiều) và đi qua TRIAC làm thông mạch các điện trở (Rd). 6 điện trở Rd. Cụm điều khiển được chế tạo có khả năng thay đổi và ổn định liên tục phụ tải với dòng điện từ 5 đến 38 A.Taïp chí Khoa hoïc . Mạch Soá 3/2011 điều khiển phụ tải bao gồm 6 TRIAC (loại dùng cho dòng xoay chiều). chế tạo cụm điều khiển phụ tải cho liên hợp là loại cơ .

cấu trúc board mạch với các linh kiện được chọn dựa trên tính ứng dụng cao và hợp lý.Khối AD. khối OPTO khử nhiễu và truyền tín hiệu quang. 3. Nguyên lý chung: Tín hiệu thu nhận được từ các cảm biến khi chuyển đến máy tính hiện trên màn hình phải 56 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Và tại IC 89C51 nhờ có trình dịch này nó sẽ xử lý tín hiệu rồi truyền tới cổng Com của máy tính. 5. cài đặt cho board mạch dưới dạng Assembler. chân 40 nối với nguồn + 5V). xử lý và truyền dẫn kết nối với máy tính 1. do biến áp đặt ở ngay đầu vào mà điện áp được hạ xuống 12VAC.Biến áp nguồn. Cụ thể: Nguồn điện cấp ban đầu cho mạch là điện xoay chiều U = 220V. Tín hiệu số này được xử lý nhờ lập trình tại IC 89C51. Phần mềm viết. khối AD có: IC 7406 (đảo tín hiệu). sau đó truyền qua cổng Com đến máy tính và một lần nữa chương trình tại máy tính sẽ đọc và hiển thị lên màn hình. chế tạo và viết phần mềm cho board mạch thu nhận. Bo mạch thu nhận tín hiệu. IC 7474 (tạo xung dao động cho AD hoạt động). truyền dữ liệu Board mạch thu nhận. 7. Thiết kế giao diện. ngoài ra còn có linh kiện LT 072 tạo điện áp chuẩn và giữ ổn định điện áp cho IC 0809 hoạt động. xử lý.Taïp chí Khoa hoïc .IC 89C51. gồm 3 cụm: Vi điều khiển chính IC 89C51. xử lý và truyền dữ liệu đến máy tính được thiết kế. viết phần mềm cho máy tính. Phần kết nối với máy tính thông qua cổng tiếp nối chuẩn RS 232 (cổng Com) với sự trợ giúp của IC Max 232. 2. Với sự hỗ trợ của IC Max 232 sẽ chuyển đổi mức tín hiệu 5V của IC 89C51 thành ± 12V cuả máy tính. 6. Tín hiệu từ cảm biến được chuyển đến IC 7406 đến IC 0809 để chuyển thành tín hiệu số AD (đọc cổng nào là do IC 89C51 quyết định qua 3 chân địa chỉ của IC 0809) sau đó nó được gửi qua IC 74LS254 để đọc (giá trị) và ổn định lại rồi cho ra qua các ngõ của IC này đến OPTO khử nhiễu trước khi đến IC 89C51. Và nhờ lập trình viết trên nền Visual Basic được cài vào máy tính PC mà nó sẽ đọc các tín hiệu (giá trị và địa chỉ) từ IC 89C51 chuyển qua để gán giá trị đó đúng ô hiển thị lên màn hình. chạy thử và điều chỉnh Giao diện được thiết kế khá đơn giản. chế tạo trình bày trên hình 4. IC 0809 (biến đổi sang tín hiệu số). Thiết kế. Trên board mạch sử dụng 2 linh kiện IC 7805 có nhiệm vụ cấp điện 5V cho 2 khu vực: biến đổi AD và khu vực xử lý dữ liệu của IC 89C51. Chương trình khảo sát thông số tính năng cuả Hình 4. Soá 3/2011 qua các giai đoạn sau: Từ cảm biến tín hiệu dạng Analog được chuyển thành tín hiệu số AD. và nhờ 4 diode nắn dòng và ổn áp 7805 mà dòng điện xoay chiều được chuyển đổi sang dòng điện 1 chiều 5V cấp cho mạch (chân số 20 của IC 89C51 được nối với masse. Ở đây. 4. 4.Cụm chuyển đổi điện áp 220V xuống 5V.Đầu ra kết nối với cổng Com máy tính.Điện trở lấy dòng.Khối OPTO.Coâng ngheä Thuûy saûn 3. IC 74LS 254 (đọc giá trị tín hiệu số).

.). thiết bị đo áp suất cháy (pz.học về máy động lực tại Khoa Cơ khí.. có thể tiếp tục trang bị nâng cấp liên hợp với các thiết bị đo hiện đại có độ chính xác cao như thiết bị đo nhiên liệu (Gnl). . Gnl. tin cậy. dẫn truyền. Sau khi chạy thử và điều chỉnh. 2007.Coâng ngheä Thuûy saûn liên hợp (n.ứng dụng và lập trình với IC đơn phiến AT 89C51. Vương Khánh Hưng. Nhà xuất bản Hồng Đức. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. khắc phục được nhược điểm của phương pháp cơ khí. 3.. đồng hồ đo cầm Hình 5 Thông số tính năng của liên hợp diesel . 2005.Liên hợp có khả năng đáp ứng yêu cầu của việc nghiên cứu và dạy . tin cậy cho số liệu đo khi khảo nghiệm động cơ. Lập trình ghép nối máy tính trong Windows.0..Taïp chí Khoa hoïc . hoạt động trình bày trên hình 5.Cụm điều khiển phụ tải thiết kế. kết nối và hiển thị thông số tính năng của liên hợp lên màn hình máy tính.v. đã loại bỏ cơ bản yếu tố chủ quan. 2006. Đậu Quang Tuấn. nâng cao độ chính xác.) được viết dựa vào phần mềm Visual Basic và cài đặt vào máy tính. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ . Nhà xuất bản Giao thông vận tải. Tự học lập trình Visual Basic 6. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 57 .máy phát hiển thị trên giao diện tại màn hình máy tính IV. Và nếu được. ge. giao diện của phần mềm và các thông số tính năng của tay. Ne. Tx . Chuyên đề Vi điều khiển họ MSC-51.Sử dụng board mạch linh kiện điện tử để thu nhận. NXB Khoa học kỹ thuật. chế tạo làm việc ổn định. Tm. 2. Ngô Diên Tập. V. Soá 3/2011 liên hợp động cơ diesel dẫn động máy phát khi Và giá trị các thông số có độ chính xác cao hơn so với khi sử dụng thiết bị. gia tải theo nấc trước đây. xử lý. . thiết bị đo lọt khí v.

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn
THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC

Soá 3/2011

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG PHỤC VỤ DẠY HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Nguyễn Thị Hiển, Nguyễn Xuân Vỹ Trường Đại học Nha Trang, BHXH Phú Yên I. ĐẶT VẤN ĐỀ Mục đích của nghiên cứu này là nghiên cứu khám phá các nhân tố tác động đến sự thỏa mãn của sinh viên đối với chất lượng hoạt động phục vụ dạy học của trường Đại học Nha Trang thông qua đó để xem xét, tìm hiểu ý kiến đóng góp của sinh viên, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động phục vụ dạy học của trường. Kết quả nghiên cứu đã giúp hình thành mô hình nghiên cứu mới phù hợp với thực tế dựa trên mô hình nghiên cứu đề xuất ban đầu. Ở mô hình nghiên cứu mới này gồm những thang đo có độ tin cậy giúp đo lường thành phần chất lượng hoạt động phục vụ dạy học của trường. Tất cả những kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra được mức độ quan trọng hay thứ tự ưu tiên của các yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của sinh viên. Ngoài ra nghiên cứu này còn góp phần vào hệ thống thang đo chất lượng hoạt động phục vụ dạy học của trường Đại học Nha Trang nói riêng và các trường Đại học nói chung. The purpose of the study is to research for exploring the factors affecting student satisfaction to quality of activities for teaching in Nha Trang University, and through which to consider and find out opinions of students. Then propose some solutions and recommendations to improve the quality of the activities. Results of the study

helps to build a new suitable study model for the fact which is based on the research model originally proposed. The new model includes reliable scales to measure component quality of activities for teaching. All results of the study have pointed out importance degrees or priority of factors affecting student satisfaction. Besides, the study also contributes to the system of teaching quality measuring scales of Nha Trang University in particular and the Universities in general. II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Mô hình thỏa mãn khách hàng của Parasuraman và các cộng sự (1985) là mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ kinh điển, mô hình này khá hoàn chỉnh về chất lượng dịch vụ Nghiên cứu so sánh trong ngành siêu thị bán lẻ tại Việt Nam - SERQUAL hay SERVPERF của Nguyễn Huy Phong và Phạm Ngọc Thúy (2007), các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng tại các siêu thị bán lẻ tại Việt Nam là: tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ, đồng cảm, và phương tiện hữu hình. Giáo dục có các tính chất và đặc điểm của ngành dịch vụ. Do đó mô hình thỏa mãn khách hàng của Parasuraman rất phù hợp với nghiên cứu này. Mô hình nghiên cứu đề xuất:

58 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn
Sự tin cậy

Soá 3/2011

Đáp ứng

H1

H2 Năng lực phục vụ H3 Thái độ nhiệt tình, cảm thông H4 Sự thỏa mãn của sinh viên Phương tiện hữu hình H5 H6 Chi phí học tập và sinh hoạt của sinh viên
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

- Sự tin cậy (Reliability): thể hiện qua sự tin tưởng của sinh viên đối với nhà trường và cán bộ phục vụ trong trường; - Đáp ứng (sesponsiveness) thể hiện qua sự mong muốn và sẵn sàng của cán bộ công nhân viên phục vụ trong trường cung cấp đáp ứng kịp thời cho sinh viên; - Năng lực phục vụ (Assurance): thể hiện qua trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và cung cách phục vụ chuyên nghiệp của cán bộ công nhân viên phục vụ trong trường đối với sinh viên; - Thái độ nhiệt tình, cảm thông (Empathy): thể hiện sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ đến từng cá nhân sinh viên; - Phương tiện hữu hình (Tangibility): thể hiện qua mức độ đáp ứng về cơ sở vật chất phục vụ cho học tập và ăn ở sinh hoạt của sinh viên;

- Chi phí học tập và sinh hoạt của sinh viên (Price): Giá phù hợp với chất lượng dịch vụ sinh viên cảm nhận; Hàm hồi quy đa biến như sau: Yi = βo + β1X1i + β2X2i + ….+ βnXni + ξ Yi : là biến phụ thuộc, được xem là sự thỏa mãn của sinh viên Xi : là yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn của sinh viên β : là hệ số có tác động tương ứng ξ : sai số của mô hình Giả thuyết H1: Thể hiện qua sự tin tưởng của sinh viên đối với nhà trường, thầy cô và cán bộ phục vụ trong trường; sinh viên đánh giá “Sự tin cậy” càng cao thì sẽ làm gia tăng mức độ thỏa mãn. Giả thuyết H2: Sinh viên đánh giá “Sự đáp ứng” càng cao thì sẽ làm tăng mức độ thỏa mãn TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 59

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn
Giả thuyết H3: Sinh viên đánh giá “năng lực phục vụ” càng cao thì sẽ làm tăng mức độ thỏa mãn. Giả thuyết H4: Sinh viên đánh giá “thái độ nhiệt tình” càng cao thì sẽ làm tăng mức độ thỏa mãn. Giả thuyết H5: Sinh viên đánh giá “phương tiện hữu hình” càng cao thì sẽ làm tăng mức độ thỏa mãn. Giả thuyết H6: Sinh viên đánh giá “chi phí học tập và sinh hoạt của sinh viên” hợp lý thì sẽ làm tăng mức độ thỏa mãn của họ. III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này được thực hiện thông qua 2 bước chính: Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính với kỹ thuật thảo luận nhóm và phỏng vấn thử. Mục đích của nghiên cứu này dùng để điều chỉnh và bổ sung thang đo chất lượng hoạt động phục vụ dạy học. Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng. Dùng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng cách phỏng vấn sinh viên đang theo học tại trường. Phương pháp chọn mẫu: Căn cứ số lượng của từng khoa, từng khóa do phòng Công tác sinh viên cung cấp, nhóm điều tra tính tỷ lệ số sinh viên cần điều tra theo từng lớp của từng khoa. Trong thời gian nghỉ giải lao giữa 2 tiết

Soá 3/2011
học, nhóm điều tra vào từng lớp phát phiếu điều tra theo mẫu xác suất cho số sinh viên được phân bổ cho lớp đó. Quy mô mẫu: việc xác định kích thước mẫu theo Nguyễn Đình Thọ (2003) thì trong phân tích nhân tố EFA cần 5 quan sát cho 1 biến đo lường và cơ sở mẫu không ít hơn 100, nghiên cứu này có 52 biến, mẫu tốt nhất mỗi biến cần 10 quan sát, vì vậy mô hình dự kiến điều tra 520 mẫu. Sau khi thu về làm sạch và mã hóa thu được 344 bảng câu hỏi hợp lệ. Thông tin thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0. Thang đo sau khi được đánh giá độ tin cậy dựa vào hệ số Cronbach’s alpha, Phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy đa biến dùng để tìm ra mối quan hệ giữa các thành phần trong mô hình nghiên cứu lên sự thỏa mãn của sinh viên. Thang đo được dùng để đo mức độ thỏa mãn của khách hàng là thang đo Likert 5 điểm (Hoàn toàn không đồng ý, Không đồng ý, Bình thường, Đồng ý, Hoàn toàn đồng ý). IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đánh giá chung về chất lượng phục vụ dạy và học của trường Đại học Nha Trang thông qua khảo sát sinh viên. Kết quả điều tra trong mẫu nghiên cứu cho thấy giá trị trung bình của các yếu tố theo từng mục hỏi được thống kê qua các bảng sau:

Bảng 1. Sự tin cậy của sinh viên đối với công tác phục vụ dạy và học của nhà trường
Biến Mean

tincay1 tincay2 tincay3 tincay4 tincay5

Nhà trường luôn thực hiện đúng những cam kết đối với sinh viên Thông tin từ nhà trường đến với sinh viên luôn chính xác, kịp thời Nhà trường luôn thực hiện những hoạt động cần thiết để phục vụ tốt cho quá trình dạy và học Thông tin về lịch học, lịch thi và kết quả học tập của sinh viên được công bố đúng hạn Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên là chặt chẽ và chính xác

3,3227 3,0756 3,1076 3,1860 3,0581

60 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG

4128 3.2209 3.1831 Mean Dapung1 Dapung2 Dapung3 Dapung4 Dapung5 Dapung6 Dapung7 Dapung8 Dapung9 Dapung10 Các yêu cầu của sinh viên luôn được giải quyết một cách nhanh chóng Nhà trường luôn lắng nghe các yêu cầu của sinh viên Văn phòng khoa luôn giải đáp các thắc mắc của sinh viên một cách rõ ràng Văn phòng khoa luôn giải quyết các yêu cầu của sinh viên một cách nhanh chóng Các phòng ban chức năng luôn giải đáp các thắc mắc của sinh viên một cách rõ ràng Các phòng ban chức năng luôn giải quyết các yêu cầu của sinh viên một cách nhanh chóng Nhân viên phục vụ thiết bị giảng dạy.8924 3.0843 4.1715 Bảng 3. chuyên nghiệp khi làm việc. Sự đảm bảo đối với công tác phục vụ dạy và học của nhà trường Biến Soá 3/2011 2.5203 3.4913 3.2267 3.2384 3.0233 TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 61 . Năng lực phục vụ của nhà trường trong việc hỗ trợ sinh viên học tập Biến Mean Nangluc1 Nangluc2 Nangluc3 Nhân viên các bộ phận phục vụ chức năng trong trường xử lý công việc nhanh chóng.6948 2.9942 4.2006 3. âm thanh giảng đường luôn phục vụ nhanh chóng. kịp thời Nhân viên thư viện luôn đáp ứng kịp thời yêu cầu của sinh viên Nhân viên quản lý ký túc xá luôn đáp ứng kịp thời yêu cầu của sinh viên Nhân viên y tế luôn đáp ứng kịp thời yêu cầu của sinh viên 3.Coâng ngheä Thuûy saûn tincay6 tincay7 tincay8 Cán bộ viên chức của trường luôn nhận ra chính xác yêu cầu của sinh viên Cán bộ viên chức của trường luôn giải quyết yêu cầu của sinh viên thấu tình đạt lý Cán bộ viên chức của trường thực hiện đúng các chức trách được giao về công tác phục vụ dạy và học Bảng 2. giao tiếp Trang web nhà trường hỗ trợ học tập rất hiệu quả 3.Taïp chí Khoa hoïc .2384 3. chuyên nghiệp Nhân viên văn phòng khoa có phong cách lịch sự.4302 3.

Taïp chí Khoa hoïc .3692 3. Bảng đánh giá phương tiên hữu hình phục vụ dạy và học của nhà trường Biến Mean phtienhh1 phtienhh2 phtienhh3 phtienhh4 phtienhh5 phtienhh6 phtienhh7 phtienhh8 phtienhh9 phtienhh10 Toàn bộ kiến trúc của Trường tạo cho bạn ấn tượng đẹp Trang thiết bị phục vụ cho dạy và học của trường tốt Cơ sở thực tập.2907 3.8169 3. Chi phí cho học tập và rèn luyện tại trường 4.4186 4.7209 4. sinh viên Biến Soá 3/2011 Mean cthong1 cthong2 cthong3 cthong4 cthong5 cthong6 cthong7 Nhà trường luôn quan tâm đến điều kiện ăn ở và học tập của sinh viên Nhân viên phòng công tác chính trị sinh viên luôn quan tâm sâu sát đối với sinh viên Nhân viên y tế luôn sẵn sàng giúp đỡ sinh viên Nhân viên quản lý ký túc xá luôn sẵn lòng giúp đỡ sinh viên Quản trị Ký túc xá luôn quan tâm đến điều kiện ăn ở của sinh viên Giáo viên chủ nhiệm luôn tìm hiểu và quan tâm đến việc học tập của bạn.9884 3.Coâng ngheä Thuûy saûn Bảng 4.6017 3. Sự cảm thông của nhà trường đối với học sinh.30 bị loại bỏ khỏi bảng).0640 3. thực hành đầy đủ thiết bị đáp ứng tốt cho thực tập Giảng đường đủ chỗ ngồi cho sinh viên Phòng đọc thư viện đầy đủ sách và tài liệu tham khảo Ký túc xá của trường khang trang Ký túc xá của trường đảm bảo an ninh. 62 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .2878 3.1570 3. giải trí và thể thao đáp ứng tốt cho nhu cầu của sinh viên Nhà ăn sinh viên rộng rãi khang trang Bảng 6.4186 3.1860 Bảng 5.5669 4.0959 3.5727 4. Nhân viên văn phòng khoa luôn ân cần.1453 3. phòng thí nghiệm.9971 4. trật tự cho sinh viên Khu vực giữ xe của trường rộng rãi Khu vui chơi.5872 Biến Mean Chiphi1 Chiphi2 Chiphi3 Chiphi4 Chiphi5 Tôi sẵn lòng chi trả mức phí cao hơn để có được chất lượng học tập tốt hơn Tôi nghĩ rằng chi phí cho học tập hiện nay tại trường là phù hợp Mức phí ký túc xá hiện nay là phù hợp với túi tiền của tôi Theo tôi giá ở nhà ăn sinh viên phục vụ là hợp lý Tôi sẵn lòng chi trả phí ký túc xá cao hơn để có được dịch vụ sinh hoạt tốt hơn 3.1453 3. (Các trọng số < 0.5145 Kết quả phân tích nhân tố và độ tin cậy được cho ở bảng 7. thông cảm với sinh viên 3.4448 4.8866 4.

593 .863 .724 .676 .796 .667 .610 .Coâng ngheä Thuûy saûn Bảng 7.703 TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 63 0.951 .619 .821 .639 .334 6 0.829 .683 .918 .858 .889 .791 .878 .815 .712 .Taïp chí Khoa hoïc .883 0.844 .716 .910 0.777 .542 . Ma trận đặc trưng của các nhân tố Các khái niệm Các chỉ báo Các nhân tố Soá 3/2011 Cronbach’s alpha Sự tin cậy TINCAY1 TINCAY2 TINCAY3 TINCAY4 TINCAY5 TINCAY6 TINCAY7 TINCAY8 Đáp ứng DAPUNG1 DAPUNG2 DAPUNG3 DAPUNG4 DAPUNG5 DAPUNG6 DAPUNG7 DAPUNG8 DAPUNG9 DAPUNG10 Năng lực NANGLUC1 NANGLUC2 NANGLUC3 Thái độ nhiệt tình cảm thông CTHONG1 CTHONG2 CTHONG3 CTHONG4 CTHONG5 CTHONG6 CTHONG7 1 2 3 4 5 .796 .817 .911 .875 .

Sự đáp ứng (DAPUNG).991 .796 903 .CHIPHI) 64 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .PTHINH. NANGLUC.903 . DAPUNG. Phân tich hồi quy sẽ được thực hiện với 6 biến độc lập và một biến phụ thuộc.Coâng ngheä Thuûy saûn Phương tiện hữu hình PTHINH1 PTHINH2 PTHINH3 PTHINH4 PTHINH5 PTHINH6 PTHINH7 PTHINH8 PTHINH9 PTHINH10 Chi phí CHIPHI1 CHIPHI2 CHIPHI3 CHIPHI4 CHIPHI5 .842 .10.834 .956 . DAPUNG.936 0.Taïp chí Khoa hoïc . Kết quả phân tích cho thấy các biến đều thỏa điều kiện để tiến hành phân tích hồi quy với biến phụ thuộc là HAILONG và biến độc lập là TINCAY.828 .05 và POUT (xác xuất F ra) = 0. NANGLUC.894 .980 KMO Approx. tiến hành tạo ra 6 biến tương ứng đại diện cho 6 nhân tố Sự tin cậy (TINCAY).855 Soá 3/2011 0. cảm thông (CAMTHONG).878 .969 . .000 Sau khi trích được nhân tố.694 . CAMTHONG và PTHINH. Phương tiện hữu hình (PTHINH). Năng lực phục vụ (NANGLUC).657 . Thái độ nhiệt tình. HAILONG = f(TINCAY. Chi phí (CHIPHI) và biến Sự hài lòng chung (HAILONG). Phân tích được thực hiện bằng phương pháp ENTER (Đưa vào một lượt. các biến trong khối sẽ được đưa vào mô hình cùng một lúc) với tiêu chuẩn PIN (xác suất F vào) = 0.593 .987 .859 .881 15513.CAMTHONG. Chi-Square Df Sig.

040 .074 .117 -2. .096) Thái độ nhiệt tình.179*DA PUNG + 0.862 .004 . các biểu đồ…) cho thấy các giả thuyết cho hồi quy đều không bị vi phạm khi sử dụng phương pháp hồi quy bội.234 .Taïp chí Khoa hoïc .043 .876 . 1 *1 1 VIF =  2 1− R k Như vậy.043 . CAMTHONG.160 1.045 .074) Năng lực phục vụ (0.175 .956 . .907 .932 .705 11.165 1. Quy tắc là khi VIF vượt quá 10 thì đó là dấu hiệu của đa cộng tuyến.086 1.000 .004) TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 65 Trong đó: R là hệ số tương quan bội khi biến độc lập i được dự đoán từ các biến độc lập khác.hệ số phóng đại phương sai của các biến độc lập trong mô hình đều <2 và nằm trong khoảng từ 1. NANGLUC.335 4.165.028 Tolerance VIF .491*PTHINH .004 .243 . cảm thông (0.179) Chi phí (.000 1.Coâng ngheä Thuûy saûn Bảng 8.880 1. Kết quả phân tích hồi quy Unstandardized Coefficients Standardized Coefficients t Sig.Không có dấu hiệu của đa cộng tuyến.000 .491) Sự tin cậy (0.000 .5% hay nói cách khác là có khoảng 41.142 1.046 1.074*CTHONG + 0.243) Khả năng đáp ứng (0. PTHINH và CHIPHI có ý nghĩa sau: Sự hài lòng (HAILONG) = 2.810 + 0.810E-18 . DAPUNG.000 .Các kiểm tra khác (phân phối phần dư.499 -.643 0.000 .415.179 . Soá 3/2011 Collinearity Statistics B (Constant) TINCAY DAPUNG NANGLUC CTHONG PTHINH CHIPHI R R square Sig.004*NANGLUC + 0.043 . Khi VIF vượt quá 10 thì đó là dấu hiệu của Đa cộng tuyến .096 Std.044 Beta .5% phương sai sự hài lòng của sinh viên được giải thích bởi 6 biến độc lập trên.858 .098 5.089 . hiện tượng đa cộng tuyến không ảnh hưởng đến kết quả giải thích với hệ số VIF*1 .491 -.Hệ số R bình phương là 0.205 0. Điều này cho thấy rằng độ tương thích của mô hình là 41.0.136 Qua kết quả hồi quy từ bảng 8 cho thấy: . 2.044 .114 .077 . Error .243*TINCAY + 0.046 . phương trình hồi quy thể hiện mối quan hệ tuyến tính giữa sự hài lòng của sinh viên (HAILONG) với 6 thành phần: TINCAY.415 0.096 * CHIPHI Trong đó: Thứ tự quan trọng của các thành phần tác động đến sự hài lòng của sinh viên được liệt kê như sau: O O O O O O Phương tiện hữu hình (0.0.1.103 1.

179 và sig. sinh viên đánh giá “độ tin cậy” càng cao thì sẽ làm gia tăng mức độ thỏa mãn của họ. chấp nhận giả thuyết H5 có nghĩa là sinh viên đánh giá “phương tiện hữu hình” càng cao thì sẽ làm tăng mức độ thỏa mãn của họ đối với chất lượng phục vụ dạy và học của nhà trường. Hệ thống các công trình phục vụ sinh hoạt văn hóa 66 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Thành phần khả năng đáp ứng có hệ số hồi quy là 0. Như vậy giả thuyết H1 được chấp nhận nghĩa là sự tin tưởng của sinh viên đối với nhà trường. Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng năng lực phục vụ là một trong những thành phần có tác động đến chất lượng dịch vụ.Coâng ngheä Thuûy saûn Thảo luận Kết quả phân tích hồi quy ở bảng 8 cho thấy thành phần sự tin cậy có hệ số hồi quy là 0.000 có ý nghĩa thống kê như vậy thành phần này có tác động dương đến sự hài lòng của sinh viên đối với công tác phục vụ dạy và học của nhà trường. Thành phần chi phí có hệ số hồi quy là 0. sinh viên đại đa số chỉ tiếp xúc và liên hệ công việc đối với Phòng Công tác sinh viên và văn phòng khoa là chủ yếu.089 có ý nghĩa thống kê ở mức 10%.004 và sig. chấp nhận giả thuyết H2 có nghĩa là sinh viên đánh giá “khả năng đáp ứng” càng cao thì sẽ làm tăng mức độ thỏa mãn của họ đối với chất lượng phục vụ dạy và học của nhà trường. giả thuyết H6 được chấp nhận có nghĩa là sinh viên đánh giá “chi phí cho học tập và sinh hoạt” càng cao thì sẽ làm giảm mức độ thỏa mãn của họ đối với chất lượng phục vụ dạy và học của nhà trường.028 có ý nghĩa thống kê ở mức 5% như vậy thành phần này có tác động ngược chiều đến sự hài lòng của sinh viên đối với công tác phục vụ dạy và học của nhà trường. Qua kết quả phân tích có thể thấy yếu tố phương tiện hữu hình tác động lớn nhất. = 0. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Chất lượng hoạt động phục vụ dạy học là nhân tố quan trọng giải thích cho sự hài lòng của người học. = 0. thầy cô và cán bộ phục vụ trong trường. = 0. = 0. Thư viện… Thứ hai. Phòng thí nghiệm thực hành. Tuy nhiên. tiếp đến là sự tin cậy và khả năng đáp ứng.096 và sig. IV.000 có ý nghĩa thống kê như vậy thành phần này có tác động dương đến sự hài lòng của sinh viên đối với công tác phục vụ dạy và học của nhà trường. máy chiếu giảng đường. Thành phần năng lực phục vụ có hệ số hồi quy là 0. Như vậy. Nhằm nâng cao chất lượng phục vụ dạy học của trường Đại học Nha Trang cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Thứ nhất.491 và sig. tăng cường việc đảm bảo các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy và học như hệ thống âm thanh.074 và sig. trong bối cảnh khảo sát tại trường Đại học Nha Trang việc nhận biết mức độ ảnh hưởng của năng lực phục vụ đối với sinh viên còn hạn chế. = 0.932 như vậy không có ý nghĩa thống kê và giả thuyết H3 bị bác bỏ.00) như vậy thành phần này có tác động dương đến sự hài lòng của sinh viên đối với công tác phục vụ dạy và học của nhà trường. Như vậy. Thành phần thái độ nhiệt tình cảm thông có hệ số hồi quy là 0.Taïp chí Khoa hoïc . = 0. Như vậy thành phần này có tác động dương đến sự hài lòng của sinh viên Soá 3/2011 và giả thuyết H4 chấp nhận có nghĩa là sinh viên đánh giá “thái độ nhiệt tình cảm thông” càng cao thì sẽ làm tăng mức độ thỏa mãn của họ đối với chất lượng phục vụ dạy và học của nhà trường. chính vì vậy việc đánh giá năng lực phục vụ của các bộ phận chức năng chưa được bao quát vì đó mà những phát biểu đối với thành phần này không gây được sự chú ý nhiều của sinh viên.243 và có ý nghĩa thống kê (sig. Thành phần phương tiện hữu hình có hệ số hồi quy là 0. đảm bảo các điều kiện cho sinh hoạt ăn ở của sinh viên như chất lượng phòng ở và thái độ phục vụ của nhân viên ký túc xá.

Nguyễn Huy Phong và Phạm Ngọc Thúy (2007). TIẾNG ANH 6. Nghiên cứu khoa học Marketing. NXB Thống kê 3. pp. Hoàn thiện trang web Soá 3/2011 của trường để giúp người học tiếp cận với thông tin từ nhà trường đầy đủ và nhanh chóng Thứ tư. Nguyễn Huỳnh Thái Tâm. A. tổ chức đội ngũ và các hoạt động cụ thể để phát huy tốt vai trò của trung tâm này. Volume 19. A & Berry. NXB Đại học Quốc gia TP.Coâng ngheä Thuûy saûn thể thao cho sinh viên. & Lee. chữa bệnh phụ sản tại Trung tâm Y tế thành phố Nha Trang. & Berry. Hồ Chí Minh”. 3. V. Kim. Luận văn thạc sỹ. 1. (1985).. S. “Đo lường chất lượng dịch vụ siêu thị và những hàm ý cho kinh doanh siêu thị tại TP. No. L.50. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 67 . 8. trường Đại học Nha Trang.. Volume 64. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhằm hỗ trợ việc phục vụ đào tạo tốt hơn. The service quality dimensions and patient satisfaction relationships in South Korea: Comparions across gender. 12 . Đề tài nghiên cứu cấp Bộ. Journal of Reatailing. Zeithaml. Hoàng Trọng Chu .. (1988). 140-149. The Journal of Services Marketing. and types of service.Nguyễn Mộng Ngọc (2005). A concept model of service quality and its implications for future research. K. L. (2003). TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 1. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang.. cải tiến nâng cao bao gồm chất lượng tổ chức hoạt động dạy học công tác giáo vụ. (2007). 7. 5. H.. L.40.SERQUAL hay SERVPERF. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Parasuraman. A. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ 2. SERVPERF: a multiple-item scale for measuring consumer perceptions of service quality. 4. Các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ khám. V. (2009). 49 (Fall): 41 . Lee. Zeithaml. age. Choi. Journal of Marketing. S. (2005). No. pp. nâng cao chất lượng cố vấn học tập và dịch vụ cho sinh viên như hình thành và tổ chức có hiệu quả hoạt động của Trung tâm hỗ trợ sinh viên. Nghiên cứu so sánh trong ngành siêu thị bán lẻ tại Việt Nam .Taïp chí Khoa hoïc . A. Parasuraman. Hồ Chí Minh. L. công tác tài chính. Đảm bảo công tác phòng dịch và y tế học đường Thứ ba. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang. C.

but they need help with selling their products. economic effeciency. capital. doanh thu ABSTRACT This study considers the economic efficiency aspects of commercial farming of Asian Sea Bass in Khanh Hoa province. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy: các hộ có quy mô diện tích nuôi từ 0. chiếm 3. đạt 17.0ha đạt hiệu quả cao nhất. Based on the results of a survey of 220 farmers conducted during 2007 and 2008. tuy nhiên họ cần có sự giúp đỡ.000 tấn [2]. VIETNAM Dương Trí Thảo.76%. hiện tại các hộ nuôi đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và cản trở.04 lần so với năm 2004.88% [1]. Currently. ĐẶT VẤN ĐỀ Sau khi các mô hình nuôi cá biển được triển khai áp dụng. cung cấp các thông tin về thị trường. hầu hết các hộ nuôi ở tất cả các vùng và các quy mô đều thua lỗ. tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản Khánh Hòa tăng gấp 2. Almost all households have expectations of developing this farming occupation. cản trở trong quá trình nuôi cũng như nguyện vọng của các hộ nuôi cũng đã được thực hiện. giá cả. năm 2005. revenue I.192 tấn. Năm 2008. Nguyễn Xuân Bảo Sơn Khoa Kinh tế . Từ khóa: Cá Chẽm. farmers have faced difficulties and obstacles.Taïp chí Khoa hoïc .63%. Nếu xét theo vùng. Dựa trên các kết quả số liệu điều tra từ 220 hộ nuôi trong hai năm 2007 và 2008. vốn và các mặt khác. farms. hiệu quả kinh tế. profit. 68 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Đến năm 2007. sản lượng cá nuôi đạt 2.62%.5ha đến 1. một khảo sát các ý kiến phản ánh những khó khăn.0 hectares in size have the highest efficiency with an average return on equity (ROE) of 18. The farmers’ opinions of problems and obstacles in their farming process are also investigated. Vietnam. Kết quả khảo sát cũng cho thấy. Trong vụ nuôi năm 2007. một hệ thống chỉ tiêu định lượng biểu hiện cho hiệu quả kinh tế của nghề nuôi này đã được tính toán mô tả và đánh giá. The results show that farms from 0. hỗ trợ về các mặt như tiêu thụ sản phẩm. information on market. tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu năm 2007 đạt 43. trong đó sản lượng cá Chẽm đã đóng góp đáng kể vào tổng sản lượng cá nuôi mặn.84%. In 2008.5 to 1. price. chiếm 13. Keywords: Asian Sea Bass.Coâng ngheä Thuûy saûn THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC Soá 3/2011 HIỆU QUẢ KINH TẾ NGHỀ NUÔI CÁ CHẼM THƯƠNG PHẨM TẠI TỈNH KHÁNH HÒA ECONOMIC EFFICIENCY OF ASIAN SEA BASS COMMERCIAL FARMING IN KHANH HOA. đạt 18. chiếm 45. Ninhhoa district was the most efficient region with an average ROE of farms in 2007 of 43. trong đó sản lượng cá nuôi đạt 678 tấn. Bên cạnh đó. nhưng hầu như tất cả các hộ đều có nguyện vọng tiếp tục phát triển nghề này. đạt 1.460 tấn.84% in 2007.Trường Đại học Nha Trang TÓM TẮT Nghiên cứu này tập trung xem xét một số khía cạnh hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá Chẽm thương phẩm tại tỉnh Khánh Hòa qua hai năm 2007 và 2008. loại quy mô này có tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sở hữu dương cao nhất. trang trại nuôi. lợ toàn tỉnh. lợi nhuận. and other forms of assistance.63%. Ninh Hòa là vùng nuôi có hiệu quả nhất. Regionally. almost all regions and sizes of farms sustained economic losses. economic quantitative variables related to performance are described and evaluated.

Tuy nhiên. Dữ liệu dùng cho nghiên cứu: + Các dữ liệu thứ cấp: số liệu được lấy từ Niên giám thống kê Khánh Hòa 2007 cùng với các số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khánh Hòa. chúng tôi đã sử dụng một số chỉ tiêu biểu hiện HQKT của nghề nuôi trồng thủy sản (các công thức và phương pháp Soá 3/2011 tính toán được thể hiện như trong các Bảng 3.3 42. Tp.Coâng ngheä Thuûy saûn Mặt dù nuôi cá Chẽm ở Khánh Hòa còn tiềm năng rất lớn về diện tích mặt nước nuôi trồng và có rất nhiều điều kiện thuận lợi về khí hậu. thủy văn. chi phí biến đổi. Nha Trang 3. 4 và 5). CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù phản ánh trình độ và năng lực quản lý. cản trở nào đã và đang ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh tế của nghề này? Định hướng tới cho sự phát triển của nghề này ra sao? Những câu hỏi này đã đặt ra vấn đề cần xem xét. Nghiên cứu này. 2007) [3]. Huyện Cam Lâm 4. đảm bảo thực hiện có kết quả cao những nhiệm vụ kinh tế xã hội đặt ra với chi phí nhỏ nhất (Nguyễn Đình Phan & Nguyễn Kế Tuấn. giá trị sản xuất tính cho 1 đồng chi phí sản xuất trung gian. chúng tôi chủ yếu xem xét mặt lượng của HQKT đối với nghề nuôi cá Chẽm thương phẩm tại Khánh Hòa.Phân bố mẫu: Phân bố mẫu tỷ lệ thuận với quy mô tổng thể [5]. . Thu nhập hỗn hợp (MI) và lợi nhuận (Pr). nhiều cơ quan chuyên ngành đóng trên địa bàn tỉnh.3 TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 69 . để xác định HQKT ở đây.0 43. Thị xã Cam Ranh Tổng số 20 16 231 241 508 9 7 100 104 220 45. Huyện Ninh Hòa 2. việc phát triển nghề nuôi cá Chẽm thương phẩm ở Khánh Hòa có thật sự mang lại hiệu quả kinh tế hay không? Các khó khăn. và mẫu của từng địa bàn nghiên cứu được mô tả bảng sau: Bảng 1.Phương pháp điều tra là phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản. giá trị gia tăng (VA). tính cho 1 đồng tổng chi phí sản xuất và tính cho 1 lao động… . . doanh thu và tương quan giữa chúng (lợi nhuận) để đánh giá HQKT của từng hộ và từng vùng nuôi. Số mẫu này là phù hợp quy định của FAO về mẫu trong nghiên cứu điều tra thống kê trong nuôi trồng thủy sản. đánh giá một cách đúng đắn hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá Chẽm thương phẩm tại Khánh Hòa. II. Phương pháp phân tích số liệu là phương pháp phân tích tổng hợp. Kotrlik & Higgins (2001)[4].8 43.Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và HQKT của 1 ha ao nuôi cá Chẽm thương phẩm bao gồm: giá trị sản xuất (GO). so sánh các chỉ tiêu theo thời gian và theo địa điểm nghiên cứu. được tính toán theo công thức của Bartlett. + Các dữ liệu sơ cấp: được thu thập bằng cách điều tra trược tiếp từ các hộ nuôi cá Chẽm thương phẩm tại Khánh Hòa thông qua bộ câu hỏi. Nghĩa là dựa trên các số liệu điều tra về các chỉ tiêu số lượng của các mục khoản chi phí cố định. Số lượng mẫu cần điều tra cho nghiên cứu này là 220 mẫu (220 hộ nuôi).2 43. nguồn giống nhân tạo. Phân bố mẫu nghiên cứu theo vùng Địa bàn Tổng hộ nuôi (hộ) Số mẫu điều tra (hộ) Tỷ lệ mẫu (%) 1. Cụ thể.Taïp chí Khoa hoïc .

882.60 triệu đồng).35 57.09 40.37 7.50 6.97 257.50 63.54 146.09 50.0 333.42 triệu đồng/ha.59 261.32 309.0 16. 4/2009.983. năm 2008. 70 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Tỷ suất giá trị sản xuất/Chi phí trung gian trung bình đạt 1.60 45.Coâng ngheä Thuûy saûn III.81 50.3 138.60 31. Doanh thu TB /ha/vụ 5.7 (3.3 22.9) 5. năm 2007.25 359.34 đồng.27 (47.65 44.75 229.7 2.429. Định phí TB /ha/vụ 4. Bình quân giá trị gia tăng trên mỗi hécta nuôi cá Chẽm vụ nuôi năm 2007 là 64.532.8 767.957.72 251.428. Tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế của 1ha ao nuôi cá Chẽm trong 2 vụ nuôi của năm 2007 và năm 2008 Vụ nuôi năm 2007 Các chỉ tiêu ĐVT Cam Lâm Cam Ranh Nha Ninh Trang Hòa Tổng cộng Cam Lâm Vụ nuôi năm 2008 Cam Ranh Nha Trang Ninh Hòa Tổng cộng 1. nghề nuôi cá Chẽm ở Khánh Hòa có hiệu quả kinh tế rất cao.45 512.296.241.1 23.6 4.91 305.8) (409.83 335.73 250.291.110. 4 và 5 cho thấy: vụ nuôi năm 2007.83 281.34 52.68 1.97 17. bình quân giá trị sản xuất đạt 251.41 242.61) (51.4 1.80 7.708.684.60) Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra mẫu của tác giả.30 7. tức là với 1 đồng chi phí trung gian mà các hộ nuôi bỏ ra để đầu tư nuôi cá Chẽm trong vụ nuôi năm 2007 thì thu được giá trị sản xuất là 1.70 258.đ/ha Vụ nuôi năm 2007 Các chỉ tiêu Cam Lâm Cam Ranh Nha Trang Ninh Hòa Tổng cộng Cam Lâm Vụ nuôi năm 2008 Cam Ranh Nha Trang Ninh Hòa Tổng cộng 1.61 266. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Soá 3/2011 1.05 173.52 27.11% so với giá của năm 2007). Các chỉ tiêu về chi phí sản xuất và lợi nhuận trung bình tính cho 1 ha ao nuôi/vụ ĐVT: tr.59 triệu đồng/ha.1) (8. Đánh giá các chỉ tiêu HQKT cho 1ha nuôi trên các vùng nghiên cứu Thông tin các Bảng 3.50 646. trong đó có cá Chẽm (giá bán sản phẩm ở mức rất thấp. Diện tích 2. năm 2008 chỉ bằng 77. Đánh giá kết quả kinh tế trên 1 hécta mặt nước nuôi cá Chẽm thương phẩm Thông tin các Bảng 2 và 3 cho thấy.97 236.9 1.24 278.2) (4.33 65. người nuôi bị lỗ nặng (trung bình mỗi hécta (ha) lỗ 50.404. Sản lượng TT 3.95 50.95 4.6 1.84 1. tất cả các chỉ tiêu đều âm.0 22.02 (50. Doanh thu 5. Năng suất BQ tấn/ha 2.0 325.1 53.84 6.19 196.78) 321.59 56.77 179.156.30 3.18 7.00 232.005.248.05 478.34 đồng giá trị gia tăng.1 5.30 7. và với 1 đồng đầu tư vào chi phí cố định để nuôi cá Chẽm thì thu được 5 đồng giá trị sản xuất/ha/vụ nuôi. Bảng 2. Bảng 3. Chi phí TB /ha/vụ 2.898.79 224.23 4.60 93.9 266.85) (30.94 82.5 19.8 2.90 166.1 14.32 71.71 45.31 251.52 58. Với mỗi 1 đồng chi phí trung gian đầu tư vào nuôi cá Chẽm trong vụ nuôi năm 2007 thì nó tạo ra được 0.31 164. Lợi nhuận TB/ha/vụ 212.80 18.975.8) (140.5 5.57 281.71 54.3 27.34 lần.414.Taïp chí Khoa hoïc .421.74 50.90 89.80 35.90 271.02 5.0 18.58 161. năm 2008 thì ngược lại. Nguyên nhân chính của hiện tượng này là: một mặt do ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu nên hầu hết giá các loại sản phẩm thủy sản xuất khẩu đều giảm mạnh.87 3.0 906. Tổng chi phí 4. trong khi đó.64 205.30 253.442.49 230.0 2.137. Biến phí TB /ha/vụ 3. Lợi nhuận ha tấn trđ trđ trđ 18.45 6.99) (53.33 29.

MI/IC 5.73 15. MI/LD 8. Khấu hao TSCĐ (A) 3.00 12.02 1.05 35.00 0.33 1. 3. 4/2009. VA/IC 3.21 0.99 42.44 0.01 0.TN BQ/LD/vụ 9.88 44.45 21.36) 9.03 0.82 67.86 Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra mẫu của tác giả.60) Bảng 5.28 118.04 0.99 (0.33 1.89 247.00 232. Thu nhập hỗn hợp (MI) 7.42 26.34 (2.57) (2.44 241.67 20.53 24.39 0.34 0. Giá trị sản xuất (GO) 5.09 4.41 7.08 (1.02 54.49 -16.73) (5.04 5.73 (0.42 61. Chi phí trung gian (IC) 2.84 18.31 0.77 31.35 5.33 90.84 115.06 3.00 0.15 27.76 2.33 6.52 64.30 15.Taïp chí Khoa hoïc .Pr/(IC+CL+A+T) Lần Lần Lần Lần Lần Tr.03 0.55 % 8.06 33.73 250.99) (1.26 1.49 34.05 -10.70 258.44 12.47) 3.88 67.50 37.00 23.08 2.29 1.01 (4.39 6.16 -15.54 3.05 12. Tổng hợp một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế trên 1ha mặt nước ao nuôi Vụ nuôi năm 2007 Các chỉ tiêu ĐVT Cam Lâm Cam Ranh Nha Trang Ninh Hòa BQ Cam Cam Lâm Chung Ranh Vụ nuôi năm 2008 Nha Trang Ninh Hòa BQ Chung 1.39 33.83 51.98 4.82 3.25 3.09 69.87 192.14 129.01) 4.37 -16.73 10.35 17.02 0.đ Tr.58 0.42 1.44 4.08 3.67 1.02) (0. Giá trị gia tăng (VA) 6.02) (0.62 -15.94 (0. GO/FC 4.72 251.80 271. năm 2007 tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 71 .17) 21.66 63.34 5.15 0.80 230.01) (0.48 187.37 0.đ 1.Coâng ngheä Thuûy saûn Bảng 4.99 1.02 45.60 105.60 114.đ/vụ 15.59 261.31 4.17 29.52 0.77 17.99) (53. Công lao động (CL) 4.32 1.59) 2.27 (47.02) (0.09) 107.đ/ha Ninh Hòa BQ Chung 1.98 (0.01) 4. GO/LD 7.84 22.06 108.99 0.14 0.02 4. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân tính theo vùng nuôi và quy mô diện tích mặt nước Kết quả số liệu ở bảng 6 cho thấy.53 0.16 1. GO/IC 2.30 253.31 128.24) (5.81 70. Lợi nhuận (Pr) 175.75 48.08) 127.83 29.92 22.85) (30.07 28.35 0.63 2.43 (2.12 161. Tổng hợp một số chỉ tiêu kết quả kinh tế trên 1ha mặt nước nuôi Vụ nuôi năm 2007 Các chỉ tiêu Cam Lâm Cam Ranh Nha Trang Ninh Hòa BQ Chung Cam Lâm Vụ nuôi năm 2008 Cam Ranh Nha Trang Soá 3/2011 ĐVT: tr.95 Tr.31 251.17 264.78) (50.61) (51.83 283.10) (0.72 272.83 281.38 1.95 66.93 53.03 (2.61 3. MI/FC 6.07 180.61) 27.

35 -10.63 41. Nếu xét theo vùng.5 đến dưới 2. Ninh Hòa 2. nhưng dễ thấy rằng loại quy mô 0.10 -18.86 -14.70 - 43. Bảng 6.20 -18. Cam Ranh 4. lợi nhuận đạt 35.5 đến dưới 1 ha Từ 1. 4. Các hộ nuôi có qui mô từ 0. Nha Trang 3.346 triệu đồng so với bình quân chung của tất cả các quy mô).5 ha Từ 1. 2009.09 -16.5 .19 -18. Tỷ suất lợi nhuận bình quân trên vốn chủ sở hữu của các hộ nuôi phân theo vùng và quy mô diện tích nuôi của vụ nuôi năm 2007 và năm 2008 Vụ nuôi năm 2007 Vùng nuôi Số hộ Dưới 0.95 -10. Cam Lâm Trung bình 5 2 86 24 117 16. tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu năm 2007 đạt 43. Kết quả điều tra chúng tôi thu được Bảng 7. qua điều tra. thổ nhưỡng Khánh Hòa. 72 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .33 -2.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 cho tất cả các vùng đạt 17.5 đến dưới 1 ha Từ 1. Cam Lâm Trung bình 9 7 104 100 220 -12.84 12.96% và 27. Trong năm 2008.5 đến dưới 2.82 16.1.0 đến dưới 1.08 Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra mẫu của tác giả. thu thập thông tin từ các hộ nuôi cá Chẽm tại Khánh Hòa cho thấy các hộ nuôi đang gặp khá nhiều khó khăn trong quá trình nuôi từ khâu con giống đến tiêu thụ sản phẩm.27 triệu đồng/ha.33 18.0ha có hiệu quả cao nhất.68 -19.08 14.16 17.84%. rất phù hợp với điều kiện đất đai. Ninh Hòa 2.Taïp chí Khoa hoïc .62 -18.5 .96%.09 18.0 ha Trung bình cho 1 ha 1.96 Vụ nuôi năm 2008 Vùng nuôi Số hộ Dưới 0.43 -18.1.0ha có mức lỗ thấp hơn. Những khó khăn thường gặp có ảnh hưởng đến nghề nuôi cá Chẽm thương phẩm tại Khánh Hòa Cá Chẽm là đối tượng tương đối dễ nuôi.0 ha Trung bình cho 1 ha ĐVT: % 1.19 -16.16 16.16 -16.03 13.85 -13.86 -16. ROE của các hộ này đạt 18.52 triệu đồng/ha.63 41.63%.09 18.71 -19.89 -14.5 ha Từ 1.5 ha Từ 0. Nha Trang 3. Cam Ranh 4.95 -15.45 43.88 -18. trong năm 2007.84 16. Tuy nhiên. Ninh Hòa là vùng nuôi có hiệu quả nhất. trong khi các con số tương ứng tính trung bình cho tất cả các vùng chỉ đạt 17. tương ứng với mức lợi nhuận là 28.78 -14.5 ha Từ 0.260 triệu đồng/ha (mức này cao hơn khoảng 1.0 đến dưới 1. hầu hết các hộ nuôi ở tất cả các quy mô đều thua lỗ (ROE âm).

vựa nên có đến 134 trong 220 hộ được điều tra.3 5. Thiếu thông tin về thị trường 10.2% cho rằng “Khá khó khăn”. Môi trường ô nhiễm 8. họ thường bị các nậu vựa ép giá.7 0.1 14.8 1.3 88. chiếm 18.6% số hộ điều tra cho rằng “Khá khó khăn” về vấn đề thiếu vốn. 4/2009.6 25.2 - Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra mẫu của tác giả. Đường giao thông khó khăn 5.5 34.6 0.4 42. Có 88 hộ. Khí hậu biến đổi 7. Thiếu hiểu biết khoa học kỹ thuật 6.5 58.5 74.4 1. Kết quả điều tra cũng cho thấy: có 88.1 13.9 60. Thiếu nguồn thức ăn 5. Có 109 hộ.5 55.9 14.1 0.7 60.5 32.9 13.6 1. và có 40 hộ.9% cho rằng “Rất khó khăn” về vấn đề giá cả. 13. Những khó khăn thường gặp của các hộ nuôi cá Chẽm tại Khánh Hòa Mức độ khó khăn theo đánh giá của hộ nuôi (%) Những khó khăn của các hộ nuôi cá Chẽm Không gặp khó khăn Khó khăn rất ít Trung bình Khá khó khăn Rất khó khăn 1. chiếm 55% cho rằng khó khăn mà họ gặp phải khi vay vốn là thủ tục vay phức tạp.5 34. Thiếu nguồn giống Những khó khăn trong quá trình nuôi 4.9 8. Người mua không ổn định 16.2% cho rằng “Rất khó khăn” về vấn đề thị trường và người mua không ổn định.2 3.9 0.55% số hộ điều tra cho rằng khó khăn của các hộ này gặp phải khi vay vốn ở ngân hàng là không đủ tài sản thế chấp.5 24. Bị ép giá 15. Thiếu các dịch vụ hỗ trợ nuôi trồng Những khó khăn khi thu hoạch cá để bán 12.4 39. kinh nghiệm trong việc nuôi trồng thủy sản cũng như trong nuôi cá Chẽm nhưng tài sản của họ không có giá trị lớn để thế chấp vay để đầu tư nên họ rất khó tiếp cận được với nguồn vốn lớn để đầu tư vào nuôi cá Chẽm.4 14.2 4.8 0.5 47. vì nhu cầu về vốn của các hộ nuôi là rất lớn mà khả năng tự thân của các hộ nuôi còn nhiều hạn chế.5 43. Khó tiêu thụ sản phẩm 11.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 Bảng 7.3 30.18% cho rằng khó khăn TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 73 .7 23.3 93.5 51.5 1.5 7.6 10.Taïp chí Khoa hoïc .1 6.1 50.5 0.5 34.2 0.1 21.3 7.5 9. Dịch bệnh 9.8 1.5 0.6 9.0 3. chiếm 60. chiếm 40% cho rằng khó khăn mà họ gặp phải khi vay vốn là chi phí khác quá cao. thiếu vốn đang hiện là vấn đề bức xúc đối với các cơ sở nuôi và là vấn đề thời sự trong nông thôn hiện nay. Kiểm tra dư lượng chất kháng sinh 13.5 37. chiếm 49.8 25.9 43. Bảo quản cá sau thu hoạch 14. Thiếu vốn 3. và có đến 43. có 121 hộ.8 47.6 51.2 3.1 12.4 44.0 96. Nguồn đầu ra chủ yếu của các hộ nuôi cá Chẽm hiện nay chủ yếu là các nậu. Mặc dù họ có năng lực. Thiếu diện tích đất 2.6 46.8 0.

tuy nhiên họ cần có sự giúp đỡ.27 triệu đồng.Coâng ngheä Thuûy saûn mà họ gặp phải khi vay vốn là thời hạn cho vay ngắn hơn thời gian nuôi cá/vụ. Có 104 hộ. có 181 hộ trong 220 hộ. lợi nhuận đạt 35.52 triệu đồng trên 1 ha.63%.45% cho rằng định hướng sắp tới của họ vẫn giữ nguyên không đổi quy mô nuôi và vẫn tiếp tục nuôi chờ đón giá lên của thị trường. Xu hướng phát triển của nghề nuôi cá Chẽm thương phẩm tại tỉnh Khánh Hòa.27% cho rằng việc nuôi cá Chẽm không hiệu quả và chuyển sang đối tượng nuôi khác. Ninh Hòa là vùng nuôi có hiệu quả nhất xét theo tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. đây là một khó khăn lớn mà các tổ chức ngân hàng cần phải tạo điều kiện để các hộ nuôi có đủ thời gian hoàn trả các khoản vay. chiếm 47. Các chỉ tiêu khác về hiệu quả kinh tế cho 1 ha ao nuôi và ở tất cả các vùng nuôi năm 2007 đều đạt rất cao. chiếm 8. chuyển một số diện tích nuôi sang đối tượng nuôi khác có thời gian nuôi ngắn hơn. Việc nuôi trồng của các hộ hầu như còn mang tính tự phát. Nguyện vọng phát triển của các hộ nuôi cá Chẽm thương phẩm Từ những khó khăn đã được đề cập trên. Kết luận Soá 3/2011 Có thể nói. có 19 hộ. Do có những khó khăn nhất định đã được nêu trên cùng với giá cả giảm sút mạnh làm cho người nuôi thua lỗ nên qua điều tra thống kê. chiếm 100% số hộ được điều tra cho rằng họ muốn được hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm. nhưng nguyên nhân chính của điều này là do tình hình thị trường và giá cả giảm sút quá mạnh.1.64% cho rằng cần được tạo nguồn giống có chất lượng và chỉ có 2 hộ. giá cả. 2. giá cả… và có đến 204 hộ. chiếm 15.5 . KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. nên về nguyện vọng phát triển của các hộ nuôi cá Chẽm thương phẩm thì có đến 220 hộ. chiếm 92. chiếm 82. trình độ nuôi của người dân đã được nâng cao.0ha có hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên. trong vụ nuôi năm 2007 mỗi ha ao nuôi đã có mức lãi 27. và tương tự có 24 hộ.84%. Mặc dù hiện tại các hộ nuôi đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và cản trở.Taïp chí Khoa hoïc . 6. Mặc dù vụ nuôi 2008 các kết quả này chưa được khẳng định mà còn bị thua lỗ nặng. bên cạnh đó vẫn còn 34 hộ. IV. tỷ lệ 0.91% cho rằng họ vẫn tiếp tục nuôi chờ đón giá lên của thị trường nhưng thu hẹp lại diện tích nuôi. bền vững thì các cơ quản quản lý các cấp cần có những giải pháp tích cực 74 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . chưa có sự định hướng và quản lý cũng như hỗ trợ kịp thời của các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức trung gian (ngân hàng. Tại 04 vùng nuôi ở Khánh Hòa. 5. Khuyến nghị Từ những kết quả nghiên cứu trên có thể thấy rằng. hiệp hội…). chiếm 10.27% cho rằng cần được cung cấp thông tin về thị trường. vốn và các mặt khác. nuôi cá Chẽm thương phẩm đang là một nghề có nhiều triển vọng về tiềm năng và hiệu quả kinh tế ở Khánh Hòa. nhưng hầu như tất cả các hộ đều có nguyện vọng tiếp tục phát triển nghề này. trong năm 2007.73% cho rằng cần được trợ giúp về vốn để phát triển nghề nuôi này. hỗ trợ về các mặt như tiêu thụ sản phẩm. ROE của các hộ này đạt 18. cung cấp các thông tin về thị trường. để nghề nuôi cá Chẽm phát triển một cách có hiệu quả. năm 2007 đạt 43.91% cho rằng cần được trợ giúp kỹ thuật nuôi điều này cho thấy rằng cá Chẽm là đối tượng rất dễ nuôi và kinh nghiệm. Kết quả nghiên cứu theo phương pháp điều tra chọn mẫu với 220 hộ nuôi tại 4 vùng nuôi của tỉnh đã cho thấy. Các hộ nuôi có quy mô từ 0.

Learning. 4. Organizational Research: Determining Appropriate Sample Size in Survey Research. tiêu thụ. No. nghiên cứu khoa học và tiêu thụ cá Chẽm tại Khánh Hòa để hợp tác. Tổ chức trung gian này (hiệp hội) còn là cầu nối và cải tiến quan hệ giao dịch vay vốn giữa ngân hàng và chủ hộ nuôi. Vol. các tổ chức cho vay cần cải cách thủ tục cho vay nhằm tránh phiền hà. tạo nguồn giống và thức ăn tốt. nâng cao giá trị sản phẩm. để cho các hộ nuôi có thể tiếp cận nguồn vốn đầu tư. Bartlett. and Performane Juornal. hỗ trợ.1 TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 75 . Information Technology. dịch vụ. giúp Soá 3/2011 đỡ lẫn nhau về kinh tế. kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh. phòng trừ dịch bệnh.Taïp chí Khoa hoïc .19. Niên giám thống kê Khánh Hòa 2007. nuôi. Nguyễn Kế Tuấn. 3. ngoài ra. Kinh tế và Quản lý Công nghiệp. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Báo cáo Tình hình nuôi.Coâng ngheä Thuûy saûn giúp bà con tháo gỡ và giải quyết triệt để những khó khăn. nguồn vốn tín dụng ưu đãi mà không cần thế chấp tài sản. xuất khẩu cá Chẽm ở Khánh Hòa. Hội Nghề cá Khánh Hòa (2009). Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa (2008). Kotrlik. Hà Nội. Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân. vướng mắc trong quá trình nuôi bằng một số việc làm cụ thể đó là: cung cấp thông tin và thị trường kịp thời cho người nuôi. &Higgins (2001). 2. Nguyễn Đình Phan (2007). tổ chức lại sản xuất theo hướng hình thành Hiệp hội nghề nuôi cá Chẽm thương phẩm nhằm tập hợp những cá nhân và tổ chức thuộc các thành phần kinh tế hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất giống.

Trang Sĩ Trung1.Taïp chí Khoa hoïc . độ tinh sạch. Chất lượng chitin quyết định chất lượng và tính chất của chitosan (Lertsutthiwong và cộng sự. 1996. MỞ ĐẦU Trong vài thập niên qua. 2002). độ nhớt của các mẫu chitosan sản xuất từ chitin tinh sạch thấp. protein thấp.com TÓM TẮT Chitin thô từ phế liệu tôm có hàm lượng khoáng và protein cao hơn quy định có thể được tinh sạch bằng cách xử lý với dung dịch HCl loãng để khử khoáng và xử lý với dung dịch NaOH loãng để khử protein. Tuy nhiên. 2010).* 1 Trường Đại học Nha Trang 2 Trường Đại học Bình Dương *Tác giả liên hệ: trangsitrung@gmail. để có thể sản xuất chitosan chất lượng cao để có thể ứng dụng trong lĩnh vực công nghiệp thì chất 76 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . viscosity of these chitosan samples were low. phân tử lượng. However. Vì vậy. xử lý môi trường đến dược học (Hirano. Chitosan sản xuất từ chitin tinh sạch đáp ứng được yêu cầu chất lượng sử dụng trong công nghiệp như hàm lượng khoáng. demineralization. Phạm Thị Đan Phượng1. chitosan đã được ứng dụng phổ biến trong rất nhiều lĩnh vực từ thực phẩm.Coâng ngheä Thuûy saûn THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC Soá 3/2011 TINH SẠCH CHITIN THÔ TỪ PHẾ LIỆU TÔM ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHITIN-CHITOSAN PURIFICATION OF CRUDE CHITIN FROM SHRIMP WASTE FOR IMPROVING THE QUALITY OF CHITIN-CHITOSAN Nguyễn Công Minh1. chitosan ABSTRACT Crude chitin extracted from shrimp waste with high mineral and protein content can be purified by treated with diluted HCl solution for demineralization and with diluted NaOH for deproteinization. công nghệ sinh học. chitosan đang sử dụng phổ biến trên thị trường chủ yếu được sản xuất từ chitin chiết rút từ phế liệu tôm. Keywords: crude chitin. purified chitin. nông nghiệp. 1996. Từ khóa: chitin thô. Kết quả cho thấy chitin sau khi tinh sạch có chất lượng đạt tiêu chuẩn ứng dụng công nghiệp. khử khoáng. chitosan I. độ deacetyl ở mức phổ biến. Để ứng dụng có hiệu quả thì đầu tiên chúng ta cần phải quan tâm đến chất lượng và tính chất của chitosan như độ deacetyl. Hoàng Ngọc Cương2. Chitosans prepared from the purified chitins had low ash and protein contents. Results showed that chitin after purification had accepted quality for industrial application. suitable degree of deacetylation. Park và Kim. khử protein. deproteinization. chitin tinh sạch. Stevens. Hiện nay.

Để nâng cao chất lượng chitin thì cần xử lý chitin để tiếp tục loại bỏ phần khoáng và protein còn lại đến mức theo yêu cầu. tiếp theo xử lý khử khoáng bằng dung dịch HCl với nồng độ 1. hàm lượng protein. Giá trị của p < 0. 2.Coâng ngheä Thuûy saûn lượng chitin nguyên liệu phải đạt yêu cầu. Các hóa chất khác sử dụng trong nghiên cứu là hóa chất dạng tinh khiết. 5. tỷ lệ chitin thô/dung dịch hóa chất 1:5 (w/v). Hai mẫu chitin thô: CTT 1: chitin thô chiết rút từ phế liệu tôm sú (Penaues monodon) được thu nhận tại Bạc Liêu và CTT 2: chitin thô chiết rút từ phế liệu tôm thẻ chân trắng (Penaues vannamei) được thu nhận tại Khánh Hòa. 2. Chuyển chitin thành chitosan: Các mẫu chitin sau khi tinh sạch CT1 và CT2 được deacetyl trong dung dịch NaOH 60% trong thời gian 3h ở 950C. ở các khoảng thời gian 3. cụ thể hàm lượng khoáng. 6.05 được xem là có ý nghĩa về mặt thống kê. Tinh sạch chitin thô: Các mẫu chitin thô được rửa sạch. 2008). chúng tôi xin trình bày quy trình tinh sạch chitin từ chitin thô và chất lượng của chitosan được sản xuất từ chitin tinh sạch. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 1. ở 650C với các khoảng thời gian xử lý khác nhau: 3. Kết quả được phân tích thống kê bằng phần mền Minitab. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 77 . Mẫu chitin thô CTT1 sau khi tinh sạch được đặt tên là CT1.Taïp chí Khoa hoïc . NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. 12 h ở nhiệt độ phòng. màu sắc không đẹp. protein <1%. 6. Đánh giá chất lượng của chitin và chitosan: Độ ẩm. sau đó rửa sạch đến trung tính thu được các mẫu chitosan tương ứng là CTS1 và CTS2. 3%. 4. phần lớn các quy trình sản xuất chitin đang được ứng dụng tại các cơ sở chitin đã có nhiều tiến bộ nhưng do chưa tập trung đúng mức để kiểm soát chất lượng chitin nên chitin thu được chỉ ở dạng thô. Trong bài báo này. Mẫu chitin được rửa sạch đến trung tính và tiếp tục Soá 3/2011 được khử protein bằng dung dịch NaOH ở các nồng độ 1. không chứa tạp chất (Rao và cộng sự. Chất lượng của chitin thô Các mẫu chitin thô được phân tích để xác định các chỉ tiêu chất lượng cơ bản và được trình bày ở Bảng 1. Mỹ. 3%. tỷ lệ chitin thô/ dung dịch hóa chất: 1:5 (w/v). II. Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu báo cáo là trung bình của 3 lần phân tích. Tiếp theo mẫu được rửa sạch đến trung tính thu được chitin. Độ deacetyl hóa được xác định theo phương pháp quang phổ (Wu và Zivanovic. 3. III. 2. 2007). hàm lượng tro được phân tích theo phương pháp chuẩn của AOAC (1990). Độ nhớt được của chitosan được xác định trên nhớt kế Rôto Brookfield. hàm lượng khoáng và protein còn lại trong thành phẩm khá cao (>1%) và chứa tạp chất. 12 h. mẫu chitin thô CTT2 sau khi tinh sạch được đặt tên là CT2. loại bỏ tạp chất. Tuy nhiên.

Hình 1. cần phải loại bỏ phần khoáng còn lại này bằng xử lý bằng dung dịch HCl loãng để hàm lượng khoáng còn lại trong chitin <1%. lượng khoáng còn lại trong mẫu chitin giảm từ gần 3% xuống còn khoảng 1% sau khi xử lý 6h. Tuy nhiên. nhiệt độ phòng. 78 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . độ đồng đều không cao. Các mẫu chitin CTT1 và CTT2 có hàm lượng khoáng giống nhau nhưng mẫu CTT2 có hàm lượng protein cao hơn. Tuy nhiên.4 4.3 ± 0. Vì vậy. cả hai mẫu đều có hàm lượng khoáng và protein cao hơn quy định (>1%).06 Kết quả cho thấy các mẫu chitin thô có màu vàng sẫm.2 ± 0.13 ± 0.02 ± 0. do phần khoáng còn lại này liên kết chặt chẽ với chitin và protein nên rất kho tách ra. Xác định điều kiện tinh sạch chitin thô Các mẫu chitin có hàm lượng khoáng tương đối cao (>4% so với trọng lượng khô). Kết quả quá trình khử khoáng chitin thô được trình bày trên Hình 1. thời gian 6 h. khi nồng độ HCl tăng từ 1% lên 2%. Hàm lượng tro còn lại trong chitin sau khi xử lý với HCl ở nhiệt độ phòng (26 . Chỉ tiêu chất lượng cơ bản của chitin thô Chỉ tiêu chất lượng Mẫu chitin CTT 1 CTT 2 Soá 3/2011 Màu sắc Độ đồng đều Độ ẩm (%) Hàm lượng tro (%) Hàm lượng protein (%) Vàng sẫm. Để đạt yêu cầu chitin kỹ thuật thì hàm lượng khoáng phải dưới 1% nên chế độ tách khoáng thích hợp được chọn là xử lý bằng HCl ở nồng độ 2%. tối màu. Vì vậy.2 3.67 ± 0. tối màu Thấp 7.30oC) Kết quả khử khoáng của các mẫu chitin thô từ phế liệu tôm sú (CTT1) và tôm thẻ chân trắng (CTT2) cho thấy nồng độ HCl có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quá trình khử khoáng.Coâng ngheä Thuûy saûn Bảng 1.Taïp chí Khoa hoïc . khi tăng nồng độ lên 3% thì lượng khoáng trong mẫu giảm không nhiều so với xử lý ở 2% (Hình 1).6 3.5 4.5 ± 0. 2.11 Vàng sẫm. Kết quả khử protein thô bằng NaOH loãng được trình bày trên Hình 2. để sản xuất được chitosan có chất lượng đạt tiêu chuẩn ứng dụng công nghiệp thì các mẫu chitin thô cần phải được xử lý khử khoáng và protein. tối màu Trung bình 7.

2. Chitin thô từ phế liệu tôm Rửa sạch. Hàm lượng protein còn lại trong chitin sau khi xử lý với NaOH ở 65oC Đối với quá trình khử protein của chitin thô cho thấy ở nồng độ NaOH 1% không đủ để loại protein trong mẫu chitin thô đến mức đạt yêu cầu (<1%). loại bỏ tạp chất để loại bỏ bụi bẩn. điều này có thể do phần protein này liên kết chặt chẽ với thành phần chitin nên rất khó tách ra. các tạp chất như giấy. chitin tinh sạch có màu trắng ngà. Tuy nhiên. Bên cạnh đó. thời gian1 Rửa trung tính Sấy/phơi khô Chitin Hình 3.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 Hình 2. 650C. Sơ đồ quy trình tinh sạch chitin thô từ phế liệu tôm Chitin thô có thể từ nguồn phế liệu tôm sú hoặc tôm thẻ. nhiệt độ phòng Rửa trung tính Khử protein còn lại bằng 2%NaOH. cát. 1 Thời gian xử lý là 12h và 6h tương ứng với chitin thô từ tôm sú và tôm thẻ. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 79 . sau khi tinh sạch màu sắc của chitin cải thiện nhiều. thời gian xử lý thích hợp là 12h đối với chitin thô từ tôm sú và 6h đối với chitin thô từ tôm thẻ. hàm lượng protein ở mức dưới 1% thì đạt yêu cầu chất lượng của chitin kỹ thuật nên nồng độ NaOH thích hợp là 2%.1. 6h. Đề xuất quy trình tinh sạch chitin thô từ phế liệu tôm Từ kết quả nghiên cứu trên.Taïp chí Khoa hoïc . Công đoạn rửa. sơ đồ quy trình tinh sạch chitin thô từ phế liệu tôm được đề xuất theo sơ đồ Hình 3. cụ thể với chitin thô CTT1 thì thời gian xử lý cần thiết là 12h nhưng đối với chitin thô CTT2 thì thời gian cần thiết chỉ là 6h (Hình 2). Ở nồng độ NaOH 2% thì có sự khác biệt về thời gian xử lý để giảm hàm lượng protein đạt yêu cầu (<1%). Tuy nhiên. khi tăng nồng độ NaOH đến mức 3% thì protein còn lại giảm không nhiều so với nồng độ NaOH 2%. loại bỏ tạp chất Khử khoáng bằng 2% HCl.

Bảng 2.4 0. Tính chất chitosan sản xuất từ chitin tinh sạch Chitin tinh sạch được tiếp tục deacetyl để chuyển thành chitosan.5 ± 2.4 ± 2.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 sạn.92 ± 0.7 ± 0. Công đoạn rửa cần phải đảm bảo mẫu sau khi rửa ở pH trung tính. độ đồng đều cao.2 0.6 ± 2.1 99. đáp ứng được yêu cầu chitosan ứng dụng trong công nghiệp (Rao và cộng sự. Chỉ tiêu chất lượng cơ bản của chitin sau khi tinh sạch Chỉ tiêu chất lượng Mẫu chitosan CT1 CT 2 Màu sắc Độ ẩm (%) Hàm lượng tro (%) 2 Trắng ngà 8.Taïp chí Khoa hoïc . Ngoài ra. Đánh giá chất lượng chitin tinh sạch được sản xuất theo quy trình đề xuất Các mẫu chitin thô CTT1 và CTT2 được tinh sạch theo quy trình đề xuất ở trên và các chỉ tiêu chất lượng cơ bản của chitin tinh sạch được trình bày ở Bảng 2. độ đồng đều tăng lên.91 ± 0.1 294 ± 28 84.93 ± 0. 2007). 2.15 0.7 Tính theo khối lượng khô tuyệt đối Kết quả cho thấy chitosan sản xuất từ các mẫu chitin tinh sạch có màu trắng ngà.60oC hoặc phơi nắng. Các công đoạn khử khoáng và khử protein được thực hiện ở điều kiện nêu trên với tỷ lệ chitin thô/dung dịch là 1/5.1 0.07 213 ± 21 86.4 0.2 Trắng ngà 8.6 ± 0. Chitin sau khi tinh sạch cần đóng gói cẩn thận và bảo quản ở nơi thoáng mát.96 ± 0.07 Hàm lượng protein2 (%) 2 Tính theo khối lượng khô tuyệt đối 3.2. Kết quả cho thấy chitin sau khi tinh sạch có màu trắng ngà. Bảng 3. CTS1 và CTS2 được xác định các chỉ tiêu chất lượng cơ bản và trình bày tại Bảng 3.9 ± 0. Chỉ tiêu chất lượng cơ bản của chitosan sản xuất từ chitin đã tinh sạch Chỉ tiêu chất lượng Mẫu chitosan CTS 1 CTS 2 Màu sắc Độ ẩm (%) Hàm lượng tro3 (%) Hàm lượng protein3 (%) Độ nhớt (cps) Độ deacetyl hóa (%) Độ tan (%) Độ đục (NTU) 3 Trắng ngà 7. Chitin được làm khô bằng phương pháp sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ 50 .1 Trắng ngà 9.96 ± 0.3 ± 0. Hàm lượng khoáng và protein trong các mẫu chitosan thấp.4 99.3 0. các mẫu 80 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . hàm lượng khoáng và protein <1%.3 ± 0. cụ thể các mẫu chitosan CTS1 và CTS2 thu nhận được từ mẫu chitin tinh sạch CT1 và CT2 tương ứng.94 ± 0.3 ± 0.2 24.12 0.5 ± 2.96 ± 0.91 ± 0.2 27.1 0.

103. 70. 2010). P. 237-258. KẾT LUẬN Chitin thô từ phế liệu tôm có thể được tinh sạch bằng phương pháp đơn giản. Proceedings of 2nd Asia Pacific Chitin-Chitosan Symposium.. W. Stevens. 3839-3843. N. Journal of Metals.. 1998). Thailand. F.. 1996.. C.. Na Uy trong việc thực hiện nghiên cứu này. I. T. 7.. V. 13. M. 3..Taïp chí Khoa hoïc . Determination of the degree of acetylation (DA) of chitin and chitosan by an improved first derivative UV method. Nhà xuất bản Nông Nghiệp. 4. Hirano. J. 2007. Stevens. LỜI CẢM ƠN Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của GS. and Chandrkrachang.M. 2008. Applications of chitin and its derivatives in biological medicine. Chitin biotechnology application. 12. Official Method of Analysis.S. Kyaw. 9.K. Kim. Biotechnology Annual Review. W. 46.. Effect of Chemical Treatment on the Characteristics of Shrimp Chitosan. 2002. (Eds). Nguyễn Thị Hằng Phương.. Thái Lan và GS.F.S.. Đại học Khoa học Công nghệ Na Uy. Chitosan: A key compound in biology and bioprocess technology. H. 2. Lertsutthiwong. W. M. Journal of Applied Polymer Science. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 81 . 5. Chitin-chitosan từ phế liệu thủy sản và ứng dụng. VA: Association of official analytical chemists. 1998.. Rao. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1..F. T. S. Chất lượng của chitosan sản xuất từ chitin tinh sạch cũng đạt tiêu chuẩn ứng dụng công nghiệp mặc dù độ nhớt hơi thấp. Chandrkrachang. 11. Trung. 2010. 1990. pp. Physicochemical characteristics and functional properties of various commercial chitin and chitosan products. S. Wu. 3694-3700. Y. 15th ed. Agric. Nguyễn Anh Tuấn. F. Stevens. Cho. Đại học Mahidol. Stevens. No. F. 8.K. S. How. Bangkok. K.. M. Kjell Morten Varum. International Journal of Molecular Sciences. Materials and Minerals. Chitin thô Soá 3/2011 được khử khoáng bằng dung dịch HCl loãng và khử protein bằng dung dịch NaOH loãng thu được sản phẩm chitin có chất lượng đạt tiêu chuẩn ứng dụng công nghiệp. 6. 11-18. S. Park. P. Optimum parameters for production of chitin and chitosan from squilla. 2010. Rao. làm cắt mạch chitin. tuy nhiên độ nhớt thì tương đối thấp (Cho và cộng sự. A. AOAC.Coâng ngheä Thuûy saûn chitosan có độ deacetyl nằm trong khoảng phổ biến của chitosan thương mại. and Meyers. 2. 73. 1996. 248–253. K.. Trần Thị Luyến. Zivanovic. Stevens. Trang Sĩ Trung. 1. 5152-5164. Food Chem. dẫn đến chitosan sản xuất từ các mẫu chitin này có phân tử lượng thấp và độ nhớt thấp (Trung và cộng sự. Độ nhớt thấp có thể do là trong quá trình sản xuất chitin thô từ phế liệu tôm thường được xử lý trong môi trường HCl và NaOH nồng độ cao và thời gian dài. W. W. S. Arlington.. VI. Carbohydrate Polymers. B.

Cone snail I. miles (38 cá thể/6 điểm thu mẫu). Bản đồ phân bố của các loài ốc phổ biến cho thấy ốc cối hiện diện ở hầu hết các điểm thu mẫu nhưng mật độ phân bố mùa khô cao hơn mùa mưa (lần lượt là 29 . C. Bùi Vân Khánh. Keywords: Conus. The distribution maps show that diminant Conus species has been found in most of sampling sites. striatus (54 individuals/10 sampling sites). Trung tâm quan trắc bảo tồn thế giới (World Conservation Monitoring Center) đánh giá Việt Nam là một trong 16 quốc gia có sự đa dạng di truyền cao trên thế giới. distribution map. and C. vexilum (42 individuals/8 sampling sites). KHANH HOA Đặng Thúy Bình.458 loài động vật. Nguyễn Thị Thu Nga Viện Ngiên cứu CNSH & MT . respectively). but the density is higher in dry season compared to the rainy one. và C. Nineteen species have been totally found at 10 sampling sites representatively for dry and rainy seasons. Số lượng cá thể/điểm thu mẫu vào mùa khô cao hơn mùa mưa và dao động từ 15 .017 loài thực vật và 3.55/100m2.Taïp chí Khoa hoïc .55 và 12 . striatus (54 cá thể/10 điểm thu mẫu). miles (38 individuals/6 sampling sites). Tổng số 19 loài được tìm thấy tại 10 điểm thu mẫu đại diện cho mùa khô và mùa mưa. the distribution of four common Conus species has been mapped. Việt Nam có tiềm năng về kinh tế biển với khoảng 20 hệ sinh 82 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .000 loài vi sinh vật. The number of individuals per location was found higher in dry than in the rainy seasons (29-55 and 12-22. đặc điểm phân bố của ốc cối tại vịnh Vân Phong (Khánh Hòa) và xây dựng bản đồ phân bố của một số loài phổ biến. Dữ liệu trên làm cơ sở cho các nghiên cứu bảo tồn nguồn lợi giống ốc cối có giá trị kinh tế và y học.Trường Đại học Nha Trang TÓM TẮT Ốc cối (Conoidea) là giống ốc độc có giá trị mỹ nghệ và là nguồn dược liệu quý. Từ khóa: Conus. C. Based on this data. Nghiên cứu này xác định thành phần loài. ốc cối ABSTRACT The Cone snail (Conoidea) is the toxic Conus species known as precious drug. Dominaant species are Conus textile (83 individuals/8 sampling sites).Coâng ngheä Thuûy saûn THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC Soá 3/2011 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA ỐC CỐI (CONUS SPP) TẠI VỊNH VÂN PHONG KHÁNH HÒA DISTRIBUTION OF CONE SNAIL (CONUS SPP) AT VAN PHONG BAY. Năm 1992.260km và có hơn 3. Khanh hoa Province. Van Phong Bay. This study presents the species composition and distribution of Conus species at Van Phong Bay. C. vịnh Vân Phong. C. Các loài phổ biến là Conus textile (83 cá thể/ 8 điểm thu mẫu). These data can be used for further research on conservation of this high value and medical species. bản đồ phân bố. 21.22).000 đảo lớn nhỏ. vexilum (42 cá thể/8 điểm thu mẫu). ĐẶT VẤN ĐỀ Bờ biển Việt Nam dài 3. Đa dạng sinh học của Việt Nam đặc trưng bởi 11.

2003) và khoảng 500 . 2005). xác định độc . 2003). mô tả đặc điểm hình thái. xây dựng mối quan hệ tiến hóa và bước đầu khảo sát độc tính của các loài ốc cối thu tại vùng biển Nam Trung bộ. Đài Loan). Những nghiên cứu về ốc cối ở Việt Nam phần lớn vẫn còn ở mức độ khảo sát. ốc cối còn được biết đến như là một loại dược liệu quý để chữa các cơn đau mãn tính. Nhiều loài nhuyễn thể có giá trị cao đang có nguy cơ tuyệt chủng như ốc tù và. Ngô Đăng Nghĩa và cs (2010) đã tiến hành khảo sát. English và cs.Taïp chí Khoa hoïc . đại diện cho mùa mưa và mùa khô (tháng 5 và tháng 10 năm 2010) quanh đảo Hòn Lớn thuộc vịnh Vân Phong (Khánh Hòa). com. Các thông tin liên quan đến địa điểm khảo sát (vị trí. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. trai tai tượng. 2004. ung thư và nhiều bệnh khác (Oliverra. Philippines. Ốc cối được định danh theo Röckel và cs (1995) và Nguyễn Ngọc Thạch (2007). 1997). Thông tin về 10 điểm thu mẫu được trình bày ở bảng 1. 2005). 90% các loài san hô cứng ở vùng biển Ấn Độ . những nghiên cứu sâu về đặc điểm phân bố của ốc cối vẫn còn rất hạn chế. Cunha và cs. hệ quy chiếu GW 84. có khoảng 1. Ở nước ta.000 loài bao gồm 2. Ở Việt Nam có hơn 76 loài (Hylleberg và Kilburm. mô tả đặc điểm hình thái (Nguyễn Ngọc Thạch.Thái Bình Dương được tìm thấy ở Việt Nam (Dang và Chu. Puillandre và cs. Tuy nhiên.vn/). TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 83 phân bố từ Bắc vào Nam. ốc đụn. 2002. ốc bàn tay. phương pháp thu mẫu và phân loại Mẫu ốc cối được thu 2 lần/ năm. gần 700 loài động vật nổi và 100 loài thực vật rừng ngập mặn. 1998.org.500 loài cá biển. Ốc cối là loại động vật thân mềm. II. ốc vú nàng (http://www.122km rạn san hô 2 Soá 3/2011 tính và kiểm chứng tính chất của một số độc tố (http://www. Terlau và Olivera. Địa điểm. Song những năm gần đây. Theo ước tính. Nghiên cứu này xác định thành phần loài và đặc điểm phân bố ốc cối ở vịnh Vân Phong (Khánh Hòa) để xây dựng bản đồ phân bố của một số loài ốc cối phổ biển làm cơ sở cho các nghiên cứu bảo tồn nguồn lợi giống thủy sản có giá trị kinh tế và y học. 225 loài tôm.com/Home/DuLich/cand. 2010). ốc là một trong những nguồn lợi hải sản có mức độ phong phú về thành phần loài. Gần đây. tình trạng khai thác quá mức cộng với sự ô nhiễm môi trường đang làm cho nguồn lợi ốc có chiều hướng suy giảm nghiêm trọng.000 loài động vật không xương sống.baomoi.vn/). có giá trị thực phẩm và kinh tế cao. Vị trí các mặt cắt (điểm khảo sát) có diện tích khoảng 100m2 và được xác định bằng máy định vị cầm tay GPS (Magellan JPS colour tract.vnio. phân loại. thời gian) được mô tả và ghi chép đầy đủ vào sổ nhật ký thực địa làm cơ sở cho việc lập bản đồ phân bố sau này. New Caledonia. có nọc độc.Coâng ngheä Thuûy saûn thái biển. 2002). hơn 200 loài thủy sinh vật.700 loài được ghi nhận trên toàn thế giới (Nam và cs. phân loại. Chúng thường được khai thác để làm hàng mỹ nghệ và còn là nguồn thực phẩm cao cấp ở một số quốc gia như Vanuatu. thu thập mẫu và tư liệu liên quan (Hylleberg và Kilburm. trong đó có khoảng 11. 2009. 15 loài cỏ biển và hơn 6. sống chủ yếu ở các vùng nước nông nhiệt đới. Mẫu được thu theo phương pháp lặn quan sát theo mặt cắt (Transect surveys) và quan sát tự do không theo mặt cắt (free-swimming observations) (Hodgson.

88”E 109°18’25. số lượng cá thể và sự phân bố của các loài ốc cối được trình bày ở bảng 2.65”N 12°38’52. litteratus và C. Một số loài rất hiếm gặp như C. marmoreus.03”N 12°34’10. và chụp ảnh. hình 1 . distans và C.23”N 12°38’52. 17’. hình 1 . lividus. vexilum (42 cá thể phân bố tại 8/10 điểm thu mẫu).31.36.38’ 02. striatus (54 cá thể phân bố khá đồng đều tại 10/10 điểm thu mẫu).Coâng ngheä Thuûy saûn Bảng 1.7”N 120.4. striatus.45”N 120.9 loài ở mùa mưa).82”E 109°22’33. betulinus và C. Loài có kích thước dao động lớn như C. vận chuyển nhanh về phòng thí nghiệm trong nitơ lỏng.65”N 12°36’12. Loài C.6”N 120.9). 0 khác biệt về kiểu vân trên vỏ (C. C. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1.6 E 0 ’ ” 12°37’56.2). leopardus.38’ 39.11. Thành phần loài.9”E 2. 19 . có sự khác nhau về màu sắc và vân trên vỏ (C. Một số loài biểu hiện sự đa dạng về mặt hình thái. mật độ phân bố ốc cối Chúng tôi đã tiến hành thu mẫu tại Vịnh Vân Phong (Khánh Hòa) tại 10 điểm thu mẫu. Loài phổ biến nhất là Conus textile (83 cá thể tại 8/10 điểm thu mẫu (nhiều nhất là 18 cá thể tại điểm 3. sau đó được lưu giữ ở -70 C.55 tổng cá thể/điểm thu mẫu vào mùa khô Dữ liệu phân bố (số cá thể/điểm thu mẫu) của một số loài phổ biến được sử dụng để xây dựng bản đồ phân bố bằng phần mềm Golden Software Surfer ver 8.12 loài ở mùa khô và 5 .4”E 1090.6”N 1090.37’ 31.51. miles (38 cá thể phân bố tại 6/10 điểm thu mẫu).27”E 109 . Số lượng cá thể tại các điểm thu mẫu dao động từ 15 . Hình thái ngoài của các loài trên được biển hiện ở hình 1. textile.1.30” 109°21’24.23) hay sự 84 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .Taïp chí Khoa hoïc .19. 18’. arenatus và C. hình 1 .6”E 1090. C. C.88”E 109°18’34. và loài C.38’ 02. betulinus. cụ thể ở Vân Phong tìm thấy 19 loài tại các điểm thu mẫu khác nhau giữa mùa khô và mùa mưa (9 . Kết quả cũng cho thấy tần xuất bắt gặp ốc cối vào mùa khô cao hơn so với mùa mưa (29 . Vị trí các điểm thu mẫu ở Vân Phong (Khánh Hòa) Ký hiệu Thời gian (mùa) Kinh độ Vĩ độ Soá 3/2011 D1 D2 D3 D4 D5 D6 D7 D8 D9 D10 5/2010 (khô) 5/2010 (khô) 5/2010 (khô) 5/2010 (khô) 5/2010 (khô) 10/2010 (mưa) 10/2010 (mưa) 10/2010 (mưa) 10/2010 (mưa) 10/2010 (mưa) 109°18’0. Nghiên cứu phân bố ốc cối Mẫu ốc cối được phân loại sơ bộ. litteratus và C. C. 20’. caractericus. leopardus. bandanus và C. Qua khảo sát cho thấy ốc cối ở vịnh Vân Phong khá đa dạng về thành phần loài (bảng 2). betulinus. Các loài có kích thước lớn như C.7”N 120. Một số loài khác cũng khá phổ biến là C. hình 1 . vexilum. C. khối lượng. lần lượt là 52 và 55 cá thể. cao nhất là tại điểm 3 và 5.12). Thành phần. Một số loài có đặc điểm hình thái rất giống nhau nên dễ gây nhầm lẫn (C.84”E 109°18’25.22. đo kích thước.39”N 12°33’11. quercinuss có mật độ phân bố trung bình. loài C.55/100m2 khu vực thu mẫu. ít nhất 5 cá thể ở điểm 8. III. leopardus.5).

trong đó họ phụ Coninae gồm giống Conus L 1758 (loài đặc trưng (type species) là Conus marmoreus L 1758) được phân thành các lớp phụ Asprella Schaufuss. trong đó nhiều nhất là vùng biển Ấn Độ . Phân bố cá thể ốc cối theo điểm thu mẫu tại vịnh Vân Phong. Điểm 1 . Trong nghiên cứu này. miles.Thái Bình Dương. Iredale 1852. Hylleberg và Kilburn (2003) đã xác định biển Việt Nam có khoảng 2. vexilum được tìm thấy ở hầu hết các điểm với số lượng cá thể gần như đồng đều (thấp nhất 4 cá thể. ốc cối thon nhí (Conus sp2.5 thu vào mùa khô và 6 . Loài C.). ốc cối đáy bằng Hình 2. Các tác giả cũng ghi chú 18 loài ốc cối được mô tả bởi Nguyễn Ngọc Thạch (2007) hoặc các công bố khác. vexilum và C. Tác giả cũng ghi nhận một số loài chưa được định danh. 1930. Tất cả các loài trên đã được định danh chính xác dựa trên đặc điểm hình TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 85 2. D3. textile phân bố rộng (8/10 điểm) và số cá thể được tìm thấy nhiều nhất ở các điểm thu mẫu 2 . 1852. trong khi đó loài C. Vigiconus Cotton.). Stephanoconus Morch. Lithconus Morch.10 thu vào mùa mưa (Conus (Rhizoconus) sp1. Trong đó. IV. THẢO LUẬN 1. striatus. miles được tìm thấy ở 6 điểm thu mẫu với số lượng cá thể trung bình (5 . 1852. chúng tôi tìm thấy 19 loài tại vịnh Vân Phong (chiếm 30% số loài bắt gặp ở Việt Nam). Conus monachus Linnaeus. nhưng những loài này không được ghi nhận có mặt ở Việt Nam hoặc tên của chúng đã thay đổi theo Röckel và cs (1995) như Conus luteus Sowerby. Montifort.). 1945.). Tuy nhiên. đối với các loài hiếm đôi khi chỉ gặp 1 đến 2 cá thể. tiếp theo là các điểm D2.Coâng ngheä Thuûy saûn và 15 .200 loài thuộc 700 giống của 200 họ phụ đã được công bố ở Việt Nam. striatus và C.5 (10 . 1930. Loài C. các loài phổ biến nhất C. 1833. mật độ phân bố ốc cối Thành phần loài và sự phân bố của động vật thân mềm đã được nghiên cứu trên hầu hết . ví dụ ốc cối thon dài (Conus sp1.18 cá thể). Các điểm có số lượng loài nhiều là D1 và D4 (có 12 loài). Thành phần loài.8 cá thể). D5 và D7 (có 9 loài) (bảng 2) Soá 3/2011 các vùng biển thế giới. Viroconus Iradale. C. Phasmoconus Morch.Taïp chí Khoa hoïc . 1758. Đặc điểm phân bố ốc cối Sự phân bố của ốc cối được thể hiện bằng bản đồ phân bố trên hình 3. Nguyễn Ngọc Thạch (2007) đã xác định có 39 loài ở Việt Nam thuộc họ Conidae. C. giống ốc cối được ghi nhận có khoảng 76 loài. 1869. Chelyconus Morch. Số lượng cá thể ốc tại từng điểm thu mẫu cũng nhiều hơn (5 . Về thành phần loài cũng có đặc điểm tương tự. cao nhất 10 cá thể).18 đối với các loài phổ biển và 2 . Tập hợp tất cả các nghiên cứu trong và ngoài nước và các mẫu vật thu được về khu hệ động vật thân mềm biển Việt Nam từ trước đến nay sau khi xem xét và điều chỉnh. 1852. (hình 2). textile.5 đối với các loài khá phổ biến. 1852. Pimoconus Morch. ốc cối rãnh cạn (Conus (Rhizoconus) sp1. Hermes Darioconus 1810.22 tổng cá thể/điểm thu mẫu vào mừa mưa). 1852. Rhizoconus Morch.

Theo điều tra khảo sát chúng tôi nhận thấy vào mùa khô là lúc thu mẫu dễ và nhiều nhất.) đến Vũng Tàu. 2. Các loài phổ biển nhất là C.Taïp chí Khoa hoïc . Nam Australia. C.Nam như ở Nam Phi. trong khi năm 2010 chúng tôi thu được loài C. Vào mùa mưa. ốc cối phân bố chủ yếu ở các vùng ven biển thuộc khu vực Nam Trung bộ từ Đà Nẵng (Khánh Hòa. và C.vinaseashells. Phú Quý.. vexilum 42 cá thể. Hoàng Sa. Patagonic. vùi mình trong cát hoặc ở dưới các tảng đá hoặc sỏi (Röckel và cs. Mật độ phân bố lớn nhất của chúng đạt 40 cá thể/m2 (Kohn và cs. Đây là loài ốc ăn cá và được biết đến là một trong các loài có tính độc cao nhất trong số các loài ốc cối (http:// vn.8cm) lớn hơn hẳn so với các mẫu thu được vào mùa mưa (3 . textile 13 cá thế. miles có số lượng cá thể là 38. qua đợt khảo sát tại vịnh Vân Phong. Soá 3/2011 Qua 2 đợt thu mẫu.. So sánh với dữ liệu phân bố của ốc cối thu ở Vân Phong năm 2009 (Ngô Đăng Nghĩa và cs. geographus) là loài được công bố phổ biến ở Việt Nam. ban ngày thường vùi mình trong cát nên rất khó phát hiện hoặc do cơ thể có kích thước lớn. 2001). Panamic. vexilum 5 cá thể. C.htm). chúng tôi nhận thấy năm 2010 có sự đa dạng hơn về loài và số lượng cá thể. striatus 13 cá thể và C. 1995) Ở Việt Nam. vexilum. Tuy nhiên loài C. Loài C. Kết quả này cũng khá phù hợp với các nghiên cứu trước đó (Ngô Đăng Nghĩa.Tây Thái Bình Dương (Indo-West Pacific). Sông Cầu) đều không thấy sự xuất hiện của ốc cối địa lý (C. Có thể số lượng đợt/điểm thu mẫu năm 2010 nhiều hơn và tập trung vào mùa khô và đầu mùa mưa nên tần suất bắt gặp nhiều hơn so với mẫu thu năm 2009 (chủ yếu vào cuối mùa mưa). Có thể ốc cối địa lý có thói quen săn mồi vào ban đêm. 2010). Ốc cối được tìm thấy chủ yếu ở các rạn san hô. 1995). 86 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . trong đó ở vịnh Vân Phong có 12 loài tại 6 điểm thu mẫu.Thái Bình Dương. Cụ thể kết quả khảo sát ở 4 tỉnh (Quảng Nam. cũng như thu mẫu dọc bờ biển Nam Trung Bộ (Lý Sơn. Nam Nhật Bản và biển Địa Trung Hải. striatus và C.4cm). Kiên Giang. dưới rạn san hô. rạn san hô. Cù Lao Chàm.com/oc-coi-nau. Chúng có thể ở các vùng nước nông gần rạn san hô. Peruvian. Quảng Ngãi. 2010). C. Nhìn chung. striatus 54 cá thể. có thể do nhiệt độ xuống thấp hơn. Một vài loài ốc cối sống ở rừng ngập mặn. Tuy nhiên. miles cũng phân bố rộng nhưng tần suất bắt gặp và số lượng cá thể ít hơn. Đặc điểm phân bố ốc cối Giống ốc cối thường phân bố ở vùng vĩ độ giữa 400 Bắc và 400 Nam. textile. Cù Lao Chàm. Trường Sa. Bình Thuận. chúng tôi nhận thấy tần xuất bắt gặp ốc cối vào mùa khô cao hơn mùa mưa (hình 2). Một số lượng đáng kể ốc cối sống xa bờ hoặc ở những vùng nước sâu đến 400m (Röckel và cs. Caribbean. và quanh các đảo (như Lý Sơn. nhưng đa dạng nhất ở khu vực Ấn Độ . textile 83 cá thế và C. Bình Thuận. màu sắc đẹp nên chúng bị khai thác tập trung dẫn đến sự suy giảm về số lượng. chúng trốn vào các hốc. thuộc các vùng biển: Ấn Độ . ốc cối xuất hiện ở hầu hết các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới. Đồng thời kích cỡ mẫu ốc của cùng loài thu vào vào mùa khô (6 . ghềnh đá. miles có số lượng cá thể là 19. Khánh Hòa và Bình Thuận) năm 2009 tìm thấy 18 loài.Coâng ngheä Thuûy saûn thái và sự đa dạng về màu sắc và vân trên vỏ đã được ghi nhận (hình 1). Tây và Nam Phi và Địa Trung Hải. C. Một vài loài có thể phân bố ở vĩ độ trên 400 Bắc .

Tuy nhiên. Theo Röckel va cs (1995). loài C. D9. C. Loài C. striatus và C. Ốc cối có mặt ở hầu hết các điểm thu mẫu nhưng mật độ phân bố mùa khô cao hơn mùa mưa. Biển Đỏ. đặc biệt đối với loài C. Tazania. Tuy chưa có loài ốc cối nào được xếp trong sách đỏ hoặc được ghi nhận có nguy cơ tuyệt chủng. textile được ghi nhận là phân bố trên toàn khu vực Ấn Độ . Kết quả nghiên cứu về thành phần loài. Madagasca. Trong khi đó. nhưng thường sống chui trong các kẽ rạn san hô ở độ sâu từ 10 . mật độ và khu vực phân bố của ốc cối ở vịnh Vân Phong (Khánh Hòa) có thể làm cơ sở cho công tác bảo tồn và bảo vệ nguồn lợi. C. vexilum có phạm vi phân bố gần như nhau. vexilum. geographus. striatus phân bố ở rất nhiều vùng khác nhau tại khu vực Ấn Độ .htm). striatus. textile. loài C. litteratus và C. KẾT LUẬN Ốc cối là nguồn tài nguyên quý giá về mặt mỹ nghệ và gần đây rất được chú trọng vì những ứng dụng của độc tố trong nghiên cứu sinh học thần kinh và y dược học.70m. generalis. D4 và D5) và mùa mưa (Điểm D8. quercinus. từ vùng dưới triều đến độ sâu khá lớn. C. miles có mức độ phân bố đồng đều giữa mùa khô (Điểm D1. 1995).com/oc-coi-nau. Vine (1986) lại ghi nhận sự có mặt của loài ở Biển Đỏ. Việt Nam nằm trong khu vực Thái Bình Dương. striatus. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng khá phù hợp với các nghiên cứu trước đây. C. C. Leopardus. Số lượng cá thể mùa khô cao hơn so với mùa mưa. loài C. miles phân bố trên toàn khu vực Ấn Độ . nhưng với tốc độ khai thác như hiện nay. C. C. trong đó. imperialis. vexilum được ghi nhận phân bố ở nhiều khu vực thuộc Ấn Độ . vexilum. ở độ sâu càng lớn thì khả năng bắt gặp các loài ốc cối càng nhiều và có kích thước lớn (6 .Coâng ngheä Thuûy saûn Long Hạ. C. C. Côn Đảo). V. Đôi khi thấy chúng vùi trong cát ở vùng rạn phẳng. Một số loài có thể sống ở vùng xa bờ (http:// vn. Ốc cối được dùng làm hàng mỹ nghệ.vinaseashells. vì vậy tần xuất bắt gặp các loài trên cũng rất cao. và C.Thái Bình Dương như Aldabra. Các loài hiếm gồm C. loài ốc với giá trị dược liệu cao sẽ phải đối mặt với nguy cơ suy giảm nguồn lợi nghiêm trọng và ảnh hưởng đến cấu trúc quần thể tự nhiên. từ Nam Phi đến Biển Đỏ. Ốc cối ở vịnh Vân Phong (Khánh Hòa) khá đa dạng về loài (19 loài) và các loài phổ biến có mật độ phân bố cao là Conus textile.Taïp chí Khoa hoïc . textile. textile có số lượng cá thể được tìm thấy nhiều nhất. Cả bốn loài trên đều có vùng phân bố rất rộng. distans. Kết quả của Ngô Đăng Nghĩa và cs Soá 3/2011 (2010) cũng cho thấy các loài trên bắt gặp ở các vùng khảo sát thuộc khu vực Nam Trung bộ với mật độ cao.8cm) so với gần bờ (3 .Thái Bình Dương. C. Loài C.Thái Bình Dương. arenatus và C. miles.4cm). vì vậy các loài có kích thước lớn và màu sắc đẹp đang bị khai thác với số lượng lớn. Theo Ngô Đăng Nghĩa và cs (2010) và kinh nghiệm của ngư dân cho thấy càng xa bờ. trừ vùng Biển Đỏ. Dựa trên bản đồ phân bố của các loài ốc cối (hình 3) ta thấy loài C.Thái Bình Dương (Röckel và cs. Chúng có dải phân bố rất rộng. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 87 . Điều này cũng có thể do sự tăng cường đánh bắt ốc cối có kích thước lớn ở các khu vực gần bờ trong những năm gần đây dẫn dến sư suy giảm về số lượng và kích thước loài. Hawaii và bán đảo Pháp. Các loài ốc được ghi nhận phổ biến ở Việt Nam như C. D10) nhưng số lượng cá thể mùa khô tương đối nhiều hơn. quần đảo Chagos.

12. C. Hình thái vỏ của các loài ốc cối phân bố ở biển Việt Nam 1.4. lividus. 14. 16. disstans. 9. 3. stratus. C. 22. 18. 11. vexilum. C.Taïp chí Khoa hoïc . imperialis. C. 8. C. Conus leopardus. quercinus. 88 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . betulinus. magus. litteratus. caracteriscus. 19. 17. terebra. 7. C. marmoreus. miles. C. 2. 15. C. C. C. 13. generalis. distans. textile. Conus cf. 10. C. C. tessulates. C. 5. C. C. 6. C. 20.23. C: capitaneus.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 Hình 1. bandanus. 21. C.

terebra 19 C. generalis 1 15 C.Coâng ngheä Thuûy saûn 7 C. leopardus Số cá thể/Điểm thu mẫu 33 Soá 3/2011 TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 89 Số loài/Điểm thu mẫu 12 . bandanus 1 11 C. imperrialis 2 16 C. litteratus 1 13 C. marmoreus 2 17 C. Thành phần và số lượng các loài ốc cối thu tại vịnh Vân Phong (Khánh Hòa) năm 2010 D2 D3 D4 D5 D6 D7 D8 D9 D10 Tổng số STT Tên loài D1 1 6 5 8 2 3 1 3 1 1 2 3 1 2 2 1 1 1 29 9 9 55 53 12 37 9 21 5 22 9 15 7 22 7 17 6 2 1 1 1 1 1 1 1 1 1 2 1 1 3 1 3 1 2 1 1 3 1 2 4 1 5 1 2 2 1 2 6 6 5 6 8 6 5 4 5 5 10 7 5 4 4 6 5 54 42 38 15 11 9 8 7 5 5 5 4 4 4 4 3 3 1 C. vexillum 4 4 C. miles 7 5 C.Bảng 2. tessulatus 18 C. striatus 7 3 C. quercinus Taïp chí Khoa hoïc . magus 1 10 C. distans 14 C. caracteriscus 2 8 C. betlulinus 3 6 C. textlie 10 18 16 15 8 6 5 5 83 2 C. lividus 12 C. capitaneus 2 9 C.

Zardoya R. Australia. Survey Manual for Tropical Marine resources. Australian Institute of Marine Science. Biodiverity in Vietnam. miles) tại 10 diểm thu mẫu (đánh số từ D1 – D10) ở vịnh Vân Phong (Khánh Hòa) năm 2010. C. Townsville. 54:634-650. 2005. Syst Biol.. 3. striatus. Patterns of cladogenesis in the venomous marine gastropod genus Conus from the Cape Verde islands.Taïp chí Khoa hoïc . Second edition. Ruber L. V. C. 2. C. Barker. S. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. The 2005-report (the fourth) of Vietnam Environmental Monitors (VEM). English.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 Hình 2. Bản đồ phân bố các loài ốc cối phổ biến (Conus textile. Dang Thi An. Wilkinson. 90 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . vexilum và C. 2005.. Độ lớn của các vòng tròn thể hiện số lượng cá thể ốc của từng loài. Cunha RL. Chu Thị Thu Hà. 1997. Castilho R.

. 7. Red Sea Invertebrates.N. B. M. Germany. Corneli PS. A. 6.. Kohn AJ. 165-68. 11. Australia 184 p. Nguyen Ngọc Thạch. Evolution of conus peptide genes: Duplication and positive selection in the a-superfamily. 2004. W. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 91 .T. Koike Y. Wiesbaden. 9. Bandyopadhyay P. diet and habitat on reefs of northeast Papua New Guinea. 84: 41–68. 5. London. 14. 2007. 10. 2009. 13. 1998.J. Vine. Puillandre N. Ngô Đăng Nghĩa và cs. Korn. 2003. Kohn. Pp.Wilkinson (ed) Status of Coral Reefs of the World: 1998. Olivera BM. Immel Publishing. Maximal species richness in Conus: diversity. H. Conus venom peptides: reflections from the biology of clades and species. Watkins M.. Nam HH. K. Terlau. R. Tropical Marine Molluscs Program (TMMP). Yamakawa H. 224 pp. 1995. 8.Pacific Region). In: C. Hodgson. 2010. 2002. Annu Rev Ecol Syst 33. 53:645-652. 200 pp. Manual of the Living Conidae (Vol. Townsville. Olivera BM. 1986. Olivera B.. Báo cáo tổng kết dự án “Bảo tồn tiềm năng di truyền các loài thủy hải sản Việt Nam”. Watkins M. G. 2010. D. L ‘Informator Piceno & N. J Mol Evol (in press) 12.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 4. Italy. Proceeding of. Olivera. Multiple genes elucidate the evolution of venomous snail-hunting conus species. Röckel.N. Hylleberg. Physiol Rev. Australian Institute of Marine Science. Recently collected shells of Vietnam. Mol Phylogenet Evol. 2009-2010. I: Indo. Coral Reefs 20: 25–38.Taïp chí Khoa hoïc . J and Kilburm. Conus Venoms: A rich source of novel ion channel-targeted peptides. Omori M. Marine Molluscs of Vietnam. Reef Check and sustainable management of coral reefs. 2001. Verlag Christa Hemmen. 16th International Congress and Workshop.

23. The present study was therefore designed to investigate the species composition of the penaeid shrimps in Khanh Hoa province and evaluate their diversity level compared to other coastal areas. followed by the genera of Metapenaeopsis (5 species. the genus of Penaeus had the largest number of species (7 species. Khanh Hoa 92 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .3%).3%). Giống Parapenaeus và Litopenaeus có số lượng loài thấp nhất (cùng 1 loài. fishing ports and coastal markets in Khanh Hoa province and then identified by using the currently common materials and methods. 23. Kết quả nghiên cứu cho thấy.8%).8%). Metapenaeus (4 loài. The genera of Parapenaeus and Litopenaeus had a lowest number of species (1 species. tiếp theo là các loài thuộc giống Metapenaeopsis (5 loài. 14. Trong đó. Basically. Trần Văn Dũng. respectively.3%). giống Penaeus có số lượng loài phong phú nhất (7 loài.8%).Taïp chí Khoa hoïc .8%). Về cơ bản. Các mẫu tôm he được thu từ thuyền của ngư dân. 19%) và Trachypenaeus (3 loài. 33. Natural resources and distribution of penaeid shrimps are important bases for exploitation. Nguồn lợi tôm he tự nhiên và sự phân bố của chúng là cơ sở quan trọng cho việc khai thác.Coâng ngheä Thuûy saûn THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC Soá 3/2011 THÀNH PHẦN LOÀI HỌ TÔM HE (PENAEIDAE) Ở KHÁNH HÒA SPECIES COMPOSITION OF PENAEID SHRIMPS IN KHANH HOA PROVINCE Lê Thị Hồng Mơ.Da Nang provinces but lower than that of Quang Ngai and the Guft of Tonkin. and conservation of the shrimps. Nghiên cứu phân loại thành phần loài tôm he tại tỉnh Khánh Hòa được thực hiện nhằm xác định thành phần loài trong họ tôm he của tỉnh và đánh giá mức độ đa dạng của chúng so với các vùng biển khác. 4. 4. nuôi trồng và bảo tồn các đối tượng này.3%). Within the scope of these results. species composition. culture. 14.Đà Nẵng nhưng thấp hơn so với vùng biển Quảng Ngãi và vịnh Bắc Bộ. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy. 21 loài thuộc 6 giống trong họ tôm he được định loại tại Khánh Hòa. The result showed that 21 species belonging to 6 genera of the penaeid family were found and identified in Khanh Hoa province. 33. Metapenaeus (4 species. The result also showed that the species composition of penaeid shrimps in Khanh Hoa province was similar to those of other coastal regional faunas in Vietnam where there is an abundance of the species abundance of the genera Penaeus and Metapenaeus. thành phần giống loài tôm he ở vùng biển Khánh Hòa tương tự như các vùng biển khác với sự phong phú về thành phần loài thuộc các giống Penaeus và Metapenaeus. Khánh Hòa ABSTRACT Penaeid shrimps (Penaeidae) consist of a large number of highly priced species and have become common and important cultured species in the aquaculture industry in Vietnam. mức độ đa dạng về thành phần loài tôm he ở Khánh Hòa ở mức độ trung bình và tương tự như các vùng biển Quảng Bình . thành phần loài. the species abundant level of penaeid shrimps in Khanh Hoa province considered to be average level and similar to that of Quang Binh . Nguyễn Thời Duy Khoa Nuôi trồng Thủy sản . Keywords: Penaeid shrimps. 19%) and Trachypenaeus (3 species.Trường Đại học Nha Trang TÓM TẮT Họ tôm he (Penaeidae) bao gồm nhiều loài có giá trị kinh tế cao và hiện là những đối tượng nuôi chính của nghề nuôi trồng thủy sản nước ta. Từ khóa: Họ tôm he. cảng cá và chợ trên địa bàn tỉnh và được định loại thông qua những tài liệu phân loại tôm he phổ biến hiện hành. Samples of penaeid shrimps were collected from ships and boats.

Ngoại trừ hai loài TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 93 . đòi hỏi đầu tư hơn nữa cho công tác nghiên cứu về khu hệ động vật biển nói chung và nguồn lợi tôm he nói riêng. đồng thời góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi. các loài tôm he thu được trong nghiên cứu này là những loài có giá trị kinh tế cao và đều được sử dụng làm nguồn thực phẩm có giá trị. MỞ ĐẦU Họ tôm he (Penaeidae). trường Đại học Nha Trang. đặc biệt là các loài thuộc giống Penaeus và Metapenaeus.160mm).22 loài thuộc 5 . các dẫn liệu về thành phần loài tôm he ở vùng biển Khánh Hòa vẫn chưa được đề cập. tuy nhiên. Số lượng gai trên telson. là họ tôm có thành phần loài phong phú và gồm nhiều loài có giá trị kinh tế nhất trong các họ tôm biển ở nước ta [3. Total Length: khoảng cách từ mũi chủy đến cuối telson khi thân tôm nằm trên 1 đường thẳng [1]) được xác định bằng thước đo có độ chính xác 1mm. khai thác và sử dụng bền vững nguồn lợi tôm he.Coâng ngheä Thuûy saûn I. 8. 6]. Mẫu sau khi thu được bảo quản trong dung dịch formol 10%. gờ. Các tài liệu phân loại được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm: khóa định loại của Kubo (1949). các cảng cá và các chợ trên địa bàn tỉnh từ tháng 5/2007 đến tháng 5/2008. giúp tăng thu nhập. 9]. đốt đuôi.Taïp chí Khoa hoïc . rãnh hiện diện trên giáp đầu ngực và các đốt bụng. Thành phần loài họ tôm he (Penaeidae) thu được ở Khánh Hòa Kết quả nghiên cứu cho thấy: 21 loài thuộc 6 giống của họ tôm he đã được định loại ở Khánh Hòa (Bảng 1). Việc định hướng sử dụng bền vững nguồn lợi tôm he là vấn đề cấp bách. 5. Holthuis (1980). KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1. Starobogatov (1972). Các mẫu tôm he được thu từ các thuyền của ngư dân. những bất cập và thiếu thống nhất trong việc quy hoạch và quản lý nghề nuôi và khai thác tôm he đã ảnh hưởng đến nguồn lợi và sự phát triển bền vững của nghề nuôi tôm he. với 60 loài thuộc 10 giống. Màu sắc tự nhiên của tôm khi còn sống. các loài có giá trị kinh tế cao thuộc giống Penaeus và Metapenaeus chiếm ưu thế lần lượt là 7 và 5 loài trong tổng 21 loài thu được. Cấu tạo chân ngực Soá 3/2011 và các đốt trên chân ngực. Mẫu sau khi định loại được lưu giữ tại Phòng Bảo tàng Thủy sinh vật. với hai đối tượng chính là tôm sú (Penaeus monodon) và tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei). III. Nhìn chung. Nguyễn Văn Chung và Phạm Thị Dự (1995). 4. cấu tạo răng chủy và công thức chủy. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu là thành phần loài họ tôm he tại Khánh Hòa. đã và đang giữ một vị trí rất quan trọng trong cơ cấu ngành thủy sản nước ta. 3. Kết quả này tương tự với số lượng loài thu được tại một số vùng biển như Quảng Bình . Trong số các loài thu được. tạo công ăn việc làm cho nhiều nông ngư dân. Nghiên cứu được thực hiện nhằm thống kê thành phần loài tôm he hiện có tại vùng biển Khánh Hòa. 5] và Quảng Ngãi (33 loài thuộc 7 giống) [5]. chúng tôi nhấn mạnh việc định loại thành phần loài họ tôm he thông qua các đặc điểm của thelycum và petasma. Các gai. II.6 giống) [2]. 4. 6]. là cơ sở khoa học cho việc quy hoạch.320mm) hơn so với các giống còn lại (40 . Chiều dài toàn thân (TL. Nghề nuôi tôm he. 7. Trong nghiên cứu này. Tuy nhiên. 4. nhưng ít hơn so với vùng vịnh Bắc Bộ (35 loài thuộc 10 giống) [4. Đặng Ngọc Thanh và Phạm Thị Dự (2000) [3. Hình dạng và cấu tạo cơ quan sinh dục (thelycum và petasma). Các loài thuộc giống này đều có kích thước lớn (120 .Đà Nẵng (21 . ĐỐI TƯỢNG. Một số nghiên cứu đã đề cập đến thành phần loài tôm he của một số vùng biển nước ta [2. Nguyễn Văn Chung. Các dấu hiệu phân loại bao gồm: Hình dạng chủy.

japonicus Bate. monodon Fabricius. ensis de Haan. 1931 Metapenaeopsis Bouvier. semisulcatus de Haan. dalli Racek. Edwards. vannamei* Boone. 1957 Parapenaeus Schmitt. 1943 P. 1888 P. 1837 M.Coâng ngheä Thuûy saûn đều thường gặp. fissuroides Alcock. 1901 Penaeus Fabricius. latisulcatus Kishinouye. merguiensis de Man. Danh mục thành phần loài họ tôm he ở Khánh Hòa STT Phân loại Tên tiếng Việt Soá 3/2011 Penaeus longistylus và Metapenaeus lamellata ít gặp trong quá trình thu mẫu. Milne. 1850 M. pescadoreensis Schmitt. mogiensis Rathbun. M. 1860 T. đa số các loài còn lại Kích thước (mm) I 1 II 2 3 4 5 6 III 7 8 9 10 IV 11 V 12 13 14 15 16 17 18 VI 19 20 21 Litopenaeus Pérez Farfante. palmensis Haswell. dalei Rathbun. 1896 P. 1931 Tôm he chân trắng Tôm he chân trắng Tôm vỏ đỏ Tôm vỏ bông Tôm vỏ u rộng Tôm chủy phiến Tôm đỏ đali Tôm vân đỏ Tôm rảo Tôm rảo đất Tôm rảo đuôi xanh Tôm bột Tôm rảo đan Tôm he giả Tôm he giả gờ cao Tôm he Tôm bạc thẻ Tôm rằn Tôm he Nhật Bản Tôm vằn Tôm he đỏ Tôm sú Tôm he Ấn Độ Tôm đanh Tôm đanh móc Tôm đanh chân dài Tôm đanh vòng 40 – 90 50 – 100 40 – 90 160 – 180 150 – 180 140 – 180 130 – 170 140 – 180 180 – 320 120 – 160 50 – 105 132 – 159 80 – 140 90 – 150 65 – 85 60 – 85 50 – 85 50 – 91 40 – 60 50 – 100 140 – 160 * Loài có nguồn gốc từ Trung . intermedius Kishinouye. 1969 L. 1888 P. 1902 Metapenaeus Wood – Mason. 1891 M. 1900 M. 1850 M. Bảng 1. curvirostris Stimpson. affinis H.Taïp chí Khoa hoïc . 1875 T.Edwards. 1879 M. 1901 T. 1798 P. lamellata de Haan. 1905 M. longistylus Kubo. 1850 M. 1902 M. 1798 P. longipes Paulson. 1837 Trachypenaeus Alcock. nhất là các loài thuộc giống Penaeus. indicus H. barbata de Haan. 1850 P. 1885 P.Nam Mỹ được di nhập vào Việt Nam từ năm 2002 94 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG .

7 loài) [2.0 35.3 14.0 43.0 35.8%) (Bảng 2).0 41. 19%) và giống tôm đanh Trachypenaeus (3 loài.7 36. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy.Đà Nẵng) [2.1.0 4.3%).8%). Tiếp theo lần lượt là các giống tôm vỏ đỏ Metapenaeopsis (5 loài. 14.8 23.3 100 TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 95 . mùa vụ khai thác và điều kiện tự nhiên và cần được làm sáng tỏ trong các nghiên cứu tiếp theo. 4. Thành phần giống loài tôm he tại Khánh Hòa so với các vùng biển khác Bảng 3.3 100 Kết quả định loại thành phần và tỷ lệ giống loài họ tôm he tại Khánh Hòa cho thấy: Giống tôm he Penaeus có số lượng loài nhiều nhất (7 loài) chiếm 33. Giống tôm he giả Parapenaeus và giống tôm he chân trắng (Litopenaeus) có số lượng loài thấp nhất (cùng 1 loài.3 35.8 33.2. Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể liên quan đến việc thu mẫu. 2. giống tôm rảo Metapenaeus (4 loài. 5] trong khi lại không bắt gặp ở Khánh Hòa. Kết quả này tương tự như các kết quả thu được từ các vùng biển miền Trung khác từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi với số lượng loài thuộc giống Penaeus và Metapenaeus chiếm ưu thế hơn hẳn (lần lượt là 9/33 và 6/33 loài ở Quảng Ngãi và 6/22 và 5/22 loài ở các tỉnh Quảng Bình . Thành phần và tỷ lệ các loài tôm he tại Khánh Hòa Bảng 2.3%. Thành phần và tỷ lệ các loài tôm he tại tỉnh Khánh Hòa STT Tên giống Số lượng loài Soá 3/2011 Tỷ lệ (%) 1 2 3 4 5 6 Litopenaeus Metapenaeopsis Metapenaeus Parapenaeus Penaeus Trachypenaeus Tổng 1 5 4 1 7 3 21 4.Taïp chí Khoa hoïc .3 43.Đà Nẵng (3/22 loài). Thành phần loài tôm he ở Khánh Hòa so với các vùng biển khác STT Vùng biển Số giống Tỷ lệ (%) Số loài Tỷ lệ (%) 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Vịnh Bắc Bộ [5] Quảng Bình [2] Quảng Trị [2] Thừa Thiên Huế [2] Đà Nẵng [2] Quảng Ngãi [5] Khánh Hòa ĐB sông Cửu Long [6] Nam Bộ [5] Tổng [4] 10 6 6 6 5 7 6 9 6 10 100 60 60 60 50 70 60 90 60 100 35 21 21 25 22 33 21 26 26 60 58. Đáng chú ý là các loài thuộc giống Parapenaeopsis chiếm tỷ lệ cao ở các vùng biển miền Trung khác (4 . Cấu trúc thành phần loài 2. số loài thuộc giống Metapenaeopsis chiếm ưu thế ở vùng biển Khánh Hòa (5/21 loài) và Quảng Ngãi (6/33) trong khi chúng lại chỉ chiếm tỷ lệ thấp tại các vùng biển Quảng Bình .7 55.8 19.Coâng ngheä Thuûy saûn 2. 23. 5].

Ngược lại. cần có những nghiên cứu sâu hơn về điều kiện tự nhiên của các vùng biển để làm rõ sự khác biệt này. 6]. lamellata M.Taïp chí Khoa hoïc . palmensis M. mức độ phong phú và đa dạng về thành phần giống loài của họ tôm he ở Khánh Hòa thuộc mức trung bình và tương tự như các vùng biển Quảng Bình. 3. chỉ thấy có ở vùng biển từ Nam Trung bộ tới vùng biển phía Đông và phía Tây Nam bộ [4].Nhật Bản) xâm nhập xuống phía nam chỉ tới vịnh Bắc Bộ hoặc Bắc Trung bộ. Quảng Trị và Đà Nẵng (Bảng 3). vùng ven biển nước ta có 60 loài tôm he thuộc 10 giống [4].Coâng ngheä Thuûy saûn Theo Nguyễn Văn Chung và ctv. (2000). Sự đa dạng hơn về thành phần các giống trong họ tôm he được ghi nhận ở vùng biển vịnh Bắc Bộ (10/10 giống) và Đồng bằng sông Cửu Long (9/10 giống). Điều này được giải thích là do vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên khác nhau của mỗi vùng biển dẫn đến một số loài có nguồn gốc phương bắc (nhóm loài Trung Hoa . dalli Parapenaeus fissuroides Penaeus merguiensis 96 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . intermedius M. 5. affinis M. kết quả nghiên cứu cho thấy. Hình ảnh các loài thuộc họ tôm he thu được ở Khánh Hòa Litopenaeus vannamei Metapenaeopsis barbata M. Tuy nhiên. một số loài có nguồn gốc phương nam mở rộng phân bố lên phía bắc. mogiensis Metapenaeus ensis M. Nhìn chung. sự đa dạng về thành phần loài được ghi nhận ở vùng biển vịnh Bắc Bộ (35/60 loài) và Quảng Soá 3/2011 Ngãi (33/60 loài) [4. dalei M. trong khi.

japonicus P. 14. tiếp theo là các loài thuộc giống Metapenaeopsis (5 loài.8%). 4.Taïp chí Khoa hoïc . semisulcatus P. Thành phần giống loài tôm he ở Khánh Hòa tương tự như các vùng biển khác với ưu thế của các loài thuộc giống Penaeus và Metapenaeus. nuôi và bảo vệ bền vững nguồn lợi tôm he.33%).Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 P. pescadoreensis IV. Cần có những nghiên cứu về sản xuất giống thêm một số loài tôm he có giá trị kinh tế cao nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi và góp phần bảo tồn nguồn lợi tôm he. đặc biệt là các loài thuộc giống Penaeus và Metapenaeus. longistylus P. monodon P. Cần có nghiên cứu về điều tra nguồn lợi tôm he tại vùng biển Khánh Hòa làm cơ sở khoa học cho việc khai thác. các loài thuộc giống này đều có kích thước lớn hơn (120 . KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Thành phần giống loài họ tôm he (Penaeidae) ở Khánh Hòa bao gồm 21 loài thuộc 6 giống.320mm) so với các giống còn lại (40 . mức độ đa dạng về thành phần loài tôm he ở Khánh Hòa ở mức độ trung bình và tương tự như các vùng biển Quảng Bình . latisulcatus P. indicus Trachypenaeus curvirostris T. Giống Parapenaeus và Litopenaeus có số lượng loài thấp nhất (1 loài. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 97 . 23. giống Penaeus có số loài phong phú nhất với 7 loài (chiếm 33.8%). Hầu hết các loài tôm he thu được tại Khánh Hòa đều là những loài có giá trị kinh tế cao và thường gặp.Đà Nẵng nhưng thấp hơn so với vùng biển Quảng Ngãi và vịnh Bắc Bộ. 19%) và Trachypenaeus (3 loài. Mặt khác. Metapenaeus (4 loài. Về cơ bản. Trong đó.3%).160mm). longipes T.

Công nghệ Thủy sản. 4. 36(1). NXB Tp. Nguyễn Văn Chung. Starobogatov Y. Thành phần loài họ tôm he (Penaeidae) ở vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi. Penaeidae (Crustacea. Soá 3/2011 2.143. Fish. trường Đại học Cần Thơ.467. Phan Thế Hữu Tố. 359 . Zool. Tôn Thất Chất. NXB Khoa học và Kỹ thuật.415. 6. (1949). The Fauna of the Tonking Gulf and condition of life in it. Decapoda) of Tonking Gulf. Nghiên cứu phân loại họ tôm he (Penaeidae) ở một số tỉnh vùng ven biển miền Trung Việt Nam. FAO. (1972). Tạp chí Khoa học. Nguyễn Văn Thuận và Cao Thị Thanh Hà. 9. Tạp chí Khoa học . 2008. Nguyễn Văn Chung. Inst. Vol. FAO. Shrimps and Prawns of the world. Studies on the Penaeides of the Japanese and its adjacent water. Nguyễn Đình Mão. Phạm Thị Dự. 1.I. 98 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . 2006.B. 4. Hà Nội. Tokyo. NXB Khoa học và Kỹ Thuật. Hà Nội. Jour. 5. L. 7. Danh mục tôm biển Việt Nam. X. FAO Species catalogue. Explorations of the fauna of the sea. Hồ Chí Minh. 8. 1. Động vật chí Việt Nam . 3.1980. 2000.Taïp chí Khoa hoïc . 49. An annotated catalogue of species of interest to fisheries. 2008. Nguyễn Văn Thường. Roma. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.. Coll. Cập nhật về hệ thống định danh tôm biển và nguồn lợi tôm họ Penaeidae ở vùng biển Đồng bằng sông Cửu Long. 1 .Tôm biển. tập I. Đại học Huế. Trần Minh Anh (1989). Đặng Ngọc Thanh. Kubo I. Vol. FAO Species catalogue. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học. Nguyễn Văn Chung và Phạm Thị Dự (1995). Fisheries Synopsis. Acad USSR. 134 . Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi tôm he.Coâng ngheä Thuûy saûn V. Holthuis.

Trong đó. 16S rDNA. 16S rDNA. ăn cá. Among them. các loài ốc thuộc nhóm ăn giun biển được phân tách rõ ràng hơn trên cây tiến hóa với hai nhóm dinh dưỡng còn lại. Đây là lần đầu tiên một nghiên cứu quan hệ phát sinh loài ở mức độ phân tử được tiến hành trên các các loài ốc cối Việt Nam. distributes mostly in warm tropical seas and are considered as precious pharmaceuticals. class Gastropoda. contributing to the conservation of Conus genetic sources. After sequencing. phân bố chủ yếu ở các vùng biển nhiệt đới và vùng biển ấm và được xem là nguồn dược liệu quý. phát sinh chủng loại phân tử ABSTRACT The genus Conus belonging to the family Conoidea. Kết quả cho thấy sử dụng chỉ thị 16S rDNA đã phân chia các loài ốc cối thuộc các kiểu dinh dưỡng khác nhau (ăn giun biển. Total 18 Conus species were collected. phân bố ở vùng ven biển Nam Trung bộ. Tổng số 18 loài ốc cối đã được lấy mẫu. Trương Thị Thu Thủy. molecular phylogeny TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 99 .Coâng ngheä Thuûy saûn THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC Soá 3/2011 XÂY DỰNG CÂY PHÁT SINH CHỦNG LOẠI PHÂN TỬ CỦA ỐC CỐI CONUS SPP. The results indicate that using the 16S rDNA marker the phylogentic tree of Conus species with different feeding modes (vermivorous. Ngô Đăng Nghĩa Viện Nghiên cứu CNSH & MT .Trường Đại học Nha Trang TÓM TẮT Giống ốc Conus thuộc họ ốc cối Conidae. Việt Nam dựa vào chỉ thị di truyền phân tử 16S rDNA ty thể. lớp chân bụng Gastropoda. Đặng Thúy Bình. vermivorous species were separated more clearly than molluscivorous and piscivorous species. trình tự các đoạn gen 16S rDNA của 18 loài này được kết hợp với 3 trình tự từ Genbank để xây dựng cây chủng loại phát sinh bằng cách sử dụng 3 thuật toán maximum parsimony. ăn nhuyễn thể) thành 4 nhánh chính. maximum likelihood và Bayesian inference. It is the first time a molecular phylogentic analysis of Conus species in Vietnam was reported. the partial 16S rRNA gene sequences were combined with 3 sequences from Genbank to construct a phylogenetic tree using three analysis methods of maximum parsimony. Keywords: Conus. Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm xây dựng cây phát sinh chủng loại của các loài ốc Conus spp. molluscivorous and piscivorous species) was divided into four main clusters. IN THE COASTAL REGIONS OF SOUTHERN CENTRAL OF VIETNAM Phạm Thu Thủy. The aim of this study is to construct a phylogenetic tree of Conus species collected from coastal regions in the Southern Central of Vietnam based on the mitochondrial genetic molecular marker. Sau khi giải trình tự gen. Ở VÙNG BIỂN NAM TRUNG BỘ VIỆT NAM MOLECULAR PHYLOGENY OF VENOMOUS CONE SNAILS CONUS SPP.Taïp chí Khoa hoïc . bộ Sorbeoconcha. order Sorbeoconcha. 16S rDNA. góp phần quan trọng vào công tác bảo tồn và lưu giữ nguồn gen ốc cối. maximum likelihood and Bayesian inference. Từ khóa: Conus.

2008. 16S rRNA. Hầu hết các loài ốc Conus nhiệt đới sống trong hoặc gần các rạn san hô. 1995). 1980. nghiên cứu mối quan hệ tiến hóa giữa các loài ốc cối đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện và xác định đặc tính của các conotoxin mới. có màu sắc sặc sỡ và hoa văn rất đa dạng. Do di chuyển chậm nên khi bắt một số con mồi di chuyển nhanh như cá chúng sử dụng độc tố để tấn công làm tê liệt con mồi. 2006. màu sắc và hoa văn vỏ. Độc tố ốc cối (conotoxin) là những chuỗi peptide tương đối nhỏ.30m và dưới các tảng đá ở vùng triều nông. Australia. 2007). DNA ty thể đã được chứng minh là công cụ hữu hiệu trong phân tích đa dạng loài (McArthur và cs. bộ Sorbeoconcha. nad1-trnP. giàu liên kết disulfide. các chỉ thị DNA ty thể thường được sử dụng kết hợp với các chỉ thị nhân có tốc độ tiến hóa thấp hơn và trong một số trường hợp 100 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . 2000). 2009). Tuy nhiên. Nam và cs.000 peptide độc tố ốc cối khác nhau. tRNA-Val và một số vùng không mã hóa như vùng liên gen trnF-cox3. Các marker chuẩn của DNA ty thể thường được sử dụng là các gen mã hóa cytochrome b. Duda và Kohn. Việc phân tích quan hệ phát sinh chủng loại của các loài dựa trên các đặc điểm hình thái giải phẫu (chủ yếu là kích thước. Trong đó chiếm đa số là giống ốc cối Conus (Linnaeus. cox3-trnK. cùng với họ Terebridae và Turidae làm thành tổng họ Conoidea. Ốc cối là động vật ăn thịt. Grande và cs. 2001. trong các nghiên cứu tiến hóa gần đây. Grande và cs. Indonesia. Việc sử dụng toàn bộ trình tự DNA ty thể cũng nâng cao độ phân giải và độ tin cậy thống kê so với sử dụng từng đoạn gen riêng lẻ (Mueller.Taïp chí Khoa hoïc . Duda và cs. Tuyến độc của mỗi loài ốc cối chứa khoảng từ 100 . cox1-cox2. Tuy nhiên. 2003. mối quan hệ phát sinh chủng loại của các loài thuộc giống ốc cối vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để do các marker phân tử của DNA ty thể tỏ ra ít tin cậy khi được áp dụng để xác định vị trí phân loại của các loài mới tách ra (Espiritu và cs. Chính vì vậy. Ốc cối có hình chóp thuôn dài. dài khoảng 10 . atp6-trnM. cho tới nay. Một số công trình nghiên cứu đã cho thấy mối tương quan rõ rệt giữa cấu trúc và hình dáng dải răng kitin của ốc cối với phương thức dinh dưỡng chuyên biệt (James. ĐẶT VẤN ĐỀ Họ ốc cối Conidae thuộc lớp chân bụng Gastropoda. Thức ăn chính của chúng là giun biển. 2009). một số loài có thể thích ứng với sự thay đổi của điều kiện môi trường như ở vùng biển nóng mũi Hảo Vọng.Coâng ngheä Thuûy saûn I. Vì vậy.200 polypeptide khác nhau. kích thước rất khác nhau tùy theo loài (loài lớn nhất có thể dài đến 23cm). Franklin và cs. 2006. cấu tạo của hệ thống tiêu hóa) thường mang lại kết quả không ổn định nhất là đối với các loài có quan hệ gần gũi và vì vậy có nhiều đặc điểm hình thái giải phẫu giống nhau (Röckel và cs. 1758) với khoảng 700 loài (Nam và cs.40 amino acid (Olivera và cs. nhuyễn thể. các loài cá nhỏ và thậm chí các loài ốc cối khác. Nam Phi hay vùng biển lạnh phía tây Califonia. Duda và cs. 12S rRNA. Mexico. Hoa Kỳ. 2008). 2009). Đối với lớp chân bụng Gastropoda. 2005). chúng ăn mồi sống. Chúng phân bố chủ yếu ở các vùng biển nhiệt đới và vùng biển ấm như Philippines. Từ các nghiên cứu độc tố của các loài ốc Soá 3/2011 ăn cá cho thấy những loài có quan hệ gần gũi thường chứa các peptide độc tố tương đồng về mặt chức năng hơn so với các loài có quan hệ xa (Regina. Florida và Hawaii. Vì vậy. người ta dự đoán có khoảng 70. trong khi các loài cận nhiệt đới được tìm thấy chủ yếu tại vùng dưới triều ở độ sâu từ 10 . 2002.

Các cá thể ốc cối được giữ trong nitơ lỏng và bảo quản ở -70oC. Taq buffer 1X.2% nhuộm ethidium bromide. 0. C. 2005. thu thập mẫu và tư liệu liên quan. 28S rRNA. literatus. nghiên cứu phát sinh chủng loại ở mức độ phân tử được tiến hành trên các đối tượng ốc cối Việt Nam nhằm góp phần vào công tác bảo tồn và lưu giữ nguồn gen ốc cối Việt Nam. C. 2. 47oC trong 40 giây. Tuy nhiên.2010. EF1-α. 2008. Một vấn đề gây quan ngại đó là một số loài ốc cối có vỏ rất đẹp. 3. marmoreus. Sản phẩm PCR được điện di trên gel agarose 1. C.25 nM mỗi loại dNTP. C. Vì vậy. C. capitaneus. calmodulin. tiếp theo là 35 chu kỳ của 94oC trong 40 giây. bandanus. C. Hiện vẫn chưa có nghiên cứu phát sinh chủng loại nào về ốc cối Việt Nam được tiến hành ở mức độ phân tử.3′ (Espiritu và cs. Nam và cs. Cunha và cs. C. textile và C. vân đa dạng nên thường được khai thác lấy vỏ làm đồ mỹ nghệ. C. Tại Việt Nam. II. ốc cối phân bố chủ yếu ở các vùng ven biển thuộc khu vực Nam Trung bộ từ Đà Nẵng đến Kiên Giang và quanh các hải đảo (như Trường Sa. nguồn dược liệu quý này có thể bị mai một. Tách chiết DNA và nhân gen bằng kỹ thuật PCR DNA tổng số được tách chiết từ phần mô cơ chân bò của từng cá thể ốc cối bằng bộ kit Wizard SV genomic DNA purification system (Promega) theo hướng dẫn của nhà sản xuất. C. 2005. 0. và vùng không mã hóa như đoạn chèn ITS1 và ITS2 (Nam và cs. Duda và Kohn. lividus. 1999. 2009). VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. C. 72oC trong 90 giây và giai đoạn cuối ở 72oC trong 5 phút. Các loài được khảo sát bao gồm: Conus arenatus. tessulatus. generalis. miles. distans. 2001). Hoàng Sa. Kết quả được ghi nhận sử dụng hệ thống ghi ảnh gel tự động Geldoc và phần mềm Quantity One® (Bio-rad). 2 mM MgCl2 và 1 đơn vị Taq polymerase) trên máy luân nhiệt Icycler (Bio-rad) theo chương trình nhiệt như sau: biến tính ban đầu tại 94oC trong 3 phút. Histone H3. betulinus. caracteristicus. C. Bandyopadhyay và cs. Đoạn gen 16S rDNA được khuếch đại bằng cặp mồi 16S (Integrated DNA Technologies) có trình tự như sau: mồi xuôi 16SF 5′-CCGGTCTGAACTCAGATCACGT-3′ và mồi ngược 16SR 5′-GTTTACCAAAAACATGGCTTC. Phản ứng PCR được tiến hành với tổng thể tích 50 µl (bao gồm 20 ng khuôn DNA. C. quercinus. vexillum. C. imperialis. Giải trình tự gen Sản phẩm PCR được tinh sạch bằng bộ kit TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 101 . striatus. Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và vịnh Vân Phong (Khánh Hòa) từ năm 2008 .Taïp chí Khoa hoïc . magus. 2009). C.Coâng ngheä Thuûy saûn cho thấy mối quan hệ tiến hóa rõ hơn (Duda và Palumbi. Mẫu ốc cối Các loài ốc cối được thu thập tại các vùng biển thuộc khu vực đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). C. C. Mỗi loài có 3 cá thể được chọn cho các nghiên cứu phân tử tiếp theo. Côn Đảo) với khoảng 76 loài (Hylleberg và Kilburn. Nếu không có những nghiên cứu bảo tồn kịp thời. 2003). xác định độc tính và kiểm chứng tính chất của một số độc tố. trong đề tài này. Các mẫu ốc cối sau đó được phân loại sơ bộ dựa trên các đặc điểm hình thái theo mô tả của Röckel và cs Soá 3/2011 (1995) và Nguyễn Ngọc Thạch (2007). các nghiên cứu về ốc cối Việt Nam cho tới nay mới chỉ được thực hiện ở mức độ khảo sát. Các chỉ thị nhân đã được khảo sát bao gồm các vùng gen mã hóa 18S rRNA.2 pM mỗi mồi.

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn
PCR clean up system (Promega) theo hướng dẫn của nhà sản xuất và sử dụng làm khuôn trực tiếp cho phản ứng tiền giải trình tự theo nguyên tắc dye-labelled dideoxy terminator (Big Dye® Terminator v.3.1, Applied Biosystems) với các đoạn mồi 16SF và 16SR theo chương trình nhiệt như sau: 96 C trong 20 giây, 50 C trong
0 0

Soá 3/2011
các mô hình tiến hóa được kiểm tra bằng phần mềm Modeltest 3.7 (Posada và Crandall, 1998) và MrModeltest 2.2 (Nylander, 2004). Mô hình tối ưu là HKY+I+G với tần suất các base nitơ là A = 0,3487; C = 0,1299; G = 0,1744; T = 0,3470, tỷ lệ các vị trí đa hình là 0,4011 và thông số dạng phân bố gamma là 0,4110. Đối với thuật toán BI, các mô hình thay thế được tính toán. Chương trình được chạy trên 4 kênh với 1 triệu thế hệ, với tần suất tính toán trên 100 thế hệ. Phân tích được lặp lại 2 lần để xác định độ chính xác của phương pháp phân tích. Giá trị tin cậy được biểu hiện trên các nhánh của cây tiến hóa (Huelsenbeck và Ronquist, 2001). Giá trị bootstrap được tính toán để xác định tính chính xác của thuật toán MP với độ lặp lại 100. Do sự hạn hẹp về thời gian và số lượng trình tự quá lớn, chúng tôi áp dụng phương pháp xấp xỉ liên tiếp (successive approximation approach) (Sullivan và cs, 2005) đối với thuật toán ML, xác định cây tiến hóa dựa trên mô hình tiến hóa và so sánh kết quả thu được với phương pháp phân tích MP và BI. Cây đa dạng loài được hiển thị và hiệu chỉnh bằng phần mềm TreeView 1.6.6 (Page, 1996). III. KẾT QUẢ 1. Khuếch đại đoạn gen 16S rDNA DNA tổng số của các mẫu ốc sau khi kiểm tra nồng độ và độ tinh sạch được dùng làm khuôn cho phản ứng khuếch đại gen 16S rDNA. Theo tính toán lý thuyết, khi sử dụng cặp mồi 16S, sản phẩm PCR thu được là đoạn DNA có kích thước ~ 550 bp. Kết quả nhân gen được hiển thị trên Hình 1. Sản phẩm điện di là một băng đậm nét có kích thước phù hợp với tính toán lý thuyết.

20 giây và 60 C trong 4 phút. Sản phẩm phản
0

ứng được phân tích trên máy phân tích trình tự tự động ABI Prism® 3700 DNA Analyser (Applied Biosystems). Các trình tự xuôi và ngược được kết nối bằng phần mềm Vector NTI v.9. 4. Phân tích trình tự Trình tự của các loài ốc cối được xác nhận bằng chương trình BLAST (http://blast.ncbi. nlm.nih.gov/Blast.cgi). Các trình tự được chỉnh sửa bằng phần mềm BioEdit 7.0.1 (Hall, 1999) và gióng hàng bằng phần mềm Clustal X v.1.8 (Thompson và cs, 1997). 5. Phân tích phát sinh chủng loại các loài ốc cối Phân tích phát sinh chủng loại được thực hiện dựa trên trình tự đoạn gen 16S rDNA của 18 loài ốc cối thuộc nghiên cứu hiện tại và 3 trình tự từ Genbank (Bảng 1). Trình tự 16S rDNA của 2 loài ốc thuộc họ Conidae là Lophiotoma erithiformis và Thatcheria mirabilis từ Genbank được sử dụng làm nhóm ngoại. Phân tích được tiến hành dựa trên 3 thuật toán maximum parsimony (MP), maximum likelihood (ML) và Bayesian inference (BI) bằng các phần mềm PAUP 4.0 (Swofford, 2001) và MrBayes 3.1.2 (Huelsenbeck và Ronquist, 2001). Đối với thuật toán MP, 1000 độ lặp lại ngẫu nhiên được áp dụng. Tuy nhiên, đối với thuật toán ML, độ lặp lại là 100 vì tổng số trình tự nghiên cứu quá lớn. Trước khi tiến hành thuật toán ML và BI,

102 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn

Soá 3/2011
đoạn gen 16S rDNA của 3 loài ốc cối khác trên Genbank cũng được sử dụng trong xây dựng cây phát sinh chủng loại với nhóm ngoại là 2 loài ốc Lophiotoma cerithiformis và Thatcheria mirabilis. Phân tích cây phát sinh chủng loại được tiến hành dựa trên cả 3 thuật toán maximum parsimony (MP), maximum likelihood (ML) và Bayesian inference (BI). Kết quả phân tích dữ liệu trình tự gen 16S rDNA dựa trên phương pháp MP và BI cho kết quả tương tự về cây đa dạng loài. Tuy nhiên, phương pháp ML cho thấy mức độ thấp trong mối quan hệ loài. Cây phân loại loài thu được theo phương pháp MP được trình bày trên Hình 2 với giá trị bootstrap (BT) và độ tin cậy (PP) được biểu hiện trên các nhánh. Đối với thuật toán MP, cây đa dạng loài thu được với 549 bước (Consistency index = 0,5301, Retention index = 0,5204). Theo Hình 2 cho thấy các loài thuộc giống ốc cối có sự tương đồng cao với giá trị bootstrap và độ tin cậy cao (PR 99%, BI 100%). Từ cây phát sinh loài cho thấy các loài ốc cối nghiên cứu phân thành 4 nhóm loài (từ nhóm I-IV) với giá trị bootstrap và độ tin cậy tương đối (>70%), và 1 loài (nhóm V) có vị trí phân loại không xác định (C. imperialis). Nhóm I và nhóm II lần lượt lại tiếp tục được chia thành 2 nhóm nhỏ: nhóm I.1 bao gồm các loài C. distans, C. bandanus, C. mamoreus, C. betulinus; nhóm I.2 bao gồm các loài C. magus, C. achatinus, C. striatus, C. generalis; nhóm II.1 bao gồm các loài C. tessulatus, C. eburneus, C. literatus, C. leopardus; và nhóm II.2 bao gồm các loài C. caracteristicus, C. textile, C. arenatus. Nhóm III bao gồm 2 loài C. quercinus và C. lividus. Nhóm IV gồm 3 loài C. capitaneus, C. miles và C. vexillum. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 103

Hình 1. Ảnh điện di sản phẩm PCR đoạn gen 16S rDNA của các mẫu ốc cối
Sản phẩm PCR (6 µl) được điện di trên gel agarose 1,2%. Giếng 1: thang DNA chuẩn 100 bp. Giếng 2-7, sản phẩm PCR của các mẫu ốc cối. Giếng 8: đối chứng âm.

2. Giải trình tự đoạn gen 16S rDNA của các loài ốc cối Để đảm bảo độ tin cậy, phản ứng giải trình tự được tiến hành theo cả hai chiều xuôi và ngược với mỗi mẫu được lặp lại 2 lần. Sau khi phân tích và kiểm tra, trình tự đoạn gen 16S rDNA của 18 mẫu ốc cối nghiên cứu được đăng ký trên Genbank. Mã số trình tự và thông tin chi tiết về các loài ốc cối được trình bày trong Bảng 1. Hầu hết các loài ốc cối thu thập tại các vùng ven biển Việt Nam thuộc loại ăn giun biển (ký hiệu là V). Có 3 loại thuộc nhóm ăn nhuyễn thể (ký hiệu là M), 1 loài ăn cá (ký hiệu là P) và 2 loài vừa ăn giun biển và cá tùy theo giai đoạn phát triển của chúng (ký hiệu là P&V)). Các loài có chế độ ăn chưa được nghiên cứu cụ thể ký hiệu là U (Nam và cs, 2009; Duda và cs, 2001). 3. Xây dựng cây phát sinh chủng loại ốc cối Sau khi so sánh và gióng hàng, trình tự thu được gồm 548 bp đoạn gen 16S rDNA của 18 loài ốc cối nghiên cứu được sử dụng cho phân tích. Trong đó có 347 nucleotide không đổi (constant character), 76 nucleotide không mang thông tin (parsimony-uninformative character) và 125 nucleotide mang thông tin (parsimony-informative character). Trình tự

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn
dựa trên trình tự đoạn gen 16S rDNA
STT Tên loài Mã số Genbank Chế độ dinh dưỡng

Soá 3/2011

Bảng 1: Danh mục các loài ốc cối sử dụng cho phân tích phát sinh chủng loại

Tài liệu tham khảo

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23

Conus arenatus Conus bandanus Conus betulinus Conus capitaneus Conus caracteristicus Conus distans Conus generalis Conus imperialis Conus literatus Conus lividus Conus magus Conus marmoreus Conus miles Conus quercinus Conus striatus Conus tessulatus Conus textile Conus vexillum Conus eburneus Conus leopardus Conus achatinus Lophiotoma cerithiformis Thatcheria mirabilis

HM212491 HQ234757 HQ234758 HM212492 HM212493 HM212494 HQ234761 HQ234755 HM212495 HQ234760 HM212496 HQ234759 HQ234756 HM212497 HM212498 HM212499 HM212500 HM212501 AF174165 AF174175 FJ868053 EU682307 GU137313

V M V V U V V V V V V&P M V V P V M V V&P V U

Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại Nghiên cứu hiện tại (Duda và cs, 2001) (Duda và cs, 2001) (Puillandre và cs, 2010) (Nam và cs, 2009) (Nam và cs, 2009)

104 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG

Cây phát sinh loài được chia làm 4 nhóm chính. V&P: ăn cá và giun biển. P: ăn cá.Taïp chí Khoa hoïc .Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 Hình 2. V: ăn giun biển. U: chưa biết). Chế độ dinh dưỡng của các loài trong nhóm được hiển thị trong ngoặc đơn (M: ăn nhuyễn thể. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 105 . Việt Nam Phân tích được thực hiện dựa trên trình tự đoạn gen 16S rRNA của 21 loài ốc trong đó có 18 loài thuộc nghiên cứu hiện tại và 3 trình tự từ Genbank (được ký hiệu với đuôi gb). Cây phát sinh chủng loại của các loài ốc cối thu nhận tại các vùng ven biển Nam Trung bộ. Giá trị bootstrap (phân tích MP) và giá trị tin cậy (phân tích BI) được biểu hiện tại các nhánh. Các loài ốc Lophiotoma cerithiformis và Thatcheria mirabilis được sử dụng làm nhóm ngoại.

Trong nghiên cứu này. Duda và Kohn. được chia về cùng nhóm I. bandanus và C. Espiritu và cs. cũng như định danh loài. Mối quan hệ loài của ốc cối (Conus spp. vexillum. Chính vì vậy. 2009. Các loài C. magus và C. hay biến dị cá thể cùng loài và khác loài. 2001. chỉ thị DNA ty thể cần được sử dụng kết hợp với chỉ thị nhân để có thể đánh giá chính xác hơn mối quan hệ loài của ốc cối Việt Nam. 2001. THẢO LUẬN 1. việc sử dụng kết hợp các chỉ thị ty thể (12S rDNA.170 bp. distans thuộc nhóm ăn giun biển được xếp vào nhóm I. hai loài C. Nghiên cứu hiện tại sử dụng chỉ thị 16S rDNA đã phân chia các loài ốc cối thành các nhóm riêng biệt.Taïp chí Khoa hoïc . nên dễ gây nhầm lẫn trong quá trình phân loại.) Việt Nam được nghiên cứu ở mức độ phân tử Việc phân loại ốc cối theo phương pháp truyền thống thường dựa trên các đặc điểm hình thái như kích thước vỏ. nhưng lại thể hiện sự đa dạng ở mức độ phù hợp cho việc xác định vị trí phân loại của các loài mới phân hóa. vùng liên gen coxI/ coxII của các loài ốc cối dao động từ 130 . kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng góp phần vào công tác bảo tồn và lưu giữ nguồn gen ốc cối 106 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Kết quả cho thấy. Nhóm tác giả đánh giá rằng đoạn chèn này rất hữu dụng trong các nghiên cứu tiến hóa. Ví dụ loài C. Philippines. gần đây Nam và đồng tác giả (2009) đã sử dụng chỉ thị nhân ITS2 (đoạn chèn giữa gen mã hóa 5. Hơn nữa. 2001). miles và C. 2009). Mặc dù vậy mối quan hệ tiến hóa giữa các loài thuộc các nhóm dinh dưỡng khác nhau vẫn chưa được phân tách rõ ràng. C. 2005). chế độ dinh dưỡng và đặc điểm hình thái các dải răng chitin. chúng tôi đã xây dựng cây phát sinh chủng loại của 18 loài ốc cối Việt Nam dựa trên trình tự đoạn gen ty thể 16S rDNA.1. có phần nón rộng. định danh và xây dựng mối quan hệ tiến hóa (Nam và cs. do các đặc điểm hình thái có thể chịu tác động của môi trường. kiểu hoa văn và màu sắc vân trên vỏ. tessulatus và C. trong các nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi. lividus có quan hệ di truyền rất gần gũi (Espiritu và cs. Bandyopadhyay và đồng tác giả (2008) đã sử dụng chỉ thị 16S rDNA và vùng liên gen coxI/coxII nhằm phân tích quan hệ phát sinh chủng loại của các loài ốc cối Philippines. marmoreus. trong đó đoạn gen này của C. Hơn nữa. 16S rDNA và COI) và chỉ thị nhân ITS2 đã chia nhóm ăn nhuyễn thể (M) thành 3 nhánh rõ ràng là Conus. Duda và cs. C. số vòng xoắn ở phần nón. Kết quả phân tích phát sinh chủng loại của chúng tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đó. Đây là lần đầu tiên mối quan hệ loài của giống ốc cối Conus ở Việt Nam được nghiên cứu ở mức độ phân tử.1 cùng với hai loài thuộc nhóm ăn nhuyễn thể. textile lớn hơn so với tất cả các loài còn lại.8S và 28S rRNA) nhằm đánh giá mối quan hệ tiến hóa của 26 loài ốc thu thập tại vùng biển thuộc quần đảo Marinduque. Chính vì vậy. Cyclinder. điều này cho thấy việc sử dụng chỉ thị 16S đơn lẻ chưa giải quyết triệt để được mối Soá 3/2011 quan hệ giữa các loài ốc thuộc các nhóm dinh dưỡng. Kết quả cho thấy trình tự ITS2 được bảo tồn giữa các cá thể thuộc cùng một nhóm dinh dưỡng. Vì vậy. các marker phân tử của DNA ty thể và DNA nhân hiện đang được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu di truyền. striatus. Tuy nhiên. eburneus được phân chia về cùng một nhánh (Nam và cs. Ví dụ hai loài thuộc nhóm ăn nhuyễn thể C. quercinus và C. và Darioconus.Coâng ngheä Thuûy saûn IV.

C. để có thể xác định chính xác mối quan hệ loài của ốc cối Việt Nam.1). Cuối cùng. việc sử dụng chỉ thị 16S rDNA vẫn có những hạn chế nhất định trong việc phân tách các loài ốc có quan hệ tiến hóa gần gũi. Các dạng dinh dưỡng khác như ăn các loài chân bụng. V. 2001). TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 107 . Hơn nữa các loài thuộc nhóm ăn giun biển được phân chia thành các nhóm rất rõ ràng là nhóm III và nhóm IV. Tuy nhiên. hầu hết các loài thuộc nhóm ăn giun biển được tách ra từ gốc cây tiến hóa (Hình 2). Mặc dù vậy. Thái Bình Đương và Tây Đại Tây Dương. và với các loài vừa giun biển vừa ăn cá. Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đó. Kết quả cho thấy các loài ốc cối thuộc 3 nhóm dinh dưỡng được chia làm 4 nhóm chính trên cây chủng loại phát sinh. marmoreus và C. phân tích mối quan hệ tiến hóa giữa các loài ốc cối đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu tính đa dạng của các độc tố ốc cối. striatus) và một loài có chế độ ăn đa dạng. magus) được khảo sát.2 và nhóm II. chúng tôi đã xây dựng cây phát sinh chủng loại của 18 loài ốc cối Conus thu thập tại các vùng biển thuộc khu vực Nam Trung bộ. 2. trong các nghiên cứu tiếp theo. Vì vậy. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Bằng cách sử dụng chỉ thị phân tử 16S rDNA ty thể. Có ba loài thuộc nhóm ăn nhuyễn thể là C. một số loài ăn giun biển khác cũng được nhóm cùng với các loài ăn nhuyễn thể (nhóm I. bandanus. Chẳng hạn. Trong đó. trong khi đó các loài ăn cá có thể tách ra từ 2 đến 3 lần trên cây tiến hóa. Mối liên hệ giữa phát sinh loài với chế độ dinh dưỡng và độc tố ốc cối Duda và cộng sự (2001) đã khảo sát mối quan hệ giữa phát sinh loài và chế độ dinh dưỡng của 76 loài ốc cối thu thập từ các vùng biển Ấn Độ.Taïp chí Khoa hoïc . Việt Nam. textile. Kết quả cho thấy hình thức dinh dưỡng ăn giun biển nhiều tơ (errant polychaetes) là hình thức cổ xưa nhất. Kauferstein và cs (2004) cũng sử dụng các trình tự 16 rDNA đại diện cho 104 haplotype nhằm khảo sát khả năng sản xuất các độc tố (thuộc siêu họ I) mới phát hiện ở các loài ốc cối khác nhau. cũng như việc phát hiện và xác định đặc tính của các độc tố mới. Đây là nguồn dược liệu quý để sản xuất thuốc giảm đau trong y học. các chỉ thị đa phân tử trong đó có các gen mã hóa độc tố ốc cối sẽ được sử dụng. Nereidae và Amphinomidae được tách ra cùng một lần.1). Espiritu và cs (2001) đã phân tích nguồn gốc tính đa dạng của độc tố δ-conotoxin trên 9 loài ốc cối bằng sử dụng chỉ thị 16 rDNA ty thể. Các loài ốc cối Việt Nam trong nghiên cứu hiện tại chủ yếu thuộc loại ăn giun biển. Điều này khá phù hợp với lý thuyết khi chế độ ăn giun biển là phương thức dinh dưỡng cổ xưa nhất (Duda và cs. cũng như với các loài mà chế độ ăn chưa Soá 3/2011 được nghiên cứu (nhóm I. và một số họ giun biển khác như Terebellidae.Coâng ngheä Thuûy saûn Việt Nam. vừa ăn giun biển vừa ăn cá tùy theo giai đoạn sống (C. Điều này cho thấy sự chuyên biệt của các chế độ dinh dưỡng trong quá trình tiến hóa của ốc cối. Chỉ duy nhất một loài ăn cá (C.

Molecular systematics of the major lineages of the Gastropoda. Nylander JA (2004). Cady MT. Bioinformatics. James MJ (1980). Grande C. divergence dates. Syst Biol. Syst Biol. 54:634-650.N. Mebsa D (2004). Mueller RL (2006). Fernando SA. Kohn AJ (2005). 18. Nam HH. 73:391-409. 4. Corneli PS. 12. Kaufersteina S.12:357-358. 44(5):539-548. Watkins M. Bandyopadhyay P (2009). Toxicon. Developmental shifts and species selection in gastropods. Bandyopadhyay PK. Species-level phylogeography and evolutionary history of the hyperdiverse marine gastropod genus conus. 17:754-755. Molluscan Research. Kohn AJ. Cruz LJ. J Mollus Stud.Taïp chí Khoa hoïc . Duda TF. J. 10. Ronquist F (2001). Watkins M. 27(3):111-122. Uppsala University. Hall TA (1999). Cunha RL. Duda TF. 55:289-300. Proc Natl Acad Sci USA. Mol Phylogenet Evol. 11. 6. BMC Evol Biol. Franklin JB.. Templado J. 96:10272-10277. Chalke BA. 46(1):116-128. Nguyễn Ngọc Thạch (2007). The mitochondrial genome of conus textile. Watkins M. 16. 46:215-223. Evolution of gastropod mitochondrial genome arrangements. Uppsala. Kucha U. 19. Toxicon. Jr. 3. 13. Huysb I. Multiple genes elucidate the evolution of venomous snail-hunting conus species. and the performance of mitochondrial genes in bayesian phylogenetic analysis. Smithsonian Books. Olivera B. Ruber L. Stevenson BJ. 34:257-272. Program distributed by the author.. Cartier GE. Castilho R. Venomous cone snails: Molecular phylogeny and the generation of toxin diversity. a genus of venomous marine gastropods. Marine Molluscs of Vietnam. Palumbi SR (1999). 8:61. 39:1899-1916. L’ Informatore piceno & N. 17.140-160. Evolutionary Biology Centre. Harasewych MG (2003). Patterns of cladogenesis in the venomous marine gastropod genus conus from the cape verde islands. 108 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Washington. Duda TF. Zardoya R (2005). 2. 53:645-652. Hylleberg J. Huelsenbeck JP. Olivera BM (2001). Biol. Oxford University Press. Tropical marine mollusk Programe (TMMP). Linnean Soc. Evolutionary rates. Treeview: an application to display phylogenetic trees on personal computers. Mr Modeltest v2. Zardoya R (2008). Ownby JP. Krishnan KS (2007) Radular morphology of Conus (Gastropoda: Caenogastropoda: Conidae) from India. Mol Phylogenet Evol. Nucleic Acid Symposium Series. 41:95-98.T: 7-8 & 24-142. 7. 14. 5. Espiritu DJ. Jr. McArthur AG. Melauna C. Comput Appl Biosci. Tytgatb J. 9. Olivera BM (2008). Sweden. 106-111. Mol Phylogenet Evol.Coâng ngheä Thuûy saûn TÀI LIỆU THAM KHẢO Soá 3/2011 1. Recently collected shells of Viet Nam. Comparative morphology of radular teeth in conus: observations with scanning electron microscopy. Mrbayes: Bayesian inference of phylogenetic trees. Page RD (1996). Kilburn RN (2003). Dia-Monje V. Novel conopeptides of the I-superfamily occur in several clades of cone snails. coxi-coxii intergenic sequences and conoidean evolution. BioEdit: a user-friendly biological sequence alignment editor and analysis program for Windows 95/98/NT. 8. Palumbi SR (2001) Origins of diverse feeding ecologies within Conus. 15.

Version 4. Higgins DG (1997). 22. Sinauer Associates. Puillandre N. Sullivan J. Thompson JD. 24. Abdo Z. Gibson TJ. Swofford DL (2002). J Mol Evol (in press) 21. 22:1386-1392. Korn W.Pacific Region). Röckel D. Plewniak F. Jeanmougin F. Manual of the Living Conidae (Vol. Wiesbaden. 25:4876-4882. Mol Biol Evol. Watkins M. Swofford DL (2005). Olivera BM (2010). Evaluating the performance of a successive-approximations approach to parameter optimization in maximum-likelihood phylogeny estimation.Taïp chí Khoa hoïc . TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 109 . Verlag Christa Hemmen. I: Indo. Sunderland. Evolution of conus peptide genes: Duplication and positive selection in the a-superfamily. Kohn AJ (1995). 23. Phylogenetic Analysis Using Parsimony (*and Other Methods). Nucleic Acids Res. PAUP*. The clustal-X windows interface: Flexible strategies for multiple sequence alignment aided by quality analysis tools. Joyce P.Coâng ngheä Thuûy saûn Soá 3/2011 20. Massachusetts. Germany.

These species have low fecundity (from 20 to 64 eggs per female). mouthbreed their eggs and yolk-sac larvae by male. Vì thế các ngư trường truyền thống ven bờ đã bị khai thác quá mức. these species attain large sizes. Phổ thức ăn cá trưởng thành rất rộng. trong khi số tàu khai thác ven bờ chiếm trên 75% số tàu cả nước. K = 0. 2008). BERG. such as L∞ (29. t0 (.06 – 0.84cm).0.19mm.5 – (. t0 = . fishes. Các thông số sinh trưởng.040.487 – 3. hiện nay nguồn lợi cá Úc suy giảm rất nhiều so với trước đây. greenish and demersal. L∞ = 29. Φ’ = 2. slow growing and growth parameters. sinh trưởng.34).1. Sea catfish adults ingested a broad of food primarily on unidentified organic matter. Mùa sinh sản diễn ra từ tháng 5 đến tháng 8. Cá Úc giai đoạn nhỏ phân bố ở các vùng cửa sông có độ mặn thấp và cá trưởng thành phân bố phong phú ở các vịnh và cửa sông có nhiệt độ và độ mặn thuận lợi cho các hoạt động sinh sản.040.Trường Đại học Nha Trang TÓM TẮT Họ cá Úc (Ariidae) thuộc bộ cá Trơn (Siluriformes) bao gồm 14 giống và 120 loài ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. sinh thái phân bố.3. the secondary food is crustaceans. growth. Trứng có bán kính là 12 . 1958) CURRENT STATUS OF ARIIDAE FAMILY (L. cá đực ấp trứng và ngậm ấu trùng còn noãn hoàng. 1996). Chúng có kích thước lớn. sea cucumber and mollusks. Sea catfish spawn from May to August. sinh sản ABSTRACT The Ariidae family (Siluriformes) includes 14 genera and 120 species of tropical and sub-tropical marine catfishes. K (0. Eggs of sea catfish hatched in approximately 30 days at 300C. Từ khóa: cá Úc. In general. thứ nhất là xác hữu cơ chưa phân hủy và thứ hai là giáp xác. Sea catfish juvenile remain in low salinity estuarine areas and adult distribution abundance in gulf coastal and estuarine waters have been related to spawning activities as wel as to water temperature and salinity. cuộc sống của cộng đồng ngư dân gặp khó khăn hơn so với trước kia (Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản. feeding. tuổi thọ lớn. ĐẶT VẤN ĐỀ Vùng biển ven bờ chỉ chiếm khoảng 11% vùng đặc quyền kinh tế của nước ta.1.Coâng ngheä Thuûy saûn THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC Soá 3/2011 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HỌ CÁ ÚC (ARIIDAE L.21)) and growth performance index. S.21) và chỉ số tăng trưởng.06 – 0. nhiều loài hải sản quý hiếm có nguy cơ biến mất.34. 1958) Trần Văn Phước Khoa Nuôi trồng Thủy sản .5 – (-0. are long living.86 – 124. Cá Úc (Ariidae) được xếp vào nhóm cá kinh tế chủ yếu nước ta (Bộ Thủy sản. phân loại. nguồn lợi ven bờ đang trên đà suy kiệt.487 .86 – 124. Sức sinh sản của chúng thấp (20 – 64 trứng/cá cái). và tốc độ tăng trưởng chậm. BERG. hải sâm và thân mềm. distribution ecology. Their eggs are 12 to 19 mm in diameter. màu xanh lục và dạng trứng chìm. classification. S. dinh dưỡng. Tuy nhiên.Taïp chí Khoa hoïc . Φ’ = 2. Keywords: Sea catfish. Trứng nở sau 30 ngày trong điều kiện nhiệt độ là 300C.84 cm. Trên thế giới và ở 110 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . cá. reproduction I.

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn
nước ta, họ cá Úc chưa có loài nào được nghiên cứu sâu và đưa vào nuôi. Bài báo này là kết quả nghiên cứu họ cá Úc làm cơ sở khoa học cho khai thác hợp lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi theo hướng bền vững. II. NỘI DUNG 1. Đặc điểm hình thái và phân loại 1.1. Đặc điểm phân loại Trước đây, họ cá Úc (Ariidae) được gộp trong họ lớn Doradoidea, nhưng sau đó được chuyển sang họ lớn Bagroidea (cùng với Austroglanididae, Claroteidae, Schilbeidae, Pangasiidae, Bagridae và Pimelodidae) (Nelson, 2006). Hai giống Gogo và Ancharius đã được chuyển sang họ khác gọi là Anchariidae (Hee, Sparks, 2005). Họ cá Úc (Ariidae) cũng đã từng được phân loại trong họ lớn Arioidea, bao gồm Ariidae và Anchariidae (Sullivan et al., 2006). Họ cá Úc (Ariidae) gồm 12 giống 120 loài, phân bố ở các vùng nước ngọt, nước lợ và nước biển. Họ cá Úc là một họ cá da trơn, chủ yếu sinh sống ngoài biển, với một số loài sinh sống trong các môi trường nước lợ hay nước ngọt. Chúng được tìm thấy trong các khu vực ôn đới ấm và nhiệt đới (Berg, 1940). Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu như Nelson (1976), Rimmer và Merrick (1982), Reis (1986a) cho rằng họ cá Úc bao gồm 14 giống và 120 loài cá Úc biển nhiệt đới và á nhiệt đới. Nhìn chung, các loài này có kích thước lớn, tuổi thọ lớn, tăng trưởng chậm, sức sinh sản thấp và ấp trứng trong miệng cá đực. Nguyễn Hữu Phụng và Nguyễn Nhật Thi (1994) đã xác định được 10 loài cá Úc ở biển Việt Nam như cá Úc Trung Hoa (Arius sinensis Lacepede, 1803), cá Úc Đầu cứng (Arius leiotetocephalus Bleeker, 1846), cá Úc thường (Arius thalassinus Rüppell, 1837), cá

Soá 3/2011
Úc chấm (Arius maculatus Thungerg, 1792), cá Úc trắng (Arius sciurus H.M. Smith, 1931), cá Úc Gai mềm (Arius maculacanthus H.M. Smith, 1945), cá Úc Quạt (Arius caelatus Cuvier & Valenciennes, 1840), cá Vồ Chó (Arius sagor (Hamilton [né Bunchanan], 1822), cá Úc Thiều giả (Arius harmandi Sauvage, 1880) và cá Thiều (Hemipimelodus siamensis Sauvage, 1878). 1.2. Đặc điểm hình thái Họ cá Úc (Ariidae) có vây đuôi xẻ thùy sâu. Thông thường chúng có 3 cặp râu. Chúng có một vài tấm xương trên đầu và gần các vây lưng (Nelson, 2006). Wongratana và Bathia (1974) đã xác định một số chỉ tiêu hình thái cá Úc chấm Arius maculatus: D I, 7 - 7; A I, 16 - 30; P I; V 6 - 6. Perret và đồng tác giả (1971) đã xác định một số chỉ tiêu hình thái cá Úc Arius felis: D I, 7; A 19-20; P I, 6-10; V 6. Cá có 2 đôi râu ngắn ở hàm dưới và đôi râu dài gần đầu. Vây ngực và vây lưng không có tia gai riêng biệt. Cơ thể dài, có màu xanh lục phía trên và màu bạc phía dưới. Chiều dài tối đa là 495mm. Cá Úc thường Arius thalassinus, thân tương đối dài. Vây đuôi chia thành hai thùy rất sâu, bằng nhau. Vây lưng thứ nhất có gai, vây lưng thứ hai là vây mỡ tương đối phát triển, vây hậu môn ngắn. Vây ngực lớn hơn và dài hơn vây bụng rất rõ rệt. Không có râu mũi. Màng mang liền với eo mang. Có râu mép và râu cằm. Chiều dài đầu xấp xỉ bằng chiều cao thân và bằng khoảng 1/4 lần chiều dài từ mút mõm đến chẽ vây đuôi. Lưng màu xám bạc hoặc xám tro, hai bên thân màu sáng hơn và càng về phần bụng càng chuyển dần sang màu trắng bạc. Các vây màu tối hơn. Kapoor và Bhargava (1967) đã nghiên cứu về râu cá Úc thường gồm có 3 đôi râu, một đôi ở hàm trên và hai đôi ở hàm dưới. Thành phần râu gồm có biểu bì, hạ bì và phần sụn ở giữa hình que. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 111

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn

Soá 3/2011
các loài cá da trơn: chúng chủ yếu sinh sống ngoài biển trong khi phần lớn các loài thuộc họ cá da trơn khác sinh sống trong khu vực nước ngọt và ít chịu được nước lợ hay nước mặn. Họ cá này được tìm thấy chủ yếu tại các vùng biển nông ven bờ của Bắc và Nam Mỹ, Châu Phi, Châu Á và Úc. Chúng không có mặt tại các vùng biển thuộc Châu Âu và Châu Nam Cực. Một số loài sinh sống tại khu vực nước ngọt. Tại Bắc và Nam Mỹ có khoảng 43 loài sinh sống trong vùng nước lợ hoặc chỉ ở nước ngọt. Giống Doiichthys bao gồm các loài nước ngọt khác được tìm thấy ở New Guinea. Cá Úc thường Arius thalassinus được tìm thấy ở vùng Biển Đỏ và Tây Bắc Ấn Độ dương. Chúng còn xuất hiện ở các vùng biển liên quan Philippine và Vịnh Thái Lan.

Hình 1. Cá Thiều Arius thalassinus khai thác (TL 99 cm và Wt 12,9 kg)

2. Đặc điểm sinh thái phân bố Họ cá Úc (Ariidae) được tìm thấy khắp thế giới trong khu vực ôn đới ấm và nhiệt đới (Nelson, 2006). Họ này là bất thường trong số

Nguồn: GBIF OBIS

Hình 2. Vùng phân bố của họ cá Úc

Ba loài cá Úc biển Tây Châu Phi (Arius heudeloiti, A. parkii, A. latiscutatus) thuộc họ cá Úc Ariidae phân bố vùng ven bờ Guinea. Chúng phân bố ở vùng cửa sông ven biển có đáy bùn và độ sâu 20m. Nhiệt độ cao quanh năm từ 25 C
0

nước sâu. Ấu trùng và cá con xuất hiện nhiều ở vùng ven bờ và cá lớn thì xuất hiện ở vùng nước sâu (Conand et al., 1995). Dantas và đồng tác giả (2010) đã nghiên cứu ở các vùng chính của cửa sông Goiana rộng 23ha. Các loài cá Úc (họ Ariidae) là phong phú nhất với mật độ 1.600 cá thể/ha, chiếm

đến 29 C. Chúng phân bố ở vùng gần bờ vào
0

mùa mưa và mùa khô thì chúng phân bố ở vùng

112 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG

Taïp chí Khoa hoïc - Coâng ngheä Thuûy saûn
53%. Trong đó, loài Cathorops spixii là phong phú nhất với mật độ 1.340 cá thể/ha. Mật độ (7.394 cá thể/ha) cao nhất được xác định ở vùng giữa cửa sông vào đầu mùa mưa. Mật độ loài C. spixii khác nhau có ý nghĩa giữa các vùng và mùa (p < 0,01), loài C. agassizii chỉ khác biệt có ý nghĩa giữa các mùa (p < 0,01). Sinh khối các loài C. spixii, C. agassizii và Sciades herzbergii sai khác có ý nghĩa giữa các mùa; hai loài C. spixii và C. agassizii sai khác có ý nghĩa giữa các vùng (p < 0,01). Để quản lý và bảo tồn các loài này ở cửa sông cần dựa vào vòng đời của chúng khác nhau giữa các vùng và mùa. Cá Úc Arius felis phân bố phong phú ở vùng vịnh ven bờ và cửa sông có điều kiện thuận lợi về nhiệt độ (> 20 C) và độ mặn (> 20‰) cho hoạt
0

Soá 3/2011
và đồng tác giả (1971) phát hiện cá Úc phân bố chủ yếu ở vùng có độ mặn 10‰ hoặc cao hơn. Gunter (1945) đã bắt gặp cá Úc ở vùng có độ mặn từ 2 đến 36,7‰ nhưng chủ yếu là vùng có độ mặn trên 30‰. Benson (1982) đã tìm thấy cá Úc phân bố ở các kênh cùng với lượng oxy hòa tan thấp. Tabb và Manning (1961) đã phát hiện cá Úc chết ở vịnh Florida do oxy hòa tan thấp sau cơn bão Donna vào năm 1960. Reid (1957), Ragan và đồng tác giả (1978), Shipp (1981) cho rằng cá Úc phân bố phong phú ở vùng có nhiều chất hữu cơ đáy. Độ sâu thích hợp của cá Úc phân bố có liên quan đến nhiệt độ của nước và thành phần chất đáy. Chúng sẽ di cư ra vùng nước sâu hoặc di cư đến vùng có nhiệt độ ấm hơn (Swingle, 1971) khi nhiệt độ ở đó thấp hơn từ 10 đến 150C và chúng sẽ quay trở lại vào mùa xuân khi nhiệt độ cao hơn. Chúng phân bố phong phú ở các vùng nông ven bờ (< 20m) và vùng cửa sông. Reid (1957) cho biết cá Úc tập trung vùng dưới triều gần Rollover Pass, Texas. Sự chuyển động của nước ảnh hưởng đến vị trí và khả năng bắt mồi của cá Úc (Landry, Strawn, 1973). Hoạt động sinh sản và ấp trứng xảy ra ở các vùng vịnh nông hơn có dòng chảy chậm. Giai đoạn cá con sống độc lập bố mẹ, chúng phân bố ở vùng nước yên tĩnh (Swingle, Bland, 1974). Platania và Ross (1980) đã phát hiện cá Úc Arius felis phân bố ở vùng nước nông, ven bờ và nước đục với nền đáy cát, đáy bùn. Gunter (1947) cho rằng cá Úc Galeichths felis sinh sản ở vùng nước có độ trong từ 0,6 - 3,0m tại vịnh Copano, Texas. Yanez Arancibia và Lara Dominguez (1988) đã nghiên cứu về sinh thái 3 loài cá thuộc họ cá Úc ở vùng ven biển nhiệt đới phía Nam vịnh Mexico. Cá Úc Arius felis xuất hiện quanh năm trong vịnh có độ mặn 0 - 37‰, nhiệt độ 21 - 320C TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 113

động sinh sản (Franks et al., 1972). Nhiệt độ thích hợp cho cá Úc trưởng thành trên 25 C (Jones
0

et al., 1978) và tránh các vùng nước có nhiệt độ trên 37oC (Landry, Strawn, 1973; Gallaway, Strawn, 1974). Cá Úc sẽ di cư từ vùng nội địa ra vùng biển sâu hơn (Swingle, 1971) hoặc ra biển sâu khi nhiệt độ nước dưới 5 - 6 C (Perret et
0

la., 1971; Juneau, 1975). Barret và đồng tác giả (1978) phát hiện cá Úc khai thác bằng lưới rê tại vùng ven bờ Louisiana có nhiệt độ nước từ 10 đến 20 C. Cá Úc trưởng thành tránh vùng nước
0

có nhiệt độ thấp di cư ra vùng biển sâu vào mùa đông và trở vào bờ vào mùa xuân. Cá Úc Arius felis trưởng thành được đánh bắt ở vùng nước có độ mặn 0 - 40‰ (Jones et al., 1978). Harvey (1972) đã tìm thấy ấu trùng cá Úc còn noãn hoàng trong miệng cá bố ở vùng nước có độ mặn từ 8 đến 13‰, cá con xuất hiện ở vùng nước có độ mặn từ 16 đến 29‰. Gunter và Hall (1965) đã phát hiện cá con phân bố ở vùng nước có độ mặn 0,1‰. Cá con tập trung ở nơi độ mặn thấp nhiều hơn cá trưởng thành (Swingle, Bland, 1974; Kelley, 1965; Tarver, Savoie, 1976; Jones et al., 1978). Perret

32 C và độ trong 0. Đây là những loài sinh trưởng chậm. Mẫu cá cái lớn Bảng 1.00* 65.3 .10 0.487 2. parkii.040 Conand et al (1995) Conand et al (1995) Conand et al (1995) Etchevers (1978) Bawazeer (1987) modified from Dmitrenko (1975) Velasco et al (2007) modified from Warburton (1978) L∞: * tính toán dựa vào chiều dài thân (Lf).860 2.Coâng ngheä Thuûy saûn và độ trong 0.31 -0. Gunter và Hal1 (1963) xác định cá Úc Arius felis ]. Cá Úc thường (Arius thalassinus) chiếm 0. Cá Úc chiếm 1.925 2.1. 1978).6m. 3. Vịnh Bắc bộ. Texas có chiều dài thân chuẩn từ 40 đến 44mm vào tháng 7 năm 1968 và tăng đến 93mm vào tháng 10 trước khi rời khỏi vịnh. 0 Ở Việt Nam.35‰).21 -0.87% sản lượng cá kinh tế khai thác tại vùng biển Đông Nam bộ.Taïp chí Khoa hoïc . Mỗi 1 vòng tuổi đặc trưng cho một năm bắt đầu từ mùa mưa.45% tổng sản lượng (Lê Trọng Phấn và đồng tác giả.84* 0. Đặc điểm sinh trưởng của chúng được nghiên cứu dựa trên gai lưng thứ nhất.20 0. 1999). Phương trình sinh trưởng là nhất được xác định có chiều dài 980 mm.exp (.36‰ (giai đoạn cá nhỏ phân bố vùng có độ mặn < 5‰ và trưởng thành 25 .14 0.0.23* 48. Vùng biển Tây Nam bộ. Đặc điểm sinh trưởng Chiều dài tối đa của cá Úc Arius felis được xác định là 571mm (Jones et al. ** dựa vào chiều dài chuẩn (Ls) và các trường hợp khác dựa vào chiều dài tổng (Lt) 114 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . Gallaway và Strawn (1974) đã xác định cá Úc giống ở vịnh Galveston. A.17 0. A. nhiệt độ 20 .2.15 0. cá Úc chiếm 1. Kết quả nghiên cứu về các thông số sinh trưởng (L∞. 1996).39 -0. latiscutatus) thuộc họ cá Úc Ariidae phân bố vùng ven bờ Guinea.40 92. t0) và chỉ số tăng trưởng (Φ’) của một số loài thuộc họ cá Úc (Ariidae) (Bảng 1). nhiệt độ 22 ..20* 29. Tỷ lệ chết tự nhiên thấp.00 124.3 .38 2.32‰. Các thông số sinh trưởng và chỉ số tăng trưởng Tên khoa học Vùng L∞ (cm) K (/năm) t0 Φ’ Nguồn Arius heudelotii Arius latiscutatus Arius parkii Arius spixii Arius thalassinus Arius thalassinus Genidens barbus Hexanematichthys guatemalensis Guinea Guinea Guinea Venezuela Kuwait India Brazil Mexico 70. sức sinh sản và tỷ lệ nở thấp.07 -0. Cá Úc Bagre 0 Soá 3/2011 0+ tuổi có chiều dài toàn thân từ 118 đến 133 mm và đạt 193 mm khi 1+ tuổi ở Tây Nam Florida.28 -0.2m.34 0. cá Úc (Arius) được xếp vào nhóm cá kinh tế chủ yếu.00* 61. Xác định tuổi dựa trên các vòng tuổi của đá tai cá và xác định chiều dài bằng cách tính ngược.1287(t + 0.06 0. Các loài này có đặc điểm sinh học gần giống nhau. Conand và đồng tác giả (1995) đã nghiên cứu về tuổi và sinh trưởng của 3 loài cá Úc biển Tây Châu Phi (Arius heudeloiti.1m.86** 106.1. Cá Úc Arius melanopus xuất hiện quanh năm trong vịnh có độ mặn 0 .59% sản lượng cá khai thác bằng lưới kéo đáy tại miền Trung năm 1987.79 -1.842 2.8% sản lượng khai thác (Bộ Thủy sản.50 -0.813 2.32 C và độ trong 0. K. cá Úc chiếm 3.782 3.195)) marinus xuất hiện vùng có độ mặn 4 .806 2.2 . Reis (1986b) đã nghiên cứu tuổi và sinh trưởng cá Úc Netuma barba thuộc họ cá Úc Ariidae vùng cửa sông ven đầm Patos (Brazil). cá thể 6 tuổi có chiều dài thân (FL) là 400mm. Lt = 638 [1 .

1999). thân mềm. 1947).5 tuổi. Thường đánh bắt chủ yếu loại 4 . nặng 8. 1978). Merriman (1940) cho rằng kích thước thành thục sinh dục lần đầu cá Úc cái từ 120 đến 200mm nhưng chủ yếu nhóm kích thước lớn hơn. Ấu trùng noãn hoàng của cá Úc Arius felis có chiều dài thân tổng từ 29mm đến 45mm. Trứng cá Úc Arius felis có kích thước lớn và số lượng trứng đẻ ra ít. động vật ruột khoang.6 đến 1. thức ăn của cá giai đoạn nhỏ bao gồm trứng và ấu trùng động . Thức ăn của cá Úc Bagre marinus trưởng thành có ít nhất 12 loài.Coâng ngheä Thuûy saûn Ở vịnh Bắc bộ. Cá trưởng thành ăn 44% mùn xác hữu cơ. hải sâm. Cá Úc Arius felis đẻ từ tháng 5 đến tháng 8 ở vùng vịnh nông độ sâu từ 0. Thức ăn của cá Úc Arius felis trưởng thành có ít nhất là 16 loài. 20 .. Yanez Arancibia và Lara Dominguez (1988) đã nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng của 3 loài cá thuộc họ cá Úc ở vùng ven biển nhiệt đới phía Nam vịnh Mexico. Cá Úc không trải qua giai đoạn ấu trùng.Taïp chí Khoa hoïc . Thời gian phát triển phôi khoảng 30 ngày ở nhiệt độ 30 oC (Jones et al. 1982). cỏ biển. Gunter (1945). Darnell (1961). Đặc điểm dinh dưỡng Merrian (1940) đã xác định thành phần thức ăn của cá Úc Galeichths felis gồm tảo.64 trứng/con cái (Merriman. hình dạng trứng đã thụ tinh có hình ovan hoặc elip và chiều dài từ 14 đến 18mm. Ward (1957) đã ước tính số lượng trứng cá cái từ 40 đến 62 trứng. Ngoài ra. Cá Úc Arius felis tại vịnh Mehico thành thục sinh dục trước 2 tuổi (Benson. tôm he.4kg (Lê Trọng Phấn và đồng tác giả. cá con trong miệng. trong suốt. Những trứng này là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cá đực trong suốt thời gian ngậm trứng (Gunter. Trứng cá Úc Arius felis có đường kính từ 12 đến 19mm. bám vào các trứng lớn ở cực thực vật. chủ yếu là giáp xác và giai đoạn cá nhỏ gồm giáp xác. mảnh vụ. Lee (1937) cho rằng cá Úc Galeichths felis cái bắt đầu có trứng phát triển khi chiều dài thân chuẩn đạt 126mm. Thức ăn o Soá 3/2011 vật không xương sống. Gallaway và Strawn (1974) cho rằng cá Úc tập trung ở vùng nước ấm dưới 38 C. ấu trùng và trứng động vật không xương sống. còn có loại trứng nhỏ hơn. Ở giai đoạn nhỏ khi còn được bảo vệ trong miệng cá bố. Darnell (1961) đã xác định thành phần thức ăn trong dạ dày cá con gồm 56% mùn xác hữu cơ. ốc. giáp xác. cua xanh và giai đoạn cá nhỏ bao gồm giáp xác chân chèo. 34% động vật không xương cỡ lớn và 21% động vật không xương cỡ nhỏ. 1940). 1978). có đặc tính giữ trứng. đối với cá đực từ 190 đến 200mm. chúng đã ăn giáp xác cỡ nhỏ. có chiều dài 600 .2m với độ mặn từ 13 đến 30‰. chủ yếu là cá. giun nhiều tơ. cua ghẹ) và cá. có lớp màng mỏng không màu bao bọc chặt quanh trứng. Cá giống có chiều dài toàn thân 68 . giáp xác (tôm. 5. Đặc điểm sinh sản Hầu hết các loài thuộc họ cá Úc trứng có kích thước khá lớn. giáp xác. thân mềm. Thức ăn của cá Úc Arius melanopus trưởng thành có ít nhất 16 loài. thân mềm. Ward (1957) đã phát hiện rất nhiều âm thanh cá Úc Galeichths TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 115 trong dạ dày dễ tiêu hóa và phân hủy. Lớp màng này sẽ mất đi theo sự phát triển phôi. 26% động vật không xương cỡ nhỏ và 16% động vật không xương cỡ lớn.800mm. nặng 2. thức ăn còn lại chủ yếu trong dạ dày là cua xanh nhỏ và cũng giống với kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác như Gudger (1916).88mm (Jones et al. 4. không chức năng. chiều dài lớn nhất của cá Úc có thể lên đến 900mm. nhưng kích thước nhỏ nhất có dấu hiệu khác biệt giới tính bằng vây hậu môn ở cá đực hoặc cá cái là 150mm. McClane (1965).7kg.. màu xanh lục là loại trứng chìm. con đực ngậm và bảo vệ trứng.

7mm. Các phôi bị chết khi đang trong thời gian nở được quan sát thấy Soá 3/2011 do sự co thắt lại của các mạch máu trên khối noãn hoàng gây nên do màng mỏng bọc bên ngoài rách ra quá sớm. lượng trứng từ 150 . Trứng cá tăng trưởng mạnh vào đầu tháng 6 nhờ tích lũy noãn hoàng và trở thành màu lục trước khi rụng trứng. Cá đực mang tinh dịch từ tháng 3 đến giữa tháng 7. Lee (1937). ương nuôi ấu trùng rất hạn chế. độ mặn 21‰.5m.211mm. vẫn chưa có công trình nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh học nói chung.98g. Mùa sinh sản cá Úc Bagre marinus vào cuối mùa khô đến đầu mùa mưa (tháng 4 tháng 6). Merriman (1940). Đầu tháng 6. Rimmer và Midley (1985) đã thử nghiệm ấp trứng và nuôi ấu trùng hai loài Arius graeffei và A. ngoại trừ các tài liệu về hình thái. leptaspis đến giai đoạn giống trong ống nhựa và lưới gấp thành góc. bảo vệ và phát triển nguồn lợi bền vững là việc làm cấp thiết. nhiệt độ 30 .tháng 9). 4 và 5. 1940). Ở Việt Nam. Những trứng nhặt lên từ đáy không có khả năng phát triển. ấp trứng. Cá Úc Arius felis đực ngậm trứng khi có chiều dài toàn thân 236 .5m. phân bố và sơ lược về một số đặc điểm khác. nghiên cứu đặc điểm sinh học họ cá Úc để làm cơ sở khoa học cho sinh sản nhân tạo.8mm vào tháng 4. Mansueti và Hardy (1967).tháng 9). đẻ rộ vào tháng 3 . noãn bào nhanh chóng tăng kích thước nhờ sự tích lũy noãn hoàng. Mùa sinh sản của cá vào mùa mưa (tháng 6 .307mm. Nhìn chung trên thế giới. 9 .14mm ở tháng 5. Jones và đồng tác giả (1978) chưa xác định được chắc chắn số lượng trứng của cá Úc Galeichths felis cái bởi vì số lượng lớn trứng nhỏ không chức năng (không thụ tinh) bám vào các trứng lớn. mô phỏng điều kiện như trong khoang miệng. nặng 0. Cá cái có buồng trứng đang giai đoạn phát triển trong các tháng 3. Yanez Arancibia và Lara Dominguez (1988) đã nghiên cứu về đặc điểm sinh sản của 3 loài cá thuộc họ cá Úc ở vùng ven biển nhiệt đới phía Nam vịnh Mexico. hạt dầu bé (Lê Trọng Phấn và đồng tác giả. Tỉ lệ phôi và ấu trùng noãn hoàng bị chết cao. Vì vậy. Mùa sinh sản của cá vào cuối mùa khô và mùa mưa (tháng 4 .tháng 4.25‰. đặc điểm sinh học sinh sản nói riêng.200. leptaspis. phân loại. phân bố. Cá bố ngậm cá con ở miệng từ đầu tháng 5 đến đầu tháng 8. độ mặn 24 . Ở cá Úc Galeichths felis cái. Tại Úc. Thông tin về đặc điểm sinh sản. Ở vịnh Bắc bộ. Ông đã xác định được đường kính noãn bào ở cá Úc Galeichths felis cái đạt 6 . Có khá nhiều nghiên cứu trên các đối tượng này nhưng chủ yếu về các đặc điểm hình thái. chưa có loài nào thuộc họ cá Úc (Ariidae) thực sự được đưa vào nuôi. mô mỡ ở vây hậu môn phát triển thành dạng nắp (Lee. Cá Úc Arius melanopus đực ngậm trứng khi có chiều dài toàn thân 163 . Cá đực vuốt chảy sẹ từ tháng 3 cho đến giữa tháng 7. Vì vậy. nhiệt độ 290C và độ sâu không quá 3. Merriman (1940) cho rằng cá cái không đẻ một lần hết số lượng trứng thành thục mà đẻ nhiều đợt trong một lần đẻ để bảo đảm cho sự chuyển trứng. mùa sinh sản cá Úc từ tháng 3 đến tháng 5. đường kính trứng 11. 1999). nhưng giới tính được cân bằng vào tháng 5.Taïp chí Khoa hoïc .16mm ở tháng 6 và tháng 7. Gunter (1947) cho rằng trứng cá Úc Galeichths felis cái đẻ ra được thụ tinh trên vây hậu môn và sẽ được chuyển từ vây hậu môn vào miệng cá đực. 14 . chỉ có nghiên cứu thử nghiệm ấp trứng và ương ấu trùng của hai loài Arius graeffei và A.310C và độ sâu không quá 3.Coâng ngheä Thuûy saûn felis đực tại bãi sinh sản Mississippi vào tháng 3 và tháng 4. 116 O TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG . 1937) và vây hậu môn lớn hơn các cá thể đực (Merriman.

Mar. 1st Edn. Ecology 42 (3): 553-568. 17. Ichthyol. 12. Barrett BB. Christmas JY. New Delhi. Inst . Mar. 97 pp.190. Betancur R. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NHA TRANG O 117 . and subfamilial clades of sea catfishes (Siluriformes: Ariidae). Costa MF. Arturo AP. A study of nektonic and benthic faunas o f the shallow Gulf of Mexico off the State of Mississippi as related to some physical. C. both recen