P. 1
ĐỘ MÀU

ĐỘ MÀU

|Views: 6,338|Likes:
Được xuất bản bởiMây Hồng

More info:

Published by: Mây Hồng on Apr 12, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

08/21/2013

pdf

text

original

ĐỘ MÀU

1. Nguyên nhân gây nên độ màu đối với nước: - Nước mặt trong tự nhiên: do mùn,phiêu sinh vật, các sản phẩm từ sự phân hủy các chất hữu cơ…tạo ra. Ngoài ra,một số ion kim loại hay nước thải công nghiệp cũng là nguyên nhân gây cho nước có màu. - Nước thải công nghiệp: do các ion kim loại có màu,các hợp chất màu của các nhà máy như dệt nhuộm … - Nước sinh hoạt: do các chất tẩy rửa, dầu mỡ, các chất hữu cơ bị phân hủy. 2. Sự khác nhau giữa màu thực và màu biểu kiến: + Màu biểu kiến: được xác định ngay trên mẫu nguyên thủy,mà không cần loại bỏ chất lơ lửng. Các chất lơ lửng là các chất hòa tan và huyền phù. + Màu thực: Được xác định trên mẫu đã cho quay li tâm để loại bỏ các chất lơ lửng. 3. Tại sao dùng đường chuẩn để so màu? Xác định đường chuẩn để làm gì? - Ta lập đường chuẩn để xác định được phương trình đường chuẩn y=ax+b từ các giá trị độ màu và độ hấp thu. - Từ đó, khi ta biết được giá trị độ hấp thụ của mẫu ta sẽ thay vào phương trình và tính được giá trị độ màu của mẫu.

4. Tại sao đơn vị đo màu là Pt-Co?
-

Vì dung dịch màu chuẩn potassium chloroplatinate K2PtCl6 (tương

ứng 500 đơn vị màu Pt-Co). Hòa tan 1,246g K2PtCl6 (500 mg Pt). Và 1,00 CoCl2.6H2O(250 mg Co) trong nước cất đã có 100ml HCl đậm đặc,sau đó định mức thành 1 lít.
-

Dung dich K2PtCl6 có màu xanh của nước tự nhiên,vi vậy được chọn làm dung dịch màu chuẩn.

Pt-Co được sử dụng như là đơn vị đo độ màu là do dung dịch potassium chloroplatinate và clorua cobalt (có màu xanh lá cây nhạt) tương tự như màu tự nhiên của nước do đó Đơn vị đo độ màu là Pt-Co

ĐỘ ĐỤC 1.Các đơn vị đo độ đục: NTU, FTU,JTU, mg SIO2.

Mối quan hệ: 1JTU= 1NTU= 1mg SiO2= 1 đv đo độ đục.
ĐỘ ACID ĐỘ BAZO

1. Nước có sự hiện diện của tảo thì độ kiềm sẽ có sự thay đổi:

Khi có sự hiện diện của rảo trong nước thì độ kiềm của nước tăng lên

Nhiều nguồn nước mặt có điều kiện tốt cho sự phát triển của tảo, đặc biệt là ở những nơi có cặn nhiều, pH có thể đạt tới 10. Tảo sử dụng cacbonic cho các hoạt động quang hợp dẫn đến pH cao. Vì CO2 là khí axit nên khi khử CO2 dẫn đến làm giảm nồng độ H+ vì thế pH tăng. Vì vậy tảo sử dụng cacbonic làm các dạng độ kiềm thay đổi từ bicacbonat thành cacbonat và từ cacbonat thành hidroxit (trong quá trình thay đổi này thì độ kiềm tổng cộng không thay đổi). Tảo có thể tiếp tục sử dụng CO 2 của nước cho đến khi pH tăng đến giá trị ảnh hưởng, thường pH có giá trị từ 10 – 11. 2 HCO3-  CO3- + H2O + CO2 CO3- + H2O  2OH- + CO2 Vào ban đêm, tảo sản xuất khí CO2 làm ảnh hưởng ngược lại của quá trình trên để bù lạo cho phần đã sử dụng ban ngày cho quá trình quang hợp
2.

Ứng dụng từ số liệu độ kiề m trong phân tích xử lý nước

- Dựa vào số liệu độ kiềm, độ pH của nước, người ta xác định được độ ổn định của nước. Từ đó xác định những tác động mà nước có thể chịu: xâm thực, lắng đọng canxi cacbonat… ứng dụng những tính chất này để bảo vệ đường ống bằng kim loại khỏi quá trình xâm thực bằng cách cho

vào nước những hoá chất phù hợp tạo sự lắng đọng canxi cacbonat len thành ống hình thành lớp bảo vệ vững chắc. - Lựa chọn biện pháp xử lý nước cho thích hợp đảm bảo môi trường cân bằng và sức khoẻ con người. - Độ kiềm làm tác dụng đệm cho dãy pH tối ưu cho quá trình keo tụ. - Độ kiềm là thông số phải được xem xét đến việc tính toán nhu cầu về vôi và soda trong quá trình làm mềm nước bằng phương pháp kết tủa. - Là thông số trong quá trình kiểm soát ăn mòn, đánh giá khả năng đệm của nước thải và bùn, là điều kiện thải của nước thải. 3. Mối quan hệ giữa độ kiềm, pH, cacbonic trong nước tự nhiên
-

Bằng phương pháp thực nghiệm, để xác định độ ổn định của nước,

ban đầu xác định pH0 và độ kiềm Kto, sau đó đem bão hoà bằng CaCO 3 rồi xác định lại pH và độ kiềm Kt . Nếu trong nước có hàm lượng CO2 tự do, nó sẽ di chuyển một phần canxi cacbonat thành canxi hidrocacbonat làm cho pH và độ kiềm trong nước tăng lên. Ngược lại nếu trong nước quá bão hoà canxi cacbonat thì nó sẽ tách ra khỏi nước ở dạng kết tủa bám trên bề mặt các hạt canxi cacbonat mới đưa vào làm cho pH và độ kiềm của nước giảm.

-

Chỉ tiêu ổn định của nước được biểu thị như sau : C 0 = Kto/Kt =

pH0/pH, C0 =1: nước ổn định, C0 <1: nước có tính xâm thực. C0 >1: nước có khả năng lắng đọng CaCO3.

DỘ CỨNG VÀ CALCI

1.

Giải thích hiện tượng độ cứng của nước:

Mối quan hệ độ cứng tổng và độ kiềm.
 sự hiện diện của Na+ trong nước biển và các nguồn khác tạo nên độ

cứng giả của nước. Mặc dù không gây ra độ cứng trong nước nhưng giảm hiệu quả sử dụng xà phòng.  Mối quan hệ: Tổng độ cứng = độ cứng Ca2+ và độ cứng Mg2+. Độ kiềm CO32-, HCO3- là độ cứng cacbonat. + khi độ kiềm <tổng độ cứng: Độ cứng cacbonat (mg/l)=độ kiềm(mg/l) + khi độ kiềm ≥ tổng độ cứng.

Tổng độ cứng =độ cứng cacbonat + độ cứng noncacbonat.
2.

Nguyên nhân gây ra độ cứng của nước?

Do sự hiện diện của các ion đa hóa trị chủ yếu là Ca2+, Mg2+ trong nước .

Chủ yếu là sự phong hóa(hòa tan, xâm thực) tự nhiên của các quặng chứa canxi: đolomi và thạch cao; đá vôi dưới điều kiện thời tiết. -Sự xâm thực CO2:
CaCO 3 + CO 2 + H 2O → Ca
2+

+ 2HCO 3 −

-

Hòa tan do mưa axit(H2CO3,HNO3...)  Ca2+ + CO2

CaCO3 +2 H+

-Sự xâm thực CO2:

 Các yếu tố ảnh hưởng đến độ cứng: - Mẫu chứa các nguyên tố kim loại ở nồng độ tương ứng sẽ cản trở việc xác định điểm cuối.
-

Nếu nồng độ Ca2+ >5.10-3M,sẽ có cân bằng phụ tạo tủa Ca(OH)2 gây sai thiếu.

-

Nồng độ Mg2+ ban đầu cũng không được quá cao vì nếu kết tủa Mg(OH)2 quá nhiều cũng gây ra sai thiếu.

-

Thời gian của chuẩn độ không được quá lâu, pH của mẫu lớn hơn 10 thì sẽ tạo kết tủa CaCO3 và Mg(OH)2 . 3. Ứng dụng số liệu trong phân tích:

Biết được hàm lượng trong nước để ta có các biện pháp để xử lý.

 Như nước cứng tạm thời (bicacbonat và cacbonat sẽ kết hợp với

Ca2+ , Mg2+ ) ta dùng biệt pháp đun sôi hoặc khử bằng vôi để loại bỏ. Ca2+ + HCO3- + Ca(OH)2 -----> CaCO3+ 2H2O
 Nước cứng vĩnh cửu: Khử Ca2+ bằng phương pháp cho thêm

orthophosphate: 5Ca2+ + 3PO43- + OH- ------ > CaOH(PO4)

Nước cứng gây hại cho con người, sinh vật. Vì vậy, cần phải xác định độ cứng Ca2+ để xem nguồn nước đó có phải là nước cứng hay không. Nước có thể chứa các khoáng chất cứng như Ca2+, Mg2+ hoặc khoáng chất làm mềm như Natri. Đó là lý do quan trọng vì sao phải thử nghiệm nước để xác định độ cứng Ca2+ trong nước. Riêng cách xác định đặc tính của nước,xác định hàm lượng Ca2+ trong nước thì chúng ta có thể lựa chọn được nguồn nước thích hợp với mục đích sử dụng, an toàn cho sức khỏe con người và phương pháp xử lý hợp lý. • Các đơn vị đo độ cứng : Mg CaCo3/l Độ Đức (odH) : 1 odH = 10mg CaO/l nước Độ Pháp (of) : 1 of = 10mg CaCO3/ 0,7l nước

Độ Anh (oe) :

1 oe = 10mg CaCO3// 0,7l nước

Đông Âu (mg đương lượng/l) = 1mg đương lượng /l = 2,8 odH = 28 mg CaO/l nước
SẮT 1.

Các nguyên nhân gây ôi nhiễm Fe trong nước ngầm:

Sắt được hình thành do quá trình khử oxit sắt (III) trong đất. Trong điều kiện thiếu oxy, vi sinh vật yếm khí oxy hóa chất hữu cơ theo cơ chế anoxic, trong đó Fe3+ thường ở dạng oxit không tan là chất nhận electron: Fe2O3 + C(H2O) + H2O -- Fe2+ + H+ + COâ Sự xuất hiện phèn sắt Fe(OH)3 –Fe2O3 : Fe2+ trong nước ngầm khi tiếp xúc với không khí lại bị oxy hóa thành sắt III hydroxit và cuối cùng tạo oxit sắt: Fe2+ + O2 + H2O ---- Fe(OH)3 --- Fe2O3 + H+ Các sản phẩm của phản ứng phân hủy ở dạng keo rất khó lắng, lởn vởn trong nước. Đó là hiện tượng nước bị phèn. Fe2O3 có màu nâu đậm. Do đó các vật liệu tiếp xúc với nước giếng nhiễm sắt thường bị ố vàng nâu. Sự có mặt của chất hữu cơ trong nước ngầm là nguyên nhân chính làm nước ngầm nhiễm phèn sắt. Việc khai thác nước ngầm quá mức làm nước ngầm hạ thấp xuống. Như vậy tăng sự xâm nhập chất hữu cơ từ trên bề mặt vào nước ngầm và làm tăng hàm lượng sắt trong nước ngầm. Do keo sắt trong đất hấp thụ nhiều ion kim loại khác nhau như Manga, Arsenic.

Như vậy, các mạch nước ngầm bị ô nhiễm sắt thì trước đó đã bị ô nhiễm các chất hữu cơ, quá trình ô nhiễm này làm PH trong nước ngầm giảm làm tăng hàm lượng CO2 trong nước ngầm dẫn đến tăng tình ăn mòn của nước ngầm quá trình này thúc đẩy phản ứng khử Ion sắt 3 vốn đang kết tủa trong đất thành ion sắt 2 hòa tan trong nước gây là chất lượng nước kém vì có quá nhiều ion sắt hòa tan. 2. Ý nghĩa môi trường của Fe trong việc cấp nước:

Khi khảo sát nguồn nước mới, thì việc xác định Fe rất quan trọng. Hiệu quả xử lý của một công trình cũng thông qua đánh giá hàm lượng. Chỉ thiêu này giúp giải quyết các vấn đề về hệ thống phân phối khi vi khuẩn oxy hóa sắt tồn tại trong đường ống. Quá trình ăn mòn đường ống bằng sắt là nguyên nhân gây ra hiện tượng “ nước đỏ” trong hệ thống phân phối. Vì thế, phân thích chỉ tiêu sắt giúp đánh giá mức độ ăn mòn và tìm phương pháp khắc phục. • Một số phương pháp đo hàm lượng Fe: - Khi nồng độ Fe cao ta dùng phương pháp kết tủa. - Khi nồng độ Fe thấp ta dùng phương pháp so độ màu: - Ngoài ra, ta còn có thể dùng phương pháp hấp thụ quang phổ nguyên tử

4. NƯỚC NGẦM CÓ HÀM LƯỢNG SẮT CAO
Trong cấu trúc của trái đất khi hình thành thì những nguyên tố nặng như sắt và niken chìm

xuống hình thành nên lớp nhân của trái đất. Trên trái đất có những mỏ sắt. Những mỏ sắt này ở trong lòng đất, khi những mạch nước ngầm chảy qua thì sắt sẽ ngấm vô các túi nước ngầm này, làm cho hàm lượng sắt trong nước ngầm luôn cao.

CLO
1.

Thực hiện mẫu trắng trước khi định phân nhằm:

Tránh sai số khi nước cất pha loãng có chứa ion Cl-. Khi nước sạch: xác định đúng thể tích AgNO 3 tác dụng tạo Ag2CrO3 để xác định chính xác thể tích AgNO3 tác dụng tạo kết tủa AgCl.

 Để so màu với mẫu như vậy dễ nhận biết điểm tương đương.

2.

Phương pháp định phân thực hiện trong môi trường trung tính: môi trường axit: thì ion CrO4- chuyển thành Cr2O7- không tạo kết tủa đỏ gạch với Ag+ vì thế không xác định được điểm tương đương.

Trong môi trường kiềm: AgNO3 bị oxi hóa thành Ag2O không thể phân định được.

Do đó, tốt nhất là ta thực hiện định phân trong môi trường trung tính.
3.

Ý nghĩa của nồng độ Cl-- :

Chloride ở nồng độ hợp lý không độc với con người, nhưng khi dùng nước có hàm lượng chloride cao có thể gây bệnh về thận. Ngoài ra nước chứa nhiều chloride có tính xâm thực bêtông.

PHOSPHAT

1. Sự khác biệt giữa orthophotphat; polyphotphat; photphat hữu cơ:

Orthophosphat:

Đây là dạng phosphat có cấu tạo: PO43- có tính tan khi ở trạng thái hợp chất như: Mg(PO4), K3PO4. Có tính linh động cao dễ dàng hấp thụ bởi VSV và thực vật hơn các dạng khác.

Polyphosphat:

Đây là hợp chất liên kết vô cơ chứa hơn 1 nguyên tử phospho như P 2O5, P2Ondh2 có tính linh động kém hơn so với orthophosphat.

Phosphat hữu cơ:

Dạng này có thành phần cấu trúc từ các phân tử ATP, ADP trong cơ thể sinh vật. Trong tự nhiên, hầu như dạng này là những chất mang tính độc hại mạnh dưới dạng thuốc trừ sâu, vũ khí hóa học. 2. So sánh kết quả phân tích hàm lượng photphat sau khi lấy mẫu bảo quản nhiều ngày. Hàm lượng photphat đo được của mẫu bảo quản nhiều ngày (oánh). Photphat là chất dinh dưỡng thiết yếu cho sự sống của VSV nên được VSV sử dụng để phân giải hợp chất hữu cơ trong cơ thể VSV. Trong quá trình chuẩn độ thì quá trình đun nóng trong môi trường axit các dạng photphat được chuyển về dạng orthophosphat nhưng vẫn cho kết quả như ban đầu.
3. Ý nghĩa của phostphat trong kiểm soát ô nhiễm nước. Vì vi sinh vật trong quá trình xử lý sinh học cần 1 lượng photphorus để tái tạo và tổng hợp mô, nếu lượng phosphorus đạt chuẩn thì sẽ giúp các vi sinh vật phân giải chất hữu cơ sinh trưởng phát triển bình thường . Nếu lượng nước thải có quá nhiều phosphorus sẽ làm cho các sinh vật tảo phát triển càng gây ô nhiễm cho nước , ngăn cản sự phát triển của các vi sinh vật hô hấp hiếu khí & kị khí .

NITRATE 1. Lý do để ta phân tích nitrate:

• N là nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu, nó có thể góp phần tạo nên hiện tương phú dưỡng hóa mặc dù không tạo ngưỡng phát triển.

Xác định hàm lượng NO3- có thể biết được nguồn ô nhiễm ở.......... NO3-, NO2- có mặt NH4+ hay không như thế nguồn nước đang trong quá trình tự làm sạch.

2.

TCVN đối với NO3-: NO3-≤ 6mg/l. Khi NO3- > 6mg/l thì gây hại đối với người sử dụng.

• Khi trẻ em sử dụng nguồn nước này có thể gây ra bệnh thiếu huyết sắc tố.

3.

Các dạng tồn tại của NO3- : NO3- có mặt trong nước ngầm và nước

mặt.

Nước mặt NO3- tồn tại ở dạng vết.

Nước ngầm: nước ngầm nông hoặc những nơi trồng trọt sử dụng nhiều phân bón đồng bằng, vùng đất cát thì có [NO3- ] cao.

DO 1. DO quan trọng trong sông suối:

Vì DO là yếu tố xác định sự thay đổi xảy ra khi vi sinh vật kị khí hay hiếu khí . Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm dòng chảy. Nếu trong nước sông suối bị các kim loại nặng hoặc các hợp chất hữu cơ xâm nhập vào làm cho các vi sinh vật hiếu khí hay kị khí chết thì nồng độ DO sẽ thấp ảnh hưởng đến môi trường nước. Vì vậy nó quan trọng trong việc đánh giá ô nhiễm trong sông suối .

2.

Các yếu tố ảnh hưởng đên DO

Phụ thuộc vào diện tích tiếp xúc của không khí đối với nước nguồn . Vào cặn lắng trong nước : nếu lượng cặn lắng lớn và lượng oxy trong nước không đủ cho quá trình phân hủy hiếu khí thì oxy hòa tan của nước cạn kiệt. Phụ thuộc vào nhiệt độ: Về mùa hè khi nhiệt độ của nước tăng quá trình oxy hóa xảy ra với cường độ mạnh trong khi độ hòa tan của oxy vào nước lại giảm xuống . Vì vậy về mùa hè độ thiếu hụt oxy nhanh hơn mùa đông .

3. 1ml Na2S2O3 0,025 N đã dùng = 1mg O2/l. 1 ml Na2S2O3 0,025 đã dùng =1 mg O2/lít và hậu hết các chất điện phân sử dụng trong phân tích nước đã điều chỉnh sao cho mỗi ml dung dịch chuẩn tương ứng với 1,0 mg chất tự do 1 ml dd Na2S2O3 0,025 0,025 = (1/40) e =2 O2 =16 Số đương lượng gam O2 :Đ = (M/e) =(16/2) = 8

V khi đinh phân =300 -97-3 = 200 ml 1 ml dd Na2S2O3 0,025 = (1/Đ)*(1/ V khi đinh phân ) 1/40 = (1/8)*(1/5) =1/40 Vậy 1 ml Na2S2O3 0,025 đã dùng =1 mg O2/lít. BOD 1. Ứn g dụng của BOD trong xử lý nước thải:

 BOD là một thí nghiệm quan trọng nhất để kiểm soát ô nhiễm nguồn nước thải sinh hoạt và công nghiệp: + Xác định tình trạng ô nhiễm để có thể tính đến việc xử lý ô nhiễm như làm thoáng bề mặt nước ô nhiễm hoặc sục khí vào nguồn gây ô nhiễm để vi sinh vật thực hiện quá trình làm sạch. + Có thể thêm các tác nhân VSV vào nguồn nước để giúp quá trình làm sạch nhanh hơn.  BOD có thể đánh giá được khả năng tự làm sạch của nguồn nước được khảo sát. BOD càng cao chứng tỏ mức ô nhiễm càng nặng. Đây là thí nghiệm gián tiếp đo hàm lượng chất hữu cơ.
2.

Lý do để ta chọn phân tích BOD5 để phân tích BOD:  Quá trình oxy hóa là quá trình diễn ra chậm và theo như lý thuyết quá trình diễn ra hoàn toàn mất thời gian rất lâu.

 Trong vòng 20 ngày, khoảng 90-95% hợp chất hữu cơ đã được oxy hóa.  Trong vòng 5 ngày, khoảng 60-70% hợp chất hữu cơ đã được oxy hóa. Từ ngáy thứ 5 trở đi lượng oxy còn tham gia quá trình chuyển hóa N vô cơ dẫn đến sự sai lệch của thí nghiệm nếu để quá lâu. Do đó, người ta chọn cách phân tích BOD5 để thuận tiện. 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ oxy hóa trong thí nghiệm BOD:  Các chất độc hại đối với vsv  PH và điều kiện thẩm thấu phải thích hợp.  Chất dinh dưỡng cung cấp cho vsv  Nhiệt độ môi trưởng nuôi cấp ( nhiệt độ ủ của phân tích )  Seed (vsv được bổ sung trong pt BOD ) COD 1. Ý NGHĨA CỦA KIỂM TRA COD: Chỉ tiêu COD được dùng để xác định hàm lượng chất hữu cơ có trong nước thải sinh hoạt và nước thài công nghiệp. COD là lượng oxy cần thiết để oxy hóa các chất hữu cơ thành CO2 và H2O dưới tác dụng của chất

oxy hóa mạnh, từ đó tìm ra phương án xử lý nước thải bằng phương pháp sinh hoc hay hóa học.
2. VAI TRÒ CỦA AgSO4 VÀ HgSO4 TRONG

KIỂM NGHIỆM: AgSO4 là chất xúc tác nhằm làm tăng tôc độ phản ứng trong quá trình oxu hóa các chất hữu cơ mạch thẳng hoặc các nhân thơm. HgSO4 cho vào dung dịch K2Cr2O7 để tạo phức bền HgCl42- vì khi cho chất xúc tác AgSO2 thì Ag sẽ kết tủa với các ion halogen nên sẽ ảnh hưởng đến các quá trình nhận màu bằng mắt. Mặt khác, chính các halogen này cũng bị oxy hóa 1 phần bời dichromate do đó nó sẽ ảnh hưởng đến quá trình phân tích. SULPHATE Hàm lượng cao có ý nghĩa gì với việc cấp nước và nước thải?  Đối với nước cấp: hàm lượng sunfat cao sẽ ảnh hưởng sức khỏe con người. Ở nồng độ sunfat 200mg/l nước có vị chát, hàm lượng cao hơn có thể gây bệnh tiêu chảy.  Đối với nước thải: hàm lượng sunfat cao là do ô nhiễm từ nguồn nước thải ngành dệt nhuộm, thuộc da, luyện kim, sản xuất giấy. nước nhiễm phèn chứa hàm lượng sunfat cao. Ảnh hưởng của đến sức khỏe con người

1.

 Sunfat thường có mặt trong nước là do quá trình oxy hóa các chất hữu cơ có chứa sunfua hoặc do ô nhiễm từ nguồn nước thải ngành dệt nhuộm, thuộc da, luyện kim, sản xuất giấy. Nước nhiễm phèn thường chứa hàm lượng sunfat cao.  Ở nồng độ sunfat 200mg/l nước có vị chát, hàm lượng cao hơn có thể gây bệnh tiêu chảy. Tiêu chuẩn nước uống quy định sunfat nhỏ hơn 250 mg/l.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->