3. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO 3.1.

Vấn đề dân tộc và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc Khái niệm dân tộc Dân t ộc là một hình thức tổ chức cộng đồng người có tính chất ổn định được hình thành trong lịch sử; là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử xã hội. Lịch sử xã hội đã cho thấy, trước khi cộng đồng dân tộc ra đời, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng: thị tộc, bộ lạc và bộ tộc. Những hình thức cộng đồng này có sự phát triển từ thấp đến cao theo sự biến đổi của phương thức sản xuất. Sự hình thành cộng đồng dân tộc trên thế giới diễn ra không đều nhau. Ở các nước phương Tây, sự hình thành dân tộc gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, của chủ nghĩa tư bản. Theo V.I.Lênin, ở các nước phương Tây chỉ khi chủ nghĩa tư bản ra đời, cộng đồng bộ tộc mới phát triển thành cộng đồng dân tộc. Bởi vì, do sự phát triển của lực lượng sản xuất và trên cơ sở đó nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa mở rộng đã phá vỡ tình trạng cát cứ phong kiến, thị trường có tính địa phương khép kín bị xóa bỏ và thị trường dân tộc xuất hiện. Cùng với quá trình kinh tế đó là sự phát triển ngày càng chín muồi các nhân tố ý thức tộc người, văn hóa, ngôn ngữ đã tác động hình thành dân tộc trên cơ sở một bộ tộc hoặc do nhiều bộ tộc hợp nhất lại. Đây là loại hình dân tộc chịu ảnh hưởng của hệ thường tư sản, do giai cấp tư sản lãnh đạo, nên được gọi là dân tộc tư sản. Trong khi đó ở phần lớn các nước phương Đông, sự hình thành cộng đồng dân tộc chịu sự tác động của hoàn cảnh lịch sử có tính đặc thù, trong đó các yếu tố cố kết tự nhiên - xã hội, quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước... đã hình thành nên dân tộc. Do đó, cộng đồng dân tộc đã ra đời trước khi chủ nghĩa tư bản được xác lập. Có thể coi đây là loại hình dân tộc tiền tư bản hình thành trên cơ sở một nền văn hóa, một ý thức, tâm lý dân tộc phát triển chín muồi nhưng lại có mộ cơ sở kinh tế chưa phát triển. Khái niệm dân tộc thường được dùng với hai nghĩa: Thứ nhất, khái niệm dân tộc dùng để chỉ cộng đồng người cụ thể nào đó có những mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ chung của cộng đồng và trong sinh hoạt văn hóa có những nét đặc thù so với những cộng đồng khác; xuất hiện sau cộng đồng bộ lạc; có sự kế thừa và phát triển hơn những nhân tố tộc người ở cộng đồng bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác của các thành viên trong cộng đồng đó. Thứ hai, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định, bền vững hợp thành nhân dân của một quốc gia, có lãnh thổ chung, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung, có truyền thống văn hóa, truyền thống đấu tranh chung trong quá trình dựng nước và giữ nước. Như vậy, về khái niệm dân tộc, nếu theo nghĩa thứ nhất, dân tộc là bộ phận của quốc gia, là cộng đồng xã hội theo nghĩa là các tộc người, còn theo nghĩa thứ hai thì dân tộc là toàn bộ nhân dân một nước, là quốc gia - dân tộc.Với nghĩa như vậy đã cho thấy: khái niệm dân tộc và khái niệm quốc gia có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, dân tộc bao giờ cũng ra đời trong một quốc gia nhất định và thực tiễn lịch sử chứng minh, những nhân tố hình thành dân tộc chín muồi thường không

Có thể nói. giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp cầm quyền tạo tiền đề cho tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. bình đẳng và mối quan hệ đoàn kết. Sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga. nhiều cộng đồng dân cư đã ý thức được rằng. Giai cấp công nhân hiện đại với sứ mệnh lịch sử của mình. hữu nghị giữa người với người được thực hiện.tách rời với sự chín muồi của những nhân tố hình thành quốc gia. Đồng thời.V. xã hội và văn hóa tư tưởng. Tuy nhiên. chỉ trong cộng đồng dân tộc độc lập họ mới có quyền quyết định con đường phát triển của dân tộc mình. Xu hướng này biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc để tiến tới thành lập các quốc gia dân tộc độc lập và có tác động nổi bật trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản. đồng thời cũng mở ra quá trình hình thành và phát triển của dân tộc xã hội chủ nghĩa. dân tộc xã hội chủ nghĩa cũng chỉ có thể ra đời từ kết quả toàn diện trên mọi lĩnh vực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội từ kinh tế. xây dựng từng bước cộng đồng dân tộc và các mối quan hệ xã hội. Trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc. dân tộc xã hội chủ nghĩa chỉ xuất hiện khi sự cải tạo. Xu hướng thứ hai: Các dân tộc từng quốc gia. kể cả các dân tộc nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định rằng.thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. cùng với nhân dân lao động sẽ sáng tạo ra xã hội đó. sự thức tỉnh về quyền sống của mình. đây cũng là một sự quá độ lên một xã hội trong đó các quyền tự do. Sự phát triển của lực lượng sản xuất. quan hệ dân tộc theo các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học. thống trị của chủ nghĩa đế quốc nhằm áp bức bóc lột các dân tộc còn nghèo nào và lạc hậu. của giao lưu kinh tế. Khi nghiên cứu về dân tộc. Hai xu hướng phát triển của dân tộc và vấn đề dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội Khi nghiên cứu về dân tộc và phong trào dân tộc trong chủ nghĩa tư bản. thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau. khu vực nơi có nhiều cộng đồng dân cư với nguồn gốc tộc người khác nhau trong chủ nghĩa tư bản. thay vào đó là những khối liên hiệp với sự áp đặt. khi tình trạng áp bức giai cấp. các cộng đồng dân cư muốn tách ra để thành lập các quốc gia dân tộc độc lập. Thực tế này đã diễn ra những quốc gia.I. tình trạng người bóc lột người bị thủ tiêu thì tình trạng áp bức dân tộc cũng bị xóa bỏ. Xu hướng các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng bị chủ nghĩa đế quốc phủ nhận. Với thắng lợi của cách mạng vô sản. Đây là những nhân tố bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình phát triển. trở ngại. . chỉ trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội. Trong xu hướng đó. chính trị. một thời đại mới đã xuất hiện . xóa bỏ sự biệt lập. khép kín. văn hóa trong chủ nghĩa tư bản đã tạo nên mối liên hệ quốc gia và quốc tế mở rộng giữa các dân tộc. quan hệ dân tộc và những xu hướng phát triển của nó. sự vận động của hai xu hướng trên gặp rất nhiều khó khăn.Lênin đã phân tích và chỉ ra hai xu hướng phát triển có tính khách quan của dân tộc: Xu hướng thứ nhất: Do sự chín muồi của ý thức dân tộc.

vấn đề dân tộc là một bộ phận của những vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản. Trong đó. Trên cơ sở tư tưởng của C. Giải quyết vấn đề dân tộc là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định.Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc Cùng với vấn đề giai cấp. Những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác . liên hiệp công nhân . bổ sung cho nhau làm phong phú thêm giá trị chung của quốc gia . bản sắc của từng dân tộc. giải quyết vấn đề dân tộc phải gắn với cách mạng vô sản và trên cơ sở của cách mạng xã hội chủ nghĩa.Dân tộc trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội có sự vận động mới theo hướng ngày càng tiến bộ. chính trị.Mác. văn hóa. trong cả cộng đồng quốc gia.xã hội xã hội chủ nghĩa. Xã hội mới từng bước tạo ra những điều kiện để xây dựng quan hệ hợp tác giữa các dân tộc. vấn đề dân tộc luôn luôn là một nội dung quan trọng có ý nghĩa chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa. tính cộng đồng chung. Do đó. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin. dân tộc và quan hệ dân tộc trong tiến trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa là một nội dung quan trọng trong toàn bộ nội dung của sự nghiệp xây dựng xã hội mới.I. Điều đó cũng có nghĩa phải trên cơ sở và vì lợi ích cơ bản. Mỗi dân tộc không những có điều kiện khai thác tối đa tiềm năng của dân tộc mình để phát triển mà còn nhận được sự giúp đỡ. hạnh phúc. cùng với sự phân tích hai xu hướng của vấn đề dân tộc. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng nhấn mạnh rằng. tinh hoa của các dân tộc hòa nhập vào nhau. khi xem xét và giải quyết vấn đề dân tộc phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân. Sự tăng cường tính thống nhất các dân tộc trở thành một quá trình hợp quy luật. bền vững hơn. Ph. tính thống nhất vẫn trên cơ sở giữ gìn và phát huy tinh hoa. Sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong một quốc gia sẽ làm cho những giá trị. dựa vào tiềm năng của dân tộc anh em để phát triển nhanh chóng. Giải quyết vấn đề dân tộc thực chất là xác lập quan hệ công bằng. Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc gắn với sự phát triển của cả cộng đồng các dân tộc. Quan hệ dân tộc sẽ là biểu hiện sinh động của hai xu hướng đó trong điều kiện của công cuộc xây dựng xã hội mới . giữa các quốc gia dân tộc trên các lĩnh vực kinh tế. Những giá trị chung đó sẽ lại là cơ sở liên kết các dân tộc chặt chẽ. Tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để xây dựng quan hệ dân tộc bình đẳng. hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong từng dân tộc. bình đẳng giữa các dân tộc trong một quốc gia. Tóm lại. hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc sẽ phát huy tác dụng cùng chiều. lâu dài của dân tộc. Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng sẽ là nhân tố quan trọng cho từng dân tộc nhanh chóng đi tới phồn vinh. phát triển hay khủng hoảng. các dân tộc được quyền tự quyết. văn minh. bổ sung.Ăng ghen về vấn đề dân tộc và giai cấp. xã hội và ngôn ngữ.dân tộc. hợp tác giúp đỡ nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc.Lênin đã nêu ra ''Cương lĩnh dân tộc'' với ba nội dung cơ bản: các dân tộc hoàn toàn bình đẳng. Tuy nhiên. V. tạo ra của một quốc gia dân tộc.

ngôn ngữ cho bất cứ dân tộc nào. không có đặc quyền đặc lợi về kinh tế. Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc có ý nghĩa lớn lao đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đây là tư tưởng. Đồng thời. Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc (kể cả các cộng đồng bộ tộc và chủng tộc).dân tộc. Quyền dân tộc tự quyết bao gồm quyền tự do phân lập thành cộng đồng quốc gia dân tộc độc lập (vì lợi ích của các dân tộc. quyền tự quyết định con đường phát triển kinh tế. quyền bình đẳng dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Tư tưởng này là sự thể hiện bản chất quốc tế của giai cấp công nhân. Trong một quốc gia có nhiều dân tộc. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin là một bộ phận không thể tách rời trong cương lĩnh cách mạng của giai cấp công nhân. bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với các nước lạc hậu. phong trào công nhân và phản ánh tính thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp.I.Lênin. Cương lĩnh đã trở thành cơ sở lý luận cho chủ trương. Đây được coi là cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin. dù đông người hay ít người. trong đó việc khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế. chứ không phải vì mưu đồ và lợi ích của một nhóm người nào) và quyền tự nguyện liên hiệp lại với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng. 1) Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng.tất cả các dân tộc lại. văn hóa. quyền bình đẳng dân tộc phải được pháp luật bảo vệ và trong thực tế phải được thực hiện. Nó có vai trò quyết định đến việc xem xét. chống sự áp bức. giải phóng giai cấp và giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc. văn hóa giữa các dân tộc do lịch sử để lại có ý nghĩa cơ bản. chính trị . nội dung cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của V. chủ nghĩa sô vanh nước lớn. Trong quan hệ giữa các quốc gia . Mọi quốc gia đều bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Khi xem xét giải quyết quyền tự quyết của dân tộc cần đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân: ủng hộ các phong trào dân tộc tiến bộ. đây cũng . là tuyên ngôn về vấn đề dân tộc của Đảng Cộng sản trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. có trình độ phát triển cao hay thấp đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau. kiên quyết đấu tranh chống lại những mưu toan lợi dụng quyền dân tộc tự quyết làm chiêu bài để can thiệp vào công việc nội bộ các nước. chậm phát triển về kinh tế. 2) Các dân tộc được quyền tự quyết. đòi ly khai chia rẽ dân tộc. Tất cả các dân tộc. đường lối và chính sách dân tộc của các Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa. của Đảng Cộng sản. thực hiện quyền bình đẳng dân tộc và quyền dân tộc tự quyết. Về thực chất quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc.xã hội của dân tộc mình. chính trị. (ví dụ) 3) Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc.

trong khi đó trình độ dân trí của nhân dân lại vẫn chưa thực sự được nâng cao. Khi phân tích bản chất tôn giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội. người ta có cảm nhận như làm công việc ''tích đức''. Về bản chất. chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang những hình thức của lực lượng siêu trần thế''(15). nhận thức và tâm lý. tôn giáo. văn hóa. Tôn giáo là sản phẩm của con người. tôn giáo cũng chứa đựng một số giá trị phù hợp với đại đức. bất lực của con người trước tự nhiên và xã hội. Trong lịch sử xã hội loài người. Do đó. tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sự bế tắc. Vấn đề tôn giáo trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong xã hội xã hội chủ nghĩa.xã hội. . bất cứ tôn giáo nào. ''tu thân''. trước những sức mạnh tự phát của giới tự nhiên và xã hội mà con người vẫn chưa thể nhận thức và chế ngự được đã khiến cho một bộ phận nhân dân đi tìm sự an ủi. đạo lý con người. 3.là yếu tố tạo nên sức mạnh đảm bảo cho thắng lợi của giai cấp công nhân vàbcác dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. xã hội và của con người mà khoa học chưa lý giải được. Bởi vậy khi tham gia sinh hoạt tôn giáo. tôn giáo xuất hiện từ rất sớm. trong đó có các nguyên nhân chủ yếu sau: .Nguyên nhân kinh tế.Ăng ghen đã cho rằng: ''Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống của họ. Tôn giáo ra đời bởi nhiều nguồn gốc khác nhau nhưng cơ bản là từ các nguồn gốc kinh tế . thư khuyên làm điều tốt.2. Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong xã hội xã hội chủ nghĩa vẫn còn nhiều hiện tượng tự nhiên. Tuy nhiên. gắn với những điều kiện tự nhiên và lịch sử cụ thể. răn bỏ điều ác đối với họ. Nói chung. . Có nhiều nguyên nhân cho sự tồn tại của tín ngưỡng.Nguyên nhân nhận thức. cũng đều ban gồm: ý thức tôn giáo (thể hiện ở quan niệm về các đấng thiêng liêng cùng những tín ngưỡng tương ứng) và hệ thống tổ chức tôn giáo cùng với những hoạt động mang tính chất nghi thức tín ngưỡng của nó. chính trị. với hình thái phát triển đầy đủ của nó. Nó hoàn thiện và biến đổi cùng với sự biến đổi của những điều kiện kinh tế-xã hội. Ph. che chở và lý giải chúng từ sức mạnh của thần linh. Trong hệ thống những lời răn dạy của giáo lý tôn giáo cũng có những lời răn mà trong chừng mực nào đó khi quần chúng chấp nhận vẫn có tác dụng điều chỉnh. tôn giáo vẫn còn tồn tại. xác định. Vấn đề tôn giáo và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo Khái niệm tôn giáo Tôn giáo là một hiện tượng xã hội ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại và tồn tại phổ biến ở hầu hết các cộng đồng người trong lịch sử hàng ngàn năm qua.

hướng thiện. tôn giáo đã tồn tại lâu đời trong lịch sử nhân loại.. có ý nghĩa giáo dục ý thức cộng đồng. phong cách. phong tục tập quán. với quá trình cải tạo xã hội cũ.xã hội mà nó phản ánh.. trong một chừng mực nhất định. ngẫu nhiên vẫn tác động mạnh mẽ đến con người. Xét về mặt giá trị. với chủ trương đường lối. Điều đó cho thấy. cho dù trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong xã hội xã hội chủ nghĩa đã có những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế. Chính vì thế. làm cho con người dễ trở nên thụ động với tư tưởng nhờ cậy. cầu mong vào những lực lượng siêu nhiên. thì tôn giáo vẫn không thể biến đổi ngay cùng với tiến độ của những biến đổi kinh tế . tinh thần giữa các nhóm dân cư còn tồn tại phổ biến. cùng với tiến trình đó. trong mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. tầng lớp xã hội.xã hội. Tuy nhiên. Quần chúng nhân dân có đạo đã thực sự trở thành chủ thể của xã hội. sự cách biệt khá lớn về đời sống vật chất.Nguyên nhân văn hóa. văn hóa. lối sống của mỗi cá nhân trong cộng đồng. sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo đã đáp ứng được phần nào nhu cầu văn hóa tinh thần của cộng đồng xã hội và trong một mức độ nhất định. Đó là những giá trị đạo đức. đã trở thành niềm tin. trong đó ý thức tôn giáo thường lại là yếu tố mang tính chất bền vững nhất trong đời sống tinh thần của mới con người. sự bất bình đẳng về kinh tế. Trong thực tế sinh hoạt văn hóa xã hội. đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận quần chúng nhân dân. Bởi vậy. chính trị. tình cảm của một bộ phận đông đảo quần chúng nhân dân qua nhiều thế hệ. chính sách của nhà nước xã hội chủ nghĩa. lối sống. . tôn giáo ấy đã lôi cuốn một bộ phận quần chúng nhân dân xuất phát từ nhu cầu văn hóa tinh thần. những yếu tố may rủi. ngày càng có được đời sống tinh thần lành mạnh. tình cảm của họ. của xã hội. tôn giáo có sức thu hút mạnh mẽ đối với một bộ phận quần chúng nhân dân. Trên đây là những nguyên nhân cơ bản khiến tôn giáo vẫn còn tồn tại trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong đời sống hiện thực. . Tín ngưỡng. xây dựng xã hội mới. văn hóa với tinh thần nhân đạo. chính trị .Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nền kinh tế vẫn còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế với những lợi ích khác nhau của các giai cấp. . Về phương diện sinh hoạt văn hóa. dị đoan.Nguyên nhân chính trị . Do đó. đời sống vật chất.Nguyên nhân tâm lý. tinh thần ngày càng được nâng cao. tôn giáo cũng có những biến đổi cùng với sự thay đổi của những điều kiện kinh tế-xã hội.xã hội. xã hội vẫn còn diễn ra. Trên cơ sở đó họ dần dần giải thoát khỏi tình trạng mê tín. tôn giáo thường được thực hiện dưới hình thức là những nghi lễ tín ngưỡng cùng với những lời răn theo chuẩn mực đạo đức phù hợp với quan niệm của mỗi loại tôn giáo. có những nguyên tắc của tôn giáo là phù hợp với chủ nghĩa xã hội. . thì ý thức xã hội thường có tính bảo thủ hơn so với sự biến đổi của tồn tại xã hội. Những sinh hoạt vẫn hóa có tính chất tín ngưỡng.

thái độ của các giáo hội. Hai là. giải quyết hết sức thận trọng. Những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác . sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quan điểm. tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa được khơi dậy. khi tín ngưỡng tôn giáo còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân thì nhà nước xã hội chủ nghĩa phải tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của mọi công dân. vai trò và sự tác động của từng tôn giáo đối với đời sống xã hội cũng khác nhau. bóc lột quần chúng nhân dân như trong các xã hội trước đây. khắc phục mặt này là việc làm thường xuyên. kiên quyết. vừa phải thận trọng và phải có sách lược phù hợp với thực tế. phải có quan điểm lịch sử . Ba là.Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo Tín ngưỡng. Nghiêm cấm mọi hành vi chia rẽ cộng đồng vì lý do tín ngưỡng tôn giáo. Bốn là. tình trạng xung đột tôn giáo không còn nữa. xây dựng xã hội mới. Do đó. Mặt tư tưởng thể hiện sự tín ngưỡng trong tôn giáo. Mặt chính trị là sự lợi dụng tôn giáo của những phần tử phản động nhằm chống lại sự nghiệp cách mạng. cụ thể và chuẩn xác có tính nguyên tắc với những phương thức linh hoạt theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin. vừa phải khẩn trương. Đấu tranh loại bỏ mặt chính trị phản động trong lĩnh vực tôn giáo là nhiệm vụ thường xuyên. nghiêm cấm mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của công dân. khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống xã hội phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ. giáo dân về các lĩnh vực.Các tổ chức tôn giáo không còn là công cụ của bất cứ thế lực nào muốn mưu toan lợi dụng để áp bức. giáo sĩ. đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ đất nước. tôn giáo là những vấn đề nhạy cảm và phức tạp. Do đó.cụ thể khi xem xét. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Công dân có tôn giáo hay không có tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. đánh giá và giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo. những vấn đề nảy sinh từ tôn giáo cần phải được xem xét. ''Người mácxít phải biết . cần phải có quan điểm lịch sử . Giải quyết vấn đề tôn giáo trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cần dựa trên những nguyên tắc sau: Một là. đoàn kết những người theo tôn giáo với những người không theo tôn giáo. Cần phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo. Nhà nước xã hội chủ nghĩa hướng các tổ chức giáo hội vào quỹ đạo chuyên lo việc đạo cho tín đồ. các vấn đề của xã hội có sự khác biệt. Đông đảo quần chúng nhân dân có tôn giáo ngày càng có điều kiện tham gia đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong vấn đề tôn giáo. Năm là.cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo. thực hiện đoàn kết những người có tôn giáo với những người không có tôn giáo. lâu dài. tham gia tích cực vào các công tác xã hội từ thiện. Đó là yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau. đoàn kết các tôn giáo. tạo nên sức mạnh cùng toàn dân tộc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa cần phải có quan điểm và phương thức ứng xử phù hợp với từng trường hợp cụ thể khi giải quyết các vấn đề tôn giáo. oOo .Lênin đã từng nhắc nhờ khi giải quyết vấn đề tôn giáo.I.chú ý đến toàn bộ tình hình cụ thể''(16) .đó là điều mà V.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful