P. 1
Vốn FPI

Vốn FPI

|Views: 320|Likes:
Được xuất bản bởiNguyễn Huyền

More info:

Published by: Nguyễn Huyền on May 02, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOCX, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

07/22/2013

pdf

text

original

Năm 2009 Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết, từ đầu năm 2009 đến nay, lượng

vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) đã rút ra khoảng 500 triệu USD. Và cả năm dự kiến cũng “nằm ở khoảng này”. Trong năm 2008, con số này là 578 triệu USD. Theo Thống đốc, đó cũng là một yếu tố tác động đến thị trường ngoại hối với những diễn biến phức tạp từ đầu năm đến nay. Đây là diễn biến ngược với những thuận lợi trong năm 2007. Cụ thể, trong năm 2007, nguồn vốn FII chảy vào lên tới 6,3 tỷ USD. Theo tính toán sơ bộ của VAFI, dòng vốn đầu tư giá tiếp nước ngoài (FII) đã giải ngân trong việc đầu tư cổ phiếu tại Việt Nam lên tới khoảng 5 tỷ USD. Lượng mua vào trong giai đoạn hiện nay tính bình quân 1 ngày đạt gần 8 triệu USD. Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) cho biết: Qua hơn 9 năm phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam với số quỹ nước ngoài hoạt động những ngày đầu thành lập chỉ đếm trên đầu ngón tay, với tổng số vốn ít ỏi không đến 100 triệu USD, vốn huy động cho mỗi quỹ không quá 10 triệu USD. Nhưng đến hôm nay, dòng vốn FII đã giải ngân trong việc đầu tư cổ phiếu lên tới khoảng 5 tỷ. Trong đó, khoảng 1 tỷ USD là vốn giải ngân từ nhà đầu tư chiến lược nước ngoài vào 1 số ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm và 1 số doanh nghiệp lớn; 4 tỷ USD từ các công ty quản lý quỹ nước ngoài và từ các định chế tài chính nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam. Cũng theo tính toán của VAFI, lượng mua vào trong giai đoạn hiện nay tính bình quân 1 ngày đạt gần 8 triệu USD. Đã có hơn 1.000 tổ chức nước ngoài đăng kỳ mở tài khoản giao dịch tại Việt Nam; trong đó có nhiều tập đoàn tài chính đa quốc gia, với khoảng 30% là giao dịch thường xuyên, số còn lại trong quá trình nghiên cứu, chờ đợi thời cơ... Ngoài tìm kiếm lợi nhuận từ việc tăng giá cổ phiếu, nhà đầu tư chiến lược (cùng ngành nghề với doanh nghiệp niêm yết ) còn kỳ vọng về việc mở rộng thị trường, góp phần tăng thêm các khoản lợi nhuận từ việc hợp tác với doanh nghiệp trong nước. Nhà đầu tư ngoại đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam theo 1 danh mục gồm khoảng từ 10 - 40 công ty và nhà đầu tư có vốn lớn thường chỉ muốn nắm giữ ở mức cao khoảng 5%/vốn điều lệ. Theo đánh giá của VAFI, dòng vốn FII đã làm thay đổi cơ bản thị trường trái phiếu Việt Nam. Khởi đầu cho giai đoạn này, Chính phủ đã phát hành trái phiếu tại thị trường quốc tế, tuy nhiên sau đó các nhà đầu tư nước ngoài tìm mua trái phiếu trong nước với mức lãi suất thấp. Đến thời điểm hiện tại, dòng vốn FII không còn đóng vai trò quyết định như những năm trước đó, tuy nhiên nhân tố FII đã làm cho nhà đầu tư trong nước tích luỹ được nhiều kinh nghiệm và đã trưởng thành hơn trước rất nhiều. Năm 2010 Năm 2010, nhu cầu tìm kiếm nguồn vốn trên TTCK (thị trường chứng khoán) bất ngờ tăng mạnh cả từ phía ngân hàng, cũng như từ phía doanh nghiệp. Khu vực doanh nghiệp cần nhiều vốn bổ sung từ TTCK do khó tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng ngày càng trở nên đắt đỏ và hạn hẹp trước sự gia tăng mạnh cả chỉ số lạm phát, lãi suất huy động và lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại. Mặt khác, việc tăng cường kiểm soát về hệ số an toàn tài chính đối với các ngân hàng thương mại từ NHNN thông qua các Thông tư 13/2010/TT-NHNN và Thông tư 19/2010/TT-NHNN khiến cho hệ số sử dụng vốn và khả năng cấp tín dụng của ngân hàng đối với nền kinh tế bị giảm sút đáng kể. Ngoài ra, với

phát hành trái phiếu) khoảng 116.áp lực lãi suất vay quá cao. các dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài qua TTCK chủ yếu được đầu tư thông qua các định chế quỹ đầu tư chuyên nghiệp và một số nhà đầu tư cá nhân. Trong đó. Trong đó.000 tỷ đồng). đặc biệt là tín dụng bất động sản và cho vay đầu tư chứng khoán. Tổng giá trị vốn hóa thị trường của 623 công ty niêm yết trên các SGDCK (sàn giao dịch chứng khoán) là 726.000 tỷ đồng).000 tỷ đồng (trong đó riêng số lượng cổ phiếu phát hành khoảng 33. phát hành tăng vốn. đồng nghĩa với hạn chế cấp vốn vay ngân hàng cho nền kinh tế và khu vực doanh nghiệp. Nhìn chung.100 tỷ đồng.000 tỷ đồng. giải ngân vốn. Tổng mức huy động vốn qua TTCK trong năm 2010 (đấu giá cổ phần hóa. số lượng tài khoản nhà đầu tư nước ngoài khoảng 15. mức vốn hóa thị trường có tăng. nhưng tổng mức vốn điều lệ các công ty gia tăng đáng kể. Năm 2010. Brirtich Island…đầu tư với cơ chế hưởng lợi từ các chính sách ưu đãi thuế và năng động trong việc đầu tư. số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư gia tăng mạnh.000 đồng và năm 2008 là 29.000 tỷ VND theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP. góp phần tạo tính thanh khoản trên thị trường. tức tăng 126% so với 793. 47 công ty quản lý quỹ. nhiều quỹ đầu tư được lập tại các vùng “thiên đường thuế” như Cayman. Thứ hai. đạt 1. tăng gần 3 lần so với mức huy động của cả năm 2009 là 39. kiểm soát và thu hồi các khoản đầu tư tài chính vượt quá giới hạn an toàn. tăng 1. do TTCK tăng trưởng mạnh nên kỷ lục huy động vốn qua TTCK đạt 127.1 triệu tài khoản.000 tài khoản và góp phần đáng kể trong giao dịch dẫn dắt thị trường. trong đó có 23 quỹ đầu tư với tổng vốn điều lệ là 13.3 lần so với năm 2009. các doanh nghiệp còn khó khăn hơn khi hệ thống ngân hàng siết chặt cấp tín dụng. các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khó đáp ứng mức lợi suất đầu tư cao để cân đối chi phí vốn và lãi kinh doanh.300 tỷ đồng. làm cho tổng mức dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế xuống thấp (khoảng 19%) so với tổng mức dư nợ tín dụng năm 2009 là 37%.7% so với mức vốn hóa thị trường năm 2009. với tổng vốn điều lệ là 2. nên có thể nói rằng mặc dù năm 2010 nền kinh tế có nhiều khó khăn. số lượng các trung gian tài chính không tăng.000 tài khoản năm 2009. Từ áp lực của việc cắt giảm nguồn hỗ trợ lãi suất ưu đãi trong năm 2009.000 tỷ đồng (năm 2007. tăng khoảng 1. quản lý tổng tài sản trên 100. nhưng thanh khoản của thị trường thấp hơn năm 2009. Thị trường hiện có 105 công ty chứng khoán với tổng vốn điều lệ là 33. Với mục tiêu kiểm soát tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống là 25%. nhưng việc huy động vốn của các doanh nghiệp qua TTCK lại có mức tăng trưởng đáng kể. Với các áp lực tìm kiếm nguồn vốn của doanh nghiệp nói trên.300 tỷ đồng. TTCK Việt Nam có một số động thái đáng chú ý sau: Thứ nhất. Tài khoản nhà đầu tư qua các năm Năm Cá nhân Tổ chức Cá nhân Tổ chức Tổng . Các ngân hàng thương mại cũng quan tâm đến TTCK vì chịu áp lực tăng vốn để đáp ứng yêu mức vốn pháp định là 3. chiếm 39% GDP năm 2010. nên chu chuyển dòng vốn vào ra khỏi Việt Nam khá phức tạp. Thứ ba.000 tỷ đồng. do vậy huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu để đáp ứng vốn kinh doanh sẽ là cách làm tốt nhất vì không bị áp lực về lãi suất cao (chỉ trả cổ tức cho cổ đông nếu doanh nghiệp làm ăn có lãi). điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp phải tự cân đối nguồn vốn thông qua TTCK. Nhà đầu tư nước ngoài tham gia TTCK Việt Nam đóng góp phần đáng kể vào tỷ lệ sở hữu trong các công ty cổ phần Việt Nam và nắm giữ khối lượng trái phiếu Chính phủ phát hành.

dòng vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian tới sẽ có dấu hiệu chậm lại. giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài thể hiện lượng mua ròng qua các tháng. xét tương quan với dòng vốn vào các quốc gia trong khu vực Đông Á thì dòng chảy vào Việt Nam khá thấp.465 12. Việt Nam khá thành công trong thu hút các dòng vốn FDI trong hơn 20 năm qua và chúng ta đã có những nới lỏng nhất định về dịch chuyển bản chất các dòng vốn đầu tư nước ngoài.428 822.067 13. thì cả năm 2010 tổng mức vốn thuần vào Việt Nam khoảng 1.3%. trong đó tỷ trọng cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư chiếm khoảng 78.662 3.468 nước ngoài 7. Nhìn chung. dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài đẩy mạnh cơ cấu lại danh mục đầu tư vào các nhóm cổ phiếu lớn trên thị trường.038 730 trong nước 800 2. kết dư thuần trên 1. Tuy nhiên.914 1. Với những biến động của kinh tế vĩ mô trong năm 2011 cho thấy TTCK Việt Nam năm 2011 sẽ có nhiều khó khăn nhất định do các nhà đầu tư lo ngại từ các chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam (đặc biệt là chính sách tiền tệ) trong cộng đồng nhà đầu tư nước ngoài khá lớn. đặc biệt là các tháng vào cuối năm.003 2. khác với những năm trước lượng vốn thường được rút ra khỏi Việt Nam. Tuy nhiên.trong nước 2007 2008 2009 2010 303. Đặc biệt là trong 2 tháng đầu năm 2011 khi NHTW thực hiện chính sách phá giá VND so với USD thì lượng tài sản đầu tư “mất đi” của các quỹ đầu tư ước tính khoảng 324 triệu USD.000 tỷ đồng.949 11.463 807.1 tỷ USD cho thấy dòng vốn nước ngoài đang có xu hướng vào TTCK Việt Nam.2%.1 tỷ USD. Đối với các doanh nghiệp FDI chuyển đổi sang công ty cổ phần (thực hiện theo Nghị định 38/2003/NĐ-CP của Chính phủ về thí điểm chuyển đổi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang công ty cổ phần) thì sau khi chuyển đổi bên nước ngoài phải duy trì tỷ lệ nắm giữ tối thiểu 30% vốn điều lệ trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Mặc dù có nhiều biến động trong năm. gấp 5 lần 2009. diễn biến dòng vốn đầu tư nước ngoài trong năm 2010 không mấy phức tạp. Vì vậy.035 nước ngoài 200 497 627 800 312. Giá trị danh mục đầu tư hiện thời vào cuối năm 2010 của nhà đầu tư nước ngoài vào khoảng 6. trong điều kiện dự trữ ngoại hối mỏng (nếu xem xét trên số tuần nhập khẩu thì hiện nay quá thấp) gây bất ổn cho khu vực doanh nghiệp (đặc biệt là lĩnh vực xuất khẩu của VN chiếm tỷ trong khoảng 70% vào tăng trưởng GDP).190 517. Khi doanh nghiệp FDI chuyển đổi sang công ty cổ phần thì việc niêm yết cổ phiếu chỉ giới hạn .558 1. trái phiếu khoảng 10% và giá trị số dư tiền gửi khoảng 5. đưa tổng lượng mua ròng cả năm khoảng 15.5 tỷ USD. Một vấn đề lo ngại khác tác động tới tâm lý nhà đầu tư nước ngoài đó là yếu tố lạm phát và thâm hụt cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế.139 513. Vấn đề khác quan ngại hơn tác động đến dòng chảy vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có gốc xuất phát từ đầu tư trực tiếp. tổng lượng vốn vào ra.056 027 Nguồn: UBCKNN-BTC Năm 2010.

Khác so với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tính dài hạn. thì không ràng buộc việc nắm giữ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (ngoại trừ doanh nghiệp FDI chuyển đổi muốn được tiếp tục hưởng ưu đãi đầu tư thì bên nước ngoài phải nắm giữ tối thiểu 30% vốn điều lệ). dễ bị đảo . Nên sức ép rút vốn không cao. các định chế đầu tư chuyên nghiệp (công ty chứng khoán) có dấu hiệu thoái lui thị trường để chuyển sang các lĩnh vực đầu tư khác có sinh lời cao hơn và ít bị kiểm soát hơn (bất động sản. vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) là vốn tư nhân nước ngoài đầu tư vào các chứng khoán cổ phần (Equity Securities) hoặc các chứng khoán nợ (Debt Securities) của nước tiếp nhận đầu tư. Quyết định 55/2009/QĐ-TTg không đề cập đến doanh nghiệp FDI chuyển đổi nên khi các doanh nghiệp này chuyển đổi sang công ty cổ phần thì sẽ hoạt động theo Luật Doanh nghiệp như bất kỳ một công ty cổ phần nào. EU) cũng sẽ chậm lại. điều này không khác gì chúng ta khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài “thoái vốn” trong các doanh nghiệp mà ho đã sáng lập và hoạt động trước đây. ngắn hạn. chúng ta thấy dòng vốn vào Việt Nam không nhiều và trong bối cảnh tình hình quốc tế cũng có nhiều biến động. chuyển đổi và đăng ký đổi Giấy chứng nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư (thay thế cho Nghị định 38/2003/NĐ-CP). Tuy nhiên. Lúc này. Tuy nhiên. khoảng 2/3 danh mục đầu tư do các quỹ đóng nắm giữ nên sức ép thanh lý sẽ thấp hơn các quỹ mở. Ngoài ra. ổn định và khó bị đảo ngược. Mặt khác. vì tính thanh khoản của thị trường VN khá thấp. Ngoài ra. Hiện tại. Với dự trữ ngoại hối hiện nay và dòng kiều hối khá cao thì mức cân đối như vậy có thể chúng ta sẽ kiểm soát được. Trên thực tế. Nhật. ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy định việc đăng ký lại. mức giá P/E hiện nay so với khu vực là rất thấp và nếu để lâu dài cơ hội sinh lời khá cao. các doanh nghiệp FDI khi chuyển đổi sang công ty cổ phần thường có tỷ lệ nắm giữ bên nước ngoài khá cao (từ 60-80%). sự hồi phục của kinh tế toàn cầu và các quốc gia đầu tàu (Mỹ. khi Chính phủ ban hành Nghị định 101/2006/NĐ-CP. nếu có chủ yếu là rút từ trái phiếu Chính phủ (có độ thanh khoản cao) và số dư dòng tiền trên tài khoản gửi ngân hàng chưa đầu tư. tại Quyết định 55/2009/QĐ-TTg có quy định nhà đầu tư nước ngoài được phép nắm giữ tối đa 49% vốn điều lệ của công ty đại chúng. khái thác tài nguyên…). chúng ta thấy doanh nghiệp FDI có khá nhiều vấn đề trong hạch toán kế toán và huy động vốn trên TTCK Việt Nam. do đó việc rút vốn khỏi VN sẽ không lớn.trong phạm vi phần cổ phiếu chào bán ra công chúng (không niêm yết phần cổ phiếu nắm giữ của cổ đông sáng lập khi chuyển đổi). do đó lo ngại về dòng chảy vốn đầu tư nước ngoài cũng là một vấn đề đặt ra. việc niêm yết và mua bán chuyển nhượng giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài không có rào cản nào để kiểm soát và yêu cầu các sáng lập nước ngoài có trách nhiệm lâu dài với doanh nghiệp họ lập tại Việt Nam. Về kiểm soát dòng vốn gián tiếp trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam Dòng FPI có những đặc trưng cơ bản là tính thanh khoản cao. Trong khi đó. việc rút vốn khỏi VN cũng không đơn giản. tuy nhiên khi hết thời hạn ràng buộc 3 năm họ đều có xu hướng bán ra để về ngưỡng dới 49% theo quy định của pháp luật. bất ổn định. xây dựng công trình.

chính sách tỷ giá hối đoái nhất quán. mức lạm phát vừa phải. bằng các biện pháp hành chính hoặc mang tính thị trường hoặc kết hợp cả hai. Kể từ đầu thập kỷ 1990 dòng vốn FPI đã chảy mạnh vào các nước đang phát triển dưới tác động của nhiều nhân tố khác nhau. thúc đẩy đầu tư dài hạn và củng cố cán cân thanh toán. Các nền tảng kinh tế cơ bản . phân bổ không đồng đều giữa các nước đang phát triển xét trên khía cạnh thu nhập cũng như khu vực. Vốn FPI có những tác động nhiều chiều đối với nước tiếp nhận. thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính nội địa. mặc dù sự điều tiết đó có thể đưa lại một số chi phí nhất định như tham nhũng. thắt chặt tài chính và kiểm soát vốn cho tới việc điều tiết thận trọng đối với hệ thống ngân hàng và xây dựng hệ thống thu thập và xử lý thông tin về sự di chuyển vốn nước ngoài ra và vào trong nước. Những chính sách đó có thể được thực hiện dưới dạng động hoặc dưới dạng tĩnh. Việc thu thập dữ liệu về dòng vốn FPI rất khó khăn và thường được chỉ ra trong cán cân thanh toán. sự gia tăng quá mức của dòng vốn FPI vào trong nước sẽ khiến cho nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng phát triển quá nóng (bong bóng). FPI còn làm giảm tính độc lập của chính sách tiền tệ và tỷ giá. mức độ tự do hoá…) cho đến những nhân tố mang tính thị trường (sự phát triển của thị trường chứng khoán) và những xu hướng phát triển chung của tài chính quốc tế (sự phát minh ra các công cụ tài chính mới. đặc biệt là vốn gián tiếp. Tuy nhiên. chính phủ có năng lực để hoạch định và thực hiện các chính sách cũng như có một mức độ độc lập chính trị nhất định trong việc kiểm soát khu vực tài chính. sự điều tiết này sẽ góp phần làm ổn định tiền tệ và tài chính.. các nước đang phát triển có thể áp dụng một loạt các chính sách khác nhau từ can thiệp vô hiệu. dễ bị đảo ngược và ngắn hạn của vốn FPI đã khiến cho việc điều tiết sự di chuyển của dòng vốn này trở nên cần thiết. hệ thống tài chính trong nước dễ bị tổn thương và rơi vào khủng hoảng một khi gặp phải các cú sốc từ bên trong cũng như bên ngoài. Bởi vì. nước tiếp nhận đầu tư cần có môi trường chính sách cũng như các nền tảng kinh tế vững mạnh. tệ quan liêu. trong đó có vốn FPI. đặc biệt là so với vốn FDI. từ những nhân tố mang tính quốc gia (triển vọng tăng trưởng. lãi suất. điều tiết tỷ giá hối đoái. Một mặt dòng vốn này góp phần làm tăng nguồn vốn trên thị trường vốn nội địa và làm giảm chi phi vốn thông qua việc đa dạng hoá rủi ro. Sự di chuyển mạnh mẽ của dòng vốn tư nhân nước ngoài dưới tác động của quá trình toàn cầu hoá tài chính cũng như liên kết kinh tế quốc tế cộng với bản chất dễ biến động.ngược cũng như tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và rất phức tạp. Dòng vốn này có những đặc điểm cơ bản là bất ổn định và nhạy cảm hơn các dòng vốn khác. Có mối quan hệ nhân quả giữa các nền tảng kinh tế cơ bản vững chắc với việc điều tiết sự di chuyển của dòng vốn tư nhân nước ngoài. Để điều tiết sự di chuyển của dòng vốn tư nhân nước ngoài. Mặt khác. luôn có tỷ trọng trong tổng dòng vốn nhỏ hơn so với tỷ trọng của vốn FDI. quá trình tự do hoá tài chính ở các nước công nghiệp phát triển và ở nhiều nước đang phát triển…). thúc đẩy cải cách thể chế và nâng cao kỷ luật đối với các chính sách của chính phủ. để có thể thực hiện thành công quá trình điều tiết.. Những điều đó bao gồm: tỷ lệ nợ thấp.. dòng vốn trái phiếu có tỷ trọng cao hơn dòng vốn cổ phiếu. cán cân tài khoản vãng lai và ngân sách ổn định. đảm bảo sự độc lập của các chính sách kinh tế vĩ mô và vi mô.

gây sức ép lên vấn đề tỷ giá và dự trữ ngoại hối. trong khi đó trách nhiệm kiểm soát hoạt động lưu chuyển vốn thuộc trách nhiệm của NHNN. mức độ linh hoạt của chính sách tài chính. một khi tài khoản vốn đã được tự do hoá hoàn toàn. mức độ mở cửa thương mại của nền kinh tế. việc thiết lập một hình thức điều tiết nào đó sẽ khiến cho các nhà đầu tư hiểu nhầm như là sự xoá bỏ tự do hoá với những hành vi gây bất ổn định mạnh cho thị trường tài chính (như rút vốn ồ ạt chẳng hạn). quản lý chặt thị trường giao dịch ngoại tệ tự do. quan liêu. Vì vậy vấn đề đặt ra cần xử lý ở đây tập trung vào một số vấn đề lớn như sau: Thứ nhất. điều tiết lại giúp củng cố các nền tảng kinh tế cơ bản thông qua việc điều tiết thận trọng và thiết lập các cơ sở hạ tầng cần thiết cho hoạt động của thị trường tài chính. khả năng đảo ngược của cải cách thương mại. nên việc nới lỏng thêm 5% cũng không phải là vấn đề lớn. xử lý linh hoạt vấn đề tỷ giá để tăng khả năng chống đỡ của nền kinh tế. Ở Việt Nam. đó là quản lý hoạt động đầu tư và quản lý dòng lưu chuyển vốn (quản lý ngoại hối). Đồng thời. . Thực tế cho thấy các nước đang phát triển như Việt Nam cần rất thận trọng trong việc tự do hoá tài hoàn toàn tài khoản vốn. NHNN và BTC phải thường xuyên đánh giá lại các khoản vay nợ ngắn hạn nước ngoài của Chính phủ. Hai mảng này. rà soát và kiểm soát chặt các khoản vay ngoại tệ ngắn hạn. Hiện nay chúng ta đã cho phép thành lập ngân hang 100% vốn nước ngoài. nếu các nhà đầu tư hiểu rằng nước đó đang áp dụng các biện pháp điều tiết động họ sẽ dự tính về việc điều tiết sẽ được thắt chặt hoặc nới lỏng theo thời gian và do đó sẽ không xảy ra tình trạng náo loạn hay rút vốn ồ ạt. Trên cơ sở đó cắn cứ vào mức dự trữ ngoại tệ quốc tế để có đối sách thích hợp. Trong đó. việc quản lý hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài là thuộc trách nhiệm cuả Bộ Tài chính (UBCKNN) và một phần của Bộ KH-ĐT. chất lượng của hệ thống giám sát và điều tiết thận trọng đối với các công ty tài chính và hoạt động của các thị trường tài chính. Mặt khác. Thứ hai. Ngược lại. quan niệm của thị trường về những cam kết dài hạn đối với điều tiết và chính sách cải cách. Cần có được sự mềm dẻo trong việc thắt chặt kiểm soát cũng như nới lỏng kiểm soát. tuy tách biệt song lại bổ sung cho nhau và tạo thành một cơ chế quản lý thống nhất. tạo điều kiện nâng cao năng lực tài chính cho các ngân hàng.).. Những nhân tố tác động tới quá trình điều tiết của chính phủ bao gồm: chính sách chống lạm phát của chính phủ. Thứ ba. quản lý dòng vốn đầu tư FPI có thể chia làm 2 mảng chính. tỷ lệ nợ nội địa và nước ngoài/GDP). Nhà nước xem xét nới lỏng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài vào các ngân hàng thương mại cổ phần từ 30% lên mức 35% để thu hút vốn và giữ vốn đầu tư nước ngoài. mức độ thanh khoản của thị trường trái phiếu.vững chắc sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiện thành công sự điều tiết bởi vì chúng giúp giảm thiểu những tác động tiêu cực của điều tiết (tham nhũng. giảm bớt lợi thế của việc rút vốn nước ngoài và hỗ trợ xuất khẩu. ngân hàng và các doanh nghiêp (kể cả khoản LC trả chậm) và danh mục đầu tư gián tiếp nước ngoài. sự vững mạnh của hệ thống ngân hàng và mức độ cạnh tranh của các thể chế tài chính phi ngân hàng.. trạng thái của tài chính quốc gia (bao gồm mức thâm hụt ngân sách. để tránh hiện tượng đầu cơ dẫn đến xu hướng chính nhà đầu tư trong nước rút tiền chuyển thành ngoại tệ. Bởi vì.

. thị trường trái phiếu Chính phủ chuyên biệt. tăng cường giám sát. ngành. nhà đầu tư nước ngoài đã mua ròng gần 8 nghìn tỷ đồng trái phiếu Chính phủ.Đối với các doanh nghiệp FDI chuyển đổi sang công ty cổ phần thì không nên giới hạn tỷ lệ nắm giữ tối đa nước ngoài. Đề án quản lý vốn đầu tư gián tiếp. mà nên khuyến khích nước nước ngoài sở hữu lớn và nắm giữ lâu dài. giám sát các định chế trung gian. Vietcomk. xây dựng quy trình thanh tra về công bố thông tin của các tổ chức tham gia TTCK. cơ chế xử lý rủi ro trong các tổ chức kinh doanh chứng khoán. việc bán ra cổ phần cho các đối tác chiến lược nước ngoài đối với cổ phần nhà nước đang nắm giữ chi phối ở một số công ty lớn đã niêm yết trên TTCK như Tập đoàn Bảo Việt. Đẩy mạnh. tổng công ty hoạt động trong các lĩnh vực có nhiều tiềm năng và gắn với niêm yết trên TTCK để thu hút các dòng vốn đầu tư nước ngoài. Điều này chứng tỏ nhà đầu tư đang nắm giữ khoảng 6 nghìn tỷ đồng trên thị trường này. (iv) Từng bước triển khai tái cấu trúc bước một thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua việc tăng tiêu chuẩn niêm yết và phân định các thị trường niêm yết dựa trên quy mô vốn hóa.. kiểm tra. giao dịch mua khoảng 20 nghìn tỷ đồng. So với trước đó. tăng cường công tác quản lý. tập trung vào: (i) Hoàn thiện khung pháp lý. văn phòng đại diện nước ngoài. Deutsche Bank. tính đến hết tháng 8/2011. giám sát hoạt động thị trường. thành phần nhà đầu tư mua trái phiếu Chính phủ được mở rộng hơn với sự tham gia của: quỹ nước ngoài. Hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ Chiến lược phát triển thị trường 2011-2020. tăng cường phân cấp. giá trị giao dịch bán của nhà đầu tư nước ngoài khoảng 14 nghìn tỷ đồng. thị trường giao dịch cổ phiếu đại chúng chưa niêm yết (Upcom).vv. thậm chí tăng khá mạnh . thể chế. Thông tin từ Sở GDCK Hà Nội cho thấy. chính sách cho thị trường . ủy quyền công tác giám sát. công ty bảo hiểm. mức độ giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài được giữ vững. thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán trong năm 2011. (vi) Tăng cường quản lý. (ii) Tăng cường công tác quản lý. địa phương để gắn công tác cổ phần hóa với chào bán chứng khoán ra công chúng và đưa vào giao dịch trên thị trường có tổ chức. thị trường đã thu hút được sự tham gia trở lại của các ngân hàng nước ngoài có uy tín như: HSBC. TTLKCK và các thành viên thị trường. Trên thị trường thứ cấp. kiểm tra thanh viên đối với SGDCK và TTLKCK… Năm 2011 Tổng giá trị tài sản của dòng vốn đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại khoảng hơn 7 tỷ USD. phát triển hàng hóa thị trường: tiếp tục phối hợp với các Bộ. tính đại chúng của công ty (thiết lập các Bảng giao dịch trên từng SGDCK). Đặc biệt.Thứ tư. quản lý chặt chẽ việc chào bán chứng khoán ra công chúng và việc sử dụng vốn huy động của các tổ chức phát hành. Vietinbank. Sự khả quan này trước hết thể hiện trên thị trường trái phiếu. thực hiện công tác kiểm tra định kỳ và bất thường đối với SGDCK. triển khai việc thực hiện các tiêu chí an toàn tài chính trong các công ty chứng khoán. phát triển các định chế trung gian hoạt động trên thị trường. Standard Charted Bank… Trên thị trường sơ cấp. (iii) Thực hiện công tác quản lý. khoảng 1 năm trở lại đây (tính đến hết ngày 31/8/2011). Điều này khẳng định Việt Nam vẫn đang là địa chỉ thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài khá mạnh. đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đối với các tập đoàn. Thứ năm.

Đặc biệt. đang chảy vào thị trường Việt Nam theo những cách thức khác nhau. bên cạnh việc sử dụng vốn đúng mục đích của doanh nghiệp. Việc các tổ chức lớn cũng liên tục rót tiền vào các doanh nghiệp ở Việt Nam. Bên cạnh đó. trong bối cảnh tín dụng ngân hàng khó khăn như hiện tại dẫn đến không ít doanh nghiệp thiếu vốn. chủ yếu từ các quỹ đầu tư. khối ngoại đã có chuỗi bán ròng liên tiếp trên sàn chứng khoán niêm yết HOSE. Đơn cử như việc Công ty Auxesia Holdings (Hoa Kỳ) thiết lập một mạng lưới nhà đầu tư nước ngoài xuất phát từ mong muốn loại hình doanh nghiệp đầu tư của họ để từ đó lựa chọn và tiếp cận doanh nghiệp.trong thời điểm nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Fortis (Ấn Độ) chi 64 triệu USD mua 65% cổ phần của Tập đoàn Y khoa Hoàn Mỹ… Ngoài ra. Để dòng vốn này có hiệu quả. Diageo . một dòng vốn nước ngoài khác. Liệu đây có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay đó chính là tín hiệu cảnh báo cho làn sóng dòng vốn ngoại rút khỏi TTCK Việt Nam? Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đổ vào thị trường chứng khoán các nước mới nổi như Việt Nam còn được gọi dưới thuật ngữ "hot money" (tiền nóng) để nhấn mạnh tính chất đầu cơ và thiếu bền vững. Tuy nhiên. Nhà nước cần xây dựng các cơ chế quản lý. Theo ông Nguyễn Phi Hùng – Giám đốc Công ty Tài chính FSV. 8 tháng đầu năm. Tính đến thời điểm này. Một số thương vụ rót vốn điển hình: Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) đầu tư 182 triệu USD để mua 10% vốn của Vietinbank. có biện pháp quản lý dòng tiền vào ra trên tài khoản vốn. Với xu hướng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vẫn đang chảy vào khá mạnh dưới nhiều hình thức khác nhau. SEAF đã giải ngân cho khoảng 16 doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các lĩnh vực khác nhau. nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được đánh giá là một yếu tố thuận lợi góp phần cho việc cân đối cán cân thanh toán.cầu ngoại tệ và tỷ giá trên thị trường. Đồng thời. nếu không có một cơ chế hợp lý kiểm soát dòng vốn này thì dễ mở đường cho những cuộc tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt. nhà đầu tư nước ngoài vẫn mua ròng với số tiền gần 3 nghìn tỷ đồng. có thể khẳng định rằng nhà đầu tư đang có sự kỳ vọng vào sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam. mà cung cấp những khoản vốn trung gian có quy mô từ 100 nghìn đến 2 triệu USD. cho thấy dòng vốn gián tiếp đầu tư mang tính dài hạn cũng rất khả quan. ổn định cung . Quỹ tăng trưởng SEAF Blue Waters Việt Nam lại không đầu tư cổ phần. giám sát vốn đầu tư gián tiếp. dẫn đến những cuộc khủng hoảng tài chính như đã xảy ra tại châu Á năm 1997. trên thị trường cổ phiếu niêm yết.tập đoàn kinh doanh đồ uống bỏ hàng chục triệu USD mua cổ phần của Halico. Khối ngoại bán ròng có đáng lo? Sau quyết định tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng USD/VND thêm 9. bên cạnh các nguồn vốn khác. Dòng tiền này có vai trò quan trọng trong việc phát triển và hoàn thiện những thị trường mới.3%. phải duy trì tốt quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia để kịp thời can thiệp khi thị trường có biến động. .

dòng vốn ngoại đã trở lại thị trường chứng khoán Việt Nam một cách khá mạnh mẽ bất chấp những thông tin vĩ mô không thuận lợi. Hiện nay giới đầu tư đang đặc biệt quan tâm đến vấn đề tỷ giá. Thống kê giao dịch khối ngoại trong gần 2 tháng đầu năm (tính đến 15/2) đã cho những tín hiệu khả quan.100 tỷ đồng năm 2008.73 tỷ đồng. khối ngoại đã chuyển từ trạng thái mua ròng sang bán ròng là phản ứng của nhà đầu tư nước ngoài đối với việc điều chỉnh tỷ giá vừa qua.792 tỷ đồng năm 2009 và 5. Trong các báo cáo triển vọng thị trường chứng khoán năm 2011. dòng vốn FII đã chững lại và có dấu hiệu thoát ra khỏi những tài sản rủi ro như chứng khoán. trong vài phiên gần đây. Đồng thời viện dẫn kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính tại Thái Lan năm 1997 để so sánh. nhưng hiện nay giới đầu tư đang đặc biệt quan tâm đến vấn đề tỷ giá và tập trung tìm ra mối quan hệ nhân quả giữa hai hiện tượng cùng xảy ra ở một thời điểm này.Thị trường chứng khoán Việt Nam đã chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ trong năm 2007 nhờ dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) đổ ồ ạt vào kênh đầu tư mới mẻ này. tổng giá trị vốn mua ròng lên tới 1. Năm 2010.23 tỷ đồng. khối ngoại đã thực hiện bán ròng nhiều phiên liên tiếp (từ 10/2-15/2) với tổng giá trị bán ròng trên cả 2 sàn đạt 64. nhiều chuyên gia đều đồng tình đặt kỳ vọng vào dòng vốn ngoại sẽ tạo ra những chuyển biến tích cực cho thị trường nói chung. Nhưng ngay năm sau đó. Tổng giá trị mua ròng của họ trong năm đối với cổ phiếu niêm yết đạt trên 16 nghìn tỷ đồng. Đây là một bài học không bao giờ quên với nhiều nhà đầu tư cũng như những cơ quan quản lý thị trường.741. Vậy thực chất hành động bán ròng nhỏ giọt này có phải bắt nguồn từ việc điều . vượt xa con số 2. trong thời gian gần đây. Nếu so sánh con số này với giá trị mua ròng trong thời gian qua thì quả là con số nhỏ bé và không đáng quan ngại. Theo một số quan điểm "thận trọng" cho rằng. Điều này càng đẩy thị trường Việt Nam xuống sâu hơn trong xu thế giảm chung của thị trường chứng khoán toàn cầu. Tuy nhiên. trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu chao đảo và những trở ngại kinh tế vĩ mô trong nước.

trong khi hiện nay Việt Nam nói riêng và kinh tế toàn cầu nói chung vừa mới thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính với một tốc độ tăng trưởng còn chậm chạp. Trước năm 1997. minh bạch từ sự điều hành thị trường và giảm thiểu rủi ro tỷ giá trong tương lai. quan trọng nhất là các nhà điều hành chính sách của Việt Nam cũng đã thấm nhuần bài học từ Thái Lan và chắc chắn không bao giờ đi theo "vết xe đổ" của nước bạn khi thực hiện thả nổi đồng baht. Do vậy.chỉnh tỷ giá. tỷ giá của USD/THB của Thái Lan gần như được kìm hãm cố định ở khoảng 24-25 baht/USD. ngược lại. . đến ngày 11/2 mới công bố điều chỉnh tỷ giá. họ đã trở lại trạng thái mua ròng với giá trị lớn trên sàn HOSE. sau bốn phiên bán ròng liên tiếp. Trong khi đó. Như vậy. động thái bán ròng vừa qua có tính chất cơ cấu danh mục đầu tư đơn thuần và chưa thể khẳng định đây là hành động rút vốn để hạn chế rủi ro. chúng ta cần quan sát kỹ hơn thời điểm chuyển sang bán ròng và động thái mua bán trên từng nhóm cổ phiếu. Thứ nhất. Chỉ có cổ phiếu giá rẻ chưa thể thu hút đầu tư mà cần sự ổn định từ vĩ mô. đồng nội tệ đang trong xu thế mất giá tương đối mạnh. Thứ hai. Cuối cùng. mọi chính sách tiền tệ ở mức thận trọng và linh hoạt chứ không nới lỏng như Thái Lan thời kỳ trước. Để Việt Nam trở thành điểm đến của đầu tư nước ngoài và giữ chân khối ngoại. tỷ giá USD/VND của Việt Nam đã được điều chỉnh dần dần qua từng năm với mức tăng khoảng 5-7%/năm. động thái bán ròng xuất hiện sớm hơn quyết định điều chỉnh tỷ giá. liệu Việt Nam có trở thành Thái Lan thứ 2 tại châu Á? Đánh giá 2 bối cảnh kinh tế tại Việt Nam hiện nay và tại Thái Lan năm 1997 có một số điểm tương đồng như áp lực lạm phát gia tăng. họ vẫn tiếp tục mua vào những mã tiềm năng hoặc những mã cổ phiếu "công cụ" của các quỹ ETF. Thứ ba. nhóm cổ phiếu bị bán ròng mạnh là những mã đã bị bán ròng trước đó và bổ sung thêm một số mã có kết quả kinh doanh kém hoặc bị ảnh hưởng lớn từ việc điều chỉnh tỷ giá. Tóm lại. hay đơn thuần đó chỉ là hoạt động cơ cấu danh mục bình thường của các quỹ đầu tư nước ngoài? Để tìm được một câu trả lời hợp lý. khối ngoại đã giảm dần giá trị mua ròng từ phiên 8/2 và bắt đầu bán ròng từ phiên 10/2. trong khi Chính phủ cố gắng giữ giá trị đồng nội tệ vào dollar Mỹ bằng một dự trữ ngoại hối tương đối mỏng! Điểm khác biệt là Thái Lan cũng như một số nước châu Á thời điểm đó đang trong thời kỳ hưng thịnh với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm lên tới 9%. chúng ta cần phải làm rất nhiều so với những gì hiện nay. Nhìn ra xa hơn. áp lực tỷ giá của Việt Nam hiện nay không thể đặt ngang với áp lực tỷ giá của Thái Lan năm 1997.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->