A.

Giới thiệu về đất phèn: Đất phèn là do trong đất có chứa vật liệu sinh phèn gồm lưu huỳnh kết hợp với sắt tạo thành dạng sunfua sắt (FeS2). Đây là dạng phèn tiềm tàng nằm dưới tầng đất mặt và chưa gây độc cho cây trồng trong điều kiện đất luôn ngập nước. Chỉ khi tiếp xúc với không khí thì chúng mới tạo thành phèn hoạt động và gây độc cho cây trồng. Theo độ sâu của tầng phèn trong đất thì đất phèn được chia thành 3 loại: + Đất phèn nặng sẽ có tầng phèn hoạt động nằm ở cách mặt đất khoảng 50cm. + Đất phèn trung bình thì tầng phèn nằm cách mặt đất từ 50 – 100cm. + Đất phèn nhẹ khi có tầng phèn nằm cách mặt đất 100 – 150cm. B. Sinh vật chỉ thị môi trường đất phèn: I. Thực vật chỉ thị: Các quá trình phèn hóa trong đất khi gặp nước phèn sẽ loang ra làm ô nhiễm nguồn nước.Nguồn nước trở nên giàu các chất độc dang ion Al3+, Fe3+, SO42- và pH thấp,mà hầu hết các sinh vật trong môi trường đó đều bị ngộ độc khi pH<4. Ví dụ:Cá có thể bị nổ mắt khi pH<3,8; rễ cây lúa có thể bị thối khi nồng độ Al3+>600-800ppm. Đất phèn được hình thành ở những vùng trũng, phần đất dưới là ngập mặn, chứa nhiều phù sa biển và lưu huỳnh. Có khi chúng được hình thành ở những vùng đất đầm lầy của hạ lưu sông lớn,ở sâu vào trong nội địa và ít bị ảnh hưởng của nước mặn. Đặc điểm của môi trường này là pH thấp, có thể ngập nước quanh năm hay ngập một thời gian,có thể hóa phèn nhanh chóng khi khô nước và có oxy xâm nhập vào. Thực vật trên đất phèn thay đổi theo tính chất đất,chúng biến đổi tùy theo mức độ hàm lượng phèn chứa trong đất. Các loài thực vật chỉ thị cho vùng đất phèn theo các mức độ khác nhau: Thực vật chỉ thị vùng phèn tiềm tàng: Vùng phèn tiềm tang nằm giữa đất mặn và đất phèn gồm các loài: Chà là( Phoenis Roxb): mọc ở vùng đất cao, có độ ngập thủy triều cao nhất là 10-20 cm; đặc điểm cây cao 3-5m, đường kính bụi 3-5m, đường kính thân 510cm. Rễ ăn dần theo sự phát triển của bụi, nhiều gai. Ráng dại( Arro stichum aureum L): mọc ở vùng tháp hơn,độ ngập thủy triều lúc cao nhất là 2530cm, có khi mọc xen với chà là và các cây lùm bụi khác. Lác biển(Secripus Lf): mọc ở vùng đất thấp,ngập nước thường xuyên.Thân to,cứng, dòn 3 cạnh, vót nhọn. Nhiều chỗ mọc xen với cóc kèn. b. Đất phèn tiềm tàng sâu trong vùng nội địa:

Năng kim mọc rất sát mặt đất thành thảm. phèn ít. ngập nước một nửa. có độ phèn thấp hơn vùng có năng kim.Nghễ c. với những vùng than bùn bị đốt mất lớp mặt.9% trọng lượng khô và Al3+ có thể lên đến 1500-1800ppm. lá nhỏ.Là vùng trũng ngập nước gần như quanh năm gồm các loại thủy sinh mọc chìm dưới nước.phèn rất cao. Trong cây năng tích lũy rất cao SO42. Thực vật chỉ thị cho vùng phèn ít và trung bình: -Năng ngọt: phát triển tốt vì pH = 4-4. .Súng co . còn lá và hoa mọc khỏi mặt nước như: . rất khó tiêu diệt.5. Nếu ngập nước thường xuyên pH nâng dần lên thì năng phát triển mạnh. Năng ngọt phát triển khi đất bị ngập nước và có độ ẩm cao.Sen . rễ ăn sâu có khi đến 1m và rất khó tiêu diệt.củ gầy. Đặc biệt trong rễ tích lũy gấp 2-3 lần thân ở lá. Thực vật chỉ thị vùng đất nhiều phèn: -Năng ngọt (Eleocharis Dulcis): nhiều nhất. rau dừa . cùng một loại đất phèn nhưng chế độ ngập nước khác nhau thì thực vật chỉ thị sẽ khác nhau đi.6 – 0.Nhị cán tròn. -Bàng (Lepieonia articulate): sống ở vùng thấp trũng ngập nước thường xuyên vào mùa lũ.thân lá thành năng ống. -Năng kim ( Eleocharis orchorostachyo): sống trong điều kiện phèn cao hơn năng ngọt(Al3+ từ 1500 – 2500ppm) trong điều kiện ngập phát triển yếu. chỉ sống được ở mức đọ phèn Al dưới 2000ppm. độ ẩm của đất dưới 15% thì năng khó sống. có thể sống ở nơi đất phèn không trồng lúa được. Sậy mọc ở vùng cao hơn so với vùng có nhiều năng và bàng. 5. ăn sâu bằng năng ngọt. kênh mương có nước thủy triều ra vào thường xuyên. đất ngập nước thường xuyên hay gàn các sông rạch. cỏ bấc .Rau muống than tím lá dòn. Tuy nhiên.0.Lúa ma . hoặc chìm trong một phần. -Sậy (Phragmites kakar) là cây chỉ thị tốt cho đất phèn và có giá trị trong việc cải tạo và làm nguyên liệu sấy.phát triển tốt ở pH thấp. -Lác (Ciperus): mọc rất tốt trong ruộng có pH: 4-6. nhọn. -Cỏ ống: mọc rất tốt ở vùng đất phèn trung bình.Năng nỉ . nhị cán vàng. thì chỉ có loài này sống nổi. nếu quá ngưỡng này năng khô héo chỉ còn gốc. d.

. tram lá bong. cá trê vàng. nhóm ốc tuyệt nhiên không thể sống được ở những nền đáy thủy vực còn bị nhiễm độc do phèn. II..Khi nghiên cứu thực vật vùng đất phèn cũng cần phải xác định các kiểu rừng tràm đang hiện diện. dành dành…. sộp gừa. hoàng đầu. kênh mương kế cận nhiễm phèn ở những mức độ khác nhau . một số loài trai( Corbicular doudoni. phía dưới là các loại cây choại. gõ mật. bên dưới là các loài năng. co. đưng. Tầng trên là tràm cao 10 – 15m. dành dành và nhiều dây leo như mây nước. phần lớn hợp bởi các loài bàng. đôi khi gặp vài cây cà na. cỏ cây tượng… · Rừng tràm vùng trũng nội địa: tràm gần như đơn thuần. Tùy thuộc vào môi trường và mức độ tác động của con người. tầng dưới là cây cao 1 – 2m nơi đất phèn nhẹ và sậy – năng nơi đất phèn nhiều. đặc biệt ấu trùng muỗi lắc(chiromidae) & ấu trùng chuồn chuồn (odonata) có mặt ở khắp nơi kể cả thủy vực nội đồng bị nhiễm phèn nặng. ta có nhiều kiểu tràm với cấu trúc khác nhau: · Rừng tràm giữa các đồi cát bị ngập trên các vùng trũng bị ngập mùa mưa.) có thể sinh sống được trong một số thủy lực nội đồng nhiễm phèn chua nhẹ. mồm mốc… · Bụi rậm tràm gió: trên các vùng phèn nặng. mua.mọc xen kẽ với các loài mua. bí bai…tầng cây thấp gồm mua. Nhóm giun ít tơ không không ngừng phát triển mạnh trong các thủy vực nước ngọt mà còn xuất hiện phổ biến trong các thủy vực bị nhiễm phèn ở Đồng Tháp. vùng đồng tràm. · Rừng tràm trên đất than bùn: Đây là kiểu thoái hóa của cây do tác động của lửa rừng nên chiếm ưu thế hơn các loài cây khác. Trên các vùng đồng trũng. lươn đồng …….mọc xen kẽ với vài bụi mua thảm cỏ. rừng tràm trên đất than bùn sẽ biến thành rừng tràm – sậy hoặc rừng tràm – sậy – năng. tràm. Trong khi đó. Nhóm côn trùng thủy sinh phát triển khá mạnh ở tỉnh Đồng Tháp. Tràm có thể sinh trưởng trên đất chua phèn nhưng không chịu được điều kiện ngập úng quanh năm. phía trên là tầng cây tràm. cá trê trắng. năng… · Đồ cây: cấu trúc bao gồm tầng cây cao 10-15m với các loài bùi. trâm khế.dây cương… · Bụi rậm tràm: Đây là quần thể thoái hóa của rừng tràm nội địa do sự đốn phá của con người ở những vùng trũng âm ngập nước. Động vật chỉ thị môi trường đất: Do có khả năng thích ứng rộng. mớp. cá sặc.siamensis. cá rô. khoảng 1-3m.vào mùa khô thường các loài cá đen có giá trị kinh tế cao: cá lóc.…. · Bụi rậm tràm trên đất than bùn: là giai đoạn thoái hóa tiếp theo cảu rừng tràm. · Rừng tràm trên đất sét: tùy đặc tính đất sét. trong điều kiện nước ngọt hoặc chua ít.sau lưng rừng ngập mặn. ít ngập và rất khô vào mùa nắng. Gồm các loại tràm thấp. dây cương. cà dăm…tầng cỏ sát mặt đất rất rậm rạp với các loài choại lớn. choại mọc chằn chịt thành thảm mục dày.

Khi tiếp xúc với không khí. tép. III. . có thể tạo nên váng màu vàng hay ánh bạc nên biểu hiện trên đồng ruộng cũng khác nhau. nếu đất có chứa vật liệu sinh phèn ít sẽ sinh ra acid ít làm cho đất chua nhẹ. Những vùng phèn nhiều chỉ có kiến đen. ngoài ra chúng còn cộng sinh với rệp sáp gây hại khóm. ếch. đồng thời cũng có sắt. Người ta có thể dựa vào chúng để nhận biết mức độ ô nhiễm phèn của dạng thủy vực nhân tạo này. Vùng đất phèn nội địa có nước thường xuyên trên mặt ruộng thì khá phong phú động vật nước phèn. rắn. tôm càng. Hay thiobacillus Ferorxidans có vai trò xúc tác trong quá trình oxy hóa khử Fe2+ thành Fe3+. đất sẽ rất chua. kiến vàng sống trên cây mãng cầu ghép bình bát. pH thấp khoảng 4 – 5. nước ngọt có tôm. lấy năng lượng từ phản ứng oxy hóa khử trong quá trình tạo phèn . Khi thấy trên lớp đất mặt có đóng váng màu trắng nhiều và màu đỏ ít hơn là phèn lạnh. Còn đất có chứa vật liệu sinh phèn nhiều thì sẽ sinh ra acid nhiều (pH xuống rất thấp). Như vậy đất bị phèn lạnh sẽ gây độc cho cây trồng nhiều hơn so với phèn nóng. Vùng đất phèn tiềm tàn hiện có ảnh hưởng của nước lợ thì còn khá nhiều cua. C. Vi Sinh Vật trong đất phèn : Một số tác giả cho rằng trong môi trường đất phèn có các vi sinh vật chỉ thị như: -Thiobacillus thiodans -Thiobacillus Femorxidans. còng. pH đạt 2 . cá trâm. lúc này sét sẽ bị phân hủy tạo ra nhôm tự do và xì lên trên tạo nên lớp váng màu trắng nên sẽ có dạng phèn lạnh.2. Trong đó những vi khuẩn Antothrops có vài loài sống được ở độ pH=2.5) đã gặp một số loài cá cỡ nhỏ chịu phèn giỏi như : cá lia thia ( betta teamiata ). Nhận xét chung: Khi phèn tiềm tàng trở thành phèn hoạt động thì tùy theo loại độc chất mà chúng có thể tan hoặc không tan. Nếu độc chất phèn là sắt thì sẽ thấy màu đỏ nâu của rỉ sắt (còn gọi là phèn nóng) và độc chất phèn nhôm sẽ có màu trắng (còn gọi là phèn lạnh). lúc này chỉ có chất sắt hòa tan nên sẽ có dạng phèn nóng. đỉa.Trong thủy vực mương của các nông trường ứng với độ pH thấp (nước thường có màu nâu đen. Sở dĩ có hai loại phèn này là do đất sét được cấu tạo bởi nhôm và silic.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful