P. 1
De Cuong on Tap Mon Ngu Van 11 Hoc Ki II_2

De Cuong on Tap Mon Ngu Van 11 Hoc Ki II_2

|Views: 77|Likes:
Được xuất bản bởiangmay12

More info:

Published by: angmay12 on May 25, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

05/25/2012

pdf

text

original

Vội vàng(Xuân Diệu) Xuân Diệu là nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn, có sức sáng tạo

mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú rút từ tập : Thơ thơ(1938), tập thơ đầu tay cũng là tập thơ khẳng định vị trí của Xuân Diệu – thi sĩ « mới nhất trong các nhà thơ mới » Nội dung, nghệ thuật của bài thơ : 1. Tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết. * Khát vọng của Xuân Diệu. Tôi muốn: - Tắt nắng -> cho màu đừng nhạt - Buộc gió ->cho hương đừng bay đi Điệp từ, động từ mạnh “tắt, buộc” ->Thể hiện một ý muốn quá táo bạo, muốn đoạt quyền của tạo hóa, muốn ngăn thời gian, chặn sự già nua, tàn tạ để giữ mãi hương sắc, giữ cái đẹp của trần thế. => Ý tưởng có vẻ “ngông cuồng” xuất phát từ một trái tim yêu cuộc sống tha thiết, say mê. * Tâm trạng vui tươi trước cảnh sắc thiên nhiên: - Điệp từ “này đây” liên tục, dồn dập -> thể hiện tiếng reo vui của tác giả trước sự bất tận của thiên nhiên khi mùa xuân tới. Nào là: Ong bướm – tuần tháng mật Hoa – đồng nội xanh rì Lá – cành tơ phấp phới Yến anh – khúc tình si Anh sáng – chớp hàng mi Nhịp thơ nhanh gấp gáp, từ ngữ giàu hình ảnh ->Tất cả đang ở thời kì xung mãn nhất, sức sống căng đầy nhất. Mùa xuân tươi đẹp tràn đầy hương sắc. “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” Cách so sánh độc đáo, táo bạo, bất ngờ đầy sức khơi gợi. Gợi cho ta thấy nét đẹp mơn mởn tơ non, đầy sức sống và vô cùng quyến rũ không thể nào cưỡng lại được của cuộc sống, của mùa xuân. => Trong đôi mắt Xuân Diệu, cuộc sống xung quanh đầy sức sống, thiên nhiên đầy xuân sắc, xuân tình. Nhà thơ khao khát đón nhận tất cả. 2. Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời. “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” - Nhà thơ bỗng hoài xuân, tiếc xuân khi mùa xuân chỉ mới vừa bắt đầu. - Nhà thơ cảm nhận rất rõ bước đi của thời gian trong hơi thở của đất trời, bởi những gì đẹp nhất của mùa xuân, của tuổi trẻ, của tình yêu rồi sẽ ra đi không trở lại-> gợi sự bâng khuâng tiếc nuối khi nhận ra giới hạn của cuộc đời. “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non – xuân sẽ già Xuân hết – tôi cũng mất” - Kết cấu lặp, điệp từ “nghĩa là” vừa giải thích, vừa bộc lộ sự lo lắng, hốt hoảng trước sự trôi chảy của thời gian. Bởi thiên nhiên đối kháng với con người “Lòng tôi rộng – lượng trời cứ chật Xuân tuần hoàn – tuổi trẻ chẳng hia lần Còn trời đất – chẳng còn tôi mãi” Hình ảnh đối lập, giọng thở than u buồn => Nhà thơ cảm nhận được cái vô hạn của thời gian, của thiên nhiên đất trời với cái hữu hạn ngắn ngủi của đời người nên xót xa nuối tiếc. “Mùi năm tháng đều... than thầm tiễn biệt Cơn gió xinh thì thào ... phai tàn, sắp sửa” Sự nuối tiếc thấm sâu vào cảnh vật, tâm hồn vì tất cả rồi sẽ tàn phai, chia li và biến mất- một cuộc ra đi vĩnh viễn. “Chẳng bao giờ ôi chẳng bao giờ nữa” - Điệp ngữ, tiếng thở dài luyến tiếc tuyệt vọng 3. Khát vọng sống, khát vọng cuồng nhiệt hối hả. - Mau đi thôi! … -> Lời giục giã vội vàng: hãy sống, hãy chiêm ngưỡng, hưởng thụ. - Ta muốn … -> khát vọng thật táo bạo, mãnh liệt. - Các động từ mạnh: ôm, riết, say, thâu, cắn … => Tình cảm thật mãnh liệt biến thành hành động cụ thể –thể hiện tình yêu cuồng nhiệt, đắm say; một tấm lòng ham sống, khát sống. Chính tình yêu đó đem lại một luồng sinh khí cho vạn vật, đất trời. - Điệp từ “ cho” ( cho chuếnh choáng … cho đã đầy… cho no nê …) -> Cảm xúc càng lúc càng cuồng nhiệt, tham lam, vồ vập hơn – hưởng thụ thỏa thuê hương sắc của cuộc sống. - “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!”

-

-> Thể hiện sự dâng trào đỉnh cao của cảm xúc – Mùa xuân được nhân hóa như một thực thể, nhân vật trữ tình muốn chiếm lĩnh, tận hưởng bằng tất cả năng lực =>Lòng ham say, vồ vập, một khát vọng cồn cào muốn chiếm đoạt tất cả hương vị của cuộc đời.  Sống vội vàng, cuống quít không có nghĩa là ích kỷ, tầm thường, thụ động, mà đó là cách sống biết cống hiến, biết hưởng thụ. Đó là quan niệm sống mới mẻ, tích cực chưa từng thấy trong thơ ca truyền thống. Nghệ thuật: - Sự kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí - Cách nhìn, cách cảm mới và những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ - Sử dụng ngôn từ, nhịp điệu dồn dập, sôi nỗi, hối hả, cuồng nhiệt... Ý nghĩa : quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ mới mẻ của Xuân Diệu – nghệ sĩ của niềm khát khao giao cảm với đời

Tràng giang(Huy Cận)
Huy Cận là nhà thơ lớn, một trong những đại biểu xuất sắc của phong trào thơ mới với hồn thơ ảo não - Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng triết lí - Xuất xứ : rút từ tập Lửa thiêng(1939) - Nhan đề : so sánh tên gọi Tràng giang với Trường giang - Lời đề từ: Cảm hứng chủ đạo được tác giả nói rõ: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài (H.C) => Toàn bộ cảm xúc chi phối cảm hứng sáng tác của tác giả  chìa khoá để hiểu bài thơ. 1. Khổ thơ 1: Mở đầu bài thơ bằng cảnh sông nước mênh mông bất tận “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” - Điệp vần “ang” gợi lên sự mênh mông bất tận. -Buồn “Điệp điệp” từ láy->gợi nỗi buồn miên man trải dài vô tận, không dứt. ->Câu thơ không chỉ nói sông, nước mà nói một nỗi buồn bất tận. “Con thuyền xuôi mái nước song song” - Con thuyền là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đời lênh đênh, trôi nổi, vô định. Thuyền và nước chỉ song song với nhau mà không gắn bó với nhau. Thuyền đi với dòng để rồi chia li với dòng. - Hình ảnh gợi sự chia lìa, rồi lại “củi một cành khô lạc mấy dòng” -> Hình ảnh nhỏ bé mong manh, trôi nổi trên dòng sông, gợi liên tưởng đến kiếp người trôi nổi trên dòng đời vô định. => Khổ thơ vẻ lên một không gian bao la, vô định, rời rạc, hờ hững với một con thuyền, một nhánh củi lênh đênh gợi cảm giác buồn mênh mông, mang tâm trạng thời đại. 2. Khổ thơ 2: Bổ sung vào bức tranh sông nước các hình ảnh bé bỏng trong trạng thái tàn rụi “lơ thơ cồn nhỏ, gió đìu hiu, làng xa vãng chợ chiều” – xuất hiện âm thanh cuộc sống nhưng không làm cho cảnh vật bớt vắng vẻ mà càng làm cho bức tranh thiên nhiên càng mênh mang, hiu quạnh hơn ( âm hưởng của các từ láy lơ thơ, đìu hiu )– gợi một không gian tâm tưởng: “ Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu …” Câu thơ có giá trị tạo hình đặc sắc : mở ra một không gian đa chiều : ta như thấy sông thêm dài, trời thêm cao và rộng hơn, bến sông ấy như thêm cô liêu, con người càng thêm cô đơn, bé nhỏ, rợn ngợp trước vũ trụ rộng lớn, vĩnh hằng. 3. Khổ thơ 3: - Hình ảnh “ bèo dạt về đâu hàng nối hàng” -> càng khắc sâu nỗi buồn về sự vô định, phó mặc, bất lực trước cuộc đời. Đây cũng là tâm trạng chung của các nhà thơ mới trong những năm ngột ngạt dưới thời thuộc Pháp. - Điệp từ “ không” ( không cầu, không chuyến đò): gợi sự thiếu vắng , trống trãi, không có tín hiệu của sự giao hòa, thân mật – Dường như Huy Cận muốn phủ nhận tất cả những gì thuộc về con người - khắc sâu ấn tượng về sự chia lìa, tan tác. “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” -> thiên nhiên đẹp nhưng thiếu vắng hình dáng con người. => Nỗi buồn ở bài thơ này không chỉ là nỗi buồn mênh mang trước trời rộng sông dài mà còn là nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn trước cuộc đời. 4. Khổ thơ 4: Nhà thơ mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường mà vẫn giữ được nét riêng biệt của thơ mới và hồn thơ Huy Cận. “ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” tạo ấn tượng về sự hùng vĩ của thiên nhiên. “ Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” – thời gian đã biến chuyển, hoàng hôn buông xuống và cánh chim đơn lẻ trong buổi chiều tà dễ gợi nỗi buồn xa vắng – nỗi buồn nhớ quê hương: “ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” So sánh với hai câu thơ của Thôi Hiệu: “ Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

Ta thấy với Huy Cận không cần có khói sóng trên sông vẫn nhớ quê nhà da diết -> Tình cảm quê hương sâu nặng, thường trực, cháy bỏng. => Đứng trước cảnh sông nước bao la, những đợt sóng xa bờ tít tắp, thi nhân như đang soi mình xuống dòng sông, thấm thía một nỗi buồn bơ vơ, lặng lẽ thả hồn mình về với quê hương. => Nét cổ điển mà hiện đại trong thơ Huy Cận. Nỗi nhớ da diết của một cái tôi lãng mạn. Đó chính là lòng yêu nước thầm kín của Huy Cận trước cảnh ngộ đất nước mất chủ quyền. 1. Nghệ thuật: -Sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiện đại(sự xuất hiện của cái tưởng như tầm thường, vô nghĩa và cảm xúc buồn mang dấu ấn cái tôi cá nhân...) - Nghệ thuật đối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm(lơ thơ, đìu hiu, chót vót..) 2. Ý nghĩa: Vẽ đẹp của bức tranh thiên nhiên, nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước vũ trụ rộng lớn, niềm khát khao hòa nhập với cuộc đời và lòng yêu quê hương đất nước tha thiết của tác giả Đây thôn Vĩ Dạ(Hàn Mặc Tử) Hàn Mặc Tử là người có số phận bất hạnh. Ông là một trong những nhà thơ có sức sáng tạo mãnh liệt trong phong trào Thơ mới « ngôi sao chổi trên bầu trời thơ Việt Nam »(Chế Lan Viên) a. Hoàn cảnh sáng tác. Viết năm 1938 in trong tập Thơ Điên, được khơi nguồn cảm hứng từ mối tình đơn phương của Hàn Mặc Tử với Hoàng Thị Kim Cúc II. Nội dung, nghệ thuật của bài thơ : 1. Khổ thơ 1. Cảnh ban mai thôn Vĩ và tình người tha thiết. - Câu thơ 1: + Hình thức: câu hỏi. + Nội dung: lời mời, lời trách móc.  Chủ thể trữ tình tự phân thân, tự giãi bày tâm trạng: nuối tiếc, nhớ mong. - Bức tranh thôn Vĩ được khắc hoạ tươi đẹp, sống động. Hình ảnh: Nắng hàng c au - Nắng mới. Nắng ban mai buổi hừng đông tinh khiết trong lành chiếu lên những hàng cau còn ớt đẫm sương đêm. Nắng có linh hồn riêng. Nắng mang hồn xứ Huế. - Sự lặp lại 2 lần từ “nắng” khiến câu thơ tràn ngập ánh sáng. Thiên nhiên sống động rạng ngời , gợi cảm giác khoẻ khoắn, ấm áp. - Đại từ phiếm chỉ “ai” gợi cái ám ảnh thương nhớ. -“Xanh như ngọc”: Biện pháp so sánh gợi lên màu sắc tươi sáng của vườn cây. - “Mặt chữ điền”: khuôn mặt hiền lành phúc hậu. Vẻ đẹp: cảnh và người xứ Huế. Bức tranh thiên nhiên đẹp, thơ mộng, tràn đầy sức sống, đầy ắp ánh sáng, có màu sắc, có đường nét. Hình ảnh con người: dịu dàng e ấp. Tiếng nói bâng khuâng rạo rực của một tâm hồn yêu đời, khát sống, hướng về cái trong trẻo, thánh thiện. 2. Khổ thơ 2. Cảnh hoàng hôn thôn Vĩ và niềm đau cô lẻ, chia lìa - Gió, mây, sông nước, hoa được nhân cách hoá để nói tâm trạng. - Cái ngược đường của gió, mây gợi sự chia ly đôi ngả -> nỗi đau thân phận xa cách, chia lìa.  Không gian trống vắng, thời gian như ngừng lại, cảnh vật hờ hững với con người. - Hình ảnh thơ không xác định: “Thuyền ai”, “sông trăng”  Cảm giác huyền ảo. Cảnh đẹp như trong cõi mộng. - Câu hỏi tu từ ẩn chứa một nỗi mong chờ tha thiết, đồng thời cũng chứa đầy nỗi phấp phỏng hoài nghi. Không gian mênh mông có đủ cả gió, mây, sông, nước, trăng, hoa cảnh đẹp nhưng buồn vô hạn. 3. Khổ thơ 3. Nỗi niềm thôn Vĩ - Chủ thể: Đầy khát vọng trong tiếng gọi - Khách thể: hư ảo, nhạt nhoà, xa xôi.  Câu thơ hàm chứa nỗi cô đơn, trống vắng trong một tâm hồn tha thiết yêu thương con người và thiết tha với cuộc đời – tìm vào thế giới hư ảo như một cứu cánh nhưng hụt hẫng, xót xa.. - Điệp từ, điệp ngữ, - Nhạc điệu sâu lắng và buồn mênh mang. - Câu hỏi lửng lơ nửa nghẹn ngào, nửa trách móc,  Chân dung nội tâm của tác giả: Khao khát yêu thương, đồng cảm. - Đại từ phiếm chỉ : ai / tình ai ?  Câu thơ cuối dường như chính là câu trả lời cho câu thơ thứ nhất.

Khổ 1. ----Khổ 2

Thế giới thực -Thời gian: bình minh Không gian: Miệt vườn khung cảnh tươi sáng, ấm áp, hài hoà giữa con người và thiên nhiên. Thế giới mộng - Thời gian: đêm trăng - Không gian: trời, mây, sông, nước khung cảnh u buồn, hoang vắng, chia lìa… Thế giới ảo. Thời gian: không xác định. - Không gian: đường xa, sương khói. -khung cảnh hư ảo…  Khát vọng yêu thương, đồng cảm!

Khổ 3

1. Nghệ thuật: - Trí tưởng tượng phong phú - Nghệ thuật so sánh, nhân hóa, thủ pháp lấy động gợi tỉnh, sử dụng câu hỏi tư từ... - Hình ảnh sáng tạo có sự hòa quyện giữa thực và ảo 2. Ý nghĩa: Bức tranh phong cảnh Vĩ Dạ và lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc của nhà thơ

Từ ấy(Tố Hữu)
- Tố Hữu được đánh giá là : lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại. - Thơ trữ tình – chính trị : thể hiện lẽ sống , lí tưởng, tình cảm cách mạng của con người Việt Nam hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc, truyền thống. - Xuất xứ : thuộc phần Máu lửa của tập Từ ấy(71 bài), sáng tác tháng 7 năm 1938, đánh dấu mốc quan trọng trong cuộc đời Tố Hữu Nội dung, nghệ thuật của bài thơ : 1. Khổ 1. Niềm vui sướng, say mê khi gặp lí tưởng của Đảng, cách mạng. Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim… - Hình ảnh ẩn dụ : nắng hạ, mặt trời chân lí, chói qua tim.  Khẳng định lí tưởng cộng sản như một nguồn sáng mới làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ. - Hình ảnh ẩn dụ và so sánh : Hồn tôi- vườn hoa lá - đậm hương – rộn tiếng chim.  Diễn tả niềm vui sướng, say mê nồng nhiệt của nhà thơ khi bắt gặp lí tưởng mới. 2. Khổ 2. Nhận thức mới về lẽ sống. Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với muôn nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời. - Sự gắn bó hài hoà giữa cái tôi cá nhân với cái ta chung của xã hội - đặc biệt là với những người lao động nghèo khổ. + Buộc: Ý thức tự nguyện, quyết tâm cao độ. + Trang trải: Tâm hồn trải rộng với cuộc đời, tạo sự đồng cảm sâu sắc. + Trăm nơi: Hoán dụ – chỉ mọi người sống ở khắp nơi. + Khối đời: Ẩn dụ – Khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ, đoàn kết chặt chẽ, cùng phấn đấu vì mục tiêu chung.  Nhà thơ đã đặt mình giữa dòng đời và môi trường rộng lớn của quần chúng lao khổ và ở đó Tố Hữu đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh không chỉ bằng nhận thức mà còn bằng tình cảm mến yêu của trái tim nhân ái. 3. Khổ 3. Sự chuyển biến trong tình cảm. Tôi đã là con của vạn nhà Là em của vạn kiếp phôi pha Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm, cù bất cù bơ… - Điệp từ: là, của, vạn… - Đại từ nhân xưng: Con, em, anh - Số từ ước lệ: vạn.

 Nhấn mạnh và khẳng định một tình cảm gia đình đầm ấm, thân thiết, gắn bó ruột thịt. Sự cảm nhận sâu sắc mình là thành viên của đại gia đình quần chúng lao khổ.  Sự biểu hiện xúc động, chân thành khi nói tới những kiếp người bất hạnh, dãi dầu sương gió. 1. Nghệ thuật: - Hình ảnh tươi sáng giàu ý nghĩa tượng trưng ; ngôn ngữ giàu nhạc điệu ; giọng thơ sảng khoái, nhịp điệu thơ hăm hở,... 2. Ý nghĩa Niềm vui lớn, lẽ sống lớn, tình cảm lớn trong buổi đầu gặp gỡ lí tưởng cộng sản

“Chiều tối(Mộ)[Nhật kí trong tù]”( Hồ Chí Minh)
- Là tập nhật kí viết bằng thơ, được Bác sáng tác trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam từ tháng 8/1942 – 9/1943 tại tỉnh Quảng Tây. - Tập thơ gồm 134 bài bằng chữ Hán(chủ yếu là thơ thất ngôn tứ tuyệt) - Bức tranh nhà tù và một phần xã hội trung hoa dân quốc - Bức chân dung tự họa của con người Hồ Chí Minh : bậc đại nhân, đại trí , đại dũng Bài thứ 31 của tập nhật kí trong tù, sáng tác cuối mùa thu 1942, trên đường đi đày từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo Nội dung, nghệ thuật của bài thơ : 1. Bức tranh thiên nhiên chiều muộn nơi núi rừng. [Tính cổ điển] Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ, Cô vân mạn mạn độ thiên không ; - Cánh chim mệt mỏi tìm chốn ngủ và chòm mây cô đơn trôi lững lờ giữa tầng không. Đây cũng là cảnh thực trong cảm nhận của tù nhân – thi sĩ(chuyển động của cánh chim, chòm mây lẻ về trạng thái yên nghĩ>< tù nhân nơi đất khách quê người trong cảnh chiều tà mong mỏi chốn bình yên : quê hương, gia đình...) Hai câu đầu thể hiện vẽ đẹp tâm hồn, tình yêu thiên nhiên và phong thái ung dung tự tại của Bác. 2. Bức tranh cuộc sống sinh hoạt của con người. [Tính hiện đại] Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc, Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng. - Vẻ đẹp khỏe khoắn của người thiếu nữ xóm núi đang xay ngô bên lò than. Cuộc sống đời thường đã đem đến cho người tù hơi ấm, niềm vui(Thiếu nữ dịch cô em chưa sát) - Câu 4 : sự vận động của tự nhiên cũng là sự vận động của tư tưởng, hình tượng thơ Hồ Chí Minh : chiều chuyển dần sang tối nhưng bức tranh thơ lại mở ra bằng ánh sáng rực hồng(chữ hồng là nhãn tự, làm sáng bừng cả bài thơ, làm ấm áp bức tranh và ấm áp lòng người).(nguyên tác không có chữ tối, bản dịch có phá vỡ nét đẹp của câu thơ)  Con người là trung tâm của bức tranh. Cùng với sự vận động của thời gian là sự vận động của mạch thơ, tư tưởng người làm thơ : từ tối đến sáng,từ tàn lụi đến sinh sôi, từ buồn sang vui, từ lạnh lẻo cô đơn sang ấm nóng tình người 1. Nghệ thuật: - Từ ngữ cô đọng, hàm súc; - Thủ pháp đối lập, điệp liên hoàn. 2. Ý nghĩa: Vẽ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh; yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống, kiên cường vượt lên hoàn cảnh, luôn ung dung, tự tại và lạc quan trong mọi cảnh ngộ đời sống

Phaân tích baøi thô “Chieàu toái” cuûa HCM ñeå laøm noåi baät veû ñeïp coå ñieån vaø tinh thaàn hieän ñaïi cuûa baøi thô.
Chieàu toái laø baøi thô ñöôïc vieát trong thôøi ñieåm gaàn keát thuùc cuûa moät chuyeán chuyeån lao. Baøi thô laø moät böùc tranh veõ caûnh chieàu toái nôi nuùi röøngcaûnh ñeïp bôûi noù aùnh leân söï soáng aám aùp cuûa con ngöôøi. Qua ñoù, boäc loä moät taâm hoàn thi nhaân nhaïy caûm tröôùc veû ñeïp cuûa thieân nhieân, moät taám loøng nhaân haäu ñoái vôùi con ngöôøi, moät phong thaùi ung dung luoân höôùng veà söï soáng, aùnh saùng vaø töông lai. Hay noùi ñuùng hôn ñaây laø moät thöïc theå cuûa söï keát hôïp haøi hoaø giöõa maøu saéc coå ñieån vaø tinh thaàn hieän ñaïi Caûnh chieàu toái laø moät ñeà taøi quen thuoäc cuûa vaên chöông. Khung caûnh buoåi chieàu veà toái thöôøng deã sinh tình vì theá, buoåi chieàu ñaõ ñi vaøo bao aùng thô kim coå, laøm neân nhöõng vaàn thô tuyeät taùc. Thô chieàu coå ñieån thöôøng man maùc moät noãi buoàn ñìu hiu, hoang vaéng trong söï taøn taï cuûa thôøi gian, hoaëc tróu naëng noãi buoàn tha höông löõ thöù. Ôû ñaây baèng vaøi neùt chaám phaù cuûa buùt phaùp öôùc leä töôïng tröng taùc giaû ñaõ döïng neân böùc phoâng lôùn laøm neàn cho caûnh chieàu. Quyeän ñieåu quy laâm taàm tuùc thuï, Coâ vaân maïn maïn ñoä thieân khoâng; (Chim moûi veà röøng tìm choán nguû

Choøm maây troâi nheï giöõa taàng khoâng) “Caùnh chim” vaø “choøm maây” laø hai hình aûnh quen thuoäc thöôøng xuaát hieän trong thô chieàu xöa vaø nay. Cho neân, ñoù chæ laø hai hình aûnh cuûa khoâng gian maø ñaõ mang theo yù nghóa cuûa thôøi gian. Caùnh chim ôû ñaây ñöôïc laáy töø theá giôùi ngheä thuaät coå phöông Ñoâng. Trong theá giôùi thaåm myõ aáy, hình aûnh caùnh chim bay veà röøng ñaõ ít nhieàu coù yù nghóa bieåu töôïng öôùc leä dieãn taû caûnh chieàu: “Phi yeán thu laâm”; “Quyeän ñieåu quy laâm” laø nhöõng nhoùm töø thöôøng thaáy trong thô chöõ Haùn. Trong “Truyeän Kieàu”, khi mieâu taû caûnh chieàu, Nguyeãn Du ñaõ ñieåm vaøo böùc tranh hình aûnh caùnh chim bay veà röøng: “Chim hoâm thoi thoùt veà röøng”. Trong thô Baø Huyeän Thanh Quan cuõng theá: “Ngaøn mai gioù cuoán chim bay moûi” vaø Huy Caän laïi caûm thaáy boùng chieàu nhö ñang saø xuoáng töø caùnh chim ñang nghieâng daàn veà cuoái chaân trôøi: “Chim nghieâng caùnh nhoû boùng chieàu sa”. Hình nhö trong caûm nhaän cuûa caùc thi nhaân xöa thì khi mieâu taû caûnh chieàu maø khoâng coù hình aûnh caùnh chim thì boùng chieàu chöa roõ. Caùnh chim trong thô xöa thöôøng chæ laø moät chi tieát ngheä thuaät thuaàn tuyù ñeå gôïi taû caûnh chieàu theá thoâi vaø thöôøng gôïi neân caûm giaùc veà söï xa xaêm, phieâu baït, chia lìa: “Chuùng ñieåu cao phi taän” – Lí Baïch “Thieân sôn ñieåu phi tuyeät” – Lieãu Toâng Nguyeân chuùng ta ñeàu nhaän thaáy caùnh chim trong thô cuûa Lí Baïch vaø Lieãu Toâng Nguyeân ñeàu “Phi tuyeät”, “Phi taän”. Taát caû ñeàu khoâng coù ñieåm döøng maø ôû vaøo traïng thaùi bay vaøo choán xa xaêm, voâ taän, gôïi leân moät yù nieäm sieâu hình naøo ñoù. Coøn caùnh chim trong baøi thô “Chieàu toái” cuûa Baùc laïi coù phöông höôùng, ñieåm döøng, muïc ñích bay roõ raøng: Quyeän ñieåu quy laâm taàm tuùc thuï (Chim moûi veà röøng tìm choán nguû) nhö vaäy Baùc ñaõ ñöa caùnh chim töø theá giôùi sieâu hình trôû veà vôùi theá giôùi hieän thöïc. Ta nhaän thaáy trong caùch nhìn cuûa Baùc laø moät caùch nhìn ñaày yeâu thöông, trìu meán tröôùc bieåu hieän nhoû nhoi cuûa söï soáng. Nhìn caùnh chim ñang bay, Baùc caûm nhaän ñöôïc söï meät moûi cuûa ñoâi caùnh sau moät ngaøy ñöôøng hoaït ñoäng. Trong chieàu saâu taâm hoàn cuûa Baùc chính laø loøng yeâu thöông söï soáng, caûm quan cuûa Baùc chính laø caûm quan nhaân ñaïo. Caâu thô thöù hai cuõng mang ñaäm neùt Ñöôøng thi. Noù raát gaàn vôùi caâu thô: “Coâ vaân ñoäc khöù nhaøn” cuûa Lí Baïch. Hình aûnh choøm maây coâ ñoäc troâi giöõa baàu trôøi ñaõ trôû thaønh moät moâ tuyùp quen thuoäc trong thô xöa, noù thöôøng gôïi leân caùi coâ ñoäc thanh cao, söï phieâu dieâu, thoaùt tuïc vaø noãi khaéc khoaûi cuûa con ngöôøi tröôùc coõi hö khoâng. Coøn trong baøi “Chieàu toái” cuûa Baùc, hình aûnh choøm maây coâ ñoäc troâi nheø nheï qua baàu trôøi chæ laø moät neùt veõ taïo neân caùi khoâng gian cao roäng cuûa caûnh trôøi chieàu nôi mieàn röøng nuùi. Baàu trôøi hoâm aáy phaûi thaät cao, thaät trong xanh ta môùi thaáy ñöôïc hình aûnh choøm maây coâ ñoäc aáy gôïi neân hình aûnh coâ ñoäc nôi ñaát khaùch, queâ ngöôøi cuûa Baùc. Moãi moät chi tieát cuûa caûnh chieàu ñeàu nhuoám maøu taâm traïng. Caùnh chim moûi tìm veà toå aám, coøn ngöôøi tuø thì meät moûi sau moät ngaøy ñöôøng maø vaãn chöa coù ñöôïc choã döøng chaân. Choøm maây leû loi troâi löõng lôø treân taàng khoâng, coøn ngöôøi tuø thì coâ ñôn giöõa moät buoåi chieàu nôi ñaát khaùch. Hai caâu thô ñaït ñeán möùc vi dieäu cuûa loái taû caûnh nguï tình. Ôû ñoù ta baét gaëp moät taâm hoàn giaøu caûm xuùc tröôùc thieân nhieân vaø söï soáng. Töø ñoù ta thaáy ñöôïc moät nghò löïc phi thöôøng vaø ñoù cuõng chính laø chaát theùp trong thô cuûa Baùc. Neáu nhö ôû hai caâu thô ñaàu baèng buùt phaùp coå ñieån Baùc ñaõ döïng neân böùc phoâng lôùn laøm neàn cho böùc tranh, thì trong hai caâu thô sau, Baùc taäp trung laøm noåi baät hình töôïng trung taâm cuûa böùc tranh. Töø buùt phaùp coå ñieån Baùc chuyeån haún sang buùt phaùp hieän ñaïi. Sôn thoân thieáu nöõ ma bao tuùc, Bao tuùc ma hoaøn, loâ dó hoàng (Coâ em xoùm nuùi xay ngoâ toái, Xay heát loø than ñaõ röïc hoàng) “xoùm nuùi” laø hình aûnh giaûn dò bieåu töôïng cho söï soáng bình yeân cuûa con ngöôøi. Xoùm nuùi nhö ñeïp hôn, aám aùp hôn vôùi hình aûnh ngöôøi thieáu nöõ. Veû ñeïp treû trung ñaày söùc soáng cuûa ngöôøi thieáu nöõ vôùi tö theá lao ñoäng (xay ngoâ) trôû thaønh taâm ñieåm cuûa böùc tranh thieân nhieân buoåi chieàu. Ñieàu ñaùng löu yù ôû ñaây laø hình töôïng ngöôøi thieáu nöõ trong thô Baùc hoaøn toaøn khaùc vôùi hình töôïng

ngöôøi thieáu nöõ trong thô xöa. Ngöôøi phuï nöõ trong thô xöa thì thöôøng ñöôïc ví nhö “Lieãu yeáu ñaøo tô” vaø soáng trong caûnh “Phoøng khueâ kheùp kín”, chæ bieát “caàm, kì, thi, hoaï” laø ñuû. Coøn ngöôøi thieáu nöõ trong thô Baùc thì gaén lieàn vôùi coâng vieäc lao ñoäng bình dò, ñôøi thöôøng, khoûe khoaén ñaày söùc soáng. Phaûi chaêng chính caùi söùc soáng aáy cuûa ngöôøi thieáuï nöõ ñaõ laøm neân veû ñeïp lung linh cho böùc tranh. Trong thô xöa, nhöõng böùc tranh veû caûnh chieàu ñeàu coù boùng daùng con ngöôøi nhöng sao leû loi, coâ ñoäc vaø hiu haét quaù. Con ngöôøi ôû ñaây mang naëng moät noãi nieàm hoaøi coå, moät noãi saàu muoän: “Lom khom döôùi nuùi teàu vaøi chuù, Laùc ñaùc beân soâng chôï maáy nhaø” (Qua Ñeøo Ngang - Baø Huyeän Thanh Quan) hay: “Gaùc maùi ngö oâng veà vieãn phoá, Goõ söøng muïc töû laïi coâ thoân” (Chieàu Hoâm Nhôù Nhaø - Baø Huyeän Thanh Quan) coøn con ngöôøi trong thô Baùc, laïi laø con ngöôøi lao ñoäng ñaày söùc soáng. Chính hai töø “thieáu nöõ” ñaõ laøm böøng leân söùc soáng cuûa böùc tranh. Coâ gaùi mieät maøi xay ngoâ vaø hình nhö coâ khoâng chuù yù ñeán nhöõng gì xung quanh mình. Coái xay vaãn cöù quay vaø quay tít “ma bao tuùc” roài “bao tuùc ma” vaø khi ngoâ ñaõ xay xong “bao tuùc ma hoaøn” thì coâ môùi nhìn thaáy “loø than ñaõ röïc hoàng”. Hình aûnh “loø than ñaõ röïc hoàng” hieän leân trong ñeâm toái caøng laøm noåi baät hình aûnh ngöôøi thieáu nöõ. Toaøn boä caûnh thieân nhieân ñang chìm trong maøu xaùm nhaït chuyeån sang maøu toái. Cuõng vì theá hình aûnh loø than röïc hoàng coù söùc loâi cuoán ñaëc bieät. Baøi thô keát thuùc baèng chöõ “hoàng”, coù theå noùi ñoù chính laø choã ñeïp nhaát cuûa baøi thô. Ñoù chính laø aùnh löûa hoàng cuûa cuoäc soáng ñaàm aám, haïnh phuùc gia ñình, aùnh löûa hoàng cuûa söï soáng, cuûa nieàm laïc quan. Chöõ “hoàng” ñaët ôû cuoái baøi thô soi roõ veû ñeïp cuûa ngöôøi thieáu nöõ, toaû aùnh saùng vaø hôi aám xua ñi caùi buoàn vaéng cuûa böùc tranh chieàu toái nôi röøng nuùi. Hai caâu thô ñaõ cho ta thaáy ñöôïc caùi nhìn aám aùp ñaày yeâu thöông, traân troïng cuûa Baùc ñoái vôùi con ngöôøi lao ñoäng. Buoåi “Chieàu toái” nôi mieàn röøng nuùi quaïnh hiu, hoang vaéng, leõ ra raát ñoãi buoàn baõ, theâ löông tröôùc maét ngöôøi tuø bò xieàng xích, bò giaûi ñi vôùi bieát bao noãi gian lao vaát vaû, nhöng traùi laïi ñoù laø tieáng reo vui. Chöõ “hoàng” ôû cuoái baøi ñaõ laøm neân tieáng reo vui aáy, taïo cho baøi thô aâm höôûng noàng aám, daït daøo. “Chieàu toái” laø moät taùc phaåm ñaäm ñaø maøu saéc coå ñieån maø cuõng raát hieän ñaïi, theå hieän moät caùch töï nhieân vaø phong phuù veû ñeïp cuûa hình aûnh ngöôøi tuø – thi só, ngöôøi chieán só coäng saûn Hoà Chí Minh. Baøi thô ñaõ theå hieän tình yeâu thieân nhieân tha thieát cuûa Baùc. Ñieàu ñaëc bieät ôû ñaây laø caûm quan thieân nhieân cuûa Baùc gaén lieàn vôùi caûm quan nhaân ñaïo, caûm quan veà söï soáng.

Phaân tích baøi thô “Chieàu toái” cuûa HCM ñeå laøm noåi baät veû ñeïp coå ñieån vaø tinh thaàn hieän ñaïi cuûa baøi thô.

Những năm 40 của thế kỉ này, trên thi đàn văn học lãng mạn vang lên những vần thơ nặng trĩu buổi chiều của Huy Cận: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc - Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa…”. Những câu thơ của chàng thanh niên trí thức tiểu tư sản đã mang theo tâm trạng bất lực của cả một lớp người đang ngột ngạt giữa xã hội đen tối Việt Nam dưới ách ngoại bang. Cũng trong một buổi chiều giữa nơi đất khách Trung Hoa, một người tù “tay bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang vòng xích” đã để cảm xúc trải ra cùng không gian bao la, làm nên những vần thơ tuyệt tác, vừa cổ kính, vừa rất trữ tình thư thái: Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng Giờ đây, khi soi mình trong ánh hồng bếp lửa năm xưa ấy, ta chợt khám phá ra vóc dáng của một con người: Bác Hồ kính yêu! Buổi chiều đã đi vào bao áng thơ cổ kim. Khung cảnh chiều về tối thường gợi nên chất thơ đặc sắc, nỗi buồn lắng đọng, suy tư về nhân sinh. Nhưng hoàn cảnh của Bác khi viết bài

thơ khá đặc biệt, từ thân phận người tù đã vượt qua ám ảnh của cảnh đi đày. Cảm xúc trên đường đi của Bác đã lộ rõ cốt cách của thi nhân - chíên sĩ Hồ Chí Minh. Giả sử có một học giả nào đó làm một phép so sánh giữa bài thơ này của Bác với những bài thơ lừng danh của Lí - Đỗ, của Thôi Hiệu, e cũng khó phân biệt rõ, bởi bài thơ đã thấm đẫm phong vị Đường thi! Nhưng đọc thật kỹ, chúng ta vẫn nhận ra phong cách rất riêng - phong cách Hồ Chí Minh, rắn rỏi mà uyển chuyển, hiện thực mà trữ tình, cổ điển mà hiện đại. Hiện thực của bài thơ cũng được mở ra theo lối cấu tứ Cảnh - Tình quen thuộc của thơ Đường. Thiên nhiên làm nền cho tâm trạng: Quyện điểu qui lâm tầm túc thụ Cô vân mạn mạn độ thiên không (Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không) Thiên nhiên mở ra vẫn là những nét quen thuộc của thi ca cổ điển: cánh chim - chòm mây - bầu trời, với nhịp điệu thời gian như lắng trầm xuống cùng với ám ảnh của buổi chiều. Ngày xưa Lý Bạch từng mô tả không gian “Chúng điểu cao phi tận - Cô vân độc khứ nhàn”, và chúng ta có thể nhận ra nét quen thuộc ấy trong những câu thơ này của Hồ Chí Minh. Tất cả như lắng đọng lại trong một thiên nhiên u trầm. Cảm nhận không gian cũng giống như các nhà thơ xưa, tạo ra sự đối lập giữa cánh chim, chòm mây với bầu trời rộng lớn! Dường như không gian được tạo ra từ sự đối lập như vậy cũng đã gợi sẵn một nỗi buồn trong cảnh. Cánh chim mỏi, chòm mây côi như mang theo nỗi niềm của người tù nơi đất khách quê người!Nhưng ngay trong cách nhìn cảnh, ta cũng nhận ra thái độ ung dung của con người. Hướng về bầu trời, cánh chim và chòm mây, Bác đã thật sự hoà hồn mình vào cảnh vật. Thần thái của hai câu thơ nằm ngay trong hai chữ “mạn mạn” vừa mang nét quen thuộc của thơ Đường, vừa bộc lộ cái ung dung trong xúc cảm của con người. Buổi chiều ấy dường như mọi hoạt động cũng lắng xuống, đám mây lơ lửng, lững lờ, man mác giữa không gian tạo thành độ sâu của khung cảnh. Rất tiếc bản dịch thơ đã không thể lột tả được khoảnh khắc rất thi sĩ của Bác trong điệp từ “mạn mạn” này! Khi hướng lòng lên với bầu trời, Bác cũng đã xóa nhoà ranh giới giữa người tù và một khách tự do. Tinh thần “tự do lãm thưởng vô nhân cấm” (Tẩu lộ) chính là ở điểm này. Ngỡ như cảnh vật ấy sẽ gợi lên những nỗi buồn nhân sinh, ám ảnh thân phận thế nhưng bài thơ đã đem đến cho ta một cảm nhận hoàn toàn khác với các nhà thơ xưa: Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng Như một điều thường thấy trong thơ Bác, hình ảnh ở hai câu thơ này chính là sự thể hiện mối quan tâm của Bác đến cuộc sống xung quanh! Trong những trường hợp như thế này, bản dịch thường tỏ ra bất lực. Bác rất mạnh dạn trong sử dụng từ địa phương Quảng Đông “bao túc” (ngô). Không những thế, hai câu còn thể hiện sự quan sát của Bác với hành động của con người trong không gian chiều tối. Điểm son trữ tình của bài thơ chính là chỗ này! Con người không phải chịu sự chi phối của cảnh vật như thơ cổ, mà con người đem lại sức sống cho khung cảnh chiều tối. Đặc biệt, đó là sự gắn kết “thiếu nữ” “sơn thôn” đã cho ta thấy cảm xúc, hồn thơ của Bác. Người luôn luôn phát hiện mối quan hệ hoà hợp giữa người và cảnh vật. Không phải ngẫu nhiên có sự kết hợp này. Xóm núi như đẹp hơn, ấm áp hơn nhờ sự xuất hiện của thiếu nữ. Và thiếu nữ xuất hiện không hề đơn độc lẻ loi mà gắn với cộng đồng “sơn thôn” của mình. Đó là cách nhìn đặc biệt thường gặp trong thơ Bác: Chùa xa chuông giục người nhanh bước Trẻ dắt trâu về tiếng sáo bay (Hoàng hôn)

Hay: Làng xóm ven sông đông đúc thế Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh (Giữa đường đáp thuyền đi huyện Ung) Chính vì tấm lòng Bác luôn hướng về con người, yêu mến con người nên ở đâu có sự xuất hiện của con người, một dấu hiện của cuộc sống là Người tìm thấy niềm vui. Dẫu rằng trong bài thơ chỉ là công việc xay ngô bình thường, nhưng Người đã lặng lẽ quan sát từ lúc “ma bao túc” (xay ngô) cho đến khi “bao túc ma hoàn” (ngô xay xong). Rõ ràng, người thiếu nữ ấy hiện ra trong công việc hết sức bình thường, nhưng ta nhận ra trong cái nhìn của Bác một thái độ trân trọng đặc biệt, nhờ đó vẻ đẹp của sức sống con người, của cuộc đời càng lộ rõ hơn. Cũng từ tình cảm hướng về cuộc sống, bài thơ đã có một từ kết làm bừng sáng cả bài thơ. Cái độc đáo của tứ thơ cũng chính là điểm này: nói về chiều tối bằng sự xuất hiện của ánh sáng, không nói về thời gian mà người đọc lại cảm nhận rõ một khoảng thời gian từ chiều về tối! Bài thơ không khép lại bằng cảm giác về bóng đêm mà lại chan hoà ánh sáng, ánh sáng tạo nên từ cuộc sống đời thường giản dị. Ánh sáng nổi bật trong đêm tối, như là biểu tượng của sự sống. Ánh sáng ấy gắn với màu ưa thích của Bác - màu hồng. Ánh hồng của bếp lửa, ánh hồng trên gương mặt người hay màu hồng của tấm lòng lạc quan yêu đời của Bác? Màu hồng không chỉ mang ý nghĩa tượng trưng đặc biệt trong riêng bài thơ này mà trong nhiều bài thơ khác cũng thể hiện một ý nghĩa tương tự. Đó là màu sắc của lòng tự tin, ung dung và lạc quan hướng về tương lai. Nói về cảnh chiều tối, Bác đã quên đi thân phận người tù, vượt lên hoàn cảnh. Ta lại gặp chủ thể trữ tình đằm thắm được bộc lộ kín đáo qua bài thơ. Bài thơ thể hiện một nét độc đáo trong phong cách thơ Hồ Chí Minh, “từ tư tưởng đến hình tượng thơ luôn luôn có sự vận động hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai” (Nguyễn Đăng Mạnh). Ngọn lửa của con người làm điểm hội tụ, là trung tâm toả ấm nóng và niềm vui ra không gian rộng lớn. Đến thơ Bác, tư cách chủ thể của con người được phản ánh rõ nét và giàu sức sống, vừa cổ điển vừa lãng mạn. Ta nhận ra trong nỗi buồn, niềm vui của Bác phẩm chất của một vĩ nhân: rất bình thường, giản dị nhưng mỗi câu thơ toả sức ấm của một ý chí mãnh liệt và sáng bừng lên hồng bao thế hệ, sự hài hoà giữa tình cảm và tinh thần thép đã làm nên những vần thơ sâu sắc thâm trầm.

C ảm nh ận bài th ơ Đây thôn Vĩ D ạ c ủa Hàn M ặc T ử
Cảm nhản thảtrả tình xét cho cùng là cảm nhản "cái tình" trong thảvà tâm trảng cảa nhân vảt trả tình trảả thiên nhiên, vũ trả, đảt trải. Đản vải thảca lãng mản Viảt , giai đoản 1932 -1945 "ta thoát c lên trên cùng ThảLả, ta phiêu lảu trong trảả tình cùng Lảu Trảng Lả, ta điên cuảng cùng Hàn ng Mảc Tả, ChảLan Viên, ta đảm say cùng Xuân Diảu" (Hoài Thanh - Thi nhân Viảt . Đúng thả, bản đảc đảả thải và hôm nay yêu thảcảa Hàn Mảc Tả bải chảt "điên cuảng" cảa nó. Chính "chảt điên" ảy ng đã làm nên phong cách nghảthuảt đảc đáo, riêng biảt, mải mảcảa Hàn Mảc Tả. "Chảt điên" trong thảông chính là sả thay đải cảa tâm trảng khó lảả trảả đảả Nét phong cách đảc sảc ảyđã hải ng c c. tả và phát sáng trong cảbài thả"Đây thôn Vĩ Dả" cảa nhà thảrảt tài hoa và cũng rảt đải bảt hảnh này. "Đây thôn Vĩ Dả" trích tả tảp “ThảĐiên” cảa Hàn Mảc Tả. Vải lải trách cả nhảnhàng dảungảt vảa nhả mảt lải mải, Hàn Mảc Tả trảvảvải thôn Vĩ Dảtrong mảng tảả ng: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ Nhìn nắng hàng cây nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Cảnh vảt ảthôn Vĩ Dả- mảt làng kảsát thành phảHuảbên bảHảả Giang vải nhảng vảả cây ng n trái, hoa lá sum suê hiản lên thảt nên thả, tảảmát làm sao. Đó là mảt hàng cau thảng tảp đang i

tảm mình dảảánh “nảng mải lên” trong lành. Chảa hảt, rảt xa là hình ảnh “nảng hàng cau nảng i mải lên” còn rảt gản lải là “vảả ai mảả quá xanh nhả ngảc”. “Mảả quá” gải cảcây nhung non n t t tràn trảsảc sảng xanh tảt. Màu “mảả quá” làm cho lòng ngảảnhả trảhản và vui tảảhản. Lải thả t i i khen cây cải xanh tảt nhảng lải nhu huyản ảo, lảp lánh mải thảy hảt cảđảp cảa “vảả ai”. Trong n không gian ảy hiản lên khuôn “mảt chả điản” phúc hảu, hiản lành vảa quen vảa lả, vảa gản, vảa xa, vảa thảc vảa ảo bải “lá trúc che ngang”. Câu thảđảp vì sả hài hòa giảa cảnh vảt và con ngảả i. “Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vảđảp cảa con ngảả Nhả vảy tâm trảng cảa nhân i. vảt trả tình ảđoản thảnày là niảm vui, vui đản say mê nhả lảc vào cõi tiên, cõi mảng khi đảảctrả vảvải cảnh và ngảảthôn Vĩ. i Thảnhảng cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dảnhảng thải gian có sả biản đải tả “nảng mải lên” sang chiảu tà. Tâm trảng cảa nhân vảt trả tình cũng có sả biản đải lản. Trong mảt thi nhân, bảu trải hiản lên “Gió theo lải gió mây đảả mây” trong cảnh chia li, uảt hản. Biản pháp nhân hóa cho ng chúng ta thảy điảu đó. “Gió theo lải gió” theo không gian riêng cảa mình và mây cũng thả. Câu thả tách thành hai vảđải nhau; mả đảu vảthả nhảt là hình ảnh “gió”, khép lải cũng bảng gió; mảđảu vảthả hai là “mây”, kảt thúc cũng là “mây”. Tả đó cho ta thảy “mây” và “gió” nhả nhảng kảxa lả, quay lảng đải vải nhau. Đây thảc sả là mảt điảu nghảchlí bải lảcó gió thải thì mây mải bay theo, thảmà lải nói “gió theo lải gió, mây đảả mây”. Thảnhảng trong văn chảả chảp nhản cách nói ng ng phi lí ảy. Tải sao tâm trảng cảa nhân vảt trả tình vản rảt vui sảả khi vảvải thôn Vĩ Dảtrong buải ng ban mai đảt nhiên lải thay đải đảt biản và trảnên buản nhả vảy? Trong mảng tảả Hàn Mảc Tả đã trảvảvải thôn Vĩ nhảng lòng lải buản chảc có lảbải mải tình ng, đản phảả và nhảng kả ảm đảp vải cảnh và ngảảcon gái xả Huảmảng mả làm nên tâm trảng ng ni i ảy. Quảthảt “Ngảảibuản cảnh có vui đâu bao giả” nên cảnh vảt xả Huảvản thảmảng, trả tình lải bả nhà thảmiêu tảvô tình, xa lảđản nhả vảy. Bảu trải buản, mảt đảt cũng chảng vui gì hản khi “Dòng nảả buản thiu hoa bảp lay”. c Dòng Hảả Giang vản đảp, thảmảng đã bao đải đi vào thảca Viảt nam thảmà bây giảlải ng “buản thiu” – mảt nải buản sâm thảm, không nói nên lải. Mảt nảả buản hay chính là con sóng lòng c "buản thiu” cảa thi nhân đang dâng lên không sao giảu nải. Lòng sông buản, bãi bảcảa nó còn sảu hản. “Hoa bảp lay” gải tảnhảng hoa bảp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rảt khảtrong gió. Cảnh vảt trong thảbuản đản thảlà cùng. Thảnhảng đêm xuảng, trăng lên, tâm trảng cảa nhân vảt trả tình lải thay đải: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay” Sông Hảả “buản thiu” lúc chiảu dảảánh trăng đã trảthành “sông trăng” thảmảng. Cảm xào ng i đảu bên trên con sông đó là “thuyản ai đảu bản”, là bảc tranh càng trả tình, lãng mản. Hình ảnh “thuyản” và “sông trăng” đảp, hài hòa biảt bao. Khách đản thôn Vĩ cảt tiảng hải xa xăm “Có chả trăng vảkảptải nay?”. Liảu “thuyản ai” đó có chảtrăng vảkảpnải bản hản, bản đải hay không? Câu hải tu tả vang lên nhả mảt nải lòng khảc khoải, chảđải, ngóng trông đảả gảp gảả mảt sáng c ng nhả “trăng’ cảa ngảảthôn Vĩ trong lòng thi nhân. Nhả thảmải biảt nải lòng cảa nhà thảgiành cho i cô em gái xả Huảtha thiảt biảt nhảả nào. Tình cảm ảy quảthảt là tình cảm cảa “Cái thưở ban ng đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm nào dễ mấy ai quên”(ThảLả). Đản đây ta hiảu thêm vảlòng “buản thiu” cảa nhân vảt trả tình trong buải chiảu. Nhả vảy diản biản tâm lí cảa thi nhân hảt sảc phảc tảp, khó lảả trảả đảả Chảt “điên” cảa mảt tâm trảng vui ng c c. vải cảnh, buản vải cảnh, trông ngoáng, chảđải vản đảả thảhiản ảkhảthảkảt thúc bài thảnày: c “Mơ khách đường xa khách dường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà?” Vản là mảt tâm trảng vui sảả đảả đón “khách đảả xa” - ngảảthôn Vĩ đản vải mình, tâm ng c ng i trảng nhân vảt trả tình lải khép lải trong mảt nải đau đản, hoài nghi “Ai biảt tình ai có đảm đà?”. “Ai” ảđây vảa chả ảảthôn Vĩ vảa chả ng i chính tác giả. Chảng biảt ngảảthôn Vĩ có còn nảng tình vải i mình không? Và chảng biảt chính mình còn mản mà vải “áo em trảng quá” hay không? Nải đau đản trong tình yêu chính là sả hoài nghi, không tin tảả vảnhau. Nhân vảt trả tình rải vào tình trảng ảy ng và đã bảc bảch lòng mình đảmải ngảảhiảu và thông cảm. Cái mải cảa thảca lãng mản giai đoản i 1932 - 1945 cũng ảđó. Bài thả“Đây thôn Vĩ Dạ” cảa Hàn Mảc Tả đảlải trong lòng ngảảđảc nhảng tình cảm sâu lảng . i Tác phảm giúp ta hiảu thêm tâm tả cảa mảt nhà thảsảp phải giã tả cuảc đải. Lải thảvì thảtrảm buản, sâu lảng, đảy suy tả. Bản đảc đảả thải yêu thảcảa Hàn Mảc Tả bải thi nhân đã nói hảhả ng nhảng tình cảm sâu lảng nhảt, thảm kín nhảt cảa mình trong thải đải cái “tôi”, cái bản ngã đang tả

đảu tranh đảkhảng đảnh. Tình cảm trong thảHàn Mảc tả là tình cảm thảc do đó nó sảảmãi trong trái tim bản đảc. ản tảả vảmảt nhà thảcảa đảt Quảng Bình đảy nảng và gió sảkhông bao giả ng phai nhảt trong tâm trí ngảảViảt i

Cảm nhận ve bai thơ “Vội vang” của Xuaân Diệu
1. Ngay tả đảu bảả chân vào làng thả, Xuân Diảu dảả nhả đã tả chản cho mình mảt lảsảng: c ng sảng đảyêu và tôn thảTình yêu! Phảng sả bảng trái tim yêu nảng cháy, bảng cuảc sảng say mê và bảng viảc "hăm hả" làm thảtình! Nhảc đản Xuân Diảu, sảthảt là thiảu sót nảu không kảtên "Vải vàng", "Đây mùa thu tải", và "Thảduyên" trong tuyản tảp "Thảthả" - đảa con đảu lòng mà "ông hoàng thảtình" đã ban tảng cho nhân gian. Nhả mảt cái chảm tay khảnhảvào tâm hản nhảng ngảảyêu thả, thảXuân Diảu nhảnhàng và tinh tảnhả chính tác giảcảa nó, đảlải trong tâm hản i ngảảđảc mảt ản tảả đảm nảt và thảt khó phôi pha vảsả phóng túng, giàu có mà hảt sảc tinh i ng tảtrong đải sảng nải tâm, tâm cảa hản cảa cái "TÔI" trả tình Xuân Diảu. ThảXuân Diảu nhả mảt khúc tình si say đảm ngảt ngào...thảt đản tảng hải thả! Nhảng vảđảp cảa mùa xuân đâu chả ảa riêng Xuân Diảu. Tả nghìn năm tảả các bảc tiản bải đã c c, có nhảng vản thảtràn trảvảtình yêu đói vải mùa xuân và cuảc sảng. Nhảng yêu đản mảc có nhảng ham muản táo bảo và khác thảả nhả Xuân Diảu, đó là điảu thảt mải mả, thảt mãnh liảt. ng Đảc biảt là cái cách nói cảa nhà thả. Trong thảca trung đải, nét nải bảt là tính phi ngã, cái tôi trả tình thảả ản náu sau nhảng hình tảả thiên nhiên. Trong khi đó, Xuân Diảu bảc lảý thảc vảcái ng ng tôi trả tình thảt táo bảo:

"Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất, Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi."
Nói Xuân Diảu là mảt nhà thảmải, quảkhông sai! Nảu nhả trong thảca cảa nhảng thi sĩ lãng mản ngày xảa, thiên đảả là chản bảng lai tiên cảnh, là nải mây gió trăng hoa, thì trong quan niảm thả ng cảa Xuân Diảu, cuảc sảng trản gian mải thảc là nải hảnh phúc nhảt, là nải xinh đảp và căng mảng nhảa sảng nhảt! Thảlãng mản cảa ông luôn có mảt niảm say mê ngoải giải, khác giải, mảt niảm khát khao giao cảm vải đải, mảt lòng ham sảng mãnh liảt đản tràn đảy. Dảả nhả lòng yêu đải, ng yêu cuảc sảng cảa ông đã biản cái ham muản "tảt nảng", "buảc gió" trảnên quá táo bảo, đản đảlo âu trảả sả thay đải cảa đảt trải, cảnh vảt...muản ôm tảt cả, muản giả lải tảt cảthiên nhiên vải vả c đảp vản có cảa nó. ảả muản níu giả thải gian, chản vòng quay cảa vũ trả,đảongảả quy luảt tả c c nhiên, phải chăng là ông đang muản đoảt quyản tảo hóa. Nhảng trong cái phi lí đó, vản có sả đáng yêu cảa mảt tâm hản lãng mản yêu cuảc sảng. Vải ông, sảng là cảmảt hảnh phúc lản lao, kỳ diảu, sảng là đảtản hảả và tản hiản. Thảgiải này đảả Xuân Diảu cảm nhản nhả mảt thiên đảả ng c ng trên mảt đảt, mảt bảa tiảc lản cảa trản gian. Nhà thảđã cảm nhản bảng cảsả tinh vi nhảt cảa mảt hản yêu đảy ham muản, nên sả sảng cũng hiản ra nhả mảt thảgiải đảy xuân tình. Cái thiên đảả ng sảc hảả đó hiản ra trong "Vảt vàng" vảa nhả mảt mảnh vảả tình ái, vản vảt đảả lúc lên ng n ng hảả vảa nhả mảt mâm tiảc vải mảt thảc đản quyản rũ, lải vảa nhả mảt ngảảtình đảy khêu ng, i gải. Có ai đó đã nói rảng: “Xuân Diảu say đảm vải tình yêu và hăng hái vải mùa xuân, thảmình bải trong ánh nảng, rung đảng vải bảả chim, chảt đảy trong tim mây trải thanh sảc”: m "Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si." Đó là niảm vui sảả cảa trái tim thi sĩ trảlản đảu tiên phát hiản ra 1 thiên dảả trên mảt ng ng đảt.Nảu thảxảa, các nhà thảchả ả dung thính giác và thả s giác đảcảm nhản vảđảp cảa ngoải giải thì các thi sĩ thải Thảmải lải huy đảng tảt cảcác giác quan tả nhiảu góc đảđảcảm nhân vảđảp và sả quyản rũ đảm say hản ngảảcảa cảnh vảt và đảt trải lúc xuân sang. Trong đoản thả, điảp ngả i "này đây" đảả sả dảng 5 lản kảt hảp vải lải kiảt kê khiản nhảpthảtrảnên dản dảp, là mảt sả chả c trảngảngác, ngảc nhiên, lảlảm, nhả mảt tiảng reo vui sảả tảt cùng đảrải chìm ngảp đảm say ng trảả trùng trùng điảp: Cảa ong bảả tuản tháng “mảt” ngảt ngào, nào là hoa cảa đảng nải xanh c m “rì”, nào là lá cảa cành tả“phảphảt”, cảa yản anh là khúc tình “si”; thảhiản sả phong phú bảt tản

cảa thiên nhiên. Tảt cảmải giác quan cảa thi sĩ nhả rung lên, căng ra mà đón nhản tảt cả, cảm nhản tảt cả. Sả sảng ngản ngảt đang phải bày, thiên nhiên hảu tình xinh đảp thảt đáng yêu nhả mảt sả gải mảhảp dản đản lảkì, mảt sả mải mảc mà thiên nhiên là nhảng "món ăn" có sản. Nhảng vảđảp đảả liảt kê bảng nhảng tính tả đảm nhảt khác nhau đảthảhiản tài năng sả dảng c tả ngả cảa Xuân Diảu - cảnh vảt trong thảông đã trảnên cuản trào sảc màu, cuản trào sảc sảng. Sả vảt bình thảả ảngoài đải cũng đảả đảt cho mảt dáng vảrảt kiêu, rảt hãnh diản, đảả trảc ng c c tiảp nhản ánh sáng rảc rảcảa lòng yêu cuảc sảng tả hản thảXuân Diảu đã trảnên lung linh, đảp đả, là biảu tảả cảa mùa xuân và tuải trảảgiảa cuảc đải! Thi pháp hiản đải đã chảp cánh cho ng nhảng cảm giác mải mảcảa Xuân Diảu, giúp nhà thảdiản tảtrảng thái hản nhiên, bảng bảt trảả c cái sảc xuân trong cảnh vảt, trong đảt trải và cảa muôn loài. Cách ngảt nhảptrong đoản thảđảy linh hoảt, biản hoá (3/2/3 và 3/5). Đảc biảt là nhảng hình ảnh, nhảng khung cảnh đảả miêu tảthảt cả c thả, in đảm phong cách XD: tuản tháng mảt, đảng nải xanh rì ... tảt cảtràn trảsả sảng và thảt đảm say! “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hòai xuân." Chảa bao giảtrong thảViảt <st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region> hình ảnh mảt trải - vảng thái dảả lải hiản ra dảudàng, tình tả và lãng mản đản thả. Vải Xuân Diảu, mải ng ngày đảả sảng, đảả nhìn thảy mảt trải, đảả tản hảả sảc hảả cảa vản vảt là mảt ngày vui. c c c ng ng Hình ảnh "thản vui hảng gõ cảa" gải nhảng liên tảả gản gũi vải hình tảả mảt trải trong thản ng ng thoải hy lảp xảa. Niảm vui sảả trong tâm hản nhà thảdâng tràn khiản ngòi bút cảa Xuân Diảu ng thảt sả xuảt thản và thi sĩ đã sáng tảo nên 1 câu thảtuyảt bút:"Tháng giêng ngon nhả mảt cảp môi gản". Mảt chả “ngon” chuyản đải cảm giác thản tình, mảt cách so sánh vảa lảvảa táo bảo. Đây là câu thảhay nhảt, mải nhảt cho thảy màu sảc cảm giác và tâm hản yêu đải, yêu cuảc sảng đản cuảng nhiảt cảa thi sĩ Xuân Diảu. Nhà thảđem lải mảt khái niảm vản trảu tảả thuảc vảthải gian ng "tháng giêng" so sánh vải mảt hình ảnh vản cả thả, mang tính nhảc cảm. Nhảng sao câu thảXuân Diảu vản tinh khôi, vản nguyên, trong sáng, lải gản gũi và trảtrung đản thả. Cái mải trong thảtình Xuân Diảu là thả! Đó là sả kảt hảp hài hoà giảa tâm hản và thảxác khiản tình yêu thăng hoa. Đang ảđảnhđiảm cảa hảnh phúc, tâm hản nhà thảtrải lên nải âu lo trảảccái mong manh cảa xuân sảc sảphai tàn, sả đan xen hai luảng cảm xúc trái ngảả là điảu thảả gảp trong thảtình Xuân Diảu. c ng Nó dản nhà thảđản nhảng suy tả và quan niảm nhân sinh mang tính triảt lý. Thi nhân nhản ra cái quy luảt khảc nghiảt cảa dòng chảy thải gian: "tảt cảsảqua đi, tảt cảsảlải tàn ..." Hai tâm trảng trái ngảả nhảng dản nén trong dòng thả"Tôi sung sảả Nhảng vải vàng mảt nảa". Vảhình thảc, c ng. đây là mảt cảu trúc đảc đáo bải nó ngảt thành 2 câu chảa đảng 2 tâm trảng, 2 cảm xúc trái ngảả c nhau: sung sảả ải vàng. Nhảng điảu mà Xuân Diảu muản diản tảlà "vải vàng mảt nảa". Thảả ng-v ng thì con ngảảảtuải trung niên mải tiảc tuải xuân. ả đây Xuân Diảu đang xuân, đang quá đải trả i trung mà đã nuải tiảc, đã vải càng "Tôi không chảnảng hảmải hòai xuân." Vì sao vảy? Bải vải Xuân Diảu: "Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua. …… Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm," Nhảng quan niảm cảa Xuân Diảu vảa phi lí, vảa hảp lí, vảa quen lải vảa lả. Quen vì ngảảxảa đã i tảng thảdài "xuảt thì bảt tái lai". Và là bải đó là tiảng nói cảa mảt cái tôi ham sảng, coi mùa xuân, tuải trảvà tình yêu là tảt cảsả sảng cảa mình. Biảt rảng mùa xuân cảa đảt trải vản tuản hoàn nhảng tuải trảchảng hai lản thảm lải, thi sĩ bâng khuâng, tiảc nuải ... Mải tảả giao mảu nhiảm ng cảa cảnh vảt, cảa tảo vảt hình nhả cũng mang theo nải buản “chia phôi”, hoảc “tiản biảt”, phải “hản” vì xa cách, phải “sả” vì “đảphai tàn sảp sảa”. Cũng là “gió”, là “chim”… nhảng gió khả“thì thào” vì “hản”, còn “chim” thì bảng ngảng hót, ngảng reo vì “sả”! Câu hải tu tả xuảt hiản cũng là đả làm nải bảt cái nghảch lý giảa mùa xuân – tuải trảvà thải gian: "Phải chăng hản vì nải phải bay đi?" Con ngảảhiản đải sảng vải quan niảm thải gian tuyản tính, thải gian nhả mảt dòng chảy mà mải i mảy khoảnh khảc qua là mảt đi vĩng viản... Trái tim Xuân Diảu đa cảm quá và tâm hản nhà thảquá đải tinh tảtrảả bảả đi cảa thải gian. Con ngảảảy lúc nào cũng "chảng bao giảnảa..." Câu cảm c c i thán vải cách ngảt nhảpbiản hoá làm nải bảt nải lòng vảa lo lảng băn khoăn vảa luảng cuảng tiảc rả, bâng khuâng: Trong đoản thảnày, cái giảng điảu sôi nải, bảng bảt, đảm say cảa Xuân Diảu thải "thảthả" thả hiản đảy đảnhảt. Nhảng câu thảchảa đảng cảgiảng nói háo hảc và nhảpđảp cảa mảt con tim vả

vảp muản sảng hảt mình. Con tim ảy cảa mảt cái tôi trả tình tảng bảc bảch mảt cách chân thành. "Tôi chả mảt cây kim bé nhả- mà vản vảt là muôn đá nam châm." Tảng làn sóng ngôn tả lúc đan là chéo nhau, lúc lải song song thành nhảng đảt sóng ào ảt vảmãi vào tâm hản ngảảđảc. So vải i đoản thảtrên, cách tả xảng cảa nhân vảt trả tình thay đải. Phản đảu bài thả, thi sĩ xảng "tôi" - cái tôi đản lảđang đải thoải vải đảng loải. Đản đây, thi sĩ xảng ta mảt cách đảy tả tin nhảng đã có thêm rảt nhiảu đảng minh cùng đảng lên đải diản vải sả sảng: "Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa. Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm," "Ta muốn ôm. ….. Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!" Hình thảc trình bày đoản thảrảt đảc biảt, thảhiản dảng ý nghảthuảt cảa tác giả. Ba chả "Ta muản ôm" đảả đảt ảgiảa dòng thảmô phảng hình ảnh nhân vảt trả tình đang dang rảng vòng tay c đảôm tảt cảsả sảng lúc xuân thì - sả sảng giảa thải tảảvào lòng. Đó là chân dung cảa mảt cái tôi i đảy tham lam, ham hảđang dảng giảa trản gian, cuảc đải, dòng đải đảôm cho hảt, riảt cho chảt, cho say, cho chảnh choáng, thâu cho đã đảy, cho no nê, cho tải tản cùng nhảng hảả sảc cảa đảt ng trải giảa mùa xuân... Tảt thảy đảu vảvảp, khát khao đản cháy bảng vải các mong muản đảả giao c hoà, giao cảm mãnh liảt vải vản vảt, vải cuảc đải. Đây quảlà mảt khát khao vô biên, tuyảt đích, rảt tiêu biảu cho cảm xúc thảXuân Diảu. Điảp tả, điảp ngả đảả sả dảng bải tản sảdày đảc trong cả c đoản thảtiêu biảu cho nhảpđiảu dản dảp, đảy bảng bảt, đảm say. Chính nhảng câu thảđó lảu lải trong ta ản tảả vảmảt dòng sông cảm xúc cả dâng trào, ào ảt tả câu mảđảu cho đản câu cuải ng cùng bài thả. Chả riêng điảp ngả ta muản đảả điảp tải bản lản, mải lản điảp đi điảp lải liản vải mảt c đảng tả diản tảmảt trảng trái yêu thảả mải lúc mảt nảng nàn, say đảm: ôm, riảt, say, thâu. Đó ng chính là đảnhđiảm cảa cảm xúc bảng bảt, sôi nải và đảm say khiản nhà thảphá tung nhảng quan niảm cảa thi pháp trung đải đảbiảu lảtâm hản mình trong mảt cách nói tảả nhả vô nghĩa mà ng hoá ra rảt sáng tảo "Và non nảả và cây, và cảrảng." Mảt trảng thái tham lam, ham hảkô có điảm c, tản cùng trong tâm hản nhà thả. Tròn cảm nhản cảa thi nhân, cuảc đải trản thảnhả bày ra cảmảt bàn tiảc vải tảt cảhình ảnh cảa cuảc sảng tảảnon, đảy hảả sảc. Nhà thảdiản tảthiên nhiên i ng bảng các mĩ tả, lải nhân hoá khiản nó hiản ra nhả con ngảảcó hình hài và mang dang dảp cảa tuải i xuân. Câu cuải cùng kảt thúc cảbài thả:" Hải xuân hảng, ta muản cản vào ngảả Đây là lải gải i." thiảt tha vải sả cuảng nhiảt cao đảcảa 1 trái tim khao khát tình yêu và cuảc sảng. Trong hản thả Xuân Diảu, mùa xuân - tuải xuân ngon lành và quyản rũ nhả mảt trái chín ảng hảng, nhả mải mảc. Trong câu thảnày, hình ảnh xuân hảng vải tả "cản" khiản câu thảthảt gải cảm xen chút giảt mình trảả tả thảthảt đảc đáo, diản tảniảm khao khát giao cảm mãnh liảt, sả ham hảcuảng nhiảt cảa c Xuân Diảu mãi mãi là khát vảng, là ham muản không có giải hản. Vải bài thả"Vải vàng", Xuân Diảu đã phảvào nản thi ca Viảt mảt trào lảu "Thảmải". Mải lả nhảng táo bảo, đảc dáo ảgiảng điảu và cách dùng tả, ngảt nhảp,nhảt là cách cảm nhản cuảc sảng bảng tảt cảcác giác quan, vải mảt trái tim chan chảa tình yêu. "Vải vàng" đã thảhiản mảt cảm quan nghảthuảt rảt đảp, mang ý nghĩa nhân văn sâu sảc. Đó là lòng yêu con ngảả yêu cuảc đải. i, Đó là tình yêu cảnh vảt, yêu mùa xuân và tuải trả... Và là ham muản mãnh liảt muản nĩu giả thải gian, muản tản hảả vả ảt ngào cảa cảnh sảc đảt trải "tảảnon mản mản". Phải chăng trải đảt ng ng i sinh ra thi sĩ Xuân Diảu trên xả sảhảu tình này, là đảca hát vảtình yêu, đảnhảy múa trong nhảng điảu nhảc tình si?! ThảXuân Diảu - vải vã vải nhảpđảp cảa thải gian. 2. Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa cho tập Thơ Thơ của Xuân Diệu, đã có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian” . Đã hơn hai mươi năm Xuân Diệu giã từ chúng ta vào cõi hư vô, nhưng “tấm lòng trần gian” của ông dường như vẫn còn ở lại. Cứ mỗi lần xuân tới, những trái tim non trẻ của các thế hệ học sinh lại rung lên những cảm xúc mãnh liệt trước tâm tình của Xuân Diệu gửi gắm với đời trong bài thơ Vội vàng, gắn với niềm khát khao giao cảm với đất trời, con người tràn mê đắm của thi nhân, trong mùa xuân diệu kì! Làm thơ xuân vốn là một truyền thống của thi ca Việt Nam, bao nét xuân đi vào thi ca đều mang một dấu ấn cảm xúc riêng. Đặc biệt, trong thơ lãng mạn Việt Nam 1932 – 1945, mùa xuân còn gắn với cái tôi cá nhân cá thể giàu cảm xúc của các nhà thơ mới. Có thể kể đến một Hàn Mặc Tử với “khách xa gặp lúc mùa xuân chín…”, một Nguyễn Bính với “mùaxuân là cả một mùa xanh…”. Nhưng có lẽ Xuân Diệu chính là người đã đem vào trong cảm xúc mùa xuân tất cả cái rạo rực đắm say của tình yêu. Vội vàng là lời tâm tình với mùa xuân của trái tim thơ tuổi hai mươi căng nhựa sống. Bài thơ mở đầu bằng những ước muốn thật kì lạ: Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi Con người ở giữa không gian của “nắng” và “hương” này thật lạ! Anh ta có những ước muốn và đòi hỏi thật vô lí, muốn vượt ra khỏi qui luật bình thường của tạo hoá. Nhưng qui luật thời gian vẫn lạnh lùng nghiệt ngã, nắng vẫn chầm chậm trôi về cuối ngày, gió vẫn lang thang hoài không nghỉ, báo hiệu cho tàn phai và phôi pha sắp sửa bắt đầu. Xuất phát từ điểm nhìn của một cái tôi chủ quan, chẳng qua Xuân Diệu chỉ muốn diễn giải đầy đủ hơn sự có lí của tâm hồn: giữ trọn vẹn hơn những vẻ đẹp cuộc đời, hưởng thụ tận cùng màu sắc và hương vị của sự sống. Điều nhà thơ “muốn” trong một không gian ngập đầy nắng gió đã nói lên ý thức về thời gian trong tâm tưởng con người: nỗi lo sợ trước viễn cảnh chia li, như có lần Xuân Diệu đã từng chứng kiến: Đương lúc hoàng hôn xuống Là giờ viễn khách đi Nước đượm màu li biệt Trời vương hương biệt li (Viễn khách) Ý niệm về thời gian ấy còn là nỗi lo sợ cho tương lai “Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn” nên trái tim “giục giã” nhà thơ bày tỏ nỗi niềm tha thiết với mùa xuân. Mùa xuân đến, trong sự mong đợi của nhà thơ, cùng với hương và sắc, làm bừng lên sức sống của không gian: Của ong bướm này đây tuần tháng mật …. Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa Chưa bao giờ, trong thi ca Việt Nam, mùa xuân lại hiện ra xôn xao như thế. Xuân không còn là bóng dáng mà đã hiện hình cụ thể đến từng chi tiết: vẻ đẹp ngọt ngào trong “tuần tháng mật” “của ong bướm”, rực rỡ trong “hoa của đồng nội xanh rì”, mơn mởn trong “lá của cành tơ phơ phất”, mê đắm trong “khúc tình si” “của yến anh” và ngây ngất niềm vui “gõ cửa” cho mọi tâm hồn bừng lên “ánh sáng”! Sức sống của mùa xuân làm vạn vật có linh hồn, quấn quít giao cảm đến độ cuồng nhiệt. Bằng những tiếng “này đây” vồ vập, linh hoạt giữa những hàng thơ, tạo nên điệp khúc, Xuân Diệu háo hức như muốn sờ tận tay, chạm mặt mùa xuân. Bước chuyển của mùa xuân nhờ vậy cũng rõ rệt hơn, bay lên cùng cái náo nức rộn rã, mê mải trong lòng tác giả, nồng nàn và tinh tế. Tuyệt đỉnh của mê say là một niềm hạnh phúc: Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần Mùa xuân không còn riêng của đất trời vạn vật mà đã hoà vào hồn người. Mùa xuân đến với con người như một người yêu, góp hết sự sống của muôn loài lên “cặp môi gần” hiến dâng, đầy ham muốn của con người. Qua cách cảm của Xuân Diệu, cuối cùng cái đích của sự sống vẫn là con người, chuẩn mực của mọi vẻ đẹp cuộc sống vẫn là con người với tất cả khát khao về hạnh phúc. Hạnh phúc cùng mùa xuân, tận hưởng vị “ngon” của cả một không gian xuân, nhà thơ đã biểu lộ cảm xúc cực điểm của sự sung sướng. Niềm hạnh phúc trần thế ấy đồng nghĩa với sự sống! Mùa xuân đem đến cho chàng trai Xuân Diệu một niềm ham sống và men say của tình yêu. Nhưng nhịp hoan ca bỗng khựng lại giữa chừng trong một câu thơ tách ra hai thái cực: Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa Nhà thơ cắt nghĩa cái vội vàng ấy bằng những dự cảm của tâm hồn. Trước một niềm khoái lạc vô biên khiến con người như bồng bềnh chao đảo trong cảm giác ngất ngây, linh cảm về một cuộc chia li đã hiện hình rõ nét: Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất Những cái “nghĩa là” ấy gắn liền với triết lí về sự sống đã có tự ngàn xưa, không phải là một ý` niệm mới mẻ. Cách Xuân Diệu một ngàn năm, trong thế giớ i của thơ Đường, ta đã gặp nỗi lòng của một Trần Tử Ngang trước vũ trụ bao la: Ai người trước đã qua Ai người sau chưa lại Ngẫm trời đất thật vô cùng Riêng lòng đau mà lệ chảy Suy tư ấy có liên quan đến thân phận con người: cái hữu hạn của đời người – cái vô hạn của đất trời. Với Xuân Diệu, khi mùa xuân đồng nghĩa với tuổi trẻ, sự sống, tình yêu, gắn bó với cái tôi yêu đời của nhà thơ, thì chia li đồng nghĩa với cái chết. Trong khi đồng nhất hoá mùa xuân với con người, Xuân Diệu đã sống đến tận cùng cảm giác, yêu đến tận cùng mê say và gửi cả vào mùa xuân khát vọng của một tâm hồn muốn vươn tới cõi vô biên. Nhưng khi ý thức về thời gian đi liền với tàn phai và hủy diệt, nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc bi kịch của con người phải chịu sự chi phối của qui luật khách quan. Đó cũng là nỗi niềm chung của con người khi

chôn vùi tuổi trẻ trong một cuộc sống đã mất ý nghĩa. “Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại – Mảnh tình san sẻ tí con con”, Hồ Xuân Hương đã chẳng từng than thở đó sao? Điều đặc biệt là Xuân Diệu không thu gọn cảm xúc trong nỗi niềm ngao ngán cho riêng bản thân. Thi nhân đã dành hẳn một niềm “bâng khuân”, “tiếc cả đất trời” để làm nên một cuộc chia li bi tráng với mùa xuân: Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi …. Chẳng bao giờ, ôi chẳng bao giờ nữa. Những cuộc chia li nổi tiếng trong lịch sử văn chương cổ kim có lẽ cũng chỉ bùi ngùi đến vậy. Nước sông Dịch lạnh theo nỗi niềm thái tử Đan đưa tiễn Kinh Kha sang sông hành thích bạo chúa, người chinh phụ đưa chồng ra chiến trận “nhủ rồi nhủ lại cầm tay- bước đi một bước giây giây lại dừng” (Chinh phụ ngâm), tất cả đều cảm động lưu luyến nhưng đó là cảnh chia li giữa người với người. Tản Đà mượn lời “thề non nước”, “tống biệt”, “cảm thu, tiễn thu” cũng chỉ là mượn cảnh nói người, cảm xúc man mác lặng lẽ. Còn Xuân Diệu đã diễn tả đầy đủ đến từng chi tiết cụ thể không khí của cuộc chia li, từ thời gian “tháng năm”, không gian “sông núi than” đến “cơn gió xinh hờn tủi”, chim “đứt tiếng”… Cảm quan lãng mạn cùng hoà với suy tư về bản thân đã khắc hoạ độc đáo cảm giác tinh tế của nhà thơ. Khung cảnh “rớm vị chia phôi” như san sẻ nỗi niềm của thi nhân, bật thành tiếng than não nuột “chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa”, tiếc thương cho vẻ đẹp mùa xuân, tuổi trẻ, sự sống một đi không trở lại. Từ cảnh “trong gặp gỡ đã có mầm li biệt” này. trước nỗi lo âu, linh cảm về sự tàn phai cùng dòng chảy thời gian, có một giao điểm hội tụ tình cảm và lí trí củanhà thơ, trở thành một niềm thôi thúc cháy bỏng: Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm Đó là lời kêu gọi của tình yêu, của đam mê và khát khao vượt ra thực tại đáng buồn để tìm đến mùa xuân. Chính vào lúc tưởng như rợn ngợp trong sự hoang mang, nhà thơ đã vượt lên để thể hiện rõ chất Người cao đẹp – tìm về ý nghĩa của sự sống. Không quay về quá khứ để hoài niệm, không tìm kiếm một ngày mai vô vọng, con người ở đây sống cùng thực tại mãnh liệt, dường như cùng với các động tác vội vàng cuống quít kia là sự cuồng nhiệt với đời: Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn ….. - Hỡi Xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi! Tưởng chừng những cái “ta muốn” là sự lặp lại cảm xúc đầu bài thơ. Nhưng đi liền với các cảm giác và hành động ôm, riết, say, thâu, hôn, chếnh choáng, đã đầy, no nê, cắn, cảm xúc đã phát triển đầy đủ, trẻ trung trong trạng thái ngây ngất. Từ thái độ ban đầu còn có chút e dè đến thái độ vồ vập vội vàng, có chút tham lam là cả một sự chuyển hướng của suy tư. Xuân Diệu không chờ đợi mà muốn chiếm lĩnh sự sống, thâu vào đầy đủ vẻ đẹp cuộc sống, sống thành thật với chính mình, sống hết mình. Thái độ sống ấy đã được nhà thơ tuân thủ suốt cuộc đời mình và ông đã tìm ra ý nghĩa của sự sống trước ranh giới của mất mát, tàn phai và cái chết, chiến thắng nỗi sợ hãi hư vô. Khát khao được sống, được yêu, được giao cảm cùng vũ trụ và cuộc đời, Xuân Diệu đã chiến thắng thời gian, vẫn vẹn nguyên sức sống dồi dào của tuổi hai mươi: Trong hơi thở chót dâng trời đất Cũng vẫn si tình đến ngất ngư Bài thơ Vội vàng đã thể hiện tinh tế những giác quan bén nhạy của hồn thơ Xuân Diệu trước mùa xuân, gắn với quan niệm sống của ông về ý nghĩa sự sống đời người. Con Người, với những tính cách và cảm xúc độc đáo hiện diện trong từng câu chữ, mang nét đặc trưng của cảm quan lãng mạn. Bài thơ còn đưa ra một quan niệm sống tích cực: phải biết tận hưởng vẻ đẹp cuộc đời. Hiểu một cách đúng đắn quan niệm này có nghĩa là mỗi người cần phải sống hết mình với cuộc sống hôm nay, sôi nổi chân thành và thiết tha với đời. Chính vẻ đẹp của con người sẽ làm nên vẻ đẹp bất tử cho cuộc đời. Lời nhắn nhủ trong Vội vàng cũng là tâm niệm suốt đời của nhà thơ, đã làm ta hiểu hơn về “tấm lòng trần gian” của một người thơ yêu đời mê đắm.

C ảm nh ận v ề bài th ơ “T ừ ấy” c ủa T ố H ữu

Bài thả"Tảảy" đảả TảHảu sáng tác vào tháng 7/1938; nhan đảbài thảtrảthành tên tảp thả c đảu cảa TảHảu . Bài thảnói lên niảm vui sảả hảnh phúc cảa mảt thanh niên yêu nảả bảt gảp lí ng c tảả cách mảng cảa Đảng, thảy gản bó vải nhân dân cản lao."Tảảy" mang mảt ý nghĩa phiảm ng đinh vảmảt thải gian ... Đó là khi tâm trảng cảa nhà thảtrong giây phút giác ngảlí tảả cảng ng sản .", là mảc son đánh dảu bảả ngoảt, lải rảmải trong cuảc đải cảa nhà thảTảHảu , đải vải ông c " tảảy " là mảt thải gian rảt cảthả, ông đã xác đảnhđảả con đảả đúng đản mà mình phải đi và c ng cũng chính tả đảy , lý tảả cách mảng đã soi sáng tâm hản ông , đã giúp ông tìm đảả lải đi đúng ng c đản cho cuảc đải ... mà trảả đây , ông đã tảng lảc lải.Trong buải ban đảu, nhảng ngảảthanh niên c i

nhả TảHảu dù có nhiảt huyảt nhảng vản chảa tìm đảả đảả đi trong kiảp sảng nô lả, hảbả ảt c ng ng thảdảảách thảng trả ảa thảc dân phong kiản "băn khoăn đi kiảm lảyêu đải".Chính trong hoàn i c cảnh đó lí tảả cảng sản nhả nảng hả,nhà thảđảả giác ngảchả nghĩa Mác – Lênin ,ngảảthanh ng c i niên yêu nảả bảt gảp lí tảả Cách mảng, nhả mảt trải xua tan đi nhảng u ám, buản đau, quét c ng sảch mây mù và đen tải hảả đản cho thanh niên mảt lảsảng cao đảp vì mảt tảả lai tảảsáng ng ng i cảa dân tảc. Ngảảthanh niên hảc sinh TảHảu đã đón nhản lí tảả ảy không chả ảng khải óc mà bảng cả i ng b con tim, không chả ảng nhản thảc lí trí mà xuảt phát tả tình cảm mảt kảniảm sâu sảc cảa ngảả b i thanh niên yêu nảả bảt gảp lí tảả Cách mảng. c ng Từ ấy: dảu ản quan trảng đánh dảu bảả ngoảt lản trong cuảc đải ngảảthanh niên TảHảu c i -"Bảng nảng hả", "Mảt trải chân lý", "Chói qua tim" : hình ảnh ản dả+ "Bảng" : ánh sáng phát ra bảt ngảđảt ngảt, bao kín đôi mảt nhà thả+ "Chói" : ánh sáng có sảc xuyên thảu mảnh mả ánh nảng toảsáng rảc rả, chói chang bảt nguản tả mảt trải chân lý -lý tảả cách mảng ,soi sáng ng trong lòng tác giả. Từ ấy đã làm cho tâm hản TảHảu" bảng nảng hả" đó là mảt luảng ánh sáng mảnh mả, rảc rả cảa nảng vàng chảa chan hảnh phúc ảm no.Soi tảvào nhảng bài thảsau này ta mải thảy hảt đảả c niảm vui sảả cảa TảHảu trảả ánh sáng huy hoàng cảa chân lí. ng c "Mặt trời chân lí" là hình ảnh ản dảca ngải lí tảả Cách mảng, ca ngải chả nghĩa Cảng sản đã soi ng sáng tâm hản, đã "chói qua tim", đem lải ánh sáng cuảc đải nhả "bảng" lên trong "nảng hả" - Mảt cách nói rảt mải, rảt thảvảlí tảả TảHảu vải tảm lòng nhiảt thành cảa mình đã tả hào đón lảy ng:. ánh sáng cảa mảt trải, sản sàng hành đảng cho lí tuảng cách mảng cao đảp.Bải lí tảả đã "chói" ng vào tim- chính là nải kảt tảcảa tình cảm, là nải kảt hảp hài hòa giảa tâm lí và ý thảc trí tuảchả ảc th sả hành đảng đúng khi có lí tảả cách mảng, khi có ánh sáng rảc rảcảa mảt trải chân lí chiảu vào. ng "...Hản tôi ……..tiảng chim..." : Hình ảnh so sánh ? Tảhảu sung sảả lí tảả Cảng sản cũng nhả ng ng cảcây đón nhản ánh sáng mảt trải. Lí tảả đã mang lải sảc sảng và niảm tin yêu cuảc đải cho tảt ng cảmải ngảả lý tảả Cách mảng đã làm thay đải hản mảt con ngảả mảt cuảc đải. So sánh đả i, ng i, khảng đảnhmảt sả biản đải kì diảu mà lí tảả Cách mảng đem lải."Hản" ngảảđã trảthành "vảả ng i n hoa", mảt vảả xuân đảp ngào ngảt hảả sảc, rản ràng tiảng chim hót. Khiản cho đây là khảthả n ng hay nhảt, đảm đà nhảt;Cái giảng điảu rảt tảnhvà rảt say rảo rảc và ngảt lảmhản ta chả yảu là cái say ngảảvà lảmngảt cảa lí tảả cảa niảm hảnh phúc mà lí tảả đem lải .ả đây hiản thảc và i ng, ng lãng mản đã hòa quyản vào nhau tảo nên cái gải cảm, cái sảc sảng cho câu thả. : Nảu khảđảu là mảt tiảng reo vui phản khải thì khảthả hai và thả ba là bản quyảt tâm thả cảa ngảảthanh niên cảng sản nguyản hòa cái tôi nhảbé cảa mình vào cái ta chung rảng lản cảa quản i chúng nhân dân cản lao.Ngảảđảc thảt sả cảm đảng bải thái đảchân thành thiảt tha đản vảvảp i cảa mảt nhà thảvản xuảt thân tả giai cảp tiảu tả sản tả giác và quyảt tâm gản bó vảI mải ngảả i "Tôi ………khối đời" Đảng tả "buảc", "trang trải": nhảng hành đảng có tính tả nguyản ."Buảc" và "trang trải"là hai khái niảm hoàn toàn khác nhau nhảng nó đảu nảm trong nhản thảc mải vảlảsảng cảa TảHảu. "Buảc" là đoàn kảt gản bó, tả nguyản gản bó đải mình vải nhân dân cản lao, vải hảt thảy nhân dân lao đảng Viảt Nam-"Lòng tôi ","tình ","hản tôi"gản liản vải "mải ngảả","trăm nải","bao hản khả" , sả i gản bó đảng cảm sâu xa giảa cái tôi riêng và cái ta chung ,giảa tảm lòng nhà thảvải khải đải chung cảa nhân dân lao đảng . "Để tình trang trải với trăm nơi" Xác đảnh vả cảa mình là đảng trong hàng ngũ nhân dân lao trí đảng chảa đả, "trang trải"-"trăm nải" biảu hiản mảt tinh thản đoàn kảt, tình cảm nảng thảm, chan hòa vải nhân dân.Tình yêu ngảả yêu đải trong TảHảu đã nâng lên thành chả nghĩa nhân đảo cảng i, sản.Nhà thảmuản đảả nhả Mác: "Vì lảsảng, hy sinh cho cuảc sảng - Đải vải Mác là tình cao nghĩa c rảng"., mong ảả xây dảng mảt khải đải vảng chảc làm nên sảc mảnh quản chúng cách mảng.Tả c đó TảHảu đã thảhiản niảm hãnh diản khi đảả là mảt thành viên ruảt thảttrong đải gia đình nhảng c ngảảnghèo khảbảt hảnh“Bao hồn khổ": tảng lảp đáng thảả nhảt trong xã hải đảả thải, "đả" i ng ng gải lên ý thảchả đảng sả gản kảt lòng mình vải mải ngảảhòa làm mảt, chảa đảng nải thảả xót i ng tảt cùng và sả đảng cảm sâu sảc đải vải "đải gia đình" đang trong cảnh lảm than. "Khối đời": danh tả trảu tảả thảhiản mảt khái niảm cuảc sảng bao quát, gảp chung, không thả ng, nhìn, cân đong đo đảm, nhảng lải gói ghém thành mảt sảc mảnh phi thảả cả thảhóa phi vảt ng, thả. Nhản mảnh lản nảa mải ân tình giảa tác giảvải muôn dân, khảng đảnh cuảc sảng bản thân nhà thảkhông có sả riêng biảt, mà chả mảt phản tả nhảchan hòa và giao cảm vải nhảng mảnh đải là còn lải.

"Tôi đã ……….cù bơ." -"đã là", "là con","là em", "là anh": tình cảm đảm ảm ,thân thiảt, gản bó và

gầ n gũi - Đố i tượ ng :"vạ n nhà ", "vạ n kiế p phôi pha", "vạ n đầ u em nhỏ ": quầ n chúng lao khổ , nhữ ng kiế p số ng mòn mỏ i đáng thươ ng, nhữ ng mái đầ u trẻ thơ tộ i nghiệ p không nơ i nươ ng tự a.Điệ p từ "là" gắ n vớ i nhữ ng đạ i từ quan hệ thân thuộ c, trìu mế n, mộ t mặ t thể hiệ n mố i quan hệ tự nhiên mà gắ n bó sâu sắ c, mặ t khác ngầ m khẳ ng đị nh nhiệ m vụ , vai trò lớ n lao củ a ngườ ithanh niên đố i vớ i cộ ng đồ ng, xã hộ i .-"Cù bấ t cù bơ ": tính từ khá mớ i lạ như ng ngườ iđọ c vẫ n cả m nhậ n đượ c hòan cả nh nay đây mai đó, bơ vơ không chỉ riêng tác giả , mà còn dự ng lên đượ ccuộ c số ng mỏ ng manh củ a hầ u hế t đồ ng bào đang trong đói khổ . Sự chuyể n biế n trong tâm trạ ng củ a Tố Hữ u: tấ m lòng đồ ng cả m, xót thươ ng đố i vớ i mọ i ngườ i lao khổ . Qua đó còn thể hiệ n lòng căm giậ n củ a nhà thơ trướ cbao bấ t công ngang trái củ a cuộ c đờ i cũ. Tố Hữ u đã thể hiệ n niề m hãnh diệ n khi đượ clà mộ t thành viên ruộ t thị ttrong đạ i gia đình nhữ ng ngườ inghèo khổ bấ t hạ nh, nguyệ n sẽ đứ ng vào hàng ngũ nhữ ng ngườ i"than bụ i, lầ y bùn"là lự c lượ ng tiế p nố i củ a "vạ n kiế p phôi pha", là lự c lượ ng ngày mai lớ n mạ nh củ a "vạ n đầ u em nhỏ ",để đấ u tranh cho ngày mai tươ isáng.Điệ p từ "là" đượ cnhắ c đi nhắ c lạ i, nó vang lên mộ t âm hưở ng mạ nh mẽ lắ ng đọ ng trong tâm hồ n ta mộ t niề m cả m phụ c, quý mế n ngườ itrai trẻ yêu đờ i, yêu ngườ inày. Vớ i mộ t tình cả m cá nhân đằ m thắ m, trong sáng, "Từ ấ y" đã nói mộ t cách thậ t tự nhiên nhuầ n nhụ y về lí tưở ng, về chính trị và thậ t sự là tiế ng hát củ a mộ t thanh niên, mộ t ngườ icộ ng sả n chân chính luôn tuôn trào trong mình mạ ch nguồ n củ a lí tưở ng cách mạ ng. -Bài thơ "Từ ấ y" là tâm niệ m củ a mộ t ngườ ithanh niên yêu nướ c, giác ngộ lý tưở ng cách mạ ng. Nó thể hiệ n niề m vui sướ ng, say mê mãnh liệ t, nhữ ng nhậ n thứ c và tình cả m mớ i củ a Tố Hữ u khi có ánh sáng lý tưở ng cách mạ ng soi rọ i. Sự vậ n độ ng ấ y củ a tâm trạ ng nhà thơ đượ cthể hiệ n bằ ng nhữ ng hình ả nh tươ isáng, rự c rỡ ; các biệ n pháp tu từ và ngôn ngữ giàu nhị pđiệ u."Từ Ấ y" là mộ t bài thơ vừ a có tính triế t lý sâu sắ c, vừ a rấ t gầ n gũi, bình dị ,thân thuộ c. Sau mấ y chụ c năm đọ c lạ i, nhữ ng vầ n thơ đó vẫ n là mộ t câu hỏ i thấ m thía mà nhữ ng ngườ icộ ng sả n hôm nay không thể không suy ngẫ m mộ t cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lờ i giả i đáp thấ u đáo. Giữ a cái chung và cái riêng, giữ a cộ ng đồ ng - tậ p thể và cá nhân, giữ a vậ t chấ t tầ m thườ ng và tinh thầ n – tư tưở ng củ a ngườ icộ ng sả n.

Phân tích lẽ sống trong bài thơ Từ Ấy của Tố Hữu
• Trong lịch sử văn học cách mạng nước nhà, thật hiếm thấy nhà thơ nào lại có những tác phẩm mang đậm dấu ấn đặc trưng của mỗi giai đoạn lịch sử và đã đi vào lòng người như thơ Tố Hữu trong thế kỷ 20. Tình yêu quê hương, đất nước thiết tha, sâu nặng đã hóa thân vào những vần thơ trữ tình chính trị đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật thơ ca cách mạng Đọc những vần thơ, những bài thơ của Tố Hữu, chúng ta như cảm nhận được một tâm hồn thơ dạt dào cảm xúc, một trái tim nhân hậu, một tấm lòng trung trinh với Đảng, với Tổ Quốc, với nhân dân và tình cảm gắn bó thân thiết keo sơn với đồng bào, đồng chí. "Dù ai thay ngựa giữa dòng Đời ta vẫn ngọn cờ hồng cứ đi Vẫn là ta đó những khi Đầu voi ra trận cứu nguy giống nòi Bao trùm lên toàn bộ sáng tác thơ của Tố Hữu là vì lý tưởng cách mạng, vì cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, vì lương tâm, chính nghĩa, công lý và lẽ phải trên đời.. Và một trong những giá trị tiêu biểu của thơ Tố Hữu là tính hướng thiện được biểu lộ vừa thầm kín, tinh tế, vừa sâu sắc, đậm đà qua 6 tập thơ nổi tiếng: Từ ấy, Việt Bắc, Ra trận, Gió lộng, Máu Bài thơ "Từ ấy" được Tố Hữu sáng tác vào tháng 7/1938; nhan đề bài thơ trở thành tên tập thơ đầu của ông. Có thể nói " Từ ấy" là tiếng hát của người thanh niên yêu nước Việt Nam giác ngộ lí tưởng Mác Lê Nin trong ngày hội lớn của cách mạng: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim "Từ ấy" là một thời điểm lịch sử đã trực tiếp tác động đến cuộc đời nhà thơ khi được giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, một kỷ niệm sâu sắc của người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng Cách mạng,Trong buổi ban đầu ấy, những người thanh niên như Tố Hữu dù có nhiệt huyết nhưng vấn chưa tìm được đường đi trong kiếp sống nô lệ, họ bị ngột thở dưới ách thống trị của thực dân phong kiến "băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời".Chính trong hoàn cảnh đó lí tưởng cộng sản như nắng hạ , như mặt trời xua tan đi những u ám, buồn đau, quét sạch mây mù và đen tối hướng đến cho thanh niên một lẽ sống cao đẹp vì một tương lai tươi sáng của dân tộc. Người thanh niên học sinh Tố Hữu đã đón nhận lí tưởng ấy không chỉ bằng khối óc mà bằng cả con tim, không chỉ bằng nhận thức lí trí mà xuất phát từ tình cảm: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim

Từ ấy đã làm cho tâm hồn Tố Hữu" bừng nắng hạ" đó là một luồng ánh sáng mạnh mẽ, rực rỡ của nắng vàng chứa chan hạnh phúc ấm no.Soi tỏ vào những bài thơ sau này ta mới thấy hết được niềm vui sướng của Tố Hữu trước ánh sáng huy hoàng của chân lí. Đời đen tối ta phải tìm ánh sáng Ta đi tới chỉ một đường cách mạng Và đó mới là bản chất của lí tưởng cộng sản đã làm người thanh niên 18 tuổi ấy say mê, ngây ngất trước một điều kì diệu: Mặt trời chân lí chói qua tim Mặt trời chân lí là một hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho lí tưởng của Đảng,của cách mạng , mặt trời của chủ nghĩa xã hội. Tố Hữu với tấm lòng nhiệt thành của mình đã tự hào đón lấy ánh sáng của mặt trời, sẵn sàng hành động cho lí tuởng cách mạng cao đẹp.Bởi lí tưởng đã "chói" vào tim- chính là nơi kết tụ của tình cảm, là nơi kết hợp hài hòa giữa tâm lí và ý thức trí tuệ chỉ thực sự hành động đúng khi có lí tưởng cách mạng, khi có ánh sáng rực rỡ của mặt trời chân lí chiếu vào. Lý tưởng Cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người, một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự biến đổi kì diệu mà lí tưởng Cách mạng đem lại: Hồn tôi là một vườn hoa lá, Rất đậm hương và rộn tiếng chim. Cái giọng điệu rất tỉnh và rất say rạo rực và ngọt lịm hồn ta chủ yếu là cái say người và lịm ngọt của lí tưởng, của niềm hạnh phúc mà lí tưởng đem lại :"hồn" người đã trở thành "vườn hoa", một vườn xuân đẹp ngào ngạt hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót.Ở đây hiện thưc và lãng mạn đã hòa quyện vào nhau tạo nên cái gợi cảm, cái sức sống cho câu thơ. Nếu khổ đầu là một tiếng reo vui phấn khởi thì khổ thứ hai và thứ ba là bản quyết tâm thư của người thanh niên cộng sản nguyện hòa cái tôi nhỏ bé của mình vào cái ta chung rộng lớn của quần chúng nhân dân cần lao.Người đọc thật sự cảm động bởi thái độ chân thành thiết tha đến vồ vập của một nhà thơ vốn xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản tự giác và quyết tâm gắn bó vớI mọi người: Tôi buộc hồn tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi bên nhau thêm mạnh khối đời. "Buộc" và "trang trải"là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng nó đều nằm trong nhận thức mới về lẽ sống của Tố Hữu. "Buộc" là đoàn kết gắn bó, tự nguyện gắn bó đời mình với nhân dân cần lao, với hết thảy nhân dân lao động Việt Nam Để tình trang trải với trăm nơi Xác định vị trí của mình là đứng trong hàng ngũ nhân dân lao động chưa đủ, Tố Hữu còn biểu hiện một tinh thần đoàn kết, tình cảm nồng thắm, chan hòa với nhân dân.Tình yêu người, yêu đời trong Tố Hữu đã nâng lên thành chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.Nhà thơ muốn được như Mác: "Vì lẽ sống, hy sinh cho cuộc sống - Đời với Mác là tình cao nghĩa rộng"., mong ước xây dựng một khối đời vững chắc làm nên sức mạnh quần chúng cách mạng.Từ đó Tố Hữu đã thể hiện niềm hãnh diện khi được là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình những người nghèo khổ bất hạnh: Tôi đã là con của vạn nhà Là em của vạn kiếp phôi pha Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm cù bấc cù bơ. Tố Hữu nguyện sẽ đứng vào hàng ngũ những người "than bụi, lầy bùn"là lực lượng tiếp nối của "vạn kiếp phôi pha", là lực lượng ngày mai lớn mạnh của "vạn đầu em nhỏ",để đấu tranh cho ngày mai tươi sáng.Điệp từ "là" được nhắc đi nhắc lại, nó vang lên một âm hưởng mạnh mẽ lắng đọng trong tâm hồn ta một niềm cảm phục, quý mến người trai trẻ yêu đời, yêu người này. Với một tình cảm cá nhân đằm thắm, trong sáng, "Từ ấy" đã nói một cách thật tự nhiên nhuần nhụy về lí tưởng, về chính trị và thật sự là tiếng hát của một thanh niên, một người cộng sản chân chính luôn tuôn trào trong mình mạch nguồn của lí tưởng cách mạng. Bài thơ "Từ ấy" của Tố Hữu là một bài thơ vừa có tính triết lý sâu sắc, vừa rất gần gũi, bình dị, thân thuộc. Sau mấy chục năm đọc lại, những vần thơ đó vẫn là một câu hỏi thấm thía mà những người cộng sản hôm nay không thể không suy ngẫm một cách nghiêm túc để tự mình tìm ra lời giải đáp thấu đáo. Giữa cái chung và cái riêng, giữa cộng đồng - tập thể và cá nhân, giữa vật chất tầm thường và tinh thần – tư tưởng của người cộng sản. Cả cuộc đời Tố Hữu đã hiến dâng cho tổ quốc, cho Đảng và nhân dân. Khi biết sắp phải đi xa, ông cũng chỉ nghĩ là về một nơi mà ta vẫn gọi là "cõi tạm". Ông mong muốn tiếp tục được hiến dâng: Tạm biệt đời ta yêu quý nhất Còn mấy vần thơ, một nắm tro. Thơ gửi bạn đường. Tro bón đất

Sống là cho. Chết cũng là cho. Bởi thế, con người, cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và thi ca của Tố Hữu luôn sống mãi trong niềm tin yêu, kính trọng của Đảng và nhân dân..

Đ ề: Cái tôi đ ộc đáo c ủa T ản Đà trong bài H ầu Tr ời.
Nhà thơ Xuân Diệu từng nói rằng: "Tản Đà là thi sĩ đầu tiên, mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại. Tản Đà là người thứ nhất đã có can đảm làm thi sĩ, đã làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám giữ một cái tôi”. Bằng bản lĩnh của mình, Tản Đà mang đến một luồng sinh khí mới cho nền văn học Việt Nam. Thi sĩ trực tiếp thể hiện cái tôi bản ngã của mình một cách hết sức độc đáo và mới mẻ. Và "Hầu Trời” là một trong những bài thơ kết tinh những nét riêng độc đáo đó. Như Hoài Thanh đã nói "Tiên sinh là người của hai thế kỉ”, Tản Đà là người đã đặt được dấu gạch nối giữa văn học truyền thống và văn học hiện đại, là người "dạo bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kì đương sắp sửa”(Hoài Thanh). Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, ông sống khoáng đạt và đã đeo "túi thơ” đi khắp cuộc đời mình. Là một cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn giao thời, ông để lại khá nhiều tác phẩm cho đời. Trong đó đáng kể là "Hầu Trời” được trích trong tập Còn chơi (1921). Bài thơ đã thể hiện rõ cái tôi cá nhân của Tản Đà thông qua sự việc lên thiên đình đọc thơ.Trong sáng tác văn học, không phải ai cũng thể hiện được cái tôi của mình trên trang viết. Cái tôi gắn liền với cá tính sáng tạo của một người cầm bút. Điều đó đòi hỏi người viết phải thể hiện được cái riêng có giá trị thẩm mĩ cao, có khả năng đóng góp tích cực cho nền văn học chung. Tản Đà-nhắc đến thi nhân là nhắc đến "xê dịch, ngông và đa tình”. Ba yếu tố đủ để làm nên một cái tôi riêng trong làng thơ Việt Nam. Nhưng có lẽ, cái tôi độc đáo của nhà thơ đã thể hiện trong "Hầu Trời” là một cái tôi ngông rất lạ. "Ngông” không phải chỉ định một kiểu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác. Cái ngông ở đây được nói đến là ngông dựa trên khả năng mình có, nghĩa là chỉ những người tài năng, tự tin bởi cái tài của mình, tự tin để khẳng định nó với đời mới là cái ngông được người đời chấp nhận. Người ngông tạo cho mình những phong cách riêng, khác người nhưng để lại những ấn tượng sâu đậm. Chất ngông thương được thể hiện bởi các nhà văn, nhà thơ có ý thức cao độ về cái tài và cái tình. Với cái tài đó, họ mang ra phục vụ cho đời nhưng cũng là để "đóng dấu” hình ảnh của mình với thời gian. Họ có thể ngông bởi họ có tài, họ có cái để hãnh diện, để thách thức với cuộc đời, với người đời và cũng bởi trong cuộc sống, mỗi con người họ đã là một tính cách riêng, một sự phá cách không thể trộn lẫn với một người nào khác. Và cái ngông ấy trong "Hầu Trời” đã tạo ra cho nhà thơ một cái tôi độc đáo. Nhà thơ ý thức sâu sắc về tài năng của mình. Vì vậy tiếng ngâm thơ "vang cả sông Ngân Hà” khiến Trời mất ngủ là ở chỗ ấy.

"Đêm qua chẳng biết có hay không Chẳng phải thảng thốt không mơ mòng Thật hồn! Thật phách! Thật than thể Thật được lên tiên sướng lạ lùng!”.
Cái duyên được lên hầu Trời gắn liền với câu chuyện văn thơ, gắn liền với những phút cảm hứng của nhà thơ. Chuyện tưởng tượng nhưng như thật, có lẽ cái tôi độc dáo của Tản Đà là ở chỗ vào đề tự nhiên, hấp dẫn nhưng có duyên. Để thế gian thấy tài năng của nhà thơ đã khó vậy mà ngay đến Trời còn say mê, chư tiên yêu thích thì thật lạ lùng. Vậy mới thấy được cái ngông của nhà thơ biểu hiện mạnh mẽ qua bài Hầu Trời. Đã có dịp được lên Thiên đình, vì thế Tản Đà tranh thủ "quảng cáo” tài năng của bản thân:

"Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc Đọc hết văn vần sang văn xuôi Hết văn thuyết lí lại văn chơi

Đương cơn đắc ý đọc đã thích Chè Trời nhấp giọng càng tốt hơi.”
Tác giả đọc thơ rất tự tin, khoe tài của mình, đọc cao hứng và nhập thân vào tác phẩm. Qua đó bộc lộ cái tôi in đậm phong cách cái tôi cá nhân tự ý thức của chính ông. Sẵn tiện nhà thơ giới thiệu luôn những tác phẩm của mình:

"Bẩm con không dám man cửa Trời Những áng văn con in cả rồi Hai quyển Khối tình văn thuyết lí Hai Khối tình con là văn chơi
Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết Đài gương, Lên sáu văn vị đời

Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch Đến quyển Lên tám nay là mười Nhờ Trời văn con còn bán được Chửa biết con in ra mấy mươi?”
Nhà thơ có vẻ rất đắc ý bởi ông ý thức được cái tài của mình. Khẳng định bản ngã cái tôi phóng túng, ý thức tài năng giá trị của mình giữa cuộc đời. Trước Tản Đà các nhà nho tài tử đều hết thảy thị tài nhưng chữ tài mà họ nói tới nhiều khi mang một nội hàm khá rộng. Họ không dám nói đến cái hay, cái "tuyệt” của thơ mình, hơn nữa, lại nói trước mặt Trời. Rõ ràng ý thức cá nhân ở nhà thơ đã phát triển rất cao độ. Chính vì vậy mà đến Trời cũng phải tán thưởng:

"Văn dài hơi tốt ran cung mây! Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay. Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng Đọc xong một bài cùng vỗ tay.” " Trời lại phê cho: Văn thật tuyệt! Văn trần được thế chắc có ít Nhời văn chuốt đẹp như sao băng! Khí văn hung mạnh như mây chuyển! Êm như gió thoảng, tinh như sương!

Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!”
Chính vì tình yêu văn chương, ông mới tự tin sáng tác, chuyển tải những tư tưởng tình cảm mới mẻ vào trang thơ. Dường như với ông, hầu Trời là khoảnh khắc đẹp nhất. Vì thế ông mới đem cái tài của mình để thể hiện trước Trời cùng chư Tiên. Và lúc này quan niệm mới mẻ của ông được bộc lộ: sáng tác văn chương là một nghề. Dù không biểu hiện trực tiếp nhưng đằng sau các câu chữ ta vẫn thấy có một sự hình dung khác trước về hoạt động tinh thần đặc biệt này. Với Tản Đà, văn chương là một nghề kiếm sống mới, có người bán kẻ mua, có thị trường tiêu thụ và bản thân thị trường đó cũng hết sức phức tạp, không dễ chiều. Đặc biệt hơn dương như nhà thơ đã ý thức được sự cần thiết phải chuyên tâm với nghề văn, phải có vốn để theo đuổi nó:

"Nhờ Trời văn con còn bán được” "Vốn liếng còn một bụng văn đó”
Thật ngang tang khi thi sĩ muốn "gánh văn” lên Trời để bán.

"Chư tiên ao ước tranh nhau dặn: -"Anh gánh lên đây bán chợ Trời!””
Làm náo động thiên cung bằng những lời văn giàu thay lắm lối, nay nhà thơ còn muốn văn của ông được lan rộng cung đình để mọi người biết đến ông- một tài năng thực thụ của trần thế. Thế mới thấy được cái tôi mạnh mẽ đến nhường nào. Qua bài thơ "Hầu Trời” không dừng lại ở đó, Tản Đà còn vạch ra thực tế phũ phàng: tài năng không thống nhất với số phận. Ở cuộc đời nhà thơ thiếu tri âm, tri kỉ và bất hòa với cuộc đời:

"Văn chương hạ giới rẻ như bèo Kiếm được đồng lãi thực rất khó Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.”
Vì vậy ông khát khao lên Trời đọc thơ và tìm được người tri âm. Chỉ có Trời và chư tiên mới hiểu cái hay, cái đẹp trong thơ ông. Và lời Trời khen hắn là sự thẩm định có sức nặng nhất, không thể bác bỏ, nghi ngờ. Đúng là lối tự khẳng định rất ngông ngạo của nhà thơ. Để Trời hiểu thơ, khen văn thơ tuyệt, Tản Đà liền đó "tâu trình” rõ ràng thân thế của mình, phù hợp hoàn toàn mạch chuyện:

"Dạ bẩm lạy Trời con xin thưa Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn Quê ở Á châu về Địa Cầu Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”.
Khác người xưa, Tản Đà đã tách tên, họ theo một kiểu công khai lý lịch rất hiện đại, lại còn nói rõ bản quán, châu lục, tên hành tinh. Qua đó ông thể hiện niềm yêu nước tha thiết, đầy tự hào về bản thân, ý thức cá nhân tự tôn dân tộc sâu sắc. Một cái tên- tên thật chứ không phải tự hay hiệu- mà được nói ra trịnh trọng đến vậy hẳn nhà thơ phải thấy có một giá trị không thể phủ nhận gắn liền với nó. Cũng qua câu thơ, tác giả ngầm giới thiệu bút hiệu của mình. Tản Đà là con người khoe tài,

thị tài và rất ngông cho nên trước chư tiên không bao giờ kiềm chế mà luôn thể hiện hết tài hoa của mình. Từ đầu đến cuối nhà thơ đều tự tin về tài năng của bản thân và một lần nữa Tản Đà lại khẳng định rất "ngông”, của kẻ vốn đã "ngông” khi nhận mình là "trích tiên” bị đày xuống hạ giới vì tội ngông. Nhà thơ khẳng định tài năng và thân phận "khác thường của mình”. Sự khác thường đặc biệt này còn nằm ở việc thi sĩ được thừa nhận là một người nhà Trời, được sai xuống hạ giới thực hiện một sứ mệnh cao cả”việc thiên lương của nhân loại”, "Trời rằng không phải Trời đày, Trời định sai con một việc này, Là việc "thiên lương” của nhân loại, Cho con xuống thuật cùng đời hay”. Một lần nữa cái ngông ấy lại được thổi vào trong ý thơ. Nhưng cái ngông ấy chẳng qua là vì nó đối lập lại với cả xã hội bất công, vì ông phải đi làm công việc là tìm lại thiên lương vốn đang bị mai một của con người: "Hai chữ thiên lương thằng Hiếu nhớ Dám xin không phụ Trời trông mong” Nhà thơ ý thức về nhân cách, một nhân cách vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc về danh lợi. Nó đối lập với cái xã hội bất công vụ lợi, chạy theo đồng tiền và danh lợi thời bấy giờ. Cuối cùng nhà thơ vẫn muốn khẳng định, tự khen thơ mình. Thơ thi nhân chẳng những đẹp mà còn ẩn chứa những ý niệm cao siêu về cuộc đời, về thiên lương, nhân sinh thế giới quan… Tóm lại là tất cả những gì nhân loại cần có để vươn đến cái chân- thiện- mỹ. Thoát ra khỏi quan niệm "thi dĩ ngôn chí” , Tản Đà thực sự thăng hoa trong thế giới nghệ thuật, bộc lộ cảm xúc cái tự do cá nhân mới mẻ của riêng mình. Kế thừa nét ngông của truyền thống, song trong sự ngông của Tản Đà, người ta không thấy cái ngông đến mức lấy thú ăn chơi hưởng lạc có phần tiêu cực như một cách để đối lại với đời như Nguyễn Công Trứ. Và cũng không thấy cái ngông trong việc đi tìm một phong cách, một lối thể hiện riêng của người tôn thờ cái đẹp như Nguyễn Tuân. Cái ngông của Tàn Đà là cái ngông của một người chìm đắm trong mộng: mộng về cuộc đời, mộng về sự đổi thay, say để mộng, mộng để ngông với người đời. Nhưng có thể thấy rằng, họ gặp nhau ở một điểm cơ bản mà nếu như thiếu nó thì sẽ không thể "ngông” được đó là cái tài, cái tình và ý thức về cái tôi bản ngã của chính mình. Họ làm nên những phong cách nghệ thuật riêng độc đáo, nhưng ấn tượng đặc biệt, không thể nào phai trong lòng người đọc và không lẫn với cái ngông của nhà thơ nào khác. Bài thơ "Hầu Trời” đã kết tinh cái tôi của Tàn Đà. Nhưng không chỉ trên phương diện nội dung, những nét độc đáo và mới mẻ còn làm nên cái tôi trong nghệ thuật. Có lẽ "Hầu Trời” có vẻ quá dài nhưng chính điều đó lại tạo cho bài thơ giàu yếu tố tự sự. Hơn thế, nguyên tắc tôn trọng dòng chảy tự nhiên,sống động của cảm xúc cá nhân, cá thể của thơ cho phép nhà thơ thoát khỏi những ràng buộc quá khắt khe về hình thức để tự do vẫy vùng thể hiện tư tưởng tình cảm của mình. Thể thơ thất ngôn trường thiên được viết một cách phóng túng, tự do theo cá tính riêng của nhà thơ. Bên cạnh đó, "Hầu Trời” còn đáng chú ý với hiện tượng chia khổ, các khổ có độ dài khác nhau tạo nên cảm xúc tự do và nét mới trong thơ văn. Cách thể hiện của Tản Đà đã vượt ra khỏi quy pham nội dung và nghệ thuật, muốn phá cách để thể hiện rõ cái tôi của ông. Nét độc đáo trong cái tôi của Tản Đà là sự dung hòa nhiều yếu tố khác nhau. Tất cả tạo nên ở thi sĩ tính cách của một nhà Nho tài tử, đa tình, ngông và xê dịch. Cái cũ và mới, xưa và nay đan xen đưa Tàn Đà trở thành người nối kết hai thời đại thi ca, trở thành ngôi sao sáng với vẻ đẹp rất riêng trên bầu Trời văn học Việt Nam.

C ảm nh ận v ề bài th ơ "tràng giang" c ủa Huy C ận
Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đã khẳng định tên tuổi của mình trong phong trào thơ mới 1930-1945. Ông vốn quê quán Hương Sơn, Hà Tĩnh, sinh năm1919 và mất năm 2005. Trước Cách mạng tháng tám, thơ ông mang nổi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như: "Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự". Nhưng sau Cách mạng tháng tám, hồn thơ của ông đã trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: "Trời mỗi ngày lại sáng", "Đất nở hoa", "Bài thơ cuộc đời"... Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy

Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ "Tràng Giang". Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng tám. Bài thơ được trích từ tập "Lửa thiêng", được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nhìn cảnh mênh mông sóng nước, lòng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa dòng đời vô định. Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đến sự thích thú, yêu mến cho người đọc. Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp .... Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ. "Tràng giang" là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận. Hai âm "anh" đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ "tràng giang" mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng. Tứ thơ "Tràng giang" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình. Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao cảm, Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại. Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài". Trước cảnh "trời rộng", "sông dài" sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên tình cảm "bâng khuâng" và nhớ. Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng. Và con "sông dài", nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc. Và ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu tư, sầu não như thế: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song. Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng. Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rõ ngay từ bốn câu đầu tiên này. Hai từ láy nguyên "điệp điệp", "song song" ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi nào, miên man miên man. Trên dòng sông gợi sóng "điệp điệp", nước "song song" ấy là một "con thuyền xuôi mái", lững lờ trôi đi. Trong cảnh có sự chuyển động là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một dòng "tràng giang" dài và rộng bao la không biết đến nhường nào. Dòng sông thì bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong lòng Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng. Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền. Thế mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách "thuyền về nước lại", nghe sao đầy xót xa. Chính lẽ vì thế mà gợi nên trong lòng người nỗi "sầu trăm ngả". Từ chỉ số nhiều "trăm" hô ứng cùng từ chỉ số "mấy" đã thổi vào câu thơ nỗi buồn vô hạn. Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi một càng khô lạc mấy dòng". Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la. "Một" gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, "cành khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên "mấy dòng" nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông. Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi. Nét đẹp cổ điển "tả cảnh ngụ tình" thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về một nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại để người đọc có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ mới. Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ. Đó là ở cách nói "Củi một cành khô" thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi niềm đơn côi, lạc lõng. Nỗi lòng ấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều. Hai từ láy "lơ thơ" và "đìu hiu" được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một dòng thơ đã vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. "Lơ thơ" gợi sự ít ỏi, bé nhỏ "đìu hiu" lại gợi sự quạnh quẽ. Giữa khung cảnh "cồn nhỏ", gió thì "đìu hiu", một khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều ấy, con người trở nên đơn côi, rợn ngộp đến độ thốt lên "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều". Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái, vừa gợi "đâu đó", âm thanh xa xôi, không rõ rệt, có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người. Đó cũng có thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên. Đôi mắt nhân vật trữ tình nhìn theo nắng, theo dòng trôi của sông: "Nắng xuống, trời lên sâu chót vót, Sông dài, trời rộng, bến cô liêu." "Nắng xuống, trời lên" gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa: bởi nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau. "sâu chót vót" là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹp hiện đại. Đôi mắt nhà thơ không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ trụ, cả không gian bao la, vô tận. Cõi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với "sông dài, trời rộng", còn những gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: "bến cô liêu". Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng, cuộc sông cón người thì buồn tẻ, chán chường với "vãn chợ chiều", mọi thứ đã tan rã, chia lìa. Nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì quen thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về cô đơn. Nhưng thiên nhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu hiu. Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng , Mênh mông không một chuyến đò ngang. Khôngcần gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Hình ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên một cái gì bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối hàng". Bèo trôi hàng hàng càng khiến lòng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từ đó cõi lòng càng đau đớn, cô đơn. Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là "bờ xanh tiếp bãi vàng" như mở ra một không gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hoà, nối kết: Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật. Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định. "...không...không" để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân mật để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, chỉ có một thiên nhiên mênh mông, mênh mông. Cầu hay chuyến đò ngang, phương tiện giao kết của con người, dường như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào. Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao: Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Bút pháp chấm phá với "mây cao đùn núi bạc" thành "lớp lớp" đã khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. Hình ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ: Mặt đất mây đùn cửa ải xa. Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ "đùn", khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc. Và nét hiện đại càng bộc lộ rõ hơn qua dấu hai chấm thần tình trong câu thơ sau. Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian bởi nó sử dụng "cánh chim" và "bóng chiều", vốn là những hình tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->