Ý NGHĨA VÀ LỢI ÍCH HÀNH GIẢ TRÌ CHÚ ĐẠI BI

Bồ Tát hành Bồ tát đạo dùng vô số phương tiện quyền xảo để phù hợp căn cơ của mỗi chúng sinh hóa độ (thiên thủ bằng nghìn tay chỉ cho phương tiện, hay công hạnh) còn nghìn mắt là chỉ cho Trí tuệ thậm thâm của Bồ Tát để thấu hiểu hết thảy các Pháp, độ tận hết thảy chúng sinh. A Di Đà Phật hàng năm Phật tử khắp nơi trên thế giới thường làm lễ vía Bồ tát Quán Thế Âm thật trang nghiêm vào các ngày: 19/02, 19/06 và 19/09 đều theo âm lịch. Lời nói đầu: Ngày 19/02 là vía Quán thế Âm Đản Sanh. Ngày 19/06 là vía Quán thế Âm Thành Đạo. Ngày 19/09 là vía Quán thế Âm Xuất Gia. Ngày 19-09, tưởng niệm ngày vía Quán Thế Âm Bồ Tát. Trí Giải xin chia sẻ vài điều về công năng diệu dụng lợi ích của Chú Đại Bi chia sẻ đến quý Phật tử và bạn đọc gần xa. Chú Đại Bi được rút ra từ Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni của Phật Quán Thế Âm. Gọi tắt là Chú Đai Bi. Chú Đại Bi có thảy là 84 câu, 415 chữ. Định nghĩa từ Bồ Tát Bồ Tát : Nói cho đủ là: “Bồ Đề Tát Đỏa” tiếng Phạn: Bodhisattva dịch nghĩa là “Giác hữu tình, ” Bodhi=Giác, sattva=hữu tình. Từ “Giác” nghĩa là Giác ngộ, giác tri, giác kiến… Hữu tình nghĩa là các loài có tình thức do duyên hợp lại mà thành, “giác hữu tình” trên cầu Phật đạo để tự giác, dưới hóa độ chúng sinh để giác tha. Lòng đại từ đại bi của Bồ tát phát tâm nguyện cứu độ chúng sinh thoát khổ đau, đó là ý nghĩa danh từ Bồ Tát Giải thích về Chú Đại Bi Trong tất cả Kinh điển và Mật Chú của Phật giáo đều chia làm hai phần: Phần hiển (Phần Kinh) và Phần mật (phần câu Chú). Phần hiển : Là hiển bày ra ý nghĩa và chân lý trong Kinh để hành giả tụng niệm, hoặc nghiên cứu theo đó áp dụng tu tập, thì gọi là: “Tụng Kinh minh Phật chi lý, ” để hiểu biết công năng của câu kinh và câu chú gọi là phần hiển. Ví dụ: Kinh Bát Nhã phần hiển từ “Quán tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã cho đến câu… Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết”: phần mật là phần câu chú: “Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha .” Kinh Lăng Nghiêm: phần tựa là từ “Diệu Trạm Tổng… cho đến hết lời tựa là phần hiển còn phần mật là 5 đệ Lăng Nghiêm Phần hiển : Chú Đại Bi “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi” câu Kinh này là phần hiển giải thích công năng và diệu dụng của 84 câu Chú ở sau, để giúp hành giả hiểu mà hành trì cho đúng mới có hiệu nghiệm.
Page 1 of 7

thà uống nước đồng sôi mà chết còn hơn uống ly rượu. lẽ ra phải làm cho tất cả chúng sanh có trí huệ sáng suốt. nghìn mắt. vô lượng vô biên không có cùng tận” [1] Trong Kinh Duy Ma Cật đức Phật dạy rằng: “Người có trí không nên so sánh với các hàng Bồ Tát. mà trái lại đem sự mê say điên đảo cho tất cả chúng sanh. Ta bà ha” phần câu Chú là phần ẩn nghĩa chỉ là phạn ngữ chỉ có chư Phật mới thấu hiểu còn hàng phàm phu không hiểu ý nghĩa. cho nên Ngài Quan Thế Âm hóa hiện ra nghìn tay (tức nghìn muôn hạnh) phương tiện để độ sinh viên mãn. khi gặp chướng duyên dễ bất thối tâm bồ đề. Bồ Tát có tâm đại từ đại bi nhưng cần phải có đại trí tuệ. Biển sâu còn có thể dò được. sự phát tâm của Bồ Tát cũng như thế. cánh thức bán rượu nghiệp bán rượu. ngại = chướng ngại) Page 2 of 7 . vô tình lại tạo thêm khổ đau vì rượu là chất hại người. bảo người bán rượu: Nhân bán rượu. vì vậy mỗi lòng bàn tay đều có một con mắt. chúng ta đã giúp những người ấy. không chỗ nào là không cùng khắp. Phật tử này phạm “Bồ Tát Ba la di tội.. và sự việc hoằng Pháp độ sinh sẽ gặp trở ngại. vì thế trong giới thứ năm Sa Di giới cấm uống rượu. đức Phật đã dạy. Bấy giờ chúng ta động lòng từ bi thương xót lấy tiền ra để bố thí. còn chúng ta uống rượu làm mất đi trí tuệ. Như vậy chúng ta hành Bồ Tát đạo múc đích cứu độ chúng sinh.Còn phần mật của Chú Đại Bi là phần “câu Chú” từ câu chú “tâm đà la ni cho đến câu 84. rượu là nhơn duyên sanh tội lỗi. Bởi vì chúng ta uống nước đồng sôi mà chết còn giữ được hạt giống trí tuệ. chúng ta có từ bi mà thiếu trí tuệ. tổng trì. chỉ biết công năng và lợi ích để hành trì. Bởi vì chúng sinh căn cơ không giống nhau. nghiện thuốc. rượu là nguyên nhân làm mất đi hạt giống trí tuệ. tai nạn làm mất hạnh phúc gia đình. Giải thích phần hiển: “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại Đại bi” Câu Kinh này là phần hiển muốn nói về Ngài Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân thành Phật Chuẩn Đề có nghìn tay. biện tài. . tất cả công đức của Bồ Tát không thể đo lường được” [2] Như vậy mỗi bàn tay là biểu trưng cho công hạnh của Bồ tát vào đời độ sinh với lòng Đại từ đại bi. nhưng ngược lại gây hại đau khổ thêm cho chúng sinh và chúng ta lại vi phạm tinh thần Bồ Tát giới. chớ thiền định. con mắt là biểu trưng cho trí truệ. trong mỗi tay có một con mắt và mỗi tay cầm mỗi khí cụ khác nhau. Như hư không giới. duyên bán rượu. một nghìn con mắt biểu trưng cho đại trí tuệ Nếu hành giả thực hành con đường Bồ Tát hạnh vào đời độ sinh. chẳng những tự mình không uống rượu còn cấm cấm bán rượu: “Nếu Phật tử.” [3] Như vậy chúng ta hành Bồ Tát đạo vì lòng từ bi cần phải có trí tuệ thì chúng ta không có gặp chướng ngại (vô = không. Là Phật tử. Lòng đại từ của bồ tát vô lượng vô biên nên sự phát tâm cũng vô lượng vô biên mênh mông như chúng sanh giới. chỉ có từ bi mà không có trí tuệ. tự mình bán rượu. để giúp họ vượt qua cơn nghiện. Vì thế trong Phát Bồ Đề Tâm Luận của Bồ tát Thiên thân nói rằng: “Bồ tát phát tâm lấy lòng từ bi làm đầu. tất cả rượu không được bán. Ví dụ: Khi chúng ta thực hành Bồ Tát đạo vào đời độ sinh thấy một người nghiện rượu. trí tuệ.không có tiền mua uống nằm than thở kêu rên. Như vậy.

cúng dường chư Phật. tức quả Phật. gặp khổ chịu nhẫn nhục được. thâm tâm bình đẳng. đại phiền não. đại ngã tâm cho mình và hết thảy chúng sinh” Đó là tâm “Đại Bi” của Bồ Tát thật bao la rộng lớn hạnh nguyện của Ngài vô cùng tận. tu tập thiện căn. Thành tựu phần công đức oai linh Thần thông hiện các thân hình Dạo cùng khắp cõi độ sinh thoát nàn” Bồ Tát hành Bồ tát đạo dùng vô số phương tiện quyền xảo để phù hợp căn cơ của mỗi chúng sinh hóa độ (thiên thủ = nghìn tay chỉ cho phương tiện. từ bi thuần hậu. Bồ Tát thệ nguyện không thành Vô thượng Page 3 of 7 . Nếu ai có đầy đủ mười điều nói trên mới có thể phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bốn là cầu quả tối thắng. mong cầu được trí huệ Phật. Ba là thương xót chúng sanh. Nếu còn một chúng sinh đau khổ. độ tận hết thảy chúng sinh. lập chí cầu chánh pháp.“Bồ tát phát tâm bằng cách thân cận thiện tri thức. đại ái mạn. tâm thường nhu hòa.” [4] Bồ Tát phát tâm tu tập Vô thượng Bồ đề lại cần có bốn duyên. hay công hạnh) còn nghìn mắt là chỉ cho Trí tuệ thậm thâm của Bồ Tát để thấu hiểu hết thảy các Pháp. “Một là suy nghĩ đến chư Phật. “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi” Vì thế trong Phổ Môn phẩm 25 trong Kinh Pháp Hoa: Phật mới bảo:“Hỡi này nam tử Có chúng sanh quốc độ xa gần Muốn cầu thân Phật độ dân Quán Âm liền hiện Phật thân hộ trì Cõi muốn được Bích Chi hóa độ Hiện Bích Chi vì đó giảng Kinh … … Vô Tận Ý! Quán Âm Bồ Tát. thuyết Pháp phá trừ đại tà kiến. Hai là quán các tội lỗi của tự thân. ưa thích pháp đại thừa.” Nhờ có bốn nhân duyên kia mà tâm bồ đề thêm kiên cố [5] Trong Đại Trí Độ Luận có nói “Bậc Bồ Tát luôn có tâm dõng mãnh bất thoái ở giữa chúng sinh khởi đại bi tâm thành lập Đại thừa. thực hành đại đạo.

Sắc thái Đại từ bi (nghìn tay) Bồ Tát có ba sắc thái này thì hành Bồ Tát đạo đạt đến chỗ “vô ngại” Khi vị Bồ Tát có đại bi thì cũng đạt được đại trí tuệ (nghìn mắt nằm trong nghìn cánh tay. Khi đức Phật hỏi ngài Địa Tạng đã bạch Phật rằng: “con ở trong cõi đời xấu ác này độ sanh.” Phẩm chất của Bồ Tát: Tinh thần là Trí tuệ (nghìn mắt). chúng sanh độ hết rồi. tôi thề không thành Phật. và Đại trí thì trên con đường độ sinh tùy theo căn cơ của chúng sinh mà hóa độ viên mãn (vô ngại).) Trí tuệ và từ bi là hai diệu tánh của Bồ Tát Quan Thế Âm để độ sanh. phương chứng Bồ-đề” Có nghĩa là Địa ngục chưa trống không. “Tự tại tiêu dao suốt tháng ngày. Tùy duyên phóng khoáng cõi trần ai. Khi Ngài có đầy đủ hai đức Đại bi. “Đại Lực” để làm động cơ thú đẩy độ sinh như “Đại Hùng”. Đại Bi để hóa độ chúng sinh gọi “Đại Từ” “Đại Bi” Quan Thế Âm Bồ Tát Hình Tướng khác nhau của Bồ Tát: Hình tướng xuất gia: Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát Page 4 of 7 . “Đại Lực” Đại Thế Chí Bồ Tát Lấy “Trí làm yếu chỉ như “Đại Trí” Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Lấy Đại Từ. những vẫn cảm thấy an lạc như đang an trú trong cảnh giới Niết Bàn. chúng sinh độ tận. Rửa sạch lòng trần đầy nhiễm uế Cuộc đời chi sá bận tâm đâu” [6] Đó là ý nghĩa: “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi” Hạnh Nguyện khác nhau của Bồ Tát: Lấy “Hạnh” để hóa độ chúng sinh gọi là “Đại Hạnh” Phổ Hiền Bồ Tát Lấy “Nguyện” để độ sinh như “Đại Nguyện” Địa Tạng Vương Bồ Tát Lấy “Đại Hùng”.Bồ đề như Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát đã phát nguyện: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật. tôi mới chứng Bồ-đề. Sức mạnh là Thiền định.

thanh tịnh không vướng vào “tự ngã. đạt đến vô ngã. tâm đạt đến vô niệm. Như vậy. bí mật của chư Phật. trong sáng. ở trong địa ngục không có Tam bảo. tâm không. Đại Nguyện. phần hiển là để chúng ta hiểu nghĩa công dụng lợi ích của Kinh. Tinh thần nhập thế nên hiện tướng tại gia. tâm phải cung Page 5 of 7 . Ngài Thế Chí. Đại Thế Chí Bồ Tát. tâm chẳng nhiễm trước. chính vì lòng từ bi trí tuệ như thế giúp cho hàng Bồ Tát có được tâm vô phân biệt. Ngài Phổ Hiền. để hòa vào thế gian độ sinh vì lòng từ bi. trong đêm trường sinh tử. Nó luôn vận hành liên tục để tỏa sáng trong đêm trường. Bởi vì Đại hạnh. ý nghĩa. Còn phần mật hành trì để tâm chúng ta thanh tịnh và an lạc (vô ngại) niệm Chú Đại Bi là đọc xưng danh hiệu của 84 vị Hộ Pháp Kim Cang Thần hóa thân của ngài Quan Thế Âm Bồ Tát để đối trị tiêu diệt 84 phiền não chướng tư hoặc và lậu hoặc. có tóc hay không có tóc điều đó không quan trọng (tóc = phiền não) Riêng Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát vì hạnh nguyện độ chúng sinh ở Địa ngục. trái tim của Bồ tát đau quằn quại khi nhìn thấy chúng sinh đau khổ biết bao tiếng rên xiết trong địa ngục. cho nên Bồ Tát có 32 ứng hóa thân là để tùy thuận chúng sinh mà hóa độ. tâm từ bi ấy thể hiện tính bình đẳng giữa mọi người. Hàng Bồ Tát tu diệt hết phiền não và đạt đến vô sanh pháp nhẫn. không còn chấp vào hình tướng. “Ta bà ha” là phần ẩn nghĩa. hàng phàm phu không có hiểu được Phần này. Đại Lực hay Đại Trí cũng đặt trên nền tảng là Đại Bi. giác ngộ nghiệp ác của mình đã tạo và quy hướng Tam bảo. Hoặc như Ngài Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân thành Tiêu Diện vào cảnh giới Ngã quỷ để độ chúng ma mà không có một chút ngần ngại nào cả. Chú mà hành trì. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. như mặt trăng không phân biệt quốc gia nào. Nhưng ít Phật tử nhắc đến Ngài Văn Thù Sư Lợi. đại bi không ngần ngại (vô ngại). chỉ có chư Phật mới hiểu. Hạnh nguyện của quý Ngài độ sinh ở trần gian. chư vị Bồ tát hóa thân vào Địa Ngục để độ sinh như ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát vì lòng đại từ. giúp cho phạm nhân khi nhìn Ngài để phát khởi tâm Bồ Đề. chư Bồ Tát ta khó thể lãnh hội được nội dung. Tuy thần chú là những lời nói nhiệm mầu. Nhưng phần hiển là phần giúp hành giả hiểu rõ công năng và lợi ích cho việc hành trì Chú Đại Bi. Bởi vì Phật tử chủ yếu tín ngưỡng Ngài Quan Thế Âm và Ngài Địa Tạng. Hành động vị tha ấy trong Đại Thừa gọi là: “Vô Công Dụng Hạnh-Anābhogacart) tức là hành động không dụng công không vì mục đích tư lợi.Hình tướng tại gia: Phổ Hiền Bồ Tát. Quan Thế Âm Bồ Tát. Đó là ý nghĩa câu Chú Đại Bi: “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi” Phần Mật : Của Chú Đại Bi từ câu: “Tâm đà la ni” cho đến câu 84. Khi hành trì chú Đại Bi để đạt quả vị Vô thượng Bồ đề đòi hỏi hành giả phải: Tâm đại từ bi. Trong Phật giáo mục đích duy nhất: “Duy tuệ thị nghiệp = lấy trí tuệ làm sự nghiệp” Tức là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Đại trí biểu trưng cho sự nghiệp. Đại bi là lẽ sống là hạnh nguyện độ sinh. tâm bình đẳng. nên hình tướng xuất gia hay tại gia. phát lồ sám hối thoát khỏi địa ngục. Chúng sinh thọ quả báo đau khổ khi nhìn hình tướng Ngài Địa Tạng là hình tướng xuất gia đầu tròn áo vuông. Trái tim Bồ Tát luôn tuần hành nhịp nhàng. ” đạt đến sự vô phân biệt. Vì vậy. không có ranh giới.

lớn tiếng. tùy theo căn cơ mỗi người mà hành trì để có hiệu quả. âm thanh trầm hùng. sân. Công năng lợi ích hành trì Kinh . tất cả mọi người có thể trì. Page 6 of 7 . tâm biết khiêm nhường. Thân nghiệp gồm ba: (Không sát sinh. Ý nghiệp có ba: Tham. không phan duyên đó là ý nghiệp thanh tịnh “Mỗi niệm chân thành mỗi niệm thông Tịch lặng cảm ứng tịch lặng trong Cho đến non cao nước cùng tận Rong chơi pháp giới khắp Tây Đông” Niệm Kinh Chú mục đích nhiếp phục tam nghiệp hằng thanh tịnh để trừ được ba ác nghiệp thân nghiệp. không nói thêu dệt” 3. giữ giới dứt các điều ác làm các việc lành mới được công đức tốt đẹp. không nói ác khẩu. Khi chúng ta niệm chú một cách nhất tâm thì sẽ đoạn trừ được phiền não. tránh tâm tán loạn. Thân ngồi ngay thẳng trước Phật là thân thanh tịnh 2. Cách trì Chú Đại Bi có nhiều cách: *Tụng nhanh. phát tâm Vô thượng Bồ đề. không đùa giỡn là khẩu nghiệp thanh tịnh 3. tâm không cố chấp. niệm Chú. Nhờ âm thanh trầm hùng đó tạo nên sự mầu nhiệm đánh thức tâm Bồ đề của mình và những người xung quanh. Ý không tán loạn. Khi tâm mình thanh tịnh tức tâm bình. Cách tụng này dễ dàng cho những người mới hành trì Chú Đại Bi. bao giờ cái tâm của mình cũng phấn khởi. Miệng không nói dối. ” mây tan thì trăng tự nhiên hiển bày tỏa sáng.kính. nghe mầu nhiệm hơn là tụng một mình. tâm bình tạo ra thế giới bình “tướng tự tâm sanh. Cho nên khi tụng Chú Đại Bi trong Đại chúng. Khẩu nghiệp có bốn: (Không nói dối. Kinh chú của Phật. hành giả có thể áp dụng theo phương cách trì tụng Chú Đại Bi như sau. không trộm cướp. chú sẽ được ba nghiệp thanh tịnh. không tà dâm) 2. nhưng muốn được lợi lạc trong khi tụng Kinh trì Chú người Phật tử cố gắng giữ tam nghiệp thanh. không nói lưỡi hai chiều. đọc rõ ràng. mục đích khỏi buồn ngủ tránh giải đãi. tâm không tạp loạn. niệm Phật cũng đều mục đích như nhau để tam nghiệp hằng thanh tịnh.Chú: Ngài Tuyên Hóa dạy rằng: Người trì kinh. si. Như vậy niệm Kinh. khẩu nghiệp và ý nghiệp 1. khi ba nghiệp lắng đọng thì trí huệ sinh (nhân định tức huệ) đồng Phật vãng Tây Phương 1.

niệm là niệm bản thể của tâm “Chân Như” đó là chơn niệm. thấy mặt trăng rồi không cần ngón tay chỉ nữa. ngồi. không phải để nắm giữ lấy” (Trung Bộ Kinh 1. tâm dễ tán loạn khó hành trì. “vô niệm” có hai ý “vô tướng” và “vô trụ” vì thế Ngài Lục Tổ Huệ Năng nói: “Vô tướng là nơi tướng mà lìa tướng Vô niệm là ngay nơi niệm mà lìa niệm Vô Trụ là bản tính của con người” [7] Tức là hành giả đừng để tâm mình bị ô nhiễm tức phan duyên theo “trần cảnh”* tức là ngay lúc niệm của mình thường lìa cách cảnh. nằm. Nó được nằm trên chữ tâm. Kinh Ví Dụ Con Rắn. rồi trong tâm luôn có niệm. Ta sẽ giảng pháp cho các Ông. không si… thì chắc chắn trong cuộc sống của chúng luôn luôn an lạc. Đó là chơn niệm vậy Như vậy. bây giờ. niệm mãi. Trí Giải Page 7 of 7 . nhờ phương tiện niệm để đạt đến trạng thái tâm vô niệm. buồn ngủ và giải đãi. không sân. không uống rượu. vì thế đức Phật dạy “Chư Tỳ-kheo.*Niệm thầm: Chữ niệm được ghép hai chữ kim có nghĩa hiện tại. niệm hoài đến khi trong óc. Cũng giống như ngón tay chỉ mặt trăng. niệm Chú Đại Bi là mình luôn luôn nhớ cái tâm đại từ. dễ sinh chán nản. không sợ hãi. đại bi của mình là niệm (Phật tính) trong tứ oai nghi. không gặp chướng ngại (vô ngại). nhưng về cơ thể thì ‘vô niệm. không trộm cướp. là xa lìa tất cả tướng. đứng. trang 305). như vậy chữ niệm là cái gì đó hiện diện nay trên một khoảnh khắc của ý thức Phật giáo gọi là sát na. đi. không nói dối. cách niệm này dành cho những vị hành trì lâu năm Hai cách niệm trên là còn niệm tướng. đừng để tâm mình lay động chạy theo trần cảnh. ví như chiếc bè để vượt qua. cách niệm này gọi là phương tiện niệm. tức dùng sự đạt lý. qua sông thì cần chiếc bè để qua. còn thấy người niệm và câu Chú Đại Bi để niệm. vì thế niệm thầm còn gọi là: “Duy niệm” tức là niệm không ra tiếng.’ Khi đầy tâm rồi thì mỗi cử động của Tâm đều là niệm (niệm nhập tâm) Thế là niệm đến chỗ vô niệm: thì bấy giờ đạt đến trạng thái nhất tâm bất loạn. Niệm vô niệm niệm đồng nghĩa vô niệm tức là niệm. quán tưởng kỳ danh’ quán tưởng 84 câu chú Đại bi (niệm trong tâm). qua rồi chúng ta không nên chấp chiếc bè. cách niệm này rất khó cho những người mới tập niệm. không tà dâm. thì trí tuệ mới hiển bày. chúng ta không tạo nghiệp bất thiện như không sát sinh giết người hại vật. ngồi niệm bằng cách tư duy quán tưởng nhớ nghĩ từng câu chú ngay lúc đó. không tham. đều trong chánh niệm đều nghĩ đến Phật. không trụ vào bất kỳ hình tướng nào để tâm thanh tịnh.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful