P. 1
Suy Ngam Phat Phap-Phap Am Thuong Chuyen

Suy Ngam Phat Phap-Phap Am Thuong Chuyen

|Views: 113|Likes:
Được xuất bản bởiXuân Diệu Hoàng
Suy Ngẫm Phật Pháp - Pháp âm thường chuyển
Suy Ngẫm Phật Pháp - Pháp âm thường chuyển

More info:

Published by: Xuân Diệu Hoàng on Jun 15, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

06/15/2012

pdf

text

original

Sections

HOÀNG DIỆU - MỸ DUNG

SUY NGAÃM PHAÄT PHAÙP

NĂM 2012 1

MỤC LỤC
1. Thành tâm sám hối ........................................................................................... 2 2. Hạnh phúc của ngƣời Phật tử............................................................................ 6 3. Bạn làm gì khi gặp những chuyện thị phi? ...................................................... 11 4. Lƣợc ý hình tƣợng Bồ Tát Quán Thế Âm ....................................................... 14 5. Tìm hiểu công hạnh của Bồ Tát Quán Thế Âm............................................... 17 6. Sống chung với sợ hãi .................................................................................... 24 7. Đạo Phật và nghệ thuật hóa giải sân hận ......................................................... 27 8. Chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc ............................................................ 31 9. Đời sống là mong manh, chết là điều chắc chắn ............................................. 34 10. Bốn viên ngọc quý chết ngƣời! ..................................................................... 45 11. Nhận diện cái chết và hạnh phúc .................................................................. 49 12. Bƣớc qua nỗi sợ............................................................................................ 51 13. Ý nghĩa Phật đản .......................................................................................... 54 14. Đức Phật trong đời ....................................................................................... 68 15. Đạo đức trong nếp sống ngƣời Phật tử .......................................................... 77 16. Hạnh phúc .................................................................................................... 89 17. Cơm sôi nhỏ lửa ........................................................................................... 94 18. Thấy rõ khổ để bớt khổ ................................................................................101 19. Con đƣờng dẫn đến hạnh phúc ....................................................................105 20. Tình yêu thƣơng dành cho kẻ thù ................................................................118 21. Đêm thành đạo ............................................................................................121 22. Nâng đỡ .......................................................................................................129 23. Đạo đức và hạnh phúc .................................................................................136 24. Xin lỗi chính mình .......................................................................................142 25. Niệm Phật và niệm Bụt ................................................................................145 26. Cảm niệm về Đức Phật Di Dà......................................................................151 27. Hờn ghen .....................................................................................................153 28. Hành trang Bồ-Tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara) ....................................158 29. Quan niệm của ngƣời Phật tử đối với cái chết .............................................165 30. Hóa giải những rắc rối trong quan hệ gia đình theo lời Phật dạy .................170 31. Đạo Phật và vấn đề hôn nhân gia đình .........................................................179

1

1. Thành tâm sám hối
Bất cứ ai hiện hữu trong cuộc đời này cũng đều có thể phạm phải những lỗi lầm, sai sót dù ít hay nhiều. Bởi khi tâm ý mê mờ, thiếu sáng suốt thì mọi hành động, nói năng của ta rất dễ dàng vấp phải những lầm lỡ, sơ suất gây khổ đau cho bản thân và ảnh hƣởng không tốt đến ngƣời khác. Đó là lẽ đƣơng nhiên. Do vậy, thành tâm ăn năn các tội lỗi mà mình đã tạo ra, và lập nguyện đừng để cho những hành vi sai trái tái diễn là việc làm đáng đƣợc mọi ngƣời trân trọng, quý mến và noi theo. Sám hối là hành động tích cực, hƣớng tâm về nẻo thiện, không chạy trốn sự thật và khao khát đƣợc sửa đổi bản thân để thăng hoa cuộc sống. Nói cách khác, sám hối là tẩy sạch các cấu uế tội lỗi giúp cho thân tâm trong sáng, an tịnh và mới mẽ. Sám là từ bỏ những lỗi lầm mà trƣớc đó chúng ta đã vi phạm. Hối là phát nguyện từ nay về sau không bao giờ lặp lại các hành vi thiếu ý thức nhƣ trƣớc đây và đồng thời thay đổi cái nhìn tích cực, bao dung hơn đối với muôn loài trong thực tại. Nhƣ vậy, sám hối là việc làm cụ thể, thiết thực mà mỗi ngƣời cần phải thực thi để đem lại lợi ích an vui cho tự thân và cho cuộc đời này. Trong thực tế, có những ngƣời mắc phải tội lỗi nặng nề hầu nhƣ vô phƣơng cứu chữa. Họ sống với tâm trạng sợ hãi lo âu, ăn không ngon ngủ chẳng đƣợc yên vì những cơn ác mộng kéo dài. Mặc dù họ có của cải vật chất dƣ thừa nhƣng đời sống thì lại cô đơn trống vắng vì chẳng có ai muốn đến gần tiếp xúc và chuyện trò. Tuy nhiên, mọi thứ trên cuộc đời này đều có thể thay đổi, không có gì thực sự cố định cả. Do đó, đối với những ngƣời làm điều bất thiện nhƣng họ biết thành

2

tâm ăn năn hối cải và quyết chí tu hành thì vẫn có thể chuyển hóa đƣợc nghiệp xấu ác, trở thành một con ngƣời lƣơng thiện hữu ích cho gia đình và xã hội. Kinh Trung bộ II có đề cập đến sự kiện Đức Thế Tôn hóa độ cho tên sát nhân khét tiếng Angulimala (Vô Não). Angulimala là tên giết ngƣời không gớm tay, sau khi hạ sát ngƣời nào hắn chặt ngón tay để xâu thành một tràng chuỗi và đeo vào cổ. Angulimala sống đơn độc trong rừng núi, mỗi khi xuất hiện thì dân chúng đều kinh hãi. Hành động của Angulimala quả thật độc ác, giết hại rất nhiều ngƣời, không một ai có thể chấp nhận và tha thứ. Nhƣng có lẽ Angulimala vẫn còn chút phƣớc đức từ nhiều kiếp lâu xa trong quá khứ nên đã may mắn gặp đƣợc Thế Tôn và đƣợc Ngài khai thị về ý nghĩa đạo lý làm ngƣời. Nhờ vậy, Angulimala có cơ hội sám hối tội lỗi đã gây tạo và phát nguyện xuất gia tu hành, sau một thời gian Angulimala chứng đƣợc quả vị A-la-hán. Thế giới ngày nay cũng có những hạng ngƣời điên loạn nhƣ thế, họ đi khủng bố khắp nơi, khiến cho dân chúng cứ mãi phấp phỏng lo âu, sợ hãi. Hiện nay, các nƣớc trên thế giới ngoài việc đầu tƣ ngân quỹ để phòng chống bão lụt, động đất, sóng thần liên tục xảy ra, còn phải hao tốn khá nhiều tiền của vào việc ngăn ngừa nạn khủng bố, ảnh hƣởng không nhỏ đến nền kinh tế toàn cầu. Thật là xót thƣơng cho những hạng ngƣời mang phải nghiệp chƣớng nặng nề nhƣ thế! Giá mà các vị ấy biết ăn năn, sám hối tội lỗi nhƣ Angulimala, buông bỏ khí giới và quay về nẻo thiện thì nhân loại sẽ đƣợc an bình hạnh phúc biết bao. “Bao nhiêu lầm lỗi cũng do tâm Tâm tịnh còn đâu dấu lỗi lầm Sám hối xong rồi lòng nhẹ nhõm Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong”. Đức Thế Tôn dạy rằng, có hai hạng ngƣời đáng đƣợc tán thán khen ngợi là kẻ có trí. “Này các Tỳ-kheo, có hai loại ngƣời có trí. Thế nào là hai? Ngƣời có phạm tội là thấy có phạm tội, và ngƣời chấp nhận ngƣời khác nhƣ pháp phát lộ tội của mình. Này các Tỳ-kheo, có hai loại ngƣời có trí này” (Kinh Tăng chi bộ, chƣơng 2, phẩm Ngƣời ngu). 3

Thực chất, trừ các bậc Thánh đã toàn thiện, còn chúng ta, sống trong đời này không ai tránh khỏi lầm lỗi, vụng dại. Do đó, điều quan trọng là mỗi ngƣời phải tự nhận biết những hành động sai trái của mình đã gây tạo mà sám hối, chừa bỏ. Nguyện giữ tâm hồn cho trong sáng, dù chỉ một vết lỗi nhỏ nhặt cũng đừng để vi phạm thì đó chính là hành động của ngƣời có trí tuệ. “Chớ xem thường lỗi nhỏ Mà cho là không nguy Giọt nước nhỏ li ti Dần dần đầy chum lớn”. Tuy vậy, có không ít ngƣời vẫn thiếu ý thức về vấn đề này. Ngƣời ta không muốn hối lỗi, cầu tiến mà phó thác cuộc đời của mình cho số phận định đoạt. Khi tạo ra cái nhân xấu ác thì họ không biết nghĩ đến hậu quả phải trả ở ngày mai. Dù biết rằng, việc làm ấy hết sức sai trái nhƣng họ vẫn cứ mặc nhiên tạo tác ác nghiệp, đến khi hệ quả khổ đau đƣợc hình thành thì ngƣời ta lại kêu trời trách đất và đổ lỗi cho số phận, do trời đã định, v.v… quả thật là mâu thuẫn. Mặt khác, có những ngƣời sám hối theo kiểu van xin cầu nguyện, họ tìm đến những nơi gọi là “linh thiêng” để cầu khẩn van xin, hoàn toàn nhờ vào tha lực với mục đích mong muốn đƣợc chạy tội. Những hành động mê mờ nhƣ thế chỉ tạo thêm cái lỗi lừa dối chính mình, khiến cho lòng tham muốn ngày càng bành trƣớng thêm hơn. Thực ra, sám hối không phải là việc làm mang tính chất cầu khẩn van xin, mà phải thực sự thành tâm ăn năn sửa đổi lỗi lầm, biết hổ thẹn với chính mình khi lỡ gây tổn hại cho kẻ khác. Cụ thể hơn, chúng ta cần phải siêng năng học hỏi đạo lý, để thấu hiểu lời Phật dạy và thực hành trong mọi lúc mọi nơi. Khi đi đứng, lúc nằm ngồi, ăn cơm rửa bát, lái xe, quét dọn nhà cửa, kinh hành niệm Phật, v.v… chúng ta cần phải thƣờng trực chánh niệm tỉnh giác để nhận biết các ý niệm sinh diệt, đến và đi. Khi tâm hồn tĩnh lặng sáng suốt, ta sẽ phát hiện ra đƣợc đâu là ác pháp sinh khởi và đâu là thiện pháp, để từ đó mỗi lời nói và hành động của ta đều phát huy đúng mức với lẽ thật, đem lại lợi ích thiết thực cho tự thân và cho cuộc đời này. 4

Thiết nghĩ, là một con ngƣời thì ai cũng mong muốn đƣợc an vui hạnh phúc và thích ngƣời khác thƣơng yêu, quý trọng mình. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh nghiệp lực đẩy đƣa khiến cho ta lâm vào tình trạng bế tắc nghèo khổ, túng thiếu và bất hạnh. Từ đó, ta chán ngán sự đời nên bỏ mặc cho số phận định đoạt và cuối cùng trở thành một con ngƣời hƣ đốn, vô nghĩa. Thực ra, bản chất của cuộc sống vốn dĩ vô thƣờng; thân tâm và hoàn cảnh đều đƣợc thay đổi trong từng giây từng phút. Chúng luôn luôn thay đổi theo hai chiều hƣớng khác nhau, một là theo chiều hƣớng tiêu cực và thứ hai là tích cực. Nếu ta thƣờng xuyên tiếp xúc với các đối tƣợng không lành mạnh thì sẽ đi theo chiều hƣớng tiêu cực và dĩ nhiên là dẫn tới khổ đau, hệ lụy. Ngƣợc lại, theo chiều hƣớng tích cực là ta biết gần gũi và học hỏi với những ngƣời có phẩm chất đạo đức cao đẹp. Và chính vì sự thay đổi tự nhiên đó, cho nên những ngƣời nghèo khổ vẫn có thể giàu sang sung sƣớng và kẻ bất nhân, hung tàn cũng có thể trở nên hiền lƣơng đạo đức. Miễn là, ngay trong hiện tại họ biết khắc phục những lỗi lầm và tiếp xúc với các bậc thiện tri thức để học hỏi, noi gƣơng thì chắc chắn đời sống của họ sẽ đƣợc chuyển đổi theo hƣớng đi sáng đẹp. Để trở thành một con ngƣời lƣơng thiện, sống đời hạnh phúc an vui, chúng ta cần phải thành tâm sám hối về những hành động lầm lỡ của mình bằng những việc làm cụ thể ngay trong đời sống thƣờng nhật. Vận dụng hết khả năng của tự thân để làm lợi ích cho cuộc đời bằng cách bố thí tài vật cho kẻ cơ nhỡ thiếu thốn, cúng dƣờng Tam bảo, hiến tặng niềm vui cho ngƣời, v.v… và vấn đề quan trọng hơn hết chính là sống chánh niệm tỉnh giác trong mỗi giây phút. Khi ta thực hành phƣớc huệ song tu một cách trọn vẹn nhƣ thế thì nghiệp chƣớng tiêu trừ, thiện căn tăng trƣởng, vƣợt thoát mọi ràng buộc khổ đau và đạt đƣợc niềm an vui giải thoát ngay trong đời sống hiện tại.

Viên Ngộ

5

2. Hạnh phúc của người Phật tử
Hạnh phúc, trong ý nghĩa thông thƣờng, là sự vừa ý và thỏa mãn các nhu cầu cuộc sống. Riêng đối với ngƣời Phật tử, hạnh phúc lớn nhất của họ, có thể nói là đƣợc làm ngƣời, đƣợc nghe, học tập và thực hành Chánh pháp. Trong kinh Tương ưng bộ V, Đức Phật nói rằng, không dễ có đƣợc thân ngƣời. Ví nhƣ con rùa mù rất lâu mới nổi lên mặt nƣớc mà lọt vào bộng cây trôi trên biển mênh mông là chuyện vô cùng hy hữu. Một lần khác, Đức Phật khơi một chút đất dính vào đầu móng tay rồi đƣa lên hỏi: Đất ở đầu móng tay nhiều hay đất quả địa cầu nhiều? Các Tỳ-kheo đáp: Bạch Thế Tôn, đất quả địa cầu rất nhiều, đất trong đầu móng tay có là bao. Lúc đó Đức Phật bảo: Cũng thế, chúng sinh khi bỏ thân này rồi mà trở lại đƣợc thân ngƣời cũng ít nhƣ đất trong đầu móng tay, còn sinh vào các cõi a-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục… thì nhiều nhƣ đất quả địa cầu. Đức Phật từng nói trong các kinh rằng, có những chúng sinh vì tạo ác nghiệp mà phải mang thân súc sinh trải qua nhiều đời hoặc đọa trong địa ngục, ngạ quỷ rất nhiều năm v.v... Ngày nay nhiều nhà ngoại cảm có thể tiếp xúc với những vong linh đã từng chết cách đây hàng mấy trăm năm. Từ đó cho thấy, một ngƣời sau khi chết có thể do nghiệp lực không tái sinh làm ngƣời đƣợc, phải sống dƣới hình thái ngạ quỷ (vong linh, quỷ đói) trong đói lạnh, khổ não, tham muốn và thèm khát. Muốn đƣợc sinh ra làm ngƣời thật không dễ nếu không có đủ phƣớc báu nhân duyên. Vì thế cổ đức nói: Thân ngƣời khó đƣợc, Phật pháp khó nghe. Trong sáu nẻo luân hồi (Lục đạo): Thiên đạo, nhân đạo, a-tu-la đạo, súc sinh đạo, ngạ quỷ đạo, địa ngục đạo thì loài ngƣời (thuộc nhân đạo) đƣợc xem là chúng sinh 6

có phƣớc báu chỉ kém cõi trời (thiên) mà thôi. Cõi ngƣời lại là cõi mà chúng sinh dễ tu hành nhất vì không quá khổ nhƣ ở cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, và cũng không quá vui sƣớng nhƣ cõi trời thƣờng đắm say hỷ lạc mà không lo tu hành. Thân ngƣời quý vì khó có đƣợc, quý vì nhờ đó mà tu hành thoát khổ, đạt đƣợc an vui. Trong kinh Pháp cú thí dụ, phẩm Ái thân thứ 22, Đức Phật dạy về giá trị của thân ngƣời nhƣ sau: “Ngƣời biết quý thân mình/Cẩn thận luôn gìn giữ/Mong giải trừ các dục/Học đạo chẳng mê tình/Thân ngƣời rất tôn quý/Nên là bậc có trí/Thƣờng gắng tự tiến tu/Và siêng hành pháp thí/Tu trƣớc phải sửa mình/Sau mới độ chúng sinh/Điều thân, thâm nhập tuệ/Vƣợt hơn kẻ phàm tình/Mình còn chƣa lợi ích/Làm sao lợi ích ngƣời/Tâm thuần, hạnh ngay thẳng/Nguyện thành tựu mƣời mƣơi…”.

Các gia nhân của Trưởng giả Cấp Cô Độc đang dát vàng để mua khu vườn thái tử Kỳ Đà Thân ngƣời quý báu, khó có đƣợc thân ngƣời, vì thế cần phải biết quý trọng cơ hội làm ngƣời. Phải biết tận dụng cơ hội làm ngƣời để tu tập, để sau khi bỏ thân này rồi có thể sinh về các cảnh giới an vui nhƣ cảnh giới của chƣ Phật và Bồtát, hoặc cõi trời, hay ít ra cũng đƣợc trở lại làm ngƣời có phƣớc. Đừng để đến lúc “Một mai ngã bệnh tại giƣờng, các khổ tranh nhau bức ngặt, ngày đêm lo nghĩ, lòng dạ rối bời. Đƣờng trƣớc mịt mờ chƣa biết về đâu! Từ đây mới biết ăn năn thì 7

đã muộn. Khát đến đào giếng sao kịp? Hận mình sớm chẳng lo tu hành để dự bị, nên tuổi già mới sinh nhiều lầm lỗi, hối tiếc lắm điều. Lâm chung chợt đến, lo sợ bàng hoàng…”(Quy sơn cảnh sách - Đại Viên thiền sƣ). Trong kinh Pháp cú, Đức Phật dạy rằng: “Đƣợc sinh làm ngƣời là khó, đƣợc sống trọn đời còn khó hơn, đƣợc nghe Chánh pháp là khó, đƣợc gặp Phật ra đời còn khó hơn”(PC.182). Phải có đủ phƣớc báu nhân duyên mới có đƣợc thân ngƣời, mới đƣợc gặp Phật, Pháp, Tăng, đó là những sự kiện vô cùng hy hữu mà không phải ai cũng có đƣợc. Trong Ngũ thừa Phật giáo có giáo lý Nhân thừa giúp chúng sinh tu tập thiện nghiệp để đƣợc tái sanh làm ngƣời sau khi đời này chấm dứt. Giáo lý Nhân thừa dạy rằng muốn đƣợc thân ngƣời cần phải tu tập các hạnh lành, thọ trì Tam quy Ngũ giới, siêng làm các điều thiện (cúng dƣờng Tam bảo, bố thí, phóng sinh, hiếu thảo với ông bà cha mẹ, sống có đạo nghĩa với anh em, bạn bè, làm ngƣời tốt có ích cho xã hội…) để tạo công đức phƣớc báu cho hiện tại và đời sau. Một khi mất thân ngƣời, khó mong tìm lại đƣợc. Nên xem thƣờng giá trị thân mạng con ngƣời, không biết quý trọng mình, không biết quý trọng ngƣời khác, làm tổn thƣơng mình hoặc tổn thƣơng ngƣời khác đều đáng bị chê trách, đáng bị lên án. Ví dụ nhƣ có hành vi tự giết mình (tự tử), có hành vi giết ngƣời, gây thƣơng tích cho ngƣời, trực tiếp hoặc gián tiếp làm tổn hại sức khỏe, tính mạng ngƣời khác nhƣ mua bán hoặc sử dụng ma túy, các chất kích thích, gây nghiện, các chất độc hại, đua xe, điều khiển các phƣơng tiện lƣu thông một cách không an toàn, cẩu thả. Ngày xƣa có nhiều vị Tỳ-kheo sau khi thực hành pháp quán thân bất tịnh trong Tứ niệm xứ (quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thƣờng, quán pháp vô ngã) đã tự thuê ngƣời giết chết mình vì cảm thấy nhàm chán, ghê tởm cái thân. Đức Phật đã khiển trách những vị đó và dạy rằng, sở dĩ Ngài dạy pháp quán thân bất tịnh là để đối trị cái tâm tham dục, cái tâm tham đắm sắc thân, vì sắc thân mà tạo nghiệp (tham ăn uống, ngủ nghỉ, tham hƣởng thụ dục lạc, tạo những nghiệp bất thiện để nuôi dƣỡng, chiều chuộng cái thân). Ngài dạy các đệ tử không nên cực đoan, đừng vì cái thân mà tạo nghiệp khổ, nhƣng cũng không nên xem 8

thƣờng giá trị lợi ích của cái thân, bởi nó là phƣơng tiện để tu hành. Ngƣời nào hủy hoại thân mình là phạm luật. Đức Phật thí dụ, nhƣ có ngƣời bị chìm thuyền đang lặn hụp giữa dòng nƣớc chảy xiết trên sông mà không có gì để bám víu. Trong lúc ấy có một khúc gỗ mục trôi tới, ngƣời ấy vô cùng mừng rỡ, quyết bám cho bằng đƣợc khúc gỗ mục để bơi vào bờ. Tuy là khúc gỗ mục không có giá trị gì, nhƣng lúc nguy cấp thì nó trở nên quý báu. Biết sử dụng nó thì nó trở thành vật có giá trị hữu dụng. Không có thân làm sao tu hành giác ngộ, giải thoát? Không có thân làm sao hoằng dƣơng Chánh pháp làm lợi ích chúng sinh? Dù là ngƣời xuất gia tu hành cầu giải thoát, hay ngƣời tại gia có ý hƣớng hoàn thiện mình, cải tạo, xây dựng xã hội, ai cũng cần quý trọng thân ngƣời, lấy nó làm phƣơng tiện để rèn luyện tu tập vì mục đích hƣớng thƣợng (tự lợi), lấy nó để làm việc lợi ích phục vụ tha nhân, cống hiến cho cộng đồng, xã hội (lợi tha). Hạnh phúc lớn nhất của ngƣời Phật tử là đƣợc nghe, học và thực hành Chánh pháp. Có những ngƣời sống rất khổ vì nghèo khó thiếu áo đói cơm, vì làm lụng vất vả, vì bệnh hoạn tật nguyền nhƣng họ chƣa bao giờ tự hỏi hoặc tìm hỏi ai đó: Vì sao mình lại quá khổ nhƣ thế này? Có con đƣờng nào để thoát khổ hay không? Tại sao mình có mặt trên cuộc đời này để chịu khổ, và sau khi chết mình đi về đâu? Mục đích của đời sống là gì? Lại có những ngƣời không lâm vào tình cảnh bất hạnh nhƣ thế nhƣng lại không có nhân duyên gặp đƣợc Chánh pháp, họ rơi vào tà kiến ngoại đạo. Có ngƣời gặp đƣợc Chánh pháp nhƣng lại không có niềm tin. Có ngƣời có niềm tin nhƣng không có hiểu biết chơn chánh. Có ngƣời có niềm tin và hiểu biết nhƣng không có sự tinh tấn hành trì, không có thầy lành bạn tốt trợ duyên. Có những ngƣời sống gần hết một đời nhƣng vẫn mê mờ tâm trí, không giác ngộ đƣợc bản chất cuộc đời, bản chất kiếp nhân sinh, mấy mƣơi năm trong kiếp ngƣời chỉ lẩn quẩn trong việc tìm kiếm miếng ăn, rồi đến trăm tuổi già xuôi tay nhắm mắt chẳng mang theo đƣợc thứ gì, cả đời cũng chẳng làm đƣợc việc gì có ý nghĩa, lợi ích cho bản thân và cho cuộc đời, uổng phí một cơ hội làm ngƣời, chƣa hề nghĩ mục đích đời sống là gì, sau khi chết mình đi về đâu? Trong kinh Pháp cú, Đức Phật dạy: “Sống trăm năm mà không thấy pháp 9

vô thƣờng sinh diệt, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà đƣợc thấy pháp vô thƣờng sinh diệt (PC.113). Sống trăm năm mà không thấy đạo tịch tịnh vô vi, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà thấy đạo vô vi tịch tịnh (PC.114). Sống trăm năm mà không thấy pháp tối thƣợng, chẳng bằng sống chỉ một ngày mà thấy pháp tối thƣợng (PC.112)”. Một hạnh phúc khác nữa là có cơ hội và điều kiện làm việc thiện, vun trồng ruộng phƣớc (tài thí, pháp thí, vô úy thí, biết tùy hỷ, biết lợi hành, đồng sự, biết cách tự lợi, lợi tha) nhằm tu tạo công đức phƣớc điền, gieo duyên lành hạnh phúc cho đời này và đời sau. Những hạnh phúc ấy không phải ngƣời Phật tử nào cũng có đƣợc. Hiểu điều này, ngƣời Phật tử cần quý trọng những hạnh phúc mà mình đang có. Phan Minh Đức

10

3. Bạn làm gì khi gặp những chuyện thị phi?
Bất cứ trong một đoàn thể nào cũng không tránh khỏi chuyện thị phi; nếu trong môi trƣờng thị phi mà vẫn giữ đƣợc bình tĩnh, hài hòa, đây mới thật sự là ngƣời trƣởng thành. Trong xã hội, bất kỳ đoàn thể nào cũng có những ngƣời có quan điểm và tánh cách khác nhau cùng sống, cùng làm việc với nhau. Nếu không phải do nhiều ngƣời tổ hợp thành một đoàn thể thì anh chỉ là một ngƣời độc lập, cô độc; nhƣng cuộc sống đơn độc một mình, không dựa vào xã hội, đoàn thể thì năng lực rất có hạn, do đó bạn không thể nào thành tựu việc lớn. Xã hội và đoàn thể do nhiều ngƣời tổ hợp thành, nên khó tránh khỏi có những tánh cách khác nhau giữa ngƣời này và ngƣời kia. Bởi vì, bối cảnh cuộc sống và quá trình trƣởng thành của mỗi ngƣời hoàn toàn không giống nhau, cho nên hình thành tánh cách và quan điểm cũng không giống nhau; cho dù hai ngƣời cùng lớn lên trong cùng một môi trƣờng, nhƣng vì cảm thụ khác nhau mà sản sinh quan niệm khác nhau. Có một số ngƣời rất giản dị, dễ gần gũi, rất dễ hài hòa liên kết với mọi ngƣời; hạng ngƣời này rất dễ thông cảm, tha thứ, và quan tâm ngƣời khác. Ngoài ra, có một số ngƣời, tánh cách lãnh đạm, có những suy nghĩ kì quái; đứng trên lập trƣờng của bạn thì „họ sai‟, nhƣng còn đứng trên lập trƣờng của họ thì „họ đúng‟, bởi vì, họ trƣởng thành nhƣ thế. Hạng ngƣời này không bao giờ chấp nhận quan điểm của ngƣời khác, mà chỉ mong ngƣời khác chấp nhận quan điểm của họ. 11

Nếu gặp ngƣời có quan điểm kì quái trong đoàn thể, bạn sẽ cảm thấy rất khó chịu, nhƣng bạn phải chấp nhận. Bạn nên suy nghĩ, tha thứ, và thông cảm cho anh ta, nhƣng không nên đồng ý với anh ta, nếu không bạn sẽ mất đi lập trƣờng của bạn và trở thành sản phẩm phụ thuộc anh ta. Ðạo lý sống chung giữa ngƣời với ngƣời, điều cần thiết là liên kết hài hòa; liên kết không đƣợc thì phải thỏa hiệp; khi thỏa hiệp không đƣợc nên tha thứ, và nhƣờng nhịn. Bởi vì, mỗi cá nhân ai cũng đứng trên lập trƣờng của mình mà xem xét sự việc thì có thể dẫn đến hiện tƣợng không hài hòa, không đoàn kết. Khi chính mình làm việc vì ngƣời khác, có lúc lòng tốt lại bị hàm oan. Bạn cho rằng, mình là ngƣời tốt, giúp đỡ ngƣời, quan tâm lo lắng cho ngƣời, nhƣng lại bị mọi ngƣời cho rằng, bạn chỉ huy ngƣời, xen vào chuyện của ngƣời khác, khống chế ngƣời khác; thậm chí cho rằng bạn cố ý gây chuyện, hay bạn chính là kẻ đầu sỏ phá rối .v.v., những lúc nhƣ thế, bạn không nên quá sầu não, và thất vọng, vì chúng ta làm việc tốt là để tích công bồi đức, chứ không phải trông mong đƣợc báo đáp. Do đó, bạn cần phải nhận biết trƣớc, những sự việc nhƣ thế là những hiện tƣợng bình thƣờng, và bạn phải lấy tiền đồ sự nghiệp chung làm trọng, bất luận ngƣời khác có phẩm giá nhƣ thế nào. Bạn vẫn sống chung, làm việc chung với những ngƣời kì quái. Nếu dùng thái độ nầy sống chung với đại chúng thì bạn sẽ tăng thêm một phần trí tuệ, và giảm đi một số phiền não. Song hằng ngày, những sự việc rắc rối vẫn xảy ra, chỉ cần chúng ta không gây chuyện; khi biết có chuyện rắc rối xảy ra, trong lòng luôn giữ bình tĩnh, và chỉ lấy thành tựu công việc chung là trên hết, dần dần biến những cái trở ngại thành trợ lực, chuyển đối lập thành hỗ trợ, có nhƣ thế mục tiêu của chúng ta mới có thể thành công. Còn nếu nhƣ gặp những tình huống khó hóa giải, ví dụ, bạn muốn hợp tác với ngƣời khác, nhƣng ngƣời ta lại không chịu; hoặc bạn không có gây chuyện ly gián, nhƣng ngƣời khác lại kiếm chuyện ly gián bạn với mọi ngƣời; hoặc bạn đối xử với mọi ngƣời đều tốt, nhƣng họ lại cho bạn không tốt với mọi ngƣời.v.v., bạn nên nghĩ rằng: đây là cơ hội cho năng lực của bạn trƣởng thành, là dịp may để mài 12

giũa cá tính, đồng thời làm cho cuộc sống của bạn tăng thêm kinh nghiệm; cũng giống nhƣ trong mƣa bom bão đạn mà có thể về an toàn, thì lúc đó công phu của bạn đã luyện thành. Chúng ta từ bao kiếp lặn hụp mãi trong bể khổ, đã từng gây bao rắc rối trở ngại cho ngƣời, và đã chịu không biết bao đau thƣơng của kiếp ngƣời. Nếu chúng ta không phản tỉnh, nuôi dƣỡng lòng thƣơng, cứ mê man chạy theo những ảo tƣởng, nô lệ bao phiền não hại mình hại ngƣời thì không biết bao giờ ra khỏi biển khổ. Ví nhƣ chim trong lồng, tƣởng mình có cái lồng đẹp suốt ngày líu lo, nhƣng nào có biết mình có quyền bay bổng giữa trời xanh. Chúng ta ai cũng có sẵn trong lòng tình thƣơng bao la, mang tình thƣơng bao la đó mà làm việc, ta sẽ vƣợt mọi trở ngại bên trong và bên ngoài, khiến mọi ngƣời đến chốn tƣơi vui. Ta sẽ thấy vui tƣơi khi mọi ngƣời xung quanh đoàn kết vui tƣơi, ta cùng mọi ngƣời dắt nhau đi trên con đƣờng chân lý. Lòng thƣơng sẽ xây dựng lại cuộc đời, biến cảnh chết chóc lầm than thành cảnh tƣơi vui xán lạn. Lòng thƣơng sẽ giải quyết bao vấn đề nan giải, sẽ mở cho bao ngƣời vốn tự giam trong lòng phiền não, ích kỷ, ác độc, sẽ đổi tiếng khóc than thành lời ca hát, thành nụ cƣời vui. Thích Thông Tịnh

13

4. Lược ý hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm
Nhắc đến Phật giáo, chúng ta nghĩ đến từ bi cứu khổ. Hình ảnh cứu khổ tiêu biểu tuyệt vời nhất không ai khác hơn là đức Bồ-tát Quán Thế Âm luôn hiện hữu trong tâm thức của những ngƣời con Phật. Vị Bồ-tát này có đầy đủ phẩm chất của một ngƣời mẹ trong tất cả những ngƣời mẹ. Hình nhƣ trong mọi trái tim của những ngƣời con Phật thuần thành - nhất là giới Phật tử bình dân - không ai là không có hình ảnh đáng tôn kính của vị Bồ tát giàu lòng bi mẫn này. Mỗi khi nói về Ngài, tựa hồ chúng ta ai cũng biết, nhƣng có lẽ không ai dám cho là mình đã hiểu biết đầy đủ tất cả.

Ở Việt Nam chúng ta, các cụ già thƣờng hay dạy bảo con cái phải luôn tƣởng nhớ công ơn cha mẹ. Ngƣời cha đứng đắn dạy bảo con cái nghiêm trang, đƣợc gọi là nghiêm phụ. Ngƣời mẹ hiền lành thƣờng khuyên răn con nhỏ nhẹ, chớ không rầy đánh nên đƣợc gọi là từ mẫu tức mẹ hiền. Cha thì nghiêm, mẹ thì từ. Bồ tát Quán Thế Âm tu hạnh từ bi, thƣờng cứu khổ chúng sanh, nên ngƣời ta thƣờng xƣng tán Ngài là Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát. Hạnh đại từ bi của Ngài là lúc nào cũng an ủi, nhắc nhở, khuyên lơn, đem lại nguồn an vui cho tất cả chúng sanh. Ở đâu có tiếng than, có nỗi khổ, Ngài đều đến để cứu vớt. Vì vậy Ngài tƣợng trƣng cho tâm hạnh từ bi. Hạnh từ bi thì gần với tình thƣơng của ngƣời mẹ, 14

nên ngƣời ta tạc tƣợng Ngài là nữ. Đó là hình ảnh biểu trƣng cho hạnh từ bi, chớ không phải Ngài thật là ngƣời nữ. Bồ tát Quán Thế Âm tiếng Phạn gọi là Avalokitesvara. Ngài là một vị Phật thành tựu trong đời quá khứ hiệu là Chánh Pháp Minh Nhƣ Lai, thị hiện trong đời làm một bậc Đại Bồ-tát để trợ duyên cho chƣ Phật Thế Tôn giáo hóa chúng sanh và gần gũi chúng sanh để tế độ ra khỏi cảnh đau khổ. Hình tƣớngNgài là nam nhân trong Phật giáo Ấn Độ. Trong Phật giáo Trung Quốc, Ngài mang tƣớng nữ nhân kể từ đời nhà Đƣờng. Bồ-tát là mẫu ngƣời lý tƣởng của Phật giáo Đại thừa. Ngay các Đức Phật, sau khi đã viên mãn công đức cũng tham gia Bồ-tát hạnh, chứ không an trú nghỉ ngơi ở Niết Bàn. Thể theo tinh thần Phật giáo Đại thừa, tƣớng nam hay tƣớng nữ đều là bình đẳng, chỉ là sự thị hiện Pháp thân, “ông” hay “bà” Quán Thế Âm không quan trọng, vì ai ai cũng tôn kính vị Bồ tát cứu khổ cứu nạn cho khắp tất cả chúng sanh trên thế giới này. Bồ-tát Quán Thế Âm hiện nay thƣờng đƣợc biết đến với hình tƣớng một ngƣời phụ nữ đẹp đẽ và hiền từ, trang nghiêm và thanh thoát, một tay cầm nhành dƣơng liễu và một tay cầm tịnh bình… Bồ-tát hiển linh nhiệm mầu thị hiện khắp mọi nơi để giáo hóa mọi chúng sanh chìm đắm trong khổ đau nơi cõi Ta bà. Tay mặt Ngài cầm cành dƣơng liễu là tƣợng trƣng cho đức nhẫn nhục. Tay trái cầm bình thanh tịnh đựng nƣớc cam lồ là tƣợng trƣng cho tâm từ bi. Chỉ có cành dƣơng liễu mới có khả năng mang nƣớc cam lồ rƣới mát chúng sanh. Vì thế, cành dƣơng đƣợc tƣợng trƣng cho đức nhẫn nhục. Nhẫn nhục không có nghĩa ai làm sao cũng đƣợc, ai bảo gì cũng nghe. Chính bản chất của nó là khéo tùy thuận ngƣời, để hƣớng dẫn họ, theo đƣờng lối hay lập trƣờng của mình. Tùy thuận mà không bị họ chi phối, ngƣợc lại chi phối đƣợc họ? Ngƣời nhẫn nhục mới trông qua nhƣ rất yếu hèn, kỳ thật họ có sức mạnh phi thƣờng, đã tự chiến thắng đƣợc tình cảm, phản ứng theo bản năng của cuộc sống. Bể cả triều dâng tiếng Phổ môn, Chín tầng sen ngát hiện đồng chơn Cam lồ giọt nước cành dương rải Thấm nhuần sơn hà cảnh sắc xuân. 15

Bồ-tát Quán Thế Âm chính là hiện thân của lòng bi mẫn. Muốn nói lên tình thƣơng chân thành tha thiết nhất trong con ngƣời, không gì sánh bằng tình mẹ thƣơng con. Mẹ đối với con là tình thƣơng chân thành thâm thúy bao la, khó lấy cái gì có thể so sánh đƣợc. Cho nên, Đức Quán Thế Âm hiện thân là một ngƣời mẹ hiền của nhân loại, hay của tất cả chúng sanh. Ngƣời mẹ dầu bận công ăn việc làm gì, một khi nghe tiếng con kêu khóc, mẹ buông bỏ tất cả vội vàng chạy lại vỗ về con. Đức Quán Thế Âm cũng thế, dù bận việc giáo hóa ở đâu, một khi nghe tiếng kêu thƣơng của chúng sanh, Ngài liền hiện thân đến an ủi. Vì thế, gọi Ngài là Bồ-tát Quán Thế Âm, ngƣời mẹ hiền của tất cả chúng sanh, ngƣời mẹ lúc nào cũng lắng nghe tiếng nấc nở từ cõi lòng của đàn con dại đang đắm chìm trong bể khổ mênh mông, để đến xoa diu, cứu thoát khiến mọi khổ não đều đƣợc tiêu tan. Với lòng tôn kính sâu sắc của mình, ngƣời ta họa nên những hình tƣợng tôn kính nhất Bồ-tát Quán Thế Âm nhƣ mẹ hiền… Điều đó phù hợp thể hiện thực, nhân sinh mà lại gần gũi. Với những hạnh nguyện của Ngài thị hiện ra nhiều hóa thân, để làm cho chúng sanh có lòng tin Tam bảo, lòng từ của Bồ-tát đến với tất của chúng sanh không giới hạn. Sự hiện thân của Đức Quán Thế Âm mang đến cho chúng ta một thông điệp đó là tình thƣơng yêu, nhẫn nại và sự tỉnh thức vì lòng từ bi dùng mọi phƣơng tiện hóa thân…Với những hạnh nguyện cứu độ chúng sanh, Bồ tát luôn luôn có mặt khắp nơi dìu dắt mọi ngƣời thoát khỏi khổ đau. Qua những ý nghĩa trên, chúng ta thấy lòng từ bi cao cả của Bồ tát thật khôn lƣờng. Lễ bái tƣợng Bồ-tát Quán Thế Âm, chúng ta phải luôn ghi nhớ hai đức tánh căn bản của Ngài: nhẫn nhục và từ bi, để đem áp dụng đời sống hàng ngày. Có thế, sự lễ bái mới thật sự hữu ích và vô cùng cần thiết. Thích Giác Thiện

16

5. Tìm hiểu công hạnh của Bồ Tát Quán Thế Âm
Đức Quán Thế Âm là một vị Bồ Tát đƣợc ngƣời Á Châu thờ cúng trang nghiêm, sùng kính rất sâu xa. Ngƣời Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam phụng thờ đức Quán Thế Âm không kém đức Phật. Chúng ta cần tìm hiểu về vị đại Bồ Tát này cùng những công hạnh lớn lao của ngài.

Quán Thế Âm Bồ Tát là do chữ Phạn Avalokitesvara Bodhisatwa. Quán Thế Âm có nghĩa là xem xét, nhận biết nghe thấy các thứ tiếng ở trong cõi đời, mà phần lớn là những tiếng kêu than, cầu cứu; ngài nghe thấy liền tìm cách cứu giúp cho hết đau khổ, đƣợc an vui. Chữ Bồ Tát có nhiều nghĩa, nhƣng không ngoài ý chính là một vị đã giác ngộ, tuy chƣa bằng Phật, nhƣng phát nguyện sẵn sàng cứu độ chúng sanh. Bồ Tát có mƣời đẳng cấp từ thấp đến cao, từ cấp một đến cấp mƣời, từ sơ phát tâm đến địa vị cao tột, trƣớc khi đắc quả Phật. Đức Quán Thế Âm là nam hay nữ? Chƣ vị Bồ Tát không phải là những nhân vật lịch sử bằng xƣơng bằng thịt có sanh có tử, mà các ngài thị hiện ở đời dƣới 17

nhiều hình tƣớng: nam, nữ, già, trẻ, ngƣời, thú vật, núi sông... tùy tâm niệm của chúng sanh chiêu cảm mà ứng thân thị hiện, và do chính đức Phật Thích Ca nói ra chúng ta mới biết. Ngƣời Trung Hoa và Việt Nam thƣờng tạc tƣợng đức Quán Thế Âm dƣới hình thức một ngƣời nữ để tƣợng trƣng lòng đại bi. Ngài thƣơng xót chúng sanh ví nhƣ tình thƣơng bao la của một ngƣời mẹ hiền ban cho đàn con, dịu dàng, hiền hòa, ấm áp, hy sinh. Ngƣời Tây Tạng lại hay tạc tƣợng đức Quán Thế Âm theo hình ngƣời nam, tƣợng trƣng cho sức mạnh kiên cố, oai dũng để trấn áp tà ma quỷ dữ. Ngƣời Tây Tạng tu theo Mật Tông, miệng đọc thần chú, tay bắt ấn quyết để nhiếp phục thân tâm đến chỗ đắc định, phát huy trí huệ. Thƣợng Tọa Thích Trí Tịnh dịch kinh Pháp Hoa, dùng danh từ "Ông" để nói về đức Quán Thế Âm. Bồ Tát Quán Thế Âm đã phát huy đƣợc trí huệ thần thông diệu dụng gọi là Chủng Loại Câu Sanh Vô Hành Tác Ý Sinh Thân, có thể tùy tâm niệm chúng sanh mà tự nhiên ứng hiện dƣới nhiều hình tƣớng, không nhất thiết phải là ngƣời hay vật, nam hay nữ, cho nên đƣợc gọi là phi tƣớng. Các công hạnh của đức Quán Thế Âm đƣợc đức Phật Thích Ca giới thiệu rõ ràng trong Phẩm Phổ Môn, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Phổ là rộng, Môn là cửa. Phổ Môn là cửa rộng, cửa lớn. Đức Quán Thế Âm có oai lực cứu giúp các chúng sanh bị nạn lửa, nạn nƣớc, nạn giết hại, đánh chém, xiềng xích, thù oán, vô minh. Trong kinh nói ai lâm nạn mà chí thành xƣng danh hiệu cầu nguyện đức Quán Thế Âm Bồ Tát thì lửa không cháy, nƣớc không trôi, quỷ không hại, xiềng xích không trói, tối tăm thành sáng suốt, thù oán thành thân cận. Chƣ vị Phật tử đọc kinh, tìm hiểu theo nghĩa đen, chữ đâu nghĩa đó, nhất tâm thành kính khấn nguyện, đƣợc nhiều lợi ích, nhờ lòng thành cảm ứng mà tai qua nạn khỏi. Còn những ai muốn hiểu theo nghĩa bóng, thấy sự hiển lý, do nghĩa đen mà suy tìm ẩn lý tiềm tàng trong kinh thì có thể hiểu nhƣ sau: Lửa tƣợng trƣng cho tham dục, nƣớc tƣợng trƣng cho si mê. Quỷ La sát tƣợng trƣng cho sân hận, xiềng xích tƣợng trƣng cho phiền não. Thù oán tƣợng trƣng cho tƣ tƣởng độc ác... 18

Xƣng danh cầu nguyện đức Quán Thế Âm là lập thệ nguyện phát triển lòng đại từ, đại bi, không còn tham, sân, si, không làm việc ác, chỉ làm việc lành, thì không bị những tai nạn hậu quả do các tật xấu gây nên, mà còn chuyển tật xấu thành tánh tốt, nhờ thực hành từ bi mà tâm hết vọng tƣởng, đƣợc sáng suốt hết vô minh, đƣợc giác ngộ an vui. Đó là nói về bảy tai nạn (thất nạn) bao gồm các sự đau khổ trong đời. Còn vấn đề cầu con trai hay con gái (nhị cầu), nếu nhất tâm xƣng niệm đức Quán Thế Âm Bồ Tát thì sẽ đƣợc nhƣ ý. Ngƣời tu hành mong đƣợc giải thoát thì không cầu con, mà cầu phát huy các đức tánh để làm các hạnh lành, vậy cầu con trai có nghĩa là cầu trí huệ, hùng lực, tinh tấn, vững tâm bền chí; còn cầu con gái có nghĩa là cầu sự đoan chánh, phƣớc đức, dịu hiền, mền mại, nhu hòa, nhẫn nhục. Hiểu nhƣ vậy thì không còn bị chƣớng ngại thoái tâm, vì nếu bà nào cầu con trai mà sinh con gái thì buồn, cho rằng đức Quán Thế Âm không linh thiêng, do đó không tin tƣởng nữa, bỏ lỡ mất cơ hội tu hành. Đức Quán Thế Âm Bồ Tát dùng ba mƣơi hai ứng thân để thị hiện, cứu giúp chúng sanh, tùy theo chỗ ƣa muốn, thích hợp với hoàn cảnh thì dễ đƣợc chúng sanh tin tƣởng nghe lời, dễ khắc phục lòng cang cƣờng, bƣớng bỉnh, cứng đầu, khó dạy của chúng sanh. Vì sao? Vì ngƣời đồng cảnh dễ thông cảm nhau. Thí dụ: Ngƣời nữ thích nghe ngƣời nữ khuyên nhủ, quân nhân thích nghe ngƣời đồng binh chủng can ngăn hoặc khuyến khích. Học sinh thích nghe lời giáo sƣ thuyết giảng hơn lời cảnh sát hay quan tòa, lời ngƣời có học hợp với giới trí thức hơn bình dân; có ngƣời thích nghe bạn bè hơn gia đình v.v... Vì vậy, tùy theo ý thích hoặc lòng mong cầu của chúng sanh mà Bồ Tát Quán Thế Âm hiện thân, tầm thanh cứu khổ. Về lý mà nói thì chúng sanh đều có Phật tánh, có sẵn tâm từ bi. Khi lắng lòng niệm đức Quán Thế Âm thì tự nhiên nghe tiếng nói phát từ chỗ sâu kín nhiệm mầu, đó là tiếng nói của chân tâm, của Phật tánh, của từ bi hỷ xả; ngƣời nào có định là nghe thấy tiếng của lòng mình, ví nhƣ đức Quán Thế Âm hiện ra dạy bảo. Ngƣời lính cứu hỏa quên mình xông vào nhà cháy để cứu ngƣời; bác sĩ, y tá ra chiến trƣờng để cứu chữa quân nhân bị đạn; các tu sĩ hy sinh tận tụy trong 19

các trại cùi, cô nhi viện, nhà dƣỡng lão..., biết đâu đó chính là đức Quán Thế Âm đã hiện thân? Tâm đại bi hiển hiện ở mọi ngƣời, mọi nơi, mọi thời, mọi cửa vì vậy gọi là Phổ Môn, ai muốn dùng cửa nào để vào nhà Nhƣ Lai đều đƣợc toại ý. Trong kinh còn nói: Nếu ngƣời nhiều lòng tham dục, sân hận, si mê, mà nhất tâm niện danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ Tát thì đƣợc lìa tham, sân, si. Câu này dễ hiểu và có kết quả hiển nhiên nếu thực hành đúng. Thí dụ: Trong lúc chúng ta sắp làm một việc xấu xa mà biết nhớ nghĩ đến đức Quán Thế Âm, nhớ đến lòng từ bi, thì tâm tự nhiên sáng suốt, thanh tịnh, nhƣ ngƣời mê chợt tỉnh, tất nhiên không dám làm ác nữa, do đó lìa đƣợc tham, sân, si. Kinh còn nói đức Quán Thế Âm ban cho chúng sanh lòng không lo sợ (vô úy). Đúng vậy, chúng ta lo nhiều nỗi: lo ốm đau, sợ tù tội, mất của, lửa cháy, nƣớc trôi, sợ già, sợ chết... chỉ vì chúng ta quá lo cho các xác thân, mong cho nó đƣợc khỏe mạnh, đẹp đẽ, sống lâu. Chúng ta ích kỹ, chấp ngã, chỉ nghĩ đến thân mình, của cải của mình, lo giữ cho chặt, cho nhiều đừng để mất. Nhƣng nếu chúng ta biết niệm đức Quán Thế Âm tức là nhớ nghĩ đến sự giác ngộ, giải thoát, từ bi hỷ xả, tình thƣơng rộng lớn, biết rằng thân xác là bất tịnh, thế giới là vô thƣờng, ngũ uẩn giai không, thì còn gì mà lo sợ nữa? Chẳng có gì đƣợc (vô sở đắc) thì còn gì để giữ, còn gì để mất, còn gì để lo sợ? Do đó, chúng ta đƣợc an nhiên tự tại trƣớc mọi hoàn cảnh đổi thay dù thuận, dù nghịch, ví nhƣ đã đƣợc đức Quán Thế Âm ban cho lòng không sợ sệt (thí vô úy). Khi niệm đức Quán Thế Âm, chúng ta thƣờng đọc: Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát. Linh là linh thiêng, linh nghiệm, nhiệm mầu; Cảm là cảm ứng, cảm thấy, cảm thông. Có cảm là có ứng, mà sự ứng thân này rất linh nghiệm, nhiệm mầu nên gọi là linh cảm. Muốn vậy cần có sự cảm thông giữa chúng sanh đau khổ và đức Bồ Tát đầy lòng từ bi. Ngƣời đang bị khổ nạn phải chí tâm nghĩ đến ngài, tâm trụ vào một chỗ nên có sức mạnh, rung động truyền thông đến đức Bồ Tát; ngài tu nhĩ căn viên thông nên nghe đƣợc tiếng cầu cứu, liền đến giúp. Tiếng cầu cứu đó cần mạnh mẽ, chí tâm, thiết tha và nhất là không mang nặng tính chất tham, sân, si thì mới có cảm ứng, ví nhƣ chúng 20

ta sử dụng máy thu thanh cần bắt đúng tần số sóng phát thanh thì mới nghe đƣợc. Đức Quán Thế Âm Bồ tát là từ bi, là thanh tịnh, là tình thƣơng, thì chúng ta dùng tần số từ bi, thanh tịnh, tình thƣơng sẽ có cảm ứng. Trái lại, nếu chúng ta dùng tần số ích kỷ, tham lam, ngã chấp, cầu trúng số để hƣởng sang giàu thì chắc chắc không có sự cảm thông, không đƣợc ngài giúp đỡ. Đức Quán Thế Âm thƣờng đƣợc tạc tƣợng đứng trên tòa sen, tay cầm cành dƣơng liễu, vẫy nƣớc cam lồ. Hoa sen tƣợng trƣng cho thanh tịnh, thơm mát, cành dƣơng liễu thì mềm mại, không hay gẫy tƣợng trƣng cho tình thƣơng rộng lớn, êm dịu, mềm thắng cứng, nhu thắng cƣơng, hiền thắng ác; nƣớc cam lồ có vị ngọt mát làm dịu cơn đau khổ, tức giận, buồn rầu, phiền não, si mê, vọng tƣởng; ai nếm đƣợc nƣớc cam lồ thì cảm thấy một sự mát mẻ, an lạc, sáng suốt hoàn toàn, nhƣ ngƣời đó đƣợc ăn, ngƣời khát đƣợc uống, ngƣời mù đƣợc thấy, ngƣời mê đƣợc tỉnh. Hình ảnh đó tƣợng trƣng cho lòng đại từ đại bi, tình thƣơng rộng lớn bao la, ai phát khởi đƣợc tâm này thì đƣợc hết khổ, an vui, lợi mình lợi ngƣời. Đức Quán Thế Âm còn đƣợc tạc tƣợng có ngàn tay, ngàn mắt (thiên thủ, thiên nhãn) diễn tả oai lực của Bồ Tát, chỗ nào ngài cũng thấy, nơi nào ngài cũng tới để đƣa tay cứu vớt. Diệu ý của tƣợng này là tâm đại bi trải rộng khắp không gian và thời gian, soi sáng cho tất cả chúng sanh thấy đƣợc chân lý, hiện hành khắp nơi, khắp chốn, không sót chỗ nào, lúc nào. Tƣợng này cũng còn ẩn nghĩa thâm sâu là những ai tu hành chân chính, minh tâm kiến tánh, thấy đƣợc tánh Phật của mình, thấy tất cả, ghi chép tất cả và làm tất cả mọi việc để cứu giúp chúng sanh (hiển tánh và ứng dụng). Đến đây, một câu hỏi đƣợc đặt ra: đức Quán Thế Âm Bồ Tát có lòng đại bi cứu vớt chúng sanh, tại sao những lời cầu nguyện có lúc ứng, có lúc không? Có ngƣời cầu đƣợc, có ngƣời không đƣợc? Trong kinh dạy: Muốn đƣợc đức Quán Thế Âm Bồ Tát cảm ứng cứu giúp thì phải có lòng thành, nhớ niệm ngài mà không chút nghi ngờ (niệm niệm vật sanh nghị); khi niệm ngài mà không chút nghi ngờ thì đƣợc nhất tâm bất loạn, hoàn toàn tin tƣởng vào oai lực tầm thanh cứu khổ của Bồ Tát, niệm tới chỗ quên mình, 21

quên cảnh, chỉ còn có một tâm thanh tịnh, trang nghiêm thì mới cảm ứng với đức Bồ Tát đƣợc. Vì Bồ Tát là tình thƣơng, là thanh tịnh, là hy sinh, là vô ngã, ngƣời cầu nguyện cần có những đức tính nhƣ vậy mới mong cảm thông, đồng thanh tƣơng ứng, đồng khí tƣơng cầu. Nếu lời cầu xin nhằm mục đích ích kỷ, danh lợi thì chắc chắn không có cảm ứng, vì luật nhân quả nghiêm minh còn đó, thuận với luật thì thành, trái với luật thì hỏng, đức Quán Thế Âm Bồ Tát cũng không làm trái với luật nhân quả đƣợc. Các câu chuyện ứng thân thị hiện cứu giúp nạn nhân của đức Quán Thế Âm thì nhiều vô cùng, nhất là gần đây phong trào vƣợt biên, bƣợt biển nguy hiểm vô cùng, hoặc trong các trại tù, đau khổ tột bực, nhiều ngƣời đã chí tâm, chí thành cầu nguyện và đã thấy đƣợc đức Quán Thế Âm Bồ Tát hiện ra cứu giúp. Những khi lâm vào cảnh nguy hiểm, bế tắc tột cùng, những lời cầu nguyện thƣờng đƣợc nhất tâm, chỉ cầu đƣợc thoát khổ nạn, chứ không còn tham lam mong hƣởng gì khác, nên dễ đƣợc cảm ứng, dễ đƣợc đức Bồ Tát tới cứu, thấy có kết quả hiển nhiên. Những việc mầu nhiệm này bất khả tƣ nghì, ai tin hay không cũng đƣợc. Ngoài việc niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu an thoát khổ nạn, chúng ta còn niệm danh hiệu ngài để cầu siêu nữa. Kinh Vô Lƣợng Thọ nói rõ là ở Tây Phƣơng Cực Lạc có đức A Di Đà và hai vị Bồ Tát: đức Quán Thế Âm đứng bên tả, đức Đại Thế Chí đứng bên hữu, cả ba vị lúc nào cũng sẵn sàng phóng quang đến tiếp dẫn tất cả những chúng sanh nào muốn về cõi Cực Lạc và đã niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất loạn, tín, hạnh, nguyện đầy đủ. Ngƣời tu pháp môn Tịnh Độ khi niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà bao giờ cũng niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm và Đại Thế Chí tiếp theo. Nhƣ vậy đức Quán Thế Âm không những tầm thanh cứu khổ ban vui cho ngƣời sống, mà lại còn phóng quang tiếp dẫn các hƣơng linh về cõi Tây Phƣơng Cực Lạc, thật trọn vẹn đôi đƣờng, ngài đƣợc các Phật tử xƣng danh tán thán, cung kính phụng thờ, thành tâm lễ bái, tụng niệm đêm ngày, thật là xứng đáng. Đời nhiều nỗi khổ, muốn thoát khổ phải niệm Quán Thế Âm, phát khởi và thực hành tâm đại bi. Nếu cứ chữ đâu, nghĩa đó, cứ nhất tâm xƣng danh hiệu và nhớ nghĩ đến công hạnh của ngài, thì sẽ đƣợc cảm ứng, đƣợc ngài hiện thân cứu giúp. Nhƣng đọc kinh điển Đại Thừa cầm tìm nghĩa ẩn, diệu lý trong lời kinh, 22

nƣơng sự hiển lý, sự lý viên dung mới đầy đủ, viên thành Phật đạo. Trong Phẩm Phổ Môn có câu: Diệu Âm, Quán Thế Âm, Phạm Âm, Hải Triều Âm. Thắng bỉ Thế gian Âm, Thị cố ưng thường niệm. Diệu âm là tiếng huyền diệu, tiếng của cõi lòng thâm sâu, thầm kín, chúng ta phải quay về bên trong mà nghe (phản văn, văn tự tánh); đó là tiếng nói của tâm, tiếng nói vô thanh, tiếng đó lớn nhƣ tiếng sấm sét của Phạm Thiên, tiếng gầm của sóng biển, lớn hơn mọi thứ tiếng trong đời, nhƣng thƣờng chúng ta không nghe thấy, vì chúng ta đã quen sử dụng đôi tai thịt để nghe các thứ tiếng ngoài đời. Muốn nghe tiếng nói của chân tâm thì phải dụng đôi tai thanh tịnh tâm linh mà quay vào bên trong, bỏ bên ngoài. Nghe đƣợc tiếng nói của chân tâm rồi thì là đã có định, mà có định thì phát sinh trí huệ sáng suốt gọi là Bát Nhã Ba La Mật. Sau khi nghe đƣợc tiếng bên trong rồi, chúng ta phải quay ra bên ngoài, nghe tiếng kêu cứu của thế gian (Quán Thế Âm), nhập thế, nhảy vào cõi đời để cứu độ đời, quên mình, hy sinh, đó chính là thực hành Bồ Tát đạo, vô ngã, lợi tha. Điều cần nhớ là tự giác rồi giác tha, tự lợi rồi lợi tha, ví nhƣ phải biết bơi rồi hãy nhảy xuống nƣớc cứu ngƣời chết đuối thì không bị tổn hại, đƣợc lợi mình lợi ngƣời. Mình chƣa vững mà đã nhảy vào cứu ngƣời khác, kết quả là không đƣợc việc, cả ngƣời bị nạn và ngƣời cứu nạn đều chết chìm, không đƣợc lợi ích gì, đó là việc làm của ngƣời vô trí, thiếu sáng suốt, vào đời để đời độ lại. Chúng ta cần coi việc cứu giúp ngƣời khác là một bổn phận dĩ nhiên phải làm, thấy việc tốt là phải làm, ai cầu là cho, ai xin là giúp, nhƣng cần có sức mạnh và sáng suốt, làm với tâm niệm từ bi hỷ xả, vô cầu, vô chấp, không hề mệt mỏi. Khi chúng ta bị đau khổ, muốn cầu đƣợc cứu độ thì khi kêu cầu phải nhất tâm, không nghi ngờ, hoàn toàn tin tƣởng nhƣ con thơ tin cậy mẹ hiền, chính nhờ lòng tin đƣa chúng ta vào cửa đạo, đến chỗ hết khổ, an vui, rồi chính chúng ta phải thực hành tâm đại bi mở rộng lòng thƣơng, diệt trừ chấp ngã, lúc đó chúng ta cứu độ chúng sanh, chúng ta là đại diện cho đức Quán Thế Âm, hoặc có thể nói chính đức Quán Thế Âm ứng thân thị hiện vào chúng ta để ban vui cứu khổ, chính là chân tâm lƣu lộ vậy. Minh Tâm 23

6. Sống chung với sợ hãi
Theo quan điểm Phật giáo, có nỗi sợ hãi lành mạnh và nỗi sợ hãi không lành mạnh. Ví dụ, khi ta sợ một điều gì không làm hại ta, nhƣ sợ con nhện; hoặc sợ một cái gì ta không thế tránh đƣợc, nhƣ sợ tuổi già hay bệnh tật hay tai nạn. Tất cả những nỗi sợ hãi này đều không lành mạnh, vì nó chỉ làm cho chúng ta không vui và khiến ta bị tê liệt ý chí mà thôi.

Thoát ra "chiếc bóng" sợ hãi - Ảnh minh họa Mặt khác, khi ai đó cai thuốc lá vì họ sợ bị ung thƣ phổi, thì đây là cái sợ lành mạnh, bởi vì sự nguy hiểm đó có thật, sẽ xảy ra, và chúng ta có thể đi từng bƣớc để ngăn ngừa nó. Nguyên nhân sợ hãi Chúng ta phải chọn: một là sống yếu hèn, bị khuất phục bởi mọi sức mạnh, hai là chúng ta nhìn ra cái khả năng dễ bị tổn hại này, nhận ra rằng ta luôn ở trong nguy hiểm, và vì thế phải tìm cho ra một con đƣờng để ngăn chặn sự nguy hiểm đó bằng cách dỡ bỏ cái nguyên nhân gây ra tất cả sự sợ hãi: hoang tƣởng và tiêu cực. Nhƣ vậy chúng ta có thể tự kiểm soát mình, và nếu ta đã kiểm soát đƣợc chính mình, chúng ta không phải sợ hãi nữa. 24

Chúng ta có rất nhiều cái sợ: sợ khủng bố, sợ chết, sợ xa ngƣời yêu, sợ đánh mất kiểm soát, sợ bắt giam, sợ thất bại, sợ bị chối bỏ, sợ mất việc… Danh sách này không bao giờ chấm dứt! Nhiều cái sợ bắt nguồn từ cái mà Đức Phật gọi là “hoang tƣởng”, nghĩa là ta có một cái nhìn bị bóp méo, bị méo mó, không đúng với sự thật, khi nhìn vào chính mình hay nhìn ra thế giới chung quanh. Nếu chúng ta biết cách kiểm soát tâm, dần dần giảm thiểu và cuối cùng loại trừ những hoang tƣởng này, thì nguyên nhân của sợ hãi, lành mạnh hay không lành mạnh, cũng bị trừ diệt hết. Nỗi sợ hãi lành mạnh Tuy nhiên, ngay lúc này chúng ta cần nỗi sợ hãi lành mạnh. Ví dụ: Không ích gì nếu một ngƣời nghiện thuốc sợ bị ung thƣ phổi, trừ phi mà anh ta có thể ngăn chặn đƣợc bệnh này, nghĩa là ngƣng hút thuốc. Nếu một ngƣời nghiện thuốc lá đã biết sợ hãi bệnh ung thƣ phổi, anh ta sẽ tìm cách bỏ thói quen hút thuốc đi. Ngƣợc lại, nếu anh ta làm ngơ trƣớc sự nguy hiểm bị ung thƣ phổi, anh ta sẽ tiếp tục tạo ra nguyên nhân dẫn đến đau khổ trong tƣơng lai và hoàn toàn chịu thua sức mạnh của thuốc lá. Một ngƣời nghiện thuốc lá rất dễ bị ung thƣ phổi. Thật ra ngay cả bây giờ, ai ai trong chúng ta cũng dễ bị nguy hiểm và bị tổn hại: ta dễ già, dễ bệnh, và cuối cùng là dễ chết. Sở dĩ nhƣ vậy là bởi vì tất cả chúng ta bị mắc vào cái bẫy “luân hồi” - một trạng thái tồn tại không thể kiểm soát đƣợc, và nó cũng phản ánh cái tâm không kiểm soát đƣợc của chúng ta. Chúng ta rất dễ bị đau đớn về tinh thần lẫn thể xác, xuất phát từ cái tâm không kiểm soát đƣợc, nhƣ đau khổ từ những vọng tƣởng, chấp ngã, giận hờn, và si mê. Tất cả giáo lý của Đức Phật là những phƣơng pháp giúp con ngƣời vƣợt qua ảo tƣởng - nguồn gốc của mọi nỗi sợ hãi. Quân bình sợ hãi Khi một nỗi sợ hãi đƣợc quân bình giữa ảo tƣởng và đau khổ, những đau khổ sẽ khiến ta phải sợ hãi, và do đó nó trở nên lành mạnh: Nó giúp thúc đẩy hành động mang tích xây dựng để tránh một sự nguy hiểm gần kề. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến sự sợ hãi nhƣ một bàn đạp giúp ta tiêu trừ hết những nguyên nhân khiến 25

ta có khả năng dễ dàng bị mất mát, bằng cách tìm một nơi nƣơng tựa bên trong, thuộc tâm linh (niệm Phật, đọc kinh sách, nghĩ đến Phật …), và dần dần cải huấn tâm mình. Một khi ta đã làm đƣợc điều đó, ta không còn sợ hãi nữa, vì không còn gì có thể hãm hại ta đƣợc, nhƣ ngƣời đã đạt đƣợc giải thoát, chiến thắng ảo tƣởng, nhƣ một vị hoàn toàn giác ngộ: một vị Phật. Thủy Ngọc (Theo dealingwithfear.org)

26

7. Đạo Phật và nghệ thuật hóa giải sân hận
Tức giận. Thịnh nộ. Uất hận. Dù nó là gì, nó luôn xảy đến cho tất cả chúng ta, kể cả các Phật tử. Và cho dù chúng ta hiểu biết về lòng từ bi, nhƣng chúng ta những ngƣời con Phật vẫn còn là chúng sanh, nên đôi khi cũng dễ nổi giận. Phật giáo (PG) dạy gì về sự sân hận?

Sân là một trong tam độc - hai độc khác là tham và si. Tam độc là nguyên nhân đầu tiên đƣa chúng sinh vào luân hồi sinh tử. Thanh tịnh hóa, không sân hận là điều rất cần thiết khi tu tập theo PG. Ngoài ra, trong PG không có cái gọi là cơn sân “đúng lý”, hay “chính đáng”. Tất cả mọi sân hận đều là phiền trƣợc, khiến khó có thế đi đến giác ngộ. Tuy nhiên, những đại sƣ đã đắc đạo cũng vẫn nhận mình đôi khi cũng “tức giận”. Chỉ bởi đối với tất cả ngƣời phàm chúng ta , nếu “không tức giận” đồng nghĩa với “điều không tƣởng”. Chúng ta sẽ nổi giận. Vậy thì chúng ta phải làm gì? Trước hết, phải thừa nhận mình đang giận Điều này nghe có vẻ hơi ngốc. Nhƣng đã bao nhiều lần bạn gặp ai đó đang giận dữ, mà anh ta có chịu nhận điều đó đâu? Vì lý do nào đó, ngƣời ta không 27

thừa nhận mình đang giận. Không đƣợc đâu! Bạn không thể xử lý một việc khi bạn không thừa nhận là có nó. PG dạy chúng ta phải chánh niệm. Và chánh niệm với chính mình là một phần trong đó. Khi một cảm xúc hay một ý nghĩ không vui xuất hiện, bạn đừng nén nó lại, hay chạy trốn nó, hay chối từ nó. Thay vì vậy, bạn hãy quan sát nó và hoàn toàn biết nó. Bạn hãy thật chân thành với mình và về mình, điều này rất cần thiết trong đạo Phật. Điều gì làm bạn giận? Quan trọng nhất là bạn nên hiểu rằng chính bạn tạo ra sự tức giận đó. Chúng ta thƣờng có khuynh hƣớng nghĩ rằng cơn giận này là do một điều gì đó bên ngoài chúng ta gây ra, nhƣ một ngƣời nào đó, hay những chuyện làm ta nổi điên. Nhƣng thầy giáo dạy Thiền đầu tiên của tôi thƣờng nói: “Không ai làm bạn giận cả. Chỉ bạn làm bạn giận mà thôi.” PG dạy chúng ta: Sự tức giận khởi lên từ cái tâm. Tuy vậy, khi bạn đang cố gắng đối trị cơn tức giận, bạn phải suy nghĩ một cách cụ thể hơn. Sự tức giận luôn thách thức chúng ta nhìn sâu vào bên trong. Thƣờng thì tức giận mang tính tự vệ. Nó xuất hiện khi ta sợ hãi một cái gì mà ta không thể giải quyết đƣợc, hoặc khi cái tôi của ta lớn quá. Là Phật tử, chúng ta nhận ra cái tôi đó, sự sợ hãi đó, và cơn giận đó là không „có thực‟ và vô thƣờng. Chúng chỉ là „ma‟, theo một nghĩa nào đó. Nếu để cho sự sân hận điều khiển hành động của ta, nó đồng nghĩa với chúng ta để ma xui khiến. Sân hận là tự chiều mình Sự tức giận gây cảm giác rất khó chịu nhƣng lại có sức quyến rũ lớn. Pema Chodron là một nhà nghiên cứu PG nổi tiếng ngƣời Mỹ nói rằng: “Ngƣời ta luôn thích thú khi đi tìm lỗi ngƣời khác”. Đặc biệt là khi cái tôi của ta bị chạm (hầu nhƣ trong mọi trƣờng hợp), và ta muốn bảo vệ cơn giận đó. Ta sẽ viện đủ lý do để nuôi dƣỡng nó. Tuy nhiên, PG dạy rằng: Ta không thể bào chữa cho sự tức giận hay sân hận. Chúng ta tu tập nghĩa là trau dồi lòng từ bi đối với mọi chúng sinh, và lòng từ bi này không có luyến ái, chấp chặt. “Mọi chúng sinh” gồm có cả ngƣời mới hồi nãy 28

chen lấn ta ở cửa, hay đồng nghiệp lợi dụng ta để lập công với sếp, hay thậm chí là một ngƣời nào đó ta rất thân thiết và tin cậy, đã phản bội ta. Vì lý do này, chúng ta phải hết sức thận trọng, đừng làm bất cứ hành động gì khi đang giận nhằm làm tổn thƣơng ngƣời khác. Chúng ta cũng đừng để cho ý nghĩ mình cứ theo đuổi cơn giận. Hãy cho nó một nơi thích hợp để nó sống và lớn lên. Học cách chăm sóc cơn giận theo Bụt dạy sẽ giúp mình hóa giải đƣợc phiền não, khổ đau Làm thế nào để dứt cơn giận? Bạn đã biết bạn đang giận, và bạn cũng biết thực ra điều gì khiến bạn giận. Nhƣng nếu bạn vẫn còn giận, thì phải làm gì nữa đây? Pema nói: Phải nhẫn nại! Nhẫn nại nghĩa là chờ đợi để làm hay để nói điều gì đó, cho đến khi bạn có thể làm mà không gây hại cho ngƣời khác. “Tính nhẫn nại luôn đi kèm với sự trung thực. Và nó cũng để cho ngƣời khác nói, trình bày quan điểm, trong khi bạn không phản ứng gì - nhƣng thực ra bạn đang phản ứng rất nhiều”. Nếu bạn biết thiền định, đây chính là lúc để nó hoạt động. Ngồi yên với cơn nóng giận đang tràn ngập. Lặng im, vắng bặt, không để cho những lời buộc tội ngƣời khác hay tự buộc tội mình rầm rì bên tai bạn. Hãy nhận biết mình đang giận và quan sát, tìm hiểu nó. Dùng lòng nhẫn nại và từ bi cho tất cả chúng sinh và cả cho bạn, để vây lấy cơn giận của bạn. Đừng nuôi dưỡng cơn giận Không hành động gì, và phải giữ im lặng trong khi giận tất nhiên là rất khó. Cơn giận thƣờng trào dâng trong ta, tạo nên một năng lƣợng khiến ta rất tức tối và muốn làm một cái gì đó. Môn tâm lý học khuyên chúng ta lúc đó hãy đấm vào gối, hoặc la to lên, hét lớn lên giữa những bức tƣờng để xả cơn giận. Thiền sƣ Thích Nhất Hạnh không đồng ý. “Khi bạn biểu lộ cơn giận của mình, bạn sẽ nghĩ rằng bạn xả đƣợc giận. Nhƣng điều đó không đúng.” Ngài nói: “Khi bạn biểu lộ cơn giận, bằng lời hoặc 29

bằng bạo lực, bạn đang nuôi dƣỡng thêm mầm sân hận, và nó sẽ càng lớn lên trong bạn”. Cần có can đảm để thể hiện lòng từ bi Đôi khi ta nhầm lẫn giữa tính hung hăng với sức manh, giữa không-làm-gì với sự yếu đuối. Chịu thua cơn giận, để cơn giận lôi chúng ta đi và muốn làm gì ta cũng đƣợc. Đó là sự yếu đuối. Còn phải có sức mạnh để nhận thức rằng chính nỗi sợ hãi và sự vị kỷ mới gây ra tức giận. Và cần phải có kỷ luật để thiền định về ngọn lửa đang hừng hực cháy của lòng sân hận. Đức Phật dạy: “Chiến thắng sân hận bằng lòng từ bi. Chiến thắng cái ác bằng cái thiện. Chiến thắng lòng tham bằng tâm bố thí. Chiến thắng sự dối trá bằng lòng chân thật.” (Kinh Pháp Cú, 233). Thực hiện điều này với chính mình, với ngƣời khác, và với cuộc sống của chúng ta, đó là PG. PG không phải là một hệ thống tín ngƣỡng, hay là một nhãn hiệu in trên chiếc áo của bạn. PG chính là điều này. Barbara O'Brien Thủy Ngọc dịch

30

8. Chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc
Trong cuộc sống, bạn có thể nhận thấy rằng nhiều việc có xu hƣớng xẩy ra rất sai lạc, hoặc ít nhất, thì những điều đó không đúng nhƣ ý bạn mong đợi. Nên, mặc dù nhiều lần gây tổn thƣơng, nhƣng bạn vẫn phải tiếp tục đối diện và cố gắng vƣợt qua, để tìm kiếm hạnh phúc mỏng manh tiềm ẩn trong tâm, mà bạn theo đuổi.

Nhƣng, nhìn lại, nó khó khăn nhƣ là phải đánh vật với võ sĩ Mike Tyson. Không ai có thể đạt đƣợc mơ ƣớc nhƣ là tránh không bị các vấn đề của bệnh tật, tuổi già, cái chết, có kẻ thù v.v… Tuy nhiên, có một phƣơng pháp có thể loại bỏ các vấn nạn khổ đau có trong ngữ vựng. Thay vì đó là những trở ngại cho hạnh phúc, những điều sai lầm trong cuộc sống, đƣợc gọi là các vấn nạn và có phản ứng gây buồn phiền, lo lắng và tức giận, thì cần đƣợc chuyển hoá thành một nguồn hạnh phúc. Chìa khóa của sự chuyển đổi kỳ diệu này là nhận thức bằng kinh nghiệm riêng mình để xác định xem sự việc đó có phải là một vấn nạn hay không. Nếu bạn thƣờng xuyên đổ lỗi cho thế giới bên ngoài thƣờng đem lại những phiền nhiễu, thì mọi vấn đề vẫn luôn luôn xuất hiện với bạn nhƣ là tác nhân gây hại và bạn sẽ không bao giờ giải thoát khỏi đau khổ và sân hận. 31

Để chuyển hoá khổ đau thành hạnh phúc, trƣớc tiên, bạn phải từ bỏ thái độ không muốn mọi thứ đi sai lạc, vì vốn nó là nhƣ vậy, nên thật là vô ích khi muốn sửa đổi chúng, bởi vì, nếu vấn đề có thể sửa đổi, bạn đâu có phải lo âu. Cho nên, nếu không thể sửa đổi, thì ƣu phiền cũng không thể giải quyết đƣợc, mà chỉ nhƣ lấy muối để chà xát vết thƣơng. Tâm lý học hiện đại cho rằng đau khổ là điều tự nhiên và do đó, bình thƣờng - nếu bạn không phản ứng với khổ đau vì cái gì sai trái với mình. Đức Phật không nói rằng điều đó là tốt, mà đề cập đến đức hạnh, suối nguồn của hạnh phúc là tốt, và vô đạo đức là gốc của buồn đau, là xấu.. Đức hạnh đến từ trí tuệ và lòng từ ái, còn vô đạo đức đến từ vô minh, ái ngã, tham chấp và sân hận. Thật sự, nếu bạn càng ngăn chặn khổ đau, có thể sẽ làm phát sinh các vấn nạn khác, nhƣng nếu tâm bạn không có gốc phiền não, thì bạn không thể có vấn đề gì để mà ngăn chặn, cũng nhƣ đƣợc an lạc.. Ngoài ra, bạn phải từ bỏ ác cảm đối với các vấn đề, bởi vì sợ hãi, âu lo chỉ làm tăng thêm sự tổn hại ảnh hƣởng đến lòng dũng cảm, ví dụ nhƣ có sự khác biệt trong tâm hồn giữa đứa trẻ hoãng sợ khi bị kim chích, so với những trẻ khác không sợ. Cho nên, sự âu lo làm cho bạn không thể chịu đựng đƣợc dù sự việc rất nhỏ. Hơn nữa, để chuyển đổi các vấn nạn thành hạnh phúc, bạn cần phải thực tập cho tâm bình thản khi có những vấn đề phát sinh, bởi vì điều đó giúp bạn phát triển đức hạnh, tránh xa điều xấu. Nhƣ vậy, không có nghĩa là bạn phải đi tìm kiếm những bất hạnh khi chƣa đủ năng lực, vì các vấn đề luôn có mặt, nên khi đối diện đến, bạn có thể đối phó bằng nhiều cách. Để tránh nghiền rƣợu, ngƣời nghiện cần phải loại bỏ ảo tƣởng rằng say rƣợu sẽ đem lại hạnh phúc, mà ngƣợc lại, chỉ gây tai hại cho chính họ và các ngƣời khác. Để tránh mang các ảo tƣởng là nguồn hạnh phúc thực nằm ở bên ngoài, bạn nên quán chiếu đến sự vô thƣờng của các pháp, các chết của ngƣời thân, để qua đó, nhƣ là cơ hội để nhìn rõ thực tại và phá vỡ sự chấp trƣớc vào sự phù du của thế giới hiện tƣợng. 32

Kế đến, khi trải qua sự bất hạnh, sẽ là năng lực làm phát triển từ tâm đến ngƣời có cùng hoàn cảnh nhƣ bạn. Cách điều trị hữu hiệu, rõ ràng nhất là tìm đến vị bác sĩ có cùng căn bệnh nhƣ bạn, sẽ đƣợc cảm thông để chỉ dẫn. Lòng ngã mạn là trở ngại lớn nhất, nên nếu bạn có thể tự nói các khuyết điểm, tự chế diểu … để cho ngƣời khác biết sự sai lầm của mình, sẽ ngăn ngừa lòng kiêu căng và tránh đƣợc sự che dấu các sai lầm của mình. Thay vì, chế diễu bạn, mọi ngƣời sẽ thƣơng yêu và tin tƣởng bạn hơn. Cuối cùng, để khắc phục kẻ thù nguy hiểm nhất là sự sân hận, bạn cần phải thực hiện hạnh nhẫn nhục, đó là liều thuốc hoá giải kiến hiệu nhất. Những ngƣời làm hại mình thực sự là ngƣời bạn tốt nhất để cho bạn có cơ hội để vƣợt qua những điều gây tổn thƣơng cho bạn hơn hơn bất cứ điều gì khác- đó là lòng sân hận. Bằng cách thực hành những điều nầy và có thái độ tích cực đối với các vấn nạn, bạn sẽ cảm thấy tâm mình nhẹ nhàng hơn và sự an lạc và hạnh phúc sẽ không còn bị ảnh hƣỡng bởi các vấn đề trầm trọng, nên thay vì chúng gây nên nổi bất an, thì lại trở thành nguồn của hạnh phúc. Khi lâm vào hoàn cảnh bất hạnh, bạn cần nuôi dƣỡng tâm an lạc, vì nếu bạn luôn mang tâm trạng bất mãn và âu lo, thì tâm sinh lý sẽ bị rắc rối, làm bạn khó mà có hạnh phúc. Nhƣng, nếu cuộc đời bạn rơi vào khúc quanh trắc trở, mà tìm thấy đƣợc an lạc qua đó, thì thân tâm của bạn sẽ hạnh phúc hơn. Bạn không thể bị tổn thƣơng bởi những dữ kiện bên ngoài, vì nhận thức rằng tất cả hạnh phúc và khổ đau đều đến từ tâm. Cho nên, nếu tìm kiếm hạnh phúc trong các đối tƣợng bên ngoài, bạn sẽ bị bên ngoài tác động đến, ngay cả lời bình phẩm nhỏ cũng làm cho chán nản. Tốt hơn hết và thật dễ dàng, nếu bạn kiểm soát đƣợc tâm mình. Ven. Thubten Gyatso Cư sĩ Liên Hoa (dịch)

33

9. Đời sống là mong manh, chết là điều chắc chắn
"Ðời sống mong manh, chết là điều chắc chắn" Ðó là câu châm ngôn nổi tiếng trong Phật Giáo. Biết rõ Chết mong manh và là một hiện tƣợng tự nhiên mà mọi ngƣời phải đƣơng đầu, chúng ta không nên sợ cái chết. Nhƣng tất cả chúng ta đều sợ chết vì không nghĩ về điều không tránh đƣợc. Chúng ta thích bám víu vào đời sống, vào xác thân và phát triển quá nhiều tham dục và luyến ái.

Một đứa trẻ ra đời đem niềm vui và hạnh phúc cho những ngƣời gần gũi và thân thiết. Dù ngƣời mẹ đau đớn cùng cực lúc sanh nhƣng vẫn vui mừng và thích thú. Ngƣời mẹ cảm thấy đƣợc đền bù xứng đáng sau nhiều khó khăn và đau đớn. Tuy nhiên, đứa trẻ lọt lòng ra đã khóc hình nhƣ nó muốn nói ra nó cũng phải chịu đau khổ của kiếp làm ngƣời. Ðứa trẻ lớn lên thành một thanh niên rồi trƣởng thành, tạo hàng loạt hành vi thiện và bất thiện. Rồi nó trở nên già nua và cuối cùng từ giã cõi đời này bỏ lại bạn bè và thân quyến buồn đau: cuộc sống của một con ngƣời là thế đấy. Con ngƣời cố gắng tránh thoát nanh vuốt của tử thần nhƣng không một ai có thể thoát khỏi. Ðến lúc chết gần kề, đầu óc liên tƣởng đến của cải tích lũy, và lo sợ quá đáng về những đứa con thân yêu thân cận, và cuối cùng, nhƣng không kém phần quan trọng, con ngƣời lo lắng quá sức về xác thân của chính mình mặc dù chăm sóc chu đáo và cẩn trọng nhƣng nay đã suy nhƣợc, kiệt 34

quệ và tan rã. Thật đau đớn khi phải xa lìa xác thân. Không thể chịu đựng đƣợc nhƣng không thể tránh nổi. Ðó là tâm trạng của mọi ngƣời khi từ giã cõi đời này với than van và rên rỉ. Sự đau đớn về cái chết thật khủng khiếp, đó là một thái độ phát xuất bởi vô minh. Sợ Chết Con ngƣời bị lo âu không phải vì ngoại cảnh mà vì niềm tin và tƣởng tƣợng về đời sống và mọi thứ của mình. Cái chết, chẳng hạn, tự nó không khủng khiếp: Khiếp sợ và kinh hãi chỉ do tâm trí chúng ta tƣởng tƣợng mà ra. Với những kẻ không dám đối đầu với thực tại, khổ đau thật sự khủng khiếp và không thể chấp nhận đƣợc. Nhƣng nếu chúng ta biết đƣơng đầu với sự thật, nó sẽ làm dịu bớt hay loại trừ cái khủng khiếp của sự sợ hãi. Ðời sống ví nhƣ viên đạn lao thẳng tới mục tiêu tức cái chết. Nhận thức đƣợc nhƣ vậy, chúng ta phải can đảm trực diện với hiện tƣợng tự nhiên này. Muốn đƣợc tự do trong đời sống, chúng ta phải không sợ chết. Hãy nhớ lại khoa học dạy ta thế nào về tiến trình của cái chết? Nó chỉ là sự xói mòn sinh lý của cơ thể con ngƣời. Chúng ta đừng sợ hãi và tƣởng tƣợng hay tiên đoán về những sự khủng khiếp không bao giờ đến cả. Một thầy thuốc nổi tiếng Sir William Oslet nói nhƣ sau: "Trong kinh nghiệm hành nghề lâu năm của tôi, tôi thấy hầu hết những ngƣời chết thực sự không đau đớn và sợ hãi" Một trợ y lão thành cho biết: "Hình nhƣ thảm kịch lớn nhất đối với tôi là mọi ngƣời suốt đời bị nỗi sợ chết ám ảnh. Khi chết đến, ta thấy nó cũng tự nhiên nhƣ bản chất cuộc sống. Chỉ có rất ít ngƣời sợ chết khi đã sống trọn cuộc đời. Trong tất cả kinh nghiệm tôi đã trải qua, tôi chỉ thấy có một ngƣời có vẻ sợ hãi - một phụ nữ đã làm điều dữ cho ngƣời chị nay đã quá trễ để hối cải". "Một điều lạ lùng và đẹp đẽ sẽ đến dù là nam hay nữ khi họ đã sống trọn đời. Tất cả mọi sợ hãi, hãi hùng đều biến mất. Tôi thƣờng ngắm tia sáng bình minh hạnh phúc trong ánh mắt họ khi họ nhận thức điều đó là sự thật. Ðó là tất cả ân huệ của Tạo Hóa." Vì tham sống nên sự sợ chết đƣợc hình thành một cách thiếu tự nhiên. Nó tạo lo âu mạnh mẽ trong đời sống đến nỗi làm con ngƣời không bao giờ dám mạo 35

hiểm làm điều gì dù đó là lẽ phải. Ngƣời đó sống trong sợ hãi lo lắng về bệnh tật và các tai nạn có thể xẩy ra cƣớp mất mạng sống quý giá của mình. Nhận thức đƣợc cái chết là điều không tránh nổi, kẻ yêu đời trần thế sẽ đắm trong nhiệt thành cầu nguyện với niềm hy vọng linh hồn sẽ đƣợc lên thiên đàng. Không một ai có thể hạnh phúc giữa cơn lốc của sợ hãi thấp hèn lo lắng nhƣ vậy. Nhƣng thật khó có thể coi thƣờng hay không lƣu ý đến những bộc phát tự nhiên của bản năng để tự bảo vệ. Tuy nhiên có một phƣơng pháp để vƣợt qua sự sợ hãi này. Hãy quên đi quan niệm về cái 'tôi'; hãy đem tình thƣơng phục vụ nhân loại và tỏ tình thƣơng với ngƣời khác. Say mê phục vụ tha nhân, chẳng bao lâu bạn sẽ tự mình thoát khỏi cái tự kỷ luyến ái nặng nề, mơ ƣớc, kiêu căng, và tự tôn. Bệnh và Chết Bệnh và chết cả hai đều là việc xẩy ra tự nhiên trong đời sống của chúng ta, và chúng ta phải chấp nhận điều đó với sự hiểu biết. Theo thuyết tâm lý hiện đại, nguyên nhân tinh thần căng thẳng quá mức là do không dám đƣơng đầu và chấp nhận thực tại cuộc đời. Nếu không vƣợt qua hay khuất phục đƣợc sự căng thẳng đó sẽ gây nên bệnh trầm trọng. Trong khi bênh hoạn mà quá lo lắng hay thất vọng chỉ làm cho bệnh tăng lên. Về cái chết, đối với những ngƣời có tâm hồn và hành động trong sạch, chết chẳng có gì đáng sợ cả. Chúng ta chẳng là gì cả mà chỉ là sự kết hợp của tâm trí và thể xác, do vậy tâm trí và thể xác không chết riêng. Nghiệp báo do những hành động xấu của chúng ta đã gây nên trong đời trƣớc theo chúng ta vào lúc tái sanh khiến chúng ta phải chịu những khổ đau trong đời này. Sự kiện nhƣ vậy có thể tránh đƣợc nếu chúng ta hết sức nỗ lực tạo công đức bằng cách sống một cuộc đời đạo hạnh và làm những hành vi đạo đức bất kỳ ở đâu và vào bất cứ lúc nào. Làm nhƣ thế chúng ta có thể đƣơng đầu với cái chết một cách can đảm và thực tế phù hợp với Phật pháp. Không có vị 'cứu tinh' nào có thể lãnh gánh nặng và cứu vớt chúng ta khỏi hậu quả các hành vi sai trái của chúng ta. Chúng ta luôn luôn tự mình nhớ tới lời Ðức Phật khuyên: "Hãy tin và nƣơng tựa vào chính mình, hãy gắng sức và chuyên cần". Ngƣời Phật Tử không sầu thảm bi thƣơng trƣớc cái chết của một ngƣời thân hay bạn hữu. Không có gì có thể ngăn 36

cản đƣợc bánh xe nhân quả. Khi một ngƣời chết, nghiệp do họ tạo nên sẽ theo họ đến cuộc đời mới. Ngƣời còn lại phải chịu đựng sự mất mát với bình tĩnh và hiểu biết. Chết là một tiến trình không tránh đƣợc trên thế gian này. Ðó là một điều chắc chắn trong vũ trụ này. Khu rừng có thể trở thành đô thị và đô thị có thể tr? thành bãi cát. Núi có thể biến thành hồ. Ðiều không chắc chắn có thể xẩy ra ở khắp mọi nơi nhƣng cái chết là điều không thay đổi. Tất cả mọi thứ chỉ là tạm bợ. Chúng ta có cha ông, cha ông của chúng ta cũng có cha ông nhƣng bây giờ họ ở đâu! Họ đều đã qua đời. Ðừng nghe kẻ ngụy biện cho rằng chúng tôi đang trình bày một quan niệm yếm thế bi quan. Ðó là quan điểm thực tế nhất trong tất cả chủ nghĩa. Tại sao chúng ta lại không thực tế mà mù quáng trƣớc sƣ kiện thực tế đó? Có phải cái chết không thiêu đốt m?i thức? Nó thiêu mọi thứ. Nhƣng đừng quên điều này: Vai trò của cái chết là làm cho mọi ngƣời ý thức đƣợc số phận của mình; dù cho cao sang đến đâu, dù cho kỹ thuật và y khoa tiến bộ đến mức nào đi nữa, cái chết vẫn nhƣ nhau: hoặc ở trong quan tài hay trở thành một nắm tro tàn. Vậy ta có nên mặc áo tang để than khóc đời sống trở thành tro tàn không? Không, đó không phải là mục đích cuộc đời mà cũng chẳng phải là mục đích cái chết. Tiến trình của sinh là một tiến trình liên tục cho đến khi chúng ta trở nên toàn hảo. Ảnh hưởng vẫn còn Ðức Phật nói: "Thân xác con ngƣời tuy thành tro bụi, nhƣng tên tuổi và ảnh hƣởng vẫn còn". Ảnh hƣởng của tiền kiếp đôi khi sâu rộng, mạnh hơn ảnh hƣởng của xác thân đang sống với một số khả năng hạn hẹp. Ðôi khi chúng ta hành động theo tƣ tƣởng của những nhân vật mà xác thân đã thành tro bụi. Những tƣ tƣởng nhƣ vậy đóng một vai trò quan trọng trong những hành động của chúng ta. Mỗi ngƣời sống đƣợc cho là hỗn hợp của một phần thân xác tổ tiên đã khuất. Trong ý nghĩa ấy, chúng ta có thể nói rằng những anh hùng trong qúa khứ, những đại triết gia, những hiền nhân, thi nhân và nhạc sĩ của mỗi dân tộc vẫn đang sống với chúng ta. Vì chúng ta kết nốiä với những liệt sĩ và những nhà tƣ tƣởng trong quá khứ, chúng ta có thể chia sẻ những tƣ tƣởng khôn ngoan, những lý tƣởng cao thƣợng và cả đến âm nhạc bất hủ của nhiều thời đại. Dù rằng thân xác của họ đã 37

chết, nhƣng ảnh hƣởng của họ vẫn còn. Xác thân chẳng là gì cả mà chỉ là sự tổng hợp trừu tƣợng sản sinh ra một hỗn hợp thay đổi không ngừng các thành phần hóa chất. Con ngƣời hiểu rằng đời sống của mình chỉ là một giọt nƣớc trên con sông đang chảy và nên vui vẻ đóng góp một phần của mình cho dòng sông cuộc sống. Ngƣời không biết bản chất của đời sống, sẽ bị chìm đắm trong bùn lầy của thế gian này. Ngƣời đó khóc than, rên rỉ, và đôi khi cũng mỉm cƣời để rồi lại khóc than. Nhƣng khi biết đƣợc thực chất của mình, ngƣời đó sẽ từ bỏ tất cả những cái tạm bợ và tìm cầu Vĩnh Cửu. Trƣớc khi đạt đƣợc Vĩnh Cửu, ngƣời đó phải đƣơng đầu với hết cái chết này đến cái chết khác. Vì cái chết không thể chịu đựng nổi, con ngƣời có nên cố gắng khắc phục sự tiếp diễn không ngừng cái vòng sanh tử hay không? Theo Phật Giáo, đây không phải là kiếp sống đầu và kiếp sống cuối cùng của chúng ta trên thế gian này. Nếu bạn làm điều thiện với lòng tin tƣởng, bạn sẽ có đời sống tốt đẹp hơn ở kiếp sau. Mặt khác nếu bạn cảm thấy bạn không muốn tái sanh mãi mãi, bạn phải cố gắng phát triển tâm trí và loại bỏ tất cả tinh thần ô trƣợc. Triết lý Phật giáo Các bậc thánh cao thƣợng đã đạt đƣợc bậc cao nhất của toàn thiện không khóc than trƣớc sự ra đi của những ngƣời thân gần gũi vì các ngài đã loại bỏ hoàn toàn đƣợc cảm xúc thƣờng tình. Ðức Anurudha, đạt quả vị A La Hán, không khóc khi Ðức Phật nhập diệt. Tuy nhiên Ðức A Nan lúc đó chỉ là Tu Ðà Hoàn mới đạt quả vị thứ nhất trong các bậc thánh, đã không kìm giữ đƣợc khóc than. Các tỳ kheo khóc than phải nhớ tới quan niệm của Ðức Phật về những hoàn cảnh có bản chất nhƣ vầy: "Ông A Nan, có phải Ðức Phật đã từng dạy chúng ta rằng những gì sanh ra, những gì hiện hữu, và những gì duyên hợp đều đi đến tan rã? Ðó là tính chất của duyên hợp. Khi duyên hợp xuất hiện chúng phải mất đi - Và khi những duyên hợp đó hết, Tịch Tịnh hiện tiền". Những lời dạy trên đây mô tả nền móng mà dựa vào đó cấu trúc của Triết Lý Phật Giáo đƣợc xây dựng. 38

Nguyên Nhân Của Khổ Ðau Nguyên nhân của các buồn phiền và khổ đau là do Luyến Ái (Tanha) dƣới mọi dạng thức. Nếu chúng ta muốn vƣợt khổ đau, chúng ta phải bỏ luyến ái không phải chỉ luyến ái ngƣời mà luyến ái của cải nữa. Ðó là sự thật - chân lý là bài học mà cái Chết cho biết. Luyến ái cung cấp cho chúng ta nhiều thứ để thỏa mãn cảm xúc, và dẫn ta vào con đƣờng trần tục. Nhƣng cuối cùng luyến ái ấy trở thành nguyên nhân tất cả đau khổ của chúng ta. Nếu không học bài học này, cái chết có thể tấn công và khủng bố chúng ta. Sự việc này đã đƣợc Ðức Phật soi sáng rõ ràng. Ngài dạy: "Cái chết sẽ mang con ngƣời đi khỏi dù ngƣời đó cố bám lấy con cái và của cải, giống nhƣ một trận lụt lớn cuốn sạch cả ngôi làng đang ngủ". Lời dạy này ngụ ý là nếu ngôi làng đó tỉnh thức và cảnh giác thì có thể tránh khỏi sự tàn phá của lũ lụt. Ai Cũng Phải Chết Chúng ta hãy nghiên cứu việc Ðức Phật giải quyết vấn đề cho hai ngƣời vì luyến ái mà cái chết làm cho đau khổ. Một ngƣời là Bà Kisagatomi. Ðứa con duy nhất của bà ta bị rắn cắn chết. Bà ta bồng đứa con trai chết đến cầu cứu Ðức Phật. Ðức Phật bảo bà hãy đem đến cho Ðức Phật một vài hạt giống cải của một gia đình không có ai chết, Ðức Phật sẽ chữa cho. Nhƣng Bà ta không thể tìm thấy một gia đình nào nhƣ thế . Tất cả các gia đình mà Bà đã đến thì không nhà nào là không khóc than hay đã khóc than về cái chết của một ngƣời thân vào lúc nào đó. Bà đã hiểu sự thực đắng cay: ai cũng phải chết. Cái chết giáng xuống tất cả mọi ngƣời và không chừa ai cả. Buồn đau là di sản đối với mọi ngƣời. Một ngƣời khác đƣợc Ðức Phật dạy là Patacara. Trƣờng hợp của Bà này bi thảm hơn. Chỉ trong một thời gian ngắn, Bà mất hai đứa con, chồng, anh em, cha mẹ và tất cả của cải. Buồn đau đến mất trí, Bà đã lõa lồ chạy nhƣ điên nhƣ dại trên đƣờng phố cho đến khi gặp Ðức Phật. Ðức Phật đã giúp Bà trở lại bình thƣờng bằng cách giảng giải cho Bà nghe cái chết là một hiện tƣợng tự nhiên của tất cả mọi ngƣời. 39

"Con đã đau khổ nhiều lần nhƣ thế này, chứ không phải lần này thôi, Patacara; con đã đau khổ nhiều lần trong những tiền kiếp của con. Ðã lâu, con đau khổ vì cái chết của cha, mẹ, con cái và những ngƣời thân của con. Trong khi đau khổ nhƣ vậy, nƣớc mắt của con thật nhiều hơn nƣớc ở biển cả". Cuối cùng, Patacara nhận thức đƣợc cái bất trắc của đời sống. Patacara và Kisagotami cả hai hiểu rõ cái khổ và đều cảm nhận đƣợc sự đau khổ về cái chết do kinh nghiệm bi thảm. Bằng cách hiểu sâu sắc Chân Lý Cao Quý Thứ Nhất của Tứ Diệu Ðế về khổ thì ba Chân Lý Cao Quý còn lại cũng hiểu đƣợc. Ngài nói: "Này các Tỳ Kheo, hiểu đƣợc khổ, đây là khổ, cũng hiểu đƣợc nguyên nhân của khổ, đây là diệt khổ, và con đƣờng dẫn đến chấm dứt khổ". Năm Uẩn Trong Kinh Phật, chết đƣợc định nghìa là sự tan rã của Uẩn. Những uẩn này là năm uẩn: thọ, tƣởng hành, thức, và sắc hay vật chất. Bốn uẩn đầu thuộc về tinh thần hay nama, họp thành đơn vị của thức. Uẩn thứ năm, rupa là vật chất hay vật lý uẩn. Sự phối hợp của tâm vật lý đó theo quy ƣớc đƣợc gọi là cá nhân, con ngƣời hay cái Tôi. Cho nên những cá thể hiện hữu nhƣ thế không phải là cá nhân nào mà là hai thành phần cấu tạo cơ bản của tinh thần và vật chất, thành phần này là những hiện tƣợng hiếm. Chúng ta không coi năm uẩn này là những hiện tƣợng mà là một thực thể vì lẽ do cái tâm tự lừa dối chúng ta, do ham muốn bẩm sinh của chúng ta cho những thứ nói trên là của ta để thỏa mãn cái Ngã quan trọng của chúng ta. Chúng ta sẽ thấy đƣợc bộ mặt thật của sự vật nếu chúng ta chịu nhẫn nại và có ý chí. Nếu chúng ta quay vào nội tâm và quán chiếu bề sâu của tâm khảm, chú tâm và nhận xét một cách khách quan, không hề liên tƣởng đến bản ngã và rồi thì trau dồi việc thực hành này trong một thời gian nhƣ Ðức Phật dạy trong Kinh Sati Patthana, chúng ta sẽ thấy năm uẩn không phải là một thực thể mà là một loạt các tiến trình vật chất và tinh thần. Rồi chúng ta sẽ không nhầm cái bề ngoài với cái thực. Chúng ta sẽ nhìn thấy năm uẩn này phát sinh và biến đi liên tục nhanh chóng. Chúng luôn luôn biến đổi từng phút từng giây, không bao giờ tĩnh mà động, không bao giờ là thực thể mà luôn luôn Biến Hiện. 40

Tái Sanh Bốn uẩn tinh thần, hay thức và ba nhóm của yếu tố tinh thần khác tạo thành Nama hay đơn vị của thức, biến chuyển không ngừng, nổi lên rồi lại biến đi nhƣng không cùng một khung cảnh vì khung cảnh đó cũng biến hóa luôn. Chúng phải lập lại ngay một nền tảng tự nhiên mới (Sắc), một lớp vật chất tƣơi mới nhƣ trƣớc để hoạt động điều hòa. Nghiệp luật về mối quan hệ làm công việc này và ngay lập tức sự tái sắp xếp các uẩn xẩy ra và chúng ta gọi đó là tái sanh. Nhƣng phải hiểu rằng, theo niềm tin Phật Giáo, không có sự đầu thai của một linh hồn hay một chất nào từ một thân xác này đến một xác thân kia. Theo triết lý Phật Giáo cái thực sự xẩy ra là Javana hay tiến trình tƣ tƣởng chủ động của ngƣời sắp chết phóng ra một số lực thay đổi tùy theo sự thanh tịnh của năm chập tƣ tƣởng trong loạt này (Năm thay vì bảy chập tƣ tƣởng nhƣ thƣờng lệ). Những lực này đƣợc gọi là Karma Vega hay năng lƣợng nghiệp tự nó lôi cuốn vào lớp vật chất tạo ra bởi cha mẹ trong dạ con ngƣời mẹ. Uẩn vật chất trong hợp chất phôi thai phải có những đặc tính khả dĩ có thể tiếp nhận loại năng lƣợng nghiệp đặc biệt này. Sự lôi cuốn theo cách thức này của những loại uẩn vật chất khác nhau tạo ra bởi cha mẹ xuất hiện do hoạt động của cái chết và đem lại sự tái sinh thuận lợi cho ngƣời sắp chết . Một tƣ tƣởng bất thiện sẽ đƣa đến một tái sanh không thuận lợi. Một Cụm Yếu Tố và Năng Lượng Tóm lại, sự phối hợp của năm uẩn gọi là sanh. Sự hiện hữu của những uẩn đó thành một cụm đƣợc gọi là đời sống. Sự tan rã cũa chúng gọi là chết (tử), và sự tái phối hợp của những uẩn ấy gọi là tái sanh. Tuy nhiên, một ngƣời bình thƣờng không dễ dàng gì hiểu đƣợc tại sao những cái gọi là uẩn đó lại có thể tái phối hợp. Hiểu rõ bản chất của các yếu tố, nặng lƣợng tinh thần và nghiệp cùng với sự song hành của năng lƣợng vũ trụ rất quan trọng trên phƣơng diện này. Một số ngƣời cho rằng biến cố đơn giản và tự nhiên - cái chết là sự tan rã của năm uẩn, và sau đó chẳng còn gì tồn tại nữa. Có ngƣời lại cho rằng chết có nghĩa là sự chuyển tiếp linh hồn từ một thân xác này đến một thân xác khác; và với một số khác nữa, chết là sự kìm giữ vĩnh viễn một linh hồn chờ đợi ngày xét xử. Với ngƣời Phật Tử, 41

chết chẳng là gì cả mà chỉ là tạm chấm dứt một hiện tƣợng tạm thời. Chết chƣa phải là một sự hủy diệt hoàn toàn của cái đƣợc gọi là chúng sanh. Nguyên Nhân Cái Chết Theo Phật Giáo, chết xẩy ra trong bốn nguyên nhân sau đây: 1. Mạng căn (hay thọ mạng) ấn định của chúng sanh mỗi loài đã hết. Cái chết này gọi là mạng triệt (Ayukkhaya) 2. Năng lƣợng Nghiệp gây nên sự sanh của ngƣời chết đã kiệt. Cái chết này gọi là Kamma-kkhya (Nghiệp dĩ) 3. Sự chấm dứt cùng một lúc của hai nguyên nhân trên. (Ubbayakkhaya) 4. Cuối cùng có thể do những hoàn cảnh bên ngoài nhƣ tai nạn, biến cố bất ngờ, hiện tƣợng thiên nhiên hay Nghiệp quả từ kiếp trƣớc không đề cập tại điều 2. Cái chết này gọi là Upachedake. Có một sự tƣơng đồng rất đúng để giải nghĩa bốn trƣờng hợp chết trên đây. Nó tƣơng tự chiếc đèn dầu. Ánh sáng đèn dầu có thể tắt vì một trong những nguyên nhân: 1. Bấc trong ngọn đèn đã cháy hết. Ðiều này giống nhƣ cái chết vì thời gian cho một kiếp đã hết. 2. Dầu đã cạn giống nhƣ nghiệp lực đã hết 3. Dầu và bấc đã cháy hết cùng một lúc giống nhƣ cái chết do cả hai nguyên nhân phối hợp đề cập tại 1 và 2. 4. Hậu quả của những yếu tố bên ngoài nhƣ gió thổi làm đèn tắt - giống nhƣ chết do nguyên nhân ngoại cảnh. Cho nên, Nghiệp không phải là nguyên nhân duy nhất của cái chết. Cũng có những nguyên nhân bên ngoài gây ra cái chết. Giáo lý của Ðức Phật minh định rõ ràng Nghiệp không thể giải thích tất cả những việc xẩy ra. Ðương Ðầu Với Thực Tế Làm sao ta có thể đƣơng đầu với các sự việc không thể tránh đƣợc này một cách tốt nhất? Nên tiên liệu và suy nghĩ là cái chết trƣớc sau cũng phải đến. Ðiều này không có nghĩa là ngƣời Phật Tử quan niệm cuộc đời là ảm đạm. Chết là một sự thực và ta phải đƣơng đầu - và Phật Giáo là một tôn giáo của lý trí huấn luyện 42

các tín đồ trực diện với các sự kiện, dù các sự kiện này làm ta không hài lòng. Trƣởng Giáo Nanak (vị khai sáng ra Ðạo Sikh) nói: "Thế gian sợ chết, với tôi, chết đem niềm vui". Thật rõ ràng những vĩ nhân và những ngƣời cao thƣợng không sợ chết và sẵn sàng chấp nhận nó. Nhiều vĩ nhân đã hy sinh mạng sống của mình cho phúc lợi và hạnh phúc của nhân loại. Tên tuổi của các vị này đã đƣợc lƣu truyền trên bảng vàng lịch sử cho hậu thế. Saul Alynksy, một ngƣời Mỹ đã quá vãng nói: "Ðiều đơn giản quan trọng nhất mà tôi đã học đƣợc là tôi sắp đƣợc chết. Vì một khi chấp nhận cái chết, đột nhiên bạn sẽ thấy tự do trong cuộc sống. Bạn không còn phải lo lắng ngoại trừ cuộc sống của bạn có thể sử dụng một cách khôn khéo - để thúc đẩy một sự nghiệp mà bạn tin vào". Ðó là đƣờng lối ra sao mà các nhà tƣ tƣởng lớn nghĩ nhƣ thế nào về quan niệm chết. Cái Chết Không Tránh Ðược Thật là một nghịch lý khi chúng ta thấy cái chết đã cƣớp đi biết bao sinh mạng của nhân loại nhƣng chúng ta ít khi nghĩ đến cái ý tƣởng đó là chúng ta cũng thế, trƣớc sau cũng trở thành nạn nhân của tử thần. Vì quá luyến ái cuộc đời, chúng ta không muốn mang trong lòng tƣ tƣởng yếu đuối, nhƣng thực tế cái chết là một sự thực hiển nhiên. Chúng ta muốn đặt ý nghĩ khiếp sợ đó càng xa càng tốt và tự lừa dối mình rằng chết là một điều xa vời, một điều không cần phải lo lắng. Chúng ta phải có đủ can đảm để đƣơng đầu với sự thật ấy. Chúng ta phải sẵn sàng trực diện với sự thực này. Chết là điều có thật. Chết là một sự thực. Nếu chúng ta nhận thức đƣợc nhƣ vậy, và biết rằng cái chết không tránh khỏi, chúng ta hãy coi nó nhƣ một sự bình thƣờng chứ không phải là một biến cố khiếp đảm, để khi nó đến, chúng ta sẽ có thể đƣơng đấu với nó một cách bình tĩnh, can đảm và tự tin. Bổn Phận và Trách Nhiệm Biết rằng một ngày nào đó, cái chết sẽ cƣớp mạng sống của chúng ta, chúng ta phải bình tĩnh, can đảm và tự tin để làm tròn nhiệm vụ và trách nhiệm với gia đình. Chúng ta không nên chần chừ. Những việc gì có thể làm đƣợc hôm nay, đừng để đến ngày mai. Chúng ta không nên phí phạm thì giờ và nên sống một cách hữu ích. Những bổn phận đối với vợ, chồng, và con cái phải đƣợc thi hành 43

đúng lúc. Ðể tránh gây khó khăn và phức tạp cho gia đình do sự cẩu thả, chúng ta đừng chờ đợi đến lúc cuối cùng mới viết di chúc. Cái chết có thể đến với chúng ta bất cứ lúc nào - nó không chờ đợi ai cả. Chúng ta nên trực diện với cái cùng tột này với can đảm và trầm tĩnh. Ái Dục và Vô Minh Có thể chế ngự đƣợc cái chết không? Câu trả lời là: Có cái chết tồn tại vì có cái sanh. Có hai khâu liên hệ trong chu trình cuộc sống, đƣợc gọi là - Paticca Samuppada (Lý Nhân Duyên). Tổng cộng có tất cả là mƣời hai khâu trong chu trình này, một số trong đó là Klesas hay bất tịnh. Một số nghiệp (kammas) hay hành động đƣa đến vipakas hay kết quả (trong chu trình tái sanh), và cứ tiếp diễn. Sự tiếp diễn không kể siết của sanh tử đƣợc gọi là luân hồi. Nếu chu trình cuộc sống có thể bị ngƣng lại đƣợc, nó chỉ có thể kết liễu ở giai đoạn bất tịnh tức Avijja (Vô Minh) và Tanha (Ái) - Chúng là gốc rễ của vòng sanh cần phải đƣợc tiêu diệt. Cho nên nếu chúng ta cắt Tham ái và Vô minh - sẽ chế ngự đƣợc sanh, vƣợt qua đƣợc luân hồi, và sẽ đạt Niết Bàn. Chúng ta phải cố gắng hiểu rằng mọi việc trong vũ trụ này đều mong manh. Cuộc sống chỉ là ảo giác hay ảo tƣởng. Khi ta phân tách mọi thứ bằng khoa học hay triết lý, không ham muốn vị kỷ, cuối cùng chúng ta không thấy gì cả mà chỉ là hƣ không. Hòa Thượng Tiến Sĩ K. Sri Dhammananda Thích Tâm Quang (Dịch)

44

10. Bốn viên ngọc quý chết người!
Hầu nhƣ ai cũng mê tiền bạc, nhà cao cửa rộng. Đa phần chúng sinh mải lao vào ăn ngon, uống sƣớng cho thỏa thê. Ai ai cũng muốn mình mặc đẹp, mang nhiều đồ trang sức. Ngƣời nào ngƣời nấy muốn công danh, sự nghiệp, muốn mình nổi tiếng và thành trung tâm của vũ trụ. Nhƣng liệu những thứ này có mang lại hạnh phúc thực sự cho mỗi chúng ta! Nhu cầu của con ngƣời thật lớn. Lòng tham nhƣ túi không đáy. Xƣa sao nay vẫn vậy! Hiểu đƣợc nguyện vọng này của loài ngƣời, một ngày nọ có một vị thần hiện ra nhờ ngƣời nông dân thật thà chất phác, quanh năm chỉ biết lo làm ăn và có một gia đình rất hạnh phúc bình yên chuyển tặng cho đức vua 4 viên ngọc quý. Bốn viên ngọc có 4 chức năng kỳ diệu. Viên thứ nhất mang lại cho ngƣời chủ những thức ăn ngon lành, những đồ uống tuyệt hảo. Chỉ cần nói ra mơ ƣớc của mình là lập tức các đồ ăn thức uống xuất hiện. Mà các món này ngon đến độ dù đầu bếp tuyệt nhất thế gian cũng không thể nấu đƣợc. Viên thứ hai mang đến cho chủ nhân của nó quần áo, giày dép, xe cộ, lụa là, gấm vóc, đồ trang sức quý hiếm, đẹp vô cùng. Chỉ cần nghĩ đến món đồ nào là thứ đó xuật hiện ngay lập tức. Kể cả xe máy @ hay son phấn thƣợng hạng, nƣớc hoa Pháp, đồ thời trang Ý, áo da Tây Ban Nha,… Viên thứ cung cấp cho ngƣời sở hữu các loại vũ khí mới, những thiết bị để chinh phục thiên hạ tuyệt vời nhất. Ngựa phi nhanh. Cung tên hảo hạng. Lƣỡi 45

gƣơm bén sắc. Máy bay, tàu lƣợn trên không và dƣới biển. Kể các các thiết bị chiến đấu tối ƣu nhất chƣa từng có bao giờ. Viên thứ 4 mang đến cho ai nắm giữ nó tiền bạc, của cải. Muốn bao nhiêu có bấy nhiêu. Không cần lao động. Không cần đổ mồ hôi. Không cần suy nghĩ. Nhà vua rất bất ngờ và sung sƣớng khi nhận đƣợc 4 viên ngọc quý này. Ngài cũng rất vui vì đức hạnh của ngƣời nông dân nghèo, đặc biệt là sự thật thà. Nhà vua nghĩ, nếu vị thần mà đƣa 4 viên này vào tay 1 ngƣời khác, chắc chắn hắn sẽ thủ mất luôn. Ít nhất cũng gian dối chỉ đƣa cho mình 1-2 viên. Vì có ai biết đƣợc đâu! Suy nghĩ trong giây lát, nhà vua quyết định tặng lại cho ngƣời nông dân chất phác có cuộc sống an lạc này 1 viên. Bác ta đƣợc quyền chọn bất cứ viên nào bác muốn. Bất ngờ trƣớc quyết định của nhà vua, bác nông dân xin phép về bàn với gia đình để xem sẽ nhận viên nào trong 4 viên kể trên. Rời cung vua, bác nông dân thƣ giãn và bình an của chúng ta trở về nhà. Bác triệu tập một cuộc họp cả gia đình lại để bàn xem nên nhận viên nào. Bà vợ lên tiếng đầu tiên. Bà nói rằng việc ăn uống rất quan trọng. Cần phải ăn và ăn ngon. Bao năm nay bà nấu ăn vất cả phục vụ cả nhà, giờ có viên ngọc quý cả nhà cứ thế tha hồ mà ăn. Ăn và chơi. Chơi rồi lại ăn. Mà ăn ngon thì còn gì sƣớng hơn trên thế gian này! Bà tƣởng tƣợng ra cả nhà từ nay sẽ có cơ hội ăn ngon ngủ kỹ và hƣởng thụ cả đời. Lũ con gái thì không chịu. Chúng nhao nhao phản đối. Các cô gái cho rằng ăn không bằng diện. Họ cần đồ trang sức, xe xịn, quần áo mốt mới, giày dép chảnh mà lũ bạn không ai có. Chúng cho rằng nếu có viên ngọc này trong tay, mỗi ngày mỗi cô sẽ dùng 1 bộ đồ mới, đi 1 con xe lạ, trang điểm đẹp với các loại mỹ phẩm chƣa từng có và đồ đeo trên ngƣời - từ cổ đến chân - phải là rất quý, hiếm và chƣa sản xuất ở thế gian này. Đám con trai lại không chịu bởi chúng cần thể hiện quyền lực, uy thế. Đối với chúng uy quyền rất quan trọng. Chúng muốn bạn bè nể nang, thế gian ngƣỡng 46

mộ. Chúng muốn chinh chiến và chiếm lĩnh. Chúng muốn làm chủ thiên hạ và ai ai cũng biết đến chúng, bái lậy chúng. Cậu út thì muốn của cải. Thấy đám bạn con nhà giàu lắm tiền, tiêu thoải mái mà cậu thèm. Bao năm nay cậu toàn than vãn rằng hạnh phúc để làm gì, bình an để làm chi khi không có tiền xài thỏa thê. Cậu là út nhƣng vẫn phải làm việc vất vả, hệt nhƣ các anh chị và bố mẹ. Mà tiền thì có ít. Cậu cần của cải, tiền bạc. Và thế là cả nhà cãi nhau. Ai cũng tranh đua chứng minh rằng mình là đúng, rằng bác nông dân phúc hậu, an lạc của chúng ta phải chọn viên ngọc theo ý của họ. Bốn phe không bên nào nhƣờng nhịn bên nào. Chiến tranh bắt đầu xảy ra. Bắt đầu từ sự đe dọa của lũ con trai. Chúng nói nếu bố không chọn viên thứ 3, chúng sẽ tự sát, tự kết liệu đời mình. Và dĩ nhiên chúng không để cho ai yên. Ngƣời vợ tuyên bố, nếu không lấy viên số 1 sẽ ly dị. Ít nhất, nếu không đồng ý ngay, từ ngay lúc này sẽ ly thân. Đám con gái thì dọa sẽ bỏ nhà đi bụi đời, quyết phá đời mình. Cậu út thì nói nếu bố không nhận viên số 4 sẽ mua bom về cho nổ tung cả nhà, để cả nhà cùng chết. Thà tất cả cùng chết còn hơn không có trong tay viên thứ 4. Đúng hẹn, đến ngày thứ 10, bác nông dân tìm đến cung vua. Nhà vua vui mừng mời trà và tiếp chuyện bác, đồng thời sai mang 4 viên ngọc quý ra để bác nông dân lựa chọn theo ý muốn. Tuy nhiên bác nông dân an lạc và hạnh phúc của chúng ta xin phép nhà vua không nhận viên nào. Nhà vua quá đỗi ngạc nhiên! Bác nông dân nhẹ nhàng và chậm rãi giải thích rằng trên đời này không có gì quý bằng sự bình an, bằng hạnh phúc. Bao năm nay nhà bác nghèo thật nhƣng rất hạnh phúc. Vợ chồng con cái yêu thƣơng nhau. Có gì ăn đó. Ai cũng chăm chỉ làm lụng. Nụ cƣời và niềm vui luôn thƣờng trực trong mỗi thành viên gia đình bác. Cả nhà bác luôn sống trong chánh niệm. Đã vậy lại thƣờng xuyên giúp ngƣời, cứu kẻ khó, chăm sóc láng giềng bị bệnh. Bác cho biết sau khi biết tin đƣợc nhà vua ban phƣớc lành – nhận 1 trong 4 viên ngọc quý, suốt 10 ngày qua 47

nhà bác trở thành nơi bất hạnh, không còn chút bình an. Bác nhƣ thấy cuộc sống vốn hạnh phúc và an lạc đã bị thay bằng địa ngục trần gian cả chục ngày! Bốn viên ngọc tƣởng quý mà thành họa. Chƣa có ngọc trong tay, chỉ mới bàn xem nhận viên nào mà đã tạo ra bao vấn đề phức tạp, bao tranh cãi, thậm chí cả đe dọa đến tính mạng không chỉ của một ngƣời. Ăn ngon để làm gì! Mặc đẹp để làm gì! Công danh, địa vị, thế lực mà làm gì! Tiền nhiều, của lắm để làm gì! Khi bình an, 2 chữ bình an không có. Chúng sinh lao vào kiếm 4 viên ngọc. Nhiều kẻ bất chấp để có ngọc. Mà có khi cũng chẳng có. Họ đánh mất cả lƣơng tâm. Làm bao điều bậy bạ, phi đạo đức. Để rồi cuối đời nghĩ lại mới kịp ân hận. Đấy là còn may nếu trƣớc khi chết biết ăn năn hối lỗi, sám hối và quay về bờ. Nếu không ôm theo cả cái nghiệp ác theo mình bao nhiêu kiếp nữa. Ngƣời nông dân nghèo không cần 4 viên ngọc quý kia. Bởi bác đã có sẵn viên kim cƣơng trong mình – trí tuệ. Chính trí tuệ soi sáng đƣờng cho bác, làm cho bác hạnh phúc và có an lạc. Còn bạn, bạn muốn gì? Nguyễn Mạnh Hùng

48

11. Nhận diện cái chết và hạnh phúc
Khi đƣợc sinh ra, có mặt trên thế gian này là chúng ta bị “lôi kéo” và “bắt buộc” một hành trình tìm kiếm, vậy ta tìm kiếm điều gì? Ta tìm kiếm kiến thức, tiền tài, vật chất, hạnh phúc… Chúng ta nghĩ rằng những điều đó sẽ đem lại cho ta sự lợi ích, bởi chúng ta nghĩ ai mà không cần vật chất, chỗ ở, trang phục? Vâng! Nhƣ thế là chúng ta đang thƣơng bản thân mình và phục vụ nó vì trách nhiệm cho kiếp sống này, thế nhƣng mỗi ngày chúng ta luôn bận bịu vì điều đó! Chúng ta cứ nghĩ những thứ đó phục vụ mình. Nhƣng thực tế thì sao? Chúng ta đang làm chủ hay làm nô lệ vật chất và làm nô lệ cho xác thân này? Chúng ta có địa vị, chúng ta kiếm thật nhiều tiền, nhƣng để đạt đƣợc điều đó chúng ta phải bỏ ra thời gian, sức khỏe, có khi là gần cả cuộc đời, lúc đó có nhiều tiền nhƣng chúng ta phải đối mặt với sự già nua, bệnh tật và cái chết… Chúng ta thƣờng quan niệm rằng có nhiều tiền để có tất cả, vậy khi đó chúng ta bệnh thì chỉ phục vụ cho việc đến bệnh viện, thế chúng ta có thật sự có tất cả nhƣ ý niệm ban đầu của việc kiếm tiền, và chúng ta có thật hạnh phúc khi có nhiều tiền trong hoàn cảnh nhƣ thế? Suy nghiệm, để rồi tôi ngộ ra rằng: ta hãy đừng sống cho xác thân này mà hãy sống cho tâm và sống cho đời sống tâm linh của mình, bởi nếu chúng ta sống chỉ nghĩ và phục vụ cho xác thân này thì chúng ta sẽ đánh mất và lãng quên đi nội tâm - vốn là cái sẽ theo ta trong đời này, đời khác! Hãy ngồi xuống và nghĩ một chút về sanh tử luân hồi, có thể ta chƣa đi sâu vào nhƣng ta cũng nhận định và thấy đƣợc hai chữ “luân hồi” tức là chúng ta lại 49

sinh ra nữa, lại loanh quanh, lại mệt mỏi và tìm kiếm vật chất cho cái xác thân này để rồi lại ra đi… Vậy đó có phải là hạnh phúc không? Tạm gọi và đặt vấn đề: hạnh phúc trong tâm ta và hạnh phúc ngoại cảnh thì đâu là điều cốt yếu? Hãy suy nghiệm một chút để ta nhìn rõ và để ta hiểu cái tâm mình hơn. Trải qua những khổ đau chính là chất liệu giúp mình nhận diện con đƣờng sáng đẹp để đi. Ngƣời gây cho mình khổ đau ấy vì thế trở thành thiện tri thức giúp mình đi đến bến bờ hạnh phúc, an nhiên... Trong một kiếp ngƣời ta có vật chất ta cũng không thể mang theo lúc chết, không có gì là của mình ngoài nghiệp, điều lành, phƣớc báu mình đã tạo. Hãy suy niệm về sự chết, đừng né tránh nó, hãy nhìn vào nó vì đến một lúc nào đó chúng ta cũng sẽ đối mặt với cái chết, khi đã quán xét thƣờng xuyên thì chúng ta sẽ thấy đƣợc cái chết không đáng sợ. Khi nhìn thấy đƣợc cái chết rồi sẽ cận kề ta, ngay trong hơi thở này thì ta sẽ không còn muốn nuông chiều hay làm nô lệ cho cái xác thân này nữa. Mỗi ngày chúng ta hãy dành cho mình thời gian để quán niệm về hơi thở để biết mình đang trong hiện tại cùng chánh niệm về việc mình đang làm và biết mình đang làm gì… Cứ nhƣ thế rồi ta sẽ thấy nhẹ nhàng hơn rất nhiều và rồi ta cũng tìm về đƣợc với sự thanh thản và yên lặng cùng tâm mình! Đó chính là hạnh phúc thật sự của tôi, bạn ạ. Thiện Hạnh

50

12. Bước qua nỗi sợ
Có những ngƣời lớn tuổi nhƣng họ vẫn có rất nhiều nỗi sợ. Có những ngƣời giàu có, nắm nhiều quyền hành nhƣng họ vẫn có những nỗi sợ hãi…

Có những nỗi sợ ám ảnh người ta dữ dội Nhắc điều đó để chúng ta nhớ rằng: nỗi sợ có thể đến với bất kỳ ai, không phải nỗi sợ chỉ dành riêng cho trẻ con và những ngƣời nghèo khó, bệnh tật, không có một chút quyền hành nào. Nỗi sợ thƣờng xuất hiện khi bạn không chấp nhận một sự thật nào đó hoặc khi bạn phạm phải những nguyên tắc sống nào đó đã đƣợc mặc định (thƣờng đi kèm với những hình phạt nếu làm trái, nếu sơ sẩy vi phạm). Ngƣời già sẽ rất sợ cái chết nếu họ chƣa bao giờ tƣ duy về cái chết. Tôi dùng từ tƣ duy vì cái chết cũng có một triết lý, mà nếu ai hiểu về triết lý ấy thật đúng, thật trúng thì tự nhiên khỏe re, nhẹ nhàng. Kiểu nhƣ “cát bụi sẽ trở về cát bụi”, “khi sinh ra ta chẳng mang gì đến, lúc chết cũng chẳng mang gì đi” hoặc “chết là điều hiển nhiên của cuộc sống bởi ngƣời ta sinh ra là để… chết cơ mà”… Chết, có nghĩa là dừng lại hơi thở vào-ra. Thân này phân hoại theo quy luật hợp-tan, sinh-trụ-dị-diệt. Nếu chúng ta cƣỡng lại điều đó thì sẽ khổ đau. Có những ngƣời nghĩ rằng chết không mang theo gì hết, thế là tiếc và liền khổ.

51

Nỗi sợ những ngƣời khác lãng quên mình khi mình chết đi cũng làm ngƣời ta sống không còn ý nghĩa. Khi mình đi ngƣợc lại những quy tắc ứng xử nào đó cũng làm mình bất an. Vì những nguyên tắc ứng xử khi đặt ra thƣờng sẽ có chế tài đi kèm. Nếu bạn đi ngƣợc chiều thì sẽ bị phạt. Nếu bạn sống không lƣơng thiện thì sẽ bị xa lánh. Nếu bạn có dã tâm thì bạn sẽ cô đơn (vì ai dám ở gần ngƣời có dã tâm, hung dữ?)… Nó là kết quả tất nhiên. Thế nhƣng vì mình không nhận diện đƣợc nguyên nhân và bản chất của những điều đó nên mình sợ. Sợ mất mát, sợ bị phạt, sợ bị chấm hết một mối quan hệ nhƣng lại không chịu chữa trị cái gốc là sửa đổi cách sống cho phù hợp, cho đúng với nguyên tắc làm công dân, làm ngƣời. Kỷ cƣơng, tình thƣơng và trách nhiệm. Đó là một câu khẩu hiệu mà đôi khi mình chỉ biết đọc suông chứ chƣa nghiệm hết nghĩa lý trong đó. Hoặc có nhiều khi hiểu nhƣng khi đƣa vào ứng dụng thì lại có gia giảm liều lƣợng của từng vế (tùy ngƣời). Có những ngƣời kỷ cƣơng đến mức cứng nhắc, đến mức thiếu tình thƣơng và trách nhiệm. Kiểu nhƣ đem luật ra để áp lên ngƣời ta mà thiếu lắng nghe sâu xa nguyên nhân phạm tội. Có những ngƣời gây ra hành vi trộm cƣớp vì tham lam, nhƣng cũng có ngƣời bị ép buộc hoặc vì hoàn cảnh cha mẹ bệnh không tiền chữa trị… Nếu lắng nghe để hiểu rõ nội tình thì mình sẽ có cách ứng xử phù hợp hơn, bằng tình thƣơng và trách nhiệm của ngƣời đƣa ra phán quyết, thực thi pháp luật. Trong cuộc sống, không phải bao giờ mình cũng đủ bản lĩnh để vƣợt qua những nỗi sợ và đi đúng trên con đƣờng mình đã chọn. Do đó, khi phát hiện mình đi “trật đƣờng rầy” có thể mình sẽ sợ ngƣời khác biết mà cƣời chê, có thể mình sẽ sợ mình sẽ bị những hố đen vây bũa mà đánh mất bản thân, trƣợt dài… Nhƣng, dù là nỗi sợ nào thì mình phải nhận diện là mình sai, để định vị lại bản thân, “lái” mình trở về đúng con đƣờng mà mình đã nguyện đi. Nghĩ đến đây mới thấy giá trị của lời nguyện. Nó giúp mình đi đúng hƣớng và kịp quay về khi “trật đƣờng rầy”. 52

Chúng ta có thể dạo chơi ở đâu đó. Có thể trong một lần dạo chơi nào đó ta quá say mê với những cảnh đẹp, con ngƣời và mải miết đi hoang… Nhƣng nếu có lời nguyện thì ta sẽ biết đƣờng quay về, biết dừng lại đúng lúc. Có đôi khi ta bắt gặp những con ngƣời rất trẻ nhƣng có khả năng là chỗ dựa cho số đông con ngƣời. Vì sao lại có ngƣời nhƣ thế? Vì họ là ngƣời rất vững chải, có khả năng chế tác đƣợc bình yên. Đừng tƣởng họ chỉ chế tác trong một đời này (khoảng mấy chục năm) mà thực tế họ đã nhiều đời ngồi im, định tĩnh rồi. Nhƣ đức Karmapa đời thứ 17 (sinh năm 1983) chẳng hạn. Ngài là ngƣời đƣợc dự báo sẽ thay thế đức Dalai Lama 14 trong tƣơng lai. Do vậy, khi một ngƣời có năng lực định tĩnh, có sự chế tác năng lƣợng từ bi-trí tuệ, nhìn thấu suốt mọi thứ của thế gian và thong dong thì họ sẽ có khả năng lãnh đạo tinh thần của chính mình, không để cho sợ hãi, khổ đau, tham muốn… trấn áp. Và họ cũng có thể là chỗ dựa tinh thần vững chãi cho nhiều ngƣời! Lưu Đình Long

53

13. Ý nghĩa Phật đản
Chúng ta kỷ niệm đại lễ Phật Đản, tức là chúng ta làm lễ kỷ niệm ngày ra đời của Đấng Thích Ca Mâu Ni, Đức từ phụ của chúng ta. Ngày ra đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong cõi Diêm Phù Đề này có những ý nghĩa trọng đại và sâu xa nhƣ sau:

Ý nghĩa thứ nhất: Đức Phật ra đời là để khơi mở tuệ giác cho hết thảy chúng sinh: - Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, tất cả chúng sinh đều có trí tuệ, nhƣng trí tuệ đã bị chôn vùi bởi hàng hàng, lớp lớp vô minh. Do đó, sự xuất hiện Đức Phật trong cõi đời này là để khơi mở trí tuệ cho chúng ta, cho hết thảy chúng sinh, phá trừ tất cả màn hắc ám vô minh đó, để cho hết thảy chúng ta nhận ra đƣợc Phật tính ở nơi chúng ta, nhận ra đƣợc trí tuệ ở nơi mỗi chúng ta. Tất cả chúng ta đều là dễ thƣơng, hết thảy chúng sinh đều là dễ thƣơng. Nhƣng mà, chúng ta có thể làm cho chúng ta xấu đi, mọi ngƣời có thể làm cho chính họ xấu đi do tâm ích kỷ, tâm hờn 54

giận. Tâm ích kỷ, tâm hờn giận làm cho chính chúng ta xấu đi, làm cho chúng ta không còn dễ thƣơng nữa. Tâm ích kỷ, tâm hờn giận làm cho hết thảy chúng sinh không còn là chúng sinh dễ thƣơng nữa. Do đó, sự ra đời của Đức Phật là khơi dậy tính dễ thƣơng cho chúng ta, khơi dậy tính dễ thƣơng cho tất cả chúng sanh, mà trong thuật ngữ Phật giáo, gọi sự ra đời của Đức Phật với chức năng là khai Phật tri kiến. Ý nghĩa thứ hai: Đức Phật ra đời là để chỉ bày cho chúng ta một con đƣờng hạnh phúc. Đức Phật ra đời là chỉ bày cho chúng ta một con đƣờng an lạc và nhận diện đƣợc đâu là con đƣờng hạnh phúc, đâu là con đƣờng khổ đau, đâu là giá trị cao quý, đâu là không có giá trị ở trong cuộc sống của chúng ta. Đức Phật đã chỉ cho chúng ta thấy rằng, một đời sống có thể trở thành cao quý khi lời nói, hành động, việc làm của họ đƣợc phát xuất từ một tâm hồn cao quý. Đức Phật đã chỉ bày cho chúng ta cũng nhƣ tất cả chúng sinh thấy rõ rằng, lời nói tầm thƣờng, hành động tầm thƣờng, việc làm tầm thƣờng có gốc rễ từ nơi một tâm hồn tầm thƣờng. Tâm hồn tầm thƣờng là tâm hồn gì? Là tâm hồn ích kỷ, đầy dẫy tham lam, đầy dẫy sân si, đầy dẫy cố chấp, đầy dẫy kiêu ngạo. Lời nói nào phát xuất từ tâm hồn kiêu ngạo, từ tâm hồn ích kỷ, hẹp hòi... lẽ đƣơng nhiên lời nói đó có khả năng tàn hoại hết thảy hạnh phúc, an lạc của chúng ta, có khả năng tàn phá hết đời sống cao quý của chúng ta. Muốn bảo toàn hạnh phúc, muốn bảo toàn an lạc, Đức Phật đã chỉ bày cho chúng ta rất rõ là phải nuôi dƣỡng tâm hồn từ, bi, hỷ, xả. Chúng ta muốn hạnh phúc, an lạc mà không biết nuôi dƣỡng tâm hồn từ, bi, hỷ, xả thì hạnh phúc, an lạc không thể nào có đƣợc. Chúng ta muốn sống một đời sống cao thƣợng mà không biết nuôi dƣỡng và phát triển tâm hồn từ, bi, hỷ, xả thì chúng ta không thể nào có đời sống cao thƣợng đƣợc. Điều đó, Đức Phật đã chỉ bày cho chúng ta cách đây hơn hai mƣơi lăm thế kỷ. Và hai mƣơi lăm thế kỷ nhƣ vậy, những ngƣời nghe lời Đức Phật dạy, họ hành trì, họ thực tập và chính những ngƣời đó đã có hạnh phúc, an lạc, không những hạnh phúc, an lạc ở đời sau mà hạnh phúc, an lạc ngay trong đời này. Bởi vậy, trong Kinh nói rằng, Đức Phật ra đời là để “Thị Phật Tri Kiến” cho hết thảy 55

chúng sinh. Thị Phật Tri Kiến là chỉ rõ bản chất giác ngộ cho hết thảy chúng sinh. Khi mà chúng sinh nhận ra, thấy rõ bản chất giác ngộ đó rồi, thì bắt đầu xây dựng đời sống hạnh phúc, an lạc cho mình và cho hết thảy mọi ngƣời. Ý nghĩa thứ ba: Đức Phật ra đời khiến cho chúng sinh, dạy cho chúng sinh thành tựu đƣợc giác ngộ ngay ở trong đời sống của chính mình. Giác ngộ là giác ngộ ngay trong đời sống của chính mình, ngoài đời sống của chính mình ra không có đời sống giác ngộ nào để cho chúng ta đi tìm kiếm. Chúng ta có thể tìm kiếm là tìm kiếm giác ngộ ngay ở thân và tâm của chúng ta. Chúng ta có thể đi tìm giác ngộ ngay trong đời sống của chúng ta, chúng ta không thể vứt bỏ cách đi, cách đứng, cách nằm, cách ngồi, cách tiếp xúc giao tiếp hằng ngày của chúng ta mà có sự giác ngộ. Do đó, Đức Phật đã chỉ rõ cho chúng ta rằng, đời sống của chúng ta, dù một kẻ tầm thƣờng đến mức nào đi nữa cũng có khả năng giác ngộ. Một ngƣời đau khổ tột cùng cũng có thể vƣơn mình đi đến đời sống hạnh phúc, an lạc. Dù một kẻ rất tầm thƣờng cũng có thể vƣơn mình đi đến đời sống thánh thiện, cao thƣợng. Điều đó, Đức Phật đã dạy cho chúng ta, cho hết thảy chúng sinh hơn hai mƣơi lăm thế kỷ. Trong lịch sử, cũng nhƣ trong đời sống thực tế, chúng ta đã thấy bao nhiêu kẻ trong đời sống tầm thƣờng, họ không gặp Phật pháp, họ không nghe đƣợc lời giáo huấn cao quý của những Bậc phạm hạnh, nhƣng khi họ gặp đƣợc thì họ có cơ duyên trở thành ngƣời cao quý. Bao nhiêu kẻ bất hiếu với cha, bất hiếu với mẹ, nhƣng khi gặp thầy hiền, bạn tốt, sống trong một khung cảnh dễ thƣơng, họ trở thành một con ngƣời hiếu kính, một con ngƣời thuần thiện. Điều đó đã chứng tỏ rằng, chúng ta có thể giác ngộ đƣợc, nhận ra đƣợc cái tính chất cao thƣợng của chúng ta ngay trong đời sống của chúng ta. Ngày xƣa, khi Vua A Dục chƣa gặp Phật pháp là một vị Vua hết sức tàn ác, tàn ác đến nỗi giết cha, giết chín mƣơi chín ngƣời anh để đoạt ngôi. Thế mà khi A Dục gặp đƣợc một vị Thánh tăng giáo hóa, thì bao nhiêu điều xấu ác của ông đã trở thành con ngƣời hoàn thiện. Nói nhƣ vậy để cho tất cả chúng ta thấy rằng, cái ác, cái xấu ở giữa đời không đâu là không có và không lúc nào là không có. Vậy, chúng ta không sợ rằng chúng ta xấu, chúng ta không sợ rằng chúng ta ác, mà chỉ 56

sợ rằng, chúng ta không nhận ra điều ác để tránh, không nhận ra đƣợc điều xấu để chúng ta từ bỏ. Chúng ta chỉ sợ rằng, chúng ta bị vô minh ám chƣớng, nhận thức sai lầm, để rồi bị đầu độc mà không nhận ra đƣợc giá trị cao quý trong đời sống của chúng ta, để chúng ta vƣơn mình đi tới cái cao quý, tốt đẹp. Ngày xƣa, có một vị Tổ dạy rằng: “Bất úy tham sân khởi Duy khủng tự giác trì” Nghĩa là: “Không sợ hãi tham sân khởi dậy, Mà chỉ sợ mình giác ngộ chậm”. Nếu mình hiểu đƣợc đạo, giác ngộ đƣợc đạo, thì bao nhiêu xấu xa, bao nhiêu cái tầm thƣờng ở trong đời sống cuả mình cũng đƣợc chuyển hóa thành cái cao thƣợng, có ý nghĩa. Bởi vậy, mà trong Kinh diễn tả rằng, Đức Phật ra đời với ý nghĩa là “Ngộ Phật Tri Kiến” cho hết thảy chúng sinh, nghĩa là làm cho hết thảy chúng sinh giác ngộ đƣợc những gì mà Đức Phật đã giác ngộ, hiểu rõ bản thân mình đúng nhƣ những gì mà tuệ giác đã nhận ra, chứ không phải hiểu bản thân mình bằng vô minh ái nghiệp. Ý nghĩa thứ tư: Đức Phật ra đời dạy dỗ, giáo hóa, dìu dắt, hƣớng dẫn khiến cho chúng ta và hết thảy chúng sinh đều sống cuộc đời nhƣ Đức Phật đã sống. Nghĩa là, Đức Phật đã sống nhƣ thế nào, Đức Phật biết nhƣ thế nào thì Ngài sống nhƣ thế đó, Ngài nói nhƣ thế nào, thì Ngài làm nhƣ thế đó. Ngài làm nhƣ thế nào, thì Ngài nói nhƣ thế đó. Ngài biết rằng tham là nguy hiểm, tham là mất nhân cách, tham là làm cho mình nghèo đi, Ngài biết nhƣ vậy cho nên ngài không tham. Còn ai thấy tham làm cho mình giàu , làm cho mình hạnh phúc thì ngƣời đó cứ tham. Nhƣng càng tham lam thì lại càng đau khổ, càng tham thì lại càng mất nhân cách. Đức Phật nói, càng tham thì lại càng làm cho mình tầm thƣờng, càng tham thì làm cho mình càng nhỏ nhoi; càng tham thì lại càng làm cho cha con xa nhau, càng tham thì lại càng làm cho vợ chồng xa nhau, anh em xa nhau, bạn bè xa nhau. 57

Đức Phật đã nói điều đó hơn hai mƣơi lăm thế kỷ và những kẻ trí ở trong đời, họ đã đón nhận nó và đã sống. Những ngƣời nào sống trong đời sống với tâm ly tham thì ngƣời đó đầy đủ nhân cách, ngƣời đó thật sự hạnh phúc. Ngƣời đó sống trong gia đình họ hạnh phúc, ngƣời đó đi giữa họ hàng họ hạnh phúc, họ đi ra giữa xã hội họ hạnh phúc, họ đem đƣợc nhiều lợi ích cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội và ngƣời đó không những hạnh phúc trong đời này , mà đời sau họ cũng hạnh phúc. Bởi vậy, Nhƣ Lai nói những gì Nhƣ Lai biết, Nhƣ lai đã làm, Nhƣ lai đã chứng nghiệm, Nhƣ Lai đã thấy rõ, Nhƣ Lai đã sống. Nhƣ vậy, Đức Phật ra đời với ý nghĩa thứ tƣ là những gì Ngài nói thì Ngài đã làm và những gì Ngài đã làm Ngài mới nói. Còn tất cả chúng ta chƣa làm mà đã nói, chƣa làm đƣợc việc nào tốt đẹp cả mà khoa trƣơng, lắm lời về sự tốt đẹp. Tất cả chúng ta chỉ nói lên những lời tốt đẹp, mà không làm những điều tốt đẹp. Do đó, cái xấu, cái khổ, cái thất vọng vẫn luôn luôn theo đuổi chúng ta nhƣ bóng với hình. Với ý nghĩa thứ tƣ này, trong Kinh diễn tả mục đích của Phật ra đời là “Nhập Phật Tri Kiến” cho hết thảy chúng sinh. Nghĩa là, Đức Phật bƣớc đi là bƣớc đi bằng tuệ giác. Ngài đứng là cách đứng của tuệ giác. Ngài nằm là cách nằm của tuệ giác. Ngài ngồi là cách ngồi của tuệ giác. Ngài nhìn là cách nhìn của tuệ giác. Ngài nghe là cách nghe của tuệ giác. Ngài ngửi là cách ngửi của tuệ giác. Ngài thở là cách thở của tuệ giác. Bởi vì, tất cả những cái đi, đứng, nằm, ngồi, nói, cƣời, tiếp xúc bằng năng lƣợng tuệ giác đó, nên trong đời sống của Đức Phật không còn mảy may sai lầm. Còn chúng ta đi, đứng, nằm, ngồi bằng vọng niệm. Chúng ta nói, nhìn, nghe, ngửi, ăn bằng điên đảo tƣởng. Chính cái điên đảo tƣởng đó thúc đẩy chúng ta đi vào con đƣờng khổ đau, con đƣờng bất ổn. Bởi vậy, suốt hơn hai mƣơi lăm thế kỷ, bao nhiêu bậc Thánh trí ở trong đời sau khi nghe những lời Phật dạy, đem những lời Phật dạy đó vào trong đời sống của mình để thực tập, để sống và bao nhiêu bậc Thánh trí ở trong đời đã có hạnh phúc, đã có an lạc. Vua Trần Nhân Tông là một vị Vua anh minh của Việt Nam, đã cảm nhận đƣợc Phật pháp rất sâu xa. Cho nên, Vua đã phát biểu trƣớc triều đình của nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ nhƣ thế này: “Cảm Đức từ bi muôn kiếp nguyện cho 58

thân cận!” Sau khi Vua Trần Nhân Tông học Phật, tu Phật, thấy đƣợc cái cao quý của Phật, muốn mình trở thành nhƣ một vị Phật. Do đó, Vua đã chọn cho mình một Pháp hiệu là: Điều Ngự Giác Hoàng. Giác Hoàng tức là nhà Vua giác ngộ. Điều Ngự là một trong những phẩm tính của Phật. Phẩm tính đó có khả năng thuần hóa hết thảy chúng sinh. Vua Trần Nhân Tông chọn cho mình phẩm hiệu là Điều Ngự Giác hoàng. Nghĩa là, nhà Vua giác ngộ thuần hóa nhân dân Việt nam trong tinh thần Phật giáo, trong tinh thần của đạo lý giác ngộ. Tại sao Vua Trần Nhân Tông phải chọn Phật giáo làm một nền tảng giáo dục dân chúng sống đúng tinh thần Phật giáo. Vì, chỉ có tinh thần Phật giáo là tinh thần bao dung, tinh thần hỷ xả. Chỉ có xây dựng theo tinh thần Phật giáo mới làm cho gia đình bình ổn, làm cho tâm hồn của mỗi con ngƣời bình ổn. Từ tâm hồn của mỗi con ngƣời đƣợc bình ổn sẽ đƣa đến gia đình bình ổn, và mỗi gia đình bình ổn sẽ đƣa đến họ hàng bình ổn. Mỗi gia đình bình ổn sẽ đƣa đến xóm làng bình ổn. Xóm làng bình ổn sẽ đƣa đến từng phƣờng, xã bình ổn. Từng phƣờng xã bình ổn sẽ đƣa đến quận huyện bình ổn. Nhiều quận, huyện bình ổn sẽ đƣa đến phố thị bình ổn, tỉnh thị bình ổn. Nhiều tỉnh thị bình ổn sẽ đƣa đến quốc gia bình ổn. Nhiều quốc gia bình ổn sẽ đƣa đến thế giới bình ổn. Mỗi thế giới bình ổn sẽ đƣa đến toàn thể vũ trụ sống trong một quy luật trật tự, hạnh phúc. Nhƣ vậy, một trật tự lớn lao có thể bình ổn đƣợc khi tâm của mỗi chúng sinh bình ổn, nghĩa là phải khơi mở cho đƣợc Phật tính nơi họ. Mỗi ngƣời phải biết trở về sống với cái dễ thƣơng nơi mình, cái dễ thƣơng nơi mình chính là Phật tính, cái quý giá nhất nơi mình chính là Phật tính. Chúng ta trở về lại với cái cao đẹp nhất nơi chúng ta là Phật tính. Phật tính nằm ở đâu? Phật tính nằm trong tâm hồn của chúng ta. Chúng ta thấy rằng, Đức Phật ra đời để khơi mở, chỉ cho chúng ta rằng trong tâm chúng ta có Phật tính. Ngài chỉ trong tâm quý vị có Phật tính, quý vị đã thấy chƣa? Ai thấy rồi thì ngộ, ai chƣa thấy thì mê. Quý vị thấy trong tâm quý vị có Phật tính thì quý vị ngộ, quý vị sẽ đi trên con đƣờng sáng. Quý vị không thấy trong tâm quý vị có Phật tính thì quý vị mê. Mê thì quý vị đi vào con đƣờng tối tăm, mù mịt và dù có hai mắt mà vẫn tối thui, có hai chân mà vẫn què, có hai tay mà vẫn không nắm 59

đƣợc gì, có mũi mà không ngửi đƣợc, có tai mà vẫn không nghe đƣợc. Nhƣng, nếu ta thấy trong tâm ta có Phật tính, ngộ đƣợc Phật tính đó thì ta có cơ hội đi lên, có cơ hội đi tới với hạnh phúc, an lạc, với giải thoát, với chân trời mở rộng. Ý nghĩa thứ năm: Ngộ rồi chƣa đủ, phải thể nhập với Phật tính đó và biểu hiện Phật tính đó trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Nhƣ vậy ngộ rồi thì phải nhập, mà nhập rồi thì phải xuất, nhập mà không xuất thì nghĩa nhập đó không thành. Bởi vì, nhập mà không xuất thì bí, cho nên nhập là phải xuất. Trong vô lƣợng kiếp về trƣớc, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng hành Bồ Tát đạo. Từ nơi Đức Phật Oai Âm Vƣơng cách đây hàng tỉ tỉ kiếp, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng học với Đức Phật Oai Âm Vƣơng. Đức Phật Oai Âm Vƣơng đã từng khai, thị, ngộ, nhập, tri, kiến cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Và sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập đƣợc Phật tri kiến rồi, Ngài bắt đầu xuất ở nơi thế giới Ta Bà này. Xuất ở nơi thế giới Ta Bà này, Ngài vui với cái vui của chúng ta, buồn với cái buồn của chúng ta, Ngài nằm gai nếm mật với chúng ta. Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện trong mƣời phƣơng thế giới, xuất hiện trong cõi Ta Bà này là Ngài bắt đầu đi con đƣờng của Thánh đạo, con đƣờng Bồ Tát để đƣa mình và hết thảy chúng sinh đi về với con đƣờng giác ngộ. Tiền thân của Phật Thích Ca Mâu Ni là ai? Tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà trong Kinh Pháp Hoa đã ghi lại chính là Bồ Tát Thƣờng Bất Khinh. Bồ tát Thƣờng Bất Khinh là một vị Bồ Tát không dám khinh ai cả và là một vị Bồ tát chuyên thực hành hạnh không dám khinh ai cả. Vì sao bồ Tát Thƣờng Bất Khinh là tiền thân của Phật Thích Ca Mâu Ni và Ngài không dám khinh ai cả? Bởi vì, Ngài thấy rõ chúng sinh dù tầm thƣờng đến mức nào đi nữa, họ cũng có cái cao quý của họ. Sở dĩ họ tầm thƣờng là vì họ không gặp đƣợc thầy, không gặp đƣợc bạn, không gặp đƣợc ngƣời cha, ngƣời mẹ, ngƣời anh, ngƣời chị dễ thƣơng. Do đó, cái tầm thƣờng mới lem ố ra trong đời sống của họ. Giá nhƣ những chúng sinh tầm thƣờng đó mà gặp đƣợc thầy hiền, bạn tốt, gặp ngƣời cha dễ thƣơng, ngƣời mẹ dễ thƣơng, ngƣời anh, ngƣời chị dễ thƣơng, thì nhất định sớm muộn gì họ cũng dễ thƣơng thôi. Chúng sinh, tầm thƣờng nhƣ vậy là vì họ sinh ra trong xã hội 60

gặp vị vua, quan không dễ thƣơng, cho nên, lâu ngày cái không dễ thƣơng của ông vua, ông quan làm lấm lem họ. Nếu họ có phƣớc gặp đƣợc vị vua dễ thƣơng, vị quan dễ thƣơng, vị minh quân dễ thƣơng, vị minh chúa... thì ngƣời dân đó lâu ngày cũng trở thành hiền thiện, quý báu. Bồ tát Thƣờng Bất Khinh thấy rõ nhƣ thế và yêu đời nhƣ thế. Cho nên, Bồ tát Thƣờng Bất Khinh thấy một ngƣời tầm thƣờng, Ngài cũng không thất vọng. Ngài thấy một ngƣời tầm thƣờng Ngài cũng đứng ở xa kính lễ và Ngài nói rằng: “ Tôi không dám khinh các Ngƣời, tôi không dám khinh các Ngài, các Ngài sẽ đi trên con đƣờng Thánh đạo, các Ngài sẽ đi trên con đƣờng Bồ Tát đạo, các Ngài tƣơng lai sẽ làm Phật”. Tôi không dám khinh các Ngài, lời nói cao đẹp đó dù bị đôi đá, dù bị nguyền rủa... Bồ Tát Thƣờng Bất Khinh vẫn không hề nổi cơn giận dữ, vẫn không hề trễ nải nói lên những lời tốt đẹp đó. Quý vị có biết, Bồ Tát Thƣờng Bất Khinh ở trong Kinh Pháp Hoa là ai không? Là tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài thể nhập đƣợc Phật tính rồi thì bây giờ Ngài phải xuất Phật tính ra, phải thể hiện Phật tính ra cho mọi ngƣời. Mà thể hiện Phật tính đó là tính không giận dữ. Đứng trƣớc một nghịch cảnh, mình đem lời chúc tụng cho ngƣời, thế mà ngƣời không nhận lại còn thóa mạ, còn vác đá ném mình nữa, nhƣng Ngài vẫn không giận dữ. Ngài vẫn thƣơng ngƣời vác đá ném mình một cách chân tình: “ Tôi không dám khinh Ngƣời đâu, Ngƣời chƣa biết thì vác đá ném tôi nhƣ vậy đó, nhƣng mai mốt Ngƣời biết rồi, thì Ngƣời hết ném tôi thôi. Tôi không dám khinh quý vị đâu, tôi không dám giận quý vị đâu. Mặc dầu hôm nay, tôi biết quý vị nói xấu tôi đó, tìm cách hại tôi đó, tìm cách nhục mạ tôi đó, nhƣng tôi không dám khinh quý vị đâu, tôi không giận quý vị đâu, tôi rất thƣơng quý vị. Bởi vì, quý vị chƣa hiểu tôi thì quý vị nguyền rủa tôi là phải; quý vị chƣa nhận ra tôi thì quý vị nguyền rủa tôi là phải, nhƣng, mai mốt quý vị nhận ra đƣợc sự thật rồi, khi đó không ai bảo quý vị phải thƣơng tôi, mà quý vị vẫn thƣơng nhƣ thƣờng”. Công trình tu học đó là công trình mà Đức phật Thích Ca Mâu Ni đã thực hành trải dài hàng thế kỷ. Bây giờ đây chúng ta làm lễ kỷ niệm Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời, có phải chúng ta làm lễ kỷ niệm suông không? Có phải chúng ta đến 61

nơi lễ đài để lạy Phật, nhƣng xong rồi chứng nào vẫn giữ tật nấy hay không? Nếu chúng ta đến nơi một lễ đài, để rồi chen nhau lạy, sau đó về nhà và chứng nào vẫn giữ tật nấy, xem ngƣời nhƣ rơm rác, thì thiết lập lễ đài để làm gì? Chúng ta phải thiết lập lễ đài ngay chính trong tâm hồn chúng ta. Chúng ta phải xây dựng cho đƣợc lễ đài ngay trong đời sống của chúng ta, cái lễ đài đó mới thật sự quan trọng. Chúng ta đừng khờ khạo góp tiền hàng triệu bạc, hàng chục triệu bạc để rồi làm công việc dã tràng xe cát biển đông. Chúng ta đừng bỏ ra cả một đời ngƣời để làm một công việc nhƣ vậy. Chúng ta phải biến lễ đài thành lễ đài ngay chính trong tâm hồn chúng ta và lễ đài khi đã đƣợc thiết trí trong tâm hồn của chúng ta, thì lẽ đƣơng nhiên chúng ta đi đâu, ở đâu, lúc nào, ngủ, thức đều có Phật cả. Thƣa quý vị! Tại sao Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khi thực hành Bồ Tát đạo, Ngài làm đƣợc những việc đó? Bởi vì, Ngài ngộ đƣợc tri kiến Phật, Ngài nhập đƣợc tri kiến Phật. Và khi ngộ, nhập Phật tri kiến rồi, Ngài thƣơng hết thảy chúng sinh. Cho nên, Ngài mới xuất hiện trong cõi Diêm Phù Đề này với chúng ta. Nhƣng tại sao Ngài không xuất hiện trên loài hoa Sứ mà lại chọn hoa Sen để xuất hiện? Ngài xuất hiện trên hoa Sen có ý nghĩa gì? Nghĩa là khi một Đấng giác ngộ đã khơi mở đƣợc Phật tính nơi chính mình, đã thấy rõ đƣợc Phật tính nơi chính mình, đã giác ngộ đƣợc Phật tính nơi chính mình và đã thể nhập trọn vẹn đƣợc Phật tính nơi chính mình qua đời sống hằng ngày, thì vị đó sống giữa trần thế mà không bị ô nhiễm. Vị đó đi vào danh mà không bị danh làm cho ô nhiễm, đi vào trong lợi mà không bị lợi làm cho ô nhiễm. Vị đó đi vào trong danh mà không bị danh trói buộc, đi vào trong lợi mà không bị lợi trói buộc, đi vào trong cái mùi vị mà không bị cái ăn trói buộc, mặc áo mà không bị vải vóc, gấm lụa trói buộc, uống nƣớc mà không bị rƣợu, bia, bò húc, trói buộc. Tất cả những cái ô nhiễm, không bị trói buộc đó là biểu tƣợng cho hoa Sen. Hoa Sen ở trong bùn mà không bị ô nhiễm. Bởi vậy, Đức Phật xuất hiện trên cõi đời, Ngài đi trên bảy hoa Sen là vậy đó. Hoa Sen là vô nhiễm, là không còn mắc kẹt bởi nƣớc, bởi bùn, mặc dù hoa Sen từ bùn, từ nƣớc mà lớn lên và trƣởng thành. Khi một Đấng tuệ giác mà thành tựu Phật tri kiến rồi, Phật tri kiến đó từ chúng sinh mà ra, nhƣng khi đã thành tựu Phật tri kiến thì không còn mắc kẹt cái 62

tầm thƣờng của chúng sinh nữa. Bởi vậy, Đức Thích Ca Mâu Ni từ cung trời Đâu Suất đã hóa thân thị hiện trong cõi Diêm Phù Đề này và nằm trong bụng Ma Ya phu nhân. Ngài không phải nằm trong bụng mẹ nhƣ những thai nhi khác, Ngài nằm nơi đó vì đại nguyện, đại trí, đại bi. Còn chúng ta vì vô minh ái nghiệp, vì u mê ám chƣớng mà vào nằm trong bụng mẹ. Bởi vậy trong Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng: “Khi Bồ Tát Tất Đạt Đa nằm trong thai tạng hoàng hậu Ma Ya, Ngài đã thuyết pháp cho hàng Bồ Tát khắp cả mƣời phƣơng thế giới”. Chúng ta đừng cho rằng đây là một ảo tƣởng, mà đây là một tuệ giác, đây là một điều khoa học có thể chứng minh đƣợc. Đức Phật khi nằm trong thai tạng hoàng hậu Ma Ya, Ngài thuyết pháp bằng năng lƣợng của tuệ giác, thuyết pháp bằng ánh sáng của tuệ giác. Từ trong thai tạng mà tỏa ra vô số ánh sáng, giao tiếp với vô số Bồ Tát khắp cả mƣời phƣơng. Và Bồ tát khắp cả mƣời phƣơng vẫn ngồi ở thế giới của mình mà tiếp nhận ánh sáng tuệ giác đó mà nói chuyện với Bồ Tát Tất Đạt Đa, tức là hóa thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Điều này, trong vòng khoảng ba trăm năm nữa khoa học sẽ phát hiện đƣợc. Một thai phụ ở bên Mỹ, bằng tia laser ta có thể ngồi ở Việt Nam mà nhìn đƣợc thai nhi. Bây giờ khoa học mới tìm tòi, phát hiện đƣợc tính nam hay nữ của thai nhi từ 5 đến 6 tháng bằng siêu âm. Cho nên, những gì Phật nói, những gì Đức Phật dạy là những gì mới tinh của khoa học và khoa học là một học trò ấu trĩ của Phật giáo. Tôi nói khoa học là học trò ấu trĩ, ngây ngô của Phật giáo, cho nên, quý vị Phật tử đừng có ảo tƣởng là duy khoa học! Có đôi ngƣời mù quáng, tầm thƣờng, thấy khoa học thành công một vài lãnh vực thì đã hô hào duy khoa hoc, nhƣng cái duy khoa học chỉ là cái ấu trĩ của Phật giáo mà thôi! Bởi vậy, Đức Phật xuất hiện trong cõi đời này, Ngài đi trên bảy hoa Sen để chứng tỏ rằng, Ngài xuất hiện trên cõi đời này với tâm vô nhiễm, với trí vô nhiễm, với tuệ vô nhiễm. Ngài thƣơng yêu mà vô nhiễm, còn chúng ta thƣơng là nhiễm, chúng ta không thƣơng thì thôi, còn thƣơng là nhiễm, thƣơng là kẹt. Bồ Tát thƣơng không kẹt, Phật thƣơng không kẹt, cũng nhƣ hoa Sen sinh ra từ bùn mà không kẹt bùn, nó sinh ra từ nƣớc mà nó không kẹt nƣớc, nó sinh ra từ sự tanh hôi 63

mà nó không kẹt bởi sự tanh hôi đó. Vì ý nghĩa này, mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài xuất hiện trên hoa sen, Ngài ngồi trên hoa Sen, Ngài đứng trên hoa Sen. Ý nghĩa thứ sáu: Tại sao Đức Phật xuất hiện trên cõi đời này, Ngài đi bảy bƣớc trên hoa Sen? Một đặc điểm khác nữa của hoa Sen là Hoa nở Sen hiện. Nghĩa là, Đức Phật, dạy giáo pháp của Ngài, nếu chúng ta quyết tâm hành trì, thì sẽ có an lạc ngay, đó là “Hoa nở Sen hiện”! Không tu thì thôi, tu là tức khắc có an lạc ngay! Cho nên, những ai tu tập mà không có an lạc thì phải coi chừng! Phải tu lại! Tôi tu một giờ là tôi có hạnh phúc một giờ, không có lý do gì mà tu một giờ mà không có hạnh phúc, an lạc một giờ. Nếu tu một giờ mà khổ đau thì đừng tu, cho nên, tôi tu một giờ là tôi có hạnh phúc, an lạc một giờ, đó là hoa nở Sen hiện. Tu một giờ là có hạnh phúc, an lạc một giờ. Tu hai giờ là có hạnh phúc, an lạc hai giờ. Tu mƣời năm là có hạnh phúc, an lạc mƣời năm. Tu một trăm năm là có hạnh phúc, an lạc một trăm năm. Không có lý do gì tu mà khổ cả! Nhiều ngƣời Phật tử thƣờng đi chùa, nhƣng có những lời nói thiếu ý thức. Có ngƣời con muốn xuất gia nhƣng cha mẹ không đồng ý, vì cho rằng, đi tu phải thức khuya, dậy sớm. Vậy thì ai thức khuya dậy sớm để bây giờ dạy đạo, giảng đạo cho mình? Quý vị nhìn lại về cách hiểu đạo, cách tu tập của mình! Chỉ có ngƣời không biết tu tập mới khổ mà thôi. Tôi nhắc lại với quý vị rằng, chỉ có ngƣời không tu tập mới khổ, còn chúng ta tu tập một ngày là hạnh phúc một ngày, tu hai ngày là hạnh phúc hai ngày, tu cả đời là hạnh phúc cả đời, tu hằng kiếp là hạnh phúc hằng kiếp.Tu là có hạnh phúc, đó là hoa nở Sen hiện. Vì vậy, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài vui với cái vui rất trọn vẹn. Do vậy mà các nghệ sĩ đã điêu khắc tƣợng của Ngài chỉ cƣời mỉm thôi, cƣời nửa miệng thôi! Chỉ có cƣời mỉm là cái cƣời trọn vẹn. Tôi nhắc lại chỉ có cƣời mỉm mới là cái cƣời trọn vẹn. Cƣời mỉm là cái cƣời của trung đạo, còn cái cƣời toe toét nhƣ cái cƣời đi dự tiệc cƣới là cái cƣời mang tính chất thất vọng, khổ đau sau đó! Và cũng không phải cái mặt méo mó nhƣ đi thăm đám ma! Đám cƣới và đám ma là hai thái cực của cuộc sống. Chỉ có cƣời mỉm mới là cái cƣời độc đáo của cuộc sống. Chỉ khi nào có tuệ giác mới cƣời mỉm đƣợc. Thấy tiệc cƣới cũng cƣời mỉm, 64

thấy đám ma cũng cƣời mỉm, ngƣời ta khen mình cũng cƣời mỉm, ngƣời ta chê mình cũng cƣời mỉm. Nhƣ vậy cái cƣời mỉm là cái cƣời độc đáo nhất mà chỉ có Đức Phật mới cƣời nổi vậy! Vì sao chỉ có Đức Phật mới cƣời mỉm nổi? Vì, chỉ có Đức Phật mới thể nhập đƣợc tuệ giác trong đời sống của chính Ngài. Ý nghĩa thứ bảy: Một đặc điểm nữa là, Đức Phật xuất hiện trên cõi đời này, trên hoa Sen là bởi vì, hoa Sen còn có một đặc điểm nữa là “hoa rụng Sen thành, Hoa nở thì Sen hiện”. Sự xuất hiện của Đức Phật trên hoa Sen để nói cho chúng ta thấy rằng, cái chết là bắt đầu của cái sống, cái sống đây là bắt đầu của cái chết. Sự xuất hiện cũng có nghĩa là bắt đầu của một sự ẩn khuất. Ngài ẩn khuất ở nơi thế giới Liên Hoa Đài Tạng thì Ngài có mặt ngay nơi thế giới Ta Bà này. Rụng là rụng từ thế giới Liên Hoa Đài Tạng, mà thành là thành nơi thế giới Ta Bà. Cho nên, đối với cái sống, cái chết ở trong đạo Phật không còn là cái gì nữa để chúng ta sợ hãi, lo âu. Chúng ta vắng mặt ở nơi này thì ta có mặt ở nơi kia, chúng ta vắng mặt ở nơi gia đình chúng ta thì chúng ta có mặt ở nơi chùa Phƣớc Duyên, chúng ta vắng mặt ở chùa Phƣớc Duyên thì chúng ta có mặt ở nơi gia đình chúng ta. “Hoa rụng Sen thành”, Bồ Tát Tất Đạt Đa vắng mặt ở thế giới Liên Hoa Đài Tạng, thì Ngài có mặt ở nơi thế giới Ta Bà này. Đức Phật vắng mặt ở nơi cõi Ta Bà này, thì Ngài có mặt ở thế giới Liên Hoa Đài Tạng, Đức Phật xuất hiện trên cõi đời này, Ngài không đi trên hoa Sứ, Ngài không đi trên hoa Cúc. Mặc dù, hoa Cúc đƣợc xem là biểu tƣợng cho những nhà ẩn sĩ, đạo sĩ. Nhƣng Đức Phật không xuất hiện trên hoa Cúc, mà Ngài chỉ xuất hiện trên hoa Sen thôi. Bởi vì, hoa Cúc không phải là vô nhiễm, hoa Cúc không phải là “hoa nở Cúc hiện, hoa rụng Cúc thành”, mà chỉ có hoa Sen mới có những đặc điểm nhƣ thế. Cho nên, Đức Phật mới xuất hiện trên hoa Sen và Ngài đi bảy bƣớc. Tại sao Ngài đi bảy bƣớc mà không đi tám bƣớc hay một bƣớc, mƣời bƣớc? Bởi vì, sự cấu hợp của vũ trụ không ra ngoài con số bảy, sự có mặt của tất cả chúng ta không ra ngoài con số bảy: địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại, tâm đại, thức đại. Toàn thể vũ trụ hay sự hình thành của chúng sinh không ra ngoài bảy yếu tố này. Sự có mặt của chúng ta là do sự có mặt của bảy yếu tố trên. 65

Và sự có mặt của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là sự có mặt của bảy yếu tố đó. Chính từ bảy yếu tố đó, mà một vị thể nhập đƣợc cái “tri kiến Phật” thì sẽ thành tựu đƣợc bảy yếu tố giác ngộ, gọi là thất bồ đề phần. Bảy yếu tố: địa, thủy, hỏa, phong, không, tâm, thức tạo nên hình hài, tâm trạng, tinh thần của mỗi chúng sinh, thì bảy yếu tố là “thất bồ đề phần” tạo nên của Đấng Giác Ngộ. Cho nên bảy yếu tố tạo nên chúng sinh và bảy yếu tố tạo nên Đấng Giác Ngộ. Bởi vậy, Đức Phật xuất hiện trên cõi đời này, Ngài không đi tám bƣớc mà Ngài đi bảy bƣớc thôi! Ý nghĩa thứ tám: Thế thì, ngày hôm nay chúng ta làm lễ kỷ niệm Đức Phật ra đời, có phải rằng chúng ta chỉ biết nấu vài chén chè, vài dĩa xôi đặt lên bàn Phật không? Chúng ta có thể nấu vài dĩa xôi, vài chén chè đặt trên bàn Phật với tâm hồn nào? Chúng ta đặt trên bàn Phật với tâm trạng một lữ khách đang thực tập khai Phật tri kiến, thị Phật tri kiến, ngộ Phật tri kiến, nhập Phật tri kiến thì chè, xôi đó cũng trở thành pháp lạc, cũng trở thành đề hồ. Trái lại, chúng ta đặt xôi, chè lên bàn Phật với u mê, tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, tầm thƣờng, hèn mạt, thì xôi, chè đó trở thành đất, đá. Thƣa quý vị! Chúng ta làm lễ kỷ niệm ngày đản sanh của Đức Phật, chúng ta phải làm thế nào đó để Đức Phật trong chúng ta phải ra đời mỗi ngày. Chúng ta làm lễ Đức Phật đản sanh, nghĩa là chúng ta có khả năng làm cho Đức Phật trong ta đản sanh mỗi ngày và chúng ta làm đƣợc nhƣ thế là chúng ta rất giàu! Chứ chúng ta không đợi 365 ngày mới đến chùa làm lễ đản Sanh, Phật tử đâu mà nghèo nàn đến nhƣ thế, tu hành đâu mà tội nghiệp nhƣ thế! Chúng ta phải làm nhƣ thế nào đó để Đức Phật trong chính chúng ta đản sanh mỗi ngày và mỗi ngày chúng ta phải thấy đƣợc Phật đản sanh. Còn ai mà không có khả năng làm cho Đức Phật của mình đản sanh hằng ngày, thì cứ đợi đi! Lo về chợ Đông Ba mà mua bán cho gắt, tới các cơ quan mà làm việc cho gắt, rồi đợi 365 ngày đến chùa Từ Đàm mà làm lễ, đến chùa Phƣớc Duyên mà làm lễ, đến chùa Từ Hiếu mà làm lễ và nếu rủi ro, không gặp ngày chủ nhật, mình phải đi thi hoặc đi chấm thi... thì coi nhƣ Đức 66

Phật tắt ngòi, hết ra đời luôn! Hết đản sinh luôn! Còn nếu chúng ta thông minh, chúng ta biết làm cho Đức Phật chúng ta đản sinh mỗi ngày, thì Ma vƣơng phải khóc, quỷ thần phải khóc, những kẻ manh tâm phá hoại Phật giáo phải khóc, phải giong tay đầu hàng. Chúng ta có khả năng làm cho Đức Phật chúng ta ra đời mỗi ngày, thì chúng ta không cần phải xin phép ai để tổ chức đại lễ cả. Nhƣng vì u mê, chúng ta không làm cho Đức Phật trong chúng ta đản sanh mỗi ngày, nên chúng ta phải xin phép tổ chức lễ Phật Đản. Cái u mê đó chúng ta đem mà hoằng pháp, thì pháp bị bế tắc, chúng ta đem dạy cho đời, thì đời càng thêm đau khổ, chúng ta càng lãnh đạo, thì đạo không có đƣờng để đi! Cho nên, chúng tôi nói với tất cả quý vị là Phật tử thì chúng ta phải thông minh, làm cho Phật trong mỗi chúng ta đản sinh mỗi ngày và mỗi ngày chúng ta đƣợc đảnh lễ Phật đản sinh của chúng ta, đó mới thật sự là ngƣời đệ tử của Phật làm lễ kỷ niệm đản sinh một cách thông minh, một cách tài tình, một cách có trí tuệ và là một phƣơng tiện thiện xảo. Ta mới có khả năng đi những bƣớc vững chãi trên những hoa Sen, còn nếu không thì chỉ là hoa Sen vẽ trên giấy mà thôi. Trƣớc khi dứt lời, cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho tất cả quý vị sống một cuộc đời luôn luôn có Phật Đản Sinh. Thích Thái Hòa

67

14. Đức Phật trong đời
Đức Thế Tôn xuất hiện trong đời là một sự kiện vô cùng trọng đại, quí báu và hy hữu đối với nhân loại và muôn loài chúng sanh. Kinh văn từng ghi về sự kiện ấy nhƣ sau: "Một Chúng Sanh duy nhất, một Con Ngƣời phi thƣờng, xuất hiện trong thế gian này, vì lợi ích cho phần đông, vì hạnh phúc của phần đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc của chƣ Thiên và nhân loại."[1] Để kỷ niệm ngày Đản sanh lần thứ 2632 của Đức Từ phụ Bổn Sƣ Thích Ca Mâu Ni, thành kính dâng lên Ngài đóa hoa lòng qua bài viết Đức Phật trong đời.

Phật giáo qua hơn 25 thế kỷ truyền bá và phát triển trên khắp thế giới đã có rất nhiều cách nhìn khác nhau về Đức Thế Tôn. Có ngƣời nhìn đức Phật nhƣ một vị thần linh có thể cầu xin để đƣợc ban phƣớc giáng họa. Lối nhìn này thƣờng đƣợc xem là thần linh hóa đức Phật; và những ngƣời đi chùa lễ Phật để cầu xin này nọ thì đƣợc xem nhƣ là những ngƣời chỉ mới đến đƣợc cổng ngoài của đạo. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng phần tín ngƣỡng bao giờ cũng là phần quan trọng thiết yếu trong đời sống tinh thần của con ngƣời. Trƣớc một vũ trụ bao la, trƣớc biển cả mênh mông, trƣớc thiên tai cuồng phong dữ dội, trƣớc định luật vô thƣờng khắt khe nhƣng nghiêm ngặt, và đặt biệt trƣớc lòng tham sân si vô bờ và 68

ác tâm vô cùng của nhân loại, con ngƣời dù tự chủ bao nhiêu, dù hùng mạnh đến đâu đôi lúc vẫn cảm thấy rất nhỏ bé trƣớc những thế lực hung tàn đó. Lấy ví dụ một ngƣời mẹ bỗng nghe con mình bị tai nạn xe hơi, ngƣời Mẹ đó trƣớc hết có thể làm gì ngoài việc khởi một ý nguyện mong cầu bình an cho con mình? Hoặc một ngƣời nào đó đang bị bịnh ung thƣ và các y bác sĩ và các bệnh viện đã bó tay, ngƣời đó và thân nhân bạn bè của ngƣời đó có thể làm gì ngoài việc cầu nguyện? Một thiền sƣ vừa hay tin một cơn động đất vừa mới tàn phá nhà cửa và cƣớp đi sinh mạng của nhiều ngƣời và để lại nhiều hậu quả tang thƣơng, vị ấy trƣớc nhất có thể làm gì nếu không phải là khởi một tâm niệm nguyện cầu cho các nạn nhân bị thiên tai? Vì vậy mà phần cầu nguyện và tín ngƣỡng bao giờ cũng chiếm phần trọng yếu trong đời sống thƣờng nhật của con ngƣời. Tuy nhiên phần tín ngƣỡng chỉ mới là phần vỏ của Phật giáo. Phật giáo nhƣ một kho tàng vô tận mà càng đi sâu chúng ta càng khám phá ra nhiều báu vật vô giá. Đây chính là điểm mà ngƣời Tây phƣơng rất thích ở Phật giáo. Phần tín ngƣỡng thì đạo nào cũng có rồi, đặc biệt càng có rõ là những tôn giáo thần quyền Tây phƣơng. Phật giáo còn có phần bên trong, phần cốt lõi thâm sâu hơn, uyên áo hơn, và đức Phật ở đây không còn đƣợc nhìn nhƣ là một vị thần linh mà ngài rất là ngƣời, rất bình thƣờng nhƣng cũng rất vĩ đại và cao cả. Từ một con ngƣời bình thƣờng nhƣng với tình thƣơng cao cả, với đức Từ bi vô lƣợng, với Trí tuệ sâu sắc Ngài đã chuyển đổi đƣợc tham sân si thành tình thƣơng vô lƣợng và thành động lực mạnh mẽ để lên đƣờng tìm một hƣớng đi cao đẹp cho nhân loại, chuyển tham dục thành tình thƣơng lớn, chuyển sân hận thành Bồ đề tâm và nhiệt huyết phụng sự hóa độ chúng sanh, chuyển si mê thành trí tuệ vô ngã và giải thoát. Cái khả năng chuyển đổi hay khả tính thành Phật vĩ đại và cao cả đó mọi ngƣời đều có, chỉ hiềm là vì còn mê nên chƣa biểu hiện mà thôi! Đây là một nét đặc thù tiêu biểu nhất của Phật giáo mà chúng ta có thể giới thiệu cho các bạn hữu Tây phƣơng, những ngƣời đã có một nền tảng tín ngƣỡng thần quyền vững chắc, nhƣng vẫn rất thích Đạo Phật vì Đạo Phật dạy bình đẳng tuyệt đối qua khả tính thành Phật nơi mỗi chúng sanh. Ai cũng có tâm Phật và ai cũng có thể thành Phật! Dù bạn đang ở thân phận nào hay trong một vị trí xã hội 69

thấp hèn nào, bạn cũng có thể vƣơn lên để đƣợc thành Phật và đạt hạnh phúc tối thƣợng nhƣ Phật không khác. Có thể nói chƣa bao giờ trong lịch sử các tôn giáo chúng ta có thể tìm thấy tính bình đẳng tuyệt đối này nhƣ trong Phật giáo: Đệ tử của Phật có thể thành Phật; một ngƣời đệ tử có thể đạt đƣợc vị trí cao nhất ngang bằng vị trí tối tôn của đấng Giáo chủ. Phật trong Tâm, "Phật trong nhà", và Phật trong đời: Hẳn ai cũng có thể biết ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ 13 có một vị vua đã bỏ ngai vàng để đi tu. Đó là vua Trần Nhân Tôn mà sau này có hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà, thế nhân thƣờng gọi Ngài là Phật Hoàng Trần Nhân Tôn. Trần Nhân Tôn xuất gia và đã đạt đƣợc lẽ huyền vi của đạo. Ngài đã mở đầu cho một thiền phái đặc sắc riêng của Việt Nam, thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nơi Ngài xuất gia tu tập là núi Yên Tử ở Việt Nam mà nhân gian bây giờ vẫn còn truyền tụng câu: "chƣa lên Yên Tử chƣa đành lòng tu". Phải chăng tinh thần thiền của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã ăn sâu trong lòng ngƣời dân bình thƣờng Việt Nam? Một nét đặc sắc trong quan niệm về đức Phật của Phật Hoàng Trần Nhân Tôn đó là quan niệm Phật tại tâm hay Phật "ở trong nhà", đƣợc thể hiện trong bài thơ Cƣ Trần Lạc Đạo Phú của ngài: "Bụt ở trong nhà Chẳng phải tìm xa Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt Đến cốc hay chỉn Bụt là ta" Bụt ở trong nhà Chẳng phải tìm xa Vì quên mất gốc nên ta tìm Bụt Nào có hay Bụt chính là ta. Ở đây cần nhấn mạnh rằng danh từ Bụt (có gốc từ chữ Buddha, theo tiếng Phạn) đã đƣợc dùng để chỉ Phật; danh từ này đã đƣợc dân gian hóa và rất đƣợc yêu chuộng trong văn học dân gian Việt Nam nhƣ trong các chuyện cổ tích nhƣ truyện Tấm Cám, v.v. 70

"Bụt ở trong nhà". Nhà nào? Nhà chính là xác thân năm uẩn gồm sắc, thọ, tƣởng, hành và thức này. Chính đức Thế Tôn cũng từng xác nhận trong các kinh Nikaya rằng trong chính xác thân năm uẩn này Nhƣ Lai tuyên bố thế gian, nguồn gốc của thế gian, sự chấm dứt thế gian và con đƣờng đƣa đến sự chấm dứt thế gian. Là Phật tử theo truyền thống Đại thừa, ai trong chúng ta mà không biết hay không từng đọc Bát Nhã Tâm kinh? Chúng ta có biết chăng rằng chính đức Bồ tát Quán Thế Âm cũng nhờ quán chiếu chính thân năm uẩn để thấy tự tánh nó là không mà chứng đạt Niết bàn tối thƣợng, vƣợt qua đƣợc tất cả khổ ách: "Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã Ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thế khổ ách". Vậy phải chăng cũng chính trong thân tâm này mà chúng ta khởi hành tu tập, chính trong thân tâm này chúng ta tìm ra con đƣờng và phƣơng hƣớng tu tập, cũng chính trong thân tâm này mà chúng ta đạt đƣợc an lạc hạnh phúc, đạt đƣợc các thánh quả, và chính trong thân tâm này mà chúng ta tìm thấy Phật vậy? Thử hỏi khi bạn khổ hay vui thì cái gì khổ, cái gì vui? Chính là thân tâm này vậy. Khi bạn tu tập và đạt đƣợc pháp lạc thì ai tu tập và ai an lạc? Cũng chính là thân tâm này vậy. Cho nên trong kinh Thủ Lăng Nghiêm khi ngài A Nan hỏi cái gì là cội gốc của phiền não khổ đau và cái gì là cội gốc của Bồ đề Niết bàn, mƣời phƣơng Nhƣ Lai đều đồng thanh dạy A Nan rằng cội gốc của phiền não và Bồ đề chính là 6 căn của ông. Quan niệm Phật "ở trong nhà" hay Phật tại tâm không chỉ là một quan niệm triết lý mà đó chính là một phƣơng thức để tu tập và thực hành giáo lý thâm sâu của đạo Phật trong đời sống hàng ngày. Khi bạn biết đƣợc trong bạn có Phật, bạn sẽ "thôi tìm kiếm" ở bên ngoài, nhƣ bài thơ của Phật Hoàng Trần Nhân Tông từng nhắc nhở: "Bụt ở trong nhà, Chẳng phải tìm xa"; hay: "Trong nhà có báu thôi tìm kiếm". Chỉ cần "thôi tìm kiếm" thì đã có an rồi, có vui rồi! Con ngƣời sở dĩ phải đau khổ vì luôn luôn thấy mình thiếu thốn, thấy mình cần phải bôn ba tìm cầu cái này cái nọ. Chỉ cần nhận thức đƣợc trong mình "đã có Phật rồi", "đã có của báu rồi", thì cũng đã đỡ khổ rất nhiều. Đỡ khổ vì không phải chạy chọt, không phải vất vả tìm cầu, không phải lao đao bận rộn, không phải lo lắng bồn chồn vì sợ mình thiếu hay mình không có. 71

Hạnh phúc chỉ thật sự có đối với ai biết dừng lại mà không thật sự có đối với ai luôn mong ngóng tìm cầu, và trong một ý nghĩa thâm sâu nhất, ngay cả sự mong ngóng tìm cầu quả vị Phật cũng là một trở ngại cho hạnh phúc đích thực! Chỉ cần trở về bình thản nhìn lại nội tâm mình bạn sẽ lập tức có đƣợc thanh thản và an nhiên. Thanh thản và an nhiên khi nhìn thấy dòng sông tâm thức của mình có những đợt sóng lao xao nhấp nhô của hờn giận, của lo lắng, của sợ hại, của buồn phiền, của bất an, v.v, nhƣng chúng cứ đến rồi đi mà không có một bản chất cố định chắc chắn nào hết (Đây là ý nghĩa đơn giản và sâu lắng nhất về "vô ngã"!). Tại sao ta lại phải lo sợ, phải băn khoăn, phải buồn phiền vì những cái không chắc thật đó?! Chính vì không nhận thức đƣợc trong ta có một vị Phật rất tự tại, rất sáng suốt, rất thanh thản, rất vững chãi, rất vui tƣơi nên ta mới mong ngóng tìm cầu những cái không chắc thật bên ngoài, và vì bản chấc của chúng là không chắc thật, nên chắc chắn chúng đã và sẽ tạo cho chúng ta không biết cơ man nào là phiền não khổ đau. Ngày xƣa, sau khi Đại ngộ, đức Bổn Sƣ Thế Tôn cũng đã từng nhận định trong kinh Thánh Cầu: Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái vô sanh, vô thƣợng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và chứng đƣợc chúng; tự mình bị già... tìm cầu cái không già... tự mình bị bệnh... tìm cầu cái không bệnh... tự mình bị chết... tìm cầu cái bất tử... tự mình bị ô nhiễm... tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thƣợng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng đƣợc cái không ô nhiễm, vô thƣợng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Rồi tri và kiến khởi lên nơi Ngài: "Sự giải thoát của Ta không bị giao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn tái sanh nữa". Mỗi chúng ta cũng tự mình làm mình đau khổ vì chỉ chạy theo, tìm cầu, rồi chấp cho là thật những cái bị sanh, bị già, bị chết, không chắc thật ở bên ngoài và ngay ở bên trong thân tâm chúng ta. Chúng ta đâu biết rằng trong thân tâm chúng ta vẫn có cái không sanh, không già, không chết, không tạo thành, không hữu vi. Cái đó kinh Phật thƣờng gọi là Chân tâm, là Phật tánh, là Bản lai diện mục; cái mà Tổ Huệ Năng sau khi Đại ngộ đã thốt lên: Ðâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, 72

Ðâu ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt, Ðâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ, Ðâu ngờ tự tánh vốn chẳng lay động, Ðâu ngờ tự tánh hay sanh vạn pháp! Đó cũng chính là chứng hiểu về Tịnh Độ và về Di Đà của Phật Hoàng Trần Nhân Tông: Tịnh độ là lòng trong sạch chớ còn ngờ hỏi đến Tây phƣơng. Di Đà là tính sáng soi mựa phải nhọc tìm về cực lạc Hay: Biết chân nhƣ, tin bát nhã, chớ còn tìm phật tổ tây đông Chứng thực tƣớng nên vô vi, nào nhọc hỏi kinh nam bắc. Đó cũng chính là Đức Phật trong Tâm hay Đức Phật trong nhà mà bài viết này nhắm đến hầu gợi nhắc mỗi ngƣời con Phật hãy trở về để an trú trong chân tâm thƣờng tịnh an nhiên sẵn có nơi mỗi ngƣời. Có nhƣ vậy chúng ta mới không cô phụ bản hoài của Đức Thích Ca Thế Tôn là ra đời chỉ để "khai mở", "chỉ bày" và giúp chúng ta "ngộ nhập" đƣợc chân tâm Phật tánh ấy (Khai Thị Ngộ Nhập – kinh Pháp Hoa). Chƣ Phật hay chƣ vị thánh hiền Bồ tát không phải lúc nào các Ngài cũng hiện thân 32 tƣớng tốt và đầy đủ tám mƣơi vẻ đẹp, các ngài có thể hiện thân khắp nơi khắp chốn và trong bất kỳ hình tƣớng và chủng loại nào để tùy cơ duyên mà hóa độ chúng sanh. Có khi các Ngài là nam, có khi là nữ, có khi là trời, có khi là rồng, có khi là thần âm nhạc, có khi là trẻ thơ, v.v…[10]Các ngài cũng có thể là những tính giác và là đức từ bi sẵn có nơi mỗi ngƣời, các ngài có thể là sự tự tại, sự an nhiên nơi mỗi ngƣời tu tập đã đạt đƣợc pháp lạc, v.v… Với cái nhìn về Phật trong đời nhƣ thế, chúng ta sẽ luôn luôn tôn trọng tánh Phật nơi mỗi ngƣời và nhờ vậy chúng ta sẽ cải thiện đƣợc mọi quan hệ xã hội, giúp cho cuộc sống chúng ta ngày mỗi hài hòa và tƣơi vui hơn trong ý nghĩa mọi ngƣời đều sẽ là những vị Phật trong tƣơng lai, sao ta lại có thể khinh thƣờng, giận ghét hay chơi xấu những vị Phật tƣơng lai đó? Và để đi tìm Phật, chúng ta không 73

nhất thiết phải tìm cho đƣợc một đức Phật có hào quang rực rỡ, mà chúng ta có thể nhận thấy hiện thân của Phật khắp nơi, trong thân tâm ta và ngoài vũ trụ bao la, nơi những gì tƣởng nhƣ bình thƣờng nhất nhƣng cao đẹp và gần gũi nhất. Hãy xem câu chuyện một ngƣời đi tìm Phật sau đây. Chuyện kể rằng có một thanh niên nghe nói Phật có 32 tƣớng tốt và 80 vẻ đẹp liền quyết tâm lên đƣờng tìm cho đƣợc Phật mới thôi. Sau nhiều năm tháng lang thang khắp nơi và đến cả những nơi núi sâu rừng hiểm để tìm Phật chàng trai vẫn không tìm thấy Phật. Cuối cùng, chàng thanh niên gặp một cụ già râu tóc bạc phơ dáng vẻ hiền từ uy nghiêm, cốt cách siêu phàm, chàng bèn nói cho cụ già biết tâm nguyện của mình và hỏi cụ chỉ đƣờng để chàng có thể tìm gặp Phật. Cụ già hỏi chẳng lẽ trên đƣờng đi con chẳng gặp đƣợc vị Phật nào sao? Chàng trai trả lời là không gặp ai có thân tƣớng đoan nghiêm rực rỡ nhƣ kinh mô tả mà chàng chỉ gặp toàn hạng phàm phu tục tử thôi à. Cụ già dạy chàng thanh niên rằng đức Phật có thân tƣớng đoan nghiêm nhƣ kinh mô tả đã nhập Niết bàn rồi. Chàng thanh niên hỏi vậy thì Phật đã chết rồi sao. Cụ già trả lời là Phật bây giờ đang hiện thân khắp nơi, ngài cũng mang thân tồi và xấu nhƣ thân của chúng sanh vậy. Thấy lòng mong cầu tha thiết đƣợc gặp Phật của chàng thanh niên, cụ già liền mách nƣớc rằng trên đƣờng trở về nếu con gặp đƣợc ai mang dép trái ở chân phải và mang dép phải ở chân trái thì đó chính là Phật. Chàng trai lên đƣờng trở về và cũng chú tâm tìm kiếm xem có ngƣời nào mang dép lộn ngƣợc nhƣ vậy không nhƣng chàng vẫn không gặp đƣợc ngƣời nào nhƣ vậy cả. Cuối cùng, quá mệt mỏi và chán nản chàng trai quay trở về nhà lúc trời đã khuya, gõ cửa và gọi mẹ ra mở cửa. Ngƣời mẹ già nghe tiếng con mình đã về, vội vả mang dép vào và hối hả chạy ra mở cửa mà không biết rằng mình đang mang dép lộn ngƣợc, chiếc bên trái ở chân phải và chiếc bên phải ở chân trái. Chàng trai ôm chầm lấy ngƣời mẹ già tiều tụy và chợt nhận ra rằng mẹ chính là Phật mà cụ gia tiên tri đã mách bảo cho chàng.[11] Đồng cảm với ý nghĩa sâu sắc trong câu chuyện này, nhà thơ Thích Trí Cao đã sáng tác một bài thơ đƣợc phổ nhạc rất hay với tựa đề là Mẹ là Phật: 74

Mẹ là Phật đại nguyện hóa thân Mẹ là hoa hoa đẹp tuyệt trần Mẹ là nước suối nguồn vô tận Cuộc đời Mẹ chỉ biết hiến dâng. Mùa Phật Đản đã lại về trong muôn triệu trái tim của Phật tử khắp năm châu bốn biển. Hình ảnh một vị Phật sơ sinh tôn kính đã ra đời vì "lợi ích cho chƣ thiên và loài ngƣời, vì hạnh phúc cho chƣ thiên và loài ngƣời" nhƣ kinh điển từng mô tả đã nói lên đƣợc tính cách vĩ đại và mục đích thiêng liêng của Đạo Phật trong cuộc đời. Quả thật đức Phật với giáo pháp thậm thâm vi diệu, chứa đầy tình thƣơng và trí tuệ chỉ với một mục đích duy nhất là cứu khổ ban vui đã đem lại nguồn sống mới đích thực và hạnh phúc an lạc cao đẹp hiện thực cho biết bao con ngƣời và muôn loài trong thế gian có nhiều đau khổ lầm than vì si mê và tham sân của nhân loại. Có thể nói rằng không có khổ đau thì không có đạo Phật, ở đâu có khổ đau ở đó có đạo Phật, càng khổ đau con ngƣời càng hiểu rõ hơn giá trị của đạo giải thoát. Hiểu đƣợc Đức Phật hiện thân trong đời với đầy đủ thân tƣớng, hiểu đƣợc đức Phật không chỉ hiện thân với 32 tƣớng tốt mà còn biểu hiện khắp nơi khắp chốn với pháp thân màu nhiệm bao la, hiểu đƣợc tự tánh vốn sẵn tính Phật để trở về nƣơng tựa an ổn và tu tập giải thoát làm biểu hiện Phật thân thanh tịnh vô nhiễm, chỉ nhƣ vậy thôi là chúng ta cũng đã làm một việc làm có ý nghĩa nhất để cúng dƣờng đức Từ Phụ Bổn Sƣ Thích Ca nhân mùa Phật Đản Phật Lịch 2552 của Ngài. Hình ảnh Đức Thế Tôn ra đời dƣới gốc cây Vô Ƣu, thành đạo dƣới gốc cây Bồ-đề, và nhập Niết-bàn dƣới gốc cây Ta-la song thọ, là những hình ảnh rất đẹp đã nói lên tinh thần yêu thiên nhiên và tôn trọng sinh môi. Đây cũng là một điểm gợi nhắc nhân loại bây giờ hãy nên thức tỉnh, hãy tôn trọng môi trƣờng sống của mình và giảm thiểu tối đa những chất thải, những khí đốt làm ô nhiễm môi trƣờng, làm cho không gian sống của chúng ta ngày càng ngộp thở, làm cho nhiệt độ trái đất và khí quyển đang nóng dần lên, gây ra thiên tai lũ lụt và biết bao căn 75

bịnh nguy hiểm cho thời đại của chúng ta và cho tất cả thế hệ tƣơng lai của nhân loại và của muôn loài chúng sanh trên thế gian này. Ngƣời nào càng yêu thiên nhiên thì ngƣời đó càng gần với đạo, ngƣời nào càng tôn trọng mọi ngƣời và mọi loài kể cả môi trƣờng và cỏ cây thì ngƣời đó càng hiểu sâu hơn ý nghĩa Phật thân biểu hiện khắp nơi và pháp giới tính bình đẳng duyên khởi của đạo Phật và do đó sẽ sống hạnh phúc, an lạc và hài hòa hơn với mọi ngƣời và với muôn loài. Thành Tâm Đảnh Lễ Vƣờn Lâm Tỳ Ni Dƣới Cây Vô Ƣu Thị Hiện Đản Sanh Bổn Sƣ Thích Ca Mâu Ni Phật. Thích Nhật Châu

76

15. Đạo đức trong nếp sống người Phật tử
Nhân ngày lễ Phật Đản năm nay, chúng tôi xin trình bày về đề tài: "Nếp sống Phật Giáo", một đề tài mà chính Đức Bổn Thích Ca đã giảng thuyết nhiều lần, nhƣng cụ thể và rõ ràng là trong các bài Kinh Đức Phật dạy ngƣời con trai của mình là La Hầu La , sau khi La Hầu La xuất gia. Những bài Kinh này đều có bản dịch trong Trung bộ Kinh II, Kinh thứ 61 và 62 và trong Trung bộ Kinh III, kinh thứ 147.

Kinh này đã đƣợc Vua A Dục, thế kỷ thứ tƣ trƣớc Công nguyên khắc trên bia ký Bhàbrà, kêu gọi mọi ngƣời xuất gia và tại gia Phật tử cần phải tụng đọc Kinh này. Chúng ta không phải là con trai Đức Phật nhƣ La Hầu La, nhƣng đều là ngƣời con tinh thần của Đức Phật. Những lời chí tình và đầy trí tuê của Đức Phật. Những lời dạy chí tình và đầy trí tuệ của Đức Phật đối với La Hầu La, cách đây gần ba ngàn năm tại Ấn Độ cũng là lời dạy đối với tất cả chúng ta, những con ngƣời Phật Việt Nam, xuất gia cũng nhƣ tại gia, nam cũng nhƣ nữ, trẻ cũng nhƣ già. Hôm nay, nhân ngày Đại Lễ Phật Đản trang trọng, chúng ta hãy cùng nhau suy ngẫm về những lời giáo huấn của Đức Phật về nếp sống đạo, nếp sống Phật giáo. 77

Đức Phật nói: "Này, La Hầu La, nhà ngƣơi nghĩ thế nào? Mục đích của cái gƣơng là gì?". La Hầu La trả lời: "Bạch Thế Tôn, mục đích là để phản tỉnh" "Cũng vậy, Đức Phật dạy: "Này La Hầu La, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp". Nếp sống đạo là nếp sống luôn luôn có phản tỉnh, không buông trôi, không phóng túng. Cái gƣơng mà Đức Phật nói không phải là cái gƣơng soi mặt, mà là cái gƣơng tâm hồn soi chiếu lại mọi ý nghĩ, lời nói và việc làm của mình có hợp hay không với nếp sống đạo; nếp sống Phật giáo, tức là nhƣ lời Phật dạy La Hầu La, có hại hay không có hại đối với mình; đối với ngƣời, có lợi hay không có lợi, đối với mình và đối với ngƣời, đem lại hạnh phúc hay là gây ra đau khổ bất hạnh cho mình và cho ngƣời. Vì sao Đức Phật lại khuyên chúng ta phải phản tỉnh nhiều lần? Đó là do quá trình diễn biến của nghiệp, có thể chia làm ba giai đoạn: giai đoạn một là giai đoạn dụng tâm, cũng gọi là tác ý. Thông thƣờng, chúng ta gọi là ý muốn. Thí dụ hôm nay là ngày Lễ Phật Đản. Nhƣng ngay từ ngày hôm qua và trƣớc nữa, có vị đã có ý muốn hôm nay đến chùa lễ Phật, nghe giảng, làm nhiều Phật sự và thiện sự khác. Nhƣng cũng có những vị chắc chỉ là số rất ít nhân ngày Lễ Phật Đản lại muốn đi xem bói, xem toán, mong đƣợc "vào cầu" một chuyến để phát tài, phát lộc. Ngay trong giai đoạn ý muốn này, chúng ta cũng phải phản tỉnh, phải xét xem muốn nhƣ vậy là đúng hay không đúng, hợp hay không hợp với nếp sống đạo, nếp sống Phật giáo, có lợi lạc cho mình và cho ngƣời hay không, đem lại hạnh phúc hay là gây ra đau khổ, cho mình và cho ngƣời hay là cho cả hai. Nếu trong giai đoạn ý muốn, quý vị phản tỉnh thấy vào ngày Lễ Phật đản mà đi xem bói xem toán là không thích hợp, là nêu gƣơng xấu mê tín dị đoan cho vợ con, họ hàng bè bạn và những ngƣời khác thì quý vị hãy kiên quyết từ bỏ ý muốn đó đi. Ngƣợc lại, đối với ý muốn đi chùa, lễ Phật, nghe thuyết giảng, làm nhiều Phật sự và thiện sự khác. Các vị phản tỉnh thấy ý muốn đó là tốt đẹp, đem lại an 78

lạc cho mình và cho ngƣời khác, hiện nay cũng nhƣ về sau, thì quý vị hãy cƣơng quyết thực hiện ý muốn đó, mà cũng chính vì tuyệt đại đa số các vị đã có ý muốn tốt đẹp đó, cho nên hôm nay chúng tôi có duyên lành thuyết giảng trong một hội chúng đông đảo và hồ hởi nhƣ thế này. Nếu mọi việc chúng ta làm, mọi lời chúng ta nói, mọi ý nghĩ của chúng ta đều đƣợc phản tỉnh xem xét cẩn thận ngay từ trong giai đoạn ý muốn, nhƣ lời Đức Phật dạy La Hầu La, thì bao nhiêu sai lầm, tội ác và bất hạnh đã không xảy ra trong thế giới đầy đau thƣơng này. Đức Phật nói: "Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh ngƣơi biết "Thân nghiệp này ta muốn làm, thân nghiệp này cuả ta có thể đƣa đến tự hại, có thể đƣa đến hại ngƣời, có thể đƣa đến cả hai, thời thân nghiệp này là bất thiện, đƣa đến đau khổ. Một thân nghiệp nhƣ vậy, này La Hầu La, nhà ngƣơi nhất định chớ có làm. Này La Hầu La, nếu sau khi phản tỉnh, ngƣời biết: "Thân nghiệp này ta muốn làm, thân nghiệp này cuả ta không có thể đƣa đến tự hại, không có thể đƣa đến hại nguời, không có thể đƣa đến hại cả hai, thời thân nghiệp này là thiện, đƣa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc. Một thân nghiệp nhƣ vậy là thiện, này La Hầu La, nhà ngƣơi nên làm". Giai đoạn hai là giai đoạn một việc đã bắt đầu làm, đang làm. Ngay trong giai đoạn này, giai đoạn việc làm đang diễn biến, chúng ta vẫn tiếp tục phản tỉnh: việc này chúng ta đang làm hợp hay không hợp với nếp sống đạo, nếp sống Phật giáo, có gây thiệt hại cho mình, cho ngƣời khác, cho cả hai hay không, hay là ngƣợc lại, có đem an lạc cho mình, cho ngƣời khác, cho cả hai hay không? Nếu qua phản tỉnh, xét thấy là không có hại cho mình, cho ngƣời, cho cả hai thì chúng ta hãy cƣơng quyết tiếp tục việc làm đó, dù có khó khăn cản trở. Cũng nhƣ ngày hôm nay, quý vị hoan hỉ đến đây lễ Phật, nghe thuyết pháp, làm nhiều thiện sự và Phật sự, trong lòng quý vị cảm thấy an lạc, hạnh phúc, trí tuệ các vị tăng trƣởng. Nếu quý vị xét thấy đáng nhƣ vậy thì quý vị hãy yên tâm tiếp tục làm, trong ngày lễ Phật đản này cũng nhƣ trong các ngày lễ Phật khác, hay là mỗi khi có điều kiện. 79

Trái lại, có những việc quý vị đang làm, đang tiến hành, nhƣng trong quá trình làm, quý vị xét thấy không có lợi cho mình, cho ngƣời, không có lợi cho cả hai, thì dù ý muốn ban đầu có tốt chăng nữa, quý vị cũng nên chấm dứt ngay công việc đó. Đức Phật dạy La Hầu La rằng: "Này La Hầu La, khi nhà ngƣơi đang làm một thân nghiệp, nhà ngƣơi cần phản tỉnh thân nghiệp ấy nhƣ sau: Thân nghiệp này ta đang làm, thân nghiệp này của ta đƣa đến tự hại, đƣa đến hại ngƣời, đƣa đến hại cả hai, thời thân nghiệp này là bất thiện, đƣa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ. Này La Hầu La, nếu trong khi phản tỉnh, nhà ngƣơi biết thân nghiệp đang làm là bất thiện, nhƣ vậy thì nhà ngƣơi hãy từ bỏ một thân nghiệp nhƣ vậy. Nhƣng nếu, này La Hầu La, trong khi phản tỉnh, nhà ngƣơi biết nhƣ sau: thân nghiệp nay ta đang làm không đƣa đến tự hại, không đƣa đến hại ngƣời, không đƣa đến hại cả hai, thời thân nghiệp này là thiện, đƣa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc, thân nghiệp nhƣ vậy, này La Hầu La, nhà ngƣơi cần phải tiếp tục làm." Giai đoạn ba là giai đoạn khi một việc đã đƣợc làm xong. Chúng ta cũng cần phản tỉnh xem, việc mà chúng ta đã làm có hợp hay không hợp với nếp sống đạo, nếp sống Phật giáo, có gây thiệt hại hay không cho mình và cho ngƣời, có gây thiệt hại hay không cho cả hai, có đem lại an lạc và hạnh phúc hay không cho mình và cho ngƣời khác hay là cho cả hai. Nếu phản tỉnh và nhận thấy việc đã làm có gây thiệt hại cho mình và cho ngƣời khác hay là cho cả hai, thì chúng ta phải thành thật ăn ăn hối lỗi, trung thực bộc lộ lỗi lầm với vị đạo sƣ hay là với những ngƣời bạn đồng tu, đồng đạo của mình. Sau đó, hạ quyết tâm từ nay không làm lại một việc làm có hại nhƣ vậy nữa. Nhƣng nếu, qua phản tỉnh, nhận thấy việc mình đã làm là hợp với nếp sống đạo, nếp sống Phật giáo, đem lại hạnh phúc an lạc cho mình và cho ngƣòi khác, hay cho cả hai, thì chúng ta thật sự hoan hỷ, sẵn sàng làm lại việc đó một lần nữa, nhiều lần nữa mỗi khi có điều kiện, vì hạnh phúc an lạc của bản thân mình và của mọi ngƣời. Chính Đức Phật cũng đã khuyến cáo La Hầu La nên làm nhƣ vậy, sau mỗi việc làm cuả mình: "Này La Hầu La, sau khi nhà ngƣơi làm xong một thân nghiệp, nhà ngƣơi cần phải phản tỉnh thân nghiệp ấy nhƣ sau: "Thân nghiệp này 80

ta đã làm, thân nghiệp này của ta đƣa đến tự hại, đƣa đến hại ngƣời khác, đƣa đến hại cả hai, thời thân nghiệp này là bất thiện, đƣa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ, nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, nhà ngƣơi biết nhƣ sau: Thân nghiệp này ta đã làm, đƣa đến tự hại, đƣa đến hại ngƣời, đƣa đến hại cả hai, thời thân nghiệp này là bất thiện đƣa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ. Một thân nghiệp nhƣ vậy, này La Hầu La, nhà ngƣơi cần phải thƣa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình bày trƣớc các vị Đạo sƣ, hay trƣớc các vị đồng Phạm Hạnh có trí. Sau khi đã thƣa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tƣơng lai". "Lại nữa, nếu trong khi phản tỉnh, này La Hầu La, nhà ngƣơi biết nhƣ sau: Thân nghiệp này ta đã làm, không đƣa đến tự hại, không đƣa đến hại ngƣời, không đƣa đến hại cả hai, thời thân nghiệp này là thiện, đƣa đến an lạc đem đến quả báo an lạc. Do vậy, này La Hầu La, nhà ngƣơi phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tu học ngày đêm trong các thiện pháp". Đối với mỗi việc làm của thân, tức là thân nghiệp, dù khi còn là ý muốn, hay là khi đang làm, hay là sau khi đã làm xong, Đức Phật đều khuyên La Hầu La cũng nhƣ tất cả Phật tử chúng ta đều nên tỉnh táo xem xét, là thiện hay là bất thiện, nếu là thiện, thì hãy tu học ngày đêm để tăng trƣởng những việc làm thiện đó. Và nếu là bất thiện thì cũng hãy cố gắng ngày đêm để dứt bỏ, đoạn trừ, đề phòng, ăn năn, hối lỗi, để cho những pháp bất thiện đó không bao giờ còn tái phạm nữa. Không những đối vói việc làm nơi thân, mà cả đối với lời nói, đối với mỗi ý nghĩ chớm nở trong tâm mình, Đức Phật cũng đều khuyên chúng ta phản tỉnh xem xét là thiện hay bất thiện. Nếu là thiện, thì học tập phát huy tăng trƣởng lên, nếu là bất thiện, thì phấn đấu không mệt mỏi để diệt trừ, xóa bỏ. Và chỉ sau nhiều lần phản tỉnh nhƣ vậy đối với việc làm, lời nói và ý nghĩ cuả mình, chúng ta mới có thể tiến dần tới chỗ tất cả ba nghiệp của chúng ta, thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp dần dần đƣợc trong sạch sáng sủa, hoàn toàn hợp với nếp sống đạo, nếp sống Phật giáo. Chúng ta, dần dần thực hiện theo đúng lời dạy của Đức Phật, nhƣ đã ghi trong Kinh Pháp Cú: 81

"Không làm mọi điều ác, Thành tựu các hạnh lành, Tâm giữ ý trong sạch, Chính lời chư Phật dạy". Tâm ý giữ trong sạch, phải là mối quan tâm thƣờng xuyên và hàng đầu của mọi Phật tử chúng ta, xuất gia hay tại gia. Vì sao vậy? Thƣa quý vị, đây là vì, thông thƣờng, ngƣời ta suy nghĩ trƣớc rồi mới nói, mới làm, tất cả chúng ta đều tâm niệm câu kệ I của Kinh Pháp Cú: "Ý dẫn đầu các Pháp, Ý làm chủ, ý tạo, Nếu với ý ô nhiễm, Nói lên hay hành động, Khổ não bƣớc theo sau, Nhƣ bánh xe vật kéo" Nghĩa là: Tâm ý đã bất thiện, nhơ bẩn, đầy tham sân si, thì lời nói, hành động với tâm ý nhƣ vậy cũng sẽ bất thiện, nhơ bẩn, đầy tham sân si, và đem lại quả báo đau khổ. Trái lại, nhƣ Kinh Pháp Cú nói: "Nếu với ý thanh tịnh, Nói lên hay hành động, An lạc bước theo sau, Như bóng không rời hình". Nếp sống đạo, nếp sống Phật giáo, là nếp sống với tâm ý trong sạch. Đó cũng chính là nếp sống hạnh phúc. Một niềm hạnh phúc mình tự tạo cho mình, đem lại cho mình chứ không phải ngƣời nào khác, dù là cha mẹ, bà con cũng không làm đƣợc. Đó chính là ý tứ cuả câu kệ 43 trong kinh Pháp Cú:

82

"Điều mẹ cha, bà con Không có thể làm được, Tám hướng chánh làm được, Làm được tốt đẹp hơn!". Tâm hƣớng chánh là tâm thiện, tâm lành, tâm trong sạch. Trái lại, con ngƣòi có tâm bất thiện cũng là ngƣời bất hạnh nhất trên đời, một nỗi bất hạnh còn lớn lao hơn, đáng sợ hơn là điều ác kẻ thú đem lại cho mình nữa. Kinh Pháp Cú viết: "Oan gia hại oan gia, Kẻ thù hại kẻ thù, Không bằng tâm hướng tà, Gây ác cho tự thân". Vì sao Kinh Pháp Cú lại nói nhƣ vậy? Đấy là vì tâm bất thiện là kẻ thù ở bên trong, kẻ thù làm hại ngấm ngầm, cho nên cũng là kẻ thù đáng sợ hơn cả. Có vị nêu câu hỏi: Làm sao giữ đƣợc cho tâm ý luôn luôn thiện lành trong sạch? Làm sao giữ cho tâm ý không còn nghĩ ác, nghĩ bất thiện? Làm sao đừng có tham sân si, bớt tham sân si, mặc dù vẫn biết tham sân si là sai trái, đau khổ? Đó là một câu hỏi rất chính đáng, Đức Phật đã từng nói: "Rối ren thay loài ngƣời!" (Kinh Kandakara, Trung bộ II Kinh 51) . Có ngƣời biết hút thuốc là có hại những vẫn hút, biết uống rƣợu là có hại nhƣng vẫn uống. Đó là sức mạnh cuả thói quen, một sức mạnh đáng sợ. Cũng nhƣ một ngƣời đi mãi trong sƣơng mai, thế nào áo cũng thấm sƣơng. Muốn cho áo mình đƣơc khô, phải phơi phóng bao nhiêu ngày! Đối với tâm ngƣời cũng vậy. Tâm ngƣời nghĩ ác hay nghĩ thiện cũng thành thói quen. Mà đã thành thói quen, nhất là thói quen xấu thì cũng phải có công phu, mất thời gian mới trừ bỏ đƣợc. Trƣớc hết phải tự tạo cho mình một môi trƣờng tốt với những môi trƣờng tốt, những thiện trí thức, nhƣ sách Phật thƣờng nói. Trong kinh Tiểu Kinh Mãn Nguyên (Kinh Trung Bộ số 110), Đức Phật giới thiệu cho chúng ta rõ thế nào là nếp sống của một ngƣời bất thiện. Một ngƣời bất thiện, là một ngƣời đầy những 83

tánh bất thiện, nhƣ không có lòng tin, không biết xấu hổ, không biết sợ hãi, nghe ít, biếng nhác, thất niệm, kém trí tuệ. Ngƣời bất tiện suy tƣ nhƣ ngƣời bất chánh, suy tƣ tự làm hại mình, suy tƣ làm hại ngƣời khác, suy tƣ làm hại cả hai. Ngƣời bất thiện nói năng nhƣ ngƣời bất chánh: Nói láo, nói hai lƣỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm. Ngƣời bất thiện hành động nhƣ ngƣời bất chánh, sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục. Nhƣ vậy, với những định nghĩa trên chúng ta biết ngay thế nào là ngƣời bất thiện và giúp chúng ta tự tránh không trở thành ngƣời bất thiện. Phật tử thƣờng xuyên đến đây Lễ Phật, nghe giảng kinh đọc sách Phâạt, cùng nhau nói chuyện đạo lý, làm các việc Phật sự và thiện sự, đó chính là tự tạo cho mình một môi trƣờng tốt bài trừ niệm ác, nẩy sinh niệm lành, niệm thiện. Một ngƣời làm thì khó, hay là mới bắt đầu làm thì khó. Nhƣng nếu có tổ chức, nhiều ngƣời cùng làm và làm nhiều lần, thành quen, thành nếp thì công việc khó khăn mấy cũng sẽ hoàn thành tốt đẹp. Có môi trƣờng tốt rồi, có bạn bè tốt rồi, chúng ta còn phải nổ lực bản thân nữa. Kinh An Trú Tầm (Kinh thứ 20, Trung Bộ Kinh 1), dạy chúng ta phƣơng pháp nổ lực đúng đắn để nuôi dƣỡng niệm lành, loại trừ niệm ác. Kinh An Trú Tầm nói có năm biện pháp tất cả: - Biện pháp thứ nhất: là lấy niệm lành xua đuổi niệm ác. Thí dụ, lấy niệm từ bi xua đuổi niệm sân giận Đức Phật dùng ví dụ ngƣời thợ mộc khéo, dùng một cái nêm hay (Ý nghĩ lành) đánh bật một cái nêm khác (ý nghĩ ác). - Biện pháp thứ hai: Là ngẫm nghĩ về hậu quả tai hại của niệm ác sẽ dẫn tới tội ác và sự trừng phạt. Cũng nhƣ một ngƣời quan sát thấy mình đang đeo xung quanh cổ một cái xác chó chết, sợ quá, liền vứt bỏ đi. Cũng nhƣ hiện nay, ngƣời nghiện thuốc lá suy nghĩ thấy hút thuốc có thể gây cho mình và con cái mình (ngửi khói thuốc) mắc bệnh ung thƣ, phát sợ bèn bỏ thuốc hút. - Biện pháp thứ ba: là cố gắng, quên niệm ác đi, đừng nghĩ tới nó nữa. Phật lấy ví dụ một ngƣời nhắm mắt để khỏi phải thấy một vật gì đó có thể thúc đẩy mình làm ác. 84

- Biện pháp thứ tƣ: là hãy chận giòng niệm ác lại, để cho nó giảm bớt sức mạnh. Đức Phật dùng ví dụ một ngƣời đang chạy, chuyển sang đi, rồi chuyển sang đứng, rồi ngồi, rồi nằm. Tôi có thể lấy ví dụ hút thuốc để minh họa lời Phật. Một ngƣời nghiện, thấy bao thuốc lá cầm ngay lấy, rút thuốc đánh diêm châm, hít hai ba hơi luôn. Bây giờ thấy bao thuốc, khoan cầm lấy bao, và khi đã cầm lấy bao rồi, thì khoan rút điếu thuốc rqa, khoan châm diêm, hay là đã châm diêm rồi, thì khoan hít một hơi v.v... Bởi vì, mỗi khi dừng lại nhƣ vậy, chúng ta đều có thể phản tỉnh, nhớ đến lời dặn của thầy thuốc về thuốc lá gây bệnh ung thƣ nhƣ thế nào, lời nhắn của vợ hút thuốc tốn tiền nhƣ thế nào v.v... nhờ vậy, có thể ngăn không hút thuốc nữa. - Biện pháp thứ năm: là dùng ý chí, nghị lực khống chế niệm ác, không cho nó sanh khởi, Phật ví dụ một ngƣời khoẻ vật ngã một ngƣời yếu. Trên đây là năm biện pháp khống chế và loại trừ niệm ác, đƣợc Đức Phật giảng trong Kinh "An Trú tầm". Đó là những lời dạy thiết thực và cụ thể, mọi ngƣời đều có thể áp dụng trong cuộc sống hàng ngày. Một điều chúng ta cần ghi nhớ là tất cả các niệm đều vô thƣờng, dù ác hay thiện, nếu nó không đƣợc nuôi dƣỡng bằng những niệm tƣơng ứng và nhất là việc làm tƣơng ứng. Tôi lấy ví dụ niệm hút thuốc của ngƣời hút thuốc lá. Niệm hút thuốc đó đƣợc nuôi dƣỡng bằng những niệm nhƣ là hút thuốc là vô hại, hút thuốc thêm sáng kiến, hút một điếu có thể giảm thọ vài ba giây nhƣg cƣời một tiếng lại tăng thọ bảy giây v.v.. Nếu chúng ta không nuôi dƣõng niệm hút thuốc bằng những niệm nhƣ vậy, trái lại chống đối nó, bài trừ nó bằng những niệm nhƣ hút thuốc gây bệnh ung thƣ, hút thuốc hại phổi, hút thuốc tốn tiền v.v.. thì niệm hút thuốc có thể dần dần không còn chi phối chúng ta nhƣ trƣớc nữa. Và chúng ta có thể tiến tới bỏ thuốc lá mà không gặp khó khăn gì. Một điều nữa, chúng ta cũng cần ghi nhớ là niệm thiện nói chung mạnh hơn niệm ác, cũng nhƣ ánh sáng mạnh hơn bóng tối vậy. Niệm ác sỡ dĩ chi phối chúng ta đƣợc là vì chúng ta không biết nó là ac. Nếu nhận mặt nó đƣợc là ác, thì tự nhiên nó sẽ tan biến đi. Chính vì vậy, mà Kinh sách Phật khuyên chúng ta nên 85

luôn luôn chánh niệm tỉnh giác, biết rõ mình đang nghĩ gì, nói gì, làm gì và ý nghĩ đó, lời nói đó, việc làm đó là thiện hay bất thiện, đem lại an lạc hay đau khổ cho mình và cho ngƣời. Có ngƣời nghĩ ác mà không biết mình là ác. Con ngƣời nhƣ thế rất khó tu tập bỏ ác làm lành. Cũng nhƣ có ngƣời làm điều thiện mà không biết mình làm điều thiện thì cũng rất khó tăng trƣởng điều thiện. Cuộc sống của ngƣời Phật tử phải là một cuộc sống tỉnh táo, biết thiện là thiện để phát huy điều thiện vốn có, học những điều thiện mình chƣa có. Đồng thời cũng phải biết ác là ác thì mới loại bỏ điều ác mình đã phạm và phòng hộ những điều ác chƣa sanh khởi. Nói tóm lại, tăng điều thiện vốn có, học những điều thiện chƣa có, bỏ điều ác vốn có, tránh điều ác chƣa có: đó phải là nếp sống tinh tấn của mọi Phật tử chúng ta. Đó cũng là định nghĩa chữ "Chánh tinh tấn", Sammà vàyama, trong Bát chánh đạo mà Đức Phật khuyên tất cả Phật Tử chúng ta cần phải hành trì. "Vị Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nổ lực kiên trì tinh tấn, không từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp". (Tăng Chi II, trang 18). Trên đây, chúng tôi có nói dùng niệm thiện xƣa đuổi niệm ác. Các vị có thể hỏi đó là niệm thiện gì? Các Kinh Phật thƣờng dạy pháp tu "Tám chánh đạo" bằng chánh Tri kiến, chánh tƣ duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, tám pháp môn tác thành con ngƣời toàn thiện, tám pháp môn xây dựng một nếp sống Phật giáo hoàn mỹ, thiết thực ứng dụng vào đời sống thực tại. Một con ngƣời chí thiện tất nhiên phải là con ngƣời có tri kiến chơn chánh có tƣ duy chơn chánh, có ngôn ngữ chơn chánh, có ba nghiệp chơn chánh, có sinh kế chơn chánh, có ý niệm chơ chánh và có thiền định chơn chánh. Thực là sai lầm khi có một ngƣời nào đó buộc tội đạo Phật chúng ta nhƣ là tiêu diệt mọi tình cảm của con ngƣời, nhƣ là phi nhân bản! Trái lại, có thể nói đạo Phật là đạo nhân bản nhất bời vì nói giúp cho mọi ngƣòi phấn đấu để trở thành những con ngƣời hoàn thiện, những bậc Thánh trên thế gian này, những con ngƣời hội tự một cách đầy đủ và hoàn mỹ nhất những đức hạnh từ bi và trí tuệ. 86

Con ngƣời có trí tuệ và tình thƣơng rộng lớn (từ bi): đó phải là hƣớng phấn đấu của tất cả chúng ta, vì đó là mẫu mực, của con ngƣời hoàn thiện theo quan điểm Phật giáo. Đó là một hƣớng phấn đấu cụ thể, không có gì là viễn vông xa vời, Đức Phật và hằng bao thế hệ đệ tử đắc đạo của Ngài chứng tỏ con ngƣời mẫu mực hoàn thiện đó không phải là một cấu trúc không tƣởng mà đã là, đang là, sẽ là những con ngƣời sống, thực tại nếu biết cố gắng phấn đấu theo con đƣờng. Bát chánh đạo mà Đức Phật đã vạch ra. Giá trị bất hủ của đạo Phật chính là ở chỗ nó vạch ra con đƣờng cụ thể giúp cho mỗi ngƣời chúng ta trở thành con ngƣời hoàn thiện, con ngƣời sống hạnh phúc và tự do, con ngƣời mẫu mực về trí tuệ và tình thƣơng rộng lớn. Đó cũng chính là bức thông điệp mà Đức Phật để lại chúng ta: bức thông điệp kêu gọi mọi ngƣời chúng ta hãy phấn đấu để trở thành những con ngƣời hoàn thiện, những con ngƣời giải thoat khỏi ba độc Tham, Sân và Si, những con ngƣời tâm giải thoát và trí tuệ giải thoát, xứng đáng là học trò đức Phật, con đẻ tinh thần cuả Đức Phật. Trong thế giới đầy hận thù này, chúng ta hãy sống không hận thù, hãy nêu gƣơng sáng của cuộc sống đầy tình thƣơng. Trong thế giới đầy bóng tối này, bóng tối của đe dọa chiến tranh, và nếp sống phi đạo đức, chúng ta hãy thắp lên ngọn đèn của trí tuệ, của hiểu biết và thông cảm. Xã hội không nhìn chúng ta, đánh giá chúng ta qua sách Phật và tƣợng Phật, mà nhìn chúng ta, đánh giá chúng ta qua con ngƣời cụ thể của chúng ta, qua việc làm và lời nói cụ thể của chúng ta, có thể hiện trung thành hay tƣơng phản lại với ý tƣởng từ bi và trí tuệ của Đạo Phật. Đức Phật cũng vậy, Ngài nhìn chúng ta đánh giá chúng ta không phải qua tƣợng, tranh Phật, qua sách Phật ghi chép lời Ngài có đúng hay không, mà là qua nếp sống hàng ngày cụ thể của Tăng ni Phật tử chúng ta có thật là nếp sống đạo, nếp sống Phật giáo hay không. Nếu thật sự, chúng ta sống, ứng xử, hành động theo đúng những lời dạy cuả Phật, thì dù Đức Phật có nhập Niết Bàn cách đây ba 87

ngàn năm, nhƣng Ngài vẫn luôn luôn ở bên cạnh chúng ta, theo dõi hƣớng dẫn, khích lệ chúng ta. Trong ngày lễ Phật Đản trang trọng này, chúng tôi hy vọng đó là niềm tin của tất cả chúng ta, và tất cả chúng ta sẽ sống theo niềm tin đó. Kính chúc tất cả quý vị trọn hƣởng một mùa Phật Đản tràn đầy Từ bi và Trí tuệ. Tỳ kheo Thích Minh Châu

88

16. Hạnh phúc
Con ngƣời sinh ra trên cõi đời này, từ thuở mới chào đời cất tiếng khóc tu oa cho đến lúc trƣởng thành, không ai tự đoán định đƣợc thân phận của chính mình. Có ngƣời từ bé đến lớn luôn đƣợc cha mẹ cƣng chiều, ngoài xã hội đƣợc nhiều ngƣời ƣu đãi, thành đạt công danh rực rỡ.

Có kẻ mới chào đời đã không cha mẹ, cuộc sống dãi nắng dầm sƣơng, bôn ba xuôi ngƣợc giữa chốn trƣờng đời. Những ngƣời ấy, trong lòng họ luôn âm thầm mong mỏi, đợi chờ một phép mầu đem đến cho họ cuộc sống hạnh phúc. Vậy thế nào là hạnh phúc ? 89

Trên phƣơng diện từ ngữ, “Hạnh phúc” là chỉ cho vận may phúc tốt, mọi sự thành tựu nhƣ ý nguyện. Xét về phƣơng diện cảm nhận hạnh phúc ở thế gian, nó rất đa dạng và phong phú. Nó bàng bạc lan tỏa trong từng tầng lớp đời sống con ngƣời trong xã hội, từ bậc trí thức thƣợng lƣu cho đến thành phần lao động, đều có cảm nhận riêng. Đối với thành phần lao động, hạnh phúc của họ rất đơn giản, quanh năm suốt tháng tuy vất vả nhọc nhằn, sớm nắng chiều mƣa gian khổ, nhƣng họ không màng, lòng chỉ mong gia đình êm ấm, đủ ăn đủ mặc, con cái ngoan hiền, học hành đến nơi đến chốn, ngần ấy thôi là họ đủ vui rồi. Nhƣng với thành phần trí thức thƣợng lƣu, sự cảm nhận hạnh phúc của họ tế nhị hơn. Ngoài nhu cầu vật chất, đời sống hạnh phúc ở tinh thần là điều quan trọng. Vị bác sĩ, hạnh phúc của họ là đƣợc quên mình để quan tâm, chăm sóc, cứu giúp bệnh nhân thoát khỏi tử thần, đem lại niềm vui cho ngƣời bệnh. Hay nhƣ các nhà bác học, năm tháng miệt mài, thí nghiệm phát minh ra những công trình mới, sáng kiến mới, cống hiến cho nhân loại. Còn đó, niềm hạnh phúc lặng thầm của những vị thầy đứng trên bục giảng, nhìn thế hệ học trò tầng tầng lớp lớp, công thành danh toại do chính mình vun đắp … Đó là những niềm vui rất đáng đƣợc trân trọng. Song, vạn pháp hiện hữu trên cõi đời này dù thô hay tế, đều đi theo luật Thành, Trụ, Hoại, Không. Nó đƣợc hình thành và tồn tại trên lý Duyên sinh. Do đó, những hạnh phúc kể trên nó cũng chịu sự chi phối của định luật Vô thƣờng, nó vẫn bị vƣơng vấn trong vòng rào Có và Không. Thành tựu đƣợc nhƣ ý nguyện thì hạnh phúc; còn ngƣợc lại, buồn vui, đau khổ là điều không sao tránh khỏi. Con ngƣời sống trên đời cứ mãi chao đảo trong sự đƣợc mất thì còn gì để gọi là hạnh phúc ? Trong bài viết này tôi muốn bày tỏ, ngoài những thứ hạnh phúc hiện thực mà chúng ta đã thấy, còn có thứ hạnh phúc gần gũi, chân thật hơn, ở ngay nơi chúng ta, nhƣng ta mãi chạy theo mong cầu những điều xa xôi mà bỏ quên nó. Đó là hạnh phúc khi ta đƣợc thân ngƣời. Tại sao đƣợc thân ngƣời là điều hạnh phúc ? Vì đây là một trong bốn điều khó gặp mà trong kinh Đức Phật thƣờng nhắc nhở : “Thân ngƣời khó đƣợc, Phật pháp khó nghe, tín tâm khó phát, bạn lành khó gặp”. 90

Sống động hơn, đó là hình ảnh con rùa mù trăm năm nổi lên một lần nơi biển cả, tìm bọng cây nổi để chui vào, vẫn còn dễ dàng hơn chúng ta, khi mất thân ngƣời thì muôn kiếp khó tìm đƣợc lại. Vì sao ? Bởi vì rùa tuy mù, đại dƣơng dẫu mênh mông, song vẫn có cơ hội để nó tìm đƣợc bọng cây. Còn chúng ta tuy đƣợc làm ngƣời nhƣng không biết quý trọng thân này, không biết tu nhân tích đức, cải ác tùng thiện, giữ gìn ba nghiệp, quy y Tam bảo, thọ trì năm giới. Ngày tháng thoi đƣa, cứ mặc cho ba nghiệp phóng túng, dong ruổi theo sáu trần, nào sắc đẹp, tiền tài, danh vọng để thỏa mãn tâm tham ái dẫy đầy, tạo ra muôn trùng tội lỗi không phút nào ngơi. Nếu một phen đọa lạc trầm luân trong sáu nẻo, nghiệp ác ngày càng tăng bởi si mê chồng chất thì biết đến bao giờ mới ra khỏi, để tìm lại đƣợc thân ngƣời nhƣ trƣớc ? Hai hình ảnh đối lập giữa ngƣời và vật đƣợc đƣa ra so sánh biểu trƣng, mức độ cách xa đó cho thấy thân ngƣời quý trọng đến dƣờng nào ? Ấy vậy mà xƣa kia có thi nhân đã thốt lên : “Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”. Vì sao thi nhân lại nói thế ? Có phải chăng cuộc sống của kiếp ngƣời có nhiều trái ngang bất hạnh, đời giả trá bạc đen, tình đồng loại cơ hồ mai một, ngƣời thì sang cả lắm của nhiều tiền, kẻ thì cơ hàn áo cơm chẳng đủ ? Song, dù thế nào đi chăng nữa, chúng ta cũng không có quyền chối bỏ, quay lƣng “xin chớ làm ngƣời”, mà chúng ta hãy thật lòng đón nhận kiếp sống của một con ngƣời trong từng bối cảnh, có thế chúng ta mới thấy đƣợc niềm vui sống, thấy đƣợc cuộc đời vẫn còn nhiều số phận đáng thƣơng đang đợi chờ ta nâng đỡ. Ngày xƣa, khi gặp cảnh trái ngang, chính tôi cũng đã nói nhƣ thế, nhƣng giờ đây gẫm lại mới thấy mình ngu dại vô cùng. Cuộc đời đâu có chối bỏ ta, cớ sao ta nỡ lòng quay lƣng ngoảnh mặt ? Trong một xã hội văn minh, chúng ta cần phải thức thời dung hòa cuộc sống, không thể nào giữ mãi định kiến: Mọi người đục cả, mình ta trong. Mọi người say cả, mình ta tỉnh. (Khuất Nguyên) 91

Tuy chúng ta chƣa đầy đủ khả năng đạt đến trình độ ung dung, “thỏng tay vào chợ”, nhƣng chúng ta có thể tùy duyên mà chọn lọc những cái hay, nét đẹp tích lũy cho mình, để giúp cho đời sống tâm linh của chúng ta ngày càng phong phú hơn. Chúng ta may mắn đƣợc làm ngƣời là do duyên nghiệp xƣa kia của ta gieo tạo, vậy thì hôm nay ta phải biết nâng cao giá trị làm ngƣời, giá trị cao quý của con ngƣời là phải biết cảm thông, xẻ chia vun đắp, biết tùy thời để sống, đem lại lợi ích cho tha nhân, phải thiết tha xem đó là trách nhiệm và bổn phận. Nhƣ lời của một nhà thơ : Đã là con chim và chiếc lá, Thì chim phải hót và lá phải xanh, Đã là người có vay thì phải trả, Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình. Ôi ! Một sinh vật hữu tình bé nhỏ, một chiếc lá thầm lặng bên thềm mà còn nhận ra đƣợc trách nhiệm bản thân để hiến dâng cho cuộc sống này thêm sắc màu tƣơi đẹp. Huống chi làm một con ngƣời ? Dù cƣ sĩ hay tu sĩ, trên vai đều oằn nặng bốn ân : Ân cha mẹ sanh thành dƣỡng dục, ân Sƣ trƣởng nặng lòng giáo hóa, ân quốc vƣơng khiến đất nƣớc bình yên, ân bạn lành tận tình giúp đỡ. Tất cả chẳng ai đòi, nhƣng bản thân làm ngƣời chúng ta không thể nào mặc nhiên thọ hƣởng, bởi quy luật tuần hoàn : “Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”. Sống mà đƣợc cho ngƣời những gì mình có, cũng là một điều hạnh phúc. Nếu ta không có vật chất để cho ngƣời thì hãy cho nụ cƣời nhân ái, lời nói dịu dàng đầy tình thƣơng chân thật của chúng ta. Đức Phật khi xƣa xuất gia từ bỏ cung vàng điện ngọc, Ngài đâu có bạc tiền để cho thiên hạ. Nhƣng với tấm lòng từ mẫn, với trí tuệ siêu phàm, Ngài đã cho nhân loại một con đƣờng an lạc, giải thoát ngay cõi Ta bà. Lời tuyên ngôn “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có hận thù trong giọt nƣớc mắt cùng mặn” của Ngài đã mở đầu cho kỷ nguyên mới đậm chất tình ngƣời, thể hiện tinh thần bình đẳng, vô ngã, vị tha. Ngài không những mở đƣờng chỉ lối, đƣa chúng sanh ra khỏi vòng kiềm tỏa, uy quyền của giai cấp, mà còn cho chúng sanh thấy rằng số phận con ngƣời đƣợc hình thành do bởi Nghiệp báo, Nhân quả, Duyên sinh của chính mình. 92

Chẳng còn bao lâu nữa, khắp cả hoàn cầu, hàng ngàn Phật tử nô nức đón mừng ngày Phật đản, cùng nhau chí tâm thành kính hƣớng về Từ phụ, vị cha lành xuất hiện trên cõi Ta bà, đem lại niềm hân hoan cho nhân loại. Nếu cách đây hơn 2500, Ngài đã từng lau khô dòng lệ cho giai cấp Thủ-đà-la, Phệ-xá, thì hôm nay chúng con - đệ tử của Ngƣời, cũng nguyền nối gót, nguyện cầu cho chúng sanh vơi niềm đau khổ, thêm nhiều hạnh phúc. Điều căn bản là phải biết nâng niu, quý trọng hạnh phúc lớn lao khi ta đƣợc thân ngƣời. Quý trọng thân ngƣời đây không phải để chúng ta bồi bổ, ăn ngon, mặc đẹp, mà nƣơng vào đó để chúng ta vun bồi phƣớc tuệ, hoàn thiện nhân cách cho chính mình và làm lợi ích cho nhân loại. Giàu sang hay đói khổ, thành công hay thất bại, hạnh phúc hay khổ đau, đều tùy thuộc vào chính bản thân ta. Do đó, hôm nay ta đƣợc thân ngƣời hoàn chỉnh, đƣợc nghe chánh pháp, phát tâm lành tu học, có đƣợc bạn hiền giúp đỡ, đó là một hạnh phúc vô cùng vĩ đại. Trong niềm hạnh phúc hân hoan mừng ngày Phật đản, xin cho con đƣợc thành kính dâng lên Từ phụ lời tán thán : Đức Thế Tôn cao cả tuyệt vời ! Từ bi thị hiện khắp muôn nơi Ban cho nhân loại niềm vui sống Cho con hạnh phúc được làm người Lắng nghe chánh pháp vơi sầu khổ Diệt tận nguồn mê trí sáng ngời Hạnh phúc trong muôn ngàn hạnh phúc Làm người hạnh phúc nhất trên đời ! Thích Nữ Tắc Phú

93

17. Cơm sôi nhỏ lửa
Hạnh phúc là một điều có thật và ở trong tầm tay của chúng ta. Có nắm đƣợc nó, có giữ đƣợc nó hay không tùy theo cách nhìn, cách ứng xử của chúng ta...

Trong cuộc sống lứa đôi, các cặp vợ chồng đều muốn có một gia đình hạnh phúc và muốn đƣợc sống bên nhau trọn đời. Tƣơng kính nhƣ tân - vợ chồng sống với nhau, đối đãi nhau, kính trọng nhau nhƣ ngƣời khách quý lúc mới gặp - là một cách để giữ vững niềm hạnh phúc đó. Nói thì dễ, nhƣng làm đƣợc nó đòi hỏi rất nhiều nỗ lực. Có khi chỉ vì một chuyện nhỏ nhặt không đâu, một câu nói bông đùa lỡ lời mà hạnh phúc bị tan vỡ. Tôi đã có dịp lắng nghe tâm tƣ của các đôi bạn trẻ qua những buổi làm lễ hộ niệm thành hôn (lễ hằng thuận), hay qua các buổi tham vấn cho các bạn gặp khó khăn trong liên hệ tình cảm và nhận thấy sự thực tập chánh niệm trong đời sống hằng ngày giúp rất nhiều trong việc duy trì hạnh phúc tình cảm lứa đôi. Không thể tránh những đụng chạm trong đời sống, nhƣng ta có thể giải quyết chúng một cách hài hòa, khi trong ta có sự hiểu biết và thƣơng yêu. Bài hát Cõi mê (A crazy world, ABBA, 1976) nói về cảm xúc, suy nghĩ và hành động của một chàng trai khi thấy ngƣời yêu của mình tiếp xúc với một ngƣời đàn ông khác. Sáng hôm đó không ngủ đƣợc, chàng trai đi bộ qua nhà ngƣời yêu để nói chuyện. Đến nơi, chàng thấy một ngƣời đàn ông từ nhà của ngƣời yêu đi ra 94

bãi đậu xe và sau đó lái xe đi. Ngƣời yêu của chàng cũng đi ra tiễn. Chàng nghĩ là mình bị phản bội và sợ là ngƣời yêu sẽ bỏ rơi mình. Thấy ngƣời yêu tỉnh bơ nhƣ không có việc gì xảy ra, chàng nhƣ muốn điên lên và la lối rằng là chàng đã hết lòng yêu nàng, sao nàng lại quen ngƣời khác, nàng chẳng đã từng nói chàng là ngƣời đàn ông duy nhất của nàng hay sao. Cô gái mỉm cƣời trả lời rằng có hai ngƣời đàn ông trong cuộc sống của cô. Anh trai của cô - ngƣời vừa mới lái xe đi là một trong những ngƣời đó. Anh nàng đã đi xa một thời gian dài và nay trở về đây sinh sống. Chàng sẽ có nhiều cơ hội tiếp xúc với ngƣời anh trai dễ thƣơng của nàng. Nhận thấy là mình bị hớ và nhƣ là đang ở trong cơn mê, chàng trai chỉ còn biết nói thầm là ngƣời yêu đừng bao giờ bỏ rơi mình. Thƣơng yêu và đƣợc thƣơng yêu là một trong những nhu cầu căn bản và thâm sâu nhất của con ngƣời. Không thƣơng và không đƣợc thƣơng thì ta khó mà lớn lên đƣợc. Tình thƣơng yêu ở đây không chỉ là tình yêu đôi lứa, mà còn là tình thƣơng đối với ngƣời thân, bạn bè và tha nhân. Và cả cho muôn loài khác nữa. Thƣơng nhƣ thế nào để ta và ngƣời ta thƣơng đƣợc tự do, để ngƣời ta thƣơng không trở thành vật sở hữu của mình, để ta không sợ bị mất ngƣời ta thƣơng. Thƣơng nhƣ thế nào để khi ngƣời ta thƣơng đƣợc những ngƣời khác thƣơng, ta cảm thấy tình thƣơng của ta thay vì bị giảm đi hay bị đe dọa thì lại đƣợc tăng lên nhiều lần. Trong thực tế, đa số chúng ta muốn ngƣời ta thƣơng chỉ thuộc về riêng ta, nên khi có ngƣời khác thƣơng ngƣời ta thƣơng, ta cảm thấy khó chịu và thƣờng có những phản ứng để chứng tỏ quyền sở hữu của mình. Có khi mẹ chồng cũng ghen với nàng dâu vì không còn đƣợc độc quyền chăm sóc con trai mình nữa. Những tình trạng tâm lý này xảy ra khá thƣờng, nên mới có câu “có thƣơng thì mới ghen, không thƣơng thì ai ghen làm gì”. Nói vậy, nhƣng không ai vui vẻ gì khi ở trong tình trạng đó, dù là ghen với lý do chính đáng (khi ngƣời ta yêu có ngƣời yêu khác) hay ghen bóng ghen gió. Ngƣời bị ghen thì cảm thấy buồn và xấu hổ, ngƣời ghen thì cảm thấy giận dữ và bất an. Yên sao đƣợc khi lúc nào cũng sợ mất ngƣời mình thƣơng. Cả hai đều cảm thấy mất tự do.

95

Sự chiếm hữu thƣờng đƣa đến những khó khăn trong liên hệ tình cảm và làm khổ ngƣời ta thƣơng. Ghen chỉ là một ví dụ. Vì nghĩ ngƣời ta thƣơng là của ta, ta muốn ngƣời ta thƣơng phải làm theo ý ta: phải mang áo màu này, phải ăn thức ăn này, phải làm việc này..., nếu không thì ta buồn, ta giận. Vì sao mà ta có những cảm xúc, suy nghĩ và hành động nhƣ trên? Những gì đã xảy ra trong thâm tâm ta khi ta ghen? Có phƣơng pháp nào để chuyển hóa trạng thái ghen tuông đó, để bảo vệ và vun trồng tình yêu ngày càng bền vững? Ta hãy tìm hiểu những sự kiện trên qua cái nhìn của Duy biểu học, một môn học về tâm lý của Phật giáo. Vận hành của tâm thức Đời sống con ngƣời đƣợc biểu hiện qua thân và tâm. Thức, một từ đƣợc dùng rất nhiều trong tâm lý học Phật giáo, có nghĩa là biết. Để ghi nhận và biết những hiện tƣợng của cuộc sống, ta có sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lƣỡi, thân thể và ý. Mắt tiếp xúc với hình sắc cho ta cái biết ở mắt - thấy, nhãn thức. Tai tiếp xúc với âm thanh cho ta cái biết ở tai - nghe, nhĩ thức. Mũi tiếp xúc với mùi hƣơng cho ta cái biết ở mũi - ngửi, tị thức. Lƣỡi tiếp xúc với vị cho ta cái biết ở lƣỡi - nếm, thiệt thức. Thân thể tiếp xúc với xúc chạm cho ta cái biết ở thân thể xúc, thân thức. Ý tiếp xúc với các pháp (các hiện tƣợng sinh lý, vật lý và tâm lý) cho ta cái biết ở ý - nhận biết, ý thức. Để thử xem bệnh nhân có bị hôn mê hay không, bác sĩ thƣờng thử khả năng biết ở các giác quan. Các từ tâm, ý và thức thƣờng đƣợc dùng để diễn tả các hiện tƣợng tâm lý mà mắt ta không thấy đƣợc. Cảm giác (thọ, feeling) đƣợc phát sinh khi các giác quan tiếp xúc với đối tƣợng của chúng. Có cảm giác dễ chịu (lạc thọ); có cảm giác khó chịu (khổ thọ); và có cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu (xả thọ). Tâm ta có những hiện tƣợng tâm lý gọi là tâm hành (mental formation). Có 51 tâm hành, trong đó có tâm hành tốt (nhƣ tin tƣởng, trung thành, bao dung, không tham, không giận, sáng suốt…), tâm hành xấu (nhƣ đa nghi, phản bội, ganh ghét, tham, giận, ngu si…) và những tâm hành khác. Thọ và tƣởng cũng là hai trong số 51 tâm hành này. Không phải tự nhiên mà các tâm hành này xuất hiện. Chúng đã có mặt trong tâm ta từ lâu dƣới dạng những hạt giống. Những hạt giống này đã đƣợc trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và đƣợc cất giữ ở một chỗ gọi là tàng thức (cái biết cất chứa). Khi có điều kiện thích hợp thì những hạt giống tâm hành này 96

biểu hiện trên ý thức (cái biết biểu hiện). Ý thức dẫn đến những hành động và lời nói trong sinh hoạt hằng ngày của ta. Nếu ta biết tạo điều kiện cho những hạt giống tốt phát triển và biểu hiện, những ý nghĩ, hành động và lời nói của ta sẽ đem lại niềm an vui cho cuộc sống. Ví dụ nhƣ một bà mẹ lấy chăn đắp cho con khi thấy con ngủ mà không đắp gì. Hạt giống thƣơng yêu của ngƣời con đƣợc tƣới tẩm nên cảm thấy hạnh phúc và thƣơng mẹ quá chừng. Hành động đơn giản vậy đó mà làm cho ngƣời con nhớ hoài. Ta có thể xem tàng thức là nhà kho ở tầng dƣới, ý thức là phòng khách ở tầng trên của một căn nhà. Khi một hạt giống xấu biểu hiện ở ý thức, ta không xua đuổi nó, chỉ cần nhận diện sự có mặt của nó, và đừng tạo điều kiện cho nó phát triển thêm. Thay vào đó, ta tạo điều kiện cho một hạt giống tốt phát triển và tập trung vào tâm hành tốt đó thôi, tâm hành xấu sẽ yếu dần và từ từ đi xuống tàng thức dƣới dạng của hạt giống. Ví dụ nhƣ ta muốn khoe chiếc áo đầm mới với một ngƣời bạn. Nhƣng ngƣời bạn lại nói rằng màu đó không đẹp. Thế là cơn giận trong ta nổi lên. Biết mình lỡ lời, ngƣời bạn lại nói cái nơ thắt ngang lƣng làm cho ngƣời mang nó thon và đẹp ra. Đƣợc khen, cơn giận trong ta giảm đi. Ông bà ta cũng đã nói: “Chồng giận thì vợ bớt lời/Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê”. Ở giữa tàng thức và ý thức là mạt na thức, cái biết chấp ngã. Cái biết chấp ngã này cho rằng tất cả các hiện tƣợng đều nhằm để phục vụ ta, chỉ cho riêng ta. Nó nhƣ là bức màn che, làm cho cái biết của mắt, tai, lƣỡi, thân và của ý không đƣợc khách quan. Khi tiếp xúc với đối tƣợng nào, ta cũng nghĩ là của ta và cho ta. Ví dụ nhƣ một chàng trai thấy một cô gái đẹp mỉm cƣời, lại nghĩ là cô ta cƣời với mình. Hay trong một buổi sinh hoạt chẳng hạn, thấy ngƣời khác đƣợc khen và đƣợc nhắc tên, ta cũng muốn đƣợc nhắc tên mặc dù ta không dính líu gì đến chuyện đó. Trở lại câu chuyện của chàng trai và cô bạn gái. Chàng có cảm giác khó chịu khi thấy ngƣời đàn ông rời khỏi nhà của ngƣời yêu - khổ thọ sinh ra khi mắt thấy cảnh mình không muốn thấy. Vì không biết ngƣời đàn ông đó là anh của ngƣời yêu, chàng nghĩ ngƣời đàn ông là ngƣời yêu của nàng và ngƣời yêu đã lừa dối chàng - một tri giác sai lầm (vọng tƣởng). Tri giác sai lầm của chàng trai đã phát sinh những tâm hành sợ hãi (sợ mất ngƣời yêu), giận dữ và nghi ngờ. Không kiểm soát đƣợc cơn giận, chàng lớn tiếng cãi với ngƣời yêu. Cô gái rất khéo, nói ngay 97

ngƣời đàn ông đó là anh trai mình. Cơn sợ hãi, giận dữ và nghi ngờ trong chàng biến mất nhờ nghe đƣợc câu chàng muốn nghe - ngƣời đó không phải là ngƣời yêu của nàng. Tuy nhiên, cô gái cũng muốn tƣới tẩm hạt giống cởi mở, bao dung của ngƣời yêu, muốn cho chàng bớt ghen và tập chia sẻ ngƣời mình thƣơng với ngƣời khác nên mới nói là anh trai của nàng cũng quan trọng giống nhƣ chàng vậy, chàng nên làm quen với anh trai của nàng, anh nàng dễ thƣơng lắm. Câu chuyện kết thúc có hậu nhờ chàng trai biết nói ra những điều làm cho chàng đau khổ và cô gái biết lắng nghe và biết nói ra những điều làm cho chàng bớt khổ. Nếu vì tự ái mà chàng trai bỏ về rồi cứ im lặng ôm lấy niềm đau, rồi ghen bóng ghen gió, thì có thể cuộc tình sẽ tan vỡ. Tự ái là một điều không nên có mặt trong tình yêu. Chỉ cần chàng trai đi trễ năm phút là không thấy anh trai của ngƣời yêu đi ra khỏi nhà của nàng, và sẽ không có sự hiểu lầm. Ta không thể đóng cửa các giác quan, không thể không nhìn, không nghe, không thấy. Chàng trai nên cám ơn những gì đã xảy ra. Nhờ vậy chàng mới hiểu đƣợc mình hơn. Phiền muộn nằm sẵn trong ta chớ không nằm ở ngoài. Đổ lỗi cho những điều kiện bên ngoài mà không nhìn kỹ những gì xảy ra trong tâm thì không giúp ta chuyển hóa đƣợc khổ đau. Không để cảm thọ chi phối Khó khăn xảy ra khi ta không biết cách ứng phó với cảm thọ. Đang giận mà không biết cách điều hòa cơn giận, ta mới la hét, đập phá để giải tỏa năng lƣợng giận đó. Tâm lý học Tây phƣơng trƣớc đây thƣờng đề nghị một phƣơng pháp để giải tỏa năng lƣợng giận là đánh vào một cái gối bông, tƣởng tƣợng gối bông đó là đối tƣợng giận của mình, để năng lƣợng giận có cơ hội thoát ra ngoài. Hành động này tự nó có tính cách bạo động. Đánh xong rồi, mệt đừ, năng lƣợng giận có đƣợc giải tỏa, nhƣng hạt giống bạo động lại đƣợc tƣới tẩm. Phƣơng pháp này nay ít đƣợc dùng. Năng lƣợng đƣợc biểu hiện trong ta dƣới ba dạng: tinh, khí và thần. Tinh là năng lƣợng tình dục, khí là năng lƣợng hơi thở, thần là năng lƣợng của các trạng thái tâm lý. Năng lƣợng hơi thở có tính chất trung hòa có tác dụng nuôi dƣỡng thân tâm. Khi hai loại năng lƣợng tình dục và tâm lý có tính cách phá hoại, ta lập tức trở về với hơi thở, chuyển hóa chúng thành năng lƣợng hơi thở. Tập trung vào hơi thở vào và hơi thở ra, đừng suy nghĩ gì cả. Có thể sẽ mất 5, 10 phút, hoặc lâu 98

hơn, nhƣng không sao. An trú trong năng lƣợng của hơi thở chánh niệm, giúp ta không hành động theo cảm xúc - khi không làm chủ đƣợc lý trí - và tránh đƣợc tình huống “Chƣa đánh đƣợc ngƣời mặt đỏ nhƣ vang/Đánh đƣợc ngƣời mặt vàng nhƣ nghệ”. Khi vui quá - ví dụ nhƣ khi đội banh mình ƣa thích đoạt giải vô địch Euro 2008, thì một năng lƣợng náo nhiệt xuất hiện, nó bắt ta phải làm gì đó. Ta hét, đập bàn, đập ghế để ăn mừng. Khi buồn quá - ví dụ nhƣ khi cuộc tình đổ vỡ - một năng lƣợng tuyệt vọng xuất hiện. Năng lƣợng này cũng rất mạnh, có khi khiến ta làm những hành động dại dột, nguy hiểm đến tính mạng. Khi cô đơn và muốn có ngƣời hiểu để chia sẻ nỗi niềm, một năng lƣợng bức xúc xuất hiện, có thể khiến ta kiếm ngƣời để tâm sự, để ôm ấp. Đây là trƣờng hợp năng lƣợng tâm lý chuyển sang năng lƣợng tình dục. Hiện tƣợng “tình một đêm” đa số là do lý do này. Ta cũng có thể chuyển hóa năng lƣợng tình dục qua năng lƣợng khí và thần. Ngƣời tu trong nhà thiền thực tập chuyển hóa năng lƣợng tình dục thành năng lƣợng tu học, để có thể thành công trên con đƣờng lý tƣởng, nhƣ bài kệ dƣới đây: Xin đem năng lượng này, Chuyển thành tinh tấn lực, Đường lý tưởng đi lên, Sự nghiệp mau hoàn tất. Khi ta không còn bị cảm thọ chi phối, ta có thể bình tĩnh nhìn lại những gì đã xảy ra để ứng phó với những phiền muộn một cách thích đáng. Năm lời phát nguyện Hạnh phúc cuộc sống lứa đôi tùy thuộc vào mối quan hệ của đôi lứa với nhau, với mọi ngƣời và mọi sự việc chung quanh. Có đƣợc mối quan hệ tốt với cha mẹ, ngƣời thân và bạn bè, sẽ giúp cho cuộc hôn nhân thêm bền vững. Buổi lễ thành hôn đƣợc tổ chức dƣới sự chứng kiến của nhiều ngƣời, họ là những nhân chứng, và họ mong muốn cho cuộc hôn nhân đƣợc tốt đẹp. Khi đôi lứa gặp khó khăn, họ có thể giúp hàn gắn đổ vỡ. Khi làm lễ hằng thuận theo nghi thức Phật giáo, cô dâu và chú rể đƣợc hƣớng dẫn đọc năm lời phát nguyện(*), trong đó có hai lời nguyện để tƣới tẩm sự hiểu biết và thƣơng yêu giữa hai ngƣời, để việc đối xử theo tinh thần “tƣơng kính nhƣ tân” có thể thực hiện đƣợc: 99

Chúng con nguyện nƣơng vào nhau, xây dựng cho nhau bằng tình thƣơng, sự tin cậy, sự hiểu biết và lòng kiên nhẫn. Chúng con nguyện thƣờng tự nhắc nhở rằng sự trách móc, sự hờn giận và lý luận chỉ làm hao tổn hòa khí và không giải quyết đƣợc gì. Chúng con biết chỉ có sự hiểu biết và lòng tin cậy mới bồi đắp đƣợc hạnh phúc và sự an lạc. Đọc xong năm lời phát nguyện thì cả hai đƣợc công nhận là vợ chồng. Hai vợ chồng đƣợc khuyên là nên cùng nhau đọc lại những lời phát nguyện này mỗi tháng một lần, vào dịp trăng tròn. Trƣớc khi trao nhẫn, cả hai cùng lạy nhau hai lạy để tỏ lòng tƣơng kính với nhau. Hạnh phúc là một điều có thật và ở trong tầm tay của chúng ta. Có nắm đƣợc nó, có giữ đƣợc nó hay không tùy theo cách nhìn, cách ứng xử của chúng ta. Sống với hiện thực, đừng sống trong ảo tƣởng. Những hiểu lầm và khó khăn trong cuộc sống lứa đôi là điều không thể nào tránh khỏi. Với hiểu biết và thƣơng yêu, chắc chắn những khó khăn đó sẽ đƣợc chuyển hóa thành chất liệu để xây dựng hạnh phúc. Chân Pháp Khâm

100

18. Thấy rõ khổ để bớt khổ
Sống ở đời, chúng ta ai cũng có những nỗi khổ niềm đau, dù ít hay nhiều. Bởi thân thể ta đau nhức là khổ, giận hờn là khổ, tiếc thƣơng cũng khổ… Có rất nhiều yếu tố làm cho ta khổ, nhƣng chung quy mọi khổ đau đều xuất phát từ chính mình.

Hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau. Khổ là một sự thật hiển nhiên. Không ai có thể phủ nhận lẽ thật ấy (Khổ đế). Bất cứ ở nơi nào trên thế giới này, cho dù ở đó ta có nhiều tiền bạc, bằng cấp, địa vị hay uy quyền thì vẫn bị phiền não, khổ đau chi phối. Bởi khi ta chƣa nhận diện và chuyển hóa đƣợc những hạt giống giận hờn, tham lam, buồn tủi, lo lắng, sợ hãi, ghen tị, trách móc… ở trong mảnh đất tâm của mình, thì sẽ bị sợi dây phiền não trói buộc và sai sử. Tuy nhiên, hạnh phúc hay sự vắng mặt khổ đau cũng là một sự thật (Diệt đế); nếu nhƣ ta thấy rõ ràng những diễn biến xảy ra ở thân tâm mình cùng hoàn cảnh hiện tại trong trạng thái sáng suốt, khách quan và trung thực, thì khổ đau sẽ không có cơ hội để biểu hiện. Vì vậy, trong kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Thế Tôn dạy rằng: “…Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ƣu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, 101

tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ƣu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ƣu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ƣu ở đời…”(Kinh Trung Bộ I). Nhiệt tâm hay tinh cần ở đây, không phải là sự cố gắng, nỗ lực của cái ta tham vọng mà chỉ cần không giải đãi hoặc không hời hợt trong việc chú tâm quán sát những đối tƣợng đang là. Chánh niệm là ta không bỏ quên thực tại hay bị dao động theo trần cảnh, mà luôn trực diện với thân tâm chính mình. Tỉnh giác là cái thấy biết trong sáng, khách quan, trung thực không bị che mờ bởi sự điều động của ý thức hay quan điểm, tƣ tƣởng chủ quan. Vậy thì, “nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ƣu ở đời” có nghĩa là chỉ cần thấy rõ ràng những diễn biến đang xảy ra ở thân tâm mình cũng nhƣ hoàn cảnh hiện tại, và ta có mặt trọn vẹn với chính nó. Hiện cảnh ấy nhƣ thế nào, thì mình nhận biết y nhƣ thế đó, chứ đừng thêu dệt hay thêm bớt gì nữa cả, thì ta sẽ không bị tham, sân, si trói buộc. Thực ra, khổ chỉ xuất phát khi tâm ta vƣớng mắc vào đối tƣợng, hay là có ý niệm muốn loại trừ đối tƣợng đó. Còn ngƣợc lại, khi ta tiếp xúc với mọi hoàn cảnh, nhƣng chỉ ghi nhận đơn thuần thôi, mà không khởi tâm muốn chiếm hữu hay là loại trừ, thì khổ đau sẽ không có cơ sở để sinh khởi. Căn bệnh lớn nhất của chúng ta là muốn chiếm hữu những gì mà mình cho là tốt đẹp, và chạy trốn hoặc chống đối lại những gì mà mình không thích. Đây là nguyên nhân tạo ra phiền não, khổ đau. Bởi ta cố mong cầu để đƣợc một cái gì đó, thì rơi vào tâm tham. Khi mình ao ƣớc và mong muốn đƣợc cái đó, nhƣng giấc mơ ấy không thành tựu, thì khổ đau sẽ có mặt (cầu bất đắc khổ). Còn khi ta cố gắng để loại trừ những gì đang có mặt trong hiện tại, mà mình cảm thấy khó chịu, thì đó chính là tâm sân. Và nếu, ta muốn loại trừ chúng nhƣng không đƣợc, thì cũng khổ (oán tắng hội khổ). Nhƣ vậy, trong cuộc sống hàng ngày, khi nào ta rơi vào hai trạng huống này thì sẽ bị trở ngại và bất an. Thế nên, sở dĩ ta bị khổ đau giam hãm, trói buộc là do không thấy rõ đƣợc sự sinh khởi của nó. Thực ra, khi trong tâm mình khởi lên một ý niệm buồn chán, thì 102

ta chỉ cần thấy rõ và gọi đúng tên nó thôi là đủ. Chào bạn Buồn, dạo này bạn có khỏe không? Mời bạn ngồi xuống uống trà với tôi. Hoặc khi trong tâm khởi lên ý niệm giận hờn ai đó, thì mình cũng thấy rõ và gọi đúng tên nó. Chào bạn Giận, bạn tới tìm tôi đó hả? Nếu mình tiếp đón lịch sự với khổ rồi, thì không có gì phải lo ngại cả. Khi ta sống hòa bình, thân thiết và đối xử tốt đẹp với khổ, thì có gì xa lạ nữa đâu mà sợ hãi hay chạy trốn. Giống nhƣ trong thời chiến tranh, ngƣời lính đêm ngày leo đồi, lội suối, băng rừng gian nan vất vả. Ăn cơm nguội, uống nƣớc sông, ngủ giữa rừng cây, chịu mƣa gió lạnh buốt và họ không biết là mình sẽ chết lúc nào vì đạn bom loạn lạc. Sau khi hết chiến tranh, ngƣời lính ấy đƣợc trở về sống yên bình với làng quê, thì cho dù đời sống kinh tế của họ gặp khó khăn bao nhiêu chăng nữa, cũng không ăn nhằm gì so với lúc còn ở ngoài chiến trƣờng, bởi ngƣời ấy đã từng sống chung với khổ và học đƣợc rất nhiều kinh nghiệm từ đau khổ. Do vậy, nhiều khi khổ không hẳn là thứ xấu xa cần phải loại trừ, mà nó là bậc thầy chỉ dạy cho mình thấy ra đƣợc giá trị của hạnh phúc. Cũng giống nhƣ bông hoa sen kia, sở dĩ nó đƣợc thơm ngát tƣơi đẹp nhƣ thế, là nhờ từ trong bùn lầy tanh hôi mà có. Thực ra, kháng cự hay phản ứng lại đối tƣợng, là do bản ngã của ta xen vào. Còn các pháp, thì nó luôn vận hành đúng theo tiến trình nhân quả của nó. Sở dĩ có việc gì đó xảy ra, là do nhiều nguyên nhân đã đƣợc kết tạo từ trong quá khứ, và bây giờ nó hình thành. Ví nhƣ, khi ta tiếp xúc với một ngƣời, và không biết lý do nào đó mà họ vu oan, la mắng ta. Thông thƣờng, thì ta sẽ phản ứng trở lại để biện minh sự thật, hoặc là ta sẽ chửi họ một trận cho hả lòng, vì cái tội vu oan. Thế nhƣng, hành động đó không hóa giải và đem lại sự hài hòa cho cả hai phía, mà đôi lúc oán thù càng chồng chất lên thêm. Trong trƣờng hợp này, ta chỉ cần bình thản và nhận diện rõ ràng những cảm thọ sinh khởi ở thân tâm mình là đủ rồi. Khi tâm ý đƣợc lắng dịu, thì ta sẽ thấy ra mọi gốc rễ của vấn đề. Trƣớc hết, họ nói những lời sai với sự thật và không đƣợc dễ thƣơng, tức là con ngƣời ấy đang đau khổ. Còn, ngƣời mà có an vui hạnh phúc thì họ không bao giờ nói ra những lời lẽ tiêu cực để gây đau khổ cho ai. Thứ đến, ngƣời không biết sử dụng lời nói dễ thƣơng là ngƣời thiếu hiểu biết. Do tâm trí không đƣợc sáng 103

suốt, nên họ hành xử theo lối mòn phản kháng của bản ngã. Phần còn lại là do sự yếu kém ở nơi mình. Bởi có nhiều khi, họ nói với ta một vài câu không đƣợc dễ thƣơng, và chỉ xảy ra trong vòng năm phút thôi, nhƣng mình ôm ấp cái giận hờn đó suốt cả ngày, để rồi ta ăn không ngon, ngủ cũng không đƣợc yên. Ta thật là dại khờ, luôn bị hoàn cảnh bên ngoài đánh lừa và sai sử. Và hạnh phúc của ta, gần nhƣ nó tùy thuộc vào từng hoàn cảnh; nếu nhƣ gặp sự việc diễn ra tốt đẹp, dễ thƣơng thì ta an vui hạnh phúc, ngƣợc lại là khổ đau. Chúng ta thấy rằng, tất cả những vui buồn, thƣơng nhớ, giận hờn, thông minh, đạo đức…là của mọi ngƣời, không dành riêng hay ƣu tiên cho bất cứ một ai. Thế thì, tại sao khi ngƣời ta giận, mình lại không đồng ý? Mình muốn ngƣời kia chỉ đối xử tốt đẹp, dễ thƣơng với mình thôi, thì đâu có đƣợc. Bởi nhiều khi mình cũng sử dụng giận hờn, khó chịu để tiếp xử với họ cơ mà! Thực ra, trong tâm mỗi con ngƣời có đầy đủ, những ý niệm tiêu cực và tích cực. Nhƣng, với ngƣời có tâm hồn bình thản và sáng suốt thì biết vận dụng đƣợc cái hay, cái đẹp để tiếp xử với nhau. Còn, ngƣời sống trong mê mờ quên lãng, thì tùy thuộc vào hoàn cảnh mà có vui hay buồn. Cho nên, khi nào tâm ta bình thản và thấy rõ đƣợc khuôn mặt của khổ, thì lúc đó ta bớt hoặc hết khổ. Còn ngƣợc lại, ta sống trong ảo tƣởng, mê mờ, thì khi ấy khổ đau sẽ trói buộc. Do vậy, ta phải thƣờng trực nhận diện những gì đang xảy ra trong thân tâm mình và hoàn cảnh hiện tại một cách rõ ràng, khách quan và trung thực với chính nó. Ta đừng khởi tâm áp đặt và bóp méo hiện thực ấy theo quan điểm của mình, mà chỉ lặng lẽ quan sát sự sinh diệt, thay đổi của các pháp thôi, thì sự bình yên và hạnh phúc chân thực sẽ đƣợc biểu hiện. Viên Ngộ

104

19. Con đường dẫn đến hạnh phúc
Là con ngƣời căn bản chúng ta đều giống nhau. Tất cả chúng ta đều sống chung trên quả đất này. Mọi ngƣời đều có cùng một ƣớc nguyện là muốn sống hạnh phúc và không thích khổ đau.

Tất cả chúng ta đều yêu thƣơng chính mình và mong gặp điều may mắn. Hiện nay, về phƣơng diện phát triển đời sống vật chất, chúng ta đã thành đạt rất nhiều điều và mọi quốc gia trên hành tinh này đang nhắm đến một cuộc sống toàn hảo và xây dựng một xã hội văn minh phồn thịnh hơn. Thực vậy, chúng ta đã thành công có đƣợc các điều ấy. Tuy nhiên sự phát triển, tiến bộ về mặt vật chất không chƣa đủ để mang lại hạnh phúc cho con ngƣời. Lý do rất giản dị, vì con ngƣời không phải là sản phẩm của máy móc mà nó còn có đời sống tinh thần. Bởi vậy chúng ta phải cần đến những điều khác hơn ngoài thế giới vật chất bên ngoài để có đƣợc hạnh phúc. 105

Điều quan trọng nhất trong cuộc sống của con ngƣời là tình thƣơng. Thiếu tình thƣơng, con ngƣời không thể có hạnh phúc chân thật. Nếu chúng ta muốn có một đời sống, một gia đình, một ngƣời bạn hàng xóm và một quốc gia hạnh phúc hơn thì bí quyết thành công hoàn toàn nằm ở trong tâm con ngƣời. Dù cho dân số năm tỉ ngƣời hiện đang sống trên trái đất này trở thành triệu phú hết, nhƣng thiếu vắng sự an lạc nội tâm thì con ngƣời vẫn không thể có sự bình an và hạnh phúc lâu dài. Một vài ngƣời rất giàu, nhƣng chúng ta nhận thấy họ thƣờng không có hạnh phúc gì cả. Sự cảm mến, tình thƣơng và lòng từ bi là những chất liệu hết sức cần thiết cho cuộc sống của nhân loại. Tâm an lạc giúp nhiều cho sức khỏe của chúng ta. Hẳn nhiên các tiện nghi vật chất, thực phẩm và thuốc men cũng mang lại sự lành mạnh cho thân thể con ngƣời. Nhƣng hạnh phúc tinh thần vẫn là điều quan trọng nhất cho sức khỏe tốt của chúng ta.Mọi ngƣời đều quan tâm đến nền hòa bình thế giới. Vũ khí tối tân hay sức mạnh quân sự, trong vài trƣờng hợp và hoàn cảnh, đôi lúc có thể mang lại nền hòa bình tạm bợ. Nhƣng về lâu dài sự xung đột quân sự, lòng hận thù và nghi ngờ không thể giúp chúng ta có đƣợc nền hòa bình thế giới đích thực và trƣờng cữu. Hòa bình thế giới chỉ thành đạt qua sự an lạc nội tâm, biết lắng nghe, thông cảm và kính trọng lẫn nhau của con ngƣời. Nói tắt, tình thƣơng và lòng từ bi vẫn là chìa khóa và bí quyết thành công dẫn đến thế giới hòa bình. Chúng ta hãy xét đến trƣờng hợp của một gia đình có hạnh phúc. Điều căn bản vẫn là xây dựng trên tình thƣơng. Sự thành công hay thất bại của chúng ta trong cuộc sống phần lớn tùy thuộc vào môi trƣờng và hoàn cảnh trong đó chúng ta đƣợc nuôi dƣỡng và lớn lên. Trẻ con sinh ở các gia đình với tình thƣơng và sự chăm sóc đầy đủ của cha mẹ sẽ là những ngƣời gặt hái thành công và đạt nhiều hạnh phúc nhất. Trái lại, cuộc đời của em bé có thể bị hủy hoại nếu nó lớn lên trong sự hất hủi, bạc đãi và thiếu tình thƣơng của các bậc phụ huynh. Tình thƣơng bắt nguồn từ đâu và bằng cách nào chúng ta có thể giúp nó tăng trƣởng và phát triển? Bao lâu tâm con ngƣời tồn tại thì hạt giống của tình thƣơng 106

còn hiện hữu. Mặc dù những ý tƣởng xấu lẫn tốt, tất cả đều phát xuất từ ở tâm con ngƣời, nhƣng tình cảm mạnh nhất trong đời sống con ngƣời vẫn là lòng yêu thƣơng. Cho nên hạt giống từ bi luôn luôn là bản chất tự nhiên vốn sẵn có ngay từ lúc con ngƣời vừa mới chào đời. Lúc chúng ta sinh ra, chúng ta hoàn toàn không biết gì về ý thức hệ, chủ nghĩa hay tôn giáo, và tất cả những điều này về sau chúng ta mới nghĩ đến. Nhƣng tình thƣơng thì chúng ta rất cần có ngay vào lúc ấy. Thực vậy, một em bé vừa mới lọt lòng không thể sống nếu thiếu tình thƣơng và sự chăm sóc của bà mẹ. Bởi vậy, tình thƣơng là món ăn rất quan trọng và cần thiết nhất để nuôi sống con ngƣời. Lòng từ bi không phải là tình yêu say đắm lạc thú giữa đôi trai gái nam nữ. Lòng từ bi chân thật không chỉ bày tỏ tình cảm mến yêu mà còn là ý thức trách nhiệm chia sẻ và tận tình giúp đỡ lẫn nhau. Lòng từ bi thực sự phát sinh khi chúng ta nhận thấy một ngƣời đang đau khổ, tức thì chúng ta tìm cách muốn cứu họ thoát khỏi cảnh khổ ấy để họ có hạnh phúc. Chúng ta thƣờng nghĩ rằng khi chúng ta có lòng từ bi với ai là bởi ngƣời ấy có tình cảm sống gần gũi với mình. Nghĩa là lúc họ còn là bạn thân, chúng ta mới nghĩ tƣởng đến họ. Khi ngƣời đó không còn gắn bó yêu thƣơng mình hoặc là chúng ta thay đổi không muốn thân thiết với họ thì lòng từ bi nơi mình cũng chấm dứt. Đây không phải là lòng từ bi đích thực, mà chỉ là sự tham đắm. Ngƣời có lòng từ bi chân chính không bao giờ phân biệt ngƣời mình cứu giúp là thân hay sơ, bạn hay thù; mà chúng ta chỉ biết rằng kẻ đó đang gặp khó khăn, đau khổ và họ cũng muốn chấm dứt sự khổ đau ấy để có hạnh phúc giống nhƣ ta. Hôn nhân và ái dục không phải là kết quả duy nhất của tình yêu cuồng dại giữa hai nam nữ, mà hai ngƣời còn phải tìm hiểu và thông cảm thực sự với nhau. Khi bạn biết rõ về tính tình, thói hƣ tật xấu cũng nhƣ tình trạng sức khỏe của ngƣời mình yêu thì bạn mới có thể hoàn toàn tin tƣởng và kính trọng ngƣời bạn đời tƣơng lai của mình. Và khi đó bạn mới quyết định tiến tới hôn nhân lập gia đình với nhau đƣợc. Ngoài ra còn phải ý thức trách nhiệm giữa hai ngƣời nữa. Cho nên đôi nam nữ muốn kết hôn và sống hạnh phúc lâu dài thì phải xét kỹ đến mọi khía cạnh nêu trên. 107

Là con ngƣời chúng ta có nhiều khả năng đặc biệt và trí hiểu biết. Những kẻ càng thông minh họ càng thấy xa rộng. Những ai càng giàu sang họ càng có trách nhiệm đối với chính mình và tha nhân. Thực vậy, là con ngƣời, chúng ta không chỉ có trách nhiệm giúp đỡ mọi kẻ khác mà còn phải nghĩ đến hạnh phúc của toàn thể nhân loại cũng nhƣ sự tồn vong của quả đất này. Nếu dùng khả năng và trí thông minh của chúng ta vào công việc hủy diệt hạnh phúc của con ngƣời thì đó là một tai họa khủng khiếp cho kiếp nhân sinh. Chúng ta nên sử dụng kiến thức và tài năng của mình vào công việc xây dựng mang lai phúc lợi cho mọi chúng sanh. Tôi tin rằng những ai vận dụng tài trí của mình cho quyền lợi riêng tƣ ích kỷ, không nghĩ đến hạnh phúc của kẻ khác; sau này sẽ không tránh khỏi sự ân hận hối tiếc. Tôi nghĩ rằng cả loài ngƣời và thú vật đều có tri giác hiểu biết. Nếu chúng ta đối xử có lòng thƣơng yêu chó mèo thì chúng sẽ thân mến với chúng ta. Nếu chúng ta ghét bỏ xua đuổi thì chúng cũng biết và không thích nhƣ thế. Nếu chúng ta sống có lòng tốt, thiện cảm với ai thì ngƣời đó lúc nào cũng muốn nhƣ vậy. Trƣờng hợp chúng ta đối xử xấu, làm hại kẻ khác thì họ sẽ đáp lại cũng không tốt và gây buồn phiền cho mình, dù họ là ngƣời có tôn giáo hay không, giàu hoặc nghèo, trí thức hay ngu dốt. Cho nên tình thƣơng và lòng từ bi rất cần thiết cho mọi ngƣời vì tất cả chúng ta đều muốn có hạnh phúc, và không thích khổ đau. Một số ngƣời nghĩ rằng tình thƣơng và lòng từ bi hỷ xả là những đức tánh thuộc về tôn giáo. Nói vậy là không đúng, mà chúng là những hành động lành nên thực hiện. Và không ai có thể không biết, dù họ là ngƣời có tín ngƣỡng hay không. Đó là các thiện tánh rất cần thiết nếu chúng ta muốn sống có hạnh phúc và trở thành những công dân toàn hảo. Về mặt tôn giáo, nếu thấy đạo nào thích hợp với mình, bạn nên chọn theo tín ngƣỡng ấy. Nếu không muốn thì bạn từ bỏ cũng chẳng sao. Nhƣng điều quan trọng là bạn nên có tình thƣơng vì đó là nền tảng đạo đức căn bản và cần thiết của con ngƣời. Hạnh phúc thuộc về tinh thần. Máy móc không thể cung cấp, và ta cũng không mua hạnh phúc đƣợc. Tiền bạc và giàu sang chỉ mang lại cho con ngƣời 108

một phần nào hạnh phúc, chứ không thể có hạnh phúc trọn vẹn. Các thứ trên không trực tiếp giúp chúng ta hạnh phúc đƣợc. Hạnh phúc đến từ trong tâm chứ không ai có thể cho mình. Tâm bình an là nguồn hạnh phúc tuyệt vời nhất. Nó không tùy thuộc ngoại cảnh. Cuộc sống chúng ta dù thiếu tiện nghi vật chất, học vấn tầm thƣờng hay sự nghiệp công danh không mấy thành công cũng chẳng sao, miễn là tâm chúng ta an lạc. Chia sẻ tình thƣơng, bố thí giúp đỡ cho kẻ nghèo khổ túng thiếu bần hàn là những bí quyết căn bản mang lại hạnh phúc cho chúng ta. Hãy cố gắng trở thành con ngƣời đạo đức với tâm hồn vị tha, bất luận bạn là nhà tôn giáo, chính trị hay thƣơng gia. Một cá nhân toàn thiện có thể góp phần tích cực cho hạnh phúc của gia đình và cộng đồng. Những tôn giáo ra đời vào các thời điểm và nơi chốn khác nhau. Tôi nghĩ rằng mọi tín ngƣỡng đều giúp con ngƣời phát triển các tánh tốt và diệt trừ những tánh xấu. Nhiều tôn giáo lớn trên thế giới đều truyền đạt chung một bức thông điệp tình thƣơng và lòng từ bi, mặc dù sự diễn đạt giáo lý có khác nhau. Mọi tín ngƣỡng đều dạy con ngƣời biết thƣơng yêu, lắng nghe và tha thứ cho nhau, cũng nhƣ xây dựng và phát triển các đức tánh tốt nơi con ngƣời. Qua nhiều thế kỷ, hàng triệu nhân loại đã tiếp nhận nguồn phúc lợi vô biên từ các tôn giáo. Nhƣng rất tiếc những tín ngƣỡng khác biệt nhau đó đã gây nên sự xung đột hận thù, khủng bố và chiến tranh. Nếu hiểu biết rằng mục đích chung của các tôn giáo là nhằm hƣớng dẫn đào luyện chúng ta trở thành những con ngƣời đạo đức lƣơng thiện, thì chúng ta nên kính trọng tất cả các tôn giáo. Có hai loại tôn giáo. Một nhóm tôi gọi là các tôn giáo hữu thần nhƣ Thiên Chúa, Do Thái, Ấn Độ và Hồi Giáo. Các đạo giáo này tin vào một đấng Thƣợng Đế. Một nhóm khác gồm các tôn giáo vô thần nhƣ Phật Giáo và Kỳ Na Giáo v.v… Họ không tin vào Thƣợng Đế, đấng Tạo Hóa và Toàn Năng. Phật giáo không chấp nhận lý thuyết có một linh hồn bất tử. Điều này phân biệt giữa những ngƣời Phật tử và không Phật tử. Giáo lý căn bản của đức Phật là phủ nhận có một linh hồn hay bản ngã thƣờng còn. 109

Phật giáo còn chia làm hai giáo phái: Nguyên thỉ hay Nam Tông và Đại thừa hay Bắc Tông. Ngƣời tu theo Phật giáo Nguyên thỉ nhằm mục đích giải thoát cho chính mình bằng cách thực hành thiền định và nghiêm trì giới luật Phật chế. Còn mục tiêu của Phật giáo Đại Thừa, ngoài tự độ mình giải thoát, hành giả còn thực hành sáu phép Ba La Mật nhằm cứu giúp hết thảy mọi chúng sanh thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, để cuối cùng đạt đến quả vị thành Phật. Căn bản của sự tu tập theo các giáo phái trên là bất bạo động. Tại sao bất bạo động là quan trọng? Vì theo lý nhân duyên sinh, tất cả vạn vật hiện hữu đều có tƣơng quan tƣơng duyên với nhau. Chẳng hạn sự sống cũng nhƣ hạnh phúc của mỗi cá nhân đều tùy thuộc vào nhiều nguyên nhân. Tƣơng tự nhƣ thế, sự đau khổ và bất hạnh của mình cũng phát sinh từ nhiều lý do. Cho nên, nền tảng của Phật giáo và sự tu tập là bất bạo động và lý nhân duyên sinh. Bất bạo động có hai trƣờng hợp: Một là, nếu có thể, bạn nên cứu giúp mọi chúng sanh; và hai là nếu không có thể, thì ít ra bạn đừng bao giờ làm hại đến kẻ khác. Lý nhân duyên sanh đƣợc diễn tả sai biệt tùy theo giáo lý khác nhau. Danh từ tƣơng quan tƣơng duyên có nghĩa là mọi vật hình thành đều do nhân duyên. Nghĩa là không có đấng tạo hóa, một vật sinh ra đều có nguyên nhân, và các nhân này hiện hữu nhờ vào các nhân trƣớc đó; và cứ nhƣ vậy tiếp tục mãi mà không có sự khởi đầu. Mọi vật thay đổi là do các nhân và duyên này. Nhân mới sanh ra quả mới và quả này trở lại làm nhân để tạo thành quả khác nữa. Đây là sự diễn tiến của lý nhân duyên. Ví dụ chúng ta tìm hiểu bản chất của chiếc hoa là gì, và khi quan sát kỹ chúng ta thấy nó gồm các tai hoa tạo thành, cho nên nó là không thực. Điều này giúp chúng ta hiểu rằng khi chúng ta gọi tên một vật nào thì vật đó do nhiều phần tử nhỏ hợp lại mà thành. Nếu chúng ta hỏi “Ta là ai?” thì chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy cái “ta” đích thực khi tách rời nó khỏi thân thể và tâm thức của mình. Nếu đi sâu hơn nữa để tìm hiểu bản thể sau cùng của con ngƣời, thì chúng ta sẽ không tìm thấy một cái ngã tồn tại độc lập. Chúng ta thƣờng gọi chung cho cả hai cái thân và tâm này là “con ngƣời”. Chẳng hạn chúng ta bảo rằng cái thân thể và tâm thức của con ngƣời Tây Tạng đến từ thành phố Amdô là “Đức Đạt Lai Lạt

110

Ma Tenzin Gyatso”. Tuy nhiên nếu phân tích đến tận cùng thì chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy con ngƣời đích thực của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tƣơng tự nhƣ thế khi chúng ta dùng các danh từ “quá khứ”, “hiện tại” và “tƣơng lai” để chỉ thời gian thì ta nên biết rằng quá khứ chỉ còn là kỷ niệm, tƣơng lai là ý tƣởng dự tính hay chƣơng trình sắp đến. Giờ phút hiện tại mới là thực.Tuy nhiên ngay cả ngày, giờ, phút, giây và một phần của giây đó cũng không còn là hiện tại nữa. Bởi lẽ giây phút hiện tại vừa hiện ra, lại trôi qua trở thành quá khứ, và sau đó thì tƣơng lai chƣa đến cho nên “hiện tại” cũng không có. Nếu không có “hiện tại” thì chúng ta không thể xác định đƣợc “quá khứ” và “tƣơng lai”. Vì thời gian cứ mãi trôi qua không một giây phút dừng nghỉ. Nếu quá khứ và tƣơng lai không có thì hiện tại cũng không có, bởi lẽ hiện tại hoàn toàn tùy thuộc vào quá khứ và tƣơng lai tùy thuộc vào hiện tại. Đây là định luật tự nhiên của vũ trụ. Nếu không nhƣ vậy thì thời gian cũng không có. Khi chúng ta gọi “thời gian” dĩ nhiên nó hiện hữu, nhƣng không có một danh từ nào, kể cả trừu tƣợng để chỉ nó. Nếu phân tích tận cùng, chúng ta thực sự không thể tìm thấy bất cứ sự vật gì. Theo Phật giáo, bản chất chân thật của vạn vật vũ trụ là “không”. Nhƣng “không” ở đây không phải là hoàn toàn “không có” gì hết. Bởi lẽ mọi vật hình thành đều do nhân duyên. Cho nên không có một vật thể nào độc lập mà sinh ra đƣợc. Do vậy mà triết lý đạo Phật gọi là “không”. Tôi đang ở đây và đó là sự thật chứ không phải giấc mơ. Nếu tôi véo nơi da thịt, tôi cảm thấy đau vì tôi có xác thân. Tôi có ngón tay cái với ngón tay trỏ và nhìn rõ chúng cử động. Tuy nhiên nếu phân tích đến tận cùng, chúng ta không tìm thấy chúng. Nói khác, sự trống không và tƣơng quan tƣơng duyên là hai mặt của một đồng tiền. Đức Phật trƣớc tiên ngài dạy Tứ Diệu Đế: bốn chân lý về sự khổ, nguồn gốc của sự khổ, phƣơng pháp diệt khổ và con đƣờng dẫn đến giải thoát an lạc, chấm dứt mọi sự khổ. Ngài đã dạy về các điều khổ đó, vì sự khổ có nguyên nhân và tất cả chúng ta đều không muốn khổ. Ngài dạy chúng ta nhận diện sự khổ và nguyên nhân gây ra sự khổ dƣới nhiều khía cạnh khác nhau. Mục đích của chúng ta nhắm đến là hạnh phúc và nó lại tùy thuộc vào các nhân duyên khác. Hạnh phúc có thể tạm thời hay vĩnh viễn. Hạnh phúc lâu dài là điều quan trọng hơn, cho nên đức Phật đã dạy chân lý thứ ba là diệt trừ sự khổ, 111

nghĩa là đạt tới cảnh giới Niết Bàn hay hoàn toàn an lạc và giải thoát. Ngài cũng dạy các pháp môn tu hành để chấm dứt sự khổ. Tứ Diệu Đế bao gồm bốn chân lý giải thích về sự hạnh phúc và đau khổ cùng nguyên nhân gây ra các điều khổ vui ấy. Mục đích của đời sống con ngƣời là mong có hạnh phúc. Từ lúc mới sinh ra, mọi ngƣời chúng ta đều có quyền đƣợc hƣởng hạnh phúc, và muốn có hạnh phúc lâu dài thì chúng ta phải tu tập phát triển đời sống nội tâm chứ không ai ban cho mình hay yếu tố bên ngoài trách nhiệm về sự hạnh phúc đó. Bằng cách nào chúng ta có thể ứng dụng sự hiểu biết về Tứ Diệu Đế trong cuộc sống hằng ngày. Điều quan trọng trƣớc tiên chúng ta cần nhận thức rõ cái tâm thấy biết của chúng ta là gì. Nhiều ngƣời lầm tƣởng rằng tâm thức của chúng ta là một thực thể độc lập, tách rời khỏi cái thân (vật lý) của con ngƣời. Và cái tâm thức nhƣ vậy không hiện hữu đƣợc vì chúng ta không thể tìm thấy “cái ta” nằm ngoài cái thân giả tạm này. Phật giáo không chấp nhận một “bản ngã”, linh hồn hay cái ta thƣờng còn. Tuy nhiên, bởi do tâm thức tùy thuộc vào cái thân vật lý mà tồn tại cho nên chúng ta tạm gọi nó là tâm thức hay cái thấy biết của con ngƣời. Nếu tâm thức hoàn toàn tách rời và không liên quan gì với cái thân (vật lý) thì sẽ không có sự khác biệt tâm thức giữa con ngƣời và thú vật. Khi bộ óc con ngƣời ngƣng hoạt động và nếu tâm thức của họ cũng không còn tồn tại, thì làm sao giải thích đƣợc thuyết luân hồi? Tâm thức con ngƣời đƣợc phát triển tùy thuộc vào các nhân và duyên xa hoặc gần, trực tiếp hay gián tiếp. Chẳng hạn khi tâm thức mình nhận biết về một chiếc hoa cần phải có những trợ duyên khác. Trƣớc hết là con mắt. Nếu thiếu nó dù chúng ta có ý thức về cái hoa hay chiếc hoa có hiện ra trƣớc mặt, chúng ta cũng không nhận biết đƣợc nó. Trái lại, nếu chỉ có tâm thức và con mắt mà không có cái hoa, chúng ta cũng chẳng thấy biết đƣợc nó. Nhƣng nếu có hoa và con mắt tốt mà không có bộ óc, chúng ta cũng không thể nhận biết đƣợc cái hoa. Tri giác hay tâm thức là một năng lực tinh tế mà qua đó chúng ta có thể hiểu biết đƣợc các sự vật. Tiếng Tây Tạng gọi là “Shepa” nghĩa là “ý thức về một vật gì”. Cho nên ngoài bộ não ra cần phải có thêm các trợ duyên vi tế hơn thì tâm thức con ngƣời mới hoạt động và phát triển đƣợc. Chúng ta có thể gọi đó là ánh sáng trong suốt (clear light) hay phần sâu kín vi tế nhất của tâm thức. 112

Ngay hiện giờ khi các giác quan chúng ta đƣợc sử dụng, nhƣng hoạt động của chúng vẫn ở mức độ thô thiển. Vào lúc chúng ta nằm chiêm bao hay ngủ mê, một vài giác quan không hoạt động, nhƣng tiềm thức của chúng ta vẫn hiện hữu. Các bác sĩ cho biết rằng có bệnh nhân đã qua đời, nhƣng thân xác của họ vẫn tồn tại không hƣ thối trong một hai ngày, và có trƣờng hợp kéo dài đến vài tuần lễ. Lý do bởi lẽ tâm thức vẫn còn tồn tại và tiếp tục hoạt động nơi nhục thân của bệnh nhân. Nói cách khác là thần thức chƣa lìa khỏi xác thân của ngƣời đó. Do bởi tâm thức còn làm chủ nơi thân thể cho nên thân xác của họ không bị hƣ thối, mặc dù bệnh nhân ấy đã hoàn toàn chết hẳn. Tôi đƣợc biết có ít nhất là mƣời hay mƣời lăm trƣờng hợp nhƣ thế đã xảy ra tại Ấn Độ trong vòng ba mƣơi năm qua. Đặc biệt trƣờng hợp vị thầy dạy riêng của tôi, sau khi các bác sĩ cho biết rằng ông đã chết thực sự nhƣng ông vẫn ở trong tình trạng hôn mê kéo dài đến mƣời ba ngày. Do vậy mà tôi tin rằng phần tâm thức vi tế nhất luôn luôn tồn tại. Nó có thể tạm thời thay đổi nhƣng trƣờng kỳ hiện hữu chứ không bao giờ hủy diệt. Cho nên tâm thức gồm có hai loại: phần thô thiển nƣơng ná vào xác thân con ngƣời giả tạm này để sinh tồn hoạt động, nhƣng phần vi tế nhất sẽ còn mãi không mất. Và trên căn bản đó mà có sự tái sinh luân hồi. Bản chất của tâm thức là trung dung hay vô ký. Nó có thể ảnh hƣởng bởi tánh thiện hay tánh ác. Lấy ví dụ những ngƣời hay có tánh giận dỗi nhất thời. Lúc còn trẻ tôi cũng thƣờng bị nhƣ thế, nhƣng không bao giờ kéo dài lâu đến trọn ngày. Nếu bản gốc tâm con ngƣời là hoàn toàn ác thì khi chúng ta nổi sân, sự sân hận đó sẽ còn mãi. Nhƣng thực tế không phải vậy, vì lúc này chúng ta sân, khi khác lại không. Tâm con ngƣời, nguồn gốc cũng không hẳn là hoàn toàn thiện, bằng chứng là nó luôn luôn thay đổi, buổi sáng tâm chúng ta nghĩ chuyện lành và chiều lại tƣởng việc ác. Cho nên, đức Phật dạy tâm thức của chúng sanh là trung dung hay vô ký. Hơn nữa, đâu là lằn ranh phân chia giữa tánh thiện và tánh ác? Không có sự ngăn cách tuyệt đối mà chỉ có tƣơng đối. Các đức tính nhƣ lòng từ bi, tình thƣơng và trí tuệ tạo nên sự hạnh phúc lâu dài cho con ngƣời là thiện tánh. Lý do vì chúng ta nhận thức rằng hạnh phúc là điều an lạc mà mọi ngƣời đều ƣớc mong thành đạt. 113

Thực hành các tánh lành ấy sẽ giúp cải đổi chúng ta trở thành con ngƣời có hạnh phúc và an lạc hơn. Do đó mà chúng ta gọi chúng là những thiện tánh. Theo giáo lý đức Phật, sở dĩ con ngƣời làm việc ác gây đau khổ cho kẻ khác là do vô minh. Hành động vô minh hay nhận thức sai lầm này, nhờ tu tập thiền định chúng ta có thể phát triển trí tuệ, giữ thân, khẩu, ý hoàn toàn thanh tịnh và do đó, vô minh sẽ đƣợc diệt trừ. Tất cả chúng ta ai cũng khao khát ƣớc mong sống có hạnh phúc. Hạnh phúc hay đau khổ tùy thuộc vào các hành động thiện hay ác, tốt hoặc xấu của chính mình. Tâm con ngƣời bản gốc vốn hằng thanh tịnh. Do đó chúng ta có thể tu tập để tránh không làm những điều ác mà tinh tấn làm các việc lành. Cho nên con ngƣời có khả năng khắc phục, diệt trừ những sự khổ. Khi chúng ta hiểu rõ nguyên nhân của nó (Tập Đế) là chân lý thứ hai trong bài pháp “Tứ Diệu Đế” mà đức Phật đã dạy. Nhờ thấu triệt nguồn gốc gây nên sự khổ, con ngƣời mới tìm cách đoạn dứt nó (Diệt Đế) là chân lý thứ ba, và cuối cùng đi theo con đƣờng tu tập đức Phật chỉ dạy để thoát khổ không còn luân hồi sanh tử hay đạt đến cảnh giới Niết Bàn (Đạo Đế) là chân lý thứ tƣ trong Tứ Diệu Đế. Khi hiểu rõ mục đích giải thoát của mình, con ngƣời mới cố gắng tránh không làm những việc ác. Muốn thành tựu trong công việc tu tập này, chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa của sự khổ đau và phải tinh tấn không ngừng với ý chí dũng mãnh quyết tâm diệt trừ nỗi đau khổ ấy. Để đạt đƣợc kết quả, điều quan trọng là chúng ta nên tập buông xả. Thứ nhất, chúng ta cố gắng tránh xa các thú vui dục lạc trong cuộc đời này, và thứ hai là nguyện từ bỏ mọi đam mê ái dục trong kiếp sau. Chẳng hạn khi chúng ta nghĩ đến những cảnh khổ sanh, già, bệnh, chết hiện tại cũng nhƣ nỗi khổ sẽ bị đọa vào cảnh giới lục đạo nhƣ địa ngục, quỷ đói và súc sanh v.v… trong đời sau, thì chúng ta mới cố gắng tập hạnh buông xả hay có ý muốn tu hành để giải thoát vòng sinh tử luân hồi. Nhằm thực hiện ý chí muốn xa lìa các thú vui dục vọng trong đời này các bạn cần nghĩ đến sự phúc lạc và giải thoát ở kiếp tƣơng lai. Hoặc quý vị có thể ngăn ngừa tránh không hành động các việc xấu ác bằng cách cố gắng làm mƣời điều lành (thập thiện). Muốn thành tựu trong công đức tu tập, các bạn cũng cần có đức tánh tự tin vào khả năng giác ngộ của chính mình. Với sự giúp đỡ của xác thân và trí tuệ của 114

con ngƣời, các bạn có thể thực hiện và thành tựu mọi việc nếu quý vị biết cố gắng tinh tấn tu tập. Giáo lý Bồ Tát Thừa dạy rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh hay khả năng tu hành thành Phật. Lời giáo huấn này của đức Từ Phụ Bổn Sƣ đã giúp chúng ta tăng trƣởng niềm tự tin vào công phu tu học của mỗi cá nhân để giải thoát luân hồi sanh tử. Một số ngƣời, đặc biệt ở Tây Phƣơng đã thiếu đức tánh tự tin nơi mình. Tôi nghĩ đó là điều rất sai lầm và tai hại. Chúng ta có cái thân này với khối óc và trí tuệ. Nếu chúng ta biết nƣơng vào nó dùng làm phƣơng tiện để tu tập thiền định thì chúng ta có thể phát triển chân tâm của mình trở nên thánh thiện. Với thời gian và đức tánh kiên nhẫn, quý vị sẽ thành tựu công đức tu hành nhằm cải đổi nội tâm của mình từ xấu thành tốt và ác trở nên lành; cho nên dù ngoài đời hay trong đạo, tự tin vẫn là đức tánh rất cần thiết đối với chúng ta. Ngoài ra, lòng từ bi cũng là một yếu tố quan trọng. Nó giúp chúng ta mở rộng tình thƣơng cứu giúp mọi chúng sanh. Với tâm từ bi, chúng ta dễ dàng kết thân làm bạn với con ngƣời, thú vật và côn trùng. Khi chúng ta có tâm hồn vị tha chúng ta sẽ có nhiếu bạn bè thân hữu. Trái lại với tâm xấu ác, hẹp hòi ích kỷ, các thiện hữu tri thức sẽ lánh xa chúng ta. Dù kẻ khác đối xử với bạn không tốt, nhƣng bạn cứ vui vẻ niềm nở với họ, cuối cùng họ sẽ thay đổi mến thƣơng bạn. Thêm nữa, sự nhận thức rõ về lời Phật dạy mọi chúng sanh đều có Phật tánh hay đời này sanh ra đƣợc làm thân ngƣời là một điều vô cùng phƣớc báu cũng nhƣ cuộc sống là vô thƣờng sẽ giúp chúng ta nỗ lực tinh tấn tu hành để mong đƣợc giải thoát luân hồi sanh tử. Khi đề cập đến tình thƣơng, nó gồm có hai loại: vị kỷ và lợi tha. Con ngƣời nếu chỉ biết yêu thƣơng mình, tự thấy mình là quan trọng hơn kẻ khác và không bao giờ hành động lợi ích cho tha nhân, đó là thứ tình thƣơng ích kỹ, chẳng mang lại hạnh phúc an lạc cho bất cứ ai. Trái lại, tình yêu lợi tha là tình thƣơng rộng rãi bao la. Đó là lòng từ bi của chƣ Bồ Tát muốn cứu độ tất cả chúng sanh. Với tâm đại bi, các ngài thƣờng xuyên liên tục hành động giúp đỡ mọi ngƣời không chỉ trong nhiều ngày tháng hay năm mà là thời gian vô tận; không phải trong một kiếp, hai hay ba kiếp mà là hàng triệu, vô lƣợng kiếp. Chƣ vị Bồ Tát không bao giờ chán nản hay mệt mỏi khi phải phục vụ cứu giúp chúng sanh trong thời gian dài vô hạn nhƣ thế; cũng không thối tâm khi nghĩ tới số lƣợng chúng 115

sanh nhiều không kể xiết mà các ngài cần phải cứu độ cho họ. Nếu không có tâm từ bi rộng lớn thì không ai có thể hành động lợi tha cứu giúp chúng sanh phi thƣờng nhƣ vậy. Lòng ham muốn của con ngƣời cũng có hai loại: xấu và tốt. Khi chúng ta có lòng tham vị kỷ, chỉ biết nghĩ đến điều lợi cho riêng mình mà gây tai hại khổ đau cho kẻ khác, thì lòng ham muốn đó, theo đức Phật dạy là một hành động bất thiện. Trái lại, khi chúng ta biết hƣớng lòng ham muốn của mình vào việc cứu giúp mang lại an lạc hạnh phúc cho tha nhân và tất cả chúng sanh thì sự ham muốn đó là một hành động lành mà con ngƣời nên cố gắng thực hiện. Tiếp theo, chúng ta cần suy nghĩ đến cuộc đời là vô thƣờng. Ở đây cũng có hai trƣờng hợp. Trƣớc nhất là sự biến đổi mà chúng ta có thể nhận biết rõ ràng nhƣ thình lình một ngƣời thân của chúng ta qua đời hay bị chết vì tai nạn bất ngờ. Thứ hai là sự thay đổi vi tế, chậm chạp trong từng giây phút mà với mắt trần chúng ta không nhận thấy đƣợc. Ví dụ nhƣ chiếc hoa trƣớc mặt tôi đây đang biến đổi từ từ trong phút giây để rồi cuối cùng nó sẽ héo tàn, hủy diệt. Nhờ trí tuệ soi sáng, chúng ta nhận thức đƣợc bản chất của sự sống là vô thƣờng, do vậy mà tâm chúng ta lúc nào cũng an vui tự tại giải thoát trƣớc mọi cảnh bể dâu, thay đổi của cuộc đời. Bây giờ hãy suy nghĩ, xét đến thân thể và cuộc sống của chúng ta. Theo quan điểm của Phật giáo, chúng ta sẽ không có sự an lạc hạnh phúc vĩnh cữu, chừng nào mà ý nghĩ, lời nói và việc làm của chúng ta còn bị chi phối, khống chế bởi vô minh. Nếu vô minh chƣa dứt trừ đƣợc thì Niết Bàn và giải thoát sẽ không có. Nhƣ vậy là chúng ta sẽ mãi mãi bị luân hồi sinh tử, lên xuống vào ra trong ba đƣờng ác đạo. Để chấm dứt mọi khổ đau, chứng đắc Niết Bàn, đạt đến cảnh giới hoàn toàn an lạc hạnh phúc theo lời đức Phật dạy, chúng ta cần phải nỗ lực tinh tấn tu tập, phá trừ vô minh, đoạn diệt phiền não. Ngoài ra chúng ta cũng nên mở rộng tình thƣơng, thực hành hạnh bố thí, luôn luôn nghĩ đến sự an lạc, phúc lợi và tìm cách cứu giúp hết thảy mọi chúng sanh vƣợt thoát bể khổ trầm luân. Nói khác là chúng ta đã thể hiện đƣợc tâm Bồ Đề (Bodhicitta), hành Bồ Tát Đạo nhằm mong hƣớng đến quả vị giác ngộ và thành Phật. 116

Khi phát triển, thực hành đƣợc tâm Bồ Đề quý báu này, con ngƣời bất luận là theo tôn giáo nào, họ đều trở thành bậc thánh thiện có lòng từ bi bao la, luôn luôn muốn cứu giúp mọi ngƣời trong xã hội hết khổ đƣợc vui. Theo Phật giáo, sau khi chúng ta phát Bồ Đề Tâm, lòng con ngƣời trở nên thanh tịnh, các tánh xấu ác sẽ đƣợc diệt trừ để nhƣờng cho những thiện tánh phát sinh. Với tâm lành đó, hành giả chắc chắn sẽ đƣợc tái sanh vào cảnh giới an lạc trong kiếp tƣơng lai. Nói khác, đó là con đƣờng hƣớng dẫn chúng ta đến sự hạnh phúc chân chính, đích thực và vĩnh cữu. Đức Đạt Lai Lạt Ma 14

117

20. Tình yêu thương dành cho kẻ thù
Chẳng có mối nguy hại nào bằng điều đến từ chính tâm trí của mỗi chúng ta. Làm sao chúng ta có thể yêu thƣơng ngƣời nào đó ghét mình? Trƣớc hết, bạn cần phải biết rằng ngƣời đó đang bị sự ngu dốt, giận dữ, tâm trí bất mãn và đầy tham muốn hành hạ. Điều quan trọng cần nhớ ngay là ngƣời đó chẳng có chút tự do nào cả, ngƣợc lại, đang bị chính những ảo tƣởng che phủ. Ngƣời đang ghét bạn đó thật sự không chỉ bị một sự ảo tƣởng che mờ mà là rất nhiều ảo tƣởng khác nhau. Thay vì suy nghĩ ngƣời đó giống nhƣ sự giận dữ của họ, là một với sự giận dữ đó - điều này là không thật - bạn phải nhìn nhận thấy con ngƣời đó và những ảo tƣởng của họ, sự giận dữ của họ là hoàn toàn tách biệt. Ngay cả nếu ngƣời đó nhầm tƣởng chính họ với nỗi cáu giận của họ, họ cũng không phải nhƣ vậy. Nghĩ rằng họ và nỗi giận dữ của họ là một – hay họ bị chính những nỗi giận dữ đó làm khổ sở - chỉ làm bạn thêm thất vọng. Ngƣợc lại, nếu bạn nghĩ rằng ngƣời đó và nỗi giận dữ của họ là khác nhau, nghĩa là họ và nỗi giận dữ đó chẳng có chút liên quan gì thì sẽ có thêm khoảng trống trong tâm trí của bạn cho tình thƣơng yêu đâm chồi. Ngay cả khi ngƣời đó ghét bạn và vui thích với trải nghiệm ghét bỏ đó thì sự vui sƣớng đó chỉ là khổ đau bởi nó chỉ nhƣ một sự vui thích giả tạm mà thôi. Ngƣời ghét bạn sẽ gọi sự thù ghét đó là “niềm vui”, nhƣng nó chỉ là khổ đau. Vấn đề ở đây là họ có để ý thấy điều đó hay không. Đó là lý do thứ hai tại sao ngƣời ghét bạn là đối tƣợng cần đƣợc yêu thƣơng. Lý do thứ ba là vì cô ấy/ anh ấy, chỉ nhƣ bạn, cũng nhƣ trải qua “khổ đau của khổ đau” (khổ khổ - ND)[1] - đó là tái sinh, già, bệnh, chết, chia lìa khỏi những gì ƣa thích, phải gần với những gì không thích và vô số những vấn đề rắc rối của cuộc sống con ngƣời. Con ngƣời đó đầy rẫy những khổ đau! 118

Và đỉnh cao nhất của mọi khổ đau, vƣợt lên cả sự ảo tƣởng, ngƣời ghét bạn sẽ tạo ra nghiệp mà sau này chính họ phải chịu đựng – tái sinh tại một lần nữa trong cõi luân hồi. Sau đó, nếu bạn không thực hành hạnh nhẫn nhục đối với chính sự giận dữ đó, không gieo trồng tình yêu thƣơng cho con ngƣời đang phải khổ đau đó mà lại giận dữ với họ, báo thù lại sự giận dữ đó thì bạn đang đẩy họ về phía tạo nên nhiều nghiệp quả có hại hơn. Bạn đang ném anh ta hay cô ta xuống những cõi thấp kém và khổ đau hơn. Khi bạn suy ngẫm về tất cả những điều này, chẳng có lựa chọn nào là thực cả: Bạn cần phải cảm thấy thƣơng yêu với mỗi ngƣời – ngay cả những ngƣời là kẻ thù của bạn! Nếu một hành động làm hại bất kỳ chúng sinh nào, ngay cả đó là kẻ thù của bạn, cũng làm hại bạn. Khi một ai đó ghét hay đối xử tồi tệ với bạn, khi một ai đó là kẻ thù của bạn, bạn đã có một cơ hội tuyệt vời để thực hành đức nhẫn nhục và nhờ đó phát triển tuệ giác của mình bằng con đƣờng đầy trí tụê và từ bi. Nếu không có sự xuất hiện của ngƣời ghét bạn, bạn chẳng có cơ hội này. Nếu ngƣời nào đó yêu bạn, nếu ngƣời nào đó chỉ luôn đối xử với bạn nhƣ cách bạn mong muốn, bạn sẽ chẳng bao giờ có cơ hội phát triển lòng kiên nhẫn để gieo trồng tình yêu thƣơng ngƣời khác trong tâm và thực sự mang hạnh phúc đến cho mọi chúng sinh. Ngƣời ghét bạn là ngƣời tạo cho bạn cơ hội thực hành nhẫn nhục và mang bạn đến những lợi ích vô biên. Vì thế, nhƣ tôi khẳng định, bạn có thể thấy bạn rất cần sự nhẫn nhục cũng nhƣ tình yêu thƣơng nữa, ngƣời đang giận dữ với bạn thực sự đang rất tốt bụng với bạn đấy. Suy nghĩ về tình yêu thƣơng đặc biệt này từ kẻ thù của mình, bạn có thể trân trọng họ từ sâu thẳm trái tim mình. Khi chẳng còn giận dữ ở bên trong thì chẳng có kẻ thù ở bên ngoài. Nếu chúng ta giận dữ với một ai đó, suy nghĩ rằng họ đã hại ta, chúng ta có thể thấy họ nhƣ kẻ thù của mình. Nhƣng nếu chúng ta nhìn thấy họ với trí tuệ, 119

chúng ta sẽ không xem họ nhƣ kẻ thù mà là một ngƣời bạn tốt đang kiên nhẫn dạy chúng ta bài học về nhẫn nhục. Nếu giận dữ, chúng ta sẽ có không biết bao nhiêu là kẻ thù ở bên ngoài. Nếu chẳng có sự giận dữ ở trong mỗi ngƣời thì cũng chẳng có kẻ thù bên ngoài nào dù là ngƣời chỉ trích, ám hại hay giết chết ta. Ngay cả những ngƣời ghét bạn cũng là đối tƣợng của tình yêu thƣơng. Chỉ cần nhận thức đƣợc rằng con ngƣời phải chịu bao nhiêu khổ đau – ngay cả khi ngƣời đó là kẻ thù của chúng ta – thì cũng đủ để chúng ta khởi lên tình yêu thƣơng với họ. Và ngay khi điều này xảy ra, bạn cần trau chuốt tình yêu thƣơng dành cho kẻ thù của mình bằng những suy nghĩ tƣơng tự nhƣ khi bạn nghĩ về mọi ngƣời trong thành phố của bạn và mọi ngƣời trên trái đất này. Khởi lên tình yêu thƣơng cho tất cả mọi ngƣời; bản chất của khổ đau của họ, của những ảo tƣởng là giống nhau. Mỗi ngƣời đều tự nhốt mình vào chính nhà tù do họ tạo ra. Cảm nhận rằng tình trạng của họ là không thể nào chịu đựng đƣợc, bạn muốn làm điều gì đó cho họ. Sau cùng thì bạn sẽ chẳng cảm thấy thoải mái nếu bạn không làm gì cho họ. Có phải không nào?

Lama Zopa Rinpoche Theo: Cuốn sách “Hạnh phúc chân thực” - NXB Phƣơng Đông

120

21. Đêm thành đạo
Chúng ta không ngồi cội Bồ-đề, không bị ác ma làm hại, không đầu trần chân đất, đi từ đầu làng đến cuối xóm để ngữa bình bát nhận sự bố thí nhƣ Ngài, vì thời đại ngày nay, phƣơng tiện vật chất quá ƣ đủ đầy, nhƣng con ngƣời thật sự thiếu điểm nƣơng tựa tâm linh, đệ tử Phật nên làm gì trƣớc sự sa sút về tâm linh nhƣ thế?

Cao cả thay lời nguyện lành và cƣơng quyết của vị Sa-môn trẻ! Sau khi phát đại nguyện, Ngài ngồi kiết già dƣới cội Bồ-đề nhập thiền, quán tƣởng… Rừng Bồ-đề dƣờng nhƣ yên tịnh hơn, thanh vắng hơn sau khi tất cả các vị đạo sĩ đã cùng nhau bỏ sang khu rừng khác để tiếp tục phƣơng pháp tu khổ hạnh ép xác của mình. Chỉ còn lại vị Sa-môn trẻ với rừng già sâu thẳm, với tiếng gió lộng muôn đời giữa ngàn cây, với muôn thú gầm gào trong buổi chiều hoàng hôn về muộn… Trăng lên, ánh vàng tỏa sáng khắp khu rừng Bồ-đề đại thọ, dƣờng nhƣ đêm nay ánh trăng rực rỡ hơn mọi hôm, càng về khuya ánh trăng càng lung linh huyền 121

ảo, cảnh vật thật tĩnh mịch lạ thƣờng giống nhƣ sắp có một điều kỳ diệu sẽ xảy ra. Bóng vị Sa-môn trẻ nổi bật dƣới gốc Bồ-đề lớn nhất trong khu rừng, Ngài ngồi bất động, xếp hai chân đan chéo vào nhau trong tƣ thế kiết già nhập thiền, bắt đầu quán tƣởng. Dáng vẻ thanh thản của vị Sa-môn làm cho muôn thú an tâm, chúng mon men đến gần rồi lại lảng đi, hết con này đến con khác chừng nhƣ chúng cũng muốn dự phần vào hành trình tu chứng của vị Sa-môn trẻ ấy. Đêm càng về khuya, bóng Ngƣời càng lồng lộng dƣới ánh trăng ngà, chìm lặng tuyệt đối vào dòng suy tƣởng, Ma vƣơng (Namuci) đến gần quan sát, sau lƣng hắn là một đạo âm binh với đủ dáng vẻ thật khủng khiếp. Quỷ tham dục với vẻ mặt nham nhở đầy khát vọng với thân hình nung núc những thịt: những loài quỷ với đôi mắt lộ long sòng sọc dƣới ánh trăng, dƣờng nhƣ chúng không hài lòng khi thấy vị Sa-môn còn quá trẻ. Ngạ quỷ đói khát với thân hình thật kinh dị: bụng to nhƣ cái trống, cổ họng bé nhƣ ống kim, chúng há hốc mồn nhe nanh nhƣ muốn ăn tƣơi nuốt sống vị Samôn. Quỷ hôn trầm dã dƣợi uể oải, lƣời biếng kéo lê tấm thân khập khiễng dƣới sự điều động hò hét của ma vƣơng; quỷ sợ hãi lấm lét nhìn vị Sa-môn với cặp mắt khiếp sợ chỉ chực bỏ chạy, nhƣng hắn càng sợ ma vƣơng hơn nên đành phải hỗ trợ bằng cách khua tay múa chân loạn xạ để khủng bố tinh thần của Ngài. Quỷ hoài nghi khinh khỉnh buông lời thoái mạ, tiếng của hắn the thé làm cho muôn thú khiếp đảm thi nhau lẩn trốn vào hang. Quỷ phỉ báng và cố chấp kêu gào chửi bới phụ họa, một thứ âm thanh ghê rợn hỗn độn giữa rừng già càng làm cho những ai tinh thần chƣa kiên định sẽ quỵ ngã ngay… Tất cả bọn quỷ đó không làm sao khủng bố đƣợc tinh thần vô úy của vị Samôn. Ngài vẫn ngồi đấy một cách bất động, với dáng vẻ uy nghi thanh thoát, lặng lẽ tuyệt đối trong sự quán tƣởng, suy tƣ về chân lý vô thƣờng, vô ngã của các pháp, suy tƣ về kiếp sống giả tạm của nhân sinh… 122

Không làm sao đƣợc, ma vƣơng bèn đổi chiến thuật: hắn tự biến mình thành các bậc vƣơng giả trong thân tộc và một vị Sa-môn cung kính mang lễ vật đến cúng dƣờng và hết lời khen ngợi ca tụng tâm kiên trì của Ngài, cung thỉnh Ngài hãy trở về vƣơng vị để thống lĩnh thiên hạ, vì chỉ có Ngài mới xứng đáng là bậc đế vƣơng tuyệt đỉnh mà họ quy phục. Mọi lời tâng bốc của chúng vẫn không hề lọt vào tai vị Sa-môn trẻ. Không thể lay chuyển tâm kiên định của Ngài đƣợc, ma vƣơng lại biến thành những nàng Ma nữ đẹp tuyệt trần, lả lơi trong những bộ xiêm y mỏng manh khiêu gợi, uốn éo những vũ điệu hết sức gợi tình, chúng cất giọng hát giữa đêm trƣờng thanh vắng nghe nhƣ dễ dàng hớp lấy hồn ngƣời, chúng phá tan sự tĩnh mịch của rừng già. Muôn thú hãi sợ nép mình dƣới cây rừng, bụi cỏ hay chui vào hang động ẩn thân… gió rừng cũng trốn biệt không rì rào thoang thoảng dƣới sự trấn áp của ma vƣơng. Sa-môn trẻ vẫn ngồi yên, bất động không hề bị chi phối bởi thế lực và sự đe dọa của ma vƣơng. Gƣơng mặt Ngài bình thản, đôi mắt khép hờ trong tƣ thế nhập thiền, tuyệt đối tĩnh lặng giữa muôn ngàn âm thanh hỗn độn gào thét điên cuồng giận dữ của ma vƣơng bởi chúng không làm sao lay động tâm hồn và ý chí của Ngài. Ma vƣơng đến bên vị Sa-môn trẻ buông lời xúc phạm “Hỡi này đạo sĩ! Nhà ngƣơi gầy còm, thân hình ốm yếu thế kia thì làm thế nào thắng ta cho đƣợc. Hãy trở về đi, nếu không, cái chết sẽ đón lấy hồn ngƣơi. Hỡi này đạo sĩ! Cuộc đời không tốt đẹp hơn sự hành đạo điên khùng của nhà ngƣơi hay sao? Vợ đẹp, cung tần, con thơ yêu quý, giàu sang danh vọng, tôi tớ dƣ thừa không xứng đáng với ngƣơi hay sao? Sự u mê của ngƣơi liệu có xứng đáng với sự hy sinh gian khổ và nỗ lực kiên trì của nhà ngƣơi hay không? Rồi đây ngƣơi sẽ thấy, Ta thề sẽ cản trở ngƣơi tới cùng. Ai khiêu chiến với ta chỉ chuốt lấy thảm họa mà thôi… ha… ha… ha…”. Cùng với đạo binh ma rầm rộ khủng khiếp, chúng vờn quanh vị Sa-môn trẻ nhƣ muốn hủy hoại Ngài ngay tức khắc. 123

Dùng bao chiêu thuật để dụ dỗ ngăn chặn con đƣờng của Ngài nhƣng bất thành. Ma vƣơng nhìn quanh nhƣ để tìm thêm sáng kiến trong việc quấy phá quyết tâm kiên cố của Ngài, bỗng mắt hắn sáng lên. Trong ý tƣởng si mê điên rồ của hắn bỗng nảy ra sáng kiến. Hắn rùng mình, Tịnh Phạn vƣơng xuất hiện, thân phụ của thái tử Sĩ-đạt-ta, vị phụ vƣơng vô vàn kính yêu, tay chống gậy lần bƣớc đến vị Sa-môn trẻ, giọng rung rung nhƣ tha thiết van xin nài nỉ: “Thái tử, đứa con yêu duy nhất của ta, tại sao con cứ phải ẩn mình trong chốn rừng già, quạnh hiu vắng vẻ này? Tại sao con cứ tự hành xác mình nhƣ thế? Hãy trở về với ngai vàng đang chờ đón con từng giờ từng phút. Chăm lo cho muôn dân ấm no hạnh phúc không thiết thực hơn là tìm kiếm hƣ ảnh của giải thoát giữa rừng thiêng nƣớc độc hay sao? Con hãy nghĩ lại đi, phụ hoàng đã luống tuổi rồi, chỉ mong con trở lại để ta đƣợc nghỉ ngơi an dƣỡng tuổi già bên ngƣời thân yêu mà không còn hiu quạnh… Thái tử, con hãy nghe lời phụ vƣơng… về đi con.” Giọng nói của Tịnh Phạn vƣơng run rẩy, yếu ớt và nghẹn đi vì dòng lệ đã ứa tràn trên đôi má nhăn nheo…” Sa-môn trẻ vẫn ngồi bất động, kiên cố không hề lay chuyển. Tâm Ngài mỗi lúc kiên định thêm, không hề vƣớng mắc bất cứ một vọng niệm nào. Bóng dáng của Tịnh Phạn vƣơng mờ dần theo giọng giận dữ của ma vƣơng. Hắn xoay một vòng, công chúa Da-du-đà-la tiều tụy hiện ra. Tay bồng con thơ, mái tóc xõa dài không màng chải chuốc, đôi mắt ràn rụa lệ thảm. Nàng đến bên vị Sa-môn trẻ, quỳ xuống trƣớc mặt Ngài run run: “Chàng ơi! Thiếp cầu xin chàng hãy thƣơng lấy con thơ của chúng ta còn măng sữa. Rồi đây không ai dạy dỗ giáo dƣỡng, xin chàng hãy trở về với thiếp, với phụ vƣơng đã già yếu không ngƣời phụng dƣỡng. Hãy nghe lời thiếp, hỡi Thái tử! Chàng nỡ nào bỏ mặc mẹ con thiếp trong nỗi nhớ thƣơng tuyệt vọng khôn cùng…” Sa-môn trẻ nhƣ không nghe thấy gì, tâm Ngài đã định không có gì lay chuyển đƣợc, huống chi đó chỉ là huyễn ảnh của ma vƣơng hiện ra hòng lung lạc ý chí kim cƣơng của Ngài. 124

Trầm mặc với tƣ thế ban đầu, Ngài ngồi bất động hằng giờ quán tƣởng… Đầu canh một, Ngài chứng đƣợc Thiên nhãn và Thiên nhĩ thông: thấy nghe tất cả mọi việc của mình và của chúng sinh, thấy rõ ba cõi sáu đƣờng, những cảnh giới an vui hay đau khổ, chúng sinh xinh đẹp hay xấu xí… rõ ràng nhƣ nhìn vào gƣơng. Vào khoảng canh hai, Ngài chứng đƣợc Túc mạng minh: đạt đƣợc trí tuệ sáng tỏ thấu suốt tất cả tiền kiếp của mình và chúng sinh. Biết đƣợc vì sao nhân loại cứ triền miên bao kiếp trong vòng sinh tử. Những đớn đau chồng chất tự ngàn xƣa, những nguyên nhân đã tạo nghiệp và những nghiệp báo còn lƣu lại chƣa trả hết trong kiếp này… Đến canh ba, lúc sao mai mọc, Ngài chứng đƣợc Lậu tận minh: thấy đƣợc nguyên nhân, hậu quả khổ đế của chúng sinh bắt nguồn từ vô minh và ái dục mà ra, mƣời hai duyên sinh ràng rịt vây chặt chúng sinh khó thoát khỏi kiếp trầm luân. Đồng thời, Ngài cũng tìm ra con đƣờng diệt tận gốc khổ cho chúng sinh và cho chính mình, đó là Đạo đế, là con đƣờng thoát khổ duy nhất cho chúng sinh nếu biết nƣơng theo để tìm đến cảnh Thƣờng, Lạc, Ngã, Tịnh, Nhƣ nhƣ bất động của chƣ Phật quá khứ, vị lai… Vị Sa-môn trẻ vừa xả thiền thì cũng là lúc vầng thái dƣơng bắt đầu ló dạng. Đêm ấy, nhằm hôm mùng tám tháng mƣời hai. Sau khi hàng phục tất cả ma quân, đứng đầu là ma Ba Tuần, một thứ giặc luôn cản trở cho tiến trình đi tìm chân hạnh phúc, hào quang trên đỉnh đầu của Ngài tỏa sáng khắp 3 ngàn đại thiên thế giới. Nhạc trời chúc tụng, mƣa hoa cúng dƣờng. Trái đất sáng bừng nhƣ thiên thể tinh tú bừng xuất hiện. Chim muông cất giọng véo von, vang lừng khắp nơi, hoa đàm bừng nở tỏa ngát hƣơng thơm, tất cả nhƣ cùng có ý chào đón sự thành công tuyệt vời của Đấng xuất thế. Ngài đứng lên, phóng tầm mắt ba ngàn đại thiên thế giới. Than ôi! Chúng sinh hãy còn vô minh sâu dày quá, thật là khó thuyết phục họ đi theo con đƣờng mà Ngài đã vừa tìm thấy để thoát khỏi ngục tù trần thế. 125

Đôi mắt Ngài biểu lộ tình thƣơng yêu vô hạn của đấng cha lành nhìn thấy đàn con si mê say sƣa lặn hụp trong biển ái hà, trầm luân trong giả tƣởng. Nhân loại và hữu tình hằng hà sa số nghiệp chƣớng sâu dày, tất cả đều bị vô minh che lấp, chế ngự đến bao giờ họ mới thoát khỏi căn nhà nghiệp quả kia: tuy nghĩ thế nhƣng Đấng đại giác vẫn khoan thai bƣớc đi chầm chậm ra khỏi khu rừng Bồđề và bắt đầu cuộc chinh hóa với ý niệm từ ái khoan dung. Đêm thành đạo, đức Thế Tôn bắt đầu chuyến du hóa trên khắp lãnh thổ Ấn Hà. Với lòng bi mẫn vô biên, đức vị tha phục vụ chúng sinh vô tận, Ngài đã chan hòa ánh sáng từ ái cho bao nhân sinh còn trong khổ ải. Nay nhân kỷ niệm ngày đức Phật thành đạo, chúng ta nhìn lại quãng đƣờng đức Thế Tôn đi qua và sự thành đạt của Ngài. Để qua đó, chúng ta thấy đƣợc nghị lực vĩ đại và lòng nhẫn nại vô biên của Ngài, đã tác thành sự nghiệp hoằng pháp độ sinh cao cả mà không có một vị giáo chủ nào trên thế gian này làm đƣợc. Đêm thành đạo, trƣớc mọi cám dỗ của ác ma mà Ngài vƣợt qua một cách nhẹ nhàng. Đây chính là chất liệu của lòng từ, của sự hy sinh cao tột mà nào có ai làm đƣợc. Từ một Đông cung thái tử đều đƣợc mọi ngƣời yêu kính ngƣỡng mộ, Ngài hốt nhiên trở thành con ngƣời không chút quyền uy thế lực, thể hiện nếp sống của mình qua một bình bát và ba y. Với chí nguyện cao cả, với sự kiểm soát tâm chặt chẽ, Ngài cƣơng quyết với lập trƣờng của mình là phải chiến thắng nội ma và ngoại ma dù có khó khăn chƣớng ngại cũng không làm Ngài thối chí với lời nguyện dƣới cội Bồ-đề bên dòng sông Ni-liên-thuyền “Giả sử mặt trời, mặt trăng có thể rơi xuống, núi chúa tuyết có thể rời khỏi chỗ cũ… nếu Ta không chứng đƣợc quả vị Vô thƣợng Chánh đẳng Chánh giác thì Ta quyết không rời cội Bồ-đề này cho dù thịt nát xƣơng tan”. Nay và mãi mãi về sau, chúng ta lẽ nào quên lời nguyện cao cả ấy, là những ngƣời con tinh thần của đạo Phật, nếu biết suy nghĩ chắc hẳn không ai có thể thờ ơ trƣớc bổn phận của mình. 126

Chúng ta không ngồi cội Bồ-đề, không bị ác ma làm hại, không đầu trần chân đất, đi từ đầu làng đến cuối xóm để ngữa bình bát nhận sự bố thí nhƣ Ngài, vì thời đại ngày nay, phƣơng tiện vật chất quá ƣ đủ đầy, nhƣng con ngƣời thật sự thiếu điểm nƣơng tựa tâm linh, đệ tử Phật nên làm gì trƣớc sự sa sút về tâm linh nhƣ thế? Nên chăng chúng ta nỗ lực nghiên cứu tu tập đừng để thời gian đi qua một cách oan uổng, phải dốc lòng chuyên sâu vào lĩnh vực của mình, thật sự thấu triệt những lời dạy của đấng Thế Tôn trong Tam tạng giáo điển là ta tạo điểm tựa tâm linh cho bao ngƣời muốn tìm đến nƣơng tựa. Ta noi gƣơng Ngài là noi theo hạnh lành, không hề vì tiếng khen mà làm, không và hãnh diện mà làm, không vì lợi ích riêng tƣ mà làm, không vì lợi dƣỡng mà làm, mà chỉ vì mục đích cho sự lợi lạc chung thì của tín thí mới mong tiêu đƣợc. Ngài đã từng khuyên nhắc: “Này các Tỳ-kheo, phải ý thức toàn bộ cuộc đời là chuyển biến, có hợp có tan, đừng lo buồn, các thầy phải nỗ lực tinh tấn để sớm cầu tự độ, đem ánh sáng trí tuệ diệt trừ hắc ám vô minh. Vũ trụ quả thật mong manh không một thứ chi bền vững. Các Thầy đừng để thân tâm chìm ngập trong biển sinh già bệnh chết nhƣ thế; ngƣời có trí ai lại không hoan hỷ khi từ bỏ đƣợc thân ngũ uẩn này nhƣ từ bỏ kẻ thù”. Dòng thời gian có thể trôi qua và mang đi tất cả nhƣng không thể phai nhòa hình ảnh bậc Đạo sƣ khả kính với lời nguyện cao cả bên bờ Ni-liên-thiền trong đêm thành đạo là quyết tìm ra chân lý tối hậu hầu giúp nhân sinh thoát khỏi sự bủa vây của giáo điều đã ngự trị bao kiếp trong tâm khảm họ và giúp họ thấy đƣợc giá trị chân thật nơi tự tâm. Suốt cuộc đời dấn thân cho sự nghiệp phục vụ thế gian với chủ đích tuyệt đối thuần khiết và tâm nguyện hoàn toàn bất vụ lợi mà kinh Tăng Nhất A-hàm đã dạy: “Một chúng sinh duy nhất, một con ngƣời phi thƣờng xuất hiện trong thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc của phần đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp,vì lợi ích, vì hạnh phúc của chƣ thiên và nhân loại”, một tâm nguyện 127

trong sáng đầy tính nhân văn, đầy thiện chí, đầy lòng vị tha, phục vụ chúng sanh vô điều kiện nhƣ thế, nhƣng Ngài không hề biết kiêu hãnh là gì. Tóm lại mà nói, dù ở lĩnh vực nào thì chân lý mà đức Phật đã thân chứng là cuốn cẩm nang luôn kề cận bên mình, mỗi ngƣời học Phật dù sống nơi đâu, đừng quên mất những gì Ngài đã truyền trao chỉ dạy. Nhớ về đức Phật là nhớ đến hạnh nguyện và công hạnh của Ngài để chúng ta noi theo. Ơn Tam bảo, ơn Quốc gia, ơn đàn na, ơn thí chủ… cho đến thập trọng ân quyết phải trả cho bằng đƣợc thì hữu tình vô tình đều lợi lạc. Lam Yên

128

22. Nâng đỡ
Đừng vì nhu yếu hƣởng thụ quá lớn, đừng vì cái tôi hẹp hòi bé nhỏ, để lúc nào ta cũng xây dựng trong lòng ngục thất của nghi ngờ, lo lăng và sợ hãi khi tiếp xúc với ngƣời khác.

Bàn tay từ ái Có những lúc ta rơi vào vũng lầy đau khổ tuyệt vọng, hay bối rối hoang mang trƣớc khúc quanh của cuộc đời, thật không có chi bằng khi có một cánh tay tình thƣơng đƣa tới cho ta tựa vào và truyền thêm sức mạnh, để vết thƣơng trong ta đƣợc xoa dịu, để nguồn sống trong ta đƣợc đánh thức và giúp ta vƣợt qua những đoạn đƣờng nghiệt ngã. Bàn tay ấy tuy không phải là phép màu, nhƣng nó có chứa chất liệu của tình thƣơng, nó có mặt một cách một cách kịp thời và hợp lý để xâu kết những điều kiện có sẵn của một sức sống tiềm tàng trong ta bừng dậy. Đó là bàn tay nâng đỡ mà ai cũng cần ít nhất vài lần trong đời, vì sống trong đời sống này có mấy ai luôn mỉm cƣời thanh thản trƣớc những thay đổi bất chợt?

129

Khi em ngã thì anh nâng, khi anh ngã thì em nâng, nếu em và anh có liên hệ có tình thƣơng và có sẵn một khả năng để nâng đỡ. Dù đó chỉ là một hành động lắng nghe chăm chú, một lời động viên an ủi, hay một thái độ bao dung tha thứ cũng có thể làm cho tình trạng của kẻ trong cơn nguy khốn đƣợc lành lặn và chuyển hóa. Ta không thể nói ta không cần ai hết, bởi ta không thể đi một mình trong cuộc đời này. Vậy mà có những lúc vì tự ái, vì muốn khẳng định mình, vì thiếu chín chắn, ta đã dại dột tuyên bố những điều hết sức nông cạn nhƣ vậy. Nhƣng sự thật ta chƣa bao giờ ngƣng tiếp nhận niềm tin yêu từ những ngƣời thân, ta chƣa bao giờ sống đƣợc mà không có sự nâng đỡ của đất trời hay vạn vật chung quanh, dù có khi sự nâng đỡ đó đƣợc thể hiện trong vô tƣớng. Vậy nên những khi ta đang vững vàng thì hãy nhìn chung quanh mình, nhìn xuống thật gần để xem có ai đang cần tới bàn tay nâng đỡ của mình không? Đó là cái nhìn của một ngƣời trải nghiệm, đã từng thấm thía nỗi đau tột cùng khi không kịp lấy lại sức vì vấp ngã. Đó là cái nhìn của một ngƣời hiểu biết, nắm vững đƣợc nguyên tắc điều hợp vũ trụ: có cái này nên mới có cái kia, nếu cái kia tàn hoại thì cái này cũng bị lãnh đủ. Tuy ta đƣa cánh tay đến để nâng đỡ đối tƣợng kia, nhƣng kỳ thực là ta cũng đang nâng đỡ chính mình. Tuy ta đang tạo ra những năng lƣợng an lành để bảo vệ mầm sống chung quanh, nhƣng đích thực là ta đang bảo vệ đời sống của chính mình. Vì vậy cánh tay nâng đỡ đó phải là cánh tay của từ ái, của tình thƣơng không điều kiện hoặc rất ít những điều kiện. Mà tại sao ta muốn ngƣời kia phải làm cái gì đó cho ta thì ta mới chịu cứu giúp, trong khi ta đã thấy rõ tình trạng khốn khó mà họ đang gánh chịu và con tim ta đã rung động chân thành? Họ đang đuối sức và cần ta, chứ họ không thể phục vụ gì thêm cho ta nữa. Ta hãy giữ vững niềm rung cảm chân thành ban đầu, đừng để cho ý niệm ích kỷ 130

toan tính chen vào, đừng để cho những lời bàn tán vô trách nhiệm làm khuynh đảo. Nếu thấy mình vẫn còn đủ năng lực thì hãy chia sớt cho ngƣời kia một phần. Phần nhận đƣợc không chỉ làm hồi sinh cho chính kẻ ấy, mà hồi sinh cho cả năng lực tâm từ trong ta nữa. Tại vì ta vốn có sẵn một trái tim thƣơng yêu rất lớn, lớn đến mức không biên giới, nhƣng nếu không có những mảnh đời trái ngang kêu cứu thì tâm từ ấy sẽ không thoát thai đƣợc. Thái độ nâng đỡ Trong liên hệ thƣơng yêu, không phải lúc nào ngƣời kia cũng cần ta mang thêm thứ gì lớn lao cho họ, cái họ cần đôi khi chỉ là sự có mặt đích thực của ta. Ta nói ta thƣơng họ mà cứ đi biền biệt hoài, chỉ biết điện thoại hay gửi tin nhắn hay những lần gặp gỡ vội thì ngƣời kia trở nên héo tàn là phải. Ta phải có mặt bằng cả con ngƣời của mình, cả thân lẫn tâm, một sự có mặt đầy vững chãi và thảnh thơi để cho ngƣời kia thấy đƣợc sự hết lòng của mình và cả giá trị của họ trong mắt mình. Cho nên lâu lâu ta cũng nên dành trọn một buổi hay một ngày để ngồi chơi với ngƣời thân, dù không phải làm điều gì đặc biệt, chỉ im lặng mỉm cƣời hoặc tƣới tẩm những hạt giống hạnh phúc trong tâm ngƣời ấy bằng những lời lẽ chân thành sâu sắc là ta đã tặng cho họ món quà rất lớn rồi. Cuộc sống bận rộn quay cuồng nên ta dần đánh mất thói quen công nhận hay khen tặng ngƣời khác, dù họ rất xứng đáng. Trái lại, vì ta đã bỏ ra quá nhiều năng lực và cảm xúc cho việc tích góp danh vọng, nên lúc trở về với những ngƣời thân ta bỗng trở thành đứa bé vô trách nhiệm hay vòi vĩnh những điều hết sức ngây ngô, hoặc thậm chí ta còn dễ dàng chê trách những chuyện không đâu, gây áp lực nặng nề cho kẻ khác. Lẽ dĩ nhiên có những lúc ta cần đƣợc nâng đõ, nhƣng nếu ta nghĩ là họ phải có trách nhiệm đem tới nguồn tinh thần cho ta, đổi lại ta sẽ mang thật nhiều tiện nghi vật chất về cho họ thì ta đã sai lầm. Khó có ai có thể sống vững mà không đƣợc quan tâm, không đƣợc công nhận. 131

Vậy nên thỉnh thoảng ta hãy hỏi ngƣời kia có gặp khó khăn gì cần ta nâng đỡ không? Sống chung với một ngƣời mà lúc nào cũng sẵn sàng mở lòng ra để nâng đỡ, lúc nào cũng có sẵn trên môi câu nói: “Có cần tôi nâng đỡ gì không?” thì hạnh phúc biết chừng nào. Ta đừng sợ nói ra thì ngƣời kia sẽ vắt kiệt năng lƣợng của mình. Không đâu, ta hãy cứ thực tập đi rồi ta sẽ thấy ta đã thừa hƣởng hạnh phúc ngay khi ta mở miệng nói câu ấy rồi, huống chi vẫn còn tùy ở khả năng đang có mà ta trọn quyền định liệu. Điều quan trọng là ta có thiện chí muốn chia sẻ tình thƣơng đến mọi ngƣời, luôn muốn mọi ngƣời hạnh phúc hơn, tức là ta đã làm đƣợc điều con tim muốn ta làm. Nhƣng ta đừng vội nản lòng khi thấy mình đã hết lòng rồi mà sao ngƣời kia vẫn chƣa thay đổi. Một sự chuyển hóa bao giờ cũng hội tụ rất nhiều điều kiện chứ không thể chỉ dựa vào phần đóng góp của riêng ta mà nó xảy ra đƣợc, và chƣa chắc là phần đóng góp ấy có giá trị thiết thực cho ngƣời kia nữa. Huống chi những điều kiện để tạo nên sự chuyển hóa trong ngƣời kia vẫn đang xảy ra và một số điều kiện khác xung đang trên đƣờng đi toái, ta hãy kiên nhẫn chờ đợi và không ngừng sự nâng đỡ. Biết đâu những điều kiện sau cùng để thay đổi lại xuất phát từ chính thiện chí và tình thƣơng của ta. Cho nên ta đã thƣơng và muốn cứu giúp rồi thì đừng rút cánh tay lại, cũng có thể khi ta thu năng lƣợng che chở ấy lại thì ngƣời kia mới thật sự rơi tõm xuống vực sâu, vì niềm tin của họ đã dồn về phía ta, chỉ có ta đem tới nhân duyên ứng hợp để giúp họ thay đổi mà thôi. Ta hãy luôn nhớ rằng tình thƣơng mà mang theo quá nhiều điều kiện thì coi chừng ta đang thƣơng bản thân mình chứ không phải là đang thƣơng đối tƣợng kia. Đừng để hạt giống ích kỷ đánh lừa. Để trắc nghiệm ta hãy thƣờng xuyên tự chất vấn mình nếu lỡ ngƣời kia không chịu tiếp nhận, hoặc nghi ngờ tấm lòng tốt của ta thì ta sẽ ra sao? Nếu vì những phản ứng của họ mà ta dập tắt ngay ý niệm muốn cứu giúp là ta chứng tỏ lòng chân thành của ta đã chƣa đủ lớn. 132

Đành rằng không phải lúc nào sự giúp đỡ của ta cũng là điều kiện cần thiết cho ngƣời kia, nhƣng nếu ta đã thƣơng và muốn giúp đỡ thì hãy cứ kiên nhẫn chờ đợi đến khi họ cần. Một tấm lòng tốt sẽ không bao giờ là thừa thãi. Ta hãy nâng niu lòng nhiệt tâm giúp đỡ của mình, đừng để nó bị hao mòn hoặc chai cứng, thì sau này ta sẽ khó để đặt xuống một tình thƣơng. Đi như một bầy chim Cũng có khi vì thói quen sĩ diện hay tự ái quá lớn mà ta luôn có khuynh hƣớng che đậy những khó khăn của mình. Nhƣ ta đang rất khổ sở vì mối nghi ngờ ngày một đè nặng trong lòng nhƣng lại không chịu nói ra, vì nếu nói ra sợ ngƣời kia nghĩ ta là kẻ tầm thƣờng hay yếu đuối nên chỉ biết cắn răng chịu đựng. Ngƣời kia gạn hỏi thì ta lại nói là không sao cả, ta đang rất ổn. Khi đã cố gắng hết sức rồi mà tinh thần vẫn rơi xuống thấp nhƣ vậy thì tại sao ta không nhờ đến sự nâng đỡ của ngƣời kia? Vậy sống với nhau để làm gì? Đôi khi chỉ cần một lời giải thích đơn giản là vấn đề đã đƣợc sáng tỏ rồi, ta sẽ không tự giam mình trong những ngày tháng u tối chỉ vì những tri giác sai lầm. Hãy nhìn loài thiên nga mỗi khi cùng bầy di cƣ về miền đất ấm trƣớc khi mùa đông đến. Chúng thƣờng bay chung với nhau theo hình chữ V, nhịp vỗ cánh của con bay trƣớc sẽ tiếp sức cho nhịp vỗ cánh của con bay sau, cứ thế mà chúng tiết kiệm đƣợc 70% công lực thay vì bay một mình. Trên thức tế chƣa bao giờ có con thiên nga nào dám một mình bay từ phƣơng Bắc về phƣơng Nam, vì đoạn đƣờng đó có khi dài tới hàng trăm hoặc hàng nghìn dặm. Điều kỳ thú là khi con dẫn đàn thấm mệt thì nó sẽ lùi lại để con thứ hai hoán vị với mình, nó không bao giờ độc tài lãnh đạo cả. Đặc biệt hơn nữa, khi có một con thiện nga bất ngờ bị kiệt sức hay trúng thƣơng thì nó sẽ cử hai con mạnh khỏe khác ở lại yểm trợ và cả đàn sẽ giảm tốc độ tối thiểu để chờ chúng đuổi theo. Chúng không bao giờ bỏ qua sự nâng đỡ và yêu thƣơng đồng loại của mình.

133

Khi nhìn bầy thiên nga luôn đi bên nhau có thể ta sẽ rơi nƣớc mặt. Tại vì ta rất tôn sùng chủ nghĩa cá nhân, rất thích sống biệt lập, nên không muốn ai đụng tới mình và ta cũng chẳng buồn quan tâm đến nỗi khổ niềm đau của kẻ khác. Ngay với những ngƣời thân trong gia đình mà ta vẫn còn sống rất ơ hờ thì đừng nói chi đến hai chữ “đồng loại” lớn lao kia. Mà có lớn lao gì đâu, mình không thƣơng đƣợc đồng loại của mình, mình không nâng đỡ đƣợc đồng bào của mình, mình không chia sớt đƣợc nỗi khổ niềm đau của dân tộc mình thì làm sao mình có thể đứng vững trong trời đất này kia chứ? Nếu có, thì đó cũng là sự vay mƣợn giả tạm mà cái giá phải trả cũng sẽ rất đắt. Biển đời mênh mông vô tận, trong lòng nó luôn chứa những đợt sóng ngầm, nó sẽ sẵn sàng kéo con thuyền ra xa và nhẫn chìm bất kỳ lúc nào nếu ta không kịp tỉnh táo và đủ sức để đối phó. Vậy nên ta hãy đi với nhau nhƣ một bầy chim, hãy cùng những ngƣời thân siết chặt tay nhau để đủ sức vƣơn lên những cánh buồm lớn cho con thuyền lƣớt nhanh tới phía trƣớc. Ta đừng kẹt vào tài năng hay sự may mắn rồi tự ban cho mình một vị trí quá lớn mà trở nên khó khăn để hòa nhập với mọi ngƣời chung quanh. Đó là một thiệt thòi rất lớn, vì sức mạnh của đoàn thể bao giờ cũng có tính chất chở che và soi sáng. Ta không nhất thiết phải làm thuyền trƣởng thì ta mới có thể tham sự trên con thuyền vƣợt khơi. Mỗi vị thủy thủ chỉ cần tự biết đƣợc trách nhiệm của mình và sẵn sàng hoán vị với ngƣời khác khi cần thiết để mình kịp thời lấy lại phong độ mà ứng phó với những đợt sóng vô tình phía trƣớc là đƣợc. Hãy đi bên nhau để có cơ hội va chạm, để buông bỏ bớt lòng cố chấp, để tập nhƣờng nhịn và hòa điệu với nhau. Đó là những yếu tố quan trọng làm nên bản lĩnh và thành công của con ngƣời. Ta hãy sống đời sống của một con ngƣời có hiểu biết và thƣơng yêu, hãy chấp nhận nhau nhƣ những con thiên nga chấp nhận đồng loại của mình. Đừng vì nhu yếu hƣởng thụ quá lớn, đừng vì cái tôi hẹp hòi bé nhỏ, để lúc nào ta cũng xây dựng trong lòng ngục thất của nghi ngờ, lo lăng và sợ hãi khi tiếp xúc với ngƣời khác. 134

Còn đi chung đƣờng với nhau, còn nhìn nhau tận mặt và sẵn sàng lên tiếng khi cần nhau hay hết lòng nâng đỡ nhau là ta đang giữ đƣợc thiêng chức của một sinh linh mầu nhiệm rồi. Hãy giữ lấy con đƣờng ấy, vì đó chính là con đƣờng đƣa tới hạnh phúc chân thật! Đi như một bầy chim Vượt vùng trời băng giá Đừng một mình ra khơi Biển đời nhiều sóng cả Thích Minh Niệm

135

23. Đạo đức và hạnh phúc
Mọi ngƣời hẳn sẽ nhất trí với lời phát biểu rằng đạo đức là giá trị cao quý nhất đối với cuộc sống con ngƣời trong mọi thời đại, đặc biệt là thế giới ngày nay. Từ điển Graw Hill Book định nghĩa: “Đạo đức là môn học đánh giá các hành vi thiện ác của con ngƣời biểu hiện qua thân, lời, ý và đƣợc thực hiện bởi ý chí, tình cảm và ý chí.”[1] Theo Aristote: “Mục đích trực tiếp của con ngƣời không phải là cái hay, cái đẹp mà chính là hạnh phúc. Hạnh phúc là sự phát triển hoàn toàn đầy đủ các đức tính của một con ngƣời... Hạnh phúc đồng nghĩa với đạo đức.”[2] Trong chừng mực nào đó, nếu đạo đức đƣợc hiểu là đồng nghĩa với hạnh phúc thì chúng ta có thể nói rằng đạo Phật là đạo hạnh phúc, vì giáo lý Phật giáo chính là con đƣờng đạo đức giúp con ngƣời loại trừ khổ đau và đạt đƣợc hạnh phúc ngay trong hiện tại và tại đây. Nó thay thế những cảm nghiệm khổ đau trong cuộc sống hằng ngày của con ngƣời bằng cảm nghiệm hạnh phúc ngay khi ngƣời ta thực hành. Nó là phƣơng tiện để con ngƣời từng bƣớc hoàn thiện bản thân, phát triển nhân cách, đƣa họ từ địa vị phàm phu tiến dần đến quả vị Thánh giả. Hơn thế nữa, giáo lý Phật giáo chính là con đƣờng giúp cho ngƣời đạt đƣợc hạnh phúc tối hậu; đó là Niết-bàn, sự giải thoát toàn vẹn, vì đức Phật dạy “Ta chỉ dạy khổ và con đƣờng diệt khổ.”[3] Để đạt đƣợc những cấp độ hạnh phúc từ thấp đến cao nhƣ thế, tất nhiên ngƣời ta cần phải học tập và thực hành Phật giáo, bao gồm trong ba pháp giớiđịnh-tuệ mà đức Phật đã thuyết giảng. Sống đúng với con đƣờng giới-định-tuệ nghĩa là hành giả đang nắm giữ hạnh phúc chân thật, vì đây chính là đạo lộ mà đức Phật đã hành trì và đạt đƣợc quả vị giác ngộ, giải thoát. Cần phải nhận thức rõ rằng ba pháp giới-định-tuệ luôn cùng hiện hữu mỗi khi một trong ba pháp ấy đƣợc hành trì. Trong thực chất, giới-định-tuệ là ba mặt của một vấn đề, là ba điều không thể tách rời mỗi khi đề cập đến giáo lý Phật giáo. Đức Phật dạy: “Trí tuệ đƣợc giới hạnh làm cho thanh tịnh. Giới hạnh đƣợc 136

trí tuệ làm cho thanh tịnh. Ở đâu có giới ở đó có trí tuệ; ở đâu có trí tuệ, ở đó có giới. Ngƣời có giới hạnh nhất định có trí tuệ; ngƣời có trí tuệ nhất định có giới hạnh.” [4] Nhƣ vậy, mỗi khi đề cập đến một tức là đề cập đến cả ba. Nói khác đi, khi đề cập đến giới là nói đến con đƣờng giải thoát giới định tuệ, nhƣng đứng trên bình diện của giới luật để phân tích và bình luận. Xa đề một chút, chúng ta nhận thấy rằng muốn xây dựng một chuẩn mực đạo đức trong cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội thì cần phải có những chuẩn tắc về hành vi để con ngƣời cò thể y cứ vào đó mà đánh giá các hành vi thiện hay bất thiện. Một hành vi đem đến hạnh phúc cho mình, cho ngƣời, cho xã hội là chuẩn tắc để đánh giá (ở đây đề cập đến giá trị giải thoát của hành vi). Đối với Phật giáo, chuẩn tắc hành vi đó phải dựa vào giới, hay nói chính xác hơn, chuẩn tắc ấy là giới. Trong giáo lý Phật giáo, giới có nhiều loại. Tùy theo cấp độ tu hành khác nhau giữa hàng ngũ xuất gia và tại gia mà giới đƣợc phân thành nhiều loại, nhƣ giới Tỷ-kheo, giới Tỷ-kheo ni, giới sa di, giới sa di ni, giới ƣu bà tắc, ƣu bà di... Bên cạnh ấy, do môi trƣờng, hoàn cảnh, phong tục, tập quán mà có những sự khác nhau trong giới luật Phật giáo. Tuy nhiên, phần trình bày ở đây tập trung vào năm giới căn bản của ngƣời Phật tử tại gia. Năm giới này là năm điều kiện đạo đức tối thiểu của một ngƣời Phật tử, và cũng là những chuẩn mực đạo đức tạo ra con ngƣời lý tƣởng theo đúng chân nghĩa của nó. Năm giới ấy bao gồm: (1) Không sát sanh; (2) Không lấy của không cho; (3) Không tà dâm; (4) Không nói dối; (5) Không uống rƣợu. Qua nội dung vừa trình bày ở trên ngƣời ta dễ dàng nhận thấy rằng năm giới này là để áp dụng cho con ngƣời, cho đời sống con ngƣời nhằm để ngăn chận các hành vi bất thiện do con ngƣời tạo ra (theo nghĩa tiêu cực), và để tạo ra an lạc, hạnh phúc thật sự cho chính con ngƣời và xã hội (theo nghĩa tích cực). Giới là những điều không đƣợc vi phạm, cần phải tránh để bảo vệ đạo đức và nhân phẩm của một con ngƣời. Khi một ngƣời giữ gìn năm giới này đƣợc thanh tịnh thì tâm ngƣời ấy đƣợc an ổn, tự tại vì biết rằng mình đang trú trong đạo đức, nghĩa là đang ở xa vực thẳm phi đạo đức. Từ sự an ổn đó ngƣời ta sẽ cảm nhận 137

đƣợc hạnh phúc và an lạc ngay trong hiện tại và chính trong cuộc sống của mình ngay tại đây. Khi năm giới đƣợc con ngƣời cảm nhận một cách chân thật thì tâm ngƣời ấy hoàn toàn tự do và thoải mái. Vì vậy chúng ta có thể nói rằng năm giới là năm điều kiện sống tất yếu của một con ngƣời, là năm điều kiện cần và đủ để làm ngƣời, ví nhƣ cá phải sống trong nƣớc, nếu tách rời khỏi nƣớc tất nhiên là cá tự hủy hoại cuộc sống của chính nó. Giới luật Phật giáo có công năng tạo ra hạnh phúc và lợi ích thật sự cho cuộc sống con ngƣời, xã hội từ cấp độ thấp nhất (là con ngƣời đúng nghĩa), cho đến cấp độ cao nhất là giải thoát tối hậu (Niết-bàn) tùy theo cấp độ tu tập giới. Nhƣng ở đây ngƣời viết chỉ trình bày tổng quát một vài tính chất tiêu biểu của giới: a) Con ngƣời không bao giờ thích kẻ khác gây bất cứ sự tổn thƣơng nào đến cho mình (nhƣ tổn hại mạng sống, mất mát tài sản, rối loạn hạnh phúc gia đình...), thì chính những gì chúng ta không muốn ấy cũng đừng nên gây hại cho ngƣời khác[5]. Qua ý nghĩa này chúng ta thấy rằng giữ gìn năm giới chính là giữ gìn hạnh phúc của mình. – Đây là một ý nghĩa tích cực của giới. b) Ngƣời ta sẽ dễ dàng nhận thấy rằng nếu những giới điều trên bị vi phạm và phá bỏ thì chính môi trƣờng chung quanh (xã hội) sẽ rơi vào một hoàn cảnh rối ren, đau khổ. Chỉ từ sự đánh mất hạnh phúc của từng con ngƣời là đã tạo ra đau khổ cho gia đình, xã hội, thậm chí sự tổn hại to lớn nhƣ chiến tranh có thể bùng nổ, nhân loại có thể diệt vong, nếu ngƣời ấy là kẻ có chức có quyền. Vậy thì năm giới là năm điều kiện tất yếu phải đƣợc tuân thủ, nếu nhƣ con ngƣời mong muốn hạnh phúc thật sự. c) Điểm điển hình kế tiếp của giới luật Phật giáo là từ bi. Mọi ngƣời có lẽ đều thừa nhận rằng đã là con ngƣời nghĩa là đã từng khổ đau và đang khổ đau (cảm giác theo từng cấp độ), vì nhƣ Lev. Tonstol từng nói: “Mọi ngƣời đều có cảm giác hạnh phúc giống nhau, nhƣng cảm thọ khổ đau thì mỗi ngƣời một kiểu”. Nhƣ thế, điều thiện cần phải làm, từ bi cần phải có mặt là sự giúp đỡ cần thiết cho con ngƣời, cho xã hội, trực tiếp hoặc gián tiếp. Điều này nói lên một ý nghĩa tích cực khác của giới luật Phật giáo. Giữ giới có nghĩa là bố thí: bố thí năm điều không sợ hãi và đem đến năm điều an lạc cho con ngƣời, cho xã hội. Cần lƣu ý rằng từ bi 138

của Phật giáo không phải chỉ để cảm thông với khổ đau của con ngƣời trong quá khứ cũng nhƣ hiện tại, mà là tích cực để đoạn trừ những nỗi thống khổ ấy qua sự tu tập năm giới. Từ bi của Phật giáo liên hệ đến bất bạo động, do vậy nó có thể loại trừ khả năng sinh khởi các sai lầm do tham, sân, si điều động. d) Qua những điểm vừa trình bày trên chúng ta có thể thấy rằng giới là bƣớc đi đầu tiên, là bƣớc đi căn bản và vô cùng quan trọng trong lộ trình tu tập hƣớng đến xây dựng một con ngƣời tốt, một môi trƣờng tốt và một xã hội tốt đẹp. Nếu giới không đƣợc nghiêm giữ một cách thanh tịnh thì việc tu tập thiền định khó mà đạt đƣợc kết quả tốt; và nếu có chăng cũng chỉ là những kết quả cỏn con. Nếu an lập đƣợc nền tảng các vấn đề đạo đức (giới) thì không thể nào không tạo ra đƣợc an lạc, hạnh phúc cho mình, cho gia đình và cho xã hội. Ngay cả mục đích tối hậu, tức sự giải thoát toàn vẹn, cũng đến từ bƣớc khởi đầu này mà chứng đắc. Nếu cuộc sống giữa con ngƣời với con ngƣời, con ngƣời với gia đình, và con ngƣời với xã hội mà đều tuân thủ và hành trì giới luật một cách chân chánh thì không ai có thể chối cãi rằng cuộc đời này là một trú xứ đầy an lạc và hạnh phúc. Nói chính xác hơn, Tịnh-độ cũng chính tại đây, tất cả đều phụ thuộc vào hành vi đạo đức của con ngƣời mà đƣợc an lập. Điều quan trọng cần phải lƣu ý ở đây là sự hiện hành của pháp luật xã hội cũng nhƣ giới luật của các tôn giáo khác. Rõ ràng, sự tác động của những điều vừa đƣợc đề cập không phải là ít đối với cuộc sống con ngƣời và xã hội. Tuy nhiên, khách quan để đánh giá thì ngƣời ta sẽ nhận thấy rằng sự tác động của chúng chỉ mang tính răn đe và trừng phạt những hành vi phạm tội của con ngƣời, đƣợc thể hiện ra ngoài qua hành động của thân, miệng, ý. Trong khi ấy, chủ nhân chính để tạo ra tội lỗi lại là ý (tâm). Ý là chủ nhân và là nhân tố chính điều động các hành vi thiện ác. Nhƣ vậy, giáo dục là giáo dục ngay ở nguồn gốc của nó; ngăn chận là ngăn chận ngay ở thời điểm mà tội lỗi chƣa phát sinh. Đƣợc nhƣ thế, kết quả hạnh phúc mà con ngƣời đang chờ đón mới có cơ hội đơm hoa, kết trái. Giới luật Phật giáo có công năng thực hiện trọn vẹn yếu tố này. Trích dẫn ngắn gọn sau đây từ hai bài kệ Pháp Cú hy vọng sẽ soi sáng cho vấn đề trên: “Tâm dẫn đầu các pháp; tâm làm chủ, tâm tạo. Nếu nói hay hành động; với tâm ý ô nhiễm. Khổ não bƣớc theo sau; nhƣ xe chân vật kéo”. Và “Tâm dẫn đầu các pháp; tâm 139

làm chủ, tâm tạo, nếu nói hay hành động; với tâm ý thanh tịnh. An lạc sẽ theo ta; nhƣ bóng không rời hình”. Dĩ nhiên, muốn giáo dục và xây dựng tốt con ngƣời và xã hội trong một môi trƣờng đạo đức thì cần phải có những mẫu ngƣời đạo đức (theo nghĩa tƣơng đối); những con ngƣời sống đúng pháp, đúng luật. Phải chăng đó là hình bóng của Tăng đoàn Phật giáo. Đời sống mô phạm của đức Phật và các Thánh đệ tử trong thời đại của Ngài đã cho chúng ta thấy rằng, quả thật cuộc sống phạm hạnh của Tăng đoàn là bài pháp hùng hồn, là khuôn mẫu giáo dục có tác dụng to lớn, tác động mạnh mẽ đến việc cải thiện đạo đức cho ngƣời Phật tử nói riêng, và cho xã hội nói chung. Cuộc sống đúng giới luật của Tăng già là nền tảng vững chắc, là cơ sở thiết yếu để mọi ngƣời nƣơng tựa. Bằng nhƣ chỉ nói về, chỉ lý thuyết, chỉ mơ ƣớc thì ảnh hƣởng của giới luật không những rất ít, mà lắm khi lại phản tác dụng, vì thực tế cho thấy rằng hành động đạo đức bao giờ cũng có giá trị hơn nói về đạo đức. Nhƣ vậy, yêu cầu bức thiết đối với Giáo Hội Phật Giáo hiện nay là cần có những đệ tử Phật thực hành chánh pháp, chuyên trì giới luật, sống đúng truyền thống lục hòa theo nghĩa tích cực của nó. Tăng đoàn cần phải phát huy sức mạnh, hiệu lực và giá trị của mình trong việc truyền trao giới pháp. Cần chú trọng đến phẩm chất, loại trừ chủ nghĩa số lƣợng, nặng tính hình thức. Dĩ nhiên, giới luật Phật giáo nói chung và năm giới nói riêng không chỉ dành cho đệ tử của đức Phật, cũng không phải dành riêng cho một hạng ngƣời nào trong xã hội. Nó dành cho tất cả mọi ngƣời, mọi lứa tuổi, mọi dân tộc, mọi thời đại; dành cho những ai muốn có cuộc sống an lạc, hạnh phúc cho mình, cho ngƣời ngay trong hiện tại và tại đây (nếu nhƣ không muốn nói đến tƣơng lai), và cho những ai muốn có một chuẩn mức để làm ngƣời theo đúng chân nghĩa. Thế giới con ngƣời đang quằn quại trong khổ đau và lên án những ngƣời đang vi phạm các nguyên tắc đạo đức cơ bản này. Thế giới con ngƣời cũng đang khao khát một cuộc sống hòa bình, thịnh vƣợng và hạnh phúc. Nhƣ vậy, có phải chăng năm giới điều trên của Phật giáo là năm chuẩn tắc luân lý để xây dựng một xã hội đạo đức lý tƣởng (theo nghĩa tƣơng đối) mà Socrate, triết gia nổi tiếng của Hy Lạp, đã mong chờ khi phát biểu rằng: “Một nền đạo đức không thể căn cứ vào một giáo lý mơ hồ, chúng ta phải tạo dựng một nền luân lý hoàn toàn không lệ 140

thuộc thần học, hoàn toàn thích hợp với những ngƣời có tôn giáo cũng nhƣ không có tôn giáo thì xã hội mới ổn định.”[6] Phải chăng đã đến lúc mọi ngƣời cần phải quay lại với chính mình, phải xác định lại mục đích thật sự mà họ đang tìm kiếm và muốn vƣơn tới. Phải chăng hạnh phúc là đối tƣợng mà con gnƣời đang mãi tìm kiếm. Nhƣng, hạnh phúc thì đồng nghĩa với đạo đức, mà đạo đức chính là giới. Vậy thì chính lúc này con ngƣời cần phải loại bỏ tất cả ngộ nhận, sai lầm về giới luật của Phật giáo, để tiến gần giới luật, nằm giữ giới luật nhƣ là đang nắm giữa hạnh phúc của mình; nắm giữ giói luật nhƣ là đang duy trì chính nhân phẩm của mình vậy. Bằng nhƣ ngƣợc lại, cứ khao khát, tìm cầu hạnh phúc, an lạc mà phá vỡ năm giới điều trên thì cũng nhƣ ngƣời khát nƣớc mà mãi uống nƣớc biển vậy. Kết quả chỉ là sự đau đớn, thống khổ của những ngƣời thiếu trí tuệ, nhƣ vua Trần Thái Tông từng nói: “Phong trần thất thểu làm thân khách, Ngày mãi xa quê vạn dặm đường”[7] Đề cập đến năm giới căn bản, năm điều đạo đức tối thiểu của Phật giáo mà đã có thể đem lại hạnh phúc thiết thực và to lớn cho con ngƣời, cho xã hội nhƣ thế (nếu đƣợc thực thi). Chắc chắn rằng những giới điều khác của Phật giáo (cũng dựa trên năm giới điều căn bản này) mà đƣợc hành trì một cách nghiêm túc thì hạnh phúc tối thƣợng, tức Niết-bàn, là điều có thể đạt đƣợc, không hƣ dối vậy. Hạnh phúc ở đây cần phải đƣợc hiểu theo từng cấp độ, từng hoàn cảnh và từng cá nhân cảm thọ nó trong từng điều kiện riêng biệt. Kết quả của năm giới là công năng của một cuộc sống đúng giới luật của hàng cƣ sĩ, đệ tử tại gia của đúc Phật; còn Niết-bàn tức hạnh phúc tối hậu - tất nhiên đòi hỏi một sự tu tập nhuần nhuyễn ba pháp giới-định-tuệ. Ở đó giới định tuệ đã vỡ tan và hoà nhập với tự thân hành giả, tạo nên một thể thống nhất giữa nhân và pháp. Niết-bàn là kết quả của sự hoà nhập hoàn toàn giữa pháp tu và ngƣời tu, giữa ngƣời chứng và quả chứng. Niết-bàn của Phật giáo vƣợt lên trên mọi suy tƣ logic, mọi cảm thọ bình thƣờng. Nó là thể hiện trọn vẹn của một cuộc sống từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha. Thích Viên Trí

141

24. Xin Lỗi Chính Mình
Lời xin lỗi với đôi ngƣời đôi khi thật khó nói. Vì không bao giờ nhận ra lỗi của mình, vì ngại ngùng, vì cố chấp, vì vai vế, vì không có cơ hội… - lý do của sự im lặng! Nhƣng rồi thì ít nhất một lần trong đời chúng ta cũng đã từng (mấp máy) nói lời xin lỗi với một ai đó. Song, có lẽ rất nhiều ngƣời chƣa một lần… xin lỗi chính mình!

Vì sao phải xin lỗi chính mình? Vì mình gây ra lỗi với chính mình! Vâng, nhƣng chúng ta hình nhƣ đã mặc định rằng: cái gì thuộc về mình thì mình có quyền sử dụng, có quyền xài xuể, có quyền quyết định. Vì thế nên có nhiều khi mình… nhịn ăn, mình thức khuya, mình nhậu nhẹt (cho quên đời, cho bõ ghét, cho kinh...) và thậm chí mình tự sát! Chúng đã cho phép mình hành hạ bản thân mình nhƣ thế rất nhiều lần trong đời cũng bởi vì chúng ta nghĩ thân này là của mình, do mình quyết. Chúng ta bỏ mặt tiếng kêu của gan ruột khi nó buộc phải tiếp nhận quá nhiều bia rƣợu, tiếng của phổi than van khi nó buộc phải hít bụi khói từ thuốc lá, tiếng khóc của những dây thần kinh khi mình chìm trong thế giới ảo, lang thang qua những “miền lãng du” nào đó… Chúng ta quên mất thực thể MÌNH này có đƣợc là do sự kết hợp màu nhiệm của ba mẹ, của duyên may đƣợc làm ngƣời. Phật dạy thân ngƣời khó đƣợc, ấy thế mà khi có thân ngƣời chúng ta vẫn hay quên nên 142

chúng ta mặc tình cho ham muốn điều khiển, cho những cơn giận “lái” mình vào những mê lộ, và chúng ta đảo điên trong cuồng phong, trong những nỗi đau. Bạn có nhận diện ra sự thờ ơ của mình chƣa? Và bạn có thấy là mình đã quên mất thực thể mình là một sợi dây nối, là một móc xích trong sợi xích cuộc đời? Chính vì quên nên khi điên, khi say, khi mê mình mới quyết định chấm hết sự sống của mình một cách lạnh lùng. Quan toà cũng là mình mà phạm nhân cũng là mình, để rồi sau “phán quyết” thiếu từ tâm (với chính mình) đó thì mình mất mát, kéo theo những đau thƣơng với ngƣời khác. Chỉ một lần hành hạ hay sát hại bản thân mình là đồng thời mình đã gây ra ba nỗi đau, một cho mình ở hiện tại, hai cho ngƣời ở hiện tại và ba là cho mình ở tƣơng lai. Sự tƣơng tác ấy chúng ta nhiều khi quên mất, mình đâu kịp suy nghĩ, và không kịp điều chỉnh nên mình đã tạo ra 2 nỗi đau cho chính mình và 1 nỗi đau cho ngƣời khác. Nỗi đau thân xác và nỗi đau tinh thần của hiện tại do tâm sân, do tánh si, và lòng tham gây ra sẽ là nhân cho những mù tối ở tƣơng lai. Chính vì lẽ đó mà mình phải xin lỗi chính mình, xin lỗi ngay giây phút hiện tại, khi nhận diện ra vấn đề. Tôi đang rất đau (ở đâu đó), đây là biểu hiện của nhân xấu từ quá khứ, nay tôi biết tôi đang khổ, do quá khứ tôi đã từng… làm đau chính mình và ngƣời khác. Nay tôi xin lỗi chính tôi, vì sự mờ tối của quá khứ! Tôi đang rất bần hàn, đây là quả của một đời nào đó tôi đã từng tham lam, cƣớp bóc, hại ngƣời để làm lợi cho mình… Nay tôi xin lỗi chính mình vì tôi đã không hề biết nhân quả nên tôi mới tạo ra nhân xấu cho quả báo không đẹp ngày hôm nay. … Nhiều những điều thấy, biết và tạ lỗi nhƣ thế cần thực tập, và đƣơng nhiên sau lời xin lỗi rất cần một lời phát nguyện. Rằng: từ nay trở đi cho con đƣợc thấy biết nhân-quả, thấy đƣợc tham-sân-si là mầm mống của khổ đau cho mình và ngƣời nên con xin phép không làm những điều tệ hại do 3 “món” ấy xúi bậy nữa. Cứ thế, cứ thế, kiên nhẫn, rồi bạn sẽ trở nên vững chãi!

143

Lắng nghe trái tim đau Có một trái tim đang thổn thức vì những nỗi đau nơi chính mình và nhân thế. Trái tim ấy có tình thƣơng nhƣng chƣa kịp nhận diện ra cái nhân của khổ đau. Vì thế có đôi khi trái tim đã co thắt lại. Hoặc có khi trái tim cùng với ngƣời bạn lí trí cũng kịp thấy đƣợc nguồn cơn của những nỗi đau nơi mình và nhân thế nhƣng do thiếu thực tập chuyển hoá nên mọi thấy-biết kia chỉ ở dạng tri thức, chƣa thành hành động nên nó chƣa vƣợt thoát đƣợc khổ đau. Vì vậy, hãy giúp trái tim lên tiếng, bằng một lời khích lệ và xin lỗi. Ta cảm ơn trái tim đã thấy đƣợc mọi nỗi đau, đã có lòng từ mà thổn thức trƣớc nỗi đau, tuy nhiên, trái tim ơi, ta xin lỗi vì ta chƣa đủ vững chãi và thiếu thực tập nên mới để tình trạng ấy phát hiện nơi bạn. Bây giờ ta bắt đầu quay lại với chân nhƣ rỗng rang để thở nhè nhẹ, để bắt đầu chuyển hoá những độc tố làm cho trái tim thổn thức đây. Và từ đây, ta sẽ bắt đầu làm em lắng dịu để em có thể là “đại sứ thiện chí” của những nỗi đau, hạnh phúc, của công bằng và từ bi. Trái tim khi nắm bắt những xung năng đau khổ nơi mình và nơi ngƣời, hoặc từ cuộc sống, hãy ôm ấp xung năng ấy không chỉ bằng tình thƣơng mà còn bằng cả sự thấy biết rõ ràng trên cơ sở của nhân-duyên-quả báo (thiện hoặc ác). Đừng vùi mình trong mớ khổ đau nếu mình chƣa biết cách chuyển hoá, mình đừng bao giờ ăn một thức ăn nào đó chỉ vì thích, vì lời mời mà mình biết chắc nó gây hại cho chính cái bụng của mình. Nên, nếu có thể, sau lời xin lỗi mình cần phải kiên quyết hành động. Lời trái tim muốn nói, đôi khi rất giản đơn, nhƣng mình không lắng nghe, nên mình đã hành xử thô bạo, ngay cả khi trái tim đang thổn thức, đau quằn quại. Đó là khi nó đang thƣơng tổn mà mình còn tiếp tục dung nạp những chất liệu khổ đau cho nó. Bạn có thấy vậy không? Lưu Đình Long

144

25. Niệm Phật và niệm Bụt
Tại sao tôi niệm Phật? Vì tôi muốn nhớ và nói đến những lời dạy cao quý và tốt đẹp của Đức Phật trong đời sống hàng ngày; vì tôi muốn tập làm theo hạnh nguyện cao đẹp của Đức Phật, để cho những hành động của tôi không đẩy tôi đi vào con đƣờng xấu ác và khổ đau; và vì tôi muốn nghĩ đến những gì cao thƣợng và tốt đẹp mà Đức Phật đã nghĩ, để cho những ý nghĩ không lành mạnh, không dễ thƣơng của tôi đƣợc chuyển hóa, đƣợc thắp sáng bởi những ý nghĩ cao quý và tốt đẹp của Đức Phật. Vì vậy mà tôi niệm Phật mỗi ngày.

" Ta niệm Phật như vậy, mỗi ngày đi qua đời ta là mỗi ngày đưa ta đi về với sự giác ngộ, với quê hương đích thực rộng lớn, tự do và bình an" Tại sao tôi niệm Phật? Vì tôi muốn nhớ và nói đến những lời dạy cao quý và tốt đẹp của Đức Phật trong đời sống hàng ngày; vì tôi muốn tập làm theo hạnh nguyện cao đẹp của Đức Phật, để cho những hành động của tôi không đẩy tôi đi vào con đƣờng xấu ác và khổ đau; và vì tôi muốn nghĩ đến những gì cao thƣợng và tốt đẹp mà Đức Phật đã nghĩ, để cho những ý nghĩ không lành mạnh, không dễ thƣơng của tôi đƣợc chuyển hóa, đƣợc thắp sáng bởi những ý nghĩ cao quý và tốt đẹp của Đức Phật. Vì vậy mà tôi niệm Phật mỗi ngày. Niệm Phật và niệm Bụt khác nhau thế nào? 145

Ý nghĩa không khác nhau, chỉ khác nhau về cách phát âm. Phật và Bụt đều là cách phát âm của ngƣời Việt từ chữ Buddha. Cách phát âm chữ Phật có trong ngôn ngữ Việt Nam, ít nhất là trải dài 2.000 năm và cách phát âm chữ Bụt có trong ngôn ngữ Việt Nam, nhƣng ngƣời Việt ít sử dụng. Khái niệm Bụt trong thực tế đã bị "dân gian hóa" trở thành một kiểu thần tiên cứu nạn (thấy rõ trong các truyện dân gian) chứ không còn là hình ảnh vị Phật từ bi giác ngộ. Chữ Phật đọc trực tiếp từ chữ ・ナ hay ・ナ ・ノ của Trung Hoa. Ngƣời Trung Hoa, chính xác là vào đời Hán, dùng những chữ này để phiên âm chữ Buddha và đọc theo âm riêng của họ, nhƣng ngƣời Việt chúng ta lại tự mô phỏng theo đó để hình thành hệ thống ngữ âm riêng của mình gọi là âm Hán-Việt, đến nay vẫn tồn tại, trong khi ngữ âm gốc của Trung Hoa thì đến các đời Đƣờng, Tống... đã thay đổi rất nhiều. Ngữ âm Phật (của ngƣời Việt) đã trở thành định âm của truyền thống ngƣời Việt và đã đƣợc phổ cập trong mọi thành phần xã hội Việt Nam từ tín ngƣỡng, đạo đức tâm linh đến văn hóa giáo dục và ngay cả các văn bản pháp quy thuộc các tổ chức hành chánh xuyên suốt mọi thời đại. Ngƣời Trung Hoa ngày xƣa phát âm Buddha là Bột-đà hay Bột-tha và ngày nay tiếng Trung Hoa (phổ thông) phát âm Buddha là Fó. Vì vậy, Phật hay Bụt đều là cách phát âm của ngƣời Việt có tính cách độc lập với ngữ âm Trung Hoa. Ta niệm Phật hay niệm Bụt với tâm không chuyên nhất, với tâm cầu kỳ lập dị, tranh chấp mới cũ, đúng sai, bản ngã phình to, thì cho dù ta niệm Phật hay niệm Bụt cũng chẳng có hiệu quả gì. Trái lại, có những ngƣời chẳng niệm Phật, niệm Bụt gì cả nhƣng họ sống với tâm khiêm tốn, nhiệt tình đối với hết thảy công việc bằng tâm vô cầu, nói cƣời đứng đi trong giác niệm và tĩnh lặng nên thành tựu vô lƣợng công đức, đƣợc sanh vào cõi Phật ngay trong hiện tiền. Vì vậy, nếu ta niệm Phật hay Bụt với tâm khiêm tốn, không lập dị, cầu kỳ, không liên hệ mới cũ, không thiên chấp đúng sai, bỉ thử, thì phƣớc đức cho ta và lợi ích cho muôn loài biết mấy!

146

Tây phương Tịnh độ và Phật A Di Đà Có những quan niệm cho rằng Tây phƣơng Tịnh độ của Phật A Di Đà (Amitābha) là không có thật, nhƣ vậy có đúng không? Không đúng! Tây phƣơng Tịnh độ không có là đối với ngƣời không có đức tin Tịnh độ, chứ không phải là không có đối với những ngƣời có đức tin ấy. Không có sao đƣợc! Đối với không gian, đã có Đông thì phải có Tây, đã có Nam thì phải có Bắc, đã có phƣơng Trên thì phải có phƣơng Dƣới. Trong không gian đã có các phƣơng hƣớng nhƣ thế, thì sao lại bảo rằng không có phƣơng Tây? Nên nhớ, các phƣơng hƣớng Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dƣới đối với ngƣời mù, thì họ hoàn toàn không thấy gì hết. Tuy ngƣời mù không thấy, chứ không phải các phƣơng hƣớng ấy không có. Phật A Di Đà cũng vậy, đối với ngƣời không có Tín-Hạnh-Nguyện, ít thiện căn phƣớc đức thì Ngài không có đối với họ, chứ không phải Ngài không có đối với những ai có thiện căn phƣớc đức và nhân duyên đối với Ngài. Trong các kinh điển thuộc văn hệ Āgama và Nikāya có nói chi tiết về sự tu tập, chứng đạo và hành hóa của 6 Đức Phật quá khứ nhƣ: Phật Tỳ-bà-thi (Vipaśyin), Phật Thi-khí (Śikhin), Phật Tỳ-xá-phù (Viśvabhū), Phật Câu-lƣu-tôn (Krakucchanda), Phật Câu-na-hàm-mâu-ni (Kanakamuni), Phật Ca-diếp (Kaśyapa), cũng nhƣ Phật Thích-ca Mâu-ni (Śākya-muni) đời hiện tại và Phật Di-lặc trong đời vị lai. Nhƣ vậy, đã có một Đức Phật, hai Đức Phật, ba Đức Phật... thì cũng có thể có vô số Đức Phật. Và đã có nhiều Đức Phật nhƣ vậy, tại sao lại không có Phật A Di Đà! Nên nhớ, Phật A Di Đà không phải là Phật quá khứ mà là Đức Phật hiện tại đang giáo hóa ở cõi Tịnh độ phƣơng Tây, cũng nhƣ Đức Phật Thích-ca hiện tại đang giáo hóa cõi Ta-bà (Sahā) này. Và Bồ tát Di-lặc cũng sẽ giáo hóa cõi Ta-bà này ở thời vị lai. Cũng vậy, Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí sẽ là những vị giáo hóa cõi Tịnh độ phƣơng Tây thay cho Phật A Di Đà trong tƣơng lai. Và cũng nên biết rằng, không phải chỉ có một thế giới Tịnh độ của Phật A Di Đà ở phƣơng Tây mà còn có vô số thế giới Tịnh độ của chƣ Phật khác nữa.

147

Kinh A Di Đà bản Hán dịch của ngài La Thập và ngay cả nguyên bản tiếng Phạn cũng nói cho ta biết đƣợc điều này. Kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bi Hoa... cũng đều có nói về thế giới Tịnh độ của Phật A Di Đà. Phật và Tổ Có ngƣời cho rằng kinh A Di Đà không do Đức Phật Thích-ca nói, mà do chƣ Tổ về sau kết tập. Có phải vậy không? Việc chƣ Tổ kết tập là đúng, còn bảo không do Đức Phật Thích-ca nói là sai, vì không có căn cứ. Nhƣng không chỉ riêng một kinh A Di Đà do chƣ Tổ về sau kết tập, mà tất cả kinh điển hiện nay ta đƣợc biết đều do chƣ Tổ về sau kết tập cả, bao gồm cả các kinh điển đƣợc gọi là "Nguyên thủy" nhƣ Āgama và Nikāya. Những hiểu biết về mặt lịch sử hiện nay cho ta biết nhƣ thế. Phật chỉ nói kinh, còn việc kết tập kinh điển là của chƣ Tổ. Và với trí tuệ Toàn giác, với trí tuệ Chánh biến tri, với trí tuệ Minh hành túc, với trí tuệ Thế gian giải, nên không có điều gì cần thiết cho sự tu tập đạo giải thoát mà Đức Phật Thích-ca không giảng dạy cho đệ tử của Ngài một cách tƣờng tận khi còn tại thế. Ngài đã từng giảng dạy về những hạnh nguyện mà Ngài và chƣ Phật đã từng tu tập trong quá khứ, từ một đời cho đến nhiều đời, từ một kiếp cho đến nhiều kiếp, từ một thế giới cho đến vô số thế giới và những tri kiến cũng nhƣ những sở hành không thể nghĩ bàn của chƣ Phật, và các kinh điển ấy đã đƣợc chƣ Tổ kết tập qua nhiều thời kỳ khác nhau, trong đó có cả các kinh điển mà Đức Phật Thích-ca giảng dạy về Tịnh độ của chƣ Phật, khiến cho ta ngày nay có đƣợc các văn hệ kinh điển nhƣ Āgama, Nikāya, Bản sanh, Bản sự, Nhân duyên, Vị tằng hữu, Vô vấn tự thuyết... Đọc lịch sử các tôn giáo lớn trên thế giới ta cũng thấy nhƣ vậy, các vị Giáo chủ của các tôn giáo chỉ thuyết giảng, còn những vị kế thừa về sau mới viết lại, khai triển và hệ thống hóa giáo lý của những vị Giáo chủ. Ngay cả các sách Nho giáo nhƣ Dịch, Lễ, Thi, Thƣ đều không phải do Khổng Tử viết và nói ra, mà chỉ san định và hệ thống lại. Và ngay cả Cựu ƣớc của Do Thái giáo, Tân ƣớc của Thiên Chúa giáo La Mã, Koran của Hồi giáo, cũng đều do những ngƣời kế thừa san định. 148

Cũng vậy, trong Phật giáo, Đức Phật Thích-ca chỉ giảng dạy kinh điển, còn việc kết tập, san định kinh điển là việc làm của chƣ Tổ về sau vậy. Phật và Tổ khác nhau thế nào? Quốc sƣ Thông Biện đã trả lời ý nghĩa về Phật và Tổ cho Thái hậu Ỷ Lan đời Lý nhƣ sau: Thƣờng trú thế gian, không sinh không diệt gọi là Phật. Hiểu rõ tâm tông của Phật, làm và hiểu hợp nhau thì gọi là Tổ. Phật Tổ là vậy. Ấy bọn lạm xƣng học giả tự dối, nói có hơn thua vậy. Vả lại, Phật nghĩa là giác ngộ. Và sự giác ngộ ấy xƣa nay vắng lặng thƣờng trú. Hết thảy hàm linh đều cùng một nguyên lý ấy. Chỉ bởi bụi lòng che khuất, theo nghiệp nổi trôi mà chuyển nên các cõi. Đức Phật vì lòng từ bi, nên thị hiện sinh ở Tây Trúc, bởi nó là nơi đƣợc gọi là trung tâm của trời đất. Ngài 19 tuổi xuất gia, 30 tuổi thành đạo. Ở đời thuyết pháp 49 năm, mở bày các phƣơng tiện, dạy cho ngƣời, khiến họ ngộ nhập đƣợc đạo. Ấy gọi là sự hƣng khởi của một thời đại kinh giáo. Khi sắp Niết bàn, sợ ngƣời sau mê chấp sinh tệ, nên Phật bảo Văn Thù rằng: Suốt 49 năm, Ta chƣa từng nói một chữ, sao lại bảo có điều để nói? Rồi, Ngài cầm một cành hoa đƣa lên, mọi ngƣời đều ngơ ngác. Chỉ riêng Tôn giả Ca-diếp mặt mày rạng rỡ, miệng nở nụ cƣời mỉm. Đức Phật biết Ca-diếp đã tỏ ngộ, liền đem Chánh pháp nhãn tạng trao cho. Ấy là vị Tổ thứ nhất. Đó gọi là "tâm tông truyền riêng ngoài giáo điển" (Thiền uyển tập anh). Nhƣ vậy, qua sự trả lời về ý nghĩa Phật và Tổ của Quốc sƣ Thông Biện cho Thái hậu Ỷ Lan đƣợc ghi lại trong Thiền uyển tập anh đời Trần đã cho ta thấy, Phật và Tổ đồng thể với nhau về mặt giác ngộ, nhƣng khác nhau về mặt trao truyền. Nghĩa là Phật tự thân Ngài giác ngộ, Tổ cũng giác ngộ nhƣ Phật, nhƣng sự giác ngộ của Tổ lại đƣợc Phật ấn chứng và trao truyền. Vì vậy, ý nghĩa này giúp cho ta nhận ra rằng: "Những gì chƣ Tổ nói là nói từ tâm tông, yếu chỉ của Phật". Lại nữa, chƣ Tổ là Tăng. Phật Pháp Tăng ở trong ngôi Tam bảo, danh xƣng thứ tự có trƣớc sau, nhƣng đồng một bản thể giác ngộ. Do đó, từ nơi bản thể giác ngộ mà Phật vận khởi tâm từ bi để nói kinh và cũng từ nơi bản thể giác ngộ ấy, mà chƣ Tổ vận khởi tâm từ bi để kết tập kinh điển. Ấy là ý nghĩa Phật và Tổ, mà 149

những ngƣời đệ tử Phật cần phải hiểu, đừng để rơi vào tình trạng nhƣ Ngài Thông Biện nói: "Ấy bọn lạm xƣng học giả tự dối, nói là có hơn thua". Dựng xây Tịnh độ Niệm Phật, khiến cho đời sống của ta tƣơng ƣng với đời sống Tịnh độ và có khả năng thiết lập quê hƣơng Tịnh độ cho ta và cho hết thảy chúng sanh với bất cứ ở đâu và lúc nào. Nên, niệm Phật là điều kiện quý báu nhất, giúp ta tiếp xúc trực tiếp đƣợc với chƣ Phật mƣời phƣơng và ba đời, và là điều kiện gọi mời hay đánh thức Đức Phật trong tâm ta đản sanh hay thị hiện giữa cuộc đời, để giúp chúng sanh thoát khỏi khổ đau và cùng nhau dựng xây Tịnh độ. Ta niệm Phật nhƣ vậy, mỗi ngày đi qua đời ta là mỗi ngày đƣa ta đi về với sự giác ngộ, với quê hƣơng đích thực rộng lớn, tự do và bình an. Vậy, muốn chuyển hóa những khổ đau trong đời sống và muốn có tự do, muốn có một quê hƣơng đích thực rộng lớn và bình an cho tất cả chúng ta, thì hãy cùng nhau niệm Phật! Thích Thái Hòa

150

26. Cảm niệm về Đức Phật Di Dà
Ngƣời Việt Nam tu pháp môn Tịnh độ, chủ yếu theo kinh Tiểu bổn Di Đà và chuyên tâm niệm Phật để cầu vãng sanh về Tịnh độ là thế giới Tây phƣơng Cực lạc của Đức Phật Di Đà. Và ngày 17 tháng 11 là ngày vía Đức Phật Di Đà, nên đƣợc coi là ngày quan trọng nhất của những hành giả tu theo pháp môn Tịnh độ.

Tuy nhiên, nếu tìm hiểu về pháp môn Tịnh độ, chúng ta thấy có nhiều kinh mà Đức Phật Thích Ca nói về Tịnh độ Tây phƣơng và giới thiệu về hành trạng của Đức Phật Di Đà, nhƣ kinh Vô Lƣợng Thọ, kinh Quán Vô Lƣợng Thọ. Và về sau, ngài Thái Hƣ đại sƣ triển khai pháp môn Tịnh độ bằng cách gộp thêm hai bộ kinh nữa là Hoa Nghiêm và Thủ Lăng Nghiêm; nhƣ vậy, tổng cộng có năm bộ kinh giảng giải về Tịnh độ của Phật Di Đà, mà Ngài gọi là Tịnh độ ngũ kinh. Nếu căn cứ theo các bộ kinh nói trên, chúng ta tu hành còn phải lập hạnh từ các kinh Nguyên thủy. Cũng nhƣ Đức Phật Di Đà cũng phải căn cứ vào các Tịnh độ của chƣ Phật mƣời phƣơng mà hình thành nên thế giới Cực lạc ở phƣơng Tây của Ngài. Ngoài ra, trên bƣớc đƣờng tiến tu đến quả vị Toàn giác, để kiến tạo Tịnh độ cho mình, hành giả cần phải đạt đến đỉnh cao nhất gọi là "Duy tâm Tịnh độ", 151

nhằm mục tiêu làm cho tâm của hành giả đƣợc hoàn toàn thanh tịnh, thì Tịnh độ mới hiện ra và kỳ diệu thay, bấy giờ đó cũng là Tây phƣơng Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà vậy. Hay nói cách khác, đó cũng là Tịnh độ ở cõi Ta bà mà Đức Phật Thích Ca đã thể hiện sâu sắc cho tất cả đệ tử Ngài an trú từ khi Ngài còn hiện hữu trên cuộc đời này và Tịnh độ đó vẫn hằng hữu cho đến ngày nay và mãi cho đến tận vị lai kiếp vẫn ngời sáng. Thể hiện tinh thần sâu sắc của yếu nghĩa Tịnh độ Tây phƣơng, Tổ Pháp Huệ đã dạy rằng: Phật hiệu Di Đà Pháp Giới Tạng Thân tùy xứ hiện Quốc danh Cực Lạc Tịch Quang chơn cảnh cá trung quyền. Nhân ngày vía Đức Phật Di Đà, chúng tôi mong các hành giả suy nghĩ thấu đáo về Tịnh độ, để xây dựng đƣợc cho mình một Tịnh độ ngay trong cuộc sống hiện tại này và tùy nguyện mà thâm nhập đƣợc Tây phƣơng Tịnh độ sau khi mãn duyên cõi hồng trần. HT.Thích Trí Quảng

152

27. Hờn ghen
Cuộc sống, nhất là cuộc sống vợ chồng thì làm sao tránh đƣợc sự hờn ghen nhƣng đó không phải là cách giải quyết cho những mâu thuẫn, những sai lầm mà ngƣời vợ hoặc ngƣời chồng mắc phải.

Trong bản chất của thƣơng yêu phải có tính đồng nhất. Niềm vui của mình cũng là niềm vui của ngƣời kia, nỗi khổ của ngƣời kia cũng là nỗi khổ của mình. Không có cái ƣớc vọng của riêng anh mà em không đƣợc biết, không có cái sở thích của riêng em mà anh chẳng cần phải quan tâm. Anh và em khi đã kết tóc se duyên thì hai cuộc đời coi nhƣ một. Cái gì xảy ra cho ngƣời này là cũng đồng thời xảy ra cho ngƣời kia. Số phận ngƣời này sẽ tùy thuộc vào số phận ngƣời kia. “Mình với ta tuy hai mà một”- hai thể xác hòa quyện thành một linh hồn, một số phận thì đó mới đích thực là thƣơng yêu. Mình là tiếng xƣng hô của chính ta, nhƣng cũng để gọi ngƣời bạn đời bằng cái giọng thiết tha trìu mến. Ngay tiếng gọi đó ta đã thấy đƣợc sự sáp nhập ranh giới giữa đôi bên, cái ngã riêng biệt đã bị phủ lấp.

153

Cho nên trong quá trình thƣơng yêu ta phải học hỏi lẫn nhau để chọn lọc những cái chung có tính chất xây dựng một hạnh phúc bền vững, còn những cái riêng không hay, hoặc những cá tính làm cho bên kia phải gắn sức chịu đựng thì phải tìm cách buông bỏ bớt. Đồng nhất không có nghĩa là ta phải buông bỏ tất cả để giống y nhƣ ngƣời kia, hay ngƣời kia phải thay đổi tất cả để trở thành bản sao của ta. Cái đó là hệ lụy chứ không phải đồng nhất. Đồng nhất nghĩa là hòa hợp, là không có quá nhiều xung khắc. Dù ta và ngƣời kia có nguyện vọng sáp nhập cuộc đời với nhau thành một, hòa điệu với nhau về tính cách và lý tƣởng sống, thì ta cũng đừng quên rằng ngƣời kia vẫn có những điều không thể nào hoàn toàn giống ta. Ngƣời kia đến từ phƣơng trời xa lạ, có gia đình và bạn bè, có kiến thức và tập quán, có nhận xét và cảm xúc, có sở thích và lý tƣởng. Ta muốn thƣơng yêu thì chỉ xin đƣợc tham dự vào cuộc đời của ngƣời đó chứ không phải là vứt cuộc đời của họ ra mà để cuộc đời ta vào. “Ta với mình tuy một mà hai”- ta đừng quên câu ca dao thứ hai này là một nửa không thể tách rời với câu thứ nhất. Vậy trong nguyên tắc hạnh phúc lứa đôi thì ta với mình vừa là một mà cũng vừa là hai. Là một vì muốn hƣớng tới sự hòa điệu hợp nhất, là hai vì muốn hƣớng tới sự buông xả thảnh thơi. Buông xả nghĩa là không thao túng hay giam hãm đời nhau, cho nhau không gian để thở, để hòa điệu với mọi ngƣời, với đất trời và sự sống. Nhƣng ta thƣờng nhân danh tình thƣơng hay sự hy sinh mà bắt đối tƣợng thƣơng yêu của ta nhốt vào cái lồng định kiến. Ta muốn ngƣời kia phải vắt kiệt năng lƣợng ra để say mê chìu chuộng ta, nhất nhất phải theo ý ta. Ngƣời kia phải ở đó mãi cho ta, hoặc nếu có đi đâu cũng phải trong tầm kiểm soát của ta, đầu óc lúc nào cũng chỉ hƣớng đến một mình ta và chỉ có ta mà thôi. Ta tin chắc rằng chỉ khi nào nắm chặt ngƣời đó trong tay rồi thì ngƣời đó sẽ mãi thuộc về ta. Nhƣng ta đã lầm, bản năng của con ngƣời cần sự tự do rất lớn, càng bị giam hãm thì càng muốn thoát ly. Tiền bạc, quyền lực, sắc đẹp làm sao có thể trói buộc số phận của một con ngƣời, trừ kẻ đó vƣớng vào vũng lầy đam mê. Thƣơng yêu mà ngƣời này trở thành lính gác của ngƣời kia thì có khác gì một chuyến lƣu đày. 154

Cách biểu hiện đó chứng tỏ ngƣời kia vẫn còn nằm ở ngoài ta. Ta vẫn chƣa thấy đƣợc ngƣời kia là một phần của ta và thậm chí ngƣời kia cũng chính là ta. Không có cái thấy này tức là ta chƣa tiếp xúc đƣợc con ngƣời toàn vẹn kia. Ngƣời kia đâu chỉ có cái hình hài bằng xƣơng bằng thịt. Tất cả những chất liệu mà ngƣời kia đã hiến tặng cho ta ngay từ thuở ban đầu nhƣ ân tình, tha thứ, che chở, tin yêu… đều là những tinh ba quý giá nhất đã đi vào trong ta và góp phần để ta trở thành nhƣ ngày hôm nay. Khi ta chƣa thấy đƣợc đối tƣợng thƣơng yêu ở ngay trong chính ta thì ta vẫn chƣa đến đƣợc đỉnh cao của tình yêu. Anh là em và em cũng là anh. Đây không phải là một triết lý cao siêu, nó là một sự thật hiển nhiên mà bắt buộc mỗi cặp lứa đôi phải thấu triệt. Chỉ khi nào ta tiếp xúc đƣợc cái bản thể của con ngƣời ấy thì ta mới không còn quờ quạng nắm bắt những hiện tƣợng chỉ nhất thời xảy ra. Ta sẽ không hờn ghen. Hờn ghen là biểu hiện của sự đuối sức trong cái nhìn về bản thể của ngƣời kia, nghĩa là ta đã vƣớng kẹt quá nhiều vào phần hình tƣớng ở ngoài ta. Điều này chẳng tội vạ gì nhƣng sẽ làm tính mầu nhiệm linh thiêng của tình yêu phai sắc, nó sẽ trở nên bình thƣờng hóa. Cố nhiên ai cũng có những hạt mầm ích kỷ, nhƣng đừng để nó biến thành một nguồn năng lƣợng quá lớn thì ta sẽ đánh mất giá trị thƣơng yêu. Sống mà luôn bị bao trùm bởi năng lƣợng chiếm hữu ích kỷ của ngƣời bên cạnh thì làm sao sống nổi. Nếu ta thực sự ý thức đƣợc tất cả những gì ta đã cho ngƣời kia và tất cả những gì ngƣời kia đã cho ta, chính là ta đã có mặt trong ngƣời kia và ngƣời kia đã có mặt trong ta thì tại sao ta phải hờn ghen? Hờn ghen có thật là hƣơng vị của tình yêu, là chất keo sơn bảo trì một hạnh phúc, hay nó là trá hình của một cảm xúc bị tổn thƣơng của riêng ta? Ta chẳng quan tâm gì đến cái khát vọng của ngƣời kia. Nếu đó là những nhu yếu quá đáng thì ta phải tìm cách điều chỉnh lại nhận thức của ngƣời kia. Nếu đó là những nhu yếu hợp lý nhƣng lại là khiếm khuyết của ta thì ta hãy xin ngƣời đó giúp ta thay đổi. Ta thƣờng không làm đƣợc nhƣ vậy, chỉ biết làm mọi thứ rối tung lên nhƣ để đòi lại sự thƣơng tổn. 155

Tất nhiên là tình yêu cao thƣợng thì sẽ ít có những đòi hỏi chỉ để thỏa mãn chính mình mà không nghĩ đến nỗi khổ niềm đau của đối phƣơng, nhƣng đời sống còn chìm trong lãng quên thì con ngƣời vẫn còn mắc nhiều lầm lỗi. Lời hứa thủy chung kia họ vẫn nhớ, mái ấm gia đình họ vẫn thƣơng, nhƣng đôi khi năng lƣợng yếu kém thì cũng khó vƣợt qua đƣợc những đòi hỏi của một bản năng rất con ngƣời. Trong cơn nhẹ dạ nhất thời họ có thể bị dụ dẫn vào con đƣờng lầm lạc, ta phải tìm mọi cách đƣa họ trở về với con ngƣời năm xƣa thì ta mới đích thực thƣơng yêu. Trách móc, tức giận, hờn ghen hay trừng phạt đều là những phản ứng ích kỷ của cảm xúc, chỉ đẩy ngƣời kia đi xa hơn mà thôi. Tại vì càng hờn ghen, càng giận tức thì ta càng xấu hơn. Ta đã mất điểm trong mắt ngƣời kia, bây giờ lại càng mất điểm hơn. Thái độ khôn ngoan nhứt là trở về làm mới chính mình. Sau đó, nếu có thể thì ta cố gắng mở trái tim ra để ôm lấy những vụng về lầm lỡ của ngƣời kia mà đừng nói năng hay đừng làm bất cứ điều gì khiến cho ngƣời kia nghĩ rằng ta đang củng cố cái nhà tù cho họ. Khả năng quay về sẽ không khó nếu ngƣời kia nhận thấy con đƣờng ấy thật sự an toàn và đầy ắp tình thƣơng. Chút biểu hiện hờn ghen tinh tế cũng có thể làm cho ngƣời kia thấy mình vẫn còn đƣợc thƣơng yêu. Nhƣng nếu trở thành một thói quen, một cơn sốt mãn tính, thì ngƣời kia sẽ rất mệt mỏi và sợ hãi vì thấy đƣợc cái không gian nhỏ xíu mà ta đã qui định cho họ. Lúc nào thoát đƣợc khỏi ta mà ngƣời kia cũng thở phào nhẹ nhỏm là chứng tỏ tình thƣơng họ giành cho ta chỉ còn là trách nhiệm. Lẽ dĩ nhiên đời sống hôn nhân cần phải có những điều kiện cần thiết để gắn bó, nhƣng nếu ta biến những cam kết đó thành ra thứ uy lực răn đe thì không còn là tình yêu nữa, bởi bản chất của tình yêu luôn là sự tự nguyện. Cũng nhƣ cơn giận, hờn ghen là một loại cảm xúc rất mạnh, dễ phát triển thành một cơn bão và sức tàn phá cũng khôn lƣờng. Ta đừng để lối phản ứng vụng về hời hợt làm thƣơng hại đến những ngƣời lân cận, nhất là ngƣời mà ta đã từng vay quá nhiều nợ ân tình. Điều cần làm là ta phải ý thức đƣợc năng lƣợng hờn ghen đang xuất hiện trong tâm và lập tức đem hết sự chú tâm trở về nƣơng

156

tựa vào hơi thở. Không nên phản ứng hay quyết định bất cứ điều gì trong lúc cảm xúc còn đang ở mức cao trào. Ta đừng nghĩ gì về ngƣời kia, đừng tất tã chạy tìm thêm chứng cớ để kết tội. Hãy trở về chăm sóc cảm xúc trong chính ta trƣớc. Tự nhủ lòng nhất định sẽ không vì sự tha hóa của ngƣời kia mà ta đánh mất con ngƣời dễ thƣơng của mình. Ngƣời kia đã là nạn nhân của sự sai lầm, ta cũng trở thành nạn nhân của khổ đau thì còn ai nữa để cứu giúp. Cho nên phải cố gắng vững vàng nhƣ ngọn núi, không để cho cơn bão cảm xúc xô ngã niềm tự tin thì mới mong đủ sức để chuyển hóa đƣợc tình trạng. Cứ tiếp tục duy trì hơi thở thật bền cho đến khi nào ta thật sự bình ổn và tƣơi mát trở lại. Sau đó ta mới chủ động một cách khéo léo và nhẹ nhàng để tiếp cận ngƣời kia. Hãy nhớ là ta đang làm công tác của một ngƣời cứu hộ nên không đƣợc manh động, đừng để cho ngƣời kia bị căng thẳng và sợ hãi thì ta sẽ không tìm hiểu đƣợc sự việc và giúp ích đƣợc gì cả. Trƣờng hợp ta thực sự thấy mình quá yếu đuối, không thể thoát ra khỏi vũng lầy khổ đau vì năng lực hờn ghen quá lớn thì hãy nhờ bên kia giúp đỡ. Viết một thiệp báo cho họ biết là ta đang rất khổ vì hờn ghen và xin quay về giúp ta lấy năng lƣợng đó ra. Ngƣời kia mà một ngƣời có hiểu biết và tình thƣơng với ta thì chắc chắn sẽ không từ khƣớc một lời thỉnh cầu thành khẩn nhƣ vậy. Nhân lúc ngƣời kia có thiện chí quay về giúp đỡ ta hãy xin họ nói cho ta biết là ta đã có những vụng về khiếm khuyết nào cần phải thay đổi, và ta nên làm gì hay không nên làm gì để đƣợc đáng yêu hơn. Nhớ đừng bao giờ dùng tới hình thức khổ nhục để khiến họ động lòng trắc ẩn, cách giải quyết nhứt thời đó sẽ làm cho họ mau chóng khinh lờn và trở thành chay cứng trong cảm xúc. Ta có tới hằng trăm nghệ thuật để nắm bắt trái tim ngƣời, không cần phải dùng tới cách hờn ghen bóng gió mà làm hƣ hại đến niềm tin kính lẫn nhau. Tình yêu vì vậy sẽ xanh xao, càng cố yêu lại càng yếu sức. Có khi không nắm mà ta nắm đƣợc tất cả, nhƣng khi ta muốn nắm tất cả thì lại không nắm đƣợc gì. Đó là điều bí ẩn của cuộc sống, kẻ nào nắm đƣợc chiếc chìa khóa này sẽ trở thành kẻ có uy lực mạnh mẽ nhất trong tình yêu. Minh Niệm 157

28. Hành Trạng Bồ-Tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara)
Nói đến Phật giáo, ngƣời ta nghĩ ngay đến đạo Từ bi cứu khổ. Mà hình ảnh cứu khổ tiêu biểu tuyệt vời nhất thiết tƣởng không ai khác hơn là đức Bồ-tát Quan Thế Âm, hay Mẹ hiền Quan Âm. Vì vị Bồ-tát nầy có đầy đủ phẩm chất của một ngƣời mẹ trong tất cả những ngƣời mẹ.

Hình nhƣ trong mọi trái tim của những ngƣời con Phật thuần thành - nhất là giới Phật tử bình dân - không ai là không không có hình ảnh đáng tôn kính của vị Bồ-tát giàu lòng bi mẫn nầy. Mỗi khi nói về Ngài, tựa hồ chúng ta ai cũng biết, nhƣng có lẽ không ai dám cho là mình đã hiểu biết đầy đủ tất cả. Thế nên, trong bài nầy ngƣời viết xin giới thiệu cụ thể đôi nét chân dung của Bồ-tát một lần nữa, để giúp đại chúng quan chiêm. Trƣớc hết hãy nói về danh hiệu của Bồ-tát. Thông thƣờng các kinh điển kể về 8 danh hiệu của Ngài nhƣ sau: 1/. Quan Thế Âm Bồ-tát; 2/. Quán Tự Tại Bồ-tát; 3/. Quan Thế Tự Tại Bồ-tát; 4/. Quan Thế Âm Tự Tại Bồ-tát; 5/. Hiện Âm Thanh Bồtát; 6/. Quan Âm(*) Bồ-tát; 7/. Cứu Thế Bồ-tát; 8/. Quan Âm Đại Sĩ. 158

Trên đây là những danh hiệu phổ biến mà nhiều ngƣời thƣờng biết đối với vị Bồ-tát nầy. Thế thì có những kinh điển chủ yếu nào đề cập đến xuất xứ, vị trí và những hoạt dụng của Ngài? I. Chúng ta thấy đại khái hành trạng của Bồ-tát qua các kinh: 1. Theo kinh Đại A-di-đà, thì Ngài là Thị vệ bên trái, còn Bồ-tát Đại Thế Chí là Thị vệ bên phải của đức Phật A-di-đà lo việc cứu độ chúng sinh trong thế giới Tabà. Cả 3 vị đƣợc gọi chung là Tây phƣơng Tam Thánh (3 vị Thánh ở phƣơng Tây). Và trú xứ chính thức của các Ngài là cõi Tây phƣơng Tịnh độ. Phàm khi chúng sinh gặp tai nạn mà chí thành niệm danh hiệu Quan Âm Bồ-tát, thì lập tức Ngài đến nơi cứu giúp. Do thế mà Ngài đƣợc đức hiệu là Quan Thế Âm Bồ-tát (Vị Bồ-tát chuyên lắng nghe âm thanh - cầu cứu - của thế gian). 2. Theo kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn thì Ngài có 33 hóa thân, từ thân Phật, Độc giác… đến thân đồng nam, đồng nữ. Ngài thƣờng vận dụng 14 năng lực vô úy để cứu vớt chúng sinh thoát khỏi ách nạn, hoặc đáp ứng những yêu cầu chính đáng khi nào chúng sinh thành tâm niệm đến danh hiệu của Ngài. 3. Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm thì pháp môn tu của vị Bồ-tát nầy là Nhĩ Căn Viên Thông, nghĩa là tai Ngài có thể đƣợc sử dụng nhƣ năm căn khác. Ngài phát tâm tu hành nơi pháp hội của đức Phật Quan Thế Âm, và đức Phật nầy đã thọ ký cho Ngài khi thành Phật sẽ có Phật hiệu giống nhƣ mình. Do đó mà Ngài có hiệu là Quan Thế Âm. Đồng thời vị Bồ-tát nầy cũng có 32 ứng thân giống nhƣ kinh Pháp Hoa đã mô tả. Chỗ khác nhau là kinh Pháp Hoa kể đến 33 ứng thân, còn kinh Lăng Nghiêm thì liệt kê 32 ứng thân. Ngoài ra, hai kinh nầy còn giống nhau một điểm nữa là cùng mô tả về 14 đức vô úy của vị Bồ-tát nầy. Số lƣợng và nội dung của các đức vô úy nầy gần y hệt nhƣ sau. 4. Theo kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Đà-la-ni thì Ngài đã thành Phật từ đời quá khứ cách nay vô lƣợng kiếp, hiệu là Chánh Pháp Minh Nhƣ Lai, nhƣng vì nguyện lực Đại bi, muốn làm lợi ích cho chúng sinh nên Ngài hiện thân Bồ-tát để dễ dàng hoàn thành đại nguyện. Thế nên, ngoài danh hiệu Bồ-tát Quan Âm nhƣ chúng ta thƣờng nghe, có đôi chỗ còn gọi là Phật Quan Âm là vì vậy. 159

5. Theo kinh Nhất Thiết Công Đức Trang Nghiêm Vương thì Ngài là Thị vệ của đức Phật Thích-ca. 6. Theo Mật giáo thì Ngài là hóa thân của đức Phật A-di-đà. 7. Theo kinh Hoa Nghiêm thì đạo tràng của Ngài ở núi Bồ Đà Lạc trên biển Nam Hải. Đó là đôi nét sơ lƣợc về hành trạng của Bồ-tát Quan Âm mà các kinh đã đề cập đến. Bây giờ chúng ta sẽ bàn rõ thêm một số vấn đề cụ thể khác. II. Cuộc đời Ngài qua các phương diện: 1. Về tín ngưỡng Quan Âm Tín ngƣỡng nầy phát xuất từ Ấn Độ, Tây Vực, sau đó nhờ công tác phiên dịch kinh điển mà nó đƣợc truyền sang Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam v.v… Bản kinh có đề cập đến Bồ-tát Quan Âm là kinh Pháp Hoa Tam Muội, gồm 6 quyển, do Chi Cƣơng Lƣơng Tiếp dịch vào năm Ngũ phụng thứ 2 (255) triều đại nhà Ngô thời Tam Quốc. Đây là bộ kinh đƣợc dịch sớm nhất là loại nầy. Sau đó, Trúc Pháp Hộ dịch Chánh Pháp Hoa Kinh Quan Thế Âm Phổ Môn phẩm vào năm Thái Khang thứ 7 (286). Rồi Cƣu-ma-la-thập dịch Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quan Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn phẩm vào năm Hoằng Thỉ thứ 8 (406) đời Diêu Tần. Bắt nguồn từ các kinh đƣợc phiên dịch ra chữ Hán kể trên mà sự tín ngƣỡng Quan Âm dần dần phát triển mạnh. Tại Tây Tạng, nền tín ngƣỡng nầy rất thịnh hành. Lạt-ma giáo cho rằng đức Đạt-lai-lạt-ma đƣợc tái sinh nhiều đời chính là hình ảnh hóa thân của Bồ-tát Quan Âm. Ngoài ra, các nƣớc khác tại Châu Á, chịu ảnh hƣởng của Phật giáo Bắc truyền thì hình ảnh Bồ-tát Quan Âm tƣợng trƣng cho mẹ hiền cứu khổ, đƣợc nhiều ngƣời thành kính tin tƣởng và rất mực tôn sùng. 2. Về diệu dụng của Quan Âm Về sức uy thần diệu dụng của vị Bồ-tát nầy theo kinh Pháp Hoa thì thƣờng có 33 hiện thân nhƣ sau: 1/. Thân Phật; 2/. Thân Độc Giác; 3/. Thân Duyên Giác; 4/. Thân Thanh Văn; 5/. Thân Phạm Vƣơng; 6/. Thân Đế-Thích; 7/. Thân Tự Tại Thiên; 8/. Thân Đại Tự Tại Thiên; 9/. Thân Thiên Đại Tƣớng quân; 10/. Thân Tứ Thiên Vƣơng; 11/. Thân Thái tử của Tứ Thiên Vƣơng; 12/. Thân Nhân Vƣơng; 13/. Thân Trƣởng giả; 14/. Thân Cƣ sĩ; 15/. Thân Tể quan; 16/. Thân Bà-la-môn; 160

17/. Thân Tỷ-kheo; 18/. Thân Tỷ-kheo-ni; 19/. Thân Ƣu-bà-tắc; 20/. Thân Ƣu-bàdi; 21/. Thân Nữ chúa; 22/. Thân Đồng nam; 23/. Thân Đồng nữ; 24/. Thân trời; 25/. Thân Rồng; 26/. Thân Dƣợc-xoa; 27/. Thân Càn-thát-bà; 28/. Thân A-tu-la; 29/. Thân Khẩn-na-la; 30/. Thân Ma-hầu-la-già; 31/. Thân Ngƣời; 32/. Thân Phi nhân; 33/. Thân Thần Cầm Kim Cƣơng. Đó là những hóa thân của Quan Âm Bồ-tát. Đồng thời Ngài còn có 14 năng lực Vô úy khác nữa phát sinh hiệu dụng khi nào chúng sinh thành tâm niệm danh hiệu của Ngài, mà kinh Pháp Hoa cũng nhƣ kinh Lăng Nghiêm đã mô tả nhƣ sau: 1/. Chúng sinh khổ não trong 10 phƣơng thành kính niệm danh hiệu Ngài, liền đƣợc giải thoát; 2/. Chúng sinh gặp lửa dữ…, lửa không thể thiêu đốt; 3/. Chúng sinh bị nƣớc cuốn trôi…, nƣớc không thể nhận chìm; 4/. Chúng sinh vào xứ ác quỉ…, ác quỉ không thể làm hại; 5/ Chúng sinh gặp đao trƣợng…, đao trƣợng liền gãy; 6/ Chúng sinh gặp ác quỉ, ác thần…, thì chúng khôngg trông thấy; 7/. Chúng sinh bị gông cùm, xiềng xích…, thì xiềng xích đƣợc tháo ra; 8/. Chúng sinh khi vào đƣờng nguy hiểm…, giặc cƣớp không thể cƣớp đoạt; 9/. Chúng sin tham dục…, liền dứt khỏi tham dục; 10/. Chúng sinh nóng giận…, liền dứt hết nóng giận; 11/. Chúng sinh mê ám…, liền dứt hết mê ám; 12/. Chúng sinh muốn cầu con trai…, liền đƣợc con trai; 13/. Chúng sinh muốn cầu con gái…, liền đƣợc con gái; 14/. Chúng sinh niệm danh hiệu Quan Âm thì đƣợc lợi ích bằng niệm tất cả các danh hiệu khác. Đó là 14 diệu dụng mà đức Bồ-tát nầy dùng để hóa giải ách nạn, ban phát ân huệ cho những chúng sinh nào có lòng thâm tín đối với Ngài. 3. Về hình tượng Quan Âm Trƣớc hết hãy nói về giới tính của Ngài, thông thƣờng đƣợc thể hiện qua 2 hình thức, hoặc là Nam tính, hoặc là Nữ tính. - Nam tính: Phật giáo Tây Tạng thờ Bồ-tát Quan Âm theo hình thức Nam tính. Đồng thời tƣơng truyền từ đời Đƣờng trở về trƣớc các nƣớc Phật giáo khác tại Châu A cũng tạc tƣợng Ngài theo hình thức Nam tính.

161

- Nữ tính: Theo sách Trang Nhạc Ủy Đàm thì từ đời Đƣờng trở về sau, các nƣớc chịu ảnh hƣởng Phật giáo Trung Hoa, khi tạc tƣợng Ngài đều dùng hình thức Nữ tính. Ngoài ra, 3 chi phần khác là đầu, mắt, và tay của Bồ-tát thông thƣờng đƣợc minh họa nhƣ sau: Đầu: Từ một đầu, 3 đầu, 5 đầu, nghìn đầu, cho đến 84.000 đầu. Mắt: Từ 2 mắt, 3 mắt, cho đến 84.000 mắt. Tay: Từ 2 tay, 4 tay, cho đến 84.000 tay. 4. Về những ngày kỷ niệm Nhƣ tất cả chúng ta đều biết, đặc biệt vị Bồ-tát nầy hằng năm có đến 3 ngày kỷ niệm, đó là kỷ niệm các ngày sinh nhật, xuất gia và thành đạo: Ngày sinh nhật: nhằm ngày 19-2 âl. Ngày xuất gia: nhằm ngày 19-9 âl. Ngày thành đạo: nhằm ngày 19-6 âl. 5. Về nơi cư trú Tất nhiên, do sức thần thông diệu dụng và do bản hoài cứu khổ chúng sinh nên vị Bồ-tát nầy luôn luôn có mặt ở khắp mọi nơi mỗi khi có ngƣời thành tâm cầu nguyện, nghĩa là có cảm thì có ứng. Nhƣng theo lẽ thông thƣờng, chúng ta thấy các kinh ký tải về nơi cƣ trú của Ngài nhƣ sau: Ở Tây phƣơng Tịnh độ: theo kinh A-di-đà. Ở núi Bồ-đà-lạc trên biển Nam Hải: theo kinh sớ Hoa Nghiêm sớ Ở núi Phổ Đà, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc: theo kinh Quan Thế Âm Bồtát cứu khổ. III. Quan Âm liên hệ với Chuẩn-đề Bây giờ xin trình bày về mối quan hệ giữa Bồ-tát Quan Thế Âm và Bồ-tát Chuẩn-đề. Chuẩn-đề là từ phiên âm của chữ phạn Cundi, chữ nầy còn đƣợc phiên âm là Chuẩn-chi, Chuẩn-nê, có nghĩa là thanh tịnh; nói cho đủ là Chuẩn-đề Quan Âm, Chuẩn-đề Phật Mẫu, Phật Mẫu Chuẩn-đề hay Thất Cu-chi Phật Mẫu. Nhƣ vậy, Chuẩn-đề hay Chuẩn-đề Quan Âm chính là một trong những danh hiệu của Quan Âm Bồ-tát. Theo Thất Cu-chi Phật Mẫu Chuẩn-đề Đà-la-ni kinh thì Thân vị 162

Bồ-tát nầy có màu vàng trắng, ngồi kiết gia trên đài sen, có hào quang tỏa sáng xung quanh, mình mặc thiên y, trên đầu trang điểm ngọc anh lạc, có 18 tay đều đeo vòng xuyến, gồm có 3 mắt. Vị Bồ-tát nầy chuyên hộ trì Phật pháp và bảo hộ những chúng sinh có mạng sống ngắn ngủi đƣợc thọ mạng lâu dài. Pháp môn tu hành của vị Bồ-tát nầy là trì tụng bài chú: "Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà Câu chi nẫm, đát diệt tha: án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha". Nếu ai chí thành trì tụng bài chú trên thì sẽ tiêu trừ tai họa, dứt hết bệnh tật, đạt đƣợc thông minh…, nhận đƣợc một luồng hào quang chiếu đến làm tiêu tan tội chƣớng, thọ mạng lâu dài, tăng trƣởng phƣớc đức: đồng thời đƣợc chƣ Phật, Bồ-tát gia bị, đời đời kiếp kiếp xa lìa ác thú, mau chóng chứng đắc Vô thƣợng Bồ-đề.(1) Thiên tông xem vị Bồ-tát nầy chỉ là một danh hiệu khác của đức Quan Âm nên rất tôn sùng.. Còn tông Thai Mật ở Nhật Bản thì xếp Ngài vào địa vị Phật, xem là Phật mẫu. Nhƣng tông Đông Mật ở Nhật thì thừa nhận Chuẩn-đề là một trong 6 danh hiệu Quan Âm, thuộc Liên Hoa bộ. Sáu danh hiệu nầy là: 1/. Thiên Thủ Quan Âm; 2/. Thánh Quan Âm; 3/. Mã Đầu Quan Âm; 4/. Thập Nhất Diện Quan Âm; 5/. Chuẩn-đề Quan Âm; 6/. Nhƣ Ý Luân Quan Âm. Theo Chuẩn-đề Đại Minh Đà-la-ni kinh thì vì để hóa độ chúng sinh mà đức Quan Âm ứng hóa thân vào trong lục đạo. Ngài ngự trị ở Biến Tri Viện thuộc Hiện đồ Thai tạng giới Mạn Trà la(2). Ở đây xin giải thích thêm về từ "Phật Mẫu" mà ở trên đã đề cập. Phật Mẫu (Buddha-màtri, Budhdha-màtar) bao gồm 4 nghĩa nhƣ sau: 1/. Chỉ cho Ma-da phu nhân (Mahà-màyà) thân mẫu của Phật, hoặc chỉ cho Ma-ha-ba-xà-bađề (Mahà-prajàpatì) di mẫu của đức Thích-ca; 2/. Chỉ cho Bát-nhã-ba-la-mật (pan??-paramita). Vì Bát-nhã (trí tuệ) có thể sinh ra tất cả chƣ Phật, nên Thiền tông xem Bát-nhã là Phật mẫu (mẹ của chƣ Phật); 3/. Chỉ cho pháp. Vì chƣ Phật lấy pháp làm thầy, do pháp mà thành Phật, cho nên gọi pháp là Phật mẫu; 4/. Chỉ cho Phật nhãn tôn. Theo Mật giáo, đây là một trong những hình thức thần cách hóa(3). 163

Qua hành trạng của Quan Thế Âm Bồ-tát đƣợc trình bày trên đây hình nhƣ hơi khó thuyết phục đối với nhãn quang của giới khoa học. Tin hay không tin là quyền của mỗi ngƣời. Nhƣng nếu để ý một chút, chúng ta sẽ thấy rằng hằng ngày trên thế giới nầy không biết bao nhiêu Thiên tai, chiến nạn xảy ra, và cũng không biết bao nhiêu tấm lòng từ bi nhân ái sẵn sàng nhƣờng cơm xẻ áo hầu xoa dịu phần nào những nỗi đau thƣơng thống khổ của đồng bào, đồng loại. Chứng kiến những cảnh tƣợng ấy, hiển nhiên chúng ta sẽ không còn ngờ vực gì nữa về diệu dụng từ bi cứu khổ, cứu nạn của đức Bồ-tát Quan Thế Âm đối với thế gian nầy. TT. Thích Phước Sơn

164

29. Quan niệm của người Phật tử đối với cái chết
Không những sống chết không đáng ngạc nhiên mà chúng ta cũng nên biết rằng, dù muốn dù không, sống chết là lẽ tự nhiên của thân thể, không làm sao tránh đƣợc. Giảng bài này chúng tôi chỉ có một mục đích là nhắc lại cái quan niệm về cái chết mà Đức Phật đã dạy chúng ta. Chúng tôi lại còn tha thiết trông mong các đạo hữu cố gắng nhận thức và thực tập cái quan niệm ấy để tránh bao nhiêu sự phiền phức có hại về cái chết. Mục đích của chúng tôi là nhƣ thế, bây giờ thì các đạo hữu hãy tƣởng tƣợng đƣơng đứng trƣớc một ngƣời chết rồi, cùng chúng tôi đặt ra từng câu hỏi để ôn lại quan niệm về cái chết mà Đức Bổn Sƣ đã dạy. Chết là gì? Thông thƣờng thì chúng ta thấy sống và chết là hai cái rất khác nhau và mâu thuẫn nhau. Nhƣng nếu chúng ta nhớ lại đạo lý "vô thƣờng" của Phật dạy thì không thấy có gì là lạ cả. Theo lời Phật dạy, chúng ta thấy tất cả sự vật đổi dời luôn luôn, không một cái gì ngừng lại đƣợc một phút nào: nói về tƣ tƣởng thì ta thấy mỗi một tƣ tƣởng phát sinh rồi thì cũng diệt đi để tƣ tƣởng khác tiếp tục phát hiện; nói về thân thể thì các tế bào luôn luôn thay đổi, lớp trƣớc diệt thì lớp sau sinh. Chính sự sinh diệt này đã liên tiếp tạo thành cái chết. Và chết là gì? Chỉ là kết liễu một giai đoạn đã tan và tiếp nối qua một giai đoạn mới mẻ khác. Cho nên hàng ngày chúng ta luôn luôn sống chết và sự sống chết của thân thể chỉ nhƣ sự diệt đi để cho cái khác sinh ra của tƣ tƣởng hay của tế bào mà thôi. Xét nhƣ vậy thì chúng ta thấy không những vì có sống mới có chết, mà lại còn chính có chết mới có sống, nên không có chi đáng ngạc nhiên cả. Không những sống chết không đáng ngạc nhiên mà chúng ta cũng nên biết rằng, dù muốn dù không, sống chết là lẽ tự nhiên của thân thể, không làm sao tránh đƣợc.

165

Tại sao chết? Nhƣ trên kia tôi đã nói, sự sinh diệt của thân tâm tạo thành cái chết. Nay căn cứ kinh luận, chúng ta thấy cái chết của tất cả mọi loài có bốn nguyên nhân sau đây: - Nghiệp lực đã hết. - Sắc thân suy đồi. - Đồng thời nghiệp lực hết mà sắc thân cũng suy đồi. - Do sức mạnh khác ở ngoài đến hủy hoại. Ta hãy lấy cây đèn để thí dụ bốn nguyên nhân ấy. Một cây đèn có thể tắt vì: - Tim cháy hết. - Dầu khô hết. - Cả tim và dầu đều hết. - Một sức mạnh ở ngoài nhƣ gió thổi tắt. Tuy cái chết là kết quả của những nguyên nhân nhƣ vậy, song quan hệ nhất là "nghiệp lực đã hết". Bởi vì nhƣ chúng ta đã biết, nghiệp lực tạo ra cái thân, nghiệp lực gây ra sự sống, cho nên sự chết cũng do nghiệp lực quyết định. Ta hãy lấy một ví dụ: Ta dùng tay ném quả bóng, quả bóng ấy lên đƣợc trên không là nhờ sự ném và nó lên đƣợc cao hay thấp là vì sức ném mạnh hay yếu.\Thân thể của chúng ta cũng vậy: có ra là vì nghiệp lực, và sống đƣợc lâu hay mau cũng là vì nghiệp lực đã tạo. Theo cái thí dụ giản dị trên, chúng ta thấy rằng quả bóng mà rơi xuống chính vì sức ném đã hết. Còn ngoài ra vì quả bóng lủng bể mà rơi hay vì vấp phải cái gì ngăn trở mà rơi đều là lý do phụ. Cũng nhƣ vậy, thân thể chết, nguyên nhân chính là vì nghiệp lực hết, còn ngoài ra sắc thân suy đồi hay các sức mạnh ở ngoài đều là nguyên nhân phụ thuộc? Và ở đây chúng ta phải chú ý một điều nữa, những nguyên nhân phụ ấy gây ra cái chết cùng là do nghiệp lực tác động. Sau khi chết thì sao? Nhƣ trên đã nói thì sự sống của chúng ta đây chỉ là sự biểu hiện của sự sinh diệt nhƣng liên tục của tƣ tƣởng và tế bào. Ta hãy chú ý lại chỗ này một chút. Tất cả tƣ tƣởng và tế bào của chúng ta đều chuyển biến luôn luôn, trƣớc diệt sau sinh. 166

Và mỗi một tƣ tƣởng thay đổi đều có liên hệ mật thiết đến sự thay đổi của thân thể, ví dụ nhƣ sự tuần hoàn của khí huyết (nghĩa là tâm lý liên hệ đến sinh lý). Nhƣ vậy, sau mỗi một tƣ tƣởng thay đổi, thân thể của ta thiệt không y nhƣ trƣớc nữa. Cho nên thân tâm của chúng ta hiện tiền luôn luôn sống và chết, chết rồi sống, lớp trƣớc diệt, lớp sau sinh. Tuy vậy mà tâm thức của chúng ta không bao giờ gián đoạn cả. Chẳng qua sau một lần thay đổi thì thân thể cũng nhƣ tƣ tƣởng của chúng ta lại tiếp qua một trạng thái có màu sắc khác trƣớc mà thôi. Sự sống chết từng phút chốc hiện tiền nhƣ vậy thì sự sống chết từng đời kiếp cũng nhƣ thế. Tâm tánh không bao giờ đoạn diệt. Chỉ có một điều là, chết nghĩa là nghiệp lực hết, cho nên tâm thức thoát thân cũ mà thọ thân mới. Thật ra cái thân cũ không mất hẳn đi đâu mà chỉ tan ra đất, nghĩa là vì nghiệp lực hết, nó không liên hệ (không sống) với tâm thức nữa mà thôi. Cũng nhƣ vậy, cái thân mới không phải là vật tự nhiên có, mà nó chỉ là sự cấu hợp của bốn đại chủng (thể cứng, thể lỏng, sức nóng, sức động) và liên hệ (sống) với tâm thức vì tâm thức đã do nghiệp lực mà sống với nó. Xin nói tóm tắt, sau khi chết thì cũng nhƣ sống chết trong từng phút chốc, tâm thức không tiêu mất mà chỉ đổi một màu sắc mới và thọ một cái thân khác tùy theo nghiệp lực mình đã gây. Biết nhƣ vậy rồi, quan hệ nhất là không cần sợ chết mà chỉ lo sự sống. Sống làm sao cho hiền lƣơng, tẩy sạch tâm tánh cho thanh khiết. Đó mới là điều quan hệ cho sự vui khổ ngày sau, bởi vì chúng ta đã biết, sự sống khổ não hay an vui hoàn toàn do nghiệp lực chi phối. Khi sắp chết và khi chết thì làm thế nào? Trƣớc hết hãy nói về tâm phải nhƣ thế nào khi sắp chết và lúc chết. Ví dụ một cái nhà tối đã lâu ngày nhƣng một phút cuối cùng có ánh sáng thì sáng hẳn cả nhà; ngƣợc lại cái nhà ấy dù sáng lâu ngày mà phút cuối cùng tối thì cũng tối tất cả. Tâm của ngƣời chết đến phút sắp chết cũng vậy. Nó vô cùng mạnh mẽ và thay đổi đƣợc hầu hết màu sắc của tâm thức. Nhƣ vậy lúc sắp chết, ngƣời chết nên giữ tâm cho sáng suốt: coi cái chết là điều tự nhiên của lẽ vô thƣờng, đừng nhớ hành vi tội ác đã làm, hãy cố nhớ và tự mãn những điều tốt mình đã thi 167

thố, và nhất là đừng quyến luyến tài sản, gia đình, vì ái niệm là dây muôn thuở buộc ta trong sinh tử. Đó là tâm, bây giờ nói về cảnh. Khi một ngƣời sắp chết, ta nên sắp đặt nhƣ ngƣời Tích Lan: Chỉ để họ trong một cái phòng trống rỗng và sạch sẽ, dọn hết tất cả đồ đạc vì những thứ ấy làm rộn ràng tâm trí ngƣời chết và gợi cho ngƣời chết ý niệm không hay. Đó là nói về tâm và cảnh của ngƣời chết, bây giờ chúng ta chú ý đến điều này hệ trọng hơn, là gia quyến đối với ngƣời chết. Quý hơn hết là trong phòng ngƣời chết chỉ để một vị sƣ, một tƣợng Phật (nếu có, còn không thì một ngƣời mà sinh thời ngƣời chết kính mến) để luôn luôn đề tỉnh tinh thần ngƣời chết, khuyên họ giữ ý niệm tốt, khuyên họ niệm Phật và to tiếng niệm Phật cho họ nghe. Ngoài ra, thì tất cả thân nhân nên lánh mặt, chỉ để một ngƣời bình tĩnh thƣờng trực phòng cần dùng mà thôi. Tất cả thân nhân nên lánh mặt là vì sự có mặt của thân nhân thế nào cũng buồn rầu, khóc lóc trƣớc cảnh biệt ly. Nhƣ vậy có khác gì ngƣời chết sắp đi đến chỗ đẹp đẽ mà mình kéo lùi lại. Tai hại không phải ít. Nhƣng nếu thân nhân cũng biết chết là lẽ vô thƣờng, cần biệt ly nhau bằng sự giúp đỡ cho ngƣời chết siêu thoát hơn là khóc than để tác hại cho họ, thì sự có mặt lại rất nên. Nếu khi sắp chết và lúc chết mà giữ đƣợc nhƣ vậy thì ngƣời chết nào cũng đƣợc muôn phần lợi ích. Sau khi chết, thân nhân nên làm gì? Không nên ma chay cúng đám, nhất là không nên sát hại sinh linh. Thân nhân ta đã chết, ta lại giết hại sinh vật để cúng đám, thế có khác gì đã ngã còn xô đạp thêm? Thật là tai hại và vô ý thức. Có ngƣời phàn nàn rằng cúng chay phiền phức. Nhƣng chẳng lẽ ta không cố vƣợt qua một chút phiền phức ấy để báo hiếu ngƣời chết. Cho nên sau khi thân nhân chết, ta nên giúp đỡ họ siêu thoát bằng cách tụng kinh bái sám, thực hành những điều lợi ích để hồi hƣớng cho họ; không nên làm cho họ sa đọa thêm vì sự sát sinh cúng tế. 168

Chết quả là điều hệ trọng. Để kết thúc câu chuyện về cái chết, xin lặp lại lần nữa một vài điểm sau đây: - Chúng ta nên coi chết là một hiện tƣợng tất nhiên của luật vô thƣờng. - Sau khi chết thân này, ta tiếp tục thọ thân khác. - Thân ấy tốt hay xấu, quả báo thân ấy chịu vui hay khổ là do hành động đời này quyết định. - Vậy bây giờ ta phải cố gắng làm các điều thiện, tẩy các điều ác. - Khi sắp chết thì tâm phải bình tĩnh, đừng nhớ lỗi cũ, cố nhớ điều lành đã làm, nhất là đừng quyến luyến gia đình, tài sản. - Ta nên để ngƣời chết trong một căn phòng sạch sẽ với một vị sƣ, một tƣợng Phật để đề tỉnh tâm thần ngƣời chết và giúp đỡ cho họ tịnh niệm. - Tuyệt đối không nên khóc than. - Sau khi thân nhân chết nên giúp cho họ siêu thoát bằng cách thực hành các điều thiện. - Không nên sát hại sinh linh cúng tế vì nhƣ vậy thì họ chƣa đọa lạc tất phải đọa lạc, mà nếu đã đọa lạc thì càng đọa lạc thêm. Cuối cùng, ta nên nhớ một câu mà Đức Phật luôn luôn dạy chúng ta: "Ngƣời làm điều thiện thì thức an vui, ngủ an vui, sống an vui mà chết cũng an vui". Vậy ta phải luôn luôn tu hành, làm mọi việc có ích, để dọn cho một cái chết cao khiết, đẹp đẽ. Trí Quang thượng nhân

169

30. Hóa giải những rắc rối trong quan hệ gia đình theo lời Phật dạy
Quan hệ vợ chồng là quan hệ tình cảm dựa trên tình yêu thƣơng và trách nhiệm. Đời sống hôn nhân không phải là một thế giới tràn ngập hoa hồng nhƣ nhiều ngƣời lầm tƣởng. Thực tế, hầu nhƣ đi đến đâu chúng ta cũng nghe những lời than phiền về đời sống hôn nhân, hiếm hoi lắm mới có đƣợc những lời ngợi ca về hạnh phúc

Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trƣờng sống quan trọng của mỗi ngƣời. Cuộc sống an vui, hạnh phúc trong mái ấm gia đình có ảnh hƣởng rất lớn đến mỗi thành viên cũng nhƣ toàn xã hội. Trong đó, mối quan hệ tình cảm giữa các thành viên nhƣ: ông bà và con cháu, vợ và chồng, cha mẹ và con cái, anh chị em… đóng vai trò quyết định đến niềm an vui, hạnh phúc của mỗi cá nhân và ảnh hƣởng sâu sắc đến quan điểm nhận thức, thái độ, hành vi, đời sống tình cảm của nhau, nhất là sự ảnh hƣởng từ phía cha mẹ đến con cái. Tuy gia đình đóng vai trò quan trọng đối với mỗi ngƣời, song vẫn có không ít những vấn đề rắc rối, những bất hòa nảy sinh từ các mối quan hệ ruột thịt này. Đôi khi, chính những rắc rối, những bất hòa ấy dẫn đến các hậu quả vô cùng 170

nghiêm trọng cho các thành viên liên quan. Nếu không khéo léo, không biết cách giải quyết những vấn đề này thì gia đình không còn là mái ấm nữa, mà trở thành địa ngục, một địa ngục trần gian mà các thành viên trong gia đình đang phải chịu đựng. Mối quan hệ giữa vợ chồng Quan hệ vợ chồng là quan hệ tình cảm dựa trên tình yêu thƣơng và trách nhiệm. Đời sống hôn nhân không phải là một thế giới tràn ngập hoa hồng nhƣ nhiều ngƣời lầm tƣởng. Thực tế, hầu nhƣ đi đến đâu chúng ta cũng nghe những lời than phiền về đời sống hôn nhân, hiếm hoi lắm mới có đƣợc những lời ngợi ca về hạnh phúc. Hôn nhân và những phiền muộn thƣờng có sự liên hệ gắn kết với nhau; sau khi kết hôn, ngƣời ta sẽ phải đối mặt với những rắc rối và những trách nhiệm mà họ không bao giờ mong muốn hoặc chƣa bao giờ ngờ tới. Những nguyên nhân chính yếu và phổ biến nhất dẫn đến những rắc rối ấy có thể liệt kê nhƣ sau: Nghi ngờ và thiếu tin tưởng: Điều này sẽ gây đau khổ cho nhau. Khi cha mẹ đau khổ thì con cái cũng khổ lây. Nhằm tạo niềm tin cho nhau, giữa vợ chồng không nên có những điều bí mật. Bí mật sẽ tạo nên nghi ngờ, dẫn đến ghen tuông, tức giận, là tác nhân gây ra thù hằn, chia rẽ, thậm chí tự vẫn hoặc giết hại lẫn nhau. Mù quáng và thiếu sáng suốt trong khi yêu nhau: Khi yêu nhau, cả hai đều cố gắng biểu lộ những khía cạnh tốt đẹp, những ƣu điểm và những phẩm chất có giá trị của mình với ngƣời yêu; họ có xu hƣớng chấp nhận nhau trên những giá trị bề ngoài, và không khám phá đƣợc, không nhìn thấy rõ những mặt trái, những khuyết điểm của nhau. Nhiều ngƣời khi yêu có xu hƣớng lờ đi những khiếm khuyết, lỗi lầm của ngƣời kia, nghĩ rằng họ có thể chỉnh sửa sau khi kết hôn, hoặc họ có thể sống đƣợc với những khiếm khuyết ấy vì "tình yêu sẽ chinh phục tất cả". Sau khi kết hôn, khi vị ngọt của tình yêu lãng mạn, lý tƣởng thuở ban đầu không còn nữa, sự thực bắt đầu lộ diện, họ phải đối mặt với những thực tế mà trƣớc đây họ chƣa từng thấy hoặc làm ngơ, dẫn đến khổ đau, vỡ mộng. 171

Khó khăn về kinh tế, không đáp ứng được những nhu cầu vật chất: Đời sống hôn nhân không thể nào trọn vẹn khi gia đình không có cơm ăn, áo mặc, thiếu thốn mọi bề. Cuộc sống hiện đại không thể chỉ có "một mái nhà tranh hai quả tim vàng". Ngƣời phƣơng Tây có câu ngạn ngữ: "Khi cái nghèo đến gõ cửa thì nữ thần tình yêu vội vàng bay qua cửa sổ." Tuy nhiên, không có nghĩa rằng muốn có đƣợc đời sống hôn nhân hạnh phúc nhất thiết phải giàu có, nhiều gia đình sung túc mà vẫn khổ đau nhƣ thƣờng. Điều kiện vật chất chỉ là một trong những yếu tố để cho gia đình hạnh phúc, vì đấy là điều kiện cần thiết, cơ bản để Đạo Phật không chống lại đời sống hôn nhân gia đình. Ngƣợc lại, Đức Phật còn có những lời dạy thiết thực, giúp cho mọi ngƣời có thể vƣợt qua đƣợc những khó khăn, rắc rối nhằm tạo dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc. Trong kinh Tăng Chi Bộ, phẩm Năm pháp, bài kinh Ngƣời gia chủ, Đức Phật đã khuyên bảo những ngƣời con gái sắp về nhà chồng rằng: Phải kính trọng và thƣơng yêu chồng, kính trọng và đối xử hòa nhã với cha mẹ chồng, kính trọng những ngƣời mà chồng mình kính trọng; lo chu toàn công việc trong gia đình chồng, phải thông thạo các việc thuộc nữ công gia chánh; biết quản lý và sắp đặt công việc nhà, quan tâm đến những ngƣời làm công trong nhà, phân chia công việc phù hợp cho họ; không nên nuôi dƣỡng những ý nghĩ chống lại chồng, không nên thô lỗ, độc ác, cay nghiệt đối với chồng, không nên tiêu xài hoang phí, bảo vệ và tiết kiệm tài sản mà chồng đã kiếm đƣợc; luôn luôn ân cần và trong sáng cả trong tâm tƣởng lẫn trong hành động, chung thủy với chồng và không đƣợc ngoại tình trong tƣ tƣởng cũng nhƣ trong hành động; tế nhị trong lời nói và lễ phép trong hành động, tử tế và siêng năng trong công việc; luôn quan tâm chăm sóc cho chồng, biết dịu dàng, bình tĩnh và thấu hiểu chồng, chia sẻ hoặc động viên, khuyên bảo chồng khi cần thiết. Đồng thời, Đức Phật còn khuyên các cô gái nên tìm hiểu kỹ về chồng, biết tính cách, hành động, tính khí của chồng, sẵn sàng giúp đỡ, cộng tác với chồng trong mọi công việc. Cùng với những lời khuyên dành cho ngƣời nữ, Đức Phật còn nhấn mạnh rằng, ngƣời nữ đóng vai trò rất quan trọng trong gia đình. Sự an vui, hạnh phúc và hòa thuận trong gia đình là phần lớn phụ thuộc vào ngƣời phụ nữ. 172

Trong đời sống hôn nhân gia đình, theo Đức Phật, ngƣời chồng thƣờng mong muốn ở ngƣời vợ những đức tính nhƣ: tình thƣơng yêu, sự ân cần, có bổn phận với gia đình, chung thủy, biết chăm sóc con cái, biết tiết kiệm, chăm lo các bữa ăn cho gia đình, an ủi và xoa dịu chồng mỗi khi chồng không vui, và dễ thƣơng trong mọi việc. Ngƣợc lại, ngƣời vợ cũng thƣờng mong muốn ở ngƣời chồng những đức tính nhƣ: dịu dàng, nhã nhặn, thân thiện, sự bảo đảm an toàn, công bằng, chung thủy, trung thực, có những mối quan hệ bạn bè tốt, ủng hộ về đạo đức. Trong kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt thuộc Trƣờng bộ kinh, Đức Phật cũng dạy về bổn phận của ngƣời vợ đối với chồng: "Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình, khéo tiếp đón bà con, chung thủy với chồng, khéo gìn giữ tài sản của chồng, khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc." Còn bổn phận của ngƣời chồng đối với vợ thì: "Kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành cho vợ; sắm đồ nữ trang cho vợ". Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái Xã hội càng phát triển nhanh thì mâu thuẫn, rắc rối giữa cha mẹ và con cái càng dễ phát sinh. Nguyên nhân gây ra mâu thuẫn, rắc rối đầu tiên là do khoảng cách thế hệ, tức sự khác biệt về ý thức hệ, về quan điểm, tƣ tƣởng, sở thích, và thậm chí là khác biệt về nhận thức, tầm hiểu biết,… Chính những khác biệt này đã làm chất xúc tác cho những mâu thuẫn, bất hòa, rắc rối nảy sinh trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Việc cha mẹ bị cuốn theo công việc, bỏ bê con cái, không quan tâm đến đời sống gia đình cũng là một tác nhân quan trọng dẫn đến những tổn thƣơng về mặt tinh thần của con cái mà vật chất không thể nào bù đắp đƣợc. Những tổn thƣơng này thậm chí có thể đẩy con cái họ đến những con đƣờng tăm tối, sa đọa, phạm pháp. Khi phát hiện con cái mình hƣ hỏng, nhiều ngƣời đã chọn giải pháp rầy la, đánh đập, đối xử cộc cằn, thô bạo, thiếu tế nhị. Chính vì các bậc làm cha, làm mẹ quên lãng trách nhiệm giáo dục con cái nhƣ thế, nên đã dẫn đến nhiều vấn đề thƣơng tâm: một bộ phận thanh thiếu niên suy thoái đạo đức, có những hành động mất nhân tính, con giết cha, con đánh mẹ, con hành hạ cha mẹ,… 173

Để thiết lập mối quan hệ tốt đẹp giữa cha mẹ và con cái, trong kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt, Đức Phật đã đƣa ra những bổn phận mà ngƣời làm cha làm mẹ cần phải thực hiện đối với con cái của mình: "Ngăn chặn con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp, cƣới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự cho con". Đối với bổn phận của ngƣời làm con, Đức Phật dạy: "Phải nuôi dƣỡng cha mẹ; thực hiện bổn phận đối với cha mẹ; gìn giữ gia đình và truyền thống gia phong; bảo vệ tài sản thừa tự; tổ chức tang lễ khi cha mẹ qua đời". Những lời dạy này cho chúng ta thấy rõ, Đức Phật khuyên các bậc cha mẹ không chỉ chăm lo cho con về phƣơng diện vật chất mà cả phƣơng diện tinh thần, nhân cách đạo đức. Chỉ có sự chăm sóc và giáo dục toàn diện nhƣ thế mới mong giúp con trở thành những ngƣời con ngoan, trò giỏi, ngƣời công dân tốt, hữu ích cho xã hội. Trong phƣơng pháp giáo dục của mình, cha mẹ phải đem tất cả tình thƣơng yêu của mình để giáo dục con. Tuy nhiên, thƣơng yêu không có nghĩa là chiều chuộng; thƣơng yêu cũng cần phải có sự nghiêm khắc, kỷ luật. Một đứa trẻ thiếu tình thƣơng yêu thƣờng không phát triển bình thƣờng. Vì thế, các bậc cha mẹ cần phải dành thời gian quan tâm, chăm sóc và giáo dục con cái nhằm tạo dựng một mái ấm hạnh phúc. Ngƣợc lại, con cái cũng phải hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng và thƣơng yêu cha mẹ, chăm sóc cha mẹ khi đau ốm, thƣờng xuyên quan tâm và hỏi thăm cha mẹ, phụng dƣỡng mẹ cha lúc về già; đặc biệt phải biết ủng hộ và khuyến khích cha mẹ sống một cuộc sống hiền lƣơng, thánh thiện để giúp cho cha mẹ có đƣợc hạnh phúc trong hiện tại và cả trong tƣơng lai. Mối quan hệ giữa các anh chị em trong gia đình Sự mâu thuẫn giữa các anh chị em trong gia đình cũng là một vấn đề khá phổ biến, làm cho không ít ngƣời phải khổ đau, thậm chí đƣa đến những hậu quả hết sức thƣơng tâm: anh chị em oán hận không nhìn mặt nhau, mƣu hại nhau và thậm chí là chém giết lẫn nhau. Những nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn, bất hòa trong mối quan hệ giữa các anh chị em trong gia đình thƣờng là do sự ganh tị, đố kỵ lẫn nhau vì sự 174

bất bình đẳng về những quyền lợi vật chất cũng nhƣ tinh thần; đôi khi anh chị em ganh tị với nhau chỉ vì hơn thua nhau về năng lực, về nhan sắc, về những tài vặt,…; hoặc là do lòng vị kỷ, thiếu sự thƣơng yêu và nhƣờng nhịn. Để hóa giải những rắc rối, mâu thuẫn giữa anh chị em trong gia đình với nhau, theo tinh thần của giáo lý đạo Phật, thì các anh chị em trong gia đình nên thƣờng xuyên quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau để thiết lập tình cảm thân thiết với nhau, để hiểu nhau và thƣơng yêu lẫn nhau. Khi anh chị em thật sự hiểu và thƣơng yêu lẫn nhau, kính trọng nhau thì sẽ không xảy ra tình trạng ganh tị, đố kỵ, hoặc là không nhƣờng nhịn nhau nữa. Những pháp tu chung cho mọi thành viên Bên cạnh những lời dạy, những giải pháp áp dụng riêng cho từng mối quan hệ, trong kho tàng giáo lý nhà Phật còn có những phƣơng pháp chung, áp dụng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình, khi các thành viên trong gia đình đều thực tập những giáo pháp ấy thì sẽ hạn chế đƣợc rất nhiều vấn đề rắc rối, mâu thuẫn, bất hòa, góp phần xây dựng gia đình ngày càng hạnh phúc, ấm êm. Trƣớc hết là pháp tu Tứ vô lƣợng tâm: từ, bi, hỷ, và xả. Từ có nghĩa là đem đến hạnh phúc cho ngƣời khác, làm cho ngƣời khác có hạnh phúc. Nếu thƣơng yêu một ngƣời nào đó mà không đem đến hạnh phúc cho họ, chỉ làm cho họ thêm khổ đau thì đó không phải là tình thƣơng yêu đích thực. Bi có nghĩa là làm cho ngƣời khác vơi bớt khổ đau. Bằng tình thƣơng yêu, chúng ta dùng đủ mọi phƣơng tiện để giúp ngƣời khác trút đƣợc nỗi khổ đau, bất hạnh. Hỷ có nghĩa là niềm vui. Khi thƣơng yêu nhau, chúng ta cần phải làm sao để cho cả ngƣời thƣơng và ngƣời đƣợc thƣơng đều cảm thấy vui vẻ. Hỷ cũng có thể đƣợc hiểu là tùy hỷ, tức chúng ta cảm thấy vui theo niềm vui, hạnh phúc, sự thành đạt của ngƣời khác. Nếu mọi ngƣời biết tu tập tâm hỷ, tùy hỷ, thì sẽ không có chỗ cho lòng ganh tị, đố kỵ. Xả có nghĩa là xả bỏ mọi định kiến, phân biệt, không kỳ thị với bất cứ một ai, không ôm lòng oán hận ai cả. Trong gia đình đôi khi xảy ra bất hòa, mâu thuẫn, nhƣng khi chuyện giải quyết xong rồi thì thôi, không phân biệt đối xử với ngƣời gây bất hòa, mâu thuẫn với mình nữa, ấy chính là chúng ta đang thực tập tâm xả. 175

Để cho gia đình đƣợc hạnh phúc, tình thƣơng yêu giữa các thành viên trong gia đình với nhau đƣợc thăng hoa, thì tình thƣơng yêu ấy phải hội đủ cả bốn yếu tố từ, bi, hỷ, và xả. Bốn tố chất của tình thƣơng yêu này phải đƣợc nuôi dƣỡng và thực tập hàng ngày chứ không phải tự nhiên mà có đƣợc. Có một điều mà mọi thành viên trong gia đình cần phải ý thức rõ, ấy là khổ đau hay hạnh phúc của mỗi cá nhân trong gia đình đều có ảnh hƣởng đến các thành viên khác, nhất là đối với những gia đình Á Đông nhƣ ở nƣớc ta, những gia đình mà sự ràng buộc, gắn kết giữa các thành viên khá chặt chẽ. Hạnh phúc hay khổ đau không phải là vấn đề của cá nhân nữa, mà là của cả gia đình. Khi con cái khổ đau thì cha mẹ cũng không thể hạnh phúc, khi cha mẹ bất hòa thì con cái cũng khổ theo. Để nuôi lớn đƣợc tình thƣơng yêu nhƣ thế thì mọi ngƣời cần phải thật sự hiểu nhau, cần phải có trí tuệ, sáng suốt để nhìn nhận vấn đề, đánh giá mọi việc và tìm ra giải pháp tích cực nhất cho vấn đề đang phải đối mặt trong gia đình. Nếu thƣơng nhau mà không hiểu nhau thì nhiều khi lại làm khổ nhau. Có một giải pháp rất hay mà Đức Phật đã dạy để giải quyết sự bất hòa, đó là phƣơng pháp "Đệ tam nhân". Chúng ta có thể áp dụng phƣơng pháp này để giải quyết bất hòa, mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình. Đệ tam nhân ở đây có thể là ngƣời thứ ba, hoặc cũng có thể là một vật trung gian, làm cầu nối giữa những thành viên bất hòa trong gia đình với nhau, để giúp họ hiểu nhau hơn. Chúng ta thƣờng thấy ở Việt Nam, khi vợ chồng bất hòa nhau thì thƣờng nhờ cha mẹ đôi bên phân xử và hòa giải, hoặc là nhờ đến bạn bè thân thiết, hoặc là những ngƣời có uy tín; anh em bất hòa nhau thì nhờ đến cha mẹ hòa giải, nhƣ thế có nghĩa là chúng ta đã áp dụng phƣơng pháp Đệ tam nhân. Vì ngƣời ngoài thƣờng có cái nhìn sáng suốt và khách quan hơn, có nhận định đầy đủ hơn ngƣời trong cuộc, do vậy mà họ có thể nói ra để cho cả hai bên hiểu nhau và thông cảm với nhau, có thể hóa giải đƣợc sự bất hòa. Tuy nhiên, nếu sự bất hòa, mâu thuẫn xuất phát từ những vấn đề tế nhị, không thể nào bày tỏ với ngƣời khác đƣợc, hoặc thƣờng xuyên xảy ra bất hòa quá thì việc nhờ đến ngƣời thứ ba có vẻ không khả thi. Trong trƣờng hợp này, nếu không trực tiếp giải quyết 176

đƣợc thì có thể dùng đến một mảnh giấy, hoặc là một quyển sổ làm cầu nối trung gian để hai bên bất hòa có thể trao đổi với nhau. Dùng mảnh giấy hay quyển sổ để viết lên đó những tâm tƣ tình cảm, suy nghĩ của mình rồi tế nhị đƣa cho bên kia xem, để cho bên kia hiểu mình hơn. Chính kênh truyền thông này sẽ giúp cho hai bên thêm hiểu nhau, một khi đã hiểu nhau rồi thì sẽ dễ dàng thông cảm và thƣơng yêu nhau hơn. Việc thực tập chánh niệm cũng góp phần không nhỏ trong việc hạn chế những mâu thuẫn, bất hòa trong gia đình, làm cho gia đình ngày thêm đầm ấm, hạnh phúc. Khi có chánh niệm thì sẽ dễ dàng kiểm soát đƣợc ý nghĩ, lời nói và hành động của bản thân, không để những ý nghĩ tiêu cực, những lời nói bất hòa, những hành động gây mất lòng ngƣời khác phát sinh. Thực tập chánh niệm có nghĩa là chúng ta luôn ý thức rõ về bản thân cũng nhƣ ngoại cảnh, biết mình đang nghĩ gì, nói gì và làm gì, biết ngoại cảnh đang nhƣ thế nào. Với chánh niệm, chúng ta nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, nhƣ thật, không bị bất kỳ một yếu tố nào chi phối hoặc làm sai lệch sự nhận thức, đánh giá của chúng ta cả. Chánh niệm giúp điều chỉnh ba nghiệp thân, miệng, ý của chúng ta theo chiều hƣớng tích cực, không để cho những ý nghĩ bất thiện có cơ hội lớn mạnh trong tâm để rồi biểu lộ qua lời nói và hạnh động. Chánh niệm còn giúp cho mọi ngƣời có sự quan tâm và nuôi dƣỡng tình thƣơng yêu. Khi tiếp xúc với nhau bằng chánh niệm, chúng ta dễ dàng phát hiện ra ngƣời thƣơng cần gì nơi ta, có những vấn đề gì cần giải quyết để xây dựng và giữ vững quan hệ giữa hai ngƣời. Nhƣ khi cùng nhau đi dạo, bằng năng lực chánh niệm, ta thấy đƣợc trong đôi mắt vợ mình có những nét lo âu, ta biết phải nói gì, làm gì, để vợ vơi nhẹ phần nào sự buồn khổ. Đó cũng là một cách san sẻ, vun bón cho hạnh phúc gia đình càng thêm lớn mạnh. Nhờ có chánh niệm mà mình cảm nhận đƣợc sự có mặt của ngƣời thƣơng và tình cảm của ngƣời ấy dành cho mình. Bởi đôi khi ngồi bên cạnh mẹ mà ta không ý thức đƣợc sự có mặt của mẹ, vì ta đang dán mắt vào màn hình tivi! Giữ gìn năm giới cấm, trong đó quan trọng nhất là giới không tà hạnh, không nói dối và không uống rƣợu hoặc sử dụng các chất gây nghiện, cũng góp phần không nhỏ trong sự bảo vệ và xây dựng hạnh phúc gia đình. Trong nhiều nguyên 177

nhân dẫn đến vợ chồng bất hòa, gia đình ly tan, nguyên nhân chính yếu đó là sự thiếu chung thủy của vợ hoặc chồng. Nếu nhƣ cả vợ và chồng đều giữ gìn giới không tà hạnh, tức là chung thủy với ngƣời hôn phối của mình, không có quan hệ bất chánh với những ngƣời khác, thì sẽ không xảy ra tình trạng ghen tuông, dẫn đến ly thân, ly dị, để rồi vợ chồng chia ly, gia đình chia rẽ, con cái khổ đau và nhiều hệ lụy khác nữa. Sử dụng các chất gây nghiện và thiếu trung thực cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến đánh mất hạnh phúc gia đình. Đấy là những giáo pháp căn bản, liên hệ mật thiết trong việc tạo dựng hạnh phúc gia đình. Nếu các thành viên trong gia đình đều thực tập theo những giáo pháp ấy thì chắc chắn sẽ có đƣợc một gia đình an vui và hạnh phúc. Quảng Trí

178

31. Đạo Phật và vấn đề hôn nhân gia đình
Khi có một cặp vợ chồng làm lễ cƣới ta thƣờng chúc họ đƣợc “ Trăm năm hạnh phúc”, nhƣ vậy hạnh phúc chính là mục đích của hôn nhân. Mặt khác, biểu tƣợng của hôn nhân là chữ Song hỷ, nghĩa là niềm vui nhân đôi. Cho nên, vấn đề hạnh phúc hôn nhân là nhu cầu gần nhƣ tất yếu của đời ngƣời (cũng có ngoại trừ…đi tu chẳng hạn). Ai cũng biết gia đình là nền tảng của xã hội và đời sống vợ chồng là nền tảng của hạnh phúc gia đình. Vì vậy , cách sống nhƣ thế nào để cả hai ngƣời giữ đƣợc hạnh phúc lâu dài, đó là mối quan tâm của mọi ngƣời và của các tôn giáo. Diễn viên hài Thúy Nga tổ chức đám cƣới của mình trong chùa. Theo thông kế của những nhà xã hội học thì : “ Chƣa bao giờ tình trạng ly dị tại châu Á lại phổ biến nhƣ hiện nay. Trong 20 năm qua, tỷ lệ ly dị tăng gấp đôi ở Trung Hoa và gấp ba ở Đài Loan. Tại Singapore, tỷ lệ ly dị tăng 1/3 so với năm 1990, tại Thái Lan tăng gần gấp đôi. Ở Hàn Quốc, tỷ lệ ly dị vƣợt cả một số nƣớc châu Âu nhƣ Anh, Đan Mạch, Hungary... Thậm chí tại Ấn Độ, một đất nƣớc còn nặng truyền thống "xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử", tỷ lệ này cũng ngày một tăng...”(Báo Thanh niên). Ở Việt Nam chúng ta tỷ lệ ly dị cũng rất cao xấp xỉ 30%. Nguy cơ đổ vỡ hôn nhân càng cao thì sự bất an xã hội càng tăng, để lại những dấu ấn nặng nề cho xã hội, trong đó những đứa con mất thăng bằng về nhân cách là một ví dụ. Sự khủng hoảng về sống chung giữa ngƣời đàn ông và ngƣời đàn bà là vấn đề muôn thuở vì bản chất khác biệt và là vấn đề của toàn thế giới, không riêng gì 179

Việt Nam, chỉ có điều xã hội càng văn minh và tiến bộ thì sự khủng hoảng càng tăng, đến nỗi triệt tiêu những giá trị của những thành quả văn minh vật chất. Nghĩa là, dù ngƣời ta giàu có hơn nhƣng không hạnh phúc hơn ngƣời xƣa. Do đó, thiết lập đƣợc những nguyên tắc sống hạnh phúc cho đời sống hôn nhân gia đình là một sự đóng góp rất lớn cho xã hội hiện đại. Đức Phật rất quan tâm đến đời sống hạnh phúc của ngƣời cƣ sĩ, những nguyên tắc sống của ngƣời cƣ sĩ tại gia nhƣ năm giới, mƣời giới…chính là những nguyên tắc chuẩn cho đạo đức và hạnh phúc. Vì vậy, một ngƣời Phật tử thọ trì những nguyên tắc đạo đức căn bản của một ngƣời Phật tử thì đã ổn định cho đời sống hôn nhân của mình. Xây dựng một mô hình chuẩn cho đời sống hôn nhân ổn định và hạnh phúc, đức Phật đã dạy một cách thiết thực qua ba khía cạnh : 1. Xây dựng đời sống lứa đôi trên phẩm chất tâm lý tương đồng : Đời sống hôn nhân sẽ rất phức tạp nếu không có những điểm chung, nhất là những điểm không chung ấy thuộc về phẩm chất tâm lý thì nguy cơ đổ vỡ rất cao. Trong K. Tăng Chi, Đức Phật dạy : “Này các gia chủ, có bốn hạng ngƣời sống chung: Một là, ngƣời đàn ông thấp hèn sống chung với ngƣời phụ nữ thấp hèn. Hai là, ngƣời đàn ông thấp hèn sống chung với ngƣời phụ nữ cao thƣợng. Ba là, ngƣời đàn ông cao thƣợng sống chung với ngƣời phụ nữ thấp hèn. Bốn là, ngƣời đàn ông cao thƣợng sống chung với ngƣời phụ nữ cao thƣợng”.(K.Tăng Chi, chƣơng 4 pháp). Sau đó Đức Phật giảng rộng sự khác biệt về sự thấp hèn và sự cao thƣợng, rằng đó chính là sự khác biệt về hành vi và tâm lý đạo đức. Đức Phật kết luận, hạng ngƣời sống chung thứ tƣ, tƣơng đồng phẩm chất tâm lý cao thƣợng là :“Đời sống nhiều hạnh phúc, chờ đợi hai ngƣời ấy”.(sđd) Tƣơng đồng phẩm chất của tâm chính là đồng một hƣớng nhìn (lý tƣởng hay niềm tin tôn giáo)và đồng một quan điểm sống hiền thiện (lối sống đạo đức). Sự đồng tâm sẽ đƣa đến hiệp lực, nhờ vậy cả hai có thể vƣợt qua những khó khăn trong cuộc đời, chúng ta cần thấy rằng đây là nguyên tắc nền tảng cho sự sống chung. Tờ báo Tuổi trẻ (09-07-2010), mục ký sự pháp đình có một trƣờng hợp nhƣ sau: Một ngƣời đàn ông phạm tội giết ngƣời cƣớp của, trƣớc đó vốn là một 180

ngƣời hiền lành. Nguyên nhân là, hạnh phúc gia đình luôn bị áp lực của bà mẹ chồng, vốn không thích ngƣời con dâu là ngƣời khác đạo, nhất là ngƣời con trai của bà theo đạo của con dâu, bà mẹ ngƣời chồng thƣờng phản ứng…dần dần đƣa đến bế tắc và khủng hoảng tâm lý, hạnh phúc gia đình cạn kiệt dần, ngƣời đàn ông đã một lần tự tử không thành nhờ vợ cứu, cuối cùng đƣa đến phạm tội…Bài báo kết luận với một băn khoăn: “ Một ngƣời đàn ông yêu vợ và thƣơng mẹ, một ngƣời mẹ rất thƣơng con trai, một ngƣời vợ rất yêu chồng. Cuộc sống gia đình nhƣ vậy lẽ ra rất hòa thuận êm ấm sao lại tan vỡ ?!”. Yếu tố tan vỡ ở đâu? Có nhiều yếu tố bất đồng trong hôn nhân nẩy sinh mà mở đầu là yếu tố bất đồng về tín ngƣỡng tôn giáo. Trong cuộc sống hằng ngày xung quanh ta đã diễn ra bao cảnh tƣơng tự vì lý do khác biệt về văn hóa, tôn giáo, sắc tộc…có lẽ đó là điều không ai muốn, nhƣng đó chính là quy luật sống chung : Sự đồng tâm trong hôn nhân đã bị đổ vỡ. 2. Xây dựng tinh thần trách nhiệm : Đời sống vợ chồng nếu không đặt mình vào những bổn phận và trách nhiệm rõ ràng sẽ rất khó giữ gìn đƣợc tình yêu lâu bền. Sống với nhau là để lo cho nhau và cùng xây đắp đời sống gia đình và xã hội chứ không phải chỉ để hƣởng thụ dục lạc ích kỷ. Trong Kinh Sigalovada-Sutta (K. Giáo thọ Ca thi la việt), Đức Phật dạy về những trách nhiệm phải làm và những điều nên tránh để bảo đảm hài hòa các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội; trong đó mối quan hệ vợ chồng đƣợc Ngài dạy nhƣ sau: Người chồng đối với vợ có bổn phận : a. Luôn đối xử nhã nhặn và thanh cao.(không bạo hành : hành vi, ngôn ngữ) b. Luôn tôn trọng vợ.(tƣơng kính nhƣ tân, ngƣời vợ tự tin, phát huy sáng tạo) c. Luôn trung thành với vợ. d. Giao quyền hành cho vợ.(tin tƣởng) e. Mua sắm trang sức cho vợ.(quan tâm nhu cầu nữ tính)

181

Người vợ đối với chồng có bổn phận : a. Luôn làm tròn phận sự trong nhà.(làm vợ, nội tƣớng) b. Vui vẻ, tử tế với quyến thuộc, bạn bè của chồng.(sang nhờ vợ) c. Luôn trung thành với chồng. d.Giữ gìn tiền bạc và của cải trong nhà.(vai trò quản lý, giữ gìn) e. Luôn siêng năng và tháo vát trong công việc.(Vai trò điều phối, ngƣời chồng yên tâm). Những bổn phận đối với nhau nhƣ trên, chúng ta có thể nhận thấy yếu tố chung thủy đƣợc coi là xƣơng sống của cuộc sống hôn nhân, có thể nói đây là kỷ luật của hôn nhân mà các hệ thống luật pháp đều coi trọng, vì chúng là quy luật của hạnh phúc lứa đôi. Có một lời nói mà tôi rất tâm đắc : “ Phía sau sự thành công của ngƣời đàn ông có bóng dáng của một ngƣời đàn bà. Phía sau những bi kịch của một ngƣời đàn ông có bóng dáng của nhiều ngƣời đàn bà”(Báo tuổi trẻ đd). Đời sống hiện đại, sự quan hệ luyến ái tự do đã là nguyên nhân của sự đổ vỡ các cuộc hôn nhân. Đạo vợ chồng, nhƣ lời Phật dạy là sáng tỏ và vẫn thực tiễn cho đến ngày nay. 3. Xây dựng nghệ thuật yêu thương : Xây dựng cuộc sống hạnh phúc bằng những nguyên tắc luân lý, bằng những bổn phận và trách nhiệm thì khó mà có đƣợc đời sống hạnh phúc thật sự. Có những cặp vợ chồng bề ngoài rất vui vẻ hạnh phúc nhƣng bên trong họ đang chịu đựng lẫn nhau một cách khốn đốn, họ chỉ sống giả tạo với nhau để che mắt dƣ luận. Triết lý sống của các tôn giáo nói chung đều xây dựng những chuẩn mực luân lý cho đời sống vợ chồng, đem lại sự ổn định cho gia đình và xã hội, nhƣng về mặt hạnh phúc thì hiệu quả cũng giới hạn. Bởi lẽ, hạnh phúc không thể phát sinh khi đời sống bị gò ép vào những công thức luân lý. Hạnh phúc thật sự chỉ có mặt khi nó đến từ cảm xúc của con tim, từ sự cảm thông sâu sắc giữa hai ngƣời. Tình yêu thƣơng phải lớn hơn mọi thứ, thì mới làm cho con ngƣời hạnh phúc và phải có nghệ thuật sống cao thì tình yêu mới bền vững. Đức Phật dạy, một ngƣời vợ lý tƣởng (hay ngƣời chồng lý tƣởng) là ngƣời vợ thể hiện tình yêu thƣơng của mình trong bốn vai trò đối với ngƣời chồng : 182

Một là, vợ nhƣ là ngƣời mẹ, ngƣời mẹ thƣơng yêu con cái không giới hạn, trải lòng bao dung, hy sinh tất cả cho con. Ngƣời chồng không phải khi nào cũng mạnh mẽ, có lúc có quá nhiều những khó khăn trắc trở ngƣời đàn ông cũng suy sụp tinh thần lẫn thể xác. Lúc ấy, vai trò ngƣời vợ phải thay đổi qua vai trò ngƣời mẹ, hy sinh quên mình, lo lắng an ủi chồng; nếu lúc ấy mà đòi hỏi nầy nọ thì thật là dại dột. Hai là, vợ nhƣ là ngƣời em gái, ngƣời em gái luôn kính trọng anh, lắng nghe và phục vụ với thái độ ôn hòa, coi trong những ý muốn của anh. Ngƣời vợ lúc nầy đóng vai một ngƣời cộng sự biết chia sẻ và hợp tác, làm cho ngƣời chồng cảm thấy an tâm và tin tƣởng. Ba là, vợ nhƣ là một bạn tình, nghĩa là vui vẻ hân hoan đối với chồng, thể hiện sự duyên dáng dịu hiền và một chút tình tứ làm cho ngƣời chồng cảm thấy cảm hứng và yêu đời. Bốn là, vợ nhƣ là ngƣời đầy tớ , ngƣời vợ gặp lúc ngƣời chồng mất bình tỉnh có thể la mắng nặng lời, có thể vũ phu, ngƣời vợ vẫn không xúc động , không phản ứng cũng không sợ hãi, chịu đựng tất cả, giữ lòng thanh khiết, chờ cơn giận hoặc trƣờng hợp bất ổn của chồng qua đi. Ngƣời chồng nào cũng có lúc rơi vào tình huống tệ hại, nếu có ngƣời vợ đủ kham nhẫn gánh cái gánh nặng nhất thời này thì ngƣời chồng ấy có phúc lớn. Một ngƣời vợ biết tùy thuận và đáp ứng mọi tình huống nhƣ vậy gọi là ngƣời vợ lý tƣởng. Có thể nói ngƣợc lại, một ngƣời chồng tốt cũng có thể đóng các vai trò khác nhau nhƣ : Chồng nhƣ cha, chồng nhƣ anh trai, chồng nhƣ ngƣời bạn tình, chồng nhƣ ngƣời đầy tớ. Nếu đƣợc nhƣ vậy sẽ giúp cho ngƣời vợ vƣợt qua những khó khăn và sẽ có một cuộc sống lứa đôi hạnh phúc thật sự. (Xem 7 hạng vợ trong K. Tăng Chi, chƣơng 7 pháp). Để đạt đƣợc những tiêu chí hạnh phúc gia đình cho Phật tử tại gia, chúng ta cần xây dựng một chƣơng trình giáo dục hôn nhân gia đình trên cơ sở những đạo lý mà đức Phật đã dạy. Tuổi trẻ thời đại đang đối mặt với sự khủng hoảng về đời sống hôn nhân, họ chƣa đủ kinh nghiệm để bƣớc vào đời sống vợ chồng, những gì đƣợc trao truyền từ bậc cha mẹ và từ văn hóa truyền thống đang phai nhạt trong 183

lòng của họ, một phần vì không phù hợp với lối sống mới, một phần thì bị lối sống văn hóa mới cuốn hút. Trƣớc những tấm gƣơng đổ vỡ hôn nhân làm cho giới trẻ thiết tha tìm lối thoát; ngày càng nhiều thanh niên quan tâm học hỏi về nghệ thuật sống, về kỷ năng giữ gìn hạnh phúc lứa đôi cũng nhƣ xin đƣợc làm lễ thành hôn trong chùa là những minh chứng . Những đạo lý Phật dạy, tôi cho rằng, là lối thoát đẹp và an toàn nhất cho giới trẻ hiện nay trƣớc ngƣỡng cửa hôn nhân, ngay cả những ngƣời đã sống đời sống vợ chồng cũng cần trang bị đạo lý để giữ hạnh phúc gia đình. Đạo Phật vốn là đạo giải thoát, sự đoạn trừ tâm luyến ái và lòng ham muốn hƣởng thụ vật chất cũng nhƣ dục tình là mục đích của sự tu tập; do đó, từ xƣa Đạo Phật không thiết lập chƣơng trình lễ thành hôn cho nam nữ Phật tử. Ngày nay, những lễ cƣới (gọi là lễ hằng thuận), tổ chức trong chùa đƣợc coi là mới mẽ và cũng có nhiều ngƣời không hài lòng. Tôi cho rằng, dƣới góc nhìn xây dựng kỷ năng sống hạnh phúc, chúng ta cần nêu cao giá trị đạo lý về khía cạnh xây dựng hạnh phúc gia đình mà đức Phật đã dạy để đáp ứng nhu cầu của con ngƣời thời đại, nhất là cần xây dựng hoàn chỉnh nghi thức thành hôn, cụ thể hóa nội dung giảng dạy và khuyến khích các bậc cha mẹ đƣa con em của mình vào chùa làm lễ cƣới. Tôi tin rằng, những cặp vợ chồng đƣợc làm lễ thành hôn trƣớc sự chứng minh của Tam bảo với những lời kinh cầu nguyện, những lời đạo từ ấm áp của chƣ Tăng, sẽ là nguồn năng lƣợng văn hóa tinh thần sâu sắc, sẽ làm cho tâm hồn của những cặp yêu nhau thêm đẹp đẽ và vững bền. Thích Viên Giác

184

SÁCH:

SUY NGAÃM PHAÄT PHAÙP

Chịu trách nhiệm xuất bản: Biên soạn: Chỉnh sửa: Trình bày bìa:

Hoàng Diệu Mỹ Dung Hoàng Diệu Mỹ Dung Hoàng Diệu

Quyển sách này là sự tổng hợp của nhiều tác phẩm, đƣợc sƣu tầm và biên soạn. Nghiêm cấm sao chép dƣới mọi hình thức. Cấm in sao nhằm mục đích kinh doanh trục lợi. Xin chân thành cảm ơn!

185

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->