P. 1
Bếp lửa

Bếp lửa

|Views: 178|Likes:
Được xuất bản bởiTruc Khuyen Duong Dang
Uploaded from Google Docs
Uploaded from Google Docs

More info:

Published by: Truc Khuyen Duong Dang on Jun 20, 2012
Bản quyền:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as DOC, PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

06/20/2012

pdf

text

original

Người phụ nữ Việt Nam luôn gắn bó cuộc đời mình với hình ảnh bếp lửa, hình

ảnh của mái ấm gia đình, gần gũi với bao người thân thương. Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt cũng được bao bọc bởi tình cảm nhớ thương về một bếp lửa của chốn quê nhà. Nơi đây có hình ảnh người bà tảo tần chịu thương chịu khó sớm hôm thổi lửa cho đến khi hơi ấm tràn ngập khắp căn bếp nhỏ, sưởi ấm tâm hồn và niềm tin của hai bà cháu đơn côi. Bài thơ thấm đẫm tình yêu thương và lòng biết ơn sâu sắc của cháu đối với bà. Sự chân thành và rung cảm tha thiết đó đã tạo nên sức sống cho bài thơ. Bài thơ được sáng tác năm 1960 khi nhà thơ đang học tập xa tổ quốc. Giữa mùa đông nước Nga lạnh lẽo, nỗi nhớ bà, nhớ quê hương cứ ray rứt khôn nguôi. Hồi ức về bếp lửa như một luồng hơi ấm đề nhà thơ vơi đi phần nào cái gía rét của mùa đông xứ lạ, mở ra trong lòng nhà thơ bao luồng suy tưởng,… Bếp lửa ra đời trong dòng hồi ức nhớ thương ấy. Trong suốt bài thơ, hình ảnh bếp lửa lan toả trong khắp tâm hồn nhà thơ. Không dưới 10 lần ông nhắc đến hình ảnh ấy cùng với sự xuất hiện của người bà. Mỗi lần nghĩ về bếp lửa, nhà thơ lại nhớ đến bà và ngược lại. Có sự đồng điệu nào chăng giữa bếp lửa và người bà? Bếp lửa tượng trưng cho cái đơn sơ, khiêm nhường, bình dị mà ấm áp nồng đượm. Người bà cũng vậy: thật chân chất, mộc mạc mà ẩn chứa một tình yêu vô bờ. Qua lăng kính tâm hồn của nhà thơ, bếp lửa và bà đều thật bình dị mà cao quý thiêng liêng với cách nói ẩn dụ. Từ hình ảnh bếp lửa được nhóm lên bằng rơm bằng củi thực, qua ngòi bút của BV đã thành một bếp lửa của lòng người, thật nồng ấm với nhiều tầng nghĩa khác nhau. Hình ảnh bếp lửa đã khơi nguồn cho mạch cảm xúc của tác giả về tình bà, tình quê nồng ấm: “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa” “Chờn vờn” là hình ảnh gợi nhớ về một bếp lửa ẩn hiện khi tỏ khi mờ trong ký ức. Cụm từ “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần như một điệp khúc sâu lắng, đầy nhớ thương: hình ảnh bếp lửa cứ chờn vờn giữa sương sớm, thấp thoáng cái tình cảm ấp iu nồng đượm của người nhóm bếp. Từ “ấp iu” đã diễn tả chính xác hành động của ng` nhóm bếp nhưng đồng thời cũng gợi tả đôi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo, ấp ủ, nâng niu, tấm lòng chăm chút của người nhóm bếp. Chính hình ảnh này đã đánh thức hồi ức của tác giả về người bà một cách tự nhiên “cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Chữ “thương” được dùng thật đắt qua dòng thơ cảm thán làm cho cảm xúc lan toả, thấm sâu vào hồn người. Đó còn là cách nói ẩn dụ chỉ nắng mưa của trời đất gắn liền với nắng mưa của đời bà .Từ hình ảnh bếp lửa chờn vờn ấp iu, cháu thương cuộc đời bà nhiều tảo tần chịu đựng mất mát, hy sinh vì con vì cháu. Đoạn thơ 2 Hình ảnh bếp lửa gợi nhớ về những kỷ niệm tuổi thơ. Cháu có bàn tay dìu dắt, nâng đỡ, bảo bọc yêu thương của bà. Kỷ niệm ấu thơ sống dậy trong nỗi nhớ thương bà. Đó là cuộc sống hai bà cháu côi cút, đầy khó khăn, gian khổ: “Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa ầy Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!” Giọng thơ là lời thủ thỉ tâm tình như lời tự sự “lên bốn tuổi” – một cột mốc thời gian đã in sâu trong ký ức mà không phải đứa trẻ nào cũng nhớ nổi. Mùi khói bếp là một hình ảnh gây ấn tượng sâu đậm trong lòng đứa cháu nhỏ. Qúa khứ như thước phim quay chậm hiện về. Tuổi thơ đã rất xa nhưng hồi ức vẫn còn liền mạch không hề chắp nối. Tuổi thơ của cháu có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945. Cả gia đình đều chật vật thiếu thốn. Giọng thơ trĩu nặng nao nao trong lòng người đọc. “Mùi khói” rồi lại “khói hun”, nhà thơ đã chọn một chi tiết thật xác thực, vừa miêu tả chânt hực cuộc sống tuổi thơ, vừa biểu hiện thấm thía những tình cảm chợt nhớ, chợt quên, lúc da diết, bâng khuâng, khi xót xa, thương mến. “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay” – câu thơ như nhấn lại dòng kỉ niệm xoáy sâu trong tiềm thức, lay mạnh cả thể xác con người. Đọc thơ, người đọc cũng cảm thấy cay cay nơi sống mũi. Thơ Bằng Việt có sức truyền cảm mạnh mẽ nhờ những chi tiết, ngôn từ giản dị và chân thực như thế. Từ cái “bếp lửa” kỉ niệm chỉ mới khơi lên, thoang thoảng mùi khói mà đã đầy ắp những hình ảnh hiện thực, thấm đẫm biết bao nghĩa tình sâu nặng. “Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa Tu hú kêu trên những cánh đồng xa Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế! Mẹ cùng cha công tác bận không về Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc, Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?” Giọng thơ thủ thỉ như giọng kể một câu chuyện cổ tích, câu chuyện ấy có thời gian, không gian, có nhân vật cụ thể. “Tám năm ròng”: con số không lớn nhưng ngày tháng cứ kéo dài ròng rã, nặng nề, khó nhọc bởi những ngày ở Huế, bởi cuộc sống hoang vắng, quạnh hiu. Bố mẹ bận công tác không về, chỉ còn hai bà cháu cặm cụi bên nhau, cùng nhau nhóm bếp mỗi sáng mỗi chiều. Bà bảo, bà dạy, bà chăm... Mỗi hình ảnh gợi lên bón dáng người bà tảo tần, dành hết tình yêu thương cho cháu. Từng việc làm nhỏ nhẹ, âm thầm như tấm lòng tận tuỵ của bà. Bà là người thay cha mẹ, nuôi dưỡng tâm hồn, nhân cách, soi sáng trí tuệ người cháu thời ấu thơ. Từng kỷ niệm tuổi thơ khó nhọc của đời cháu có bàn tay nhẫn nại cưu mang, đùm bao chăm chút của bà. bà la chỗ dựa tinh thần cho đứa cháu nhỏ. Tự bao giờ tuổi thơ của cháu đã được truyền hơi ấm từ bà, từ bếp lửa. Hai hình ảnh ấy đã hoà quyện vào nahu nên nhắc đến Bếp lửa lại thấy bóng hình bà và công việc của bà xoay quanh bếp lửa. Âm thanh của tu hú trên những cánh đồng xa - tiếng kêu của loài chim lẻ loi, nghe sao hoang vắng, khắc khoải, não ruột, ray rứt lòng người. Nhiều lần hình ảnh này đã được nhắc lại: "tiếng tu hú sao mà tha thiết thế", "tu hú ơi", "kêu chi hoài" trong cảnh sống đơn côi của hai bà cháu giữa đói nghèo và chiến tranh, tiếng tu hú phải chăng là tiếng vọng của đất trời

để an ủi, động viên những kiếp người đau khổ... Đưa cái âm thanh rất đồng nội ấy vào thơ, hẳn Bằng Việt phải có một tâm hồn gắn bó sâu nặng với quê hương, đất nước. *** Đứa cháu lớn dần. Cuộc sống càng khó khăn hơn nhưng nghị lực của bà vẫn bền vững, tấm lòng của bà vẫn mênh mông. Kỉ niệm mà người cháu nhớ lại cứ trang trải như ánh sáng của bếp lửa trong căn nhà nhỏ hắt ra, soi sáng cả xóm làng, đất nước. Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh: "Bố ở chiến khu, bố còn việc bố Mày viết thư chớ kể này, kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên" Ngọn lửa "đốt làng cháy tàn cháy rụi ấy" thật tương phản với bếp lửa ấp iu, nồng đượm và tình bà ấm áp. Tuổi thơ của cháu không chỉ có đói khổ nhọc nhằn mà còn có cả những mất mát, hy sinh. Trước nỗi đau ấy, bà âm thầm chịu đựng, nhẫn nại hi sinh không một chút phàn nàn, than thở. Bà dành lẽ sống, niềm tin, sự bình yên của đời mình để che chở cho con cháu. Hai chữ "đinh ninh" gợi tấm lòng kiên nhẫn thầm lặng của bà. Những dòng thơ chân thực như chính cuộc sống đang hiện lên ấy giúp ta thấm thía vẻ đẹp tinh thần của cả một thế hệ người Việt Nam trong kháng chiến chống ngoại xâm. Đó là tình đoàn kết xóm làng, ý chí, nghị lực của những người mẹ, người bà ở hậu phương đang hướng lòng mình ra tiền tuyến. "Rồi sớm rồi chiều": điệp khúc của thời gian lặp lại, người bà vẫn cần mẫn, tảo tần với công việc nhóm bếp để lo bữa ăn, sưởi ấm cho cháu những ngày đông tháng giá. Ngọn lửa của lòng bà là ngọn lửa của niềm tin tình yêu bất diệt. Điệp ngữ "một ngọn lửa" như được lặp lại như chất chứa tình thương, sức sống và niềm tin của hai bà cháu, của gia đình và cả dân tộc. Hình ảnh ngọn lửa toả sáng trong câu thơ lung linh chân dung cuả bà làm ấm lòng trái tim mỗi bạn đọc. "Ngọn lửa" là biểu tương của sức sống muôn đời bất diệt không chỉ của riêng hai bà cháu mà là biểu tượng chung cho toàn dân tộc, thắp sáng đến tận mai sau. Như vậy, "ngọn lửa" ở đây đã mang một ý nghĩa mới, khái quát hơn, rộng lớn hơn. *** Ở đoạn thơ 4, kỉ niệm như lắng dần để nhường chỗ cho những suy ngẩm của đức hcau 1nhỏ về cuộc đời bà khó nhọc, tảo tần nhẫn nại đầy yêu thương và giàu đức hy sinh. "Lận đận đời bà... thiêng liêng - bếp lửa!" "Lận đận đời bà" - câu thơ sử dụng phép đảo ngữ và phép nói ẩn dụ giúp ta hiểu sâu sắc hơn những gian khổ của cuộc đời bà - người phụ nữ Việt Nam tảo tần chịu thương, chịu khó. Bà giữ một thói quen giản dụ, nếp sống thường ngày như giữ giùn một nét đệp truyền thồng của quê hương. Điệp từ "nhóm" được lặp lại nhiều lần như tô đậm thêm, khắc hoạ rõ nét hon công việc âm thầm lặng lẽ, nhẫn nại của người bà vả mỗi câu thơ được mở ra ý tưởng mới. Bếp lửa "ấp iu nồng đượm" là bếp lửa củi than, của tình yêu nồng ấm. Lúc bà nhóm lửa cũng là lúc bà truyền cho cháu tình ruột thịt yêu thương.

"Nhóm nồm xôi gạo mới.. tuổi nhỏ.": Bà mở rộng tấm lòng đoàn kết gắn bó với xóm làng , nhóm dậy tâm hồn và sức sống cho đứa cháu nhỏ. Giờ đây, khi đứa cháu đã hiểu ra rằng bếp lửa của bà không chỉ được nhen bằng nhũng nhiên liệu bên ngoài mà còn bằng ngọn lửa của lòng bà của tình yêu thương và lẽ sống. Như vậy, bà không chỉ là người nhóm lửa mà còn là người giữ lửa, truyền lửa cho thế hệ mai sau. "Ôi! Kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!" Câu thơ như tiếng reo xao động trước một khám phá rất đỗi thân quen và bất ngờ thú vị. Sức sống kì lạ từ bếp lửa cũng là sức sống thiêng liêng mà mọi ngày mà bà đã cần mẫn nhen lên. Đoạn kết: Đứa cháu nhỏ năm xưa giờ đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay xa, được làm quen với những khung trời rộng lớn nhưng vẫn không nguôi nỗi nhớ da diết về bà: "Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu": dòng thơ được chia làm 2 câu = 1 dấu chấm giửa dòng như một khoảng lặng. Hiện tại, nhà thơ đang được sống một cuộc sống đủ đầy tiện nghi, vật chất với lò sưởi điện, bếp ga giữa nước Nga nhưng trong lòng vẫn không nguôi nhớ về hình ảnh một bếp lửa của miền tuổi thơ xa lắc ở quê nhà. Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa? Câu hỏi tu từ kết thúc bài thơ cũng là lời nhà thơ tự hỏi chính mình. Phải chăng đó là nỗi nhớ bà, nhớ quê vì bà chính là hiện thân của quê hương, đất nước. "Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc" Ilia Erenbua Hình ảnh Bếp lửa trong bài thơ đã đi theo một hành trình cao cả: từ bếp lửa than mang đậm hương vị quê nhà đến bếp lửa, ngọn lửa của lòng bà đậm đà, ấm áp và cuối cùng là bếp lửa của quê hương, của tình yêu Tổ quốc, bếp lửa trong dòng hồi tưởng của Bằng Việt với nhiều tầng nghĩa. Nó mãi "chờn vờn" mà nồng đượm rực sáng mãi không thôi trong lòng bao thế hệ. Cảm xúc dạt dào, lời thơ đẹp, giọng thơ thiết tha bồi hồi, hình ảnh thơ độc đáo, sáng tạo, đặc sắc. Hình ảnh bếp vừa mang ý nghĩa thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng, Bằng Việt đã thổi vào lòng ta một ngọn lửa nồng ấm về tình bà cháu, lòng trân trọng biết ơn bà và cũng là tc dv gia đình, quê hương, đất nước. Bếp lửa hay tình bà ấm áp yêu thương chứa đựng một ý nghĩa triết lý thầm kín: những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi con gnười đều có sức sống mãnh liệt, toả sáng và nâng đỡ ta trpmg suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.

You're Reading a Free Preview

Tải về
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->